← Commentary on DINA I song ngữ

6. If DK has to spend so much time repeating Himself on these points, the resistance against what He is trying to cultivate must be very firmly entrenched in human nature.

Trích nội dung chương

6. If DK has to spend so much time repeating Himself on these points, the resistance against what He is trying to cultivate must be very firmly entrenched in human nature. 6. Nếu Chân sư DK phải dành nhiều thời gian đến thế để nhắc đi nhắc lại những điểm này, thì sự chống đối những gì Ngài đang cố vun bồi hẳn đã ăn sâu bám rễ trong bản chất con người.


6. If DK has to spend so much time repeating Himself on these points, the resistance against what He is trying to cultivate must be very firmly entrenched in human nature.

6. Nếu Chân sư DK phải dành nhiều thời gian đến thế để nhắc đi nhắc lại những điểm này, thì sự chống đối những gì Ngài đang cố vun bồi hẳn đã ăn sâu bám rễ trong bản chất con người.

Unselfish people are not rare. Unselfish groups are very rare. Pure detached devotion in a human being is not rare but to find it in a group is rare indeed. The submergence of personal interests in the good of the family or in that of another person is often to be found, for the beauty of the human heart has manifested itself down the ages. To find such an attitude in a group of people and to see such a point of view maintained with an unbroken rhythm and demonstrating spontaneously and naturally this will be the glory of the New Age.

Những người không vị kỷ không hiếm. Những nhóm không vị kỷ rất hiếm. Lòng tận hiến thanh khiết, không vướng mắc ở một con người không phải là hiếm, nhưng tìm thấy điều đó trong một nhóm thì quả thật hiếm. Người ta thường thấy việc gác lợi ích cá nhân sang một bên vì điều tốt đẹp cho gia đình hoặc cho một người khác, bởi vẻ đẹp của trái tim con người đã biểu lộ qua bao thời đại. Tìm thấy một thái độ như thế trong một nhóm người, thấy quan điểm ấy được duy trì với một nhịp điệu không gián đoạn và biểu hiện một cách tự phát, tự nhiên—đó sẽ là vinh quang của Kỷ Nguyên Mới.

1. Another noteworthy statement is made: Unselfish people are not rare. Unselfish groups are very rare. DK wants to create something which, thus far in human evolution, is a very rare occurrence the unselfish group.

1. Một phát biểu đáng chú ý khác được đưa ra: Những người không vị kỷ không hiếm. Những nhóm không vị kỷ rất hiếm. Chân sư DK muốn tạo ra một điều mà cho đến nay vẫn rất hiếm gặp trong tiến hoá nhân loại: nhóm không vị kỷ.

2. As we are moving from the age of the individual into the age of the group, the virtues of the individual must be transferred to the larger dimension of group functioning.

2. Khi chúng ta đang chuyển từ thời đại cá nhân sang thời đại nhóm, các đức tính của cá nhân phải được chuyển dịch sang phạm vi rộng lớn hơn của hoạt động nhóm.

3. This is really a very great change of emphasis. We have had many experiments during the twentieth century which have exalted the group at the complete expense of the participating individuals. Sovietism and Fascism have been two notable examples of abuse in this regard. Both of these are examples of totalitarianism a state-absolutism which treats the individual as if he/she were of no consequence.

3. Đây quả thật là một thay đổi trọng tâm rất lớn. Trong thế kỷ hai mươi, chúng ta đã có nhiều cuộc thử nghiệm tôn nhóm lên cao bằng cách hy sinh hoàn toàn những cá nhân tham gia. Chủ nghĩa Xô viết và chủ nghĩa phát xít là hai ví dụ nổi bật về sự lạm dụng trong phương diện này. Cả hai đều là những ví dụ của chủ nghĩa toàn trị—một hình thức tuyệt đối hoá nhà nước, đối xử với cá nhân như thể họ chẳng có ý nghĩa gì.

4. Such abuses are found whenever there is a transition towards a new form of social patterning. The abuses, however, guarantee that a truer model will emerge.

4. Những sự lạm dụng như thế xuất hiện bất cứ khi nào có sự chuyển tiếp sang một hình thức tổ chức xã hội mới. Tuy nhiên, những sự lạm dụng ấy bảo đảm rằng một mô hình chân thực hơn sẽ xuất hiện.

5. DK knows that a group can achieve the desirable positive attitudes and behavior now and then, but He is seeking that such a group point of view will be maintained with an unbroken rhythm, demonstrating spontaneously and naturally. We can see that in the eyes of Master DK, His attempt to train these groups of disciples was no ordinary undertaking. Rather it was intended as a seed which, germinating, could contribute to the glory of the New Age.

5. Chân sư DK biết rằng thỉnh thoảng một nhóm có thể đạt được những thái độ và hành vi tích cực đáng mong muốn, nhưng Ngài muốn quan điểm nhóm như thế được duy trì với một nhịp điệu không gián đoạn, biểu hiện một cách tự phát và tự nhiên. Chúng ta có thể thấy rằng trong mắt Chân sư DK, nỗ lực huấn luyện những nhóm đệ tử này của Ngài không phải là một công việc thông thường. Đúng hơn, Ngài dự định đó là một hạt giống mà khi nảy mầm có thể góp phần vào vinh quang của Kỷ Nguyên Mới.

6. So often we human beings think in individualistic terms, and might be quite happy if some special teaching came to us rather in advance of the rest of humanity. Such thoughts, however, though human enough, are completely unworthy when compared the purpose behind Master DKs intended enterprise. We have a long way to go before we can think and envision as a Master does.

6. Con người chúng ta rất thường suy nghĩ theo quan điểm cá nhân chủ nghĩa, và có thể khá vui mừng nếu một giáo huấn đặc biệt nào đó đến với mình sớm hơn phần còn lại của nhân loại. Tuy nhiên, những ý nghĩ như thế, dù rất đỗi con người, vẫn hoàn toàn không xứng đáng khi so với mục đích đằng sau công trình mà Chân sư DK dự định thực hiện. Chúng ta còn một chặng đường dài trước khi có thể suy nghĩ và hình dung như một Chân sư.

To see the link of pure love and of soul relation, realised and utilised in group form and work is indeed new and the attainment of this is the ideal which I set before this group of my disciples. If this group measures up to the vision as it exists in my mind, there will be established upon the physical plane focal points of specialised force through which the Hierarchy can work with greater surety than heretofore. There will (through this and analogous groups) be set in motion on earth a network of spiritual energies which will facilitate the regeneration of the world. The influence of these groups when permanently established and potently working will have a wider objective than just the elevation of humanity.

Thấy mối dây liên kết của tình thương thanh khiết và mối quan hệ linh hồn được nhận biết và vận dụng trong hình thức cùng công việc nhóm quả thật là điều mới mẻ, và việc đạt được điều này là lý tưởng mà Tôi đặt ra trước nhóm đệ tử này của Tôi. Nếu nhóm này đáp ứng được tầm nhìn như nó hiện hữu trong thể trí Tôi, thì trên cõi hồng trần sẽ hình thành những tiêu điểm của mãnh lực chuyên biệt, qua đó Thánh đoàn có thể làm việc với sự chắc chắn lớn hơn trước đây. Qua nhóm này và những nhóm tương tự, một mạng lưới năng lượng tinh thần sẽ được đưa vào hoạt động trên Trái Đất, tạo thuận lợi cho sự tái sinh của thế giới. Khi những nhóm này được thiết lập bền vững và hoạt động mạnh mẽ, ảnh hưởng của chúng sẽ hướng đến một mục tiêu rộng lớn hơn việc chỉ nâng cao nhân loại.

1. DK continues presenting the requirements for doing something really new in group formation.

1. Chân sư DK tiếp tục trình bày những yêu cầu để thực hiện điều gì đó thật sự mới mẻ trong việc hình thành nhóm.

2. The Master sets the link of pure love and soul relation, realised and utilised in group form and work as an ideal before His group. The successful achievement of this objective would have led directly into the Seed Group work. Physical plane focal points of specialized force could have been established, and through these the Hierarchy could have worked.

2. Chân sư đặt ra trước nhóm của Ngài một lý tưởng: mối dây liên kết của tình thương thanh khiết và mối quan hệ linh hồn được nhận biết và vận dụng trong hình thức cùng công việc nhóm. Việc đạt được thành công mục tiêu này hẳn đã dẫn thẳng vào công việc Nhóm hạt giống. Những tiêu điểm của mãnh lực chuyên biệt hẳn đã có thể hình thành trên cõi hồng trần, và qua đó Thánh đoàn có thể làm việc.

3. DKs vision of the possibilities was both beautiful and practical. He envisioned the setting in motion of a network of spiritual energies which will facilitate the regeneration of the world.

3. Tầm nhìn của Chân sư DK về những khả năng ấy vừa đẹp đẽ vừa thiết thực. Ngài hình dung việc đưa vào hoạt động một mạng lưới năng lượng tinh thần sẽ tạo thuận lợi cho sự tái sinh của thế giới.

4. A Master will not present to His chelas all that is in His mind. To do so might prevent the process for going forward a He desires. Chelas might become preoccupied with the distant vision and fail to take the immediately required steps.

4. Một Chân sư sẽ không trình bày với các đệ tử của Ngài tất cả những gì có trong thể trí Ngài. Làm như vậy có thể ngăn tiến trình tiến lên như Ngài mong muốn. Các đệ tử có thể mải mê với tầm nhìn xa xôi mà không thực hiện những bước cần thiết ngay trước mắt.

5. The Seed-Group work was designed to create upon the Earth groups which are adept at the reception and transmission of particular qualities of energy and force. Once established, they could be nourished by DK or by any Master Who wished to stimulate them. As seeds they would lead to the development of group-energy structures of far greater scope and significance than their humble origins would suggest.

5. Công việc Nhóm hạt giống được thiết kế nhằm tạo ra trên Trái Đất những nhóm thành thạo việc tiếp nhận và truyền dẫn những phẩm tính cụ thể của năng lượng và mãnh lực. Một khi được thiết lập, các nhóm ấy có thể nhận sự nuôi dưỡng từ Chân sư DK hoặc bất kỳ Chân sư nào muốn kích thích chúng. Là những hạt giống, chúng sẽ dẫn đến sự phát triển của các cấu trúc năng lượng nhóm có phạm vi và thâm nghĩa lớn lao hơn nhiều so với những gì nguồn gốc khiêm tốn của chúng có thể gợi ra.

6. DK, in passing, hinted at the future importance of such groups (and of that which could develop from them). He said that they will have a wider objective than just the elevation of humanity. Apparently the groups, when firmly established and potently working could be influential in a planetary sense and in relation to the various kingdoms of nature.

6. Nhân đó, Chân sư DK đã hé lộ tầm quan trọng trong tương lai của những nhóm như thế (và của những gì có thể phát triển từ chúng). Ngài nói rằng chúng sẽ có một mục tiêu rộng lớn hơn việc chỉ nâng cao nhân loại. Dường như khi được thiết lập vững chắc và hoạt động mạnh mẽ, các nhóm có thể tạo ảnh hưởng ở quy mô hành tinh và trong mối quan hệ với các giới khác nhau trong thiên nhiên.

7. Eventually, the Earth is to become a great station of light. Groups of this nature (as they unfold) can contribute to that highly desirable, though distant, objective.

7. Cuối cùng, Trái Đất sẽ trở thành một trạm ánh sáng vĩ đại. Những nhóm có bản chất này, khi khai mở, có thể góp phần vào mục tiêu rất đáng mong muốn ấy, dù còn xa xôi.

8. On the Path of Occultism, however, the necessary steps are never taken all at once. A slow and gradual process of building is required, and it is here that the groups-of-nine failed to measure up to opportunity. They did not follow the Masters advice step by step. They could appreciate sufficiently the objective set before them.

8. Tuy nhiên, trên Con Đường Huyền Bí Học, những bước cần thiết không bao giờ được thực hiện tất cả cùng một lúc. Cần có một tiến trình xây dựng chậm rãi và tuần tự, và chính ở đây các nhóm chín người đã không đáp ứng được cơ hội. Họ đã không từng bước làm theo lời khuyên của Chân sư. Họ có thể đánh giá đầy đủ mục tiêu đặt ra trước mình.

9. The Seed Group opportunity is not forever past. Perhaps the experiment will be renewed under DKs expert guidance at a future time, and perhaps it will stand a better chance of succeeding now that the lessons of temporary failure are firmly impressed upon the minds of the participants (who, for the most part, are still associated with His Ashram). The effort is an ashramic one. An externalization of the Hierarchy is underway, and Master DK and His ashramic groups have their role to play.

