Trích nội dung chương
(39:S. D., I, 232-238. The whole cosmos is guided, controlled and animated by an almost endless series of Hierarchies of sentient Beings, each having a mission to perform.—S. D., I, 295. Among these the Hierarchy of human Monads has a place.) (39:S. D., I, 232-238. Toàn thể vũ trụ được hướng dẫn, kiểm soát và làm sinh động bởi một chuỗi gần như vô tận các Huyền Giai của những Hữu thể hữu tri, mỗi vị đều có một sứ mạng phải thực hiện.—S. D., I, 295. Trong số đó Huyền Giai của các Chân thần nhân loại có một vị trí.)
(39:S. D., I, 232-238. The whole cosmos is guided, controlled and animated by an almost endless series of Hierarchies of sentient Beings, each having a mission to perform.—S. D., I, 295. Among these the Hierarchy of human Monads has a place.)
(39:S. D., I, 232-238. Toàn thể vũ trụ được hướng dẫn, kiểm soát và làm sinh động bởi một chuỗi gần như vô tận các Huyền Giai của những Hữu thể hữu tri, mỗi vị đều có một sứ mạng phải thực hiện.—S. D., I, 295. Trong số đó Huyền Giai của các Chân thần nhân loại có một vị trí.)
60. On pp. 34 and 35 of Esoteric Astrology we are given a tabulation listing twelve Creative Hierarchies. Obviously, judging from the statement above, there are many, many more. The planes do not end at the third subplane of the cosmic astral plane (as the tabulation of Hierarchies ends). The ascending Hierarchies are virtually limitless as far as man is concerned. There are also many orderly subdivisions within the Hierarchies listed
60. Ở các trang 34 và 35 của Chiêm Tinh Học Nội Môn chúng ta được cho một bảng liệt kê mười hai Huyền Giai Sáng Tạo. Rõ ràng, xét theo phát biểu trên, còn có rất, rất nhiều hơn nữa. Các cõi không chấm dứt ở cõi phụ thứ ba của cõi cảm dục vũ trụ (như bảng liệt kê các Huyền Giai chấm dứt). Các Huyền Giai thăng lên hầu như vô hạn theo như con người có thể quan niệm. Cũng có nhiều phân bộ có trật tự bên trong các Huyền Giai được liệt kê.
These solar devas take the radiatory rays of the sun which reach from its centre to the periphery along one of the three channels of approach, pass them through their organism and focalise them there. They act almost as a burning glass acts.
Các thiên thần thái dương này tiếp nhận các tia bức xạ của mặt trời vươn từ trung tâm đến chu vi theo một trong ba kênh tiếp cận, chuyển chúng qua cơ thể của họ và hội tụ chúng tại đó. Họ hành động gần như cách một kính hội tụ đốt cháy hoạt động.
61. Earlier we dealt with the “three channels of approach” found in every atom (human, planetary, solar or the atom of substance).
61. Trước đây chúng ta đã bàn đến “ba kênh tiếp cận” được tìm thấy trong mọi nguyên tử (nguyên tử người, hành tinh, thái dương hay nguyên tử của chất liệu).
62. It is to be noted that the triple channel reaches from the centre to the periphery of the being concerned.
62. Cần lưu ý rằng kênh tam phân vươn từ trung tâm đến chu vi của hữu thể liên hệ.
63. The golden hued pranic devas receive the diffuse surface radiation of the Sun and focalize those rays. This focussing is likened to the action of a magnifying glass, or “burning glass”.
63. Các thiên thần prana sắc vàng kim tiếp nhận bức xạ bề mặt khuếch tán của Mặt Trời và hội tụ các tia ấy. Sự hội tụ này được ví với hoạt động của kính lúp, hay “kính hội tụ đốt cháy”.
These rays are then reflected or transmitted to man's etheric body, and caught up by him and again assimilated.
Những tia này sau đó được phản chiếu hay truyền đến thể dĩ thái của con người, và được y tiếp nhận rồi lại đồng hóa.
64. The devas transmit the focalized prana directly to man’s etheric body.
64. Các thiên thần truyền prana đã được hội tụ trực tiếp đến thể dĩ thái của con người.
65. The entire process is a chain of transmission and assimilation and, again, transmission.
65. Toàn bộ tiến trình là một chuỗi truyền dẫn và đồng hóa, rồi lại truyền dẫn.
When the etheric body is in good order and functioning correctly, enough of this prana is absorbed to keep the form organised.
Khi thể dĩ thái ở trong tình trạng tốt và hoạt động đúng đắn, đủ lượng prana này được hấp thu để giữ cho hình tướng được tổ chức.
66. This suggests that a poorly functioning etheric body may not absorb prana as it should.
66. Điều này gợi ý rằng một thể dĩ thái hoạt động kém có thể không hấp thu prana như nó nên làm.
This is the whole object of the etheric body's functioning, and is a point which cannot be sufficiently emphasised.
Đây là toàn bộ mục đích của hoạt động của thể dĩ thái, và là một điểm không thể được nhấn mạnh cho đủ.
67. DK emphasizes again the major function of the etheric body and its relation to healthful physical continuity.
67. Chân sư DK lại nhấn mạnh chức năng chủ yếu của thể dĩ thái và mối liên hệ của nó với sự liên tục hồng trần lành mạnh.
The remainder is cast off in the form of animal radiation, or physical magnetism—all terms expressing the same idea. Man therefore repeats on a lesser scale the work of the great solar devas, and in his turn adds his quota of repolarised or remagnetised emanation to the sumtotal of the planetary aura.
Phần còn lại bị thải ra dưới dạng bức xạ động vật, hay từ điện hồng trần—mọi thuật ngữ đều diễn đạt cùng một ý. Vì vậy, con người lặp lại ở quy mô nhỏ hơn công việc của các thiên thần thái dương vĩ đại, và đến lượt mình thêm phần phát xạ đã được tái phân cực hay tái từ hóa của mình vào tổng thể hào quang hành tinh.
68. Unassimilated prana, when cast off, goes by the names “animal radiation” or “physical magnetism”. Some of this may well be used in the healing process.
68. Prana không được đồng hóa, khi bị thải ra, mang các tên “bức xạ động vật” hay “từ điện hồng trần”. Một phần của nó rất có thể được dùng trong tiến trình trị liệu.
69. The analogy holds good and man acts to a lesser sphere as the “great solar devas” have acted in relation to o him.
69. Loại suy vẫn đúng và con người hành động trong một khối cầu nhỏ hơn như các “thiên thần thái dương vĩ đại” đã hành động đối với y.
70. That prana which is cast off from man (due to non-absorption) has been “repolarised or remagnetised”, and is an emanation adding to the “sumtotal of the planetary aura”. The receiving entity requalifies that which is received. For instance, the first ray passing through Saturn and then emanated is qualified differently from the first ray passing through Vulcan and then emanated. A quality of the recipient organism is added.
70. Prana bị thải ra từ con người (do không được hấp thu) đã được “tái phân cực hay tái từ hóa”, và là một phát xạ góp thêm vào “tổng thể của hào quang hành tinh”. Thực thể tiếp nhận tái định phẩm điều được tiếp nhận. Chẳng hạn, cung một đi qua Sao Thổ rồi được phát ra sẽ được định phẩm khác với cung một đi qua Vulcan rồi được phát ra. Một phẩm tính của cơ thể tiếp nhận được thêm vào.
71. In the flow of life, there is no unnecessary retention of energy. Health demands circulation.
71. Trong dòng chảy của sự sống, không có sự giữ lại năng lượng nào là không cần thiết. Sức khỏe đòi hỏi sự lưu thông.
2. Planetary prana.
2. Prana hành tinh.
This is the vital fluid emanated from any planet, which constitutes its basic coloring or quality, and is produced by a repetition within the planet of the same process [Page 92] which is undergone in connection with man and solar prana.
Đây là lưu chất sinh lực phát ra từ bất kỳ hành tinh nào, cấu thành sắc thái hay phẩm tính căn bản của nó, và được tạo ra bởi sự lặp lại bên trong hành tinh của cùng một tiến trình [Page 92] đã diễn ra trong mối liên hệ với con người và prana thái dương.
72. DK continues the analogy. We note that the pranic flows are “vital fluid(s)” which are magnetic. Prana flows.
72. Chân sư DK tiếp tục phép loại suy. Chúng ta lưu ý rằng các dòng prana là những “lưu chất sinh lực” có từ tính. Prana chảy.
73. Just as the pranic planetary emanation has its own “basic coloring or quality”, the same may be predicated of the pranic emanation of from the Sun or from man.
73. Cũng như phát xạ prana hành tinh có “sắc thái hay phẩm tính căn bản” riêng của nó, điều tương tự cũng có thể được khẳng định về phát xạ prana từ Mặt Trời hay từ con người.
The planet (the Earth, or any other planet) absorbs solar prana, assimilates what is required, and radiates off that which is not essential to its well-being in the form of planetary radiation.
Hành tinh (Trái Đất, hay bất kỳ hành tinh nào khác) hấp thu prana thái dương, đồng hoá điều cần thiết, và phóng xạ ra điều không thiết yếu cho sự an lành của nó dưới hình thức bức xạ hành tinh.
74. We see there is no waste. That which cannot be assimilated “radiates off” or is “cast off”. Any entity can only receive according to its capacity. One of the greatest cosmic ‘sins’ is to hoard energy/force, and it has its dire consequences to the one who unlawfully retains.
74. Chúng ta thấy không có gì bị lãng phí. Điều không thể được đồng hoá thì “phóng xạ ra” hoặc bị “thải bỏ”. Bất kỳ thực thể nào cũng chỉ có thể tiếp nhận tùy theo năng lực của nó. Một trong những “tội lỗi” vũ trụ lớn nhất là tích trữ năng lượng/mãnh lực, và điều đó đem lại những hậu quả nghiêm trọng cho kẻ giữ lại một cách trái luật.
Planetary prana, therefore, is solar prana which has passed throughout the planet, has circulated through the planetary etheric body, has been transmitted to the dense physical planet, and has been cast off thence in the form of a radiation of the same essential character as solar prana, plus the individual and distinctive quality of the particular planet concerned.
Do đó, prana hành tinh là prana thái dương đã đi xuyên khắp hành tinh, đã tuần hoàn qua thể dĩ thái hành tinh, đã được truyền đến hành tinh hồng trần đậm đặc, rồi từ đó bị thải ra dưới hình thức một bức xạ có cùng bản chất cốt yếu như prana thái dương, cộng thêm phẩm tính cá biệt và đặc thù của hành tinh liên hệ.
75. Another important idea is given, equating two kinds of prana—showing that there is no essential difference between them. In a way, all prana is one prana of a universal kind.
75. Ở đây có thêm một ý tưởng quan trọng, đồng nhất hai loại prana—cho thấy giữa chúng không có sự khác biệt cốt yếu nào. Theo một nghĩa nào đó, mọi prana đều là một prana duy nhất thuộc loại phổ quát.
76. We note that before any casting off occurs, the received prana is circulated and, in proper measure, transmitted to the dense physical body.
76. Chúng ta lưu ý rằng trước khi có bất kỳ sự thải bỏ nào xảy ra, prana tiếp nhận được sẽ được tuần hoàn và, theo mức độ thích hợp, được truyền đến thể xác hồng trần đậm đặc.
77. It is the “individual and distinctive quality” of the receiving entity which is added to the prana it has received from a superior radiating entity.
77. Chính “phẩm tính cá biệt và đặc thù” của thực thể tiếp nhận được thêm vào prana mà nó đã nhận từ một thực thể phóng xạ cao hơn.
78. Whatever passed through us or any entity is qualified according to the nature of the receiver.
78. Bất cứ điều gì đi qua chúng ta hay qua bất kỳ thực thể nào đều được định tính theo bản chất của kẻ tiếp nhận.
79. A question arises as to whether all the received prana must be circulated and transmitted to the physical body before it can be cast off. Perhaps the received prana must be sent in the direction of the dense physical body before it can be cast off as excessive or inassimilable.
