Trích nội dung chương
This is a body (small indeed) of disciples who — through devotion to truth, through their attempt to do their duty, and their mutual karmic relation both to each other and to me — have been chosen (in spite of limitations and faulty development) to work together towards the specific end of forming a nucleus of spiritual power and energy for the helping of humanity. But above all else, it is a group formed to inaugurate the methods of the New Age as regards group work, and the training of disciples and their preparation for initiation, along with other groups all over the world who have caught the new vision and are working under the…
4. The idea emerges however: discipleship means opportunity.
4. Tuy nhiên, một ý tưởng nổi lên: địa vị đệ tử hàm nghĩa cơ hội.
This is a body (small indeed) of disciples who — through devotion to truth, through their attempt to do their duty, and their mutual karmic relation both to each other and to me — have been chosen (in spite of limitations and faulty development) to work together towards the specific end of forming a nucleus of spiritual power and energy for the helping of humanity. But above all else, it is a group formed to inaugurate the methods of the New Age as regards group work, and the training of disciples and their preparation for initiation, along with other groups all over the world who have caught the new vision and are working under the inspiration and the impression of the Masters. The foundation of these schools of the Mysteries which will later be restored to the world and to which I referred in Letters on Occult Meditation may be possible if all of you measure up to opportunity. This should be borne in mind. The experiment may fail. Whether it does or not, real profit will in any case eventuate. . . . That you may one and all measure up to the opportunity and carry the work forward in the three worlds and in the kingdom where the light of the soul streams forth is my earnest wish and desire.
Đây là một đoàn đệ tử (quả thực là nhỏ) mà — nhờ lòng tận tụy với chân lý, nhờ nỗ lực làm tròn bổn phận, cùng mối quan hệ nghiệp quả giữa họ với nhau và với Tôi — đã được chọn (bất chấp những giới hạn và sự phát triển còn khiếm khuyết) để cùng làm việc hướng tới mục tiêu cụ thể là hình thành một hạt nhân quyền năng và năng lượng tinh thần nhằm trợ giúp nhân loại. Nhưng trên hết, đây là một nhóm được thành lập để khởi xướng các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới về công việc nhóm, về việc huấn luyện đệ tử và chuẩn bị cho họ điểm đạo, cùng với những nhóm khác trên khắp thế giới đã nắm bắt tầm nhìn mới và đang làm việc dưới cảm hứng cùng ấn tượng truyền đến từ các Chân sư. Việc đặt nền móng cho những trường Bí Pháp này, vốn sau này sẽ được khôi phục cho thế gian và Tôi đã đề cập trong Thư Về Tham thiền Huyền môn , có thể trở thành hiện thực nếu tất cả các bạn đều đáp ứng xứng đáng với cơ hội. Cần ghi nhớ điều này. Cuộc thử nghiệm có thể thất bại. Dù có thất bại hay không, trong mọi trường hợp, lợi ích thực sự vẫn sẽ nảy sinh. . . . Mong rằng mỗi người và tất cả các bạn đều đáp ứng xứng đáng với cơ hội và đưa công việc tiến lên trong ba cõi giới cũng như trong giới nơi ánh sáng linh hồn tuôn chiếu — đó là niềm mong ước và nguyện vọng tha thiết của Tôi.
1. Again the sense of proportion. The group was small — very small when measured against the world’s need. But we have seen that small groups have done amazing damage. Likewise, they could become powerful for the good.
1. Một lần nữa, ý thức về tỉ lệ. Nhóm này nhỏ — rất nhỏ khi so với nhu cầu của thế giới. Nhưng chúng ta đã thấy những nhóm nhỏ gây ra thiệt hại kinh khủng. Tương tự, họ có thể trở thành một sức mạnh vì điều thiện.
2. The reasons for the choice of these chelas is given; they have devotion to truth; they attempt to do their duty; they have a karmic relation to each other and to DK, Himself (no negligible factor).
2. Những lý do chọn các đệ tử này đã được nêu rõ: họ tận tụy với chân lý; họ cố gắng làm tròn bổn phận; họ có quan hệ nghiệp quả với nhau và với chính Chân sư DK (một yếu tố không hề nhỏ).
3. They are to work together to “form a nucleus of spiritual power and energy for the helping of humanity”. This reminds one of Ramakrishna’s hope for His own disciples; perhaps, in some sense, he succeeded, especially through Swami Vivekananda.
3. Họ phải cùng nhau làm việc để “hình thành một hạt nhân quyền năng và năng lượng tinh thần nhằm trợ giúp nhân loại”. Điều này gợi nhớ đến kỳ vọng của Ramakrishna đối với các đệ tử của chính Ngài; có lẽ, theo một nghĩa nào đó, Ngài đã thành công, đặc biệt qua Swami Vivekananda.
4. The major reason for the formation of the group, however, is “to inaugurate the methods of the New Age as regards group work, and the training of disciples and their preparation for initiation”. We can relate to this purpose, can we not? It is a purpose which has hardly been fulfilled. We are at the very beginning of such inaugurations. The Aquarian Age has not even dawned. Our work together is the merest anticipation of the full glory of the ‘Group Age’ (perhaps to be realized when the Venus decanate of Aquarius is in full expression some sixteen or seventeen hundred years from now).
4. Tuy nhiên, lý do chính để thành lập nhóm là “khởi xướng các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới về công việc nhóm, về việc huấn luyện đệ tử và chuẩn bị cho họ điểm đạo”. Chúng ta có thể thấy mình gắn bó với mục đích này, phải không? Đó là một mục đích hầu như chưa được hoàn thành. Chúng ta mới ở bước khởi đầu của những sự khởi xướng như thế. Kỷ Nguyên Bảo Bình thậm chí còn chưa ló rạng. Công việc chung của chúng ta chỉ mới hé báo đôi chút về toàn bộ vẻ huy hoàng của ‘Kỷ Nguyên Nhóm’ (có lẽ sẽ thành hiện thực khi thập độ Sao Kim của Bảo Bình biểu hiện trọn vẹn, vào khoảng một nghìn sáu trăm hoặc một nghìn bảy trăm năm nữa).
5. DK also connects the group training which He offering to the preliminary work of preparing for the new Schools of Initiation, the Schools of the Mysteries. We can see how all this work is interrelated and how we are definitely in preparation not only for the new modes of group work but for the new modes of occult education.
5. Chân sư DK cũng liên kết việc huấn luyện nhóm mà Ngài đang thực hiện với công việc sơ bộ nhằm chuẩn bị cho các Trường Điểm Đạo mới, các Trường Bí Pháp. Chúng ta có thể thấy toàn bộ công việc này liên hệ với nhau như thế nào, và rõ ràng chúng ta đang chuẩn bị không chỉ cho những phương thức công việc nhóm mới mà còn cho những phương thức giáo dục huyền bí mới.
6. Realistically, the possible failure is noted. It is a passing remark. The real point is Master DK’s exhortation at the close of this paragraph. It is at once a blessing and a call to rise to the occasion. The field of work is outlined — both the three worlds and the world of the soul. The Master calls for his chelas to “measure up to the opportunity” in both worlds.
6. Với cái nhìn thực tế, khả năng thất bại được ghi nhận. Đó chỉ là một nhận xét thoáng qua. Điểm chính thực sự là lời khuyến nhủ của Chân sư DK ở cuối đoạn này. Đó vừa là lời ban phúc vừa là lời kêu gọi vươn lên đáp ứng thời cơ. Lĩnh vực công việc được phác họa — cả ba cõi giới lẫn thế giới linh hồn. Chân sư kêu gọi các đệ tử của Ngài “đáp ứng xứng đáng với cơ hội” trong cả hai thế giới.
7. He was speaking to certain disciples at that time, some seventy years ago, but is He not speaking to us as well? I think He is. May we also rise to the occasion and measure up to the presented opportunity!
7. Khi ấy, khoảng bảy mươi năm trước, Ngài đang nói với một số đệ tử, nhưng chẳng phải Ngài cũng đang nói với chúng ta sao? Tôi nghĩ là có. Mong rằng chúng ta cũng vươn lên đáp ứng thời cơ và xứng đáng với cơ hội được trao!
To the next commentary
Sang phần bình giảng tiếp theo
4. PART III – 4. PHẦN III
commentary by Michael D. Robbins
bình giảng của Michael D. Robbins
As you face this opportunity in a world which is passing through a major crisis, I would like to state that it is necessary for all working brothers and disciples to have three things in mind if they are to work efficiently and as desired.
Khi các bạn đối diện với cơ hội này trong một thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng lớn, Tôi muốn nói rằng tất cả các huynh đệ và đệ tử đang làm việc cần ghi nhớ ba điều nếu muốn làm việc hiệu quả và đúng như mong đợi.
First: Disciples should know that the Masters have three grades of workers. There are those doing the difficult work in the outer world. They materialise the forms through which the Hierarchy can express its intentions and they make the [18] human contacts. There are many such disciples and they are doing this work from their own free choice and because they have realised the immediate and coming need of humanity and have pledged themselves to serve. There are, secondly, those who act as links between the Elder Brothers of the race, the Masters of the Wisdom Who embody the divine plan and the workers mentioned above. I do not say that they act as links between the disciple and his Master for that is a direct relationship which none may touch, particularly in the more advanced stages. This second group of working disciples, however, act as intermediaries in the working out of the plan in the world and they hold themselves in readiness to go anywhere when requested, thus aiding with their wisdom and experience and supplementing the capacities of the field workers, conferring with them. There are several such that are being sent expressly into the field at this time to hasten the work whenever possible and to increase the magnetic attraction of those centres through which the spiritual force of the New Age can flow.
Thứ nhất: Các đệ tử nên biết rằng các Chân sư có ba cấp người hoạt động. Có những người đang thực hiện công việc khó khăn ở thế giới bên ngoài. Họ hiện hình các hình tướng mà qua đó Thánh đoàn có thể biểu lộ ý định của mình, và họ thiết lập các [18] mối tiếp xúc với con người. Có nhiều đệ tử như thế, và họ làm công việc này do tự nguyện lựa chọn, vì họ đã nhận ra nhu cầu trước mắt và sắp tới của nhân loại, đồng thời đã cam kết phụng sự. Thứ hai, có những người làm cầu nối giữa các Huynh Trưởng của nhân loại, các Chân sư Minh Triết hiện thân cho Thiên Cơ, với những người hoạt động nói trên. Tôi không nói rằng họ làm cầu nối giữa đệ tử và Chân sư của y, vì đó là một mối quan hệ trực tiếp mà không ai được can dự, đặc biệt ở những giai đoạn tiến bộ hơn. Tuy nhiên, nhóm đệ tử hoạt động thứ hai này làm trung gian trong việc thực hiện Thiên Cơ trên thế giới, và họ luôn sẵn sàng đi bất cứ đâu khi được yêu cầu, nhờ đó trợ giúp bằng minh triết và kinh nghiệm của mình, bổ sung năng lực cho những người hoạt động tại thực địa và trao đổi ý kiến với họ. Hiện nay, một số người như thế đang được đặc biệt phái đến thực địa để đẩy nhanh công việc bất cứ khi nào có thể, và gia tăng sức hút từ tính của những trung tâm mà qua đó mãnh lực tinh thần của Kỷ Nguyên Mới có thể tuôn chảy.
1. Master DK begins by clarifying three grades of workers. The first group consists of the most materially active workers. They are related to the third, or matter aspect of divinity and to the third ray.
1. Chân sư DK bắt đầu bằng việc làm rõ ba cấp người hoạt động. Nhóm thứ nhất gồm những người hoạt động tích cực nhất về mặt vật chất. Họ liên hệ với phương diện thứ ba, tức phương diện vật chất của thiên tính, và với cung ba.
2. A hint is here given: it would appear that this group consists of pledged disciples.
2. Ở đây có một gợi ý: dường như nhóm này gồm những đệ tử đã lập nguyện.
3. Among the group of Masters Who serve humanity, it would appear that Master DK finds Himself in an analogous position. He is the Messenger and is involved in field work, and from the perspective of the Hierarchy, is surely involved in building the forms through which Hierarchy may express. This may be yet another indication that the Master DK has quite a bit of the third ray in His nature.
3. Trong nhóm các Chân sư phụng sự nhân loại, dường như Chân sư DK thấy mình ở một vị trí tương tự. Ngài là Sứ Giả và tham gia công việc tại thực địa; xét từ góc nhìn của Thánh đoàn, chắc chắn Ngài đang tham gia xây dựng những hình tướng mà qua đó Thánh đoàn có thể biểu lộ. Đây có thể là một dấu hiệu nữa cho thấy bản chất của Chân sư DK mang khá nhiều phẩm tính cung ba.
4. The second group of disciples are related to the second aspect of divinity, the love-wisdom aspect. The second ray is a linking ray, linking spirit and matter. Disciples on all the rays are in this group; overall, however, it is qualified by the second ray.
