Trích nội dung chương
303. The difference between the ashramic beginner and those more experienced is clear. The beginner is self-preoccupied. The experienced ashramic worker is getting on with the ashramic task and is not concerned with his position within the Ashram or in relation to the Master. The experienced worker is far more decentralized. 303. Sự khác biệt giữa người mới bắt đầu trong ashram và những người giàu kinh nghiệm hơn là rõ ràng. Người mới bắt đầu bận tâm đến bản thân. Người hoạt động giàu kinh nghiệm trong ashram tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của ashram và không bận tâm đến vị trí của mình trong ashram hay trong mối liên hệ với Chân sư. Người…
303. The difference between the ashramic beginner and those more experienced is clear. The beginner is self-preoccupied. The experienced ashramic worker is getting on with the ashramic task and is not concerned with his position within the Ashram or in relation to the Master. The experienced worker is far more decentralized.
303. Sự khác biệt giữa người mới bắt đầu trong ashram và những người giàu kinh nghiệm hơn là rõ ràng. Người mới bắt đầu bận tâm đến bản thân. Người hoạt động giàu kinh nghiệm trong ashram tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của ashram và không bận tâm đến vị trí của mình trong ashram hay trong mối liên hệ với Chân sư. Người hoạt động giàu kinh nghiệm đã phi tập trung vào bản thân nhiều hơn hẳn.
304. We see that the experienced ashramic worker works despite any suffering which may arise because his fellow disciples fail to arrest the fires of mind, unleashing it upon him (and even upon the Master!) Suffering there will be, because the spirit of criticism is hard to outgrow. But he (the experienced one) goes forward with determination, understanding and forbearance. He has “been there”, and knows that, at length, the fires of love will supersede the fires of mind. He works and patiently waits for his younger brothers to outgrow themselves.
304. Chúng ta thấy người hoạt động giàu kinh nghiệm trong ashram vẫn làm việc bất chấp mọi đau khổ có thể nảy sinh vì các đệ tử đồng môn không kiềm chế được những ngọn lửa của thể trí, để chúng trút lên y (và thậm chí lên cả Chân sư!) Đau khổ sẽ có, vì tinh thần chỉ trích là điều khó vượt qua. Nhưng y (người giàu kinh nghiệm) vẫn tiến bước với sự quyết tâm, thấu hiểu và khoan dung. Y đã “từng trải qua điều đó”, và biết rằng cuối cùng những ngọn lửa của tình thương sẽ thay thế những ngọn lửa của thể trí. Y làm việc và kiên nhẫn chờ đợi các huynh đệ ít thâm niên hơn vượt lên chính mình.
305. One gathers the impression that we cannot help but suffer from each other. It is the attitude we assume during such suffering which is of importance. We cannot return criticism for criticism received. This only perpetuates the negative cycle. We have no choice but to “bear with” each other, trusting that growth into greater maturity is inevitable.
305. Người ta có cảm tưởng rằng chúng ta không thể tránh khỏi việc chịu đau khổ vì nhau. Điều quan trọng là thái độ của chúng ta trong lúc chịu đau khổ như thế. Chúng ta không thể đáp lại sự chỉ trích bằng sự chỉ trích. Điều này chỉ kéo dài chu kỳ tiêu cực. Chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc “nhẫn nại với” nhau, tin rằng sự phát triển hướng đến mức trưởng thành cao hơn là điều tất yếu.
306. The great psychological truth of projection is here discussed. Is it not astonishing to realize that we see in our fellow disciples, and even in our Master, that which is in ourselves? The discovery of our projections and their withdrawal always comes as a shock to the consciousness. Thus, humility arises.
306. Chân lý tâm lý học lớn lao về sự phóng chiếu được bàn đến ở đây. Chẳng phải thật đáng kinh ngạc khi nhận ra rằng chúng ta nhìn thấy nơi các đệ tử đồng môn, và ngay cả nơi Chân sư của mình, những gì có trong chính mình sao? Việc phát hiện những phóng chiếu của mình và thu hồi chúng luôn gây chấn động cho tâm thức. Nhờ đó, lòng khiêm nhường nảy sinh.
307. DK closes this paragraph making a distinction between analysis and criticism; the first is “constructive aid” and the second based on a sense of “personal superiority and a love of fault finding”. We can see how closely the dynamics of criticism (as usually practiced) are related to the exaltation of the ego. We can see how far the criticizing one is from the realization of soul. The loving individual does not engage in destructive criticism. He analyzes for the sake of helping his fellow human beings.
307. Chân sư DK kết thúc đoạn này bằng cách phân biệt giữa phân tích và chỉ trích; điều thứ nhất là “sự trợ giúp mang tính xây dựng”, còn điều thứ hai dựa trên cảm giác “cá nhân mình vượt trội cùng sự ưa thích bới lỗi”. Chúng ta có thể thấy động lực của sự chỉ trích (như thường được thực hiện) gắn chặt với việc đề cao phàm ngã đến mức nào. Chúng ta có thể thấy người chỉ trích còn cách xa sự nhận biết linh hồn đến đâu. Người giàu tình thương không tham gia vào sự chỉ trích mang tính phá hoại. Y phân tích nhằm giúp đỡ đồng loại.
[730]
[730]
Each Master has reached the point where the vision is clear to Him; this is part of the reward accorded to the initiate. He identifies Himself with it, colouring it necessarily, richly and helpfully with His ray “apprehension,” and interpreting it in terms of His contribution to the whole. Therein lies the secret of the inevitable and the unhinderable (is there such a word, brother of mine?) success of the vision as it is materialised through the combined efforts of the Hierarchy, conditioned in time and space by some Master or group of Masters, working on some one ray or rays. In the early days of the present cycle of hierarchical effort (between 1925 and 1936), the ray at work upon humanity was the first ray. The activity of this ray culminated in the declaration of war by Great Britain in 1939, when the destructive force of that ray—misapplied and misdirected—led Germany to invade Poland. In 1932, the influence of the second ray began to assert itself and will continue to do so until 1945 when the seventh ray will swing slowly into activity. You will then have three rays producing simultaneous effects upon mankind:
Mỗi Chân sư đều đã đạt đến điểm mà tầm nhìn trở nên rõ ràng đối với Ngài; đây là một phần phần thưởng dành cho điểm đạo đồ. Ngài đồng hoá với tầm nhìn ấy, tất nhiên làm cho nó mang sắc thái phong phú và hữu ích qua “sự lĩnh hội” theo cung của Ngài, và diễn giải nó theo sự đóng góp của Ngài vào toàn thể. Chính trong đó có bí quyết thành công tất yếu và không thể ngăn cản (huynh đệ của Tôi, có cách nói như thế chăng?) của tầm nhìn khi nó hiện hình qua những nỗ lực phối hợp của Thánh đoàn, do một Chân sư hay một nhóm Chân sư hoạt động trên một hay nhiều cung định hình trong thời gian và không gian. Trong những năm đầu của chu kỳ nỗ lực hiện nay của Thánh đoàn (từ năm 1925 đến năm 1936), cung tác động lên nhân loại là cung một. Hoạt động của cung này đạt đỉnh điểm khi Anh Quốc tuyên chiến vào năm 1939, lúc mãnh lực hủy diệt của cung ấy—bị áp dụng sai và hướng dẫn sai—đã dẫn nước Đức đến việc xâm lược Ba Lan. Năm 1932, ảnh hưởng của cung hai bắt đầu khẳng định và sẽ tiếp tục như thế cho đến năm 1945, khi cung bảy từ từ đi vào hoạt động. Khi ấy, các bạn sẽ có ba cung đồng thời tạo ảnh hưởng lên nhân loại:
308. A Master is an initiate, and a true initiate has clear vision—increasing in clarity with every subsequent initiation.
308. Một Chân sư là một điểm đạo đồ, và một điểm đạo đồ thực sự có tầm nhìn rõ ràng—ngày càng rõ hơn qua mỗi lần điểm đạo tiếp theo.
309. A Master’s vision is colored (richly and helpfully) by his “ray ‘apprehension’”. The Master thinks ever in terms of His contribution to the whole.
309. Tầm nhìn của một Chân sư mang sắc thái phong phú và hữu ích từ “sự ‘lĩnh hội’”. theo cung của Ngài. Chân sư luôn suy nghĩ về sự đóng góp của Ngài cho toàn thể.
310. Such a vision is sure to materialize at length. It cannot be hindered. It is materialized through “the combined efforts of the Hierarchy” and is aided by certain Masters or groups of Masters working on one or other of the rays.
310. Một tầm nhìn như thế chắc chắn cuối cùng sẽ hiện hình. Không gì có thể cản trở nó. Nó hiện hình nhờ “những nỗ lực phối hợp của Thánh đoàn” và nhận được sự trợ giúp của một số Chân sư hoặc nhóm Chân sư hoạt động trên cung này hay cung khác.
311. Thus, a Master is in a good position to lovingly analyze His chelas (though in His analysis He may choose to be direct).
311. Do đó, một Chân sư có đủ điều kiện thuận lợi để phân tích các đệ tử của Ngài với tình thương (dù trong sự phân tích ấy, Ngài có thể chọn cách nói thẳng).
312. The implication is that, if analysis is really to be helpful, it must come from one with clear vision and, hopefully, with an initiate consciousness. We, who may not be at that point of development, can at least analyze with correct motive—even if our vision is somewhat obscured.
312. Điều này hàm ý rằng, để sự phân tích thực sự hữu ích, nó phải xuất phát từ một người có tầm nhìn sáng rõ và, hy vọng là, có tâm thức của một điểm đạo đồ. Chúng ta, những người có thể chưa đạt đến trình độ phát triển ấy, ít nhất cũng có thể phân tích với động cơ đúng đắn—dù tầm nhìn của chúng ta còn phần nào bị che mờ.
313. Certain hints are here given which could be seized upon by a ray theorist to expand the knowledge of the Science of Cycles.
313. Ở đây có một số gợi ý mà một nhà lý thuyết về các cung có thể nắm lấy để mở rộng tri thức về Khoa Học Chu Kỳ.
16. From 1925-1939, the first ray was active (fifteen years)
16. Từ 1925–1939, cung một hoạt động (mười lăm năm)
17. From 1932-1957, it was the second ray (twenty-five years)
17. Từ 1932–1957, đó là cung hai (hai mươi lăm năm)
18. After 1945, the seventh ray
18. Sau năm 1945, cung bảy
314. These statements must be correlated with what is said on EP I, 26 about the duration of ray cycles. The numbers given above are given for a purpose and can be penetrated.
314. Cần đối chiếu những phát biểu này với nội dung trong Tâm Lý Học Nội Môn I, trang 26, về thời lượng của các chu kỳ cung. Những con số nêu trên được đưa ra với một mục đích và chúng ta có thể thấu suốt ý nghĩa của chúng.
2. The first Ray of Will or Power, expending its force.
2. Cung một của Ý Chí hay Quyền Năng, đang phát huy mãnh lực của mình.
315. Interestingly, the years corresponding to the first ray cycle were approximately the years in which Master M. collaborated with Mme. Roerich in the writing of the Agni Yoga books.
315. Điều thú vị là những năm tương ứng với chu kỳ cung một gần trùng với những năm Chân sư M. cộng tác với Bà Roerich để viết các sách Agni Yoga.
2. The second Ray of Love-wisdom, reaching its meridian and holding the centre of the stage until 1957.
2. Cung hai của Bác Ái – Minh Triết, đang đạt đến đỉnh cao và giữ vị trí trung tâm cho đến năm 1957.
316. The second ray cycle (as given here) has a duration of twenty-five years, which seems to be half of a fifty year second ray cycle. A period of 500 years is the second ray racial cycle, and fifty years is one tenth of that. Twenty-five years therefore reasonably represents the waxing aspect of that fifty year cycle and another twenty five the waning aspect. For more details, enquire about the work of Stephen Pugh, who has given much time and brilliant thought to these considerations.