79. Một câu hỏi được đặt ra là liệu toàn bộ prana tiếp nhận được có phải được tuần hoàn và truyền đến thể xác hồng trần trước khi nó có thể bị thải bỏ hay không. Có lẽ prana tiếp nhận được phải được gửi theo hướng của thể xác hồng trần đậm đặc trước khi nó có thể bị thải bỏ như phần dư thừa hoặc không thể đồng hoá.
This again repeats the process undergone in the human body. The physical radiations of men differ according to the quality of their physical bodies. So it is with a planet.
Điều này một lần nữa lặp lại tiến trình diễn ra trong thể người. Các bức xạ hồng trần của những người nam và nữ khác nhau tùy theo phẩm tính của thể xác họ. Hành tinh cũng vậy.
80. The analogy is extended to man.
80. Sự tương đồng được mở rộng sang con người.
81. What is meant here by “their physical bodies”? Shall we say that the quality of both the dense physical and the etheric bodies is meant?
81. Ở đây “thể xác của họ” có nghĩa là gì? Chúng ta có nên nói rằng phẩm tính của cả thể xác hồng trần đậm đặc lẫn thể dĩ thái đều được hàm ý không?
Planetary emanative prana (as in the case of solar prana) is caught up and transmitted via a particular group of devas, called the "devas of the shadows," who are ethereal devas of a slightly violet hue. Their bodies are composed of the matter of one or other of the four ethers, and they focalise and concentrate the emanations of the planet, and of all forms upon the planet.
Prana phát xạ hành tinh (cũng như trong trường hợp prana thái dương) được một nhóm thiên thần đặc biệt tiếp nhận và truyền đi, được gọi là “thiên thần của bóng tối”, là những thiên thần dĩ thái có sắc tím hơi nhạt. Thể của họ được cấu tạo từ vật chất của một trong bốn cõi dĩ thái, và họ hội tụ cũng như tập trung các phát xạ của hành tinh, và của mọi hình tướng trên hành tinh.
82. It is clear that man depends upon or lives by means of planetary emanative prana as well as solar prana—really the same thing, the former having passed through the etheric (and physical?) bodies of the planet where it has been repolarised and re-qualified.
82. Rõ ràng con người lệ thuộc vào hay sống nhờ prana phát xạ hành tinh cũng như prana thái dương—thật ra là cùng một thứ, chỉ khác là loại trước đã đi qua các thể dĩ thái (và hồng trần?) của hành tinh, nơi nó đã được tái phân cực và được định tính lại.
83. The role of the “devas of the shadows” is stated. Here they are said to have a “slightly violet hue”. Elsewhere, greater delineation is given:
83. Vai trò của “thiên thần của bóng tối” được nêu ra. Ở đây họ được nói là có “sắc tím hơi nhạt”. Ở nơi khác, sự mô tả chi tiết hơn được đưa ra:
“As the two planes, astral and physical, merge and blend, and continuity of consciousness is experienced upon the two, it will be difficult for human beings to differentiate at first between devas of the astral plane, and those of the physical. At the beginning of this period of recognition, men will principally contact the violet devas, for those of the higher ranks amongst them are definitely making the attempt to contact the human. These devas of the shadows are of a dark purple on the fourth etheric level, of a lighter purple, much the same colour as violet, on the third etheric level, a light violet on the second, whilst on the atomic subplane they are of a glorious translucent lavender.”(TCF 912)
“Khi hai cõi, cảm dục và hồng trần, hòa nhập và dung hợp, và sự liên tục của tâm thức được kinh nghiệm trên cả hai cõi, thì lúc đầu con người sẽ khó phân biệt giữa các thiên thần của cõi cảm dục và các thiên thần của cõi hồng trần. Vào lúc bắt đầu giai đoạn nhận biết này, con người chủ yếu sẽ tiếp xúc với các thiên thần tím, vì những vị thuộc hàng cao hơn trong số họ đang nhất định cố gắng tiếp xúc với con người. Những thiên thần của bóng tối này có màu tím sẫm ở cấp dĩ thái thứ tư, màu tím nhạt hơn, gần như cùng màu với violet, ở cấp dĩ thái thứ ba, màu tím nhạt ở cấp thứ hai, còn ở cõi phụ nguyên tử thì họ có màu oải hương trong suốt rực rỡ.”(TCF 912)
84. The violet devas are related in some symbolical way to the Moon, as they carry a crescent moon on their foreheads.
84. Các thiên thần tím có liên hệ theo một cách biểu tượng nào đó với Mặt Trăng, vì họ mang một vầng trăng lưỡi liềm trên trán.
85. We are seeing, therefore, a cooperation between golden solar devas who catch and transmit the solar pranic emanations and ‘lunar’ violet devas who catch and transmit planetary pranic emanations.
85. Do đó, chúng ta đang thấy một sự hợp tác giữa các thiên thần thái dương màu vàng kim, những vị tiếp nhận và truyền các phát xạ prana thái dương, và các thiên thần tím “nguyệt” tiếp nhận và truyền các phát xạ prana hành tinh.
They have a specially close connection with human beings owing to the fact of the essential resemblance of their bodily substance to man's etheric substance, and because they transmit to him the magnetism of "Mother Earth" as it is called.
Họ có một mối liên hệ đặc biệt gần gũi với con người do sự tương đồng cốt yếu giữa chất liệu thể của họ với chất liệu dĩ thái của con người, và bởi vì họ truyền cho y từ điện của “Mẹ Địa Cầu” như cách gọi đó.
86. These violet devas are another group closely related to man. We have just read that the solar pranic devas are also closely related (i.e., “Relations between man and this group of devas are very close”—TCF 90)
86. Những thiên thần tím này là một nhóm khác có liên hệ mật thiết với con người. Chúng ta vừa đọc rằng các thiên thần prana thái dương cũng có liên hệ mật thiết như vậy (tức là, “Mối liên hệ giữa con người và nhóm thiên thần này là rất gần gũi”—TCF 90)
87. We note that close relations between entities may arise if within their bodies there is a close similarity of substance. These violet devas are not within man’s etheric body but have bodies with substance very similar to the substance of man’s etheric bodies.
87. Chúng ta lưu ý rằng những mối liên hệ gần gũi giữa các thực thể có thể phát sinh nếu trong các thân thể của họ có sự tương đồng gần gũi về chất liệu. Những thiên thần tím này không ở trong thể dĩ thái của con người, nhưng họ có những thể với chất liệu rất giống với chất liệu của các thể dĩ thái của con người.
88. Earlier, of the violet devas, we were told that they transmit to man both solar and planetary radiation.
88. Trước đó, về các thiên thần tím, chúng ta đã được cho biết rằng họ truyền cho con người cả bức xạ thái dương lẫn bức xạ hành tinh.
89. Our pranic nurturance from the Earth considered as “Mother” comes through these violet devas.
89. Sự nuôi dưỡng prana của chúng ta từ Trái Đất được xem như “Mẹ” đến qua các thiên thần tím này.
90. In considering this fact, the relations between Earth, Moon, Cancer, Sun, Leo, Taurus and the color violet is to be considered.
90. Khi xét đến sự kiện này, cần xem xét các mối liên hệ giữa Trái Đất, Mặt Trăng, Cự Giải, Mặt Trời, Sư Tử, Kim Ngưu và màu tím.
91. Below is a summary helpful to us in gathering our thoughts.
91. Dưới đây là phần tóm lược hữu ích cho chúng ta trong việc tập hợp tư tưởng.
Therefore we see that there are two groups of devas working in connection with man:
Do đó chúng ta thấy rằng có hai nhóm thiên thần hoạt động liên hệ với con người:
a. Solar devas, who transmit the vital fluid which circulates in the etheric body.
a. Các thiên thần thái dương, những vị truyền lưu chất sinh lực tuần hoàn trong thể dĩ thái.
b. Planetary devas of a violet color, who are allied to man's etheric body, and who transmit earth's prana, or the prana of whichever planet man may be functioning upon during a physical incarnation.
b. Các thiên thần hành tinh màu tím, những vị liên kết với thể dĩ thái của con người, và truyền prana của địa cầu, hay prana của bất kỳ hành tinh nào mà con người có thể đang hoạt động trên đó trong một kiếp lâm phàm hồng trần.
92. When reading this summary the following must also be borne in mind:
92. Khi đọc phần tóm lược này, cũng phải ghi nhớ điều sau đây:
There are certain large groups of devas, called "the devas of the shadows," or the violet devas, who are closely allied with the evolutionary development of man's etheric body, and who transmit to him solar and planetary radiation. (TCF 90)
Có những nhóm thiên thần lớn nhất định, được gọi là “thiên thần của bóng tối”, hay các thiên thần tím, những vị có liên hệ mật thiết với sự phát triển tiến hoá của thể dĩ thái con người, và truyền cho y bức xạ thái dương và hành tinh. (TCF 90)
93. The violet devas transmit more that “earth’s prana”
93. Các thiên thần tím truyền nhiều hơn là chỉ “prana của địa cầu”
94. We conclude that symbolically, the Sun and the Moon work in closest cooperation ensuring the vitalization of man. (Technically, however, we realize that the Moon is a dead planet and has no vital radiation.)
94. Chúng ta kết luận rằng, theo biểu tượng, Mặt Trời và Mặt Trăng hợp tác mật thiết nhất để bảo đảm sự tiếp sinh lực cho con người. (Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, chúng ta nhận ra rằng Mặt Trăng là một hành tinh chết và không có bức xạ sinh lực.)
A very pertinent question might here be asked, and though we may not fully explain the mystery, a few suggestive [Page 93] hints may be possible. We might ask: What causes the apparent deadness of the Moon? Is there deva life upon it? Does solar prana have no effect there? What constitutes the difference between the apparently dead Moon, and a live planet, such as the Earth?40 [40:S. D., I, 170-180.]
Ở đây có thể nêu ra một câu hỏi rất thích đáng, và dù chúng ta có thể không giải thích đầy đủ được huyền nhiệm này, một vài gợi ý [Page 93] có thể vẫn khả dĩ. Chúng ta có thể hỏi: Điều gì gây ra sự chết rõ rệt của Mặt Trăng? Có sự sống thiên thần trên đó không? Prana thái dương không có tác dụng gì ở đó sao? Điều gì tạo nên sự khác biệt giữa Mặt Trăng dường như đã chết và một hành tinh sống như Trái Đất?40 [40:S. D., I, 170-180.]
95. DK enters a brief discussion of the mystery of the Moon taken up a various points throughout this book and Esoteric Astrology.
95. Chân sư DK bước vào một cuộc bàn luận ngắn về huyền nhiệm của Mặt Trăng, được đề cập ở nhiều điểm khác nhau trong suốt cuốn sách này và trong Chiêm Tinh Học Nội Môn.
96. Is the Moon only “apparently dead” or truly dead?
96. Mặt Trăng chỉ “dường như đã chết” hay thật sự đã chết?
Here we touch upon a hidden mystery, of which the solution lies revealed for those who seek, in the fact that human beings and certain groups of devas are no longer found upon the Moon.
Ở đây chúng ta chạm đến một huyền nhiệm ẩn kín, mà lời giải của nó được mặc khải cho những ai tìm kiếm, trong sự kiện rằng con người và một số nhóm thiên thần nào đó không còn được tìm thấy trên Mặt Trăng nữa.
97. The deadness of the Moon is related to the absence of human being and certain groups of devas (devas who transmit solar prana).
97. Sự chết của Mặt Trăng liên hệ với sự vắng mặt của con người và một số nhóm thiên thần nhất định (các thiên thần truyền prana thái dương).
Man has not ceased to exist upon the Moon because it is dead and cannot therefore support his life, but the Moon is dead because man and these deva groups have been removed from off its surface and from its sphere of influence.41 [41:S. D., I, 179.]
Con người không ngừng hiện hữu trên Mặt Trăng vì nó đã chết và do đó không thể nâng đỡ sự sống của y, mà Mặt Trăng chết là vì con người và các nhóm thiên thần này đã bị dời khỏi bề mặt của nó và khỏi phạm vi ảnh hưởng của nó.41 [41:S. D., I, 179.]
98. This removal, which effectively ‘killed’ the Moon, was due to the intervention of the Solar Logos in the affairs of a planet in which lawlessness had developed beyond the possibility of redemption.
