Trích nội dung chương
As it was written it went out, chapter by chapter, to the senior students of the ArcaneSchool as reading matter only. Trong quá trình viết, từng chương được gửi đến các đạo sinh cao cấp của Trường Arcane, chỉ để làm tài liệu đọc.
53. It was written in the later 1920’s.
53. Tác phẩm được viết vào cuối thập niên 1920.
As it was written it went out, chapter by chapter, to the senior students of the ArcaneSchool as reading matter only.
Trong quá trình viết, từng chương được gửi đến các đạo sinh cao cấp của Trường Arcane, chỉ để làm tài liệu đọc.
54. There was not yet a Study Set designed around this material. Later the Arcane School section known as “The Magical Work of the Soul” utilized material from A Treatise on White Magic.
54. Khi ấy chưa có Bộ Tài Liệu Học Tập nào được soạn dựa trên tài liệu này. Về sau, phần học của Trường Arcane mang tên “Công Việc Huyền Thuật của Linh Hồn” đã sử dụng tài liệu từ Luận về Chánh Thuật.
It is the first book ever given out upon the training and control of the astral or emotional body.
Đây là tác phẩm đầu tiên từng được công bố về việc rèn luyện và kiểm soát thể cảm dục, hay thể cảm xúc.
55. This may come as a surprise given the wealth of all kinds of information to be found within TWM, however, here we see one of Master DK’s major motives in writing the book.
55. Điều này có thể gây ngạc nhiên khi xét đến lượng thông tin phong phú thuộc đủ mọi loại trong TWM, tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy một trong những động cơ chính của Chân sư DK khi viết tác phẩm này.
56. It is true that there can be no white magic without a controlled astral body.
56. Quả thật, không thể có Chánh Thuật nếu thể cảm dục chưa được kiểm soát.
Many occult books have been written upon the subject of the physical body and its purification and upon the etheric or vital body; most of them have been compilations of other books, both ancient or modern.
Nhiều tác phẩm huyền bí đã bàn về thể xác và việc thanh lọc nó, cũng như về thể dĩ thái hay thể sinh lực; phần lớn các tác phẩm ấy đều là những bản biên soạn từ các sách khác, cả cổ đại lẫn hiện đại.
57. In writing TWM, DK was raising the standard, and taking the preoccupations of the aspirant another step inward.
57. Khi viết TWM, Chân sư DK đã nâng cao tiêu chuẩn và đưa những mối quan tâm của người chí nguyện tiến thêm một bước vào bên trong.
This book of mine, however, is intended to train the modern aspirant in the control of his astral body, by the aid of the mind as that mind is, in its turn, illumined by the soul.
Tuy nhiên, tác phẩm này của Tôi nhằm huấn luyện người chí nguyện hiện đại kiểm soát thể cảm dục của mình nhờ sự trợ giúp của thể trí, khi đến lượt nó được linh hồn soi sáng.
58. The illumined mind is required if the astral vehicle is to be controlled. In this respect, we find Scorpio to be a sign conducive both to this illumination and to astral control via the mind.
58. Muốn kiểm soát hiện thể cảm dục thì cần có thể trí được soi sáng. Về phương diện này, chúng ta thấy Hổ Cáp là một dấu hiệu thuận lợi cho cả sự soi sáng ấy lẫn việc kiểm soát cảm dục thông qua thể trí.
“In Scorpio the mind is released into full governing activity. This release takes place in two stages: Stage 1—Wherein the intellect becomes dominant and powerful and controls eventually the emotional nature.
“Trong Hổ Cáp, thể trí được giải phóng để phát huy trọn vẹn hoạt động cai quản. Sự giải phóng này diễn ra qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1—Trong đó trí năng trở nên mạnh mẽ, giữ vai trò chủ đạo và cuối cùng kiểm soát bản chất cảm xúc.
Stage 2— Wherein the intellect is illumined by the light of the soul. ” (EA 179-180)
Giai đoạn 2— Trong đó ánh sáng của linh hồn soi sáng trí năng. ” (EA 179-180)
The next book undertaken was A Treatise on the Seven Rays. It is a long book, not yet completed.
Tác phẩm tiếp theo được bắt tay thực hiện là Luận về Bảy Cung. Đây là một tác phẩm dài, hiện vẫn chưa hoàn tất.
59. Master DK considers the five volumes as one long book. It is taking shape in four volumes, two of which are already published (Esoteric Psychology, Vols. I and II), one is ready for publication (Esoteric Astrology) and the final volume is in process of writing. (Esoteric Healing) Volumes one and two deal with the seven rays and their seven psychological types and thus lay the foundation for the new psychology for which modern psychology, materialistic as it may be, has laid a sound basis.
59. Chân sư DK xem năm tập là một cuốn sách dài duy nhất. Bộ sách đang thành hình với bốn tập, trong đó hai tập đã xuất bản (Tâm Lý Học Nội Môn, Tập I và II), một tập đã sẵn sàng xuất bản (Chiêm Tinh Học Nội Môn) và tập cuối đang được viết. (Trị Liệu Huyền Môn) Tập một và tập hai bàn đến bảy cung và bảy loại hình tâm lý tương ứng, qua đó đặt nền móng cho nền tâm lý học mới, mà tâm lý học hiện đại, dù có mang tính duy vật, đã tạo dựng một cơ sở vững chắc.
60. The Tibetan is always appreciative and inclusive of humanity’s thinking when He can be.
60. Chân sư Tây Tạng luôn trân trọng và bao gồm tư tưởng của nhân loại bất cứ khi nào Ngài có thể.
61. So often, a sound material basis provides the foundation for more rarefied considerations. DK often praises the work of modern medical science, recognizing its importance as a foundation for esoteric healing.
61. Rất thường xuyên, một cơ sở vật chất vững chắc tạo nền tảng cho những suy xét tinh tế hơn. Chân sư DK thường ca ngợi công trình của khoa học y học hiện đại, thừa nhận tầm quan trọng của nó như một nền tảng cho trị liệu huyền môn.
Volume three is entirely given over to the subject of esoteric astrology and forms a unit [780] in itself.
Tập ba hoàn toàn dành cho chủ đề chiêm tinh học nội môn và tự nó tạo thành một phần [780] hoàn chỉnh.
62. Since astrology is the “greatest and oldest of all the sciences” (EA 5), it would naturally form an entire unit of study—really a vast unit of study requiring more than one life to learn well.
62. Vì chiêm tinh học là “khoa học vĩ đại nhất và cổ xưa nhất trong mọi khoa học” (EA 5), nên đương nhiên nó tạo thành một lĩnh vực nghiên cứu trọn vẹn—thực sự là một lĩnh vực nghiên cứu bao la, đòi hỏi hơn một kiếp sống mới có thể học cho thấu đáo.
63. This book (Esoteric Astrology) is considered by the Tibetan to be the most occult He wrote because it deals entirely with energies and forces.
63. Cuốn sách này (Chiêm Tinh Học Nội Môn) được Chân sư Tây Tạng xem là cuốn mang tính huyền bí nhất mà Ngài đã viết, vì nó hoàn toàn bàn đến các năng lượng và mãnh lực.
It is intended to launch the new astrology which is founded on the soul and not on the personality.
Cuốn sách nhằm khai mở nền chiêm tinh học mới, đặt nền tảng trên linh hồn chứ không phải phàm ngã.
64. The true and complete astrology of the soul cannot yet be expressed through horoscopes presently in use. The Masters use other kinds of charts about which a few hints have been given. Still, with what the Tibetan has given, we are on our way to the unfoldment of a new and more spiritual astrology.
64. Chiêm tinh học chân chính và toàn vẹn về linh hồn chưa thể được biểu đạt qua những lá số chiêm tinh hiện đang sử dụng. Các Chân sư sử dụng những loại lá số khác mà về chúng mới chỉ có một vài gợi ý được đưa ra. Tuy vậy, với những gì Chân sư Tây Tạng đã ban ra, chúng ta đang tiến tới sự khai mở của một nền chiêm tinh học mới và mang tính tinh thần hơn.
Orthodox astrology sets up a chart which gives the fate and destiny of the personality, and when that personality is little evolved or is only of an average development, it can be and often is amazingly correct.
Chiêm tinh học chính thống lập một lá số cho biết số phận và vận mệnh của phàm ngã; khi phàm ngã ấy còn ít tiến hoá hoặc chỉ phát triển ở mức trung bình, lá số có thể chính xác đến kinh ngạc, và thường là như vậy.
65. This is because the power of conscious choice is not cultivated.
65. Đó là vì năng lực lựa chọn có ý thức chưa được trau dồi.
It is not so correct, however, in the case of highly developed people, aspirants, disciples and initiates who are beginning to control their stars and consequently their actions; the events and the happenings in their lives then become unpredictable.
Tuy nhiên, lá số không còn chính xác như thế đối với những người phát triển cao, những người chí nguyện, các đệ tử và điểm đạo đồ đang bắt đầu làm chủ các tinh tú của mình và do đó làm chủ hành động của mình; bấy giờ những biến cố và sự việc trong đời họ trở nên không thể tiên đoán.
66. In such cases the ambient energies can be determined, but what the disciple or initiate does with them becomes indeterminate.
66. Trong những trường hợp như vậy, có thể xác định các năng lượng bao quanh, nhưng không thể xác định đệ tử hay điểm đạo đồ sẽ sử dụng chúng ra sao.
67. The new and future astrology is to be applied to advanced people and those who are definitely upon the spiritual Path.
67. Nền chiêm tinh học mới và tương lai sẽ áp dụng cho những người tiến hoá cao và những ai đã thực sự bước trên Đường Đạo tinh thần.
The new and future astrology endeavours to give the key to the horoscope of the soul, as it is conditioned by the soul ray and not by the personality ray;
Nền chiêm tinh học mới và tương lai nỗ lực trao chìa khóa để thấu hiểu lá số chiêm tinh của linh hồn, vì lá số này chịu ảnh hưởng của cung linh hồn chứ không phải cung phàm ngã;
68. It is necessary to know the soul ray (and personality ray) before it is possible to give a truly esoteric reading (given the horoscopes presently in use). (cf. EA 222)
68. Cần biết cung linh hồn (và cung phàm ngã) mới có thể luận giải thực sự theo nội môn (với những lá số chiêm tinh hiện đang sử dụng). (đối chiếu EA 222)
69. In such cases, the soul-ray planet becomes of particular importance, whereas that same planet in the horoscope of someone with a different soul ray may have nowhere near the same weight.
