Trích nội dung chương
192. This paragraph is most important. Not only does it emphasize the necessity of telepathic rapport between groups of disciples both in and out of an Ashram, but it reveals the method which will ensure the development of telepathic sensitivity. 192. Đoạn này hết sức quan trọng. Đoạn này không chỉ nhấn mạnh sự cần thiết của giao cảm viễn cảm giữa các nhóm đệ tử cả trong lẫn ngoài một ashram, mà còn mặc khải phương pháp bảo đảm sự phát triển tính nhạy cảm viễn cảm.
191. The next category of work (of the three) concerns telepathic interplay.
191. Loại công việc tiếp theo (trong ba loại) liên quan đến sự tương tác viễn cảm.
192. This paragraph is most important. Not only does it emphasize the necessity of telepathic rapport between groups of disciples both in and out of an Ashram, but it reveals the method which will ensure the development of telepathic sensitivity.
192. Đoạn này hết sức quan trọng. Đoạn này không chỉ nhấn mạnh sự cần thiết của giao cảm viễn cảm giữa các nhóm đệ tử cả trong lẫn ngoài một ashram, mà còn mặc khải phương pháp bảo đảm sự phát triển tính nhạy cảm viễn cảm.
193. That method is very simple: the establishment of love and trust between group members. To do so, we are to think outward in love towards our fellow disciples, and make this a daily exercise.
193. Phương pháp ấy rất đơn giản: thiết lập tình thương và lòng tin cậy giữa các thành viên trong nhóm. Để làm được điều đó, chúng ta cần hướng tư tưởng ra ngoài trong tình thương đến các đệ tử đồng môn, và biến điều này thành một bài thực hành hằng ngày.
194. We do not have an option when it comes to the development of love and trust. We simply must develop these qualities.
194. Đối với việc phát triển tình thương và lòng tin cậy, chúng ta không có lựa chọn khác. Chúng ta đơn giản phải phát triển những phẩm tính này.
195. I would suggest that love may be developed through the process of appreciation—noting the good qualities, the soul qualities in our fellow disciples, appreciating those qualities, and blessing our brother or sister.
195. Tôi muốn gợi ý rằng tình thương có thể phát triển thông qua tiến trình trân trọng—ghi nhận những phẩm tính tốt đẹp, những phẩm tính linh hồn nơi các đệ tử đồng môn, trân trọng những phẩm tính ấy, và ban phúc lành cho người huynh đệ hoặc tỉ muội của mình.
196. Trust is facilitated by realizing that all individuals as souls mean well towards each other. If one can see his brother or sister as a soul, the well-meaning intention will be emphasized, and there will be no separative closing off in fear or distrust.
196. Lòng tin cậy được củng cố khi nhận ra rằng mọi cá nhân, với tư cách là linh hồn, đều có thiện ý với nhau. Nếu có thể nhìn người huynh đệ hoặc tỉ muội của mình như một linh hồn, thì thiện ý sẽ được đặt vào trọng tâm, và sẽ không có sự khép kín mang tính chia rẽ do sợ hãi hay thiếu tin cậy.
197. All these are exercises of the heart which, obviously, must be activated if there is to be any hope of establishing the qualities of love and trust in group interplay. We must face our brother or sister with our heart open. This must be practiced.
197. Tất cả những điều này đều là các bài thực hành của trái tim; hiển nhiên, trái tim phải được khơi hoạt nếu muốn có hy vọng thiết lập các phẩm tính tình thương và lòng tin cậy trong sự tương tác nhóm. Chúng ta phải đối diện với người huynh đệ hoặc tỉ muội của mình bằng trái tim rộng mở. Điều này phải được thực hành.
A second rule governs this telepathic relationship and this is that all “crises of criticism” must be most carefully avoided by all disciples if they want to bring about the needed rhythm. In any group of disciples, there are those who do not put “first things first”; they put many things and people before their duty and spiritual responsibilities; this necessarily gives their fellow disciples just grounds (apparently just) for criticism. There are times when criticism is unquestionably a recognition of fact. This means that a criticising disciple has reached the point where his judgment is so based on love that it produces no personality effect in his own life or that of his fellow disciple. It is simply a loving recognition of limitation and only becomes wrong when these undoubted facts are used to arouse criticism in the unqualified and provide points for discussion. The disciple or aspirant who has glaring faults and who fails to make the required changes himself creates a barrier which he must in time destroy by removing all causes for criticism. These barriers prevent free telepathic communication.
Một quy luật thứ hai chi phối mối quan hệ viễn cảm này, đó là mọi đệ tử đều phải hết sức cẩn thận tránh mọi “cơn khủng hoảng chỉ trích” nếu muốn tạo nên nhịp điệu cần thiết. Trong bất kỳ nhóm đệ tử nào cũng có những người không “đặt những điều quan trọng nhất lên trước”; họ đặt nhiều việc và nhiều người lên trên bổn phận cùng trách nhiệm tinh thần của mình; điều này tất yếu tạo cho các đệ tử đồng môn những căn cứ chính đáng (có vẻ chính đáng) để chỉ trích. Có những lúc sự chỉ trích rõ ràng là sự nhận biết một sự thật. Điều này có nghĩa là người đệ tử chỉ trích đã đạt đến mức phán đoán của y đặt nền tảng sâu sắc trên tình thương đến nỗi không gây ra tác động phàm ngã nào trong đời sống của chính y hay của đệ tử đồng môn. Đó đơn giản là sự nhận biết đầy tình thương về giới hạn và chỉ trở thành sai trái khi người ta dùng những sự thật không thể nghi ngờ này để khơi dậy sự chỉ trích ở những người chưa đủ tư cách và cung cấp đề tài bàn tán. Người đệ tử hoặc người chí nguyện có những khuyết điểm rõ rệt mà không tự thực hiện những thay đổi cần thiết sẽ tạo ra một rào cản; đến lúc nào đó, y phải phá bỏ rào cản ấy bằng cách loại trừ mọi nguyên nhân gây chỉ trích. Những rào cản này ngăn trở sự giao tiếp viễn cảm thông suốt.
198. We are speaking of the methods of developing telepathic rapport between groups and group members. Love and trust are two necessities.
198. Chúng ta đang nói về những phương pháp phát triển sự giao cảm viễn cảm giữa các nhóm và các thành viên trong nhóm. Tình thương và lòng tin cậy là hai điều thiết yếu.
199. The second necessity relates to what are called “crises of criticism”. Such crises must be carefully avoided if the rhythm necessary for the establishment of telepathic rapport is not to be disrupted. It is obvious that criticism (especially of the heartless kind) destroys both love and trust.
199. Điều thiết yếu thứ hai liên quan đến những gì được gọi là “cơn khủng hoảng chỉ trích”. Phải cẩn thận tránh những cơn khủng hoảng như vậy để nhịp điệu cần thiết cho việc thiết lập sự giao cảm viễn cảm không bị gián đoạn. Rõ ràng, sự chỉ trích (đặc biệt là loại nhẫn tâm) phá hủy cả tình thương lẫn lòng tin cậy.
200. DK is not naïve in His understanding. He knows that there will always be those in any group who give their fellow disciples apparently just cause for criticism. He does not say that the facts should be ignored, or that the causes apparently warranting criticism should be left unaddressed.
200. Chân sư DK không ngây thơ trong sự thấu hiểu của Ngài. Ngài biết rằng trong bất kỳ nhóm nào cũng luôn có những người tạo cho các đệ tử đồng môn lý do có vẻ chính đáng để chỉ trích. Ngài không nói rằng nên phớt lờ các sự thật, hoặc để mặc những nguyên nhân có vẻ đáng bị chỉ trích mà không xử lý.
201. So much depends upon how the criticism is approached. If we should find that it were absolutely necessary for us to become what DK calls a “criticising disciple”, could we be assured that we had reached the point where our judgment was so based on love that no personality effect would be produced, either in us or in the one criticised, when we shared the criticism? It is a very serious question and requires close scrutiny of our heart.
201. Rất nhiều điều tùy thuộc vào cách tiếp cận sự chỉ trích. Nếu nhận thấy mình tuyệt đối cần phải trở thành người mà Chân sư DK gọi là một “đệ tử chỉ trích”, liệu chúng ta có thể chắc chắn rằng mình đã đạt đến mức phán đoán đặt nền tảng sâu sắc trên tình thương đến nỗi không gây ra tác động phàm ngã nào, dù nơi chúng ta hay nơi người bị chỉ trích, khi chúng ta chia sẻ lời chỉ trích ấy không? Đây là một câu hỏi rất nghiêm túc và đòi hỏi phải xem xét kỹ lưỡng trái tim mình.
202. How do we administer criticism? With a heart full of love rather than through solar plexus mobilization or agitation? It would seem that before offering any form of criticism, some interior work should be done in relation to the one to be criticized, so that the presence of love may be ensured. If the love is strong enough, it negates personality reaction—this is the point. The personality is related to the solar plexus and not to the heart.
202. Chúng ta đưa ra lời chỉ trích như thế nào? Bằng một trái tim đầy tình thương, thay vì qua sự huy động hay kích động của tùng thái dương chăng? Dường như trước khi đưa ra bất kỳ hình thức chỉ trích nào, chúng ta cần thực hiện một số công việc nội tâm liên quan đến người sắp được chỉ trích, để bảo đảm có sự hiện diện của tình thương. Nếu tình thương đủ mạnh, nó sẽ hóa giải phản ứng phàm ngã—đó chính là điểm cốt yếu. Phàm ngã liên quan đến tùng thái dương, chứ không phải trái tim.
203. If, according to DK’s advice, we can consider criticism as a “loving recognition of limitation” our entire attitude to this “dire creator of misery” (i. e. , criticism) will be revolutionized.
203. Nếu, theo lời khuyên của Chân sư DK, chúng ta có thể xem sự chỉ trích là một “sự nhận biết đầy tình thương về giới hạn”, thì toàn bộ thái độ của chúng ta đối với “kẻ tạo ra đau khổ đáng sợ” (tức là sự chỉ trích) sẽ thay đổi tận gốc.
204. When we truly love people, we want everything we may think or say to advance their process and improve the quality of their life. We may then ask ourselves: “In our usual approach to criticism, are these benevolent motives our motives?” What really are our motives?
204. Khi thực sự yêu thương mọi người, chúng ta muốn mọi điều mình có thể nghĩ hoặc nói đều thúc đẩy tiến trình của họ và nâng cao phẩm tính đời sống của họ. Khi ấy, chúng ta có thể tự hỏi: “Trong cách tiếp cận sự chỉ trích thường ngày, những động cơ thiện lành này có phải là động cơ của chúng ta không?” Động cơ của chúng ta thực sự là gì?
205. To lovingly share a perception of limitation (when it is necessary to do so) may be a great act of kindness, as long as the sharing in not passed along carelessly and indiscriminately to others who have no real concern in the matter, thus inciting group gossip among those unqualified to understand the realities and sensitivities of the situation. This is where error creeps in; and of course, it is a very common error.
