← Commentary on DINA I song ngữ

SECTION FOUR – PHẦN BỐN

Trích nội dung chương

2. Individual interpretations of truth (over which accepted disciples [mentally polarized to a great degree] fight) 2. Những cách diễn giải chân lý của riêng mình (những điều mà các đệ tử được chấp nhận [đã phân cực trí tuệ ở mức độ cao] tranh đấu với nhau)


1. Difficulties

1. Những khó khăn

2. Individual interpretations of truth (over which accepted disciples [mentally polarized to a great degree] fight)

2. Những cách diễn giải chân lý của riêng mình (những điều mà các đệ tử được chấp nhận [đã phân cực trí tuệ ở mức độ cao] tranh đấu với nhau)

168. Yes, the “Open Sesame” to liberation is given in this paragraph—love and service.

168. Đúng vậy, câu thần chú “Vừng ơi, mở ra” dẫn đến giải thoát đã được nêu trong đoạn này—tình thương và phụng sự.

5. Disciples close to the Master's heart, world disciples and those who are consciously in His aura, know His plan, which is the Plan of the Hierarchy as a whole, though emphasising some appropriate aspect. They usually play[771] their part successfully, and their success is largely due to their constant group awareness and to a deep humility and, naturally, to a well-developed intellect and controlled astral body.

5. Những đệ tử gần gũi với trái tim Chân sư, những đệ tử thế giới và những người có ý thức rằng mình đang ở trong hào quang của Ngài đều biết kế hoạch của Ngài, vốn là Thiên Cơ của toàn thể Thánh đoàn, dù nhấn mạnh một phương diện thích hợp nào đó. Họ thường thực hiện[771] thành công phần việc của mình, và thành công của họ phần lớn nhờ sự nhận biết thường xuyên về nhóm, lòng khiêm nhường sâu sắc và, đương nhiên, nhờ trí năng phát triển tốt cùng thể cảm dục được kiểm soát.

169. Several categories of disciples are here listed together:

169. Ở đây, một số loại đệ tử được liệt kê cùng nhau:

1.Those close to the Master’s heart

1.Những người gần gũi với trái tim Chân sư

2.World disciples

2.Những đệ tử thế giới

3.Those consciously within his aura

3.Những người có ý thức rằng mình đang ở trong hào quang của Ngài

170. All of these disciples are at least initiates of the third degree.

170. Tất cả những đệ tử này ít nhất đều là điểm đạo đồ bậc ba.

171. It could be questioned whether a chela on the thread is necessarily a third degree initiate. If not, he is close.

171. Có thể đặt câu hỏi liệu một đệ tử trên đường dây có nhất thiết là điểm đạo đồ bậc ba hay không. Nếu chưa, thì người ấy cũng đã gần đạt đến.

172. We have been told that accepted disciples are often not successful in their expression. We are not told of the success or non-success of chelas on the thread, but we can assume it to be greater than the success of accepted disciples.

172. Chúng ta đã được cho biết rằng những đệ tử được chấp nhận thường không thành công trong việc biểu đạt của mình. Chúng ta không được cho biết về thành công hay thất bại của những đệ tử trên đường dây, nhưng có thể giả định rằng mức độ thành công của họ cao hơn những đệ tử được chấp nhận.

173. Disciples in the Master’s heart and within His aura are usually successful, we are told, for the following reasons:

173. Chúng ta được cho biết rằng những đệ tử trong trái tim Chân sư và trong hào quang của Ngài thường thành công vì những lý do sau:

1. Constant group awareness (leading to wise action)

1. Sự nhận biết thường xuyên về nhóm (dẫn đến hành động minh triết)

2. Deep humility, leading to non-separative action and wisdom in the undertaking of that which can be done.

2. Lòng khiêm nhường sâu sắc, dẫn đến hành động không chia rẽ và sự minh triết khi đảm nhận những gì có thể thực hiện.

3. A well-developed intellect, giving immunity from astral glamors

3. Trí năng phát triển tốt, giúp miễn nhiễm với những ảo cảm trên cõi cảm dục

4. Control of the astral body (bringing sufficient tranquility in which to do good work).

4. Sự kiểm soát thể cảm dục (đem lại đủ tĩnh lặng để làm tốt công việc).

There is little more that I can say to you all at this time anent the group work and relationships. There is an esoteric loyalty which is different to the ordinary world loyalty which I seek to see developed in the group.

Lúc này, Tôi không còn nhiều điều để nói thêm với tất cả các bạn về công việc và các mối quan hệ nhóm. Có một lòng trung thành nội môn khác với lòng trung thành thông thường của thế gian mà Tôi mong thấy phát triển trong nhóm.

174. Let us ponder on this “esoteric loyalty”. It is not a loyalty to persons but to principles, and to the energy which motivates and animates a Master’s Ashram.

174. Chúng ta hãy suy ngẫm về “lòng trung thành nội môn” này. Đó là lòng trung thành với các nguyên khí, chứ không phải với cá nhân, và với năng lượng thúc đẩy, tiếp sức sống cho ashram của một Chân sư.

175. Through esoteric loyalty, the highest values in any situation are identified and supported. It is possible to be esoterically loyal to the soul of an individual in such a manner that one must temporarily repudiate their personality.

175. Nhờ lòng trung thành nội môn, những giá trị cao nhất trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng được nhận diện và ủng hộ. Có thể trung thành về mặt nội môn với linh hồn của một cá nhân theo cách khiến ta phải tạm thời bác bỏ phàm ngã của họ.

Some of you, particularly those who take quick refuge in self-defense, need to learn this silent loyalty which serves to integrate the group, as one.

Một số các bạn, đặc biệt những người vội tìm chỗ nương náu trong sự tự vệ, cần học lòng trung thành thầm lặng này, vốn giúp tích hợp nhóm thành một thể thống nhất.

176. It is obvious that this “silent loyalty” is non-critical, and alwaysadheres to the best in a group brother. Do we do this? If we do not, the higher stages of discipleship still lie far ahead.

176. Rõ ràng, “lòng trung thành thầm lặng” này không chỉ trích và luôngắn bó với những gì tốt đẹp nhất nơi một huynh đệ trong nhóm. Chúng ta có làm điều này không? Nếu không, những giai đoạn cao hơn của địa vị đệ tử vẫn còn ở rất xa phía trước.

177. If separation is overcome (and disloyalty surely causes separation and cleavage) then the group will rapidly integrate.

177. Nếu sự chia rẽ được khắc phục (và sự bất trung chắc chắn gây ra chia rẽ và rạn nứt), thì nhóm sẽ nhanh chóng tích hợp.

178. So many extraordinarily useful statements and hints are given in these instructions. The treasury is rich for all who would live the ashramic life.

178. Những huấn thị này chứa đựng rất nhiều phát biểu và gợi ý vô cùng hữu ích. Đây là một kho tàng phong phú cho tất cả những ai muốn sống đời sống ashram.

It is easy in self-defense to sacrifice one's brothers and one's fellow workers. It is not easy to heal the subjective rift thus made.

Khi tự vệ, người ta dễ hy sinh các huynh đệ và những người cùng làm việc với mình. Hàn gắn sự rạn nứt chủ quan do đó gây ra thì không dễ.

179. No one may notice if we do this—sacrifice a brother to defend ourselves. But the rift is real (though subjective—perhaps more real because it is subjective). Experience in group work will prove the veracity of DK’s instructions along these lines.

179. Có thể không ai nhận thấy nếu chúng ta làm điều này—hy sinh một huynh đệ để tự bảo vệ mình. Nhưng sự rạn nứt ấy là có thật (dù mang tính chủ quan—có lẽ còn thật hơn vì mang tính chủ quan). Kinh nghiệm trong công việc nhóm sẽ chứng minh tính chân xác của những huấn thị này của Chân sư DK.

Clear thinking is needed along many lines as this group begins to cohere and work together. An acute discrimination is also required. These are days when the lines of demarcation between the Forces of Materialism and the Forces of Light must be clearly defined.

Tư duy rõ ràng là điều cần thiết trên nhiều phương diện khi nhóm này bắt đầu gắn kết và làm việc cùng nhau. Cũng cần có sự phân biện sắc bén. Đây là những ngày mà ranh giới giữa các Mãnh Lực Duy Vật và các Mãnh Lực Ánh Sáng phải được xác định rõ ràng.

180. The Master calls for “clear thinking” and “acute discrimination” in relation to the type of loyalty exhibited by group members.

