← Commentary on DINA I song ngữ

53. We can feel the irony behind DK’s statements. The chela is alwaysloved, even before he is accepted by the Master. The Master is love.

Trích nội dung chương

53. We can feel the irony behind DK’s statements. The chela is alwaysloved, even before he is accepted by the Master. The Master is love. 53. Chúng ta có thể cảm nhận sự mỉa mai đằng sau những lời của Chân sư DK. Người đệ tử luôn luôn được yêu thương, ngay cả trước khi Chân sư chấp nhận y. Chân sư chính là tình thương.


53. We can feel the irony behind DK’s statements. The chela is alwaysloved, even before he is accepted by the Master. The Master is love.

53. Chúng ta có thể cảm nhận sự mỉa mai đằng sau những lời của Chân sư DK. Người đệ tử luôn luôn được yêu thương, ngay cả trước khi Chân sư chấp nhận y. Chân sư chính là tình thương.

54. We can see how much personalism surrounds the kind of interpretation (to which DK almost ironically refers).

54. Chúng ta có thể thấy cách diễn giải ấy thấm đẫm tính cá nhân đến mức nào (cách diễn giải mà Chân sư DK nhắc đến gần như với giọng mỉa mai).

55. This false interpretation presents a picture of some kind of ‘ashramic heaven’—at last, the closest possible relationship with the Master! It reeks of personality, does it not?

55. Cách diễn giải sai lầm này vẽ nên một kiểu ‘thiên đường ashram’—cuối cùng cũng có được mối quan hệ gần gũi nhất có thể với Chân sư! Nó sặc mùi phàm ngã, phải không?

For another thing, brother of mine, when the disciple reaches this stage he is no longer what you understand by an accepted disciple. He is an initiate of high standing and of elevated degree and has passed out of the supervision and the safeguarding of a Master into a direct relation with the Master of all the Masters, the Christ, who is the central point in the Hierarchy, just as the Master is the central point in an ashram.

Còn một điều nữa, huynh đệ của Tôi, khi người đệ tử đạt đến giai đoạn này, y không còn là một đệ tử được chấp nhận theo cách các bạn hiểu nữa. Y là một điểm đạo đồ có địa vị cao và cấp bậc cao, đã vượt ra ngoài sự giám sát và bảo hộ của một Chân sư để bước vào mối quan hệ trực tiếp với Chân sư của tất cả các Chân sư, Đức Christ, Đấng là điểm trung tâm trong Thánh đoàn, cũng như Chân sư là điểm trung tâm trong một ashram.

56. Something of the status of the chela within the heart is given.

56. Ở đây, chúng ta biết được phần nào địa vị của người đệ tử trong Tâm.

57. One who is a third degree initiates (and therefore, being prepared for the fourth degree) is no longer an “accepted disciple”.

57. Một điểm đạo đồ bậc thứ ba (do đó đang được chuẩn bị cho bậc thứ tư) không còn là một “đệ tử được chấp nhận”.

58. Not only is he an initiate, but an “initiate of high standing”. This can mean, that he is close to the fourth degree. We might consider that “probationary initiates’ are those who are not of “high standing”.

58. Y không chỉ là một điểm đạo đồ, mà là một “điểm đạo đồ có địa vị cao”. Điều này có thể hàm ý rằng y đã gần đến bậc thứ tư. Chúng ta có thể xem các “điểm đạo đồ dự bị” là những người chưa có “địa vị cao”.

59. Let us remember however that the third and fourth degree can often be taken in the same life.

59. Tuy nhiên, chúng ta hãy nhớ rằng người ta thường có thể đạt bậc thứ ba và thứ tư trong cùng một kiếp sống.

60. The stage, however, is an exalted one, because even the initiate of the third degree continues to be supervised by the Master of the Ashram.

60. Tuy nhiên, đây là một giai đoạn cao cả, vì ngay cả điểm đạo đồ bậc thứ ba vẫn tiếp tục chịu sự giám sát của Chân sư đứng đầu ashram.

61. To come into direct relation with the Christ means that one must be preparing for the Crucifixion (involving the heart center) for the Christ is not only the head but the great heart of Hierarchy.

61. Bước vào mối quan hệ trực tiếp với Đức Christ có nghĩa là người ấy phải đang chuẩn bị cho cuộc Đóng Đinh Thập Giá (liên quan đến trung tâm tim), vì Đức Christ không chỉ là đầu mà còn là trái tim vĩ đại của Thánh đoàn.

62. In a sense the, the chela within the heart, is becoming more the brotherof the Master in whose Ashram He finds himself.

62. Theo một ý nghĩa nào đó, người đệ tử trong Tâm đang ngày càng trở thành huynh đệ của Chân sư mà y đang ở trong ashram của Ngài.

The Master is the heart of His group and the Christ is the heart of the Hierarchy.The closer one gets to realisation, the clearer becomes the concept that the point at the centre and the periphery are one.

Chân sư là trái tim của nhóm Ngài, và Đức Christ là trái tim của Thánh đoàn. Càng tiến gần đến sự chứng nghiệm, người ta càng thấy rõ quan niệm rằng điểm ở trung tâm và chu vi là một.

63. This degree of discipleship most intimately involves the heart (understood occultly).

63. Cấp độ này của địa vị đệ tử liên quan mật thiết nhất đến trái tim (hiểu theo nghĩa huyền bí).

64. To see that the point in the center and the periphery are one, involves the art and science of identification—a faculty developed very late in the evolutionary process.

64. Thấy được rằng điểm ở trung tâm và chu vi là một đòi hỏi nghệ thuật và khoa học đồng hóa—một năng lực chỉ phát triển rất muộn trong tiến trình tiến hoá.

65. There is a hint here that at this stage of discipleship, the usually responses to Time and Space are overcome, for center and periphery are one.

65. Ở đây có một gợi ý rằng tại giai đoạn này của địa vị đệ tử, những đáp ứng thông thường đối với Thời Gian và Không Gian được vượt qua, vì trung tâm và chu vi là một.

The significance of the word "heart" is the significance of life itself, as it beats eternally at the very heart of the universe.

Thâm nghĩa của từ “trái tim” là thâm nghĩa của chính sự sống, khi sự sống đập nhịp vĩnh cửu ngay tại tâm của vũ trụ.

66. In this stage of discipleship, “heart” and “life” are considered synonymous terms. The “heart” is really a macrocosmic rather than a microcosmic organ.

66. Ở giai đoạn này của địa vị đệ tử, “trái tim” và “sự sống” được xem là những thuật ngữ đồng nghĩa. “Trái tim” thực ra là một cơ quan thuộc đại thiên địa hơn là tiểu thiên địa.

67. At another stage of discipleship (a lower one), “heart” and “soul” are synonymous.

67. Ở một giai đoạn khác của địa vị đệ tử (một giai đoạn thấp hơn), “trái tim” và “linh hồn” đồng nghĩa.

68. The beating of the cosmic heart may be equated to the source of all cosmic cycles (vast and minute).

68. Nhịp đập của trái tim vũ trụ có thể được xem là tương đương với nguồn gốc của mọi chu kỳ vũ trụ (bao la và cực nhỏ).

Within that life, the initiate now consciously stands, realising himself not so much as being a recipient of life, but as a distributor of life. This is a very different thing and holds the key to this stage of discipleship.