205. Chia sẻ đầy tình thương một nhận thức về giới hạn (khi cần thiết) có thể là một hành động nhân ái lớn lao, miễn là điều chia sẻ ấy không bị truyền đi một cách bất cẩn và bừa bãi đến những người không thực sự liên quan đến vấn đề, từ đó khơi lên chuyện bàn tán trong nhóm giữa những người chưa đủ tư cách thấu hiểu thực tế và những điều tế nhị của tình huống. Đây là nơi sai lầm len vào; và dĩ nhiên, đó là một sai lầm rất phổ biến.
206. DK is telling us that criticism must not become a group dynamic; if it does it will act as poison to the group. The poisoning will be both of the one (or ones) criticized and of the one (or ones) who criticize(s).
206. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng sự chỉ trích không được trở thành một động lực trong nhóm; nếu điều đó xảy ra, nó sẽ tác động như chất độc đối với nhóm. Sự đầu độc sẽ tác động đến cả người (hoặc những người) bị chỉ trích lẫn người (hoặc những người) chỉ trích.
207. DK is not soft on the aspirant or disciple who refuses to correct “glaring faults”. The careless perpetuation of such faults will create a barrier for which the one possessing these faults is responsible. That barrier will have to be broken.
207. Chân sư DK không dễ dãi với người chí nguyện hoặc đệ tử từ chối sửa chữa “những khuyết điểm rõ rệt”. Việc bất cẩn để những khuyết điểm ấy tiếp diễn sẽ tạo ra một rào cản mà người mang những khuyết điểm này phải chịu trách nhiệm. Rào cản ấy sẽ phải được phá bỏ.
208. We can see that the whole matter is delicate. It can only be solved by an attitude of love, wisely and tactfully expressed. If the motive behind the impartation of necessary correction is love, little will go astray. But so often the motive is not love. It is for us to examine our hearts.
208. Chúng ta có thể thấy toàn bộ vấn đề này rất tế nhị. Chỉ có thể giải quyết nó bằng một thái độ yêu thương, biểu lộ một cách khôn ngoan và khéo léo. Nếu động cơ đằng sau việc đưa ra sự sửa sai cần thiết là tình thương, thì sẽ ít có điều gì sai lệch. Nhưng rất thường xuyên, động cơ ấy không phải là tình thương. Chúng ta cần tự xem xét trái tim mình.
An interesting question can he asked at this point and one which should unquestionably arise: Is the group of working disciples to be keyed to the note of the more advanced disciples in the group or is it to be stepped down to a generally lower average to suit the least advanced? Let us put it in another form: Are the least evolved in a group of disciples and aspirants to pull down to their level of work and understanding the more developed? Will they make a supreme effort to measure up to the higher vision and attain to the attitudes and points of view of the more advanced? These questions prove a fundamental [726] problem in all Ashrams and only the chelas themselves can provide the answer.
Đến đây có thể đặt ra một câu hỏi thú vị, và chắc chắn câu hỏi ấy cần nảy sinh: Nhóm đệ tử đang làm việc cần được chỉnh theo âm điệu của những đệ tử tiến xa hơn trong nhóm, hay cần hạ xuống một mức trung bình nhìn chung thấp hơn để phù hợp với những người ít tiến bộ nhất? Hãy diễn đạt theo một cách khác: Liệu những người ít tiến hóa nhất trong một nhóm đệ tử và người chí nguyện có kéo những người phát triển hơn xuống cấp độ làm việc và thấu hiểu của mình không? Liệu họ có nỗ lực hết sức để vươn tới tầm nhìn cao hơn và đạt được những thái độ cùng quan điểm của những người tiến xa hơn không? Những câu hỏi này cho thấy một vấn đề căn bản [726] trong mọi ashram, và chỉ chính các đệ tử mới có thể đưa ra câu trả lời.
209. Thinking of causes of criticism, DK poses some important questions touching on the behavior of disciples within a Master’s group.
209. Khi nghĩ đến những nguyên nhân gây chỉ trích, Chân sư DK đặt ra một số câu hỏi quan trọng liên quan đến hành vi của các đệ tử trong nhóm của một Chân sư.
210. What shall be the group note—a note resonating to the quality of the highest disciples in the group, or one that is stepped down to the lower average? This is a question of group standards, and in relation to this question, much criticism can arise.
210. Âm điệu của nhóm sẽ là gì—một âm điệu cộng hưởng với phẩm tính của những đệ tử cao cấp nhất trong nhóm, hay một âm điệu được hạ xuống mức trung bình thấp hơn? Đây là vấn đề về các tiêu chuẩn của nhóm, và liên quan đến vấn đề này, nhiều sự chỉ trích có thể nảy sinh.
211. There are group members who worry that some group members may “pull down” the note of the entire group because those group members are not living up to certain standards and, perhaps, cannot.
211. Có những thành viên trong nhóm lo ngại rằng một số thành viên có thể “kéo thấp” âm điệu của toàn nhóm, vì những thành viên ấy không sống theo những tiêu chuẩn nhất định và có lẽ không thể làm được điều đó.
212. Who shall make the greatest effort? The least advanced (to measure up to the standard set by the most advanced)? Or the most advanced (checking their forward motion out of consideration for the disciples in the group who cannot seem to keep up)?
212. Ai sẽ phải nỗ lực nhiều nhất? Những người ít tiến bộ nhất (để đạt đến tiêu chuẩn do những người tiến bộ nhất đặt ra)? Hay những người tiến bộ nhất (kìm hãm bước tiến của mình vì quan tâm đến những đệ tử trong nhóm dường như không thể theo kịp)?
213. DK does not give the answer because there are so many different variables in each situation. It may be said, however, that if the “Law of Love” is violated in attempting to solve these inevitable problems, there will be no true solution.
213. Chân sư DK không đưa ra câu trả lời vì trong mỗi tình huống có rất nhiều yếu tố biến đổi khác nhau. Tuy nhiên, có thể nói rằng nếu “Định luật Tình thương” bị vi phạm trong nỗ lực giải quyết những vấn đề không thể tránh khỏi này, thì sẽ không có giải pháp thực sự.
214. The questions are not idle or inconsequential. The Master tells us that they “prove a fundamental problem in all Ashrams”.
214. Những câu hỏi này không phải là vu vơ hay không đáng kể. Chân sư cho chúng ta biết rằng chúng “cho thấy một vấn đề căn bản trong mọi ashram”.
215. This brings us to the question of the meaning of progress. Progress is not simply a racing ahead into ever higher vibratory states. Progress has much to do with the preservation of group cohesion and the quality of the group’s energy.
215. Điều này đưa chúng ta đến câu hỏi về ý nghĩa của sự tiến bộ. Tiến bộ không đơn giản là lao nhanh về phía trước vào những trạng thái rung động ngày càng cao. Sự tiến bộ liên quan mật thiết đến việc duy trì sự cố kết của nhóm và phẩm tính năng lượng của nhóm.
216. The soul is the “quality of life” and that quality has to be preserved when difficult decisions of this kind are faced within the group.
216. Linh hồn là “phẩm tính của sự sống” và phẩm tính ấy phải được gìn giữ khi nhóm đối diện với những quyết định khó khăn thuộc loại này.
In the mastering of the task of karmic adjustment, the guiding disciple is governed by certain requirements. He must ascertain just what karma must be worked out by the aspirant in his charge, during this incarnation. He must then induce him to add to this established karma, what I might call “freeing karma. ” This is a part of the forcing process to which those who choose the more difficult way of initiation must subject themselves, voluntarily and by free choice. The disciple seeks to do certain things in this connection, referring here to the chela in the Light:
Trong việc làm chủ nhiệm vụ điều chỉnh nghiệp quả, người đệ tử hướng dẫn phải tuân theo một số yêu cầu nhất định. Y phải xác định chính xác người chí nguyện mà mình phụ trách cần giải quyết nghiệp quả nào trong kiếp lâm phàm này. Sau đó, y phải khuyến khích người ấy bổ sung vào nghiệp quả đã xác lập này điều mà Tôi có thể gọi là “nghiệp quả giải thoát. ” Đây là một phần của tiến trình thúc đẩy mạnh mẽ mà những ai chọn con đường điểm đạo khó khăn hơn phải tự nguyện và tự do lựa chọn trải qua. Về việc này, người đệ tử tìm cách thực hiện một số điều nhất định, ở đây là đối với đệ tử trong Ánh sáng:
217. The third of the three modes of work which are the responsibility of the guiding disciple, relates to the “mastering of the task of karmic adjustment”. This, we remember, was suggested as associated with the third ray.
217. Phương thức thứ ba trong ba phương thức làm việc thuộc trách nhiệm của người đệ tử hướng dẫn liên quan đến việc “làm chủ nhiệm vụ điều chỉnh nghiệp quả”. Chúng ta nhớ rằng điều này đã được gợi ý là có liên hệ với cung ba.
218. We are reminded that we are viewing the whole matter “from the inside out”. We are addressing the problem which any supervising disciple (whether on inner or outer planes) has in relation to understanding the karma of the aspirant in his charge and during a particular incarnation.
218. Chúng ta được nhắc rằng mình đang nhìn toàn bộ vấn đề “từ trong ra ngoài”. Chúng ta đang bàn đến vấn đề mà bất kỳ đệ tử giám sát nào (dù trên các cõi bên trong hay bên ngoài) cũng gặp phải khi thấu hiểu nghiệp quả của người chí nguyện mình phụ trách trong một kiếp lâm phàm cụ thể.
219. The ascertainment of the aspirant’s karma must be a very interior matter. Perhaps the supervising disciple is aided in the necessary discernment by the Master to whom he reports. The word “ascertain” is important. It means that the supervising disciple is not simply following a hunch or a hint about the karma which the aspirant under his supervision must work out; he is certain!
219. Việc xác định nghiệp quả của người chí nguyệnhẳn phải là một vấn đề rất sâu kín trong nội tâm. Có lẽ Chân sư mà người đệ tử giám sát báo cáo lên sẽ trợ giúp người ấy có được sự phân biện tinh thần cần thiết. Từ “xác định” rất quan trọng. Điều đó có nghĩa là người đệ tử giám sát không chỉ đơn thuần làm theo một linh cảm hay một gợi ý về nghiệp quả mà người chí nguyện dưới sự giám sát của mình phải giải quyết; người ấy biết chắc!
220. Initiation is a forcing process and the guiding disciple must apply the pressure. Not only must the aspirant under his supervision work out karma that is due, but additional karma, “freeing karma”, must be undertaken. Such freeing karma must be voluntarily chosen. We can see that the supervising disciple must attempt to clarify and widen his aspirant’s vision, so the aspirant will bravely and intelligently undertake an added karmic burden.