180. Chân sư kêu gọi “tư duy rõ ràng” và “sự phân biện sắc bén” đối với loại lòng trung thành mà các thành viên trong nhóm thể hiện.

181. The line between good and evil is often sinuous and obscure. A clear discrimination is needed. Many amongst the sons of men do not know good from evil (so disguised is evil, masquerading as good).

181. Ranh giới giữa thiện và ác thường quanh co và mờ mịt. Cần có sự phân biện rõ ràng. Nhiều người trong số những người con của nhân loại không phân biệt được thiện với ác (vì cái ác ngụy trang quá khéo, đội lốt cái thiện).

When the contrast between the way of love and goodwill and the way of cruelty and hate is being clearly defined on earth, disciples must exercise an unprejudiced attitude.

Khi sự tương phản giữa con đường tình thương và thiện chí với con đường tàn ác và thù hận đang trở nên rõ ràng trên Trái Đất, các đệ tử phải giữ thái độ không thiên kiến.

182. It is easy enough for a disciple to discriminate between good and evil, but can he do so in an unprejudiced manner and without reverting to the very methods which are closer to the side of evil than of good?

182. Một đệ tử có thể khá dễ dàng phân biện thiện và ác, nhưng liệu người ấy có thể làm điều đó mà không thiên kiến và không quay lại dùng chính những phương pháp gần với phía cái ác hơn là cái thiện không?

To this group comes the difficult task of standing firmly on the physical plane against that which is destructive and hateful (in the true sense of the word), doing all that can be done to bring the destructive agencies to an end and to final powerlessness and, at the same time, preserving an inner attitude of complete harmlessness and loving understanding.

Nhóm này có nhiệm vụ khó khăn là kiên định trên cõi hồng trần chống lại những gì mang tính hủy diệt và thù hận (theo nghĩa đích thực của từ này), làm tất cả những gì có thể để chấm dứt hoạt động của các tác nhân hủy diệt và cuối cùng khiến chúng hoàn toàn bất lực, đồng thời duy trì một thái độ nội tâm hoàn toàn vô tổn hại và thấu hiểu đầy yêu thương.

183. DK voices a great demand for His groups, and for all of us.

183. Chân sư DK nêu lên một yêu cầu lớn lao đối với các nhóm của Ngài và đối với tất cả chúng ta.

1. We are to stand firmly against evil.

1. Chúng ta phải kiên định chống lại cái ác.

2. We are to do all to bring evil and wrongful destruction to an end, and to a state of powerlessness.

2. Chúng ta phải làm mọi điều để chấm dứt cái ác và sự hủy diệt sai trái, khiến chúng trở nên bất lực.

3. We are, at the same time, to preserve complete harmlessness and loving understanding.

3. Đồng thời, chúng ta phải duy trì tính vô tổn hại hoàn toàn và sự thấu hiểu đầy yêu thương.

184. It is clear that if we are to accomplish this, our astral bodies must be controlled and our minds illumined by the soul.

184. Rõ ràng, để thực hiện điều này, chúng ta phải kiểm soát các thể cảm dục của mình và để linh hồn soi sáng thể trí.

185. What rays would be useful in achieving these goals? The first, second, fourth? Surely those among others, for they would promote firm principles, compassion and the ability to ‘contain the opposites’.

185. Những cung nào sẽ hữu ích để đạt được các mục tiêu này? Cung một, cung hai, cung bốn chăng? Chắc chắn có những cung ấy cùng với các cung khác, vì chúng sẽ thúc đẩy các nguyên khí vững chắc, lòng từ bi và khả năng ‘dung chứa các mặt đối lập’.

For, my brothers, there are principles and ideals in the world at this time worth struggling for, but whilst the struggle is on it is necessary consciously to preserve and create that field of living, loving energy which will eventually bridge the gap between the two opposing factions and groups and so enable later contact to be made.

Bởi vì, các huynh đệ của Tôi, hiện nay trên thế giới có những nguyên khí và lý tưởng đáng để đấu tranh, nhưng trong khi cuộc đấu tranh diễn ra, cần có ý thức duy trì và tạo ra trường năng lượng sống động, đầy yêu thương ấy, để cuối cùng bắc cầu qua khoảng cách giữa hai phe và các nhóm đối lập, nhờ đó tạo điều kiện cho sự tiếp xúc về sau.

186. DK is calling for the fourth ray attitude characteristic of the New Group of World Servers when functioning at its best. (The NGWS functions through the application of the energy of Taurus and the fourth ray.)There are workers in the United Nations who use the fourth ray similarly.

186. Chân sư DK đang kêu gọi thái độ cung bốn đặc trưng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian khi hoạt động ở mức tốt nhất. (Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian hoạt động thông qua việc vận dụng năng lượng Kim Ngưu và cung bốn.) Có những người hoạt động trong Liên Hiệp Quốc sử dụng cung bốn theo cách tương tự.

187. We are to create a “field of living, loving energy” whilst immersed in the struggle against evil.

187. Chúng ta phải tạo ra một “trường năng lượng sống động, đầy yêu thương” trong khi dấn thân vào cuộc đấu tranh chống cái ác.

Some of you are not thinking with sufficient clarity about the issues involved, being unduly engrossed with the outer signs of the struggle and so losing the long range picture.

Một số các bạn chưa suy nghĩ đủ rõ ràng về những vấn đề liên quan, vì quá mải mê với các dấu hiệu bên ngoài của cuộc đấu tranh nên đánh mất cái nhìn dài hạn.

188. It is easy to be swept by appearances. The inner reality behind the struggle is harder to discern. We can apply this principle to the struggles taking place in our present world.

188. Thật dễ bị cuốn theo vẻ ngoài. Thực tại bên trong đằng sau cuộc đấu tranh khó nhận ra hơn. Chúng ta có thể áp dụng nguyên khí này vào những cuộc đấu tranh đang diễn ra trong thế giới hiện nay.

The dual life of active world participation in opposing that which is seeking to hold back and to destroy humanity and its highest ideals and—at the same time—to preserve a steady attitude of love, is not an easy one, particularly for some of you.

Đời sống kép, vừa tích cực tham gia công việc thế giới để chống lại những gì đang tìm cách kìm hãm và hủy diệt nhân loại cùng những lý tưởng cao nhất của nhân loại, vừa đồng thời duy trì một thái độ yêu thương vững vàng, không phải là đời sống dễ dàng, đặc biệt đối với một số các bạn.

189. How easy is this dual attitude to achieve? Can we see as souls those who struggle on the opposing sides? Can we look behind the temporarily motivating glamor to the type of divine expression which will eventuate when the misguided ones are released from glamour?

189. Đạt được thái độ kép này dễ đến mức nào? Chúng ta có thể nhìn những người đang đấu tranh ở các phía đối lập như những linh hồn không? Chúng ta có thể nhìn xuyên qua ảo cảm đang tạm thời thúc đẩy họ, để thấy loại biểu đạt thiêng liêng sẽ xuất hiện khi những người lầm lạc ấy thoát khỏi ảo cảm không?

Such is human integration today that it is not possible for any person or groups of people to isolate themselves away from [772] human activities and human welfare. Nor is a negative attitude adequate to the solution of the present world crisis.

Ngày nay, nhân loại đã tích hợp đến mức không một cá nhân hay nhóm người nào có thể tự cô lập khỏi [772] các hoạt động và phúc lợi của nhân loại. Một thái độ tiêu cực cũng không đủ để giải quyết cuộc khủng hoảng thế giới hiện nay.

190. We are all connected to the dire events of our day. We are all willing or unwilling participants in the struggles of humanity.

190. Tất cả chúng ta đều có liên hệ với những biến cố nghiêm trọng của thời đại mình. Dù muốn hay không, tất cả chúng ta đều tham gia vào những cuộc đấu tranh của nhân loại.

191. DK is calling for positivity—the virtue of the second ray soul. Negativity (essentially selfishness) is not acceptable.

191. Chân sư DK đang kêu gọi tính tích cực—đức tính của linh hồn cung hai. Tính tiêu cực (về bản chất là sự ích kỷ) là điều không thể chấp nhận.

Those who refuse to share in the world karma and pain will find their entire progress inevitably slowed down, for they will have put themselves outside the great tide of spiritual force now sweeping in regenerating streams throughout the world of men.

Những ai từ chối chia sẻ nghiệp quả và nỗi đau của thế giới sẽ thấy toàn bộ sự tiến bộ của mình tất yếu chậm lại, vì họ đã tự đặt mình ra ngoài làn sóng mãnh lực tinh thần lớn lao hiện đang tràn khắp thế giới loài người thành những dòng tái sinh.