316. Chu kỳ cung hai (như được nêu ở đây) kéo dài hai mươi lăm năm, dường như bằng một nửa của một chu kỳ cung hai kéo dài năm mươi năm. Chu kỳ cung hai của nhân loại kéo dài 500 năm, và năm mươi năm bằng một phần mười chu kỳ ấy. Vì vậy, có cơ sở để xem hai mươi lăm năm là giai đoạn tăng trưởng của chu kỳ năm mươi năm ấy, và hai mươi lăm năm tiếp theo là giai đoạn suy giảm. Để biết thêm chi tiết, hãy tìm hiểu công trình của Stephen Pugh, người đã dành nhiều thời gian và những suy tư xuất sắc cho các vấn đề này.
317. With this thought in mind, we would presume that the year 1982 would be the point at which the second ray (in this fifty year cycle) was retracted.
317. Với ý tưởng này, chúng ta có thể suy đoán rằng năm 1982 là thời điểm cung hai (trong chu kỳ năm mươi năm này) được thu hồi.
318. If the cycles are continuous, another period culminating in 2007 would begin in 1982, and that cycle would not subside completely until 2032.
318. Nếu các chu kỳ nối tiếp liên tục, một giai đoạn khác đạt đỉnh vào năm 2007 sẽ bắt đầu từ năm 1982, và chu kỳ ấy sẽ không hoàn toàn lắng xuống cho đến năm 2032.
319. The year 2075 has to be important in second ray cycles, as the incoming second ray began a 500 year cycle in 1575.
319. Năm 2075 hẳn phải quan trọng trong các chu kỳ cung hai, vì cung hai đang đi vào đã bắt đầu một chu kỳ 500 năm vào năm 1575.
320. It is obviously not easy to make the large cycles and various apparent sub-cycles fit neatly into any imagined scheme.
320. Rõ ràng, không dễ làm cho các chu kỳ lớn và những chu kỳ phụ khác nhau có vẻ hiện hữu khớp một cách gọn ghẽ vào bất kỳ sơ đồ nào do chúng ta hình dung.
3. The seventh Ray of Ceremonial Order, coming into activity in combination with the other two—the will-to-love and the will-to-order—producing beauty out of the present chaos.
3. Cung bảy của Trật Tự Nghi Lễ, đang đi vào hoạt động kết hợp với hai cung kia—Ý Chí-Yêu Thương và ý chí hướng tới trật tự—tạo nên vẻ đẹp từ sự hỗn loạn hiện nay.
321. We do see the necessary union of the first, second and seventh rays.
321. Chúng ta quả thực thấy sự hợp nhất cần thiết của các cung một, hai và bảy.
322. The duration of this particular seventh ray cycles is not given. The number seven however is important in seventh ray cycles, and a seventy year period may be influential here. Such a cycle would conclude in 2015.
322. Thời lượng của chu kỳ cung bảy cụ thể này không được nêu ra. Tuy nhiên, con số bảy rất quan trọng trong các chu kỳ cung bảy, và một giai đoạn bảy mươi năm có thể có ảnh hưởng ở đây. Một chu kỳ như thế sẽ kết thúc vào năm 2015.
The disciples, therefore, of the Master Morya, of the Master Koot Hoomi and of the Master Rakoczi are reaching out towards a period of the intensest activity. The destiny of the world lies in the hands of Their three groups of initiated disciples; with Them, the accepted disciples of the three groups are asked to cooperate and this offers opportunity to many everywhere. As they seek to vision the Plan, to cooperate with the three Masters and Their initiate groups, their opportunity will emerge. This triangle of energy is held responsible by the great Leaders in Shamballa for the regularising of world affairs. More than this it is not necessary for humanity to know.
Vì vậy, các đệ tử của Chân sư Morya, Chân sư Koot Hoomi và Chân sư Rakoczi đang hướng tới một giai đoạn hoạt động mãnh liệt nhất. Vận mệnh thế giới nằm trong tay ba nhóm đệ tử đã được điểm đạo của Các Ngài; các đệ tử được chấp nhận thuộc ba nhóm được yêu cầu hợp tác với Các Ngài, và điều này mở ra cơ hội cho nhiều người ở khắp nơi. Khi họ tìm cách thấy được tầm nhìn về Thiên Cơ, hợp tác với ba Chân sư và các nhóm điểm đạo đồ của Các Ngài, cơ hội của họ sẽ xuất hiện. Tam giác năng lượng này được các Đấng Lãnh Đạo vĩ đại tại Shamballa giao trách nhiệm đưa các sự vụ thế giới vào trật tự. Nhân loại không cần biết nhiều hơn điều này.
323. This paragraph focuses on the great responsibility lying in the hands of Master M. , Master KH, and Master R.
323. Đoạn này tập trung vào trách nhiệm lớn lao nằm trong tay Chân sư M., Chân sư KH và Chân sư R.
324. The statement is an amazing one: “The destiny of the world lies in the hands of Their three groups of initiated disciples”. Presumably, this is still the case.
324. Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc: “Vận mệnh thế giới nằm trong tay ba nhóm đệ tử đã được điểm đạo của Các Ngài”. Có lẽ hiện nay điều này vẫn đúng.
325. Accepted disciples within the three groups are asked to cooperate with the “initiate disciples”. All the accepted disciples within these Ashrams (which include most esotericists) have opportunity within this context.
325. Các đệ tử được chấp nhận trong ba nhóm được yêu cầu hợp tác với các “đệ tử đã được điểm đạo”. Tất cả các đệ tử được chấp nhận trong những ashram này (bao gồm phần lớn các nhà bí truyền học) đều có cơ hội trong bối cảnh ấy.
326. If we find ourselves (or feel ourselves) affiliated with such a group, what should be our orientation. The first task is to “seek to vision the Plan”. Based upon what we understand through such an envisioning, our next task is to cooperate with the three Masters and Their initiated groups.
326. Nếu chúng ta thấy mình (hoặc cảm thấy mình) có liên hệ với một nhóm như thế, chúng ta nên định hướng ra sao. Nhiệm vụ đầu tiên là “tìm cách thấy được tầm nhìn về Thiên Cơ”. Dựa trên những gì chúng ta thấu hiểu qua sự hình dung ấy, nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là hợp tác với ba Chân sư và các nhóm đã được điểm đạo của Các Ngài.
327. These Masters and Their groups are held responsible by Shamballa “for the regularizing of world affairs”. In the term “regularizing” we can see the importance of the seventh ray.
327. Shamballa giao cho các Chân sư này và các nhóm của Các Ngài trách nhiệm “đưa các sự vụ thế giới vào trật tự”. Trong từ “đưa vào trật tự”, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của cung bảy.
Forget not, an Ashram is a vortex of force and a centre of energy—a centre through which both force and energy flow in [731] order that the vision may be materialised. This force and energy is, in the last analysis, directed by a Master, by a group of three senior initiates and by another group of lesser initiates, thus representing (in each Ashram) a miniature of the planetary government. These step down the inflowing energy so that accepted disciples can handle it safely and act as distributing agents. The energy with which the Masters work comes from Shamballa; the forces with which They work are provided from within the Hierarchy itself, and just in so far as the accepted disciples react to the combined forces will it be possible for them to be used in service. In other words: the initiated disciples in a Master’s group focus the inflowing energies; the accepted disciples, through the medium of their souls, focus the force which the Master directs outward into the world of men in conformity with the Plan of the Hierarchy, working in accordance with the revelation, coming from Shamballa.
Đừng quên rằng một ashram là một xoáy mãnh lực và một trung tâm năng lượng—một trung tâm mà cả mãnh lực lẫn năng lượng đều chảy qua [731] để tầm nhìn có thể hiện hình. Xét đến cùng, một Chân sư, một nhóm gồm ba điểm đạo đồ cao cấp và một nhóm điểm đạo đồ cấp thấp hơn chỉ đạo mãnh lực và năng lượng này, qua đó tạo nên (trong mỗi ashram) một hình ảnh thu nhỏ của chính quyền hành tinh. Các vị này hạ mức năng lượng tuôn vào để các đệ tử được chấp nhận có thể vận dụng nó một cách an toàn và làm những tác nhân phân phối. Năng lượng mà các Chân sư sử dụng đến từ Shamballa; các mãnh lực mà Các Ngài sử dụng do chính nội bộ Thánh đoàn cung cấp, và các đệ tử được chấp nhận đáp ứng với các mãnh lực phối hợp ấy đến đâu thì họ có thể được sử dụng trong công việc phụng sự đến đó. Nói cách khác: các đệ tử đã được điểm đạo trong nhóm của một Chân sư tập trung các năng lượng tuôn vào; các đệ tử được chấp nhận, thông qua linh hồn của họ, tập trung mãnh lực mà Chân sư hướng ra thế giới loài người, phù hợp với Thiên Cơ của Thánh đoàn, hoạt động theo sự mặc khải đến từ Shamballa.
328. We are given a vision of the Ashram as a dynamic center. Its purpose it to materialize the vision (of the Master and His superiors).
328. Chúng ta được trao cho một tầm nhìn về ashram như một trung tâm năng động. Mục đích của ashram là làm cho tầm nhìn (của Chân sư và các Đấng cao hơn Ngài) hiện hình.
329. When considering how force and energy are directed within an Ashram, we are presented with a ranking of directors:
329. Khi xem xét cách chỉ đạo mãnh lực và năng lượng trong một ashram, chúng ta thấy một thứ bậc các vị chỉ đạo:
19. The Master, Himself—the principle authority
19. Chính Chân sư—Đấng có thẩm quyền cao nhất
20. A group of three senior initiates (presumably of the fourth initiation)
20. Một nhóm gồm ba điểm đạo đồ cao cấp (có lẽ đã trải qua lần điểm đạo thứ tư)
21. Another group of lesser initiates (are there seven?—one for each of the seven rays?) Perhaps these “lesser initiates” are initiates of the third degree.
21. Một nhóm điểm đạo đồ cấp thấp hơn (có phải gồm bảy vị?—mỗi vị cho một trong bảy cung?) Có lẽ những “điểm đạo đồ cấp thấp hơn” này là các điểm đạo đồ bậc ba.
330. Unless the energy is stepped down by this “inner government” of the Ashram, accepted disciples (who are only “probationary initiates”) cannot handle it safely.
330. Nếu năng lượng không được hạ mức qua “chính quyền bên trong” này của ashram, các đệ tử được chấp nhận (vốn chỉ là những “điểm đạo đồ dự bị”) không thể vận dụng nó một cách an toàn.
331. Another triplicity is suggested
331. Một bộ ba khác được gợi ra
22. The energy which a Master wields comes from Shamballa.
22. Năng lượng mà một Chân sư vận dụng đến từ Shamballa.
23. The forces with which He works are provided by the Hierarchy.
23. Thánh đoàn cung cấp các mãnh lực mà Ngài sử dụng.
24. Accepted disciples are to respond to these combined forces. To the extent that they can do so, they can be used in service.
24. Các đệ tử được chấp nhận phải đáp ứng với những mãnh lực phối hợp này. Họ có thể làm được điều đó đến đâu thì có thể được sử dụng trong công việc phụng sự đến đó.
332. The Master, then, is the originator of force and energy. The initiated disciples (in two categories) focus that force or energy for the accepted disciples. The accepted disciples (in collaboration with their own souls) focus the force further for expression in the outer world, as much in conformity with the Plan as may be possible to them.
