Trích nội dung chương
157. Though we could enter into the vibratory nature of that activity. Matter is intelligent because it is selective and acts according to its inherent tendencies (which is desire on the lowest material level). 157. Dù chúng ta có thể đi sâu vào bản chất rung động của hoạt động ấy. Vật chất là thông minh vì nó có tính chọn lọc và hành động theo các khuynh hướng cố hữu của nó (mà ở cấp độ vật chất thấp nhất, đó là ham muốn).
157. Though we could enter into the vibratory nature of that activity. Matter is intelligent because it is selective and acts according to its inherent tendencies (which is desire on the lowest material level).
157. Dù chúng ta có thể đi sâu vào bản chất rung động của hoạt động ấy. Vật chất là thông minh vì nó có tính chọn lọc và hành động theo các khuynh hướng cố hữu của nó (mà ở cấp độ vật chất thấp nhất, đó là ham muốn).
158. What does DK mean here by “matter…when undifferentiated”? Does He mean that all such matter is homogenous—of similar constitution? Is He not allowing for the many varieties of matter created by the differentiating Fire of Fohat?
158. Ở đây DK muốn nói gì bởi “vật chất… khi chưa biến phân”? Ngài có muốn nói rằng mọi vật chất như thế là đồng nhất—có cấu tạo tương tự nhau chăng? Chẳng lẽ Ngài không chừa chỗ cho nhiều loại vật chất do Lửa phân biệt của Fohat tạo ra sao?
This active intelligent matter was matter qualified by an earlier experience, and coloured by an earlier incarnation.
Vật chất thông minh hoạt động này là vật chất được định tính bởi một kinh nghiệm trước đó, và được nhuốm màu bởi một lần lâm phàm trước đó.
159. That “earlier experience” occurred in the first solar system, which was both intelligent and materially inclined. We are speaking of an “earlier incarnation” of our Solar Logos.
159. “Kinh nghiệm trước đó” ấy đã xảy ra trong hệ mặt trời thứ nhất, vốn vừa thông minh vừa thiên về vật chất. Chúng ta đang nói về một “lần lâm phàm trước đó” của Thái dương Thượng đế của chúng ta.
Now this matter is in form, the solar system is not in pralaya but in objectivity,
Hiện nay vật chất này ở trong hình tướng, hệ mặt trời không ở trong Giai kỳ qui nguyên mà ở trong tính khách quan,
160. For matter to be “in form” means that its inherent quality is being subjected to re-patterning. The magnetism of the indwelling life in reconfiguring the internal structural relationships within matter.
160. Để vật chất “ở trong hình tướng” có nghĩa là phẩm tính cố hữu của nó đang bị đặt dưới sự tái mô hình hóa. Từ điện của sự sống ngự bên trong đang tái cấu hình các tương quan cấu trúc nội tại bên trong vật chất.
161. This “gain in objectivity” might also be called ‘gain through objectivity’.
161. “Sự thu hoạch về tính khách quan” này cũng có thể được gọi là ‘sự thu hoạch qua tính khách quan’.
—his objectivity having in view the addition of another quality to the logoic content, that of love and wisdom.
—tính khách quan của y nhắm đến việc bổ sung một phẩm tính khác vào nội dung logoic, đó là bác ái và minh triết.
162. Matter subjected to love and wisdom would necessarily be re-configured and re-patterned. It would not longer be strictly matter conditioned by the magnetism of the first solar system.
162. Vật chất chịu tác động của bác ái và minh triết tất yếu sẽ được tái cấu hình và tái mô hình hóa. Nó sẽ không còn đơn thuần là vật chất được tác động bởi từ điện của hệ mặt trời thứ nhất nữa.
Therefore at the next solar pralaya, at the close of the one hundred years of Brahma,
Vì thế vào Giai kỳ qui nguyên mặt trời kế tiếp, vào lúc kết thúc một trăm năm của Brahma,
163. Apparently, each solar system will always last a hundred years of Brahma, but the absolute duration of an occult century may (perhaps) vary.
163. Hiển nhiên, mỗi hệ mặt trời sẽ luôn kéo dài một trăm năm của Brahma, nhưng thời lượng tuyệt đối của một thế kỷ huyền bí có thể (có lẽ) thay đổi.
164. It may be that time is very relative and that occult centuries cannot be equated with each other according to an unvarying standard. In any case, we are in no position to measure such things.
164. Có thể thời gian là rất tương đối và các thế kỷ huyền bí không thể được đồng nhất với nhau theo một tiêu chuẩn bất biến. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng không ở vị thế để đo lường những điều như thế.
165. We are told, at least, that our solar system is to last “one hundred years of Brahma”.
165. Ít nhất, chúng ta được cho biết rằng hệ mặt trời của chúng ta sẽ kéo dài “một trăm năm của Brahma”.
166. On can question whether, if our Solar Life were participating in different ‘Solar Yugas’ whether the duration of a solar system would be two hundred, three hundred or four hundred years to correspond with the relative duration of the various yugas, as is hypothesized in the case of man (who once, we are told, lived to be much older than now).
166. Người ta có thể đặt câu hỏi rằng, nếu Sự Sống Thái Dương của chúng ta tham dự vào các ‘Solar Yugas’ khác nhau, thì thời lượng của một hệ mặt trời có là hai trăm, ba trăm hay bốn trăm năm để tương ứng với thời lượng tương đối của các yuga khác nhau hay không, như được giả thuyết trong trường hợp con người (mà có lần, như chúng ta được cho biết, đã sống lâu hơn bây giờ rất nhiều).
the matter of the solar system will be coloured by active intelligence, and by active love. This means literally that the aggregate of solar atomic matter will eventually vibrate to another key than it did at the first dawn of manifestation.
vật chất của hệ mặt trời sẽ được nhuốm màu bởi trí tuệ hoạt động, và bởi bác ái hoạt động. Điều này có nghĩa theo nghĩa đen rằng tổng thể vật chất nguyên tử mặt trời cuối cùng sẽ rung động theo một chủ âm khác so với lúc bình minh đầu tiên của biểu hiện.