9. Cơ hội Nhóm hạt giống chưa vĩnh viễn trôi qua. Có lẽ cuộc thử nghiệm sẽ được tái khởi động dưới sự hướng dẫn lão luyện của Chân sư DK vào một thời điểm trong tương lai, và có lẽ nó sẽ có cơ hội thành công tốt hơn, giờ đây khi những bài học từ thất bại tạm thời đã in sâu vào thể trí của những người tham gia, phần lớn trong số họ vẫn còn gắn bó với ashram của Ngài. Nỗ lực ấy thuộc về ashram của Ngài. Sự ngoại hiện của Thánh đoàn đang diễn ra, và Chân sư DK cùng các nhóm ashram của Ngài có vai trò phải đảm nhiệm.

The potent rhythm which animates the inner Brotherhood of the Lodge of Masters will make itself felt everywhere on earth and these groups, if successful, may be regarded as the first step toward the emergence into manifestation of the Great White Lodge. But remember this: the keynote of the Lodge is not attainment or degree. It is stable relationship, unity of thought, plus diversity of method, of effort and of function and its quality is friendship in its purest sense. The Brotherhood is a community of souls who are swept by the desire to serve, urged by a spontaneous impulse to love, illumined by one pure Light, devotedly fused and blended into groups of serving Minds, and energised by one Life. Its Members are organised to further the Plan which They consciously contact and with which They deliberately cooperate.

Nhịp điệu mạnh mẽ làm sinh động Huynh đệ Đoàn bên trong của Hội các Chân sư sẽ khiến ảnh hưởng của nó được cảm nhận khắp nơi trên Trái Đất, và nếu thành công, những nhóm này có thể được xem là bước đầu tiên hướng đến sự xuất hiện trong biểu hiện của Thánh đoàn. Nhưng hãy nhớ điều này: chủ âm của Hội không phải là thành tựu hay cấp bậc. Đó là mối quan hệ ổn định, sự thống nhất tư tưởng cùng với sự đa dạng về phương pháp, nỗ lực và chức năng; phẩm tính của Hội là tình bằng hữu theo nghĩa thanh khiết nhất. Huynh đệ Đoàn là một cộng đồng linh hồn tràn đầy ước muốn phụng sự, được thôi thúc bởi xung lực yêu thương tự phát, được một Ánh Sáng thanh khiết soi sáng, tận hiến dung hợp và hoà quyện thành những nhóm Thể Trí phụng sự, và nhận sinh lực từ một Sự Sống duy nhất. Các Thành Viên của Huynh đệ Đoàn được tổ chức để thúc đẩy Thiên Cơ mà Các Ngài tiếp xúc một cách hữu thức và chủ tâm hợp tác.

1. Here the Master emphasizes that the formation of these groups is really an aspect of the Externalization of the Hierarchy. Their emergence can be considered the first step toward the emergence into manifestation of the Great White Lodge.

1. Ở đây, Chân sư nhấn mạnh rằng việc hình thành những nhóm này thật sự là một phương diện của Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn. Sự xuất hiện của chúng có thể được xem là bước đầu tiên hướng đến sự xuất hiện trong biểu hiện của Thánh đoàn.

2. Thus, we see that the Seed Groups are experiments in group-facilitated redemption; they are part of the emergence of the Mystery Schools; and they are also an aspect of the process called the Externalization of the Hierarchy.

2. Như vậy, chúng ta thấy các Nhóm hạt giống là những thử nghiệm về sự cứu chuộc được thúc đẩy qua nhóm; chúng là một phần trong sự xuất hiện của các Trường Huyền Nhiệm; và cũng là một phương diện của tiến trình gọi là Sự Hiển Lộ của Thánh Đoàn.

3. DK uses the occasion to clarify the keynote of the Hierarchy. That keynote is not about status not about attainment or degree. It is stable relationship, unity of thought, plus diversity of method, of effort and of function and its quality is friendship in its purest sense.

3. Chân sư DK nhân dịp này làm sáng tỏ chủ âm của Thánh đoàn. Chủ âm ấy không liên quan đến địa vị, thành tựu hay cấp bậc. Đó là mối quan hệ ổn định, sự thống nhất tư tưởng cùng với sự đa dạng về phương pháp, nỗ lực và chức năng; phẩm tính của Thánh đoàn là tình bằng hữu theo nghĩa thanh khiết nhất.

4. The note of unity in diversity is sounded. In all the stability and unity of Hierarchy, a definite diversity of method proceeds.

4. Âm điệu hợp nhất trong đa dạng được xướng lên. Trong toàn bộ sự ổn định và hợp nhất của Thánh đoàn, vẫn có sự đa dạng rõ rệt về phương pháp.

5. Perhaps the most important statement concerning the quality of Hierarchy is that it is friendship in its purest sense. Well might we ponder on this magnificent phrase! Pythagoras said a friend is another self. One wonders if His sign in that incarnation was Gemini. Friendship, according to this thought, is pure altruism, and it behooves us to think of the Hierarchy as a society of selfless altruists.

5. Có lẽ phát biểu quan trọng nhất về phẩm tính của Thánh đoàn là: đó là tình bằng hữu theo nghĩa thanh khiết nhất. Chúng ta thật nên suy ngẫm về câu nói tuyệt diệu này! Pythagoras nói rằng một người bạn là một bản ngã khác. Người ta tự hỏi liệu dấu hiệu hoàng đạo của Ngài trong lần lâm phàm ấy có phải là Song Tử hay không. Theo tư tưởng này, tình bằng hữu là lòng vị tha thuần khiết, và chúng ta nên nghĩ về Thánh đoàn như một cộng đồng những người vị tha quên mình.

6. This paragraph is so important for its descriptions of Hierarchy:

6. Đoạn văn này rất quan trọng vì những mô tả về Thánh đoàn:

The Brotherhood is a community of souls who are swept by the desire to serve, urged by a spontaneous impulse to love, illumined by one pure Light, devotedly fused and blended into groups of serving Minds, and energised by one Life. Its Members are organised to further the Plan which They consciously contact and with which They deliberately cooperate.

Huynh đệ Đoàn là một cộng đồng linh hồn tràn đầy ước muốn phụng sự, được thôi thúc bởi xung lực yêu thương tự phát, được một Ánh Sáng thanh khiết soi sáng, tận hiến dung hợp và hoà quyện thành những nhóm Thể Trí phụng sự, và nhận sinh lực từ một Sự Sống duy nhất. Các Thành Viên của Huynh đệ Đoàn được tổ chức để thúc đẩy Thiên Cơ mà Các Ngài tiếp xúc một cách hữu thức và chủ tâm hợp tác.

When we read the description, we immediately realize that we are speaking of a higher kingdom of nature. All virtues toward which humanity can aspire are here enumerated as the achieved qualities of Hierarchy.

Khi đọc phần mô tả này, chúng ta lập tức nhận ra rằng mình đang nói về một giới cao hơn trong thiên nhiên. Tất cả những đức tính mà nhân loại có thể khao khát vươn tới đều được liệt kê ở đây như những phẩm tính Thánh đoàn đã đạt được.

7. Community, service, spontaneous love, illumination, fusion and blending into serving groups, livingness these qualities exemplify the Spiritual Hierarchy of our planet. Nowhere are there division and separation; nowhere withholdingness; nowhere darkness; everywhere vitality and spiritual life. .

7. Tinh thần cộng đồng, sự phụng sự, tình thương tự phát, sự soi sáng, sự dung hợp và hoà quyện thành những nhóm phụng sự, sức sống—những phẩm tính này tiêu biểu cho Thánh đoàn của hành tinh chúng ta. Không nơi nào có sự phân chia và chia rẽ; không nơi nào có sự giữ lại cho riêng mình; không nơi nào có bóng tối; khắp nơi đều có sinh lực và sự sống tinh thần. .

8. It is clear that Master DK is offering His groups the opportunity to become affiliated with this great group of illumined Servers. He wants them to understand the true nature of Hierarchy, quite different from the many distorted presentations.

8. Rõ ràng Chân sư DK đang trao cho các nhóm của Ngài cơ hội gắn kết với tập thể vĩ đại gồm những Người Phụng Sự được soi sáng này. Ngài muốn họ thấu hiểu bản chất đích thực của Thánh đoàn, rất khác với nhiều cách trình bày sai lệch.

It will be apparent to you, therefore, that the purpose of these groups is to unfold in time the three major powers of all illumined minds: [24]

Vì vậy, các bạn sẽ thấy rõ rằng mục đích của những nhóm này là dần dần khai mở ba quyền năng chủ yếu của mọi thể trí được soi sáng: [24]

1. The new groups are composed of those who are mentally polarized.

1. Các nhóm mới gồm những người phân cực trí tuệ.

2. The group members are striving to become more and more like the members of Hierarchy.

2. Các thành viên nhóm đang nỗ lực ngày càng trở nên giống các thành viên của Thánh đoàn.

3. Hierarchy is the Society of Organized and Illumined Minds.

3. Thánh đoàn là Cộng Đồng những Thể Trí Có Tổ Chức và Được Soi Sáng.

First: the power to work in and with all thought substance. The Hierarchy of Illumined Minds is a group Whose telepathic powers enable Them to be sensitive to the mind currents and to register the thoughts of Those Who personify the Mind of God, the Universal Mind, and to register the thoughtforms of Those Who are as far beyond the Hierarchy of Masters as They, in Their turn, are beyond the disciples of the world.

Thứ nhất: quyền năng làm việc trong và với mọi chất liệu tư tưởng. Thánh đoàn những Thể Trí Được Soi Sáng là một nhóm mà quyền năng viễn cảm cho phép Các Ngài nhạy cảm với những dòng tư tưởng và ghi nhận tư tưởng của các Đấng hiện thân cho Trí của Thượng đế, Vũ Trụ Trí, đồng thời ghi nhận những hình tư tưởng của các Đấng vượt xa Thánh đoàn các Chân sư cũng như chính Các Ngài vượt xa các đệ tử trên thế gian.

1. Unless we learn, really, to work in thought substance we cannot be affiliated with Hierarchy. To be truly human is to think. In relation to human incarnation, this power originates, really, on the higher mental plane ruled, generically, by Venus.

1. Nếu không học cách thật sự làm việc trong chất liệu tư tưởng, chúng ta không thể gắn kết với Thánh đoàn. Làm người đúng nghĩa là suy nghĩ. Trong mối liên hệ với sự lâm phàm của con người, quyền năng này thật sự bắt nguồn trên cõi thượng trí, mà xét một cách tổng quát là do Sao Kim cai quản.

2. Venus (illumined thought) is to triumph over Mars (desire and irrational passion).

2. Sao Kim (tư tưởng được soi sáng) phải chiến thắng Sao Hỏa (dục vọng và đam mê phi lý trí).

3. Hierarchy can be understood as a Group of Thinkers. Hierarchy telepathically receives directives from the Mind of God (the Planetary Logos) and to some extent from the Universal Mind (which can be understood as the mind of the Mind of the Solar Logos).

3. Có thể hiểu Thánh đoàn là một Nhóm những Nhà Tư Tưởng. Thánh đoàn tiếp nhận các chỉ thị bằng viễn cảm từ Trí của Thượng đế (Hành Tinh Thượng đế), và ở một mức độ nào đó từ Vũ Trụ Trí, vốn có thể được hiểu là thể trí của Trí của Thái dương Thượng đế.

4. Mind is the medium of expression. The Masters are not at all beyond mind as some who are interested in spirituality seem to think. Every great Being has a mind. Mind is, in a way, the great intermediary. Of course mind has a number of dimensions or vibratory strata.

4. Thể trí là phương tiện biểu đạt. Các Chân sư hoàn toàn không vượt ngoài thể trí như một số người quan tâm đến tinh thần dường như vẫn nghĩ. Mỗi Sinh Mệnh vĩ đại đều có một thể trí. Theo một nghĩa nào đó, thể trí là trung gian vĩ đại. Dĩ nhiên, thể trí có nhiều chiều kích hay tầng rung động.

5. Mind is the medium for the reception of telepathic directives. The very first group-of-nine organized by the Tibetan was the group of Telepathic Communicators. This meant not so much that they could communicate with each telepathically, but that they could receive (individually and as a group) impressions relating to the Divine Plan.

5. Thể trí là phương tiện tiếp nhận các chỉ thị viễn cảm. Nhóm chín người đầu tiên do Chân sư Tây Tạng tổ chức là nhóm Các Nhà Giao Tiếp Viễn Cảm. Điều này chủ yếu không hàm ý rằng họ có thể giao tiếp với nhau bằng viễn cảm, mà là họ có thể tiếp nhận những ấn tượng liên quan đến Thiên Cơ (với tư cách cá nhân và cả nhóm).

