← Commentary_S1_1_133 Song ngữ

INTRODUCTORY POSTULATES

Trích nội dung chương

131. We are dealing with true knowledge and not the relative, fallible knowledge of the concrete mind. 131. Ở đây chúng ta đang bàn đến chân tri thức chứ không phải loại tri thức tương đối, có thể sai lầm của trí cụ thể.


131. We are dealing with true knowledge and not the relative, fallible knowledge of the concrete mind.

131. Ở đây chúng ta đang bàn đến chân tri thức chứ không phải loại tri thức tương đối, có thể sai lầm của trí cụ thể.

132. From the high perspective, the “plane of illusion” may be considered the eighteen lower subplanes of the systemic physical plane.

132. Từ góc nhìn cao hơn, “cõi ảo tưởng” có thể được xem là mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần hệ thống.

133. The “plane of illusion” may also be considered the plane of lower mind, and the burning here reference is the overcoming of the illusions of the lower mind.

133. “Cõi ảo tưởng” cũng có thể được xem là cõi hạ trí, và sự thiêu đốt được nói đến ở đây là sự vượt thắng các ảo tưởng của hạ trí.

134. Buddhi, or intuition, is necessary for the destruction of illusion (just as mind is necessary for the destruction of glamor), so in this “fire of knowledge” some element of “straight knowledge” or buddhi has to be present.

134. Bồ đề, hay trực giác, là điều cần thiết để hủy diệt ảo tưởng (cũng như trí tuệ là điều cần thiết để hủy diệt ảo cảm), vì vậy trong “lửa của tri thức” này phải có hiện diện một yếu tố nào đó của “chân tri thức” hay Bồ đề.

135. In a wider sense, the plane of illusion may be considered, the physical, astral, and mental systemic planes”. The term “illusion” would then be used generally, as meaning any kind of mistake or distortion and would be equivalent to the Sanskrit term, “Maya”. The higher mind (soul-mind and triadal mind) overcomes the usual illusions encountered in the three worlds—i.e., on the eighteen lower subplanes of the cosmic physical plane.

135. Theo nghĩa rộng hơn, cõi ảo tưởng có thể được xem là các cõi hồng trần, cảm dục và trí của hệ thống”. Khi ấy, thuật ngữ “ảo tưởng” sẽ được dùng theo nghĩa tổng quát, như chỉ bất kỳ loại sai lầm hay méo mó nào, và sẽ tương đương với thuật ngữ Sanskrit “Maya”. Thượng trí (trí tuệ-linh hồn và trí tuệ tam nguyên) vượt thắng các ảo tưởng thông thường gặp phải trong ba cõi giới—tức là trên mười tám cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

136. It is not just any kind of knowledge that overcomes illusion but, rather, “straight knowledge”, which is the intuition, pure reason.

136. Không phải bất kỳ loại tri thức nào cũng vượt thắng được ảo tưởng, mà đúng hơn là “chân tri thức”, tức trực giác, lý trí thuần khiết.

137. On a higher turn of the spiral, could the “fire of knowledge” be related to atma, for the atmic plane (being the third plane) is, therefore, a mental plane? If so, then in a higher and wider sense, all the fires of the spiritual triad would be the “fire of knowledge”.

137. Ở một vòng xoắn cao hơn của đường xoắn ốc, phải chăng “lửa của tri thức” có thể liên hệ với atma, vì cõi atma (là cõi thứ ba) do đó là một cõi trí? Nếu vậy, thì theo một nghĩa cao hơn và rộng hơn, mọi lửa của Tam Nguyên Tinh Thần đều sẽ là “lửa của tri thức”.

138. Is the spiritual triad solar fire or is it electric fire? Or some combination? Probably some combination, because the spiritual triad has the same ray as the causal body (which, therefore, relates it to the solar fire manifesting through the casual body), but the spiritual triad is considered to be the personality expression of the monad (and the monad is that part of ourselves which relates, generically, to the first ray and to electric fire.

138. Tam Nguyên Tinh Thần là lửa thái dương hay là Lửa Điện? Hay là một sự kết hợp nào đó? Có lẽ là một sự kết hợp, vì Tam Nguyên Tinh Thần có cùng cung với thể nguyên nhân (do đó liên hệ nó với lửa thái dương biểu hiện qua thể nguyên nhân), nhưng Tam Nguyên Tinh Thần được xem là biểu hiện phàm ngã của chân thần (và chân thần là phần của chúng ta liên hệ, theo nghĩa tổng quát, với cung một và với Lửa Điện.

139. One who is liberated from the causal body is called a “fire”. And a “fire” is a “soul”.

139. Người được giải thoát khỏi thể nguyên nhân được gọi là một “lửa”. Và một “lửa” là một “linh hồn”.

140. A true soul is a spiritual triad. The causal body is but the ‘shroud of the soul’.

140. Một linh hồn chân thực là Tam Nguyên Tinh Thần. Thể nguyên nhân chỉ là ‘tấm khăn liệm của linh hồn’.

141. Solar fire is the “fire of mind”--but the fire of higher mind, and includes some buddhic influence (for buddhi is the plane of love and harmony and solar fire is the fire of love-wisdom). And, as we suggested, the fire of the spiritual triad may be considered, in an elevated sense, influenced by solar fire.

141. Lửa Thái dương là “lửa của trí tuệ”—nhưng là lửa của thượng trí, và bao gồm một số ảnh hưởng Bồ đề (vì Bồ đề là cõi của bác ái và hài hòa, còn lửa thái dương là lửa của Bác Ái – Minh Triết). Và, như chúng ta đã gợi ý, lửa của Tam Nguyên Tinh Thần có thể được xem, theo một nghĩa cao hơn, là chịu ảnh hưởng của lửa thái dương.

142. What, however, is mind? This question will be dealt with on many pages of TCF.

142. Tuy nhiên, trí tuệ là gì? Câu hỏi này sẽ được đề cập đến trong nhiều trang của Luận về Lửa Vũ Trụ.

143. Briefly, it is a creative, patterning faculty—the faculty which detects patterns and builds patterns.

143. Nói ngắn gọn, đó là một năng lực sáng tạo, tạo mô hình—năng lực nhận ra các mô hình và xây dựng các mô hình.

144. Points Emerging in Group Discussion:

144. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

1. An interpretation was offered in the Ojai class: this statement in Stanza of Dzyan I, indicates the elimination of identifications we have had over many aeons. Those identifications are extinguished.

1. Một cách diễn giải đã được đưa ra trong lớp học Ojai: phát biểu này trong Bài kệ Dzyan I cho thấy sự loại bỏ những đồng hóa mà chúng ta đã có trong nhiều đại kiếp. Những đồng hóa ấy bị dập tắt.

2. It was also said that when lower type of action is eliminated higher action takes its place—solar action.

2. Cũng có ý kiến cho rằng khi loại hành động thấp hơn bị loại bỏ thì hành động cao hơn thay thế nó—hành động thái dương.

3. Why action? The level of action is first destroyed.

3. Tại sao lại là hành động? Cấp độ hành động là điều bị hủy diệt trước tiên.

4. It was suggested that intuition destroys illusion. “Knowledge”, as here discussed, is, therefore, intuition.

4. Có ý kiến cho rằng trực giác hủy diệt ảo tưởng. Vì vậy, “tri thức”, như được bàn ở đây, chính là trực giác.

5. The “plane of illusion” can also be the astral plane, but not in this case.

5. “Cõi ảo tưởng” cũng có thể là cõi cảm dục, nhưng không phải trong trường hợp này.

6. A true soul is a true fire—a true soul is the consciousness manifesting through the spiritual triad, and may be called a “Triad”. The triangle is an oft used symbol for the soul..

6. Một linh hồn chân thực là một lửa chân thực—một linh hồn chân thực là tâm thức biểu hiện qua Tam Nguyên Tinh Thần, và có thể được gọi là một “Tam Nguyên”. Tam giác là một biểu tượng thường được dùng cho linh hồn..

7. What is the “Illusion of the Mind”? May we say that perceiving the inviolable unity of things in pieces is an illusion. Separation and illusion go hand in hand. The misuse of the energy of the Third Ray Lord (Who is called “The Divine Separator”) leads to the Great Illusion of separation..

7. “Ảo Tưởng của Trí Tuệ” là gì? Chúng ta có thể nói rằng việc nhận thức sự hợp nhất bất khả xâm phạm của vạn vật thành từng mảnh là một ảo tưởng. Sự phân ly và ảo tưởng đi đôi với nhau. Việc lạm dụng năng lượng của Đấng Chúa Tể Cung ba (Đấng được gọi là “Đấng Phân Ly Thiêng Liêng”) dẫn đến Đại Ảo Tưởng về sự phân ly..

8. Additional thoughts pointed to the “specific gravity” of the causal body. When a particular “specific gravity” is achieved in the causal body, it is ready for destruction. In more common language, when there is enough “weight”, that body can be burned. There are parallels to the destruction of the causal body and the destruction of a star.

8. Những suy nghĩ bổ sung đã hướng đến “trọng lượng riêng” của thể nguyên nhân. Khi một “trọng lượng riêng” nhất định đạt được trong thể nguyên nhân, nó sẵn sàng để bị hủy diệt. Nói theo ngôn ngữ thông thường hơn, khi có đủ “trọng lượng”, thể ấy có thể bị thiêu đốt. Có những điểm song song giữa sự hủy diệt thể nguyên nhân và sự hủy diệt của một ngôi sao.

9. An interesting definition of the monad was offered, as conceived by the philosopher Leibniz: “a simple substance with a point of view”.

9. Một định nghĩa thú vị về chân thần đã được nêu ra, theo cách nhà triết học Leibniz quan niệm: “một chất liệu đơn giản với một điểm nhìn”.

III. The Fire of Spirit or Electric Fire.

III. Lửa của Tinh thần hay Lửa Điện.

"Lift up thy head, O Lanoo; dost thou see one, or countless lights above thee, burning in the dark midnight sky?''

"Hãy ngẩng đầu lên, hỡi Lanoo; ngươi có thấy một hay vô số ánh sáng trên đầu ngươi, đang cháy trong bầu trời đêm tối đen không?''

145. The Lanoo must look up. He must lift his head. This suggests that his perspective has been too focussed on the Earth, i.e., on immediate matters.

145. Lanoo phải nhìn lên. Y phải ngẩng đầu lên. Điều này gợi ý rằng viễn tượng của y đã quá tập trung vào Trái Đất, tức là vào những vấn đề trước mắt.

146. We are dealing with the paradox of the Many and the One in terms of light.

146. Ở đây chúng ta đang bàn đến nghịch lý của Cái Nhiều và Cái Một xét theo ánh sáng.

147. When we perceive the Many, do we also perceive the One? When we perceive the One do we also perceive the Many.

147. Khi chúng ta nhận thức Cái Nhiều, liệu chúng ta có đồng thời nhận thức Cái Một không? Khi chúng ta nhận thức Cái Một, liệu chúng ta có đồng thời nhận thức Cái Nhiều không.

"I sense one Flame, O Gurudeva; I see countless Undetached sparks shining in it."

"Con cảm nhận một Ngọn Lửa, hỡi Gurudeva; con thấy vô số tia lửa Không Tách Rời đang chiếu sáng trong đó."

—Secret Doctrine I. 145.

—Giáo Lý Bí Nhiệm I. 145.

148. We are speaking of a differentiation within One Thing, i.e., of emanations.

148. Chúng ta đang nói về một sự biến phân bên trong Một Thực Tại, tức là về các phát xạ.

149. An emanation is a going forth from the Source without detaching from the Source, and while, in fact, remaining in the Source.