167. A change in quality signals a change in vibration. If we really wish to describe the nature of quality we can use musical terms such as “key”, which simply means a sustained focusing at a particular vibratory frequency.
167. Một thay đổi về phẩm tính báo hiệu một thay đổi về rung động. Nếu chúng ta thực sự muốn mô tả bản chất của phẩm tính, chúng ta có thể dùng các thuật ngữ âm nhạc như “chủ âm”, vốn đơn giản có nghĩa là một sự tập trung bền vững ở một tần số rung động nhất định.
168. We are speaking in the language of vibration, sound and color. Notice that when speaking of the impartation of quality, the term “coloured” is utilized.
168. Chúng ta đang nói bằng ngôn ngữ của rung động, âm thanh và màu sắc. Hãy lưu ý rằng khi nói về sự truyền đạt phẩm tính, thuật ngữ “nhuốm màu” được sử dụng.
169. We are discussing the endowment of lesser lives by greater lives.
169. Chúng ta đang bàn về sự ban cấp của các sự sống lớn hơn cho các sự sống nhỏ hơn.
170. We are being told that the faculty or inherent quality of matter persists even when matter is dispersed to the “reservoir of life”, its primal source.
170. Chúng ta đang được cho biết rằng năng lực hay phẩm tính cố hữu của vật chất vẫn tồn tại ngay cả khi vật chất bị phân tán vào “hồ chứa sự sống”, nguồn nguyên sơ của nó.
171. In an evolving cosmos, every unit is gaining from every other unit—IF the “Design at the Beginning” is followed.
171. Trong một vũ trụ đang tiến hoá, mọi đơn vị đều thu nhận từ mọi đơn vị khác—NẾU “Thiết Kế từ Khởi Nguyên” được tuân theo.
We can work this out in connection with the planetary Logos and the human unit, for the analogy holds good.
Chúng ta có thể triển khai điều này liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế và đơn vị nhân loại, vì sự tương đồng là đúng.
172. As human beings, our elemental constituents are returned to the reservoir of life (thence to be re-gathered at the next incarnation) but they have been coloured by the preceding incarnation.
172. Với tư cách con người, các thành phần hành khí của chúng ta được trả về hồ chứa sự sống (rồi từ đó sẽ được thu gom lại trong lần lâm phàm kế tiếp) nhưng chúng đã được nhuốm màu bởi lần lâm phàm trước đó.
173. The re-gathering of previously aggregated units is one of the mysteries of the incarnational process. It does seem to occur—certainly in relation to the astral and mental elementals. It would be more difficult to conceive how this re-gathering could apply to the constituents of the physical elemental.
173. Việc thu gom lại các đơn vị đã từng được kết tập trước đây là một trong những huyền nhiệm của tiến trình lâm phàm. Dường như điều đó thật sự xảy ra—chắc chắn là liên hệ với tinh linh cảm dục và tinh linh trí tuệ. Sẽ khó hình dung hơn việc sự thu gom lại này có thể áp dụng thế nào đối với các thành phần của tinh linh thể xác.
We have a correspondence on a tiny scale in the fact that each human life period sees a man taking a more evolved physical body of a greater responsiveness, tuned to a higher key, of more adequate refinement, and vibrating to a different measure. In these three thoughts lies much information, if they are carefully studied and logically extended.
Chúng ta có một sự tương ứng ở quy mô rất nhỏ trong sự kiện rằng mỗi giai đoạn đời sống con người đều cho thấy một người đảm nhận một thể xác tiến hoá hơn, có khả năng đáp ứng lớn hơn, được chỉnh theo một chủ âm cao hơn, có sự tinh luyện thích đáng hơn, và rung động theo một nhịp điệu khác. Trong ba ý tưởng này có rất nhiều thông tin, nếu chúng được nghiên cứu cẩn thận và được khai triển một cách hợp lý.
174. “Greater responsiveness” a “higher key” and “more adequate refinement” are parallel ideas.
174. “Khả năng đáp ứng lớn hơn”, “một chủ âm cao hơn” và “sự tinh luyện thích đáng hơn” là những ý tưởng song hành.
175. Looking backwards incarnationally may stimulate understanding of our present circumstances, but cannot be a very pleasant task. Probably, as we are, we are as ‘good’ as we have ever been (as human beings).
175. Nhìn ngược lại theo các lần lâm phàm có thể kích thích sự thấu hiểu về hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, nhưng không thể là một công việc dễ chịu lắm. Có lẽ, như hiện nay, chúng ta là ‘tốt’ nhất mà mình từng là (với tư cách con người).
176. There are, however, those who suffer great karmic liabilities and possess bodies which, apparently, are not tuned to a higher key. But we cannot allow ourselves to be deceived by appearances. In such cases we do not know whether the inner vehicles of such handicapped people have not been tuned to a higher key.
176. Tuy nhiên, có những người chịu các món nợ nghiệp quả lớn và sở hữu những thể mà bề ngoài dường như không được chỉnh theo một chủ âm cao hơn. Nhưng chúng ta không thể cho phép mình bị đánh lừa bởi vẻ ngoài. Trong những trường hợp như thế, chúng ta không biết liệu các vận cụ bên trong của những người tàn tật ấy có thể đã không được chỉnh theo một chủ âm cao hơn hay không.