192. The Master is asking us to take on the pain of participation. Without this pain, stress and distress, we put ourselves out of the developmental stream. We can pause to consider the implications.

192. Chân sư đang yêu cầu chúng ta đón nhận nỗi đau của sự tham gia. Không trải qua nỗi đau, sự căng thẳng và khổ não này, chúng ta tự đặt mình ra ngoài dòng phát triển. Chúng ta có thể dừng lại để suy xét những hàm ý của điều đó.

193. To experience pain inspires compassion which open the door to the Kingdom of the Soul.

193. Trải nghiệm nỗi đau khơi dậy lòng từ bi, vốn mở cánh cửa vào Giới Linh Hồn.

The present world conflict is analogous to the stern conflict which is going on within the hearts and lives of all the world aspirants and disciples and is inevitably a sign that they are setting their feet upon the Path of Conscious Discipleship.

Cuộc xung đột thế giới hiện nay tương tự cuộc xung đột khốc liệt đang diễn ra trong trái tim và đời sống của tất cả những người chí nguyện và đệ tử trên thế giới, và tất yếu là dấu hiệu cho thấy họ đang đặt chân lên Con Đường Đệ Tử Hữu Thức.

194. The following phrase is interesting and arresting: “the stern conflict”. This phrase applies mostly to true disciples and indicates that they are possessed of a growing resolution of will.

194. Cụm từ sau đây thật thú vị và đáng chú ý: “cuộc xung đột khốc liệt”. Cụm từ này chủ yếu áp dụng cho những đệ tử chân chính và cho thấy họ có ý chí kiên quyết ngày càng mạnh mẽ.

195. The world at large is going through what individual disciples go through. The parallel is close and instructive.

195. Toàn thể thế giới đang trải qua những gì từng đệ tử riêng lẻ trải qua. Sự tương đồng này rất sát và mang nhiều tính giáo huấn.

196. The higher Self and the personality meet face to face for the determination of that decision for which the soul (the Self) upon its own plane is waiting.

196. Chân ngã và phàm ngã đối mặt nhau để đi đến quyết định mà linh hồn (Bản Ngã) trên cõi riêng của mình đang chờ đợi.

197. We must discriminate the players in the drama. The personality is the lower man; the higher self (in this context) is man influenced by the Solar Angel and his own incarnationally-accumulated virtues; the soul (the Self) is the Solar Angel.

197. Chúng ta phải phân biện các nhân vật trong vở kịch. Phàm ngã là phàm nhân; chân ngã (trong ngữ cảnh này) là con người chịu ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần và những đức hạnh của chính mình tích lũy qua các kiếp nhập thể; linh hồn (Bản Ngã) là Thái dương Thiên Thần.

198. This facing of the spiritual opponents has much to do with the planet Saturn which is exalted and rules hierarchically in the sign Libra which rules “open enemies”, and, thus, the relation between the “Angel and the Dweller”

198. Sự đối mặt giữa các đối thủ tinh thần này liên quan nhiều đến Sao Thổ, hành tinh được tôn vượng và cai quản về mặt huyền giai trong dấu hiệu Thiên Bình, vốn cai quản “những kẻ thù công khai”, và do đó cũng cai quản mối quan hệ giữa “Thiên Thần và Kẻ Chận Ngõ”

This is what is also happening with the world aspirant, Humanity, at this time. Ponder with care upon this idea.

Đây cũng là điều đang xảy ra với Nhân Loại, người chí nguyện thế giới, vào lúc này. Hãy suy ngẫm kỹ về ý tưởng này.

199. The struggles of humanity may be dire, but they are purposeful. We may deplore much that is transpiring on the world stage, but if we seek to understand it in terms of discipleship, greater understanding and compassion will come—without weakening the firmness of our stand.

199. Những cuộc đấu tranh của nhân loại có thể khốc liệt, nhưng chúng có mục đích. Chúng ta có thể đau lòng trước nhiều điều đang diễn ra trên vũ đài thế giới, nhưng nếu tìm cách thấu hiểu chúng từ góc độ địa vị đệ tử, chúng ta sẽ có sự thấu hiểu và lòng từ bi lớn hơn—mà không làm suy yếu lập trường kiên định của mình.

It is not possible for members of the New Group of World Servers to divorce themselves from the acute situation now to be seen and felt. They cannot and must not escape into a cul-de-sac of personal training and individual interests.

Các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian không thể tách mình khỏi tình thế gay gắt hiện đang hiện rõ trước mắt và trong cảm nhận. Họ không thể và không được trốn vào ngõ cụt của việc rèn luyện cá nhân và những mối quan tâm riêng.

200. A world war was on, but in our era, there is also a war (mostly on the inner planes, but now erupting onto the outer as well). The war now raging has (potentially) even more dire consequences for humanity than the dreadful carnage of WWII.

200. Khi ấy, một cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra, nhưng trong thời đại chúng ta cũng có một cuộc chiến (chủ yếu trên các cõi bên trong, nhưng nay cũng đang bùng phát ra bên ngoài). Cuộc chiến đang hoành hành hiện nay có thể gây ra những hậu quả cho nhân loại còn nghiêm trọng hơn cuộc tàn sát khủng khiếp của Thế chiến II.

201. Our engagement is with the world and with humanity. Personal training and the pursuit of our individual interests have their place, but are not to become preoccupations at a time of excruciating (the word is exact) world need.

201. Chúng ta gắn bó và dấn thân với thế giới và nhân loại. Việc rèn luyện cá nhân và theo đuổi những mối quan tâm riêng có vị trí của chúng, nhưng không được trở thành điều khiến chúng ta quá bận tâm vào lúc thế giới đang có nhu cầu đau đớn tột cùng (từ này hoàn toàn chính xác).

202. The word “excruciating” is exact because our Planetary Logos is passing through the fourth in a series of sub-cosmic seven initiations.

202. Cụm từ “đau đớn tột cùng” là chính xác, vì Hành Tinh Thượng đế của chúng ta đang trải qua lần điểm đạo thứ tư trong một chuỗi bảy lần điểm đạo dưới cấp vũ trụ.

If that is your attitude, then there is little that I can do for you, for this would indicate to me an inability to differentiate in values, a desire to retreat in thought from the unhappy and the unpleasant and to shift responsibility on to the shoulders of others, plus a failure to identify yourselves with humanity.

Nếu đó là thái độ của các bạn, thì Tôi chẳng thể làm được bao nhiêu cho các bạn, vì điều này cho Tôi thấy sự bất lực trong việc phân biệt các giá trị, mong muốn rút lui trong tư tưởng khỏi những gì bất hạnh và khó chịu, đẩy trách nhiệm lên vai người khác, cùng với việc không đồng hoá mình với nhân loại.

203. The one who seeks undue involvement in personal training and individual interests demonstrates four severe faults, which make him, in the eyes of the Master, presently unteachable:

203. Người tìm cách quá chú tâm vào việc rèn luyện cá nhân và những mối quan tâm riêng bộc lộ bốn khuyết điểm nghiêm trọng, khiến người ấy, trong mắt Chân sư, hiện chưa thể tiếp nhận giáo huấn:

1. An inability to differentiate in values

1. Không có khả năng phân biệt các giá trị

2. A desire to retreat in thought from the unhappy and unpleasant

2. Mong muốn rút lui trong tư tưởng khỏi những gì bất hạnh và khó chịu

3. A tendency to shift responsibility onto the shoulders of others

3. Một khuynh hướng đẩy trách nhiệm lên vai người khác

4. A failure to identify with humanity

4. Không đồng hoá mình với nhân loại

204. It is clear that Master DK does not want to stimulate an individual possessed of such attitudes.

204. Rõ ràng, Chân sư DK không muốn kích thích một cá nhân mang những thái độ như thế.

The call to world salvage has gone out and today disciples are assembling all over the world. It is not an assembling upon the physical plane but a profound subjective happening.

Tiếng gọi cứu vớt thế giới đã vang lên, và ngày nay các đệ tử đang tập hợp khắp thế giới. Đây không phải là sự tập hợp trên cõi hồng trần mà là một sự kiện chủ quan sâu sắc.

205. We note a great subjective in-gathering, an “assembling”. Have we noticed that it is in process? Do we sense that we are part of this coming together? How do we know?

205. Chúng ta ghi nhận một sự quy tụ chủ quan lớn lao, một cuộc “tập hợp”. Chúng ta có nhận thấy sự quy tụ ấy đang diễn ra không? Chúng ta có cảm nhận mình là một phần của sự hội tụ này không? Làm sao chúng ta biết?