332. Như vậy, Chân sư là Đấng khởi phát mãnh lực và năng lượng. Các đệ tử đã được điểm đạo (thuộc hai loại) tập trung mãnh lực hay năng lượng ấy cho các đệ tử được chấp nhận. Các đệ tử được chấp nhận (hợp tác với chính linh hồn của họ) tiếp tục tập trung mãnh lực để biểu lộ trong thế giới bên ngoài, phù hợp với Thiên Cơ đến mức tối đa mà họ có thể.
333. We have in this triple alignment the symbol of the interrelation of Shamballa, Hierarchy and Humanity.
333. Trong sự chỉnh hợp tam phân này, chúng ta có biểu tượng về mối tương quan giữa Shamballa, Thánh đoàn và Nhân loại.
25. The Master represents Shamballa.
25. Chân sư đại diện cho Shamballa.
26. The two groups of initiates within the Ashram represent Hierarchy.
26. Hai nhóm điểm đạo đồ trong ashram đại diện cho Thánh đoàn.
27. The accepted disciples represent (and are most in contact with) Humanity.
27. Các đệ tử được chấp nhận đại diện cho Nhân loại (và tiếp xúc gần gũi nhất với Nhân loại).
Initiated disciples have no interest in anything but the vision, the Plan and its direction and materialising upon earth. Accepted disciples are learning this and in the meantime have to react to the vision in what I might call a second hand manner; they are occupied with the Plan and with the distribution of the forces which will materialise it. Thus the entire activity of the Ashram is coordinated. Newly accepted disciples (who are only learning to cooperate) are valuable as “agents for experiment. ” According to their reaction to the imparted truths and Plan, according to their ability to sense the need and to bring the need and the medium of release into relation and according to their capacity to work with the world disciples (who are definitely responsible to the Master of the Ashram for some aspect of the Plan) will be the success of the effort in the outer world.
Các đệ tử đã được điểm đạo không quan tâm đến điều gì ngoài tầm nhìn, Thiên Cơ cùng sự chỉ đạo và việc làm cho Thiên Cơ hiện hình trên Trái Đất. Các đệ tử được chấp nhận đang học điều này, và trong thời gian ấy, phải đáp ứng với tầm nhìn theo cách mà Tôi có thể gọi là gián tiếp; họ chuyên chú vào Thiên Cơ và việc phân phối các mãnh lực sẽ làm cho Thiên Cơ hiện hình. Như vậy, toàn bộ hoạt động của ashram được phối hợp. Các đệ tử mới được chấp nhận (chỉ đang học cách hợp tác) có giá trị với vai trò là những “tác nhân thử nghiệm.” Thành công của nỗ lực trong thế giới bên ngoài sẽ tùy thuộc vào cách họ đáp ứng với những chân lý và Thiên Cơ được truyền đạt, vào khả năng cảm nhận nhu cầu và thiết lập mối liên hệ giữa nhu cầu ấy với phương tiện giải phóng, cũng như vào năng lực làm việc với các đệ tử thế giới (những người chịu trách nhiệm rõ ràng trước Chân sư của ashram về một phương diện nào đó của Thiên Cơ).
334. There is a distinction between “initiated disciples” and “accepted disciples”.
334. Có sự phân biệt giữa “các đệ tử đã được điểm đạo” và “các đệ tử được chấp nhận”.
335. Initiated disciples have a true vision. They are absorbed in the Plan, its direction and its materialising on earth.
335. Các đệ tử đã được điểm đạo có tầm nhìn chân thực. Họ chuyên tâm vào Thiên Cơ, sự chỉ đạo và việc làm cho Thiên Cơ hiện hình trên Trái Đất.
336. Accepted disciples do not yet have a true vision, but react to the vision which is passed to them by initiated disciples.
336. Các đệ tử được chấp nhận chưa có tầm nhìn chân thực, nhưng đáp ứng với tầm nhìn mà các đệ tử đã được điểm đạo truyền lại cho họ.
337. Since those of the first and second degree can be accepted disciples but can be no more that “probationary initiates”, it can be reasoned that initiated disciples are third degree initiates.
337. Vì những người ở bậc một và bậc hai có thể là các đệ tử được chấp nhận nhưng chỉ có thể là những “điểm đạo đồ dự bị”, có thể suy luận rằng các đệ tử đã được điểm đạo là những điểm đạo đồ bậc ba.
338. Whereas initiated disciples are directing the Plan, accepted disciples are occupied with the “distribution of forces which will materialize it”. For the accepted disciple, the “eye” is not entirely open. The initiated disciple can occultly see.
338. Trong khi các đệ tử đã được điểm đạo đang chỉ đạo Thiên Cơ, các đệ tử được chấp nhận chuyên chú vào việc “phân phối các mãnh lực sẽ làm cho Thiên Cơ hiện hình”. Đối với người đệ tử được chấp nhận, “con mắt” chưa hoàn toàn mở ra. Người đệ tử đã được điểm đạo có thể thấy theo nghĩa huyền bí.
339. DK discriminates between accepted disciples who are working actively in relation to the Ashram, and “newly accepted disciples” who are just learning to work, and who are “agents for experiment”.
339. Chân sư DK phân biệt giữa các đệ tử được chấp nhận đang tích cực làm việc trong mối liên hệ với ashram và “các đệ tử mới được chấp nhận”, những người chỉ đang học cách làm việc và là những “tác nhân thử nghiệm”.
340. In this paragraph, there is also a mention of “world disciples”. We may presume that the world disciple is equivalent to the “initiated disciple”, and is, thus, an initiate of at least the third degree.
340. Trong đoạn này còn có nhắc đến “các đệ tử thế giới”. Chúng ta có thể cho rằng đệ tử thế giới tương đương với “đệ tử đã được điểm đạo”, và do đó là một điểm đạo đồ ít nhất ở bậc ba.
341. Accepted disciples have several tasks
341. Các đệ tử được chấp nhận có một số nhiệm vụ
28. They are to react properly to imparted truths.
28. Họ phải đáp ứng đúng đắn với những chân lý được truyền đạt.
29. They are to sense the need.
29. Họ phải cảm nhận nhu cầu.
30. They are to bring the need and the medium of release together.
30. Họ phải kết nối nhu cầu với phương tiện giải phóng.
31. They are to work cooperatively with world disciples.
31. Họ phải hợp tác làm việc với các đệ tử thế giới.
342. According to their capacity to do these four things, so will be the success of this work in the outer world.
342. Thành công của công việc này trong thế giới bên ngoài sẽ tùy thuộc vào năng lực thực hiện bốn điều ấy của họ.
343. We can see clearly that the Ashram is a coordinated whole, and no gaps or discontinuities are allowed to occur.
343. Chúng ta có thể thấy rõ rằng ashram là một toàn thể được phối hợp, và không được phép có bất kỳ khoảng trống hay sự gián đoạn nào.
Thus again the concept of the “Hierarchy of Relationship” is brought to your attention. In these days of world strife, it is this bringing about of right relations which presents the key to the immediate aspect of the vision which must be precipitated upon our planet. Therefore, an Ashram is a centre wherein relationship is tried out.
Như vậy, một lần nữa, khái niệm về “Hệ Thống Thứ Bậc Các Mối Quan Hệ” được đưa ra để các bạn chú ý. Trong những ngày thế giới xung đột này, chính việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn là chìa khóa cho phương diện trước mắt của tầm nhìn cần phải ngưng tụ trên hành tinh chúng ta. Vì vậy, một ashram là một trung tâm nơi các mối quan hệ được thử nghiệm.
344. An important concept is advanced. Within any Ashram (and within the Spiritual Hierarchy itself) there is a “Hierarchy of Relationship”.
344. Một khái niệm quan trọng được đưa ra. Trong bất kỳ ashram nào (và trong chính Thánh đoàn) đều có một “Hệ Thống Thứ Bậc Các Mối Quan Hệ”.
345. ”Relationship is tried out” within an Ashram; the attempt is to set the model for a pattern of “right relations” which humanity may eventually adopt.
345. ”Các mối quan hệ được thử nghiệm” trong một ashram; nỗ lực ở đây là xây dựng hình mẫu cho một mô hình “các mối quan hệ đúng đắn” mà cuối cùng nhân loại có thể tiếp nhận.
346. Of all spiritual objectives, the creation of “right relations” is most important.
346. Trong tất cả các mục tiêu tinh thần, việc tạo lập “các mối quan hệ đúng đắn” là quan trọng nhất.
347. Right relations hold the “key to the immediate aspect of the vision which must be precipitated upon our planet”. This thought simplifies our striving considerably, does it not?
347. Các mối quan hệ đúng đắn nắm giữ “chìa khóa cho phương diện trước mắt của tầm nhìn cần phải ngưng tụ trên hành tinh chúng ta”. Ý tưởng này đơn giản hóa đáng kể nỗ lực của chúng ta, phải vậy không?
One simple question arises here: How can right relations he established upon earth if the accepted disciples in a Master’s [732] group are themselves unable to react to the idea and to preserve, among themselves, right relations, correctly, unanimously and unerringly? What hope is there for the outer world if the inner circle of workers (pledged disciples) are unable to establish and hold among themselves these right relations. At this time, the problem is threefold. These right relations must be fostered between:
Một câu hỏi đơn giản nảy sinh ở đây: Làm sao có thể thiết lập các mối quan hệ đúng đắn trên Trái Đất nếu chính các đệ tử được chấp nhận trong nhóm của một Chân sư [732] không thể đáp ứng với ý tưởng ấy và duy trì giữa họ các mối quan hệ đúng đắn một cách chính xác, nhất trí và không sai lệch? Thế giới bên ngoài còn hy vọng gì nếu vòng trong của những người hoạt động (các đệ tử đã cam kết) không thể thiết lập và duy trì giữa họ các mối quan hệ đúng đắn này. Vào lúc này, vấn đề có ba mặt. Những mối quan hệ đúng đắn này phải được vun đắp giữa:
348. DK asks a really hard question, but it has to be asked. It is not only ordinary human beings, advanced people, aspirants and disciples who do not preserve right relations amongst themselves, but even accepted disciples are unable “to preserve among themselves, right relations, correctly, unanimously and unerringly”. This is a sobering thought, and makes one want to establish such relations immediately. One wonders if, surveying “Christ’s Household” the Masters do not become discouraged.
348. Chân sư DK đặt ra một câu hỏi thực sự khó, nhưng cần phải hỏi. Không chỉ những người bình thường, những người tiến bộ, người chí nguyện và đệ tử không duy trì các mối quan hệ đúng đắn với nhau, mà ngay cả các đệ tử được chấp nhận cũng không thể “duy trì giữa họ các mối quan hệ đúng đắn một cách chính xác, nhất trí và không sai lệch”. Đây là một ý tưởng khiến người ta tỉnh ngộ và muốn thiết lập ngay những mối quan hệ như thế. Người ta tự hỏi liệu khi nhìn vào “Gia Đình của Đức Christ”, các Chân sư có nản lòng chăng.
349. Pledged disciples and accepted disciples simply must relate to each other in unanimity—’one-soul-ness’.
349. Các đệ tử đã cam kết và các đệ tử được chấp nhận nhất thiết phải liên hệ với nhau trong sự nhất trí—’hợp nhất trong một linh hồn’.