4. Nhóm đệ tử thứ hai liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính, phương diện bác ái–minh triết. Cung hai là một cung liên kết, liên kết tinh thần và vật chất. Các đệ tử thuộc mọi cung đều có mặt trong nhóm này; tuy nhiên, xét tổng thể, nhóm mang phẩm tính của cung hai.
5. The members of the second group respond to an inner behest. They are meditatively attuned are ready to respond to need. They learn of this need through their inner contacts but also from their outer sensitivity.
5. Các thành viên của nhóm thứ hai đáp ứng một mệnh lệnh bên trong. Họ hòa điệu qua tham thiền và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu. Họ biết được nhu cầu này qua những tiếp xúc bên trong, đồng thời qua sự nhạy cảm với bên ngoài.
6. Such workers strengthen and supplement the field workers. They are inspirers and carriers of quality.
6. Những người hoạt động như thế củng cố và bổ trợ cho những người hoạt động tại thực địa. Họ là những người khơi nguồn cảm hứng và mang phẩm tính đến.
7. Perhaps there are a fair number of such workers in the second group, but Master DK speaks of just a few. Their job is to hasten and magnetize.
7. Có lẽ có khá nhiều người hoạt động như thế trong nhóm thứ hai, nhưng Chân sư DK chỉ nói đến một vài người. Công việc của họ là đẩy nhanh tiến độ và tạo sức hút từ tính.
8. Clearly, they are responsive to a will higher than their own. They are, perhaps, what Master M. would call the nomads, for their readiness to go anywhere according to need.
8. Rõ ràng, họ đáp ứng một ý chí cao hơn ý chí của chính mình. Có lẽ họ là những người mà Chân sư M. sẽ gọi là những người du mục, vì họ sẵn sàng đi bất cứ đâu theo nhu cầu.
9. It seems that Mercury is very much their major planet. They are a kind of antahkarana between the directing Hierarchy and the outer workers.
9. Dường như Sao Thủy rõ ràng là hành tinh chủ yếu của họ. Họ là một dạng antahkarana giữa Thánh đoàn chỉ đạo và những người hoạt động bên ngoài.
This is all being done preparatory to a supreme effort which the Hierarchy of Masters plans to make. Should all of you in the field at this time work with complete surrender and devotion giving of all your time and interest to the cause it may be possible to prepare the ground in such a manner that the coming effort of the Masters may prove adequate to the emergency.
Tất cả những điều này đang được thực hiện để chuẩn bị cho một nỗ lực tối cao mà Thánh đoàn các Chân sư dự định thực hiện. Nếu tất cả các bạn hiện đang làm việc tại thực địa đều làm việc với sự hiến dâng và lòng tận tụy hoàn toàn, dành toàn bộ thời gian và sự quan tâm cho chính nghĩa này, thì có thể chuẩn bị nền tảng sao cho nỗ lực sắp tới của các Chân sư đủ sức đáp ứng tình trạng khẩn cấp.
1. DK makes it clear that the disciples whom He is addressing are field workers.
1. Chân sư DK nói rõ rằng những đệ tử mà Ngài đang nói với là những người hoạt động tại thực địa.
2. The supreme effort of the Hierarchy of Masters lies ahead. It has not happened yet. It almost certainly relates to the intention to externalize.
2. Nỗ lực tối cao của Thánh đoàn các Chân sư vẫn còn ở phía trước. Nó chưa diễn ra. Gần như chắc chắn nó liên quan đến ý định ngoại hiện.
3. There was certainly an emergency related to World War II. At the time this was written, it was not at all certain that there would be a World War.
3. Chắc chắn đã có một tình trạng khẩn cấp liên quan đến Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Vào thời điểm những lời này được viết ra, việc một cuộc Thế chiến sẽ xảy ra hoàn toàn chưa phải là điều chắc chắn.
4. Probably, the emergency here discussed, relates to the general condition of humanity and the need for the externalizing Hierarchy to help ensure human progress.
4. Có lẽ tình trạng khẩn cấp được bàn đến ở đây liên quan đến tình trạng chung của nhân loại và nhu cầu Thánh đoàn ngoại hiện để giúp bảo đảm sự tiến bộ của con người.
5. DK asks a great deal at least the personality would think so. He asks the field workers to work with complete surrender and devotion. He asks them to give all their time and interest to the cause.
5. Chân sư DK yêu cầu rất nhiều, ít nhất phàm ngã sẽ nghĩ như thế. Ngài yêu cầu những người hoạt động tại thực địa làm việc với sự hiến dâng và lòng tận tụy hoàn toàn. Ngài yêu cầu họ dành toàn bộ thời gian và sự quan tâm cho chính nghĩa này.
6. The word all is a strong word. We may say that those days were especially dangerous, as the Black Lodge was on the attack. We might say that such complete surrender, such devotion and consecration of time is not required of us today. Can we be so sure? Todays world is extremely dangerous and we are hovering on the brink of a potential war which DK says humanity must avoid at all costs. This must be a way that is not fought on the physical plane, however much it may demand of humanity on the subtle levels.
6. Từ “toàn bộ” là một từ mạnh. Chúng ta có thể nói rằng những ngày ấy đặc biệt nguy hiểm, vì Hắc đoàn đang tấn công. Chúng ta có thể nói rằng ngày nay chúng ta không cần phải hiến dâng hoàn toàn, tận tụy và thánh hiến thời gian đến như thế. Chúng ta có thể chắc chắn như vậy không? Thế giới ngày nay cực kỳ nguy hiểm, và chúng ta đang chênh vênh bên bờ một cuộc chiến có thể xảy ra mà Chân sư DK nói rằng nhân loại phải tránh bằng mọi giá. Đây phải là một con đường không có giao tranh trên cõi hồng trần, dù nó có thể đòi hỏi nhân loại đến đâu trên các cấp độ vi tế.
7. How much of our time, interest, devotion and surrender is required of us? Let us assess the situation and decide.
7. Chúng ta cần dành bao nhiêu thời gian, sự quan tâm, lòng tận tụy và sự hiến dâng? Chúng ta hãy đánh giá tình hình và quyết định.
The third group is that of the Masters Themselves and Their cooperating initiates. They work primarily upon the inner side. Their activities are confined largely to the mental plane and to the scientific use of thought. Thus They guide Their workers and helpers and influence and direct Their working disciples and the world disciples.
Nhóm thứ ba gồm chính các Chân sư và những điểm đạo đồ cộng tác với Các Ngài. Các Ngài làm việc chủ yếu ở phía bên trong. Hoạt động của Các Ngài phần lớn giới hạn ở cõi trí và việc sử dụng tư tưởng một cách khoa học. Nhờ vậy, Các Ngài hướng dẫn những người hoạt động và những người trợ giúp của mình, đồng thời tác động và chỉ đạo các đệ tử đang làm việc dưới quyền cùng các đệ tử thế gian.
1. The third group of workers is highly esoteric. All of them have taken at least the third initiation.
1. Nhóm người hoạt động thứ ba mang tính nội môn rất cao. Tất cả Các Ngài đều đã trải qua ít nhất lần điểm đạo thứ ba.
2. Probably we have very little notion of how the Masters work with the scientific use of thought. We are just learning the ABCs of this science.
2. Có lẽ chúng ta có rất ít khái niệm về cách các Chân sư làm việc bằng việc sử dụng tư tưởng một cách khoa học. Chúng ta mới chỉ đang học những điều sơ đẳng của khoa học này.
3. We can understand, however, how effective it must be to work correctly upon those levels. It is not stated whether the work is with the higher or lower mental plane. But the Masters do stimulate souls and, therefore, their work must be related to the higher mental plane to some degree.
3. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấu hiểu rằng làm việc đúng cách trên những cấp độ ấy hẳn phải hiệu quả đến mức nào. Không có lời xác định rằng công việc ấy diễn ra trên cõi thượng trí hay cõi hạ trí. Nhưng các Chân sư quả thực kích thích các linh hồn, và do đó, công việc của Các Ngài hẳn phải liên hệ với cõi thượng trí ở một mức độ nào đó.
4. Do any of us have any sense of being guided or influenced by these streams of thought? We know that we respond to certain potent ideas and thoughtforms. Perhaps we do not realize how these stimulating factors are maintained as a sustaining presence in our lives.
4. Có ai trong chúng ta cảm nhận được rằng những luồng tư tưởng này đang hướng dẫn hay tác động đến mình không? Chúng ta biết rằng mình đáp ứng một số ý tưởng và hình tư tưởng đầy sức mạnh. Có lẽ chúng ta không nhận ra cách những yếu tố kích thích ấy được duy trì như một sự hiện diện nâng đỡ trong đời sống của chúng ta.
5. Perhaps some of us have the experience of working inwardly, in the world of thought, and seeing the emergence of that for which we have worked. Our role is certainly a relatively outer one, yet increasingly we have to learn the kind of inward work which the Masters and Their high initiates have mastered.
5. Có lẽ một số người trong chúng ta đã có trải nghiệm làm việc bên trong, trong thế giới tư tưởng, và thấy điều mình đã nỗ lực tạo dựng bắt đầu xuất hiện. Chắc chắn vai trò của chúng ta tương đối thiên về bên ngoài, tuy nhiên, chúng ta ngày càng phải học loại công việc bên trong mà các Chân sư và những điểm đạo đồ cao cấp của Các Ngài đã thành thạo.
There is at this time an inner intention of blending the occidental and the oriental approaches to the ancient wisdom and to the Hierarchy. Cooperation and the mutual interchange of wisdom and of knowledge are essential if this is to be perfected. The objectives of both methods the mystic and the occult are the same. [19]
Hiện nay, ở phía bên trong có ý định hòa trộn cách tiếp cận của phương Tây và phương Đông đối với minh triết cổ xưa và Thánh đoàn. Sự hợp tác cùng việc trao đổi minh triết và tri thức giữa hai bên là thiết yếu để hoàn thiện điều này. Mục tiêu của cả hai phương pháp — thần bí và huyền bí — đều như nhau. [19]
1. Master DK, writing in the early 1930s, points to a process which we all witnesses in the 1960s and 70s. It still continues today.
1. Khi viết vào đầu thập niên 1930, Chân sư DK chỉ ra một tiến trình mà tất cả chúng ta đều chứng kiến trong các thập niên 1960 và 1970. Tiến trình ấy vẫn tiếp tục đến ngày nay.
2. Wisdom has come from the East and taken root in the West. The major fields for this impregnation has been the Americas (including Australia and New Zealand) and Europe.
2. Minh triết đã đến từ phương Đông và bén rễ ở phương Tây. Những địa bàn chủ yếu của sự thấm nhuần này là châu Mỹ (kể cả Úc và New Zealand) và châu Âu.
3. We can gather here that the East is seen as the seat of mysticism and the West of occultism. There have been significant contacts of Uranus and Neptune during the late twentieth century. Mysticism (Neptune) and occultism (Uranus) have joined together in the consciousness of many.
3. Từ đây, chúng ta có thể suy ra rằng phương Đông được xem là nơi khởi nguồn của Thần bí học, còn phương Tây là nơi khởi nguồn của huyền bí học. Đã có những sự tiếp xúc đáng kể giữa Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương vào cuối thế kỷ hai mươi. Thần bí học (Sao Hải Vương) và huyền bí học (Sao Thiên Vương) đã kết hợp trong tâm thức của nhiều người.
4. We can imagine that the Buddha of the East and the Christ of the West are working together more closely than ever before. They have work to do during the Aquarian Age. In Them, the East and West are being integrated. As well male and female are approaching each other in a more balanced fashion. The strengthening of Libra in planetary horoscope will bring about many significant unions, blendings and mergings.
4. Chúng ta có thể hình dung rằng Đức Phật của phương Đông và Đức Christ của phương Tây đang cùng làm việc mật thiết hơn bao giờ hết. Các Ngài có công việc phải thực hiện trong Kỷ Nguyên Bảo Bình. Trong Các Ngài, phương Đông và phương Tây đang được tích hợp. Nam và nữ cũng đang tiến lại gần nhau theo một cách cân bằng hơn. Ảnh hưởng ngày càng mạnh của Thiên Bình trong lá số chiêm tinh hành tinh sẽ đem lại nhiều sự kết hợp, hòa trộn và hòa nhập đầy thâm nghĩa.
5. Under the impact of Shamballa, we find ourselves in a time of general synthesis. Aquarius is a sign of universalism, and the seventh ray links all factors. Globalism and internationalism are emerging for the first time in recorded history (we cannot know what transpired at the height of earlier civilizations, such as the Atlantean). The times are unique for the coming together of hitherto disparate influences.