220. Điểm đạo là một tiến trình thúc đẩy mạnh mẽ, và người đệ tử hướng dẫn phải tạo áp lực. Người chí nguyện dưới sự giám sát của người ấy không những phải giải quyết nghiệp quả đã đến hạn, mà còn phải đảm nhận thêm nghiệp quả, “nghiệp quả mang lại sự giải thoát”. Người chí nguyện phải tự nguyện lựa chọn nghiệp quả mang lại sự giải thoát ấy. Chúng ta có thể thấy rằng người đệ tử giám sát phải cố gắng làm sáng tỏ và mở rộng tầm nhìn của người chí nguyện mình phụ trách, để người chí nguyện can đảm và sáng suốt đảm nhận thêm một gánh nặng nghiệp quả.
221. What must the chela in the Light do when urged forward (subtly or more objectively) by the interior, supervising disciple?
221. Người đệ tử trong Ánh sáng phải làm gì khi người đệ tử giám sát ở nội tâm thúc đẩy y tiến lên, một cách tinh tế hoặc rõ rệt hơn ở bên ngoài?
1. He works off unavoidable karma as intelligently and consciously as possible.
1. Y giải trừ nghiệp quả không thể tránh khỏi một cách sáng suốt và có ý thức hết mức có thể.
2. He takes on some karma which ordinarily would be precipitated in some later life.
2. Y đảm nhận một phần nghiệp quả mà thông thường sẽ ngưng tụ trong một kiếp sống về sau.
222. The supervising disciple helps the chela in the Light to see and understand the karma which is due in this particular incarnation. Every psychotherapist (operating, it would seem, on a lower level than the supervising disciple) can understand how this may be done. The greater the life-understanding of the chela in the Light, the more likely it is that this chela will recognize his responsibilities and seize them.
222. Người đệ tử giám sát giúp đệ tử trong Ánh sáng nhìn thấy và thấu hiểu nghiệp quả đã đến hạn trong kiếp lâm phàm cụ thể này. Mọi nhà trị liệu tâm lý—dường như hoạt động ở một cấp độ thấp hơn người đệ tử giám sát—đều có thể thấu hiểu cách thực hiện điều này. Đệ tử trong Ánh sáng càng thấu hiểu cuộc sống, y càng có khả năng nhận ra và chủ động đảm nhận những trách nhiệm của mình.
223. We note that the third ray principal of intelligence is mentioned here. It is not only that the chela in the Light recognizes his duties and responsibilities, but that he must approach them intelligently. With this approach, perhaps the supervising disciple (through the power of thought) can be of some assistance.
223. Chúng ta lưu ý rằng nguyên khí cung ba là trí thông minh được đề cập ở đây. Đệ tử trong Ánh sáng không chỉ nhận ra các bổn phận và trách nhiệm của mình, mà còn phải tiếp cận chúng một cách sáng suốt. Có lẽ người đệ tử giám sát có thể trợ giúp phần nào cho cách tiếp cận này thông qua quyền năng tư tưởng.
224. What else must the chela in the Light seek to do? He must take on additional karma which might not normally be precipitated until a later life. This, of course, will increase the burden of the present life. When (with the help of the guiding disciple) the vision of the future is clarified and widened, the chela in the Light may have sufficient inducement to undertake this.
224. Đệ tử trong Ánh sáng còn phải tìm cách làm gì nữa? Y phải đảm nhận thêm nghiệp quả mà thông thường có thể phải đến một kiếp sống về sau mới ngưng tụ. Dĩ nhiên, điều này sẽ làm tăng gánh nặng của kiếp sống hiện tại. Khi tầm nhìn về tương lai trở nên sáng tỏ và rộng mở hơn nhờ sự trợ giúp của người đệ tử hướng dẫn, đệ tử trong Ánh sáng có thể có đủ động lực để đảm nhận việc này.
3. He begins to shoulder some of the general karma of humanity, thus increasing his own load of karma.
3. Y bắt đầu gánh vác một phần nghiệp quả chung của nhân loại, qua đó làm tăng gánh nặng nghiệp quả của chính mình.
225. The third task is to “shoulder some of the karma of humanity”.
225. Nhiệm vụ thứ ba là “gánh vác một phần nghiệp quả của nhân loại”.
226. The chela in the Light would not normally have to do this. To so do is an act of selfless service. He sees where help is needed and simply offers his help according to his abilities. He must (according to the Law of Economy) choose wisely where he will offer assistance, otherwise he may be of less assistance than he hopes to be.
226. Thông thường, đệ tử trong Ánh sáng không phải làm điều này. Làm như vậy là một hành động phụng sự vô ngã. Y thấy nơi nào cần sự trợ giúp và chỉ đơn giản đưa tay giúp đỡ theo khả năng của mình. Theo Định luật Tiết Kiệm, y phải sáng suốt lựa chọn nơi mình sẽ trợ giúp, nếu không, sự trợ giúp của y có thể ít hiệu quả hơn y mong đợi.
227. We are obviously being given the opportunity to ask ourselves some questions:
227. Rõ ràng, chúng ta đang có cơ hội tự đặt ra một số câu hỏi:
4. What is the karma due in my present life?
4. Nghiệp quả nào đã đến hạn trong kiếp sống hiện tại của tôi?
5. What additional karma, destined to precipitate in future lives, can I rightly take upon myself now?
5. Giờ đây, tôi có thể đảm nhận thêm một cách đúng đắn nghiệp quả nào vốn sẽ ngưng tụ trong những kiếp sống tương lai?
6. What aspect of humanity’s karma can I rightly take upon myself, even though I need not do so?
6. Tôi có thể gánh vác một cách đúng đắn phương diện nào trong nghiệp quả của nhân loại, dù tôi không buộc phải làm như vậy?
228. When asking such questions, one can align with the inner Light and with the Master to Whom one thinks (or knows) that one is related.
228. Khi đặt ra những câu hỏi như vậy, chúng ta có thể chỉnh hợp với Ánh sáng bên trong và với Chân sư mà mình nghĩ hoặc biết là mình có liên hệ.
4. He begins to work with and to comprehend something of planetary karma, though as yet he undertakes no responsibility in this connection. Only after the third initiation does he consciously and as an individual cooperate with the karmic responsibility of the planetary Logos.
4. Y bắt đầu làm việc với nghiệp quả hành tinh và thấu hiểu phần nào về nghiệp quả ấy, dù hiện giờ y chưa đảm nhận trách nhiệm nào trong lĩnh vực này. Chỉ sau lần điểm đạo thứ ba, y mới hợp tác một cách có ý thức và với tư cách một cá nhân trong trách nhiệm nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế.
229. The fourth karmic task under the guidance of the supervising disciple is a task of comprehension. Something of “planetary karma” begins to dawn upon the chela in the Light as he seeks to understand the planetary situation.
229. Nhiệm vụ nghiệp quả thứ tư dưới sự hướng dẫn của người đệ tử giám sát là một nhiệm vụ về sự thấu hiểu. Một phần “nghiệp quả hành tinh” bắt đầu sáng tỏ với đệ tử trong Ánh sáng khi y tìm cách thấu hiểu tình hình hành tinh.
230. We learn that the chela in the Light can take no responsibility in this regard—this will not be his prerogative until after the third initiation, at which time he can relate more meaningfully and successfully to the planetary whole. But the fact that he is beginning to understand something of planetary karma, means that he can help more successfully in the alleviation of the karma of humanity.
230. Chúng ta được biết rằng đệ tử trong Ánh sáng chưa thể đảm nhận trách nhiệm nào trong lĩnh vực này—chỉ sau lần điểm đạo thứ ba, y mới có đặc quyền ấy, khi y có thể liên hệ với toàn thể hành tinh một cách có ý nghĩa và hiệu quả hơn. Nhưng việc y bắt đầu thấu hiểu phần nào về nghiệp quả hành tinh có nghĩa là y có thể trợ giúp hiệu quả hơn trong việc giảm nhẹ nghiệp quả của nhân loại.
231. We can see that the chela in the Light is induced to become increasingly selfless, and that it is up to the supervising inner disciple to find ways of rendering these opportunities for increasing selflessness increasingly attractive. It is obvious that the supervising chela cannot and does not force the chela in the Light to take steps to master his karma. To do so would be against occult law.
231. Chúng ta có thể thấy rằng đệ tử trong Ánh sáng được khích lệ để ngày càng trở nên vô ngã, và người đệ tử giám sát ở nội tâm có trách nhiệm tìm cách làm cho những cơ hội phát triển tính vô ngã ấy ngày càng hấp dẫn hơn. Rõ ràng, người đệ tử giám sát không thể và cũng không ép buộc đệ tử trong Ánh sáng thực hiện các bước để làm chủ nghiệp quả của mình. Làm như vậy sẽ trái với định luật huyền bí.
232. The degree of selflessness required to “cooperate with the karmic responsibility of the planetary Logos” cannot possibly be in the possession of the chela in the Light, but he is on his way.
232. Mức độ vô ngã cần có để “hợp tác trong trách nhiệm nghiệp quả của Hành Tinh Thượng đế” chắc chắn chưa thể là điều mà đệ tử trong Ánh sáng sở hữu, nhưng y đang trên đường đạt tới đó.
233. Thus, in this third mode of work through which the supervising disciple helps the chela in the Light make various karmic adjustments, four types of adjustments are required.
233. Như vậy, trong phương thức làm việc thứ ba này, qua đó người đệ tử giám sát giúp đệ tử trong Ánh sáng thực hiện những điều chỉnh nghiệp quả khác nhau, cần có bốn loại điều chỉnh.
I would here like to point out that I am referring to good karma as well as bad. It is the task of the helping disciple to guide the chela in the Light so that he does adjust his karma. This the senior disciple does by thought impression. All karma, when consciously faced, is precipitated by the power of thought; this is perhaps the major lesson which the senior disciple has to teach the neophyte. In this way the latter is aided to see “in the light” which falls upon his way, and the disciple who is preparing him for the stage of accepted discipleship is in constant touch with the Master. Thus a triangular relationship is set up which is of occult value.
Ở đây, Tôi muốn chỉ ra rằng Tôi đang đề cập đến cả nghiệp quả tốt lẫn nghiệp quả xấu. Nhiệm vụ của người đệ tử trợ giúp là hướng dẫn đệ tử trong Ánh sáng để y thực sự điều chỉnh nghiệp quả của mình. Người đệ tử cao niên thực hiện điều này bằng cách truyền ấn tượng qua tư tưởng. Khi chúng ta đối diện một cách có ý thức với mọi nghiệp quả, quyền năng tư tưởng sẽ làm cho nghiệp quả ấy ngưng tụ; có lẽ đây là bài học chủ yếu mà người đệ tử cao niên phải dạy cho người sơ cơ. Bằng cách này, người sơ cơ được trợ giúp để thấy “trong ánh sáng” đang chiếu trên con đường của mình, còn người đệ tử đang chuẩn bị cho y bước vào giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận thì luôn giữ liên lạc với Chân sư. Như vậy, một mối quan hệ tam giác có giá trị huyền bí được thiết lập.