350. The substance of this paragraph is crucial and the implications cannot be evaded.
350. Nội dung cốt lõi của đoạn này hết sức quan trọng, và không thể né tránh những điều nó hàm ý.
1. Accepted disciples, initiate disciples and the Master.
1. Các đệ tử được chấp nhận, các đệ tử đã được điểm đạo và Chân sư.
2. Between the members of an Ashram and other Ashrams.
2. Giữa các thành viên của một ashram và các ashram khác.
3. Between these Ashrams and the outer world.
3. Giữa các ashram này và thế giới bên ngoài.
351. All these types of relationships are to be perfected.
351. Tất cả các loại quan hệ này đều phải được hoàn thiện.
32. The first grouping concerns intra-ashramic affairs and even here (because of the accepted disciples) right relations do not prevail.
32. Nhóm thứ nhất liên quan đến các sự vụ trong nội bộ ashram, và ngay cả ở đây (do các đệ tử được chấp nhận), các mối quan hệ đúng đắn vẫn chưa chiếm ưu thế.
33. The second grouping concerns inter-ashramic affairs, harmony and cooperation between the various ray Ashrams.
33. Nhóm thứ hai liên quan đến các sự vụ giữa các ashram, sự hòa hợp và hợp tác giữa những ashram thuộc các cung khác nhau.
34. The third grouping relates the outer representatives of Hierarchy to Humanity as a whole.
34. Nhóm thứ ba liên kết các đại diện bên ngoài của Thánh đoàn với toàn thể Nhân loại.
352. If there are ever to be Right Human Relations amongst humanity as a whole, these three types of relationships must be harmonized, and eventually perfected.
352. Để một ngày nào đó toàn thể nhân loại có được Các Mối Quan Hệ Đúng Đắn Giữa Người Với Người, ba loại quan hệ này phải được điều hòa và cuối cùng được hoàn thiện.
The Master of an Ashram and the senior initiates in His group are responsible for the relation between Shamballa and the Hierarchy. Accepted disciples and the lesser initiates are responsible for the relation between the Hierarchy and Humanity. Thus the great chain of the Hierarchy of Being is preserved inviolate.
Chân sư của một ashram và các điểm đạo đồ cao cấp trong nhóm của Ngài chịu trách nhiệm về mối quan hệ giữa Shamballa và Thánh đoàn. Các đệ tử được chấp nhận và các điểm đạo đồ cấp thấp hơn chịu trách nhiệm về mối quan hệ giữa Thánh đoàn và Nhân loại. Như vậy, chuỗi liên kết vĩ đại của Huyền Giai các Sinh Mệnh được bảo toàn nguyên vẹn.
353. Spheres of responsibility are delineated.
353. Các phạm vi trách nhiệm được phân định rõ.
354. It is not the affair of even accepted disciples to concern themselves with the relationship between Hierarchy and Shamballa. They are incapable of doing so. Only the Master and His group can undertake this task.
354. Ngay cả các đệ tử được chấp nhận cũng không có phận sự lo liệu mối quan hệ giữa Thánh đoàn và Shamballa. Họ không đủ khả năng làm điều đó. Chỉ Chân sư và nhóm của Ngài mới có thể đảm nhận nhiệm vụ này.
355. But accepted disciples and lesser initiates (first degree initiates?) can do much to facilitate the relation between Hierarchy and Humanity. It is the responsibility of these individuals to see that humanity comes to understand something of the Hierarchy. If these disciples and initiates live a life which is imbued with hierarchical quality, Humanity will have a favorable impression of the Spiritual Hierarchy of our planet and will learn to look to Hierarchy for guidance. At the present moment, most people do not even know that the Spiritual Hierarchy exists.
355. Nhưng các đệ tử được chấp nhận và các điểm đạo đồ cấp thấp hơn (các điểm đạo đồ bậc một?) có thể làm nhiều điều để tạo thuận lợi cho mối quan hệ giữa Thánh đoàn và Nhân loại. Những người này có trách nhiệm giúp nhân loại đi đến chỗ thấu hiểu phần nào về Thánh đoàn. Nếu những đệ tử và điểm đạo đồ này sống một đời sống thấm nhuần phẩm tính của Thánh đoàn, Nhân loại sẽ có ấn tượng tốt đẹp về Thánh đoàn của hành tinh chúng ta và sẽ học cách tìm đến Thánh đoàn để được hướng dẫn. Hiện nay, phần lớn mọi người thậm chí còn không biết rằng Thánh đoàn tồn tại.
356. We see that Master DK has been laboring to give us an idea of the relationships existing within “the great chain of the Hierarchy of Being”.
356. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK đã nỗ lực giúp chúng ta hình dung về các mối quan hệ hiện hữu trong “chuỗi liên kết vĩ đại của Huyền Giai các Sinh Mệnh”.
357. Perhaps we are now more informed, and are more willing to undertake the fulfillment of our share of responsibility more vigorously.
357. Có lẽ giờ đây chúng ta đã hiểu biết hơn và sẵn lòng thực hiện phần trách nhiệm của mình một cách mạnh mẽ hơn.
18. PART VIStage III. Accepted Discipleship. – 18. PHẦN VIGiai đoạn III. Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận.
It is not my intention in this short series of Instructions to deal with the Stage of Accepted Discipleship. Much has been written about this stage. I have covered every practical angle in my many books and there is nothing to be gained by duplication. The books on discipleship put out by the Theosophical Society adequately cover the Probationary Path; I have dealt in detail with the Path of Discipleship.
Trong loạt Huấn Thị ngắn này, Tôi không có ý định bàn về Giai Đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận. Đã có nhiều điều được viết về giai đoạn này. Tôi đã trình bày mọi khía cạnh thực tiễn trong nhiều cuốn sách của Tôi, và việc lặp lại không đem đến lợi ích gì. Những cuốn sách về địa vị đệ tử do Hội Thông Thiên Học xuất bản đã trình bày đầy đủ về Con Đường Dự Bị; Tôi đã bàn chi tiết về Con Đường Đệ Tử.
The angle of the contacts which become possible upon the Path of Accepted Discipleship are well known but cannot be described in too much detail. They vary according to person, and ray. I would only ask you to have these modes of approach in mind, remembering that they do occur and occur in varying degrees of clarity and at various stages upon the Path. They are as you know:
Khía cạnh các cuộc tiếp xúc có thể có trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận đã được biết rõ, nhưng không thể mô tả quá chi tiết. Những cuộc tiếp xúc ấy khác nhau tùy người và tùy cung. Tôi chỉ yêu cầu các bạn ghi nhớ những phương thức tiếp cận này, và nhớ rằng chúng quả thực xảy ra, với những mức độ rõ nét khác nhau và ở những giai đoạn khác nhau trên Đường Đạo. Như các bạn biết, đó là:
1. One of the marvelous things about Master DK’s work is the number of angles from which He can cover the same subject.
1. Một trong những điều kỳ diệu về công trình của Chân sư DK là Ngài có thể trình bày cùng một chủ đề từ rất nhiều góc độ.
2. Some imagine that there is much duplication in His books; a closer look, however, will reveal important differences and revelations in apparently repeated statements.
2. Một số người cho rằng có nhiều sự trùng lặp trong các sách của Ngài; tuy nhiên, xem xét kỹ hơn sẽ thấy những khác biệt và những sự mặc khải quan trọng trong các phát biểu có vẻ lặp lại.
3. One thing the Theosophical Society disliked about the works of Alice Bailey was the insistence found in many places in the “Blue Books” that the Theosophical approach was for probationers. A careful examination of those early books and a comparison with that which is given by Master DK will reveal whether this is true or not.
3. Một điều Hội Thông Thiên Học không thích trong các tác phẩm của Alice Bailey là lời khẳng định ở nhiều chỗ trong “Bộ Sách Xanh” rằng phương thức tiếp cận của Thông Thiên Học dành cho những người dự bị. Việc khảo sát kỹ những cuốn sách ban đầu ấy và so sánh với những gì Chân sư DK truyền dạy sẽ cho thấy điều này có đúng hay không.
4. The Path of Accepted Discipleship yields certain contacts, but Master DK is wisely cautious about saying too much. The differences varying according to the nature of the individual and his ray must not be overly specified. Otherwise, people (wondering about their own relation to the Stage of Accepted Discipleship) would begin to look for precisely those occurrences, and their effort to do so could lead them astray or, even, stand in the way of the real contact.
4. Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận đem đến một số cuộc tiếp xúc, nhưng Chân sư DK thận trọng một cách minh triết, tránh nói quá nhiều. Không nên mô tả quá cụ thể những khác biệt tùy theo bản chất và cung của mỗi người. Nếu không, mọi người (khi tự hỏi về mối liên hệ của mình với Giai Đoạn Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận) sẽ bắt đầu tìm kiếm chính xác những sự kiện ấy, và nỗ lực làm như vậy có thể khiến họ lạc hướng, hoặc thậm chí cản trở cuộc tiếp xúc thực sự.
5. DK is, however, sharing with us certain generalities. The types of experiences He mentions are seen to occur amongst the general average of accepted disciples.
5. Tuy nhiên, Chân sư DK đang chia sẻ với chúng ta một số nét khái quát. Những loại trải nghiệm mà Ngài đề cập được thấy là có xảy ra nơi các đệ tử được chấp nhận nói chung.
6. It is interesting and important that these types of experiences occur “in varying degrees of clarity”. One may have to discern carefully to understand whether a particular psychological occurrence is actually an occurrence related to accepted discipleship.
6. Điều thú vị và quan trọng là những loại trải nghiệm này diễn ra “với những mức độ rõ ràng khác nhau”. Có thể cần phân biện cẩn thận để thấu hiểu liệu một hiện tượng tâm lý cụ thể có thực sự liên quan đến địa vị đệ tử được chấp nhận hay không.
7. As well, the five types of occurrences listed below are probably graded in terms of time. Some of them can be understood as occurring in the earlier stages of accepted discipleship and some in the later stages—even on the eve of initiation.
7. Ngoài ra, năm loại hiện tượng liệt kê dưới đây có lẽ cũng được phân thành các cấp độ theo thời gian. Có thể hiểu rằng một số hiện tượng diễn ra trong những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử được chấp nhận, còn một số khác diễn ra trong những giai đoạn sau—thậm chí ngay trước cuộc điểm đạo.
1. A dream experience.
1. Một trải nghiệm trong mơ.
2. A symbolic teaching.
2. Một lời dạy mang tính biểu tượng.
3. The thoughtform of a Master.
3. Hình tư tưởng của một Chân sư.
4. A direct contact with the Master in meditation.
4. Một sự tiếp xúc trực tiếp với Chân sư trong tham thiền.
5. An interview in a Master’s Ashram.
5. Một cuộc hội kiến trong ashram của một Chân sư.
1. These five have been generally discussed in an earlier commentary and will be discussed in greater detail below.
1. Năm loại trải nghiệm này đã được bàn đến một cách khái quát trong một bài bình giảng trước đây và sẽ được bàn chi tiết hơn dưới đây.
2. The first three experiences are related to the astral or mental planes (though the second two may occur in ‘waking consciousness’.
2. Ba trải nghiệm đầu liên quan đến cõi cảm dục hoặc cõi trí (mặc dù trải nghiệm thứ hai và thứ ba có thể diễn ra trong ‘tâm thức tỉnh thức’.
3. The fourth and fifth types of experience bring in the influence of other and higher planes, for the majority of Masters with whom the disciple may be in contact, focus upon the buddhic plane (or, perhaps, even the atmic).
3. Loại trải nghiệm thứ tư và thứ năm mang theo ảnh hưởng của những cõi khác cao hơn, vì phần lớn các Chân sư mà đệ tử có thể tiếp xúc đều tập trung trên cõi Bồ đề (hoặc có lẽ thậm chí trên cõi atma).