149. Một phát xạ là sự đi ra từ Nguồn mà không tách khỏi Nguồn, và trong thực tế vẫn ở trong Nguồn.

150. The “one Flame” is the ‘Flame of Pure Being’ from which all monads or “seeds of spirit’ emanate.

150. “Một Ngọn Lửa” là ‘Ngọn Lửa của Bản Thể Thuần Khiết’ từ đó mọi chân thần hay “hạt giống của tinh thần” phát xạ ra.

151. “Undetached sparks” [attached] are also, essentially, the “RAY of the ABSOLUTE”.

151. Những “tia lửa không tách rời” [gắn liền] cũng, về bản chất, là “CUNG của TUYỆT ĐỐI”.

152. Fohat is an extension of the One Ray of the ABSOLUTE.

152. Fohat là một sự mở rộng của MỘT CUNG của TUYỆT ĐỐI.

153. The factuality of our spiritual oneness is presented in this catechism.

153. Tính thực tại của sự hợp nhất tinh thần của chúng ta được trình bày trong phần vấn đáp giáo lý này.

154. The “sparks” are the essence of “electric fire”. The “One Flame” is beyond and more essential than electric fire. It is Life.

154. Những “tia lửa” là tinh túy của “Lửa Điện”. “Một Ngọn Lửa” vượt lên trên và cốt yếu hơn Lửa Điện. Nó là Sự Sống.

155. The essential message of this statement is that we (as “sparks”) are not detached from our Source.

155. Thông điệp cốt yếu của phát biểu này là rằng chúng ta (như những “tia lửa”) không tách rời khỏi Nguồn của mình.

156. When viewing a physical fire, sparks usually detach from the flame. We and all beings, however, are “sparks” which remain undetached from the One Flame.

156. Khi quan sát một ngọn lửa hồng trần, các tia lửa thường tách khỏi ngọn lửa. Tuy nhiên, chúng ta và mọi hữu thể đều là những “tia lửa” vẫn không tách rời khỏi Một Ngọn Lửa.

“Matter [personality] is the Vehicle for the manifestation of Soul on this plane of existence, and Soul is the Vehicle on a higher plane for the manifestation of Spirit and these three are a Trinity, synthesised by Life, which pervades them all.” (SD I 80)

“Vật chất [phàm ngã] là Vận cụ cho sự biểu hiện của Linh hồn trên cõi hiện hữu này, và Linh hồn là Vận cụ trên một cõi cao hơn cho sự biểu hiện của Tinh thần và ba điều này là một Tam Vị, do Sự Sống tổng hợp, và Sự Sống thấm nhuần tất cả chúng.” (GLBN I 80)

157. In this famous quotation from The Secret Doctrine the Trinity plus the One are set forth. This can be symbolized by the sacred Triangle with the point in the center.

157. Trong trích dẫn nổi tiếng này từ Giáo Lý Bí Nhiệm, Tam Vị cộng với Đấng Duy Nhất được trình bày. Điều này có thể được biểu tượng hóa bằng Tam Giác thiêng liêng với điểm ở trung tâm.

[xviii]

[Page xviii]

CONTENTS

MỤC LỤC

SECTION ONE. THE INTERNAL FIRES—FIRE BY FRICTION

PHẦN MỘT. CÁC NỘI HỎA—LỬA MA SÁT

158. All internal fires come under the heading of “Fire by Friction”.

158. Mọi nội hỏa đều thuộc đề mục “Lửa ma sát”.

159. The Table of Contents below may not mean too much to us at the outset of our study, but later, reviewing it, we shall see where we have been and shall, perhaps, realize why.

159. Bảng Mục Lục dưới đây lúc khởi đầu việc học của chúng ta có thể chưa mang nhiều ý nghĩa, nhưng về sau, khi xem lại nó, chúng ta sẽ thấy mình đã đi qua đâu và có lẽ sẽ nhận ra lý do tại sao.

Introductory Remarks

Nhận xét mở đầu

Division A. Of the Sheaths macrocosmic and micro cosmic

Phân mục A. Về các lớp vỏ của đại thiên địa và tiểu thiên địa

Division B. The Personality Ray and the first fire

Phân mục B. Cung phàm ngã và ngọn lửa thứ nhất

Division C. Prana and the etheric body

Phân mục C. Prana và thể dĩ thái

Division D. Kundalini and the spine

Phân mục D. Kundalini và cột sống

Division E. Motion on the physical and astral planes

Phân mục E. Chuyển động trên cõi hồng trần và cõi cảm dục

1. In the Sheaths

1. Trong các lớp vỏ

2. In the Centres

2. Trong các trung tâm

Division F. The Law of Economy

Phân mục F. Định luật Tiết Kiệm

SECTION TWO. THE FIRE OF MIND—SOLAR FIRE

PHẦN HAI. LỬA CỦA TRÍ TUỆ—LỬA THÁI DƯƠNG

Introductory Questions

Những câu hỏi mở đầu

Division A. The Nature of Manas or Mind

Phân mục A. Bản chất của Manas hay Trí Tuệ

Division B. Manas as a cosmic, systemic and human factor

Phân mục B. Manas như một yếu tố vũ trụ, hệ thống và nhân loại

Division C. The Egoic Ray and solar fire

Phân mục C. Cung chân ngã và lửa thái dương

Division B. Thought elementals and fire elementals

Phân mục B. Các hành khí tư tưởng và các hành khí lửa

Division E. Motion on the plane of mind

Phân mục E. Chuyển động trên cõi trí

Division F. The Law of Attraction

Phân mục F. Định luật Hấp Dẫn

SECTION THREE. THE FIRE OF SPIRIT—ELECTRIC FIRE

PHẦN BA. LỬA CỦA TINH THẦN—LỬA ĐIỆN

Division A. Certain basic fundamentals

Phân mục A. Một số căn bản cơ yếu

Division B. The Nature of the seven cosmic paths

Phân mục B. Bản chất của bảy con đường vũ trụ

Division C. Seven esoteric stanzas

Phân mục C. Bảy bài kệ huyền bí

The above tabulation of the subjects dealt with in this treatise is of very real importance, for it forms the basis of that which we shall be considering. The total lack of a wider consciousness than the individual and the personal, acts as a bar to the true comprehension of things macrocosmic, but if the occult method is adhered to, if the Law of Correspondences is studied, and if we ever reason upward from the microcosm to the greater Whole, then glimpses will be caught of vast realms of realisation and vistas of spiritual unfoldment will open up before us, undreamt of hitherto.

Bảng liệt kê các chủ đề được bàn đến trong bộ luận này ở trên có tầm quan trọng rất thực sự, vì nó tạo thành nền tảng cho điều mà chúng ta sẽ xem xét. Sự thiếu vắng hoàn toàn một tâm thức rộng lớn hơn cái cá nhân và cái riêng tư là một chướng ngại đối với sự thấu hiểu chân thực những điều thuộc đại thiên địa, nhưng nếu phương pháp huyền bí học được tuân thủ, nếu định luật tương ứng được nghiên cứu, và nếu chúng ta luôn suy luận đi lên từ tiểu thiên địa đến Toàn Thể lớn lao hơn, thì những thoáng thấy về các lĩnh vực rộng lớn của sự chứng nghiệm và những viễn cảnh của sự khai mở tinh thần sẽ mở ra trước mắt chúng ta, vượt ngoài mọi mơ tưởng từ trước đến nay.

160. Master DK intends to widen our consciousness by enabling us to catch “glimpses…of vast realms of realisation and vistas of spiritual unfoldment…undreamt of hitherto.”

160. Chân sư DK có ý định mở rộng tâm thức của chúng ta bằng cách giúp chúng ta nắm bắt được “những thoáng thấy… về các lĩnh vực rộng lớn của sự chứng nghiệm và những viễn cảnh của sự khai mở tinh thần… vượt ngoài mọi mơ tưởng từ trước đến nay.”

161. Many of us find ourselves embroiled largely in the individual and the personal, and thus we have been barred from catching these life-giving glimpses.

161. Nhiều người trong chúng ta thấy mình phần lớn bị cuốn vào cái cá nhân và cái riêng tư, và vì thế đã bị ngăn trở không nắm bắt được những thoáng thấy ban sự sống ấy.

162. To correct this situation, we are asked to

162. Để sửa chữa tình trạng này, chúng ta được yêu cầu

1. Adhere to the occult method

1. Tuân theo phương pháp huyền bí học

2. Study the Law of Correspondences

2. Nghiên cứu Định luật Tương Ứng

3. Reason upward from the microcosm to the greater Whole

3. Suy luận đi lên từ tiểu thiên địa đến Toàn Thể lớn lao hơn

163. If we do this “vast realms of realisation” may dawn upon our consciousness and our ‘being in this world’ and our service in this world will, inevitably, be improved.

163. Nếu chúng ta làm như vậy, “những lĩnh vực rộng lớn của sự chứng nghiệm” có thể bừng sáng trong tâm thức chúng ta và sự ‘hiện hữu trong thế giới này’ cùng sự phụng sự của chúng ta trong thế giới này tất yếu sẽ được cải thiện.

FULL PAGE TABULATIONS

CÁC BẢNG LIỆT KÊ TOÀN TRANG

I. FIRE AND THE ASPECTS

I. LỬA VÀ CÁC PHƯƠNG DIỆN

II. EVOLUTION IN THE UNIVERSE

II. TIẾN HOÁ TRONG VŨ TRỤ

III. THE ASPECTS AND EVOLUTION

III. CÁC PHƯƠNG DIỆN VÀ TIẾN HOÁ

IV. THE BUILDING ENTITIES

IV. CÁC THỰC THỂ KIẾN TẠO

V. AGNI-LORD OF FIRE

V. AGNI—CHÚA TỂ CỦA LỬA

VI. THE LIVES AND THEIR GOAL

VI. CÁC SỰ SỐNG VÀ MỤC TIÊU CỦA CHÚNG

VII. ENERGIES

VII. CÁC NĂNG LƯỢNG

[Page 3]

[Page 3]

INTRODUCTORY POSTULATES

NHỮNG TIỀN ĐỀ MỞ ĐẦU

The teaching which is given in this Treatise on Cosmic Fire might be formulated in the following terms. These postulates are simply extensions of the three fundamentals to be found in the Proem in the first volume of the Secret Doctrine by H. P. Blavatsky. 1 Students are recommended to study them carefully; in this way their understanding of the Treatise will be greatly aided.

Giáo huấn được đưa ra trong Luận về Lửa Vũ Trụ này có thể được phát biểu theo những thuật ngữ sau đây. Những tiền đề này chỉ đơn giản là sự mở rộng của ba căn bản được tìm thấy trong Lời Mở Đầu ở quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm của H. P. Blavatsky. 1 Các đạo sinh được khuyến nghị nghiên cứu chúng cẩn thận; bằng cách này, sự thấu hiểu của họ về bộ Luận sẽ được hỗ trợ rất nhiều.

164. It is worth while to read the Proem.

164. Đáng để đọc Lời Mở Đầu.

165. We are beginning at the beginning. If we can grasp the meaning of these three fundamentals, we shall be on far steadier ground as we study.

165. Chúng ta đang bắt đầu từ khởi đầu. Nếu chúng ta có thể nắm được ý nghĩa của ba căn bản này, chúng ta sẽ đứng trên nền tảng vững chắc hơn nhiều khi học.

166. DK has extended the three fundamentals for our greater understanding.

166. Chân sư DK đã mở rộng ba căn bản ấy để chúng ta thấu hiểu nhiều hơn.

I. There is one Boundless Immutable Principle; one Absolute Reality which, antecedes all manifested conditioned Being. It is beyond the range and reach of any human thought or expression.