69. Trong những trường hợp như vậy, hành tinh tương ứng với cung linh hồn trở nên đặc biệt quan trọng, trong khi chính hành tinh ấy trong lá số chiêm tinh của một người có cung linh hồn khác có thể có trọng lượng kém xa.
70. Notice the term “horoscope of the soul”. Such are in the possession of the Masters of the Wisdom but not yet capable of being erected even by relatively advanced spiritual astrologers. This will shortly change.
70. Hãy lưu ý thuật ngữ “lá số chiêm tinh của linh hồn”. Các Chân sư Minh Triết có những lá số như vậy, nhưng ngay cả những nhà chiêm tinh tinh thần tương đối tiến bộ cũng chưa có khả năng lập chúng. Điều này sẽ sớm thay đổi.
enough has been given by me to enable astrologers, who are interested and of the new inclination, to work out the future from the angle of this new approach.
Tôi đã cung cấp đủ để những nhà chiêm tinh có sự quan tâm và khuynh hướng mới có thể triển khai tương lai từ góc độ của cách tiếp cận mới này.
71. This means, “to work out the future astrology”. It also may be telling us something about new approaches to the progressed horoscope.
71. Điều này có nghĩa là “triển khai nền chiêm tinh học tương lai”. Nó cũng có thể đang cho chúng ta biết đôi điều về những cách tiếp cận mới đối với lá số chiêm tinh tiến trình.
72. The true progressed horoscope should tell us something about the unfoldment of soul potentials in and through the personality life.
72. Lá số chiêm tinh tiến trình đích thực hẳn phải cho chúng ta biết đôi điều về sự khai mở các tiềm năng của linh hồn trong và qua đời sống phàm ngã.
Astrology is a fundamental and most necessary science.
Chiêm tinh học là một khoa học nền tảng và hết sức cần thiết.
73. This statement must be remembered by many esotericists who tend to dismiss it as both personal and strictly technical.
73. Nhiều nhà bí truyền học có khuynh hướng gạt bỏ chiêm tinh học vì cho rằng nó vừa mang tính cá nhân vừa thuần túy kỹ thuật cần ghi nhớ lời khẳng định này.
A. A. B. is not well versed in astrology; she cannot set up a chart nor could she tell you the names of the planets with the houses which they rule.
A. A. B. không am tường chiêm tinh học; bà không thể lập lá số, cũng không thể nói cho các bạn biết tên các hành tinh cùng những nhà mà chúng cai quản.
74. The limits of AAB’s knowledge of astrology are nowhere more explicitly expressed.
74. Giới hạn kiến thức chiêm tinh học của AAB không đâu được trình bày rõ ràng hơn ở đây.
75. In fact, she may even have had a bias against astrology—at least the study of astrology as applied to the person or individual (as her rays did not, I would think, incline her in this direction).
75. Thực tế, bà thậm chí có thể đã có thành kiến với chiêm tinh học—ít nhất là việc nghiên cứu chiêm tinh học khi áp dụng cho một người hay cá nhân (vì tôi nghĩ các cung của bà không hướng bà theo chiều này).
76. For many years in the Arcane School, astrology was not a subject on which any particular emphasis was placed. In fact, my experience has shown me, that it was avoided. This may have been an unintentional part of the AAB legacy.
76. Trong nhiều năm tại Trường Arcane, chiêm tinh học không phải là môn học được đặc biệt chú trọng. Thực tế, kinh nghiệm của tôi cho thấy người ta đã tránh môn này. Đây có thể là một phần di sản ngoài chủ ý của AAB.
I am, therefore, entirely responsible for all that appears in this and all my books, except, as before explained, the one book, The Light of the Soul.
Vì vậy, Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi điều xuất hiện trong cuốn sách này và tất cả các sách của Tôi, ngoại trừ, như đã giải thích trước đây, một cuốn duy nhất là Ánh Sáng của Linh Hồn.
77. DK seems to be taking special responsibility for that which appears in the astrology book as AAB was not in a position to contribute any knowledge to it.
77. Chân sư DK dường như đặc biệt nhận trách nhiệm về những gì xuất hiện trong cuốn sách chiêm tinh học, vì AAB không có khả năng đóng góp bất kỳ kiến thức nào vào đó.
The fourth volume deals with the subject of healing, and with the bridging, by the antahkarana, of the gap which exists between the Monad and the personality; it also gives the Fourteen Rules which those in training for initiation have to master.
Tập bốn bàn đến chủ đề trị liệu và việc dùng antahkarana bắc cầu qua khoảng cách giữa chân thần và phàm ngã; tập này cũng trình bày Mười Bốn Quy Luật mà những người đang được huấn luyện để điểm đạo phải nắm vững.
78. This is really interesting, as it appears that what eventually became Vol. IV and Vol. V were considered at the time of this writing as only one book—Vol. IV.
78. Điều này thực sự thú vị, vì dường như những gì cuối cùng trở thành Tập IV và Tập V, vào thời điểm viết những dòng này, chỉ được xem là một cuốn sách—Tập IV.
79. We note that in the discussion of “bridging”, it is the gap between the Monad and the personality that is mentioned, and not the gap between the spiritual triad and the personality. Effectively, these gaps are the same, for, in a way, the spiritual triad is the Monad (i. e. , the immediate expression of the monad through three divine aspects on the three planes immediately beneath the monadic plane).
79. Chúng ta lưu ý rằng khi bàn về việc “bắc cầu”, khoảng cách được nhắc đến là giữa chân thần và phàm ngã, chứ không phải giữa Tam Nguyên Tinh Thần và phàm ngã. Trên thực tế, hai khoảng cách này là một, vì theo một nghĩa nào đó, Tam Nguyên Tinh Thần chính là chân thần ( nghĩa là sự biểu hiện trực tiếp của chân thần qua ba phương diện thiêng liêng trên ba cõi ngay bên dưới cõi chân thần).
80. The Fourteen Rules are definitely related to initiation. The initiation or initiations suggested in this connection are probably higher than the initiations targeted by the Fourteen Rules of Applicants to Initiation in Initiation: Human and Solar. The Rules for Applicants can be applied to those who are applying to the first three initiations. The Fourteen Rules for Disciples and Initiates seem to begin with the third initiation and move far beyond. One would have to be a Master to fulfill some of these more advanced Rules.
80. Mười Bốn Quy Luật chắc chắn có liên quan đến điểm đạo. Cuộc điểm đạo hay những cuộc điểm đạo được gợi ra trong mối liên hệ này có lẽ cao hơn những cuộc điểm đạo mà Mười Bốn Quy Luật dành cho Người Xin Điểm Đạo trong Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương hướng tới. Các Quy Luật dành cho Người Xin Điểm Đạo có thể áp dụng cho những người đang xin nhận ba lần điểm đạo đầu tiên. Mười Bốn Quy Luật dành cho Đệ Tử và Điểm Đạo Đồ dường như bắt đầu từ lần điểm đạo thứ ba và tiến xa hơn nhiều. Phải là một Chân sư mới có thể thực hiện trọn vẹn một số Quy Luật cao hơn này.
Again, I would call your attention to this last theme, reminding you that the true initiate has never made the slightest claim, either privately or publicly, to be an initiate. It is against the occult law and too many people of no particular spiritual focus or intellectual capacity make these claims and consequent harm has ensued, thus lowering the idea of the Hierarchy and the nature of adeptship in the eyes of the watching public.
Một lần nữa, Tôi muốn lưu ý các bạn đến chủ đề cuối cùng này, nhắc các bạn rằng điểm đạo đồ chân chính chưa bao giờ đưa ra dù chỉ một lời tự nhận nhỏ nhất, dù riêng tư hay công khai, rằng mình là điểm đạo đồ. Điều đó trái với định luật huyền bí, và quá nhiều người không có sự tập trung tinh thần hay năng lực trí tuệ đặc biệt nào lại đưa ra những lời tự nhận ấy; tổn hại đã phát sinh từ đó, làm hạ thấp quan niệm về Thánh đoàn và bản chất của quả vị chân sư trong mắt công chúng đang quan sát.
81. Here is a statement of the greatest importance and should be reviewed by all those interested in the science of initiation and group initiation.
81. Đây là một lời khẳng định có tầm quan trọng lớn nhất mà tất cả những ai quan tâm đến khoa học điểm đạo và điểm đạo nhóm đều nên xem xét lại.
82. It is clear that the reputation and true elevation of the Hierarchy must be sustained. When there is claim-making (always indulged in by those who are not true initiates), the elevation of the Hierarchy is lowered in the consciousness of those who hear the claims.
82. Rõ ràng cần giữ gìn thanh danh và vị thế cao cả đích thực của Thánh đoàn. Khi có những lời tự nhận (luôn do những người không phải điểm đạo đồ chân chính buông mình theo), vị thế cao cả của Thánh đoàn bị hạ thấp trong tâm thức những người nghe các lời ấy.
I am, therefore, entirely responsible for the Fourteen Rules and their elucidation and application.
Vì vậy, Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về Mười Bốn Quy Luật cùng việc giảng giải và áp dụng chúng.
83. We note DK claiming responsibility for various aspects of the Work. He does this, most often, for the sake of protecting the Work.
83. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nhận trách nhiệm về nhiều phương diện của Công Việc. Ngài thường làm vậy nhất là nhằm bảo vệ Công Việc.
A. A. B. has never claimed to be more than a working disciple, occupied with world work (which no one can deny) and has re-iterated again and again that the word “disciple” is the legitimate and non-controversial word (as well as the truthful word) to be used for all grades of workers in the Hierarchy from the probationary disciple, [781] loosely affiliated with certain disciples in that Hierarchy, up to and including the Christ Himself, the Master of all the Masters and the Teacher alike of Angels and of men.
A. A. B. chưa bao giờ tự nhận mình là gì hơn một đệ tử đang làm việc, bận rộn với công việc thế gian (điều không ai có thể phủ nhận), và đã nhắc đi nhắc lại rằng từ “đệ tử” là từ chính đáng, không gây tranh cãi (đồng thời cũng là từ đúng với sự thật) để dùng cho mọi cấp bậc người hoạt động trong Thánh đoàn, từ đệ tử dự bị, [781] có liên hệ không chặt chẽ với một số đệ tử trong Thánh đoàn ấy, cho đến và kể cả chính Đức Christ, Chân sư của tất cả các Chân sư và Huấn sư của cả Thiên thần lẫn con người.