98. Sự dời bỏ này, vốn thực sự đã “giết chết” Mặt Trăng, là do sự can thiệp của Thái dương Thượng đế vào công việc của một hành tinh nơi tình trạng vô luật pháp đã phát triển vượt quá khả năng cứu chuộc.
Man and the devas act on every planet as intermediaries, or as transmitting agencies. Where they are not found, then certain great activities become impossible, and disintegration sets in.
Con người và các thiên thần hoạt động trên mọi hành tinh như những trung gian, hay như những tác nhân truyền dẫn. Nơi nào họ không hiện diện, thì một số hoạt động lớn lao nhất định trở nên bất khả, và sự tan rã bắt đầu.
99. Here the reason is given directly. Man and devas transmit life. Where they are not found, animating life cannot reach that which is to be animated, and death supervenes.
99. Ở đây lý do được nêu trực tiếp. Con người và các thiên thần truyền sự sống. Nơi nào họ không hiện diện, sự sống linh hoạt không thể đến được với điều cần được làm cho sống động, và cái chết xảy ra.
The reason for this removal lies in the cosmic Law of Cause and Effect, or cosmic karma, and in the composite, yet individual, history of that one of the Heavenly Men Whose body, the Moon or any other dead planet at any time happened to be.
Lý do của sự dời bỏ này nằm trong Định luật Nhân Quả vũ trụ, hay nghiệp quả vũ trụ, và trong lịch sử tổng hợp nhưng cá biệt của một trong những Đấng Thiên Nhân mà thân thể của Ngài, vào một thời điểm nào đó, chính là Mặt Trăng hay bất kỳ hành tinh chết nào khác.
100. DK hints at cosmic causes for this removal of man and deva from the Moon.
100. Chân sư DK gợi ý về những nguyên nhân vũ trụ cho sự dời bỏ con người và thiên thần khỏi Mặt Trăng.
101. If the karma is “cosmic” it concerns more than strictly planetary beings. As the intervention of the Solar Logos occurred (in relation to the Moon’s process), that great solar being must also have been karmically involved. Perhaps the life informing the Moon had become response to certain negative cosmic influences which could not be allowed to have influence within the Earth-scheme.
101. Nếu nghiệp quả là “vũ trụ” thì nó liên quan đến nhiều hơn là các hữu thể thuần khiết hành tinh. Vì sự can thiệp của Thái dương Thượng đế đã xảy ra (liên hệ đến tiến trình của Mặt Trăng), nên hữu thể thái dương vĩ đại ấy hẳn cũng đã can dự về mặt nghiệp quả. Có lẽ sự sống phú linh cho Mặt Trăng đã trở nên đáp ứng với một số ảnh hưởng vũ trụ tiêu cực nào đó mà không thể được phép có ảnh hưởng trong hệ hành tinh Địa Cầu.
102. Another hint is given. There are other dead planets and they have been the bodies of Heavenly Men (or Planetary Logoi).
102. Một gợi ý khác được đưa ra. Có những hành tinh chết khác, và chúng đã từng là các thân thể của những Đấng Thiên Nhân (hay các Hành Tinh Thượng Đế).
103. As far as we can tell, the Moon was the body of a Chain-lord within the Earth-scheme (an entity informing an entire planetary chain) and, from one perspective, could also be considered a vehicle of manifestation for the Planetary Logos of the Earth-scheme.
103. Theo chỗ chúng ta có thể nhận định, Mặt Trăng là thân thể của một Chúa Tể Dãy trong hệ hành tinh Địa Cầu (một thực thể phú linh cho toàn bộ một dãy hành tinh) và, từ một góc độ, cũng có thể được xem là một vận cụ biểu hiện cho Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Địa Cầu.
104. Did the physical Earth exist at the time the physical Moon existed? Did the Moon-chain and the Earth-chain exist simultaneously? (A number of references in TCF seem to indicate they did.) Why within the Earth-scheme should there be two physical planets—even if sequential? (This is not the case for any other planetary scheme in our solar system.) Is it only because of the failure of the first of these planets? If the precipitation of the physical Earth followed sequentially upon the ‘death’ of the Moon, was it even planned that there would be a physical Earth?
104. Trái Đất hồng trần có hiện hữu vào thời Mặt Trăng hồng trần hiện hữu không? Dãy Mặt Trăng và Dãy Địa Cầu có hiện hữu đồng thời không? (Một số dẫn chiếu trong TCF dường như cho thấy là có.) Tại sao trong hệ hành tinh Địa Cầu lại có hai hành tinh hồng trần—dù là tuần tự? (Điều này không xảy ra với bất kỳ hệ hành tinh nào khác trong hệ mặt trời của chúng ta.) Có phải chỉ vì sự thất bại của hành tinh đầu tiên trong hai hành tinh này không? Nếu sự ngưng tụ của Trái Đất hồng trần diễn ra tuần tự sau “cái chết” của Mặt Trăng, thì liệu ngay từ đầu có hề được hoạch định rằng sẽ có một Trái Đất hồng trần hay không?
105. There are many mysteries here—mysterious to us, at least.
105. Ở đây có rất nhiều huyền nhiệm—ít nhất là huyền nhiệm đối với chúng ta.
TCF S1S9 (93-97)
3. The prana of forms.
3. Prana của các hình tướng.
It must first be pointed out that forms are necessarily of two kinds, each having a different place in the scheme:
Trước hết phải chỉ ra rằng các hình tướng tất yếu thuộc hai loại, mỗi loại có một vị trí khác nhau trong hệ:
Forms that are the result of the work of the third and the second Logos, and Their united life. Such forms are the units in the vegetable, animal and mineral kingdoms.
Các hình tướng là kết quả của công việc của Logos thứ ba và Logos thứ hai, và sự sống hợp nhất của Các Ngài. Những hình tướng như vậy là các đơn vị trong giới thực vật, giới động vật và giới kim thạch.
1. Forms which are not yet self-conscious are the combined creator labor of the Third Logos and Second Logos.
1. Những hình tướng chưa có ngã thức là công trình sáng tạo kết hợp của Logos thứ Ba và Logos thứ Hai.
2. Are there forms which pre-exist the beginning of the mineral kingdom? If so, they do would be the work of these two Logoi?
2. Có những hình tướng nào hiện hữu trước khi giới kim thạch bắt đầu không? Nếu có, chúng có phải là công trình của hai Logos này không?
3. It appears there are the three elemental kingdoms or groups, and they are of the Third Aspect alone. Check references around:
3. Dường như có ba giới hành khí hay ba nhóm hành khí, và chúng chỉ thuộc riêng Phương diện thứ Ba. Kiểm tra các dẫn chiếu quanh đây:
TCF p. 1194:“a. Three incorporeal who are the elemental kingdoms.”
TCF tr. 1194:“a. Ba nhóm vô thể là các giới hành khí.”
TCF: “The work of a human atom, therefore, is but a replica of that which proceeds in the planetary, or solar atom, and serves as an incentive to those minute individual lives which find their place in the six subhuman kingdoms (the [Page 1215] three elemental, and the three material)”
TCF: “Do đó, công việc của một nguyên tử nhân loại chỉ là bản sao của điều đang diễn ra trong nguyên tử hành tinh hay thái dương, và phục vụ như một sự khích lệ cho những sự sống cá biệt nhỏ bé tìm thấy vị trí của chúng trong sáu giới dưới nhân loại (ba giới hành khí, và ba giới vật chất)”
TCF: [Page 1139] The fourth or human group, unites all three lives. The periodic manifestation of the three elemental groups (through the medium of the three lower kingdoms) is, therefore, governed by factors hidden in the nature of that great vibration which we call tamasic, or heavy rhythm. It is the vibration of Brahma, the third aspect, the mother or matter aspect. …
TCF: [Page 1139] Nhóm thứ tư hay nhóm nhân loại hợp nhất cả ba sự sống. Do đó, sự biểu hiện tuần hoàn của các nhóm hành khí (thông qua trung gian của ba giới thấp) được chi phối bởi những yếu tố ẩn kín trong bản chất của rung động lớn lao mà chúng ta gọi là tamas, hay nhịp điệu nặng nề. Đó là rung động của Brahma, phương diện thứ ba, phương diện mẹ hay vật chất. …
4. Are there deva forms which arise from the cooperation of only these two Logoi? Are not the ones mentioned deva forms, perhaps, as hinted below, not “strictly deva” but more elemental, or involutionary deva?
4. Có những hình tướng thiên thần nào phát sinh từ sự hợp tác chỉ của hai Logos này không? Chẳng phải những hình tướng vừa nêu cũng là hình tướng thiên thần sao, có lẽ như được gợi ý dưới đây, không phải là “thiên thần theo nghĩa chặt chẽ” mà mang tính hành khí hơn, hay thiên thần giáng hạ tiến hoá?
5. Remember when speaking of Logoi in this way, we are not discussing either Solar Logoi or Planetary Logoi, but (when confining ourselves to our solar system) to the third, second and first aspects of our Solar Logos (responsible, respectively, for the first, second and third “Outpourings”).
5. Hãy nhớ rằng khi nói về các Logos theo cách này, chúng ta không bàn đến các Thái dương Thượng đế hay các Hành Tinh Thượng Đế, mà (khi giới hạn trong hệ mặt trời của chúng ta) là ba phương diện thứ ba, thứ hai và thứ nhất của Thái dương Thượng đế của chúng ta (lần lượt chịu trách nhiệm cho “ba lần tuôn đổ” thứ nhất, thứ hai và thứ ba).
Forms that are the result of the united action of the three Logoi, and comprise the strictly deva and human forms.
Các hình tướng là kết quả của tác động hợp nhất của ba Logos, và bao gồm các hình tướng thiên thần theo nghĩa chặt chẽ và hình tướng con người.
6. It is easy to understand why man, a self-conscious being, (in order to exist) requires the creativity of the First Logos as well as the Second and Third Logoi. Why should this be the case for all devas? Or are only the self-conscious devas thus created?
6. Thật dễ hiểu vì sao con người, một hữu thể có ngã thức, (để hiện hữu) cần đến tính sáng tạo của Logos thứ Nhất cũng như Logos thứ Hai và thứ Ba. Tại sao điều này lại đúng với mọi thiên thần? Hay chỉ những thiên thần có ngã thức mới được tạo ra như vậy?
7. One answer might be that the devas represent the law, and the First Logos is the carrier of Will and Law.
7. Một câu trả lời có thể là các thiên thần biểu hiện định luật, và Logos thứ Nhất là đấng mang Ý Chí và Định luật.
8. He is using the term ‘logos’ here largely in its non-agency sense, meaning the function of form-making. Therefore the three lower kingdoms on Earth are made under the Brahma/Vishnu influence or the logos of spirit matter and the logos of creative wisdom (see p 94), otherwise referred to the Universal World Soul (Treatise p 3).
8. Ở đây ông dùng thuật ngữ ‘logos’ phần lớn theo nghĩa phi tác nhân, tức là chức năng tạo hình. Vì vậy ba giới thấp trên Trái Đất được tạo thành dưới ảnh hưởng Brahma/Vishnu hay logos của tinh thần-vật chất và logos của minh triết sáng tạo (xem tr. 94), còn được gọi là Đại Hồn Thế Giới Phổ Quát (Treatise tr. 3).
9. The Shiva Aspect is, however, present in human and deva formation. This must be significant since it means that human beings are potentially available for divine development.
9. Tuy nhiên, Phương diện Shiva hiện diện trong sự hình thành con người và thiên thần. Điều này hẳn có ý nghĩa, vì nó có nghĩa rằng con người có tiềm năng sẵn có cho sự phát triển thiêng liêng.
10. … the prana of forms (p 93), in our scheme, are of two kinds:
10. … prana của các hình tướng (tr. 93), trong hệ của chúng ta, có hai loại:
1. forms resulting from the work of the third and second logos and their united life. This applies to the three lower kingdoms – vegetable, animal and mineral;
1. các hình tướng phát sinh từ công việc của logos thứ ba và thứ hai cùng sự sống hợp nhất của các vị ấy. Điều này áp dụng cho ba giới thấp – giới thực vật, giới động vật và giới kim thạch;
2. forms resulting from the united action of all three logoi. This applies to “strictly deva and human forms”.
