Trích nội dung chương
Years later, owing to this mistake, I am apparently in the position of contradicting or reversing myself, and so changing my policy. Actually I am not doing so. The spread of the teaching alters circumstances and the need of humanity demands at times a changed approach. There is nothing static in the evolution of truth. It has long been my intention to do all that was necessary to bring the fact of the Hierarchy and its membership more definitely before the public and in a more arresting way. Nhiều năm sau, do sai sót này, dường như Tôi ở vào tình thế tự mâu thuẫn hoặc đảo ngược lời mình đã nói, và như vậy là thay đổi chủ trương của mình.…
Years later, owing to this mistake, I am apparently in the position of contradicting or reversing myself, and so changing my policy. Actually I am not doing so. The spread of the teaching alters circumstances and the need of humanity demands at times a changed approach. There is nothing static in the evolution of truth. It has long been my intention to do all that was necessary to bring the fact of the Hierarchy and its membership more definitely before the public and in a more arresting way.
Nhiều năm sau, do sai sót này, dường như Tôi ở vào tình thế tự mâu thuẫn hoặc đảo ngược lời mình đã nói, và như vậy là thay đổi chủ trương của mình. Thực ra, Tôi không làm như thế. Sự phổ biến của giáo huấn làm hoàn cảnh thay đổi, và đôi khi nhu cầu của nhân loại đòi hỏi một cách tiếp cận khác. Không có gì bất biến trong sự tiến hoá của chân lý. Từ lâu, Tôi đã có ý định làm mọi điều cần thiết để trình bày rõ ràng hơn trước công chúng sự thật về sự hiện hữu của Thánh đoàn và các thành viên của Thánh đoàn, theo một cách thu hút sự chú ý hơn.
181. Is the Tibetan making the best of a bad situation, or is the “mistake” of AAB, not really a mistake in the greater scheme of things?
181. Chân sư Tây Tạng đang tận dụng tốt nhất một tình thế bất lợi, hay “sai sót” của Bà AAB thực ra không phải là sai sót khi xét trong toàn cục rộng lớn hơn?
182. It would seem that the mistake made it possible for Master DK to “bring the fact of the Hierarchy and its membership more definitely before the public and in a more arresting way”. Surely the emergence of DK’s true name and status would be “arresting”!
182. Dường như sai sót ấy đã tạo điều kiện để Chân sư DK “trình bày rõ ràng hơn trước công chúng sự thật về sự hiện hữu của Thánh đoàn và các thành viên của Thánh đoàn, theo một cách thu hút sự chú ý hơn”. Chắc chắn việc công khai tên thật và địa vị của Chân sư DK hẳn sẽ “thu hút sự chú ý”!
183. The Masters are nothing if not adaptable.
183. Các Chân sư có khả năng thích ứng hơn hết.
Years ago, I definitely told A. A. B. (as did her own Master) that her major duty as a disciple was to familiarise the public with the true nature of the Masters of the Wisdom, and thus offset the erroneous impression which the public had received.
Nhiều năm trước, Tôi đã nói rõ với Bà A. A. B. (Chân sư của chính bà cũng nói như vậy) rằng bổn phận chính của bà với tư cách một đệ tử là giúp công chúng biết rõ bản chất chân thực của các Chân sư Minh Triết, qua đó hóa giải ấn tượng sai lầm mà công chúng đã tiếp nhận.
184. We see that informing the public of the true nature of the Masters is high on the list of the Masters’ priorities.
184. Chúng ta thấy rằng việc giúp công chúng biết bản chất chân thực của các Chân sư nằm ở vị trí cao trong danh sách những ưu tiên của Các Ngài.
185. HPB had done some of this work but “bitterly regretted” having done so when she saw the great distortion that resulted.
185. Bà HPB đã thực hiện một phần công việc này, nhưng đã “vô cùng hối tiếc” vì đã làm như vậy khi thấy sự xuyên tạc nghiêm trọng nảy sinh từ đó.
This she has done to a certain degree but not to the full extent that was intended. She has shrunk from the task, owing to the disrepute into which the whole subject has fallen because of the false presentations given out by the various teachers and occult groups, plus the ridiculous claims put out by the ignorant about us.
