Trích nội dung chương
The question might here be asked: How can this work out practically in a group of disciples — all of them individuals but all sincerely anxious to cooperate and aid in this work? Let me try and give a clear reply. Ở đây có thể đặt câu hỏi: Làm thế nào điều này có thể được thực hiện trên thực tế trong một nhóm đệ tử — tất cả đều là những cá nhân, nhưng tất cả đều chân thành tha thiết hợp tác và trợ giúp công việc này? Để Tôi thử đưa ra một câu trả lời rõ ràng.
3. PART II – 3. PHẦN II
commentary by Michael D. Robbins
bình giảng của Michael D. Robbins
The question might here be asked: How can this work out practically in a group of disciples — all of them individuals but all sincerely anxious to cooperate and aid in this work? Let me try and give a clear reply.
Ở đây có thể đặt câu hỏi: Làm thế nào điều này có thể được thực hiện trên thực tế trong một nhóm đệ tử — tất cả đều là những cá nhân, nhưng tất cả đều chân thành tha thiết hợp tác và trợ giúp công việc này? Để Tôi thử đưa ra một câu trả lời rõ ràng.
1. We begin with the premise: we, as disciples, are all “individuals”.
1. Chúng ta bắt đầu với tiền đề: là những đệ tử, tất cả chúng ta đều là “những cá nhân”.
2. This means, obviously, we are not yet group conscious. The Tibetan undertakes to work with us, helping us move our consciousness out of the usual Leo centralization into the higher meaning of Aquarius.
2. Hiển nhiên, điều này có nghĩa là chúng ta chưa có tâm thức nhóm. Chân sư Tây Tạng đảm nhận việc làm việc với chúng ta, giúp chúng ta đưa tâm thức ra khỏi sự tập trung vào bản thân thông thường của Sư Tử để đi vào ý nghĩa cao hơn của Bảo Bình.
3. The attitude of the disciple — “sincerely anxious”. This attitude is characterized by focus and an eagerness to do well. There is even some apprehension that one may not do well. There is the desire to live up to the expectations presented by the Master.
3. Thái độ của người đệ tử — “chân thành tha thiết”. Thái độ này có đặc điểm là sự tập trung và lòng hăng hái muốn làm tốt. Thậm chí còn có chút lo ngại rằng mình có thể không làm tốt. Có lòng mong muốn đáp ứng những kỳ vọng mà Chân sư đặt ra.
You have undertaken voluntarily to work together when proffered the opportunity by me. You are aiming towards a group solidarity which will be based upon the fact of your being souls. This should eventually manifest itself subjectively and essentially in the form of a group telepathic inter-communication, as group understanding also of each other’s problems and difficulties and, therefore, as a group opportunity to aid and help one another. This helping should not and must not come through personality effort or contact, or through the stating of problems related to circumstance and character, or through the tendering of advice and suggestion. We deal not with personalities in connection with each other in a Master’s group. At the same time, it should be possible for each of you to learn to strengthen and aid each other, avoiding always any intrusion of the personality. You can each learn to transmit your soul ray quality to a fellow disciple, stimulating him to greater courage, to finer purity of motive and to deeper love, yet avoiding the vitalisation of his personality characteristics. You should learn always to think of each other as souls and not as limited human beings. [[13]]
Các bạn đã tự nguyện đảm nhận việc làm việc cùng nhau khi Tôi trao cơ hội. Các bạn đang hướng đến sự đoàn kết nhóm dựa trên sự thật rằng các bạn là những linh hồn. Cuối cùng, điều này phải biểu hiện về mặt chủ quan và thực chất dưới hình thức giao tiếp viễn cảm qua lại trong nhóm, cũng như sự thấu hiểu của nhóm đối với những vấn đề và khó khăn của nhau, và do đó trở thành cơ hội để nhóm hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Sự giúp đỡ này không nên và không được đến qua nỗ lực hay sự tiếp xúc của phàm ngã, qua việc trình bày những vấn đề liên quan đến hoàn cảnh và tính cách, hoặc qua việc đưa ra lời khuyên và đề nghị. Trong một nhóm của Chân sư, chúng ta không bàn đến các phàm ngã trong mối liên hệ với nhau. Đồng thời, mỗi người trong các bạn phải có thể học cách củng cố và trợ giúp lẫn nhau, luôn tránh mọi sự xen vào của phàm ngã. Mỗi người trong các bạn có thể học cách truyền phẩm tính cung linh hồn của mình đến một đệ tử đồng môn, khơi dậy nơi người ấy lòng can đảm lớn hơn, động cơ thanh khiết hơn và tình thương sâu sắc hơn, đồng thời tránh tiếp sinh lực cho những đặc điểm phàm ngã của người ấy. Các bạn phải học cách luôn nghĩ về nhau như những linh hồn, thay vì như những con người hữu hạn. [[13]]
1. A number of these disciples, for both karmic and dharmic reasons, were drawn to the Arcane School, and the Tibetan (intuitively knowing their past and their immediate possibilities), selected them. From much that He says to them, it seems many if not all of them had been associated with him before, for He begins many letters with, “Brother of Old”. Thus the magnet works.
1. Vì những lý do liên quan đến cả nghiệp quả lẫn bổn phận, một số đệ tử này đã được thu hút đến Trường Arcane, và Chân sư Tây Tạng (với trực giác biết được quá khứ cùng những khả năng trước mắt của họ) đã tuyển chọn họ. Qua nhiều điều Ngài nói với họ, dường như nhiều người, nếu không phải tất cả, đã có liên hệ với Ngài từ trước, vì Ngài mở đầu nhiều bức thư bằng lời “Huynh Đệ của Ngày Xưa”. Nam châm hoạt động như thế.
2. It may be that others were not known to AAB personally and were contacted and included under the Tibetan’s suggestion.
2. Có thể một số người khác không quen biết trực tiếp với Bà AAB và đã được liên lạc, đưa vào nhóm theo đề nghị của Chân sư Tây Tạng.
3. All, however, had been offered opportunity, and all, according to their own free will and accord, had agreed to work together.
3. Tuy nhiên, tất cả đều đã nhận được cơ hội, và tất cả đều tự do, tự nguyện đồng ý làm việc cùng nhau.
4. DK describes the nature of the “group solidarity” they are attempting to achieve. They can do this if they function “as souls”. If all goes well, they will become telepathic towards each other, have group understanding of each other’s problems and difficulties, and be presented with a group opportunity to help each other.
4. Chân sư DK mô tả bản chất của “sự đoàn kết nhóm” mà họ đang cố gắng đạt đến. Họ có thể làm được điều này nếu họ hoạt động “như những linh hồn”. Nếu mọi việc diễn ra tốt đẹp, họ sẽ giao tiếp viễn cảm với nhau, có sự thấu hiểu của nhóm đối với những vấn đề và khó khăn của nhau, và có một cơ hội ở cấp độ nhóm để giúp đỡ lẫn nhau.
5. Then, DK tells us how such help should not come — not through the usual kind of personality helpfulness. He states an important principle which resounds throughout this work: “We deal not with personalities in connection with each other in a Master’s group”.
5. Tiếp đó, Chân sư DK cho chúng ta biết sự giúp đỡ ấy không nên đến bằng cách nào — không qua kiểu giúp đỡ thông thường của phàm ngã. Ngài nêu một nguyên khí quan trọng vang vọng xuyên suốt tác phẩm này: “Trong một nhóm của Chân sư, chúng ta không bàn đến các phàm ngã trong mối liên hệ với nhau”.
6. So, we ask ourselves, how do we strengthen and aid each other and yet keep our personalities from intruding, which intrusion would only vitalize personality characteristics? The wrong kind of blending feeds the fires of the lower life.
6. Vì vậy, chúng ta tự hỏi: làm thế nào để củng cố và trợ giúp lẫn nhau mà vẫn ngăn phàm ngã xen vào, vì sự xen vào ấy chỉ tiếp sinh lực cho những đặc điểm phàm ngã? Kiểu hoà trộn sai lầm nuôi dưỡng những ngọn lửa của đời sống thấp.
7. Another important hint is given: we have to learn to transmit our soul ray and quality to each other. What applied to those disciples then, applies to us now.
7. Một gợi ý quan trọng khác được đưa ra: chúng ta phải học cách truyền cung linh hồn và phẩm tính của mình cho nhau. Điều từng áp dụng cho những đệ tử ấy khi đó cũng áp dụng cho chúng ta lúc này.
8. How do you, how do I, transmit our soul ray and quality to a brother? It would seem that we have to be in alignment with that ray to ensure that its qualities are permeating us. When we think of a brother, write to a brother, speak to a brother, the quality of energy which permeates our process must be recognizably that of the soul. One might say, “How can it help be anything but that of the soul?” A little experience, however, will reveal that many different kinds of energy may be pouring through us at any one time. Only the highest one is to be selected, and to it we must attune.
8. Các bạn và tôi truyền cung linh hồn và phẩm tính của mình đến một huynh đệ bằng cách nào? Dường như chúng ta phải chỉnh hợp với cung ấy để bảo đảm các phẩm tính của nó đang thấm nhuần chúng ta. Khi chúng ta nghĩ đến một huynh đệ, viết thư cho một huynh đệ, nói chuyện với một huynh đệ, phẩm tính của năng lượng thấm nhuần tiến trình ấy phải rõ ràng là phẩm tính của linh hồn. Có người có thể nói: “Làm sao nó có thể là phẩm tính nào khác ngoài phẩm tính của linh hồn?” Tuy nhiên, chỉ cần một chút kinh nghiệm cũng sẽ cho thấy rằng vào bất kỳ thời điểm nào, nhiều loại năng lượng khác nhau có thể đang tuôn qua chúng ta. Chúng ta chỉ được chọn loại cao nhất, và phải hoà điệu với nó.
9. If we do manage to transmit our soul ray and quality to a brother we will, says the Tibetan, stimulate “him to greater courage, to finer purity of motive and to deeper love”. It seems that being reached by any soul ray will do this. Being reached by personality energy is at once wrongly vitalizing and devitalizing. These are certainly worthy objectives, and so, a question for the day, and for many days might be, “Have I transmitted my soul ray and its quality to my brothers and sisters today?” “How do I know I have done so?” “How did I go about doing so?”
9. Nếu chúng ta thực sự truyền được cung linh hồn và phẩm tính của mình đến một huynh đệ thì, như Chân sư Tây Tạng nói, chúng ta sẽ khơi dậy “nơi người ấy lòng can đảm lớn hơn, động cơ thanh khiết hơn và tình thương sâu sắc hơn”. Dường như khi bất kỳ cung linh hồn nào chạm đến một người, điều này cũng sẽ xảy ra. Khi năng lượng phàm ngã chạm đến, nó vừa tiếp sinh lực sai cách vừa làm hao tổn sinh lực. Đây chắc chắn là những mục tiêu xứng đáng, vì vậy, câu hỏi cho hôm nay và cho nhiều ngày có thể là: “Hôm nay tôi đã truyền cung linh hồn và phẩm tính của nó đến các huynh đệ và tỉ muội của mình chưa?” “Làm sao tôi biết mình đã làm như vậy?” “Tôi đã làm điều đó bằng cách nào?”
10. This is why we have sometimes called the soul ray the ‘ray of contribution’, and the personality ray, the ‘ray of acquisition’.
10. Đây là lý do đôi khi chúng ta gọi cung linh hồn là ‘cung đóng góp’, còn cung phàm ngã là ‘cung thu nhận’.
11. DK closes this most pregnant paragraph with the advice that we should learn to think of each other as souls and not as limited human beings. This makes sense of course, but how do we do it?
11. Chân sư DK kết thúc đoạn văn hết sức hàm súc này bằng lời khuyên rằng chúng ta nên học cách nghĩ về nhau như những linh hồn, thay vì như những con người hữu hạn. Dĩ nhiên, điều này hợp lý, nhưng làm thế nào để chúng ta thực hiện?
12. Might we say that we ‘look through’, ‘look beyond’, ‘look within’ a brother? That we are not fooled by the first thing to meet our eye, nor misled by mere appearances? Probably this is not as easy as it may sound. Probably our consciousness is captivated by many superficialities, and deeper things go unnoticed.