234. It is interesting that we are discussing good karma as well as bad. It is easy to translate the word “karma” as bad karma. Both types, however, require attention.
234. Thật thú vị khi chúng ta đang bàn đến cả nghiệp quả tốt lẫn nghiệp quả xấu. Người ta dễ diễn giải từ “nghiệp quả” thành nghiệp quả xấu. Tuy nhiên, cả hai loại đều cần được chú ý.
235. We have been reviewing three modes of work involving both the supervising disciple and the chela he supervises. An adjustment of karma is due, along with the establishment of magnetic interplay and telepathic rapport. If the chela in the Light is to be induced to adjust his karma, it will be through the thought impression of the senior guiding disciple.
235. Chúng ta vừa xem xét ba phương thức làm việc liên quan đến cả người đệ tử giám sát lẫn người đệ tử dưới sự giám sát của người ấy. Cần điều chỉnh nghiệp quả, đồng thời thiết lập sự tương tác từ tính và sự giao cảm viễn cảm. Nếu đệ tử trong Ánh sáng được khích lệ để điều chỉnh nghiệp quả của mình, thì điều đó sẽ diễn ra thông qua sự truyền ấn tượng bằng tư tưởng của người đệ tử hướng dẫn cao niên.
236. We must get this fact into our minds: the senior guiding disciple works upon the aspirant in his charge through the power of thought, thought impression.
236. Chúng ta phải ghi nhớ sự thật này: người đệ tử hướng dẫn cao niên tác động lên người chí nguyện mình phụ trách thông qua quyền năng tư tưởng, thông qua sự truyền ấn tượng bằng tư tưởng.
237. A most occult statement is made: “all karma, when consciously faced, is precipitated by the power of thought”. This is the major lesson. Recognition of karma goes a long way toward the precipitation of the karma recognized.
237. Một phát biểu hết sức huyền bí được đưa ra: “khi chúng ta đối diện một cách có ý thức với mọi nghiệp quả, quyền năng tư tưởng sẽ làm cho nghiệp quả ấy ngưng tụ”. Đây là bài học chủ yếu. Sự nhận biết nghiệp quả góp phần rất lớn vào sự ngưng tụ của nghiệp quả đã được nhận biết ấy.
238. Much karmic adjustment, then, is handled in the mind. The senior guiding disciple helps the chela in the Light to see necessary and possible karmic adjustments in the Light. The guiding disciple is a Light bringer, shedding the Light upon the path of the chela in the Light.
238. Như vậy, phần lớn việc điều chỉnh nghiệp quả diễn ra trong thể trí. Người đệ tử hướng dẫn cao niên giúp đệ tử trong Ánh sáng thấy những điều chỉnh nghiệp quả cần thiết và khả thi trong Ánh sáng. Người đệ tử hướng dẫn là người mang Ánh sáng, chiếu Ánh sáng lên con đường của đệ tử trong Ánh sáng.
239. What is facilitated is the power to recognize necessary and potential karmic adjustments. Once there is recognition, that very recognition will precipitate the karma—especially if the chela in the Light meditates upon the karmic situation.
239. Điều được trợ giúp phát triển là khả năng nhận ra những điều chỉnh nghiệp quả cần thiết và có thể thực hiện. Một khi có sự nhận biết, chính sự nhận biết ấy sẽ làm ngưng tụ nghiệp quả—đặc biệt nếu đệ tử trong Ánh sáng tham thiền về tình trạng nghiệp quả đó.
240. We see, then, that we are dealing with a rather subjective matter.
240. Như vậy, chúng ta thấy rằng mình đang bàn đến một vấn đề khá chủ quan.
241. Earlier we may have wondered whether the guiding disciple worked from the inner planes (on egoic levels) or on both inner and outer planes. In this section of the instruction, the work on inner planes is the work emphasized.
241. Trước đó, chúng ta có thể đã tự hỏi liệu người đệ tử hướng dẫn làm việc từ các cõi bên trong, ở các cấp độ chân ngã, hay trên cả các cõi bên trong lẫn bên ngoài. Trong phần huấn thị này, công việc trên các cõi bên trong là điều được nhấn mạnh.
242. Whereas the guiding disciple could be an outward guide as well, we know that the stage of Chela in the Light requires an guiding disciple who can and does work from inner levels, and reports to the Master about the progress of his chela from inner levels.
242. Dù người đệ tử hướng dẫn cũng có thể là một người hướng dẫn ở bên ngoài, chúng ta biết rằng giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng đòi hỏi một người đệ tử hướng dẫn có khả năng và thực sự làm việc từ các cấp độ bên trong, đồng thời báo cáo với Chân sư về sự tiến bộ của đệ tử mình từ các cấp độ bên trong.
243. Another fact of importance emerges here. The inner guiding disciple is definitely preparing the chela in the Light for the stage of accepted discipleship.
243. Ở đây xuất hiện một sự thật quan trọng khác. Người đệ tử hướng dẫn ở nội tâm chắc chắn đang chuẩn bị cho đệ tử trong Ánh sáng bước vào giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận.
244. The powerful triangle created is between the Master, the guiding disciple and the chela in the Light. Do we sense such a triangle in our own lives?
244. Tam giác đầy quyền năng được tạo thành giữa Chân sư, người đệ tử hướng dẫn và đệ tử trong Ánh sáng. Chúng ta có cảm nhận được một tam giác như vậy trong cuộc sống của chính mình không?
If the chela in the Light is truly in earnest and is consciously developing the higher sensitivity, this stage can be relatively short. Two lives sometimes are sufficient to cover [727] this period. The chela in the Light is one who treads the way of what is called “the lesser revelation”—lesser because it is concerned with the revelation of that which must be done in the personality life; it is not the way of the higher revelation of divinity and its nature. It is the revelation of that which is already manifested and not of what must be manifested. Ponder on this. The searchlight of the soul reveals faults in character, limitations in expression and inadequacies in conduct. These must be intelligently corrected.
Nếu đệ tử trong Ánh sáng thực sự nghiêm túc và đang phát triển một cách có ý thức tính nhạy cảm cao hơn, giai đoạn này có thể tương đối ngắn. Đôi khi, hai kiếp sống là đủ để hoàn tất [727] giai đoạn này. Đệ tử trong Ánh sáng là người bước trên con đường của điều được gọi là “sự mặc khải nhỏ”—nhỏ vì nó liên quan đến sự mặc khải về những gì phải làm trong đời sống phàm ngã; đó không phải là con đường của sự mặc khải cao hơn về thiên tính và bản chất của thiên tính. Đó là sự mặc khải về những gì đã biểu hiện, chứ không phải về những gì phải biểu hiện. Hãy suy ngẫm về điều này. Ánh đèn pha của linh hồn phơi bày những khuyết điểm trong tính cách, những giới hạn trong sự biểu đạt và những thiếu sót trong hành vi. Cần sửa chữa những điều này một cách sáng suốt.
245. We remember that the stage of Chela in the Light is concerned with developing higher sensitivity.
245. Chúng ta nhớ rằng giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng liên quan đến việc phát triển tính nhạy cảm cao hơn.
246. We learned that “several lives” is the usual duration of the stage called Little Chelaship. This is a rather inexact measure, and may mean anywhere from four to seven or eight, perhaps.
246. Chúng ta đã được biết rằng “vài kiếp sống” là thời lượng thông thường của giai đoạn được gọi là Địa vị tiểu đệ tử. Đây là một cách tính khá thiếu chính xác, và có lẽ có thể hàm ý từ bốn đến bảy hoặc tám kiếp sống.
247. Here we learn that “two lives” may be sufficient to cover the stage of Chela in the Light. But two lives are only “sometimes sufficient”. Perhaps it takes a bit more than two lives—perhaps three, four or five. We do not know exactly.
247. Ở đây, chúng ta được biết rằng “hai kiếp sống” có thể đủ để hoàn tất giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng. Nhưng hai kiếp sống chỉ “đôi khi là đủ”. Có lẽ cần hơn hai kiếp sống một chút—có lẽ ba, bốn hoặc năm. Chúng ta không biết chính xác.
248. The two phases (Little Chelaship and Chela in the Light) taken together might cover a duration which is as short as, perhaps, six lives, or as long as, perhaps, twelve thirteen or fourteen lives.
248. Hai giai đoạn—Địa vị tiểu đệ tử và Đệ tử trong Ánh sáng—gộp lại có thể kéo dài ngắn nhất có lẽ là sáu kiếp sống, hoặc lâu nhất có lẽ là mười hai, mười ba hay mười bốn kiếp sống.
249. We remember here our inference that the stage of Little Chelaship begins most probably somewhat before the first initiation (how much, we do not know), and that it is possible (though I think, quite unlikely) that the stage of Chela in the Light could also begin before the first degree. What we are told is that an accepted disciple must have taken the first initiation. Probably a number of lives can be spent in the stage of accepted disciple before the second initiation is reached. We begin to see why the interval between the first and second initiations may be relatively lengthy.
249. Ở đây, chúng ta nhớ lại suy luận của mình rằng giai đoạn Địa vị tiểu đệ tử rất có thể bắt đầu một khoảng thời gian trước lần điểm đạo thứ nhất—bao lâu thì chúng ta không biết—và rằng giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng có thể cũng bắt đầu trước bậc điểm đạo thứ nhất, dù tôi nghĩ điều đó khá khó xảy ra. Điều chúng ta thực sự được cho biết là một đệ tử được chấp nhận phải trải qua lần điểm đạo thứ nhất. Có lẽ một số kiếp sống có thể trôi qua trong giai đoạn đệ tử được chấp nhận trước khi đạt tới lần điểm đạo thứ hai. Chúng ta bắt đầu thấy vì sao khoảng thời gian giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai có thể tương đối dài.
250. The chela in the Light treads the “Way of the Lesser Revelation”. The world of personality (its nature, aptitudes, attitudes and faults) is revealed to the chela in the Light, but not very much of the Divine Plan, per se. To the accepted disciple, the Plan is at least somewhat revealed.
250. Đệ tử trong Ánh sáng bước trên “Con đường của Sự Mặc Khải Nhỏ”. Thế giới phàm ngã—bản chất, năng khiếu, thái độ và khuyết điểm của nó—hiển lộ trước đệ tử trong Ánh sáng, nhưng chính Thiên Cơ thì chưa hiển lộ được bao nhiêu. Với đệ tử được chấp nhận, Thiên Cơ ít nhất cũng hiển lộ phần nào.
251. The “revelation of divinity and its nature” must also be a revelation more pertinent to the state of Accepted Discipleship than to the stage of Chela in the Light.
251. Sự “mặc khải về thiên tính và bản chất của thiên tính” hẳn cũng phải là một sự mặc khải phù hợp với trạng thái Địa vị Đệ tử Được Chấp nhận hơn là với giai đoạn Đệ tử trong Ánh sáng.