6. To be a true worker with the Plan, a highly developed mind is, therefore, needed, though this is not the same as being an intellectual.

6. Do đó, để thực sự là một người hoạt động cùng Thiên Cơ, cần có một thể trí phát triển cao, dù điều này không đồng nghĩa với việc là một nhà trí thức.

Those Lives Who carry out the ideas of the Divine Mind, exist in Their graded orders, and with the detail of Their groupings we are not concerned, except with the fact that the planetary Brotherhood is in telepathic rapport with Those Who are responsible for the planetary conditions in the solar system, with the Great Council, therefore, at Shamballa. They are also in immediate telepathic rapport with each other. The slowly manifesting powers of the radio and the sensitive workings of the perfecting radio mechanisms and of television are but the response in physical matter of the perfected telepathic powers and television of the minds of the Masters of the Wisdom. Forget not, that such powers are inherent in all men.

Các Sự Sống thực hiện những ý tưởng của Trí Tuệ Thiêng Liêng tồn tại trong những hàng ngũ có cấp bậc của Các Ngài; chúng ta không quan tâm đến chi tiết về cách Các Ngài phân nhóm, ngoại trừ sự kiện Huynh đệ Đoàn hành tinh có sự giao cảm viễn cảm với Các Đấng chịu trách nhiệm về những điều kiện hành tinh trong hệ mặt trời, tức là với Đại Hội Đồng tại Shamballa. Các Ngài cũng giao cảm viễn cảm trực tiếp với nhau. Những khả năng đang dần biểu hiện của vô tuyến điện, cùng hoạt động nhạy bén của các bộ máy vô tuyến điện và truyền hình đang ngày càng hoàn thiện, chỉ là sự đáp ứng trong vật chất hồng trần đối với những quyền năng viễn cảm và viễn thị đã hoàn thiện trong thể trí của các Chân sư Minh Triết. Đừng quên rằng những quyền năng ấy vốn có trong mọi người.

1. Here DK elaborates a little on the telepathic powers of Hierarchy. We learn that there is an extensive Hierarchy of Lives (ascending and descending) Who are in telepathic rapport with each other for the purpose of carrying out the Divine Plan. Many Creative Hierarchies are part of this Ladder of Telepathic Rapport.

1. Ở đây, Chân sư DK giải thích thêm đôi chút về các quyền năng viễn cảm của Thánh đoàn. Chúng ta biết rằng có một hệ thống Huyền Giai rộng lớn gồm các Sự Sống (thăng và giáng), Các Ngài giao cảm viễn cảm với nhau nhằm thực hiện Thiên Cơ. Nhiều Huyền Giai Sáng Tạo là thành phần của Chiếc Thang Giao Cảm Viễn Cảm này.

2. DK does not bother with the detail of enumerating these Hierarchies. Suffice it to say that, by telepathic impression, all things on the planet and in our solar system are ordered.

2. Chân sư DK không đi vào chi tiết liệt kê các Huyền Giai này. Chỉ cần nói rằng, nhờ ấn tượng viễn cảm, mọi sự trên hành tinh và trong hệ mặt trời của chúng ta đều được sắp đặt theo trật tự.

3. Telepathic rapport is primarily vertical, but instrumentally horizontal. Not only are members of Hierarchy in touch with their superiors in the process of manifesting the Divine Plan, but They are in telepathic rapport with each other.

3. Sự giao cảm viễn cảm chủ yếu diễn ra theo chiều dọc, nhưng vận hành theo chiều ngang. Trong tiến trình biểu hiện Thiên Cơ, các thành viên của Thánh đoàn không chỉ liên lạc với những Đấng cao hơn mình, mà Các Ngài còn giao cảm viễn cảm với nhau.

4. We have seen a tremendous outpicturing of telepathic rapport in the development of modern telecommunications systems. Writing some seventy years ago, DK, when discussing the potential growth of telepathy, speaks in terms of the radio and the nascent television of that time. Today those early examples of telepathy seem primitive, and in a few years the most advanced and amazing techniques available today will seem, comparatively, primitive. The wonder of instant, complete and undistorted telepathic communication between human beings is prefigured by our telecommunication advances in the material sphere. For Hierarchy, however, the telepathic powers are (from our point of view) complete.

4. Chúng ta đã thấy sự giao cảm viễn cảm biểu hiện ra bên ngoài một cách mạnh mẽ qua sự phát triển của các hệ thống viễn thông hiện đại. Khi viết cách đây khoảng bảy mươi năm và bàn về tiềm năng phát triển của viễn cảm, Chân sư DK nói đến vô tuyến điện và truyền hình còn phôi thai vào thời ấy. Ngày nay, những ví dụ ban đầu ấy về viễn cảm có vẻ thô sơ; và chỉ vài năm nữa, những kỹ thuật tiên tiến, kỳ diệu nhất hiện có cũng sẽ có vẻ tương đối thô sơ. Những tiến bộ viễn thông trong lĩnh vực vật chất báo trước điều kỳ diệu của giao tiếp viễn cảm tức thời, trọn vẹn và không sai lệch giữa con người với nhau. Tuy nhiên, đối với Thánh đoàn, các quyền năng viễn cảm đã hoàn thiện (theo quan điểm của chúng ta).

5. DK reminds us that telepathic powers are inherent in all men, lest we think of the possibilities He discusses as unattainable. The wonders of the New Age are resident within us; we have but to release them.

5. Chân sư DK nhắc chúng ta rằng các quyền năng viễn cảm vốn có trong mọi người, để chúng ta không nghĩ những khả năng Ngài bàn đến là điều không thể đạt được. Những điều kỳ diệu của Kỷ Nguyên Mới nằm ngay trong chúng ta; chúng ta chỉ cần giải phóng chúng.

The inner group of Masters with Whom I am associated work telepathically also with Their disciples and the disciples with each other in lesser degree. The power to “see” the Master which has been the misguided impulse of the devotees of the world who substitute this desire for aspiration towards soul contact is but their response to the “television” of Those Who seek to guide them into the light of their own souls. They are only reacting to one of the demonstrated divine powers of the Master but not to soul action.

Nhóm Chân sư nội tại mà Tôi liên kết cũng làm việc bằng viễn cảm với các đệ tử của Các Ngài, và các đệ tử cũng làm việc như vậy với nhau ở mức độ thấp hơn. Khả năng “thấy” Chân sư—vốn là thôi thúc lầm lạc của những người sùng tín trên thế gian, những người lấy dục vọng này thay cho khát vọng tiếp xúc với linh hồn—chỉ là sự đáp ứng của họ đối với khả năng “viễn thị” của Các Đấng đang tìm cách dẫn họ vào ánh sáng của chính linh hồn họ. Họ chỉ đang phản ứng với một trong những quyền năng thiêng liêng mà Chân sư biểu lộ, chứ không đáp ứng với hoạt động của linh hồn.

1. DK speaks of a practical aspect of the Masters telepathic abilities. These abilities are utilized to work with Their disciples. Disciples also have some access to such powers and work in this manner with disciples of lower degree.

1. Chân sư DK nói đến một phương diện thực tiễn trong các khả năng viễn cảm của các Chân sư. Các Ngài sử dụng những khả năng này để làm việc với các đệ tử của mình. Các đệ tử cũng tiếp cận được phần nào những quyền năng ấy và làm việc theo cách này với các đệ tử ở cấp độ thấp hơn.

2. The Masters have a kind of tele-vision which is, for them, an operative psychic power. The quest to see the Master can be fulfilled (when the motive and approach are correct), but it is far less important than achieving real soul contact and interplay.

2. Các Chân sư có một dạng viễn thị; đối với Các Ngài, đó là một quyền năng thông linh đang hoạt động. Ước muốn thấy Chân sư có thể thành hiện thực (khi động cơ và cách tiếp cận đúng đắn), nhưng điều ấy kém quan trọng hơn nhiều so với việc đạt được sự tiếp xúc và tương tác thực sự với linh hồn.

3. All manner of psychic powers can be cultivated and utilized, but until the foundation of soul-infusion has been achieved, these psychic abilities can even retard spiritual progress.

3. Mọi loại quyền năng thông linh đều có thể được vun bồi và sử dụng, nhưng chừng nào chưa thiết lập được nền tảng của sự thấm nhuần linh hồn, những khả năng thông linh này thậm chí có thể làm chậm sự tiến bộ tinh thần.

4. There comes a time when the possibility of acquiring psychic powers becomes a temptation. Even high souls can be tempted to develop powers instead of a true and living contact with the Soul of all things.

4. Sẽ đến lúc khả năng đạt được các quyền năng thông linh trở thành một cám dỗ. Ngay cả những linh hồn cao cả cũng có thể bị cám dỗ phát triển các quyền năng thay vì một sự tiếp xúc chân thực và sống động với Linh Hồn của vạn vật.

5. We are faced with the harbinger of such advanced discriminations early in our spiritually developmental process. Shall we attempt to engage with our own soul (Solar Angel) or shall we run after the image of the Master (registering, most probably, some illusory astral thoughtform we take as a reality)? This is one of the first tests concerning the glamors of the Path, and many choose incorrectly.

5. Ngay từ đầu tiến trình phát triển tinh thần, chúng ta đã đối diện với dấu hiệu báo trước những sự phân biện cao cấp như thế. Chúng ta sẽ cố gắng kết nối với chính linh hồn mình (Thái dương Thiên Thần), hay sẽ chạy theo hình ảnh của Chân sư (rất có thể đang ghi nhận một hình tư tưởng cảm dục hư ảo nào đó mà chúng ta cho là thực)? Đây là một trong những thử thách đầu tiên liên quan đến các ảo cảm trên Đường Đạo, và nhiều người lựa chọn sai.

Your response to such stimulation as I can give you and an earnest endeavour on your part to love with unselfishness will gradually perfect in you a similar relation to other workers. This will work out in three directions:

Sự đáp ứng của các bạn đối với sự kích thích mà Tôi có thể mang lại, cùng nỗ lực chân thành của các bạn để yêu thương một cách vô vị kỷ, sẽ dần hoàn thiện nơi các bạn một mối quan hệ tương tự với những người hoạt động khác. Điều này sẽ biểu hiện theo ba hướng:

1. In a demonstrated ability to be in telepathic rapport with me and with Those with Whom I am associated.

1. Qua khả năng biểu lộ rõ rệt trong việc giao cảm viễn cảm với Tôi và với Các Đấng mà Tôi liên kết.

2. In power to communicate with each other at any time.

2. Qua khả năng giao tiếp với nhau vào bất cứ lúc nào.

3. In sensitivity to the thoughts of humanity as a whole.

3. Qua sự nhạy cảm với tư tưởng của toàn thể nhân loại.

1. DK offers the newly forming groups some possibilities, if they love with unselfishness. Doing so, they will come into an entirely new relation to each other.

1. Chân sư DK nêu ra một số khả năng cho các nhóm đang mới hình thành, nếu họ yêu thương một cách vô vị kỷ. Làm như vậy, họ sẽ bước vào một mối quan hệ hoàn toàn mới với nhau.

2. The telepathy developed will develop in three directions: above, horizontal and below.

2. Khả năng viễn cảm được vun bồi sẽ phát triển theo ba hướng: lên trên, ngang và xuống dưới.

3. The Master can be reached (and other Masters as well); ones fellow disciples can be reached; and humanity can be reached.

3. Có thể tiếp xúc với Chân sư (và cả các Chân sư khác); có thể tiếp xúc với các đệ tử đồng môn; và có thể tiếp xúc với nhân loại.

4. Telepathy is a two-way street receptivity and transmission. A disciple needs six modes of interplay resulting from the three directions, with each of them considered from the perspective of both reception and transmission.

4. Viễn cảm là một con đường hai chiều: tiếp nhận và truyền đi. Một đệ tử cần sáu phương thức tương tác phát sinh từ ba hướng ấy, khi xét mỗi hướng từ cả góc độ tiếp nhận lẫn truyền đi.

5. Is it not interesting that unselfish love is the method of establishing telepathic sensitivity?

5. Chẳng phải thật thú vị sao khi tình thương vô vị kỷ là phương pháp thiết lập sự nhạy cảm viễn cảm?

6. If we study the qualities of the planet Venus (ruling the ajna center, which is involved in so much telepathy) we will find, ideally, both unselfishness and love.

6. Nếu nghiên cứu các phẩm tính của Sao Kim (cai quản trung tâm ajna, vốn tham gia rất nhiều vào hoạt động viễn cảm), chúng ta sẽ thấy, trong biểu hiện lý tưởng, cả tính vô vị kỷ lẫn tình thương.