Each of the Masters is sending out the call and many probationary disciples, even though placed upon the furthest point in the periphery of the Master's influence, are responding with eagerness; their motives are normally mixed and their response is frequently galvanised by a desire for personality progress and aggrandisement.

Mỗi Chân sư đều đang phát ra tiếng gọi, và nhiều đệ tử dự bị, dù ở điểm xa nhất nơi ngoại vi ảnh hưởng của Chân sư, vẫn đang nhiệt thành đáp ứng; động cơ của họ thường pha tạp, và sự đáp ứng của họ thường được kích động mạnh mẽ bởi ham muốn tiến bộ và đề cao phàm ngã.

206. A “call” comes from the Hierarchy as a whole and also from the Master within His Ashram.

206. Một “tiếng gọi” đến từ toàn thể Thánh đoàn và cũng đến từ Chân sư trong ashram của Ngài.

207. Probationary disciples stand “upon the furthest point in the periphery of the Master’s influence”. This is a clear description of their place.

207. Những đệ tử dự bị đứng “ở điểm xa nhất nơi ngoại vi ảnh hưởng của Chân sư”. Đây là sự mô tả rõ ràng về vị trí của họ.

208. We note that probationers respond with “eagerness”, as they have in them much of the sixth ray of enthusiasm.

208. Chúng ta ghi nhận rằng những người dự bị đáp ứng với “lòng nhiệt thành”, vì trong họ có nhiều ảnh hưởng của cung sáu đầy nhiệt huyết.

209. They are still personality-centered, and thus, inevitably the victims of mixed-motives.

209. Họ vẫn lấy phàm ngã làm trung tâm, và vì thế tất yếu trở thành nạn nhân của những động cơ pha tạp.

210. The little ego wishes to grow ever grander. The soul, naturally humble from its vast sense of proportion, does not seek aggrandizement.

210. Cái ngã nhỏ bé muốn ngày càng trở nên lớn lao hơn. Linh hồn, vốn tự nhiên khiêm nhường nhờ ý thức sâu rộng về tỉ lệ, không tìm cách tự đề cao.

They are, at this particular time, greatly complicating the call to service but their distortions are bringing about the fulfilment of the New Testament prophecy that (at the time of the end) there will be much distortion of the truth concerning the spread of the Christ consciousness and the return of the Christ, or the "Second Coming."

Vào thời điểm đặc biệt này, họ đang khiến tiếng gọi phụng sự trở nên hết sức phức tạp, nhưng những sự xuyên tạc của họ đang làm ứng nghiệm lời tiên tri trong Tân Ước rằng (vào thời kỳ cuối cùng) sẽ có nhiều sự xuyên tạc chân lý liên quan đến sự lan rộng của tâm thức Christ và sự trở lại của Đức Christ, hay “Sự Tái Lâm”.

211. Complications arise through personal distortions and unclarity of mind. These complications were foreseen long ago in the prophetic literature of the Judeo-Christian Tradition. Many are the “false prophets” who do not know they are false. In fact, they are sure they are trueprophets? How sure are we?

211. Những điều phức tạp nảy sinh do sự xuyên tạc cá nhân và thể trí thiếu sáng suốt. Những điều phức tạp này đã được tiên liệu từ lâu trong văn học tiên tri của truyền thống Do Thái–Cơ Đốc. Có nhiều “nhà tiên tri giả” không biết mình là giả. Thực tế, họ chắc chắn rằng họ là những nhà tiên tri chân chính? Chúng ta chắc chắn đến mức nào?

And so, from stage to stage the disciple passes, going from light to light, from perception to perception, from force to [773] energy, from personality focus to soul integration and, then, from soul to spirit, from form to life.

Và như thế, người đệ tử đi qua từng giai đoạn, từ ánh sáng này đến ánh sáng khác, từ nhận thức này đến nhận thức khác, từ mãnh lực đến [773] năng lượng, từ sự tập trung vào phàm ngã đến sự tích hợp linh hồn, rồi từ linh hồn đến tinh thần, từ hình tướng đến sự sống.

212. These passages of the disciple are worth tabulating. The Tibetan is offering another of His synthetic summary statements:

212. Những bước chuyển này của người đệ tử đáng được liệt kê. Chân sư Tây Tạng đang đưa ra thêm một phát biểu tổng kết mang tính tổng hợp của Ngài:

1. From stage to stage

1. Từ giai đoạn này đến giai đoạn khác

2. From light to light

2. Từ ánh sáng này đến ánh sáng khác

3. From perception to perception

3. Từ nhận thức này đến nhận thức khác

4. From force to energy

4. Từ mãnh lực đến năng lượng

5. From personality focus to soul integration

5. Từ sự tập trung vào phàm ngã đến sự tích hợp linh hồn

6. From soul to spirit

6. Từ linh hồn đến tinh thần

7. From form to life.

7. Từ hình tướng đến sự sống.

213. DK is summarizing the general movement through the Six Stages of Discipleship.

213. Chân sư DK đang tổng kết sự tiến bước chung qua Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử.

He has explored all the avenues of knowledge; he has descended into the depths, into hell and into the valleys; he has climbed the mountain top of initiation and from there has swung out beyond space and time; he has lost all self-interest and is a focussed point of thought in the mind of God.

Y đã khám phá mọi con đường tri thức; y đã đi xuống những vực sâu, xuống địa ngục và vào các thung lũng; y đã leo lên đỉnh núi điểm đạo và từ đó vươn ra ngoài không gian và thời gian; y đã từ bỏ mọi tư lợi và là một điểm tư tưởng tập trung trong Trí của Thượng đế.

214. Let us tabulate as well this series of achievements:

214. Chúng ta cũng hãy liệt kê chuỗi thành tựu này:

1. He, the disciple, has explored all avenues of knowledge

1. Y, người đệ tử, đã khám phá mọi con đường tri thức

2. He has descended into the depths, into hell and into the valleys

2. Y đã đi xuống những vực sâu, xuống địa ngục và vào các thung lũng

3. He has climbed the mountain top of initiation

3. Y đã leo lên đỉnh núi điểm đạo

4. From that mountain top he has “swung out beyond space and time”

4. Từ đỉnh núi ấy, y đã “vươn ra ngoài không gian và thời gian”

5. He has lost all self-interest

5. Y đã từ bỏ mọi tư lợi

6. He has become a “focussed point of thought in the mind of God”

6. Y đã trở thành một “điểm tư tưởng tập trung trong Trí của Thượng đế”

215. The progress and process of each and every one of us is here succinctly given.

215. Ở đây, sự tiến bộ và tiến trình của mỗi người chúng ta đều được trình bày súc tích.

216. When standing on the mountain top of initiation, it is possible to transcend time and space. The term “swung out” is interesting. Is the antahkarana the ‘cable’ by means of which the swinging occurs.

216. Khi đứng trên đỉnh núi điểm đạo, có thể vượt lên trên thời gian và không gian. Cụm từ “vươn ra” thật thú vị. Phải chăng antahkarana là ‘sợi cáp’ nhờ đó sự vươn ra này diễn ra.

217. The only way to become a “focussed point of thought in the mind of God” is to lose all self-interest, otherwise, there will inevitably be distortion. In such a condition, the mind thinks only those thoughts which express the Mind of God.

217. Cách duy nhất để trở thành một “điểm tư tưởng tập trung trong Trí của Thượng đế” là từ bỏ mọi tư lợi; nếu không, tất yếu sẽ có sự xuyên tạc. Trong trạng thái như thế, thể trí chỉ suy nghĩ những tư tưởng biểu đạt Trí của Thượng đế.

218. The lower ego is shed and vision comes, and revelation, realization, and finally identification.

218. Phàm ngã được rũ bỏ, rồi linh thị xuất hiện, cùng sự mặc khải, sự chứng nghiệm và cuối cùng là sự đồng hoá.

219. The Six Stages of Discipleship lead to this consummation.

219. Sáu Giai Đoạn của Địa Vị Đệ Tử dẫn đến sự viên mãn này.

220. We can find ourselves at one or other of these stages and now know (with fair accuracy) what we must do to move further.

220. Chúng ta có thể nhận ra mình đang ở một trong những giai đoạn này và giờ đây biết (khá chính xác) mình phải làm gì để tiến xa hơn.

Can I say more than this? I think not, my brothers. And so I bring to an end this series of instructions and my responsibility in this connection is ended. Yours now begins.