Bà đã làm điều này đến một mức độ nhất định, nhưng chưa đạt đầy đủ mức độ dự định. Bà đã chùn bước trước nhiệm vụ ấy, vì toàn bộ chủ đề đã mất uy tín do những trình bày sai lệch từ nhiều huấn sư và nhóm huyền bí khác nhau, cộng thêm những lời tự nhận lố bịch mà những người thiếu hiểu biết đưa ra về chúng Tôi.
186. This is straight talk from the Master. It is understandable why AAB shrunk from the task.
186. Đây là lời nói thẳng thắn của Chân sư. Có thể hiểu vì sao Bà AAB đã chùn bước trước nhiệm vụ ấy.
187. Has there been much progress since her time? Is there greater understanding today of the Masters, Their nature and their mission than there was some sixty years ago?
187. Kể từ thời của bà, đã có nhiều tiến bộ chưa? Ngày nay, sự thấu hiểu về các Chân sư, bản chất và sứ mệnh của Các Ngài có sâu sắc hơn so với khoảng sáu mươi năm trước không?
188. We note DK’s words, “false”, and “ridiculous”, and should, perhaps, pause to evaluate how we present the subject. H. P. B., her predecessor, stated in certain instructions sent out to the Esoteric Section of the Theosophical Society that she bitterly regretted ever mentioning the Masters, Their names and functions. A. A. B. has been of the same opinion.
188. Chúng ta lưu ý những từ Chân sư DK đã dùng, “sai lệch”, và “lố bịch”, và có lẽ nên dừng lại để đánh giá cách chúng ta trình bày chủ đề này. Bà H. P. B., người đi trước bà, đã nói trong một số huấn thị gửi đến Ban Nội Môn của Hội Thông Thiên Học rằng bà vô cùng hối tiếc vì đã từng đề cập đến các Chân sư, danh tính và chức năng của Các Ngài. Bà A. A. B. cũng có cùng quan điểm.
189. Realizations of the inevitable distortions have been so painful.
189. Việc nhận ra những xuyên tạc không thể tránh khỏi ấy đã gây biết bao đau đớn.
The Masters, as portrayed in the Theosophical Society faintly resemble the reality;
Hình ảnh các Chân sư mà Hội Thông Thiên Học mô tả chỉ phảng phất giống với thực tế;
190. This is especially so in some of the presentations of them as “Ascended Masters”; the word “Ascended” is badly misunderstood. Actually it relates to the sixth initiation. These Masters are, however, portrayed through some sixth ray filter which makes them seem unnaturally elevated and so far above humanity as to have little to do with it in any practical way. This is far from the truth.
190. Điều này đặc biệt đúng trong một số cách trình bày Các Ngài như những “Chân sư Thăng Thiên”; từ “Thăng Thiên” đã bị hiểu sai nghiêm trọng. Thực ra, từ ấy liên quan đến lần điểm đạo thứ sáu. Tuy nhiên, các Chân sư này lại được mô tả qua một bộ lọc cung sáu nào đó, khiến Các Ngài có vẻ cao vời một cách thiếu tự nhiên và ở quá xa bên trên nhân loại, đến mức hầu như không liên quan gì đến nhân loại về mặt thực tiễn. Điều này khác xa sự thật.
191. Further, the ‘portraits’ or renderings of their appearance is unnaturally childish.
191. Hơn nữa, những ‘chân dung’ hay hình vẽ mô tả diện mạo của Các Ngài lại non nớt một cách thiếu tự nhiên.
much good has been done by this testimony to Their existence, and much harm by the foolish detail at times imparted.
lời chứng về sự hiện hữu của Các Ngài đã đem lại nhiều điều tốt đẹp, còn những chi tiết ngớ ngẩn đôi khi được truyền ra đã gây nhiều tai hại.
192. That impartation of detail may, perhaps, be found in the works of C. W. Leadbeater.
192. Có lẽ có thể tìm thấy việc truyền đạt những chi tiết ấy trong các tác phẩm của Ông C. W. Leadbeater.
193. The presentation, therefore, has had mixed results.
193. Vì vậy, cách trình bày ấy đã đem lại những kết quả vừa tốt vừa xấu.
They are not as pictured; They do not issue orders to Their followers (or rather devotees) to do thus and so, to form this or that organization, nor do They indicate [788] certain individuals as being of supreme importance and hierarchical status; They know full well that disciples, initiates and Masters are known by their works, their deeds and their words; they have to prove their status by the work they accomplish.