5. Dưới tác động của Shamballa, chúng ta thấy mình đang sống trong một thời kỳ tổng hợp trên mọi phương diện. Bảo Bình là một dấu hiệu của tinh thần phổ quát, và cung bảy liên kết mọi yếu tố. Tinh thần toàn cầu và tinh thần quốc tế đang xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử được ghi chép (chúng ta không thể biết điều gì đã diễn ra ở đỉnh cao của những nền văn minh trước đó, chẳng hạn nền văn minh Atlantis). Thời đại này độc đáo ở chỗ những ảnh hưởng trước nay vốn tách biệt đang hội tụ.
Second: It is necessary for working disciples at this time to appreciate the immediate emergency. There is a crisis in the affairs of men. This crisis must be viewed in terms of opportunity and not in terms of cataclysm or catastrophe. Just as in the life of an aspirant to discipleship, there comes a life or a series of lives wherein there is direct conflict between the soul and the lower nature, so there is now an analogous crisis upon our planet. The object in both cases is that the soul may assume an increasing control over the form aspect.
Thứ hai: Các đệ tử đang làm việc vào thời điểm này cần nhận thức đầy đủ tình trạng khẩn cấp trước mắt. Có một cuộc khủng hoảng trong các vấn đề của nhân loại. Phải nhìn cuộc khủng hoảng này dưới góc độ cơ hội, thay vì tai biến hay thảm họa. Cũng như trong cuộc đời của một người chí nguyện hướng tới địa vị đệ tử, sẽ đến một kiếp sống hoặc một chuỗi kiếp sống có sự xung đột trực tiếp giữa linh hồn và bản chất thấp, hiện nay trên hành tinh chúng ta cũng có một cuộc khủng hoảng tương tự. Trong cả hai trường hợp, mục tiêu là để linh hồn ngày càng nắm quyền kiểm soát phương diện hình tướng.
1. DK alerts us to our opportunity, warning us away from a negative apprehension of the situation.
1. Chân sư DK lưu ý chúng ta về cơ hội của mình, đồng thời cảnh báo chúng ta tránh cách nhìn nhận tiêu cực về tình hình.
2. At the time of the writing, war was an imminent possibility. At least the Hierarchy realized this possibility.
2. Vào thời điểm những lời này được viết ra, chiến tranh là một khả năng có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Ít nhất Thánh đoàn đã nhận ra khả năng này.
3. An analogy of the social macrocosm to the microcosm is offered. Everyone can understand the process of human development. It makes sense that there should arrive certain lives during which the soul and personality of man will battle for supremacy.
3. Ở đây có một phép so sánh tương đồng giữa đại thiên địa xã hội và tiểu thiên địa. Mọi người đều có thể thấu hiểu tiến trình phát triển của con người. Hợp lý khi cho rằng sẽ đến những kiếp sống mà trong đó linh hồn và phàm ngã của con người giao tranh để giành quyền làm chủ.
4. DK simply extends the analogy to humanity considered as the macrocosm of the individual case. I think we can all acknowledge that we live in times when the soul and personality of humanity are contending for position within the consciousness of the human race. The greater potency is on the side of the soul (so great is the potency of the assisting forces) but the personality is putting up a tremendous struggle. We are living through what has been called the last ditch fight of materialism. This fight is not related to a single century or millennium; it concerns the entirety of the planetary process. This is the prophesied era for which the Hierarchy has waiting since its inception. That is a startling thought. A great decision is currently being made by and within humanity. On its outcome the immediate progress of humanity depends.
4. Chân sư DK chỉ đơn giản mở rộng phép so sánh ấy sang nhân loại, xem nhân loại là đại thiên địa so với trường hợp cá nhân. Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều có thể thừa nhận rằng mình đang sống trong thời kỳ linh hồn và phàm ngã của nhân loại đang tranh giành vị thế trong tâm thức nhân loại. Sức mạnh lớn hơn thuộc về phía linh hồn (vì sức mạnh của các mãnh lực trợ giúp lớn lao đến thế), nhưng phàm ngã đang kháng cự vô cùng quyết liệt. Chúng ta đang trải qua điều được gọi là cuộc chiến đấu cố thủ cuối cùng của chủ nghĩa duy vật. Cuộc chiến này không chỉ liên quan đến một thế kỷ hay một thiên niên kỷ; nó liên quan đến toàn bộ tiến trình hành tinh. Đây là thời đại đã được tiên báo mà Thánh đoàn chờ đợi từ khi thành lập. Đó là một ý nghĩ gây sửng sốt. Hiện nay, nhân loại đang đưa ra một quyết định lớn, và quyết định ấy đang hình thành ngay trong lòng nhân loại. Sự tiến bộ trước mắt của nhân loại tùy thuộc vào kết quả của quyết định ấy.
5. We can help with this battle by making sure that in our own little microcosmic situation, the soul is winning the battle and emerging into the dominating position. World salvation begins with the salvation of oneself not the selfish salvation, but the redemption of the lunar vehicles and their consecration to service.
5. Chúng ta có thể góp sức vào cuộc chiến này bằng cách bảo đảm rằng trong hoàn cảnh tiểu thiên địa nhỏ bé của chính mình, linh hồn đang thắng trận và vươn lên nắm vị trí chi phối. Việc cứu rỗi thế giới bắt đầu từ việc cứu rỗi chính mình — không phải sự cứu rỗi ích kỷ, mà là cứu chuộc các hiện thể thái âm và thánh hiến chúng cho việc phụng sự.
Looking at it from another angle, this planetary soul functioning as a Hierarchy of Masters is in direct conflict with the forces of evil. It should, however, be borne in mind that those forces also constitute a hierarchy of entities, constituting the material forms and, therefore, in their place, true and correct. It is a question, in reality, of what is the objective in any particular time cycle. The present objective is that the human family should now, as a whole, do three things and anything which militates against this is evil.
Nhìn từ một góc độ khác, linh hồn hành tinh này, hoạt động như một Thánh đoàn các Chân sư, đang trực tiếp xung đột với các mãnh lực của cái ác. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng những mãnh lực ấy cũng hợp thành một Huyền Giai các thực thể cấu thành những hình tướng vật chất, và vì thế, trong vị trí thích hợp của mình, chúng là chân thực và đúng đắn. Thực ra, vấn đề là mục tiêu của bất kỳ chu kỳ thời gian cụ thể nào là gì. Mục tiêu hiện nay là toàn thể gia đình nhân loại cần làm ba điều, và bất cứ điều gì chống lại mục tiêu này đều là ác.
1. Is the Spiritual Hierarchy the same as the planetary soul? No. In fact the planetary soul is an aspect of the being of the Planetary Logos. The foremost vehicle for this planetary soul is found on the third subplane of the cosmic mental plane.
1. Thánh đoàn có đồng nhất với linh hồn hành tinh không? Không. Thực ra, linh hồn hành tinh là một phương diện trong sự hiện hữu của Hành Tinh Thượng đế. Hiện thể chủ yếu của linh hồn hành tinh này nằm trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ.
2. It is the second ray planetary soul which is attempting to emerge at this time in planetary history. This emergence must occur in and through the physical vehicle of the Planetary Logos. It is in this manifestation that our Spiritual Hierarchy (attuned to that planetary soul and representative of it) is assisting.
2. Chính linh hồn hành tinh cung hai đang cố gắng xuất hiện vào thời điểm này trong lịch sử hành tinh. Sự xuất hiện này phải diễn ra trong và qua hiện thể hồng trần của Hành Tinh Thượng đế. Chính trong sự biểu hiện này, Thánh đoàn của chúng ta (hòa điệu với linh hồn hành tinh ấy và đại diện cho linh hồn ấy) đang trợ giúp.
3. Evil is the good which should have been outlived. What was good once may no longer be so, depending upon the objective of any particular time cycle.
3. Cái ác là cái thiện mà lẽ ra người ta đã phải vượt qua. Điều từng là thiện có thể không còn là thiện nữa, tùy theo mục tiêu của từng chu kỳ thời gian cụ thể.
4. The forces of evil do not keep pace with the Divine Plan. They willfully refuse to move on, to take the risk of entering a new pattern of relationship in which their former power would almost certainly be much reduced. They wish to preserve their own selfish prerogatives in an era when their methods must give way to something better, more in keeping with the themes of the second solar system.
4. Các mãnh lực của cái ác không theo kịp Thiên Cơ. Chúng cố tình từ chối tiến bước, từ chối chấp nhận rủi ro khi bước vào một mô hình quan hệ mới mà trong đó quyền lực trước kia của chúng gần như chắc chắn sẽ giảm đi rất nhiều. Chúng muốn bảo toàn những đặc quyền ích kỷ của mình trong một thời đại mà các phương pháp của chúng phải nhường chỗ cho điều tốt đẹp hơn, phù hợp hơn với những chủ đề của hệ mặt trời thứ hai.
5. The battle, in the last analysis, is a power struggle. The Hierarchy has ranged itself on the side of the Solar Logos and of all that makes our Planetary Logos (in expression) more like Venus, more responsive to the influence of the Solar God. The counterforce seeks to evade the effects of these higher influences. No doubt they have their own sources to which they would like our planet to become more responsive.
5. Xét cho cùng, cuộc chiến này là một cuộc tranh giành quyền lực. Thánh đoàn đã đứng về phía Thái dương Thượng đế và tất cả những gì khiến Hành Tinh Thượng đế của chúng ta (trong sự biểu lộ) trở nên giống Sao Kim hơn, đáp ứng nhiều hơn với ảnh hưởng của Thượng đế Thái Dương. Mãnh lực đối kháng tìm cách né tránh tác động của những ảnh hưởng cao hơn này. Chắc chắn chúng có những nguồn riêng mà chúng muốn hành tinh chúng ta đáp ứng nhiều hơn.
6. Much time has been spent attempting to catalogue the hierarchy of evil; the last number of centuries have produced their demonologists who have named and arranged the different orders of negative entities. Probably there is something to their classifications, but, finally, it may be a rather profitless (and dangerous) venture. In Esoteric Astrology DK has the following to say:
6. Người ta đã dành nhiều thời gian để cố lập danh mục hệ thống thứ bậc của cái ác; trong vài thế kỷ gần đây đã xuất hiện những nhà nghiên cứu quỷ học đặt tên và sắp xếp các cấp bậc khác nhau của những thực thể tiêu cực. Có lẽ những cách phân loại ấy cũng có phần cơ sở, nhưng rốt cuộc đây có thể là một việc làm khá vô ích (và nguy hiểm). Trong Chiêm Tinh Học Nội Môn Chân sư DK nói như sau:
Humanity and cosmic evil, focussed for many millennia of years in what has been called the Black Lodge. Speculation anent this Lodge and its activities is both fruitless and dangerous.
Nhân loại và cái ác vũ trụ, tập trung suốt nhiều thiên niên kỷ trong cái được gọi là Hắc đoàn. Suy đoán về đoàn thể này và các hoạt động của nó vừa vô ích vừa nguy hiểm.
But human beings are fascinated, almost titillated, but such speculation and they ignore the warning. From speculation can arise the wish for contact with these dark entities (magicians have often been thus tempted) and the result often is disastrous.
Nhưng con người lại bị những suy đoán như thế cuốn hút, gần như kích thích, và họ phớt lờ lời cảnh báo. Từ suy đoán có thể nảy sinh mong muốn tiếp xúc với những thực thể hắc ám này (các nhà huyền thuật thường bị cám dỗ như thế), và kết quả thường là thảm khốc.
7. Perhaps Hierarchy, so directly concerned with frontal confrontation, knows the names and ranks of the adversary. One day, when it concerns us, we will also, but at the moment it is glamor to think that we, as individuals and small groups, can range ourselves against such forces. First we have to made sure that anything within us which is resonant to those forces is eliminated, otherwise we would not have a ghost of a chance in battle.
7. Có lẽ Thánh đoàn, vốn trực tiếp tham gia cuộc đối đầu, biết tên và cấp bậc của đối phương. Một ngày nào đó, khi điều ấy liên quan đến chúng ta, chúng ta cũng sẽ biết; nhưng hiện nay, nghĩ rằng chúng ta, với tư cách những cá nhân và nhóm nhỏ, có thể đứng lên chống lại những mãnh lực như thế là ảo cảm. Trước hết, chúng ta phải bảo đảm loại bỏ bất cứ điều gì bên trong mình cộng hưởng với những mãnh lực ấy, nếu không, chúng ta sẽ chẳng có chút cơ may nào trong cuộc chiến.
8. Shamballa and Hierarchy together stand against the great evil, protecting humanity from what has been called the intention to destroy. Our task, for the moment, is to build with positivity, creating the vessel for the New Age. By asserting the good we can assist best in the battle for mens souls.
8. Shamballa và Thánh đoàn cùng đứng lên chống lại cái ác lớn lao, bảo vệ nhân loại khỏi điều được gọi là ý đồ hủy diệt. Lúc này, nhiệm vụ của chúng ta là xây dựng với tinh thần tích cực, tạo nên vận cụ cho Kỷ Nguyên Mới. Bằng cách khẳng định điều thiện, chúng ta có thể trợ giúp hữu hiệu nhất trong cuộc chiến giành linh hồn con người.