2. các hình tướng phát sinh từ tác động hợp nhất của cả ba logos. Điều này áp dụng cho “các hình tướng thiên thần theo nghĩa chặt chẽ và hình tướng con người”.
11. He adds that there is also a third and simpler form of matter “of which all other forms are made”. It is atomic and molecular matter, animated by the third logos (of the Brahma aspect).
11. Ông nói thêm rằng còn có một hình thức vật chất thứ ba và đơn giản hơn nữa “mà từ đó mọi hình tướng khác được tạo nên”. Đó là vật chất nguyên tử và phân tử, được làm sống động bởi logos thứ ba (thuộc phương diện Brahma).
There is also the still simpler form embodied in the substance of which all the other forms are made. This matter is strictly speaking the atomic and molecular matter, and is animated by the life or energy of the third Logos.
Cũng còn có hình thức còn đơn giản hơn nữa được thể hiện trong chất liệu mà từ đó mọi hình tướng khác được tạo nên. Nói một cách chính xác, vật chất này là vật chất nguyên tử và phân tử, và được làm sống động bởi sự sống hay năng lượng của Logos thứ ba.
12. Usually “form” is related to the work of the Second Logos, but it correct to say that the tiny atom of substance and more complex molecules are, indeed, forms.
12. Thông thường “hình tướng” được liên hệ với công việc của Logos thứ Hai, nhưng nói rằng nguyên tử nhỏ bé của chất liệu và các phân tử phức tạp hơn quả thật là những hình tướng là điều đúng.
13. These tiny building blocks result from the work of the differentiating and separating work of the “Third Logos” at the “First Outpouring”.
13. Những khối xây dựng nhỏ bé này là kết quả của công việc biến phân và phân tách của “Logos thứ Ba” trong “Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất”.
14. All this is detailed in the map below.
14. Tất cả điều này được trình bày chi tiết trong sơ đồ bên dưới.
15. It seems this third aspect energy is simply the material which is used to create all the other forms; mineral, vegetable, and animal.
15. Dường như năng lượng phương diện thứ ba này đơn giản là vật liệu được dùng để tạo nên mọi hình tướng khác; khoáng vật, thực vật và động vật.
[Page 94]
[Page 94]
CHART II — LOGOS OF A SOLAR SYSTEM
BIỂU ĐỒ II — LOGOS CỦA MỘT HỆ MẶT TRỜI
—
[Page Footnote 43 brought forward]
[Page Chuyển tiếp chú thích 43]
43:"The Three Outpourings. In the diagram the "symbols of the three Aspects (of the Logos) are placed outside of time and space, and only the streams of influence from them descend into our system of planes....They represent in due order what are commonly called the three Persons of the Trinity....
43:"Ba Lần Tuôn Đổ. Trong sơ đồ này, “các biểu tượng của ba Phương diện (của Logos)” được đặt ra ngoài thời gian và không gian, và chỉ các dòng ảnh hưởng từ chúng mới đi xuống vào hệ các cõi của chúng ta.... Chúng lần lượt biểu thị điều thường được gọi là ba Ngôi của Tam Vị....
It will be seen that from each of them an outpouring of life or force is projected into the planes below. The first of these in order is the straight line which descends from the third Aspect; the second is that part of the large oval which lies on our left hand—the stream which descends from the second Aspect until it has touched the lowest point in matter, and then rises again up the side on our right hand until it reaches the lower mental level.
Sẽ thấy rằng từ mỗi vị có một lần tuôn đổ sự sống hay mãnh lực được phóng chiếu vào các cõi bên dưới. Lần thứ nhất theo thứ tự là đường thẳng đi xuống từ Phương diện thứ ba; lần thứ hai là phần của hình bầu dục lớn nằm bên tay trái chúng ta—dòng đi xuống từ Phương diện thứ hai cho đến khi chạm điểm thấp nhất trong vật chất, rồi lại đi lên phía bên tay phải cho đến khi đạt tới cấp hạ trí thấp hơn.
It will be noted that in both of these outpourings the divine life becomes darker and more veiled as it descends into matter, until at the lowest point we might almost fail to recognise it as divine life at all; but as it rises again when it has passed its nadir it shows itself somewhat more clearly.
Cần lưu ý rằng trong cả hai lần tuôn đổ này, sự sống thiêng liêng trở nên tối hơn và bị che phủ nhiều hơn khi đi xuống vào vật chất, đến mức ở điểm thấp nhất chúng ta gần như không còn nhận ra đó là sự sống thiêng liêng nữa; nhưng khi nó đi lên trở lại sau khi đã vượt qua điểm thấp nhất của mình, nó biểu lộ phần nào rõ ràng hơn.
The third outpouring which descends from the highest aspect of the Logos differs from the others in that it is in no way clouded by the matter through which it passes, but retains its virgin purity and splendour untarnished.
Lần tuôn đổ thứ ba đi xuống từ phương diện cao nhất của Logos khác với hai lần kia ở chỗ nó hoàn toàn không bị che mờ bởi vật chất mà nó đi qua, mà vẫn giữ nguyên sự tinh tuyền trinh nguyên và huy hoàng không hoen ố.
It will be noted that this outpouring descends only to the level of the buddhic plane (the fourth plane) and that the link between the two is formed by a triangle in a circle, representing the individual soul of man—the reincarnating ego.
Cần lưu ý rằng lần tuôn đổ này chỉ đi xuống đến cấp độ của cõi Bồ đề (cõi thứ tư) và mối liên kết giữa hai bên được tạo thành bởi một tam giác trong một vòng tròn, tượng trưng cho linh hồn cá nhân của con người—chân ngã tái sinh.
Here the triangle is contributed by the third outpouring and the circle by the second...."—The Christian Creed, by C. W. Leadbeater, pp. 39, 40.)
Ở đây tam giác do lần tuôn đổ thứ ba đóng góp và vòng tròn do lần tuôn đổ thứ hai...."—Tín Điều Cơ Đốc, của C. W. Leadbeater, tr. 39, 40.)
16. The important thing to note in Leadbeater’s description of the Three Outpourings is that the Third Outpouring descends unobscured by the levels of matter through which it descends.
16. Điều quan trọng cần lưu ý trong mô tả của Leadbeater về Ba Lần Tuôn Đổ là Lần Tuôn Đổ Thứ Ba đi xuống mà không bị các cấp độ vật chất nó đi qua làm che khuất.
17. The circle and triangle seem to be missing from the diagram. The triangle will represent the threefold monad (and is, thus, directly related to the Third Outpouring. The circle is said to relate to the Second Outpouring, and is the ‘circle of form’.
17. Vòng tròn và tam giác dường như bị thiếu trong sơ đồ. Tam giác sẽ tượng trưng cho chân thần tam phân (và do đó liên hệ trực tiếp với Lần Tuôn Đổ Thứ Ba). Vòng tròn được nói là liên hệ với Lần Tuôn Đổ Thứ Hai, và là “vòng tròn của hình tướng”.
18. The triangle within the circle is a symbol for the soul of man within the causal body.
18. Tam giác trong vòng tròn là biểu tượng cho linh hồn con người trong thể nguyên nhân.
19. We note that the Third Outpouring descends no lower than the buddhic plane. The buddhi plane is still one of the planes of life, and is not part of the threefold dense physical nature of the Solar Logos.
19. Chúng ta lưu ý rằng Lần Tuôn Đổ Thứ Ba không đi xuống thấp hơn cõi Bồ đề. Cõi Bồ đề vẫn là một trong những cõi của sự sống, và không thuộc về bản chất hồng trần đậm đặc tam phân của Thái dương Thượng đế.
20. There is a hint within this fact that the purity of the monad can be met first on the buddhic plane (and especially at the fourth initiation, which discloses the buddhic plane to man in a way not possible when the causal body existed).
20. Trong sự kiện này có một gợi ý rằng sự tinh tuyền của chân thần trước hết có thể được gặp trên cõi Bồ đề (và đặc biệt ở lần điểm đạo thứ tư, vốn khai mở cõi Bồ đề cho con người theo một cách không thể có khi thể nguyên nhân còn tồn tại).
21. Sometimes the monad is called atma-buddhi, indicating its presence within the two highest planes of the spiritual triad.
21. Đôi khi chân thần được gọi là atma-buddhi, cho thấy sự hiện diện của nó trong hai cõi cao nhất của Tam Nguyên Tinh Thần.
22. Should the monad be contacted by means of the higher mind, such contact will be mediated and less direct, for even the higher mind is considered but the gaseous part of the dense physical body of the Solar Logos, and into that body the monad (per se) does not descend.
22. Nếu chân thần được tiếp xúc bằng thượng trí, thì sự tiếp xúc ấy sẽ được trung gian hoá và kém trực tiếp hơn, vì ngay cả thượng trí cũng chỉ được xem là phần khí của thể xác hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế, và vào trong thể ấy chân thần chính nó không đi xuống.
23. Chart II, p 94 and the Note on the Three Outpourings, p 95. The Chart shows the three Outpourings against a background of a good deal of information. … Let’s begin with the Outpourings (life force or energy which produces manifestation) … The three logoi mentioned are those of p 3 of the Treatise and they are therefore represented as functions (rather than as agents or beings).
23. Biểu đồ II, tr. 94 và Ghi chú về Ba Lần Tuôn Đổ, tr. 95. Biểu đồ cho thấy ba Lần Tuôn Đổ trên nền của khá nhiều thông tin. … Hãy bắt đầu với các Lần Tuôn Đổ (sinh lực hay năng lượng tạo ra biểu hiện) … ba logos được nhắc đến là những logos ở tr. 3 của Luận, và do đó được trình bày như các chức năng (hơn là như các tác nhân hay hữu thể).
24. The aim is to show how the Outpourings operate within a solar system. Hence the seven planes represented are our usual seven planes. On the extreme left of the diagram, these seven planes are broken down into seven subplanes.
24. Mục đích là cho thấy các Lần Tuôn Đổ vận hành như thế nào trong một hệ mặt trời. Vì vậy bảy cõi được trình bày là bảy cõi quen thuộc của chúng ta. Ở mé trái của sơ đồ, bảy cõi này được chia thành bảy cõi phụ.
25. The atomic or highest subplane is always shown differently to the others because it is the subplane from which differentiation begins. The cosmic definition of this representation of the solar system is that it is the cosmic physical plane – the lowest of all the cosmic planes (as indicated on the extreme left).
25. Cõi phụ nguyên tử hay cao nhất luôn được trình bày khác với các cõi phụ khác vì đó là cõi phụ mà từ đó sự biến phân bắt đầu. Định nghĩa vũ trụ của cách trình bày này về hệ mặt trời là nó thuộc cõi hồng trần vũ trụ – cõi thấp nhất trong tất cả các cõi vũ trụ (như được chỉ ra ở mé trái).
26. The Outpourings follow a definite route. Number 1 is from the third logos (of the Brahma Aspect). The Chart calls it ‘Creative Wisdom’, whereas on page 3 it is called Cosmic Ideation, the Universal World Soul. This Outpouring operates as a ‘Lifewave Evolution of Matter though, it is shown in its involutionary mode descending from the idea of creation through the seven planes in a straight line (i.e. the straight line in the ovoid in the centre of the Chart) and plunging to the dense physical.
26. Các Lần Tuôn Đổ đi theo một lộ trình xác định. Số 1 là từ logos thứ ba (thuộc Phương diện Brahma). Biểu đồ gọi nó là ‘Minh Triết Sáng Tạo’, trong khi ở trang 3 nó được gọi là Ý Niệm Vũ Trụ, Đại Hồn Thế Giới Phổ Quát. Lần Tuôn Đổ này vận hành như một ‘Làn Sóng Sự Sống Tiến Hoá của Vật Chất, dù nó được trình bày trong phương thức giáng hạ tiến hoá của nó, đi xuống từ ý niệm sáng tạo qua bảy cõi theo một đường thẳng (tức là đường thẳng trong hình trứng ở trung tâm Biểu đồ) và lao xuống cõi hồng trần đậm đặc.