177. Nevertheless, there do seem to be instance of devolution caused by life tendency or by a temporary karmic condition. Those who pursue the left-hand path are involved in a long term devolution which cannot lead to greater refinement. Perhaps the real or imagined form of demons gives us an idea of what can happen through a dedicated will to re-immerse in matter.
177. Tuy nhiên, dường như vẫn có những trường hợp thoái hóa do khuynh hướng đời sống hay do một điều kiện nghiệp quả tạm thời gây ra. Những ai theo tả đạo dự phần vào một sự thoái hóa dài hạn không thể dẫn đến sự tinh luyện lớn hơn. Có lẽ hình thức có thật hay tưởng tượng của ma quỷ cho chúng ta một ý niệm về điều có thể xảy ra qua một ý chí tận hiến nhằm tái chìm sâu vào vật chất.
178. We also have the case of Down’s Syndrome—psychologically, a mysterious condition. The inner life may not be expressed through the outer form, either because of deliberate sacrifice (for the sake of others) or for karmic reasons.
178. Chúng ta cũng có trường hợp hội chứng Down—xét về tâm lý học, một tình trạng bí ẩn. Sự sống bên trong có thể không được biểu lộ qua hình tướng bên ngoài, hoặc vì sự hi sinh có chủ ý (vì lợi ích của người khác) hoặc vì các lý do nghiệp quả.
d. By the transmutation of the violet into the blue. This we cannot enlarge on. We simply make the statement, and leave its working out to those students whose karma permits and whose intuition suffices.
d. Bằng sự chuyển hoá màu tím thành màu lam. Điều này chúng ta không thể nói rộng thêm. Chúng ta chỉ nêu ra phát biểu ấy, và để việc khai triển nó cho những đạo sinh mà nghiệp quả cho phép và trực giác đầy đủ.
179. We are still tabulating in relation to the sentence: “The withdrawal of the etheric double of a man, a planet, and a system is brought about by the following causes:”
179. Chúng ta vẫn đang lập bảng liên hệ với câu: “Sự rút lui của bản sao dĩ thái của một người, một hành tinh, và một hệ được gây ra bởi các nguyên nhân sau đây:”
180. The movement from violet into blue is in the direction of abstraction and reflects a sixth ray mystical technique). Violet represents the physical sphere and blue, the astral. Clues in relation to this idea are found in Esoteric Healing and in Letters on Occult Meditation.
180. Sự chuyển động từ tím sang lam là theo hướng trừu xuất và phản ánh một kỹ thuật thần bí cung sáu). Màu tím biểu thị khối cầu hồng trần và màu lam, cõi cảm dục. Những đầu mối liên hệ với ý tưởng này được tìm thấy trong Trị Liệu Huyền Môn và trong Thư về Tham Thiền Huyền Bí.
181. If we think about the other direction—the movement from ‘blue to violet’—we are moving in the direction of manifestation. It is an occult rather than mystical movement, a movement characterized by the seventh ray. It takes us into matter.
181. Nếu chúng ta nghĩ về chiều ngược lại—sự chuyển động từ ‘lam sang tím’—thì chúng ta đang đi theo hướng biểu hiện. Đó là một chuyển động huyền bí học hơn là thần bí, một chuyển động được đặc trưng bởi cung bảy. Nó đưa chúng ta vào vật chất.
182. It is interesting to note that blue has ‘less red’ in it – so the dissipation of ‘red desire’ is also indicated in a movement from violet to blue. Red is also the color of the first ray, of which the seventh ray is a more concrete reflection. The blue rays (ray six and two) do not ‘contain’ much of the first ray as does the seventh or violet ray. Violet has a ‘violence’ about it, a purpose, a desire to manifest from the highest to lowest. We have here the idea of spirit ‘vio-lating’ matter to impress itself in the lower worlds.
182. Điều thú vị cần lưu ý là màu lam có “ít đỏ” hơn trong nó — vì vậy sự làm tiêu tan “dục vọng đỏ” cũng được hàm ý trong một chuyển động từ tím sang lam. Đỏ cũng là màu của cung một, mà cung bảy là một phản chiếu cụ thể hơn của nó. Các cung lam (cung sáu và hai) không “chứa” nhiều cung một như cung bảy hay cung tím. Tím có một “violence” nơi nó, một mục đích, một ham muốn biểu hiện từ cao nhất đến thấp nhất. Ở đây chúng ta có ý tưởng về tinh thần “vio-lating” vật chất để áp đặt chính nó vào ba cõi thấp.
183. When dealing with violet and blue we are dealing with exteriority and interiority respectively. Blue is the color of the inner quality of the two great Logoi in Whom we live and move and have our being (the Earth Logos and the Solar Logos). To enter into the blue means to enter more deeply into their subjective life, departing from their objective life.
183. Khi bàn đến tím và lam, chúng ta đang bàn đến lần lượt tính bên ngoài và tính bên trong. Lam là màu của phẩm tính nội tại của hai Đấng Thượng đế vĩ đại mà trong Các Ngài chúng ta sống, vận động và hiện hữu (Địa Cầu Thượng đế và Thái dương Thượng đế). Đi vào màu lam có nghĩa là đi sâu hơn vào đời sống chủ quan của Các Ngài, rời xa đời sống khách quan của Các Ngài.
184. We are moving towards the soul which is archetypally blue.
184. Chúng ta đang tiến về phía linh hồn, vốn có tính nguyên mẫu là màu lam.
185. Do the violet devas come from the Moon Chain? They are certainly devas of the ethers and, thus, related closely to form.
185. Các thiên thần tím có đến từ Dãy Mặt Trăng không? Chắc chắn họ là các thiên thần của các dĩ thái và do đó có liên hệ mật thiết với hình tướng.