9. The Tibetan outlines for us that which we may do to counter the evil against which they so frontally fight. (Even in the Second World War, the Allies were but fighting the reflections of the Hierarchys dark enemies. One suspects that the Hierarchy had a much fiercer battle on their hands. )
9. Chân sư Tây Tạng phác thảo cho chúng ta những gì chúng ta có thể làm để chống lại cái ác mà Các Ngài đang trực diện chiến đấu. (Ngay cả trong Thế Chiến Thứ Hai, phe Đồng Minh cũng chỉ chiến đấu với những hình ảnh phản chiếu của các kẻ thù hắc ám của Thánh đoàn. Có thể ngờ rằng Thánh đoàn đã phải đương đầu với một trận chiến khốc liệt hơn nhiều. )
1. Manifest the nature of the soul, through the integrated personality. The nature of the soul is love and the will-to-good.
1. Biểu lộ bản chất của linh hồn qua phàm ngã tích hợp. Bản chất của linh hồn là tình thương và Ý Chí-hướng Thiện.
1. The first requirement for those who would aid in the contest with evil seems simple enough. It is oft repeated to students of esotericism and is one of the main objectives of their labors. The nature of the soul is to be manifested through an integrated personality. This, of course, requires understanding what the soul really is, knowing how to contact it in meditation, knowing how to be translucent to its downpouring and ensuring that the personality is integrated. The sentence is easily written but entails all labors up to and including the third initiation. Still, a beginning must be made.
1. Yêu cầu đầu tiên đối với những ai muốn góp sức trong cuộc đấu tranh với cái ác có vẻ khá đơn giản. Yêu cầu này thường được nhắc lại với các đạo sinh huyền bí học và là một trong những mục tiêu chính trong nỗ lực của họ. Bản chất của linh hồn phải biểu lộ qua một phàm ngã tích hợp. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi phải thấu hiểu linh hồn thực sự là gì, biết cách tiếp xúc với linh hồn trong tham thiền, biết cách trở nên trong suốt để đón nhận dòng tuôn đổ của linh hồn, và bảo đảm rằng phàm ngã đã được tích hợp. Câu này viết ra thì dễ, nhưng bao hàm mọi nỗ lực cho đến và kể cả lần điểm đạo thứ ba. Dẫu vậy, vẫn phải bắt đầu.
2. Soul is variously and extensively described throughout DKs works. Here He simply describes soul as love and the will-to-good emphasizing the second and first ray aspects of the soul rather than its nature as light.
2. Linh hồn được mô tả theo nhiều cách và rất sâu rộng trong khắp các tác phẩm của Chân sư DK. Ở đây, Ngài chỉ mô tả linh hồn là tình thương và Ý Chí-hướng Thiện, nhấn mạnh các phương diện cung hai và cung một của linh hồn hơn là bản chất ánh sáng của linh hồn.
2. Transfer the energy, now turned to the vitalising of the physical body and physical creation, to the nurturing of the creative faculty upon the mental plane; thus the entire human family will be transmuted into a dynamic, self-conscious, creative agency.
2. Chuyển dịch năng lượng hiện đang hướng vào việc tiếp sinh lực cho thể xác và hoạt động sáng tạo trên cõi hồng trần sang việc nuôi dưỡng năng lực sáng tạo trên cõi trí; nhờ đó, toàn thể gia đình nhân loại sẽ được chuyển hoá thành một tác nhân sáng tạo năng động, có ngã thức.
1. This requirement is reminiscent of the eleventh Rule for Applicants: Let the disciple transfer the fire from the lower triangle to the higher, and preserve that which is created through the fire at the midway point.
1. Yêu cầu này gợi nhớ đến Quy luật thứ mười một dành cho Ứng Viên: Hãy để đệ tử chuyển lửa từ tam giác thấp lên tam giác cao, và bảo tồn điều được tạo ra qua lửa tại điểm ở giữa.
2. There is no way to elevate humanity without raising the energies of the etheric-physical body towards the vitalization of the higher chakras and glands.
2. Không thể nâng cao nhân loại nếu không nâng các năng lượng của thể dĩ thái–hồng trần lên để tiếp sinh lực cho các luân xa và các tuyến cao hơn.
3. Essentially, DK is asking the human family as a whole (and disciples as leading members of that family) to raise the energy of the sacral center to the throat center and thus become creative instead of merely procreative.
3. Về căn bản, Chân sư DK đang yêu cầu toàn thể gia đình nhân loại (và các đệ tử với tư cách là những thành viên dẫn đầu của gia đình ấy) nâng năng lượng của trung tâm xương cùng lên trung tâm cổ họng, nhờ đó trở nên sáng tạo thay vì chỉ sinh sản.
4. Humanity is meant to be the throat center of the Planetary Logos (or at least the throat center of the globe lord in whose energy system our physical Earth and its various vehicles are included). Sometimes, however, humanity functions more like a solar plexus center or even a sacral center.
4. Nhân loại có vai trò trở thành trung tâm cổ họng của Hành Tinh Thượng đế (hoặc ít nhất là trung tâm cổ họng của chúa tể bầu hành tinh, mà Trái Đất hồng trần của chúng ta cùng các hiện thể khác nhau của nó đều nằm trong hệ thống năng lượng của Ngài). Tuy nhiên, đôi khi nhân loại hoạt động giống một trung tâm tùng thái dương, hoặc thậm chí một trung tâm xương cùng hơn.
5. DK is asking that the lowest part of the higher triangle (head, heart and throat) be vitalized and that humanity become creative eventually in line with the Divine Plan.
5. Chân sư DK đang yêu cầu tiếp sinh lực cho phần thấp nhất của tam giác cao (đầu, tim và cổ họng), và yêu cầu nhân loại trở nên sáng tạo, để cuối cùng phù hợp với Thiên Cơ.
6. This creative cannot occur if too much of humanitys disposable energy is downwardly directed.
6. Sự sáng tạo này không thể diễn ra nếu quá nhiều năng lượng mà nhân loại có thể sử dụng lại hướng xuống dưới.
3. Usher in a period of spiritual unfoldment in every kingdom in nature. At the close of this period, the door into the animal kingdom will again be opened and opportunity offered to waiting embryonic souls. Many also, at this time, can take initiation and hence the balancing of forces at either end of the human line of unfoldment. This is to be brought about by the renewed cyclic activity of the Great White Lodge and will be carried forward through the medium of those energies which are ushering in the New Age. This crisis is upon us almost prematurely, owing to the exceedingly rapid advance made by humanity since 1850. Through the driving [20] urge of men themselves, a new realm and a new dimension has been contacted. Humanity has loosed energies hitherto unknown and the effects are of a dual kind, producing both bad as well as good results.
3. Mở ra một thời kỳ khai mở tinh thần trong mọi giới của tự nhiên. Vào cuối thời kỳ này, cánh cửa vào giới động vật sẽ lại mở ra và cơ hội sẽ đến với những linh hồn phôi thai đang chờ đợi. Vào lúc này, nhiều người cũng có thể được điểm đạo, nhờ đó tạo nên sự quân bình mãnh lực ở hai đầu tiến trình khai mở của nhân loại. Hoạt động theo chu kỳ được đổi mới của Thánh đoàn sẽ mang lại điều này, và những năng lượng đang mở ra Kỷ Nguyên Mới sẽ tiếp tục thúc đẩy tiến trình ấy. Cuộc khủng hoảng này đến với chúng ta gần như quá sớm, do nhân loại đã tiến bộ cực kỳ nhanh chóng kể từ năm 1850. Nhờ thôi thúc [20] mãnh liệt của chính con người, nhân loại đã tiếp xúc với một lĩnh vực mới và một chiều đo mới. Nhân loại đã giải phóng những năng lượng trước đây chưa từng biết đến, và các tác động mang tính nhị nguyên, tạo ra cả kết quả xấu lẫn tốt.
1. Master DK is looking a long way ahead, for the door into the animal kingdom will not be re-opened until some point in the fifth round.
1. Chân sư DK đang nhìn rất xa về phía trước, vì cánh cửa vào giới động vật sẽ chỉ mở lại vào một thời điểm nào đó trong cuộc tuần hoàn thứ năm.
2. He is calling our attention to the responsibility of humanity to consciously become the macrocosm to the three lower kingdoms. Many human beings today are scientifically attending to the needs or development of those kingdoms, thus the process is underway.
2. Ngài đang lưu ý chúng ta về trách nhiệm của nhân loại là trở thành đại thiên địa đối với ba giới thấp một cách có ý thức. Ngày nay, nhiều người đang chăm lo một cách khoa học cho nhu cầu hoặc sự phát triển của các giới ấy, vì vậy tiến trình này đang diễn ra.
3. How humanity treats the lower kingdoms will affect the intended future process of individualization whereby opportunity will be offered to waiting embryonic souls. Among those souls are, perhaps, many who are now the domestic animals and who are under the care and supervision of human beings who love and nurture them.
3. Cách nhân loại đối xử với các giới thấp sẽ ảnh hưởng đến tiến trình biệt ngã hóa dự kiến trong tương lai, qua đó cơ hội sẽ đến với những linh hồn phôi thai đang chờ đợi. Trong số những linh hồn ấy, có lẽ nhiều linh hồn hiện là các con vật nuôi, đang được những người yêu thương và nuôi dưỡng chúng chăm sóc và trông nom.
4. DK is speaking of issues of planetary balance. If the door from the animal kingdom to the human is to be opened, it will be necessary for many in the human kingdom to move into the kingdom of souls through the process of initiation.
4. Chân sư DK đang nói về những vấn đề quân bình hành tinh. Nếu cánh cửa từ giới động vật sang giới nhân loại sẽ mở ra, thì nhiều người trong giới nhân loại cần bước vào giới linh hồn qua tiến trình điểm đạo.
5. How will initiation within the human kingdom be promoted? The strenuous effort of the Great White Lodge will stimulate the initiatory possibilities in humanity (and also in the other kingdoms, for there are those Masters Who attend to the needs of kingdoms other than the human).
5. Việc điểm đạo trong giới nhân loại sẽ được thúc đẩy như thế nào? Nỗ lực mạnh mẽ của Thánh đoàn sẽ kích thích những khả năng điểm đạo trong nhân loại (và cả trong các giới khác, vì có những Chân sư chăm lo nhu cầu của các giới ngoài giới nhân loại).
6. The present world crisis was precipitated, in part, by humanitys rapid advance into new realms of energy. Perhaps the Shamballa Impact of 1825 was unusually powerful, for by 1850 (according to this paragraph) humanity was making very rapid progress.
6. Một phần nguyên nhân làm bùng phát cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay là việc nhân loại tiến nhanh vào những lĩnh vực năng lượng mới. Có lẽ Tác Động Shamballa năm 1825 mạnh mẽ khác thường, vì đến năm 1850 (theo đoạn văn này), nhân loại đã tiến bộ rất nhanh.
7. It is difficult to know why the year 1850 is signaled out by DK. Neptune had been discovered in 1846, but no particular cycle of which we know began in 1850 (though there are a great many cycles of which we have no knowledge). Perhaps 1850 is a conventionalized date related to the Great Decision of 1854. Such Chohanic decisions have a tremendous impact upon humanity. The means of advance was probably the Industrial Revolution the rapid advance of technology and scientific discovery. While Hierarchy and Shamballa were making Their Presence felt in powerful ways, it was humanitys unexpectedly swift and powerful response to the proffered stimulation which, shall we say, almost caught the Hierarchy by surprise. This is what lead Master DK to speak of a crisis which is upon us almost prematurely
7. Khó biết tại sao Chân sư DK đặc biệt nêu năm 1850. Sao Hải Vương đã được phát hiện vào năm 1846, nhưng không có chu kỳ cụ thể nào mà chúng ta biết lại bắt đầu vào năm 1850 (dù có rất nhiều chu kỳ mà chúng ta chưa biết). Có lẽ năm 1850 là một mốc quy ước liên quan đến Quyết Định Vĩ Đại năm 1854. Những quyết định như vậy của các Đấng Chohan có tác động vô cùng lớn lao đối với nhân loại. Phương tiện thúc đẩy sự tiến bộ có lẽ là cuộc Cách Mạng Công Nghiệp, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các khám phá khoa học. Trong khi Thánh đoàn và Shamballa đang khiến nhân loại cảm nhận sự Hiện Diện của Các Ngài một cách mạnh mẽ, thì chính sự đáp ứng nhanh chóng và mạnh mẽ ngoài dự kiến của nhân loại trước kích thích được đưa đến đã gần như khiến Thánh đoàn bất ngờ. Đây là điều đã khiến Chân sư DK nói đến một cuộc khủng hoảng đến với chúng ta gần như quá sớm
8. Probably the incoming fifth ray cycle in 1775 combined with the Great Decisions of 1805 and 1854, and the Shamballa Impact of 1825 were enough to give humanity an unusually potent stimulation to which it responded in an unanticipated way. The 1825 Shamballa Impact was the first such direct impact upon humanity since Atlantean times. Perhaps that was the reason for its tremendously powerful effect.