7. Mercury/Venus are two planets (ruing the ajna center at different times of human development) much involved with the telepathic process. As the disciple begins to respond to the higher influences of these planets, the telepathic powers develop.

7. Sao Thủy/Sao Kim là hai hành tinh (cai quản trung tâm ajna vào những thời kỳ khác nhau trong sự phát triển của con người) có liên hệ sâu sắc với tiến trình viễn cảm. Khi đệ tử bắt đầu đáp ứng với những ảnh hưởng cao hơn của các hành tinh này, các quyền năng viễn cảm sẽ phát triển.

8. It should also be said that Jupiter, Uranus and Neptune have their part to play in bringing the telepathic process to fruition.

8. Cũng cần nói rằng Sao Mộc, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương đều góp phần đưa tiến trình viễn cảm đến chỗ thành tựu.

9. While Saturn rules the Plan, it does not specifically promote sensitivity to contact. Because Saturn does, however, clear and order the field of consciousness, it does, in its own way, contribute to telepathic reception.

9. Dù Sao Thổ cai quản Thiên Cơ, hành tinh này không đặc biệt thúc đẩy sự nhạy cảm trong tiếp xúc. Tuy nhiên, vì Sao Thổ làm trong sáng và sắp đặt trường tâm thức theo trật tự, nên theo cách riêng của mình, hành tinh này cũng góp phần vào sự tiếp nhận viễn cảm.

Can you not see, therefore, how a miniature replica of the Brotherhood can be established on earth and how in decades [25] to come the working disciples of the world, the isolated initiates in the many world organisations and the personnel of the New Group of World Servers will automatically respond to the telepathic sensitivity of such groups as will be found working in the many Ashrams of the Masters? The result of this success will not be the recognition of any particular group but it will lead to the recognition of a universal power and the state of mind of disciples of all degrees. This will establish in time and without controversy the unity of all beings. The revelation of unity through the power of thought is the glorious consummation of the work of the Brotherhood and to this you do, as do all disciples, respond in your highest moments. It can, in a smaller way and according to the measure of your consecration, be your glory and your goal also if you hold the thought of oneness, of service and above all else of love.

Vì vậy, các bạn không thấy được sao, rằng một mô hình thu nhỏ của Huynh đệ Đoàn có thể được thiết lập trên Trái Đất như thế nào, và trong những thập niên [25] sắp tới, các đệ tử đang hoạt động trên thế gian, các điểm đạo đồ đơn lẻ trong nhiều tổ chức thế giới, cùng những thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ tự động đáp ứng với sự nhạy cảm viễn cảm của những nhóm đang làm việc trong nhiều ashram của các Chân sư như thế nào? Kết quả của thành công này sẽ không phải là sự công nhận một nhóm cụ thể nào, mà sẽ dẫn đến sự công nhận một quyền năng phổ quát và trạng thái thể trí của các đệ tử ở mọi cấp độ. Theo thời gian, điều này sẽ xác lập sự hợp nhất của mọi sinh linh mà không gây tranh cãi. Sự mặc khải về hợp nhất qua quyền năng tư tưởng là thành tựu huy hoàng tột đỉnh trong công việc của Huynh đệ Đoàn, và cũng như mọi đệ tử, các bạn quả thực đáp ứng với điều này trong những thời khắc cao cả nhất của mình. Ở quy mô nhỏ hơn và tùy theo mức độ thánh hiến của các bạn, điều ấy cũng có thể là vinh quang và mục tiêu của các bạn, nếu các bạn giữ vững tư tưởng về tính nhất thể, về phụng sự, và trên hết là về tình thương.

1. Master DK is involved in the process of attempting to build a miniature replica of the Brotherhood one earth.

1. Chân sư DK đang tham gia vào tiến trình nỗ lực xây dựng một mô hình thu nhỏ của Huynh đệ Đoàn trên Trái Đất.

2. If this can be done, those who are working in the field will have a much sounder source of guidance than heretofore. Telepathic groups working in the many Ashrams of the Masters will help guide by the power and clarity of their thought those who (more isolated) are attempting to serve humanity and carry out the Hierarchys will.

2. Nếu thực hiện được điều này, những người đang hoạt động trong lĩnh vực ấy sẽ có một nguồn hướng dẫn vững chắc hơn nhiều so với trước đây. Các nhóm viễn cảm làm việc trong nhiều ashram của các Chân sư sẽ dùng sức mạnh và sự sáng rõ của tư tưởng mình để giúp hướng dẫn những người đang nỗ lực phụng sự nhân loại và thực hiện ý chí của Thánh đoàn trong hoàn cảnh đơn lẻ hơn.

3. Telepathy is part of a general linking up which is necessary for the full expression of the Divine Plan.

3. Viễn cảm là một phần của sự liên kết tổng thể cần thiết cho sự biểu đạt trọn vẹn của Thiên Cơ.

4. We can see how the Triangles Work (in both of its divisions) is very useful in developing telepathy. It may be one of the reasons that Master DK considers the Triangles Project so important.

4. Chúng ta có thể thấy Công Tác Tam Giác (ở cả hai phân bộ) rất hữu ích trong việc phát triển viễn cảm. Đó có thể là một trong những lý do khiến Chân sư DK xem Dự Án Tam Giác là quan trọng đến thế.

5. A widespread telepathic sensitivity will not bring any particular group to recognition, but there will be a general acknowledgement of the reality and importance of telepathic power and of that state of mind which can properly be called disciplic.

5. Sự nhạy cảm viễn cảm lan rộng sẽ không khiến một nhóm cụ thể nào được công nhận, nhưng sẽ có sự thừa nhận rộng rãi về tính hiện thực và tầm quan trọng của quyền năng viễn cảm, cũng như trạng thái thể trí mà ta có thể gọi một cách xác đáng là trạng thái của đệ tử.

6. The growing telepathic sensitivity of disciples and, eventually, humanity will be one of the proofs of the unity of all beings. One can talk about such things forever, but unless one sees for oneself, such talk will simply consist of platitudinous words unsupported by realization.

6. Sự nhạy cảm viễn cảm ngày càng tăng của các đệ tử và cuối cùng là của nhân loại sẽ là một trong những bằng chứng về sự hợp nhất của mọi sinh linh. Người ta có thể nói mãi về những điều ấy, nhưng nếu không tự mình thấy được, những lời nói ấy sẽ chỉ là những lời sáo rỗng thiếu nền tảng chứng nghiệm.

7. Another wonderful statement is offered: The revelation of unity through the power of thought is the glorious consummation of the work of the Brotherhood and to this you do, as do all disciples, respond in your highest moments.

7. Một phát biểu tuyệt vời khác được đưa ra: Sự mặc khải về hợp nhất qua quyền năng tư tưởng là thành tựu huy hoàng tột đỉnh trong công việc của Huynh đệ Đoàn, và cũng như mọi đệ tử, các bạn quả thực đáp ứng với điều này trong những thời khắc cao cả nhất của mình.

8. How will humanity come to realize the reality of unity? We are here being told that the power of thought will reveal it especially the power of telepathically transmitted thought.

8. Nhân loại sẽ đi đến chỗ nhận ra thực tại của sự hợp nhất như thế nào? Ở đây, chúng ta được cho biết rằng quyền năng tư tưởng sẽ mặc khải điều ấy, đặc biệt là quyền năng của tư tưởng được truyền bằng viễn cảm.

9. Human beings will not change their behavior unless their consciousness indicates that change is desirable and even necessary. Through the sequence of love, telepathy and realized unity, human consciousness can and will change. We see that some apparently simple, innocuous advice from the Master can have extraordinarily far-reaching consequences of a positive kind.

9. Con người sẽ không thay đổi hành vi trừ khi tâm thức cho họ thấy rằng sự thay đổi là điều đáng mong muốn và thậm chí cần thiết. Qua trình tự tình thương, viễn cảm và sự hợp nhất được chứng nghiệm, tâm thức con người có thể và sẽ thay đổi. Chúng ta thấy rằng một lời khuyên có vẻ đơn giản, nhẹ nhàng của Chân sư có thể đem lại những hệ quả tích cực sâu rộng phi thường.

10. DK asks that certain thoughts dominate our consciousness: thoughts of oneness, of service, and above all else of love. It is a great misapprehension that power comes only through complex means. Quite the opposite is usually the case. Simple advice is being offered as a means to achieve amazingly potent results. Can we cut through all the complexities of the Teaching (sometimes unavoidable complexities) in order to institute in our lives the simple fundamentals (based on love) which will make of us true telepathic workers telepathically attuned to both Hierarchy and humanity?

10. Chân sư DK yêu cầu chúng ta để những tư tưởng nhất định chi phối tâm thức mình: tư tưởng về tính nhất thể, về phụng sự, và trên hết là về tình thương. Cho rằng quyền năng chỉ đến qua những phương tiện phức tạp là một ngộ nhận lớn. Thông thường, thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Lời khuyên đơn giản đang được đưa ra như một phương tiện để đạt những kết quả có sức mạnh đáng kinh ngạc. Liệu chúng ta có thể xuyên qua mọi điều phức tạp của Giáo Huấn (đôi khi là những điều phức tạp không thể tránh khỏi) để thiết lập trong đời sống mình những nền tảng đơn giản (dựa trên tình thương), vốn sẽ khiến chúng ta trở thành những người hoạt động viễn cảm đích thực, hòa điệu bằng viễn cảm với cả Thánh đoàn lẫn nhân loại?

Second: the power of the intuition, which is the goal of much of the work which disciples must do, requires the unfoldment of another faculty in man. The intuition is a function of the mind also and, when rightly used, it enables man to grasp reality with clarity and to see that reality free from glamour and the illusions of the three worlds. When the intuition functions in any human being, he is enabled to take direct and correct action for he is in touch with the Plan, with pure and unadulterated fact and undistorted ideas free from illusion and coming direct from the divine or universal Mind. The unfoldment of this faculty will bring about a world recognition of the Plan and this is the greatest achievement of the intuition in this present world cycle. When that Plan is sensed, there comes the realisation of the unity of all beings, of the synthesis of world evolution and of the unity of the divine objective. All life and all forms are seen then in their true perspective; a right sense of values and of time then eventuates. When the Plan is truly intuited and at first hand, then constructive effort becomes inevitable and there is no lost motion. It is the partial realisation of the Plan and its interpretation at second or third hand by the ignorant which is responsible for the wasted effort and the foolish impulses which characterise the present occult and world organisations. [26]

Thứ hai: quyền năng trực giác, vốn là mục tiêu của phần lớn công việc mà các đệ tử phải làm, đòi hỏi sự khai mở một năng lực khác nơi con người. Trực giác cũng là một chức năng của thể trí và, khi được sử dụng đúng đắn, nó giúp con người nắm bắt thực tại một cách sáng rõ và thấy thực tại ấy không còn ảo cảm cùng những ảo tưởng của ba cõi giới. Khi trực giác hoạt động nơi một người, y có thể hành động trực tiếp và đúng đắn, vì y tiếp xúc với Thiên Cơ, với sự thật thuần khiết, không pha tạp, cùng những ý tưởng không sai lệch, thoát khỏi ảo tưởng và đến trực tiếp từ Trí Tuệ Thiêng Liêng hay Vũ Trụ Trí. Sự khai mở năng lực này sẽ đưa đến sự công nhận Thiên Cơ trên toàn thế giới, và đây là thành tựu lớn nhất của trực giác trong chu kỳ thế giới hiện tại. Khi cảm nhận được Thiên Cơ ấy, con người sẽ nhận ra sự hợp nhất của mọi sinh linh, sự tổng hợp của tiến hoá thế giới và sự thống nhất của mục tiêu thiêng liêng. Khi ấy, mọi sự sống và mọi hình tướng đều được nhìn nhận trong tương quan đích thực của chúng; từ đó nảy sinh một ý thức đúng đắn về các giá trị và thời gian. Khi thực sự trực nhận Thiên Cơ qua trải nghiệm trực tiếp, nỗ lực xây dựng tất yếu sẽ diễn ra và không có hoạt động nào uổng phí. Chính việc chỉ nhận biết một phần Thiên Cơ và sự diễn giải gián tiếp qua người thứ hai hay thứ ba của những người thiếu hiểu biết đã gây ra những nỗ lực lãng phí và những thôi thúc dại dột vốn là đặc điểm của các tổ chức huyền bí và thế giới hiện nay. [26]

1. A most important point is brought forward: the development of intuition depends upon the clarification and deglamorization of the mind.

1. Một điểm hết sức quan trọng được nêu ra: sự phát triển trực giác tùy thuộc vào việc làm trong sáng thể trí và giải trừ ảo cảm khỏi thể trí.

2. Disciples are to cultivate the intuition, but they must not put the cart before the horse. Intuition can not emerge unless the foundation of a clear mentality is in place.