84. The essential humility of AAB is noted, and the use of the term “disciple” encouraged.
84. Ở đây ghi nhận đức khiêm nhường cốt yếu của AAB và khuyến khích sử dụng thuật ngữ “đệ tử” này.
85. We can see that the term “disciple” is comprehensive, indeed, as it includes the Christ, Himself.
85. Chúng ta có thể thấy thuật ngữ “đệ tử” quả thực có phạm vi bao quát, vì nó bao gồm cả chính Đức Christ.
86. It is important that the Ageless Wisdom Teaching not seem strange and quaint (therefore, relatively useless) to the thinking public. Therefore, caution must be exercised in the use of the terms by means of which we describe the abilities of those who are closely associated with this Wisdom Teaching.
86. Điều quan trọng là Giáo Huấn Minh Triết Ngàn Đời không được có vẻ xa lạ và cổ lạ (do đó tương đối vô dụng) đối với công chúng biết suy tư. Vì vậy, phải thận trọng khi sử dụng những thuật ngữ để mô tả năng lực của những người gắn bó mật thiết với Giáo Huấn Minh Triết này.
She has steadily set herself, with my full approval, against the unwholesome curiosity as to status and title which is a blight on so many occult groups, leading to the full tide of competition, jealousy, criticism and claim-making which distinguishes the majority of the occult groups, which renders futile so many of their publications and which hinders the general public from receiving the teaching in its purity and simplicity.
Với sự tán thành hoàn toàn của Tôi, bà đã kiên định phản đối sự tò mò thiếu lành mạnh về địa vị và danh xưng, vốn là một tai họa đối với rất nhiều nhóm huyền bí, dẫn đến làn sóng cạnh tranh, đố kỵ, chỉ trích và tự nhận địa vị tràn lan, đặc trưng cho phần lớn các nhóm huyền bí, khiến nhiều ấn phẩm của họ trở nên vô ích và cản trở công chúng tiếp nhận giáo huấn trong sự thuần khiết và giản dị của nó.
87. The dangers of claim-making are here set forth. So many negative thoughts and emotions arise when spiritual ambition prods one to make claims as to spiritual status.
87. Ở đây trình bày những nguy hại của việc tự nhận địa vị. Biết bao tư tưởng và cảm xúc tiêu cực nảy sinh khi tham vọng tinh thần thúc đẩy người ta đưa ra những lời tự nhận về địa vị tinh thần.
88. To do so is a disservice to the general public which needs the Ageless Wisdom teaching in its purity and simplicity.
88. Làm như vậy là gây bất lợi cho công chúng, những người cần giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời trong sự thuần khiết và giản dị của nó.
Status and title, place and position count for nothing. It is the teaching that counts—its truth and its intuitive appeal. This you must constantly bear in mind.
Địa vị và danh xưng, vị trí và chức vụ đều không có giá trị gì. Chính giáo huấn mới có giá trị—chân lý của nó và sức thu hút đối với trực giác. Các bạn phải luôn ghi nhớ điều này.
89. These are strong statements and should set the disciple on watch against any thought, word or behaviour which seems to set him or her apart from fellow disciples.
89. Đây là những lời khẳng định mạnh mẽ, cần khiến đệ tử cảnh giác với bất kỳ tư tưởng, lời nói hay hành vi nào dường như đặt mình tách biệt khỏi các đệ tử đồng môn.
90. ”It is the teaching that counts”—this must oft be repeated. The personality wants itself to count and overtakes the consciousness of many well-meaning people. The Plan and the Teaching come first—followed by those whom the Plan and Teaching serve and then, and only then, those who serve the Plan and the Teaching.
90. ”Chính giáo huấn mới có giá trị”—điều này phải được thường xuyên nhắc lại. Phàm ngã muốn chính nó có giá trị và lấn chiếm tâm thức của nhiều người có thiện ý. Thiên Cơ và Giáo Huấn đứng trước hết—tiếp theo là những người mà Thiên Cơ và Giáo Huấn phụng sự, rồi sau đó, và chỉ sau đó, mới đến những người phụng sự Thiên Cơ và Giáo Huấn.
The accepted disciples of a Master who arrive at recognition of Him from within themselves—a recognition which can then be corroborated by their fellow disciples and used by the Master Himself as a factual condition—know their Master, accept teaching from Him and among themselves speak of Him as He is to them but not to the outside world.
Những đệ tử được chấp nhận của một Chân sư, đạt đến sự nhận biết Ngài từ bên trong chính mình—một sự nhận biết mà sau đó các đệ tử đồng môn có thể xác nhận và chính Chân sư có thể sử dụng như một điều kiện thực tế—biết Chân sư của mình, tiếp nhận giáo huấn từ Ngài và nói với nhau về Ngài đúng như mối quan hệ của Ngài với họ, nhưng không nói với thế giới bên ngoài.
91. When a true recognition of the Master emerges as a fact in consciousness, one will know with whom one can speak freely.
91. Khi sự nhận biết đích thực về Chân sư xuất hiện như một sự thật trong tâm thức, người ta sẽ biết mình có thể nói chuyện cởi mở với ai.
92. In order for this recognition to emerge, one must be at least an “accepted disciple”. Only an accepted disciple will truly know the Master.
92. Để sự nhận biết này xuất hiện, ít nhất người ta phải là một “đệ tử được chấp nhận”. Chỉ một đệ tử được chấp nhận mới thực sự biết Chân sư.
93. Note that recognition of the Master must come from within. The factuality of this recognition can then be used by the Master to increase the effectiveness of the disciple.
93. Hãy lưu ý rằng sự nhận biết Chân sư phải đến từ bên trong. Sau đó, tính xác thực của sự nhận biết này có thể được Chân sư sử dụng để gia tăng hiệu quả hoạt động của đệ tử.
94. One of the major tests is here given—the test of silence as to one’s knowledge of the Ashram. Much discretion is needed in this regard, and many violations occur through indiscreet speech.
94. Ở đây nêu ra một trong những thử thách chính—thử thách về sự im lặng đối với những gì mình biết về ashram. Cần hết sức kín đáo về mặt này, và nhiều sự vi phạm xảy ra do lời nói thiếu thận trọng.
The papers lately printed in The Beacon and inadequately censored were given by me, as a Master, to the members of a group within my Ashram. This group has preserved my anonymity for more than a decade, which was their correct and obvious duty.
Những bài viết gần đây in trên tạp chí Ngọn Hải Đăng mà chưa được duyệt kỹ là những bài Tôi, với tư cách một Chân sư, đã trao cho các thành viên của một nhóm trong ashram của Tôi. Nhóm này đã giữ kín danh tính của Tôi hơn một thập niên, đó là bổn phận đúng đắn và hiển nhiên của họ.
95. We see how it came to be revealed to the general public that the Tibetan was indeed Master DK.
95. Chúng ta thấy vì sao công chúng đã biết được rằng Chân sư Tây Tạng quả thực là Chân sư DK.
The books, therefore, have been going out steadily for years. When A Treatise on the Seven Rays is completed, a short book on glamour ready for the press and this book on DISCIPLESHIP IN THE NEW AGE is in the hands of the public, then the work of A. A. B. for me will be over, she can resume her work in the Ashram of her own Master—the work of His disciple.
Vì vậy, các sách đã liên tục được xuất bản trong nhiều năm. Khi Luận về Bảy Cung hoàn tất, một cuốn sách ngắn về ảo cảm sẵn sàng đưa in và cuốn ĐƯỜNG ĐẠO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI này đến tay công chúng, thì công việc A. A. B. làm cho Tôi sẽ kết thúc; bà có thể tiếp tục công việc trong ashram của Chân sư riêng của bà—công việc của người đệ tử của Ngài.
96. There was a schedule of writings to complete, and AAB could not be released fully into her own Ashram until the completion.
96. Có một lịch trình trước tác cần hoàn tất, và AAB chưa thể hoàn toàn trở về ashram riêng của bà cho đến khi hoàn tất công việc ấy.
The next phase of the work which I sought to see accomplished is now in working order. It was my wish (as it is the wish of many associated with the Hierarchy) to see an esoteric school started which would leave the membership free, which would bind them by no pledges or oaths and which would—whilst assigning meditation, study and giving esoteric teaching—leave people to make their own adjustments, to interpret the truth as best they could, to present to them the many points of view and at the same time communicate to them the deepest esoteric truths which they could recognise if there was that in [782] them which was awakened to the mysteries and which, even when read or heard, could do them no harm if they lacked the perception to recognise the truth for what it was.
Giai đoạn tiếp theo của công việc mà Tôi mong thấy được hoàn thành nay đã đi vào hoạt động. Tôi mong muốn (cũng như nhiều người có liên hệ với Thánh đoàn mong muốn) thấy một trường nội môn được thành lập, để các thành viên được tự do, không ràng buộc họ bằng bất kỳ lời cam kết hay lời thề nào; trong khi giao việc tham thiền, học tập và truyền dạy giáo huấn nội môn, trường vẫn để mọi người tự điều chỉnh, diễn giải chân lý theo khả năng tốt nhất của mình, trình bày cho họ nhiều quan điểm, đồng thời truyền đạt những chân lý nội môn sâu xa nhất mà họ có thể nhận biết nếu trong [782] họ có điều gì đó đã thức tỉnh trước các huyền nhiệm; những chân lý ấy, ngay cả khi được đọc hay nghe, cũng không thể gây hại cho họ nếu họ thiếu khả năng tri giác để nhận biết chân lý đúng như bản chất của nó.
97. We see that one of the principle motives in the starting of the Arcane School was to leave students of occultism in perfect freedom to make their own adjustments and interpretations.
97. Chúng ta thấy một trong những động cơ chính khi thành lập Trường Arcane là để các đạo sinh huyền bí học hoàn toàn tự do trong việc tự điều chỉnh và diễn giải.
98. The Arcane School was to be truly a school for the training of disciples. It was to go deeper than most, if not all, of the occult schools then available.
98. Trường Arcane phải thực sự là một trường huấn luyện đệ tử. Trường phải đi sâu hơn phần lớn, nếu không nói là tất cả, các trường huyền bí hiện có vào thời ấy.
Such a school was started in 1923 by Alice A. Bailey with the aid of Foster Bailey and certain students of vision and spiritual understanding.