4. The first three types of contact are mediated experiences; the second two relatively unmediated.
4. Ba loại tiếp xúc đầu là những trải nghiệm qua trung gian; hai loại sau tương đối không qua trung gian.
[733]
[733]
The first three are more usually the experience of the probationary disciple. The last two are undergone by the accepted disciple. They have their astral or lower psychic counterparts. They are, in this case, not all glamour and illusion and are not basically reprehensible, for they are—in reality—the seed or guarantee of future inevitable experiences upon the Way. People do see thoughtforms of the Masters, for those thoughtforms exist; they do receive symbolic teachings upon the astral plane or in the dream states. Beginners and the inexperienced are then apt to do one of two things: over-estimate the experience and believe it to indicate a high spiritual development; they begin to lean upon the experience and to substitute this astral happening for the future reality or they dismiss it as undesirable lower psychism, forgetting that so-called lower psychism is only so when the interpretation and the use of the experience is at fault. It is the task of the accepted disciple to aid in the interpreting, to indicate direction and to point out the significance of the experience to the neophyte.
Ba loại đầu thường là trải nghiệm của đệ tử dự bị hơn. Hai loại cuối là những trải nghiệm mà đệ tử được chấp nhận trải qua. Chúng có những đối phần cảm dục hoặc thông linh bậc thấp. Trong trường hợp này, chúng không hoàn toàn là ảo cảm và ảo tưởng, và về cơ bản cũng không đáng chê trách, vì trên thực tế, chúng là hạt giống hoặc sự bảo đảm cho những trải nghiệm tất yếu trong tương lai trên Đường Đạo. Người ta quả thực nhìn thấy các hình tư tưởng của các Chân sư, vì những hình tư tưởng ấy có tồn tại; họ quả thực tiếp nhận những lời dạy mang tính biểu tượng trên cõi cảm dục hoặc trong các trạng thái mơ. Khi đó, những người mới bắt đầu và thiếu kinh nghiệm thường có khuynh hướng làm một trong hai điều: đánh giá quá cao trải nghiệm và tin rằng nó biểu thị sự phát triển tinh thần cao; họ bắt đầu dựa vào trải nghiệm ấy và lấy hiện tượng cảm dục này thay cho thực tại tương lai, hoặc họ gạt bỏ nó như một biểu hiện thông linh bậc thấp không đáng mong muốn, mà quên rằng cái gọi là thông linh bậc thấp chỉ thực sự như vậy khi việc diễn giải và sử dụng trải nghiệm có sai sót. Nhiệm vụ của đệ tử được chấp nhận là hỗ trợ việc diễn giải, chỉ ra phương hướng và nêu rõ thâm nghĩa của trải nghiệm cho người sơ cơ.
1. Interestingly, although we are discussing the Stage of Accepted Discipleship, Master DK tells us that the first three experiences (a dream, a symbolic teaching, or contact with the thoughtform of a Master) are usually the experience of the “probationary disciple”.
1. Điều thú vị là, mặc dù chúng ta đang bàn về Giai Đoạn Đệ Tử Được Chấp Nhận, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng ba trải nghiệm đầu (một giấc mơ, một lời dạy mang tính biểu tượng, hoặc sự tiếp xúc với hình tư tưởng của một Chân sư) thường là trải nghiệm của “đệ tử dự bị”.
2. We know that an accepted disciple is not a probationary disciple. But perhaps, any stage of discipleship preceding the Stage of Accepted Discipleship is considered (from the Masters’ perspective) a probationary period. This would mean that the term “probationary disciple” could reasonably be assigned to the Stages of Little Chelaship and Chela in the Light.
2. Chúng ta biết rằng một đệ tử được chấp nhận không phải là đệ tử dự bị. Nhưng có lẽ bất kỳ giai đoạn nào của địa vị đệ tử trước Giai Đoạn Đệ Tử Được Chấp Nhận cũng đều được xem (theo quan điểm của các Chân sư) là một thời kỳ dự bị. Điều này có nghĩa là thuật ngữ “đệ tử dự bị” có thể được dùng một cách hợp lý cho các Giai Đoạn Địa Vị Tiểu Đệ Tử và Đệ Tử Trong Ánh Sáng.
3. When, therefore, an experience similar to the first three examples emerges in the life of a disciple, it is a hint as to his stage of disciplic development. The same is true for the last two types of experience.
3. Do đó, khi một trải nghiệm tương tự ba ví dụ đầu xuất hiện trong đời sống của một đệ tử, nó gợi cho biết giai đoạn phát triển trên đường đệ tử của y. Hai loại trải nghiệm cuối cũng vậy.
4. The question to consider: “Which of the five experiences have their astral or lower psychic counterparts?” Probably not the “dream experience” for such an experience occurs on the astral plane. Thoughtforms of the Master often appear on the astral plane and confuse many. The question is, “Does the Master utilize an astral thoughtform”, or, if He wishes to contact a chela—a higher kind, more related to the mental world?”
4. Câu hỏi cần xem xét là: “Trong năm trải nghiệm, những trải nghiệm nào có đối phần cảm dục hoặc thông linh bậc thấp?” Có lẽ không phải “trải nghiệm trong mơ”, vì một trải nghiệm như vậy diễn ra trên cõi cảm dục. Các hình tư tưởng của Chân sư thường xuất hiện trên cõi cảm dục và khiến nhiều người nhầm lẫn. Câu hỏi là, “Chân sư có sử dụng một hình tư tưởng cảm dục không”, hay nếu Ngài muốn tiếp xúc với một đệ tử—Ngài sử dụng một loại cao hơn, liên quan nhiều hơn đến cõi trí?”
5. A symbolic teaching can occur in a dream state or in meditation. It might have a strongly astral flavor, or it might be more mental in nature.
5. Một lời dạy mang tính biểu tượng có thể xuất hiện trong trạng thái mơ hoặc trong tham thiền. Nó có thể mang đậm sắc thái cảm dục, hoặc có bản chất thiên về trí tuệ hơn.
6. When it comes to the last two experiences (a contact with the Master in meditation or an interview in the Master’s Ashram), astral or lower psychic counterparts are definitely possible. Either of these states may be astrally reflected. The so-called ‘Master’ contacted may, therefore, be an astral image.
6. Đối với hai trải nghiệm cuối (sự tiếp xúc với Chân sư trong tham thiền hoặc một cuộc hội kiến trong ashram của Chân sư), chắc chắn có thể có những đối phần cảm dục hoặc thông linh bậc thấp. Cả hai trạng thái này đều có thể có hình ảnh phản chiếu trên cõi cảm dục. Do đó, vị được gọi là ‘Chân sư’ mà người ta tiếp xúc có thể là một hình ảnh cảm dục.
7. I think we can see how much discrimination is needed in determining the true nature and source of any of these experiences.
7. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy cần đến sự phân biện biết bao để xác định bản chất và nguồn gốc thực sự của bất kỳ trải nghiệm nào trong số này.
8. Even when the content of the experience is largely astral, DK emphasizes its possible value, as an indicator of the real experience which will later occur.
8. Ngay cả khi nội dung của trải nghiệm phần lớn thuộc cảm dục, Chân sư DK vẫn nhấn mạnh giá trị mà nó có thể có, như một dấu hiệu báo trước trải nghiệm chân thực sẽ diễn ra về sau.
9. DK confirms here that “symbolic teachings” may occur in the dream state or on the astral plane. They may as well occur in meditation.
9. Ở đây, Chân sư DK xác nhận rằng “những lời dạy mang tính biểu tượng” có thể xuất hiện trong trạng thái mơ hoặc trên cõi cảm dục. Chúng cũng có thể xuất hiện trong tham thiền.
10. Two modes of response are usual—neither of them desirable. Usually, there is either overestimation or underestimation of the nature and value of the experience. If such an experience occurs (and it is astral in nature) we are not to rest satisfied with the mere fact its occurrence, for it but indicates future possibilities. Nor are we to dismiss it entirely (as merely astral!), for then we would close a door upon ourselves—or others.
10. Có hai cách đáp ứng thường gặp—cả hai đều không đáng mong muốn. Thông thường, người ta hoặc đánh giá quá cao, hoặc đánh giá quá thấp bản chất và giá trị của trải nghiệm. Nếu một trải nghiệm như vậy diễn ra (và có bản chất cảm dục), chúng ta không nên chỉ hài lòng với việc nó đã diễn ra, vì nó chỉ cho thấy những khả năng tương lai. Chúng ta cũng không nên hoàn toàn gạt bỏ nó (như một điều thuần túy cảm dục!), vì như vậy chúng ta sẽ tự đóng một cánh cửa đối với mình—hoặc đối với người khác.
11. Something of importance is said: lower psychism “is only so when the interpretation and the use of the experience is at fault”. The level from which an experience is taken does not determine whether it is of great or small value; having the right perspective in relation to the experience is what is important. When the right perspective exists, the experience can be seen in proportion and can be used in the cause of advancement.
11. Một điều quan trọng đã được nói đến: thông linh bậc thấp “chỉ thực sự như vậy khi việc diễn giải và sử dụng trải nghiệm có sai sót”. Cấp độ mà từ đó một trải nghiệm được tiếp nhận không quyết định giá trị lớn hay nhỏ của nó; điều quan trọng là có quan điểm đúng đắn về trải nghiệm ấy. Khi có quan điểm đúng đắn, người ta có thể nhìn nhận trải nghiệm một cách cân xứng và sử dụng nó để thúc đẩy sự tiến bộ.
12. Let us pause to ask ourselves: “when experiences of this nature occur, what is our first response?” “Do we fall into the patterns of over- or under-estimation?”
12. Chúng ta hãy dừng lại để tự hỏi: “khi những trải nghiệm có bản chất như vậy diễn ra, đáp ứng đầu tiên của chúng ta là gì?” “Chúng ta có rơi vào những khuôn mẫu đánh giá quá cao hoặc quá thấp không?”
13. Again the term “neophyte” is used. It seems to refer to the one who is the “probationary disciple” and who is likely to have one of the first three kinds of experiences—or, astral reflections of the last two. An accepted disciple, though a new member of the Ashram, is not called a “neophyte”—at least not in this selection.
13. Một lần nữa, thuật ngữ “người sơ cơ” được sử dụng. Dường như thuật ngữ này chỉ người là “đệ tử dự bị” và có khả năng trải qua một trong ba loại trải nghiệm đầu—hoặc, những hình ảnh phản chiếu trên cõi cảm dục của hai loại cuối. Một đệ tử được chấp nhận, dù là thành viên mới của ashram, cũng không được gọi là “người sơ cơ”—ít nhất là trong đoạn trích này.
14. If we know ourselves to be “accepted disciples”, our task is indicated. When an individual comes to us with such an experience, it is our task to help put the experience in the proper context. The wisdom of an accepted disciple should be at least a little greater than that of the “chela in the light”, and so the power of interpretation offered should be helpful. It is important for the one who assists those who have such experience to help them maintain their balance, and avoid running to extremes.
14. Nếu chúng ta biết mình là “những đệ tử được chấp nhận”, thì nhiệm vụ của chúng ta đã được chỉ rõ. Khi một người đến với chúng ta cùng một trải nghiệm như vậy, nhiệm vụ của chúng ta là giúp đặt trải nghiệm ấy vào bối cảnh thích hợp. Minh triết của một đệ tử được chấp nhận ít nhất cũng nên lớn hơn đôi chút so với minh triết của “đệ tử trong ánh sáng”, và vì thế khả năng diễn giải mà người ấy đem lại hẳn phải hữu ích. Điều quan trọng đối với người hỗ trợ những người có trải nghiệm như vậy là giúp họ giữ được sự quân bình và tránh đi đến cực đoan.