2. Các đệ tử phải vun bồi trực giác, nhưng không được đặt cái cày trước con trâu. Trực giác không thể xuất hiện nếu chưa có nền tảng là một trí tuệ sáng rõ.

3. Intuition is far more than we usually think it is. It ensures the correctness of action because the correctly intuiting individual is in direct, undistorted touch with the Divine Plan.

3. Trực giác vượt xa những gì chúng ta thường nghĩ về nó. Nó bảo đảm tính đúng đắn của hành động, vì người trực nhận đúng đắn tiếp xúc trực tiếp, không sai lệch với Thiên Cơ.

4. The reason it is so important for intuition to be cultivated on a broad scale is that its unfoldment will bring a world-recognition of the Plan. This, obviously, is very much lacking in todays world and hence the many misguided ventures and initiatives.

4. Việc vun bồi trực giác trên quy mô rộng lớn quan trọng đến vậy là vì sự khai mở của nó sẽ đem lại sự công nhận Thiên Cơ trên toàn thế giới. Hiển nhiên, thế giới ngày nay rất thiếu điều này, do đó mới có nhiều công cuộc và sáng kiến sai lầm.

5. There are great benefits to sensing the Plan as it is. A review of these benefits should cause us to redouble our efforts to rightly apprehend the Plan. But, it would seem, only the intuition will lead to correct apprehension.

5. Việc cảm nhận Thiên Cơ đúng như thực có những lợi ích lớn lao. Việc xem xét lại những lợi ích này hẳn sẽ khiến chúng ta tăng gấp đôi nỗ lực để lĩnh hội Thiên Cơ một cách đúng đắn. Nhưng dường như chỉ trực giác mới dẫn đến sự lĩnh hội đúng đắn.

6. A truer sense of values is being developed. The light of Taurus rightly applied will lead to the dissipation of glamor and a consequent correction of the sense of values (to which Taurus is also connected).

6. Một ý thức chân thực hơn về các giá trị đang phát triển. Ánh sáng của Kim Ngưu, khi được vận dụng đúng đắn, sẽ dẫn đến việc làm tiêu tan ảo cảm và từ đó điều chỉnh ý thức về các giá trị (vốn cũng liên hệ với Kim Ngưu).

7. DK points to the wasted effort and foolish impulses which are typical of many occult and world organizations. This misuse of energy would disappear if the intuition were functioning properly.

7. Chân sư DK chỉ ra những nỗ lực lãng phí và những thôi thúc dại dột vốn là đặc trưng của nhiều tổ chức huyền bí và thế giới. Việc sử dụng sai năng lượng này sẽ biến mất nếu trực giác hoạt động đúng đắn.

8. It becomes clear that one of the major functions of Seed Group 2 (the Observers of Reality) is the cultivation of the intuition based upon deglamorization and disillusionment (occultly considered).

8. Rõ ràng, một trong những chức năng chính của Nhóm hạt giống 2 (Các Nhà Quan Sát Thực Tại) là vun bồi trực giác dựa trên việc giải trừ ảo cảm và ảo tưởng (xét theo nghĩa huyền bí).

9. We can see how Point 2 (the development of the intuition) is based upon the cultivation of the ability to work in thought substance (Point 1)

9. Chúng ta có thể thấy Điểm 2 (sự phát triển trực giác) đặt nền tảng trên việc vun bồi khả năng làm việc trong chất liệu tư tưởng (Điểm 1)

10. We can speak endlessly of the reality of the Divine Plan, but only the intuition will apprehend it directly and convincingly. Hence the importance of ridding the world of glamor and illusion so that the way towards the development of intuition can be cleared.

10. Chúng ta có thể nói mãi về thực tại của Thiên Cơ, nhưng chỉ trực giác mới lĩnh hội được Thiên Cơ một cách trực tiếp và đầy sức thuyết phục. Vì thế, việc giải thoát thế giới khỏi ảo cảm và ảo tưởng là điều quan trọng, để có thể dọn đường cho sự phát triển trực giác.

The various groups in a Master’s Ashram can fulfil certain functions and provide laboratories for specified work. Some can provide a demonstration laboratory of the trained observers of the world and can handle world glamour and illusion. Other groups can focus on the development of the telepathic faculty and become trained communicators. The objective before the Hierarchy at this time is to break and dissipate the world glamour. This has to happen on a world scale just as it happens in the life of every disciple. Just as a man shifts his focus of consciousness (when on the Path of Discipleship) on to the mental plane and learns to smash the glamour which has hitherto held him on the astral plane, so the problem before the Hierarchy today is to bring about a similar happening in the life of humanity as a whole, for humanity is at the crossroads and its consciousness is being rapidly focussed on the mental plane. A death blow must be struck at the world illusion for it holds the sons of men in thrall. By learning to break through the glamour in their own lives and to live in the light of the intuition, disciples can strengthen the hands of Those Whose task it is to awaken the intuition in man.

Các nhóm khác nhau trong ashram của một Chân sư có thể đảm nhiệm những chức năng nhất định và cung cấp các phòng thí nghiệm cho những công việc cụ thể. Một số nhóm có thể cung cấp một phòng thí nghiệm minh chứng cho các nhà quan sát lão luyện trên thế giới và có thể xử lý ảo cảm cùng ảo tưởng của thế giới. Những nhóm khác có thể tập trung phát triển năng lực viễn cảm và trở thành các nhà giao tiếp lão luyện. Mục tiêu trước mắt của Thánh đoàn vào lúc này là phá vỡ và làm tiêu tan ảo cảm thế giới. Điều này phải xảy ra trên quy mô thế giới, cũng như xảy ra trong đời sống của mỗi đệ tử. Cũng như một người chuyển sự tập trung tâm thức của mình lên cõi trí (khi ở trên Con Đường Đệ Tử) và học cách đập tan ảo cảm vốn từ trước đến nay giam giữ y trên cõi cảm dục, vấn đề trước mắt của Thánh đoàn ngày nay là tạo ra một diễn biến tương tự trong đời sống của toàn thể nhân loại, vì nhân loại đang đứng trước ngã đường và tâm thức của nhân loại đang nhanh chóng tập trung lên cõi trí. Phải giáng một đòn chí tử vào ảo tưởng thế giới, vì nó đang giam hãm những người con của nhân loại. Bằng cách học xuyên phá ảo cảm trong chính đời sống mình và sống trong ánh sáng trực giác, các đệ tử có thể tiếp sức cho Các Đấng có nhiệm vụ đánh thức trực giác nơi con người.

1. Laboratories are needed to accomplish on a small scale what must later be accomplished in relation to humanity as a whole. Groups related to the Masters’ Ashrams are excellent crucibles for such experimentation.

1. Cần có những phòng thí nghiệm để thực hiện ở quy mô nhỏ điều mà về sau phải thực hiện đối với toàn thể nhân loại. Các nhóm liên hệ với ashram của các Chân sư là những môi trường tuyệt vời cho việc thử nghiệm như thế.

2. We see that Master DK is laying the foundation for the discussion of the specialized “Seed Groups”. He has entered into a discussion of the need for telepathic sensitivity, and now He is focussing on the need for “trained observers”.

2. Chúng ta thấy Chân sư DK đang đặt nền tảng cho việc bàn luận về những “Nhóm hạt giống” chuyên biệt. Ngài đã bắt đầu bàn về nhu cầu có sự nhạy cảm viễn cảm, và giờ đây Ngài đang tập trung vào nhu cầu có “các nhà quan sát lão luyện”.

3. Another prominent objective of Hierarchy is stated: Hierarchy is intent on breaking and dissipating world glamor. We (humanity) must be made to see the “error of our ways” and the realization must be so impressive that we will not fall into similar self-deceptions again.

3. Một mục tiêu nổi bật khác của Thánh đoàn được nêu ra: Thánh đoàn quyết tâm phá vỡ và làm tiêu tan ảo cảm thế giới. Chúng ta (nhân loại) phải được giúp để thấy “những sai lầm trong cách sống của mình”, và sự nhận biết ấy phải sâu sắc đến mức chúng ta sẽ không lại rơi vào những sự tự lừa dối tương tự.

4. We are told that “humanity is at the crossroads”. It is possible to help humanity achieve a greater mental polarization and, with it, an end to the kinds of glamors which now hold it in thrall.

4. Chúng ta được cho biết rằng “nhân loại đang đứng trước ngã đường”. Có thể giúp nhân loại đạt đến sự phân cực trí tuệ cao hơn, và cùng với đó là chấm dứt những loại ảo cảm hiện đang giam hãm nhân loại.

5. Hierarchy is working to bring about the end of glamor in the life of humanity as a whole. It is a very daunting objective.

5. Thánh đoàn đang làm việc để chấm dứt ảo cảm trong đời sống của toàn thể nhân loại. Đây là một mục tiêu vô cùng khó khăn.

6. In this task, we understand that Hierarchy is fighting for the life of humanity. Consequently “a death blow” must be struck at that which is imprisoning the life and thus bringing spiritual death. We can understand that Hierarchy must involve Pluto (just as the Black Lodge did, for its own purposes). The Plutonic influence, rightly directed will not mean the destruction and death of humanity (as the Black Lodge hopes) but the destruction and death of the world illusion which is slowly strangling humanity. The same energy can be used for benevolent or malevolent purposes.

6. Trong nhiệm vụ này, chúng ta hiểu rằng Thánh đoàn đang chiến đấu vì sự sống của nhân loại. Do đó, “một đòn chí tử” phải giáng xuống điều đang giam cầm sự sống và qua đó đem lại cái chết tinh thần. Chúng ta có thể hiểu rằng Thánh đoàn phải huy động ảnh hưởng của Sao Diêm Vương (cũng như Hắc đoàn đã làm vì những mục đích riêng của họ). Ảnh hưởng của Sao Diêm Vương, khi được định hướng đúng đắn, sẽ không mang lại sự hủy diệt và cái chết cho nhân loại (như Hắc đoàn mong muốn), mà sẽ hủy diệt và chấm dứt ảo tưởng thế giới đang từ từ bóp nghẹt nhân loại. Cùng một năng lượng có thể được sử dụng cho những mục đích thiện lành hoặc độc ác.

7. The responsibility is put squarely on our shoulders. If we want to help Hierarchy deal a death blow to the world glamor, we have to kill glamor in our own lives. First, however, we have to recognize what we hope to expunge.

7. Trách nhiệm được đặt thẳng lên vai chúng ta. Nếu muốn giúp Thánh đoàn giáng một đòn chí tử vào ảo cảm thế giới, chúng ta phải tiêu diệt ảo cảm trong chính đời sống mình. Tuy nhiên, trước hết chúng ta phải nhận diện điều mình hy vọng loại bỏ.

8. It is hard to recognize one’s own glamors because they are so close to us, so much a part of how we are and what we do. It is here that group work proves invaluable, because others can see our flaws whereas, often, we cannot, or if we see them, we find clever ways to justify them (saying, perhaps, “Well, that’s just the way I am”, as if the glamor were the most natural thing in the world).

8. Khó nhận ra những ảo cảm của chính mình, vì chúng quá gần gũi với chúng ta, gắn quá chặt với cách chúng ta sống và những gì chúng ta làm. Chính ở đây, công việc nhóm chứng tỏ giá trị vô cùng lớn, vì người khác có thể thấy những khuyết điểm của chúng ta, trong khi chúng ta thường không thấy được; hoặc nếu có thấy, chúng ta lại tìm những cách khéo léo để biện minh cho chúng (có lẽ nói rằng: “Tôi vốn là như thế”, như thể ảo cảm là điều tự nhiên nhất trên đời).

9. Notice that DK speaks of “breaking through” the glamor in our own lives. It is as if a shell of illusion has to be shattered so that the light, previously walled without, can enter.

9. Hãy lưu ý rằng Chân sư DK nói đến việc “xuyên phá” ảo cảm trong chính đời sống chúng ta. Dường như phải đập vỡ một lớp vỏ ảo tưởng để ánh sáng, trước đó bị ngăn ở bên ngoài, có thể đi vào.

10. It is safe to say that all that prevents us from resembling the members of the Hierarchy are glamors. If we could isolate the ways in which we are unlike those highly developed souls Who serve the planet by participation in the Spiritual Hierarchy, we would know our task.

10. Có thể khẳng định rằng mọi điều ngăn chúng ta trở nên giống các thành viên của Thánh đoàn đều là ảo cảm. Nếu có thể xác định riêng những phương diện mà chúng ta khác với những linh hồn phát triển cao đang phụng sự hành tinh bằng việc tham gia Thánh đoàn, chúng ta sẽ biết nhiệm vụ của mình.