Một ngôi trường như thế đã được Alice A. Bailey thành lập vào năm 1923, với sự trợ giúp của Foster Bailey và một số đạo sinh có tầm nhìn và sự thấu hiểu tinh thần.
99. The original group worked more on theosophical writings than on the material being brought through by AAB. 100. As of this writing (2005) the Arcane School has been active for some 82 years.
99. Nhóm ban đầu nghiên cứu các tác phẩm Thông Thiên Học nhiều hơn tài liệu do AAB truyền đạt. 100. Tính đến thời điểm viết những dòng này (2005), Trường Arcane đã hoạt động được khoảng 82 năm.
She made it a condition that I should have nothing to do with the Arcane School , and that I should have no control over its policies and curriculum.
Bà đặt điều kiện rằng Tôi không được can dự vào Trường Arcane, và Tôi không được kiểm soát chính sách cũng như chương trình học của trường.
101. This is very interesting. It might have been thought that DK, Himself, wanted nothing to do with the school in the attempt to render AAB completely spiritually self-reliant.
101. Điều này rất thú vị. Người ta có thể đã nghĩ rằng chính Chân sư DK không muốn can dự vào trường nhằm giúp AAB hoàn toàn tự lực về mặt tinh thần.
102. In fact, it appears that AAB realized that founding such a school was a test for her, and sought to prove herself, independently of a Master’s assistance.
102. Thực tế, dường như AAB nhận ra rằng việc thành lập một ngôi trường như vậy là một thử thách đối với bà, và bà tìm cách chứng tỏ bản thân mà không dựa vào sự trợ giúp của một Chân sư.
Even my books were not used as textbooks and only during the past three years has one of them, A Treatise on White Magic, been adopted as a course of study and that at the very earnest request of many students.
Ngay cả các sách của Tôi cũng không được dùng làm giáo trình, và chỉ trong ba năm vừa qua, một cuốn trong số đó, Luận về Chánh Thuật, mới được chọn làm một chương trình học, theo lời thỉnh cầu hết sức tha thiết của nhiều đạo sinh.
103. It was principally Theosophy that was studied. What might AAB’s motives have been? Did she not completely trust that which she was bringing through? Or was it simply not assembled into a form that could be used in a curriculum.
103. Môn được nghiên cứu chủ yếu là Thông Thiên Học. Động cơ của AAB có thể là gì? Phải chăng bà chưa hoàn toàn tin tưởng những gì mình đang truyền đạt? Hay đơn giản là tài liệu ấy chưa được tập hợp thành một hình thức có thể sử dụng trong chương trình học.
104. It is interesting that when one of the Tibetan’s books finally came to be used, it was through the “very earnest request of many students” and not, originally, at the initiative of AAB.
104. Điều thú vị là khi một cuốn sách của Chân sư Tây Tạng cuối cùng được đưa vào sử dụng, đó là do “lời thỉnh cầu hết sức tha thiết của nhiều đạo sinh”, chứ ban đầu không phải do sáng kiến của AAB.
Also, some of the teaching upon the antahkarana (which will appear in the fifth volume of the Treatise on the Seven Rays) has been used for two years in one section of the fourth degree, entitled Weavers in the Light.
Ngoài ra, một phần giáo huấn về antahkarana (sẽ xuất hiện trong tập năm của Luận về Bảy Cung) đã được sử dụng suốt hai năm trong một phân môn thuộc cấp học thứ tư, mang tên Những Người Dệt Trong Ánh Sáng.
105. The antahkarana work is one of the main features of the Weavers in the Light set of studies. “Weavers” is one of the advanced sections of AS study.
105. Công việc antahkarana là một trong những nội dung chính của chương trình Những Người Dệt Trong Ánh Sáng. “Những Người Dệt” là một trong những phân môn nâng cao trong chương trình học của Trường Arcane.
The teaching on glamour has been given as some of the reading matter for another section.
Giáo huấn về ảo cảm đã được đưa vào làm một phần tài liệu đọc cho một phân môn khác.
106. This teaching on glamor was written in connection with Group IX. 2—the “Trained Observers”.
106. Giáo huấn về ảo cảm này được viết liên quan đến Nhóm IX. 2—“Các Nhà Quan Sát Lão Luyện”.
No obedience is expected in the Arcane School, no emphasis is laid on “obeying the Master,” for no Master is running the school.
Trường Arcane không đòi hỏi sự vâng phục, không nhấn mạnh việc “vâng lời Chân sư”, vì không có Chân sư nào điều hành trường.
107. This is an important point. So many occult schools claim to have a supervising Master behind them. AAB must have realized that modern esoteric schools must be headed by disciples who are to take full responsibility for their development.
107. Đây là một điểm quan trọng. Rất nhiều trường huyền bí tuyên bố có một Chân sư giám sát đứng sau họ. Hẳn AAB đã nhận ra rằng các trường nội môn hiện đại phải do những đệ tử lãnh đạo, và những đệ tử ấy phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự phát triển của trường.
108. When a school is directed by a founding disciple (and not by the supposed presence of a Master) the spectre of authoritarianism is banished.
108. Khi một đệ tử sáng lập điều hành ngôi trường (chứ không phải sự hiện diện được cho là có của một Chân sư), bóng ma của chủ nghĩa độc đoán bị xua đi.
Emphasis is laid upon the one Master in the heart, the soul, the true spiritual man within each human being;
Điều được nhấn mạnh là vị Chân sư duy nhất trong tim, linh hồn, con người tinh thần đích thực bên trong mỗi con người;
109. The soul on its own plane is a Master. This is the first Master to be contacted, and no human Master can be contacted in fullness before the disciple comes into full relationship with the “Master in the heart, the soul, the true spiritual man. ”
109. Linh hồn trên cõi riêng của mình là một Chân sư. Đây là vị Chân sư đầu tiên cần tiếp xúc, và không thể tiếp xúc trọn vẹn với bất kỳ Chân sư nhân loại nào trước khi đệ tử thiết lập mối quan hệ đầy đủ với “Chân sư trong tim, linh hồn, con người tinh thần đích thực. ”
no theology is taught; the student is under no compulsion to accept any interpretation or presentation of truth; he can accept or reject the fact of the Masters, of the Hierarchy, of reincarnation, or of the soul and still remain a member of the school in good standing.
không có thần học nào được giảng dạy; đạo sinh không bị ép buộc phải chấp nhận bất kỳ cách diễn giải hay trình bày chân lý nào; y có thể chấp nhận hoặc bác bỏ sự hiện hữu của các Chân sư, của Thánh đoàn, sự luân hồi hay linh hồn mà vẫn là một thành viên có tư cách đầy đủ của trường.
110. This is another important point. It is unlikely that there would be students continuing their study with the AS if they did not accept as factual the Masters and the Hierarchy, and reincarnation, but it is important to realize that they would not be forced by the Arcane School to accept such doctrines.
110. Đây là một điểm quan trọng khác. Khó có chuyện các đạo sinh tiếp tục học tại Trường Arcane nếu họ không chấp nhận sự hiện hữu của các Chân sư, Thánh đoàn và sự luân hồi là sự thật, nhưng điều quan trọng là nhận ra rằng Trường Arcane sẽ không ép buộc họ chấp nhận những giáo lý ấy.
111. We can see the importance of the freedom of the human mind and human will emphasized by true esoteric schools such as the Arcane School .
111. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của sự tự do của trí tuệ và ý chí con người mà những trường nội môn chân chính như Trường Arcane nhấn mạnh .
No loyalty is expected or asked, either to the school or to A. A. B. Students can work in any of the occult, esoteric, metaphysical or orthodox groups and churches and still be members of the school.
Không ai được trông đợi hay yêu cầu phải trung thành với trường hoặc với A. A. B. Các đạo sinh có thể làm việc trong bất kỳ nhóm và giáo hội huyền bí, nội môn, siêu hình hay chính thống nào mà vẫn là thành viên của trường.
112. We see the inclusive attitude so different from the various occult schools of the period. The more exclusive esoteric schools are largely conditioned by the sixth ray.
112. Chúng ta thấy thái độ bao gồm rất khác với các trường huyền bí khác nhau vào thời ấy. Những trường nội môn có tính loại trừ cao hơn phần lớn chịu ảnh hưởng của cung sáu.
They are asked to look upon such activities as fields of service wherein they can express any spiritual help they may have gained through their work in the school. Leaders and senior workers in many occult groups are working in the Arcane School, but they feel perfectly free to give their time, loyalty and service to their own groups.
Họ được đề nghị xem những hoạt động ấy như các lĩnh vực phụng sự, nơi họ có thể biểu lộ bất kỳ sự trợ giúp tinh thần nào đã nhận được qua công việc trong trường. Các lãnh đạo và những người hoạt động lâu năm trong nhiều nhóm huyền bí đang làm việc tại Trường Arcane, nhưng họ cảm thấy hoàn toàn tự do dành thời gian, lòng trung thành và sự phụng sự cho các nhóm riêng của mình.
113. Because of this attitude of free association, the strengths gained in the Arcane School could be spread to many different schools and organizations.
113. Nhờ thái độ liên kết tự do này, những sức mạnh có được tại Trường Arcane có thể lan tỏa đến nhiều trường và tổ chức khác nhau.
This school has been in existence for twenty years and is now entering into a new cycle of growth and usefulness—along with the whole of humanity—and for this due preparation is being made. The keynote of the school is service, based on love of humanity. The meditation work is balanced and paralleled by study and by the effort to teach the students to serve.
Ngôi trường này đã tồn tại được hai mươi năm và nay đang bước vào một chu kỳ tăng trưởng và hữu ích mới—cùng với toàn thể nhân loại—và đang có sự chuẩn bị thích đáng cho điều đó. Chủ âm của trường là phụng sự, dựa trên tình thương nhân loại. Công việc tham thiền được cân bằng và song hành với việc học tập cùng nỗ lực dạy các đạo sinh phụng sự.
114. In case we should imagine that the Arcane School caters only to study, approached through a strictly mental attitude, we learn otherwise. “Service” is its keynote.
114. Nếu chúng ta tưởng rằng Trường Arcane chỉ chú trọng việc học tập với một thái độ thuần túy trí tuệ, thì ở đây chúng ta biết được điều khác. “Phụng sự” là chủ âm của trường.
[783] Another phase of my work came into existence about ten years ago when I started to write certain pamphlets for the general public, calling attention to the world situation and to the New Group of World Servers.