27. However, Lifewave number 2 (Vishnu Aspect, the curved line on the left of the ovoid), governing the Evolution of Form follows a curved descent and then a part-way curved ascent on the opposite side of the ovoid. The curve would suggest that this Lifewave meets resistance both as involution (left-hand curve) and as evolution (right-hand curve). Notice too, that it is form using matter to evolve; hence the part-way ascent on the right of the ovoid.
27. Tuy nhiên, Làn Sóng Sự Sống số 2 (Phương diện Vishnu, đường cong ở bên trái hình trứng), chi phối sự Tiến Hoá của Hình Tướng, đi theo một đường cong đi xuống rồi một phần đường cong đi lên ở phía đối diện của hình trứng. Đường cong gợi ý rằng Làn Sóng Sự Sống này gặp sức cản cả trong giáng hạ tiến hoá (đường cong bên trái) lẫn trong thăng thượng tiến hoá (đường cong bên phải). Cũng lưu ý rằng chính hình tướng dùng vật chất để tiến hoá; vì thế mới có phần đi lên ở phía bên phải hình trứng.
28. The terms used for the seven planes (for the atmic and above) are not the ones most familiar to us. Perhaps the use of the term ‘Nirvanic’ is meant to show that these higher planes all embrace group consciousness. However, by all means mentally substitute the more familiar terms of those in Chart III (p 117).
28. Các thuật ngữ dùng cho bảy cõi (đối với cõi atma trở lên) không phải là những thuật ngữ quen thuộc nhất với chúng ta. Có lẽ việc dùng thuật ngữ ‘Niết Bàn’ nhằm cho thấy rằng tất cả các cõi cao này đều bao hàm tâm thức nhóm. Tuy nhiên, cứ việc thay thế trong trí các thuật ngữ quen thuộc hơn như trong Biểu đồ III (tr. 117).
29. It isn’t difficult to see why Outpouring 1 is a straight line. Matter is present already; it merely has to be revivified. Outpouring 2 has to develop particular forms into particular shapes, etc. It has to work on matter to do this and the process will require time and effort. This outpouring is curved because it meets resistance.
29. Không khó để thấy vì sao Lần Tuôn Đổ 1 là một đường thẳng. Vật chất đã hiện diện sẵn; nó chỉ cần được làm sống lại. Lần Tuôn Đổ 2 phải phát triển những hình tướng riêng biệt thành những hình dạng riêng biệt, v.v. Nó phải tác động lên vật chất để làm điều này và tiến trình ấy sẽ đòi hỏi thời gian và nỗ lực. Lần tuôn đổ này cong vì nó gặp sức cản.
30. The second Outpouring ascends on the right-hand side of the ovoid as far as the mental unit. For further evolutionary movement there has to be Outpouring number 3, the Lifewave of Spirit (Shiva Aspect). This descends only to the buddhic plane.
30. Lần Tuôn Đổ thứ hai đi lên ở phía bên phải hình trứng cho đến đơn vị hạ trí. Muốn có sự vận động tiến hoá xa hơn thì phải có Lần Tuôn Đổ số 3, Lifewave của Tinh thần (Phương diện Shiva). Lần này chỉ đi xuống đến cõi Bồ đề.
31. Therefore there is a gap on the mental plane between the Outpourings. The human ego is formed between the two planes – i.e. the buddhic and the mental unit on the lower mental plane. The human ego develops a causal body at individualisation which body, as we know, is based on the higher mental plane. The Note describes this ego as the triangle (the three triadic principles of the monad reflected in the human soul) in the circle (the causal body).
31. Do đó có một khoảng trống trên cõi trí giữa các Lần Tuôn Đổ. Chân ngã con người được hình thành giữa hai cõi – tức là cõi Bồ đề và đơn vị hạ trí trên cõi hạ trí. Chân ngã con người phát triển một thể nguyên nhân tại thời điểm biệt ngã hóa, mà như chúng ta biết, thể này dựa trên Cõi thượng trí. Ghi chú mô tả chân ngã này như tam giác (ba nguyên khí tam nguyên của chân thần phản chiếu trong linh hồn con người) trong vòng tròn (thể nguyên nhân).
32. The process of individualisation is explained a little later in the Treatise. It is an enormous feat carried out by the heavenly men. Hence via the individualised ego and the third Lifewave, we can see the divine possibilities in human beings – which don’t exist in the lower kingdoms (until they have evolved through the human stage).
32. Tiến trình biệt ngã hóa được giải thích muộn hơn một chút trong Luận. Đó là một kỳ công to lớn do các Đấng Thiên Nhân thực hiện. Vì vậy, thông qua chân ngã đã biệt ngã hóa và Lifewave thứ ba, chúng ta có thể thấy những khả năng thiêng liêng nơi con người – những điều không tồn tại trong các giới thấp (cho đến khi chúng đã tiến hoá qua giai đoạn nhân loại).
33. One might say that these points cover the dominant message of Chart II. What else is going on in the Chart? Various information is added:
33. Có thể nói rằng những điểm này bao quát thông điệp chủ đạo của Biểu đồ II. Còn điều gì khác đang diễn ra trong Biểu đồ? Nhiều thông tin khác được thêm vào:
- There are three levels of elementals belonging to the higher mental plane, lower mental and astral. These elementals are shown because they build the human bodies on the respective planes.
- Có ba cấp độ hành khí thuộc cõi thượng trí, hạ trí và cảm dục. Những hành khí này được trình bày vì chúng xây dựng các thể người trên các cõi tương ứng.
- The bodies equivalent to these planes are shown on the right of the ovoid.
- Các thể tương ứng với các cõi này được trình bày ở bên phải hình trứng.
- Below the causal body, the mental body is shown for the human kingdom and is nascent in the animal kingdom. The astral body is nascent in both the animal and plant kingdoms. Below that is the physical body for all four kingdoms.
- Bên dưới thể nguyên nhân, thể trí được trình bày cho giới nhân loại và đang ở trạng thái phôi thai trong giới động vật. Thể cảm dục đang ở trạng thái phôi thai trong cả giới động vật lẫn giới thực vật. Bên dưới nữa là thể xác cho cả bốn giới.
- Over to the left of the ovoid, the senses and Elements corresponding to the planes are shown:
- Ở phía bên trái hình trứng, các giác quan và Nguyên tố tương ứng với các cõi được trình bày:
Anuapadaka – tattva or essential nature – the Monad on its own plane.
Anuapadaka – tattva hay bản chất cốt yếu – chân thần trên cõi riêng của nó.
Atmic – ether, sound
Atmic – dĩ thái, âm thanh
Buddhic – air, touch
Buddhic – nguyên tố khí, xúc chạm
Manasic – fire, light,
Manasic – Nguyên tố lửa, ánh sáng,
Astral – water, taste
Astral – nguyên tố nước, vị giác
Physical – earth, smell
Physical – nguyên tố đất, khứu giác
- Though not shown, the manasic sense is presumably sight (see EP I p 419). Hearing would seem to be the sense belonging to the atmic.
- Dù không được trình bày, giác quan manas hẳn là thị giác (xem EP I tr. 419). Thính giác dường như là giác quan thuộc về cõi atma.
- Also see and note the correspondence to the senses on TCF p. 188
- Cũng xem và lưu ý sự tương ứng với các giác quan ở TCF tr. 188
- Ether (see Atmic) suggests that the atmic level (which transmits the monad) combines the senses of the lower planes.
- Dĩ thái (xem Atmic) gợi ý rằng cấp độ atma (vốn truyền chân thần) kết hợp các giác quan của các cõi thấp.
- Extreme right of Chart – the atmic is shown as ‘Real Being’, which is reflected on the physical plane.
- Mé phải của Biểu đồ – cõi atma được trình bày là ‘Bản Thể Đích Thực’, được phản chiếu trên cõi hồng trần.
- Real being is shown on the atmic plane.
- Bản thể đích thực được trình bày trên cõi atma.
- Love is shown on the buddhic plane
- Bác ái được trình bày trên cõi Bồ đề
- Intelligence is shown on the mental plane.
- Trí tuệ được trình bày trên cõi trí.
- Astral plane reflects the buddhic as desire and passion.
- Cõi cảm dục phản chiếu cõi Bồ đề thành dục vọng và đam mê.
- Physical plane reflects the atmic as objective reality.
- Cõi hồng trần phản chiếu cõi atma thành thực tại khách quan.
34. Why are the atomic subplanes of each plane shown in Chart II as distinct? It would seem that the answer lies in the difference of this subplane's nature and role. It is less clearly differentiated than the other six subplanes. Moreover, its role is to convey monadic energy. This helps to explain why the human principles are not based on the atomic subplanes. If these principles are to have form, then they must be based on a plane where form can be coherently developed, i.e. below the atomic subplanes.
34. Vì sao các cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi được trình bày trong Biểu Đồ II như là riêng biệt? Có vẻ như câu trả lời nằm ở sự khác biệt trong bản chất và vai trò của cõi phụ này. cõi phụ này ít được biến phân rõ rệt hơn sáu cõi phụ kia. Hơn nữa, vai trò của nó là chuyển tải năng lượng chân thần. Điều này giúp giải thích vì sao các nguyên khí con người không dựa trên các cõi phụ nguyên tử. Nếu các nguyên khí này phải có hình tướng, thì chúng phải dựa trên một cõi nơi hình tướng có thể được phát triển một cách gắn kết, tức là ở dưới các cõi phụ nguyên tử.
35. But here is a passage about the law of vibration indicating how the first or atomic subplane in each plane control the other six.
35. Nhưng ở đây có một đoạn về định luật rung động cho thấy cõi phụ thứ nhất hay cõi phụ nguyên tử trong mỗi cõi kiểm soát sáu cõi phụ còn lại.
TCF page 586:"These laws are all dominated and controlled eventually by the three higher laws in the system—the Laws of Magnetic Control, of Disintegration, and of Cohesion. There is a direct connection between these seven laws and the seven Rays or Vibrations, and if we study the correspondence we shall recognise the fact that the first law, that of Vibration, is the controlling law of the six, demonstrating through the second law, that of Cohesion, just as the solar Logos is at this time manifesting Himself through His second aspect in this the second solar system".
TCF trang 586:"Các định luật này rốt cuộc đều bị chi phối và kiểm soát bởi ba định luật cao hơn trong hệ thống—các Định luật Kiểm Soát Từ Tính, Phân Giải, và Cố Kết. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa bảy định luật này và bảy cung hay các rung động, và nếu chúng ta nghiên cứu sự tương ứng, chúng ta sẽ nhận ra sự kiện rằng định luật thứ nhất, định luật Rung Động, là định luật kiểm soát sáu định luật kia, biểu lộ qua định luật thứ hai, định luật Cố Kết, cũng như Thái dương Thượng đế vào lúc này đang biểu lộ Chính Ngài qua phương diện thứ hai của Ngài trong hệ mặt trời thứ hai này".
[Page 95]
[Page 95]
In dealing with the first group of forms, [produced by the united work of the Second and Third Logos] it must be noted that the pranic emanations given off by units of the animal and vegetable kingdom (after they have absorbed both solar and planetary prana) are naturally a combination of the two, [solar and planetary prana] and are transmitted by means of surface radiation, as in solar and planetary prana, to certain lesser groups of devas of a not very high order, who have a curious and intricate relationship to the group soul of the radiating animal or vegetable.
Khi bàn đến nhóm hình tướng thứ nhất, [được tạo ra bởi công việc hợp nhất của Đấng Logos thứ hai và thứ ba] cần lưu ý rằng các phát xạ prana do các đơn vị của giới động vật và giới thực vật phát ra (sau khi chúng đã hấp thu cả prana thái dương lẫn prana hành tinh) tự nhiên là một sự kết hợp của cả hai, [prana thái dương và prana hành tinh] và được truyền đi bằng bức xạ bề mặt, như trong trường hợp prana thái dương và prana hành tinh, đến một số nhóm thiên thần nhỏ hơn thuộc một cấp không mấy cao, những vị này có một mối liên hệ kỳ lạ và phức tạp với Hồn nhóm của động vật hay thực vật đang phát xạ.