Tôi có thể nói gì hơn thế nữa không? Tôi nghĩ là không, các huynh đệ của Tôi. Và như thế, Tôi kết thúc loạt huấn thị này, và trách nhiệm của Tôi trong việc này đã chấm dứt. Trách nhiệm của các bạn giờ đây bắt đầu.

221. Masterfully delivered! A great offering has been made, but with it comes inevitable responsibility. That responsibility has just been laid squarely on our shoulders. Do we feel its weight?

221. Thật là lời truyền dạy bậc thầy! Một món quà lớn lao đã được trao tặng, nhưng đi cùng nó là trách nhiệm tất yếu. Trách nhiệm ấy vừa được đặt thẳng lên vai chúng ta. Chúng ta có cảm nhận sức nặng của nó không?

222. Knowledge is responsibility and we have been informed.

222. Tri thức là trách nhiệm, và chúng ta đã được truyền đạt tri thức.

223. A testimony to the active presence of the soul is the growing sense of responsibility. What is our relation to responsibility? By our response, the Master has yet another gauge of our place and status in His work.

223. Ý thức trách nhiệm ngày càng tăng là bằng chứng cho sự hiện diện tích cực của linh hồn. Mối quan hệ của chúng ta với trách nhiệm là gì? Qua sự đáp ứng của chúng ta, Chân sư có thêm một thước đo về vị trí và địa vị của chúng ta trong công việc của Ngài.

With the conclusion of this commentary we have reviewed the Tibetan’s group instructions found in DINA I. There remain some uncompleted astrological analyses, and an important review of the Tibetan’s work to be accomplished next month, but for the most part (after a month of review in Gemini) we will be ready to proceed into DINA II.

Khi kết thúc bài bình giảng này, chúng ta đã ôn lại những huấn thị nhóm của Chân sư Tây Tạng trong DINA I. Vẫn còn một số phân tích chiêm tinh chưa hoàn tất, cùng một phần ôn tập quan trọng về công trình của Chân sư Tây Tạng cần hoàn thành vào tháng tới, nhưng nhìn chung (sau một tháng ôn tập trong Song Tử), chúng ta sẽ sẵn sàng chuyển sang DINA II.

Light, Love and Power,Michael

Ánh sáng, Tình thương và Quyền năng,Michael

SECTION FOUR – PHẦN BỐN

22. SUMMARY OF THE TIBETAN’S WORK (1919-1943) – 22. TÓM LƯỢC CÔNG VIỆC CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG (1919-1943)

commentary by Michael D. Robbins

bình giảng của Michael D. Robbins

[777]

[777]

1. It is useful for us to refresh our minds on the matter of the sequence and meaning of the Tibetan’s books. Much may be learned thereby.

1. Việc ôn lại trình tự và ý nghĩa các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng là điều hữu ích đối với chúng ta. Qua đó, chúng ta có thể học được nhiều điều.

In 1919, during the month of November, I made a contact with Alice A. Bailey and asked her to do some writing for me and also to undertake the publishing of certain books which— under the sequential giving out of truth—were due to appear.

Vào tháng Mười Một năm 1919, Tôi đã liên lạc với Alice A. Bailey và đề nghị bà viết giúp Tôi một số điều, đồng thời đảm nhận việc xuất bản một số tác phẩm đã đến lúc phải xuất hiện theo tiến trình tuần tự công bố chân lý.

2. Some astrologers have done much to pin-point the time of this first contact with very interesting results.

2. Một số nhà chiêm tinh đã nỗ lực rất nhiều để xác định chính xác thời điểm của lần tiếp xúc đầu tiên này, với những kết quả rất thú vị.

She refused immediately,

Bà lập tức từ chối,

3. She had two first rays (personality and mind) in her ray chart.

3. Trong biểu đồ cung của bà có hai cung một (phàm ngã và thể trí).

having no sympathy with the flood of so-called occult literature being passed out to the public by the various occult groups, having no experience in writing for the public, and having also a profound dislike of every form of psychic writing and of psychic work.

vì không tán đồng với làn sóng sách báo được gọi là huyền bí mà các nhóm huyền bí khác nhau đang phổ biến cho công chúng, không có kinh nghiệm viết cho công chúng, đồng thời hết sức ác cảm với mọi hình thức viết thông linh và công việc thông linh.

4. We might say that this attitude towards psychism colors much of the AAB presentation. Is she justified in this attitude?

4. Chúng ta có thể nói rằng thái độ này đối với năng lực thông linh ảnh hưởng đến phần lớn cách trình bày của AAB. Thái độ ấy của bà có chính đáng không?

5. Much experience in this field teaches that while psychism may one day be developed to a high level, the great majority of that which is communicated by psychics is full of error and, therefore, an unreliable guide to reality.

5. Nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này cho thấy rằng, tuy một ngày nào đó năng lực thông linh có thể phát triển đến trình độ cao, nhưng đại đa số những điều các nhà thông linh truyền đạt đều đầy sai lầm, và do đó không thể đáng tin cậy để dẫn dắt chúng ta đến thực tại.

6. It seems that humanity must pass through much error before real clarity of vision is attained. DK has told us that the average psychic is practically unreachable, being so firmly entrenched in the belief of the validity of his/her psychic impressions. Extrication from these glamors and illusions is a long, slow process.

6. Dường như nhân loại phải trải qua nhiều sai lầm trước khi đạt được tầm nhìn thực sự sáng tỏ. Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng hầu như không thể tác động được đến nhà thông linh thông thường, vì họ bám chặt vào niềm tin rằng những ấn tượng thông linh của mình là xác thực. Thoát khỏi những ảo cảm và ảo tưởng này là một tiến trình dài và chậm.

Later, she changed her mind when I explained to her that telepathic rapport was a proven thing and a matter of scientific interest, that she was neither clairaudient or clairvoyant and never would be and that (above all) the test of truth was the truth itself.

Về sau, bà đổi ý khi Tôi giải thích rằng sự giao cảm viễn cảm là một điều đã được chứng minh và là vấn đề khoa học quan tâm; rằng bà không có khả năng thông nhĩ hay thông nhãn và sẽ không bao giờ có; và rằng, trên hết, tiêu chuẩn kiểm chứng chân lý chính là chân lý.

7. AAB adopted a wise and considered attitude when the Tibetan counseled her concerning the real nature of “telepathic rapport”.

7. AAB đã có thái độ khôn ngoan và thận trọng khi Chân sư Tây Tạng chỉ dẫn bà về bản chất thực sự của “sự giao cảm viễn cảm”.

8. We note that clairaudience and clairvoyance are not here presented as desirable states. The fact that she would never be either clairvoyant or clairaudient was almost a reassurance and relief to AAB.

8. Chúng ta lưu ý rằng ở đây, thông nhĩ và thông nhãn không được trình bày như những trạng thái đáng mong muốn. Việc bà sẽ không bao giờ có khả năng thông nhãn hay thông nhĩ gần như là một lời trấn an và khiến AAB nhẹ nhõm.

9. As a result of the Tibetan’s counsel she developed a “wait and see” attitude.

9. Nhờ lời chỉ dẫn của Chân sư Tây Tạng, bà đã hình thành thái độ “chờ xem” ấy.

I told her that if she would write for a period of a month, the material transcribed would prove to her whether it contained truth, whether it evoked intuitive understanding and recognition and whether it had in it that which might be of value in the new spiritual era which was impending.

Tôi nói với bà rằng nếu bà chịu viết trong một tháng, thì những tài liệu ghi lại sẽ chứng minh cho bà thấy liệu chúng có chứa đựng chân lý hay không, có khơi dậy sự thấu hiểu và nhận biết bằng trực giác hay không, và có chứa đựng điều gì có thể mang lại giá trị trong kỷ nguyên tinh thần mới đang đến gần hay không.

10. AAB chose to enter into an experiment and overcame her instinctive prejudice, no matter how justified it may have been.

10. AAB đã chọn tham gia một cuộc thử nghiệm và vượt qua định kiến theo bản năng của mình, dù định kiến ấy có thể chính đáng đến đâu.

11. It would appear that truth has its own ring and will declare itself to the perceptive individual.

11. Dường như chân lý có âm vang riêng và sẽ tự bộc lộ với người có khả năng nhận biết tinh tế.

She, therefore, overcame her disgust of this type of work and of the many occult presentations of truth which were prevalent; she only stipulated that the writing should go out with no claims whatsoever and that the teachings should stand or fall on their own merits.