252. If we think of an important formula in the science of esoteric psychology we can see a correlation: The formula runs:
252. Nếu nghĩ đến một công thức quan trọng trong khoa học Tâm Lý Học Nội Môn, chúng ta có thể thấy một mối tương quan. Công thức ấy như sau:
7. Alignment
7. Chỉnh hợp
8. Crisis
8. Khủng hoảng
9. Light
9. Ánh sáng
10. Revelation
10. Sự mặc khải
11. Integration
11. Sự tích hợp
253. The disciplic stage of Chela in the Light correlates with the phase called “Light” in this fivefold formula. Once there is alignment with the soul, a crisis ensues, and during the process of that crisis, light breaks forth revealing the aspirant to himself. This is definitely a phase of microcosmic revelation. It must precede the clear revelation of that portion of the Plan with which the aspirant/disciple can definitely assist.
253. Giai đoạn đệ tử mang tên Đệ tử trong Ánh sáng tương ứng với giai đoạn gọi là “Ánh sáng” trong công thức ngũ phân này. Một khi có sự chỉnh hợp với linh hồn, một cuộc khủng hoảng sẽ tiếp nối, và trong tiến trình của cuộc khủng hoảng ấy, ánh sáng bừng lên, giúp người chí nguyện thấy rõ chính mình. Đây chắc chắn là một giai đoạn mặc khải tiểu thiên địa. Nó phải đi trước sự mặc khải rõ ràng về phần Thiên Cơ mà người chí nguyện hay đệ tử có thể thực sự góp sức thực hiện.
254. The revelation which comes to the chela in the Light is not the same as the “Revelation” which is part of the fivefold formula—a greater revelation of the soul and of the Plan.
254. Sự mặc khải đến với đệ tử trong Ánh sáng không giống với “Sự Mặc Khải” vốn là một phần của công thức ngũ phân—một sự mặc khải lớn lao hơn về linh hồn và Thiên Cơ.
255. We can see how in different occult processes the same words may be used to describe different dynamics, so we must proceed cautiously.
255. Chúng ta có thể thấy rằng trong những tiến trình huyền bí khác nhau, cùng những từ ngữ ấy có thể mô tả những động thái khác nhau, vì vậy chúng ta phải thận trọng khi tiếp tục tìm hiểu.
256. Perhaps we might say that there are three kinds of revelations: microcosmic, soul, and macrocosmic—correlated to personality, soul and spiritual triad/monad.
256. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng có ba loại mặc khải: tiểu thiên địa, linh hồn và đại thiên địa—tương ứng với phàm ngã, linh hồn và Tam Nguyên Tinh Thần/chân thần.
257. The “higher revelation of divinity and its nature” is related not to that which is already manifested, but to that which must be manifested—both now and in the future.
257. Sự “mặc khải cao hơn về thiên tính và bản chất của thiên tính” liên quan không phải đến những gì đã biểu hiện, mà đến những gì phải biểu hiện—cả hiện nay lẫn trong tương lai.
258. The chela in the Light must grow into this higher type of revelation, which he can do, if he follows wisely the guidance of the guiding disciple and his own soul.
258. Đệ tử trong Ánh sáng phải phát triển để đạt tới loại mặc khải cao hơn này; y có thể làm được điều đó nếu sáng suốt tuân theo sự hướng dẫn của người đệ tử hướng dẫn và linh hồn của chính mình.
259. The light of the soul and the light emanating from the thought power of the guiding disciple, throw much light upon the aspirant/disciple’s personal life. Faults are revealed and the picture may not be ‘pretty’. Deficiencies revealed must be corrected before it becomes possible to move on to the state of accepted disciple.
259. Ánh sáng của linh hồn và ánh sáng phát ra từ quyền năng tư tưởng của người đệ tử hướng dẫn soi rọi rất nhiều vào đời sống cá nhân của người chí nguyện hay đệ tử. Những khuyết điểm lộ ra, và bức tranh ấy có thể không ‘đẹp đẽ’. Phải sửa chữa những thiếu sót đã lộ ra trước khi có thể tiến tới trạng thái đệ tử được chấp nhận.
260. When faced with “faults in character, limitations in expression and inadequacies in conduct” the chela in the Light must take action. This is obviously part of his “probation”. How will he handle this revelation? We can see that a chela in the Light is being strenuously tested with regard to his personality nature. We can also see why it is reasonable to consider such a chela a probationary disciple. A probation is a test.
260. Khi đối diện với “những khuyết điểm trong tính cách, những giới hạn trong sự biểu đạt và những thiếu sót trong hành vi”, đệ tử trong Ánh sáng phải hành động. Rõ ràng, đây là một phần trong giai đoạn “dự bị”. Y sẽ ứng phó với sự mặc khải này như thế nào? Chúng ta có thể thấy rằng đệ tử trong Ánh sáng đang chịu sự thử thách gay go về bản chất phàm ngã của mình. Chúng ta cũng có thể thấy vì sao việc xem một đệ tử như vậy là đệ tử dự bị là hợp lý. Một giai đoạn dự bị là một cuộc thử thách.
261. If this stage of correction is to last only two lives, the chela in the Light has his work cut out for him. A rather disciplined and assertive approach to personality management will be required.
261. Nếu giai đoạn sửa chữa này chỉ kéo dài hai kiếp sống, đệ tử trong Ánh sáng sẽ có rất nhiều việc phải làm. Y sẽ cần một cách tiếp cận khá kỷ luật và quyết liệt trong việc quản lý phàm ngã.
In the symbolic charts which the guiding disciple presents to the Master twice a year, the effort made along these lines is indicated, not the results; it is effort which counts. The results will be inevitable and commensurate with the effort. When these charts (three in number) are geometrically related and superimposed one upon the other, they indicate a definite ray pattern. Then the Master can gauge the rate and type of development and can determine the time for authorising the senior disciple to recommend the stage of accepted discipleship. When the demand of the aspirant, the guiding disciple’s recommendation, the karmic condition and the note which the Master registers coincide in time, then the third stage is reached.
Trong các biểu đồ biểu tượng mà người đệ tử hướng dẫn trình lên Chân sư mỗi năm hai lần, điều được thể hiện là nỗ lực theo những hướng này, chứ không phải kết quả; chính nỗ lực mới là điều đáng kể. Kết quả tất yếu sẽ đến và tương xứng với nỗ lực. Khi ba biểu đồ này được liên kết về mặt hình học và chồng lên nhau, chúng cho thấy một mô hình cung rõ rệt. Khi ấy, Chân sư có thể đánh giá tốc độ và loại hình phát triển, đồng thời xác định thời điểm cho phép người đệ tử cao niên đề nghị chuyển sang giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận. Khi lời thỉnh cầu của người chí nguyện, lời đề nghị của người đệ tử hướng dẫn, tình trạng nghiệp quả và âm điệu mà Chân sư ghi nhận cùng hội tụ vào một thời điểm, thì giai đoạn thứ ba được đạt tới.
262. It is clear that the guiding disciple has access to the Master at least twice a year. This means that the guiding disciple (when considered from this perspective) would reasonably be a Chela within the Aura, who has the right to set up an interview with the Master for purposes related to the Work.
262. Rõ ràng, người đệ tử hướng dẫn được tiếp xúc với Chân sư ít nhất mỗi năm hai lần. Điều này có nghĩa là, khi xét từ góc độ này, có thể hợp lý cho rằng người đệ tử hướng dẫn là một Đệ tử trong hào quang, có quyền thu xếp một cuộc diện kiến Chân sư vì những mục đích liên quan đến Công việc.
263. Something of real importance is suggested: it is effort which counts with the Masters and not necessary the results. Results will come according to the nature, intensity and quality of the effort.
263. Một điều thực sự quan trọng được gợi ra: đối với các Chân sư, chính nỗ lực mới là điều đáng kể, chứ không nhất thiết là kết quả. Kết quả sẽ đến tùy theo bản chất, cường độ và phẩm tính của nỗ lực.
264. One wonders whether the reporting occurs before the onset of the two yearly interludes, higher and lower. Or, if perhaps, every Ashram has its own kind of rhythm for reporting.
264. Chúng ta tự hỏi liệu việc báo cáo có diễn ra trước khi bắt đầu hai thời kỳ gián đoạn hằng năm, thượng và hạ, hay không. Hoặc có lẽ mỗi ashram có nhịp điệu báo cáo riêng.
265. The charts used to indicate progress are symbolic. There are three charts and, when superimposed, a definite ray pattern is indicated. These are amazing thoughts and correlate closely with the idea that, in esoteric astrology, patterns of squares, stars and triangles can be superimposed in order to reveal a disciple’s position and process.
265. Những biểu đồ dùng để thể hiện sự tiến bộ mang tính biểu tượng. Có ba biểu đồ, và khi chồng lên nhau, chúng cho thấy một mô hình cung rõ rệt. Đây là những ý tưởng đáng kinh ngạc và có mối tương quan chặt chẽ với ý tưởng rằng trong chiêm tinh học nội môn, có thể chồng các mô hình hình vuông, ngôi sao và tam giác lên nhau để làm rõ vị trí và tiến trình của một đệ tử.
266. We are being treated to important insights concerning modes of interior progress in relation to the Ashram. The guiding disciple does not initially have the authority to recommend that the aspirant/disciple under his supervision move to the stage of accepted discipleship. The Master watches with care the charts brought to him, and when the charts indicate the possibility, He then authorizes the guiding disciple to recommend the aspirant/disciple for the stage of Accepted Discipleship (presumably leaving the exact moment of recommendation to the discretion of the guiding disciple), otherwise one cannot understand why the Master, himself, would not simply conclude that the time had come for the elevation to accepted discipleship, leaving the guiding disciple out of the decision-making process.
266. Chúng ta đang được tiếp cận những hiểu biết sâu sắc và quan trọng về các phương thức tiến bộ nội tâm trong mối liên hệ với ashram. Ban đầu, người đệ tử hướng dẫn chưa có thẩm quyền đề nghị cho người chí nguyện hay đệ tử dưới sự giám sát của mình chuyển sang giai đoạn địa vị đệ tử được chấp nhận. Chân sư cẩn thận xem xét những biểu đồ trình lên Ngài, và khi các biểu đồ cho thấy khả năng ấy, Ngài mới cho phép người đệ tử hướng dẫn đề nghị cho người chí nguyện hay đệ tử bước vào giai đoạn Địa vị Đệ tử Được Chấp nhận, có lẽ để người đệ tử hướng dẫn tự quyết định thời điểm chính xác đưa ra lời đề nghị; nếu không, chúng ta không thể hiểu vì sao chính Chân sư lại không đơn giản kết luận rằng đã đến lúc nâng người ấy lên địa vị đệ tử được chấp nhận, mà không để người đệ tử hướng dẫn tham gia vào tiến trình quyết định.