36. Another analogy is given involving still lesser groups of devas. We are dealing here with the “pranic emanations given off by units of the animal and vegetable kingdoms”.
36. Một sự tương đồng khác được đưa ra, liên quan đến những nhóm thiên thần còn nhỏ hơn nữa. Ở đây chúng ta đang bàn đến “các phát xạ prana do các đơn vị của giới động vật và giới thực vật phát ra”.
37. These emanations are a combination of both solar and planetary prana.
37. Các phát xạ này là sự kết hợp của cả prana thái dương lẫn prana hành tinh.
38. The lesser group of devas receive the “surface radiation” from groups of animals and members of the vegetable kingdom.
38. Nhóm thiên thần nhỏ hơn tiếp nhận “bức xạ bề mặt” từ các nhóm động vật và các thành viên của giới thực vật.
39. We note that animals and vegetables evolve by means of a group soul.
39. Chúng ta lưu ý rằng động vật và thực vật tiến hoá bằng phương tiện một Hồn nhóm.
40. DK says that surplus solar and planetary pranic emanations are given off by members of the animal and plant kingdoms, and that this is transmitted as surface radiation to lower groups of devas, who have a relationship to the group soul of animals and vegetables.
40. Chân sư DK nói rằng các phát xạ prana thái dương và hành tinh dư thừa được các thành viên của giới động vật và giới thực vật phát ra, và điều này được truyền như bức xạ bề mặt đến các nhóm thiên thần thấp hơn, những vị có một mối liên hệ với Hồn nhóm của động vật và thực vật.
This matter cannot be dealt with here. These devas are also of a violet hue, but of such a pale color as to be almost grey; they are in a transitional state, and merge with a puzzling confusion with groups of entities that are almost on the involutionary arc.42,43,43a
Vấn đề này không thể được bàn đến ở đây. Các thiên thần này cũng có sắc tím, nhưng là một màu nhạt đến mức gần như xám; họ ở trong một trạng thái chuyển tiếp, và hòa lẫn một cách rối rắm khó hiểu với những nhóm thực thể gần như đang ở trên cung giáng hạ tiến hoá.42,43,43a
41. We are presented with obscure intricacies.
41. Chúng ta được trình bày những phức tạp tối nghĩa.
42. We are not to confuse these devas of a grayish-violet hue with the violet devas who transmit planetary (and solar) prana to man.
42. Chúng ta không nên nhầm lẫn các thiên thần mang sắc tím-xám này với các thiên thần tím truyền prana hành tinh (và thái dương) cho con người.
43. If there are “entities” on the involutionary arc, then there are certainly forms of life on that arc. The Second Logos (in combination with the Third Logos) builds such forms.
43. Nếu có những “thực thể” trên cung giáng hạ tiến hoá, thì chắc chắn cũng có những hình tướng của sự sống trên cung đó. Đấng Logos thứ hai (kết hợp với Đấng Logos thứ ba) xây dựng những hình tướng như thế.
44. These devas are also of a violet hue, which is very pale. They merge with “groups of entities that are almost on the involutionary arc”.
44. Các thiên thần này cũng có sắc tím, nhưng rất nhạt. Họ hòa lẫn với “những nhóm thực thể gần như đang ở trên cung giáng hạ tiến hoá”.
42:Involutionary Arc is the term applied to the first part of the evolutionary process. It covers the "path of descent," or the coming down of Spirit into ever denser matter until the lowest point is reached, the point of densest concretion. The latter half of the process is called evolutionary and marks the ascent or return of Spirit to its emanating source, plus the gains of the evolutionary process.
42:Cung Giáng Hạ Tiến Hoá là thuật ngữ áp dụng cho phần đầu của tiến trình tiến hoá. Nó bao gồm "con đường đi xuống", hay sự đi xuống của Tinh thần vào vật chất ngày càng đậm đặc hơn cho đến khi đạt tới điểm thấp nhất, điểm cô đặc dày đặc nhất. Nửa sau của tiến trình được gọi là thăng thượng tiến hoá và đánh dấu sự đi lên hay trở về của Tinh thần đến nguồn phát xạ của nó, cộng thêm những thành quả của tiến trình tiến hoá.
45. This definition of the “Involutionary Arc” is very straightforward. There are, however, some puzzling intricacies and many questions about the nature of involutionary beings.
45. Định nghĩa này về “Cung Giáng Hạ Tiến Hoá” rất thẳng thắn rõ ràng. Tuy nhiên, có một số phức tạp khó hiểu và nhiều câu hỏi về bản chất của các hữu thể giáng hạ tiến hoá.
Footnote 41 inserted above, under the Chart II.
Chú thích 41 được chèn ở trên, dưới Biểu Đồ II.
43a See S. D., I, 98, 99, 100, 103.
43a Xem S. D., I, 98, 99, 100, 103.
1. The root of life was in every drop of the ocean of immortality. Every atom in matter was impregnated with the life of the Logos.
1. Cội rễ của sự sống ở trong mỗi giọt của đại dương bất tử. Mỗi nguyên tử trong vật chất đều được thấm nhuần bằng sự sống của Logos.
46. Presumably, this impregnation refers to the Third Logos and the First Outpouring.
46. Có lẽ sự thấm nhuần này quy chiếu đến Đấng Logos thứ ba và Lần Tuôn Đổ thứ nhất.
2. The ocean was radiant light, which was Fire, Heat, Motion. These three are the subjective life manifesting objectively. Fire: The essence of the first Logos. Electric fire. Spirit. Heat: Duality. The essence of the second Logos. Solar fire. The Son aspect. Consciousness. Motion: The essence of the third Logos. Fire by friction. Matter.
2. Đại dương là ánh sáng rạng ngời, tức là Lửa, Nhiệt, Chuyển động. Ba điều này là sự sống chủ quan biểu lộ một cách khách quan. Lửa: tinh túy của Đấng Logos thứ nhất. Lửa Điện. Tinh thần. Nhiệt: Nhị nguyên tính. tinh túy của Đấng Logos thứ hai. Lửa Thái dương. phương diện Con. Tâm thức. Chuyển động: tinh túy của Đấng Logos thứ ba. Lửa ma sát. Vật chất.
47. The “ocean” here mentioned appears to be the ocean of all matter within the ring-pass-not of a Solar Logos.
47. “Đại dương” được nhắc đến ở đây dường như là đại dương của toàn bộ vật chất bên trong vòng-giới-hạn của một Thái dương Thượng đế.
48. Fire, Heat and Motion are interestingly distinguished and these distinctions should be remembered.
48. Lửa, Nhiệt và Chuyển động được phân biệt một cách thú vị, và những sự phân biệt này cần được ghi nhớ.
a. Fire in relation to the First Logos (Third Outpouring)
a. Lửa liên hệ với Đấng Logos thứ nhất (Lần Tuôn Đổ thứ ba)
b. Heat in relation to the Second Logos (Second Outpouring)
b. Nhiệt liên hệ với Đấng Logos thứ hai (Lần Tuôn Đổ thứ hai)
c. Motion in relation to the Third Logos (First Outpouring)
c. Chuyển động liên hệ với Đấng Logos thứ ba (Lần Tuôn Đổ thứ nhất)
49. Fire is essential.
49. Lửa là cốt yếu.
50. Heat relates to the duality which frequency represents. Wave motion is involved.
50. Nhiệt liên hệ với nhị nguyên tính mà tần số biểu thị. Chuyển động sóng có liên quan ở đây.
51. Motion is the rearrangement of pattern in space. It indicates change of relationship. Motion and change are inseparable.
51. Chuyển động là sự tái sắp xếp mô hình trong không gian. Nó chỉ ra sự thay đổi tương quan. Chuyển động và thay đổi là bất khả phân ly.
52. Below we are given a tabulation which makes the Trinity clear in relation to the Macrocosm and Microcosm.
52. Dưới đây chúng ta được cho một bảng tóm lược làm sáng tỏ Ba Ngôi trong liên hệ với Đại thiên địa và Tiểu thiên địa.
THE MACROCOSM
ĐẠI THIÊN ĐỊA
First Logos Fire The will to live or to be. Electric.
Đấng Logos thứ nhất Lửa Ý chí sống hay hiện hữu. Điện.
Second Logos Heat Duality, or love between two. Solar.
Đấng Logos thứ hai Nhiệt Nhị nguyên tính, hay tình thương giữa hai bên. Thái dương.
Third Logos Motion The fire of mind, the relation between. Fire by friction.
Đấng Logos thứ ba Chuyển động Lửa của trí tuệ, mối liên hệ giữa. Lửa ma sát.
This is the subjective expression.
Đây là biểu hiện chủ quan.
53. The highest form of Will is the “will to live or to be”.
53. Hình thức cao nhất của Ý chí là “ý chí sống hay hiện hữu”.
54. We note that the concept of “heat” involves the dynamic of attraction between two. Two attracted units feel “heat” for each other.
54. Chúng ta lưu ý rằng khái niệm “nhiệt” bao hàm động lực của sự hấp dẫn giữa hai bên. Hai đơn vị bị hút vào nhau cảm thấy “nhiệt” đối với nhau.
55. The Third Logos is seen here as a relating agent (almost a Second Logos function). Mind, however, is a relating agent.
55. Ở đây Đấng Logos thứ ba được xem như một tác nhân liên kết (gần như là một chức năng của Đấng Logos thứ hai). Tuy nhiên, trí tuệ là một tác nhân liên kết.
56. There is often an interchangeability between the second and third aspects in some tabulations. An example of this is the idea that the Mother is both the second and the third. The Son, as well, is the third in sequential order, who becomes the second.
56. Thường có tính hoán đổi giữa phương diện thứ hai và thứ ba trong một số bảng tóm lược. Một ví dụ là ý tưởng cho rằng Mẹ vừa là thứ hai vừa là thứ ba. Con cũng vậy, theo thứ tự tuần tự là thứ ba, rồi trở thành thứ hai.
The Sun Will or power.
Mặt Trời Ý chí hay quyền năng.
Venus-Mercury Love and Wisdom.
Kim Tinh-Thủy Tinh Bác ái và minh triết.
Saturn Activity or intelligence.
Thổ Tinh Hoạt động hay trí tuệ.
This is the objective expression.
Đây là biểu hiện khách quan.
57. Although the Solar Logos/Sun is given as a primarily second ray being, we can see how, as the veil for Vulcan (one of the chief planets of will) it can be considered as a representation of the first ray and of the First Logos.
57. Mặc dù Thái dương Thượng đế/Mặt Trời được xem là một hữu thể chủ yếu thuộc cung hai, chúng ta có thể thấy rằng, với tư cách là bức màn che cho Vulcan (một trong những hành tinh chính của ý chí), nó có thể được xem là một biểu tượng của cung một và của Đấng Logos thứ nhất.
58. As the central star of our solar system, the Sun is all-powerful.
58. Là ngôi sao trung tâm của hệ mặt trời chúng ta, Mặt Trời là toàn năng.
59. Venus and Mercury can easily be seen as the representatives of Love (Venus, Christ) and Wisdom (Mercury, Buddha). Other planets such as second ray Jupiter and second ray/sixth ray Neptune can also be associated with the Second Logos and Second Outpouring.
59. Kim Tinh và Thủy Tinh có thể dễ dàng được xem là những đại diện của Bác ái (Kim Tinh, Đức Christ) và Minh triết (Thủy Tinh, Đức Phật). Những hành tinh khác như Sao Mộc cung hai và Sao Hải Vương cung hai/cung sáu cũng có thể được liên kết với Đấng Logos thứ hai và Lần Tuôn Đổ thứ hai.
60. Saturn is always associated with the third aspect of divinity thought it has much of the first aspect associated with it.
60. Thổ Tinh luôn luôn được liên kết với phương diện thứ ba của thiên tính mặc dù nó cũng gắn với nhiều đặc tính của phương diện thứ nhất.
61. In terms of colour associations, we would relate Green of the Third Aspect to Saturn; the dual Second Ray Blue-Indigo for Venus-Mercury; and the First Aspect to the ‘red’, the archetype of our Flaming Yellow Gold Fourth Order Sun in the role of the ‘head’. The Violets relate to 7th aspect, which implicates both Third Ray Saturn and Earth, as the 7th centers in the solar septenate and decad, respectively.