Giờ đây, điểm đạo đồ đứng một cách có ý thức trong sự sống ấy, nhận ra mình là người phân phối sự sống hơn là người tiếp nhận sự sống. Đây là một điều rất khác và chứa chìa khóa của giai đoạn này trong địa vị đệ tử.

69. Let us ponder the distinction between “giving” and “receiving”. Of course, the distributor will always receive so that he may give again, but the emphasis is upon distribution.

69. Chúng ta hãy suy ngẫm sự khác biệt giữa “cho” và “nhận”. Dĩ nhiên, người phân phối sẽ luôn tiếp nhận để có thể lại cho đi, nhưng trọng tâm đặt vào việc phân phối.

70. DK is suggesting that distributorship is the key to this stage of discipleship.

70. Chân sư DK đang gợi ý rằng vai trò phân phối là chìa khóa của giai đoạn này trong địa vị đệ tử.

71. This advanced chela is as a heart, offering through rhythmic pulsations, that which animates those around him. His service is to give life.

71. Người đệ tử tiến bộ này như một trái tim, qua những nhịp đập đều đặn mà ban phát điều đem sức sống đến cho những người xung quanh. Sự phụng sự của y là trao ban sự sống.

The "Master's Heart" is a technical term, indicating the sources of life and many analogous interpretations.

“Tâm Chân sư” là một thuật ngữ chuyên môn, chỉ các nguồn sự sống và nhiều cách diễn giải tương đồng.

72. The concept of “spirit” as the source of life is involved with a technical understanding of the “Master’s Heart”.

72. Khái niệm “tinh thần” như nguồn sự sống gắn liền với sự thấu hiểu theo nghĩa chuyên môn về “Tâm Chân sư”.

73. The term “Master’s Heart” does, however, not sound technical. We have to keep this in mind as a safeguard against sentimentalization.

73. Tuy nhiên, thuật ngữ “Tâm Chân sư” lại không có vẻ là một thuật ngữ chuyên môn. Chúng ta phải ghi nhớ điều này để tránh tình cảm hóa.

74. In one respect, the monad is the heart.

74. Theo một phương diện, chân thần là trái tim.

There is at this stage and after a certain major initiation, a direct line of energy or of life—sensed, recognised, active and utilised—between the conscious disciple and

Ở giai đoạn này và sau một cuộc điểm đạo trọng đại nào đó, có một đường năng lượng hay sự sống trực tiếp—được cảm nhận, nhận biết, hoạt động và vận dụng—giữa người đệ tử hữu thức và

75. The initiation here cited must be the third initiation, for initiations before that point are not “major” initiations.

75. Cuộc điểm đạo được nhắc đến ở đây phải là lần điểm đạo thứ ba, vì những lần điểm đạo trước đó không phải là những cuộc điểm đạo “trọng đại”.

76. Further, the initiation, it would seem, cannot be the fourth (although earlier in the text, it seemed it could be) because in the alignment-list that immediately follows the “egoic lotus” is mentioned, and this form (as we generally conceive it) disappears at the fourth initiation.

76. Hơn nữa, dường như cuộc điểm đạo ấy không thể là lần thứ tư (mặc dù ở phần trước của văn bản, điều đó có vẻ khả dĩ), vì trong danh sách chỉnh hợp ngay sau đây có nhắc đến “Hoa Sen Chân Ngã”, và hình tướng này (theo cách chúng ta thường quan niệm) biến mất ở lần điểm đạo thứ tư.

77. The information given here, while seemingly explicit, is actually somewhat veiled. In summary, it would seem that the stage of “Chela within the Master’s Heart” must definitely follow the third initiation; is likely to be experienced when the fourth initiation lies immediately ahead; and may still apply immediately after the fourth initiation (before the chela is a Master.

77. Thông tin được đưa ra ở đây, tuy có vẻ rõ ràng, thực ra vẫn có phần che giấu. Tóm lại, dường như giai đoạn “Đệ tử trong Tâm Chân sư” nhất định phải đến sau lần điểm đạo thứ ba; có khả năng được trải nghiệm khi lần điểm đạo thứ tư đã cận kề; và có thể vẫn còn áp dụng ngay sau lần điểm đạo thứ tư (trước khi người đệ tử trở thành một Chân sư.

78. It would seem that an initiate of the third degree can think in terms of the following alignment.

78. Dường như một điểm đạo đồ bậc thứ ba có thể tư duy theo sự chỉnh hợp sau đây.

1. The disciple's heart centre.

1. Trung tâm tim của người đệ tử.

2. The heart centre in the head.[768]

2. Trung tâm tim trong đầu.[768]

3. The egoic lotus, which (until the fourth initiation) is the heart centre of the monadic life.

3. Hoa Sen Chân Ngã, vốn là trung tâm tim của sự sống chân thần (cho đến lần điểm đạo thứ tư).

4. The Master at the centre of His group.

4. Chân sư ở trung tâm nhóm của Ngài.

5. The Christ, the heart centre of the Hierarchy.

5. Đức Christ, trung tâm tim của Thánh đoàn.

6. The life of the Monad which begins to make itself felt at the third initiation.

6. Sự sống của chân thần bắt đầu khiến người ta cảm nhận được sự hiện diện của nó ở lần điểm đạo thứ ba.

7. The Lord of Life Himself, the heart centre of Shamballa.

7. Chính Đức Chúa Tể Sự Sống, trung tâm tim của Shamballa.

79. This is truly a stupendous alignment of hearts. It reveals to us how important is the heart following the third initiation. The third degree initiate is, in some respects, a member of Hierarchy and Hierarchy is the “heart center” of the planet.

79. Đây thực sự là một sự chỉnh hợp phi thường của những trái tim. Nó cho chúng ta thấy trái tim quan trọng đến mức nào sau lần điểm đạo thứ ba. Theo một vài phương diện, điểm đạo đồ bậc thứ ba là một thành viên của Thánh đoàn, và Thánh đoàn là “trung tâm tim” của hành tinh.

80. This is an alignment which can be practiced with profit by those who are approaching the third degree, and can be somewhat understood by initiates of the second degree.

80. Đây là một sự chỉnh hợp mà những ai đang tiến gần đến bậc ba có thể thực hành một cách hữu ích, và các điểm đạo đồ bậc hai có thể phần nào thấu hiểu.

81. Each stage in this alignment marks an ascent.

81. Mỗi giai đoạn trong sự chỉnh hợp này đánh dấu một bước đi lên.

The line of relationship then extends from these onward and outward, and upward (spherically considered) to the Life at the very centre of our Earth's "alter ego," the planet Venus, to Jupiter and thence to the solar Lord Himself and on to a point in the Sun, Sirius.

Từ những trung tâm này, tuyến liên hệ tiếp tục vươn ra ngoài và hướng lên trên (xét theo hình cầu), đến Sự Sống ở ngay trung tâm của “bản ngã thứ hai” của Trái Đất chúng ta, tức hành tinh Sao Kim, đến Sao Mộc, rồi từ đó đến chính nhật tinh quân và tiếp đến một điểm trong Mặt Trời Sirius.