Vì vậy, bà đã vượt qua sự ghê sợ đối với loại công việc này và đối với nhiều cách trình bày chân lý huyền bí đang thịnh hành; bà chỉ đặt điều kiện rằng các bản viết phải được phổ biến mà không đưa ra bất kỳ lời tự nhận nào, và các giáo huấn phải đứng vững hay sụp đổ dựa trên chính giá trị của chúng.

12. The word “disgust” is strong. We must ask why that word, with its solar plexus associations, was used. At one point DK discussed AAB’s horror of glamour—which He shared:

12. Từ “ghê sợ” là một từ mạnh. Chúng ta phải tự hỏi vì sao lại dùng từ ấy, với những liên hệ của nó đến tùng thái dương. Có lần, Chân sư DK đã bàn về nỗi kinh sợ ảo cảm của AAB—điều mà Ngài cũng chia sẻ:

“It may be a long time since I, personally, was overcome by glamour, and it may be a short time since A. A. B. succumbed, but neither of us has forgotten the difficulties encountered or lost our horror of glamour; we are therefore not critical, and upon that fact rest back. ” (DINA II 674)

“Có thể đã lâu rồi kể từ khi chính Tôi bị ảo cảm lấn át, và có thể mới chỉ một thời gian ngắn kể từ khi A. A. B. khuất phục trước nó, nhưng cả hai chúng tôi đều chưa quên những khó khăn đã gặp phải hay mất đi nỗi kinh sợ ảo cảm; vì vậy, chúng tôi không phê phán, và các bạn hãy an tâm dựa vào sự thật ấy. ” (DINA II 674)

13. We see that AAB was already possessed of an innate sense of humility. She wished to make no claims in an arena in which claim-making abounded.

13. Chúng ta thấy rằng AAB vốn đã có đức khiêm nhường bẩm sinh. Bà không muốn đưa ra bất kỳ lời tự nhận nào trong một lĩnh vực đầy rẫy những lời tự nhận.

The first book published was Initiation, Human and Solar. This was the result of her first effort to do this kind of work; it laid the foundation of all the succeeding books. Since then she has written for me for nearly twenty-five years.

Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương. Đây là kết quả từ nỗ lực đầu tiên của bà trong loại công việc này; nó đặt nền móng cho tất cả các tác phẩm tiếp theo. Kể từ đó, bà đã viết giúp Tôi trong gần hai mươi lăm năm.

14. This summary was apparently written in 1943 or so.

14. Dường như bản tóm lược này được viết vào khoảng năm 1943.

15. Readers of Initiation: Human and Solar will realize its foundational nature. It is a book to which we may return again and again for hints and clarifications that can be found nowhere else. Although the Tibetan may seem to repeat Himself, in fact, He rarely does so. With every seeming repetition, a new slant on the subject in question is offered.

15. Độc giả của Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương sẽ nhận ra tính chất nền tảng của tác phẩm này. Đây là một tác phẩm mà chúng ta có thể trở lại hết lần này đến lần khác để tìm những gợi ý và lời làm sáng tỏ không thể tìm thấy ở nơi nào khác. Dù Chân sư Tây Tạng có vẻ lặp lại những điều Ngài đã nói, nhưng thực ra Ngài hiếm khi làm vậy. Với mỗi lần tưởng như lặp lại, Ngài lại đưa ra một góc nhìn mới về chủ đề đang bàn.

The books have gone out in line with a deep, underlying purpose which it may interest you to know about and they have received a worldwide recognition.

Các tác phẩm đã được phổ biến theo một mục đích sâu xa, làm nền tảng mà có lẽ các bạn sẽ muốn tìm hiểu, và chúng đã được công nhận trên toàn thế giới.

16. Long-time students of the Tibetan’s writings have sensed their great depth of purpose.

16. Những đạo sinh lâu năm nghiên cứu các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng đã cảm nhận được chiều sâu lớn lao trong mục đích của chúng.

Initiation, Human and Solar was intended to bring the fact of the Hierarchy to public attention.

Điểm Đạo, Nhân Loại và Thái Dương nhằm khiến công chúng chú ý đến sự hiện hữu của Thánh đoàn.

17. This original intention is still vitally important. Even though “New Age” literature is extremely popular, a reasonable image of the Masters of the Wisdom is rarely to be found.

17. Ý định ban đầu này vẫn vô cùng quan trọng. Mặc dù sách báo “Kỷ Nguyên Mới” hết sức phổ biến, hiếm khi tìm thấy một hình ảnh hợp lý về các Chân sư Minh Triết.

18. The subject of the Masters is a demanding one and many apparently progressive thinkers seek to avoid it altogether as it is so controversial.

18. Chủ đề về các Chân sư đòi hỏi sự tìm hiểu nghiêm túc, và nhiều nhà tư tưởng có vẻ tiến bộ lại tìm cách hoàn toàn tránh né chủ đề này vì nó quá gây tranh cãi.

This had been done by H. P. B. by inference and statement but not in any sequential form.

H. P. B. đã thực hiện điều này qua những gợi ý và lời khẳng định, nhưng chưa trình bày theo một trình tự nào.

19. It was, therefore, desired that a more coherent presentation be offered to the public.

19. Vì vậy, mong muốn là cung cấp cho công chúng một cách trình bày mạch lạc hơn.

The Theosophical Society had taught the fact of the [778] Masters, though H. P. Blavatsky (in a communication to the Esoteric Section) stated that she bitterly regretted so doing.

Hội Thông Thiên Học đã giảng dạy về sự hiện hữu của [778] các Chân sư, mặc dù H. P. Blavatsky (trong một thông điệp gửi Ban Nội Môn) đã nói rằng bà vô cùng hối tiếc vì đã làm như vậy.

20. This is because the distortion imposed upon her presentation proved considerable, largely because of the selfish self-referencing of the average aspirant who appropriated HPB’s thoughts.

20. Đó là vì cách trình bày của bà đã bị xuyên tạc đáng kể, phần lớn do thói ích kỷ quy mọi việc về bản thân của người chí nguyện thông thường khi tiếp nhận những tư tưởng của HPB.

21. Again, strong words are used. “Bitterly regretted” are potent words. We can only imagine how HPB analyzed the distortion.

21. Một lần nữa, những từ ngữ mạnh lại được sử dụng. “Vô cùng hối tiếc” là những từ rất mạnh. Chúng ta chỉ có thể hình dung HPB đã phân tích sự xuyên tạc ấy như thế nào.

This teaching was misinterpreted by later theosophical leaders and they made certain basic mistakes. The Masters Whom they portrayed were characterised by an impossible infallibility, because the Masters are Themselves evolving;

Các nhà lãnh đạo Thông Thiên Học về sau đã diễn giải sai giáo huấn này và phạm một số sai lầm căn bản. Họ mô tả các Chân sư như những Đấng tuyệt đối không thể sai lầm—một điều không thể có, bởi chính các Chân sư cũng đang tiến hoá;

22. The evolution of all in nature would seem a fundamental premise clearly presented in the Secret Doctrine.

22. Sự tiến hoá của mọi sự vật trong tự nhiên dường như là một tiền đề căn bản được trình bày rõ ràng trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

23. Some of the early theosophical leaders were strongly equipped with the sixth ray (on the personality level) and so their mistakes in estimating the degree if evolution of the Masters are understandable.

23. Một số nhà lãnh đạo Thông Thiên Học thời kỳ đầu chịu ảnh hưởng mạnh của cung sáu (ở cấp độ phàm ngã), nên những sai lầm của họ khi đánh giá trình độ tiến hoá của các Chân sư là điều có thể thấu hiểu.

the teaching given endorsed an engrossing interest in self-development and an intense focussing upon personal unfoldment and liberation;

giáo huấn được truyền dạy đã cổ vũ sự say mê phát triển bản thân và sự tập trung mãnh liệt vào việc khai mở và giải thoát cá nhân;

24. Group consciousness, therefore, was not cultivated, and the development of group consciousness leading to group initiation is necessarily the way of the future.

24. Vì vậy, tâm thức nhóm đã không được vun bồi, trong khi sự phát triển tâm thức nhóm dẫn đến điểm đạo nhóm tất yếu là con đường của tương lai.

the people who were indicated as initiates and senior disciples were entirely mediocre with no influence outside the Theosophical Society itself;

những người được chỉ ra là điểm đạo đồ và đệ tử cao cấp đều hoàn toàn tầm thường, không có ảnh hưởng nào bên ngoài chính Hội Thông Thiên Học;

25. As students of the Ageless Wisdom, we must be warned against ‘spiritual myopia’—nearsightedness.

25. Là những đạo sinh của Minh Triết Ngàn Đời, chúng ta phải cảnh giác với ‘chứng cận thị tinh thần’—tầm nhìn thiển cận.

26. Shall we say that early theosophical leaders lost their sense of “co-measurement”? Humility is said to be an “adjusted sense of right proportion” (DINA I 95).