I. Có một Nguyên Khí Vô Biên Bất Biến; một Thực Tại Tuyệt Đối đi trước mọi Hữu Thể biểu hiện có điều kiện. Nó vượt ngoài phạm vi và tầm với của bất kỳ tư tưởng hay diễn đạt nào của con người.

167. We cannot even think the nature of this BOUNDLESS IMMUTABLE PRINCIPLE.

167. Chúng ta thậm chí không thể nghĩ về bản chất của NGUYÊN KHÍ VÔ BIÊN BẤT BIẾN này.

168. We know only that IT is boundless (therefore infinite) and immutable (therefore, forever changeless).

168. Chúng ta chỉ biết rằng NÓ là vô biên (do đó là vô hạn) và bất biến (do đó là mãi mãi không đổi).

169. Though we cannot think it nor speak it, we call it by many names. The ABSOLUTE is one such. I think I devise about 240 names for the NAMELESS ONE.

169. Dù chúng ta không thể nghĩ về nó hay nói về nó, chúng ta vẫn gọi nó bằng nhiều tên. TUYỆT ĐỐI là một tên như thế. Tôi nghĩ tôi đã nghĩ ra khoảng 240 tên cho Đấng Vô Danh.

170. We must consider this NO-THING as ‘BE-NESS’ (one of HPB’s names for it). It is CHANGLESS PERFECTION, but if we attempt to say so, we will immediately be presented with insoluble paradoxes.

170. Chúng ta phải xem PHI-VẬT này như ‘BẢN THỂ’ (một trong những tên HPB dùng cho nó). Nó là SỰ TOÀN HẢO BẤT BIẾN, nhưng nếu chúng ta cố nói như vậy, chúng ta sẽ ngay lập tức đối diện với những nghịch lý không thể giải quyết.

171. ITS very nature is paradox. IT is everything and nothing and neither of these. IT is the SUPREME MYSTERY.

171. Chính bản chất của NÓ là nghịch lý. NÓ là mọi sự và không là gì cả và cũng không phải cả hai điều ấy. NÓ là HUYỀN NHIỆM TỐI THƯỢNG.

172. The amazing thing is all this is that ‘we’ are IT.

172. Điều đáng kinh ngạc trong tất cả điều này là ‘chúng ta’ chính là NÓ.

173. Those who would like to go more deeply into this subject are recommended to my Infinitization of Selfhood, where I deal with the matter exhaustively. (At least, it exhausted ‘me’.)

173. Những ai muốn đi sâu hơn vào chủ đề này được khuyến nghị đọc tác phẩm Infinitization of Selfhood của tôi, nơi tôi bàn đến vấn đề này một cách toàn diện. (Ít nhất, nó đã làm ‘tôi’ kiệt sức.)

174. Points and Questions Emerging in Class Discussion:

174. Những Điểm và Câu Hỏi Nổi Lên Trong Thảo Luận Lớp Học:

1. Can a number be considered a conditioned symbol of the Zero. How can finitude be a conditioned symbol of INFINITUDE?

1. Một con số có thể được xem là một biểu tượng có điều kiện của Số Không hay không. Làm sao cái hữu hạn có thể là một biểu tượng có điều kiện của VÔ HẠN?

2. From Nagarjuna we understand that the ABSOLUTE cannot create. But can IT become? Yet if IT can become, how it this possible if IT is also IMMUTABLE?

2. Từ Nagarjuna, chúng ta hiểu rằng TUYỆT ĐỐI không thể sáng tạo. Nhưng liệu NÓ có thể trở thành? Tuy nhiên, nếu NÓ có thể trở thành, thì điều này có thể như thế nào nếu NÓ cũng là BẤT BIẾN?

3. It was agreed that in some way INFINITUDE is reflected in finitude.

3. Người ta đã đồng ý rằng bằng một cách nào đó TÍNH VÔ HẠN được phản chiếu trong tính hữu hạn.

4. To make such ideas practical and more approachable, we can begin with the holographic approach:

4. Để làm cho những ý tưởng như thế trở nên thực tiễn và dễ tiếp cận hơn, chúng ta có thể bắt đầu với cách tiếp cận toàn ký:

5. It was suggested that there is an apparent paradox of self-contradiction at the core of how the mind functions. As human beings we are always subject to the limitations of mind.

5. Người ta đã gợi ý rằng có một nghịch lý biểu kiến về sự tự mâu thuẫn ngay tại cốt lõi của cách thức trí tuệ vận hành. Là những con người, chúng ta luôn luôn chịu sự giới hạn của trí tuệ.

6. Einstein noticed a certain predicament when he stated that science does not describe reality. From Einstein we have the statement that all the equations we have done describe our experiments but have no bearing on reality.

6. Einstein đã nhận thấy một tình thế khó xử nhất định khi ông phát biểu rằng khoa học không mô tả thực tại. Từ Einstein, chúng ta có lời phát biểu rằng tất cả các phương trình chúng ta đã lập ra đều mô tả các thí nghiệm của chúng ta nhưng không liên quan gì đến thực tại.

7. It was remarked that the Royal Academy of Science disbanded itself in 1912 because “all had been discovered”.

7. Người ta đã nhận xét rằng Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia đã tự giải thể vào năm 1912 vì “mọi thứ đều đã được khám phá”.

The manifested Universe is contained within this Absolute Reality and is a conditioned symbol of it.

Vũ trụ biểu hiện được bao hàm trong Thực Tại Tuyệt Đối này và là một biểu tượng bị điều kiện hóa của Nó.

175. We note that the “manifested Universe” is a conditioned symbol of the Absolute Reality. It can be questioned whether that symbol reflects the unknown WHOLE or only the merest fragment of that WHOLE.

175. Chúng ta lưu ý rằng “Vũ trụ biểu hiện” là một biểu tượng bị điều kiện hóa của Thực Tại Tuyệt Đối. Có thể đặt câu hỏi liệu biểu tượng ấy phản chiếu TOÀN THỂ bất khả tri đó hay chỉ phản chiếu mảnh vụn nhỏ bé nhất của TOÀN THỂ ấy mà thôi.

176. My conclusion is that only an infinitesimal fragment of the BOUNDLESS WHOLE is reflected in the Universe.

176. Kết luận của tôi là chỉ một mảnh vô cùng nhỏ của TOÀN THỂ VÔ BIÊN mới được phản chiếu trong Vũ trụ.

177. The Universe, itself, is manifestation—no matter what level of the Universe is under discussion. Anything additional to the BIP (BOUNDLESS IMMUTABLE PRINCIPLE) is manifestation.

177. Bản thân Vũ trụ là biểu hiện—bất kể cấp độ nào của Vũ trụ đang được bàn đến. Bất cứ điều gì thêm vào BIP (NGUYÊN KHÍ VÔ BIÊN BẤT BIẾN) đều là biểu hiện.

In the totality of this manifested Universe, three aspects are to be conceived.

Trong tính toàn thể của Vũ trụ biểu hiện này, cần phải quan niệm ba phương diện.

178. When we speak of the “manifested Universe”, we are not speaking alone of that which is ordinarily tangible. We might say that anything other than the unmanifested “First Cosmic Logos” is manifested, even though extraordinarily subtle from even a refined human point of view.

178. Khi chúng ta nói về “Vũ trụ biểu hiện”, chúng ta không chỉ nói riêng về điều thường được cảm nhận một cách hữu hình. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ điều gì khác với “Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất” không biểu hiện đều là biểu hiện, cho dù nó cực kỳ vi tế ngay cả từ một quan điểm nhân loại tinh luyện.

179. In fact, from the highest point of view, the “First Cosmic Logos” (though often called “The Unmanifest”, is also manifest, simply because it is a specifiable something that is.

179. Thật vậy, từ quan điểm cao nhất, “Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất” (dù thường được gọi là “Đấng Không Biểu Hiện”) cũng là biểu hiện, đơn giản vì đó là một cái gì đó có thể xác định được mà hiện hữu.

180. The words “manifested” and “Universe” are really equivalent.

180. Các từ “biểu hiện” và “Vũ trụ” thực sự là tương đương nhau.

181. Usually, however, the term “manifested” relates to so-called “objective reality”, i.e., to the worlds of form.

181. Tuy nhiên, thông thường, thuật ngữ “biểu hiện” liên hệ với cái gọi là thực tại “khách quan”, tức là với các thế giới của hình tướng.

182. The following shows the work of the Three Logoi discussed below:

182. Phần sau đây cho thấy công việc của Ba Thượng đế được bàn đến dưới đây:

A Tabulation of Triplicities which May Bring Some Clarification

Một Bảng Liệt Kê Các Bộ Ba Có Thể Mang Lại Một Số Sự Làm Sáng Tỏ

183. When dealing with HPB’s writings it is always necessary to determine whether we are dealing with the Universe as a Whole, or with the ‘Universe considered as a Solar System’

183. Khi bàn đến các trước tác của HPB, luôn luôn cần xác định liệu chúng ta đang bàn đến Vũ trụ như một Toàn Thể, hay đến ‘Vũ trụ được xét như một hệ mặt trời’

184. In the chart above, it is clear that we are dealing with the manifestation of a Solar Logos, and yet the terms “First Logos”, “Second Logos” and “Third Logos”, and the descriptions given to them are very much life the terms used below, “First Cosmic Logos”, “Second Cosmic Logos”, etc.

184. Trong biểu đồ trên, rõ ràng là chúng ta đang bàn đến sự biểu hiện của một Thái dương Thượng đế, vậy mà các thuật ngữ “Thượng đế thứ nhất”, “Thượng đế thứ hai” và “Thượng đế thứ ba”, cùng những mô tả dành cho các Ngài, lại rất giống với các thuật ngữ được dùng dưới đây, “Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất”, “Thượng đế Vũ Trụ thứ hai”, v.v.

185. It is probably wise to realize that we can apply what is said below to both the Universe in toto and to a Solar System, considered as a small ‘universe’.

185. Có lẽ sẽ là khôn ngoan khi nhận ra rằng chúng ta có thể áp dụng điều được nói dưới đây cho cả Vũ trụ trong tính toàn thể của nó lẫn cho một hệ mặt trời, được xem như một “vũ trụ” nhỏ.

186. In the Ageless Wisdom Teaching, the term “universe” does not always mean “the Whole Thing”.

186. Trong giáo huấn Minh Triết Ngàn Đời, thuật ngữ “vũ trụ” không phải lúc nào cũng có nghĩa là “Toàn Bộ Sự Việc”.

187. The names for the three Logoi in the chart above (for instance “The Unmanifest” and “Spirit Matter” are used in the sentences below, and so, if the sentences below refer to the entire cosmos, we find the same descriptions applying both to the most stupendous Universal Logoi and to the three subsidiary Logoi of a solar system.

187. Các tên gọi dành cho ba Thượng đế trong biểu đồ trên (chẳng hạn “Đấng Không Biểu Hiện” và “Tinh thần-Vật chất”) được dùng trong các câu dưới đây, và vì thế, nếu các câu dưới đây quy chiếu đến toàn thể vũ trụ, chúng ta thấy cùng những mô tả ấy được áp dụng cả cho các Thượng đế Vũ Trụ phổ quát vĩ đại nhất lẫn cho ba Thượng đế phụ thuộc của một hệ mặt trời.

188. If we say that the Solar Logos is a cosmic Logos, we are justified in calling the three Logoi here discussed cosmic Logoi. But not otherwise, especially, if we are talking about the Three Logoi operating within a solar system.