61. Xét theo các liên hệ màu sắc, chúng ta sẽ liên hệ màu Xanh Lá của Phương diện thứ ba với Thổ Tinh; màu Lam-Chàm nhị phân của Cung hai với Kim Tinh-Thủy Tinh; và Phương diện thứ nhất với màu ‘đỏ’, nguyên mẫu của Mặt Trời Hoàng Kim Vàng Rực thuộc Trật Tự thứ tư của chúng ta trong vai trò ‘đầu’. Các sắc Tím liên hệ với phương diện thứ 7th, điều này bao hàm cả Thổ Tinh cung ba và Trái Đất, lần lượt là các trung tâm thứ 7 trong bộ bảy thái dương và bộ mười, decad.
THE MICROCOSM.
TIỂU THIÊN ĐỊA.
The Monad Electric fire Will or power.
Chân thần Lửa Điện Ý chí hay quyền năng.
The Ego Solar fire Love and wisdom.
Chân ngã Lửa Thái dương Bác ái và minh triết.
The Personality Fire by friction Activity or intelligence.
Phàm ngã Lửa ma sát Hoạt động hay trí tuệ.
This is the subjective expression.
Đây là biểu hiện chủ quan.
62. The microcosmic parallel to the first chart is here given.
62. Ở đây sự song hành vi mô với biểu đồ thứ nhất được đưa ra.
63. The Monad, Ego and Personality are the correspondences to the First, Second and Third Logoi.
63. Chân thần, Chân ngã và Phàm ngã là những tương ứng với Đấng Logos thứ nhất, thứ hai và thứ ba.
The mental body Will or power Fire.
Thể trí Ý chí hay quyền năng Lửa.
The astral body Love-wisdom Heat.
Thể cảm dục Bác Ái – Minh Triết Nhiệt.
The physical body Active intelligence Motion.
Thể xác Trí tuệ hoạt động Chuyển động.
This is the objective expression.
Đây là biểu hiện khách quan.
64. It is important for disciples to distinguish between mental fire and astral heat. Fire, per se, leads to detachment and reduction to essence. Heat, as here understood, leads to joining and merging.
64. Điều quan trọng đối với các đệ tử là phải phân biệt giữa lửa trí tuệ và nhiệt cảm dục. Lửa, chính nó, dẫn đến sự tách rời và sự quy giảm về tinh túy. Nhiệt, như được hiểu ở đây, dẫn đến sự kết hợp và hòa nhập.
65. To distinguish heat from motion, we might think of heat as vibration within a sustained pattern. The concept of motion requires no concept of pattern. Motion is foundational to heat and heat derivative from motion.
65. Để phân biệt nhiệt với chuyển động, chúng ta có thể nghĩ về nhiệt như rung động bên trong một mô hình được duy trì. Khái niệm chuyển động không đòi hỏi khái niệm mô hình. Chuyển động là nền tảng của nhiệt và nhiệt là cái phát sinh từ chuyển động.
Physical body.
Thể xác.
The brain Monad Will or power. Electric fire.
Bộ não Chân thần Ý chí hay quyền năng. Lửa Điện.
The heart Ego Love-wisdom. Solar fire.
Tim Chân ngã Bác ái-minh triết. Lửa Thái dương.
Lower organs Personality Active intelligence.)
Các cơ quan thấp Phàm ngã Trí tuệ hoạt động.)
66. Here the brain is said to correspond with the Monad, but the Monad also has its seat within the heart.
66. Ở đây bộ não được nói là tương ứng với chân thần, nhưng chân thần cũng có chỗ ngự trong tim.
67. So there can sometimes be a reversal when considering heart and brain. In the heart is life—the monad. The soul (second aspect) is also anchored in the brain.
67. Vì vậy đôi khi có thể có sự đảo ngược khi xét tim và não. Trong tim có sự sống—chân thần. Linh hồn (phương diện thứ hai) cũng được neo trong não.
68. There are many ways to divide the human body according to the Law of Correspondences and many have validity. Our task is not to become fixated on any one form of division as the only way.
68. Có nhiều cách phân chia cơ thể con người theo Định luật Tương Ứng và nhiều cách đều có giá trị. Nhiệm vụ của chúng ta không phải là trở nên cố chấp vào bất kỳ một hình thức phân chia nào như là cách duy nhất.
[Page 96]
[Page 96]
In dealing with the second group, [involving all three Logoi] the human form transmits the emanative radiations to a much higher grade of deva. These devas are of a more pronounced hue, and after due assimilation of the human radiation, they transmit it principally to the animal kingdom, thus demonstrating the close relationship between the two kingdoms. If the above explanation of the intricate inter-relation between the sun and the planets, between the planets and the evolving forms upon them, between the forms themselves in ever descending importance demonstrates nothing more than the exquisite interdependence of all existences, then much will have been achieved.
Khi bàn đến nhóm thứ hai, [bao gồm cả ba Đấng Logos] hình tướng con người truyền các bức xạ phát xạ đến một cấp thiên thần cao hơn nhiều. Các thiên thần này có sắc độ rõ đậm hơn, và sau khi đồng hoá thích đáng bức xạ của con người, họ truyền nó chủ yếu đến giới động vật, nhờ đó chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa hai giới. Nếu lời giải thích trên về mối tương liên phức tạp giữa mặt trời và các hành tinh, giữa các hành tinh và các hình tướng đang tiến hoá trên chúng, giữa chính các hình tướng ấy trong tầm quan trọng ngày càng giảm dần, không chứng minh gì hơn ngoài sự tương thuộc tinh tế của mọi hiện hữu, thì như thế cũng đã đạt được rất nhiều.
69. The principle to emerge from this paragraph is the “exquisite interdependence of all existences”.
69. Nguyên lý nổi lên từ đoạn này là “sự tương thuộc tinh tế của mọi hiện hữu”.
70. Just as the animal and vegetable forms transmitted (via surface radiation) pranic emanations to grayish-violet type of deva, human forms transmits their emanative radiations to “a much higher grade of deva”, “of a more pronounced hue”—though the specific color is not given.
70. Cũng như các hình tướng động vật và thực vật đã truyền (qua bức xạ bề mặt) các phát xạ prana đến loại thiên thần tím-xám, các hình tướng con người truyền các bức xạ phát xạ của mình đến “một cấp thiên thần cao hơn nhiều”, “có sắc độ rõ đậm hơn”—dù màu sắc cụ thể không được nêu ra.
71. Human emanative prana is then transmitted, but these higher type of devas, principally to the animal kingdom.
71. Prana phát xạ của con người sau đó được các loại thiên thần cao hơn này truyền đi, chủ yếu đến giới động vật.
72. In such pranic transmissions between higher and lower kingdoms, close relationships between such kingdoms is demonstrated.
72. Trong những sự truyền dẫn prana như thế giữa các giới cao và thấp, các mối liên hệ mật thiết giữa những giới ấy được chứng minh.
73. A second group are the human forms. These transmit emanative radiations to a much higher grade of deva. Having absorbed human radiation, these devas pass on their radiation to the animal kingdom – demonstrating again the close relations between the human and animal kingdoms.
73. Nhóm thứ hai là các hình tướng con người. Chúng truyền các bức xạ phát xạ đến một cấp thiên thần cao hơn nhiều. Sau khi hấp thu bức xạ của con người, các thiên thần này chuyển bức xạ của họ đến giới động vật – một lần nữa chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa giới nhân loại và giới động vật.
74. The message of the pranic emanations from sun, planet, humans, and lower kingdoms is one of interdependence and of close association with the deva evolution. Thus para 1 on p 96 is really telling us that the actual task of pranic transmission between kingdoms is carried out by the deva evolution.
74. Thông điệp của các phát xạ prana từ mặt trời, hành tinh, con người và các giới thấp là thông điệp về sự tương thuộc và về sự liên kết mật thiết với tiến hoá thiên thần. Vì vậy đoạn 1 ở trang 96 thực sự cho chúng ta biết rằng nhiệm vụ thực sự của sự truyền dẫn prana giữa các giới được thực hiện bởi tiến hoá thiên thần.
75. This is simply a matter of evolution and progress. The mineral kingdom is influenced merely by the third logos. The vegetable and mineral kingdoms who are in the next stage are influenced by the third and the second logos. The human and deva evolutions who are in the next stage of divine evolvement draw their inspirations and living energies from all three logoi.
75. Đây đơn giản là vấn đề tiến hoá và tiến bộ. Giới kim thạch chỉ chịu ảnh hưởng của Đấng Logos thứ ba. Giới thực vật và giới động vật, đang ở giai đoạn kế tiếp, chịu ảnh hưởng của Đấng Logos thứ ba và thứ hai. Tiến hoá nhân loại và thiên thần, đang ở giai đoạn kế tiếp của sự khai mở thiêng liêng, rút lấy cảm hứng và năng lượng sống từ cả ba Đấng Logos.
76. The significance here is that human beings are potentially divine because the human form embodies all three logoi, whereas the lower kingdom embody only two (2nd and 3rd). This is helpful in showing how humanity is a vital link in the process of transmission. We can (and do, however inadequately) transmit spiritual energies which will enable us to become the fifth kingdom. The three lower kingdoms reflect spiritual energy to a lesser degree but can only reach the fifth kingdom by passing through the human stage.
76. Ý nghĩa ở đây là con người có tiềm năng thiêng liêng vì hình tướng con người thể hiện cả ba Đấng Logos, trong khi các giới thấp chỉ thể hiện hai vị (thứ 2 và thứ 3). Điều này hữu ích trong việc cho thấy nhân loại là một mắt xích thiết yếu trong tiến trình truyền dẫn. Chúng ta có thể (và thực sự, dù rất bất toàn) truyền các năng lượng tinh thần sẽ giúp chúng ta trở thành giới thứ năm. Ba giới thấp phản chiếu năng lượng tinh thần ở mức độ thấp hơn nhưng chỉ có thể đạt đến giới thứ năm bằng cách đi qua giai đoạn con người.
77. The lower three kingdoms may only advance via the human stage. Yet we know that a few devas manage to pass into the human kingdom ahead of the general stage of development. Presumably this happens because these few devas attain a special closeness to the human world. …
77. Ba giới thấp chỉ có thể tiến lên qua giai đoạn con người. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một vài thiên thần xoay xở để đi vào giới nhân loại trước giai đoạn phát triển chung. Có lẽ điều này xảy ra vì một số ít thiên thần ấy đạt được một sự gần gũi đặc biệt với thế giới loài người. …
Another fact which must also be brought out is the close relationship between all these evolutions of nature, from the celestial sun down to the humblest violet via the [Page 97] deva evolution which acts as the transmitting transmuting force throughout the system.
Một sự kiện khác cũng phải được nêu ra là mối liên hệ mật thiết giữa tất cả các tiến hoá này của thiên nhiên, từ mặt trời thiên giới cho đến đóa violet khiêm nhường nhất thông qua [Page 97] tiến hoá thiên thần, vốn hoạt động như mãnh lực truyền dẫn và chuyển hoá xuyên suốt toàn hệ thống.
78. The Tibetan is stressing the reality of the close interrelationship between all forms of life.
78. Chân sư Tây Tạng đang nhấn mạnh thực tại của mối tương liên mật thiết giữa mọi hình thức sự sống.
79. The “humblest violet” (through its color) is actually related to the Sun.
79. “Đóa violet khiêm nhường nhất” (qua màu sắc của nó) thực sự có liên hệ với Mặt Trời.
80. The function of the deva evolution is given. Throughout the solar system (and probably throughout any system) this kingdom serves as the “transmitting, transmuting force”. This may tell us something about the “feminine” in relation to the “masculine”.
80. Chức năng của tiến hoá thiên thần được nêu ra. Xuyên suốt hệ mặt trời (và có lẽ trong bất kỳ hệ thống nào), giới này phụng sự như “mãnh lực truyền dẫn, chuyển hoá”. Điều này có thể cho chúng ta biết điều gì đó về “nữ tính” trong liên hệ với “nam tính”.