82. A tremendous occult hint is here given. All the Beings cited are really great hearts—Venus, Jupiter Sol and Sirius.

82. Ở đây có một gợi ý huyền bí vô cùng sâu sắc. Tất cả các Sinh Mệnh được nêu thực sự là những trái tim vĩ đại—Sao Kim, Sao Mộc, Mặt Trời và Sirius.

83. What is the “point in the Sun, Sirius”. It cannot be for nothing that the word “point” is used in this context. Probably, it relates to the heart center of Sirius.

83. “Một điểm trong Mặt Trời Sirius” là gì? Hẳn không phải vô cớ mà từ “điểm” được dùng trong ngữ cảnh này. Có lẽ nó liên quan đến trung tâm tim của Sirius.

84. For clarity, let us add these four spheres to the tabulation.

84. Để làm rõ, chúng ta hãy thêm bốn khối cầu này vào bảng liệt kê.

1. The disciple's heart centre.

1. Trung tâm tim của người đệ tử.

2. The heart centre in the head.

2. Trung tâm tim trong đầu.

3. The egoic lotus, which (until the fourth initiation) is the heart centre of the monadic life.

3. Hoa Sen Chân Ngã, vốn là trung tâm tim của sự sống chân thần cho đến lần điểm đạo thứ tư.

4. The Master at the centre of His group.

4. Chân sư ở trung tâm nhóm của Ngài.

5. The Christ, the heart centre of the Hierarchy.

5. Đức Christ, trung tâm tim của Thánh đoàn.

6. The life of the Monad which begins to make itself felt at the third initiation.

6. Sự sống của chân thần, bắt đầu biểu lộ ảnh hưởng ở lần điểm đạo thứ ba.

7. The Lord of Life Himself, the heart centre of Shamballa.

7. Chính Đức Chúa Tể Sự Sống, trung tâm tim của Shamballa.

8. Venus

8. Sao Kim

9. Jupiter

9. Sao Mộc

10. Our Solar Logos

10. Thái dương Thượng đế của chúng ta

11: A point in the Sun, Sirius.

11: Một điểm trong Mặt Trời Sirius.

85. Venus is our Earth’s “alter ego”. An “alter ego” is “another self”. In this context it means a Planetary Ego with which the Logos of our Earth is in the closest connection, and who now is as the Earth will one day be.

85. Sao Kim là “bản ngã thứ hai” của Trái Đất chúng ta. “Bản ngã thứ hai” là “một bản ngã khác”. Trong ngữ cảnh này, đó là một Chân Ngã Hành Tinh có mối liên hệ mật thiết nhất với Thượng đế của Trái Đất chúng ta, và Đấng ấy hiện đang ở trạng thái mà một ngày kia Trái Đất sẽ đạt đến.

86. We note the process of spherical expansion. All radiation occurs in spheres and not in directionally limited straight lines.

86. Chúng ta lưu ý tiến trình mở rộng theo hình cầu. Mọi sự bức xạ đều diễn ra theo hình cầu, chứ không theo những đường thẳng bị giới hạn về phương hướng.

87. DK is telling us of a process which proceeds by what we might call ‘spherical inclusion’. This idea should be applied to the first seven levels of the tabulation as well. Each of the first seven is a sphere and is approached through spherical expansion and inclusion.

87. Chân sư DK đang nói với chúng ta về một tiến trình diễn ra theo điều mà chúng ta có thể gọi là “sự bao gồm theo hình cầu”. Ý tưởng này cũng nên được áp dụng cho bảy cấp độ đầu tiên trong bảng liệt kê. Mỗi cấp trong bảy cấp đầu tiên là một khối cầu, và chúng ta tiếp cận nó thông qua sự mở rộng và bao gồm theo hình cầu.

You can see, therefore, how different this stage is from what might be imagined. It is one which marks a new departure or beginning and a great transition.

Do đó, các bạn có thể thấy giai đoạn này khác với điều người ta có thể hình dung đến mức nào. Đây là một giai đoạn đánh dấu một cuộc khởi hành hay khởi đầu mới và một sự chuyển tiếp lớn lao.

88. The beginning phases of the “great transition” can be considered the fourth initiation. The “new departure” is ultimately the sixth initiation which in most cases leads to a departure from the sphere if Earth.

88. Có thể xem những giai đoạn mở đầu của “sự chuyển tiếp lớn lao” là lần điểm đạo thứ tư. Xét đến cùng, “cuộc khởi hành mới” là lần điểm đạo thứ sáu, trong hầu hết các trường hợp dẫn đến việc rời khỏi khối cầu Trái Đất.

It is a stage which one enters through the open door of Nirvana, the beginning of the Path of the Higher Evolution.

Đó là một giai đoạn mà người ta bước vào qua cánh cửa Niết Bàn rộng mở, khởi đầu của Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu.

89. However, this stage of discipleship is but the beginning of that new departure and great transition.

89. Tuy nhiên, giai đoạn này của địa vị đệ tử chỉ là khởi đầu của cuộc khởi hành mới và sự chuyển tiếp lớn lao ấy.

90. The “open door of Nirvana” is the fifth initiation, for the atmic plane is the “nirvanic plane”.

90. “Cánh cửa Niết Bàn rộng mở” là lần điểm đạo thứ năm, vì cõi atma là “cõi Niết Bàn”.

91. The “Path of Higher Evolution” begins, really, at the sixth degree.

91. Thực sự, “Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu” bắt đầu ở bậc sáu.

It is a stage which marks a specific location (if such an inappropriate word can be used) of the disciple upon that upward Way which is revealed by the lighted Way;

Đó là một giai đoạn đánh dấu một vị trí cụ thể (nếu có thể dùng một từ không thích hợp như vậy) của người đệ tử trên Con Đường hướng thượng ấy, vốn được Con Đường được Soi Sáng làm hiển lộ;

92. The “lighted Way” is the Way which the disciple has been traveling.

92. “Con Đường được Soi Sáng” là Con Đường mà người đệ tử đã và đang bước đi.

93. “That upward Way” is the Path of Higher evolution. The disciple islocated upon this higher Path when he becomes a “Chela within the Master’s Heart”.

93. “Con Đường hướng thượng ấy” là Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu. Người đệ tử có vị trí trên Con Đường cao siêu này khi trở thành một “Đệ tử trong Trái Tim Chân sư”.

it is the attainment of the innermost point of realisation, called esoterically "within the heart."

đó là việc đạt đến điểm chứng nghiệm sâu thẳm nhất, được gọi theo huyền bí học là “trong trái tim”.

94. We are told that there is an “innermost point of realization” which esoterically known as “in the heart”. We are reminded that the siddhi of “Realization” is attained on the atmic plane, on its fifth sublevel.

94. Chúng ta được cho biết rằng có một “điểm chứng nghiệm sâu thẳm nhất”, mà huyền bí học gọi là “trong trái tim”. Chúng ta được nhắc rằng quyền năng “Chứng nghiệm” đạt được trên cõi atma, ở cõi phụ thứ năm của cõi này.

95. This stage of discipleship is directly related to realization andidentification—both of these terms indicating very high states of spiritual attainment.

95. Giai đoạn này của địa vị đệ tử liên quan trực tiếp đến sự chứng nghiệm và sự đồng hoá—cả hai thuật ngữ này đều chỉ những trạng thái thành tựu tinh thần rất cao.