[783] Một giai đoạn khác trong công việc của Tôi bắt đầu cách đây khoảng mười năm, khi Tôi bắt đầu viết một số tập sách nhỏ cho công chúng, lưu ý họ đến tình hình thế giới và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
115. This was in 1932. We can trace the idea of the NGWS to that time. In fact, it would seem that the impulse for its formation came from the 1925 Centennial Conclave.
115. Đó là vào năm 1932. Chúng ta có thể truy nguyên ý tưởng về Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian về thời điểm ấy. Thực tế, dường như xung lực hình thành đoàn đã đến từ Mật Nghị Bách Niên năm 1925.
I thus endeavoured to anchor on earth (if I may use such a phrase) an externalisation or a symbol of the work of the Hierarchy.
Như vậy, Tôi đã nỗ lực neo vững trên Trái Đất (nếu Tôi có thể dùng cách nói ấy) một sự ngoại hiện hay một biểu tượng cho công việc của Thánh đoàn.
116. The NGWS is to be considered an “externalisation or a symbol of the work of the Hierarchy”. This is an important light in which to hold this group.
116. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian cần được xem là một “sự ngoại hiện hay một biểu tượng cho công việc của Thánh đoàn”. Đây là một góc nhìn quan trọng để xem xét nhóm này.
It was an effort to band together subjectively and (where possible) objectively all those people of spiritual purpose and deep love of humanity who were actively working in many countries, either in organisations or alone.
Đó là một nỗ lực nhằm quy tụ về mặt chủ quan và (khi có thể) về mặt khách quan tất cả những người có mục đích tinh thần và tình thương sâu sắc đối với nhân loại, đang tích cực hoạt động tại nhiều quốc gia, trong các tổ chức hoặc một mình.
117. We note that an objective banding was considered desirable. This has sometimes been forgotten when considering the NGWS strictly a subjective group.
117. Chúng ta lưu ý rằng việc quy tụ về mặt khách quan được xem là điều đáng mong muốn. Đôi khi người ta quên điều này khi xem NGWS thuần túy là một nhóm chủ quan.
118. The requirements for membership in this group are, minimally, “spiritual purpose” and “deep love of humanity”. We can see the importance of the heart center.
118. Những yêu cầu tối thiểu để trở thành thành viên của nhóm này là “mục đích tinh thần” và “tình thương sâu sắc đối với nhân loại”. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của trung tâm tim.
Their name is legion. Some few are known to the workers in the school. Thousands are known to me but not to them;
Họ đông vô số kể. Những người hoạt động trong trường biết một số ít trong họ. Tôi biết hàng nghìn người, nhưng những người hoạt động trong trường không biết họ;
119. We realize that by 1943, there were thousands of members in the NGWS. It is interesting and important that these workers would be known to the Members of the Hierarchy.
119. Chúng ta nhận ra rằng đến năm 1943, NGWS đã có hàng nghìn thành viên. Điều thú vị và quan trọng là các Thành Viên của Thánh đoàn biết đến những người hoạt động này.
120. We gather, through the use of the word “legion”, that there were many thousands at that time and, no doubt, many more today.
120. Qua việc sử dụng từ “đông vô số kể”, chúng ta hiểu rằng vào thời ấy đã có nhiều nghìn người, và chắc chắn ngày nay còn đông hơn nhiều.
all are working under the inspiration of the Hierarchy and are, either consciously or unconsciously, fulfilling the duties of agents of the Masters.
tất cả đều hoạt động dưới cảm hứng của Thánh đoàn và, một cách hữu thức hoặc vô thức, đang làm tròn bổn phận của những tác nhân của các Chân sư.
121. We learn that it is possible to be a conscious or unconscious member of the NGWS. It is the Hierarchy which inspires them.
121. Chúng ta biết rằng một người có thể là thành viên hữu thức hoặc vô thức của NGWS. Chính Thánh đoàn truyền cảm hứng cho họ.
Together they form a band, closely knit on the inner side by spiritual intention and love.
Cùng nhau, họ tạo thành một đoàn thể, gắn bó mật thiết ở phía bên trong nhờ ý hướng tinh thần và tình thương.
122. No matter how geographically scattered, their bonds are close. Spiritual intention and love overcome geographical distance.
122. Dù phân tán về địa lý đến đâu, những mối gắn kết của họ vẫn mật thiết. Ý hướng tinh thần và tình thương vượt qua khoảng cách địa lý.
Some are occultists, working in the various occult groups; some are mystics, working with vision and love; others belong to the orthodox religions and some recognise no spiritual affiliations, so-called, at all.
Một số là các nhà huyền bí học, hoạt động trong những nhóm huyền bí khác nhau; một số là các nhà thần bí, hoạt động với tầm nhìn và tình thương; những người khác thuộc các tôn giáo chính thống, và một số hoàn toàn không thừa nhận bất kỳ mối liên hệ tinh thần nào, theo cách gọi thông thường.
123. There is a great diversity of types within the NGWS. Association with occultism, mysticism or religion is not a necessary requirement for membership.
123. Trong NGWS có rất nhiều kiểu người khác nhau. Việc gắn bó với huyền bí học, thần bí học hay tôn giáo không phải là yêu cầu bắt buộc để trở thành thành viên.
All are, however, animated by a sense of responsibility for human welfare and have interiorly pledged themselves to help their fellowmen.
Tuy nhiên, tất cả đều được thôi thúc bởi ý thức trách nhiệm đối với phúc lợi nhân loại và đã tự cam kết trong nội tâm sẽ giúp đỡ đồng loại.
124. Shall we say, from a certain perspective, that true members of the NGWS are “pledged disciples”? They have made an inner promise to themselves, even if they do not know the technical language of occultism with its discussion of the soul.
124. Từ một góc nhìn nào đó, liệu chúng ta có thể nói rằng những thành viên đích thực của NGWS là “những đệ tử đã tuyên thệ”? Họ đã tự hứa nguyện trong nội tâm, ngay cả khi không biết ngôn ngữ chuyên môn của huyền bí học với những luận bàn về linh hồn.
125. A true sense of responsibility is one of the first indications that the soul is active in the life of the personality.
125. Ý thức trách nhiệm đích thực là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy linh hồn đang hoạt động trong đời sống phàm ngã.
This great group constitutes the World Saviour at this time and will salvage the world and inaugurate the new era after the war.
Nhóm vĩ đại này hợp thành Đấng Cứu Thế vào lúc này, và sẽ cứu vãn thế giới, mở ra kỷ nguyên mới sau chiến tranh.
126. The Christ is the World Saviour, but the NWGS is a saving and salvaging group.
126. Đức Christ là Đấng Cứu Thế, còn NWGS là một nhóm cứu rỗi và cứu vãn.
127. The Tibetan had great hopes for this group following the Second World War.
127. Chân sư Tây Tạng đã đặt nhiều hy vọng vào nhóm này sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
128. Has the world been salvaged? Has the NGWS inaugurated a “new era”? The answer will depend upon one’s perspective.
128. Thế giới đã được cứu vãn chưa? NGWS đã mở ra một “kỷ nguyên mới” chưa? Câu trả lời sẽ tùy thuộc vào góc nhìn của mỗi người.
The pamphlets which I wrote (the first of which was called The Next Three Years) indicated their plans and purposes, and made suggestions as to modes and methods of cooperation with this group of World Servers, already in existence and active in many fields. Those whom the New Group of World Servers influence and with whom they seek to work and who can act as their agents, we call the men and women of goodwill.
Những tập sách nhỏ mà Tôi đã viết (tập đầu tiên có tên là Ba Năm Kế Tiếp) đã nêu rõ những kế hoạch và mục đích của họ, đồng thời đưa ra các gợi ý về cách thức và phương pháp hợp tác với nhóm những Người Phụng Sự Thế Gian này, vốn đã hiện hữu và đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Những người chịu ảnh hưởng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, những người mà họ tìm cách cộng tác và có thể làm tác nhân cho họ, chúng ta gọi là những người nam và nữ có thiện chí.
129. Just as the members of the NGWS are agents of the Spiritual Hierarchy, so the men and women of goodwill are the agents of the NGWS.
129. Cũng như các thành viên của NGWS là những tác nhân của Thánh đoàn, những người nam và nữ có thiện chí là những tác nhân của NGWS.
I made an effort to reach these people in 1936 when there was a faint possibility that the war even at that late hour might be averted.
Tôi đã nỗ lực tiếp cận những người này vào năm 1936, khi vẫn còn một khả năng mong manh rằng chiến tranh có thể được ngăn chặn, ngay cả vào thời điểm muộn màng ấy.
130. It was a terrific initiative. The Hierarchy pushed forward powerfully. There was an important second ray impulse at the time.
130. Đó là một sáng kiến phi thường. Thánh đoàn đã thúc đẩy mạnh mẽ. Vào thời ấy có một xung lực cung hai quan trọng.
131. We note that despite the encouraging words sounded in the Tibetan’s writings at that period, the possibility of averting the war was only “faint”.
131. Chúng ta lưu ý rằng, bất chấp những lời khích lệ trong các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng vào thời kỳ ấy, khả năng ngăn chặn chiến tranh chỉ là “mong manh”.
132. Hitler had come to full power in 1933, the year before the pamphlet “The Next Three Years” was written.
132. Hitler đã nắm trọn quyền lực vào năm 1933, một năm trước khi tập sách nhỏ “Ba Năm Kế Tiếp” được viết.
Many will remember that campaign and its relative success. Millions were reached by means of the spoken and written word and by the radio but there were not enough people, spiritually interested, to take the needed steps to stem the tide of hate, evil and aggression which threatened to engulf the world.
Nhiều người sẽ nhớ chiến dịch ấy và thành công tương đối của nó. Qua lời nói, văn bản và đài phát thanh, chiến dịch đã tiếp cận hàng triệu người, nhưng không có đủ những người quan tâm đến tinh thần để thực hiện các bước cần thiết nhằm ngăn chặn làn sóng thù hận, cái ác và xâm lược đang đe dọa nhấn chìm thế giới.
133. The fate of humanity always depends upon the number and quality of those who can be enlisted to oppose the forces of hate, evil and aggression.
133. Vận mệnh nhân loại luôn tùy thuộc vào số lượng và phẩm tính của những người có thể được huy động để chống lại các mãnh lực thù hận, cái ác và xâm lược.
134. The battle is fought largely inwardly. If it is not successful, then the inner conflict is precipitated upon the outer plane.