8. Có lẽ chu kỳ cung năm bắt đầu đi vào năm 1775, kết hợp với các Quyết Định Vĩ Đại năm 1805 và 1854 cùng Tác Động Shamballa năm 1825, đã đủ để đem đến cho nhân loại một kích thích mạnh mẽ khác thường, mà nhân loại đã đáp ứng theo cách không ai dự liệu. Tác Động Shamballa năm 1825 là tác động trực tiếp đầu tiên như vậy lên nhân loại kể từ thời Atlantis. Có lẽ đó là lý do khiến tác động ấy có hiệu lực mạnh mẽ đến thế.
9. In other parts of the teaching we are told that atomic energy was to have been discovered in the Age of Capricorn, some 2300 years ahead of its discovery. The rapid developments of the Industrial Revolution set the stage for this discovery.
9. Trong những phần giáo huấn khác, chúng ta được cho biết rằng năng lượng nguyên tử lẽ ra chỉ được khám phá vào Kỷ Nguyên Ma Kết, khoảng 2300 năm sau thời điểm thực tế khám phá ra nó. Những bước phát triển nhanh chóng của cuộc Cách Mạng Công Nghiệp đã tạo tiền đề cho khám phá này.
10. Thus, one of the greatest crises ever facing humanity has been precipitated, and we are all involved in it whether in the body or out of the body. The possible outcomes are extremely promising for humanitys development or the reverse. Hence the importance, at this time, for all disciples to take planetary evolution very seriously. The crisis is planetary. Individual, national and international crises are all part of it, but it is the welfare of our globe which is now at stake.
10. Như vậy, một trong những cuộc khủng hoảng lớn nhất mà nhân loại từng đối mặt đã bùng phát, và tất cả chúng ta đều dự phần trong đó, dù đang ở trong thân thể hay ngoài thân thể. Những kết quả có thể xảy ra hứa hẹn vô cùng tốt đẹp cho sự phát triển của nhân loại, hoặc ngược lại. Vì vậy, vào lúc này, việc tất cả các đệ tử hết sức coi trọng sự tiến hoá hành tinh là điều quan trọng. Cuộc khủng hoảng mang tầm hành tinh. Các cuộc khủng hoảng cá nhân, quốc gia và quốc tế đều là những phần của cuộc khủng hoảng ấy, nhưng hiện nay chính sự an lành của bầu hành tinh chúng ta đang bị đe dọa.
Third: Disciples must now organise for a steady united effort. This must take the form of a closer cooperation between all groups and a standing together in a closer relationship, thus strengthening each others’ hands and, where possible, pooling resources. It should result also in a united push forward of all spiritual and occult agencies and the carrying of the truth along all possible lines, down among the masses of men. Just as in Atlantean days, spiritual forces were subordinated to the selfish desires of men, so today, they are being subordinated to the minds and the ambitions of men and the results will be profoundly evil. The world situation today demonstrates this. For though material benefit and physical prosperity might eventually emerge from certain countries where great experiments are being undertaken, they will only exemplify the triumph of the form and will finally come to naught. Just as every human being struggles through in some one life to personality achievement so it is among the nations. Yet at the heart of every nation lies latent the mystical soul and eventually after dire struggle and distress all will be well. Tendencies towards materialism and towards personality achievement must, under the larger plan and the will-to-good, be offset by a counter move of spiritual living and this must be the objective of all working disciples.
Thứ ba: Giờ đây, các đệ tử phải tổ chức để cùng nhau nỗ lực bền bỉ. Điều này phải thể hiện thành sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa tất cả các nhóm và sự sát cánh trong một mối quan hệ gần gũi hơn, qua đó tăng cường sức mạnh cho nhau và, ở nơi nào có thể, góp chung nguồn lực. Điều này cũng phải dẫn đến một sự thúc đẩy thống nhất để mọi tổ chức tinh thần và huyền bí cùng tiến lên, và đưa chân lý đến với quần chúng bằng mọi con đường có thể. Cũng như vào thời Atlantis, các mãnh lực tinh thần đã bị đặt dưới sự chi phối của những dục vọng ích kỷ của con người, ngày nay chúng đang bị đặt dưới sự chi phối của thể trí và tham vọng con người, và kết quả sẽ vô cùng tai hại. Tình hình thế giới ngày nay chứng tỏ điều này. Bởi dù lợi ích vật chất và sự thịnh vượng trên cõi hồng trần cuối cùng có thể xuất hiện ở một số quốc gia đang tiến hành những thử nghiệm lớn, chúng cũng chỉ minh chứng cho chiến thắng của hình tướng và cuối cùng sẽ trở thành hư không. Cũng như mỗi con người phải phấn đấu vượt qua khó khăn trong một kiếp sống nào đó để đạt thành tựu phàm ngã, các quốc gia cũng vậy. Tuy nhiên, trong lòng mỗi quốc gia đều tiềm ẩn linh hồn thần bí, và cuối cùng, sau những cuộc đấu tranh khốc liệt và đau khổ, mọi sự sẽ tốt đẹp. Theo Thiên Cơ rộng lớn hơn và Ý Chí-hướng Thiện, các khuynh hướng duy vật và hướng đến thành tựu phàm ngã phải được hóa giải bằng một chuyển động đối ứng của đời sống tinh thần, và đây phải là mục tiêu của tất cả các đệ tử đang hoạt động.
1. First, DK calls for united effort. We are all to help each other: individuals, other individuals; groups, other groups. Under the Law of Economy we are to pool our resources so that we may all progress.
1. Trước hết, Chân sư DK kêu gọi nỗ lực hợp nhất. Tất cả chúng ta phải giúp đỡ lẫn nhau: cá nhân giúp những cá nhân khác; nhóm giúp những nhóm khác. Theo Định luật Tiết Kiệm, chúng ta phải góp chung các nguồn lực để tất cả chúng ta đều có thể tiến bộ.
2. Humanity, itself, is called upon for a great pooling of resources. This would mean sharing the wealth rather than cornering the market.
2. Chính nhân loại được kêu gọi thực hiện một sự góp chung nguồn lực lớn lao. Điều này hàm ý chia sẻ của cải thay vì thâu tóm thị trường.
3. The spiritual groups should cooperate with each other rather than fighting each other. Spiritual truths have to reach the masses of human beings in ways they can assimilate.
3. Các nhóm tinh thần nên hợp tác với nhau thay vì chống đối nhau. Các chân lý tinh thần phải đến được với quần chúng bằng những cách mà họ có thể tiếp thu.
4. DK issues a warning. In Atlantean days spiritual forces were subordinated to rampant, selfish desire. Today, these same forces run the risk of being subordinated to the minds and ambitions of selfish personalities. The results could be even worse than in Atlantean days. As a matter of fact, DK tells us this is already happening.
4. Chân sư DK đưa ra một lời cảnh báo. Vào thời Atlantis, các mãnh lực tinh thần bị đặt dưới sự chi phối của dục vọng ích kỷ, không kiềm chế. Ngày nay, chính những mãnh lực ấy có nguy cơ bị đặt dưới sự chi phối của thể trí và tham vọng của những phàm ngã ích kỷ. Kết quả có thể còn tồi tệ hơn cả thời Atlantis. Thực ra, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng điều này đã và đang xảy ra.
5. Material prosperity must not be seen as an end in itself (as it is in some of todays wealthier countries). It is not the triumph of the national personality which is sought by Hierarchy, but the emergence of the national soul expressive of the soul quality of each nation.
5. Không được xem sự thịnh vượng vật chất là mục đích tối hậu (như cách nhìn ở một số quốc gia giàu có hơn ngày nay). Thánh đoàn tìm kiếm sự xuất hiện của linh hồn quốc gia biểu lộ phẩm tính linh hồn của mỗi quốc gia, chứ không phải chiến thắng của phàm ngã quốc gia.
6. DK almost promises dire struggle and distress. It certainly occurred during World War II, and it may have been of this struggle that He was speaking. From another perspective there may be even greater struggles imminent for humanity, though perhaps they will not have to be precipitated onto the physical plane as war.
6. Chân sư DK gần như báo trước chắc chắn rằng sẽ có đấu tranh khốc liệt và đau khổ. Điều đó quả đã xảy ra trong Thế Chiến Thứ Hai, và có thể Ngài đang nói đến chính cuộc đấu tranh ấy. Từ một góc nhìn khác, có thể những cuộc đấu tranh còn lớn hơn đang cận kề nhân loại, dù có lẽ chúng sẽ không phải biểu hiện trên cõi hồng trần thành chiến tranh.
7. DK takes note of the tendencies towards materialism and personality achievement not essentially bad but wrong for this time in human history. He calls for the offsetting of these tendencies by spiritual living.
7. Chân sư DK lưu ý đến các khuynh hướng duy vật và hướng đến thành tựu phàm ngã—về căn bản không xấu, nhưng không phù hợp với thời điểm này trong lịch sử nhân loại. Ngài kêu gọi hóa giải những khuynh hướng ấy bằng đời sống tinh thần.
8. The disciples of the world are to be part of this offsetting process. This means, of course, that we have to learn to offset tendencies towards materialism and self-glorifying personality achievement in our own natures.
8. Các đệ tử trên thế giới phải góp phần vào tiến trình hóa giải này. Dĩ nhiên, điều này hàm ý rằng chúng ta phải học cách hóa giải các khuynh hướng duy vật và hướng đến thành tựu phàm ngã nhằm tôn vinh bản thân ngay trong bản chất của chính mình.
9. This might seem easy to do until the subtleties of the process are recognized.
9. Điều này có vẻ dễ thực hiện cho đến khi chúng ta nhận ra những khía cạnh tinh tế của tiến trình ấy.
10. The principle which emerges is that if we really wish to be of help in offsetting the world crisis now engulfing all of humanity, we must accomplish within our own microcosm (our individual energy system) that which we would see accomplished with the macrocosm (the pan-human and planetary energy systems).
10. Nguyên khí nổi lên ở đây là: nếu thực sự muốn góp sức hóa giải cuộc khủng hoảng thế giới hiện đang nhấn chìm toàn thể nhân loại, chúng ta phải thực hiện trong tiểu thiên địa của chính mình (hệ thống năng lượng cá nhân) điều mà chúng ta muốn thấy được thực hiện trong đại thiên địa (các hệ thống năng lượng của toàn thể nhân loại và của hành tinh).
Let such working disciples see to it, therefore, that their love for all beings deepens and that the growth of their love comes through their tapping the group love which lies back of all world happenings. My brothers, when will the time come when the world will realise that the love aspect of the Logos as it affects the human kingdom is focussed through the inner subjective group of workers? That love is now in the stage of anchoring itself physically through the new groups (such as this group) which are in process of forming all over the world. These new groups are centres (or should be) of divine love, magnetic, constructive and pure. See to it, therefore, that your conformity to the requirement is met in the measure of your [21] physical strength, bearing ever in mind that you are equal to more effort and to greater strain than ever before.
Vì vậy, hãy để những đệ tử đang hoạt động như thế bảo đảm rằng tình thương của họ đối với mọi sinh linh ngày càng sâu đậm, và tình thương ấy tăng trưởng nhờ họ tiếp nhận tình thương nhóm nằm sau mọi diễn biến trên thế giới. Các huynh đệ của Tôi, đến bao giờ thế giới mới nhận ra rằng phương diện bác ái của Thượng đế, khi tác động đến giới nhân loại, tập trung qua nhóm người hoạt động chủ quan bên trong? Tình thương ấy hiện đang trong giai đoạn neo giữ trên cõi hồng trần qua các nhóm mới (như nhóm này) đang hình thành khắp thế giới. Các nhóm mới này là những trung tâm (hoặc nên là như thế) của tình thương thiêng liêng, mang từ tính, có tính xây dựng và thuần khiết. Vì vậy, hãy bảo đảm rằng các bạn đáp ứng yêu cầu theo mức sức mạnh thể chất của mình [21], luôn ghi nhớ rằng các bạn có khả năng nỗ lực nhiều hơn và chịu sức căng lớn hơn bao giờ hết.
1. How many injunctions are offered by the Master! Things are not as they should be and must be changed. Therefore, we must change our behavior and He is constantly reminding us of this.
1. Chân sư đưa ra biết bao huấn thị! Mọi sự chưa được như cần phải có và phải thay đổi. Vì vậy, chúng ta phải thay đổi cách hành xử của mình, và Ngài không ngừng nhắc nhở chúng ta về điều này.