I spoke to you elsewhere about world disciples being "close to the Master's heart." This is not the same thing as being "within the Master's heart."

Ở một nơi khác, Tôi đã nói với các bạn về những đệ tử thế giới “gần gũi với trái tim Chân sư.” Điều này không giống với việc ở “trong trái tim Chân sư.”

96. DK offers an important discrimination, and it is a technical point.

96. Chân sư DK đưa ra một sự phân biện quan trọng, và đây là một điểm mang tính chuyên môn.

One refers to the Master upon the disciple's ray; the other refers to the Christ, the Synthesis within the Hierarchy of all the rays.

Một trường hợp nói đến Chân sư thuộc cung của người đệ tử; trường hợp kia nói đến Đức Christ, Đấng Tổng Hợp mọi cung trong Thánh đoàn.

97. To be “close to the Master’s heart” is to be, through growing ashramic intimacy, vibrationally close to the Master upon the disciple’s ray.

97. Ở “gần trái tim Chân sư” là gần gũi về rung động với Chân sư thuộc cung của người đệ tử, thông qua sự thân thiết ngày càng tăng trong ashram.

98. To be a “Chela within the Master’s Heart” refers more to the Christ than to the Master of one’s ray Ashram.

98. Là một “Đệ tử trong Trái Tim Chân sư” liên quan đến Đức Christ nhiều hơn là đến Chân sư của ashram thuộc cung mình.

99. The role of the Christ in this stage of discipleship is to be remembered.

99. Cần ghi nhớ vai trò của Đức Christ trong giai đoạn này của địa vị đệ tử.

100. It is an astonishing statement that the Christ is “the Synthesis within the Hierarchy of all the rays”. The great second ray of Love-Wisdom synthesizes all the other rays and indigo blue (the color of the second ray) is considered the synthetic color.

100. Lời khẳng định rằng Đức Christ là “Đấng Tổng Hợp mọi cung trong Thánh đoàn” thật đáng kinh ngạc. Cung hai Bác Ái – Minh Triết vĩ đại tổng hợp tất cả các cung khác, và màu xanh chàm (màu của cung hai) được xem là màu tổng hợp.

101. As the “Synthesis”, the Christ is suffused through all Ashrams.

101. Với tư cách là “Đấng Tổng Hợp”, Đức Christ thấm nhuần tất cả các ashram.

The world today offers opportunity to all disciples to become world disciples, close to the Master's heart, and to pass rapidly through the earlier stages of discipleship.

Thế giới ngày nay mang đến cho mọi đệ tử cơ hội trở thành đệ tử thế giới, gần gũi với trái tim Chân sư, và nhanh chóng vượt qua những giai đoạn đầu của địa vị đệ tử.

102. We learn that a “world disciple” (presumably an initiate of the third degree”) is “close to the Master’s heart”. This does not mean “within”.

102. Chúng ta biết rằng một “đệ tử thế giới” (có lẽ là một điểm đạo đồ bậc ba) ở “gần trái tim Chân sư”. Điều này không có nghĩa là “ở trong”.

It offers opportunity to world disciples to begin their approach to the Heart of the Hierarchy, to Christ.

Thế giới mang đến cho các đệ tử thế giới cơ hội bắt đầu tiến gần đến Trái Tim của Thánh đoàn, đến Đức Christ.

103. It now becomes very clear that this stage of discipleship marks an approach to the fourth degree. This approach brings about a new relationship to the Christ.

103. Giờ đây, điều trở nên rất rõ ràng là giai đoạn này của địa vị đệ tử đánh dấu việc tiến gần đến bậc bốn. Việc tiến gần này mang lại một mối liên hệ mới với Đức Christ.

104. He was the Initiator at the first and second degrees. Even though Sanat Kumara is the Initiator at the third degree, after that degree, the Christ assumes a role of increasing importance in the life of the initiate, for the Christ is the Teacher of all initiates within the Hierarchy.

104. Ngài là Đấng Điểm đạo ở bậc một và bậc hai. Mặc dù Sanat Kumara là Đấng Điểm đạo ở bậc ba, sau bậc ấy, Đức Christ đảm nhận một vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống của điểm đạo đồ, vì Đức Christ là huấn sư của tất cả các điểm đạo đồ trong Thánh đoàn.

It is with this first possibility that you should be concerned, for—as you come closer to your group—you can begin to get that training which will develop in you world usefulness.

Các bạn nên quan tâm đến khả năng thứ nhất này, vì—khi các bạn đến gần nhóm của mình hơn—các bạn có thể bắt đầu tiếp nhận sự huấn luyện sẽ phát triển nơi các bạn khả năng giúp ích cho thế giới.

105. A world disciple is characterized by “world usefulness”. This must be remembered, lest we over-reach ourselves. The Ashram is interested in a disciple’s usefulness. It is this usefulness that marks his ashramic status.

105. Một đệ tử thế giới có đặc trưng là “khả năng giúp ích cho thế giới”. Cần ghi nhớ điều này để chúng ta không vượt quá khả năng của mình. Ashram quan tâm đến khả năng giúp ích của người đệ tử. Chính khả năng giúp ích này đánh dấu địa vị của y trong ashram.

Are the majority of you too old to achieve this? That is for you to say. The soul knows no age and can use its instrument if it makes itself into a suitable and available instrument.

Có phải phần lớn các bạn đã quá già để đạt được điều này? Các bạn phải tự trả lời điều đó. Linh hồn không có tuổi và có thể sử dụng công cụ của mình nếu công cụ ấy tự trở nên thích hợp và sẵn sàng cho linh hồn sử dụng.

106. A most important question is posed. Many of DK’s disciples were in the 50’s and 60’s at the time He was instructing them.

106. Một câu hỏi hết sức quan trọng được đặt ra. Nhiều đệ tử của Chân sư DK ở độ tuổi năm mươi và sáu mươi vào thời điểm Ngài huấn thị cho họ.

107. The implication is that some would have said they were too old. DK, citing the perspective of the soul, would not have thought so.

107. Điều hàm ý ở đây là một số người hẳn đã nói rằng họ quá già. Khi viện dẫn góc nhìn của linh hồn, Chân sư DK hẳn không nghĩ như vậy.

108. As human beings gets older physically, they certainly realize the agelessness of the soul. Interiorly many feel ageless, and this is the truth.

108. Khi con người già đi về mặt thể chất, chắc chắn họ nhận ra linh hồn không có tuổi. Trong nội tâm, nhiều người cảm thấy mình không có tuổi, và đây là sự thật.

Are you too set and too preoccupied with yourselves to achieve the detachment needed for world service? That is for you to find out and to prove to yourselves.

Có phải các bạn đã quá cố chấp và quá bận tâm đến bản thân để đạt được sự tách rời cần thiết cho việc phụng sự thế giới? Các bạn phải tự tìm hiểu và tự chứng minh điều đó với mình.

109. DK throws the responsibility upon the shoulders of His chelas. He will not make the pronouncement that they cannot achieve. He knows they can, but there will be a price.

109. Chân sư DK đặt trách nhiệm lên vai các đệ tử của Ngài. Ngài sẽ không tuyên bố rằng họ không thể đạt được. Ngài biết họ có thể, nhưng sẽ có một cái giá phải trả.

This group has had much opportunity [769] offered to it and much teaching. The output in devotion and service, demonstrated by this group, should be quite unusual and it should be a group demonstration. I would ask if this is so?

Nhóm này đã có nhiều cơ hội [769] và nhận được nhiều giáo huấn. Những gì nhóm này thể hiện qua lòng sùng tín và sự phụng sự phải thật khác thường, và đó phải là một sự thể hiện của cả nhóm. Tôi muốn hỏi: có đúng như vậy không?

110. DK is calling His disciples “to order”. It is a moment of chastening.

110. Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử của Ngài “chấn chỉnh lại”. Đây là một lúc nghiêm khắc răn dạy.

111. He offers a summary of the bestowal and asks if the results are commensurate with that which has been bestowed. He seems to suggest that they are not.

111. Ngài tổng kết những gì đã ban cho và hỏi liệu các kết quả có tương xứng với những gì họ đã nhận hay không. Dường như Ngài gợi ý rằng chúng chưa tương xứng.

Are you too depressed (which is a synonym for selfishness) and too sensitive to render service to humanity in a larger way than hitherto? That can be overcome if you care enough.

Có phải các bạn quá chán nản (một từ đồng nghĩa với sự ích kỷ) và quá nhạy cảm nên không thể phụng sự nhân loại một cách rộng lớn hơn trước đây? Có thể vượt qua điều đó nếu các bạn đủ quan tâm.

112. It is memorable to see depression linked with selfishness. Apparently, excessive self-concern, and self-preoccupation lead to depression. This is analogous to that which is stated earlier in this instruction: excessive preoccupation with the physical body leads to ill-health.

112. Việc thấy sự chán nản gắn liền với sự ích kỷ là điều đáng ghi nhớ. Dường như việc quá lo lắng và quá bận tâm về bản thân dẫn đến sự chán nản. Điều này tương tự với điều đã nêu trước đó trong bài huấn thị này: quá bận tâm đến thể xác dẫn đến sức khỏe kém.

113. The sensitivity here mentioned is not of the desirable kind; it is related to being too “thin-skinned”, and basically, coddling oneself.

113. Sự nhạy cảm được đề cập ở đây không thuộc loại đáng mong muốn; nó liên quan đến việc quá “dễ tự ái” và, về cơ bản, nuông chiều bản thân.

114. DK is asking His disciples to expand and to serve in a “larger way than hitherto”. Can one not feel that He is asking the same of us?

114. Chân sư DK đang yêu cầu các đệ tử của Ngài mở rộng và phụng sự “một cách rộng lớn hơn trước đây”. Chẳng phải chúng ta cũng có thể cảm thấy Ngài đang yêu cầu chúng ta điều tương tự sao?

115. The solution to overcoming depression, selfishness and wrong sensitivity, is to care enough—about humanity and about serving humanity.

115. Giải pháp để vượt qua sự chán nản, sự ích kỷ và sự nhạy cảm sai lệch là quan tâm đủ sâu sắc—đến nhân loại và đến việc phụng sự nhân loại.

Is your awareness a constant group-awareness? Or is it a constant self-awareness which comes consistently between you and your fellowmen? That is for you to discover.

Sự nhận biết của các bạn có luôn là sự nhận biết về nhóm không? Hay đó luôn là sự nhận biết về bản thân, thường xuyên xen vào giữa các bạn và đồng loại? Các bạn phải tự khám phá điều đó.

116. One after another, the usual faults of disciples are put forward. With each naming of a limitation, the chelas are asked to examine themselves, and so are we.

116. Lần lượt từng khuyết điểm thường gặp của các đệ tử được nêu ra. Mỗi khi một hạn chế được gọi tên, các đệ tử được yêu cầu tự xét mình, và chúng ta cũng vậy.

117. We come to understand that constant self-awareness is limiting and separative; it causes cleavages whereas group consciousness is a bridging consciousness.

117. Chúng ta dần thấu hiểu rằng việc luôn nhận biết về bản thân gây giới hạn và chia rẽ; nó tạo ra những sự phân cách, trong khi tâm thức nhóm là một tâm thức bắc cầu.

Have you the deep humility—based on a realisation of the Plan and the glory of the goal—and not a sense of self-depreciation over which you gloat and regard as an indication of spiritual humility? You need to re-interpret this theme of humility, as well as all your terms, in the light of the esoteric and spiritual values. Can you do this?

Các bạn có lòng khiêm nhường sâu sắc—dựa trên sự nhận biết Thiên Cơ và vẻ huy hoàng của mục tiêu—hay chỉ có cảm giác tự hạ thấp mình mà các bạn lấy làm đắc ý và xem là dấu hiệu của sự khiêm nhường tinh thần? Các bạn cần diễn giải lại chủ đề khiêm nhường này, cũng như tất cả các thuật ngữ của mình, dưới ánh sáng của các giá trị nội môn và tinh thần. Các bạn có thể làm điều này không?

118. The razor of discrimination is being applied. DK has trodden the way of discipleship long ago, and He knows the faults to which we are all prone.

118. Lưỡi dao sắc của sự phân biện đang được vận dụng. Chân sư DK đã đi qua con đường đệ tử từ lâu, và Ngài biết những khuyết điểm mà tất cả chúng ta đều dễ mắc phải.

119. One can almost feel that He is addressing RSU, a high and prominent disciple who was the victim of a constant self-depreciation. Was pride hidden behind the depreciation?

119. Gần như có thể cảm thấy Ngài đang nói với RSU, một đệ tử cao cấp và nổi bật, vốn là nạn nhân của thói thường xuyên tự hạ thấp mình. Liệu lòng kiêu hãnh có ẩn sau sự tự hạ thấp ấy không?

120. All this is a bit like saying, “I have achieved great humility and I amproud of it!)

120. Tất cả điều này hơi giống như nói: “Tôi đã đạt được lòng khiêm nhường lớn lao và tôi tự hào về điều đó!)

Earlier, I used a phrase in which I referred to "disciples assembling, in this cycle, at the call of the Hierarchy." This has a definite relation at this time to our theme of discipleship and its various stages.

Trước đó, Tôi đã dùng một cụm từ để nói đến “các đệ tử đang tập hợp trong chu kỳ này theo tiếng gọi của Thánh đoàn”. Vào lúc này, điều đó có một mối liên hệ rõ rệt với chủ đề của chúng ta về địa vị đệ tử và những giai đoạn khác nhau của nó.

121. We recall that at the closer of the twentieth century and the beginning of the twenty-first we are in a stage of “ingathering”, larger even that the great ingatherings that occurred in the time of the Buddha and that of the Christ.

121. Chúng ta nhớ rằng vào cuối thế kỷ hai mươi và đầu thế kỷ hai mươi mốt, chúng ta đang ở trong một giai đoạn “quy tụ”, còn lớn hơn cả những cuộc quy tụ lớn lao diễn ra vào thời Đức Phật và thời Đức Christ.

"The call of the Hierarchy" goes out to humanity as a whole; it is sent out through the medium of the groups and Ashrams which are presided over by many of the Masters.

“Tiếng gọi của Thánh đoàn” vang đến toàn thể nhân loại; tiếng gọi ấy truyền đi qua các nhóm và ashram do nhiều Chân sư chủ trì.

122. The origin and progress of the “call of the Hierarchy” is important:

122. Nguồn gốc và tiến trình lan truyền của “tiếng gọi của Thánh đoàn” là điều quan trọng:

1. From the Hierarchy

1. Từ Thánh đoàn

2. Through the Ashrams

2. Qua các ashram

3. Through the groups associated with the Ashrams

3. Qua các nhóm liên kết với các ashram

123. The “call” is meant to reach all humanity.

123. “Tiếng gọi” nhằm đến với toàn thể nhân loại.

It is caught and heard by many different types of people and in their response much distortion of that call creeps in; only the advanced disciple either brings it through correctly or responds adequately.

Nhiều loại người khác nhau đón nhận và nghe được tiếng gọi ấy, nhưng trong sự đáp ứng của họ, nhiều sai lệch đã len vào; chỉ người đệ tử tiến bộ mới truyền đạt tiếng gọi một cách đúng đắn hoặc đáp ứng thỏa đáng.

124. Many and, often, strange are humanity’s responses to this “call”.

124. Những đáp ứng của nhân loại đối với “tiếng gọi” này rất đa dạng và thường kỳ lạ.

125. Advanced disciples are those of at least the second degree, and it only such disciples that can be trusted to bring through the call with reasonable accuracy; nevertheless, errors are often found.

125. Các đệ tử tiến bộ là những người ít nhất đã đạt bậc hai, và chỉ những đệ tử như vậy mới có thể được tin cậy để truyền đạt tiếng gọi với độ chính xác tương đối; tuy nhiên, vẫn thường có sai sót.

The others respond to partial aspects of the call and their consequent activity is spasmodic, based upon erroneous interpretations, coloured by personality faults, delayed by inertia and often selfishly based.

Những người khác đáp ứng với từng phương diện riêng lẻ của tiếng gọi, và vì thế hoạt động của họ diễn ra thất thường, dựa trên những cách diễn giải sai lầm, mang màu sắc của các khuyết điểm phàm ngã, chậm trễ vì tính trì trệ và thường xuất phát từ sự ích kỷ.

126.We see that the “call” in its entirety is not heard by those who are notadvanced disciples. The problems of hearing and response are as follows:

126. Chúng ta thấy rằng những người chưa phải là đệ tử tiến bộ không nghe được toàn bộ “tiếng gọi”. Những vấn đề trong việc lắng nghe và đáp ứng như sau:

1. Spasmodic activity

1. Hoạt động thất thường

2. Activity based upon erroneous interpretation

2. Hoạt động dựa trên cách diễn giải sai lầm

3. Activity colored by personality faults

3. Hoạt động mang màu sắc của các khuyết điểm phàm ngã

4. Activity which is delayed by inertia

4. Hoạt động chậm trễ vì tính trì trệ

5. Activity which is selfishly based.

5. Hoạt động xuất phát từ sự ích kỷ.

127. This is not a “pretty picture” but a true one. What is needed is:

127. Đây không phải là một “bức tranh đẹp”, nhưng là một bức tranh chân thực. Những điều cần có là:

1. Consistent activity

1. Hoạt động nhất quán

2. Correct interpretation

2. Diễn giải đúng đắn

3. Impersonality

3. Tính vô ngã

4. Readiness to respond

4. Sẵn sàng đáp ứng

5. Selflessness

5. Lòng vị tha

By the response of the disciples in His group or Ashram, the Master gauges the place and status of the disciple, though there are, of course, many other indicatory evidences.

Qua sự đáp ứng của các đệ tử trong nhóm hay ashram của Ngài, Chân sư đánh giá vị trí và địa vị của người đệ tử, dù tất nhiên còn có nhiều bằng chứng chỉ dấu khác.

128. The Master evaluates us on the basis of our response to the “call” of the Hierarchy and also of His Ashram.

128. Chân sư đánh giá chúng ta dựa trên sự đáp ứng của chúng ta đối với “tiếng gọi” của Thánh đoàn và cả của ashram Ngài.

129. We are constantly responding to this “call”, consciously or unconsciously, adequately or inadequately.

129. Chúng ta không ngừng đáp ứng “tiếng gọi” này, một cách hữu thức hay vô thức, thỏa đáng hay không thỏa đáng.

130. The Master, it seems, must gauge the place and status of the disciple.

130. Dường như Chân sư phải đánh giá vị trí và địa vị của người đệ tử.

131. Other indicatory evidences will be seen in the condition of the egoic lotus and its partial reflection, the chakra system.

131. Những bằng chứng chỉ dấu khác sẽ thể hiện trong tình trạng của Hoa Sen Chân Ngã và sự phản chiếu một phần của nó là hệ thống luân xa.

Let us look at some of the types of people who respond to the call. Most of them do so unconsciously but react sympathetically, because something in them synchronises with the call, or because they are sensitive to certain vibratory influences.

Chúng ta hãy xem xét một số loại người đáp ứng tiếng gọi. Phần lớn họ làm vậy một cách vô thức nhưng phản ứng đồng cảm, vì một điều gì đó trong họ đồng bộ với tiếng gọi, hoặc vì họ nhạy cảm với một số ảnh hưởng rung động.

132. Our first types of response to the “call” are likely to be unconscious but cannot be discounted as they result from some form of real synchronization.

132. Những loại đáp ứng đầu tiên của chúng ta đối với “tiếng gọi” có lẽ diễn ra vô thức, nhưng không thể xem nhẹ chúng, vì chúng bắt nguồn từ một hình thức đồng bộ thực sự nào đó.

133. Well might we ask ourselves how we came to be associated with this work. The hidden magnetic lines, revealing synchronization, may thus be brought to light.

133. Chúng ta rất nên tự hỏi mình đã đến với công việc này như thế nào. Nhờ đó, những tuyến từ tính ẩn kín, biểu lộ sự đồng bộ, có thể được đưa ra ánh sáng.

1. There are the true lovers of humanity, who, though they may have absolutely no knowledge of esotericism, yet care enough to do what they can to help.

1. Có những người thực sự yêu thương nhân loại; dù có thể hoàn toàn không biết gì về huyền bí học, họ vẫn đủ quan tâm để làm những gì có thể nhằm giúp đỡ.

134. These people have a “good heart” and are at least men and women of goodwill.

134. Những người này có một “tấm lòng tốt” và ít nhất cũng là những người nam và nữ có thiện chí.

135. We note the Tibetan’s rather uncompromising statement: “absolutely no knowledge of esotericism”.

135. Chúng ta lưu ý lời khẳng định khá dứt khoát của Chân sư Tây Tạng: “hoàn toàn không biết gì về huyền bí học”.

136. Such people must be educated correctly.

136. Những người như vậy cần được giáo dục đúng đắn.

Unconsciously, they can be used by the Hierarchy to do good and efficiently [770] selfless work. They are frequently more constructive than pledged or accepted disciples, because they are unconscious of status, of any responsibility in an Ashram and of their individual importance.

Thánh đoàn có thể sử dụng họ, dù họ không ý thức được, để thực hiện công việc tốt đẹp và vị tha một cách hiệu quả [770]. Họ thường có tính xây dựng hơn các đệ tử đã cam kết hoặc được chấp nhận, vì họ không ý thức về địa vị, về bất kỳ trách nhiệm nào trong một ashram, cũng như về tầm quan trọng của cá nhân mình.

137. Awareness of the possibility of “status” can be a complication and may retard useful work.

137. Nhận biết về khả năng có được “địa vị” có thể là một điều gây phức tạp và làm chậm công việc hữu ích.

138. Disciples must understand spiritual status, but that understanding must not create a separative attitude, which it so often does.

138. Các đệ tử phải thấu hiểu địa vị tinh thần, nhưng sự thấu hiểu ấy không được tạo ra một thái độ chia rẽ, như nó rất thường gây ra.

139. Awareness of status and of “individual importance” must take their rightful place. This usually takes a while to learn.

139. Sự nhận biết về địa vị và về “tầm quan trọng của cá nhân” phải có vị trí đúng đắn của chúng. Thường phải mất một thời gian mới học được điều này.

2. Psychics everywhere throughout the world and of all kinds. They respond to those upon the astral plane who are catching the higher impression or who telepathically get some aspect of the projected idea. In such cases there is always glamour, distortion and misrepresentation.

2. Những người thông linh ở khắp nơi trên thế giới và thuộc mọi loại. Họ đáp ứng với những người trên cõi cảm dục đang đón nhận ấn tượng cao hơn hoặc nhận được một phương diện nào đó của ý tưởng được phóng chiếu qua viễn cảm. Trong những trường hợp như vậy luôn có ảo cảm, sự bóp méo và sự trình bày sai lệch.

140. Rather than a rarity, psychism is common.

140. Hiện tượng thông linh rất phổ biến chứ không hiếm gặp.

141. It seems that higher impressions can be “caught” from the astral plane.

141. Dường như có thể “đón nhận” những ấn tượng cao hơn từ cõi cảm dục.

142. The word “always” is used; in such cases there is always glamour, distortion and misrepresentation.

142. Từ “luôn” được dùng ở đây; trong những trường hợp như vậy luôn có ảo cảm, sự bóp méo và sự trình bày sai lệch.

143. We are dealing here with partial reception of the “call” at best, and a distortion of that which is received.

143. Ở đây, ngay cả trong trường hợp tốt nhất, chúng ta cũng chỉ đang xét đến việc tiếp nhận một phần “tiếng gọi” và sự bóp méo những gì đã tiếp nhận.

144. By our errors we learn. The needed correction of approach, however, may not appear in the same incarnation.

144. Chúng ta học hỏi qua những sai lầm của mình. Tuy nhiên, việc điều chỉnh cần thiết trong cách tiếp cận có thể không diễn ra ngay trong cùng kiếp lâm phàm.

This causes much trouble but is a force with which the leaders and teachers of humanity must reckon.

Điều này gây nhiều rắc rối, nhưng là một mãnh lực mà các nhà lãnh đạo và huấn sư của nhân loại phải tính đến.

145. Psychism, for all its illusion, is effective in determining the direction of humanity. If leaders must reckon with the effects of atmospheric pressure (according to Master M.) they certainly must reckon with glamor and distortion.

145. Dù chứa đầy ảo tưởng, hiện tượng thông linh vẫn có tác dụng định hướng nhân loại. Nếu các nhà lãnh đạo phải tính đến những tác động của áp suất khí quyển (theo Chân sư M.), thì chắc chắn họ phải tính đến ảo cảm và sự bóp méo.

146. That which is taught is not always rightly received, regardless of the good intent of the teacher.

146. Những điều được giảng dạy không phải lúc nào cũng được tiếp nhận đúng đắn, bất kể thiện ý của người dạy.

It affects the least intelligent of the masses of men and does give them some general, even if distorted, idea of the Plan, but is apt to revolt the intellectual, and complicate the work of the trained disciple.

Điều ấy tác động đến những người kém thông minh nhất trong quần chúng và quả có đem lại cho họ một ý tưởng khái quát nào đó về Thiên Cơ, dù méo mó, nhưng lại dễ khiến người trí thức phản cảm và làm phức tạp công việc của người đệ tử đã qua huấn luyện.

147. We see much of this distortion in the “New Age” understanding of the Ageless Wisdom. The distortions are revolting to the true thinker, but must be understood as temporarily inevitable, and over all, and for the most part, rightly motivated and the result of honest effort.

147. Chúng ta thấy nhiều sự bóp méo như vậy trong cách hiểu Minh Triết Ngàn Đời của phong trào “Kỷ Nguyên Mới”. Những sự bóp méo ấy khiến người thực sự biết tư duy phản cảm, nhưng cần hiểu rằng chúng tạm thời không thể tránh khỏi và, nhìn chung cũng như trong phần lớn trường hợp, xuất phát từ động cơ đúng đắn và là kết quả của nỗ lực chân thành.

148. Much of our material within the Ageless Wisdom is rejected by the intellectuals simply because they notice all the nonsense that goes on around our teaching; further, they do not look deep enough for the substance that lies beneath the distortion.

148. Giới trí thức bác bỏ phần lớn tài liệu của chúng ta trong Minh Triết Ngàn Đời chỉ vì họ nhận thấy đủ mọi điều vô lý diễn ra quanh giáo huấn của chúng ta; hơn nữa, họ không tìm hiểu đủ sâu để thấy nội dung thực chất nằm bên dưới sự bóp méo.

149. We are attempting to become “trained disciples”, and we will always have to deal with distortions of our best intentions. The greatest example of this distortion is what ‘Churchianity’ has done to Christ’s simple message.

149. Chúng ta đang cố gắng trở thành những “đệ tử đã qua huấn luyện”, và chúng ta sẽ luôn phải đối phó với những sự bóp méo các ý định tốt đẹp nhất của mình. Ví dụ lớn nhất về sự bóp méo này là những gì “chủ nghĩa giáo hội” đã làm đối với thông điệp giản dị của Đức Christ.

3. Probationary disciples who receive and respond to the impression more promptly and clearly than the above group. They usually receive it through the vision and teaching of a senior disciple. Their service to the Plan is frequently spoiled by their ignorance, their self-centredness and their misrepresentation of the imparted teaching. Their approach both to the truth and to the teacher is too personal.

3. Những đệ tử dự bị tiếp nhận và đáp ứng với ấn tượng nhanh chóng và rõ ràng hơn nhóm trên. Họ thường tiếp nhận ấn tượng ấy qua tầm nhìn và giáo huấn của một đệ tử cao cấp. Việc họ phụng sự Thiên Cơ thường bị tổn hại do sự thiếu hiểu biết, sự tập trung vào bản thân và việc trình bày sai lệch giáo huấn được truyền đạt. Cách họ tiếp cận cả chân lý lẫn huấn sư đều quá mang tính cá nhân.

150. Probationary disciples (generally considered as those who have taken the first initiation but who are not “accepted” technically) are clearer of mind than the vast majority of psychics.

150. Các đệ tử dự bị (thường được xem là những người đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất nhưng chưa “được chấp nhận” theo nghĩa chuyên môn) có thể trí sáng suốt hơn đại đa số những người thông linh.

151. A “senior disciple” is not a probationary disciple. A senior disciple is certainly an “accepted disciple” or, if not technically “accepted”, at least has an equivalent status.

151. Một “đệ tử cao cấp” không phải là đệ tử dự bị. Một đệ tử cao cấp chắc chắn là một “đệ tử được chấp nhận”, hoặc nếu chưa “được chấp nhận” theo nghĩa chuyên môn thì ít nhất cũng có địa vị tương đương.

152. Some probationary disciples are “little chelas”, and others “chelas in the light”.

152. Một số đệ tử dự bị là những “tiểu đệ tử”, còn những người khác là “đệ tử trong ánh sáng”.

153. We learn that the probationary disciple is still too “personal”.

153. Chúng ta biết rằng người đệ tử dự bị vẫn còn quá “mang tính cá nhân”.

154.Their service to the Plan is spoiled by:

154. Việc họ phụng sự Thiên Cơ bị tổn hại do:

1. Ignorance

1. Sự thiếu hiểu biết

2. Self-centeredness

2. Sự tập trung vào bản thân

3. Misrepresentation of the imparted teaching

3. Việc trình bày sai lệch giáo huấn được truyền đạt

155. Their devotion is strong, and this is reflected by their too “personal” approach to the teacher.

155. Lòng sùng tín của họ mạnh mẽ, và điều này phản ánh trong cách họ tiếp cận huấn sư quá “mang tính cá nhân”.

156. But the mind has done good work, which is not yet the case for the average psychic.

156. Nhưng thể trí đã làm việc tốt, điều chưa đúng với người thông linh thông thường.

157. To whose vision do we respond? To whose teaching do we respond? Are there mediators between us and the Master? There may well be, but we are not always aware of them. Rarely is a chela in the light aware of the senior disciple on the inner planes who has him in charge and reports to the Master regarding his progress.

157. Chúng ta đáp ứng với tầm nhìn của ai? Chúng ta đáp ứng với giáo huấn của ai? Có những người trung gian giữa chúng ta và Chân sư không? Rất có thể có, nhưng chúng ta không phải lúc nào cũng nhận biết họ. Hiếm khi một đệ tử trong ánh sáng nhận biết được người đệ tử cao cấp trên các cõi bên trong đang phụ trách mình và báo cáo với Chân sư về sự tiến bộ của mình.

158. The solutions for the probationary disciples are simple though hard to achieve:

158. Các giải pháp dành cho những đệ tử dự bị rất đơn giản, dù khó thực hiện:

1. Become more illumined

1. Trở nên sáng suốt hơn

2. Become decentralized

2. Phi tập trung vào bản thân

3. Represent the imparted teaching truthfully

3. Trình bày trung thực giáo huấn đã được truyền đạt

159. Where are we with these requirements?

159. Vậy chúng ta đang ở đâu so với những yêu cầu này?

4. Accepted disciples who get the Master's idea and plans in far greater completeness, but fail often to work them out as they should be in the world of daily living and of service because they are so preoccupied with their own problems as disciples, with their own character training, and with their status in a Master's Ashram and His interest in them.

4. Những đệ tử được chấp nhận nắm bắt ý tưởng và các kế hoạch của Chân sư đầy đủ hơn nhiều, nhưng thường không thực hiện được chúng đúng như cần phải thế trong đời sống và công việc phụng sự hằng ngày, vì họ quá bận tâm đến những vấn đề riêng của mình với tư cách đệ tử, đến việc rèn luyện tính cách của chính mình, đến địa vị của mình trong ashram của một Chân sư và sự quan tâm của Ngài dành cho họ.

160. Accepted disciples have much clearer and fuller reception of the “call” and of the Master’s plans.

160. Những đệ tử được chấp nhận tiếp nhận “tiếng gọi” và các kế hoạch của Chân sư rõ ràng và đầy đủ hơn nhiều.

161. They too, though more advanced than probationary disciples, are prone to failure for the following reasons:

161. Dù tiến xa hơn những đệ tử dự bị, họ cũng dễ thất bại vì những lý do sau:

1. Too great a preoccupation with their own problems as disciples

1. Quá bận tâm đến những vấn đề riêng của mình với tư cách đệ tử

2. Too great a preoccupation with their own character training (yes, the accepted disciple is still training his character)

2. Quá bận tâm đến việc rèn luyện tính cách của chính mình (đúng vậy, người đệ tử được chấp nhận vẫn đang rèn luyện tính cách của mình)

3. Too great a preoccupation with their status in the Master’s Ashram

3. Quá bận tâm đến địa vị của mình trong ashram của Chân sư

4. Too great a preoccupation with the question of the Master’s interest in them.

4. Quá bận tâm đến việc Chân sư có quan tâm đến mình hay không.

162. They share the need for decentralization with the probationary disciple, but they are clearer and more truthful channels for the impartation of the Teaching. Their point of view is far broader and their distortions fewer. They often, however, suffer from pride or spiritual ambition.

162. Cũng như đệ tử dự bị, họ cần phi tập trung vào bản thân, nhưng họ là những kênh rõ ràng và trung thực hơn để truyền đạt Giáo Huấn. Quan điểm của họ rộng hơn nhiều và những sự xuyên tạc của họ ít hơn. Tuy nhiên, họ thường mắc tính kiêu hãnh hoặc tham vọng tinh thần.

163. Every stage of discipleship has its liabilities and limitations.

163. Mỗi giai đoạn của địa vị đệ tử đều có những nhược điểm và giới hạn riêng.

If they would forget themselves, their difficulties and their individual interpretations of truth, and just love their fellowmen and each other, and if they would simply obey to the point of crucifixion the "order of Service," they would pass more rapidly through the various stages of discipleship.

Nếu họ quên bản thân, những khó khăn và những cách diễn giải chân lý của riêng mình, mà chỉ yêu thương đồng loại và yêu thương nhau, và nếu họ chỉ đơn giản tuân theo “mệnh lệnh Phụng sự” đến mức chịu đóng đinh trên thập giá, thì họ sẽ vượt qua các giai đoạn khác nhau của địa vị đệ tử nhanh chóng hơn.

164. The solution for accepted disciples is to “just love their fellowmen and each other”. Nothing could be simpler or, apparently, more difficult.

164. Giải pháp dành cho những đệ tử được chấp nhận là “chỉ yêu thương đồng loại và yêu thương nhau”. Không gì có thể đơn giản hơn, hoặc dường như khó hơn.

165. Accepted disciples are still preoccupied with non-essentials. Anything that prevents them from simply loving their fellowmen and each other is a non-essential.

165. Những đệ tử được chấp nhận vẫn bận tâm đến những điều không thiết yếu. Bất cứ điều gì ngăn họ chỉ đơn giản yêu thương đồng loại và yêu thương nhau đều là điều không thiết yếu.

166. How is the fourth degree to be achieved? By obeying “to the point of crucifixion the ‘order of Service’”. This is a straight teaching and one that is full of illumination. Let us ponder on this formula.

166. Làm thế nào để đạt đến cấp độ thứ tư? Bằng cách tuân theo “‘mệnh lệnh Phụng sự’ đến mức chịu đóng đinh trên thập giá”. Đây là một giáo huấn thẳng thắn và đầy ánh sáng soi rọi. Chúng ta hãy suy ngẫm về công thức này.

167. What are to be forgotten?

167. Cần quên đi những gì?