134. Cuộc chiến phần lớn diễn ra ở bên trong. Nếu cuộc chiến ấy không thành công, thì cuộc xung đột bên trong sẽ ngưng tụ trên cõi bên ngoài.
135. Even today, we must ask, “are there enough people” to prevent the precipitation onto the physical plane of the dire inner conflict between progression and regression which is presently wracking the psyche of humanity.
135. Ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn phải tự hỏi, “liệu có đủ người” để ngăn cuộc xung đột nội tâm khốc liệt giữa tiến bộ và thoái bộ, hiện đang giày vò tâm hồn nhân loại, ngưng tụ xuống cõi hồng trần.
The war broke out in 1939 in spite of all the efforts of the Hierarchy [784] and Their workers, and the goodwill work fell naturally into abeyance.
Chiến tranh bùng nổ vào năm 1939 bất chấp mọi nỗ lực của Thánh đoàn [784] và những người hoạt động của Các Ngài, và công việc thiện chí đương nhiên phải tạm ngưng.
136. By that time, the war had simply to be fought.
136. Đến lúc ấy, chiến tranh đã là điều không thể tránh khỏi.
137. We see that Hierarchy strained to avoid the war. This is fascinating when we realize how much cleansing occurred because of that war. It seems that Hierarchy exerts itself to spare humanity pain; however, that very pain (if not carried beyond a certain point), promotes their rapid advancement.
137. Chúng ta thấy rằng Thánh đoàn đã dốc sức để tránh chiến tranh. Điều này thật đáng chú ý khi chúng ta nhận ra chiến tranh ấy đã đem lại sự thanh lọc lớn lao đến mức nào. Dường như Thánh đoàn nỗ lực hết mình để giúp nhân loại tránh đau khổ; tuy nhiên, chính nỗi đau ấy (nếu không vượt quá một giới hạn nào đó) lại thúc đẩy sự tiến bộ nhanh chóng của họ.
That part of the work in which members of the Arcane School had sought to serve and which had resulted in the forming of nineteen centres for service in as many countries had temporarily to be dropped—but only temporarily, my brothers, for goodwill is the “saving force” and an expression of the will-to-good which animates the New Group of World Servers.
Phần công việc mà các thành viên của Trường Arcane đã tìm cách phụng sự, và đã dẫn đến việc thành lập mười chín trung tâm phụng sự tại mười chín quốc gia, đã phải tạm gác lại—nhưng chỉ là tạm thời thôi, các huynh đệ của Tôi, vì thiện chí là “Mãnh Lực Cứu Rỗi” và là một biểu hiện của Ý Chí-hướng Thiện đang tiếp sinh lực cho Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
138. We are here given an important definition of the “saving force”: it is “goodwill”.
138. Ở đây, chúng ta có một định nghĩa quan trọng về “Mãnh Lực Cứu Rỗi”: đó là “thiện chí”.
139. It is, however, the “will-to-good” which animates the NGWS. The distinction should be noted.
139. Tuy nhiên, chính “Ý Chí-hướng Thiện” mới tiếp sinh lực cho NGWS. Cần lưu ý sự phân biệt này.
I would emphasise that this work of anchoring the New Group of World Servers and organising the goodwill work has nothing whatsoever to do with the school except in so far that members in the school were given the opportunity to help in the movement.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng công việc neo giữ Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và tổ chức công việc thiện chí này hoàn toàn không liên quan gì đến trường, ngoại trừ việc các thành viên trong trường có cơ hội giúp đỡ phong trào ấy.
140. Interestingly, it has been largely first ray workers who have worked with the organization called World Goodwill.
140. Điều thú vị là phần lớn những người làm việc với tổ chức mang tên Thiện Chí Thế Giới là những người hoạt động thuộc cung một.
141. DK distinguishes between the work of the Arcane School and the work of World Goodwill.
141. Chân sư DK phân biệt giữa công việc của Trường Arcane và công việc của Thiện Chí Thế Giới.
142. The New Group of World Servers is inclusive of all ray types.
142. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian bao gồm tất cả các kiểu người thuộc mọi cung.
They were left entirely free to do so or not as they chose; a very large percentage ignored the effort altogether, thus demonstrating the freedom which they felt and had been taught.
Họ hoàn toàn tự do lựa chọn tham gia hay không; một tỷ lệ rất lớn đã hoàn toàn phớt lờ nỗ lực ấy, qua đó thể hiện sự tự do mà họ cảm nhận và đã được dạy.
143. The attitude of freedom pervaded the Arcane School.
143. Tinh thần tự do thấm nhuần khắp Trường Arcane.
144. DK seems to suggest that this goodwill work contributive to the anchoring of the NGWS should not have been ignored.
144. Chân sư DK dường như gợi ý rằng công việc thiện chí góp phần neo giữ NGWS này lẽ ra không nên bị phớt lờ.
When the war broke and the entire world was hurled into the consequent chaos, horror, disaster, death and agony, many spiritually minded people were anxious to stay aloof from the struggle.
Khi chiến tranh bùng nổ và toàn thế giới bị cuốn vào cảnh hỗn loạn, kinh hoàng, thảm họa, chết chóc và đau đớn do chiến tranh gây ra, nhiều người có khuynh hướng tinh thần đã nóng lòng muốn đứng ngoài cuộc đấu tranh.
145. Elsewhere DK has dealt with this tendency towards aloofness rather strictly, especially when it occurred amongst His own disciples.
145. Ở những nơi khác, Chân sư DK đã xử lý khuynh hướng đứng ngoài này khá nghiêm khắc, đặc biệt khi nó xuất hiện trong hàng ngũ đệ tử của chính Ngài.
They were not the majority but a powerful and noisy minority. They regarded any attitude of partisanship as an infringement of the law of brotherhood and were willing to sacrifice the good of the whole of humanity to a sentimental urge to love all men in a manner which necessitated their taking no action or decision of any kind.
Họ không phải là đa số, mà là một thiểu số có thế lực và ồn ào. Họ xem bất kỳ thái độ đứng về một phía nào cũng là sự vi phạm định luật về tình huynh đệ, và sẵn sàng hy sinh lợi ích của toàn thể nhân loại cho một thôi thúc đa cảm muốn yêu thương tất cả mọi người theo cách buộc họ không được có bất kỳ hành động hay quyết định nào.
146. We see here how sentimentalism and a partial vision of planetary actualities could have led to the destruction of humanity.
146. Ở đây, chúng ta thấy chủ nghĩa đa cảm và một tầm nhìn phiến diện về những thực tế trên hành tinh có thể đã dẫn đến sự hủy diệt nhân loại như thế nào.
Instead of “my country right or wrong,” it was “humanity, right or wrong. ”
Thay vì “đất nước tôi, dù đúng hay sai”, đó lại là “nhân loại, dù đúng hay sai”.
147. Such people demonstrated an unwillingness to uphold true spiritual values.
147. Những người như thế cho thấy họ không sẵn lòng bảo vệ các giá trị tinh thần đích thực.
When I wrote the pamphlet called The Present World Crisis and the succeeding papers on the world situation, I stated that the Hierarchy endorsed the attitude and aims of the United Nations, fighting for the freedom of the whole of humanity and for the release of the suffering people. This necessarily placed the Hierarchy in the position of not endorsing the Axis position in any way.
Khi viết tập sách nhỏ mang tên Cuộc Khủng Hoảng Thế Giới Hiện Nay và những bài viết tiếp theo về tình hình thế giới, Tôi đã tuyên bố rằng Thánh đoàn tán thành thái độ và mục tiêu của Liên Hiệp Quốc, đang chiến đấu vì tự do của toàn thể nhân loại và để giải thoát những người đang chịu đau khổ. Điều này tất yếu đặt Thánh đoàn vào vị thế hoàn toàn không tán thành lập trường của phe Trục.
148. In short, the Hierarchy chose sides. Some may not understand why this should have been so.
148. Nói ngắn gọn, Thánh đoàn đã chọn đứng về một phía. Một số người có thể không hiểu vì sao lại phải như vậy.
Many in the goodwill work and some few in the school interpreted this as political in import, presumably believing that a position of complete neutrality, where both good and evil are concerned, was demanded of spiritually inclined people.
Nhiều người trong công việc thiện chí và một số ít trong trường đã diễn giải điều này là mang ý nghĩa chính trị, có lẽ vì họ tin rằng những người có khuynh hướng tinh thần phải giữ một lập trường hoàn toàn trung lập đối với cả thiện lẫn ác.
149. A significant glamor is here revealed.
149. Ở đây, một ảo cảm đáng kể đã bộc lộ.
Such people fail to think clearly and confuse an unwillingness to take sides with brotherly love, forgetting the words of the Christ that “he who is not with me is against me. ” [785]
Những người như thế không suy nghĩ rõ ràng và nhầm lẫn sự không sẵn lòng đứng về một phía với tình huynh đệ, quên lời Đức Christ rằng “ai không cùng Ta là chống lại Ta”. [785]
150. Those treading the Path must learn the meaning of “battle”. There are many internal and external conflicts to be experienced upon this Path.
150. Những người bước trên Đường Đạo phải học ý nghĩa của “chiến đấu”. Có nhiều cuộc xung đột bên trong và bên ngoài cần trải nghiệm trên Đường Đạo này.
151. The Path of Occultism is a hard Path, not a path of sentimentalism. Purpose and Will must govern the mind, not the search for astral comfort.
151. Con Đường Huyền Bí Học là một Đường Đạo gian khó, không phải con đường của chủ nghĩa đa cảm. Mục đích và Ý chí phải chi phối thể trí, chứ không phải sự tìm kiếm cảm giác dễ chịu về mặt cảm dục.
Let me repeat what I have oft said before. The Hierarchy and all its members, including myself, love humanity but they will not endorse evil, aggression, cruelty and the imprisoning of the human soul. They stand for liberty, for opportunity for all to move forward along the way of light, for human welfare without discrimination, for kindness and the right of every man to think for himself, to speak and to work. Necessarily they cannot, therefore, endorse the nations or the people in any nation who are against human freedom and happiness.
Tôi xin nhắc lại điều Tôi đã nhiều lần nói trước đây. Thánh đoàn và tất cả các thành viên, kể cả Tôi, đều yêu thương nhân loại, nhưng Các Ngài sẽ không tán thành cái ác, sự xâm lược, tàn bạo và việc giam hãm linh hồn con người. Các Ngài đứng về phía tự do, cơ hội cho tất cả mọi người tiến bước trên con đường ánh sáng, phúc lợi nhân loại không phân biệt, lòng nhân ái và quyền của mỗi người được suy nghĩ độc lập, được nói và làm việc. Vì vậy, tất nhiên Các Ngài không thể tán thành những quốc gia hay những người trong bất kỳ quốc gia nào chống lại tự do và hạnh phúc của con người.