267. It would seem that the Master, by authorizing the guiding disciple to recommend, is acknowledging that a period has come during which there is a likelihood that the aspirant/disciple will achieve to the extent that he could be rightly recommended for the stage of Accepted Discipleship. Part of the training of the guiding disciple would be to recognize when the proper moment had come, and then, and only then, to make the recommendation to the Master.
267. Dường như khi cho phép người đệ tử hướng dẫn đưa ra lời đề nghị, Chân sư đang công nhận rằng đã đến một thời kỳ mà trong đó người chí nguyện hay đệ tử có khả năng đạt tới mức độ đủ để có thể được đề nghị một cách chính đáng vào giai đoạn Địa vị Đệ tử Được Chấp nhận. Một phần trong việc huấn luyện người đệ tử hướng dẫn hẳn là nhận ra khi nào thời điểm thích hợp đã đến, và khi ấy, chỉ khi ấy, mới đưa ra lời đề nghị với Chân sư.
268. The Master, before empowering the guiding disciple to make the recommendation, has been able to gauge the type and rate of development related to the chela in the Light. We can only imagine how much experience would be necessary to judge accurately in this matter.
268. Trước khi trao quyền cho người đệ tử hướng dẫn đưa ra lời đề nghị, Chân sư đã có thể đánh giá loại hình và tốc độ phát triển của đệ tử trong Ánh sáng. Chúng ta chỉ có thể hình dung cần phải có biết bao kinh nghiệm mới có thể phán đoán chính xác về vấn đề này.
I would here again remind you that all these stages are related to work in the Ashram and to the life and vitality of the inner group. This group is composed, as you know, of old and experienced disciples and initiates and also of neophytes in various stages of development and also of disciples, passing through the many different stages of the Path. It is these widely different types of active disciples which bring about the inter-relation between the outer and the inner Ashrams, between the objective group upon the outer plane and the very much larger inner group.
Ở đây, Tôi muốn nhắc lại với các bạn rằng tất cả các giai đoạn này đều liên quan đến công việc trong ashram và đến sự sống cùng sinh lực của nhóm bên trong. Như các bạn biết, nhóm này gồm các đệ tử lâu năm, giàu kinh nghiệm và các điểm đạo đồ, cũng như những người sơ cơ ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, và cả các đệ tử đang trải qua nhiều giai đoạn khác nhau của Đường Đạo. Chính những loại đệ tử tích cực rất khác nhau này tạo nên mối liên hệ qua lại giữa các ashram bên ngoài và bên trong, giữa nhóm khách quan trên cõi bên ngoài và nhóm bên trong lớn hơn rất nhiều.
269. When dealing with the Six Stages of Discipleship, the Tibetan reminds us of their relation to the ashramic whole. He is asking for us to see them in terms of the world of meaning and in relation to the larger ashramic context.
269. Khi bàn đến Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử, Chân sư Tây Tạng nhắc chúng ta nhớ đến mối liên hệ của chúng với toàn thể ashram. Ngài yêu cầu chúng ta nhìn nhận chúng trong Thế giới của ý nghĩa và trong mối liên hệ với bối cảnh ashram rộng lớn hơn.
270. Of whom is an Ashram composed?
270. Một ashram gồm những ai?
12. Initiates
12. Các điểm đạo đồ
13. Old and experienced disciples
13. Các đệ tử lâu năm và giàu kinh nghiệm
14. Disciples passing through the many different stages of the Path
14. Các đệ tử đang trải qua nhiều giai đoạn khác nhau của Đường Đạo
15. Neophytes passing through various stages of development
15. Những người sơ cơ đang trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau
271. All these types are certainly needed, and because they exist within the context of the Ashram, the Ashram can be effective. All of these types are required in order to relate the large inner group to the objective group upon the outer plane.
271. Chắc chắn tất cả những loại người này đều cần thiết, và nhờ họ hiện diện trong bối cảnh của ashram mà ashram có thể hoạt động hiệu quả. Cần có tất cả những loại người này để liên kết nhóm lớn bên trong với nhóm khách quan trên cõi bên ngoài.
This brings me to a question which may quite normally arise in the minds of those working in the outer group and loosely related to the inner group: Is the level of the consciousness of the outer Ashram determined by the personnel of that group or by its relation to the whole Ashram of which it forms a relatively small part? When this question is posited by a member of an Ashram, it indicates a definite preoccupation with the personnel of the group and not with the group as an aspect of some Master’s Ashram. Disciples need [728] to remember that an Ashram is not confined to a few who may know each other and who may even meet together as Ashram members. An Ashram is an international group; it is composed of souls in incarnation and out of incarnation; it is a synthesis of initiates of various degrees and of accepted disciples. The Masters do not regard those who have taken the first initiation as initiates. This is a point which needs re-emphasis.
Điều này đưa Tôi đến một câu hỏi có thể nảy sinh hết sức tự nhiên trong thể trí của những người đang làm việc trong nhóm bên ngoài và có liên hệ lỏng lẻo với nhóm bên trong: Cấp độ tâm thức của ashram bên ngoài do các thành viên của nhóm ấy quyết định, hay do mối liên hệ của nhóm với toàn thể ashram mà nó chỉ là một phần tương đối nhỏ? Khi một thành viên của ashram đặt câu hỏi này, điều đó cho thấy người ấy rõ ràng đang bận tâm đến các thành viên của nhóm, chứ không xem nhóm như một phương diện trong ashram của một Chân sư nào đó. Các đệ tử cần [728] nhớ rằng một ashram không chỉ giới hạn trong một vài người có thể biết nhau và thậm chí có thể gặp gỡ nhau với tư cách là thành viên ashram. Một ashram là một nhóm quốc tế; nó gồm các linh hồn đang lâm phàm và không lâm phàm; đó là một tổng hợp của các điểm đạo đồ thuộc nhiều cấp bậc khác nhau và các đệ tử được chấp nhận. Các Chân sư không xem những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất là điểm đạo đồ. Đây là một điểm cần nhấn mạnh lại.
272. DK comes to another question which He must have sensed percolating in the minds of some of His chelas. What is the level of consciousness of the outer Ashram (i. e. , of such groups as DK had organized on the physical plane)? What determines the consciousness level of such a group? Do the personnel of the group determine it? Or does the relation of the outer group to the whole Ashram determine the level of consciousness of the group?
272. Chân sư DK chuyển sang một câu hỏi khác mà hẳn Ngài đã cảm nhận đang âm ỉ hình thành trong thể trí của một số đệ tử của Ngài. Cấp độ tâm thức của ashram bên ngoài là gì (nghĩa là, của những nhóm như các nhóm mà Chân sư DK đã tổ chức trên cõi hồng trần)? Điều gì quyết định cấp độ tâm thức của một nhóm như thế? Các thành viên của nhóm có quyết định điều đó không? Hay mối liên hệ của nhóm bên ngoài với toàn thể ashram quyết định cấp độ tâm thức của nhóm?
273. We can sense potential criticism in this question. Perhaps the questioner judges that some members of the outer ashramic group do not have a particularly high consciousness, and wonders whether the whole outer group will be held back by those members. The question seems really a rephrase of a similar question earlier asked and on which DK has already commented.
273. Chúng ta có thể cảm nhận sự chỉ trích tiềm ẩn trong câu hỏi này. Có lẽ người hỏi cho rằng một số thành viên của nhóm ashram bên ngoài không có tâm thức đặc biệt cao, và tự hỏi liệu những thành viên ấy có kìm hãm toàn bộ nhóm bên ngoài hay không. Dường như câu hỏi này thực ra chỉ diễn đạt lại một câu hỏi tương tự đã được đặt ra trước đó và Chân sư DK đã bình luận.
274. But DK sets such questioners straight by advising them that the tendency to ask questions of this nature means that the questioners are preoccupied with the personnel of a Master’s outer group and not with the group considered as an aspect of the Master’s Ashram.
274. Nhưng Chân sư DK chỉnh lại cách nhìn của những người hỏi như thế bằng cách cho họ biết rằng khuynh hướng đặt những câu hỏi thuộc loại này có nghĩa là họ đang bận tâm đến các thành viên trong nhóm bên ngoài của một Chân sư, chứ không xem nhóm như một phương diện trong ashram của Chân sư.
275. It would seem that a degree of impersonality would be recommended to such questioners. We can perceive each other as personalities or as souls. Such questioners obviously have not moved completely beyond the perception of their group brothers and sisters as personalities.
275. Dường như những người hỏi như thế cần được khuyên nên có một mức độ vô ngã nhất định. Chúng ta có thể nhìn nhận nhau như những phàm ngã hoặc như những linh hồn. Rõ ràng những người hỏi như thế vẫn chưa hoàn toàn vượt qua cách nhìn các huynh đệ và tỷ muội trong nhóm mình như những phàm ngã.
276. It is well for us to grasp the scope of an Ashram. It is very large group—really an international group. And, it is composed of souls both in and out of incarnation. We should not underestimate its scope—something often done by those with limited exposure to the wider group.
276. Chúng ta nên nắm bắt phạm vi của một ashram. Đó là một nhóm rất lớn—thực sự là một nhóm quốc tế. Và nhóm ấy gồm các linh hồn cả đang lâm phàm lẫn không lâm phàm. Chúng ta không nên đánh giá thấp phạm vi của nó—điều mà những người ít tiếp xúc với nhóm rộng lớn hơn thường làm.
277. What is said here is important: the Ashram is a “synthesis of initiates of various degrees and of accepted disciples. ” (DINA I 728) However, the initiates of various degrees here referenced do include first degree initiates. The inference here is that when a disciple takes the second initiation, he can be regarded as an initiate (at least in the context here discussed). However, first degree initiates can be members of the Ashram (on its periphery), because those who are still first degree initiates can become accepted disciples, and accepted disciples are members of the Ashram.
277. Điều được nói ở đây rất quan trọng: ashram là một “tổng hợp của các điểm đạo đồ thuộc nhiều cấp bậc khác nhau và các đệ tử được chấp nhận.” (DINA I 728) Tuy nhiên, các điểm đạo đồ thuộc nhiều cấp bậc khác nhau được nhắc đến ở đây quả có bao gồm các điểm đạo đồ bậc một. Điều có thể suy ra ở đây là khi một đệ tử trải qua lần điểm đạo thứ hai, y có thể được xem là một điểm đạo đồ (ít nhất là trong bối cảnh đang bàn ở đây). Tuy nhiên, các điểm đạo đồ bậc một có thể là thành viên của ashram (ở ngoại vi của nó), vì những người vẫn còn là điểm đạo đồ bậc một có thể trở thành đệ tử được chấp nhận, và các đệ tử được chấp nhận là thành viên của ashram.
278. The point is clarified below.
278. Điểm này được làm rõ dưới đây.