12. Liệu chúng ta có thể nói rằng mình ‘nhìn xuyên qua’, ‘nhìn vượt ra ngoài’, ‘nhìn vào bên trong’ một huynh đệ? Rằng chúng ta không để điều đầu tiên đập vào mắt đánh lừa, cũng không để những vẻ ngoài đơn thuần dẫn lạc? Có lẽ điều này không dễ như lời nói gợi ra. Có lẽ tâm thức chúng ta bị nhiều điều hời hợt thu hút, còn những điều sâu xa hơn thì không được nhận thấy.
13. So the question is, “Who or what is the limited human being?” “Who or what is the soul?”
13. Vì vậy, câu hỏi là: “Ai hay điều gì là con người hữu hạn?” “Ai hay điều gì là linh hồn?”
14. Probably we should approach each other very cautiously so as not to be deceived. DK asks healers to concentrate for five hours upon prospective patients/clients before attempting any healing.
14. Có lẽ chúng ta nên tiếp cận nhau thật thận trọng để không bị đánh lừa. Chân sư DK yêu cầu những người chữa lành tập trung trong năm giờ vào những bệnh nhân/thân chủ dự kiến trước khi thực hiện bất kỳ việc chữa lành nào.
15. What if we were to spend just one day looking for the soul in everyone we met? What qualities would be revealed? And what would we learn about our ordinarily superficial and, perhaps, judgmental approach?
15. Nếu chúng ta dành chỉ một ngày để tìm kiếm linh hồn trong mọi người mình gặp thì sao? Những phẩm tính nào sẽ hiển lộ? Và chúng ta sẽ học được gì về cách tiếp cận thường vốn hời hợt và có lẽ hay phán xét của mình?
16. One very sound method of approach is to focus on people’s possibilities rather than their limitations, though, in truth, there must be a balanced apprehension of both if one is to become a wise mentor (as Master DK is).
16. Một phương pháp tiếp cận rất vững chắc là tập trung vào những khả năng của mọi người thay vì những giới hạn của họ, dù trên thực tế, cần nhận thức cân bằng về cả hai nếu muốn trở thành một người cố vấn minh triết (như Chân sư DK).
We have, therefore, the following three objectives before us:
Vì vậy, trước mắt chúng ta có ba mục tiêu sau:
1. Group unity . . . through thought, exoteric knowledge of each other and a constant sending forth of love.
1. Sự hợp nhất nhóm . . . qua tư tưởng, sự hiểu biết ngoại môn về nhau và việc liên tục toả gửi tình thương.
2. Group meditation . . . as a group of contemplatives, thus rooting this group within the kingdom of the soul and strengthening all the individuals involved.
2. Tham thiền nhóm . . . như một nhóm những người chiêm ngưỡng, qua đó giúp nhóm này bắt rễ trong giới linh hồn và củng cố mọi cá nhân tham gia.
3. Group activity . . . resulting in the aiding of each other in specific problems of character but not of circumstance. Ponder on this distinction, my brothers.
3. Hoạt động nhóm . . . dẫn đến việc trợ giúp nhau trong những vấn đề cụ thể về tính cách, chứ không về hoàn cảnh. Các huynh đệ của Tôi, hãy suy ngẫm về sự phân biệt này.
1. These are the three objectives to be kept constantly in mind. Every group must develop these three — our group and groups included.
1. Đây là ba mục tiêu cần luôn ghi nhớ. Mọi nhóm đều phải phát triển ba điều này — bao gồm cả nhóm và các nhóm của chúng ta.
2. Note that group unity may be facilitated by an exoteric knowledge of each other. Knowing each other, even in an outer sense, is an ingredient to achieving this. (Of course, outer knowing may also act as a deterrent to the achievement of group unity).
2. Hãy lưu ý rằng sự hợp nhất nhóm có thể thuận lợi hơn nhờ sự hiểu biết ngoại môn về nhau. Biết nhau, ngay cả theo nghĩa bên ngoài, là một yếu tố góp phần đạt đến điều này. (Dĩ nhiên, sự hiểu biết bên ngoài cũng có thể cản trở việc đạt đến sự hợp nhất nhóm).
3. Most essential, however, simplest and most difficult, is this “constant sending forth of love”. Each has to find his/her own way to doing this.
3. Tuy nhiên, điều thiết yếu nhất, đơn giản nhất và khó khăn nhất là “việc liên tục toả gửi tình thương”. Mỗi người phải tìm ra cách riêng để thực hiện điều này.
4. DK repeats the theme of contemplation, which can be thought of as ‘meditating as the soul meditates’.
4. Chân sư DK nhắc lại chủ đề chiêm ngưỡng, có thể xem là ‘tham thiền như linh hồn tham thiền’.
5. What are the roots of a group? An interesting question. Where do they go for sustenance? We all have to learn to ‘take root upwards’, and this will be the source of our strength.
5. Những rễ của một nhóm là gì? Một câu hỏi thú vị. Chúng tìm nguồn nuôi dưỡng ở đâu? Tất cả chúng ta đều phải học cách ‘bắt rễ hướng lên trên’, và đây sẽ là nguồn sức mạnh của chúng ta.
6. Often we may ask, how do we really strengthen the personnel of the group? The hint is given — in fact more than a hint — draw strength from meditation.
6. Chúng ta có thể thường hỏi: làm thế nào để thực sự củng cố các thành viên trong nhóm? Gợi ý đã được đưa ra — thật ra còn hơn cả một gợi ý — hãy rút sức mạnh từ tham thiền.
7. Then, an interesting distinction is offered. We are to help each other with specific problems of character but not of circumstance. Character is qualitative and belongs to the second aspect of divinity. Circumstances (that which ‘surrounds’) belongs to the third aspect. Disciples can handle circumstances by themselves if they are oriented correctly in the realm of character. To help in the realm of character is to assist in the building in of soul quality. Then effect will follow cause and the new pattern (being positive to circumstances) will rearrange such circumstances according to inner requirements.
7. Tiếp đó, một sự phân biệt thú vị được nêu ra. Chúng ta phải giúp nhau trong những vấn đề cụ thể về tính cách, chứ không về hoàn cảnh. Tính cách mang tính phẩm tính và thuộc về phương diện thứ hai của thiên tính. Hoàn cảnh (những gì ‘bao quanh’) thuộc về phương diện thứ ba. Các đệ tử có thể tự xử lý hoàn cảnh nếu họ có định hướng đúng đắn trong lĩnh vực tính cách. Giúp đỡ trong lĩnh vực tính cách là hỗ trợ việc bồi đắp phẩm tính linh hồn. Khi đó, quả sẽ theo nhân và mô hình mới (ở thế chủ động đối với hoàn cảnh) sẽ sắp xếp lại những hoàn cảnh ấy theo các yêu cầu bên trong.
Later, when the group is really established, it should begin to function outwardly and its life should begin to make its presence felt. It should steadily tend to increase the spiritual potency of all groups with which the group members are related and with which they may be associated. I refer to all groups which belong to the New Age and are working along spiritual lines. The eventual effect will be along the line of healing the various ills of mankind — physical, mental, psychological and emotional.
Về sau, khi nhóm thực sự được thiết lập, nhóm phải bắt đầu hoạt động ra bên ngoài, và sự sống của nhóm phải bắt đầu khiến người ta cảm nhận được sự hiện diện của nó. Nhóm phải bền bỉ hướng đến việc gia tăng sức mạnh tinh thần của mọi nhóm mà các thành viên có liên hệ và có thể cộng tác. Tôi muốn nói đến mọi nhóm thuộc Kỷ Nguyên Mới và đang hoạt động theo các đường hướng tinh thần. Tác động cuối cùng sẽ hướng đến việc chữa lành những chứng bệnh khác nhau của nhân loại — về thể chất, trí tuệ, tâm lý và cảm xúc.
1. It takes time to establish a group. Those upon the second ray really understand this, as do those upon the seventh. Inward integration must always precede outward functioning, although outward activity, rightly pursued, is, itself, integrative.
1. Việc thiết lập một nhóm cần có thời gian. Những người thuộc cung hai thực sự thấu hiểu điều này, cũng như những người thuộc cung bảy. Sự tích hợp bên trong luôn phải đi trước hoạt động bên ngoài, mặc dù chính hoạt động bên ngoài, khi được thực hiện đúng đắn, cũng có tác dụng tích hợp.
2. There is the inevitable process of “growing into each other”. This need not take place in person. In subtle ways this “growing together” occurs.
2. Có một tiến trình tất yếu là “ngày càng hoà nhập vào nhau”. Điều này không nhất thiết phải diễn ra qua gặp gỡ trực tiếp. Sự “cùng nhau phát triển” này diễn ra theo những cách tinh tế.
3. Note that it is the group “life” that is making its presence felt. If the word is being used precisely and on purpose, then it is the first aspect of the group that is being referenced — the life aspect.
3. Hãy lưu ý rằng chính “sự sống” của nhóm đang khiến người ta cảm nhận được sự hiện diện của nó. Nếu từ này được dùng một cách chính xác và có chủ ý, thì đây là phương diện thứ nhất của nhóm đang được đề cập — phương diện sự sống.
4. Notice that a rightly functioning group strengthens all other groups in which its members participate, or which they contact. It can be done it two ways. One can carry the strength of one’s group to individuals in other groups. Strengthening such individuals, one inevitably strengthens those other groups. Or one can carry strength to other groups as a whole even without specific contact to the individuals in such groups.
4. Hãy lưu ý rằng một nhóm hoạt động đúng đắn sẽ củng cố mọi nhóm khác mà các thành viên của nó tham gia hoặc tiếp xúc. Có thể thực hiện điều này theo hai cách. Một người có thể mang sức mạnh của nhóm mình đến những cá nhân trong các nhóm khác. Khi củng cố những cá nhân ấy, người đó tất yếu củng cố các nhóm khác ấy. Hoặc người ta có thể mang sức mạnh đến toàn thể các nhóm khác, ngay cả khi không có sự tiếp xúc cụ thể với những cá nhân trong các nhóm ấy.
5. The principle is again clear: if we lift ourselves and our groups, we lift, to some extent, all those who are in any way resonant with us — in this case “all groups which belong to the New Age and are working along spiritual lines”.
5. Một lần nữa, nguyên khí này rất rõ ràng: nếu nâng cao bản thân và các nhóm của mình, thì ở một mức độ nào đó, chúng ta cũng nâng cao tất cả những ai cộng hưởng với mình theo bất kỳ cách nào — trong trường hợp này là “mọi nhóm thuộc Kỷ Nguyên Mới và đang hoạt động theo các đường hướng tinh thần”.
6. Master DK takes the long-range vision here. What begins simply as mutual assistance between individuals and their groups becomes, at length, a movement in the direction of “healing the various ills of mankind”. Master DK is a master-healer, and, when He seeks to cultivate the groups with which He works, He has eventual global objectives in mind.
6. Ở đây, Chân sư DK có tầm nhìn xa. Điều khởi đầu đơn giản là sự trợ giúp lẫn nhau giữa các cá nhân và các nhóm của họ, cuối cùng trở thành một phong trào hướng đến “việc chữa lành những chứng bệnh khác nhau của nhân loại”. Chân sư DK là một bậc thầy chữa lành, và khi tìm cách vun bồi các nhóm mà Ngài làm việc cùng, Ngài luôn hướng đến những mục tiêu cuối cùng trên toàn cầu.
7. A principle emerges — harmony, love and unity can be transferred, can spread widely, and they heal.
7. Một nguyên khí hiện rõ — sự hài hoà, tình thương và hợp nhất có thể được chuyển dịch, có thể lan rộng, và chúng chữa lành.
There are certain simple but definite rules which should govern the interior spiritual life of neophytes in training for the various stages of discipleship. Let me here outline to you my suggestions for this simple and immediate work.
Có một số quy luật đơn giản nhưng rõ ràng phải chi phối đời sống tinh thần bên trong của những người sơ cơ đang được huấn luyện cho các giai đoạn khác nhau của địa vị đệ tử. Ở đây, hãy để Tôi phác thảo cho các bạn những đề nghị của Tôi về công việc đơn giản và trước mắt này.
1. The Master speaks to his disciples as if they were neophytes. Indeed they are and so are we (relatively).
1. Chân sư nói với các đệ tử của Ngài như thể họ là những người sơ cơ. Quả thật, họ là như vậy, và chúng ta cũng thế (xét một cách tương đối).