2. Love is the great weapon. No matter how much we may know, if we do not love, there is no use pretending we are disciples of the Great White Lodge.
2. Tình thương là vũ khí vĩ đại. Dù biết nhiều đến đâu, nếu không yêu thương, chúng ta cũng chẳng ích gì khi giả vờ rằng mình là đệ tử của Thánh đoàn.
3. And it is love for all beings that is called for not just love for those we like and who are like us.
3. Và điều được đòi hỏi là tình thương dành cho mọi sinh linh, chứ không chỉ dành cho những người chúng ta thích và giống chúng ta.
4. This love is to be strengthened by accessing the group love which lies back of all world happenings (the love which underlies the happenings of the time The Mantram of Unification). But to do this, we must actually sense this love, perceive and feel this love. This may not be easy to do because it is so much covered over by events which seem entirely other than loving.
4. Tình thương này phải được tăng cường bằng cách tiếp cận tình thương nhóm nằm sau mọi diễn biến trên thế giới (tình thương làm nền tảng cho những diễn biến của thời đại—Mantram Hợp Nhất). Nhưng để làm được điều này, chúng ta phải thực sự cảm nhận tình thương ấy, nhận biết và cảm thấy tình thương ấy. Điều này có thể không dễ thực hiện, vì tình thương ấy bị che lấp quá nhiều bởi những sự kiện dường như hoàn toàn trái với tình thương.
5. Then comes a great exhortation. DK asks us when the world will realize the power and method of expression of the Logos love nature. Really, He is also asking when we (disciples) will realize the same things. That love nature is focussed in the inner groups of workers (of which the Hierarchy is the great Example).
5. Tiếp đó là một lời khuyến giục mạnh mẽ. Chân sư DK hỏi chúng ta bao giờ thế giới mới nhận ra quyền năng và phương thức biểu lộ bản chất bác ái của Thượng đế. Thực ra, Ngài cũng đang hỏi bao giờ chúng ta (các đệ tử) mới nhận ra những điều ấy. Bản chất bác ái ấy tập trung trong các nhóm người hoạt động bên trong (mà Thánh đoàn là Tấm Gương vĩ đại).
6. The new groups, such as the group of disciples to whom He was addressing these instructions (and such as our groups) are to become anchor points for this descending Logoic Love. But are they? Are we working through centers of divine love which are magnetic, constructive and pure. DK wanted this for His immediate group of chelas and, no doubt, He wants it for groups such as ours.
6. Các nhóm mới, như nhóm đệ tử mà Ngài đang gửi những huấn thị này đến (và như các nhóm của chúng ta), phải trở thành những điểm neo giữ cho Tình Thương đang giáng xuống của Thượng đế. Nhưng các nhóm ấy đã thực sự là như vậy chưa? Chúng ta có đang hoạt động qua những trung tâm tình thương thiêng liêng mang từ tính, có tính xây dựng và thuần khiết không. Chân sư DK mong muốn điều này cho nhóm đệ tử trực tiếp của Ngài, và chắc chắn Ngài cũng mong muốn điều ấy cho những nhóm như của chúng ta.
7. The message is clear: unless the energy of Divine Love is pouring through such groups they are not true representatives of the Spiritual Hierarchy and of the Planetary Logos Who stands behind and within Hierarchy.
7. Thông điệp rất rõ ràng: nếu năng lượng Tình Thương Thiêng Liêng không tuôn chảy qua những nhóm như thế, họ không phải là những đại diện chân chính của Thánh đoàn và của Hành Tinh Thượng đế, Đấng đứng sau và hiện diện bên trong Thánh đoàn.
8. Then, this potent statement:
8. Tiếp đó là lời khẳng định đầy uy lực này:
See to it, therefore, that your conformity to the requirement is met in the measure of your physical strength, bearing ever in mind that you are equal to more effort and to greater strain than ever before.
Vì vậy, hãy bảo đảm rằng các bạn đáp ứng yêu cầu theo mức sức mạnh thể chất của mình, luôn ghi nhớ rằng các bạn có khả năng nỗ lực nhiều hơn và chịu sức căng lớn hơn bao giờ hết.
He is demanding from us a total commitment according to the measure of our physical strength. He might well have included reference to our mental and emotional strength. A very great effort by Hierarchy is now in process. That effort is evoking an effort, similar in kind but not in intensity, from Hierarchys chelas. Basically, the Master is asking us to intensify our effort.
Ngài đang đòi hỏi chúng ta dấn thân trọn vẹn theo mức sức mạnh thể chất của mình. Hẳn Ngài cũng có thể đề cập đến sức mạnh trí tuệ và cảm xúc của chúng ta. Thánh đoàn hiện đang thực hiện một nỗ lực vô cùng lớn lao. Nỗ lực ấy đang gợi lên từ các đệ tử của Thánh đoàn một nỗ lực tương tự về tính chất, dù không cùng cường độ. Về căn bản, Chân sư đang yêu cầu chúng ta tăng cường nỗ lực.
9. For our encouragement, He tells us something uplifting about our capacity: we are stronger than ever before and can bear more strain than ever before. In short, we can do far more than we normally think we can, and should get about the business of doing it.
9. Để khích lệ chúng ta, Ngài nói một điều nâng đỡ tinh thần về khả năng của chúng ta: chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết và có thể chịu sức căng lớn hơn bao giờ hết. Nói ngắn gọn, chúng ta có thể làm được nhiều hơn hẳn mức mình thường nghĩ, và nên bắt tay vào thực hiện.
10. When we hear words like this, do we feel that the Master is addressing us? Do we take these injunctions to heart and are we ready and willing to act upon them? I hope this is the case, because the great hierarchical effort needs more committed workers than ever before functioning at the peak of their strength and efficiency, and in the fullest expression of love-wisdom possible for them.
10. Khi nghe những lời như thế, chúng ta có cảm thấy Chân sư đang nói với mình không? Chúng ta có khắc ghi những huấn thị này trong lòng và sẵn sàng, tự nguyện hành động theo đó không? Tôi hy vọng là có, vì nỗ lực lớn lao của Thánh đoàn cần nhiều người hoạt động tận tâm hơn bao giờ hết, vận dụng tối đa sức mạnh và hiệu quả của mình, đồng thời biểu lộ Bác Ái – Minh Triết trọn vẹn nhất trong khả năng của họ.
This experiment which I have instituted and to which you have voluntarily and willingly submitted yourselves is one undertaken for group purposes. The Hierarchy seeks to discover how sensitive groups are, as a whole, to subjective guidance and instruction, and how free the channels of communication are between the various individuals in the group and the Master, and between the various groups within the Ashram of a Master. A Master’s group of disciples, upon the inner side of life, forms an integrated organism, characterised by mutual life, love and interplay. The relationships in such a group are entirely on mental and astral levels and hence the limitations of the etheric force body and of the physical brain are not felt. Needless to say the fundamental relation is on soul levels. The fact that the etheric body and the physical brain lie outside these basic relations where the Ashram is concerned leads to greater facility in understanding and to reciprocal interplay.
Thử nghiệm mà Tôi đã khởi xướng và các bạn đã tự nguyện, sẵn lòng tham gia là một thử nghiệm được tiến hành vì những mục đích nhóm. Thánh đoàn tìm cách khám phá xem các nhóm, xét như một toàn thể, nhạy cảm đến đâu đối với sự hướng dẫn và huấn thị chủ quan, và các kênh giao tiếp thông suốt đến đâu giữa những cá nhân khác nhau trong nhóm với Chân sư, cũng như giữa những nhóm khác nhau trong ashram của một Chân sư. Ở phía bên trong của sự sống, nhóm đệ tử của một Chân sư tạo thành một cơ thể sống tích hợp, mang đặc trưng của sự sống chung, tình thương và sự tương tác. Các mối quan hệ trong một nhóm như thế hoàn toàn diễn ra trên các cấp độ trí tuệ và cảm dục, nên họ không cảm thấy những giới hạn của thể mãnh lực dĩ thái và bộ não hồng trần. Không cần nói cũng rõ, mối quan hệ nền tảng nằm trên các cấp độ linh hồn. Đối với ashram, việc thể dĩ thái và bộ não hồng trần nằm ngoài các mối quan hệ căn bản này giúp việc thấu hiểu trở nên dễ dàng hơn và tạo thuận lợi cho sự tương tác qua lại.
1. DK re-enunciates the group theme. Reminding all that they knew what they were getting into, He reaffirms the group nature of the experiment, placing the whole experiment in relation to a project undertaken by Hierarchy as a whole.
1. Chân sư DK nhắc lại chủ đề nhóm. Nhắc mọi người rằng họ biết mình đang tham gia điều gì, Ngài tái khẳng định bản chất nhóm của thử nghiệm, đặt toàn bộ thử nghiệm trong mối liên hệ với một dự án do toàn thể Thánh đoàn thực hiện.
2. Hierarchy wants to get through and needs sensitive groups (not just sensitive individuals) in order to be successful.
2. Thánh đoàn muốn truyền đạt thông suốt và cần những nhóm nhạy cảm (không chỉ những cá nhân nhạy cảm) để thành công.
3. The Master seeks closer communication with sensitive individuals within these groups. As well, there is to be increasing sensitivity and free communication between the individuals which such groups and between the various groups related to the Master.
3. Chân sư tìm kiếm sự giao tiếp gần gũi hơn với những cá nhân nhạy cảm trong các nhóm này. Đồng thời, cần ngày càng có sự nhạy cảm và giao tiếp thông suốt giữa các cá nhân trong những nhóm ấy, cũng như giữa những nhóm khác nhau có liên hệ với Chân sư.
4. Hierarchy is ruled by all planets and all signs. In this case, the Hierarchy is involved in an Aquarian/Uranian/Jupiterian experiment, and groups are being tested out for their fitness.
4. Tất cả các hành tinh và các dấu hiệu hoàng đạo đều cai quản Thánh đoàn. Trong trường hợp này, Thánh đoàn đang thực hiện một thử nghiệm mang tính Bảo Bình/Sao Thiên Vương/Sao Mộc, và các nhóm đang được thử nghiệm về mức độ thích hợp của họ.
5. DK describes the nature of the interplay existing within inner groups. Life and love characterize this interplay freed from the limits of the etheric force body and physical body. The main relationship in such groups are mental/astral, and even more fundamentally, of the soul.
5. Chân sư DK mô tả bản chất của sự tương tác hiện hữu trong các nhóm bên trong. Sự sống và tình thương là đặc trưng của sự tương tác này, vốn thoát khỏi những giới hạn của thể mãnh lực dĩ thái và thể xác. Các mối quan hệ chính trong những nhóm như thế thuộc về trí tuệ/cảm dục, và ở mức căn bản hơn nữa, thuộc về linh hồn.
6. The outer groups are not as free and work under the burden of the etheric and physical bodies.
6. Các nhóm bên ngoài không được tự do như thế và hoạt động dưới gánh nặng của thể dĩ thái và thể xác.
7. Hence the difficulty is preparing outer groups to mirror, as much as possible, the kind of vital interplay which occurs between members of the inner group when such members are focussed on the subtle planes (many of them, out of the body).
7. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc chuẩn bị các nhóm bên ngoài để phản chiếu, trong mức độ tối đa có thể, kiểu tương tác đầy sức sống diễn ra giữa các thành viên của nhóm bên trong khi họ tập trung trên các cõi vi tế (nhiều người trong số họ ở ngoài thân thể).
It is wise to remember, however, that the astral potency is far more strongly felt on the physical plane than elsewhere and hence the major emphasis laid upon emotional-desire control in all treatises on discipleship or on preparation for that state. It is not easy for the average beginner on the Path of Discipleship to grasp this or to see the necessity for the rules and suggestions made. For some people to conform to rule and discipline is not easy unless it is entirely self-initiated. The suggestions which I make to you, my brothers, are only suggestions but it is surely the part of wisdom to follow them as long as you have voluntarily put yourselves under my tuition. Your working under me has been entirely of your own free will and choice. You are subjected to no compulsion. Other types of disciples evince willingness to follow instructions but their real difficulty consists in bringing the life into conformity with the desired rhythms. The narrow path, which all disciples have to tread, requires obedience to the ancient rules for disciples. This is given willingly and with eyes open, though no rigid adherence to such rules is ever expected. The disciple grows through intelligently adapting his life to these requirements as far as is reasonably possible and not by adapting the requirements [22] to his life. Flexibility within certain limits is always needed but that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning.