Disciples who have taken the second initiation are regarded as “probationary initiates,” and only when they have taken the third initiation are they truly initiate from the standpoint of the Hierarchy. The first initiation is sometimes spoken of as the “Lemurian Initiation” and the second as the “Atlantean Initiation,” but the third initiation—that of our Aryan race—is technically regarded by Them as the first initiation. This is a new angle upon which I would ask you to think. The term, therefore, of Accepted Disciple covers the stages of the first and second initiations; when a disciple has taken the third initiation, he is no longer technically an accepted disciple, even though he still remains in a Master’s group until he has taken the fourth initiation. I am pointing out these technicalities so that there may be clarity and proportion in your thinking.
Những đệ tử đã trải qua lần điểm đạo thứ hai được xem là “điểm đạo đồ dự bị,” và chỉ khi đã trải qua lần điểm đạo thứ ba, họ mới thực sự là điểm đạo đồ theo quan điểm của Thánh đoàn. Lần điểm đạo thứ nhất đôi khi được gọi là “Cuộc Điểm Đạo Lemuria” và lần thứ hai là “Cuộc Điểm Đạo Atlantis,” nhưng lần điểm đạo thứ ba—cuộc điểm đạo của nhân loại Arya chúng ta—về mặt chuyên môn được Các Ngài xem là lần điểm đạo thứ nhất. Đây là một góc nhìn mới mà Tôi muốn các bạn suy ngẫm. Vì vậy, thuật ngữ Đệ Tử Được Chấp Nhận bao hàm các giai đoạn của lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai; khi một đệ tử đã trải qua lần điểm đạo thứ ba, về mặt chuyên môn, y không còn là một đệ tử được chấp nhận, mặc dù y vẫn ở trong nhóm của một Chân sư cho đến khi trải qua lần điểm đạo thứ tư. Tôi chỉ ra những chi tiết chuyên môn này để tư duy của các bạn có được sự rõ ràng và ý thức về tỉ lệ.
279. The second degree initiate is in something of a grey area. First degree initiates are not regarded as initiates by the Hierarchy. And, the Hierarchy regards only third degree initiates as true initiates. The status of the second degree initiate is, thus, not a true initiate, but still an initiate of some kind. The term chosen to define this classification is “probationary initiate”. We can see why the second degree is considered so important, and how it is quite distinct from the first in the eyes of the Hierarchy.
279. Điểm đạo đồ bậc hai ở trong một vùng có phần chưa rõ ràng. Thánh đoàn không xem các điểm đạo đồ bậc một là điểm đạo đồ. Và Thánh đoàn chỉ xem các điểm đạo đồ bậc ba là những điểm đạo đồ thực sự. Do đó, địa vị của điểm đạo đồ bậc hai chưa phải là một điểm đạo đồ thực sự, nhưng vẫn là một dạng điểm đạo đồ nào đó. Thuật ngữ được chọn để xác định loại này là “điểm đạo đồ dự bị”. Chúng ta có thể thấy vì sao bậc hai được xem là quan trọng đến thế, và trong mắt Thánh đoàn, nó khác biệt rõ rệt với bậc một như thế nào.
280. I am remembering Master DK telling a candidate for the second initiation that “my rating of you is high”.
280. Tôi nhớ Chân sư DK đã nói với một ứng viên cho lần điểm đạo thứ hai rằng “Tôi đánh giá em rất cao”.
“I would remind you that the emotion to which I refer in connection with you is not that of the ordinary person. You are confronted with the emotion which the second initiation stirs up. This is a very different matter. You should realise, therefore, that my rating of you is high. ” (DINA II 526)
“Tôi muốn nhắc em rằng cảm xúc mà Tôi đề cập khi nói về em không phải là cảm xúc của người bình thường. Em đang đối diện với cảm xúc mà lần điểm đạo thứ hai khơi dậy. Đây là một vấn đề rất khác. Vì vậy, em nên nhận ra rằng Tôi đánh giá em rất cao.” (DINA II 526)
A long series of lives has led to the second degree, and a new unit of work is commencing. This unit of work can be completed in just a couple of lives or even in one. So we see that the series of initiations—two/three/four—is entirely different from the span of lives comprising the first initiation and the series of lives which follow it.
Một chuỗi dài các kiếp sống đã dẫn đến bậc hai, và một đơn vị công việc mới đang bắt đầu. Đơn vị công việc này có thể hoàn tất chỉ trong một vài kiếp sống hoặc thậm chí trong một kiếp. Vì vậy, chúng ta thấy rằng chuỗi các cuộc điểm đạo—hai/ba/bốn—hoàn toàn khác với quãng các kiếp sống bao hàm lần điểm đạo thứ nhất và chuỗi các kiếp sống tiếp theo sau đó.
281. The classification of Lemurian, Atlantean and Aryan, when relating to the first three initiations, is familiar to most. Only the Aryan initiate (the initiate of the third degree) is considered, by Hierarchy, to have taken the “first initiation”! This is, for one thing, because the third initiation is the first solar initiation, and initiation is a method by which the power and presence of the Solar Logos via the Solar Angel is established in the human consciousness.
281. Cách phân loại Lemuria, Atlantis và Arya khi liên hệ với ba lần điểm đạo đầu tiên vốn quen thuộc với phần lớn mọi người. Thánh đoàn chỉ xem điểm đạo đồ Arya (điểm đạo đồ bậc ba) là đã trải qua “lần điểm đạo thứ nhất”! Một lý do là vì lần điểm đạo thứ ba là lần điểm đạo thái dương đầu tiên, và điểm đạo là một phương pháp qua đó quyền năng cùng sự hiện diện của Thái dương Thượng đế, thông qua Thái dương Thiên Thần, được thiết lập trong tâm thức con người.
282. Very important information meant to induce a proper sense of proportion is here given. Accepted discipleship is a stage which can occur after the first initiation and before the third.
282. Ở đây có những thông tin rất quan trọng nhằm khơi dậy một ý thức đúng đắn về tỉ lệ. Địa vị đệ tử được chấp nhận là một giai đoạn có thể xuất hiện sau lần điểm đạo thứ nhất và trước lần thứ ba.
283. Once a disciple has become an initiate of the third degree, he is no longer, technically an accepted disciple.
283. Một khi đệ tử đã trở thành điểm đạo đồ bậc ba, về mặt chuyên môn, y không còn là một đệ tử được chấp nhận.
284. After the third degree the initiate will remain in the Master’s group. This seems to suggest that after the fourth degree the initiate may not so remain.
284. Sau bậc ba, điểm đạo đồ vẫn ở trong nhóm của Chân sư. Điều này dường như gợi ý rằng sau bậc bốn, điểm đạo đồ có thể không còn ở lại như vậy.
An Ashram is, therefore, representative of all stages of unfoldment, from the most advanced to beginners, such as those who read these instructions. The point of importance to each disciple in an Ashram is whether he can step up his consciousness and his conscious response to the ashramic vibration so that he does not hinder the planned activities of the Ashram. Must the senior and the more advanced initiate-disciples halt, or wait and step down their activities so as to give the less advanced the time and opportunity to measure up to them? The question therefore is: Do the senior disciples wait or do the junior disciples hinder?
Vì vậy, một ashram đại diện cho mọi giai đoạn khai mở, từ những người tiến bộ nhất đến những người mới bắt đầu, chẳng hạn như những người đọc các huấn thị này. Điểm quan trọng đối với mỗi đệ tử trong một ashram là liệu y có thể nâng cao tâm thức và sự đáp ứng có ý thức của mình đối với rung động của ashram, để không cản trở các hoạt động đã hoạch định của ashram hay không. Liệu các đệ tử-điểm đạo đồ cao niên và tiến bộ hơn có phải dừng lại, hay chờ đợi và giảm mức độ hoạt động để dành cho những người ít tiến bộ hơn thời gian và cơ hội vươn tới trình độ của họ không? Vì vậy, câu hỏi là: Các đệ tử cao niên có chờ đợi hay các đệ tử ít thâm niên có gây cản trở?
285. Master DK is always correcting distorted and inflated points of view. In speaking of the personnel of an Ashram, He speaks of those who are advanced as of those who are beginners. Those who read these instructions are beginners! Those who do not even bother to read these instructions (ignoring them while knowing they exist) may not have even begun.
285. Chân sư DK luôn chỉnh lại những quan điểm méo mó và phóng đại. Khi nói về các thành viên của một ashram, Ngài nói đến cả những người tiến bộ lẫn những người mới bắt đầu. Những người đọc các huấn thị này là những người mới bắt đầu! Những người thậm chí không buồn đọc các huấn thị này (phớt lờ chúng dù biết chúng hiện hữu) có lẽ còn chưa bắt đầu.
286. DK now addresses each disciple who may be “in an Ashram”. The task incumbent upon such an one is to “step up his consciousness and his conscious response to the ashramic vibration so that he does not hinder the planned activities of the Ashram”. This means, for the neophyte in the Ashram, greatly increased pressure. He must rise and make the grade, or he proves a hindrance to ashramic plans.
286. Giờ đây, Chân sư DK nói với từng đệ tử có thể đang “ở trong một ashram”. Nhiệm vụ mà một người như thế phải đảm nhận là “nâng cao tâm thức và sự đáp ứng có ý thức của mình đối với rung động của ashram, để không cản trở các hoạt động đã hoạch định của ashram”. Đối với người sơ cơ trong ashram, điều này có nghĩa là áp lực gia tăng rất nhiều. Y phải vươn lên và đạt yêu cầu, nếu không y sẽ trở thành một trở ngại đối với các kế hoạch của ashram.
287. Again the same sort of question is posed. It boils down to this: “Do the senior disciples wait or do the junior disciples hinder?”
287. Một lần nữa, cùng loại câu hỏi ấy lại được đặt ra. Cốt lõi của câu hỏi là: “Các đệ tử cao niên có chờ đợi hay các đệ tử ít thâm niên có gây cản trở?”
288. Perhaps through correct division of labor, the senior disciple need not wait, and the junior disciple, though not capable of measuring up to the vibration of the senior disciples, will not hinder.
288. Có lẽ nhờ phân công lao động đúng đắn, đệ tử cao niên không cần chờ đợi, còn đệ tử ít thâm niên, dù chưa thể đạt tới rung động của các đệ tử cao niên, cũng sẽ không gây cản trở.
I would assure you that the standard of measurement is not a dead level and I would assure beginners that they cannot hinder the advanced members of an Ashram, but that they can throw themselves out of the sphere of activity, though not out of the group. It is the unready and the untrained who do the waiting, not the ready and the truly dedicated.
Tôi muốn bảo đảm với các bạn rằng chuẩn mực đánh giá không phải là một mức đồng loạt cứng nhắc, và Tôi muốn bảo đảm với những người mới bắt đầu rằng họ không thể cản trở các thành viên tiến bộ của một ashram, nhưng họ có thể tự đẩy mình ra khỏi phạm vi hoạt động, dù không ra khỏi nhóm. Chính những người chưa sẵn sàng và chưa được huấn luyện phải chờ đợi, chứ không phải những người đã sẵn sàng và thực sự tận hiến.
289. Master DK does not answer explicitly. He seems to suggest that the “standard of measurement” is neither the highest nor the lowest.