2. It would seem that one is not ready for instruction from a Master unless a requisite humility has been achieved. Disciples have “seen a few things” and have made certain adjustments in their consciousness which result in a reasonable sense of proportion.
2. Dường như một người chưa sẵn sàng tiếp nhận sự chỉ dạy của một Chân sư nếu chưa đạt được sự khiêm nhường cần thiết. Các đệ tử đã “thấy được đôi điều” và đã thực hiện những điều chỉnh nhất định trong tâm thức, nhờ đó có được một ý thức hợp lý về tỉ lệ.
First of all, all disciples practise regular and daily meditation. These meditations are each individually suited to the disciple concerned and vary according to ray, point in evolution and the stage of discipleship which is the immediate objective. These cannot be given here. These meditations will be given to you as suggestions for your use and acceptance. Endeavour at some stage in your meditation to link up with me but let this linking up take place after you have worked at and brought about an alignment with your soul. The reason that it is essential that you link up after alignment is that you can then avoid the glamours and the illusions of the astral plane whereon thoughtforms and masquerading entities personalise the teachers and the Masters and do so in their myriads. Add also to your meditation a short period wherein you will try and link up with your co-disciples, sending them love, soul force, and help. [[14]]
Trước hết, mọi đệ tử đều thực hành tham thiền đều đặn hằng ngày. Mỗi bài thiền này đều phù hợp riêng với đệ tử liên quan và thay đổi tùy theo cung, điểm tiến hoá và giai đoạn của địa vị đệ tử đang là mục tiêu trước mắt. Không thể trình bày những bài thiền ấy ở đây. Những bài thiền này sẽ được trao cho các bạn như những gợi ý để các bạn sử dụng và chấp nhận. Vào một giai đoạn nào đó trong buổi tham thiền, hãy cố gắng liên kết với Tôi, nhưng hãy để sự liên kết này diễn ra sau khi các bạn đã nỗ lực và đạt được sự chỉnh hợp với linh hồn mình. Sở dĩ các bạn nhất thiết phải liên kết sau khi chỉnh hợp là vì khi ấy các bạn có thể tránh những ảo cảm và ảo tưởng của cõi cảm dục, nơi vô số hình tư tưởng và thực thể giả dạng khoác lấy nhân dạng của các huấn sư và các Chân sư. Cũng hãy thêm vào buổi tham thiền một khoảng thời gian ngắn, trong đó các bạn cố gắng liên kết với các đệ tử đồng môn, gửi đến họ tình thương, mãnh lực linh hồn và sự trợ giúp. [[14]]
1. Meditation is fundamental. It must be regular, practised daily.
1. Tham thiền là nền tảng. Phải thực hành đều đặn hằng ngày.
2. Here we learn that DK devised individual meditations for His disciples. He was in a position to do this because he knew their ray(s), their point in evolution, and the stage of discipleship which was for them the immediate objective.
2. Ở đây, chúng ta biết rằng Chân sư DK đã soạn những bài thiền riêng cho các đệ tử của Ngài. Ngài có thể làm điều này vì Ngài biết cung hoặc các cung của họ, điểm tiến hoá của họ và giai đoạn của địa vị đệ tử đang là mục tiêu trước mắt đối với họ.
3. How many teachers today are in a position to do this? Very few, I would say. Approximations can be made by a sufficiently experienced teacher or by a disciple himself/herself, but that touch of certainty will be missing. They do not know enough.
3. Ngày nay có bao nhiêu huấn sư có thể làm được điều này? Tôi cho rằng rất ít. Một huấn sư đủ kinh nghiệm hoặc chính người đệ tử có thể đưa ra những bài thiền gần đúng, nhưng sẽ thiếu nét chắc chắn ấy. Họ chưa biết đủ.
4. Some of the meditations to individual students have been scattered throughout the DINA books, as they are of general value and are not dangerous if practiced even by those for whom they were not originally intended. Others were withheld for obvious reasons. Less knowledge is often less dangerous than more knowledge. Without a Master’s supervision, an overly earnest student applying himself/herself to an unsuitable meditation could do himself/herself real damage.
4. Một số bài thiền dành cho từng đạo sinh được đưa rải rác trong các sách DINA, vì chúng có giá trị chung và không nguy hiểm ngay cả khi những người vốn không phải là đối tượng ban đầu của các bài thiền ấy thực hành chúng. Những bài khác không được công bố vì những lý do hiển nhiên. Biết ít thường ít nguy hiểm hơn biết nhiều. Nếu thiếu sự giám sát của một Chân sư, một đạo sinh quá nhiệt thành chuyên tâm vào một bài thiền không phù hợp có thể thực sự gây tổn hại cho bản thân.
5. Notice that even though the meditations were given by a Master (although He did not say He was so, at that point), they are offered only as suggestions. A free-will response is expected and the free-will of the chela is respected.
5. Hãy lưu ý rằng dù các bài thiền do một Chân sư trao truyền (mặc dù vào thời điểm ấy Ngài không nói mình là Chân sư), chúng vẫn chỉ được đưa ra như những gợi ý. Ngài mong đợi một sự đáp ứng từ ý chí tự do và tôn trọng ý chí tự do của đệ tử.
6. Something fundamental is said here; link up with the soul before attempting to link up with the Master. Today a visit to the Internet will reveal perhaps thirty people channeling ‘Master DK’. Others ‘specialize’ in channeling other ‘Masters’. Why this glamor? Because the channelers failed to link up with their own soul before pursuing contact with the Master.
6. Ở đây có một điều căn bản: hãy liên kết với linh hồn trước khi cố gắng liên kết với Chân sư. Ngày nay, lên Internet có lẽ sẽ thấy khoảng ba mươi người đang làm trung gian truyền thông điệp của ‘Chân sư DK’. Những người khác ‘chuyên’ làm trung gian truyền thông điệp của các ‘Chân sư’. Tại sao có ảo cảm này? Vì những người làm trung gian ấy đã không liên kết với linh hồn mình trước khi tìm cách tiếp xúc với Chân sư.
7. Indeed they found the ‘Master’, but it was the kind of ‘Master’ which DK here describes — “thoughtforms and masquerading entities [which] personalise the teachers and the Masters and do so in their myriads”. The problem may also be one of impersonation.
7. Quả thật, họ đã tìm được ‘Chân sư’, nhưng đó là loại ‘Chân sư’ mà Chân sư DK mô tả ở đây — “vô số hình tư tưởng và thực thể giả dạng [vốn] khoác lấy nhân dạng của các huấn sư và các Chân sư”. Vấn đề cũng có thể là sự mạo danh.
8. It is not a very ‘glamorous’ thing to link up with ones own soul. It seems ordinary, mundane — not special at all. Many (with insufficient “ego strength”) wish to be special. They do not know they have this wish, but they do, and they find their ‘specialness’ in becoming a channel for this ‘Master’ or that, or (in the case of some) for the whole ‘Hierarchy’.
8. Việc liên kết với chính linh hồn mình không có vẻ ‘hào nhoáng’ cho lắm. Nó có vẻ bình thường, tầm thường — chẳng đặc biệt chút nào. Nhiều người (chưa có đủ “sức mạnh phàm ngã”) mong muốn mình trở nên đặc biệt. Họ không biết mình có mong muốn này, nhưng thực sự là có, và họ tìm thấy ‘sự đặc biệt’ của mình khi trở thành trung gian truyền thông điệp của ‘Chân sư’ này hay Chân sư khác, hoặc (trong một số trường hợp) của toàn thể ‘Thánh đoàn’.
9. The simple expedient of soul-culture would avoid this self-deceiving, unfortunate waste of time which misleads others who are gullible.
9. Biện pháp đơn giản là vun bồi đời sống linh hồn sẽ giúp tránh sự lãng phí thời gian đáng tiếc do tự lừa dối mình này, vốn còn dẫn lầm những người cả tin khác.
10. It is amazingly true that higher spiritual contact is always possible for the human being, and that which is spurious does, at least, hint at the possibility of the real. Eventually, all misguided ones (and surely you and I have been among them — and to an extent still are) will “come ‘round” and choose a line of development which, however slow, will lead to real progress.
10. Một sự thật đáng kinh ngạc là con người luôn có khả năng tiếp xúc tinh thần cao hơn, và điều giả mạo ít nhất cũng gợi ra khả năng tồn tại của điều chân thật. Cuối cùng, tất cả những người lầm đường (và chắc chắn các bạn cùng tôi đã từng ở trong số họ — và ở một mức độ nào đó vẫn còn như vậy) sẽ “tỉnh ‘ra” và chọn một hướng phát triển, dù chậm đến đâu, cũng sẽ dẫn đến sự tiến bộ thực sự.
11. So, first the soul, then the thought of the Master, then the thought of one’s co-disciples to whom one sends love. The formula is simple.
11. Vì vậy, trước hết là linh hồn, rồi đến ý nghĩ về Chân sư, tiếp đó là ý nghĩ về các đệ tử đồng môn mà mình gửi tình thương đến. Công thức thật đơn giản.
12. Is there any other way to learn except through mistakes? Perhaps, under the fourth ray of Harmony through Conflict (humanity’s ray) there is not. But surely, at this stage of our development, we do not have to make so many mistakes. Our long and often bitter experience should now save us from the worst glamors and illusions.
12. Có cách học nào khác ngoài việc học qua những sai lầm chăng? Có lẽ, dưới cung bốn Hài Hòa qua Xung Đột (cung của nhân loại), không có cách nào khác. Nhưng chắc chắn, ở giai đoạn phát triển này, chúng ta không cần phải phạm quá nhiều sai lầm. Giờ đây, kinh nghiệm lâu dài và thường cay đắng của chúng ta hẳn phải giúp chúng ta tránh những ảo cảm và ảo tưởng tồi tệ nhất.
13. Always, wariness is required (and, yet, trust). Such are some of the paradoxes of the occult Path.
13. Luôn cần sự thận trọng (tuy vậy, cũng cần lòng tin). Đó là một vài nghịch lý của Đường Đạo huyền bí.
You would find it useful to keep what might be called a spiritual diary. This does not involve the daily entering of the day’s events and has no relation to the happenings which may concern the personality. Note this. In this diary you should record the following:
Các bạn sẽ thấy hữu ích khi giữ một cuốn sổ có thể gọi là nhật ký tinh thần. Điều này không có nghĩa là hằng ngày ghi lại các sự kiện trong ngày, và cũng không liên quan đến những diễn biến có thể thuộc về phàm ngã. Hãy lưu ý điều này. Trong nhật ký ấy, các bạn nên ghi lại những điều sau:
1. Probably many of us have filled many journals with our musings.
1. Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã ghi đầy nhiều cuốn nhật ký bằng những suy tư của mình.
2. DK tells us how it should be done. Ever is there the required discrimination between that which is strictly personal and that which carries evidence of the soul or its presence.
2. Chân sư DK cho chúng ta biết nên thực hiện việc ấy như thế nào. Luôn cần phân biện giữa điều hoàn toàn mang tính cá nhân và điều mang dấu hiệu của linh hồn hoặc sự hiện diện của linh hồn.
3. We are being weaned away from the third aspect of divinity, or at least being taught how to interpret it in light of the second aspect.
3. Chúng ta đang dần được dẫn ra khỏi phương diện thứ ba của thiên tính, hoặc ít nhất đang được dạy cách diễn giải phương diện ấy dưới ánh sáng của phương diện thứ hai.
1. Any spiritual experience which may come to you, such as contact with some Presence, either that of your own soul, the angel of the Presence, contact with some disciple and eventually — when your life and work and discipline warrant it — contact with one of the Masters. Record this in an impartial way, preserving the scientific attitude and seeking ever a practical explanation before accepting a mystical one. A spirit of agnosticism (not of atheism) is of real value to the beginner and preserves him from the snares of the world illusion and of lower psychism.
1. Bất kỳ trải nghiệm tinh thần nào đến với các bạn, chẳng hạn như tiếp xúc với một Hiện Diện nào đó, dù là linh hồn của chính các bạn, Thiên Thần của Hiện Diện, tiếp xúc với một đệ tử nào đó, và cuối cùng — khi đời sống, công việc và kỷ luật của các bạn đủ để bảo chứng cho điều ấy — tiếp xúc với một trong các Chân sư. Hãy ghi lại điều này một cách vô tư, giữ thái độ khoa học và luôn tìm một cách giải thích thực tế trước khi chấp nhận một cách giải thích thần bí. Tinh thần bất khả tri (chứ không phải vô thần) có giá trị thực sự đối với người mới bắt đầu và giúp người ấy tránh những cạm bẫy của ảo tưởng thế gian và năng lực thông linh bậc thấp.