152. The Axis powers were enemies of humanity. Christ condemned not the sinner but the sin. The members of Hierarchy (consisting of those who are close co-workers of the Christ) are compelled to do the same.
152. Các cường quốc phe Trục là kẻ thù của nhân loại. Đức Christ lên án tội lỗi chứ không lên án người phạm tội. Các thành viên của Thánh đoàn (gồm những vị cộng sự mật thiết của Đức Christ) buộc phải làm như vậy.
In Their love and Their grasp of circumstance, They know that in a later life or lives the majority of those who are now the enemies of human freedom will themselves be free and tread the Lighted Way.
Trong tình thương và sự thấu hiểu hoàn cảnh của mình, Các Ngài biết rằng trong một hay nhiều kiếp sống về sau, đa số những người hiện đang là kẻ thù của tự do con người cũng sẽ được tự do và bước trên Con Đường được Soi Sáng.
153. Hierarchy sees the potential in each and all.
153. Thánh đoàn nhìn thấy tiềm năng trong từng người và tất cả mọi người.
In the meantime, the entire force of the Hierarchy is thrown on the side of the nations struggling to free humanity, and on the side of those in any nation who thus work. If being on the side of goodness and freedom is deemed detrimental to the spiritual issues, then the Hierarchy will work to change the attitude of people as to what is spiritual.
Trong khi đó, toàn bộ mãnh lực của Thánh đoàn được dồn về phía những quốc gia đang đấu tranh để giải phóng nhân loại, và về phía những người đang làm như thế trong bất kỳ quốc gia nào. Nếu việc đứng về phía điều thiện và tự do bị xem là gây phương hại đến các vấn đề tinh thần, thì Thánh đoàn sẽ nỗ lực thay đổi thái độ của mọi người về điều gì là tinh thần.
154. Hierarchy has to fight the misconceptions of well-meaning people. DK is hinting that our conception of true spirituality is often erroneous. Spirituality is not sentimentalism. It is the soul that must infuse the mind to reveal the nature of spirituality; the mind must not be swayed by the astral body.
154. Thánh đoàn phải đấu tranh chống lại những quan niệm sai lầm của những người có ý tốt. Chân sư DK đang gợi ý rằng quan niệm của chúng ta về tinh thần đích thực thường sai lầm. Tinh thần không phải là chủ nghĩa đa cảm. Chính linh hồn phải thấm nhuần thể trí để mặc khải bản chất của tinh thần; thể trí không được để thể cảm dục chi phối.
I have, therefore, been interested in three phases of the work: the books, the Arcane School, and the New Group of World Servers.
Vì vậy, Tôi đã quan tâm đến ba phần công việc: các sách, Trường Arcane và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
155. Three important phases of the Work are thus revealed, and perhaps they can be related to the three Rays of Aspect.
155. Như vậy, ba phần quan trọng của Công Việc đã được nêu rõ, và có lẽ có thể liên hệ chúng với ba Cung Trạng Thái.
The impact made upon the world by these three aspects of the work has been definitely effective and useful. The sum total of the useful work accomplished is what counts and not the criticisms and the misunderstanding of those who, basically, belong to the old order, and to the Piscean Age. They are, therefore, unable to see the emergence of the new ways of life and the new approaches to truth.
Tác động mà ba phương diện công việc này tạo ra đối với thế giới rõ ràng đã có hiệu quả và hữu ích. Tổng thể công việc hữu ích đã hoàn thành mới là điều quan trọng, chứ không phải những lời chỉ trích và sự hiểu lầm của những người về cơ bản thuộc về trật tự cũ và Kỷ Nguyên Song Ngư. Vì vậy, họ không thể nhìn thấy sự xuất hiện của những cách sống mới và những cách tiếp cận chân lý mới.
156. These three aspects of the work are definitely progressive and have been successful.
156. Ba phương diện công việc này rõ ràng mang tính tiến bộ và đã thành công.
157. The new will always be criticized by the old, i. e. , by those wedded to old values and who basically do not understand.
157. Cái mới sẽ luôn chịu sự chỉ trích của cái cũ, nghĩa là từ những người gắn chặt với các giá trị cũ và về cơ bản không thấu hiểu.
I have stood all this time behind the scenes. The books and pamphlets have been my responsibility and carry the authority of truth—if truth is there—and not the authority of my name or of any status which I might claim, or which might be claimed for me by the curious, the inquisitive and the devotee.
Suốt thời gian qua, Tôi vẫn đứng sau hậu trường. Các sách và tập sách nhỏ thuộc trách nhiệm của Tôi và mang thẩm quyền của chân lý—nếu có chân lý trong đó—chứ không phải thẩm quyền từ tên tuổi Tôi hay bất kỳ địa vị nào mà Tôi có thể tự nhận, hoặc mà những người tò mò, hay dò hỏi và sùng tín có thể gán cho Tôi.
158. DK emphasizes that truth is greater than the authority of any author.
158. Chân sư DK nhấn mạnh rằng chân lý cao hơn thẩm quyền của bất kỳ tác giả nào.
159. His phrasing is interesting, for He seems to say that the books and pamphlets do, indeed, “carry the authority of truth”, but then He forces the reader to think about whether truth is really to be found in those writings.
159. Cách diễn đạt của Ngài thật thú vị, vì dường như Ngài nói rằng các sách và tập sách nhỏ quả thực “mang thẩm quyền của chân lý”, nhưng rồi Ngài buộc người đọc suy nghĩ xem liệu có thực sự tìm thấy chân lý trong những tác phẩm ấy hay không.
160. It is clear that DK wants to disabuse humanity of its easily accessed devotional attitude.
160. Rõ ràng Chân sư DK muốn giúp nhân loại thoát khỏi thái độ sùng tín mà họ rất dễ rơi vào.
I have dictated none of the policies of the school or interfered in its curriculum; for them A. A. B. is responsible. My books and pamphlets have been made available to school students along with the rest of the general public.
Tôi không hề áp đặt bất kỳ chính sách nào của trường hay can thiệp vào chương trình giảng dạy của trường; A. A. B. chịu trách nhiệm về những điều ấy. Các sách và tập sách nhỏ của Tôi được cung cấp cho các đạo sinh của trường cũng như cho công chúng nói chung.
161. A clear delineation of responsibility is presented. AAB is responsible for the Arcane School and DK for His books and pamphlets.
161. Ở đây có sự phân định trách nhiệm rõ ràng. AAB chịu trách nhiệm về Trường Arcane, còn Chân sư DK chịu trách nhiệm về các sách và tập sách nhỏ của Ngài.
162. The overlap is in the utilization of the books and pamphlets by the school.
162. Điểm giao nhau nằm ở việc trường sử dụng các sách và tập sách nhỏ ấy.
I have sought to aid the goodwill work (for which Foster Bailey is responsible) by suggestion and by indicating what is the work that the New Group of World Servers are seeking to [786] do, but no authoritative requests have been made in my name, nor will they ever be made.
Tôi đã tìm cách hỗ trợ công việc thiện chí (do Foster Bailey chịu trách nhiệm) bằng những gợi ý và bằng cách chỉ rõ công việc mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang tìm cách [786] thực hiện, nhưng không có yêu cầu mang tính quyền uy nào được đưa ra nhân danh Tôi, và cũng sẽ không bao giờ có.
163. FB was also, temporarily, a disciple of Master DK. We see DK leaving him free to direct WGW as he saw fit. Disciples grow through the freedom to decide and not through the strict following of orders.
163. FB cũng từng là đệ tử của Chân sư DK trong một thời gian. Chúng ta thấy Chân sư DK để ông tự do điều hành WGW theo cách ông thấy phù hợp. Các đệ tử trưởng thành qua quyền tự do quyết định chứ không phải qua việc tuân lệnh nghiêm ngặt.
The sum total of all these activities has been good; the misunderstandings have been few and have been inherent in the personal equipment and attitude of the critical. Criticism is wholesome so long as it is not permitted to become destructive.
Tổng thể tất cả những hoạt động này đều tốt đẹp; những hiểu lầm chỉ có ít và vốn bắt nguồn từ bộ máy phàm ngã cùng thái độ của những người hay chỉ trích. Sự phê bình là lành mạnh chừng nào người ta không để nó trở nên phá hoại.
164. DK distinguishes between criticism as “that dire creator of misery” (i. e. , destructive criticism) and constructive criticism which may lead to improvement.
164. Chân sư DK phân biệt giữa sự chỉ trích như “tác nhân đáng sợ tạo ra đau khổ ấy” (nghĩa là sự chỉ trích mang tính phá hoại) và sự phê bình mang tính xây dựng có thể dẫn đến cải thiện.
165. DK seems to be saying that when criticism arises, it often has little to do with that which is criticized, and far more with an inherent tendency to criticize found in the equipment of those who are critical.
165. Dường như Chân sư DK đang nói rằng khi sự chỉ trích nảy sinh, nó thường ít liên quan đến đối tượng bị chỉ trích, mà liên quan nhiều hơn đến khuynh hướng chỉ trích vốn có trong bộ máy phàm ngã của những người hay chỉ trích.
166. When DK says that “criticism is wholesome” He means that it may contribute to unity and wholeness.
166. Khi Chân sư DK nói rằng “sự phê bình là lành mạnh”, Ngài muốn nói rằng nó có thể góp phần vào sự hợp nhất và tính toàn vẹn.
Paralleling these major activities, I have, since the year 1931, been training a group of men and women, scattered all over the world, in the techniques of accepted discipleship, academically understood.
Song song với những hoạt động chính này, từ năm 1931, Tôi đã huấn luyện một nhóm những người nam và nữ, sống rải rác khắp thế giới, về các kỹ thuật của địa vị đệ tử được chấp nhận, hiểu theo nghĩa học thuật.
167. Most of those who were trained in this manner were eventually regarded by DK as “accepted disciples”. The New Seed Group (consisting of twenty four members) and organized in 1940 or late 1939, consisted entirely of accepted disciples.