186. Bruises turn to violet. Also, a bruise one becomes black and blue.
186. Các vết bầm chuyển sang màu tím. Ngoài ra, một vết bầm trở nên đen và xanh.
187. In our solar system, at least, blue is a more interior, subjective color.
187. Ít nhất trong hệ mặt trời của chúng ta, lam là một màu nội tại hơn, chủ quan hơn.
e. By the withdrawal of the life, the form should gradually dissipate. The reflex action here is interesting to note, for the greater Builders and Devas who are the [Page 133] active agents during manifestation, and who hold the form in coherent shape, transmuting, applying and circulating the pranic emanations, likewise lose their attraction to the matter of the form, and turn their attention elsewhere.
e. Bằng sự rút lui của sự sống, hình tướng sẽ dần dần tan rã. Phản ứng phản hồi ở đây thật đáng chú ý, vì các đấng đại kiến tạo và thiên thần là những [Page 133] tác nhân hoạt động trong thời kỳ biểu hiện, và giữ cho hình tướng ở trong một hình thể kết hợp chặt chẽ, chuyển hoá, áp dụng và lưu chuyển các phát xạ prana, cũng mất đi sự hấp dẫn đối với vật chất của hình tướng, và chuyển sự chú ý của họ sang nơi khác.
188. This section is important for defining one of the roles of the “greater Builders and Devas”. They are the “active agents during manifestation and…hold the forming coherent shape”. They also transmute, apply and circulate pranic emanations.
188. Phần này quan trọng trong việc xác định một trong những vai trò của “các đấng đại kiến tạo và thiên thần”. Họ là những “tác nhân hoạt động trong thời kỳ biểu hiện và… giữ cho hình tướng ở trong một hình thể kết hợp chặt chẽ”. Họ cũng chuyển hoá, áp dụng và lưu chuyển các phát xạ prana.
189. What is discussed in this section is equivalent to a dissociation between greater and lesser devic lives.
189. Điều được bàn trong phần này tương đương với một sự phân ly giữa các sự sống thiên thần lớn và nhỏ.
190. Elemental lives are held in coherent shape by these greater Builders and Devas.
190. Các sự sống hành khí được các đấng đại kiến tạo và thiên thần này giữ trong hình thể kết hợp chặt chẽ.
191. The disintegration of the form is all part of the devic loss of attention; both the Solar Angel and the greater building Devas lose interest and withdraw attention.
191. Sự tan rã của hình tướng hoàn toàn là một phần của việc thiên thần mất chú ý; cả Thái dương Thiên Thần lẫn các thiên thần kiến tạo lớn hơn đều mất hứng thú và rút sự chú ý lại.
192. In studying the death process (the process of pralaya) we are noting changes in polarization and changes in attraction or interest. Death ensues because of a loss of attractive coherency between various cooperating entities. They temporarily ‘lose interest’ in each other; they lose the desire to be associated (because, for the moment, there is nothing to gain by this association).
192. Khi nghiên cứu tiến trình chết (tiến trình của Giai kỳ qui nguyên), chúng ta đang ghi nhận những thay đổi trong sự phân cực và những thay đổi trong sự hấp dẫn hay hứng thú. Cái chết xảy ra vì mất đi tính kết hợp hấp dẫn giữa các thực thể khác nhau đang cộng tác. Tạm thời họ “mất hứng thú” đối với nhau; họ mất đi ham muốn liên kết với nhau (vì vào lúc đó, không có gì để đạt được nhờ sự liên kết này).
193. The “song has been sung”
193. “Bài ca đã được hát lên”
On the path of out-breathing (whether human, planetary or logoic) these building devas (on the same Ray as the unit desiring manifestation, or on a complementary Ray) are attracted by his will and desire, and perform their office of construction.
Trên con đường thở ra (dù là nhân loại, hành tinh hay logoi), các thiên thần kiến tạo này (trên cùng cung với đơn vị mong muốn biểu hiện, hoặc trên một cung bổ sung) bị thu hút bởi ý chí và ham muốn của y, và thực hiện chức năng kiến tạo của họ.
194. This is a very important piece of information. The Ray of the building devas (being the same or complimentary to that of the man) is to be noted.
194. Đây là một mẩu thông tin rất quan trọng. Cung của các thiên thần kiến tạo (giống hoặc bổ sung với cung của con người) cần được lưu ý.
195. The building devas are attracted by the will or desire of the man—for manifestation.
195. Các thiên thần kiến tạo bị thu hút bởi ý chí hay ham muốn của con người — vì sự biểu hiện.
196. It would be important for us to determine the evolutionary level of these devic builders.
196. Điều quan trọng đối với chúng ta là xác định cấp độ tiến hoá của các thiên thần kiến tạo này.
197. When dealing with the same of complimentary rays, the following equations should be noted.
197. Khi bàn đến các cung giống nhau hay bổ sung, cần lưu ý các phương trình sau.
198. 2 x 1 = 2 (Thus the first and second rays are related. Can they be called complementary?)
198. 2 x 1 = 2 (Như vậy cung một và cung hai có liên hệ. Có thể gọi chúng là bổ sung không?)
199. 2 x 2 = 4 (Thus the second and fourth rays are related. They are complementary.)
199. 2 x 2 = 4 (Như vậy cung hai và cung bốn có liên hệ. Chúng là bổ sung.)
200. 2 x 3 = 6 (Thus the third and sixth rays are related. Can they be called complementary?)
200. 2 x 3 = 6 (Như vậy cung ba và cung sáu có liên hệ. Có thể gọi chúng là bổ sung không?)
201. Ray 2 = Indigo; R 5 = Indigo esoterically. Rays two and five are related, but can they be called complementary. In terms of color, the relationship is definite.