Lastly, all work with fire. Fire internal, inherent and latent; fire radiatory and emanative; fire generated, assimilated and radiated; fire vivifying stimulating, and destroying; fire transmitted, reflected, and absorbed; fire, the basis of all life; fire, the essence of all existence; fire, the means of development, and the impulse behind all evolutionary process; fire, the builder, the preserver and the constructor; fire, the originator, the process and the goal; fire the purifier and the consumer.
Sau cùng, tất cả đều làm việc với lửa. Lửa nội tại, cố hữu và tiềm ẩn; lửa bức xạ và phát xạ; lửa được tạo ra, được đồng hoá và được bức xạ; lửa tiếp sinh lực, kích thích và hủy diệt; lửa được truyền dẫn, được phản chiếu và được hấp thu; lửa, nền tảng của mọi sự sống; lửa, tinh túy của mọi hiện hữu; lửa, phương tiện của sự phát triển, và xung lực đứng sau mọi tiến trình tiến hoá; lửa, đấng kiến tạo, đấng bảo tồn và đấng cấu tạo; lửa, đấng khởi nguyên, tiến trình và mục tiêu; lửa, đấng thanh luyện và đấng tiêu thụ.
81. This description of fire, its types and processes is an excellent summary of all that has been taught in the preceding pages. All the many processes are succinctly encapsulated.
81. Mô tả này về lửa, các loại và các tiến trình của nó là một bản tổng kết tuyệt vời cho tất cả những gì đã được giảng dạy trong các trang trước. Tất cả những tiến trình đa dạng ấy được cô đọng súc tích.
82. To test ourselves, we might take each of these categories of fire and seek to name the processes to which they apply:
82. Để tự kiểm nghiệm, chúng ta có thể lấy từng loại lửa này và cố gắng nêu tên các tiến trình mà chúng áp dụng:
a. Fire internal, inherent and latent
a. Lửa nội tại, cố hữu và tiềm ẩn
b. Fire radiatory and emanative
b. Lửa bức xạ và phát xạ
c. Fire generated, assimilated and radiated
c. Lửa được tạo ra, được đồng hoá và được bức xạ
d. Fire vivifying, stimulating and destroying
d. Lửa tiếp sinh lực, kích thích và hủy diệt
e. Fire transmitted, reflected, and absorbed
e. Lửa được truyền dẫn, được phản chiếu và được hấp thu
f. Fire the basis of all life
f. Lửa là nền tảng của mọi sự sống
g. Fire, the essence of all existence
g. Lửa, tinh túy của mọi hiện hữu
h. Fire, the means of development and the impulse behind all evolutionary process
h. Lửa, phương tiện của sự phát triển và xung lực đứng sau mọi tiến trình tiến hoá
i. Fire, the builder, the preserver and the constructor
i. Lửa, đấng kiến tạo, đấng bảo tồn và đấng cấu tạo
j. Fire, the originator, the process and the goal
j. Lửa, đấng khởi nguyên, tiến trình và mục tiêu
k. Fire the purifier and the consumer.
k. Lửa, đấng thanh luyện và đấng tiêu thụ.
83. This, indeed, is a synthesis on the nature of fire.
83. Quả thật, đây là một sự tổng hợp về bản chất của lửa.
84. The God of Fire and the fire of God interacting upon each other, till all fires blend and blaze and till all that exists, is passed through the fire – from the solar system to an ant – and emerges as a triple perfection. Fire then passes out from the ring-pass-not as perfected essence emerging from the human ring-pass-not, the planetary ring-pass-not or the solar. The wheel of fire turns and all within that wheel is subjected to the threefold flame, and eventually stands perfected.
84. Thượng đế của Lửa và lửa của Thượng đế tương tác lẫn nhau, cho đến khi mọi lửa hòa nhập và bùng cháy, và cho đến khi mọi cái hiện hữu đều đi qua lửa – từ một hệ mặt trời đến một con kiến – và xuất hiện như một sự hoàn hảo tam phân. Khi ấy lửa đi ra khỏi vòng-giới-hạn như tinh túy đã được hoàn thiện, dù là tinh túy xuất hiện từ vòng-giới-hạn của con người, của hành tinh hay của thái dương. Bánh xe lửa quay, và mọi thứ bên trong bánh xe ấy đều chịu tác động của ngọn lửa tam phân, và cuối cùng đứng trong sự hoàn hảo.
85. Fire, then, is seen as the evolutionary essence. It is a term applied to the pilgrimage of spirit within matter. This essence is the source of power, the goal of unity which it (the power) is creating and the process.
85. Như vậy, lửa được xem là tinh túy tiến hoá. Đó là một thuật ngữ áp dụng cho cuộc hành hương của tinh thần trong vật chất. Tinh túy này là nguồn của quyền năng, là mục tiêu của sự hợp nhất mà nó (quyền năng ấy) đang tạo ra, và cũng là tiến trình.
86. The result is what He calls the triple perfection of the Father, Son and Holy Ghost (p 94). These Aspects can then be passed on for further stages of evolution.
86. Kết quả là điều mà Ngài gọi là sự hoàn hảo tam phân của Cha, Con và Chúa Thánh Thần (trang 94). Những Phương diện này sau đó có thể được chuyển tiếp cho các giai đoạn tiến hoá tiếp theo.
The God of Fire and the fire of God interacting upon each other, till all fires blend and blaze and till all that exists, is passed through the fire—from a solar system to an ant—and emerges as a triple perfection.
Thượng đế của Lửa và lửa của Thượng đế tương tác lẫn nhau, cho đến khi mọi lửa hòa nhập và bùng cháy, và cho đến khi mọi cái hiện hữu đều đi qua lửa—từ một hệ mặt trời đến một con kiến—và xuất hiện như một sự hoàn hảo tam phân.
87. The processes of fire guarantee the emergence of a “triple perfection”.
87. Các tiến trình của lửa bảo đảm sự xuất hiện của một “sự hoàn hảo tam phân”.
Fire then passes out from the ring-pass-not as perfected essence, whether essence emerging from the human ring-pass-not, the planetary ring-pass-not or the solar. The wheel of fire turns and all within that wheel is subjected to the threefold flame, and eventually stands perfected.
Khi ấy lửa đi ra khỏi vòng-giới-hạn như tinh túy đã được hoàn thiện, dù là tinh túy xuất hiện từ vòng-giới-hạn của con người, của hành tinh hay của thái dương. Bánh xe lửa quay, và mọi thứ bên trong bánh xe ấy đều chịu tác động của ngọn lửa tam phân, và cuối cùng đứng trong sự hoàn hảo.
88. All that can be names in our solar system (and all the other larger systems) is fire. The essence is fire and all entities are distinct forms of fire.
88. Tất cả những gì có thể được gọi tên trong hệ mặt trời của chúng ta (và trong mọi hệ thống lớn hơn khác) đều là lửa. Tinh túy là lửa và mọi thực thể đều là những hình thức riêng biệt của lửa.
89. Every entity is essentially a “wheel of fire”, and that wheel must turn.
89. Mọi thực thể về bản chất đều là một “bánh xe lửa”, và bánh xe ấy phải quay.
90. All is subjected to the threefold flame which is, yet, one flame.
90. Tất cả đều chịu tác động của ngọn lửa tam phân, tuy vậy vẫn là một ngọn lửa duy nhất.
91. The Conclusion: ‘Fire perfects’. There is no way to perfection except through fire.
91. Kết luận: ‘Lửa làm cho hoàn thiện’. Không có con đường nào dẫn đến sự hoàn thiện ngoại trừ qua lửa.
92. Why bring in Fire on p 97? Fire (capital F) is a unifying idea. It is a word which enables us to see that the various items of discussion really form ONE evoloution. Hence the discussion about prana is but one aspect of that total evolution of Fire.
92. Vì sao lại đưa Lửa vào ở trang 97? Lửa (viết hoa) là một ý tưởng hợp nhất. Đó là một từ cho phép chúng ta thấy rằng các đề mục thảo luận khác nhau thực sự tạo thành MỘT tiến hoá. Do đó, cuộc thảo luận về prana chỉ là một phương diện của toàn bộ tiến hoá của Lửa ấy.
S1S10:TCF 97-103
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách AAB khác và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
III. THE FUNCTION OF THE ETHERIC BODY
III. CHỨC NĂNG CỦA THỂ DĨ THÁI
We will now continue with the discussion of the etheric body, and take up the consideration of its function and its relation to the physical body.
Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục cuộc thảo luận về thể dĩ thái, và bắt đầu xem xét chức năng của nó cùng mối liên hệ của nó với thể xác.
The two may wisely be considered together, for the inter-relation is so close that it is not possible to discuss them separately.
Thật khôn ngoan khi xem xét cả hai cùng nhau, vì mối tương liên quá mật thiết đến nỗi không thể bàn riêng từng thể.
1. Long ago in Lemuria the integration between the two was made for the majority of mankind, and they have been functioning largely as a unit since.
1. Từ lâu trong Lemuria, sự tích hợp giữa hai thể đã được thực hiện đối với đa số nhân loại, và từ đó họ đã hoạt động phần lớn như một đơn vị.
Primarily the functions of the etheric body are three in number:
Trước hết, các chức năng của thể dĩ thái có ba mặt:
1. It is the receiver of prana.
1. Nó là bộ tiếp nhận prana.
2. It is the assimilator of prana.
2. Nó là bộ đồng hoá prana.
3. It is the transmitter of prana.
3. Nó là bộ truyền dẫn prana.
2. In summary, three words are to be remembered:
2. Tóm lại, cần ghi nhớ ba từ:
a. Receiver
a. Bộ tiếp nhận
b. Assimilator
b. Bộ đồng hoá
c. Transmitter
c. Bộ truyền dẫn
d. The three aspects are suggested by these three processes:
d. Ba phương diện được gợi ý bởi ba tiến trình này:
i. Receiver, ray three
i. Bộ tiếp nhận, cung ba
ii. Assimilator, ray two
ii. Bộ đồng hoá, cung hai
iii. Transmitter, ray one
iii. Bộ truyền dẫn, cung một
1. The receiver of prana.
1. Bộ tiếp nhận prana.
The etheric body may therefore be described as negative or receptive in respect to the rays of the sun, and as [Page 98] positive and expulsive in respect to the dense physical body.
Vì vậy thể dĩ thái có thể được mô tả là âm hay tiếp nhận đối với các cung của mặt trời, và là [Page 98] dương và tống xuất đối với thể xác đậm đặc.
3. Lesser beings are usually negative to greater beings. The dense physical body is negative to the etheric body which is positive and expulsive with respect to it.
3. Các hữu thể nhỏ hơn thường âm đối với các hữu thể lớn hơn. Thể xác đậm đặc là âm đối với thể dĩ thái, vốn là dương và tống xuất đối với nó.
4. A vital etheric body can expel that which is not needed in the dense physical body.
4. Một thể dĩ thái sinh động có thể tống xuất những gì không cần thiết trong thể xác đậm đặc.
The second function—that of assimilation—is strictly balanced or internal. As stated earlier, the pranic emanations of the sun are absorbed by the etheric body, via certain centres which are found principally in the upper part of the body, from whence they are directed downwards to the centre which is called the etheric spleen, as it is the counterpart in etheric matter of that organ.
Chức năng thứ hai—chức năng đồng hoá—mang tính quân bình nghiêm ngặt hay nội tại. Như đã nói trước đây, các phát xạ prana của mặt trời được thể dĩ thái hấp thu, qua một số trung tâm chủ yếu nằm ở phần trên của cơ thể, từ đó chúng được hướng xuống trung tâm được gọi là lá lách dĩ thái, vì nó là đối phần trong vật chất dĩ thái của cơ quan ấy.
5. A little review. Note the factor of balance suggesting Libra. Assimilation, per se, is associated with Virgo. In any case, the middle part of the zodiac is involved in the process of assimilation.
5. Ôn lại một chút. Hãy lưu ý yếu tố quân bình gợi ý Thiên Bình. Sự đồng hoá, chính nó, gắn với Xử Nữ. Dù sao đi nữa, phần giữa của hoàng đạo có liên quan đến tiến trình đồng hoá.
6. That which is useable is assimilated.
6. Điều gì có thể sử dụng được thì được đồng hoá.