Các Ngài không như những hình ảnh người ta vẽ ra; Các Ngài không ra lệnh cho những người theo mình (hay đúng hơn là những người sùng tín) phải làm thế này thế nọ, phải lập tổ chức này hay tổ chức kia, cũng không chỉ định [788] một số cá nhân là những người có tầm quan trọng tối cao và địa vị trong Thánh đoàn; Các Ngài biết rất rõ rằng người ta nhận biết các đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư qua công việc, hành động và lời nói của họ; họ phải chứng tỏ địa vị của mình bằng công việc họ hoàn thành.
194. A major misconception is here destroyed.
194. Ở đây, một quan niệm sai lầm lớn được phá bỏ.
195. The Masters encourage their disciples to work out their own destiny.
195. Các Chân sư khuyến khích đệ tử của mình tự định đoạt vận mệnh của họ.
196. The manner in which a true disciple or initiate is recognized is here specified—”by their works, their deeds and their words”. They prove themselves through their accomplishments. They are not anointed!
196. Ở đây đã nêu rõ cách nhận biết một đệ tử hay điểm đạo đồ chân chính—”qua công việc, hành động và lời nói của họ”. Họ chứng tỏ mình qua những thành quả của mình. Họ không được xức dầu tấn phong!
The Masters work through Their disciples in many organisations; They do not exact, through these disciples, the implicit obedience of the organisation members, nor do They exclude from the teaching those who disagree with the organisational policies or the interpretations of the leaders.
Các Chân sư hoạt động thông qua đệ tử của Các Ngài trong nhiều tổ chức; thông qua những đệ tử này, Các Ngài không đòi hỏi các thành viên trong tổ chức phải phục tùng tuyệt đối, cũng không loại khỏi giáo huấn những ai bất đồng với chủ trương của tổ chức hoặc cách diễn giải của những người lãnh đạo.
197. Occult obedience is a very different thing from the kind of obedience exacted by dictatorial leaders (claiming that the Masters demand such obedience).
197. Sự tuân phục huyền bí rất khác với kiểu phục tùng mà những người lãnh đạo độc tài đòi hỏi (họ tuyên bố rằng các Chân sư yêu cầu sự phục tùng như vậy).
198. We can see that the whole subject of the Masters has been presented through a separative sixth ray filter.
198. Chúng ta có thể thấy rằng toàn bộ chủ đề về các Chân sư đã được trình bày qua một bộ lọc cung sáu mang tính chia rẽ.
They are not separative and antagonistic to the groups working under various disciples or other Masters, and any organisation in which the Masters are interested would be inclusive and not exclusive.
Các Ngài không chia rẽ và đối kháng với những nhóm hoạt động dưới sự hướng dẫn của các đệ tử khác nhau hoặc các Chân sư khác, và bất kỳ tổ chức nào mà các Chân sư quan tâm cũng sẽ mang tính bao gồm chứ không mang tính loại trừ.
199. This is an important touchstone—inclusivity vs. exclusivity.
199. Đây là một tiêu chuẩn thử nghiệm quan trọng—tính bao gồm đối lập với tính loại trừ.
200. So often the liabilities of aspirants and disciples are projected onto the Masters whose state of mind is entirely otherwise. Thus the lesser ever limits the greater.
200. Rất thường xuyên, những nhược điểm của người chí nguyện và đệ tử được phóng chiếu lên các Chân sư, trong khi trạng thái trí tuệ của Các Ngài hoàn toàn khác. Như vậy, cái nhỏ hơn luôn giới hạn cái lớn hơn.
They do not fight over personalities, endorsing this one or rejecting that one simply because the policies of an organisational leader are, or are not, upheld. They are not the spectacular and ill-bred people portrayed by the mediocre leaders of many groups, nor do They choose (for Their pledged disciples and prominent workers) men and women who, even from a worldly point of view, are of a pronounced inferiority or who deal in claim-making and in the art of attracting attention to themselves.