188. Nếu chúng ta nói rằng Thái dương Thượng đế là một Thượng đế vũ trụ, thì chúng ta có cơ sở để gọi ba Thượng đế được bàn đến ở đây là các Thượng đế vũ trụ. Nhưng không phải theo cách khác, đặc biệt nếu chúng ta đang nói về Ba Thượng đế vận hành trong một hệ mặt trời.

189. As DK usually uses the word “cosmic”, it refers to an Entity whose scope is beyond that of a solar system.

189. Theo cách Chân sư DK thường dùng từ “vũ trụ”, nó quy chiếu đến một Thực Thể có phạm vi vượt ra ngoài phạm vi của một hệ mặt trời.

1. The First Cosmic Logos, impersonal and unmanifested, the precursor of the Manifested.

1. Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất, vô ngã và không biểu hiện, là tiền thân của Đấng Biểu Hiện.

190. Should the First Cosmic Logos not be called, as well, the “Spirit of the Universe”?

190. Chẳng phải Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất cũng nên được gọi là “Tinh thần của Vũ trụ” sao?

191. It would seem that “Spirit” remains forever unmanifested (in the ordinary sense, meaning assuming some degree of limitation) even while being forever the cause of manifestation. In a way, all that is manifested is, essentially, “Spirit”.

191. Dường như “Tinh thần” mãi mãi vẫn không biểu hiện (theo nghĩa thông thường, tức là mang lấy một mức độ giới hạn nào đó) ngay cả khi mãi mãi là nguyên nhân của biểu hiện. Theo một nghĩa nào đó, mọi điều được biểu hiện, về bản chất, đều là “Tinh thần”.

192. “Spirit” is a term which can be applied to that part of the Trinity which expresses electric fire, whereas Life is the truly unmanifest. Spirit, Soul and Matter are pervaded by Life.

192. “Tinh thần” là một thuật ngữ có thể được áp dụng cho phần đó của Tam Vị biểu lộ Lửa Điện, trong khi Sự sống mới là cái thực sự không biểu hiện. Tinh thần, Linh hồn và Vật chất đều được Sự sống thấm nhuần.

193. The ABSOLUTE can be called “LIFE”, manifesting ‘in-universe’ as “Life”.

193. TUYỆT ĐỐI có thể được gọi là “SỰ SỐNG”, biểu hiện ‘trong-vũ-trụ’ như “Sự sống”.

194. If we say that this First Cosmic Logos is “unmanifested” within a solar system, we mean that it does not assume specific, identifiable limitation or form within a solar system.

194. Nếu chúng ta nói rằng Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất này là “không biểu hiện” trong một hệ mặt trời, chúng ta muốn nói rằng Ngài không mang lấy sự giới hạn hay hình tướng đặc thù, có thể nhận diện được trong một hệ mặt trời.

195. If we interpret the First Cosmic Logos in truly universal terms, it means the “Universal Logos”, the one and only ‘Cosmic Being’—but, of course, not, the ABSOLUTE.

195. Nếu chúng ta diễn giải Thượng đế Vũ Trụ thứ nhất theo những thuật ngữ thực sự phổ quát, thì nó có nghĩa là “Thượng đế Vũ Trụ”, ‘Hữu thể Vũ trụ’ duy nhất và độc nhất—nhưng dĩ nhiên không phải là TUYỆT ĐỐI.

2. The Second Cosmic Logos, Spirit-Matter, Life, the Spirit of the Universe.

2. Thượng đế Vũ Trụ thứ hai, Tinh thần-Vật chất, Sự sống, Tinh thần của Vũ trụ.

196. This Logos represents the engagement of “Spirit” with itself through the dynamic of “Self-reflection”—the ultimate ‘Divine Mirroring’.

196. Thượng đế này biểu trưng cho sự dấn thân của “Tinh thần” với chính nó thông qua động lực của “Tự phản chiếu”—sự ‘Phản chiếu Thiêng liêng’ tối hậu.

197. We have to be very careful about the use of the term “Life”. Given what HBP said about Life pervading Spirit, Soul and Matter, the term “Life” should not be used in relation to the Second Cosmic Logos.

197. Chúng ta phải hết sức cẩn trọng về việc dùng thuật ngữ “Sự sống”. Xét theo điều HBP đã nói về việc Sự sống thấm nhuần Tinh thần, Linh hồn và Vật chất, thì thuật ngữ “Sự sống” không nên được dùng trong liên hệ với Thượng đế Vũ Trụ thứ hai.

198. Maybe the term “Spirit”, as used here, means that which animates the universe, and hence more the Soul of the universe.

198. Có lẽ thuật ngữ “Tinh thần”, như được dùng ở đây, có nghĩa là cái tiếp sinh lực cho vũ trụ, và do đó gần hơn với Linh hồn của vũ trụ.

199. Wheat is said in this little sentence must be viewed very carefully, as there are many functions relating to the Second Cosmic Logos which are not suggested by what is said.

199. Điều được nói trong câu ngắn này phải được xem xét hết sức cẩn thận, vì có nhiều chức năng liên hệ với Thượng đế Vũ Trụ thứ hai không được gợi ra bởi điều đã nói.

3. The Third Cosmic Logos, Cosmic Ideation, the Universal World-Soul.

3. Thượng đế Vũ Trụ thứ ba, Ý Niệm Vũ Trụ, Đại Hồn Vũ Trụ.

200. But is not “soul” equivalent to “consciousness”?

200. Nhưng chẳng phải “linh hồn” tương đương với “tâm thức” sao?

201. This Logos appears to be the basis of all creativity. The preferred name for the third ray is the “Ray of Creative Intelligence”. Of course, here we are speaking of the ultimate Third Ray Lord of cosmos, or, if confining ourselves to our solar system, then, of the Brahma aspect of the Solar Logos.

201. Thượng đế này dường như là nền tảng của mọi sáng tạo. Tên gọi được ưa dùng cho cung ba là “Cung của Trí Tuệ Sáng Tạo”. Dĩ nhiên, ở đây chúng ta đang nói về Đấng Chúa Tể Cung ba tối hậu của vũ trụ, hoặc, nếu chỉ giới hạn trong hệ mặt trời của chúng ta, thì là phương diện Brahma của Thái dương Thượng đế.

202. We find that a few words cannot possibly contain the functions of these three Logoi—all of whom are subsidiary to a Solar Logos, IF we are speaking of that context called a solar system.

202. Chúng ta thấy rằng vài từ ngữ không thể nào bao hàm được các chức năng của ba Thượng đế này—tất cả các Ngài đều phụ thuộc vào một Thái dương Thượng đế, NẾU chúng ta đang nói trong bối cảnh được gọi là một hệ mặt trời.

From these basic creative principles, in successive gradations there issue in ordered sequence the numberless Universes comprising countless Manifesting Stars and Solar Systems.

Từ những nguyên lý sáng tạo căn bản này, qua những cấp độ kế tiếp nhau, theo một trình tự có trật tự, phát sinh ra vô số Vũ trụ bao gồm vô số Các Sao và các hệ mặt trời đang biểu hiện.

204. Below is a chart of “Parabrahm” and may give an idea of the “ordered sequence of numberless Universes”

204. Dưới đây là một biểu đồ về “Parabrahm” và có thể cho một ý niệm về “trình tự có trật tự của vô số Vũ trụ”

Parabrahm TCF Chart 12

Parabrahm Biểu đồ TCF 12

—

205. From what is said immediately above, it is clear that DK is speaking of the cosmos in its entirety (even though there are parallels within that arena of creation called a solar system).

205. Từ điều vừa được nói ngay trên, rõ ràng là Chân sư DK đang nói về toàn thể vũ trụ (dù vẫn có những tương đồng trong đấu trường sáng tạo được gọi là một hệ mặt trời).

206. The term “universe”, however, as used in this case, is not a cosmic entirety.

206. Tuy nhiên, thuật ngữ “vũ trụ”, như được dùng trong trường hợp này, không phải là một toàn thể vũ trụ.

207. We note that all proceeds from the fundamental “creative principles (or ‘Ultimate Cosmic Logoi’) “in successive gradations…and ordered sequence”. All systems, greater and lesser, are part of an inviolable cosmic order.

207. Chúng ta lưu ý rằng mọi sự đều tiến ra từ những “nguyên lý sáng tạo” căn bản (hay ‘Các Thượng đế Vũ Trụ Tối Hậu’) “qua những cấp độ kế tiếp nhau… và trình tự có trật tự”. Mọi hệ thống, lớn và nhỏ, đều là một phần của một trật tự vũ trụ bất khả xâm phạm.

208. Points Emerging in Class Discussions:

208. Những Điểm Nổi Lên Trong Các Cuộc Thảo Luận Lớp Học:

1. In this case, “universes” may be understood as galaxies or even starry systems. Galaxies were called “island universes”.

1. Trong trường hợp này, “các vũ trụ” có thể được hiểu là các thiên hà hoặc thậm chí các hệ sao. Các thiên hà từng được gọi là “những vũ trụ đảo”.

2. Distinctions between galaxies and nebulae came only after 1925 in relation to the work of Hubble.

2. Sự phân biệt giữa các thiên hà và các tinh vân chỉ xuất hiện sau năm 1925 liên quan đến công trình của Hubble.

209. The following excerpt from DINA II, gives us some insight into the nature of Pure Being (cosmically considered).

209. Đoạn trích sau đây từ Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới II cho chúng ta một số hiểu biết sâu hơn về bản chất của Bản Thể Thuần khiết (xét theo vũ trụ).

210. Yet the following statements also point to the apparent contradiction between the first two Fundamentals of the SD, i.e., that the “Boundless Immutable Principle” and the “Law of Periodicity” do not agree.

210. Tuy nhiên, các phát biểu sau đây cũng chỉ ra sự mâu thuẫn hiển nhiên giữa hai Mệnh Đề Căn Bản đầu tiên của Giáo Lý Bí Nhiệm, tức là “Nguyên Lý Vô Biên Bất Biến” và “Định luật Chu Kỳ” không phù hợp.

1. God IS. The Lord for aye stands firm. Being exists alone. Naught else is.

1. Thượng đế LÀ. Đức Chúa Tể mãi mãi đứng vững. Chỉ Bản Thể hiện hữu. Không gì khác hiện hữu.

2. Time IS. Being descends to manifest. Creation is. [Page 285] Time then and form agree. Being and time do not agree.

2. Thời gian LÀ. Bản Thể giáng xuống để biểu hiện. Sáng tạo hiện hữu. [Page 285] Khi ấy thời gian và hình tướng phù hợp nhau. Bản Thể và thời gian không phù hợp nhau.

3. Unity IS. The One between comes forth and knows both time and God. But time destroys that middle One and only Being IS.

3. Hợp nhất LÀ. Đấng Trung Gian xuất hiện và biết cả thời gian lẫn Thượng đế. Nhưng thời gian hủy diệt Đấng Trung Gian ấy và chỉ Bản Thể LÀ.

4. Space IS. Time and space reverberate and veil the One who stands behind. Pure Being IS—unknown and unafraid, untouched, for aye unchanged.

4. Không gian LÀ. Thời gian và không gian vang dội và che phủ Đấng đứng phía sau. Bản Thể Thuần khiết LÀ—bất khả tri và không sợ hãi, không bị chạm đến, mãi mãi không đổi thay.

5. God IS. Time, space, the middle One (with form and process) go, and yet for aye remain. Pure reason then suffices.

5. Thượng đế LÀ. Thời gian, không gian, Đấng Trung Gian (cùng với hình tướng và tiến trình) ra đi, nhưng vẫn mãi còn đó. Khi ấy chỉ lý trí thuần khiết là đủ.