201. Cung 2 = chàm; C 5 = chàm một cách huyền bí. Cung hai và cung năm có liên hệ, nhưng có thể gọi chúng là bổ sung không? Xét về màu sắc, mối liên hệ là xác định.
202. Usually rays 1-3-5-7 are considered complementary as are, but the matter is a little more complex than it would seem initially.
202. Thông thường các cung 1-3-5-7 được xem là bổ sung, cũng như, nhưng vấn đề này phức tạp hơn đôi chút so với vẻ bề ngoài ban đầu.
203. Is the identicality or complementarity of the “Ray” here discussed to be considered the soul ray or the monadic ray?
203. Tính đồng nhất hay tính bổ sung của “cung” được bàn ở đây nên được xem là cung linh hồn hay cung chân thần?
204. The identicality or complementarity of the Ray in question pertains, it would seem, to one of the higher rays and not the lower ones.
204. Có vẻ như tính đồng nhất hay tính bổ sung của cung đang xét liên quan đến một trong các cung cao hơn chứ không phải các cung thấp hơn.
205. If, for instance, one is on the second ray in his soul nature, one perspective on the matter would have the cooperating building devas correlating with that ray (a higher ray), but capable of building a mind, an emotional vehicle or etheric-physical body of any ray quality. It is the higher ray which would have to be identical or complementary in the case of the devas cooperating with the man, and not the lower rays.
205. Chẳng hạn, nếu một người thuộc cung hai trong bản chất linh hồn của y, thì một quan điểm về vấn đề này sẽ cho rằng các thiên thần kiến tạo cộng tác tương ứng với cung đó (một cung cao hơn), nhưng có khả năng kiến tạo một thể trí, một vận cụ cảm xúc hay một thể dĩ thái-hồng trần thuộc phẩm tính của bất kỳ cung nào. Chính cung cao hơn sẽ phải đồng nhất hoặc bổ sung trong trường hợp các thiên thần cộng tác với con người, chứ không phải các cung thấp hơn.
206. Contrarily, we might ask if the different building devas cooperating with the man would have ray qualities correlating to the ray of the particular lower vehicle to be built.
206. Ngược lại, chúng ta có thể hỏi liệu các thiên thần kiến tạo khác nhau cộng tác với con người có mang các phẩm tính cung tương ứng với cung của vận cụ thấp riêng biệt cần được kiến tạo hay không.
207. The consensus in class was that Master DK is talking about a main ray (soul ray, or at some stage of evolution, monadic) rather than the ray of the lower bodies.
207. Sự đồng thuận trong lớp là Chân sư DK đang nói về một cung chính (cung linh hồn, hoặc ở một giai đoạn tiến hoá nào đó, cung chân thần) hơn là cung của các thể thấp.
208. The whole matter can be resolved by concentrating on the words, “the same Ray as the unit desiring manifestation”. We are speaking of only one ray, and not of all the secondary rays related to the personality vehicles which will be used by that unit.
208. Toàn bộ vấn đề có thể được giải quyết bằng cách tập trung vào những lời: “cùng cung với đơn vị mong muốn biểu hiện”. Chúng ta chỉ đang nói về một cung, chứ không phải tất cả các cung thứ yếu liên hệ với các vận cụ phàm ngã mà đơn vị ấy sẽ sử dụng.
On the path of in-breathing (whether human, planetary or logoic) they are no longer attracted, and the form begins to dissipate.
Trên con đường hít vào (dù là nhân loại, hành tinh hay logoi), họ không còn bị thu hút nữa, và hình tướng bắt đầu tan rã.
209. The building devas are subject to fluctuations in “interest” just as is the Solar Angel or Ego.
209. Các thiên thần kiến tạo chịu những dao động trong “hứng thú” cũng như Thái dương Thiên Thần hay chân ngã vậy.
210. We see that the creation or dissipation of form is very much governed by the Law of Attractions (and Repulsion).
210. Chúng ta thấy rằng sự tạo thành hay tan rã của hình tướng phần lớn được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi).
211. Much depends upon whether the building devas are attracted or not.
211. Nhiều điều tùy thuộc vào việc các thiên thần kiến tạo có bị thu hút hay không.
212. A general principle that might be extracted from the foregoing discussion is that interest is cyclic.
212. Một nguyên lý tổng quát có thể rút ra từ cuộc thảo luận trên là hứng thú có tính chu kỳ.
They withdraw their interest and the forces (likewise entities) who are the agents of destruction, carry on their necessary work of breaking up the form;
Họ rút lại hứng thú của mình và các mãnh lực (cũng là các thực thể) vốn là tác nhân của sự hủy diệt tiếp tục công việc cần thiết của họ là phá vỡ hình tướng;
213. We are discussing different types of entities involved in the death process, or in the induction of pralaya.
213. Chúng ta đang bàn về những loại thực thể khác nhau tham gia vào tiến trình chết, hay vào việc gây ra Giai kỳ qui nguyên.
they scatter it—as it is occultly expressed—to "The four winds of Heaven," or to the regions of the four breaths,—a fourfold separation and distribution.
họ phân tán nó — như được diễn tả một cách huyền bí — đến “Bốn ngọn gió của Thiên Đàng,” hay đến các vùng của bốn hơi thở, — một sự phân ly và phân phối tứ phân.
214. We may be learning something about the occult placement of the various “reservoirs of life”
214. Có lẽ chúng ta đang học được điều gì đó về sự định vị huyền bí của các “hồ chứa sự sống” khác nhau.
A hint is here given for careful consideration.
Ở đây có một gợi ý cần được suy xét cẩn trọng.