Workers in the spiritual field should bear this carefully in mind and remember that—as a result of the war, of tension and of aspiration towards the New Age—these dreams and visions, these episodes of symbolic teaching, these contacts with thoughtforms will steadily increase and are indicative of growth and of expansion. Undirected, unexplained and misinterpreted or laughed down and ridiculed, they can greatly hinder and can be forced to descend into the category of true lower psychism; rightly interpreted and explained, they can constitute a series of graded revelations upon the Way to light; they exist then as guarantees of future knowledge and as signposts of a relative achievement. But they are not the reality when astrally focussed.
Những người hoạt động trong lĩnh vực tinh thần nên ghi nhớ kỹ điều này và nhớ rằng—do chiến tranh, sự căng thẳng và khát vọng hướng tới Kỷ Nguyên Mới—những giấc mơ và linh ảnh này, những lần tiếp nhận lời dạy mang tính biểu tượng này, những sự tiếp xúc với các hình tư tưởng này sẽ không ngừng gia tăng và biểu thị sự tăng trưởng cùng sự mở rộng. Nếu không được định hướng, không được giải thích và bị diễn giải sai, hoặc bị cười nhạo và chế giễu, chúng có thể gây cản trở lớn và có thể bị đẩy xuống thành những hiện tượng thông linh bậc thấp thực sự; nếu được diễn giải và giải thích đúng đắn, chúng có thể tạo thành một chuỗi mặc khải theo từng cấp độ trên Đường Đạo hướng tới ánh sáng; khi ấy, chúng tồn tại như những sự bảo đảm cho tri thức tương lai và những biển chỉ đường cho một thành tựu tương đối. Nhưng khi tập trung trên cõi cảm dục, chúng không phải là thực tại.
1. The “war” referenced was the First World War. When this section of DINA I was written, the Second World War had not yet occurred objectively, though subjectively it was certainly occurring.
1. Cuộc “chiến tranh” được nhắc đến là Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Khi phần này của DINA I được viết, Chiến tranh Thế giới thứ hai chưa diễn ra về mặt khách quan, mặc dù về mặt chủ quan thì nó chắc chắn đang diễn ra.
2. The release of energy during war breaks through many barriers, not only on the physical plane, but on the subtler planes where the war may be even more intense.
2. Sự giải phóng năng lượng trong chiến tranh phá vỡ nhiều rào cản, không chỉ trên cõi hồng trần mà còn trên những cõi vi tế hơn, nơi chiến tranh có thể còn khốc liệt hơn.
3. Amongst the spiritually inclined people of the world, we have definitely seen an increase of sensitivity and of psychism. People who have received psychic impression often hold fast to the impression, almost refusing to interpret it accurately or to put it in a probable context. It is as if we disciples are ‘starved’ for contact with the inner worlds and cling to any shred of contact with desperation. Clearly, a more objective point of view is required.
3. Trong số những người có khuynh hướng tinh thần trên thế giới, chúng ta chắc chắn đã thấy sự gia tăng tính nhạy cảm và năng lực thông linh. Những người đã tiếp nhận ấn tượng thông linh thường bám chặt vào ấn tượng ấy, gần như không chịu diễn giải nó cho chính xác hoặc đặt nó vào một bối cảnh có thể phù hợp. Dường như chúng ta, những đệ tử, đang ‘đói khát’ sự tiếp xúc với những thế giới bên trong và tuyệt vọng bám víu vào bất kỳ chút tiếp xúc nào. Rõ ràng, cần có một quan điểm khách quan hơn.
4. The responsibility of those responding to any shared experience of this nature is crucial for the development of the one who has dared to share. The experience must be wisely placed in context. If it is not—if it remains “undirected, unexplained and misinterpreted or laughed down and ridiculed”—then the experience “can be force to descend into the category of true lower psychism”. It remains an un-integrated subtle experience and contributes nothing to the advancement of the consciousness of the experiencer.
4. Trách nhiệm của những người đáp ứng trước bất kỳ trải nghiệm nào thuộc loại này được chia sẻ có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển của người đã dám chia sẻ. Cần đặt trải nghiệm ấy vào bối cảnh một cách sáng suốt. Nếu không làm như vậy—nếu nó vẫn “không được định hướng, không được giải thích và bị diễn giải sai, hoặc bị cười nhạo và chế giễu”—thì trải nghiệm ấy “có thể bị đẩy xuống thành những hiện tượng thông linh bậc thấp thực sự”. Nó vẫn là một trải nghiệm vi tế chưa được tích hợp và không đóng góp gì cho sự tiến bộ trong tâm thức của người trải nghiệm.
5. What is needed is ‘benevolent contextualization’—a wise and kindly ‘placing’ of the experience amongst the possible types of experience of this nature. The experiencer will then understand the experience as ‘pointing the way’, but will not presume it to be of an unduly high or ultimate nature. He also will not consider it a lowly and useless happening to be dismissed; for then, he could cut himself off from an incipient line of development (indicated by the experience) and cause a cleavage in his psyche.
5. Điều cần thiết là ‘đặt trải nghiệm vào bối cảnh với thiện ý’—một sự ‘sắp đặt’ sáng suốt và nhân từ trải nghiệm ấy vào giữa những loại trải nghiệm có thể có thuộc bản chất này. Khi ấy, người trải nghiệm sẽ thấu hiểu rằng trải nghiệm ấy đang ‘chỉ đường’, nhưng sẽ không cho rằng nó có bản chất cao siêu quá mức hoặc tối hậu. Người ấy cũng sẽ không xem nó là một hiện tượng thấp kém và vô dụng cần gạt bỏ; vì nếu vậy, người ấy có thể tự cắt đứt mình khỏi một hướng phát triển mới manh nha (mà trải nghiệm ấy chỉ ra) và gây ra sự chia rẽ trong đời sống tâm lý của mình.
6. DK explains the nature of such astral experiences in brilliant terms: “guarantees of future knowledge and as signposts of a relative achievement. ” When people dare to reveal certain episodes in their inner life, the revelation must, therefore, be treated with respect. Much is at stake.
6. Chân sư DK giải thích bản chất của những trải nghiệm cảm dục như vậy bằng những lời thật sáng rõ: “những sự bảo đảm cho tri thức tương lai và những biển chỉ đường cho một thành tựu tương đối. ” Do đó, khi người ta dám tiết lộ những sự việc nhất định trong đời sống nội tâm của họ, cần đón nhận sự tiết lộ ấy một cách tôn trọng. Có nhiều điều hệ trọng phụ thuộc vào việc này.
7. It is possible to address that which is not yet reality in such a way that it will help lead to reality.
7. Có thể tiếp cận điều chưa phải là thực tại theo cách giúp dẫn tới thực tại.
Disciples need to bear in mind always that they grow by the answering of their own questions; the task of the Master is not to answer questions which, given a little time or thought, the disciple could answer himself, but to suggest or throw into the disciple’s mind the type of question which warrants his thought and then to stimulate his abstract mind so that he can successfully find the answer.
Các đệ tử cần luôn ghi nhớ rằng họ tăng trưởng nhờ tự trả lời những câu hỏi của mình; nhiệm vụ của Chân sư không phải là trả lời những câu hỏi mà chỉ cần dành một chút thời gian hoặc suy nghĩ, đệ tử đã có thể tự trả lời, mà là gợi ý hoặc đưa vào thể trí của đệ tử loại câu hỏi đáng để y suy ngẫm, rồi kích thích trí trừu tượng của y để y có thể tìm ra câu trả lời.
1. Why does Master DK begin to discuss the need for disciples to answer their own questions? Perhaps when subtle experiences occur, the experiencer should not run immediately to another to ask, “What does it mean?” Rather, perhaps, he should be patient, question himself, and eventually determine the meaning for himself.
1. Tại sao Chân sư DK bắt đầu bàn về việc các đệ tử cần tự trả lời những câu hỏi của mình? Có lẽ khi những trải nghiệm vi tế diễn ra, người trải nghiệm không nên lập tức chạy đến người khác để hỏi, “Điều đó có ý nghĩa gì?” Thay vào đó, có lẽ người ấy nên kiên nhẫn, tự chất vấn và cuối cùng tự xác định ý nghĩa cho mình.
2. When Master DK taught His groups of students, they would often ask questions related to their studies. Some of the questions were very complex and unclear. When this was the case, Master DK pointed it out, often advising that a little thought on the part of the questioner could have yielded the answer. Others of these questions, however, were very penetrating, and in DK’s responses, much useful light was shed.
2. Khi Chân sư DK giảng dạy các nhóm đạo sinh của Ngài, họ thường đặt những câu hỏi liên quan đến việc học của mình. Một số câu hỏi rất phức tạp và không rõ ràng. Trong những trường hợp như vậy, Chân sư DK chỉ ra điều đó, thường khuyên rằng chỉ cần người hỏi suy nghĩ đôi chút thì đã có thể tìm được câu trả lời. Tuy nhiên, một số câu hỏi khác lại rất sâu sắc, và qua những lời đáp của Chân sư DK, nhiều ánh sáng hữu ích đã được soi rọi.
3. In the short section above, we are given the Master’s perspective on questions and questioning. The Master is not there to simply answer His chela’s questions, but, rather, to propose questions to the chela. The chela ruminating upon the question thrown into his mind by the Master, will evoke his own abstract mind and the answer will come.
3. Trong đoạn ngắn trên, chúng ta được biết quan điểm của Chân sư về các câu hỏi và việc đặt câu hỏi. Chân sư hiện diện không đơn thuần để trả lời những câu hỏi của đệ tử Ngài, mà là để đặt câu hỏi cho đệ tử. Khi suy ngẫm về câu hỏi mà Chân sư đưa vào thể trí mình, đệ tử sẽ khơi dậy trí trừu tượng của chính mình và câu trả lời sẽ đến.
4. It would seem that we progress through a series of ever more penetrating questions rather than through a series of answers given by a higher authority.
4. Dường như chúng ta tiến bộ qua một chuỗi câu hỏi ngày càng sâu sắc hơn là qua một chuỗi câu trả lời do một thẩm quyền cao hơn đưa ra.
5. What the Master seeks to do is develop faculty in His disciple. We become Masters by demonstrating mastery. Mere reception without the exercise of faculty does not build mastery.
5. Điều Chân sư tìm cách thực hiện là phát triển năng lực nơi đệ tử của Ngài. Chúng ta trở thành Chân sư bằng cách thể hiện sự làm chủ. Chỉ tiếp nhận mà không vận dụng năng lực thì không xây dựng được sự làm chủ.
6. The approach is easy. When we have deep and absorbing questions, our first approach must be to answer them for ourselves. Thus our faculty will grow. When we have done all we can on our own, and when our intuition has spoken to the degree it can, we may wait for the further light which a Master might shed upon the still held question.
6. Cách tiếp cận này rất dễ thực hiện. Khi có những câu hỏi sâu sắc và cuốn hút, cách tiếp cận đầu tiên của chúng ta phải là tự trả lời chúng. Nhờ vậy, năng lực của chúng ta sẽ tăng trưởng. Khi đã tự mình làm tất cả những gì có thể, và khi trực giác đã lên tiếng đến mức có thể, chúng ta có thể chờ đợi ánh sáng bổ sung mà một Chân sư có thể soi rọi vào câu hỏi vẫn còn được giữ trong tâm trí.