11. To end glamor, however, is not the task of a single day. The cloud of glamor (though suffocating) is not easily seen and many glamors within the general ‘swirl’ are elusive and hard to confront.

11. Tuy nhiên, chấm dứt ảo cảm không phải là công việc của một ngày. Đám mây ảo cảm (dù gây ngạt thở) không dễ nhận thấy, và nhiều ảo cảm trong ‘vòng xoáy’ chung ấy rất khó nắm bắt và khó đối diện.

12. The naming of some of the myriad glamors can, however, be useful for, perhaps, we will notice some of these glamors within our own nature or in those close to us. Perhaps taking notice will lead to a realization of the best methods to counter the effect. We cannot fight an enemy we do not understand.

12. Tuy nhiên, việc gọi tên một số trong vô vàn ảo cảm có thể hữu ích, vì có lẽ chúng ta sẽ nhận thấy một vài ảo cảm ấy trong chính bản chất mình hoặc nơi những người gần gũi với mình. Có lẽ việc chú ý nhận ra sẽ dẫn đến sự nhận biết những phương pháp tốt nhất để chống lại tác động ấy. Chúng ta không thể chiến đấu với một kẻ thù mà mình không thấu hiểu.

There are many and different kinds of glamour and disciples are frequently surprised when they learn what is regarded as glamour by the Masters. I will enumerate a few of the more general glamours for you, leaving you to make any needed application and expansion of the idea from the individual to humanity as a whole. Here are the names of some of these glamours:

Có nhiều loại ảo cảm khác nhau, và các đệ tử thường ngạc nhiên khi biết điều gì được các Chân sư xem là ảo cảm. Tôi sẽ liệt kê cho các bạn một vài ảo cảm phổ biến hơn, để các bạn tự thực hiện mọi sự áp dụng cần thiết và mở rộng ý tưởng từ cá nhân đến toàn thể nhân loại. Sau đây là tên của một số ảo cảm ấy:

1. One of the problems with the elimination of glamor is that it is elusive and hard to detect. It is difficult to separate from the background of the normal living process.

1. Một trong những khó khăn khi loại bỏ ảo cảm là nó rất khó nắm bắt và khó phát hiện. Khó tách nó ra khỏi bối cảnh của tiến trình sống bình thường.

2. Glamor is so often an unrecognizable part of our conditioning. Our habits come to seem normal, and the normal, acceptable. Yet correction is required and it will be the Master’s task to point of certain glamors which escape the corrective attention of the chela.

2. Ảo cảm rất thường là một phần khó nhận ra trong những ảnh hưởng đã định hình chúng ta. Những thói quen của chúng ta dần có vẻ bình thường, và điều bình thường lại trở thành điều có thể chấp nhận. Tuy nhiên, vẫn cần sự sửa chữa, và nhiệm vụ của Chân sư sẽ là chỉ ra những ảo cảm nhất định mà đệ tử chưa chú ý sửa chữa.

3. We are asked to generalize from the individual to the group and, thence, to humanity.

3. Chúng ta được yêu cầu khái quát từ cá nhân đến nhóm, rồi từ đó đến nhân loại.

1. The glamour of destiny. This is a glamour which indicates to the one whom it controls that he has important work to do and that he must speak and work as destined. This feeds a pride which has no foundation in fact.

1. Ảo cảm về vận mệnh. Đây là một ảo cảm khiến người bị nó chi phối tin rằng y có công việc quan trọng phải làm và phải nói năng, hành động theo điều đã được định sẵn. Nó nuôi dưỡng một niềm kiêu hãnh không có nền tảng thực tế.

1. Every glamor is a distortion of an acceptable attitude.

1. Mỗi ảo cảm đều là sự biến dạng của một thái độ có thể chấp nhận được.

2. Every soul has a destiny. Every monad does, especially.

2. Mỗi linh hồn đều có một vận mệnh. Đặc biệt, mỗi chân thần đều như vậy.

3. In this case, however, the personality is attempting to model itself on some external pattern resulting in inauthentic action. There is wrong-self-estimation and, thus, lack of co-measurement of the disciple with his/her environment. He/she values himself/herself too much relative to confreres and this exalted self-valuation has no basis in truth.

3. Tuy nhiên, trong trường hợp này, phàm ngã đang cố khuôn mình theo một mô hình bên ngoài nào đó, dẫn đến hành động thiếu chân thực. Có sự tự đánh giá sai lầm và do đó thiếu sự đánh giá đúng tương quan giữa người đệ tử với môi trường của mình. Người đệ tử đánh giá bản thân quá cao so với các đồng môn, và sự tự đánh giá quá cao này không có cơ sở trong sự thật.

4. The result will be inharmonious and non-productive action, causing trouble among the co-workers and a side-tracking of energy from a constructive objective.

4. Kết quả sẽ là hành động bất hài hòa và không mang lại thành quả, gây rắc rối giữa những người cùng hoạt động và làm năng lượng chệch khỏi một mục tiêu xây dựng.

2. The glamour of aspiration. Those thus conditioned are completely satisfied and pre-occupied with their aspiration towards the light and rest back upon the fact that they are aspirants. Such people need to move onward on to the Path of Discipleship and cease their preoccupation and satisfaction with their spiritual ambitions and goals.

2. Ảo cảm của khát vọng. Những người chịu ảnh hưởng như vậy hoàn toàn thỏa mãn và mải mê với khát vọng hướng tới ánh sáng của mình, rồi an phận với việc mình là người chí nguyện. Những người như thế cần tiến lên Con Đường Đệ Tử và thôi mải mê, thỏa mãn với những tham vọng và mục tiêu tinh thần của mình.

1. This is often the glamor of those who are inwardly afraid of the work (and pain) entailed by treading the Path of Discipleship.

1. Đây thường là ảo cảm của những người trong thâm tâm sợ công việc (và nỗi đau) mà việc bước trên Con Đường Đệ Tử đòi hỏi.

2. Aspiration is exciting, and excitement masquerades as a sense of livingness. One enjoys the simulation without having to “set one’s hand to the plough”.

2. Khát vọng đem lại sự phấn khích, và sự phấn khích khoác lấy dáng vẻ của một cảm giác sống động. Người ta thích thú với sự mô phỏng ấy mà không phải “bắt tayvào công việc”.

3. Aspiration is a means to an end, but when under the spell of this glamor, one settles for the means.

3. Khát vọng là phương tiện để đạt đến một mục đích, nhưng khi chịu sự mê hoặc của ảo cảm này, người ta bằng lòng với phương tiện ấy.

4. In fact, what we have here is a refusal to move on and do the real thing.

4. Thực ra, điều chúng ta thấy ở đây là sự từ chối tiến lên và thực hiện điều thực sự cần làm.

5. If we compare the signs Sagittarius (generically, the sign of aspiration) and Capricorn (generically, the sign of initiation) we see a necessary contrast. While it could not possibly be true in all cases, we find in many Sagittarians a tendency to envision, dream and speculate rather than work. In Capricorn (the sign of initiation) the real work begins. (There are, of course, many outstanding exceptions, and Sagittarius is also the sign of the “one pointed disciple” working his/her way towards the goal. )

5. Nếu so sánh các dấu hiệu Nhân Mã (nói chung là dấu hiệu của khát vọng) và Ma Kết (nói chung là dấu hiệu của điểm đạo), chúng ta thấy một sự tương phản cần thiết. Dù điều này không thể đúng trong mọi trường hợp, chúng ta nhận thấy ở nhiều người thuộc dấu hiệu Nhân Mã một khuynh hướng hình dung, mơ mộng và suy đoán hơn là làm việc. Ở Ma Kết (dấu hiệu của điểm đạo), công việc thực sự bắt đầu. (Dĩ nhiên, có nhiều ngoại lệ nổi bật, và Nhân Mã cũng là dấu hiệu của “người đệ tử nhất tâm” đang nỗ lực tiến tới mục tiêu. )

6. Of course, conversely, Capricorn may be “all work “(of a very mundane and non-progressive kind — “nose to the grindstone”, “shoulder to the wheel”) and Sagittarius may, at least, lift the sight to something higher.

6. Dĩ nhiên, ngược lại, Ma Kết có thể “chỉ biết làm việc “(thuộc loại rất trần tục và không đem lại tiến bộ — “cắm cúi làm lụng”, “gồng vai gánh việc”), còn Nhân Mã ít nhất có thể nâng tầm mắt hướng tới điều gì đó cao hơn.

7. There is no zodiacal sign which is greater or lesser; much depends upon the point of evolution of the form through which the sign is expressing.

7. Không có dấu hiệu hoàng đạo nào cao hơn hay thấp hơn; phần lớn tùy thuộc vào điểm tiến hoá của hình tướng mà dấu hiệu ấy đang biểu lộ qua đó.

8. Another way of conceiving the difference between aspiration and accomplishment is by viewing the manner in which Jupiter and Saturn affect many of those who are spiritually inclined. Jupiter (like Sagittarius) inclines towards vision rather than labor (the speciality of Saturn — ruler of Capricorn).

8. Một cách khác để quan niệm sự khác biệt giữa khát vọng và thành tựu là xem xét cách Sao Mộc và Sao Thổ tác động đến nhiều người có khuynh hướng tinh thần. Sao Mộc (giống Nhân Mã) thiên về tầm nhìn hơn là lao động (sở trường của Sao Thổ — chủ tinh của Ma Kết).

3. The glamour of self-assurance or of what might be called the astral principles of the disciple. This is the belief, [27] in plain language, that the disciple regards that his point of view is entirely right. This again feeds pride and tends to make the disciple believe himself to be an authority and infallible. It is the background of the theologian.

3. Ảo cảm của sự tự tin chắc chắn, hay của điều có thể gọi là các nguyên khí cảm dục của người đệ tử. Nói một cách đơn giản, đây là niềm tin, [27] theo đó người đệ tử cho rằng quan điểm của mình hoàn toàn đúng. Điều này lại nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh và có khuynh hướng khiến người đệ tử tin rằng mình là người có thẩm quyền và không thể sai lầm. Đó là nền tảng của nhà thần học.

1. It is interesting that self-assurance is connected here with the astral principle. If the mental principle were more involved, the factor of doubt (in this case a healthy doubt) might enter in.

1. Điều thú vị là ở đây sự tự tin chắc chắn lại gắn với nguyên khí cảm dục. Nếu nguyên khí trí tuệ tham gia nhiều hơn, yếu tố hoài nghi (trong trường hợp này là sự hoài nghi lành mạnh) có thể xuất hiện.

2. This attitude is a self-protection against the disturbance of uncertainty. It is an emotional demand for certainty and thus a refusal to consider evidence against one’s cherished (and, apparently, certain) point of view.

2. Thái độ này là một cách tự bảo vệ trước sự xáo trộn do tình trạng không chắc chắn gây ra. Đó là một đòi hỏi về mặt cảm xúc muốn có sự chắc chắn, và do đó là sự từ chối xem xét bằng chứng chống lại quan điểm mà mình trân quý (và dường như chắc chắn).

3. Integration (even a false integration) unites energies (rather than dividing them), and it becomes possible for newly integrated individuals to become emphatic about their position.

3. Sự tích hợp (ngay cả một sự tích hợp sai lệch) hợp nhất các năng lượng (thay vì chia rẽ chúng), và những cá nhân vừa đạt được sự tích hợp có thể trở nên quả quyết về lập trường của mình.

4. Again, there is a distortion — an overvaluation of a particular point of view at the expense of other points of view of equal or greater value. When under the spell of a distorted perspective there is no way for correct thought and action to result, and thus the pattern of action emerging in the disciple’s life will be distorted and, thus, in dissonance with the Divine Plan.

4. Một lần nữa, có sự méo mó — đánh giá quá cao một quan điểm cụ thể, làm tổn hại đến những quan điểm khác có giá trị ngang bằng hoặc lớn hơn. Khi chịu sự mê hoặc của một góc nhìn méo mó, không thể nảy sinh tư tưởng và hành động đúng đắn; do đó, mô hình hành động xuất hiện trong đời sống của người đệ tử sẽ méo mó và vì vậy bất hòa với Thiên Cơ.

5. What we have is a self-assuring fixation upon a certain point of view and a rigidity which makes it impossible to change that point of view. Truth is sacrificed for emotional comfort.

5. Điều chúng ta thấy là sự cố chấp vào một quan điểm nhất định nhằm tự trấn an, cùng một sự cứng nhắc khiến người ta không thể thay đổi quan điểm ấy. Chân lý bị hy sinh để đổi lấy sự dễ chịu về cảm xúc.