1. Again, the Master lets us know we are beginners. In this whole question of “real group work”, we are simply beginners no matter how great our “individual” accomplishments may be.
1. Một lần nữa, Chân sư cho chúng ta biết mình là những người mới bắt đầu. Trong toàn bộ vấn đề “công việc nhóm thực sự” này, chúng ta chỉ là những người mới bắt đầu, dù những thành tựu “cá nhân” của chúng ta có lớn lao đến đâu.
2. What is a “Presence”? Is it not something real and yet, intangible? A Presence, as here described, will have no outer form, but it will have quality and a certain kind of energy. It is the touch of an entity of some kind (in this case a positive entity — for there are also negative presences).
2. Một “Hiện Diện” là gì? Chẳng phải đó là một điều có thật mà vẫn vô hình sao? Một Hiện Diện, như mô tả ở đây, không có hình tướng bên ngoài, nhưng có phẩm tính và một loại năng lượng nhất định. Đó là sự chạm đến của một thực thể nào đó (trong trường hợp này là một thực thể tích cực — vì cũng có những hiện diện tiêu cực).
3. The true “Presence” as far as we are concerned is the monad — the spirit which is at one with God the Father.
3. Đối với chúng ta, “Hiện Diện” chân thật là chân thần — tinh thần vốn hợp nhất với Thượng đế Ngôi Cha.
4. The soul is a kind of ‘veil’ upon that Presence. The Angel of the Presence veils the deeper Presence (which is, on this planet, the Presence of the “King”, Sanat Kumara, with Whom we, as monads, are at-one).
4. Linh hồn là một loại ‘tấm màn’ phủ lên Hiện Diện ấy. Thiên Thần của Hiện Diện che phủ Hiện Diện sâu xa hơn (trên hành tinh này, đó là Hiện Diện của “Đức Vua”, Sanat Kumara, Đấng mà chúng ta, với tư cách các chân thần, hợp nhất với Ngài).
5. Every time a new and higher form of energy is contacted, it can seem as a presence. Every dimension of the spiritual triad, when really contacted, can seem as a presence. The monad is the Presence to which initiates aspire. And even the presence of the “Angel of the Presence” can, indeed, seem as a presence.
5. Mỗi khi tiếp xúc với một dạng năng lượng mới và cao hơn, chúng ta có thể cảm nhận nó như một hiện diện. Mỗi chiều kích của Tam Nguyên Tinh Thần, khi thực sự tiếp xúc được, đều có thể đem lại cảm nhận như một hiện diện. Chân thần là Hiện Diện mà các điểm đạo đồ khát vọng vươn tới. Và quả thật, ngay cả sự hiện diện của “Thiên Thần của Hiện Diện” cũng có thể đem lại cảm nhận như một hiện diện.
6. On the Path of Occultism we are dealing with the ‘progressive revelation of the unseen’. Such revelations come as ‘presences’ of entities and/or dimensions which has not previously been detected.
6. Trên Con Đường Huyền Bí Học, chúng ta đang đề cập đến ‘sự mặc khải dần dần về những gì chưa thấy’. Những sự mặc khải ấy đến như các ‘hiện diện’ của những thực thể và/hoặc những chiều kích mà trước đó chúng ta chưa phát hiện.
7. On the Path of Occultism, all progress is gradual. When we seek to leap and run instead of walk, we can get into trouble. Even the true presence of the Solar Angel is not all that commonly experienced in a manner sufficiently vivid.
7. Trên Con Đường Huyền Bí Học, mọi tiến bộ đều diễn ra dần dần. Khi tìm cách nhảy vọt và chạy thay vì bước đi, chúng ta có thể gặp rắc rối. Ngay cả hiện diện chân thật của Thái dương Thiên Thần cũng không phải là điều người ta thường trải nghiệm đủ sống động.
8. The contacts discussed here can be vertical (the soul, the Master), or horizontal, one’s fellow disciple.
8. Những sự tiếp xúc được bàn đến ở đây có thể theo chiều dọc (linh hồn, Chân sư), hoặc theo chiều ngang, với đệ tử đồng môn của mình.
9. Note that contact with a Master is based upon merit — one’s “life and work and discipline” must “warrant it”. If we saw to fitting ourselves for the true requirements, contact with the Master would come sooner.
9. Hãy lưu ý rằng sự tiếp xúc với một Chân sư dựa trên sự xứng đáng — chính “đời sống, công việc và kỷ luật” của mỗi người phải “đủ để bảo chứng cho điều ấy”. Nếu chúng ta chú tâm làm cho mình đáp ứng những yêu cầu thực sự, sự tiếp xúc với Chân sư sẽ đến sớm hơn.
10. We note the fifth ray attitude; an “agnostic” approach is encouraged. This is the approach of one who does not know with certainty. An attitude of agnosticism in one who, really, does not know, is a sign of humility and incipient wisdom.
10. Chúng ta lưu ý thái độ của cung năm; một cách tiếp cận “bất khả tri” được khuyến khích. Đây là cách tiếp cận của người chưa biết chắc. Thái độ bất khả tri ở một người thực sự chưa biết là dấu hiệu của sự khiêm nhường và minh triết mới chớm nở.
11. DK wishes to disabuse us of euphoric, exaggerative attitudes. It is better to see with accuracy from a somewhat detached position than to prematurely and enthusiastically embrace that which is not worthy of the embrace — namely the “world illusion” and “lower psychism”.
11. Chân sư DK muốn giúp chúng ta từ bỏ những thái độ hưng phấn, cường điệu. Quan sát chính xác từ một vị thế có phần tách rời thì tốt hơn là vội vàng và nhiệt tình đón nhận những gì không đáng đón nhận — cụ thể là “ảo tưởng thế gian” và “năng lực thông linh bậc thấp”.
12. Truth comes first; its pursuit precedes accomplishment. Those too eager for the result will fall into snares. The one who wishes to run must first learn to walk. He who would walk must be sure than he can crawl. Probably, only the experience of falling into the snares which await the unwary can instill in us, eventually, a respect for the “wise use of slow action”.
12. Chân lý đứng hàng đầu; việc theo đuổi chân lý đi trước sự thành tựu. Những ai quá nóng lòng đạt kết quả sẽ rơi vào cạm bẫy. Người muốn chạy trước hết phải học đi. Người muốn đi phải chắc rằng mình có thể bò. Có lẽ chỉ kinh nghiệm rơi vào những cạm bẫy đang chờ người thiếu thận trọng mới có thể khiến chúng ta cuối cùng biết tôn trọng “việc vận dụng một cách minh triết lối hành động chậm rãi”.
2. Any illumination which may come to you, throwing a flood of light upon a problem and revealing the way that you or the group should go. Any intuition which — corroborated by the reason — carries one forward into knowledge and evokes the wisdom of the soul and its registration by the brain, via the mind.
2. Bất kỳ sự soi sáng nào đến với các bạn, chiếu rọi một vấn đề và mặc khải con đường mà các bạn hoặc nhóm nên đi. Bất kỳ trực giác nào — có lý trí xác chứng — đưa người ta tiến vào tri thức, khơi dậy minh triết của linh hồn và khiến bộ não ghi nhận minh triết ấy qua thể trí.
1. Illuminations are more than psychic hunches. They carry the quality of true realization and they “illumine the way” with the “light of the soul”. Higher illuminations from the spiritual triad and monad are also possible at sufficient points of development.
1. Những sự soi sáng vượt trên các linh cảm thông linh. Chúng mang phẩm tính của sự chứng nghiệm chân thật và “soi sáng con đường” bằng “ánh sáng của linh hồn”. Ở những mức phát triển đủ cao, cũng có thể có những sự soi sáng cao hơn từ Tam Nguyên Tinh Thần và chân thần.
2. An illumination is more trustworthy when it involves a larger context, for instance a group context. The soul, at first, is the source of illumination and it thinks in terms of the group. One may also find one’s personal way clarified, but that clarification relates, principally, to the progress of one’s group.
2. Một sự soi sáng đáng tin cậy hơn khi liên quan đến một bối cảnh rộng lớn hơn, chẳng hạn bối cảnh nhóm. Ban đầu, linh hồn là nguồn soi sáng, và linh hồn suy nghĩ trên bình diện nhóm. Mỗi người cũng có thể thấy con đường riêng của mình trở nên sáng tỏ, nhưng sự sáng tỏ ấy chủ yếu liên quan đến sự tiến bộ của nhóm mình.
3. What is the difference between an illumination and an intuition? In actual practice, maybe not much. Technically, an intuition is higher than an illumination. Illuminations can come from the soul focussed, at this time, on the higher mental plane. Intuitions are not accessed until the buddhic plane can be tapped. True intuitions are more embracing than the first order of illuminations. They also carry, perhaps, more of the quality of the heart (which is not the same as sentiment). “Illumination” can also be used in a higher sense and may relate to that “Enlightenment” which involved atmic realization and even monadic.
3. Sự khác biệt giữa một sự soi sáng và một trực giác là gì? Trong thực hành thực tế, có lẽ không nhiều. Xét về chuyên môn, trực giác cao hơn sự soi sáng. Những sự soi sáng có thể đến từ linh hồn, hiện đang tập trung trên cõi thượng trí. Chỉ khi có thể tiếp cận cõi Bồ đề, người ta mới tiếp cận được các trực giác. Những trực giác chân thật bao quát hơn cấp độ soi sáng đầu tiên. Có lẽ chúng cũng mang nhiều phẩm tính của trái tim hơn (phẩm tính này khác với tình cảm). “Sự soi sáng” cũng có thể được dùng theo một nghĩa cao hơn và có thể liên quan đến “Giác ngộ”, bao hàm sự chứng nghiệm atma và thậm chí cả sự chứng nghiệm chân thần.
4. So it is no real use to split hairs; we are interested in registering higher contacts, from whatever plane they may originate.
4. Vì vậy, việc chẻ sợi tóc làm tư thực sự chẳng ích gì; chúng ta quan tâm đến việc ghi nhận những sự tiếp xúc cao hơn, bất kể chúng bắt nguồn từ cõi nào.
5. We note that any registered intuition must be “corroborated by the reason”. If an intuition is a true intuition it will not be unreasonable, but the type of reason here referenced may be more related to what has been called “pure reason” or “inclusive reason” than to strict logic. Of course, given sufficient understanding of any context, logic, too, should corroborate reason. The word “logic” and “logos” have similar roots. Intuition should reveal a “divine order” which is ‘logoical’.
5. Chúng ta lưu ý rằng bất kỳ trực giác nào được ghi nhận cũng phải có “lý trí xác chứng”. Nếu một trực giác là trực giác chân thật, nó sẽ không phi lý, nhưng loại lý trí được nói đến ở đây có lẽ liên quan nhiều hơn đến điều được gọi là “lý trí thuần túy” hay “lý trí bao gồm” hơn là lôgic chặt chẽ. Dĩ nhiên, khi có đủ sự thấu hiểu về một bối cảnh nào đó, lôgic cũng phải xác chứng cho lý trí. Từ “lôgic” và “logos” có nguồn gốc tương tự nhau. Trực giác phải mặc khải một “trật tự thiêng liêng” mang tính ‘thuộc về Thượng đế’.
6. The reign of the apparently inspired yet untested ‘hunch’ presumed to be truth has gone on long enough. Knowledge pertaining to the spiritual fields will never be credited by the mind of humanity as long as we refuse to test our apprehensions.
6. Sự thống trị của những ‘linh cảm’ có vẻ được truyền cảm hứng nhưng chưa qua kiểm chứng mà vẫn được xem là chân lý đã kéo dài đủ lâu rồi. Trí tuệ nhân loại sẽ không bao giờ tin nhận tri thức thuộc các lĩnh vực tinh thần chừng nào chúng ta còn từ chối kiểm nghiệm những điều mình lĩnh hội.
7. Note that DK gives us a formula for manifestation. An intuition must be revelatory, increasing knowledge, evoking the wisdom of the soul, and must make its way into the brain via the mind. It should not remain as a vague ‘feeling’ or impression but must be concretized somehow.
7. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK cho chúng ta một công thức để biểu hiện. Một trực giác phải có tính mặc khải, gia tăng tri thức, khơi dậy minh triết của linh hồn và phải đi vào bộ não qua thể trí. Nó không nên chỉ dừng lại ở một ‘cảm giác’ hay ấn tượng mơ hồ, mà phải được cụ thể hóa bằng cách nào đó.
8. We are very much working upon the link between mind and intuition. We call it “buddhi-manas” — it is a bridge to the higher worlds; it is the antahkarana.
8. Chúng ta đang tập trung rất nhiều vào mối liên kết giữa thể trí và trực giác. Chúng ta gọi đó là “Bồ đề–manas” — đó là cây cầu dẫn đến các cõi cao; đó là antahkarana.
9. To tread the Path of Occultism is to create bridges from one dimension to another. The way through must be cleared and ‘travel up and down’ easily accomplished.
9. Bước trên Con Đường Huyền Bí Học là tạo ra những cây cầu từ chiều kích này sang chiều kích khác. Phải khai thông lối đi và khiến việc ‘đi lên đi xuống’ diễn ra dễ dàng.
3. Any telepathic happenings between you and your fellow disciples. This telepathic interplay should be cultivated but it must be most carefully checked and counterchecked and the strictest accuracy preserved. Thus we shall have the fostering of the spirit of Truth, which is the governing principle of all true telepathic communication. An Ashram functions telepathically when fully and rightly organised.
3. Bất kỳ sự việc viễn cảm nào giữa các bạn và các đệ tử đồng môn. Cần vun bồi sự tương tác viễn cảm này, nhưng phải kiểm tra và đối chiếu hết sức cẩn thận, đồng thời giữ độ chính xác nghiêm ngặt nhất. Như vậy, chúng ta sẽ vun bồi tinh thần Chân Lý, vốn là nguyên khí chi phối mọi giao tiếp viễn cảm chân thật. Một ashram hoạt động bằng viễn cảm khi được tổ chức đầy đủ và đúng đắn.
1. Telepathic registrations are to be noted. All kinds of these are possible. Any chakra can be involved telepathically with another.
1. Cần ghi lại những điều ghi nhận qua viễn cảm. Có thể có đủ loại ghi nhận như thế. Bất kỳ luân xa nào cũng có thể liên hệ viễn cảm với một luân xa khác.
2. We are largely interested here in telepathy between the higher centers and the aspects or vehicles they represent. The ajna center, the heart center, the head center — these are the major centers involved.
2. Ở đây, chúng ta chủ yếu quan tâm đến viễn cảm giữa các trung tâm cao hơn và những phương diện hay hiện thể mà chúng đại diện. Trung tâm ajna, trung tâm tim, trung tâm đầu — đó là những trung tâm chính tham gia.
3. The ajna center is particularly involved at first. It is ruled by Venus and the fifth ray. Beyond the third initiation (after Venus has been ‘fulfilled’) it is ruled by Mercury and the fourth ray. Perhaps at such a time, this center becomes actively telepathic, for Mercury is a great intermediary.
3. Ban đầu, trung tâm ajna đặc biệt tham gia vào tiến trình này. Sao Kim và cung năm cai quản trung tâm ấy. Sau lần điểm đạo thứ ba (sau khi Sao Kim đã ‘hoàn tất vai trò’), Sao Thủy và cung bốn cai quản trung tâm ấy. Có lẽ vào thời điểm đó, trung tâm này trở nên tích cực hoạt động viễn cảm, vì Sao Thủy là một trung gian vĩ đại.
4. DK is calling for the use of the fifth ray to check and countercheck all transmissions and receptions. Imagination is to ready to supply what fact does not.
4. Chân sư DK kêu gọi sử dụng cung năm để kiểm tra và đối chiếu mọi sự truyền và nhận. Sự tưởng tượng quá sẵn sàng cung cấp những gì thực tế không cung cấp.
5. So, we are looking for real telepathic events and the internal orientations or outer conditions which led to them.
5. Vì vậy, chúng ta tìm kiếm những sự kiện viễn cảm có thật cùng những định hướng bên trong hoặc điều kiện bên ngoài đã dẫn đến chúng.
6. The “spirit of Truth is the governing principle of all true telepathic communication”. What this seems to say is that if the life is governed by truth, telepathic interplay will be a natural result. It is as if truth opens the door. So does love, I think. If we could love and think truthfully, telepathy would result.
6. “Tinh thần Chân Lý là nguyên khí chi phối mọi giao tiếp viễn cảm chân thật”. Điều này dường như muốn nói rằng nếu đời sống do chân lý chi phối, sự tương tác viễn cảm sẽ là kết quả tự nhiên. Dường như chân lý mở cánh cửa ấy. Tôi nghĩ tình thương cũng vậy. Nếu chúng ta có thể yêu thương và suy nghĩ một cách chân thật, viễn cảm sẽ xuất hiện.
7. Then comes another one of those foundational statements: “An Ashram functions telepathically when fully and rightly organised. ” We are probably dealing with the phenomenon of resonance. A chord of music sung by a choir will be ‘liberated’ when there is perfect harmony between the notes of the chord. Something is released which was imprisoned by inharmony. Thus discord is a ‘prison’ and freedom comes with harmony. A harmonious chord is a perfectly organized chord. An Ashram fully and rightly organized has achieved perfect harmony within itself and all parts of it are ‘free to communicate with each other’.
7. Tiếp đó lại là một phát biểu nền tảng nữa: “Một ashram hoạt động bằng viễn cảm khi được tổ chức đầy đủ và đúng đắn. ” Có lẽ chúng ta đang đề cập đến hiện tượng cộng hưởng. Một hợp âm do ca đoàn hát sẽ được ‘giải phóng’ khi có sự hòa hợp hoàn hảo giữa các nốt của hợp âm ấy. Một điều gì đó vốn bị giam hãm trong sự bất hòa được giải phóng. Như vậy, sự bất hòa là một ‘nhà tù’ và tự do đến cùng sự hòa hợp. Một hợp âm hài hòa là một hợp âm được tổ chức hoàn hảo. Một ashram được tổ chức đầy đủ và đúng đắn đã đạt đến sự hòa hợp hoàn hảo trong chính mình, và mọi thành phần của ashram ấy đều ‘tự do giao tiếp với nhau’.
8. Another way to see this is that ‘dissonance is disruption’, and inharmony blocks communication. We all know the experience of “being on the same wavelength as another” and therefore, “understanding him/her immediately”. The converse is also true; there are people with whom we “do not see eye to eye” and, therefore, we “just cannot get through to them”.
8. Một cách nhìn khác về điều này là ‘sự nghịch âm gây gián đoạn’, và sự bất hòa ngăn trở giao tiếp. Tất cả chúng ta đều biết trải nghiệm “cùng tần số với một người khác” và do đó, “thấu hiểu người ấy ngay lập tức”. Điều ngược lại cũng đúng; có những người mà chúng ta “không cùng quan điểm” và vì vậy, chúng ta “hoàn toàn không thể truyền đạt cho họ hiểu”.
9. When ray four and ray seven work in union, we shall see the beautiful harmonization and organization of not only Ashrams, but outer groups representing them.
9. Khi cung bốn và cung bảy phối hợp hoạt động, chúng ta sẽ thấy sự hòa hợp và tổ chức tốt đẹp không chỉ trong các ashram mà còn trong các nhóm bên ngoài đại diện cho các ashram ấy.
10. The moment when a chord flies free — that moment of perfect harmony is akin to the moment of received telepathic transmission. Impediment is “out of the way” and Mercury is free to make all links immediately and spontaneously.
10. Khoảnh khắc một hợp âm ngân lên tự do — khoảnh khắc hòa âm hoàn hảo ấy tương tự khoảnh khắc tiếp nhận sự truyền đạt viễn cảm. Chướng ngại đã “được dẹp khỏi đường đi” và Sao Thủy được tự do thiết lập mọi mối liên kết ngay tức khắc và tự phát.
4. Any phenomena of a mystical and spiritual kind should also be noted. The seeing of the light in the head comes under this category. Its brilliance should be noted, its growth and dimming; the hearing of the Voice of the Silence which is the voice of the soul but not of the subconscious; the registering of messages from the soul or from other disciples and world Servers; expansions of consciousness which initiate you into the conscious life of [15] God, as it manifests through any forms and the hearing of the note of all beings. A close study of the third part of The Light of the Soul (the Yoga Sutras of Patanjali) will indicate the type of phenomena which should find its place in this diary.
4. Cũng cần ghi lại mọi hiện tượng có tính chất thần bí và tinh thần. Việc thấy ánh sáng trong đầu thuộc loại này. Cần ghi lại độ rực rỡ của ánh sáng ấy, sự tăng trưởng và mờ đi của nó; việc nghe Tiếng Nói của Im Lặng, vốn là tiếng nói của linh hồn chứ không phải của tiềm thức; việc ghi nhận các thông điệp từ linh hồn hoặc từ những đệ tử và Người Phụng Sự Thế Gian khác; những sự mở rộng tâm thức đưa các bạn vào đời sống hữu thức của [15] Thượng đế, khi đời sống ấy biểu hiện qua mọi hình tướng, và việc nghe âm điệu của mọi sinh linh. Việc nghiên cứu kỹ phần thứ ba của Ánh Sáng của Linh Hồn (Kinh Yoga của Patanjali) sẽ cho biết loại hiện tượng cần có chỗ trong nhật ký này.
1. DK calls for the registration of “phenomena”. Usually one does not wish to become embroiled in such registrations, but to the impartial observer, any kind of registration is appropriate for the spiritual diary.
1. Chân sư DK yêu cầu ghi nhận các “hiện tượng”. Thông thường, người ta không muốn bị cuốn vào những việc ghi nhận như thế, nhưng đối với người quan sát vô tư, bất kỳ điều gì ghi nhận được cũng đều thích hợp để đưa vào nhật ký tinh thần.
2. The light in the head is a natural development. One does not “work at” creating it. It arises when soul infusion is sufficiently strong and when the quality of the atoms of the brain is sufficiently high. What is noted, however, can be tuned or intensified, and eventually used rather than simply registered.
2. Ánh sáng trong đầu là một sự phát triển tự nhiên. Người ta không “ra sức” tạo ra nó. Nó xuất hiện khi sự thấm nhuần của linh hồn đủ mạnh và khi phẩm tính của các nguyên tử trong bộ não đủ cao. Tuy nhiên, điều đã ghi nhận được có thể được tinh chỉnh hoặc tăng cường, và cuối cùng được sử dụng thay vì chỉ đơn thuần ghi nhận.
3. Perhaps the voice will be heard before sights are seen. Hearing develops before sight. However, much will depend upon the ray type.
3. Có lẽ tiếng nói sẽ được nghe trước khi những hình ảnh xuất hiện. Thính giác phát triển trước thị giác. Tuy nhiên, nhiều điều sẽ tùy thuộc vào loại cung.
4. The Technique of Fusion from EP II (in the 380’s) should be studied. A relevant quotation is as follows:
4. Cần nghiên cứu Kỹ Thuật Dung Hợp trong EP II (các trang 380–389). Một đoạn trích liên quan như sau:
“It will interest students to note how the first ray disciple, when employing this first ray technique of fusion, ends by producing second ray characteristics of which illumination, producing understanding love and sympathetic cooperation, is the predominant note. The second ray disciple, through rightly applied technique, produces curiously enough, third ray results, of which the use of the creative imagination is the outstanding characteristic. The third ray disciple through the development of the ‘power to inspire’ adds to his innate qualities certain definitely first ray potencies. All are, however, subordinated to the second ray nature of the divine expression in this solar system. ” (EP II 387)
“Các đạo sinh sẽ thấy thú vị khi lưu ý rằng người đệ tử cung một, khi vận dụng kỹ thuật dung hợp của cung một này, cuối cùng lại tạo ra những đặc điểm của cung hai, trong đó sự soi sáng — tạo ra tình thương thấu hiểu và sự hợp tác đồng cảm — là âm điệu nổi trội. Điều khá lạ là qua việc áp dụng kỹ thuật đúng đắn, người đệ tử cung hai tạo ra những kết quả của cung ba, trong đó việc sử dụng sự tưởng tượng sáng tạo là đặc điểm nổi bật. Qua sự phát triển ‘quyền năng khơi nguồn cảm hứng’, người đệ tử cung ba bổ sung vào những phẩm tính bẩm sinh của mình một số tiềm năng rõ rệt thuộc cung một. Tuy nhiên, tất cả đều phụ thuộc vào bản chất cung hai của sự biểu hiện thiêng liêng trong hệ mặt trời này.” (EP II 387)
5. Third ray types are connected to the voice (but also, the creative imagination is here mentioned). Second ray types are related to light. First ray types to inspiration and the access of power.