6. Being cries forth and says:... (untranslatable). Death crumbles all. Existence disappears, yet all for aye remains—untouched, immutably the same. God IS. (DINA II 285)

6. Bản Thể cất tiếng và nói:... (không thể dịch). Cái chết làm mọi sự tan rã. Hiện hữu biến mất, nhưng tất cả vẫn mãi còn—không bị chạm đến, bất biến, y nguyên như thế. Thượng đế LÀ. (DINA II 285)

Each Solar System is the manifestation of the energy and life of a great Cosmic Existence, Whom we call, for lack of a better term, a Solar Logos.

Mỗi hệ mặt trời là sự biểu hiện của năng lượng và sự sống của một Hiện Hữu Vũ Trụ vĩ đại, Đấng mà chúng ta gọi, vì không có thuật ngữ nào tốt hơn, là một Thái dương Thượng đế.

211. Now, DK comes specifically to the level of a Solar Logos—though, if He began cosmically, there are many, many types of systems between the Universal Being and a Solar Logos.

211. Giờ đây, Chân sư DK đi đến một cách chuyên biệt cấp độ của một Thái dương Thượng đế—mặc dù, nếu Ngài bắt đầu từ bình diện vũ trụ, thì có rất, rất nhiều loại hệ thống nằm giữa Hữu thể Vũ trụ và một Thái dương Thượng đế.

212. A Solar Logos is a “Cosmic Existence” and not simply a systemic existence. Retaining this idea, we may be justified in calling the “Three Subsidiary Logoi” Cosmic Logoi.

212. Một Thái dương Thượng đế là một “Hiện Hữu Vũ Trụ” chứ không chỉ đơn thuần là một hiện hữu thuộc hệ thống. Giữ vững ý tưởng này, chúng ta có thể có cơ sở để gọi “Ba Thượng đế Phụ Thuộc” là các Thượng đế Vũ Trụ.

[Page 4]

[Page 4]

This Solar Logos incarnates, or comes into manifestation, through the medium of a solar system.

Thái dương Thượng đế này nhập thể, hay đi vào biểu hiện, thông qua trung gian của một hệ mặt trời.

This solar system is the body, or form, of this cosmic Life, and is itself triple.

Hệ mặt trời này là thân thể, hay hình tướng, của Sự sống vũ trụ này, và bản thân nó cũng là tam phân.

213. The term solar system is often considered to refer to a physical-etheric manifestation. The higher vehicles of a Solar Logos (such as His astral or mental vehicles) are often not considered to be part of the solar system.

213. Thuật ngữ hệ mặt trời thường được xem là quy chiếu đến một biểu hiện hồng trần-dĩ thái. Các vận cụ cao hơn của một Thái dương Thượng đế (chẳng hạn như các vận cụ cảm dục hay trí tuệ của Ngài) thường không được xem là một phần của hệ mặt trời.

This triple solar system can be described in terms of three aspects, or (as the Christian theology puts it) in terms of three Persons.

Hệ mặt trời tam phân này có thể được mô tả theo ba phương diện, hay (như thần học Cơ Đốc giáo diễn đạt) theo ba Ngôi Vị.

214. These “Persons” of the Logoic Trinity are the Three Fires considered as Entities. The energies of these Entities go by the name of the three fires we are studying.

214. Những “Ngôi Vị” này của Tam Vị Thượng đế là Ba Lửa được xét như những Thực Thể. Các năng lượng của những Thực Thể này được gọi bằng tên của ba ngọn lửa mà chúng ta đang nghiên cứu.

ELECTRIC FIRE, or SPIRIT.

LỬA ĐIỆN, hay TINH THẦN.

1st Person Father. Life. Will. Purpose. Positive energy.

Ngôi thứ nhất, Cha. Sự sống. Ý chí. Mục đích. Năng lượng dương.

215. The ideas presented here are familiar to the readers of Master DK’s books.

215. Những ý tưởng được trình bày ở đây là quen thuộc với độc giả của các sách của Chân sư DK.

216. The major fire of our Solar Logos, especially in this second/fifth solar system dedicated to the expression of His cosmic Soul, is solar fire.

216. Ngọn lửa chủ yếu của Thái dương Thượng đế của chúng ta, đặc biệt trong hệ mặt trời thứ hai/thứ năm này vốn được hiến dâng cho sự biểu lộ Linh hồn vũ trụ của Ngài, là Lửa Thái dương.

217. From this perspective, “electric fire” is but an aspect of the greater “solar fire” which we are considering to be the major fire of the Solar Logos.

217. Từ góc nhìn này, “Lửa Điện” chỉ là một phương diện của “Lửa Thái dương” lớn hơn mà chúng ta đang xem là ngọn lửa chủ yếu của Thái dương Thượng đế.

218. Each major fire has three subsidiary fires. This is traceable upwards through many ascending triplicities which coalesce into that which is simply an aspect of a still greater triplicity.

218. Mỗi ngọn lửa lớn đều có ba ngọn lửa phụ thuộc. Điều này có thể được truy nguyên đi lên qua nhiều bộ ba thăng tiến, những bộ ba này hợp nhất vào cái chỉ đơn giản là một phương diện của một bộ ba còn lớn hơn nữa.

219. Within the systemically inclusive solar fire of the Solar Logos, “electric fire” is the dominant fires of the three lesser fires.

219. Trong Lửa Thái dương bao gồm một cách hệ thống của Thái dương Thượng đế, “Lửa Điện” là ngọn lửa trội hơn trong ba ngọn lửa nhỏ hơn.

SOLAR FIRE, OR SOUL.

LỬA THÁI DƯƠNG, hay LINH HỒN.

2nd Person Son. Consciousness. Love-Wisdom. Equilibrised energy.

Ngôi thứ hai, Con. Tâm thức. Bác Ái – Minh Triết. Năng lượng quân bình.

220. We must never forget the equilibrizing quality of “solar fire”, thus linking it to the sign Libra.

220. Chúng ta không bao giờ được quên phẩm tính quân bình hóa của “Lửa Thái dương”, do đó liên kết nó với dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình.

221. Solar fire is the ‘fire of relationship’.

221. Lửa Thái dương là ‘ngọn lửa của tương quan’.

222. Thus solar fire relates, as well, to form, for the second ray is the form-building ray.

222. Vì vậy, Lửa Thái dương cũng liên hệ với hình tướng, vì cung hai là cung kiến tạo hình tướng.

223. The factor of dynamic equilibrium. Harmony related equilibrium.

223. Yếu tố quân bình động. Sự quân bình liên hệ với hài hòa.

224. Points Emerging in Group Discussion:

224. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

1. There is a significant relationship between the following: peace, the Christ (“Prince of Peace”), the triangle and the spiritual triad (the symbol of which is the triangle).

1. Có một mối liên hệ có ý nghĩa giữa những điều sau đây: hòa bình, Đức Christ (“Hoàng Tử Hòa Bình”), tam giác và Tam Nguyên Tinh Thần (biểu tượng của nó là tam giác).

2. The sign Libra is very good in relating the two and the three.

2. Dấu hiệu hoàng đạo Thiên Bình rất giỏi trong việc liên hệ hai và ba.

3. The purpose of our present solar system is the manifestation of the “Son of God” (the two) through various triads (or threes).

3. Mục đích của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là sự biểu hiện của “Con của Thượng đế” (số hai) thông qua nhiều tam nguyên tinh thần khác nhau (hay các số ba).

4. The monad is an aspect of the Solar Logos, and, thus, of the “Divine Son” (especially as the Solar Logos manifests in this solar system). The monad (from this perspective, the two) is to manifest through the spiritual triad (or three).

4. Chân thần là một phương diện của Thái dương Thượng đế, và do đó, của “Thiêng Tử” (đặc biệt khi Thái dương Thượng đế biểu hiện trong hệ mặt trời này). Chân thần (từ góc nhìn này, là số hai) sẽ biểu hiện thông qua Tam Nguyên Tinh Thần (hay số ba).

FIRE BY FRICTION, or Body, or Matter.

LỬA MA SÁT, hay Thể, hay Vật chất.

3rd Person Holy Spirit. Form. Active Intelligence. Negative energy.

Ngôi thứ ba, Chúa Thánh Thần. Hình tướng. Trí Tuệ Hoạt Động. Năng lượng âm.

225. “Negative” in this case means “receptive”.

225. “Âm” trong trường hợp này có nghĩa là “tiếp nhận”.

226. This fire deals with externalities and is related to matter, and to the external interplay of forms.

226. Ngọn lửa này đề cập đến các ngoại diện và liên hệ với vật chất, cũng như với sự tương tác bên ngoài của các hình tướng.

227. The internal interplay of that which resides within the form is the province of solar fie.

227. Sự tương tác bên trong của cái cư ngụ trong hình tướng là lĩnh vực của Lửa Thái dương.

Each of these three is also triple in manifestation, making therefore

Mỗi cái trong ba cái này cũng đều là tam phân trong biểu hiện, do đó tạo thành

a. The nine Potencies or Emanations.

a. Chín Quyền Năng hay các Xuất lộ.

228. As stated above, every triplicity is really ninefold.

228. Như đã nói ở trên, mọi bộ ba thực ra đều là cửu phân.

229. How do these nine correlate with the Seven Rays? Systems of seven and nine must be correlated.

229. Chín điều này tương quan với Bảy Cung như thế nào? Các hệ thống bảy và chín phải được liên hệ tương ứng với nhau.

b. The nine Sephiroth.

b. Chín Sephiroth.

230. With the exception of “Kether”, the first, or with the exception of Malkuth, the tenth.

230. Ngoại trừ “Kether”, cái thứ nhất, hoặc ngoại trừ Malkuth, cái thứ mười.

231. The Kabala’s Tree of Life contains three triplicities. It is most logical to leave Malkuth from the triplicities.

231. Cây Sự Sống của Kabala chứa ba bộ ba. Hợp lý nhất là để Malkuth ra ngoài các bộ ba.

c. The nine Causes of Initiation.

c. Chín Nguyên Nhân của điểm đạo.

232. It is an important matter to link the nine initiations to the nine Sephiroth. This suggests, of course, that there is a tenth initiation which is, in a way, the first initiation of another series.

232. Đó là một vấn đề quan trọng khi liên kết chín lần điểm đạo với chín Sephiroth. Dĩ nhiên, điều này gợi ý rằng có một lần điểm đạo thứ mười, theo một nghĩa nào đó, là lần điểm đạo thứ nhất của một chuỗi khác.

233. Demand for freedom by the spirit is the cause of initiation.

233. Sự đòi hỏi tự do của tinh thần là nguyên nhân của điểm đạo.

234. There is a necessity for spirit to conquer one dimension after another of the cosmic Whole.

234. Có một sự cần thiết để tinh thần chinh phục hết chiều kích này đến chiều kích khác của Toàn Thể vũ trụ.

235. The spirit has all, and drives us into the corresponding dimension (nine of them).

235. Tinh thần có tất cả, và thúc đẩy chúng ta đi vào chiều kích tương ứng (chín chiều kích).

236. Points Emerging in Group Discussion:

236. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

1. There are three categories of initiation related respectively to humanity, Hierarchy, and Shamballa. Initiations 1, 2, and 3 relate to humanity; initiations 4, 5, and 6, to Hierarchy; initiations 7, 8, and 9 are related to Shamballa.

1. Có ba loại điểm đạo liên hệ lần lượt với nhân loại, Thánh Đoàn và Shamballa. Các lần điểm đạo 1, 2 và 3 liên hệ với nhân loại; các lần điểm đạo 4, 5 và 6 liên hệ với Thánh Đoàn; các lần điểm đạo 7, 8 và 9 liên hệ với Shamballa.