6. Wherever there is glamor, we have to find the seed of fear.

6. Bất cứ nơi đâu có ảo cảm, chúng ta đều phải tìm ra hạt giống của nỗi sợ.

4. The glamour of duty. This leads to an over-emphasis of the sense of responsibility, producing lost motion and the emphasis of the non-essential.

4. Ảo cảm của bổn phận. Điều này dẫn đến việc nhấn mạnh quá mức tinh thần trách nhiệm, tạo ra những nỗ lực vô ích và sự chú trọng vào điều không thiết yếu.

1. A fixed thoughtform of what are regarded as duties runs the life of the disciple, and to it, he/she conforms.

1. Một hình tư tưởng cố định về những gì được xem là bổn phận điều khiển đời sống người đệ tử, và người đệ tử tuân theo nó.

2. The disciple becomes a ‘bowed’ creature, bent by the fulfillment of that which is imagined as necessary, but which is often non-essential given the real needs to which the disciple is obliged to respond.

2. Người đệ tử trở thành một sinh linh ‘còng lưng’, oằn xuống vì thực hiện những điều mình tưởng là cần thiết, nhưng thường lại không thiết yếu khi xét đến những nhu cầu thực sự mà người đệ tử có bổn phận đáp ứng.

3. Rather than attune intuitively with presented need, the thoughtform presenting a pattern of imagined duties commands the disciple, and he/she responds to it rather than to a living reality which would call for adaptability.

3. Thay vì hòa nhịp bằng trực giác với nhu cầu đang hiện ra, người đệ tử chịu sự sai khiến của hình tư tưởng đưa ra một mô hình gồm những bổn phận tưởng tượng, và đáp ứng nó thay vì đáp ứng một thực tại sống động vốn đòi hỏi khả năng thích ứng.

4. Under the pressure of imagined duty, the personality becomes a poor, dead and rigid thing, working without inspiration as it repetitively “goes through the motions” which are accepted as aligned with that which is necessary and required.

4. Dưới áp lực của bổn phận tưởng tượng, phàm ngã trở thành một thứ nghèo nàn, chết cứng và cứng nhắc, làm việc không có cảm hứng khi cứ lặp đi lặp lại việc “làm cho đủ lệ” mà người ta chấp nhận là chỉnh hợp với những gì cần thiết và được đòi hỏi.

5. The disciple loses his/her center and becomes increasingly conditioned by external factors.

5. Người đệ tử đánh mất trung tâm của mình và ngày càng chịu ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài.

6. Joy leaves the life and the sense of being a ‘living origin’ diminishes.

6. Sự hoan hỉ rời khỏi đời sống, và cảm giác mình là một ‘nguồn khởi sinh sống động’ suy giảm.

7. Sometimes an ambition to rise makes one overly dutiful. “If I fulfill my duty, I shall rise”. Sometimes, it might be a sense of essential unworthiness; “If I fulfill my duty, at least I will be worthy”.

7. Đôi khi tham vọng vươn lên khiến người ta quá câu nệ bổn phận. “Nếu tôi làm tròn bổn phận, tôi sẽ vươn lên”. Đôi khi, đó có thể là cảm giác bản thân vốn không xứng đáng; “Nếu tôi làm tròn bổn phận, ít nhất tôi sẽ xứng đáng”.

8. The result of all this is that the disciple is controlled from ‘without’ rather than Self-controlled from ‘within’.

8. Kết quả của tất cả những điều này là người đệ tử chịu sự kiểm soát từ ‘bên ngoài’ thay vì chịu sự kiểm soát của Chân Ngã từ ‘bên trong’.

9. Could we say that this glamor is rooted in a ‘fear of self-determination’?

9. Liệu chúng ta có thể nói rằng ảo cảm này bắt nguồn từ ‘nỗi sợ tự quyết’?

5. The glamour of environing conditions, leading frequently to a sense of frustration, or of futility or of importance.

5. Ảo cảm của những điều kiện xung quanh, thường dẫn đến cảm giác thất vọng, vô ích hoặc thấy mình quan trọng.

1. The Sun (representing S/selfhood) is positive to environing conditions. Saturn (defining the outer limits of the solar system as it was generally conceived during the pre-scientific era) represents conditions, and all that contains the being within a ring-pass-not.

1. Mặt Trời (đại diện cho Chân ngã/phàm ngã) giữ vai trò chủ động đối với những điều kiện xung quanh. Sao Thổ (xác định giới hạn bên ngoài của hệ mặt trời theo quan niệm phổ biến trong thời kỳ tiền khoa học) đại diện cho các điều kiện, và tất cả những gì giữ sinh linh trong một vòng-giới-hạn.

2. If one is overly concerned with conditions, one forgets the originative Self which is meant to be the creator and controller of conditions.

2. Nếu quá bận tâm đến các điều kiện, người ta quên đi Chân Ngã khởi tạo, vốn có vai trò sáng tạo và kiểm soát các điều kiện.

3. As disciples, we are to work as correctly as we can without attachment to results. The realm of results is the realm of environing conditions.

3. Là đệ tử, chúng ta phải làm việc đúng đắn hết khả năng của mình mà không chấp trước vào kết quả. Lĩnh vực của kết quả là lĩnh vực của những điều kiện xung quanh.

4. According to the quality of the results upon which we become fixated, the condition of our astral body is depressed or rises inordinately. We allow the ‘condition of conditions’ to determine our psychological state.

4. Tùy theo phẩm tính của những kết quả mà chúng ta bám chặt vào, trạng thái thể cảm dục của chúng ta trở nên suy sụp hoặc hưng phấn quá mức. Chúng ta để cho ‘tình trạng của các điều kiện’ quyết định trạng thái tâm lý của mình.

5. Gradually we become more and more concerned with externals losing our Self as center — in fact, losing ourselves as soul.

5. Dần dần, chúng ta ngày càng bận tâm đến những điều bên ngoài, đánh mất Chân Ngã vốn là trung tâm — thực ra là đánh mất chính mình với tư cách linh hồn.

6. Anything that inclines the disciple to become outwardly-determined rather that inwardly-determined is a glamor.

6. Bất cứ điều gì khiến người đệ tử có khuynh hướng chịu sự định đoạt từ bên ngoài thay vì được định đoạt từ bên trong đều là một ảo cảm.

7. For every glamor here listed there could be created what we might call a ‘mantram of release’ — a mantram defining a necessary corrective attitude.

7. Với mỗi ảo cảm được liệt kê ở đây, có thể tạo ra điều chúng ta gọi là một ‘mantram giải thoát’ — một mantram xác định thái độ điều chỉnh cần thiết.

6. The glamour of the mind and of its efficiency and its capacity to deal with any or every problem. This leads inevitably to isolation and loneliness.

6. Ảo cảm của thể trí, của hiệu quả và khả năng xử lý bất kỳ hay mọi vấn đề của nó. Điều này tất yếu dẫn đến sự cô lập và cô đơn.

1. This is a third ray glamor. At least many third ray types are given to the “glamor of efficiency”. One could see certain first and seventh ray types falling into this problem as well.

1. Đây là một ảo cảm của cung ba. Ít nhất, nhiều người cung ba dễ mắc “ảo cảm của hiệu quả”. Cũng có thể thấy một số người cung một và cung bảy rơi vào vấn đề này.

2. Many lives of inadequacy finally give place to a life or lives when the disciple thinks that he/she “can handle it”.

2. Nhiều kiếp sống thiếu năng lực cuối cùng nhường chỗ cho một hay nhiều kiếp sống mà người đệ tử nghĩ rằng mình “có thể xử lý được”.

3. This glamor, however, exemplifies a narrow attitude. There might be other and better ways to handle a problem, but the disciple wants to take everything into his/her own hands (and as a result, compensatorily, feel like “more”).

3. Tuy nhiên, ảo cảm này biểu hiện một thái độ hạn hẹp. Có thể có những cách khác tốt hơn để xử lý một vấn đề, nhưng người đệ tử muốn tự mình nắm lấy mọi việc (và kết quả là, như một sự bù đắp, cảm thấy mình “lớn lao hơn”).

4. It is good to feel adequate to many challenges and to have the power to adapt intelligently and efficiently to many circumstances, but the glamor enters when one feels that he or she must do everything (and, perhaps, that others are far less capable of “doing it right”).

4. Cảm thấy mình đủ năng lực đối phó với nhiều thử thách và có khả năng thích ứng thông minh, hiệu quả với nhiều hoàn cảnh là điều tốt, nhưng ảo cảm xuất hiện khi người ta cảm thấy mình phải làm tất cả mọi việc (và có lẽ cho rằng những người khác kém khả năng hơn mình rất nhiều trong việc “làm cho đúng”).

5. One can see how this glamor could feed pride.

5. Có thể thấy ảo cảm này nuôi dưỡng lòng kiêu hãnh như thế nào.

6. Meanwhile other potential cooperators are shut out of the process. Finding no way to work with the individual preoccupied with this glamor, they go elsewhere and do other things. The glamored disciple, obsessed with his/her overbearing sense of adequacy to all eventualities, is left alone, later to discover that there are many things which could be “handled” or “dealt with” better by others.

6. Trong khi đó, những người khác có khả năng cộng tác lại bị gạt khỏi tiến trình. Không tìm được cách làm việc với cá nhân đang mải mê trong ảo cảm này, họ đi nơi khác và làm những việc khác. Người đệ tử mắc ảo cảm, bị ám ảnh bởi cảm giác tự phụ rằng mình đủ năng lực ứng phó với mọi tình huống, bị bỏ lại một mình, để rồi sau đó khám phá ra rằng có nhiều việc mà người khác có thể “đảm đương” hoặc “xử lý” tốt hơn.

7. Under this glamor, true group work cannot be achieved. Members of a group cannot work together harmoniously and constructively. There is no true esoteric “division of labor” (because the glamored disciple has taken all labor to himself/herself) — or advises others exactly, in the smallest detail, how things are to be done.

7. Dưới ảnh hưởng của ảo cảm này, không thể thực hiện công việc nhóm đích thực. Các thành viên trong nhóm không thể cùng nhau làm việc hài hòa và có tính xây dựng. Không có sự “phân công lao động” đích thực theo nghĩa huyền bí (vì người đệ tử mắc ảo cảm đã ôm lấy mọi công việc) — hoặc chỉ dẫn cho người khác chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất về cách phải làm mọi việc.

7. The glamour of devotion, leading to an undue stimulation of the astral body. The man or woman thus glamoured sees only one idea, one person, one authority and one aspect of truth. It feeds fanaticism and spiritual pride.

7. Ảo cảm Sùng tín, dẫn đến sự kích thích quá mức thể cảm dục. Người nam hay nữ mắc ảo cảm như thế chỉ thấy một ý tưởng, một người, một thẩm quyền và một phương diện của chân lý. Nó nuôi dưỡng sự cuồng tín và lòng kiêu hãnh tinh thần.

1. Focus intensifies energy. If any field within the energy system is fed too much energy at the expense of the other fields within the same system, imbalance results accompanied by a growing inharmony between the fields. Finally, the trend ends in a disintegration of relationship between the previously related fields.

1. Sự tập trung làm năng lượng tăng cường. Nếu bất kỳ trường nào trong hệ thống năng lượng nhận quá nhiều năng lượng, làm thiệt hại đến các trường khác trong cùng hệ thống, thì sự mất cân bằng sẽ xuất hiện, kèm theo tình trạng bất hài hòa ngày càng tăng giữa các trường. Cuối cùng, khuynh hướng ấy dẫn đến sự tan rã của mối quan hệ giữa những trường trước đó từng liên hệ với nhau.

2. The undue intensification of the astral body caused by the narrow focus of devotion creates a distorted picture of life. The object of devotion looms too large until it covers the entire field of vision and all other possibilities and objectives are shut out.

2. Sự tập trung hạn hẹp của lòng sùng tín làm thể cảm dục tăng cường quá mức, tạo nên một bức tranh méo mó về đời sống. Đối tượng sùng tín trở nên quá lớn, cho đến khi che phủ toàn bộ trường nhìn, và mọi khả năng cùng mục tiêu khác đều bị gạt ra ngoài.

3. It may create a comforting feeling of security to see and value only one, but it prevents a wise participation in all the variety of life. One becomes separated from natural and necessary life-processes by the narrow focus of devotion. One “does not care” about anything else, and begins to neglect other equally necessary “people, places and things”.

3. Việc nhìn thấy và coi trọng chỉ một điều duy nhất, có thể tạo ra cảm giác an toàn dễ chịu, nhưng lại ngăn cản sự tham gia sáng suốt vào toàn bộ tính đa dạng của đời sống. Sự tập trung hạn hẹp của lòng sùng tín tách người ta khỏi các tiến trình sống tự nhiên và cần thiết. Người ta “không quan tâm” đến bất cứ điều gì khác, và bắt đầu bỏ bê những “con người, nơi chốn và sự vật” khác cũng cần thiết không kém.