5. Những người cung ba có liên hệ với tiếng nói (nhưng ở đây cũng đề cập đến sự tưởng tượng sáng tạo). Những người cung hai có liên hệ với ánh sáng. Những người cung một có liên hệ với cảm hứng và sự gia tăng quyền năng.
6. So the kinds of phenomena we register will have much to do with our ray patterns, which selectively evoke the presence of distinct phenomena.
6. Vì vậy, các loại hiện tượng mà chúng ta ghi nhận sẽ liên quan mật thiết đến mô hình các cung của chúng ta, vốn khơi gợi có chọn lọc sự hiện diện của những hiện tượng riêng biệt.
7. What is the difference between the Voice of the Silence (or Voice of the Soul) and the voice of the subconscious? Most of the many voices we hear are voices of the subconscious. These are voices of the past repeating themselves in the present. The Voice of the Soul is a “still small voice”. It does not clamor for the attention of the disciple. It has a quality all its own and must come to be recognized by each one for himself/herself.
7. Tiếng Nói của Im Lặng (hay Tiếng Nói của Linh Hồn) khác với tiếng nói của tiềm thức như thế nào? Phần lớn trong số nhiều tiếng nói mà chúng ta nghe là tiếng nói của tiềm thức. Đó là những tiếng nói của quá khứ đang lặp lại trong hiện tại. Tiếng Nói của Linh Hồn là một “tiếng nói nhỏ nhẹ, tĩnh lặng”. Nó không ồn ào đòi hỏi sự chú ý của người đệ tử. Nó có một phẩm tính hoàn toàn riêng biệt, và mỗi người phải tự mình học cách nhận ra phẩm tính ấy.
8. DK begins referring to some rather high registrations — some of which are discussed in the Yoga Sutras.
8. Chân sư DK bắt đầu đề cập đến một số sự ghi nhận khá cao — một vài sự ghi nhận trong số đó được bàn đến trong Kinh Yoga.
9. All these expansions of consciousness are suitable for entry into the spiritual diary.
9. Tất cả những sự mở rộng tâm thức này đều thích hợp để ghi vào nhật ký tinh thần.
10. Perhaps we could say that entries should relate to unusual perceptions or realizations of meaning and significance.
10. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng những điều ghi chép nên liên quan đến các tri giác khác thường hoặc những nhận biết về ý nghĩa và thâm nghĩa.
5. Any experiences of a psychic kind which do not come under any of the above headings. Those mentioned above come under the heading of the higher psychism and concern the higher psychic faculties, spiritual perception, intuitive knowledge, mental telepathy (and not the telepathy which is based upon the solar plexus activity). The lower psychic experiences can also be noted — whether pleasant or unpleasant. Once noted, however, they should be forgotten for they are of no moment.
5. Mọi trải nghiệm có tính chất thông linh không thuộc bất kỳ đề mục nào ở trên. Những trải nghiệm đã đề cập ở trên thuộc phạm trù thông linh bậc cao và liên quan đến các năng lực thông linh cao cấp, tri giác tinh thần, tri thức trực giác, viễn cảm trí tuệ (chứ không phải viễn cảm dựa trên hoạt động của tùng thái dương). Cũng có thể ghi lại những trải nghiệm thông linh bậc thấp — dù dễ chịu hay khó chịu. Tuy nhiên, một khi đã ghi lại thì nên quên chúng đi, vì chúng không có gì quan trọng.
1. DK does not avoid that which is low. The scientific attitude towards impression demands that note be taken of any kind of registration, even if of a relatively low order.
1. Chân sư DK không né tránh những gì thấp kém. Thái độ khoa học đối với ấn tượng đòi hỏi phải lưu ý đến bất kỳ loại ghi nhận nào, ngay cả khi thuộc một cấp độ tương đối thấp.
2. So the world of “lower psychism” is also included when listing the sources of possible entries into the diary.
2. Vì vậy, thế giới của “thông linh bậc thấp” cũng được bao gồm khi liệt kê các nguồn có thể cung cấp nội dung để ghi vào nhật ký.
3. The lower centers are also potentially telepathic and attune the disciple to areas of potential registration which have nothing to do with living the higher life. Yet nothing can be avoided, and all must be understood.
3. Các trung tâm thấp cũng có tiềm năng viễn cảm và điều chỉnh người đệ tử cho hòa nhịp với những lĩnh vực có thể ghi nhận, vốn không liên quan gì đến việc sống đời sống cao cả hơn. Tuy nhiên, không thể né tránh điều gì, và tất cả đều phải được thấu hiểu.
4. DK simply advises not to dwell upon them. They mean little and are simply to be noted and then forgotten.
4. Chân sư DK chỉ khuyên đừng bận tâm mãi về chúng. Chúng không có mấy ý nghĩa, chỉ cần ghi lại rồi quên đi.
5. Presences, illuminations, intuitions, telepathic registrations, mystical realizations and expansions of consciousness, and psychic registrations of both a higher and lower kind — these are the impressions which are to be entered into the spiritual diary.
5. Những sự hiện diện, những sự soi sáng, những trực giác, những ghi nhận viễn cảm, những chứng nghiệm thần bí và sự mở rộng tâm thức, cùng những ghi nhận thông linh thuộc cả bậc cao lẫn bậc thấp — đó là những ấn tượng cần ghi vào nhật ký tinh thần.
6. What is the purpose of a spiritual diary anyway? Perhaps to help us become more conscious of the subtle worlds and of registrations which, otherwise, might be noticed for a moment and then forgotten — their possible significance lost.
6. Rốt cuộc, mục đích của nhật ký tinh thần là gì? Có lẽ là giúp chúng ta có ý thức rõ hơn về các thế giới tinh tế và về những điều ghi nhận được, vốn nếu không có nhật ký thì có thể chỉ được chú ý trong chốc lát rồi bị quên đi — khiến thâm nghĩa tiềm tàng của chúng mất theo.
7. Eventually, after weeks, months or years of keeping the diary properly, patterns might begin to appear. One might begin to know how and why certain impressions occur. One might be able to approach the sources of such impression more consciously.
7. Cuối cùng, sau nhiều tuần, nhiều tháng hoặc nhiều năm ghi nhật ký đúng cách, những mô hình có thể bắt đầu xuất hiện. Người ta có thể bắt đầu biết những ấn tượng nhất định xuất hiện như thế nào và vì sao. Người ta có thể tiếp cận các nguồn của những ấn tượng ấy một cách hữu thức hơn.
8. Normally, ordinary states of consciousness cover or overwhelm ‘newer’ types of states which are trying to emerge. The spiritual diary ‘saves the new from reabsorption into oblivion’.
8. Thông thường, các trạng thái tâm thức thông thường che phủ hoặc lấn át những loại trạng thái ‘mới hơn’ đang cố gắng xuất hiện. Nhật ký tinh thần ‘giữ cho cái mới khỏi bị nuốt trở lại vào quên lãng’.
9. Thus, the spiritual diary is a tool to facilitate the growth of consciousness.
9. Như vậy, nhật ký tinh thần là một công cụ giúp tâm thức phát triển thuận lợi hơn.
Days may go by and weeks with no record. Let this in no way disconcert you. The sensitivity of the mechanism of the soul to spiritual vibration has to be cultivated and existing sensitivity to lower psychic impressions has to be tuned out; so many voices clamour for attention, so many impressions — emanating from the physical and astral forms around us — register upon our consciousness, that the vibrations and sounds coming from the subjective and spiritual world are lost and not registered and recorded. You will find it interesting to note, at the end of a few years, the difference in the data recorded and the development of sensitivity to the right kind of impression. This can only be realised after much time has elapsed and much spurious material has been eliminated, after being recognised for what it is: astralism, spurious claims and thoughtforms.
Nhiều ngày, nhiều tuần có thể trôi qua mà không có gì để ghi lại. Đừng để điều này khiến các bạn chút nào bối rối. Cần trau dồi sự nhạy cảm của bộ máy linh hồn đối với rung động tinh thần, đồng thời cần ngừng bắt nhịp với những ấn tượng thông linh bậc thấp mà bộ máy ấy hiện đang nhạy cảm; có quá nhiều tiếng nói ồn ào đòi hỏi sự chú ý, quá nhiều ấn tượng — phát ra từ các hình tướng hồng trần và cảm dục quanh chúng ta — ghi dấu lên tâm thức chúng ta, đến nỗi những rung động và âm thanh đến từ thế giới chủ quan và tinh thần bị lấn át, không được ghi nhận và ghi chép lại. Sau vài năm, các bạn sẽ thấy thú vị khi nhận ra sự khác biệt trong dữ liệu đã ghi chép và sự phát triển của độ nhạy cảm đối với loại ấn tượng đúng đắn. Chỉ có thể nhận ra điều này sau khi nhiều thời gian đã trôi qua và nhiều nội dung giả tạo đã được loại bỏ, sau khi nhận diện đúng bản chất của chúng: hiện tượng cảm dục, những lời khẳng định giả mạo và các hình tư tưởng.
1. DK gives a word of encouragement. In the beginning of their spiritual unfoldment, students are eager for any experience which is out of the ordinary. They are tired of the habitual vibrations of life and seek some evidence that they are growing into new dimensions.
1. Chân sư DK đưa ra một lời khích lệ. Khi mới bắt đầu sự khai mở tinh thần, các đạo sinh háo hức đón nhận bất kỳ trải nghiệm nào khác thường. Họ chán những rung động quen thuộc của cuộc sống và tìm kiếm một bằng chứng nào đó cho thấy mình đang phát triển vào những chiều kích mới.
2. Because of this eagerness, truth may be sacrificed and no true progress occur.
2. Vì sự háo hức này, sự thật có thể bị hi sinh và không có tiến bộ thực sự nào diễn ra.
3. Registration of the new and subtle proceeds in two ways: sensitization to that which is high and de-sensitization to that which is low (the “tuning out” of lower psychic impressions). It becomes clear that in this kind of training we are learning what to listen to and what to observe, and the converse. There is a jungle of impressions awaiting the newly attentive disciple. That which is truly meaningful and significant has to be separated from the thousands of potential, and often useless, impressions.
3. Việc ghi nhận cái mới và tinh tế tiến triển theo hai cách: tăng độ nhạy cảm với những gì cao và giảm độ nhạy cảm với những gì thấp (việc “ngừng bắt nhịp” với các ấn tượng thông linh bậc thấp). Rõ ràng là trong loại huấn luyện này, chúng ta đang học điều gì cần lắng nghe và điều gì cần quan sát, cũng như điều gì không nên lắng nghe và quan sát. Cả một khu rừng ấn tượng đang chờ đón người đệ tử vừa bắt đầu chú tâm. Cần tách những gì thực sự có ý nghĩa và thâm nghĩa ra khỏi hàng nghìn ấn tượng có thể xuất hiện, vốn thường vô ích.
4. A discriminative ‘sieve’ is at work. First attempts may be crude and relatively non-discriminating. The registrations of a beginner will probably be of far lesser value than the registrations of one who is experienced in this process of ‘sensitive notation’.
4. Một ‘chiếc sàng’ phân biện đang hoạt động. Những nỗ lực đầu tiên có thể còn thô sơ và tương đối thiếu phân biện. Những điều một người mới bắt đầu ghi nhận có lẽ sẽ có giá trị thấp hơn nhiều so với những điều một người giàu kinh nghiệm ghi nhận trong tiến trình ‘ghi chép nhạy bén’.
5. Really, we are sorting the true from the false, the nuggets of real gold from the claims of “fools gold”, the precious ore from the dross, the pearls of truth from the trash of unchecked astrality.
5. Thực ra, chúng ta đang phân loại cái thật với cái giả, những hạt vàng thật với những lời tự nhận của “vàng giả”, quặng quý với cặn bã, những viên ngọc chân lý với rác rưởi của trạng thái cảm dục không được kiểm soát.