You can see, therefore, how important this entire problem of questions can be and how, in a Master’s Ashram or group, [734] the responsiveness of the membership to the questions, registered either by the individual disciple or by the group as a whole, and the answering of these questions has a conditioning effect upon the group. It is here the Master’s particular work comes in—the arousing of the Ashram to the asking of those questions which will lead to revelation. A Master has always two things to bear in mind: the group condition which is dependent upon the aggregated vibration or note of all the members of the Ashram, insofar as they work together, and, secondly, the period in which the group is functioning. To this must be added the total responsiveness of the entire Ashram. One of the difficulties confronting all ashrams (viewing them as wholes) is to absorb new members and disciples, either singly or in groups. One question that necessarily arises is: How can a group within an Ashram (constituted of relatively new disciples and beginners on the Path of Accepted Discipleship) become increasingly sensitive to the vibration of the Ashram as a whole and to the Master of the Ashram?
Do đó, các bạn có thể thấy toàn bộ vấn đề đặt câu hỏi này quan trọng đến mức nào, và trong ashram của một Chân sư hoặc trong nhóm của Ngài, [734] sự đáp ứng của các thành viên đối với những câu hỏi mà cá nhân đệ tử hoặc toàn thể nhóm ghi nhận, cùng việc trả lời những câu hỏi ấy, có tác động định hình nhóm như thế nào. Chính ở đây, công việc đặc thù của Chân sư phát huy vai trò—khơi dậy ashram để đặt ra những câu hỏi sẽ dẫn đến sự mặc khải. Một Chân sư luôn phải ghi nhớ hai điều: tình trạng của nhóm, vốn phụ thuộc vào rung động hay âm điệu tổng hợp của tất cả các thành viên ashram trong chừng mực họ cùng làm việc với nhau, và, thứ hai, thời kỳ mà nhóm đang hoạt động. Cần bổ sung vào đó khả năng đáp ứng tổng thể của toàn bộ ashram. Một trong những khó khăn mà mọi ashram đều đối diện (khi xem chúng như những chỉnh thể) là thu nhận các thành viên và đệ tử mới, dù riêng lẻ hay theo nhóm. Một câu hỏi tất yếu nảy sinh là: Làm thế nào một nhóm trong ashram (gồm những đệ tử tương đối mới và những người mới bắt đầu trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận) có thể ngày càng nhạy cảm hơn với rung động của toàn thể ashram và với Chân sư của ashram?
1. The Master deals with the importance of questions. He is addressing one of the most important directives given to disciples and discipleship groups: “Enquire the Way”.
1. Chân sư bàn đến tầm quan trọng của các câu hỏi. Ngài đang đề cập đến một trong những huấn thị quan trọng nhất dành cho các đệ tử và các nhóm đệ tử: “Hãy tìm hỏi về Đường Đạo”.
2. The matter of questions leads directly into the Science of Invocation and Evocation, related as it is to the planet Mercury and the sign Gemini.
2. Vấn đề đặt câu hỏi dẫn thẳng vào Khoa Học Khẩn Cầu và Gợi Lên, vốn liên quan đến Sao Thủy và dấu hiệu Song Tử.
3. The Master proposes questions, or, at least, His writings should prompt many questions. The responsiveness to such questions (or to those deliberately thrown into the mind of individual group members or into the mind of the group as a whole) will indicate the readiness of the group for further progress.
3. Chân sư đưa ra những câu hỏi, hoặc ít nhất, các trước tác của Ngài hẳn phải gợi lên nhiều câu hỏi. Sự đáp ứng đối với những câu hỏi như vậy (hoặc với những câu hỏi được chủ ý đưa vào thể trí của từng thành viên trong nhóm hay vào thể trí của toàn thể nhóm) sẽ cho thấy nhóm đã sẵn sàng tiến xa hơn đến mức nào.
4. By answering our own questions, we move into greater Light.
4. Bằng cách tự trả lời những câu hỏi của mình, chúng ta tiến vào Ánh Sáng lớn hơn.
5. We note that Master DK is discussing the issue of asking questions in relation to the Stage of Accepted Discipleship. It becomes clear that treating questions in the manner suggested is something that is expected of an accepted disciple.
5. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đang bàn về việc đặt câu hỏi trong mối liên hệ với Giai Đoạn Đệ Tử Được Chấp Nhận. Rõ ràng, xử lý các câu hỏi theo cách được gợi ý là điều người ta kỳ vọng ở một đệ tử được chấp nhận.
6. DK tells us something important about a Master’s work: it is “the arousing of the Ashram to the asking of those questions which will lead to revelation”. This is, perhaps, an unusual thought to some, who fancied the Master as the great repository of answers. The attempt to answer questions is a quest which leads into ever greater Light.
6. Chân sư DK cho chúng ta biết một điều quan trọng về công việc của một Chân sư: đó là “khơi dậy ashram để đặt ra những câu hỏi sẽ dẫn đến sự mặc khải”. Có lẽ đây là một ý tưởng khác thường đối với một số người vốn hình dung Chân sư như một kho tàng lớn chứa đựng những câu trả lời. Nỗ lực trả lời các câu hỏi là một cuộc tìm kiếm dẫn vào Ánh Sáng ngày càng lớn hơn.
7. The relevant relationship is between Mercury and the Sun. Mercury symbolizes the question and the antahkarana that leads to revelation. The Sun symbolizes revelation, illumination and the end of the question. The disciple is, symbolically, Mercury and the Master symbolizes the Sun. By asking and answering questions, the disciple is led straight to the Master and become a Master himself.
7. Mối liên hệ thích đáng ở đây là giữa Sao Thủy và Mặt Trời. Sao Thủy tượng trưng cho câu hỏi và antahkarana dẫn đến sự mặc khải. Mặt Trời tượng trưng cho sự mặc khải, sự soi sáng và sự kết thúc của câu hỏi. Theo nghĩa biểu tượng, đệ tử là Sao Thủy và Chân sư tượng trưng cho Mặt Trời. Bằng cách đặt và trả lời những câu hỏi, đệ tử được dẫn thẳng đến Chân sư và chính y trở thành một Chân sư.
8. In this respect we must remember that a sustained revelation is an initiation. In this way, the asking and correct answering of questions (posed by the individual disciple, the discipleship group or the Master) leads to initiation.
8. Về phương diện này, chúng ta phải nhớ rằng một sự mặc khải được duy trì liên tục là một cuộc điểm đạo. Theo cách này, việc đặt và trả lời đúng những câu hỏi (do cá nhân đệ tử, nhóm đệ tử hoặc Chân sư nêu ra) dẫn đến điểm đạo.
9. The Master must survey His group as He decides what questions to throw into the minds of those assembled. He must consider the group note (indicating the group condition) and the time period in which the group is functioning, and, along with this, He must consider the total responsiveness of the Ashram.
9. Chân sư phải xem xét nhóm của Ngài khi quyết định đưa những câu hỏi nào vào thể trí của những người đang tụ họp. Ngài phải cân nhắc âm điệu của nhóm (biểu thị tình trạng của nhóm) và thời kỳ mà nhóm đang hoạt động; đồng thời, Ngài phải cân nhắc khả năng đáp ứng tổng thể của ashram.
10. The Master has much to assess. His Ashram and its outer groups are in a certain condition and according to the condition, so will be the manner of His attempted influence.
10. Chân sư có nhiều điều cần đánh giá. Ashram của Ngài và các nhóm bên ngoài của nó đang ở trong một tình trạng nhất định, và cách Ngài tìm cách tạo ảnh hưởng sẽ tùy thuộc vào tình trạng ấy.
11. A very important question is raised: “How should the Ashram absorb new members, whether they arrive singly or in groups?” The quality and the effectiveness of the Ashram are dependent, in large measure, upon the answer to this and similar questions”. On a lower turn of the spiral, those of use who direct or manage groups face similar considerations with respect to newcomers.
11. Một câu hỏi rất quan trọng được nêu ra: “Ashram nên thu nhận các thành viên mới như thế nào, dù họ đến riêng lẻ hay theo nhóm?” Phẩm tính và hiệu quả của ashram phụ thuộc phần lớn vào câu trả lời cho câu hỏi này và những câu hỏi tương tự”. Ở một vòng xoắn thấp hơn, những người trong chúng ta đang chỉ đạo hoặc quản lý các nhóm cũng đối diện với những điều cần cân nhắc tương tự về người mới đến.
12. The absorption of new members is a difficulty. Those of who are eager to be in a Master’s group or Ashram should soberly contemplate the difficulty to the group or Ashram which our membership may (hopefully only initially) pose. And we should seek to divine why our presence may be a difficulty to the established quality and rhythm of the Ashram. We might learn a lot about our liabilities.
12. Việc thu nhận các thành viên mới là một khó khăn. Những người trong chúng ta đang mong mỏi được gia nhập nhóm hoặc ashram của một Chân sư nên nghiêm túc chiêm ngưỡng khó khăn mà việc chúng ta trở thành thành viên có thể gây ra cho nhóm hoặc ashram (hy vọng chỉ vào lúc đầu). Và chúng ta nên tìm cách nhận biết tại sao sự hiện diện của mình có thể gây khó khăn cho phẩm tính và nhịp điệu đã được thiết lập của ashram. Chúng ta có thể học được nhiều điều về những điểm yếu của mình.
13. DK is speaking to His assembled groups on the periphery of His Ashram. The outer groups are composed, relatively, of newcomers, and those who are new to the Stage of Accepted Discipleship. The task before the members of such groups (and the group as a whole) is to become increasingly sensitive to the Ashram and to the Master Who directs the Ashram. All members of groups would want this sensitivity to occur, but what must they do to make it a reality? Certainly, decentralization is a major necessity.
13. Chân sư DK đang nói với các nhóm của Ngài đang tụ họp ở vùng ngoại vi ashram của Ngài. Các nhóm bên ngoài gồm những người tương đối mới và những người mới bước vào Giai Đoạn Đệ Tử Được Chấp Nhận. Nhiệm vụ trước mắt của các thành viên trong những nhóm như vậy (và của toàn thể nhóm) là ngày càng trở nên nhạy cảm hơn với ashram và với Chân sư đang chỉ đạo ashram. Tất cả các thành viên trong các nhóm đều mong muốn có được tính nhạy cảm này, nhưng họ phải làm gì để biến nó thành hiện thực? Chắc chắn, việc phi tập trung vào bản thân là một yêu cầu thiết yếu.
This question in reality embodies the major problem existent between the personality and the soul, between the Master and the disciple and between humanity and the Hierarchy. It is basically a question of registering essential unity and the cessation of separativeness. Disciples in their consciousness have to learn to avoid differentiating between aspects of the Ashram, inner and outer, and between the few Ashram members whom they may know and recognise, and the vast number who remain unknown to them. An Ashram is one group or band of disciples, initiates of various degrees, world disciples and neophytes at the very beginning of the Way of discipleship. Disciples must not think in terms of different Ashrams but in terms of the Ashram as a whole.
Thực ra, câu hỏi này bao hàm vấn đề chủ yếu tồn tại giữa phàm ngã và linh hồn, giữa Chân sư và đệ tử, và giữa nhân loại và Thánh đoàn. Về cơ bản, đó là vấn đề ghi nhận sự hợp nhất cốt yếu và chấm dứt tính chia rẽ. Trong tâm thức mình, các đệ tử phải học cách tránh phân biệt giữa những phương diện bên trong và bên ngoài của ashram, cũng như giữa số ít thành viên ashram mà họ có thể biết và nhận ra với số đông vẫn còn xa lạ với họ. Một ashram là một nhóm hay một đoàn thể duy nhất gồm các đệ tử, các điểm đạo đồ thuộc nhiều cấp độ khác nhau, các đệ tử thế gian và những người sơ cơ vừa mới bắt đầu Con Đường Đệ Tử. Các đệ tử phải tư duy theo toàn thể ashram, thay vì theo những ashram khác nhau.