289. Chân sư DK không trả lời một cách tường minh. Dường như Ngài gợi ý rằng “chuẩn mực đánh giá” không phải là mức cao nhất cũng không phải là mức thấp nhất.
290. Elsewhere He has spoken of the need for some to slacken their pace while others must hasten it. Perhaps there is a compromise.
290. Ở nơi khác, Ngài đã nói rằng một số người cần chậm bước lại trong khi những người khác phải đẩy nhanh bước tiến. Có lẽ có một sự dung hòa.
291. In any case, beginners “cannot hinder the advanced members of an Ashram” but, through wrong thought and action, they can “throw themselves out of the sphere of activity, though not out of the group” This last proviso is interesting and important, and suggests the magnetic benevolence of the Ashram.
291. Dù sao đi nữa, những người mới bắt đầu “không thể cản trở các thành viên tiến bộ của một ashram” nhưng qua tư tưởng và hành động sai lầm, họ có thể “tự đẩy mình ra khỏi phạm vi hoạt động, dù không ra khỏi nhóm” Điều kiện giới hạn sau cùng này vừa thú vị vừa quan trọng, và gợi cho thấy lòng nhân từ mang từ tính của ashram.
292. We see that great stress descends upon the disciple who enters an Ashram as a neophyte. A most concerted effort is required of him, and it is expected that he will make that effort, even if he does not immediately succeed in elevating his vibration to the degree he might hope.
292. Chúng ta thấy đệ tử gia nhập một ashram với tư cách người sơ cơ phải chịu áp lực lớn. Y cần nỗ lực hết sức tập trung, và người ta kỳ vọng y sẽ thực hiện nỗ lực ấy, dù y chưa lập tức thành công trong việc nâng rung động của mình lên mức mong muốn.
293. Finally, we learn that it is the “unready and untrained who do the waiting, not the ready and truly dedicated”.
293. Cuối cùng, chúng ta biết rằng chính “những người chưa sẵn sàng và chưa được huấn luyện phải chờ đợi, chứ không phải những người đã sẵn sàng và thực sự tận hiến”.
294. What is the implication? Dedicate yourself to the Ashram, truly dedicate yourself, and do what it takes to make yourself ready. Otherwise you cannot proceed as rapidly as you could and should.
294. Điều này hàm ý gì? Hãy tận hiến cho ashram, thực sự tận hiến, và làm những gì cần thiết để chuẩn bị cho mình sẵn sàng. Nếu không, các bạn không thể tiến nhanh như mình có thể và nên tiến.
[729]
[729]
The task of the Master is to stimulate as many as possible in His group to work consistently on levels of spiritual activity, wherein the fire of the will-to-love may animate and dominate. Frequently, a part of the Ashram is still struggling with the first stages in the task of understanding the fires of the mind; these must be first comprehended and their fiery essence quenched before the fire of the will-to-love can flow through the disciple.
Nhiệm vụ của Chân sư là kích thích càng nhiều người trong nhóm của Ngài càng tốt để họ hoạt động nhất quán trên các cấp độ hoạt động tinh thần, nơi ngọn lửa của Ý Chí-Yêu Thương có thể tiếp sinh khí và chi phối. Thường thì một bộ phận của ashram vẫn còn vật lộn với những giai đoạn đầu trong nhiệm vụ thấu hiểu các ngọn lửa của thể trí; trước hết, phải thấu hiểu những ngọn lửa này và dập tắt tinh chất rực lửa của chúng trước khi ngọn lửa của Ý Chí-Yêu Thương có thể tuôn chảy qua đệ tử.
295. As the new member of the Ashram struggles to make the grade, what must the Master do? His task is stimulation. He attempts to stimulate His group and its personnel “to work consistently on levels of spiritual activity, wherein the fire of the will-to-love may animate and dominate”.
295. Khi thành viên mới của ashram nỗ lực đạt yêu cầu, Chân sư phải làm gì? Nhiệm vụ của Ngài là kích thích. Ngài cố gắng kích thích nhóm của Ngài và các thành viên trong đó “hoạt động nhất quán trên các cấp độ hoạt động tinh thần, nơi ngọn lửa của Ý Chí-Yêu Thương có thể tiếp sinh khí và chi phối”.
296. We remember in these instructions the importance of the will-to-love which is the “love of the Whole and the ability to do that which is needed for the good of the group in the right way and with the needed skill in action. ”
296. Chúng ta nhớ rằng trong các huấn thị này, Ý Chí-Yêu Thương có tầm quan trọng lớn; đó là “tình thương đối với Toàn Thể và khả năng làm điều cần thiết vì lợi ích của nhóm theo cách đúng đắn và với kỹ năng hành động cần có.”
297. Animation is the first stage; domination is the second, and signifies even more complete control of the disciple by the will-to-love.
297. Tiếp sinh khí là giai đoạn thứ nhất; chi phối là giai đoạn thứ hai, và biểu thị sự kiểm soát còn trọn vẹn hơn của Ý Chí-Yêu Thương đối với đệ tử.
298. The division between heart and mind is discussed. From this perspective, heart is superior to mind. The mind must be subdued, its “fiery essence quenched before the fire of the will-to-love can flow through the disciple”. This is a cautionary note.
298. Sự phân chia giữa trái tim và thể trí được bàn đến. Từ góc nhìn này, trái tim cao hơn thể trí. Phải chế ngự thể trí, “dập tắt tinh chất rực lửa của nó trước khi ngọn lửa của Ý Chí-Yêu Thương có thể tuôn chảy qua đệ tử”. Đây là một lời lưu ý cảnh tỉnh.
299. Those who have just entered the Ashram are more likely to be involved with the third aspect of divinity and hence the mind, than those who are more experienced. The second aspect and the fire of love is their objective.
299. Những người vừa gia nhập ashram có nhiều khả năng gắn với phương diện thứ ba của thiên tính, và do đó với thể trí, hơn những người giàu kinh nghiệm hơn. Phương diện thứ hai và ngọn lửa của tình thương là mục tiêu của họ.
The point to be grasped is that the work of the Ashram goes on and disciples and initiates (whose hearts are aflame) continue to work unimpeded. This covers the individual reaction to the Ashram personnel. But where all the group are aflame with love and are living as souls, then the Ashram becomes a vital centre or vortex of force and dynamically effective. The effort of the Masters Who work through the method of forming Ashrams is to bring about as rapidly as possible this unity of love and intention (will). It is only the beginner who is preoccupied with his individual effect in an Ashram. The trained, released disciples are more concerned with the task to be carried on and with the work to be done. An individual disciple may suffer in his personality as a result of the failure of his group brothers to understand or to arrest the fire of their minds, but he goes on steadily with the work and his personal effectiveness, as a serving unit, remains unaffected. He knows that some day they will be liberated from themselves. In the meantime, he labours to offset their influence and to this extent his task is harder, but he knows that they are on the way to understanding; he knows too that at present they cannot help but see in him and even in their Master the very qualities which are dominating them. For, my brother, we see in others what is in us, even when it is not there at all or to the same extent. Disciples need to learn the distinction between true analytical insight and so-called criticism. A Master does not criticise the members of His Ashram. He seeks to analyse for them the points wherein they may hinder the usefulness of the service of the Ashram. There is a basic distinction between this constructive aid and the criticism which is based on a sense of personal superiority and a love of fault finding.
Điểm cần nắm bắt là công việc của ashram vẫn tiếp diễn, và các đệ tử cùng các điểm đạo đồ (có trái tim rực lửa) vẫn tiếp tục làm việc mà không bị cản trở. Điều này bao quát phản ứng của cá nhân đối với các thành viên ashram. Nhưng khi cả nhóm đều rực cháy tình thương và sống như những linh hồn, thì ashram trở thành một trung tâm đầy sinh lực hay một xoáy mãnh lực, và phát huy hiệu quả mạnh mẽ. Các Chân sư làm việc theo phương pháp thành lập các ashram luôn nỗ lực mang lại sự hợp nhất này của tình thương và ý định (ý chí) càng nhanh càng tốt. Chỉ người mới bắt đầu mới bận tâm đến ảnh hưởng cá nhân của mình trong một ashram. Các đệ tử đã được huấn luyện và giải thoát quan tâm nhiều hơn đến nhiệm vụ phải tiếp tục thực hiện và công việc phải làm. Một đệ tử có thể chịu đau khổ trong phàm ngã vì các huynh đệ trong nhóm không thấu hiểu hoặc không kiềm chế được ngọn lửa của thể trí họ, nhưng y vẫn kiên trì tiếp tục công việc, và hiệu quả cá nhân của y với tư cách một đơn vị phụng sự vẫn không suy giảm. Y biết rằng một ngày nào đó họ sẽ được giải thoát khỏi chính mình. Trong lúc chờ đợi, y nỗ lực hóa giải ảnh hưởng của họ, và trong chừng mực ấy, nhiệm vụ của y khó khăn hơn, nhưng y biết rằng họ đang trên đường đi đến sự thấu hiểu; y cũng biết rằng hiện nay họ không thể không nhìn thấy nơi y, và ngay cả nơi Chân sư của họ, chính những phẩm tính đang chi phối họ. Vì, huynh đệ của Tôi, chúng ta nhìn thấy nơi người khác những gì có trong mình, ngay cả khi những điều ấy hoàn toàn không có ở họ hoặc không có đến mức ấy. Các đệ tử cần học cách phân biệt giữa sự thấu suốt mang tính phân tích chân chính và điều được gọi là sự chỉ trích. Một Chân sư không chỉ trích các thành viên trong ashram của Ngài. Ngài tìm cách phân tích cho họ thấy những điểm mà họ có thể làm giảm tính hữu ích của công việc phụng sự của ashram. Có một sự khác biệt căn bản giữa sự trợ giúp mang tính xây dựng này và sự chỉ trích dựa trên cảm giác cá nhân mình vượt trội cùng sự ưa thích bới lỗi.
300. The successful worker in any Ashram has “heart aflame”. This is an essential prerequisite, for the Hierarchy is the Hierarchy of Love.
300. Người hoạt động thành công trong bất kỳ ashram nào đều có “trái tim rực lửa”. Đây là một điều kiện tiên quyết thiết yếu, vì Thánh đoàn là Thánh đoàn của Bác ái.
301. The Master must see to it that “all the group are aflame and living as souls”. Then the Ashram can become a factor of moment in the life of the Hierarchy.
301. Chân sư phải bảo đảm rằng “cả nhóm đều rực lửa và sống như những linh hồn”. Khi ấy, ashram có thể trở thành một nhân tố quan trọng trong đời sống của Thánh đoàn.
302. Ashrams are to be qualified particularly by the unity of love and will (or intention). Intelligence, the third aspect, is assumed.
302. Các ashram phải đặc biệt mang phẩm tính hợp nhất của tình thương và ý chí (hay ý định). Trí thông tuệ, phương diện thứ ba, được mặc nhiên xem là đã có.