Các Ngài không tranh chấp vì những cá nhân, tán thành người này hay bác bỏ người kia chỉ vì người ấy ủng hộ hay không ủng hộ chủ trương của một người lãnh đạo tổ chức. Các Ngài không phải là những người thích phô trương và thiếu giáo dưỡng như cách những người lãnh đạo tầm thường của nhiều nhóm mô tả, cũng không chọn (làm đệ tử đã cam kết và người hoạt động nổi bật của Các Ngài) những người nam và nữ mà ngay cả theo quan điểm thế tục cũng rõ ràng là kém cỏi, hoặc những người chuyên đưa ra các lời tự nhận và dùng thủ thuật thu hút sự chú ý về mình.
201. The matter is set straight. DK is helping to clear away misconceptions.
201. Vấn đề đã được làm sáng tỏ. Chân sư DK đang giúp xóa bỏ những quan niệm sai lầm.
202. The phrase “spectacular and ill-bred people” is almost humorous. It is obviously the longing for the spectacular, and the poor breeding of those who thus long, which has created the false images.
202. Cụm từ “những người thích phô trương và thiếu giáo dưỡng” gần như mang tính hài hước. Rõ ràng chính lòng khao khát những điều ngoạn mục cùng sự thiếu giáo dưỡng của những người khao khát như vậy đã tạo nên các hình ảnh sai lệch ấy.
203. DK is not describing an imaginary situation. This is precisely how so many group leaders have conducted themselves. It is shocking, but true.
203. Chân sư DK không mô tả một tình huống tưởng tượng. Đó chính là cách rất nhiều người lãnh đạo nhóm đã hành xử. Điều đó gây sửng sốt, nhưng là sự thật.
To be a probationary disciple, one can be a devotee; the emphasis can then be laid on purification and the acquiring of an intelligent understanding of brotherhood and human need; to be an accepted disciple, working directly under the Masters and active in world work (with a growing influence) requires a mental polarisation, a heart development and a sense of real values.
Để là một đệ tử dự bị, một người có thể là người sùng tín; khi ấy có thể đặt trọng tâm vào việc thanh luyện và đạt được sự thấu hiểu sáng suốt về tình huynh đệ và nhu cầu của con người; để là một đệ tử được chấp nhận, làm việc trực tiếp dưới sự hướng dẫn của các Chân sư và tích cực tham gia công việc thế gian (với ảnh hưởng ngày càng tăng), cần có sự phân cực trí tuệ, sự phát triển của trái tim và ý thức về những giá trị chân thực.
204. DK makes a clear distinction between the orientation and development of probationary and accepted disciples.
204. Chân sư DK phân biệt rõ định hướng và sự phát triển của đệ tử dự bị với đệ tử được chấp nhận.
205. We see that whereas a probationary disciple may be largely stimulated by the solar plexus, this will not do for the true accepted disciple.
205. Chúng ta thấy rằng trong khi một đệ tử dự bị có thể chủ yếu chịu sự kích thích từ tùng thái dương, điều này không đáp ứng yêu cầu đối với một đệ tử được chấp nhận chân chính.
206. The section immediately above offers a very good definition of the true nature of an accepted disciple:
206. Phần ngay trên đưa ra một định nghĩa rất hay về bản chất chân thực của một đệ tử được chấp nhận:
a. mental polarization,
a. sự phân cực trí tuệ,
b. heart development,
b. sự phát triển của trái tim,
c. a sense of real values,
c. ý thức về những giá trị chân thực,
d. active in world work
d. tích cực tham gia công việc thế gian
e. and working directly under the Masters.
e. và làm việc trực tiếp dưới sự hướng dẫn của các Chân sư.
Knowing all the above, and having watched the ill effects of the usual teaching given anent the Masters, A. A. B. has gone to extremes in order to present the true nature of the Hierarchy, its goals and personnel; she has sought to lay the emphasis—as does the Hierarchy itself—on humanity and on world service, and not on a group of Teachers who, even if They have transcended the usual personality problems and experience in the three worlds, are still in process of training and are preparing Themselves (under the tuition of the Christ) to tread “the Way of the Higher Evolution,” as it is called.