2. The third initiation is pivotal between humanity and Hierarchy. The sixth initiation is pivotal between Hierarchy and Shamballa.

2. Lần điểm đạo thứ ba là điểm then chốt giữa nhân loại và Thánh Đoàn. Lần điểm đạo thứ sáu là điểm then chốt giữa Thánh Đoàn và Shamballa.

3. The planetary center we call Humanity can, from one perspective, be seen as extending from the first to the fifth degree for a Master is still a man, whereas a Chohan is not. From this perspective Hierarchy is seen as extending from the third to the sixth or perhaps seventh degree. Shamballa may be understood as extending from the sixth through the ninth degree and, perhaps, beyond.

3. Trung tâm hành tinh mà chúng ta gọi là Nhân Loại, từ một góc nhìn, có thể được xem là kéo dài từ cấp độ thứ nhất đến cấp độ thứ năm vì một Chân sư vẫn còn là một con người, trong khi một Chohan thì không. Từ góc nhìn này, Thánh Đoàn được xem là kéo dài từ cấp độ thứ ba đến cấp độ thứ sáu hoặc có lẽ thứ bảy. Shamballa có thể được hiểu là kéo dài từ cấp độ thứ sáu đến cấp độ thứ chín và có lẽ còn vượt hơn nữa.

4. Certainly, the Lord of the World is not limited by what we call the ninth degree.

4. Chắc chắn, Đức Chúa Tể Thế Giới không bị giới hạn bởi điều mà chúng ta gọi là cấp độ thứ chín.

These, with the totality of manifestation or the Whole, produce the ten (10) of perfect manifestation of the perfect MAN.

Những điều này, cùng với tính toàn thể của biểu hiện hay Toàn Thể, tạo ra số mười (10) của sự biểu hiện hoàn hảo của CON NGƯỜI hoàn hảo.

237. Points Emerging in Group Discussion:

237. Những Điểm Nổi Lên Trong Thảo Luận Nhóm:

1. The Luxor Brotherhood gave Tetraktys to Pythagoras. The Tetraktys is a relationship of numbers. It is not only an abstract configuration, but many numerical derivations emerge from it.

1. Huynh đệ Đoàn Luxor đã trao Tetraktys cho Pythagoras. Tetraktys là một tương quan của các con số. Nó không chỉ là một cấu hình trừu tượng, mà còn có nhiều dẫn xuất số học phát sinh từ đó.

2. Reflect upon 21, 22, 24 and 27

2. Hãy suy ngẫm về 21, 22, 24 và 27

238. Ten is the number of perfection; it is a higher form of perfection than that which is represented by the twelve. The Zodiac of Ten and the Zodiac of Twelve are to be compared—one related to “MAN” (cosmically considered) and the other to the deva kingdom.

238. Mười là con số của sự hoàn hảo; đó là một hình thức hoàn hảo cao hơn hình thức được biểu trưng bởi số mười hai. Hoàng đạo Mười và Hoàng đạo Mười Hai cần được so sánh—một bên liên hệ với “CON NGƯỜI” (xét theo vũ trụ) và bên kia liên hệ với giới thiên thần.

239. The ten of the two hands relates to this perfection. The two feet also enumerate a ten.

239. Mười ngón của hai bàn tay liên hệ với sự toàn hảo này. Hai bàn chân cũng biểu thị số mười.

240. Through the Tetraktys, the ten and the four are related, (ten dots, four rows).

240. Thông qua Tetraktys, số mười và số bốn được liên kết với nhau, (mười điểm, bốn hàng).

These three aspects of the Whole are present in every form.

Ba phương diện này của Toàn Thể hiện diện trong mọi hình tướng.

241. Every form contains the three fires, which are reflections of the three Cosmic Logoi.

241. Mọi hình tướng đều chứa ba ngọn lửa, là những phản ánh của ba Các Thượng đế Vũ Trụ.

a. The solar system is triple, manifesting through the three above mentioned.

a. Hệ mặt trời là tam phân, biểu hiện qua ba điều đã nêu ở trên.

b. A human being is equally triple, manifesting as Spirit, Soul and Body, or Monad, Ego and Personality.

b. Một con người cũng là tam phân, biểu hiện thành Tinh thần, Linh hồn và Thể xác, hay Chân thần, Chân ngã và Phàm ngã.

242. This triplicity is reflected in the human physical body: head, torso and limbs.

242. Tính tam phân này được phản ánh trong thể xác hồng trần của con người: đầu, thân và các chi.

c. The atom of the scientist is also triple, being composed of a positive nucleus, the negative electrons, and the totality of the outer manifestation, [Page 5] the result of the relation of the other two.

c. Nguyên tử của nhà khoa học cũng là tam phân, được cấu thành bởi một hạt nhân dương, các electron âm, và toàn bộ biểu hiện bên ngoài, [Page 5] là kết quả của mối liên hệ giữa hai yếu tố kia.

243. Proton, Neutron, Electron. When was the neutron discovered? Is a later discovery the reason that it is not mentioned?

243. Proton, neutron, electron. Neutron được khám phá khi nào? Có phải vì được khám phá muộn hơn nên nó không được nhắc đến chăng?

244. Ions: any atom or group of atoms that bears one or more positive or negative electrical charges. Positively charged ions are called cations; negatively charged ions, anions. Ions are formed by the addition of electrons to, or the removal of electrons from, neutral atoms or molecules or other ions; by combination of ions with other particles; or by rupture of a covalent bond between two atoms in such a way that both of the electrons of the bond are left in association with one of the formerly bonded atoms. Examples of these processes include the reaction of a sodium atom with a chlorine atom to form a sodium cation and a chloride anion; the addition of a hydrogen cation to an ammonia molecule to form an ammonium cation; and the dissociation of a water molecule to form a hydrogen cation and a hydroxide anion.

244. Ion: bất kỳ nguyên tử hay nhóm nguyên tử nào mang một hay nhiều điện tích dương hoặc âm. Các ion mang điện tích dương được gọi là cation; các ion mang điện tích âm, anion. Ion được hình thành do sự thêm electron vào, hoặc sự lấy electron ra khỏi, các nguyên tử hay phân tử trung hòa hoặc các ion khác; do sự kết hợp của các ion với các hạt khác; hoặc do sự phá vỡ một liên kết cộng hóa trị giữa hai nguyên tử theo cách mà cả hai electron của liên kết đều còn lại gắn với một trong hai nguyên tử trước đó đã liên kết. Ví dụ về các tiến trình này gồm phản ứng của một nguyên tử natri với một nguyên tử clo để tạo thành một cation natri và một anion clorua; sự thêm một cation hydro vào một phân tử amoniac để tạo thành một cation amoni; và sự phân ly của một phân tử nước để tạo thành một cation hydro và một anion hydroxide.

Many crystalline substances are composed of ions held in regular geometric patterns by the attraction of the oppositely charged particles for each other. Ions migrate under the influence of an electrical field and are the conductors of electric current in electrolytic cells.

Nhiều chất kết tinh được cấu thành từ các ion được giữ trong những mô hình hình học đều đặn nhờ lực hút lẫn nhau giữa các hạt mang điện tích trái dấu. Các ion di chuyển dưới ảnh hưởng của một điện trường và là những chất dẫn dòng điện trong các tế bào điện phân.

245. Triplicity precedes in importance the septenary division.

245. Tính tam phân đi trước sự phân chia thất phân về tầm quan trọng.

The three aspects of every form are inter-related and susceptible of intercourse, because

Ba phương diện của mọi hình tướng có liên hệ với nhau và có thể tương giao, bởi vì

246. This thought overcomes the tendency towards maintaining arbitrary division.

246. Tư tưởng này vượt thắng khuynh hướng duy trì những sự phân chia tùy tiện.

247. This statement is the foundation of the Science of Triangles.

247. Phát biểu này là nền tảng của Khoa Học về Các Tam Giác.

1. Energy is in motion and circulates.

1. Năng lượng ở trong chuyển động và tuần hoàn.

Definition of energy from the Encyclopedia Britannica: Energy as defined in physics, the capacity for doing work. It may exist in potential, kinetic, thermal, electrical, chemical, nuclear, or other various forms. There are, moreover, heat and work—i.e., energy in the process of transfer from one body to another. After it has been transferred, energy is always designated according to its nature. Hence, heat transferred may become thermal energy, while work done may manifest itself in the form of mechanical energy.

Định nghĩa về năng lượng trong Encyclopedia Britannica: Năng lượng, như được định nghĩa trong vật lý học, là khả năng thực hiện công. Nó có thể tồn tại dưới dạng thế năng, động năng, nhiệt năng, điện năng, hóa năng, năng lượng hạt nhân, hoặc nhiều dạng khác. Hơn nữa, còn có nhiệt và công—tức là, năng lượng trong tiến trình chuyển từ vật thể này sang vật thể khác. Sau khi đã được chuyển đi, năng lượng luôn được gọi theo bản chất của nó. Vì thế, nhiệt được truyền có thể trở thành nhiệt năng, trong khi công được thực hiện có thể biểu hiện dưới dạng cơ năng.

All forms of energy are associated with motion. For example, any given body has kinetic energy if it is in motion. A tensioned device such as a bow or spring, though at rest, has the potential for creating motion; it contains potential energy because of its configuration. Similarly, nuclear energy is potential energy because it results from the configuration of subatomic particles in the nucleus of an atom.

Mọi dạng năng lượng đều gắn liền với chuyển động. Thí dụ, bất kỳ vật thể nào cũng có động năng nếu nó đang chuyển động. Một thiết bị bị kéo căng như cây cung hay lò xo, dù đang đứng yên, vẫn có tiềm năng tạo ra chuyển động; nó chứa thế năng do cấu hình của nó. Tương tự như vậy, năng lượng hạt nhân là thế năng vì nó phát sinh từ cấu hình của các hạt hạ nguyên tử trong hạt nhân của một nguyên tử.

Energy can be converted from one form to another in various ways. Usable mechanical or electrical energy is, for instance, produced by many kinds of devices, including fuel-burning heat engines, generators, batteries, fuel cells, and magnetohydrodynamic systems.

Năng lượng có thể được chuyển đổi từ dạng này sang dạng khác theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, cơ năng hoặc điện năng có thể sử dụng được được tạo ra bởi nhiều loại thiết bị, gồm các động cơ nhiệt đốt nhiên liệu, máy phát điện, pin, pin nhiên liệu và các hệ thống từ thủy động lực học.

Energy is treated in a number of articles. For the development of the concept of energy and the principle of energy conservation, see physical science, principles of; mechanics; thermodynamics. For the major sources of energy and the mechanisms by which the transition of energy from one form to another occurs, see coal; nuclear fission; oil shale; petroleum; electromagnetism; energy conversion. (Encyclopedia Britannica)

Năng lượng được bàn đến trong một số bài viết. Để tìm hiểu sự phát triển của khái niệm năng lượng và nguyên lý bảo toàn năng lượng, xem khoa học vật lý, các nguyên lý của; cơ học; nhiệt động lực học. Để tìm hiểu các nguồn năng lượng chính và các cơ chế nhờ đó sự chuyển tiếp của năng lượng từ dạng này sang dạng khác xảy ra, xem than đá; phân hạch hạt nhân; đá phiến dầu; dầu mỏ; điện từ học; chuyển đổi năng lượng. (Encyclopedia Britannica)

248. It is difficult to make an infallible distinction between the concept of energy and that of force.

248. Thật khó để tạo ra một sự phân biệt không sai lầm giữa khái niệm năng lượng và khái niệm mãnh lực.

249. Let us consider energy from a number of perspectives. We might consider energy as the ‘power which induces motion’.

249. Chúng ta hãy xét năng lượng từ một số góc độ. Chúng ta có thể xem năng lượng là “quyền năng gây ra chuyển động”.

250. The original ‘MOTION’ is the ‘MOTION’ which became the appearance of a universe. Really, that MOTION becomes the appearance and disappearance of universes (meaning the entirety of all that exists).