6. DK is warning us against “astralism, spurious claims and thoughtforms”. The average channel accepts whatever comes along as real and does not put it to the test. It is a naïve approach and leads only to bewilderment.
6. Chân sư DK đang cảnh báo chúng ta về “hiện tượng cảm dục, những lời khẳng định giả mạo và các hình tư tưởng”. Người làm trung gian truyền đạt thông thường chấp nhận bất cứ điều gì đến với mình là thật và không kiểm chứng nó. Đó là một cách tiếp cận ngây thơ và chỉ dẫn đến hoang mang.
7. When panning for gold how much dirt and grit must appear in the pan and be discarded before the gold appears. A disciple is one who is certainly learning the difference between what is true and what is false. Thus, glamor and illusion are eventually conquered.
7. Khi đãi vàng, biết bao đất cát phải xuất hiện trong chảo đãi và bị loại bỏ trước khi vàng lộ ra. Người đệ tử chắc chắn là người đang học cách phân biệt giữa cái thật và cái giả. Nhờ đó, cuối cùng ảo cảm và ảo tưởng được chinh phục.
Another question might here be asked: What should disciples in a Master’s group look for as evidence of successful group work? First and foremost, as you well know, group integrity and cohesion. Nothing can be done without this. The subjective linking of the disciples with each other in their own group, and the linking of the group with other groups occupied with special work within the Ashram and the emergence (as a result of this) of a group and an ashramic consciousness are vital objectives. It is hoped that this will also [16] eventuate in a telepathic interplay which will bring potent results and successful outer work. From these activities will emerge a group circulation of energy which will be of service in world salvage.
Ở đây có thể đặt thêm một câu hỏi: Các đệ tử trong nhóm của một Chân sư nên tìm kiếm điều gì làm bằng chứng cho công việc nhóm thành công? Trước hết và trên hết, như các bạn biết rõ, là tính toàn vẹn và sự cố kết của nhóm. Không thể làm được gì nếu thiếu điều này. Sự liên kết chủ quan giữa các đệ tử trong chính nhóm của họ, sự liên kết của nhóm với những nhóm khác đảm nhiệm công việc chuyên biệt trong ashram, và sự xuất hiện (như kết quả của điều này) của tâm thức nhóm và tâm thức ashram là những mục tiêu thiết yếu. Hy vọng rằng điều này cũng sẽ [16] dẫn đến một sự tương tác viễn cảm mang lại những kết quả mạnh mẽ và công việc bên ngoài thành công. Từ các hoạt động này sẽ nảy sinh một sự lưu chuyển năng lượng trong nhóm, góp phần cứu vãn thế gian.
1. If group work is successful there will be “group integrity and cohesion”. The road to this is often long and hard, but, no doubt, working together on something other than group cohesion helps. When a group serves together (and does sit around wondering whether it has achieved cohesion yet), the cohesion and integration come all the faster.
1. Nếu công việc nhóm thành công, sẽ có “tính toàn vẹn và sự cố kết của nhóm”. Con đường dẫn đến điều này thường dài và gian nan, nhưng chắc chắn việc cùng nhau làm việc về một điều gì khác ngoài sự cố kết của nhóm sẽ có ích. Khi một nhóm cùng nhau phụng sự (và quả có ngồi lại tự hỏi liệu mình đã đạt được sự cố kết hay chưa), thì sự cố kết và sự tích hợp đến càng nhanh hơn.
2. Hence the value of service undertaken in common.
2. Do đó, việc cùng nhau thực hiện công việc phụng sự có giá trị.
3. We are given the indication that when telepathic work eventuates because of right cohesion and integration, there is a greater probability of potent, successful outer work. Telepathic rapport is a means to an end. That end is perfect ashramic coordination in the manifestation of the intended ashramic service. The same is true (though to a far lesser extent) of outer groups which reflect the Ashram.
3. Chúng ta nhận được chỉ dẫn rằng khi công việc viễn cảm hình thành nhờ sự cố kết và tích hợp đúng đắn, khả năng công việc bên ngoài đạt được hiệu quả mạnh mẽ và thành công sẽ lớn hơn. Sự giao cảm viễn cảm là phương tiện để đạt một mục đích. Mục đích ấy là sự phối hợp hoàn hảo trong ashram để biểu hiện công việc phụng sự mà ashram dự định thực hiện. Điều này cũng đúng (dù ở mức độ thấp hơn nhiều) đối với những nhóm bên ngoài phản ánh ashram.
4. It is a certain “group circulation of energy” which DK hopes to see eventuate. This, we may realize, is an Aquarian ideal, and indeed, the new groups in process of formation are intended to be Aquarian groups — responsive to that intensifying constellational energy. Aquarius, we may remember, is the sign particularly associated with “circulation”, and more specifically, in this context, with right circulation of energy and the health and “well being” (a Shamballic quality) which it brings.
4. Chân sư DK hy vọng sẽ thấy một “sự lưu chuyển năng lượng trong nhóm” nhất định hình thành. Chúng ta có thể nhận ra đây là một lý tưởng Bảo Bình, và quả thực, các nhóm mới đang hình thành được dự định sẽ là những nhóm Bảo Bình — đáp ứng với năng lượng đang ngày càng mạnh lên của chòm sao ấy. Chúng ta có thể nhớ rằng Bảo Bình là dấu hiệu đặc biệt gắn liền với “sự lưu chuyển”, và cụ thể hơn trong ngữ cảnh này, với sự lưu chuyển năng lượng đúng đắn cùng sức khỏe và “sự an lạc” (một phẩm tính của Shamballa) mà sự lưu chuyển ấy mang lại.
Each of you should remember that purity of body, control of the emotions and stability of mind are fundamental necessities and should be daily the attempted achievement. Again and again, I come back to these prime character requirements and — tiresome as the reiteration may be — I urge upon you the cultivation of these qualities. I would like to remind you also that you are adult and mature men and women who need not specific statements as to faults and characteristics. I seek only to make suggestion as to trends of thought. Note here the word suggestion, for that is all I seek to give. The disciple must be left free to follow a suggestion or a hint as seems wise to him. This entire work might be termed an experiment in esoteric commonsense and in willingness to accept suggestion. It is a trial of the intuition and a test in discrimination. This work to which I have called you is also an experiment in impersonality, in willingness to work and learn, in freedom to choose or reject, in observation and in techniques. All have their value.
Mỗi người trong các bạn nên nhớ rằng sự thanh khiết của thân thể, việc kiểm soát cảm xúc và sự ổn định của thể trí là những điều cần thiết căn bản và phải là những thành tựu mà các bạn nỗ lực đạt tới hằng ngày. Hết lần này đến lần khác, Tôi trở lại với những yêu cầu hàng đầu này về tính cách và — dù sự nhắc lại có thể gây nhàm chán — Tôi vẫn thúc giục các bạn trau dồi những phẩm tính ấy. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng các bạn là những người nam và nữ đã trưởng thành và chín chắn, không cần những lời chỉ rõ từng khuyết điểm và đặc điểm. Tôi chỉ tìm cách gợi ý về những khuynh hướng tư tưởng. Ở đây, hãy lưu ý từ gợi ý, vì đó là tất cả những gì Tôi tìm cách đưa ra. Người đệ tử phải được tự do làm theo một gợi ý hay một lời hé mở tùy theo điều y thấy là khôn ngoan. Toàn bộ công việc này có thể được gọi là một thử nghiệm về lẽ thường trong huyền bí học và về sự sẵn lòng tiếp nhận gợi ý. Đó là một cuộc thử thách trực giác và một phép thử về sự phân biện. Công việc mà Tôi đã kêu gọi các bạn tham gia cũng là một thử nghiệm về tính vô ngã, về sự sẵn lòng làm việc và học hỏi, về quyền tự do lựa chọn hay từ chối, về sự quan sát và về các kỹ thuật. Tất cả đều có giá trị riêng.
1. The Tibetan is not wasting His time emphasizing and re-emphasizing the fundamentals. We too, should remind ourselves of these things, rudimentary though they seem. Without them, all hope of real progress is lost, because without them, the lunar lords will still remain in control, shutting out the light of the ‘solar sun’ (the Solar Angel).
1. Chân sư Tây Tạng không hề lãng phí thời gian của Ngài khi liên tục nhấn mạnh những điều căn bản. Chúng ta cũng nên tự nhắc mình về những điều này, dù chúng có vẻ sơ đẳng. Thiếu chúng, mọi hy vọng tiến bộ thực sự đều mất đi, vì thiếu chúng, các nguyệt tinh quân vẫn tiếp tục nắm quyền kiểm soát, ngăn chặn ánh sáng của ‘mặt trời thái dương’ (Thái dương Thiên Thần).
2. The pyramid of initiation is build upon the square of sound character. One may fail to give this fact enough attention. How often does it happen that the structure built by a disciple comes crashing down because of a flaw in character. Each of us has surely experienced this in big or little ways. Sound character is the foundation. The word “sound” should be pondered.
2. Kim tự tháp điểm đạo được xây trên nền vuông của tính cách vững vàng. Người ta có thể chưa chú ý đủ đến sự thật này. Biết bao lần công trình do một đệ tử xây dựng đã đổ sụp vì một khiếm khuyết trong tính cách. Chắc chắn mỗi người trong chúng ta đều từng trải qua điều này ở mức độ lớn hay nhỏ. Tính cách vững vàng là nền tảng. Cần suy ngẫm về từ “vững vàng” này.
3. DK throws His chelas back on themselves. They are to know their faults. These things are already precipitated and to a degree crystallized. But He can and will point out “trends of thought” which can be changed and lead to precipitations which are assets and not liabilities. DK, therefore, tells us that He will be focusing upon the plane of mind.
3. Chân sư DK buộc các đệ tử của Ngài phải dựa vào chính mình. Họ phải biết những khuyết điểm của mình. Những điều này đã ngưng tụ và kết tinh đến một mức độ nào đó. Nhưng Ngài có thể và sẽ chỉ ra “những khuynh hướng tư tưởng” có thể thay đổi và dẫn đến những sự ngưng tụ trở thành ưu điểm thay vì gánh nặng. Vì vậy, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng Ngài sẽ tập trung vào cõi trí.
4. Again He emphasizes the chela’s freedom. Suggestions are given; hints are given. But there is no compulsion. The freewill is left intact.
4. Một lần nữa, Ngài nhấn mạnh quyền tự do của đệ tử. Ngài đưa ra những gợi ý và những lời hé mở. Nhưng không có sự cưỡng ép. Ý chí tự do được giữ nguyên vẹn.
5. A most arresting phrase is offered when describing His intended work with His chosen disciples: He calls it “an experiment in esoteric commonsense” and “in willingness to accept suggestion”. These are simple and deglamorizing ideas related to a new type of spiritual training. The “glory” is taken out of it; it is practical and down to earth. The planet Saturn (the chief planet of discipleship) is in evidence.
5. Khi mô tả công việc dự định thực hiện với các đệ tử đã chọn, Ngài đưa ra một cụm từ rất đáng chú ý: Ngài gọi đó là “một thử nghiệm về lẽ thường trong huyền bí học” và “về sự sẵn lòng tiếp nhận gợi ý”. Đây là những ý tưởng giản dị, giúp làm tiêu tan ảo cảm, liên quan đến một loại huấn luyện tinh thần mới. Vẻ “hào nhoáng” được gỡ bỏ khỏi công việc ấy; nó thiết thực và gần gũi với thực tế. Ảnh hưởng của Sao Thổ (hành tinh chủ yếu của địa vị đệ tử) thể hiện rõ.
6. The work offered by DK is also “a trial of the intuition and a test in discrimination”. Here Mercury (the other planet of discipleship) is added to Saturn.
6. Công việc mà Chân sư DK đưa ra cũng là “một cuộc thử thách trực giác và một phép thử về sự phân biện”. Ở đây, Sao Thủy (hành tinh còn lại của địa vị đệ tử) được bổ sung vào Sao Thổ.
7. Then the following: “This work to which I have called you is also an experiment in impersonality, in willingness to work and learn, in freedom to choose or reject, in observation and in techniques”. All the principles are laid out from the beginning. The approach sounds almost scientific. Saturn, Mercury, Venus (the planet of the soul) and the fifth ray are all involved. We realize that we are engaged in the “science” of occultism and that we are attempting to following age-old laws and rules (based upon those laws) — rules which work. But our approach is up to us.