215. Various thoughts, questions and speculations came to the group mind during discussion.
215. Nhiều ý nghĩ, câu hỏi và suy đoán đã đến với trí tuệ nhóm trong khi thảo luận.
216. The wind is the spirit. Nicodemus was undergoing the third initiation, and was told, by the Christ, in effect that those who are born of the spirit are like the wind which “bloweth where it listeth”; no man knows of their comings or goings.
216. Gió là tinh thần. Nicodemus đang trải qua lần điểm đạo thứ ba, và được Đức Christ nói cho biết, trên thực tế, rằng những ai được sinh ra từ tinh thần thì giống như gió “thổi nơi nó muốn”; không ai biết sự đến hay đi của họ.
217. Wind can be considered as a breath or energy current. We are to penetrate the symbolism.
217. Gió có thể được xem như một hơi thở hay một dòng năng lượng. Chúng ta phải thâm nhập vào biểu tượng này.
218. Ray one is the ray of dispersion or scattering. Destructive entities are on ray one.
218. Cung một là cung của sự phân tán hay phát tán. Các thực thể hủy diệt thuộc cung một.
219. In the several ‘fours’ mentioned in this section, there are hints about the magical process which is essentially the process of creation and destruction, of formation and dissolution. This process has much to do with the number four considered as a number of manifestation.
219. Trong nhiều “bộ bốn” được nhắc đến trong phần này, có những gợi ý về tiến trình huyền thuật vốn về bản chất là tiến trình sáng tạo và hủy diệt, tạo thành và tan biến. Tiến trình này liên hệ rất nhiều đến con số bốn được xem như một con số của biểu hiện.
220. It is important to note that there are devas on different rays.
220. Điều quan trọng là lưu ý rằng có các thiên thần trên những cung khác nhau.
221. Here we are contrasting building devas with devas of destruction.
221. Ở đây chúng ta đang đối chiếu các thiên thần kiến tạo với các thiên thần hủy diệt.
222. The “four winds of Heaven” are actually “four breaths”. Each of the four reservoirs for matter is ruled over by one of the Four Breaths (considering these breaths as great devic entities).
222. “Bốn ngọn gió của Thiên Đàng” thực ra là “bốn hơi thở”. Mỗi một trong bốn hồ chứa vật chất được cai quản bởi một trong Bốn Hơi Thở (xem các hơi thở này như những thực thể thiên thần vĩ đại).
223. It would seem that the Guardians of the four directions (North, East, South, West) are to be considered Four Breaths. When they respond to invocation, perhaps they breathe.
223. Có vẻ như các Đấng Hộ Vệ của bốn phương (Bắc, Đông, Nam, Tây) nên được xem là Bốn Hơi Thở. Khi họ đáp ứng với sự khẩn cầu, có lẽ họ thở.
224. Which four are these four?
224. Bốn nào là bốn này?
225. Are the “four winds of Heaven” Shamballic Beings? Or lower?
225. “Bốn ngọn gió của Thiên Đàng” có phải là các Hữu Thể Shamballa không? Hay thấp hơn?
226. Let us attend to the analogy of the four elements to the fourfoldness of Shamballa.
226. Chúng ta hãy chú ý đến sự tương đồng giữa bốn nguyên tố và tính tứ phân của Shamballa.
227. The “Four Directions” are vibratory domains presided over by different devic entities.
227. “Bốn Phương” là những miền rung động do các thực thể thiên thần khác nhau chủ trì.
228. The “Four winds” are from Heaven. In which traditions are Guardians actually called “Four Winds”? In the East? Among the Native Americans and other indigenous peoples?
228. “Bốn ngọn gió” là từ Thiên Đàng. Trong những truyền thống nào các Đấng Hộ Vệ thực sự được gọi là “Bốn Ngọn Gió”? Ở phương Đông chăng? Trong số người Mỹ bản địa và các dân tộc bản địa khác chăng?
229. Maybe the Solar Angel supervises the building devas.
229. Có lẽ Thái dương Thiên Thần giám sát các thiên thần kiến tạo.
230. The eighteen lower subplanes can be separated into four—physical, etheric, astral and lower mental. Elemental life is, it seems separated out and distributed in relation to eighteen subplanes.
230. Mười tám cõi phụ thấp có thể được phân thành bốn — hồng trần, dĩ thái, cảm dục và hạ trí. Có vẻ như sự sống hành khí được tách ra và phân phối liên hệ với mười tám cõi phụ.
231. Then, when the time is correct, the separated and distributed elements are breathed-in again.
231. Rồi khi thời điểm đúng, các nguyên tố đã được tách ra và phân phối ấy lại được hít vào.
232. There are analogies existing between four divisions of the lower eighteen subplanes and the four cosmic ethers: logoic/lower mind; monadic/astral; atmic/etheric; buddhic/dense physical.
232. Có những tương đồng tồn tại giữa bốn phân khu của mười tám cõi phụ thấp và bốn dĩ thái vũ trụ: logoi/hạ trí; chân thần/cảm dục; atma/dĩ thái; Bồ đề/hồng trần đậm đặc.
233. The direction of the South can be related to Master R, the Mahachohan on the third ray; the East is reserved for the Teacher to come and is related to the second ray, the light; the West holds a relation to the Christ, the Redeemer of matter, Varuna; the North is traditionally for the elders, guarding the human race; sometimes the North is related to humanity as a whole and, especially, to what it will become under the cultivation of the Masters.
233. Phương Nam có thể liên hệ với Chân sư R., Đức Mahachohan thuộc cung ba; phương Đông được dành cho huấn sư sẽ đến và liên hệ với cung hai, ánh sáng; phương Tây có liên hệ với Đức Christ, Đấng Cứu Chuộc vật chất, Varuna; phương Bắc theo truyền thống dành cho các bậc trưởng lão, bảo hộ nhân loại; đôi khi phương Bắc được liên hệ với toàn thể nhân loại và đặc biệt với điều mà nhân loại sẽ trở thành dưới sự vun bồi của các Chân sư.