250. “CHUYỂN ĐỘNG” nguyên thủy là “CHUYỂN ĐỘNG” đã trở thành sắc tướng của một vũ trụ. Thật ra, CHUYỂN ĐỘNG ấy trở thành sự xuất hiện và biến mất của các vũ trụ (nghĩa là toàn thể mọi điều hiện hữu).

251. The original ‘ENERGY’ is the ‘RAY of the ABSOLUTE’ becoming-as-cosmos, the ‘Ray of the ABSOLUTE’. Note the differences in the capitalization.

251. “NĂNG LƯỢNG” nguyên thủy là “CUNG của TUYỆT ĐỐI” đang-trở-thành-vũ-trụ, “Cung của TUYỆT ĐỐI”. Hãy lưu ý sự khác biệt trong cách viết hoa.

252. The greatest potential ENERGY is the ABSOLUTE, ITSELF.

252. NĂNG LƯỢNG tiềm tàng lớn nhất là chính TUYỆT ĐỐI.

253. The original (shall we say?—kinetic) ‘ENERGY’ (which is, inescapably, the original ‘MOTION’ as well) is the ‘RAY-as-Ray’ becoming the emergence of distinct, identifiable existence, and continuing to move in the form of all things it becomes.

253. “NĂNG LƯỢNG” nguyên thủy (chúng ta có thể nói là—động năng) (vốn tất yếu cũng là “CHUYỂN ĐỘNG” nguyên thủy) là “CUNG-như-Cung” đang trở thành sự xuất hiện của hiện hữu phân biệt, có thể nhận diện, và tiếp tục chuyển động dưới hình thức của mọi sự vật mà nó trở thành.

254. The ABSOLUTE is not an identifiable existence because it never can be objectified.

254. TUYỆT ĐỐI không phải là một hiện hữu có thể nhận diện vì nó không bao giờ có thể bị khách thể hóa.

255. Verbal analysis of “Energy is in motion and circulates” reveals different ways of construing the meaning.

255. Phân tích ngôn từ của câu “Năng lượng ở trong chuyển động và tuần hoàn” cho thấy những cách hiểu khác nhau về ý nghĩa.

1. Either energy itself moves. In other words, ‘energy is in motion’.

1. Hoặc chính năng lượng tự nó chuyển động. Nói cách khác, “năng lượng đang chuyển động”.

2. Or energy is found in that or within that which we call “motion”. In other words, ‘energy is in motion’.

2. Hoặc năng lượng được tìm thấy trong cái hay bên trong cái mà chúng ta gọi là “chuyển động”. Nói cách khác, “năng lượng ở trong chuyển động”.

256. An ontological analysis of energy suggested the following:

256. Một phân tích bản thể học về năng lượng gợi ra điều sau đây:

1. Once the ‘ORIGINAL ENERGY’ has generated a cosmos, that ‘ENERGY-now-Energy’ circulates as the ‘breath’ circulates.

1. Một khi “NĂNG LƯỢNG NGUYÊN THỦY” đã tạo ra một vũ trụ, thì “NĂNG LƯỢNG-giờ-là-Năng lượng” ấy tuần hoàn như “hơi thở” tuần hoàn.

2. The ‘ORIGINAL BREATH’, however, does not circulate (for there is nothing in which it can circulate). It only persists perpetually without beginning or end, generating Somethingness and retracting it into NOTHINGNESS.

2. Tuy nhiên, “HƠI THỞ NGUYÊN THỦY” không tuần hoàn (vì không có gì để trong đó nó có thể tuần hoàn). Nó chỉ tồn tại vĩnh viễn không khởi đầu không kết thúc, tạo ra Tính-Có-Gì-Đó và thu hồi nó vào HƯ VÔ.

3. But within cosmos ‘Animating Power/Energy’ (which is but an ‘ontological extension’ of the ‘RAY of the ABSOLUTE’) circulates as the breath circulates

3. Nhưng bên trong vũ trụ, “Quyền Năng/Năng Lượng Hoạt Hóa” (vốn chỉ là một “sự mở rộng bản thể học” của “CUNG của TUYỆT ĐỐI”) tuần hoàn như hơi thở tuần hoàn

4. In cosmos, animation moves from one ‘location’ in time/space to another.

4. Trong vũ trụ, sự hoạt hóa di chuyển từ một “vị trí” trong thời gian/không gian sang một vị trí khác.

5. From another perspective, Energy, really, is the ‘power to induce the emergence and disappearance of Duality’. This is the ‘Ultimate Kinetic Energy’—responsible for the Ultimate Universal Motion—the dualism inherent in the “Great Breath”

5. Từ một góc độ khác, Năng lượng thật ra là “quyền năng gây ra sự xuất hiện và biến mất của Nhị nguyên tính”. Đây là “Động Năng Tối Hậu”—chịu trách nhiệm cho Chuyển Động Vũ Trụ Tối Hậu—tính nhị nguyên vốn có trong “Hơi Thở Vĩ Đại”

6. A more ‘homely’ definition is that ‘energy is the power to cause change’. The PRIMORDIAL CHANGE is from ‘NOT THIS to This’ or from’ This to NOT THIS’.

6. Một định nghĩa “đời thường” hơn là “năng lượng là quyền năng gây ra thay đổi”. SỰ THAY ĐỔI NGUYÊN SƠ là từ “KHÔNG PHẢI CÁI NÀY sang Cái này” hoặc từ “Cái này sang KHÔNG PHẢI CÁI NÀY”.

7. Energy (kinetic) is a progressive change of frequency experienced by contiguous or related units. Inherent in the concept of a change of frequency is the necessity for movement, for only that which exists as identifiable can vibrate and have a change in frequency.

7. Năng lượng (động năng) là một sự thay đổi tần số tiến triển được cảm nhận bởi các đơn vị tiếp giáp hoặc có liên hệ. Vốn có trong khái niệm thay đổi tần số là sự cần thiết của chuyển động, vì chỉ cái gì tồn tại như một thực thể có thể nhận diện mới có thể rung động và có sự thay đổi tần số.

257. This simple sentence, “energy is in motion and circulates” demands that we define energy.

257. Câu đơn giản này, “năng lượng ở trong chuyển động và tuần hoàn”, đòi hỏi chúng ta phải định nghĩa năng lượng.

258. This sentence promoted much debate in the first Finland Class also. Some statements below reflect points made in that discussion and when they arose in that class, will be indicated in violet color.

258. Câu này cũng đã khơi lên nhiều tranh luận trong Lớp học Phần Lan đầu tiên. Một số phát biểu dưới đây phản ánh những điểm được nêu ra trong cuộc thảo luận ấy và khi chúng xuất hiện trong lớp đó, chúng sẽ được chỉ ra bằng màu tím.

259. Points Emerging in Class Discussion relating to energy and change.

259. Những Điểm Nảy Sinh Trong Thảo Luận Lớp Học liên quan đến năng lượng và sự thay đổi.

1. What happens ‘here’ can happen ‘there’. Change ‘here’ induces change ‘there’.

1. Điều xảy ra “ở đây” có thể xảy ra “ở đó”. Sự thay đổi “ở đây” gây ra sự thay đổi “ở đó”.

2. What causes receptivity to change? What brings about susceptibility to change within the whole? Change is detected because the sameness in patterns of movement is altered or disrupted. Change is difference in motion.)

2. Điều gì gây ra tính tiếp nhận đối với sự thay đổi? Điều gì tạo nên khả năng chịu tác động của sự thay đổi trong toàn thể? Sự thay đổi được nhận ra vì tính đồng nhất trong các mô hình chuyển động bị biến đổi hoặc gián đoạn. Sự thay đổi là sự khác biệt trong chuyển động.)

260. Energy, Motion, Fire are interrelated and even, perhaps, identical. Energy and movement are inseparable. Change and movement are inseparable. According to the intensity of the change so we measure the intensity of the energy.

260. Năng lượng, Chuyển động, Lửa có liên hệ với nhau và thậm chí, có lẽ, là đồng nhất. Năng lượng và chuyển động không thể tách rời. Sự thay đổi và chuyển động không thể tách rời. Theo cường độ của sự thay đổi mà chúng ta đo cường độ của năng lượng.

261. In relation to the sentence “energy is in motion and circulates”, what exactly is it that is in motion, and how does it circulate?

261. Liên quan đến câu “năng lượng ở trong chuyển động và tuần hoàn”, chính xác thì cái gì đang chuyển động, và nó tuần hoàn như thế nào?

262. Energy induces motion and a change in energy induces a change in motion.

262. Năng lượng gây ra chuyển động, và một sự thay đổi trong năng lượng gây ra một sự thay đổi trong chuyển động.

263. The appearance of motion is the means by which energy is detected.

263. Sự xuất hiện của chuyển động là phương tiện nhờ đó năng lượng được phát hiện.

264. Motion is power expressed rather than retained.

264. Chuyển động là quyền năng được biểu lộ ra thay vì được giữ lại.

265. Archetypes can be defined as standing waves.

265. Các nguyên mẫu có thể được định nghĩa như những sóng dừng.

266. Questions regarding standing waves:

266. Những câu hỏi liên quan đến sóng dừng:

1. In what respect does a standing wave “stand” or reflect ‘sameness’?

1. Ở phương diện nào một sóng dừng “đứng yên” hay phản ánh “tính đồng nhất”?

2. In what respect does it “move”?

2. Ở phương diện nào nó “chuyển động”?

3. Is a standing wave in motion or is it that the vibrating particles that compose it or induce it are in repetitive motion?

3. Có phải một sóng dừng đang chuyển động, hay là các hạt rung động cấu thành nó hoặc gây ra nó đang chuyển động lặp đi lặp lại?

4. Is not the principle of “rotary motion” involved in a standing wave? Rotary motion is beneficial in that it (through repetition) conduces to stability

4. Chẳng phải nguyên lý của “chuyển động xoay tròn” có liên quan trong một sóng dừng sao? Chuyển động xoay tròn có lợi ở chỗ nó (thông qua sự lặp lại) dẫn đến sự ổn định

267. Motion communicates itself as further motion. There is a universal responsiveness to communicated motion.

267. Chuyển động truyền đạt chính nó thành chuyển động tiếp theo. Có một sự đáp ứng phổ quát đối với chuyển động được truyền đạt.

268. In all the “World of Becoming” we have only motion and changes in motion, frequencies and changes in frequency.

268. Trong toàn bộ “Thế Giới Đang Trở Thành”, chúng ta chỉ có chuyển động và những thay đổi trong chuyển động, các tần số và những thay đổi trong tần số.

269. Patterns of motion circulate.

269. Các mô hình chuyển động tuần hoàn.

270. Vibratory patterns communicate themselves to other vibratory domains.

270. Các mô hình rung động truyền đạt chính chúng sang những lĩnh vực rung động khác.

271. Energy-in-cosmos is detected as a communicated pattern of vibration capable of inducing the same pattern in the vibrational domain to which it is communicated or altering the pattern in the vibrational domain to which it is communicated.

271. Năng lượng-trong-vũ-trụ được phát hiện như một mô hình rung động được truyền đạt, có khả năng gây ra cùng một mô hình trong lĩnh vực rung động mà nó được truyền đến, hoặc làm biến đổi mô hình trong lĩnh vực rung động mà nó được truyền đến.