1. It would seem that in this section, Master DK is teaching disciples (i. e. , accepted disciples) how to think in relation to the Ashram.
1. Dường như trong phần này, Chân sư DK đang dạy các đệ tử (nghĩa là các đệ tử được chấp nhận) cách suy nghĩ trong mối liên hệ với ashram.
2. He places the question of sensitivity to the Ashram in a larger context—the context of the relation between the Pairs of Opposites. Personality and soul, disciple and Master, and humanity and Hierarchy are all related pairs of opposites. In each pair, one aspect represents form and the other soul; or one represents the Moon and the other the Sun.
2. Ngài đặt vấn đề nhạy cảm với ashram trong một bối cảnh rộng lớn hơn—bối cảnh của mối quan hệ giữa các Cặp Đối Cực. Phàm ngã và linh hồn, đệ tử và Chân sư, nhân loại và Thánh đoàn đều là những cặp đối cực có liên hệ với nhau. Trong mỗi cặp, một phương diện đại diện cho hình tướng, phương diện kia đại diện cho linh hồn; hoặc một phương diện đại diện cho Mặt Trăng, phương diện kia đại diện cho Mặt Trời.
3. The suggestion is given that our sensitivity is hindered by the factor of separativeness—especially separative thinking.
3. Có một gợi ý rằng tính chia rẽ—đặc biệt là lối suy nghĩ chia rẽ—cản trở sự nhạy cảm của chúng ta.
4. These opposites can be reconciled and the necessary sensitivity created if “essential unity” prevails over separativeness in its many forms.
4. Có thể dung hòa các đối cực này và tạo ra sự nhạy cảm cần thiết nếu “sự hợp nhất cốt yếu” chiếm ưu thế trước tính chia rẽ dưới nhiều hình thức.
5. Differentiation is useful to a point, but when it comes to considering the Ashram, members of an Ashram, and other Ashrams and their members, the separative mind works against the necessary unity of thought. A little careful thought on this matter will reveal how much separative thinking goes on in relation to an Ashram and its personnel. The factor of ashramic unity often disappears to sight.
5. Sự biến phân hữu ích đến một mức nào đó, nhưng khi xem xét ashram, các thành viên của một ashram, cùng những ashram khác và các thành viên của chúng, thể trí chia rẽ đi ngược lại sự hợp nhất tư tưởng cần thiết. Chỉ cần suy nghĩ cẩn thận đôi chút về vấn đề này cũng sẽ thấy có biết bao lối suy nghĩ chia rẽ xoay quanh một ashram và các thành viên của nó. Chúng ta thường không còn nhìn thấy yếu tố hợp nhất của ashram.
6. It is also possible and even likely to think in a small and petty manner, underestimating the size and scope of an Ashram and forgetting the many ashramic members who may remain unknown to the thinker.
6. Chúng ta cũng có thể, và thậm chí rất dễ, suy nghĩ một cách hạn hẹp và nhỏ nhen, đánh giá thấp quy mô và phạm vi của một ashram, đồng thời quên đi nhiều thành viên ashram mà người suy nghĩ có thể chưa biết đến.
7. DK tells us something of the scope of an Ashram, in its various apparent divisions. But despite the various grades of workers which comprise any Ashram, all of them must be seen as a unified whole.
7. Chân sư DK cho chúng ta biết đôi điều về phạm vi của một ashram qua những bộ phận khác nhau có vẻ tách biệt của nó. Nhưng bất chấp các cấp bậc khác nhau của những người hoạt động hợp thành bất kỳ ashram nào, chúng ta phải nhìn nhận tất cả họ như một tổng thể hợp nhất.
8. Not only are we to avoid holding the thought of the manner in which a particular Ashram may be divided into different bands of workers, but we are to avoid dividing in our minds the Great Ashram into the many subsidiary Ashrams.
8. Chúng ta không chỉ cần tránh giữ ý nghĩ về cách một ashram cụ thể có thể phân chia thành những nhóm người hoạt động khác nhau, mà còn cần tránh phân chia ashram Vĩ Đại thành nhiều ashram phụ thuộc trong thể trí mình.
9. Yes, the subsidiary Ashrams do exist just as the many types of workers in any Ashram also exist, but the great fact of ashramic unity is the mystery to be held in consciousness as the greatest reality.
9. Quả thật, các ashram phụ thuộc có tồn tại, cũng như nhiều loại người hoạt động trong bất kỳ ashram nào cũng tồn tại, nhưng sự thật vĩ đại về sự hợp nhất của ashram là điều huyền nhiệm cần giữ trong tâm thức như thực tại lớn lao nhất.
10. Clearly, Master DK is leveling an attack at the separative mind and the undue influence it has over many, if not most, new accepted disciples.
10. Rõ ràng, Chân sư DK đang công kích thể trí chia rẽ và ảnh hưởng quá mức của nó đối với nhiều, nếu không nói là phần lớn, đệ tử mới được chấp nhận.
The key to this realisation, little as you may think it, is Intensity. Intensity, or working from a point of tension, brings in the flood-tide of revelation, and it is then possible for a disciple to learn in one short day what might otherwise take months and even years to learn. Tension, when focussed rightly, is the great releasing Power. So many disciples focus tension wrongly and release energy in the wrong direction and (if I might so inadequately express it) from the wrong location. [735] Right tension is brought about first by correct orientation; this necessitates a true sense of values and freedom from those minor preoccupations which produce extension instead of tension. If you are (to give a very usual illustration) preoccupied with your physical condition, you will not experience the tension which will make you a magnetic centre of power and love; if you are preoccupied with the failures of other people or with their ideas about you, you will again fail to experience the tension which releases. You would find it of value to discover where your “extensions” are and then retreat inward to the point of tension from which you can consciously and effectively direct soul energy.
Chìa khóa dẫn đến sự chứng nghiệm này, dù các bạn có thể ít nghĩ đến điều đó, là Cường độ. Cường độ, hay việc hoạt động từ một điểm tập trung nhất tâm, đưa đến làn sóng mặc khải dâng tràn; khi ấy, một đệ tử có thể học trong một ngày ngắn ngủi điều mà nếu không có trạng thái ấy thì có thể phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mới học được. Sức căng, khi được tập trung đúng cách, là Quyền năng giải phóng vĩ đại. Rất nhiều đệ tử tập trung sức căng sai cách và giải phóng năng lượng sai hướng, đồng thời (nếu Tôi có thể diễn đạt một cách chưa thỏa đáng như vậy) từ sai vị trí. [735] Trước hết, sức căng đúng đắn hình thành nhờ sự định hướng đúng; điều này đòi hỏi một ý thức chân thực về các giá trị và sự tự do khỏi những bận tâm nhỏ nhặt vốn tạo ra sự dàn trải thay vì sức căng. Nếu các bạn (để đưa ra một ví dụ rất thường gặp) bận tâm đến tình trạng thể xác của mình, các bạn sẽ không trải nghiệm sức căng có thể khiến các bạn trở thành một trung tâm có từ tính của quyền năng và tình thương; nếu các bạn bận tâm đến những thất bại của người khác hoặc những ý nghĩ của họ về mình, các bạn cũng sẽ không trải nghiệm được sức căng có tác dụng giải phóng. Các bạn sẽ thấy hữu ích khi khám phá những “sự dàn trải” của mình nằm ở đâu, rồi lui vào bên trong đến điểm tập trung nhất tâm, từ đó các bạn có thể điều khiển năng lượng linh hồn một cách có ý thức và hiệu quả.
1. DK is speaking about the manner of reconciling and unifying certain of the pairs of opposes. He is speaking about how to experience oneness in the midst of apparent division and diversity. In sum, He is speaking about how to realize that the many members are but one Ashram and that the many Ashrams are the One Great Ashram.
1. Chân sư DK đang nói về cách dung hòa và hợp nhất một số cặp đối cực. Ngài đang nói về cách trải nghiệm tính nhất thể giữa sự phân chia và đa dạng bề ngoài. Tóm lại, Ngài đang nói về cách chứng nghiệm rằng nhiều thành viên chỉ là một ashram, và nhiều ashram chính là ashram Vĩ Đại Duy Nhất.
2. The key to this sort of realization is “Intensity”. This is a key occult point and invites careful pondering.
2. Chìa khóa dẫn đến loại chứng nghiệm này là “Cường độ”. Đây là một điểm huyền bí then chốt, đòi hỏi sự suy ngẫm cẩn thận.
3. According to DK, right intensity, or right tension leads to the mastery of time; at least it greatly speeds the learning process. If we find that we are slow at learning something that is necessary, we may question the degree of our intensity (i. e. , whether we are working for a proper point of tension).
3. Theo Chân sư DK, cường độ đúng đắn, hay sức căng đúng đắn, dẫn đến khả năng làm chủ thời gian; ít nhất, nó thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình học hỏi. Nếu thấy mình chậm học một điều cần thiết nào đó, chúng ta có thể xem xét mức độ cường độ của mình (nghĩa là liệu chúng ta có đang hoạt động để đạt được một điểm tập trung nhất tâm thích hợp hay không).
4. The promise is substantial—to learn in one short day what might otherwise take months or even years! A prospect of this nature cannot be ignored.
4. Lời hứa này thật lớn lao—học trong một ngày ngắn ngủi điều mà nếu không có trạng thái ấy thì có thể phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm! Không thể bỏ qua một triển vọng như vậy.
5. Tension and release—these two concepts have made their way into popular thinking, especially in relation to relaxation therapy. What DK is stressing, however, is that “tension is a great releasing Power”. Usually the two concepts are considered opposites or contradictory. However, ‘tenseness’ is the true opposite of release—not occult tension.
5. Sức căng và sự giải phóng—hai khái niệm này đã đi vào tư duy phổ biến, đặc biệt trong mối liên hệ với liệu pháp thư giãn. Tuy nhiên, điều Chân sư DK nhấn mạnh là “sức căng là một Quyền năng giải phóng vĩ đại”. Thông thường, người ta xem hai khái niệm ấy là đối lập hoặc mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, ‘trạng thái căng thẳng’ mới thực sự đối lập với sự giải phóng, chứ không phải sức căng huyền bí.
6. In the question of achieving right tension a key discriminator is the difference between the essential and the non-essential.
6. Trong vấn đề đạt được sức căng đúng đắn, một điểm phân biệt then chốt là sự khác nhau giữa điều thiết yếu và điều không thiết yếu.
7. When it comes to the “location” of tension, we must think of the structure of the human being. Tension is not to be focussed or localized anywhere in the personality. Such tensions are really extensions.
7. Khi nói đến “vị trí” của sức căng, chúng ta phải nghĩ đến cấu trúc của con người. Không nên tập trung hay định vị sức căng ở bất cứ nơi nào trong phàm ngã. Những sức căng như thế thực ra là những sự dàn trải.
8. If my attention is fixated on any aspect of my personality, then I am ‘extense’ rather than intense. Extensions are preoccupations, and preoccupations are veils upon sight.
8. Nếu sự chú ý của tôi bị cố định vào bất kỳ phương diện nào của phàm ngã mình, thì tôi đang ‘dàn trải’ thay vì tập trung mãnh liệt. Những sự dàn trải chính là những mối bận tâm, và những mối bận tâm là những tấm màn che phủ khả năng nhìn thấy.
9. If we wish to be relieved from our extensions, we have to have a “true sense of values” and freedom from minor preoccupations.
9. Nếu muốn thoát khỏi những sự dàn trải của mình, chúng ta phải có một “ý thức chân thực về các giá trị” và sự tự do khỏi những bận tâm nhỏ nhặt.