Biết tất cả những điều trên và đã chứng kiến tác hại của những giáo huấn thông thường về các Chân sư, Bà A. A. B. đã đi đến cực đoan nhằm trình bày bản chất chân thực của Thánh đoàn, các mục tiêu và thành viên của Thánh đoàn; bà đã tìm cách đặt trọng tâm—như chính Thánh đoàn vẫn làm—vào nhân loại và việc phụng sự thế gian, thay vì vào một nhóm Huấn sư mà dù đã vượt qua những vấn đề thông thường của phàm ngã và kinh nghiệm trong ba cõi giới, Các Ngài vẫn đang trong tiến trình huấn luyện và đang chuẩn bị (dưới sự chỉ dạy của Đức Christ) để bước trên “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”, như tên gọi của con đường ấy.
207. AAB has introduced the whole subject of the Masters with a true sense of proportion.
207. Bà AAB đã giới thiệu toàn bộ chủ đề về các Chân sư với ý thức đúng đắn về tỉ lệ.
208. So many seem to imagine that the Masters have “arrived” at a stage of final development, and fail to consider them as evolving beings.
208. Dường như rất nhiều người tưởng rằng các Chân sư đã “đạt đến” giai đoạn phát triển cuối cùng, và không xem Các Ngài là những sinh mệnh đang tiến hoá.
209. The emphasis is to be laid on “humanity and world service”. Emphasis upon the “Teachers” is secondary.
209. Cần đặt trọng tâm vào “nhân loại và việc phụng sự thế gian”. Việc chú trọng đến các “Huấn sư” là thứ yếu.
The name given to us by some disciples in Tibet gives the clue to our point of attainment. They call the Hierarchy the “society of organised [789] and illumined Minds”—illumined by love and understanding, by deep compassion and inclusiveness, illumined by a knowledge of the plan and aiming to comprehend the purpose, sacrificing Their own immediate progress in order to help humanity. That is a Master.
Tên gọi mà một số đệ tử ở Tây Tạng dành cho chúng Tôi cho thấy manh mối về mức độ thành tựu của chúng Tôi. Họ gọi Thánh đoàn là “đoàn thể những Thể Trí có tổ chức [789] và được soi sáng”—được soi sáng bằng tình thương và sự thấu hiểu, bằng lòng từ bi sâu sắc và tính bao gồm, được soi sáng bằng tri thức về Thiên Cơ và hướng đến việc lĩnh hội Thiên Ý, hy sinh sự tiến bộ trước mắt của chính Các Ngài để giúp đỡ nhân loại. Đó là một Chân sư.
210. Illumination, it seems, is not simply a matter of mentality. Let us look at the agents of illumination:
210. Dường như sự soi sáng không đơn thuần là vấn đề trí tuệ. Chúng ta hãy xem xét các tác nhân của sự soi sáng:
a. Love
a. Tình thương
b. Understanding|
b. Sự thấu hiểu|
c. Deep compassion
c. Lòng từ bi sâu sắc
d. Inclusiveness
d. Tính bao gồm
e. Knowledge of the Plan
e. Tri thức về Thiên Cơ
f. Comprehension of the purpose
f. Sự lĩnh hội Thiên Ý
211. We note that to be a Master is to sacrifice. What is sacrificed by the Master? His own immediate progress for the sake of helping humanity.
211. Chúng ta lưu ý rằng làm một Chân sư là hy sinh. Chân sư hy sinh điều gì? Sự tiến bộ trước mắt của chính Ngài để giúp đỡ nhân loại.
The second point I would make is in the form of a question. What harm does it do if some one points the finger towards a Master and recognises Him as such, provided His record substantiates the statement and His influence is worldwide? If by this inadvertent slip, A. A. B. has thus indicated me as a Master, has any harm been done?
Điểm thứ hai Tôi muốn nêu được trình bày dưới dạng một câu hỏi. Có hại gì nếu ai đó chỉ vào một Chân sư và nhận biết Ngài đúng là một Chân sư, miễn là những thành tựu của Ngài chứng thực lời khẳng định ấy và ảnh hưởng của Ngài lan rộng khắp thế giới? Nếu qua sơ suất vô ý này, Bà A. A. B. đã chỉ rõ Tôi là một Chân sư, thì có gây ra tổn hại nào không?