272. A principle emerges here: ‘detection demands difference’.

272. Một nguyên lý xuất hiện ở đây: “sự phát hiện đòi hỏi sự khác biệt”.

273. Energy-in-cosmos is ultimately related to the first ray and determines whether a thing shall be or not be. Without the ‘ORIGINAL ENERGY’ nothing comes to exist.

273. Năng lượng-trong-vũ-trụ rốt ráo liên hệ với cung một và quyết định liệu một sự vật sẽ hiện hữu hay không hiện hữu. Không có “NĂNG LƯỢNG NGUYÊN THỦY” thì không gì đi vào hiện hữu.

274. Breath is fire. Breath is animation. ‘BREATH’ (the very first ‘movement’—as far as one universe is concerned) is ENERGY..

274. Hơi thở là lửa. Hơi thở là sự hoạt hóa. “HƠI THỞ” (chuyển động đầu tiên nhất—xét theo một vũ trụ) là NĂNG LƯỢNG..

275. Each of the many fires is a different pattern of motion or consists of different rhythms in that which vibrates..

275. Mỗi một trong nhiều ngọn lửa là một mô hình chuyển động khác nhau hoặc gồm những nhịp điệu khác nhau trong cái đang rung động..

276. Point Emerging in Group Discussion:

276. Điểm Nảy Sinh Trong Thảo Luận Nhóm:

1. A group member suggested that there is kinetic energy and potential energy. An atom is potential energy. When it is split, it demonstrates kinetic energy. Gravity is a force, but has no energy.

1. Một thành viên trong nhóm gợi ý rằng có động năng và thế năng. Một nguyên tử là thế năng. Khi nó bị tách ra, nó biểu lộ động năng. Trọng lực là một mãnh lực, nhưng không có năng lượng.

2. Force is related to the application of energy.

2. Mãnh lực liên hệ với sự áp dụng năng lượng.

3. As energy circulates through media of lesser vibratory frequency, force is applied.

3. Khi năng lượng tuần hoàn qua các môi trường có tần số rung động thấp hơn, mãnh lực được áp dụng.

4. It was suggested that force is experienced by a lesser entity in relation to a greater entity. When the energy expresses only within the level in which it naturally radiates, it continues to be called “energy”. But when energy becomes effective for change in relation to lesser vibratory levels

4. Có ý kiến cho rằng mãnh lực được một thực thể nhỏ hơn cảm nhận trong mối liên hệ với một thực thể lớn hơn. Khi năng lượng chỉ biểu lộ trong cấp độ mà nó tự nhiên phát xạ, nó tiếp tục được gọi là “năng lượng”. Nhưng khi năng lượng trở nên hữu hiệu cho sự thay đổi trong mối liên hệ với các cấp độ rung động thấp hơn

5. Energy may be considered as the “Breath of Life”.

5. Năng lượng có thể được xem là “Hơi Thở của Sự Sống”.

6. The “Breath of Life: causes animation. Animation is registered through noticeable increases in frequency.

6. “Hơi Thở của Sự Sống” gây ra sự hoạt hóa. Sự hoạt hóa được ghi nhận qua những gia tăng đáng chú ý về tần số.

7. The soul is the “anima” and its presence or relative absence causes changes in movement.

7. Linh hồn là “anima”, và sự hiện diện hay sự vắng mặt tương đối của nó gây ra những thay đổi trong chuyển động.

b. All forms in the solar system form part of the Whole, and are not isolated units.

b. Mọi hình tướng trong hệ mặt trời đều tạo thành một phần của Toàn Thể, và không phải là những đơn vị cô lập.

277. We glibly repeat this statement, but do not realize it with immediacy. Nothing is separated. Nothing is isolated. The implications are profound.

277. Chúng ta lặp lại phát biểu này một cách hời hợt, nhưng không chứng nghiệm nó một cách trực tiếp. Không gì bị tách rời. Không gì bị cô lập. Những hàm ý của điều này thật sâu xa.

c. This is the basis of brotherhood, of the communion of saints, [which is Hierarchy] and of astrology.

c. Đây là nền tảng của tình huynh đệ, của sự hiệp thông của các thánh, [là Thánh đoàn] và của chiêm tinh học.

278. Isolation is an illusion negated by the reality of the One Monad which all monads essentially are.

278. Sự cô lập là một ảo tưởng bị phủ nhận bởi thực tại của Một Chân thần mà mọi chân thần về bản chất đều là.

279. Isolation is an illusion negated by the reality of mobility and interpenetration.

279. Sự cô lập là một ảo tưởng bị phủ nhận bởi thực tại của tính động và sự xuyên thấu lẫn nhau.

280. It is important to link “brotherhood” (monadic), the “communion of saints” (relating to the soul) and “astrology” (relating to the third aspect and, thus, more to manifestation).

280. Điều quan trọng là phải liên kết “tình huynh đệ” (chân thần), “sự hiệp thông của các thánh” (liên hệ với linh hồn) và “chiêm tinh học” (liên hệ với phương diện thứ ba và do đó liên hệ nhiều hơn với biểu hiện).

These three aspects of God, the solar Logos, and the Central Energy or Force (for the terms are occultly synonymous) demonstrate through seven centres of force,—three major centres and four minor.

Ba phương diện này của Thượng đế, của Thái dương Thượng đế, và của Năng lượng hay Mãnh lực Trung tâm (vì các thuật ngữ này một cách huyền bí là đồng nghĩa) biểu lộ qua bảy trung tâm mãnh lực,—ba trung tâm chính và bốn trung tâm phụ.

281. The terms “God”, the “Solar Logos” and the “Central Energy or Force” are synonymous. Perhaps different ray types will find one of these terms more appealing or useful than the others.

281. Các thuật ngữ “Thượng đế”, “Thái dương Thượng đế” và “Năng lượng hay Mãnh lực Trung tâm” là đồng nghĩa. Có lẽ những người thuộc các loại cung khác nhau sẽ thấy một trong các thuật ngữ này hấp dẫn hoặc hữu ích hơn những thuật ngữ kia.

282. As three demonstrate through seven, we must find the correspondence in the structure of the human being. This probably can be done in relation to the chakra system.

282. Vì ba biểu lộ qua bảy, chúng ta phải tìm ra sự tương ứng trong cấu trúc của con người. Điều này có lẽ có thể được thực hiện trong mối liên hệ với hệ thống luân xa.

283. We have here the origin of the ten. The question has often been asked, “Are the ten contained within the seven, or are there, in fact, ten, exemplified by three superior to a lesser seven, and that lesser seven?” This would seem to be the case.

283. Ở đây chúng ta có nguồn gốc của số mười. Câu hỏi thường được đặt ra là, “Mười có được chứa trong bảy không, hay thật ra có mười, được nêu gương bằng ba cao hơn một bảy thấp hơn, và chính bảy thấp hơn ấy?” Điều này dường như đúng là như vậy.

284. When speaking of seven there are always a major three and a minor four. When speaking of ten, there are always a major three and a minor seven.

284. Khi nói về bảy thì luôn luôn có một bộ ba chính và một bộ bốn phụ. Khi nói về mười, thì luôn luôn có một bộ ba chính và một bộ bảy phụ.

285. We notice how occult numerology is necessary for the setting forth of fundamentals.

285. Chúng ta nhận thấy huyền số học là cần thiết như thế nào cho việc trình bày những điều căn bản.

286. Watch for the number 16, as it is closely related to the number 3 and to the creative aspect of deity.

286. Hãy lưu ý số 16, vì nó liên hệ chặt chẽ với số 3 và với phương diện sáng tạo của thượng đế.

These seven centres of logoic Force are themselves so constituted that they form corporate Entities. They are known as

Bảy trung tâm của Mãnh lực logoic này tự chúng được cấu thành theo cách sao cho chúng tạo thành những Thực Thể tập thể. Chúng được biết đến như là

287. What are “corporate Entities”?

287. “Các Thực Thể tập thể” là gì?

288. First of all, the “seven centres of logoic Force” are the seven major Planetary Logoi.

288. Trước hết, “bảy trung tâm của Mãnh lực logoic” là bảy Hành Tinh Thượng Đế chính.

289. Each of these Logoi is composed significantly of human and deva monads.

289. Mỗi một trong các Thượng đế này được cấu thành một cách đáng kể bởi các chân thần nhân loại và chân thần thiên thần.

290. We learn that Solar Angels can become Planetary Logoi, but do not do so singly, but in groups. This relates to the “corporate” nature of the Planetary Logoi.

290. Chúng ta biết rằng các Thái dương Thiên Thần có thể trở thành các Hành Tinh Thượng Đế, nhưng không làm như vậy một cách đơn lẻ mà theo nhóm. Điều này liên hệ đến bản chất “tập thể” của các Hành Tinh Thượng Đế.

The student must bear in mind that in thinking of the Pitris, he must ever think in group terms. The Pitris who formed the egoic body of a human being do not—alone and isolated—form planetary Logoi.

Đạo sinh phải ghi nhớ rằng khi nghĩ về các Pitri, y phải luôn luôn nghĩ theo thuật ngữ nhóm. Các Pitri đã tạo thành thể chân ngã của một con người không—một mình và cô lập—tạo thành các Hành Tinh Thượng Đế.

The forty-nine groups of solar fires concerned in the great work are those spoken of, and they become the forty-nine planetary Logoi in connexion with seven solar systems. (TCF 878-879)

Bốn mươi chín nhóm lửa thái dương liên quan đến đại công trình là những nhóm đã được nói đến, và chúng trở thành bốn mươi chín Hành Tinh Thượng Đế trong mối liên hệ với bảy hệ mặt trời. (TCF 878-879)

a. The seven planetary Logoi.

a. Bảy Hành Tinh Thượng Đế.

b. The seven Spirits before the Throne.

b. Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

c. The seven Rays.

c. Bảy cung.

d. The seven Heavenly Men.

d. Bảy Đấng Thiên Nhân.

291. Some may wish (at times) to differentiate these four, but from another and important perspective, they are entirely equivalent.

291. Một số người có thể muốn (đôi khi) phân biệt bốn điều này, nhưng từ một góc độ khác và quan trọng, chúng hoàn toàn tương đương.

292. There are also higher correspondences to some of these divisions. There are, for instance, intra-planetary “Spirits before the Throne” and greater, extra-planetary “Spirits” Who are planetary Logoi. The Seven Solar Logoi who are the major conditioning factors of our local seven solar systems are also to be considered “Spirits before the Throne”. In this case, which is the “Throne”?

292. Cũng có những tương ứng cao hơn đối với một số phân chia này. Chẳng hạn, có những “Thánh Linh trước Thánh Ngai” nội hành tinh và những “Thánh Linh” lớn hơn, ngoại hành tinh là các Hành Tinh Thượng Đế. Bảy Thái dương Thượng đế là những yếu tố tác động chính của bảy hệ mặt trời địa phương của chúng ta cũng cần được xem là “Thánh Linh trước Thánh Ngai”. Trong trường hợp này, “Thánh Ngai” là gì?

293. It was noted that there is a strong presentation of Divine Order in the Rig Veda.

293. Người ta đã lưu ý rằng có một sự trình bày mạnh mẽ về Trật Tự Thiêng Liêng trong Rig Veda.

The Seven Logoi embody seven types of differentiated force, and in this Treatise are known under the names of Lords of the Rays. The names of the Rays are

Bảy Thượng đế thể hiện bảy loại mãnh lực được biến phân, và trong bộ Luận này được biết đến dưới danh xưng các Đấng Chúa Tể của các Cung. Tên của các Cung là

Ray I Ray of Will or Power 1st Aspect

Cung I Cung của Ý Chí hay Quyền Năng Phương diện 1