26. Phải chăng chúng ta có thể nói rằng các nhà lãnh đạo Thông Thiên Học thời kỳ đầu đã đánh mất ý thức về “sự cân xứng”? Người ta nói khiêm nhường là một “ý thức đã được điều chỉnh về tỉ lệ đúng đắn” (DINA I 95).

complete devotion to the Masters was also emphasised—devotion to Their personalities.

lòng sùng tín tuyệt đối đối với các Chân sư cũng được nhấn mạnh—sùng tín đối với phàm ngã của Các Ngài.

27. Again the sixth ray emphasis upon externals.

27. Một lần nữa, cung sáu lại nhấn mạnh những gì bên ngoài.

These Masters were also shown as interfering with the organisation life of the various occult groups which claimed to be working under Their direction.

Các Chân sư này còn được mô tả là can thiệp vào sinh hoạt tổ chức của các nhóm huyền bí khác nhau tự nhận đang hoạt động dưới sự chỉ đạo của Các Ngài.

28. Selfishness and an unchecked imagination were responsible for this misapprehension.

28. Sự ích kỷ và trí tưởng tượng không được kiểm soát đã gây ra ngộ nhận này.

They were made responsible for the mistakes of the leaders of the groups who took refuge under such statements as: The Master has instructed me to say, etc. , the Master wants the following work to be done, or the Master wants the membership to do thus and so.

Người ta quy trách nhiệm cho Các Ngài về những sai lầm của các nhà lãnh đạo nhóm, những người núp sau các lời tuyên bố như: Chân sư đã chỉ thị tôi nói, v.v., Chân sư muốn thực hiện công việc sau đây, hoặc Chân sư muốn các thành viên làm thế này thế nọ.

29. The liabilities of this approach are so obvious, and yet the same mistakes are repeated today, a hundred years later.

29. Những tai hại của cách tiếp cận này quá rõ ràng, vậy mà ngày nay, một trăm năm sau, người ta vẫn lặp lại những sai lầm ấy.

30. We see in these abuses a basic dishonesty and an inflation of the lower ego.

30. Trong những sự lạm dụng này, chúng ta thấy sự thiếu trung thực căn bản và sự phình to của phàm ngã.

Those who obeyed were regarded as good members; those who refused to be interested and obedient were looked upon as renegades. The freedom of the individual was constantly infringed and the weaknesses and ambitions of the leaders were provided with an alibi.

Những người vâng lời được xem là thành viên tốt; những người không chịu quan tâm và tuân phục bị xem là kẻ phản bội. Tự do cá nhân liên tục bị xâm phạm, còn những nhược điểm và tham vọng của các nhà lãnh đạo thì có cớ để biện minh.

31. DK presents a rather unpleasant picture. Personality was obviously in a dominant position and soul, secondary.

31. Chân sư DK trình bày một bức tranh khá khó chịu. Rõ ràng phàm ngã chiếm vị trí thống trị, còn linh hồn chỉ giữ vai trò thứ yếu.

32. This ‘hiding behind the Master’ seems a petty and dishonorable practice, yet human—”all too human”.

32. Việc ‘núp sau Chân sư’ này dường như là một cách hành xử nhỏ nhen và thiếu danh dự, nhưng lại mang tính con người—”quá đỗi con người”.

Knowing all this well, A. A. B. refused to be a party to any such constantly recurring activity, for such is the history of practically all the known occult groups which attract the attention of the public.

Biết rõ tất cả những điều này, A. A. B. từ chối tham gia bất kỳ hoạt động nào như vậy cứ liên tục tái diễn, bởi lịch sử của hầu như mọi nhóm huyền bí được biết đến và thu hút sự chú ý của công chúng đều như thế.

33. Not a very sanguine assessment. This statement by the Tibetan must cause us to examine ourselves.

33. Một nhận định chẳng mấy lạc quan. Lời khẳng định này của Chân sư Tây Tạng hẳn phải khiến chúng ta tự xét lại mình.

Even had I wanted to work in such a way (which no one affiliated with the Hierarchy ever does), I would have found no collaboration from her.

Ngay cả nếu Tôi muốn làm việc theo cách ấy (điều mà không một ai gắn bó với Thánh đoàn từng làm), Tôi cũng sẽ không nhận được sự cộng tác của bà.

34. This is a ringing affirmation of AAB’s integrity, and a protection from those who would associate their work with hers while still working in the old manner here repudiated by Master DK.

34. Đây là một lời khẳng định mạnh mẽ về tính chính trực của AAB, đồng thời bảo vệ bà trước những người muốn gắn công việc của họ với công việc của bà trong khi vẫn làm theo lối cũ mà Chân sư DK đã bác bỏ ở đây.

35. Are we so naïve that we cannot recognize personality ambition when it confronts us?

35. Chúng ta có ngây thơ đến mức không thể nhận ra tham vọng phàm ngã khi nó hiện ra trước mắt mình không?

Letters on Occult Meditation followed next. These indicated a somewhat new approach to meditation, based not on devotion to the Masters but on a recognition of the soul in each person.

Tiếp theo là Thư Về Tham thiền Huyền môn. Những lá thư này chỉ ra một cách tiếp cận khá mới đối với tham thiền, dựa trên sự nhận biết linh hồn trong mỗi người, thay vì lòng sùng tín đối với các Chân sư.

36. Now, after many years of possessing the Tibetan’s books, we may take the newer meditative emphasis for granted, but much time has been required to wean us from devotion to the Masters’ personalities.

36. Giờ đây, sau nhiều năm có trong tay các tác phẩm của Chân sư Tây Tạng, chúng ta có thể xem trọng tâm mới hơn này trong tham thiền là điều hiển nhiên, nhưng đã cần rất nhiều thời gian để chúng ta dần rời bỏ lòng sùng tín đối với phàm ngã của các Chân sư.

37. Letters on Occult Meditation, though a relatively early book, is profoundly occult in many of its sections. It is written in a condensed manner and requires much pondering. Many parts are still largely impenetrable to even trained esoteric thinkers. It abounds with occult hints to be developed in the future.

37. Thư Về Tham thiền Huyền môn, dù là một tác phẩm tương đối sớm, vẫn mang tính huyền bí sâu sắc trong nhiều phần. Tác phẩm được viết cô đọng và đòi hỏi nhiều suy ngẫm. Nhiều phần vẫn còn rất khó thâm nhập, ngay cả đối với những nhà tư tưởng nội môn đã được rèn luyện. Tác phẩm chứa đựng rất nhiều gợi ý huyền bí cần được khai triển trong tương lai.

This was succeeded by A Treatise on Cosmic Fire. This book was an expansion of the teaching given in The Secret Doctrine on the three fires—electric fire, solar fire and fire by friction—and it was an awaited sequence;

Kế tiếp là Luận về Lửa Vũ Trụ. Tác phẩm này mở rộng giáo huấn trong Giáo Lý Bí Nhiệm về ba loại lửa—Lửa Điện, Lửa Thái dương và Lửa ma sát—và là phần tiếp nối được mong đợi;

38. DK is suggesting that the appearance of A Treatise on Cosmic Fire was expected or awaited.

38. Chân sư DK đang gợi ý rằng sự xuất hiện của Luận về Lửa Vũ Trụ là điều đã được dự kiến hoặc mong đợi.

it also presented the psychological key to The Secret Doctrine and is intended to offer study to disciples and initiates at the close of this century and the beginning of the next century, up until 2025 A. D.

tác phẩm cũng trình bày chìa khoá tâm lý học để tìm hiểu Giáo Lý Bí Nhiệm, và nhằm cung cấp tài liệu nghiên cứu cho các đệ tử và điểm đạo đồ vào cuối thế kỷ này và đầu thế kỷ tới, cho đến năm 2025 sau Công nguyên.

39. We see the ongoing utility of A Treatise on Cosmic Fire—a century of utility. We are living through the period in which TCF is to be assimilated.

39. Chúng ta thấy tính hữu dụng lâu dài của Luận về Lửa Vũ Trụ—suốt một thế kỷ hữu dụng. Chúng ta đang sống trong thời kỳ cần tiếp thu TCF.