167. Phần lớn những người được huấn luyện theo cách này cuối cùng đều được Chân sư DK xem là “những đệ tử được chấp nhận”. Nhóm Hạt Giống Mới (gồm hai mươi bốn thành viên), được tổ chức vào năm 1940 hoặc cuối năm 1939, hoàn toàn gồm những đệ tử được chấp nhận.
Out of the many possible neophytes, I indicated a group of approximately 45 people—some known personally to A. A. B. and some quite unknown—who had demonstrated a willingness to be trained and who could be tried out for fitness for the group work of the new discipleship.
Trong số nhiều người sơ cơ có thể được lựa chọn, Tôi đã chỉ ra một nhóm khoảng 45 người—một số A. A. B. quen biết trực tiếp và một số Bà hoàn toàn không biết—những người đã thể hiện sự sẵn lòng tiếp nhận huấn luyện và có thể được thử thách để xem có thích hợp với công việc nhóm của địa vị đệ tử mới hay không.
168. Master DK was aware of these people and informed AAB of their existence. She then contacted them.
168. Chân sư DK biết những người này và đã báo cho AAB biết về sự hiện diện của họ. Sau đó Bà đã liên lạc với họ.
These people received direct personal instructions from me and certain general instructions which embodied the newer approach to the Hierarchy and to the spiritual life, though based, of course, on the ancient rules. Some of these instructions are made available to the general public in this book, but no indication is given of the persons thus trained and no information will be made available; names, dates and locations are changed, though the instructions remain as given.
Những người này đã trực tiếp nhận các huấn thị cá nhân từ Tôi cùng một số huấn thị chung thể hiện cách tiếp cận mới hơn đối với Thánh đoàn và đời sống tinh thần, dù tất nhiên vẫn dựa trên các quy luật cổ xưa. Một số huấn thị này được công bố cho công chúng trong cuốn sách này, nhưng không có dấu hiệu nào cho biết những người được huấn luyện là ai, và cũng sẽ không cung cấp thông tin nào; tên, ngày tháng và địa điểm được thay đổi, còn các huấn thị vẫn giữ nguyên như khi ban ra.
169. Instead of explicit names, the three or four keynotes given to the disciple by the Tibetan were chosen as identifiers. These keynotes were then abbreviated by using the first letter of each keynote. A disciple with the keynotes of Joy, Wisdom and Knowledge of the Plan, would, for instance, be identified as J. W. K-P.
169. Thay cho tên gọi cụ thể, ba hoặc bốn chủ âm mà Chân sư Tây Tạng trao cho người đệ tử đã được chọn làm dấu hiệu nhận diện. Sau đó, những chủ âm này được viết tắt bằng chữ cái đầu của mỗi chủ âm. Chẳng hạn, một đệ tử có các chủ âm là Sự Hoan Hỉ, Minh Triết và Tri Thức về Thiên Cơ sẽ được nhận diện là J. W. K-P.
170. In the DINA books some locations are deleted so that participants could not be recognized by those who knew where they lived or the geographical areas in which they were active.
170. Trong các sách DINA, một số địa điểm được lược bỏ để những người biết nơi ở hoặc khu vực địa lý nơi những người tham gia hoạt động không thể nhận diện họ.
171. I have not seen that dates have been changed. When a check was made, the dates appearing in the DINA books are the same dates appearing in original papers.
171. Tôi chưa thấy ngày tháng nào bị thay đổi. Khi kiểm tra, người ta thấy ngày tháng trong các sách DINA trùng với ngày tháng trong các tài liệu gốc.
Necessarily these people have, from their contact with me, ascertained my identity. They have known for years who I am. But they have preserved my anonymity with great care and under real difficulty, owing to the fact that hundreds of people in nearly every country in the world have speculated upon my identity and many of them have guessed it accurately.
Tất nhiên, qua việc tiếp xúc với Tôi, những người này đã xác định được danh tính của Tôi. Họ đã biết Tôi là ai từ nhiều năm nay. Nhưng họ đã hết sức cẩn trọng giữ kín danh tính của Tôi trong những hoàn cảnh thực sự khó khăn, bởi hàng trăm người tại gần như mọi quốc gia trên thế giới đã suy đoán về danh tính của Tôi, và nhiều người trong số họ đã đoán đúng.
172. To preserve the identity of the Tibetan was a great test—of “occult silence”.
172. Giữ kín danh tính của Chân sư Tây Tạng là một thử thách lớn về “sự im lặng huyền bí”.
173. This test was necessary if the work was to be protected from objective and subjective interference.
173. Thử thách này là cần thiết để bảo vệ công việc khỏi sự can thiệp cả khách quan lẫn chủ quan.
Therefore, today, in spite of all that A. A. B. and my disciples have been able to do, it is generally conceded that I am a Master and a name has been given to me.
Vì vậy, ngày nay, bất chấp mọi điều mà A. A. B. và các đệ tử của Tôi đã có thể làm, người ta nhìn chung đều thừa nhận rằng Tôi là một Chân sư và đã gán cho Tôi một tên gọi.
174. It seems that general speculation had revealed DK’s status. Later a clerical error confirmed it.
174. Dường như sự suy đoán rộng rãi đã làm lộ địa vị của Chân sư DK ra ngoài. Về sau, một sơ suất biên tập đã xác nhận điều đó.
To my own group of specially picked aspirants I have acknowledged my name when they themselves had interiorly arrived at it.
Với nhóm những người chí nguyện được đích thân Tôi đặc biệt tuyển chọn, Tôi đã xác nhận tên mình khi chính họ đã tự tìm ra trong nội tâm.
175. This is always the occult way. The Teacher can confirm that which the student has determined interiorly, but may not give the answer before there is confirmation. Thus, the student’s powers of enquiry and ascertainment are strengthened.
175. Đây luôn là cách thức huyền bí. Huấn sư có thể xác nhận điều mà đạo sinh đã xác định trong nội tâm, nhưng không được đưa ra câu trả lời trước khi có sự xác nhận. Nhờ đó, năng lực tìm hiểu và xác định của đạo sinh được củng cố.
It was both foolish and false to do otherwise; in communicating with them or in writing instructions on the new discipleship, I necessarily took my rightful position and name.
Làm khác đi vừa là dại dột vừa là không chân thật; khi giao tiếp với họ hoặc viết các huấn thị về địa vị đệ tử mới, tất nhiên Tôi phải sử dụng địa vị và tên gọi chính đáng của mình.
176. There could also emerge a kind of glamor of mystery promoted if the Tibetan evaded confirmation once a student had made a correct interior determination of His identity.
176. Một dạng ảo cảm về sự bí ẩn cũng có thể nảy sinh và được nuôi dưỡng nếu Chân sư Tây Tạng né tránh việc xác nhận sau khi một đạo sinh đã xác định đúng danh tính của Ngài trong nội tâm.
Some of these instructions have been deemed by me as useful and appropriate for more general use and were embodied in the series of papers upon the Stages of Discipleship issued under my name in The Beacon. They [787] were carefully edited, prior to publication, except in one paper when, some months ago under the pressure of very heavy work, A. A. B. omitted to delete one paragraph in which I do speak as a Master. This paragraph, much to her distress, appeared in the July 1943 Beacon. After many years of protecting my identity, she made this slip and it has, therefore, been publicly stated that I am a Master.
Tôi đã xem một số huấn thị này là hữu ích và thích hợp để sử dụng rộng rãi hơn, và đã đưa chúng vào loạt bài về Các Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử, công bố dưới tên Tôi trên Ngọn Hải Đăng. Các bài ấy [787] đều được biên tập cẩn thận trước khi xuất bản, ngoại trừ một bài cách đây vài tháng, khi dưới áp lực công việc hết sức nặng nề, A. A. B. đã quên xóa một đoạn trong đó Tôi quả thực nói với tư cách một Chân sư. Đoạn văn này đã xuất hiện trong số Ngọn Hải Đăng tháng Bảy năm 1943, khiến Bà hết sức phiền muộn. Sau nhiều năm giữ kín danh tính của Tôi, Bà đã mắc sơ suất này, và vì vậy việc Tôi là một Chân sư đã được công khai xác nhận.
177. The way in which the identity of Master DK was released is here completely reveled. It happened in 1943—the year in which this paper was written.
177. Cách thức danh tính của Chân sư DK được công bố đã được tiết lộ đầy đủ ở đây. Điều đó xảy ra vào năm 1943—năm bài viết này ra đời.
178. Not all that the Tibetan has written has been released to the public, but the great majority has been. That which could not be given for more general use has not been released, being edited out in the preparation of the DINA books.
178. Không phải tất cả những gì Chân sư Tây Tạng đã viết đều được công bố cho công chúng, nhưng phần lớn đã được công bố. Những gì chưa thể cung cấp để sử dụng rộng rãi hơn thì chưa được công bố, vì đã được lược bỏ khi biên tập các sách DINA.
In this connection, there are three points to which I would like to call your attention. Earlier—many years earlier—I stated in A Treatise on White Magic that I was an initiate of a certain standing but that my anonymity would be preserved.
Về vấn đề này, có ba điểm Tôi muốn các bạn lưu ý. Trước đó—nhiều năm trước đó—Tôi đã nói trong Luận về Chánh Thuật rằng Tôi là một điểm đạo đồ có cấp bậc nhất định, nhưng danh tính của Tôi sẽ được giữ kín.
179. A Master is an initiate. The following tells us something of His status: “I am an initiate into the mysteries of being. That statement in itself conveys information to those who know. You know also that I am in a human body, and am a resident of northern India. Let that suffice and let not curiosity blind you to the teaching. ” DINA I 8)
179. Một Chân sư là một điểm đạo đồ. Những lời sau đây cho chúng ta biết đôi điều về địa vị của Ngài: “Tôi là một điểm đạo đồ đã thâm nhập những huyền nhiệm của Bản Thể. Chính lời khẳng định ấy truyền đạt thông tin cho những ai hiểu biết. Các bạn cũng biết rằng Tôi đang sống trong một thân thể con người và cư trú tại miền bắc Ấn Độ. Hãy xem như thế là đủ và đừng để sự tò mò khiến các bạn không thấy được giáo huấn. ” DINA I 8)
180. To be an initiate into the mysteries of being reveals the Tibetan as a Master, for those who understand the terminology.
180. Đối với những ai thấu hiểu thuật ngữ, việc là một điểm đạo đồ đã thâm nhập những huyền nhiệm của Bản Thể cho thấy Chân sư Tây Tạng là một Chân sư.