234. From another perspective, Atma can be considered the East, Buddhi the West, Manas the South and North is the Monad (or by reflection, humanity, fourfold, just as Shamballa is fourfold.)
234. Từ một góc nhìn khác, Atma có thể được xem là phương Đông, Bồ đề là phương Tây, Manas là phương Nam và phương Bắc là chân thần (hoặc theo phản chiếu, là nhân loại, tứ phân, cũng như Shamballa là tứ phân.)
235. Speculation arose concerning the assignment of the Archangels:
235. Sự suy đoán nảy sinh liên quan đến việc phân công các Tổng Thiên Thần:
236. From one perspective, Michael is related to Libra and Saturn.
236. Từ một góc nhìn, Michael liên hệ với Thiên Bình và Sao Thổ.
237. If we consider the Archangels in relation to the Fixed Signs (as they often are), Uriel is the Ox and is seen in relation to Taurus; Gabriel (the One who Announces) is understood as the Eagle and can be related to Scorpio, hierarchically ruled by Mercury; Raphael is the Lion and is, thus, related to Leo and Michael (the man) is related to the human sign Aquarius. There is no hard and fast assignment of these Angels to the various signs, fixed signs or otherwise. There are many justifications.
237. Nếu chúng ta xem các Tổng Thiên Thần trong liên hệ với các Dấu Hiệu Cố Định (như thường được làm), Uriel là Con Bò và được thấy liên hệ với Kim Ngưu; Gabriel (Đấng Báo Tin) được hiểu là Đại Bàng và có thể liên hệ với Hổ Cáp, được Sao Thủy cai quản theo huyền giai; Raphael là Sư Tử và do đó liên hệ với Sư Tử, còn Michael (con người) liên hệ với dấu hiệu nhân loại là Bảo Bình. Không có sự phân công cứng nhắc và tuyệt đối nào các Thiên Thần này cho các dấu hiệu khác nhau, cố định hay không. Có nhiều cách biện minh.
238. There are other assignments of the Archangels to the Cardinal Signs (Aries, Cancer, Libra, Capricorn),.
238. Cũng có những cách phân công khác các Tổng Thiên Thần cho các Dấu Hiệu Chủ Yếu (Bạch Dương, Cự Giải, Thiên Bình, Ma Kết),.
239. According to the Church Calendar: Michael is powerful autumn (under Libra and Saturn, Gabriel rules the spring, as He came to tell Maria that she would bear the Christ Child; since the Christ was ‘born’ in Capricorn, the Annunciation would necessarily occur in the Spring in Aries. Continuing this assignment, but with less obvious justifications, Raphael is given to Capricorn and Uriel is given Cancer.
239. Theo Lịch Nhà Thờ: Michael là mùa thu đầy quyền năng (dưới Thiên Bình và Sao Thổ), Gabriel cai quản mùa xuân, vì Ngài đã đến báo cho Maria rằng bà sẽ sinh Hài Nhi Christ; vì Đức Christ được “sinh ra” trong Ma Kết, nên việc Truyền Tin tất yếu phải xảy ra vào mùa xuân trong Bạch Dương. Tiếp tục cách phân công này, nhưng với những biện minh kém hiển nhiên hơn, Raphael được gán cho Ma Kết và Uriel được gán cho Cự Giải.
240. Discussion then arose in relation to the color green, the sixth and the third rays:
240. Sau đó cuộc thảo luận chuyển sang màu lục, cung sáu và cung ba:
a. Green can be related to ray six because the sixth ray solar plexus center is said to be colored green and rose.
a. Màu lục có thể liên hệ với cung sáu vì trung tâm tùng thái dương cung sáu được nói là có màu lục và hồng.
b. Rose is a ray six color, relating it to the third ray through the green of the solar plexus.
b. Hồng là một màu của cung sáu, liên hệ nó với cung ba qua màu lục của tùng thái dương.
c. The previous solar system was the ‘Green System’
c. Hệ mặt trời trước là “Hệ Lục”
d. Presently, the green is to be related to the blue.
d. Hiện nay, màu lục phải được liên hệ với màu lam.
e. To relate the solar plexus to the heart is to relate the green to the blue.
e. Liên hệ tùng thái dương với tim là liên hệ màu lục với màu lam.
f. The movement to the heart is also a movement to yellow, a buddhic color. Our Sun, which is a symbol of the heart centers, is yellow and symbol for buddhi.
f. Sự chuyển động đến tim cũng là một chuyển động đến màu vàng, một màu Bồ đề. Mặt Trời của chúng ta, vốn là một biểu tượng của các trung tâm tim, có màu vàng và là biểu tượng cho Bồ đề.
g. When blue and yellow are mixed (both of them buddhic colors) the result is green—a color of manifestation.
g. Khi lam và vàng được pha trộn (cả hai đều là các màu Bồ đề), kết quả là lục — một màu của biểu hiện.
h. We are told that Saturn is bluish in the north and yellowish in the south.
h. Chúng ta được cho biết rằng Sao Thổ có sắc lam ở phương bắc và sắc vàng ở phương nam.
Though no pictures have been drawn of death bed scenes nor of the dramatic escape of the palpitating etheric body from the centre in the head, as might have been anticipated, yet some of the rules and purposes governing this withdrawal have been mentioned.
Dù không có những bức tranh nào được vẽ về các cảnh bên giường chết hay về sự thoát ra đầy kịch tính của thể dĩ thái đang rung động từ trung tâm nơi đầu, như có thể đã được dự đoán, tuy vậy một số quy luật và mục đích chi phối sự rút lui này đã được đề cập.