4. “Everything else” is devalued and the object of devotion is overvalued. The energy concentrated in devotion is intense and seems exiting, living and thus self-justifying. The object of devotion is exalted in an unwarranted manner and the disciple (by association with this exalted object) begins to feel exalted himself/herself. Thus, pride develops and a further separation from other people, place and things (the real value of which is progressively minimized by the narrowly devoted disciple).

4. “Mọi thứ khác” đều bị hạ thấp giá trị, còn đối tượng sùng tín thì được đánh giá quá cao. Năng lượng tập trung trong lòng sùng tín rất mãnh liệt và có vẻ gây phấn khích, sống động, do đó dường như tự chứng minh cho tính chính đáng của mình. Đối tượng sùng tín được tôn cao một cách thiếu cơ sở, và người đệ tử (qua mối liên hệ với đối tượng được tôn cao này) bắt đầu cảm thấy bản thân cũng cao quý. Vì vậy, lòng kiêu hãnh phát triển, cùng với sự tách biệt sâu hơn khỏi những con người, nơi chốn và sự vật khác (mà người đệ tử sùng tín hạn hẹp ngày càng xem nhẹ giá trị thực sự của chúng).

5. The eventual result of all this is a separative and destructive attitude which works against harmonious and constructive relationship within the broader context.

5. Kết quả cuối cùng của tất cả những điều này là một thái độ chia rẽ và phá hoại, chống lại mối quan hệ hài hòa và có tính xây dựng trong bối cảnh rộng lớn hơn.

6. The basic fear is of “standing alone” and of independent existence.

6. Nỗi sợ căn bản là sợ “đứng một mình” và sợ sự hiện tồn độc lập.

7. There is a correlative fear which seeks to avoid the demanding process of developing one’s own capacities to handle variety and complexity. Secretly, the overly devoted one hopes to avoid responsibility.

7. Có một nỗi sợ tương ứng khiến người ta tìm cách tránh né tiến trình đòi hỏi nhiều nỗ lực để phát triển năng lực của chính mình nhằm xử lý sự đa dạng và phức tạp. Trong thâm tâm, người quá sùng tín hy vọng tránh được trách nhiệm.

8. The glamour of desire with its reflex action upon the physical body. This leads to a constant condition of fighting and of turmoil. It negates all peace and fruitful work and must some day be brought to an end.

8. Ảo cảm của dục vọng cùng tác động phản hồi của nó lên thể xác. Điều này dẫn đến một tình trạng đấu tranh và xáo trộn không ngừng. Nó phủ nhận mọi sự bình an và công việc sinh thành quả, và một ngày nào đó phải chấm dứt.

1. Desire is a driving force. It is associated much with the planet Mars (thus producing fighting and turmoil).

1. Dục vọng là một mãnh lực thúc đẩy. Nó liên hệ mật thiết với hành tinh Sao Hỏa (do đó tạo ra đấu tranh và xáo trộn).

2. Intense desires do have an immediate effect upon the physical body. They translate into action almost instantaneously. Both the physical body and the astral body, especially, are generically ruled by Mars. The lower mind and the personality are also associated with this planet.

2. Những dục vọng mãnh liệt quả thực có tác động tức thời lên thể xác. Chúng chuyển thành hành động gần như ngay lập tức. Nói chung, Sao Hỏa cai quản cả thể xác lẫn thể cảm dục, đặc biệt là thể cảm dục. Hạ trí và phàm ngã cũng liên hệ với hành tinh này.

3. This instantaneous translation of desire into action produces maya (what DK calls “that unthinking emotional mess”.

3. Sự chuyển tức thời dục vọng thành hành động này tạo ra ảo lực (điều Chân sư DK gọi là “mớ cảm xúc hỗn độn, không suy nghĩ ấy”.

4. When driven by desires, one fights for the fulfillment of those desires. In such turmoil it is impossible to see, and where one cannot see, one cannot think, act, or work correctly.

4. Khi dục vọng thúc đẩy, người ta đấu tranh để thỏa mãn những dục vọng ấy. Trong sự xáo trộn như thế, không thể thấy, và khi không thể thấy, người ta không thể suy nghĩ, hành động hay làm việc đúng đắn.

5. Desire (ever insistent) does not respect the wise and necessary rhythms of life. These rhythms are needed if plans are to come to fruition. Otherwise all constructive process will be disrupted (Mars again).

5. Dục vọng (luôn đòi hỏi dai dẳng) không tôn trọng những nhịp điệu sáng suốt và cần thiết của đời sống. Những nhịp điệu này là cần thiết để các kế hoạch có thể thành tựu. Nếu không, mọi tiến trình xây dựng đều sẽ bị phá vỡ (lại là Sao Hỏa).

6. A disciple is one who is assisting in the manifestation of the Divine Plan. A disciple cannot constantly be disrupting his/her own work and that of others.

6. Đệ tử là người đang trợ giúp sự biểu hiện của Thiên Cơ. Người đệ tử không thể liên tục phá vỡ công việc của chính mình và của người khác.

7. What is needed here is distance from one’s desires, and the choosing of precisely which desires one will entertain and allow as motivating forces. The qualities of the planet Saturn (discrimination and choice) must be applied.

7. Điều cần thiết ở đây là giữ khoảng cách với những dục vọng của mình, và lựa chọn chính xác những dục vọng nào mình sẽ nuôi dưỡng và cho phép làm các mãnh lực thúc đẩy. Cần vận dụng những phẩm tính của hành tinh Sao Thổ (sự phân biện và lựa chọn).

9. The glamour of personal ambition.

9. Ảo cảm của tham vọng cá nhân.

1. This glamor is based upon a false sense of identity. One sees only the “little self” and does not evaluate the real relation of that self to the larger context.

1. Ảo cảm này dựa trên một cảm nhận sai lầm về bản sắc. Người ta chỉ thấy “cái ngã nhỏ bé” và không đánh giá mối quan hệ thực sự của cái ngã ấy với bối cảnh rộng lớn hơn.

2. The objectives pursued will tend to exaggerate the importance of the little self in relation to its environing context. This self will attempt to become ‘bigger’ than it really is. The welfare of the whole will thus be sacrificed for the welfare of the part.

2. Những mục tiêu được theo đuổi sẽ có khuynh hướng phóng đại tầm quan trọng của cái ngã nhỏ bé so với bối cảnh xung quanh nó. Cái ngã này sẽ cố trở nên ‘lớn hơn’ so với thực chất của nó. Do đó, phúc lợi của toàn thể sẽ bị hy sinh cho phúc lợi của bộ phận.

3. This attitude obviously causes delay in the progress of the whole.

3. Rõ ràng, thái độ này làm chậm sự tiến bộ của toàn thể.

4. One can, however, be constructively ‘ambitious’ for the welfare of the whole, but a decentralized attitude with respect to one’s own personality is required.

4. Tuy nhiên, người ta có thể có ‘tham vọng’ mang tính xây dựng vì phúc lợi của toàn thể, nhưng điều đó đòi hỏi một thái độ phi tập trung vào bản thân đối với phàm ngã của chính mình.

There are many other glamours, both individual and world-wide, but these will serve to indicate a general tendency.

Còn nhiều ảo cảm khác, cả ở cá nhân lẫn trên toàn thế giới, nhưng những ảo cảm này đủ để chỉ ra một khuynh hướng chung.

1. What is the tendency? Is there a common denominator at the root of all these glamors?

1. Khuynh hướng ấy là gì? Có một mẫu số chung nằm ở gốc rễ của tất cả những ảo cảm này không?

2. Might we say that false self-estimation is one of the major roots? Glamors are problems which exist as the individual attempts to see himself/herself within an environing context. Somehow, in the glamor process, there is always a lack of co-measurement. One fails to see the individual and the enfolding context in the proper proportion.

2. Liệu chúng ta có thể nói rằng sự tự đánh giá sai lầm là một trong những gốc rễ chính? Ảo cảm là những vấn đề tồn tại khi cá nhân cố nhìn nhận bản thân trong một bối cảnh xung quanh. Bằng cách nào đó, trong tiến trình ảo cảm luôn có sự thiếu đánh giá đúng tương quan. Người ta không nhìn thấy cá nhân và bối cảnh bao quanh trong tỉ lệ thích đáng.

3. From this distorted estimation, wrong attitudes and wrong actions develop. If we could “observe reality with clarity” the glamors would cease. But only intuition can provide this kind of reliably clear vision. Intuition will only operate when we have freed ourselves from low desire (a desire which distorts perception).

3. Từ sự đánh giá méo mó này, những thái độ sai lầm và hành động sai lầm phát triển. Nếu chúng ta có thể “quan sát thực tại một cách rõ ràng” thì các ảo cảm sẽ chấm dứt. Nhưng chỉ trực giác mới có thể đem lại tầm nhìn rõ ràng đáng tin cậy như thế. Trực giác chỉ hoạt động khi chúng ta đã giải thoát mình khỏi dục vọng thấp hèn (một dục vọng làm méo mó tri giác).

4. Desire, itself, is based upon inadequacy. The tiny unit (instinctually or, later, consciously) knows it ‘needs’ something ‘else’ — something other than itself. It is born that way. Desire is natural and unavoidable. Basically and metaphysically, desire arises because the part is apparently not the whole and needs to re-become the whole. There is a primal fear associated with not being the whole. Desire can only end when the lasting perception of oneness is achieved

4. Chính dục vọng dựa trên sự thiếu hụt. Đơn vị nhỏ bé biết (theo bản năng hoặc về sau một cách có ý thức) rằng nó ‘cần’ một điều gì ‘khác’ — một điều gì khác với chính nó. Nó sinh ra đã như vậy. Dục vọng là tự nhiên và không thể tránh khỏi. Về căn bản và xét theo siêu hình học, dục vọng nảy sinh vì bộ phận dường như không phải là toàn thể và cần trở lại thành toàn thể. Có một nỗi sợ nguyên sơ gắn với việc không phải là toàn thể. Dục vọng chỉ có thể chấm dứt khi đạt được sự tri giác bền vững về tính nhất thể

5. The more one refines one’s desires, the more intuition can enter. The more intuition enters, the more one can refine one’s desires. Gradually, when desire no longer has a strangling hold upon the field of consciousness, the intuition of oneness can plant itself in that field. This signals the beginning of the end of desire (as we know it). (Of course, Desire, is a cosmic principle, so even when overcome in the human sphere, must be faced on ever higher turns of the spiral. But the process will be different than that confronting the human being. )

5. Càng tinh luyện dục vọng của mình, trực giác càng có thể đi vào. Trực giác càng đi vào, người ta càng có thể tinh luyện dục vọng của mình. Dần dần, khi dục vọng không còn siết chặt trường tâm thức, trực giác về tính nhất thể có thể bén rễ trong trường ấy. Điều này báo hiệu sự khởi đầu của hồi kết đối với dục vọng (theo cách chúng ta biết về nó). (Dĩ nhiên, Dục vọng là một nguyên khí vũ trụ, nên ngay cả khi đã được khắc phục trong phạm vi nhân loại, người ta vẫn phải đối diện với nó ở những vòng xoắn ốc ngày càng cao hơn. Nhưng tiến trình ấy sẽ khác với tiến trình mà con người đang đối diện. )

Those who are in preparation for initiation must learn to work consciously with glamour; they must work effectively with the presented truth, ignoring any pain or suffering or mental questioning which is incident to personality rebellion and limitation; they must cultivate that “divine indifference” to personal considerations which is the outstanding hallmark of the trained initiate.

Những ai đang chuẩn bị cho điểm đạo phải học cách làm việc một cách hữu thức với ảo cảm; họ phải làm việc hiệu quả với chân lý được trình bày, không để tâm đến bất kỳ đau đớn, khổ sở hay những câu hỏi trong thể trí nào đi kèm với sự phản kháng và giới hạn của phàm ngã; họ phải vun bồi “Điềm nhiên thiêng liêng” trước những mối quan tâm cá nhân, vốn là dấu ấn nổi bật của điểm đạo đồ đã qua huấn luyện.

1. We see that Master DK offers these insights into glamor because of their importance to those who are treading the Path of Initiation (and all true disciples are treading that Path, even if in its earlier stages).

1. Chúng ta thấy Chân sư DK đưa ra những sự thấu hiểu sâu sắc này về ảo cảm vì chúng quan trọng đối với những ai đang bước trên Con Đường Điểm Đạo (và mọi đệ tử chân chính đều đang bước trên Con Đường ấy, dù chỉ mới ở những giai đoạn đầu).