7. Tiếp theo là câu: “Công việc mà Tôi đã kêu gọi các bạn tham gia cũng là một thử nghiệm về tính vô ngã, về sự sẵn lòng làm việc và học hỏi, về quyền tự do lựa chọn hay từ chối, về sự quan sát và về các kỹ thuật”. Tất cả các nguyên khí đều được trình bày ngay từ đầu. Cách tiếp cận này nghe gần như mang tính khoa học. Sao Thổ, Sao Thủy, Sao Kim (hành tinh của linh hồn) và cung năm đều có liên quan. Chúng ta nhận ra rằng mình đang tham gia vào “khoa học” huyền bí học và đang cố gắng tuân theo những định luật có từ ngàn xưa cùng những quy luật (dựa trên các định luật ấy) — những quy luật có hiệu quả. Nhưng cách tiếp cận là tùy ở chúng ta.
8. Would we not say that this is a “mature” approach to discipleship? We no longer have the guru assuming complete responsibility for the chela and expecting complete obedience to his every demand. Things have changed. The mental factor has entered far more prominently and the responsibility of the chela is much augmented.
8. Chẳng phải chúng ta sẽ nói rằng đây là một cách tiếp cận “trưởng thành” đối với địa vị đệ tử sao? Chúng ta không còn có vị đạo sư đảm nhận hoàn toàn trách nhiệm đối với đệ tử và mong đợi sự tuân phục tuyệt đối trước mọi yêu cầu của mình. Mọi việc đã thay đổi. Yếu tố trí tuệ đã giữ vai trò nổi bật hơn nhiều, và trách nhiệm của đệ tử gia tăng đáng kể.
9. Do we prefer this approach to discipleship? If so why? If not, why not? Would the former approach (a rather dependent approach) be more suitable to us or not?
9. Chúng ta có thích cách tiếp cận địa vị đệ tử này hơn không? Nếu có, vì sao? Nếu không, vì sao không? Cách tiếp cận trước đây (một cách tiếp cận khá lệ thuộc) có phù hợp với chúng ta hơn hay không?
10. Probably sincere students of DK could no longer return to the old way, much as various tendencies within them might long for that return. They have been on that road, perhaps for a number of lives. Now something new is offered, and it is the truly “Aryan” way — involving self-knowledge and Self-responsibility.
10. Có lẽ các đạo sinh chân thành của Chân sư DK không còn có thể quay lại cách thức cũ, dù những khuynh hướng khác nhau bên trong họ có thể khao khát sự trở lại ấy đến đâu. Họ đã đi trên con đường đó, có lẽ trong nhiều kiếp sống. Giờ đây, một điều mới mẻ được đưa ra, và đó là cách thức thực sự “Arya” — bao hàm sự tự hiểu biết và trách nhiệm đối với Bản Ngã.
11. We can see how clearly DK laid out the requirements. For all His clarity, there were still problems. Ancient character tendencies surfaced during the training, and people fell into just the very traps against which they were warned.
11. Chúng ta có thể thấy Chân sư DK đã trình bày các yêu cầu rõ ràng đến mức nào. Dù Ngài đã hết sức rõ ràng, vẫn có những vấn đề. Những khuynh hướng tính cách lâu đời trỗi dậy trong quá trình huấn luyện, và người ta rơi đúng vào những cạm bẫy mà họ đã được cảnh báo.
12. Can we see how carefully one must ‘walk’ this Path if we are to be successful?
12. Chúng ta có thấy mình phải thận trọng đến mức nào khi ‘bước đi’ trên Đường Đạo này nếu muốn thành công không?
This is an experiment likewise for me. I have worked hitherto with only three occidental chelas, of whom A. A. B. is one. I other two are totally unknown to any of you. I ask for your aid and cooperation during these early stages of the work as far as the reaching of conclusions is concerned. I ask you to stand together — no matter what eventuates or what forces may seek to separate you. I ask my disciples to love each other in spite of character and ray differences and to work loyally together for group coherence and integrity — no matter what diverse opinions you may hold or what may occur as time elapses. If you can hold together down the years and throughout this life cycle, then the group can carry forward into the future and work together on other planes, thus conserving energy. Can you persist and carry on? Can such a telepathic interplay be set up that the barrier of death will eventually prove no barrier at all and continuity of communication persist? [17]
Đối với Tôi, đây cũng là một thử nghiệm. Cho đến nay, Tôi chỉ làm việc với ba đệ tử phương Tây, trong đó A. A. B. là một người. Hai người còn lại hoàn toàn xa lạ với tất cả các bạn. Tôi mong các bạn trợ giúp và hợp tác trong những giai đoạn đầu của công việc này về phương diện đi đến các kết luận. Tôi yêu cầu các bạn đứng vững bên nhau — bất kể điều gì xảy ra hay những mãnh lực nào có thể tìm cách chia rẽ các bạn. Tôi yêu cầu các đệ tử của Tôi yêu thương nhau bất chấp những khác biệt về tính cách và cung, đồng thời cùng nhau làm việc trung thành vì sự gắn kết và tính toàn vẹn của nhóm — bất kể các bạn có những ý kiến khác nhau ra sao hay điều gì có thể xảy ra theo thời gian. Nếu các bạn có thể gắn bó với nhau qua nhiều năm và suốt chu kỳ sống này, thì nhóm có thể tiếp tục tiến vào tương lai và cùng làm việc trên các cõi khác, nhờ đó bảo toàn năng lượng. Các bạn có thể kiên trì và tiếp tục không? Liệu có thể thiết lập một sự tương tác viễn cảm đến mức cuối cùng rào cản của cái chết hoàn toàn không còn là rào cản, và sự giao tiếp vẫn liên tục duy trì không? [17]
1. DK says a surprising thing; He gives His background in relation to the West and it is not extensive.
1. Chân sư DK nói một điều đáng ngạc nhiên; Ngài cho biết kinh nghiệm của mình trong mối liên hệ với phương Tây, và kinh nghiệm ấy không nhiều.
2. Everything is an experiment. The planet Uranus is strongly involved. The fifth ray with its “trial and error” approach will be followed. We are to learn as we go and refrain from premature conclusions.
2. Mọi thứ đều là một thử nghiệm. Sao Thiên Vương có liên hệ mạnh mẽ. Cách tiếp cận “thử và sai” của cung năm sẽ được áp dụng. Chúng ta phải vừa tiến bước vừa học hỏi và tránh đưa ra kết luận quá sớm.
3. Foreseeing all the dangers which almost inevitably will arise, DK tries to counter these impending eventualities.
3. Thấy trước mọi nguy cơ gần như chắc chắn sẽ phát sinh, Chân sư DK cố gắng đối phó với những tình huống sắp xảy ra ấy.
4. He asks for the reservation of judgment, for unity in the face of the forces of separation, for love despite many differences caused by character and ray, and for loyal work towards group coherence and integrity. Really He is asking for the application of the second ray rather than capitulation to the usual tendencies of the third.
4. Ngài yêu cầu tạm hoãn phán xét, hợp nhất trước các mãnh lực chia rẽ, yêu thương bất chấp nhiều khác biệt do tính cách và cung gây ra, và trung thành làm việc hướng đến sự gắn kết cùng tính toàn vẹn của nhóm. Thực ra, Ngài đang yêu cầu vận dụng cung hai thay vì đầu hàng trước những khuynh hướng thông thường của cung ba.
5. The Master has long range plans; He would like to keep this group together even on the inner planes. In terms of energy conservation it would be economical. What an amazing incentive is here offered! Continued work together down the years. Perhaps some of this work is going on even now with those who, in part, succeeded, even though the experiment as a whole was not successful — at least with respect to the precipitation of its full potential.
5. Chân sư có những kế hoạch lâu dài; Ngài muốn giữ nhóm này gắn bó với nhau ngay cả trên các cõi bên trong. Xét về việc bảo toàn năng lượng, điều đó sẽ tiết kiệm. Thật là một động lực đáng kinh ngạc được đưa ra ở đây! Tiếp tục cùng nhau làm việc qua nhiều năm. Có lẽ một phần công việc này vẫn đang diễn ra ngay lúc này với những người đã thành công phần nào, dù xét toàn bộ thì cuộc thử nghiệm đã không thành công — ít nhất là về việc ngưng tụ toàn bộ tiềm năng của nó.
6. What DK is calling for is such a high quality of work that the result will be, essentially, a group transcendence of death. In asking this, He is virtually promising that the chelas assembled may anticipate working with each other for many more years and, even, for a number of future lives. It is clear that an ashramic group is gathering on the outer planes. If possible, it is meant to persist with integrity.
6. Điều Chân sư DK kêu gọi là một phẩm chất công việc cao đến mức kết quả, về căn bản, sẽ là sự vượt thoát cái chết của cả nhóm. Khi yêu cầu điều này, Ngài gần như đang hứa rằng các đệ tử đã quy tụ có thể trông đợi sẽ cùng nhau làm việc thêm nhiều năm nữa, và thậm chí trong một số kiếp sống tương lai. Rõ ràng một nhóm ashram đang quy tụ trên các cõi bên ngoài. Nếu có thể, nhóm ấy được kỳ vọng sẽ tiếp tục tồn tại mà vẫn giữ được tính toàn vẹn.
7. Probably such hopes will be accomplished the next time such an attempt is made. An initial failure is often the harbinger of a future success — providing the lessons of that failure have been learned.
7. Có lẽ những hy vọng ấy sẽ thành hiện thực vào lần tới khi một nỗ lực như thế được thực hiện. Thất bại ban đầu thường báo trước thành công trong tương lai — miễn là những bài học từ thất bại ấy đã được lĩnh hội.
Many such questions arise and time alone will give the answer. If there is persistence in effort, if there is the loyal link of love, if there is adherence to the group ideal and if there is mutual forbearance and understanding and patience, it may be possible that this group can be welded into a unit which will indeed be a living atom in the hierarchical body. You are all on the Path of Discipleship at some stage or another; in this lies opportunity.
Nhiều câu hỏi như thế nảy sinh, và chỉ thời gian mới đưa ra câu trả lời. Nếu có sự kiên trì trong nỗ lực, nếu có mối liên kết trung thành của tình thương, nếu có sự gắn bó với lý tưởng nhóm, và nếu có lòng bao dung, sự thấu hiểu cùng tính kiên nhẫn đối với nhau, thì có lẽ nhóm này có thể gắn kết thành một đơn vị thực sự là một nguyên tử sống trong cơ thể của Thánh đoàn. Tất cả các bạn đều đang ở một giai đoạn nào đó trên Con Đường Đệ Tử; chính trong điều này có cơ hội.
1. The vision is offered. The necessary second ray virtues are urged upon the group members: love, forbearance, understanding, patience. These are not first ray virtues (as valuable as such virtues may be). Rather it is the quality of the second ray that is needed in this kind of group work, and, perhaps, in all group work.
1. Tầm nhìn được đưa ra. Các thành viên nhóm được thúc giục trau dồi những đức tính cần thiết của cung hai: tình thương, lòng bao dung, sự thấu hiểu, tính kiên nhẫn. Đây không phải là những đức tính của cung một (dù những đức tính ấy có giá trị đến đâu). Đúng hơn, chính phẩm tính của cung hai mới cần thiết trong loại công việc nhóm này, và có lẽ trong mọi công việc nhóm.
2. As we attempt to create, in our own way, that which can endure in the good, these qualities present themselves to us for serious contemplation.
2. Khi chúng ta cố gắng tạo dựng, theo cách riêng của mình, điều có thể trường tồn trong cái thiện, những phẩm tính này hiện ra trước chúng ta để chúng ta nghiêm túc chiêm ngưỡng.
3. DK’s group was presented with the opportunity (Saturn) to become a “living atom in the hierarchical body”. An atom is not a very big structure. Perhaps, He was introducing, with the proffered opportunity, a sense of proportion.
3. Nhóm của Chân sư DK được trao cơ hội (Sao Thổ) trở thành một “nguyên tử sống trong cơ thể của Thánh đoàn”. Một nguyên tử không phải là một cấu trúc lớn lắm. Có lẽ cùng với cơ hội được trao, Ngài đang đưa vào một ý thức về tỉ lệ.