241. DK takes the more impersonal, less dramatic approach.
241. DK chọn cách tiếp cận vô ngã hơn, ít kịch tính hơn.
242. Much more information on the death process can be gleaned from Esoteric Healing.
242. Có thể rút ra nhiều thông tin hơn nữa về tiến trình chết từ Trị Liệu Huyền Môn.
We have seen how the aim of each life (whether human, planetary or solar) should be the effecting and the carrying out of a definite purpose.
Chúng ta đã thấy mục tiêu của mỗi sự sống (dù là nhân loại, hành tinh hay thái dương) phải là việc tạo ra và thực hiện một mục đích xác định.
243. Life is purposeful. The purpose of each life is not vague but increasingly definite as evolution proceeds.
243. Sự sống có mục đích. Mục đích của mỗi sự sống không mơ hồ mà ngày càng xác định hơn khi tiến hoá tiếp diễn.
This purpose is the development of a more adequate form for the use of the spirit;
Mục đích này là sự phát triển một hình tướng thích đáng hơn cho tinh thần sử dụng;
244. This is the clearly stated purpose of life. It is the will of spirit to manifest through its self-projection (matter/form)
244. Đây là mục đích của sự sống được phát biểu rõ ràng. Đó là ý chí của tinh thần muốn biểu hiện qua sự phóng chiếu tự thân của nó (vật chất/hình tướng)
and when this purpose is achieved then the Indweller turns his attention away,
và khi mục đích này đạt được thì Đấng Nội Tại quay sự chú ý của mình đi nơi khác,
245. This means, from a meditational perspective, that the Indweller enters a state of Self-contemplation.
245. Điều này có nghĩa là, từ góc độ tham thiền, Đấng Nội Tại đi vào một trạng thái chiêm ngưỡng Bản Ngã.
and the form disintegrates, having served his need. This is not always the case in every human life nor even in each planetary cycle. The mystery of the moon is the mystery of failure.
và hình tướng tan rã, vì đã phục vụ nhu cầu của y. Điều này không phải lúc nào cũng đúng trong mọi kiếp sống nhân loại, thậm chí cũng không đúng trong mọi chu kỳ hành tinh. Bí ẩn của mặt trăng là bí ẩn của sự thất bại.
246. The Moon was a failure because the lower four, the elemental life, emerged into a dominant position and could not be controlled by the higher or rational aspects.
246. Mặt Trăng là một thất bại vì bốn thấp, tức sự sống hành khí, đã nổi lên vị trí thống trị và không thể bị kiểm soát bởi các phương diện cao hơn hay duy lý.
247. The last necessary human incarnation occurs with the taking of the fourth initiation; there is no need to incarnate after that. The Moon as the symbol of incarnational life is conquered.
247. Kiếp lâm phàm cần thiết cuối cùng của con người xảy ra khi tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư; sau đó không còn cần phải lâm phàm nữa. Mặt Trăng như biểu tượng của đời sống lâm phàm bị chinh phục.
248. Interestingly, the Moon is ruled by ray four which correlates with the four elemental lives (with which it is no longer necessary to engage) and the fourth initiation, at which time this disengagement or dissociation becomes final.
248. Điều thú vị là Mặt Trăng được cai quản bởi cung bốn, tương ứng với bốn sự sống hành khí (mà không còn cần phải dấn dự vào nữa) và với lần điểm đạo thứ tư, vào lúc đó sự tách rời hay phân ly này trở thành dứt khoát.
249. All this is achieved through sacrifice, the color of which is yellow. The Law of Sacrifice is related to the fourth ray and thus to Mercury and the color yellow.
249. Tất cả điều này đạt được qua sự hi sinh, mà màu của nó là vàng. Định luật Hi Sinh liên hệ với cung bốn và do đó với Sao Thủy và màu vàng.
250. It is important to realize that the Moon (fourth ray) falls in the sign Scorpio (humanity’s sign, and a sign ruled by the fourth ray).
250. Điều quan trọng là nhận ra rằng Mặt Trăng (cung bốn) rơi vào dấu hiệu Hổ Cáp (dấu hiệu của nhân loại, và một dấu hiệu được cai quản bởi cung bốn).
251. Scorpio related to the number four and hence to the fourth initiation and the fall of the Moon, is the sign of death. One dies, in one’s fourfold elemental nature at the fourth initiation, but beings to live as a buddhic being, focussed on the fourth plane—the buddhic.
251. Hổ Cáp liên hệ với số bốn và do đó với lần điểm đạo thứ tư và sự sụp đổ của Mặt Trăng, là dấu hiệu của cái chết. Người ta chết, trong bản chất hành khí tứ phân của mình, ở lần điểm đạo thứ tư, nhưng bắt đầu sống như một hữu thể Bồ đề, tập trung trên cõi thứ tư — cõi Bồ đề.
252. Through the livingness of the fourth initiation all lower lunar tendencies pertaining to the lower four are conquered.
252. Qua tính sống động của lần điểm đạo thứ tư, mọi khuynh hướng nguyệt tính thấp liên hệ với bốn thấp đều bị chinh phục.
253. One dies to the lower eighteen subplanes, the lunar subplanes. Interestingly, the Moon Card in the Tarot deck is Card Eighteen. This card represents illusion—presumably the illusion to be encountered on the eighteen lower subplanes.
253. Người ta chết đối với mười tám cõi phụ thấp, các cõi phụ nguyệt tính. Điều thú vị là Lá Bài Mặt Trăng trong bộ Tarot là Lá Mười Tám. Lá bài này tượng trưng cho ảo tưởng — có lