← Commentary_S1_1_133 Song ngữ

TCF S1S1 (3 - 7)

Trích nội dung chương

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) (Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giảng được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)


TCF S1S1 (3 - 7)

Version 1.4 VSK Reconstituted 04Apr05

Phiên bản 1.4 VSK Tái lập 04Apr05

(from original s1s1: removed preface material to s1s0; and Stanzas now separated)

(từ bản gốc s1s1: đã loại bỏ phần lời tựa thuộc s1s0; và các Bài Kệ nay được tách riêng)

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giảng được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

A TREATISE ON COSMIC FIRE

LUẬN VỀ LỬA VŨ TRỤ

BY

DO

ALICE A. BAILEY

ALICE A. BAILEY

COPYRIGHT 1951 © BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN 1951 © THUỘC LUCIS TRUST

COPYRIGHT RENEWED 1979 © BY LUCIS TRUST

BẢN QUYỀN GIA HẠN 1979 © THUỘC LUCIS TRUST

DEDICATED WITH GRATITUDE

KÍNH DÂNG VỚI LÒNG TRI ÂN

TO

LÊN

HELENA PETROVNA BLAVATSKY,

HELENA PETROVNA BLAVATSKY,

THAT GREAT DISCIPLE WHO LIGHTED HER TORCH

NGƯỜI ĐỆ TỬ VĨ ĐẠI ĐÃ THẮP LÊN NGỌN ĐUỐC CỦA BÀ

IN THE EAST AND BROUGHT THE LIGHT TO EUROPE AND AMERICA IN 1875.

TẠI PHƯƠNG ĐÔNG VÀ MANG ÁNH SÁNG ĐẾN CHÂU ÂU VÀ CHÂU MỸ VÀO NĂM 1875.

"To the God Who is in the FIRE and Who is in the waters;

"Kính dâng lên Thượng đế ngự trong LỬA và ngự trong nước;

To the God Who has suffused Himself through all the world;

Kính dâng lên Thượng đế đã lan tỏa chính Ngài khắp toàn thể thế giới;

To the God Who is in summer plants and in the lords of the forest;

Kính dâng lên Thượng đế ngự trong cây cỏ mùa hạ và trong các chúa tể của rừng xanh;

To that God be adoration, adoration."

Xin dâng sự tôn thờ, sự tôn thờ lên Thượng đế ấy."

—Sh’vet Upanishad, II.17.

—Sh’vet Upanishad, II.17.

1. That God is more than either “FIRE” or “waters”. That God is Pure Being or Flame.

1. Thượng đế ấy còn hơn cả “LỬA” lẫn “nước”. Thượng đế ấy là Bản Thể thuần khiết hay Ngọn Lửa.

2. FIRE (God going forth in emanation) is an emanation of FLAME (God). The “waters” are all of matter. “Matter” and “water” are synonymous.

2. LỬA (Thượng đế tuôn ra trong phát xạ) là một phát xạ của NGỌN LỬA (Thượng đế). “Nước” là toàn bộ vật chất. “Vật chất” và “nước” là đồng nghĩa.

3. Fire and water are united in manifestation. Pervasion of all things by that God is a great fact.

3. Lửa và nước hợp nhất trong biểu hiện. Việc Thượng đế ấy thấm nhuần mọi sự vật là một sự kiện lớn lao.

4. We address the God of all living things—all animate life. But then all life is animate.

4. Chúng ta hướng đến Thượng đế của mọi sinh vật—mọi sự sống hữu tình. Nhưng rồi, mọi sự sống đều là hữu tình.

5. The only way to begin such a study is in a spirit of “adoration”.

5. Cách duy nhất để bắt đầu một cuộc nghiên cứu như thế là trong tinh thần “tôn thờ”.

6. We are aspects of that all-pervading God. We address our adoration to the Fount of All Cosmic Being. Before the ABSOLUTE FOUNT we must remain silent.

6. Chúng ta là những phương diện của Thượng đế thấm nhuần khắp nơi ấy. Chúng ta dâng sự tôn thờ của mình lên Cội Nguồn của mọi Bản Thể Vũ Trụ. Trước CỘI NGUỒN TUYỆT ĐỐI, chúng ta phải giữ im lặng.

7. When we think of the ABSOLUTE we may, indeed, be able to call IT the OAWNMBS (the truest of THE ONES ABOUT WHOM NAUGHT MAY BE SAID).The name may tell something vitally important about ITS NATURE—as soon as you say anything about IT, the aspect of consciousness is brought in, and consciousness is inevitably a limitation upon PURE BE-NESS

7. Khi chúng ta nghĩ đến TUYỆT ĐỐI, quả thật chúng ta có thể gọi ĐÓ là OAWNMBS (Đấng chân thực nhất trong số NHỮNG ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ). Danh xưng ấy có thể nói lên điều gì đó hết sức quan trọng về BẢN CHẤT của ĐÓ—ngay khi các bạn nói bất cứ điều gì về ĐÓ, phương diện tâm thức được đưa vào, và tâm thức tất yếu là một giới hạn đặt lên BẢN THỂ THUẦN KHIẾT

[vi]

[Page vi]

INTRODUCTION

LỜI GIỚI THIỆU

The story of the many years of telepathic work by the Tibetan with Alice A. Bailey is revealed in her Unfinished Autobiography, published in 1951. This includes the circumstances of her first contact with him, on the physical plane, which took place in California in November 1919. Thirty years' work was planned. When this had been accomplished, and within thirty days after that period, Mrs. Bailey gained her release from the limitations of the physical vehicle.

Câu chuyện về nhiều năm làm việc viễn cảm của Chân sư Tây Tạng với Alice A. Bailey được thuật lại trong cuốn Tự Truyện Chưa Hoàn Tất của bà, xuất bản năm 1951. Trong đó có những hoàn cảnh của lần tiếp xúc đầu tiên của bà với Ngài, trên cõi hồng trần, diễn ra tại California vào tháng Mười Một năm 1919. Ba mươi năm công việc đã được hoạch định. Khi điều này đã được hoàn tất, và trong vòng ba mươi ngày sau thời kỳ ấy, bà Bailey đã được giải thoát khỏi những giới hạn của vận cụ hồng trần.

8. A work for Hierarchy and humanity was accomplished.

8. Một công việc cho Thánh đoàn và nhân loại đã được hoàn thành.

9. It is amazing that exactly thirty year’s work was planned, and accomplished. There may have been vicissitudes—some things that might have been done and were not, but the overall plan held.

9. Thật đáng kinh ngạc khi đúng ba mươi năm công việc đã được hoạch định và hoàn thành. Có thể đã có những thăng trầm—một số điều lẽ ra có thể làm nhưng đã không được làm, nhưng kế hoạch tổng thể vẫn được giữ vững.

The Autobiography also contains certain statements by the Tibetan in regard to his work and some information as to the reasons why it was undertaken. In the early stages the work involved careful attention to the physical plane conditions which might best help to make the telepathic process more successful. But during the latter years the technique was so perfected and the etheric mechanism of A.A.B. so skillfully attuned and adjusted that the whole process was practically effortless, and the reality and practical usefulness of telepathic interplay was demonstrated to an unique degree.

Cuốn Tự Truyện cũng chứa đựng một số phát biểu của Chân sư Tây Tạng liên quan đến công việc của Ngài và một số thông tin về những lý do khiến công việc ấy được đảm nhận. Trong các giai đoạn đầu, công việc bao gồm sự chú ý cẩn trọng đến các điều kiện trên cõi hồng trần có thể giúp tốt nhất để làm cho tiến trình viễn cảm thành công hơn. Nhưng trong những năm về sau, kỹ thuật ấy đã được hoàn thiện đến mức và bộ máy dĩ thái của A.A.B. đã được chỉnh hợp và điều chỉnh khéo léo đến mức toàn bộ tiến trình hầu như không cần nỗ lực, và tính hiện thực cùng sự hữu ích thực tiễn của sự tương tác viễn cảm đã được chứng minh ở một mức độ độc đáo.

10. These are brief and useful descriptions of the telepathic process between DK and AAB.

10. Đây là những mô tả ngắn gọn và hữu ích về tiến trình viễn cảm giữa Chân sư DK và AAB.

The spiritual truths dealt with involved in many cases the expression by the lower concrete mind (often with the insuperable restrictions of the English language) of abstract ideas and hitherto quite unknown concepts of spiritual realities. This unescapable limitation of truth has been frequently called to the attention of the readers of the books so produced but is all too often forgotten. Its constant remembrance will constitute in the years to come one of the chief factors in preventing the crystallisation of the teaching from producing yet one more dogmatic sectarian cult.

Những chân lý tinh thần được đề cập đến trong nhiều trường hợp bao hàm việc hạ trí cụ thể (thường chịu những hạn chế không thể vượt qua của Anh ngữ) biểu đạt các ý tưởng trừu tượng và những khái niệm từ trước đến nay hoàn toàn chưa biết về các thực tại tinh thần. Giới hạn không thể tránh khỏi này của chân lý đã nhiều lần được nhắc cho độc giả của những cuốn sách được tạo ra như thế, nhưng lại quá thường bị quên lãng. Việc luôn luôn ghi nhớ điều này trong những năm sắp tới sẽ là một trong những yếu tố chủ yếu ngăn ngừa sự kết tinh của giáo huấn tạo ra thêm một giáo phái giáo điều bè phái nữa.

11. In all humility, we must remember the limitations of language, even of language so skillfully used by AAB.

11. Với tất cả sự khiêm cung, chúng ta phải nhớ đến những giới hạn của ngôn ngữ, ngay cả thứ ngôn ngữ được AAB sử dụng khéo léo đến thế.

12. In saying this, FB is attempting to protect this particular presentation of the Universal Teaching.

12. Khi nói điều này, FB đang cố gắng bảo vệ cách trình bày đặc thù này của Giáo Huấn Vũ Trụ.

The present volume, A Treatise on Cosmic Fire, first published in 1925, was the third book jointly produced and carries inherent evidence that it will stand as the major and most far-reaching portion of the thirty-year teachings, notwithstanding the profundity and usefulness of the volumes published in the series [vii] entitled A Treatise on the Seven Rays or of any other of the books.

Tập hiện tại, Luận về Lửa Vũ Trụ, lần đầu xuất bản năm 1925, là cuốn sách thứ ba được cùng nhau tạo ra và mang bằng chứng nội tại rằng nó sẽ đứng vững như phần chủ yếu và sâu rộng nhất của giáo huấn ba mươi năm, bất chấp chiều sâu và tính hữu ích của các tập đã xuất bản trong bộ [Page vii] mang tên Luận về Bảy Cung hay bất kỳ cuốn sách nào khác.

13. Therefore the value of studying it closely.

13. Vì vậy, việc nghiên cứu kỹ lưỡng tác phẩm này có giá trị.

14. All the books are to be respected and are, indeed, profound. But A Treatise on Cosmic Fire stands beyond them all—yet needs, for its understanding, the supplementation of all that the Tibetan has written through AAB.

14. Mọi cuốn sách đều đáng được tôn trọng và quả thật đều sâu sắc. Nhưng Luận về Lửa Vũ Trụ vượt trên tất cả—tuy vậy, để được thấu hiểu, nó cần sự bổ sung của toàn bộ những gì Chân sư Tây Tạng đã viết qua AAB.

15. I have often repeated the thought: the Tibetan Teacher has written One Great Book. This is all the more evident in these days of instant accessibility to references via the CD AAB Rom.

15. Tôi đã thường lặp lại ý nghĩ này: Chân sư Tây Tạng đã viết Một Tác Phẩm Vĩ Đại. Điều này càng hiển nhiên hơn trong những ngày nay khi việc tiếp cận tức thời các tham chiếu qua CD AAB Rom đã trở nên khả dụng.

During the long course of the work the minds of the Tibetan and A.A.B. became so closely attuned that they were in effect—so far as much of the production of the teaching was concerned—a single joint projecting mechanism. Even to the end A.A.B. often spoke of her amazement at the glimpses she obtained through contact with the Tibetan's mind, of limitless vistas of spiritual truths which she could not possibly have otherwise contacted, and often of a quality she could not possibly express. This experience was the basis of her often proclaimed but frequently little-understood assertion that all the teachings she was aiding in producing was in fact only the A B C of esoteric knowledge, and that in the future she would gladly abandon any pronouncement in the present teaching, when she found better and more deeply esoteric teaching available. Clear and profound as the teaching actually is in the books published in her name, the truths imparted are so partial and subject to later revelation and expansion that this fact, if constantly remembered, will give us a second much-needed safeguard against that quality of the concrete mind which constantly tends to produce sectarianism.

Trong suốt tiến trình lâu dài của công việc, trí tuệ của Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã trở nên chỉnh hợp chặt chẽ đến mức, trên thực tế—xét theo phần lớn việc sản xuất giáo huấn—họ là một bộ máy phóng chiếu chung duy nhất. Ngay cả đến cuối cùng, A.A.B. vẫn thường nói về sự kinh ngạc của bà trước những thoáng thấy mà bà đạt được qua sự tiếp xúc với trí tuệ của Chân sư Tây Tạng, về những viễn cảnh vô hạn của các chân lý tinh thần mà nếu không thì bà không thể nào tiếp xúc được, và thường là về một phẩm tính mà bà hoàn toàn không thể diễn đạt. Kinh nghiệm này là nền tảng cho lời khẳng định bà thường công bố nhưng thường ít được hiểu đúng, rằng toàn bộ giáo huấn mà bà đang trợ giúp tạo ra thật ra chỉ là ABC của tri thức huyền bí học, và rằng trong tương lai bà sẽ vui lòng từ bỏ bất kỳ tuyên bố nào trong giáo huấn hiện tại khi bà tìm thấy giáo huấn tốt hơn và sâu sắc hơn về huyền bí học. Dù giáo huấn trong những cuốn sách xuất bản dưới tên bà thật sự rõ ràng và sâu sắc đến đâu, các chân lý được truyền đạt vẫn chỉ là từng phần và còn tùy thuộc vào sự mặc khải và mở rộng về sau; nếu sự kiện này luôn được ghi nhớ, nó sẽ đem lại cho chúng ta một biện pháp bảo vệ thứ hai rất cần thiết chống lại phẩm tính của trí cụ thể vốn luôn có khuynh hướng tạo ra bè phái.

16. This describes the scope of AAB’s consciousness and its inherent humility.

16. Điều này mô tả tầm mức tâm thức của AAB và sự khiêm nhường cố hữu của bà.

17. A safeguard against the concrete mind which tends to produce sectarianism.

17. Một sự bảo vệ chống lại trí cụ thể vốn có khuynh hướng tạo ra bè phái.

18. If TCF is the ABC of esoteric knowledge, what is the vastness yet concealed?

18. Nếu TCF là ABC của tri thức huyền bí học, thì sự bao la nào còn đang bị che giấu?

19. Lives of practice were spent creating this “single joint projecting mechanism”. It was truly an expert Geminian interplay.

19. Nhiều kiếp thực hành đã được dành ra để tạo nên “bộ máy phóng chiếu chung duy nhất” này. Đó thật sự là một sự tương tác Song Tử hết sức thành thạo.

20. The Tibetan scrutinized everything written. Some books were given almost word for word. Others depended upon the flow of His ideas skillfully translated into words by AAB. Yet, always there was supervision, dialogue and correction if need be.

20. Chân sư Tây Tạng đã xem xét kỹ lưỡng mọi điều được viết ra. Một số sách được truyền gần như từng chữ một. Những sách khác tùy thuộc vào dòng chảy các ý tưởng của Ngài được AAB khéo léo chuyển thành lời. Tuy nhiên, luôn luôn có sự giám sát, đối thoại và điều chỉnh nếu cần.

At the very beginning of the joint effort and after careful consideration it was decided between the Tibetan (D.K.) and A.A.B. that she as the working disciple on the outer plane should shoulder as much as possible of karmic responsibility on that plane, and that the teaching should go to the public over her signature. This involved the burden of leadership in the esoteric field and precipitated attack and condemnation from persons and organisations whose positions and activities were more Piscean and authoritarian.

Ngay từ lúc bắt đầu nỗ lực chung và sau khi cân nhắc cẩn thận, giữa Chân sư Tây Tạng (D.K.) và A.A.B. đã quyết định rằng bà, với tư cách là đệ tử hoạt động trên cõi bên ngoài, nên gánh vác càng nhiều càng tốt trách nhiệm nghiệp quả trên cõi ấy, và giáo huấn nên được công bố ra công chúng dưới chữ ký của bà. Điều này bao hàm gánh nặng lãnh đạo trong lĩnh vực huyền bí học và làm bùng phát sự công kích và lên án từ những cá nhân và tổ chức có lập trường và hoạt động mang tính Song Ngư và độc đoán hơn.

21. AAB became vulnerable to attack through the assumption of responsibility for the teaching.

21. AAB trở nên dễ bị công kích do việc nhận lấy trách nhiệm đối với giáo huấn.

The entire platform upon which esoteric teaching stands before the public today has been liberated from the limitations and follies of mystery, glamour, claim-making and impracticality, by the position taken by the Tibetan and A.A.B. The stand taken against dogmatic assertion has helped to establish a new era of mental freedom for the students of the progressively unfolding revelation of the Ageless Wisdom. [viii]

Toàn bộ nền tảng trên đó giáo huấn huyền bí học hiện đứng trước công chúng ngày nay đã được giải phóng khỏi những giới hạn và sai lầm của sự bí nhiệm, ảo cảm, sự tự xưng và tính thiếu thực tiễn, nhờ lập trường mà Chân sư Tây Tạng và A.A.B. đã chọn. Lập trường chống lại sự khẳng định giáo điều đã giúp thiết lập một kỷ nguyên mới của tự do trí tuệ cho các đạo sinh của sự mặc khải đang dần khai mở của Minh Triết Ngàn Đời. [Page viii]

22. The mental freedom of students is indispensable.

22. Tự do trí tuệ của các đạo sinh là điều không thể thiếu.

23. Dogmatism never liberated any mind.

23. Chủ nghĩa giáo điều chưa bao giờ giải phóng được bất kỳ trí tuệ nào.

The age-old method of arriving at truth by the process of accepting new authorities and comparing them with previously established doctrines, while of undoubted value in the training of the mind, is gradually being transcended. In its place is emerging in both the religious and philosophical worlds a new capacity to take a more scientific position. Spiritual teaching will be increasingly accepted as an hypothesis to be proved less by scholasticism, historical foundation and authority, and more by the results of its effect upon the life lived and its practical usefulness in solving the problems of humanity.

Phương pháp lâu đời để đạt đến chân lý bằng tiến trình chấp nhận những thẩm quyền mới và so sánh chúng với các giáo lý đã được thiết lập trước đó, tuy có giá trị không thể phủ nhận trong việc rèn luyện trí tuệ, đang dần được vượt qua. Thay vào đó, trong cả thế giới tôn giáo lẫn triết học đang xuất hiện một năng lực mới để có một lập trường khoa học hơn. Giáo huấn tinh thần sẽ ngày càng được chấp nhận như một giả thuyết cần được chứng minh, ít dựa vào tính kinh viện, nền tảng lịch sử và thẩm quyền hơn, mà dựa nhiều hơn vào kết quả tác động của nó lên đời sống thực tế và tính hữu ích thực tiễn của nó trong việc giải quyết các vấn đề của nhân loại.

24. A new and more scientific position with respect to imparted teaching is emerging. This is in keeping with the emergence of a new type of discipleship.

24. Một lập trường mới và khoa học hơn đối với giáo huấn được truyền đạt đang xuất hiện. Điều này phù hợp với sự xuất hiện của một loại hình địa vị đệ tử mới.

25. Teaching will now be accepted as hypothesis and the attempt will be made to manifest it practically.

25. Giáo huấn giờ đây sẽ được chấp nhận như giả thuyết và sẽ có nỗ lực biểu hiện nó một cách thực tiễn.

Heretofore, advanced esoteric teaching has almost invariably been obtainable only by the student’s acceptance of the authority of the teacher, varying degrees of personal obedience to that teacher and pledges of secrecy. As the new Aquarian dispensation progresses these limitations will disappear. The personal relation of the disciple to the Master remains, but already discipleship training has been attempted in Group formation. The record of one such experiment and attempt to use this new age method has been made available to the public in the book entitled Discipleship in the New Age, which gives the direct personal instructions by the Tibetan to a selected group.

Trước đây, giáo huấn huyền bí học cao cấp hầu như luôn chỉ có thể đạt được khi đạo sinh chấp nhận thẩm quyền của huấn sư, vâng phục cá nhân ở những mức độ khác nhau đối với huấn sư ấy và cam kết giữ bí mật. Khi trật tự mới của Bảo Bình tiến triển, những giới hạn này sẽ biến mất. Mối liên hệ cá nhân của đệ tử với Chân sư vẫn còn đó, nhưng việc huấn luyện địa vị đệ tử đã được thử nghiệm trong hình thức nhóm. Hồ sơ của một thử nghiệm như thế và nỗ lực sử dụng phương pháp của kỷ nguyên mới này đã được công bố cho công chúng trong cuốn sách mang tên Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới, trình bày những chỉ huấn cá nhân trực tiếp của Chân sư Tây Tạng cho một nhóm được tuyển chọn.

26. FB describes the new form of discipleship, less subject to authoritarianism.

26. FB mô tả hình thức địa vị đệ tử mới, ít lệ thuộc vào chủ nghĩa độc đoán hơn.

In A Treatise on Cosmic Fire the Tibetan has given us what H. P. Blavatsky prophesied he would give, namely the psychological key to the Cosmic Creation. H.P.B. stated that in the 20th century a disciple would come who would give the psychological key to her own monumental work The Secret Doctrine on which treatise the Tibetan worked with her; and Alice A. Bailey worked in complete recognition of her own task in this sequence.

Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, Chân sư Tây Tạng đã trao cho chúng ta điều mà H. P. Blavatsky đã tiên tri rằng Ngài sẽ trao, tức là chiếc chìa khóa tâm lý học cho Sáng Tạo Vũ Trụ. H.P.B. đã nói rằng trong thế kỷ 20 sẽ xuất hiện một đệ tử người sẽ trao chiếc chìa khóa tâm lý học cho chính tác phẩm đồ sộ của bà là Giáo Lý Bí Nhiệm, bộ luận mà Chân sư Tây Tạng đã cùng làm việc với bà; và Alice A. Bailey đã làm việc trong sự nhận thức trọn vẹn về nhiệm vụ riêng của mình trong chuỗi này.

FOSTER BAILEY

FOSTER BAILEY

27. It is a profound idea—that A Treatise on Cosmic Fire is the “psychological key to the Cosmic Creation”. We are given in A Treatise on Cosmic Fire the qualitative interrelationship of beings in our local cosmos.

27. Đó là một ý tưởng sâu sắc—rằng Luận về Lửa Vũ Trụ là “chiếc chìa khóa tâm lý học cho Sáng Tạo Vũ Trụ”. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ, chúng ta được trao cho mối tương quan phẩm tính giữa các hữu thể trong vũ trụ cục bộ của chúng ta.

28. In our modern era, perhaps only five keys to the Secret Doctrine are available: the physiological, the psychological (through TCF), astrological (only in part), the metaphysical (perhaps through the book, The Secret Doctrine) and geometrical (doubtfully available in wholeness). There are ten keys in all and those that we have, are still to be turned a number of times if the whole truth is to be revealed.

28. Trong thời đại hiện đại của chúng ta, có lẽ chỉ có năm chìa khóa của Giáo Lý Bí Nhiệm là khả dụng: sinh lý học, tâm lý học (qua TCF), chiêm tinh học (chỉ một phần), siêu hình học (có lẽ qua cuốn Giáo Lý Bí Nhiệm) và hình học (khó có thể nói là đã có trọn vẹn). Tổng cộng có mười chìa khóa, và những chìa khóa chúng ta có vẫn còn phải được xoay nhiều lần nếu toàn bộ chân lý được mặc khải.

Tunbridge Wells

Tunbridge Wells

December 1950

Tháng Mười Hai 1950

[xi]

[Page xi]

[xii]

[Page xii]

FOREWORD

LỜI NÓI ĐẦU

This "Treatise on Cosmic Fire'' has a fivefold purpose in view:

“Luận về Lửa Vũ Trụ” này nhắm đến một mục đích ngũ phân:

First, to provide a compact and skeleton outline of a scheme of cosmology, philosophy, and psychology which may perhaps be employed for a generation as a reference and a textbook, and may serve as a scaffolding upon which more detailed instruction may later be built, as the great tide of evolutionary teaching flows on.

Thứ nhất, cung cấp một đại cương cô đọng và khung sườn của một hệ thống vũ trụ luận, triết học và tâm lý học có thể được dùng trong một thế hệ như tài liệu tham khảo và giáo trình, và có thể phục vụ như một giàn giáo trên đó những chỉ huấn chi tiết hơn về sau có thể được xây dựng, khi làn sóng lớn của giáo huấn tiến hoá tiếp tục tuôn chảy.

29. Cosmology—knowledge of the cosmos, or the method by which knowledge of the cosmos is acquired.

29. Vũ trụ luận—tri thức về vũ trụ, hay phương pháp nhờ đó tri thức về vũ trụ được thu nhận.

30. Philosophy—love of Wisdom. Love of Truth.

30. Triết học—tình yêu đối với minh triết. Tình yêu đối với chân lý.

31. Psychology—it is about relations and consciousness. It requires true knowledge of psyche and the psyche is the soul. Cosmo-psychology is the study of the soul of the cosmos. Cosmo-psychology further reveals how to establish soul relations through matter, by a very complete knowledge of matter.

31. Tâm lý học—đó là về các mối liên hệ và tâm thức. Nó đòi hỏi tri thức chân thực về psyche, và psyche là linh hồn. Vũ trụ-tâm lý học là sự nghiên cứu linh hồn của vũ trụ. Vũ trụ-tâm lý học còn cho thấy cách thiết lập các mối liên hệ linh hồn xuyên qua vật chất, bằng một tri thức rất trọn vẹn về vật chất.

32. This book will be useful for more than a generation, I would suspect. This is a humble expectation. DK, Himself, said it was to provide study for students at the end of the twentieth century and during the twenty-first.

32. Tôi cho rằng cuốn sách này sẽ hữu ích trong hơn một thế hệ. Đây là một kỳ vọng khiêm tốn. Chính Chân sư DK đã nói rằng nó nhằm cung cấp tài liệu nghiên cứu cho các đạo sinh vào cuối thế kỷ hai mươi và trong thế kỷ hai mươi mốt.

33. We note that the word “compact” is used for this monumental book. This should give us a sense of proportion when considering the Master’s point of view.

33. Chúng ta lưu ý rằng từ “cô đọng” được dùng cho cuốn sách đồ sộ này. Điều này nên đem lại cho chúng ta Ý thức về tỉ lệ khi xem xét quan điểm của Chân sư.

34. If TCF is scaffolding, then we can only imagine the detail.

34. Nếu TCF là giàn giáo, thì chúng ta chỉ có thể hình dung mức độ chi tiết.

35. Still, the foundation must be strong.

35. Tuy nhiên, nền móng phải vững chắc.

Secondly, to express that which is subjective in comprehensible terms, and to point out the next step forward in the understanding of the true psychology. It is an elucidation of the relation existing between Spirit and Matter, which relation demonstrates as consciousness. It will be found that the Treatise deals primarily with the aspect of mind, with consciousness and with the higher psychology, and less with matter as we know of it on the physical plane. The danger involved in giving out information concerning the various energies of atomic matter is too great, and the race as yet too selfish to be entrusted with these potencies. Man is already, through the able work of the scientists, discovering the needed knowledge with adequate rapidity. The emphasis in this book will be found to be laid upon those forces which are responsible for the objective manifestation of a solar Logos and of man, and only in the first section will indication be given as to the nature of those energies which are strictly confined to the physical plane.

Thứ hai, diễn đạt điều mang tính chủ quan bằng những thuật ngữ có thể hiểu được, và chỉ ra bước tiến kế tiếp trong việc thấu hiểu tâm lý học chân thực. Đó là một sự làm sáng tỏ mối liên hệ hiện hữu giữa tinh thần và vật chất, mối liên hệ ấy biểu hiện thành tâm thức. Người ta sẽ thấy rằng bộ Luận chủ yếu bàn đến phương diện trí tuệ, đến tâm thức và đến tâm lý học cao hơn, và ít bàn hơn đến vật chất như chúng ta biết về nó trên cõi hồng trần. Mối nguy hiểm liên quan đến việc tiết lộ thông tin về các năng lượng khác nhau của vật chất nguyên tử là quá lớn, và nhân loại hiện vẫn còn quá ích kỷ để được giao phó những tiềm lực ấy. Con người, nhờ công trình tài giỏi của các nhà khoa học, đã đang khám phá tri thức cần thiết với tốc độ đủ nhanh. Người ta sẽ thấy rằng trọng tâm trong cuốn sách này được đặt vào những mãnh lực chịu trách nhiệm cho biểu hiện khách quan của một Thái dương Thượng đế và của con người, và chỉ trong phần thứ nhất mới có chỉ dẫn về bản chất của những năng lượng bị giới hạn nghiêm ngặt trong cõi hồng trần.

36. The psyche is consciousness. Consciousness is produced by the merging of Spirit and Matter. This book is considered to be cosmo-psychology because it is “an elucidation of the relation existing between Spirit and Matter”, and that relation is, in fact, consciousness or psyche.

36. Psyche là tâm thức. Sự hòa nhập của tinh thần và vật chất tạo ra tâm thức. Cuốn sách này được xem là vũ trụ-tâm lý học vì nó là “một sự làm sáng tỏ mối liên hệ hiện hữu giữa Tinh thần và Vật chất”, và mối liên hệ ấy thật ra chính là tâm thức hay psyche.

37. The Science of Relations is revealed through cosmo-psychology.

37. Khoa Học về Các Mối Liên Hệ được mặc khải qua vũ trụ-tâm lý học.

38. In many ways, TCF is a book about solar fire, the fire of the second aspect of divinity.

38. Theo nhiều phương diện, TCF là một cuốn sách về Lửa Thái dương, ngọn lửa của phương diện thứ hai của thiên tính.

39. Here we are told that TCF deals with the higher sort of matter (but as we realize from study, also with the lower sort in its relation to the higher).

39. Ở đây chúng ta được cho biết rằng TCF bàn đến loại vật chất cao hơn (nhưng như chúng ta nhận ra qua nghiên cứu, cũng bàn đến loại thấp hơn trong mối liên hệ của nó với loại cao hơn).

40. The “danger” here cited materialized rapidly during the twentieth century.

40. “Mối nguy hiểm” được nêu ở đây đã hiện hình nhanh chóng trong thế kỷ hai mươi.

41. In studying TCF, we do, however, begin with a study of the more physical energies so that a firm and practical foundation can be laid.

41. Tuy nhiên, khi nghiên cứu TCF, chúng ta quả thật bắt đầu bằng một nghiên cứu về các năng lượng mang tính hồng trần hơn để có thể đặt một nền tảng vững chắc và thực tiễn.

Thirdly, to show the coherent development of all that is found within a solar system; to demonstrate that everything which exists evolves (from the lowest form of life at the densest point of concretion up to the highest and most tenuous manifestation) and that all forms are but the expression of a stupendous and divine Existence. This expression is caused by the blending of two divine aspects through the influence of a third, and produces the manifestation which we call a form, starting it upon its [xiii] evolutionary cycle in time and space. Thus is form brought to the point where it is an adequate medium for the demonstration of the nature of that which we call God.

Thứ ba, cho thấy sự phát triển gắn kết của mọi điều được tìm thấy trong một hệ mặt trời; chứng minh rằng mọi thứ hiện hữu đều tiến hoá (từ hình thức sự sống thấp nhất tại điểm cô đặc đậm đặc nhất cho đến biểu hiện cao nhất và tinh tế nhất) và rằng mọi hình tướng chỉ là sự biểu đạt của một Hiện Hữu thiêng liêng và kỳ vĩ. Sự hòa trộn của hai phương diện thiêng liêng dưới ảnh hưởng của một phương diện thứ ba gây ra sự biểu đạt này, và sự biểu đạt ấy tạo ra biểu hiện mà chúng ta gọi là một hình tướng, khởi động nó trên chu kỳ tiến hoá của nó trong [Page xiii] thời gian và không gian. Như thế, hình tướng được đưa đến điểm mà nó là một trung gian thích hợp cho sự biểu lộ bản chất của điều mà chúng ta gọi là Thượng đế.

42. The third purpose for which TCF was written involves the following ideas:

42. Mục đích thứ ba mà TCF được viết ra bao hàm những ý tưởng sau:

1. The theory of ‘solar coherency’, demonstrating all parts of our solar system as an expression of “a stupendous and divine Existence”.

1. Lý thuyết về “tính gắn kết thái dương”, chứng minh mọi phần của hệ mặt trời chúng ta là sự biểu đạt của “một Hiện Hữu thiêng liêng và kỳ vĩ”.

2. The theory of ‘cosmic coherency’, much the same as the above, but of almost limitlessly vast scope.

2. Lý thuyết về “tính gắn kết vũ trụ”, gần như tương tự điều trên, nhưng với phạm vi bao la gần như vô hạn.

3. The theory of universal evolution—the evolution of all emanated lives.

3. Lý thuyết về tiến hoá phổ quát—sự tiến hoá của mọi sự sống đã được phát xạ.

4. The revelation of the unitary nature of That of which all forms are but an expression

4. Sự mặc khải về bản chất nhất nguyên của Cái Mà mọi hình tướng chỉ là một biểu đạt của Nó

5. The revelation of expressive purpose of form.

5. Sự mặc khải về mục đích biểu đạt của hình tướng.

Fourthly, to give practical information anent those focal points of energy which are found in the etheric bodies of the solar Logos, the macrocosm, and of man, the microcosm. As the etheric substratum which is the true substance underlying every tangible form is understood, certain great revolutions will be brought about in the domains of science, of medicine and of chemistry. The study of medicine, for instance, will eventually be taken up from a new angle, and its practice will be built upon a comprehension of the laws of radiation, of magnetic currents, and of the force centres found in men's bodies and their relationship to the force centres and currents of the solar system.

Thứ tư, cung cấp thông tin thực tiễn liên quan đến những tiêu điểm năng lượng được tìm thấy trong các thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế, đại thiên địa, và của con người, tiểu thiên địa. Khi nền chất dĩ thái là chất liệu chân thực nằm bên dưới mọi hình tướng hữu hình được thấu hiểu, những cuộc cách mạng lớn lao nhất định sẽ được tạo ra trong các lĩnh vực khoa học, y học và hóa học. Chẳng hạn, việc nghiên cứu y học cuối cùng sẽ được tiếp cận từ một góc độ mới, và việc thực hành nó sẽ được xây dựng trên sự thấu hiểu các định luật bức xạ, các dòng từ tính, và các trung tâm lực được tìm thấy trong thân thể con người cùng mối liên hệ của chúng với các trung tâm lực và các dòng lực của hệ mặt trời.

43. In TCF there is tremendous information given concerning the etheric nature of Space and of a number of analogically related types of entities.

43. Trong TCF có một lượng thông tin to lớn được trao về bản chất dĩ thái của Không Gian và của một số loại thực thể có liên hệ tương đồng.

44. We study of the etheric body of several types of entities, including the Solar Logos, the Planetary Logos and man. The etheric nature of the atom is also somewhat discussed..

44. Chúng ta nghiên cứu thể dĩ thái của một số loại thực thể, gồm cả Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế và con người. Bản chất dĩ thái của nguyên tử cũng được bàn đến phần nào.

Fifthly, to give some information, hitherto not exoterically imparted as to the place and work of those myriads of sentient lives who form the essence of objectivity; to indicate the nature of those Hierarchies of Existences who form out of their own substance all that is seen and known, and who are themselves Fire and the cause of all the heat, warmth, life and motion in the universe. In this way the action of Fire on Water, of Heat in Matter, whether macrocosmically or microcosmically considered, will be touched upon and some light thrown upon the Law of Cause and Effect (the Law of Karma) and its significance in the solar system.

Thứ năm, cung cấp một số thông tin, từ trước đến nay chưa được truyền đạt ra ngoại môn, về vị trí và công việc của vô số sự sống hữu cảm tạo thành tinh chất của tính khách quan; chỉ ra bản chất của những Huyền Giai các Hiện Hữu tạo nên từ chính chất liệu của mình mọi điều được thấy và được biết, và chính các Ngài là Lửa và là nguyên nhân của mọi nhiệt, hơi ấm, sự sống và chuyển động trong vũ trụ. Theo cách này, tác động của Lửa lên Nước, của Nhiệt trong Vật chất, dù được xét theo đại thiên địa hay tiểu thiên địa, sẽ được đề cập đến và một ít ánh sáng sẽ được soi rọi lên Định luật Nhân Quả (Định luật Nghiệp quả) và thâm nghĩa của nó trong hệ mặt trời.

45. TCF offers a close study of the Deva Kingdom—“those myriads of sentient lives who form the essence of objectivity”.

45. TCF cống hiến một nghiên cứu kỹ lưỡng về Giới Thiên Thần—“vô số sự sống hữu cảm tạo thành tinh chất của tính khách quan”.

46. A close study of the Creative Hierarchies is also offered—especially those “who form out of their own substance all that is seen and known”.

46. Một nghiên cứu kỹ lưỡng về các Huyền Giai Sáng Tạo cũng được cống hiến—đặc biệt là những vị “tạo nên từ chính chất liệu của mình mọi điều được thấy và được biết”.

47. The study of the interrelation of the elements—considered both macrocosmically and microcosmically. All the elements (as Agni Yoga suggests) are essentially fire.

47. Nghiên cứu về mối tương quan của các nguyên tố—được xét cả theo đại thiên địa lẫn tiểu thiên địa. Mọi nguyên tố (như Agni Yoga gợi ý) về bản chất đều là lửa.

48. Some aspects of the Law of Karma are elucidated. The relation of the four elements to each other is a subject relating to the activities of the four Lords of Karma (in all their many subdivisions).

48. Một số phương diện của Định luật Nghiệp quả được làm sáng tỏ. Mối liên hệ của bốn nguyên tố với nhau là một chủ đề liên quan đến các hoạt động của bốn Đấng Chúa Tể Nghiệp Quả (trong mọi phân bộ đa dạng của Các Ngài).

To sum up the matter, the teaching in this book should tend to an expansion of consciousness, and should bring about a recognition of the adequacy, as a working basis, for both science and religion, of that interpretation of the processes of nature which has been formulated for us by the Master Minds of all time. It should tend to bring about a reaction in favor of a system of philosophy which will link both Spirit and matter, and demonstrate the essential unity of the scientific and religious idea. The two are at present somewhat divorced, and we are only just beginning to grope our intellectual way out of the depths of a materialistic interpretation. It must not be forgotten, however, that under the Law of Action and Reaction, the long period of materialistic thought has been a necessary one for humanity, because the mysticism of the Middle Ages has led [xiv] us too far in the opposite direction. We are now tending to a more balanced view, and it is hoped that this treatise may form part of the process through which equilibrium is attained.

Tóm lại, giáo huấn trong cuốn sách này nên hướng đến sự mở rộng tâm thức, và nên đưa đến sự nhìn nhận tính đầy đủ, như một nền tảng làm việc, cho cả khoa học lẫn tôn giáo, của cách diễn giải các tiến trình của tự nhiên mà các Trí Tuệ Chân sư của mọi thời đại đã xây dựng cho chúng ta. Nó nên có xu hướng tạo ra một phản ứng thuận lợi cho một hệ thống triết học sẽ nối kết cả tinh thần lẫn vật chất, và chứng minh sự hợp nhất cốt yếu của ý niệm khoa học và tôn giáo. Hiện nay hai bên phần nào bị tách rời, và chúng ta chỉ mới bắt đầu lần mò bằng trí tuệ để thoát ra khỏi vực sâu của lối diễn giải duy vật. Tuy nhiên, không được quên rằng dưới Định luật Tác Động và Phản Tác Động, thời kỳ dài của tư tưởng duy vật là điều cần thiết đối với nhân loại, bởi vì thần bí học của thời Trung Cổ đã đưa [Page xiv] chúng ta đi quá xa theo hướng ngược lại. Hiện nay chúng ta đang nghiêng về một quan điểm quân bình hơn, và hy vọng rằng bộ luận này có thể tạo thành một phần của tiến trình nhờ đó sự quân bình được đạt đến.

49. Our studies are meant to expand our consciousness.

49. Những nghiên cứu của chúng ta nhằm mở rộng tâm thức của mình.

50. The perspective of the Spiritual Hierarchy (a Hierarchy consisting of the “Master Minds of all time”) is offered as a sufficient basis for the evolutionary progression of both science and religion.

50. Quan điểm của Thánh đoàn (một Thánh đoàn gồm những “Trí Tuệ Chân sư của mọi thời đại”) được đưa ra như một nền tảng đầy đủ cho sự tiến triển tiến hoá của cả khoa học lẫn tôn giáo.

51. The essential unity of science and religion is to be perceived through this philosophy which will link both Spirit and matter.

51. Sự hợp nhất cốt yếu của khoa học và tôn giáo sẽ được nhận ra qua triết học này, triết học sẽ nối kết cả tinh thần lẫn vật chất.

52. TCF is meant to restore balance to humanity’s world view; it will balance the “mysticism of the Middle Ages” and the materialistic thought which followed that period as a reaction.

52. TCF nhằm khôi phục sự quân bình cho thế giới quan của nhân loại; nó sẽ quân bình “thần bí học của thời Trung Cổ” và tư tưởng duy vật tiếp theo thời kỳ ấy như một phản ứng.

In studying this treatise the student is asked to bear in mind certain things:

Khi nghiên cứu bộ luận này, đạo sinh được yêu cầu ghi nhớ một số điều:

a. That in dealing with these subjects we are concerned with the essence of that which is objective, with the subjective side of manifestation, and with the consideration of force and of energy. It is well nigh impossible to reduce such concepts to concrete formulas and to express them in such a way that they can be easily apprehended by the average man.

a. Rằng khi bàn đến những chủ đề này, chúng ta quan tâm đến tinh tuý của điều mang tính khách quan, đến mặt chủ quan của biểu hiện, và đến việc xem xét mãnh lực cùng năng lượng. Gần như không thể giản lược những khái niệm như thế thành các công thức cụ thể và diễn đạt chúng theo cách mà người bình thường có thể dễ dàng lĩnh hội.

53. We are dealing with the essence of manifestation, which is essentially, force and energy.

53. Chúng ta đang đề cập đến tinh tuý của biểu hiện, mà về bản chất là mãnh lực và năng lượng.

54. Formulas for these forces and energies cannot, at this time, be given. We are the “average man” who cannot apprehend such formulas.

54. Hiện nay không thể đưa ra các công thức cho những mãnh lực và năng lượng này. Chúng ta là “người bình thường” không thể lĩnh hội những công thức như thế.

b. That as we use words and phrases and speak in terms of modern language the whole subject necessarily becomes limited and dwarfed, and much of the truth is thereby lost.

b. Rằng khi chúng ta dùng từ ngữ và cụm từ và nói bằng ngôn ngữ hiện đại, toàn bộ chủ đề tất yếu trở nên bị giới hạn và thu nhỏ lại, và do đó phần lớn chân lý bị mất đi.

55. Words and phrases in modern language stultify the truth and much is thereby lost.

55. Từ ngữ và cụm từ trong ngôn ngữ hiện đại làm nghèo nàn chân lý và do đó nhiều điều bị mất đi.

c. That all that is in this treatise is offered in no dogmatic spirit but simply as a contribution to the mass of thought upon the subject of world origins and to the data already accumulated as to the nature of man. The best that man can offer as a solution of the world problem must perforce take a dual form and will demonstrate through a life of active service, tending to amelioration of environal conditions, and through a formulation of some cosmological scheme or plan which will seek to account as much as may be for conditions as they are seen to exist. Arguing as men do at present from the basis of the known and the demonstrated and leaving untouched and unaccounted for, those deep-seated causes which must be presumed to be producing the seen and known, all solutions as yet fail and will continue to fail in their objective.

c. Rằng mọi điều trong bộ luận này được đưa ra không phải trong tinh thần giáo điều mà chỉ đơn giản như một đóng góp vào khối tư tưởng về chủ đề nguồn gốc thế giới và vào dữ liệu đã được tích lũy liên quan đến bản chất của con người. Điều tốt nhất mà con người có thể đưa ra như một giải pháp cho vấn đề thế giới tất phải mang hình thức nhị phân và sẽ biểu lộ qua một đời sống phụng sự tích cực, hướng đến việc cải thiện các điều kiện môi trường, và qua việc hình thành một hệ thống hay kế hoạch vũ trụ luận nào đó nhằm giải thích càng nhiều càng tốt các điều kiện như chúng được thấy đang hiện hữu. Khi con người hiện nay lập luận từ nền tảng của điều đã biết và đã được chứng minh, và để nguyên không đụng đến cũng không giải thích những nguyên nhân sâu xa vốn phải được giả định là đang tạo ra điều được thấy và được biết, thì mọi giải pháp cho đến nay đều thất bại và sẽ tiếp tục thất bại trong mục tiêu của chúng.

56. TCF is not offered in a “dogmatic spirit”.

56. TCF không được trình bày trong một “tinh thần giáo điều”.

57. World problems are to be solved through active service and, also, with the help of the “formulation of a cosmological scheme or plan”.

57. Các vấn đề của thế giới phải được giải quyết qua sự phụng sự tích cực và cũng với sự trợ giúp của “việc hình thành một hệ thống hay kế hoạch vũ trụ luận”.

58. Solutions to world difficulties must take into consideration “deep-seated causes…producing the seen and known”.

58. Các giải pháp cho những khó khăn của thế giới phải lưu ý đến “những nguyên nhân ăn sâu… tạo ra điều được thấy và được biết”.

d. That all attempts to formulate in words that which must be felt and lived in order to be truly comprehended must necessarily prove distressingly inadequate. All that can be said will be after all but the partial statements of the great veiled Truth, and must be offered to the reader and student as simply providing a working hypothesis, and a suggestive explanation. To the open-minded student and the man who keeps the recollection in his mind that the truth is progressively revealed, it will be apparent that the fullest expression of the truth possible at any one time will be seen later to be but a fragment of a whole, and [xv] later still be recognised to be only portions of a fact and thus in itself a distortion of the real.

d. Mọi nỗ lực diễn đạt bằng lời điều phải được cảm nhận và sống qua để được thấu hiểu thật sự, tất yếu đều sẽ tỏ ra bất toàn đến mức đáng buồn. Rốt cuộc, tất cả những gì có thể nói ra chỉ là những phát biểu bộ phận về Chân Lý vĩ đại còn che khuất, và phải được trao đến người đọc và đạo sinh chỉ như một giả thuyết công tác và một lời giải thích có tính gợi ý. Đối với đạo sinh có tâm trí cởi mở và người luôn giữ trong trí nhớ rằng chân lý được mặc khải dần dần, thì sẽ hiển nhiên rằng sự biểu đạt đầy đủ nhất của chân lý có thể có vào bất kỳ thời điểm nào rồi sau này sẽ được thấy chỉ là một mảnh vụn của một toàn thể, và [Page xv] về sau nữa sẽ được nhận ra chỉ là những phần của một sự kiện và do đó tự thân nó là một sự bóp méo cái thực tại.

59. The authors (knowing more than the reader) are distressed by the inadequacy of the words they must use.

59. Các tác giả (biết nhiều hơn người đọc) đau lòng vì sự bất toàn của những ngôn từ mà họ buộc phải dùng.

60. There is a “great veiled Truth”, which words in ordinary language cannot reveal.

60. Có một “Chân Lý vĩ đại còn che khuất”, mà ngôn từ trong ngôn ngữ thông thường không thể mặc khải.

61. We must always keep in mind the relativity of truth and its sequential revelation over vast periods of time.

61. Chúng ta phải luôn ghi nhớ tính tương đối của chân lý và sự mặc khải tuần tự của nó qua những thời kỳ thời gian bao la.

62. No truth possible of apprehension at this time is the “whole Truth”.

62. Không có chân lý nào có thể được lĩnh hội vào lúc này là “toàn bộ Chân Lý”.

This treatise is put out in the hope that it may prove useful to all broad-minded seekers after truth and of value to all investigators into the subjective Source of all that which is tangibly objective. It aims to provide a reasonably logical plan of systemic evolution and to indicate to man the part he must play as an atomic unit in a great and corporate Whole. This fragment of the Secret Doctrine, in the turning of the evolutionary wheel, goes out to the world making no claims as to its source, its infallibility or the correctness in detail of its statements.

Luận thuyết này được xuất bản với hy vọng rằng nó có thể tỏ ra hữu ích cho mọi người tìm kiếm chân lý có đầu óc rộng mở và có giá trị đối với mọi nhà khảo cứu về Nguồn gốc chủ quan của tất cả những gì khách quan một cách hữu hình. Nó nhằm cung cấp một kế hoạch tiến hoá hệ thống hợp lý ở mức tương đối và chỉ cho con người phần việc mà y phải đảm nhiệm như một đơn vị nguyên tử trong một Toàn Thể vĩ đại và hợp nhất. Mảnh đoạn này của Giáo Lý Bí Nhiệm, trong vòng quay của bánh xe tiến hoá, được gửi ra thế giới mà không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về nguồn gốc của nó, tính vô ngộ của nó, hay tính chính xác chi tiết trong các phát biểu của nó.

63. TCF is written for the “broad-minded”.

63. TCF được viết cho những người “có đầu óc rộng mở”.

64. It attempts to offer “a reasonably logical plan of systemic evolution”. Those who read it must think both logically and intuitively.

64. Nó cố gắng đưa ra “một kế hoạch tiến hoá hệ thống hợp lý ở mức tương đối”. Những ai đọc nó phải suy nghĩ vừa hợp lý vừa trực giác.

65. A close study of TCF may help to reveal the place of man (“an atomic unit”) within the “corporate Whole”. In short, we, as human beings, can better learn our place within the vaster system.

65. Việc nghiên cứu kỹ TCF có thể giúp mặc khải vị trí của con người (“một đơn vị nguyên tử”) trong “Toàn Thể hợp nhất”. Nói ngắn gọn, chúng ta, với tư cách những con người, có thể học biết rõ hơn vị trí của mình trong hệ thống bao la hơn.

66. Whether the statements made in this book are true or not is to be established by the reader.

66. Những phát biểu được đưa ra trong sách này có đúng hay không là điều do người đọc xác lập.

No book gains anything from dogmatic claims or declarations as to the authoritative value of its source of inspiration. It should stand or fall solely on the basis of its own intrinsic worth, on the value of the suggestions made, and its power to foster the spiritual life and the intellectual apprehension of the reader. If this treatise has within it anything of truth and of reality, it will inevitably and unfailingly do its work, carry its message, and thus reach the hearts and minds of searchers everywhere. If it is of no value, and has no basis in fact, it will disappear and die, and most rightly so. All that is asked from the student of this treatise is a sympathetic approach, a willingness to consider the views put forth and that honesty and sincerity of thought which will tend to the development of the intuition, of spiritual diagnosis, and a discrimination which will lead to a rejection of the false and an appreciation of the true.

Không cuốn sách nào đạt được điều gì nhờ những khẳng định giáo điều hay những tuyên bố về giá trị thẩm quyền của nguồn cảm hứng của nó. Nó nên đứng vững hay sụp đổ chỉ trên cơ sở giá trị nội tại của chính nó, trên giá trị của những gợi ý được đưa ra, và trên năng lực của nó trong việc nuôi dưỡng đời sống tinh thần và sự lĩnh hội trí tuệ của người đọc. Nếu luận thuyết này chứa đựng bất cứ điều gì thuộc về chân lý và thực tại, thì nó tất yếu và chắc chắn sẽ làm công việc của mình, chuyển tải thông điệp của mình, và như thế chạm đến trái tim và trí óc của những người tìm kiếm ở khắp nơi. Nếu nó không có giá trị gì và không có nền tảng trong sự kiện, nó sẽ biến mất và chết đi, và điều đó hoàn toàn đúng đắn. Tất cả những gì được yêu cầu nơi đạo sinh của luận thuyết này là một cách tiếp cận đầy cảm thông, một thiện chí xem xét những quan điểm được nêu ra, và sự trung thực cùng chân thành trong tư tưởng, những điều sẽ có khuynh hướng dẫn đến sự phát triển của trực giác, của sự chẩn đoán tinh thần, và của sự phân biện sẽ đưa đến việc bác bỏ điều sai lầm và trân trọng điều chân thật.

67. While TCF goes forth with no dogmatic assertions, we are asked to maintain:

67. Trong khi TCF được gửi ra mà không có những khẳng định giáo điều nào, chúng ta được yêu cầu duy trì:

1. A sympathetic approach

1. Một cách tiếp cận đầy cảm thông

2. A willingness to consider the various points of view put forth

2. Một thiện chí xem xét những quan điểm khác nhau được nêu ra

3. Honesty and sincerity of thought

3. Sự trung thực và chân thành trong tư tưởng

4. The cultivation (through honesty and sincerity of thought) of

4. Sự vun bồi (qua sự trung thực và chân thành trong tư tưởng) của

i. Intuition

i. Trực giác

ii. Spiritual diagnosis

ii. Sự chẩn đoán tinh thần

iii. Discrimination

iii. Sự phân biện

The words of the Buddha most appropriately have their place here, and make a fitting conclusion to these preliminary remarks:

Những lời của Đức Phật rất thích hợp để được đặt ở đây, và tạo thành một kết luận xứng đáng cho những nhận xét mở đầu này:

THE LORD BUDDHA HAS SAID

ĐỨC PHẬT ĐÃ DẠY

that we must not believe in a thing said merely because it is said; nor traditions because they have been handed down from antiquity; nor rumors, as such; nor writings by sages, because sages wrote them; nor fancies that we may suspect to have been inspired in us by a Deva (that is, in presumed spiritual inspiration); nor from inferences drawn from some haphazard assumption we may have made; nor [xvi] because of what seems an analogical necessity; nor on the mere authority of our teachers or masters. But we are to believe when the writing, doctrine, or saying is corroborated by our own reason and consciousness. ''For this," says he in concluding, "I taught you not to believe merely because you have heard, but when you believed of your consciousness, then to act accordingly and abundantly."

rằng chúng ta không được tin một điều chỉ vì nó được nói ra; cũng không tin các truyền thống chỉ vì chúng đã được truyền lại từ thời cổ xưa; cũng không tin những lời đồn như thế; cũng không tin các trước tác của các hiền triết chỉ vì các hiền triết đã viết ra chúng; cũng không tin những điều tưởng tượng mà chúng ta có thể ngờ là đã được một thiên thần gợi hứng trong chúng ta (nghĩa là, trong cái gọi là cảm hứng tinh thần); cũng không tin từ những suy luận rút ra từ một giả định ngẫu nhiên nào đó mà chúng ta có thể đã lập nên; cũng không [Page xvi] vì điều gì đó dường như là một tất yếu theo phép tương đồng; cũng không chỉ vì thẩm quyền của các huấn sư hay các chân sư của chúng ta. Nhưng chúng ta phải tin khi bài viết, giáo lý, hay lời nói được chính lý trí và tâm thức của chúng ta xác nhận. “Vì điều này,” Ngài nói khi kết luận, “Ta đã dạy các con không được tin chỉ vì các con đã nghe, mà khi các con đã tin bằng tâm thức của mình, thì hãy hành động theo đó một cách dồi dào.”

—Secret Doctrine III. 401.

—Giáo Lý Bí Nhiệm III. 401.

68. A great epistemological statement. Epistemology may be called the ‘science of knowledge’. It deals with the nature of knowing and the knowable.

68. Một phát biểu nhận thức luận vĩ đại. Nhận thức luận có thể được gọi là ‘khoa học về tri thức’. Nó bàn đến bản chất của sự biết và cái có thể được biết.

May this be the attitude of every reader of this ''Treatise on Cosmic Fire.''

Mong rằng đây sẽ là thái độ của mọi độc giả của ''Luận về Lửa Vũ Trụ.''

ALICE A. BAILEY.

ALICE A. BAILEY.

69. The Buddha was among the wisest of men. He is knows as the “Lord of Light” and the “Lord of Wisdom”.

69. Đức Phật là một trong những người minh triết nhất. Ngài được biết đến như “Chúa Tể của Ánh Sáng” và “Chúa Tể của Minh Triết”.

70. His approach to truth is cautious. He seeks to protect us from many of the usual foibles and idols of the mind.

70. Cách tiếp cận chân lý của Ngài rất thận trọng. Ngài tìm cách bảo vệ chúng ta khỏi nhiều nhược điểm và ngẫu tượng thường thấy của trí tuệ.

71. In the last analysis (as promoted in the Last Sermon of the Buddha), we have to rely upon ourselves.

71. Xét đến cùng (như được thúc đẩy trong Bài Thuyết Pháp Cuối Cùng của Đức Phật), chúng ta phải nương tựa vào chính mình.

Note:—In the footnotes throughout this treatise ''The Secret Doctrine" by H. P. Blavatsky is designated by the initials S.D. The page references are to the ''Third Revised Edition.''

Lưu ý:—Trong các chú thích xuyên suốt luận thuyết này, ''Giáo Lý Bí Nhiệm" của H. P. Blavatsky được ký hiệu bằng các chữ cái đầu S.D. Các tham chiếu trang là theo ''Ấn bản Tu chính Lần thứ Ba.''

72. This Third Revised Edition is not readily available in print, but the many references and citations found within TCF will help us access the parts of The Secret Doctrine which are supplementary to an understanding of TCF.

72. Ấn bản Tu chính Lần thứ Ba này không dễ tìm ở dạng in, nhưng nhiều tham chiếu và trích dẫn có trong TCF sẽ giúp chúng ta tiếp cận những phần của Giáo Lý Bí Nhiệm bổ sung cho sự thấu hiểu TCF.

[xvii]

[Page xvii]

FIRE

LỬA

"What says the esoteric teaching with regard to Fire?"

“Giáo huấn huyền bí nói gì về Lửa?”

Fire is the most perfect and unadulterated reflection, in Heaven as on earth, of the One Flame. It is life and death, the origin and the end of every material thing. It is divine Substance." [Page Substance is still principled and matter is not]

Lửa là sự phản chiếu hoàn hảo nhất và thuần khiết nhất, trên Trời cũng như dưới đất, của Một Ngọn Lửa. Nó là sự sống và cái chết, là khởi nguyên và chung cuộc của mọi sự vật vật chất. Nó là Chất Liệu thiêng liêng." [Page Chất liệu vẫn còn là nguyên khí còn vật chất thì không]

—Secret Doctrine I. 146.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 146.

73. We will try to come to an understanding of some essential factors: Flame, Fire and Divine Substance.

73. Chúng ta sẽ cố gắng đi đến sự thấu hiểu một số yếu tố cốt yếu: Ngọn Lửa, Lửa và Chất Liệu thiêng liêng.

74. “Heaven” represents the higher dimensions of nature. With respect to the cosmic physical plane, “Heaven” may be considered equivalent the four cosmic ethers.

74. “Trời” tượng trưng cho các chiều kích cao hơn của tự nhiên. Xét theo cõi hồng trần vũ trụ, “Trời” có thể được xem là tương đương với bốn dĩ thái vũ trụ.

75. The “One Flame” is the One Reality, Pure Being. “The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat.” (TCF 773)

75. “Một Ngọn Lửa” là Một Thực Tại, Bản Thể Thuần khiết. “Tia lửa treo từ ngọn lửa bằng sợi dây Fohat mảnh nhất.” (TCF 773)

76. “Fire” and “Flame” are often used interchangeably, but when thinking of the “One Flame”, it must be considered the origin of “Fire” and of all kinds of fires.

76. “Lửa” và “Ngọn Lửa” thường được dùng thay thế cho nhau, nhưng khi nghĩ đến “Một Ngọn Lửa”, nó phải được xem là nguồn gốc của “Lửa” và của mọi loại lửa.

77. Thus, “Fire” in this context, it to be considered the reflection of Flame.

77. Vì vậy, trong ngữ cảnh này, “Lửa” phải được xem là sự phản chiếu của Ngọn Lửa.

78. Philosophically, “Flame” is the noumenon of “Fire”, which is the phenomenon of “Flame”.

78. Về mặt triết học, “Ngọn Lửa” là bản thể của “Lửa”, còn “Lửa” là hiện tượng của “Ngọn Lửa”.

79. Does pure flame burn anything? Perhaps it does not. As there is naught else but Pure Being, Flame consumes itself and can be considered Self-existent.

79. Ngọn lửa thuần khiết có đốt cháy điều gì không? Có lẽ là không. Vì không có gì khác ngoài Bản Thể Thuần khiết, Ngọn Lửa tự tiêu thụ chính mình và có thể được xem là tự hữu.

80. When that which flames is dependent upon something to burn, you have fire, but Flame (in this ultimate context) may considered Self-consuming. Flame has only itself to consume. This is another way of saying that Pure Being is Self-sustaining.

80. Khi cái đang cháy lệ thuộc vào một cái gì đó để đốt, thì đó là lửa; nhưng Ngọn Lửa (trong ngữ cảnh tối hậu này) có thể được xem là tự tiêu thụ. Ngọn Lửa chỉ có chính nó để tiêu thụ. Đây là một cách khác để nói rằng Bản Thể Thuần khiết là tự duy trì.

81. Fires descend from the One Flame; analogically, God can only create from out Himself. (What else is there?)

81. Các lửa giáng xuống từ Một Ngọn Lửa; theo phép tương đồng, Thượng đế chỉ có thể sáng tạo từ chính Ngài. (Còn có gì khác nữa?)

82. Flame is pure essence and even “fire electric” is a reflection of it.

82. Ngọn Lửa là tinh túy thuần khiết và ngay cả “Lửa Điện” cũng là một sự phản chiếu của nó.

83. Pure Being is the ‘Unperceived Perceiver’, the ‘Ultimate Subject’. Flame is the ‘Ultimate Fire’. Flame abides as Essence throughout the duration of every universe, just as the Unmanifested Logos similarly abides.

83. Bản Thể Thuần khiết là ‘Đấng Tri Giác không bị tri giác’, ‘Chủ thể Tối hậu’. Ngọn Lửa là ‘Lửa Tối hậu’. Ngọn Lửa tồn tại như Tinh túy trong suốt thời lượng của mọi vũ trụ, cũng như Thượng đế Không Biểu Hiện cũng tồn tại tương tự như vậy.

84. Essential Flame is the Great Breath, the One Essential Motion. The Great Breath has no beginning and no end. From this perspective, Breath and Flame are equivalent.

84. Ngọn Lửa cốt yếu là Hơi Thở Vĩ Đại, Chuyển Động Cốt Yếu Duy Nhất. Hơi Thở Vĩ Đại không có khởi đầu và không có kết thúc. Từ góc nhìn này, Hơi Thở và Ngọn Lửa là tương đương.

85. The three aspects of divinity “Father”, “Son” and “Holy Spirit” are “Fires”. Flame, however, is pure Life/Being, of which “Father”, “Son” and “Holy Spirit” are aspects.

85. Ba phương diện của thiên tính “Cha”, “Con” và “Chúa Thánh Thần” là các “Lửa”. Tuy nhiên, Ngọn Lửa là Sự sống/Bản Thể thuần khiết, mà “Cha”, “Con” và “Chúa Thánh Thần” là các phương diện của nó.

86. Do not expect that there will be an easy consistency of terminology in these matters. Even in Theosophical works and charts, the terminology and the meaning of terms seem to vary.

86. Đừng mong đợi rằng sẽ có một sự nhất quán thuật ngữ dễ dàng trong những vấn đề này. Ngay cả trong các tác phẩm và biểu đồ Thông Thiên Học, thuật ngữ và ý nghĩa của các thuật ngữ dường như cũng thay đổi.

87. If we say of Fire that “it is life and death, the origin and the end of every material thing”, we mean that all things are both created and destroyed by Fire. The various fires in combination or association are the creation of material things; the various fires in dissociation are the destruction of all material things.

87. Nếu chúng ta nói về Lửa rằng “nó là sự sống và cái chết, là khởi nguyên và chung cuộc của mọi sự vật vật chất”, thì chúng ta muốn nói rằng Lửa vừa tạo ra vừa hủy diệt mọi sự vật. Các loại lửa khác nhau trong sự kết hợp hay liên kết là sự sáng tạo các sự vật vật chất; các loại lửa khác nhau trong sự phân ly là sự hủy diệt mọi sự vật vật chất.

88. The true origin and end of every material thing is the Divine Flame or Pure Being.

88. Khởi nguyên và chung cuộc đích thực của mọi sự vật vật chất là Ngọn Lửa thiêng liêng hay Bản Thể Thuần khiết.

89. If we call Fire by the term, “Divine Substance”, (as suggested above) we are reminded of the “Sea of Fire” on the systemic logoic plane. This plane, in relation to the cosmic physical plane, is the ‘location’ of that which can be considered systemic Mulaprakriti, but not of universal Mulaprakriti. When we think of Mulaprakriti in relation the systemic logoic plane, we are thinking only from the perspective of our solar system, and, instead of thinking of that which is truly homogeneous, we are dealing with differentiated matter (though matter of the least complex kind—systemically speaking—matter ‘nearest’ to homogeneity). The matter of the first subplane of the logoic plane approximates homogeneity more completely that any other matter in our solar system, but is still far from homogeneous. In other words, the first subplane matter of the systemic logoic plane is not really Universal Mulaprakriti.

89. Nếu chúng ta gọi Lửa bằng thuật ngữ “Chất Liệu thiêng liêng”, (như đã gợi ý ở trên) thì chúng ta được nhắc nhớ đến “Biển Lửa” trên cõi logoi hệ thống. Cõi này, trong tương quan với cõi hồng trần vũ trụ, là ‘vị trí’ của cái có thể được xem là Mulaprakriti hệ thống, nhưng không phải Mulaprakriti vũ trụ. Khi chúng ta nghĩ về Mulaprakriti trong liên hệ với cõi logoi hệ thống, chúng ta đang suy nghĩ chỉ từ quan điểm của hệ mặt trời chúng ta, và, thay vì nghĩ đến cái gì thật sự đồng nhất, chúng ta đang đề cập đến vật chất đã biến phân (dù là loại vật chất ít phức tạp nhất—xét theo hệ thống—loại vật chất ‘gần’ với tính đồng nhất nhất). Vật chất của cõi phụ thứ nhất của cõi logoi gần với tính đồng nhất hoàn toàn hơn bất kỳ loại vật chất nào khác trong hệ mặt trời chúng ta, nhưng vẫn còn rất xa tính đồng nhất. Nói cách khác, vật chất cõi phụ thứ nhất của cõi logoi hệ thống không thật sự là Mulaprakriti vũ trụ.

90. Philosophically, ‘Universal Mulaprakriti (i.e., Universal Pre-Genetic Matter) is the reflection or Self-perception of the Universal Spirit’. That Universal Spirit (or Universal Logos) is Flame expressing (in emanation) as a multiplicity Fires.

90. Về mặt triết học, ‘Mulaprakriti Vũ Trụ (tức là Vật Chất Tiền-Phát Sinh Vũ Trụ) là sự phản chiếu hay tự tri giác của Tinh thần Vũ Trụ’. Tinh thần Vũ Trụ đó (hay Thượng đế Vũ Trụ) là Ngọn Lửa biểu lộ (trong sự phát xạ) như nhiều Lửa.

91. We might say that ‘Fire-in-Mulaprakriti (taking Mulaprakriti as universal undifferentiated, “pre-genetic substance”) substands all manifestation, and is, thus, ‘sub-stance’.

91. Chúng ta có thể nói rằng ‘Lửa-trong-Mulaprakriti (lấy Mulaprakriti như chất liệu tiền-phát sinh, chưa biến phân, phổ quát) nâng đỡ từ bên dưới mọi biểu hiện, và do đó là ‘chất-liệu’.

92. Thus, when considering matter and substance as different, it is possible to think of Fire as substance. Universal Mulaprakriti, would then, be the ‘Self-reflection of the one homogeneous Divine Flame”. Fire (the active emanation of that One Flame) would work within Universal Mulaprakriti creating the differentiated universe.

92. Vì vậy, khi xem vật chất và chất liệu là khác nhau, thì có thể nghĩ về Lửa như chất liệu. Khi đó, Mulaprakriti vũ trụ sẽ là ‘sự tự phản chiếu của một Ngọn Lửa thiêng liêng đồng nhất duy nhất’. Lửa (sự phát xạ hoạt động của Một Ngọn Lửa đó) sẽ hoạt động trong Mulaprakriti vũ trụ để tạo ra vũ trụ đã biến phân.

93. Within our solar system, it would seem that the Fires of Spirit work upon relatively undifferentiated matter. But there may be problem with this supposition.

93. Trong hệ mặt trời của chúng ta, dường như các Lửa của tinh thần hoạt động trên vật chất tương đối chưa biến phân. Nhưng có thể có vấn đề với giả định này.

94. Metaphysical problem to be resolved: Do the ‘Creative Fires’ actually work upon universal, homogeneous, undifferentiated, pre-genetic matter (i.e., Universal Mulaprakriti) or do they work upon differentiated matter (which, even in its most homogenous condition is far from being Universal Mulaprakriti)? What we are asking is, “Is Universal Mulaprakriti the ‘Play Stuff’ of all great Creative Logoi, or only the ‘Play Stuff’ of the Spirit Aspect of the ‘First Universal Logoic Trinity’? Universal Mulaprakriti cannot be confined to any particular plane or subplane in cosmos as it is the Source of all planes and subplanes.

94. Vấn đề siêu hình cần được giải quyết: Phải chăng các ‘Lửa Sáng Tạo’ thật sự hoạt động trên vật chất tiền-phát sinh, phổ quát, đồng nhất, chưa biến phân (tức Mulaprakriti vũ trụ) hay chúng hoạt động trên vật chất đã biến phân (mà, ngay cả trong trạng thái đồng nhất nhất của nó, vẫn còn rất xa mới là Mulaprakriti vũ trụ)? Điều chúng ta đang hỏi là, “Phải chăng Mulaprakriti vũ trụ là ‘chất liệu vui chơi’ của mọi Thượng đế Sáng Tạo vĩ đại, hay chỉ là ‘chất liệu vui chơi’ của Phương diện Tinh thần của ‘Bộ Ba Logoic Vũ Trụ Thứ Nhất’? Mulaprakriti vũ trụ không thể bị giới hạn vào bất kỳ cõi hay cõi phụ đặc thù nào trong vũ trụ vì nó là Nguồn của mọi cõi và cõi phụ.

95. True Divine Substance however is not that which has been created by any Logos (such as the Third Universal Logos Who differentiated pre-genetic matter into its manifold parts). True Divine Substance (from the universal perspective) is Pure Being, Itself.

95. Tuy nhiên, Chất Liệu thiêng liêng đích thực không là cái do bất kỳ Thượng đế nào sáng tạo (chẳng hạn như Thượng đế Vũ Trụ Thứ Ba, Đấng đã biến phân vật chất tiền-phát sinh thành nhiều phần đa tạp của nó). Chất Liệu thiêng liêng đích thực (từ quan điểm vũ trụ) là chính Bản Thể Thuần khiết.

96. When we say this, we are using word “Substance” in a way somewhat in the manner that the philosopher Spinoza used it: Substance, for him was not only infinite, but was the INFINITE—i.e., the INFINITE GOD/DEITY. For him, “Substance” was ‘SUBSTANCE’.

96. Khi nói điều này, chúng ta đang dùng từ “Chất liệu” theo cách nào đó tương tự như cách triết gia Spinoza đã dùng: đối với ông, Chất liệu không chỉ là vô hạn, mà còn là chính ĐẤNG VÔ HẠN—tức THƯỢNG ĐẾ/THƯỢNG ĐẾ VÔ HẠN. Đối với ông, “Chất liệu” là ‘CHẤT LIỆU’.

97. It would seem that Spinoza’s definition of substance was very much deeper than the one we are using in relation to HPB’s statement above concerning “divine Substance”, for Spinoza equated Substance (really SUBSTANCE) with the Theosophical ABSOLUTE, the INFINITE DEITY.

97. Dường như định nghĩa của Spinoza về chất liệu sâu sắc hơn rất nhiều so với định nghĩa mà chúng ta đang dùng liên hệ với phát biểu của HPB ở trên về “Chất Liệu thiêng liêng”, vì Spinoza đã đồng nhất Chất liệu (thật ra là CHẤT LIỆU) với ĐẤNG TUYỆT ĐỐI của Thông Thiên Học, với THƯỢNG ĐẾ VÔ HẠN.

98. Returning to intra-Universe considerations, we might say that “Flame” antedates any of the Three “Outpourings”. The very word, “Outpouring” suggests an emanation from that which already exists.

98. Trở lại với những xem xét bên trong vũ trụ, chúng ta có thể nói rằng “Ngọn Lửa” có trước bất kỳ “Lần tuôn đổ” nào trong Ba “Lần tuôn đổ”. Chính từ “Lần tuôn đổ” gợi ý một sự phát xạ từ cái gì đó đã hiện hữu.

99. Divine Substance (considered as Fire), therefore, is not matter, for Fire works upon matter which already exists to be worked upon.

99. Vì vậy, Chất Liệu thiêng liêng (được xem như Lửa) không phải là vật chất, vì Lửa hoạt động trên vật chất vốn đã hiện hữu để được tác động lên.

100. Flame, when considered universally, reaches far beyond our solar system.

100. Ngọn Lửa, khi được xét theo nghĩa vũ trụ, vươn xa vượt ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

101. Universally considered, Flame (as the Divine Flame) antedates cosmic emanation of any kind. Flame is the Source if the three Primary Universal Emanations—Universal Electric Fire, Universal Solar Fire and Universal Fire by Friction.

101. Xét theo nghĩa vũ trụ, Ngọn Lửa (như Ngọn Lửa thiêng liêng) có trước mọi loại phát xạ vũ trụ. Ngọn Lửa là Nguồn của ba Phát Xạ Vũ Trụ Sơ Khởi—Lửa Điện Vũ Trụ, Lửa Thái dương Vũ Trụ và Lửa ma sát Vũ Trụ.

102. Two summary metaphysical reflections emerge from these rather abstract considerations:

102. Từ những xem xét khá trừu tượng này, hai suy tưởng siêu hình tổng kết xuất hiện:

1. Flame (the universal “Divine Flame”) is a conditioned “reflection” of the ABSOLUTE. The term ‘conditioned emanation’ can also be used.

1. Ngọn Lửa (Ngọn Lửa thiêng liêng “vũ trụ”) là một “sự phản chiếu” có điều kiện của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI. Thuật ngữ ‘phát xạ có điều kiện’ cũng có thể được dùng.

2. Fire is a ‘reflection’ or emanation of the Divine Flame.

2. Lửa là một ‘sự phản chiếu’ hay phát xạ của Ngọn Lửa thiêng liêng.

103. The universe is created through Self-perception.

103. Vũ trụ được sáng tạo qua sự tự tri giác.

104. From this perspective, the Unmanifested Logos is Flame, the point of Pure Being within the Trinity of “Electric Fire”/Father, “Solar Fire”/ “Son and “Fire by Friction” / “Holy Spirit”.

104. Từ góc nhìn này, Thượng đế Không Biểu Hiện là Ngọn Lửa, điểm của Bản Thể Thuần khiết bên trong Bộ Ba của “Lửa Điện”/Cha, “Lửa Thái dương”/“Con” và “Lửa ma sát”/“Chúa Thánh Thần”.

105. It should be noted that this definition of the “Unmanifested Logos” is different from that put forward in the beginning of TCF. There is always a danger of putting forth three ‘Originators’ and forgetting the fourth factor.. As here presented, however, the “Unmanifested Logos” is the “Point within the Triangle” or the ‘Peak of the Universal Tetrahedron’, and thus the one preceding the three, making, in all, four.

105. Cần lưu ý rằng định nghĩa này về “Thượng đế Không Biểu Hiện” khác với định nghĩa được nêu ra ở phần đầu TCF. Luôn luôn có nguy cơ đưa ra ba ‘Đấng Khởi Nguyên’ và quên mất yếu tố thứ tư.. Tuy nhiên, như được trình bày ở đây, “Thượng đế Không Biểu Hiện” là “Điểm trong Tam Giác” hay ‘Đỉnh của Tứ Diện Thể Vũ Trụ’, và do đó là một yếu tố đi trước ba, tạo thành tổng cộng là bốn.

106. Thus, the Universal Flame is ‘Pure-Being-in-Universe’.

106. Vì vậy, Ngọn Lửa Vũ Trụ là ‘Bản-Thể-Thuần-Túy-trong-Vũ-Trụ’.

107. Is Flame, then, finite or infinite? In one respect, Flame is finite, because the Universe (of which Flame is the ‘First Intelligible Cause’) ends repeatedly, cyclically, forever.

107. Vậy thì Ngọn Lửa là hữu hạn hay vô hạn? Ở một phương diện, Ngọn Lửa là hữu hạn, vì Vũ Trụ (mà Ngọn Lửa là ‘Nguyên Nhân Khả Tri Đầu Tiên’) chấm dứt lặp đi lặp lại, theo chu kỳ, mãi mãi.

108. The real first cause (which is not intelligible) is the ABSOLUTE (which cannot act, but from which ‘arises’ the ‘RAY’ {the “RAY of the ABSOLUTE”} which is the ORIGIN of successive universes.

108. Nguyên nhân đầu tiên thật sự (không phải là khả tri) là ĐẤNG TUYỆT ĐỐI (Đấng không thể hành động, nhưng từ đó ‘phát sinh’ ‘CUNG’ {“CUNG của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI”} là NGUỒN GỐC của các vũ trụ kế tiếp nhau.

109. Flame (considered as an extension of the “RAY of the ABSOLUTE”) is, from our perspective, ever-recurring and virtually infinite, because it is, conceivably, the ‘Representative’-in-Cosmos of the ABSOLUTE. (This must be pondered further)

109. Ngọn Lửa (được xem như một sự mở rộng của “CUNG của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI”) là, từ quan điểm của chúng ta, luôn tái diễn và hầu như vô hạn, vì có thể hình dung nó là ‘Đại diện’-trong-vũ-trụ của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI. (Điều này cần được suy ngẫm thêm)

110. Is the ‘Universal Trinity’ to be considered Flame or Fire? It is to be considered as Fire deriving (emanating from) Flame.

110. “Tam Vị Vũ Trụ” nên được xem là Ngọn Lửa hay Lửa? Nó phải được xem là Lửa phát sinh (phát xạ từ) Ngọn Lửa.

111. Philosophically, we might say that ‘Flame is the manifest RAY of the ABSOLUTE’ and is thus the ‘presence-in-cosmos of that which arose in the ABSOLUTE’

111. Về mặt triết học, chúng ta có thể nói rằng ‘Ngọn Lửa là CUNG biểu hiện của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI’ và do đó là ‘sự hiện diện-trong-vũ-trụ của cái đã phát sinh trong ĐẤNG TUYỆT ĐỐI’

112. There are some equivalences we must consider:

112. Có một số tương đương mà chúng ta phải xem xét:

1. the ‘RAY of the ABSOLUTE’

1. ‘CUNG của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI’

2. the ‘FIRST MOVEMENT’

2. ‘CHUYỂN ĐỘNG ĐẦU TIÊN’

3. the ‘GREAT EXHALATION’

3. ‘HƠI THỞ RA VĨ ĐẠI’

4. the NOUMENON of Flame, i.e., the ‘FLAME’ of Flame

4. BẢN THỂ của Ngọn Lửa, tức ‘NGỌN LỬA’ của Ngọn Lửa

113. Out of the foregoing arise that which can be expressed as additional equivalences:

113. Từ những điều trên phát sinh những gì có thể được diễn đạt như các tương đương bổ sung:

1. the ‘Universal’ Flame—(i.e., not the ‘FLAME of the Flame’)

1. Ngọn Lửa ‘Vũ Trụ’—(tức là không phải ‘NGỌN LỬA của Ngọn Lửa’)

2. Pure Being (cosmically considered)

2. Bản Thể Thuần khiết (xét theo nghĩa vũ trụ)

3. The Essential Universal Monad

3. Chân thần Vũ Trụ Cốt Yếu

4. The Unmanifested Logos

4. Thượng đế Không Biểu Hiện

5. The ‘Universal Point’ (within the Universal Triangle)

5. ‘Điểm Vũ Trụ’ (trong Tam Giác Vũ Trụ)

6. The Universal Spirit

6. Tinh thần Vũ Trụ

7. The ‘Cosmic Primordial Particle’

7. ‘Hạt Căn Nguyên Vũ Trụ’

8. Universal Life pervading Universal Spirit, Universal Soul, Universal Matter

8. Sự sống Vũ Trụ thấm nhuần Tinh thần Vũ Trụ, Linh hồn Vũ Trụ, Vật chất Vũ Trụ

114. The ‘RAY of the ABSOLUTE’ is the evidence of ‘Perpetual Super-Cosmic Dualism’

114. ‘CUNG của ĐẤNG TUYỆT ĐỐI’ là bằng chứng của ‘Nhị nguyên tính Siêu-Vũ-Trụ Vĩnh Cửu’

115. The flashing forth and retraction of the GREAT RAY is:

115. Sự lóe ra và thu hồi của CUNG VĨ ĐẠI là:

1. Super-Cosmic PERPETUAL MOTION

1. CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU Siêu-Vũ-Trụ

2. The ‘GREAT BREATH’

2. ‘HƠI THỞ VĨ ĐẠI’

116. This

116. Điều này

Our earth and man (are) the products of the Three Fires.

Trái Đất của chúng ta và con người là sản phẩm của Ba Lửa.

—Secret Doctrine II. 258.

—Giáo Lý Bí Nhiệm II. 258.

117. And his is true of all things in universe, for the Three Fires are, ultimately, the ‘Universal Trinity’, which, in a way, springs immediately out of the One—the ‘Omnipresent Point within the Triangle’

117. Và điều này cũng đúng với mọi sự trong vũ trụ, vì Ba Lửa, rốt ráo, là “Tam Vị Vũ Trụ”, theo một nghĩa nào đó, phát sinh trực tiếp từ Đấng Duy Nhất—“Điểm Toàn Hiện trong Tam Giác”

Fire and flame destroy the body of an Arhat; their essence makes him immortal.

Lửa và ngọn lửa hủy diệt thể nguyên nhân của một Arhat; tinh túy của chúng làm cho y trở nên bất tử.

—Secret Doctrine I. 35.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 35.

118. The word “flame” is not in capital letters, so it does not mean “Flame” (as Pure Being). Could “fire” here mean Solar Fire and “flame”, Fire-by-Friction? If so, this type of “flame” would be evidence of a more objective kind of Fire. Fire by Friction is a more objective fire than Solar Fire.

118. Từ “flame” không được viết hoa, nên nó không có nghĩa là “Flame” (như Bản Thể Thuần Khiết). Phải chăng “fire” ở đây có nghĩa là Lửa Thái dương và “flame” là Lửa ma sát? Nếu vậy, loại “flame” này sẽ là bằng chứng của một loại Lửa khách quan hơn. Lửa ma sát là một loại lửa khách quan hơn Lửa Thái dương.

119. The “body” here referred to is the “causal body”. According to the Tibetan’s descriptions of this destruction, all three types of fire contribute to the destruction of the causal body.

119. “Thân thể” được nói đến ở đây là “thể nguyên nhân”. Theo những mô tả của Chân sư Tây Tạng về sự hủy diệt này, cả ba loại lửa đều góp phần vào sự hủy diệt thể nguyên nhân.

120. The word “essence” refers to the One Flame. The immortality of any being arises from the fact that that being is essentially the “One Ray of the ABSOLUTE”.

120. Từ “essence” ám chỉ Một Ngọn Lửa. Tính bất tử của bất kỳ hữu thể nào phát sinh từ sự kiện rằng hữu thể ấy về bản chất là “MỘT CUNG của TUYỆT ĐỐI”.

121. The term “Arhat” means an initiate of the fourth degree.

121. Thuật ngữ “Arhat” có nghĩa là một điểm đạo đồ cấp bốn.

122. Man is already immortal and has only to discover that fact.

122. Con người đã bất tử rồi và chỉ cần khám phá ra sự kiện ấy.

123. At the heart of the monad is the “Ray of the Absolute”. The monad (as we usually think about it) is but a temporarily localization for the expression of the a ray within the “One Ray of the ABSOLUTE”

123. Tại trung tâm của chân thần là “Cung của Tuyệt Đối”. Chân thần (theo cách chúng ta thường nghĩ về nó) chỉ là một sự định vị tạm thời để biểu lộ một cung bên trong “MỘT CUNG của TUYỆT ĐỐI”

THE THREE FIRES

BA LỬA

I. The Internal Fire or Fire by Friction.

I. Nội Hỏa hay Lửa ma sát.

"There is heat internal and heat external in every atom, the breath of the Father (Spirit) and the breath (or heat) of the Mother (matter)."

"Trong mỗi nguyên tử đều có nhiệt bên trong và nhiệt bên ngoài, hơi thở của Cha (Tinh thần) và hơi thở (hay nhiệt) của Mẹ (vật chất)."

—Secret Doctrine I. 112.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 112.

The celestial Ocean, the 'Ether.... is the Breath of the Father, the life-giving principle, the Mother, the Holy Spirit,.... for these are not separated, and their union is LIFE." SD I 75

Đại Dương thiên giới, 'Dĩ thái.... là Hơi Thở của Cha, nguyên khí ban sự sống, Mẹ, Chúa Thánh Thần,.... vì những điều này không tách rời nhau, và sự hợp nhất của chúng là SỰ SỐNG." GLBN I 75

124. Note that “breath” is equated with “heat”. “Heat” is essentially motion, and breath is the cause of motion (as usually perceived), though, ultimately, breath is motion, itself.. The one beginningless, endless, perpetual motion is the “Great Breath”.

124. Lưu ý rằng “hơi thở” được đồng nhất với “nhiệt”. “Nhiệt” về bản chất là chuyển động, và hơi thở là nguyên nhân của chuyển động (theo cách thường được nhận biết), dù rằng, rốt ráo, hơi thở chính là chuyển động.. Chuyển động vĩnh cửu, không khởi đầu, không kết thúc duy nhất ấy là “Hơi Thở Vĩ Đại”.

125. If “heat” is considered to be ‘that which activates’ (for heat is measured by the degree of atomic or particulate activation), then the similarity between “heat” and “breath” is readily seen, for, occultly, “breath” is the great activator.

125. Nếu “nhiệt” được xem là ‘điều làm cho hoạt động’ (vì nhiệt được đo bằng mức độ hoạt hóa của nguyên tử hay hạt), thì sự tương đồng giữa “nhiệt” và “hơi thở” dễ dàng được nhận ra, vì, theo huyền bí học, “hơi thở” là tác nhân hoạt hóa vĩ đại.

126. We are dealing here with twofold internal fire—the fire of matter and the fire of ether.

126. Ở đây chúng ta đang bàn đến nội hỏa nhị phân—lửa của vật chất và lửa của dĩ thái.

127. It may be that HPB is using the terms “internal” and “external” in a special sense, different from the way DK develops these terms. In this case, it seems the term “internal” relates to Father (Spirit) and “external” to Mother (matter). When DK uses the term “internal” (especially as it is related to fire), He means a ‘lower’ and more material type of fire, with a higher type of fire “radiatory fire” being more “external” in the sense that it is not found in the depths of matter.

127. Có thể HPB đang dùng các thuật ngữ “bên trong” và “bên ngoài” theo một nghĩa đặc biệt, khác với cách Chân sư DK triển khai các thuật ngữ này. Trong trường hợp này, có vẻ như thuật ngữ “bên trong” liên hệ với Cha (Tinh thần) và “bên ngoài” liên hệ với Mẹ (vật chất). Khi Chân sư DK dùng thuật ngữ “bên trong” (đặc biệt khi nó liên hệ với lửa), Ngài muốn nói đến một loại lửa ‘thấp’ hơn và vật chất hơn, còn một loại lửa cao hơn là “lửa bức xạ” thì “bên ngoài” hơn theo nghĩa là nó không được tìm thấy trong chiều sâu của vật chất.

128. However, the “Breath of the Father (Spirit)” could be considered “external” to the recipient of that Breath.

128. Tuy nhiên, “Hơi Thở của Cha (Tinh thần)” có thể được xem là “bên ngoài” đối với kẻ tiếp nhận Hơi Thở ấy.

129. The order or terms found in the sentence, however, makes HPB’s use of “internal” and “external” seem different from the one that DK develops in TCF.

129. Tuy nhiên, trật tự các thuật ngữ trong câu khiến cách HPB dùng “bên trong” và “bên ngoài” dường như khác với cách mà Chân sư DK triển khai trong Luận về Lửa Vũ Trụ.

130. Points Emerging in Group Discussion:

130. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

1. The very first pre-universal MOVEMENT is a BREATH OF FLAME

1. CHUYỂN ĐỘNG tiền-vũ-trụ đầu tiên chính là MỘT HƠI THỞ CỦA NGỌN LỬA

2. The GREAT BREATH is PERPETUAL MOTION.

2. HƠI THỞ VĨ ĐẠI là CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU.

3. The most Fundamental Duality appears as the apparent alternation between NOTHINGNESS and Somethingness—even though there is a FUNDAMENTAL MOTIONLESSNESS which is predicated of THE BOUNDLESS IMMUTABLE PRINCIPLE

3. Nhị nguyên tính căn bản nhất xuất hiện như sự luân phiên biểu kiến giữa HƯ VÔ và Hữu Thể—dù rằng có một TÍNH BẤT ĐỘNG CĂN BẢN được quy cho NGUYÊN KHÍ VÔ BIÊN BẤT BIẾN

4. Thus, there is a seemingly inherent contradiction at the ROOT OF BEING.

4. Do đó, có một mâu thuẫn cố hữu dường như hiện diện tại CỘI NGUỒN CỦA BẢN THỂ.

i. Inviolate IMMUTABILITY,

i. TÍNH BẤT BIẾN bất khả xâm phạm,

ii. and yet PERPETUAL MOTION—or PERPETUAL MUTABILITY

ii. và thế nhưng CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU—hay TÍNH KHẢ BIẾN VĨNH CỬU

5. Both PERPETUAL MOTION and ABSOLUTE IMMUTABILITY are built into the nature of things.

5. Cả CHUYỂN ĐỘNG VĨNH CỬU lẫn TÍNH BẤT BIẾN TUYỆT ĐỐI đều vốn có trong bản chất của vạn vật.

6. If the first two Fundamentals of the Secret Doctrine are to be given credence, this fundamental contradiction cannot be escaped.

6. Nếu hai Căn Bản đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm đáng được tin nhận, thì mâu thuẫn căn bản này không thể tránh khỏi.

II. The Fire of Mind or Solar Fire.

II. Lửa của Trí Tuệ hay Lửa Thái dương.

“The fire of knowledge burns up all action on the plane of illusion, therefore those who have acquired it and are emancipated are called ‘Fires.’”

“Lửa của tri thức thiêu hủy mọi hành động trên cõi ảo tưởng, vì thế những ai đã đạt được nó và được giải thoát thì được gọi là ‘Những Lửa.’”

—Secret Doctrine I.114.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I.114.