40. From my estimation this great book will offer much of value to students for centuries to come, and so will the Secret Doctrine.

40. Theo tôi đánh giá, tác phẩm vĩ đại này sẽ mang lại nhiều giá trị cho các đạo sinh trong nhiều thế kỷ tới, và Giáo Lý Bí Nhiệm cũng vậy.

41. Nevertheless, 2025 is an important date for the inauguration of the third dispensation of the Teaching. Who knows the exact nature of the anticipated Teaching? We may say, however, that it will have much of the first ray in it, even as HPB’s teaching (though she was a first ray initiate) had much of the third, and AAB’s much of the second.

41. Tuy nhiên, năm 2025 là một mốc quan trọng để khai mở đợt ban truyền Giáo Huấn thứ ba. Ai biết chính xác bản chất của Giáo Huấn đang được mong đợi ấy? Tuy nhiên, chúng ta có thể nói rằng giáo huấn ấy sẽ mang nhiều tính chất cung một, cũng như giáo huấn của HPB (dù bà là một điểm đạo đồ cung một) mang nhiều tính chất cung ba, còn giáo huấn của AAB mang nhiều tính chất cung hai.

42. The Tibetan Master seems to be at home on all three Rays of Aspect.

42. Chân sư Tây Tạng dường như thông thạo cả ba Cung Trạng Thái.

[779] Later A. A. B. felt that it would be of value to me and to the work if she demonstrated that she could write books (useful to students) apart from transcribing my writings and taking down my notes, rendering them into the thought-provoking English which together we have developed as a medium for transmission of the ideas which it is my dharma to make public.

[779] Về sau, A. A. B. cảm thấy rằng sẽ có ích cho Tôi và cho công việc nếu bà chứng tỏ mình có thể viết những tác phẩm hữu ích cho đạo sinh, ngoài việc ghi lại các bản viết và những ghi chú của Tôi, diễn đạt chúng bằng thứ tiếng Anh gợi suy ngẫm mà chúng tôi đã cùng phát triển làm phương tiện truyền đạt những ý tưởng Tôi có bổn phận phải công bố.

43. AAB’s motive is very interesting. In this paragraph it is suggested that she did not write her books to prove she could think (as she humorously suggested at one point) but, rather, for the sake of the Tibetan’s Work.

43. Động cơ của AAB rất thú vị. Đoạn này gợi ý rằng bà viết các tác phẩm của mình vì Công Việc của Chân sư Tây Tạng, chứ không phải để chứng tỏ mình có thể suy nghĩ (như có lần bà đã hài hước nói).

44. We do remember that AAB has (according to the most accepted astrological rectifications) the sign Leo on the Ascendant of her astrological chart. In one way she is proving her spiritual individuality.

44. Chúng ta nhớ rằng, theo những hiệu chỉnh giờ sinh được chấp nhận rộng rãi nhất, AAB có dấu hiệu Sư Tử tại Điểm mọc trong lá số chiêm tinh của bà. Theo một cách nào đó, bà đang chứng tỏ cá thể tính tinh thần của mình.

45. Note that a special “thought-provoking English” was developed by the AAB and the Tibetan working together. It is true that the English usage of the later books is quite different from that found in the earlier and shows, so it seem, the combined influence of two minds (Gemini).

45. Hãy lưu ý rằng một lối diễn đạt đặc biệt bằng “tiếng Anh gợi suy ngẫm” đã hình thành qua việc AAB và Chân sư Tây Tạng cùng nhau làm việc. Quả thật, cách dùng tiếng Anh trong các tác phẩm về sau khác hẳn các tác phẩm trước đó, và dường như cho thấy ảnh hưởng kết hợp của hai thể trí (Song Tử).

46. We note that although a Master may have worked through the karma relating to the human kingdom, He certainly is still under the demand of dharma. This duty came upon the Tibetan because of His unique qualifications for the task.

46. Chúng ta lưu ý rằng dù một Chân sư có thể đã giải quyết xong nghiệp quả liên quan đến giới nhân loại, chắc chắn Ngài vẫn chịu sự đòi hỏi của bổn phận. Bổn phận này thuộc về Chân sư Tây Tạng vì Ngài có những năng lực đặc biệt phù hợp với nhiệm vụ ấy.

The average psychic and medium is not usually of a high-grade intelligence and A. A. B. desired to prove (for the aiding of the work of the future) that one could do definitely psychic work and be of a real intelligence.

Nhà thông linh và đồng tử thông thường thường không có trí thông minh cao, và A. A. B. mong muốn chứng tỏ—nhằm hỗ trợ công việc tương lai—rằng người ta có thể thực hiện công việc rõ ràng mang tính thông linh mà vẫn thực sự thông minh.

47. Although AAB repudiated psychism and the Tibetan assured her that she was not clairvoyant or clairaudient and would not be in this life, we find Him saying that she was doing “psychic work”. Her psychism is obviously of the higher kind and not of the kind with which she feared to be involved.

47. Mặc dù AAB bác bỏ năng lực thông linh, và Chân sư Tây Tạng bảo đảm với bà rằng bà không có khả năng thông nhãn hay thông nhĩ và sẽ không có trong kiếp này, chúng ta vẫn thấy Ngài nói rằng bà đang làm “công việc thông linh”. Rõ ràng năng lực thông linh của bà thuộc loại cao cấp, khác với loại mà bà sợ phải dính líu đến.

48. If we read carefully of the higher psychic powers, we shall see them as very distinct from that which is usually considered to be psychism. (TCF 188).

48. Nếu đọc kỹ về các quyền năng thông linh cao cấp, chúng ta sẽ thấy chúng rất khác với những gì người ta thường xem là năng lực thông linh. (TCF 188).

49. AAB was always an exponent of spiritual intelligence. She united intelligence with psychism and a high form of mediumship. Spiritual work has often fallen into ill-repute because its exponents have demonstrated themselves as less intelligent than the normal, intelligent people of the world. The reputation surrounding the higher psychic work needed to be elevated.

49. AAB luôn là người thể hiện trí thông minh tinh thần. Bà kết hợp trí thông minh với năng lực thông linh và một hình thức cao cấp của khả năng làm đồng tử. Công việc tinh thần thường bị mang tiếng xấu vì những người đại diện cho nó đã cho thấy họ kém thông minh hơn những người thông minh bình thường trên thế giới. Uy tín của công việc thông linh cao cấp cần được nâng lên.

She has, therefore, written four books which are entirely her own production:

Vì vậy, bà đã viết bốn tác phẩm hoàn toàn do chính bà sáng tác:

The Consciousness of the Atom. The Soul and Its Mechanism. From Intellect to Intuition. From Bethlehem to Calvary.

Tâm Thức của Nguyên Tử. Linh Hồn và Bộ Máy của Nó. Từ Trí Năng đến Trực Giác. Từ Bethlehem đến Calvary.

50. The four books which are “entirely her own production” must be distinguished from the book on which AAB and the Tibetan collaborated.

50. Cần phân biệt bốn tác phẩm “hoàn toàn do chính bà sáng tác” với tác phẩm mà AAB và Chân sư Tây Tạng đã cùng biên soạn.

She has also written one book in collaboration with me, entitled The Light of the Soul; in it I give the translation of the Sanskrit Sutras of Patanjali and she contributes the commentary, referring to me occasionally for reassurance as to meaning.

Bà cũng đã cộng tác với Tôi để viết một tác phẩm mang tên Ánh Sáng của Linh Hồn; trong đó, Tôi cung cấp bản dịch các Kinh tiếng Phạn của Patanjali, còn bà đóng góp phần bình giảng, thỉnh thoảng hỏi lại Tôi để chắc chắn về ý nghĩa.

51. Just as it is said that Master KH proofread the translations of the Stanzas of Dzyan before HPB commented upon them, so we see Master DK providing accurate translations of the Yoga Sutras so that AAB could comment upon these stanzas with assurance.

51. Cũng như người ta nói rằng Chân sư KH đã duyệt lại bản dịch các Bài Kệ Dzyan trước khi HPB bình giảng, ở đây chúng ta thấy Chân sư DK cung cấp những bản dịch chính xác của Kinh Yoga để AAB có thể tự tin bình giảng những bài kệ này.

52. We see AAB checking in with DK regarding meanings where necessary.

52. Chúng ta thấy AAB hỏi lại Chân sư DK về ý nghĩa khi cần thiết.

Then followed A Treatise on White Magic. This was written years ago.

Sau đó là Luận về Chánh Thuật. Tác phẩm này đã được viết từ nhiều năm trước.