Tuy nhiên, nên nhớ rằng uy lực cảm dục được cảm nhận trên cõi hồng trần mạnh hơn nhiều so với ở nơi khác; do đó, mọi khảo luận về địa vị đệ tử hoặc về việc chuẩn bị cho trạng thái ấy đều đặc biệt nhấn mạnh việc kiểm soát cảm xúc–dục vọng. Người mới bước vào Con Đường Đệ Tử thông thường không dễ nắm bắt điều này hoặc thấy được sự cần thiết của các quy luật và những đề nghị được đưa ra. Đối với một số người, việc tuân theo quy luật và kỷ luật không dễ dàng, trừ khi hoàn toàn do chính họ khởi xướng. Các huynh đệ của Tôi, những đề nghị Tôi đưa ra cho các bạn chỉ là những đề nghị, nhưng chắc chắn làm theo chúng là điều khôn ngoan, chừng nào các bạn đã tự nguyện đặt mình dưới sự chỉ dạy của Tôi. Việc các bạn hoạt động dưới sự hướng dẫn của Tôi hoàn toàn xuất phát từ ý chí tự do và sự lựa chọn của chính các bạn. Các bạn không chịu bất kỳ sự ép buộc nào. Những kiểu đệ tử khác tỏ ra sẵn lòng làm theo huấn thị, nhưng khó khăn thực sự của họ nằm ở việc đưa đời sống vào sự phù hợp với những nhịp điệu mong muốn. Con đường hẹp mà mọi đệ tử phải bước đi đòi hỏi sự tuân thủ các quy luật cổ xưa dành cho đệ tử. Họ tự nguyện tuân thủ với sự hiểu biết sáng suốt, dù không bao giờ có đòi hỏi phải bám chặt một cách cứng nhắc vào những quy luật ấy. Đệ tử trưởng thành bằng cách điều chỉnh đời sống của mình một cách thông minh cho phù hợp với những yêu cầu này trong chừng mực hợp lý có thể, chứ không phải bằng cách điều chỉnh các yêu cầu [22] cho phù hợp với đời sống của mình. Luôn cần sự linh hoạt trong những giới hạn nhất định, nhưng sự linh hoạt ấy không được xuất phát từ bất kỳ tính trì trệ nào của phàm ngã hay sự chất vấn nào của thể trí.
1. DK calls our attention to the strength of the astral potency. The members of the outer groups feel it far more strongly than those in the inner groups. The astral potency can act as a deterrent to group love and right group functioning, hence the need for its control a need not easily appreciated, especially by beginners. Are we beginners? He often seems to say so.
1. Chân sư DK lưu ý chúng ta về sức mạnh của uy lực cảm dục. Các thành viên của những nhóm bên ngoài cảm nhận uy lực ấy mạnh hơn nhiều so với những người trong các nhóm bên trong. Uy lực cảm dục có thể cản trở tình thương nhóm và sự hoạt động đúng đắn của nhóm, vì thế cần phải kiểm soát nó—một nhu cầu không dễ nhận thức đầy đủ, nhất là đối với người mới bắt đầu. Có phải chúng ta là những người mới bắt đầu không? Ngài thường có vẻ nói như vậy.
2. DK refers to people who do not wish to conform to rule and discipline unless it is self-initiated. These would be, primarily, first ray types, or those in whom the Sun (as an astrological indicator) is very strong, or those for whom Leo or Aries are prominent.
2. Chân sư DK đề cập đến những người không muốn tuân theo quy luật và kỷ luật trừ khi đó là điều do chính họ khởi xướng. Chủ yếu, đây là những người thuộc cung một, hoặc những người có Mặt Trời (xét như một chỉ báo chiêm tinh) rất mạnh, hoặc những người có Sư Tử hay Bạch Dương nổi trội.
3. But DK asks us to think of the wise course of action. Is it not wise for those who have willingly placed themselves under the Masters tuition, to attempt to conform to His suggestions? The answer, of course, is obvious, but there will always be those who will rebel in various ways even against the Master such is the strength of the self-reinforcing personality.
3. Nhưng Chân sư DK yêu cầu chúng ta suy nghĩ về cách hành động khôn ngoan. Đối với những người đã sẵn lòng đặt mình dưới sự chỉ dạy của Chân sư, cố gắng làm theo những đề nghị của Ngài chẳng phải là điều khôn ngoan sao? Dĩ nhiên, câu trả lời rất rõ ràng, nhưng sẽ luôn có những người chống đối theo nhiều cách, ngay cả với Chân sư—sức mạnh của phàm ngã tự củng cố chính nó lớn đến thế.
4. DK is a second ray Master and so He does not use force as a first ray Master might. For instance in Leaves of Moryas Garden, the Master says:
4. Chân sư DK là một Chân sư cung hai, nên Ngài không dùng sức ép như một Chân sư cung một có thể làm. Chẳng hạn, trong Những Chiếc Lá trong Vườn Chân sư Morya, Chân sư nói:
When I say act, exhaust all the resources of action.
Khi Tôi nói hãy hành động, hãy vận dụng đến cùng mọi nguồn lực của hành động.
When I say silence, seek all the means of silence. (LMG 375)
Khi Tôi nói hãy im lặng, hãy tìm mọi phương cách để im lặng. (LMG 375)
A command is given, a directive, and the Master expects compliance. This is not the second ray way.
Một mệnh lệnh, một chỉ thị được đưa ra, và Chân sư mong đợi sự tuân thủ. Đây không phải là cách của cung hai.
5. Nevertheless, with silent will and deep understanding, DK does express the expectation that His students will be sensible enough to conform to His suggestions; it would certainly be in their best interests and is necessary for the work within any Ashram. The Masters wishes must be obeyed.
5. Tuy nhiên, với ý chí thầm lặng và sự thấu hiểu sâu sắc, Chân sư DK quả có bày tỏ sự mong đợi rằng các đạo sinh của Ngài sẽ đủ sáng suốt để làm theo những đề nghị của Ngài; điều đó chắc chắn mang lại lợi ích tốt nhất cho họ và là điều cần thiết cho công việc trong bất kỳ ashram nào. Phải tuân theo ý nguyện của Chân sư.
6. The first type of disciple the kind who seeks to impose his own discipline, not easily accepting discipline from others, will often have a strong first ray. DK now speaks of another type. This other type would gladly follow instructions, but cannot seem to bring the life into conformity with the desired rhythms. This type would have more of the soft-line rays in his/her makeup.
6. Kiểu đệ tử thứ nhất—kiểu người tìm cách áp đặt kỷ luật của riêng mình, không dễ chấp nhận kỷ luật từ người khác—thường có cung một mạnh. Giờ đây, Chân sư DK nói đến một kiểu khác. Kiểu người này sẵn lòng làm theo huấn thị, nhưng dường như không thể đưa đời sống vào sự phù hợp với những nhịp điệu mong muốn. Trong cấu tạo của kiểu người này, các cung thuộc tuyến mềm chiếm phần nhiều hơn.
7. Disciples are treading a narrow path we are told; after all, the Path of Discipleship is ruled, in part, by Saturn and Saturn is strict. On this Path obedience to the ancient rules for disciples is required.
7. Chúng ta được cho biết rằng các đệ tử đang bước trên một con đường hẹp; xét cho cùng, Con Đường Đệ Tử chịu sự cai quản một phần của Sao Thổ, mà Sao Thổ thì nghiêm khắc. Trên Đường Đạo này, cần tuân thủ các quy luật cổ xưa dành cho đệ tử.
8. We live in very Uranian times. We are on the brink of what might be understood as an Age of Freedom. Aquarius and Uranus, at length, confer this freedom. Perhaps the concept of obedience seems old fashioned, a relic of the Piscean Age which we are now rapidly leaving behind.
8. Chúng ta đang sống trong thời đại chịu ảnh hưởng rất mạnh của Sao Thiên Vương. Chúng ta đang ở ngưỡng cửa của điều có thể được hiểu là một Kỷ Nguyên Tự Do. Cuối cùng, Bảo Bình và Sao Thiên Vương ban cho chúng ta sự tự do này. Có lẽ khái niệm tuân phục có vẻ lỗi thời, một tàn tích của Kỷ Nguyên Song Ngư mà giờ đây chúng ta đang nhanh chóng bỏ lại phía sau.
9. Should this be our attitude we would be mistaken. The requirement for obedience becomes ever more strict, the higher we ascend. Can one imagine disobedience to the Lord of the World? Fortunately, an increasing identification with the higher Will, makes the necessary obedience almost second nature, but even the Christ had to demonstrate His acquiescence in the Garden of Gethsemene.
9. Nếu có thái độ ấy, chúng ta sẽ lầm. Càng tiến lên cao, yêu cầu tuân phục càng trở nên nghiêm ngặt. Liệu có thể hình dung việc bất tuân Đức Chúa Tể Thế Giới chăng? May thay, sự đồng hoá ngày càng sâu sắc với Ý Chí cao cả khiến sự tuân phục cần thiết gần như trở thành bản chất thứ hai, nhưng ngay cả Đức Christ cũng phải thể hiện sự thuận phục của Ngài trong Vườn Gethsemene.
10. The obedience expected is not rigid; some flexibility there must be, and it is allowed. But concerning this flexibility an important statement is made:
10. Sự tuân phục được mong đợi không mang tính cứng nhắc; cần phải có một mức độ linh hoạt, và điều đó được cho phép. Nhưng về sự linh hoạt này, có một phát biểu quan trọng:
The disciple grows through intelligently adapting his life to these requirements as far as is reasonably possible and not by adapting the requirements to his life. Flexibility within certain limits is always needed but that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning.
Người đệ tử trưởng thành qua việc điều chỉnh đời sống của mình một cách thông minh theo những yêu cầu này trong phạm vi hợp lý có thể thực hiện, chứ không phải bằng cách điều chỉnh các yêu cầu cho phù hợp với đời sống của mình. Sự linh hoạt trong những giới hạn nhất định luôn cần thiết, nhưng sự linh hoạt ấy không được xuất phát từ bất kỳ tính trì trệ nào của phàm ngã hay sự chất vấn nào của thể trí.
11. The principles are to be held firm. The disciple is to have sufficient intuition to recognize their value. There is an attitude of mental questioning which, really, is nothing but a ploy to avoid commitment. As well, personality inertia sometimes rules and encourages us to question the value of rules to which we know we should conform. The personality must not be in control, demanding flexibility in the fulfillment of the ancient rules in order to preserve its own comfort. Let us examine ourselves closely to see if we ever fall into this trap.
11. Các nguyên khí phải được giữ vững. Người đệ tử cần có đủ trực giác để nhận ra giá trị của chúng. Có một thái độ chất vấn của thể trí mà thực ra chỉ là một thủ thuật nhằm né tránh sự cam kết. Đồng thời, tính trì trệ của phàm ngã đôi khi chi phối và thúc đẩy chúng ta nghi ngờ giá trị của những quy luật mà chúng ta biết mình cần tuân theo. Không được để phàm ngã nắm quyền kiểm soát, đòi hỏi sự linh hoạt trong việc thực hiện các quy luật cổ xưa nhằm bảo toàn sự thoải mái của chính nó. Chúng ta hãy tự xem xét kỹ lưỡng để biết liệu mình có bao giờ rơi vào cái bẫy này hay không.
12. The Hierarchy is an adaptable body of Servers; the Divine Plan itself is an adaptation of Divine Purpose. Hierarchy realizes the necessity of right adaptation. What is not allowed, however, is the attempt to adapt the requirements of the ancient rules to the comforts and expediencies of one’s personal life.
12. Thánh đoàn là một tập thể những Người Phụng Sự có khả năng thích ứng; chính Thiên Cơ là một sự điều chỉnh của Thiên Ý. Thánh đoàn nhận ra sự cần thiết của việc thích ứng đúng đắn. Tuy nhiên, điều không được phép là cố điều chỉnh những yêu cầu của các quy luật cổ xưa theo sự thoải mái và tiện lợi trong đời sống cá nhân của mình.
13. One example of this arises when students of the Teaching disagree with what the books say, assuming it must be AAB who wrote the sections with which they disagree. In fact they have some vested interest in the world which they would find uncomfortable to relinquish. They refuse to obey but escape from the implications of this refusal by insisting that the rules proposed are not real rules because they were not written down by the Tibetan (but, rather, by AAB).
13. Một ví dụ về điều này xuất hiện khi các đạo sinh nghiên cứu Giáo Huấn không đồng ý với những điều sách nói, rồi cho rằng hẳn Bà AAB là người đã viết những phần mà họ không đồng ý. Thực ra, họ có những quyền lợi riêng trong thế gian mà họ sẽ cảm thấy khó chịu nếu phải từ bỏ. Họ từ chối tuân phục nhưng né tránh những hệ quả của sự từ chối này bằng cách khăng khăng cho rằng các quy luật được đề ra không phải là những quy luật thật sự vì người ghi lại chúng không phải là Chân sư Tây Tạng (mà là Bà AAB).
14. At length one learns to see through this kind of self-deception and finally decides simply to obey no matter what might be the cost to the personality. None of us shall escape this necessity.