212. DK seems to suggest that no harm has been done.
212. Dường như Chân sư DK muốn nói rằng không có tổn hại nào xảy ra.
My books, the carriers of my influence, have gone to the far corners of the earth and convey aid and help; the goodwill work which I suggested, and which F. B. is carrying out voluntarily, has reached literally millions of people by pamphlet and radio, by the use of the great Invocations, by the work of the Triangles and by the words and example of the men and women of goodwill.
Những cuốn sách của Tôi, phương tiện chuyên chở ảnh hưởng của Tôi, đã đến những miền xa xôi nhất trên Trái Đất và đem lại sự trợ giúp; công việc thiện chí mà Tôi đề xuất và Ông F. B. đang tự nguyện thực hiện đã thực sự đến với hàng triệu người qua các tập sách nhỏ và phát thanh, qua việc sử dụng những bài Khấn Nguyện lớn, qua công việc của các Tam Giác và qua lời nói cùng tấm gương của những người nam và nữ có thiện chí.
213. DK tells something of His world-wide influence. This influence will substantiate the fact that He is a Master.
213. Chân sư DK cho biết đôi điều về ảnh hưởng trên toàn thế giới của Ngài. Ảnh hưởng này sẽ chứng thực rằng Ngài là một Chân sư.
214. A disciple, initiate or Master is measured by the quality and extent of His influence.
214. Một đệ tử, điểm đạo đồ hay Chân sư được đánh giá qua phẩm tính và phạm vi ảnh hưởng của mình.
The third point I would bring to your attention is that in the new cycle which will come at the close of the war, the fact of the Hierarchy and the work of the Masters—through Their disciples—must and will be brought to public attention.
Điểm thứ ba Tôi muốn các bạn lưu ý là trong chu kỳ mới sẽ đến khi chiến tranh kết thúc, sự thật về sự hiện hữu của Thánh đoàn và công việc của các Chân sư—thông qua đệ tử của Các Ngài—phải và sẽ được công chúng biết đến.
215. We have lived through and are living through that period.
215. Chúng ta đã và đang sống qua thời kỳ ấy.
Disciples everywhere will present increasingly the hierarchical plan of brotherhood, spiritual living and inclusiveness to the world; this will be done not in terms (so prevalent among the foolish) of “The Master has chosen me,” or “the Master stands behind my effort” or “I am the representative of the Hierarchy” but by a life of service, by indicating that the Masters exist and are known to many men everywhere;
Các đệ tử ở khắp nơi sẽ ngày càng trình bày với thế giới kế hoạch của Thánh đoàn về tình huynh đệ, đời sống tinh thần và tính bao gồm; điều này sẽ được thực hiện bằng một cuộc đời phụng sự, bằng việc chỉ ra rằng các Chân sư hiện hữu và nhiều người ở khắp nơi biết đến Các Ngài, chứ không bằng những lời (rất phổ biến trong số những người thiếu sáng suốt) như “Chân sư đã chọn tôi”, hay “Chân sư đứng sau nỗ lực của tôi”, hay “Tôi là đại diện của Thánh đoàn”;
216. The real work is accomplished not through self-reference, but by a life of service, and a general indication as to the existence the Masters and the fact that they are known to many men.
216. Công việc thực sự được hoàn thành bằng một cuộc đời phụng sự và bằng việc chỉ ra một cách khái quát rằng các Chân sư hiện hữu và nhiều người biết đến Các Ngài, chứ không qua việc đề cao bản thân.
that the plan is one of evolutionary development and educational progress towards an intelligent spiritual goal; that humanity is not alone but that the Hierarchy stands, that Christ is with His people, that the world is full of disciples unrecognised because silently working; that the New Group of World Servers exists; that the men and women of goodwill are everywhere; that the Masters are not the least interested in personalities but will use men and women of all attitudes, faiths, and nationalities, provided that love motivates them, that they are intelligent and have trained minds and that they have also magnetic and radiant influences which will attract people to truth and goodness but not to the individual—[790] be he a Master or a disciple.
rằng Thiên Cơ là sự phát triển tiến hoá và tiến bộ giáo dục hướng đến một mục tiêu tinh thần sáng suốt; rằng nhân loại không đơn độc, mà Thánh đoàn vẫn hiện hữu, rằng Đức Christ ở cùng dân của Ngài, rằng thế giới có rất nhiều đệ tử chưa được nhận biết vì họ đang âm thầm làm việc; rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hiện hữu; rằng những người nam và nữ có thiện chí có mặt ở khắp nơi; rằng các Chân sư hoàn toàn không quan tâm đến những cá nhân mà sẽ sử dụng những người nam và nữ thuộc mọi quan điểm, tín ngưỡng và quốc tịch, miễn là tình thương thúc đẩy họ, họ có trí thông minh và thể trí đã được rèn luyện, đồng thời có ảnh hưởng mang từ tính và tỏa sáng để thu hút mọi người đến với chân lý và điều thiện chứ không đến với cá nhân—[790] dù người ấy là một Chân sư hay một đệ tử.
217. The educational agenda is here given. In the section above, we learn what we are to tell humanity
217. Chương trình giáo dục được nêu ra ở đây. Trong phần trên, chúng ta biết được những điều cần nói với nhân loại
a. The developmental and educational nature of the Plan
a. Bản chất phát triển và giáo dục của Thiên Cơ
b. The fact that Hierarchy stands and is with humanity
b. Sự thật rằng Thánh đoàn vẫn hiện hữu và ở cùng nhân loại
c. That Christ is with His people
c. Rằng Đức Christ ở cùng dân của Ngài
d. That the world is full of disciples, unrecognized because working silently
d. Rằng thế giới có rất nhiều đệ tử chưa được nhận biết vì họ đang âm thầm làm việc
e. That the NGWS exists
e. Rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hiện hữu
f. That men and women of goodwill are everywhere
f. Rằng những người nam và nữ có thiện chí có mặt ở khắp nơi
g. That the Masters are not interested in personalities
g. Rằng các Chân sư không quan tâm đến những cá nhân
h. That all men and women of any kind can be used if love motivates them
h. Rằng mọi người nam và nữ thuộc bất kỳ thành phần nào đều có thể được sử dụng nếu tình thương thúc đẩy họ
218. We note that the power of magnetism must not be used to attract to the individual, but, rather, to truth and goodness. This is an important distinction and one to be pondered.
218. Chúng ta lưu ý rằng không được dùng quyền năng của từ điện để thu hút người khác đến với cá nhân, mà phải đến với chân lý và điều thiện. Đây là một sự phân biệt quan trọng và đáng suy ngẫm.
They care nothing for personal loyalties but are dedicated solely to the relief of distress and the promotion of the evolution of humanity and the indication of spiritual goals. They look not for recognition of Their work or the praise of Their contemporaries but only for the growth of the light within the world and the unfoldment of the human consciousness.
Các Ngài không màng đến lòng trung thành với cá nhân mà chỉ tận tâm xoa dịu khổ đau, thúc đẩy sự tiến hoá của nhân loại và chỉ ra những mục tiêu tinh thần. Các Ngài không tìm kiếm sự công nhận đối với công việc của mình hay lời ca ngợi của những người đương thời, mà chỉ mong ánh sáng trong thế giới tăng trưởng và tâm thức nhân loại khai mở.
219. The Masters are not looking for personal loyalty; rather they seek those who are loyal to the soul of humanity and to the emergence of the higher spiritual values.
219. Các Chân sư không tìm kiếm lòng trung thành với cá nhân; thay vào đó, Các Ngài tìm những người trung thành với linh hồn nhân loại và với sự xuất hiện của những giá trị tinh thần cao cả hơn.
220. The Masters are also immune from the love of recognition and praise
220. Các Chân sư cũng không bị lòng ham muốn được công nhận và ca ngợi chi phối
221. In detailing the attitude of the Masters, Master DK sets the standard for our own thought and behavior
221. Khi trình bày chi tiết thái độ của các Chân sư, Chân sư DK đặt ra chuẩn mực cho tư tưởng và hành vi của chính chúng ta
The Mantram of Unification:
Mantram Hợp Nhất:
The sons of men are one, and I am one with them. I seek to love, not hate; I seek to serve and not exact due service; I seek to heal, not hurt.
Những người con của nhân loại là một, và tôi là một với họ. Tôi tìm cách yêu thương mà không thù ghét; Tôi tìm cách phụng sự và không đòi hỏi sự phục vụ đáp lại; Tôi tìm cách chữa lành, không gây tổn thương.
222. The tendencies of undeveloped man are given and these are to be overcome by their opposites.
222. Ở đây nêu ra những khuynh hướng của con người chưa phát triển, và cần khắc phục chúng bằng những phẩm tính đối lập.
223. To love, serve and heal are soul values. To hate, hurt and exact due service indicate the tendencies common to those under the sway of personality.
223. Yêu thương, phụng sự và chữa lành là những giá trị của linh hồn. Thù ghét, gây tổn thương và đòi hỏi được phục vụ đáp lại cho thấy những khuynh hướng thường gặp ở những người chịu sự chi phối của phàm ngã.
Let pain bring due reward of light and love.
Cầu xin sự khổ đau đem lại phần thưởng thích đáng của ánh sáng và tình thương.
224. This, strangely, is the result of pain. Can anyone rise to greatness without the influence of pain?
224. Lạ thay, đây lại là kết quả của khổ đau. Liệu ai có thể vươn đến sự vĩ đại mà không chịu ảnh hưởng của khổ đau?
Let the soul control the outer form, And life, and all events, And bring to light the Love That underlies the happenings of the time.
Cầu xin linh hồn chế ngự ngoại thể, và cuộc sống và mọi biến cố, Và làm hiển lộ tình thương đang ẩn trong các diễn biến hiện thời.
225. All human beings are eventually to achieve soul control. This is an immediate demand for disciples.
225. Cuối cùng, mọi người đều phải đạt đến sự chế ngự của linh hồn. Đây là một yêu cầu trước mắt đối với các đệ tử.
226. Soul control begins in relation to the microcosm, but eventually extends to “life and all events”.
226. Sự chế ngự của linh hồn bắt đầu trong phạm vi tiểu thiên địa, nhưng cuối cùng mở rộng đến “cuộc sống và mọi biến cố”.
227. Can we detect the “Love that underlies the happenings the time”. DK asserts its reality. No matter how terrible events may be, that Love substands those events.
227. Chúng ta có thể nhận ra “tình thương đang ẩn trong các diễn biến hiện thời”. Chân sư DK khẳng định tính hiện thực của tình thương ấy. Dù các biến cố có khủng khiếp đến đâu, Tình thương ấy vẫn là nền tảng bên dưới chúng.
228. That “Love” must be brought to light. It is to be revealed, but first we must discover it in ourselves.
228. Cần làm hiển lộ “Tình thương” ấy. Tình thương ấy phải được bộc lộ, nhưng trước hết chúng ta phải khám phá nó trong chính mình.
Let vision come and insight. Let the future stand revealed.
Cầu xin tầm nhìn tinh thần đến cùng sự thông hiểu. Cầu xin tương lai tỏ rõ.
229. Humanity must learn to see, becoming the one-pointed, visionary Sagittarian disciples.
229. Nhân loại phải học cách thấy, trở thành những đệ tử Nhân Mã nhất tâm và có tầm nhìn.
Let inner union demonstrate and outer cleavages be gone.
Cầu xin sự kết hợp nội tâm biểu dương và các chia rẽ bên ngoài tan biến.
230. The soul promotes inner union. Inner union already exists and it must manifest. When it does, outer cleavages will be gone.
230. Linh hồn thúc đẩy sự kết hợp nội tâm. Sự kết hợp nội tâm đã hiện hữu và phải biểu hiện. Khi điều đó xảy ra, các chia rẽ bên ngoài sẽ tan biến.
Let love prevail.
Cầu xin tình thương chế ngự.
231. Love is the conquering force, and the Christ is the greatest of all Conquerors.
231. Tình thương là mãnh lực chinh phục, và Đức Christ là Đấng vĩ đại nhất trong tất cả các Đấng Chinh Phục.
Let all men love.
Cầu xin mọi người yêu thương.
232. This is the final desirable result. Love must prevail in the hearts and minds of humanity.
232. Đây là kết quả cuối cùng đáng mong muốn. Tình thương phải ngự trị trong trái tim và thể trí của nhân loại.
233. The transference of preoccupation from the third aspect of divinity to the second will be complete.
233. Sự chuyển dịch mối quan tâm chủ yếu từ phương diện thứ ba của thiên tính sang phương diện thứ hai sẽ hoàn tất.