14. Cuối cùng, người ta học cách nhìn thấu kiểu tự lừa dối này và rốt cuộc quyết định đơn giản là tuân phục bất kể phàm ngã có thể phải trả giá ra sao. Không ai trong chúng ta tránh được sự cần thiết này.
15. A pledged disciple is already on the Path of No Return and an accepted disciple is expected to be occultly obedient.
15. Một đệ tử đã lập nguyện thì đã bước trên Con Đường Không Trở Lại, và một đệ tử được chấp nhận cần phải tuân phục theo nghĩa huyền bí.
A change in this relationship between disciples is now being made. An attempt is being set on foot to see if a group activity and interplay can now be set up upon the physical plane, involving consequently the use of the etheric body and the brain. The difficulties confronting you are, therefore, great and I am anxious that you should realise this. Will you realise, for instance, that any differences of opinion which may occur in the relations of this group of disciples will be caused by astral-brain reactions and, therefore, must not be considered of any importance whatsoever? They must be immediately eliminated and wiped from the slate of the mind and of the memory and classed as entirely personality limitations and unworthy of hindering group integrity.
Hiện nay, mối quan hệ này giữa các đệ tử đang có một sự thay đổi. Một nỗ lực đang được khởi xướng để xem liệu giờ đây có thể thiết lập hoạt động và sự tương tác nhóm trên cõi hồng trần hay không, do đó kéo theo việc sử dụng thể dĩ thái và bộ não. Vì vậy, những khó khăn mà các bạn đang đối diện là rất lớn, và Tôi tha thiết mong các bạn nhận ra điều này. Chẳng hạn, liệu các bạn có nhận ra rằng bất kỳ khác biệt ý kiến nào có thể nảy sinh trong các mối quan hệ của nhóm đệ tử này đều do những phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não gây ra, và do đó hoàn toàn không nên coi chúng là quan trọng chút nào? Phải lập tức loại bỏ chúng, xoá sạch chúng khỏi thể trí và ký ức, đồng thời xem chúng hoàn toàn là những giới hạn của phàm ngã, không đáng để cản trở sự toàn vẹn của nhóm.
1. The inner groups within the Masters Ashrams, as stated, have an easier time communicating livingly and lovingly than will outer groups, encumbered as they are by the etheric and physical vehicles.
1. Như đã nói, các nhóm bên trong các ashram của các Chân sư giao tiếp với nhau một cách sống động và đầy tình thương dễ dàng hơn các nhóm bên ngoài, vốn chịu sự vướng víu của các hiện thể dĩ thái và hồng trần.
2. But as part of the process of externalizing the Hierarchy, the attempt is being made to form outer groups representing the Ashram.
2. Nhưng như một phần của tiến trình ngoại hiện Thánh đoàn, một nỗ lực đang được thực hiện nhằm thành lập các nhóm bên ngoài đại diện cho ashram.
3. DK realizes the difficulty of this process but most chelas involved in these new groups do not.
3. Chân sư DK nhận ra sự khó khăn của tiến trình này, nhưng phần lớn các đệ tử tham gia những nhóm mới này thì không.
4. Many groups are broken apart by differences of opinion. It is fascinating to realize that these differences are attributable to astral-brain reactions and, really, are of no moment. We have all been in groups involved, in some way or another, with conflict. The fights have been, perhaps, over relatively petty issues. Probably all of them have been based upon astral-brain reactions.
4. Nhiều nhóm tan rã vì những khác biệt ý kiến. Thật thú vị khi nhận ra rằng những khác biệt này bắt nguồn từ các phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não, và thực ra chẳng có gì quan trọng. Tất cả chúng ta đều từng ở trong những nhóm có xung đột theo cách này hay cách khác. Có lẽ những cuộc tranh cãi ấy chỉ xoay quanh các vấn đề tương đối nhỏ nhặt. Có lẽ tất cả đều bắt nguồn từ những phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não.
5. DK enjoins us to set all such things aside. He is very assertive in His statement:
5. Chân sư DK yêu cầu chúng ta gạt tất cả những điều như thế sang một bên. Ngài phát biểu rất dứt khoát:
They must be immediately eliminated and wiped from the slate of the mind and of the memory and classed as entirely personality limitations and unworthy of hindering group integrity.
Phải lập tức loại bỏ chúng, xoá sạch chúng khỏi thể trí và ký ức, đồng thời xem chúng hoàn toàn là những giới hạn của phàm ngã, không đáng để cản trở sự toàn vẹn của nhóm.
6. This is certainly the Law of Repulse in action. He asks us to adopt the attitude of the soul towards personality limitations. He asks for swift detachment from unworthy patterns. He does not temporize; He does not delay.
6. Đây chắc chắn là Định luật Đẩy Lùi đang tác động. Ngài yêu cầu chúng ta có thái độ của linh hồn đối với những giới hạn của phàm ngã. Ngài yêu cầu nhanh chóng tách rời khỏi những mô hình không xứng đáng. Ngài không chần chừ; Ngài không trì hoãn.
7. The group integrity is so important that nothing must be allowed to threaten it. Again, we are called to examine ourselves.
7. Sự toàn vẹn của nhóm quan trọng đến mức không được để bất cứ điều gì đe doạ nó. Một lần nữa, chúng ta được kêu gọi tự xem xét mình.
This experiment, being attempted by a group within my Ashram, is one in mental relations and in soul contact, with the emphasis and attention placed basically there. The astral- physical brain reactions should be regarded as non-existent and as illusion and should be allowed to lapse below the threshold of the group consciousness there to die for lack of attention. This type of group work is a new venture and unless something definitely new emerges as a result of this experiment, the time and effort are not warranted.
Cuộc thử nghiệm này, do một nhóm trong ashram của Tôi đang thực hiện, là một thử nghiệm về các mối quan hệ trí tuệ và sự tiếp xúc linh hồn, với trọng tâm và sự chú ý về cơ bản đặt vào đó. Cần xem những phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não hồng trần là không tồn tại, là ảo tưởng, và để chúng chìm xuống dưới ngưỡng tâm thức nhóm, rồi tàn lụi ở đó vì không được chú ý. Loại công việc nhóm này là một bước thử nghiệm mới, và nếu cuộc thử nghiệm không mang lại điều gì rõ ràng mới mẻ, thì thời gian và công sức bỏ ra sẽ không xứng đáng.
1. DK tells us how we are to relate to each other. We are still, reverberatorily, part of this experiment.
1. Chân sư DK cho chúng ta biết phải quan hệ với nhau như thế nào. Chúng ta vẫn là một phần của cuộc thử nghiệm này qua những dư âm của nó.
2. Our relations to each other, primarily through the Internet, facilitates this kind of mental/soul contact. At least we are spared the usual personality distractions.
2. Các mối quan hệ giữa chúng ta, chủ yếu qua Internet, tạo thuận lợi cho kiểu tiếp xúc trí tuệ/linh hồn này. Ít nhất, chúng ta tránh được những điều gây xao lãng thông thường của phàm ngã.
3. There are not many astral-brain reactions with which we have to deal. But in our more local group relations we probably have significant opportunity to regard astral-brain reactions as non-existent and, then, allow them to die of attrition.
3. Không có nhiều phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não mà chúng ta phải xử lý. Nhưng trong các mối quan hệ nhóm tại địa phương, có lẽ chúng ta có nhiều cơ hội để xem những phản ứng giữa thể cảm dục và bộ não là không tồn tại, rồi để chúng dần tiêu vong vì hao mòn.
4. One of the ways we do this is to keep focussed on purpose. There are many habitual distractions and they compete for attention which should be placed on other, more worthy things. If the fundamentals are kept constantly before our eyes, we will not stoop to involvement with patterns of the past which need to be transcended.
4. Một trong những cách chúng ta thực hiện điều này là giữ sự tập trung vào mục đích. Có nhiều điều gây xao lãng đã thành thói quen, và chúng tranh giành sự chú ý lẽ ra phải dành cho những điều khác xứng đáng hơn. Nếu luôn giữ những điều căn bản trước mắt, chúng ta sẽ không hạ mình vướng vào những mô hình của quá khứ cần phải vượt qua.
5. Experiments are about the new. DK was surely hoping that something new would emerge from His efforts with His outer chelas. His work was part of advancing the Plan. It was not about teaching a few people for the sake of their individual improvement.
5. Các cuộc thử nghiệm hướng đến cái mới. Chắc chắn Chân sư DK đã hy vọng rằng điều gì đó mới mẻ sẽ xuất hiện từ những nỗ lực của Ngài với các đệ tử bên ngoài. Công việc của Ngài là một phần trong việc thúc đẩy Thiên Cơ tiến lên. Công việc ấy không nhằm dạy dỗ một vài người chỉ vì sự tiến bộ cá nhân của họ.
You must not imagine that the particular line of work on which you may be engaged is the factor of main interest. It is not primarily the unfoldment of the intuition, or of the power to heal, or of telepathic efficiency which is of importance. That which counts with the Hierarchy as the Ashrams function is the establishing subjectively of such a potent group interplay and group relation that an emerging world unity can be seen in embryo. A joint power to be telepathic or a group capacity to intuit truth is of value and somewhat novel. It is the functioning of groups who have the ability to work as a unity, whose ideals are one, whose personalities are merged into one forward swing, whose rhythm is one and whose unity is so firmly established that naught can produce in the group the purely human characteristics of separation, of personal isolation and [23] selfish seeking, that is new.
Các bạn không được tưởng rằng lĩnh vực công việc cụ thể mà mình có thể đang tham gia là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Điều quan trọng trước hết không phải là sự khai mở trực giác, quyền năng chữa lành hay khả năng viễn cảm hữu hiệu. Đối với Thánh đoàn, khi các ashram hoạt động, điều có ý nghĩa là thiết lập trên phương diện chủ quan sự tương tác và mối quan hệ nhóm mạnh mẽ đến mức có thể thấy trong đó mầm mống của một sự hợp nhất thế giới đang hình thành. Quyền năng viễn cảm chung hay khả năng của nhóm trong việc trực nhận chân lý đều có giá trị và phần nào mới lạ. Điều mới mẻ chính là sự hoạt động của những nhóm có khả năng làm việc như một thể thống nhất, có chung lý tưởng, có các phàm ngã hoà vào một đà tiến chung, có chung nhịp điệu và có sự hợp nhất vững chắc đến mức không gì có thể làm nảy sinh trong nhóm những đặc tính thuần tuý con người như chia rẽ, cô lập cá nhân và [23] mưu cầu ích kỷ.
1. DK emphasizes that, as desirable as new unfoldments may be, they are not the main factor of the Hierarchys interest where these new modes of training are concerned.
1. Chân sư DK nhấn mạnh rằng, dù những sự khai mở mới có đáng mong muốn đến đâu, chúng cũng không phải là yếu tố chính mà Thánh đoàn quan tâm trong những phương thức huấn luyện mới này.
2. What is desired is a model (in embryo) of an emerging world unity If unity could be created within a small group or groups, it could be created in a much larger, global context.
2. Điều được mong muốn là một mô hình ở dạng phôi thai của sự hợp nhất thế giới đang hình thành. Nếu có thể tạo ra sự hợp nhất trong một nhóm nhỏ hoặc một số nhóm nhỏ, thì cũng có thể tạo ra điều đó trong một bối cảnh toàn cầu rộng lớn hơn nhiều.
3. His remarks are completely decentralizing; His chelas are not in training for their own benefit at all; rather they are seeking to help a far more important group objective emerge.
3. Những lời nhận xét của Ngài hoàn toàn hướng đến việc phi tập trung vào bản thân; các đệ tử của Ngài tuyệt nhiên không được huấn luyện vì lợi ích riêng của họ; đúng hơn, họ đang tìm cách giúp một mục tiêu nhóm quan trọng hơn nhiều trở thành hiện thực.
4. The really new as DK and the Hierarchy conceive it has little to do with the demonstration of certain higher powers. Such a demonstration is here called novel.
4. Điều thật sự mới mẻ theo quan niệm của Chân sư DK và Thánh đoàn ít liên quan đến việc thể hiện một số quyền năng cao siêu. Ở đây, sự thể hiện như thế được gọi là mới lạ.
5. It is true group functioning which is really new, and for which the Hierarchy seeks. Such qualities as group unity, united group idealism, the merging of all personalities into progressive action, a united rhythm, and the avoidance of the usual negative qualities of separation, personal isolation and selfish seeking.
5. Chính sự hoạt động nhóm đích thực mới thật sự mới mẻ và là điều Thánh đoàn tìm kiếm. Những phẩm tính như sự hợp nhất nhóm, lý tưởng chung thống nhất của nhóm, sự hoà nhập mọi phàm ngã vào hành động tiến bộ, một nhịp điệu thống nhất và việc tránh những phẩm tính tiêu cực thông thường như chia rẽ, cô lập cá nhân và mưu cầu ích kỷ.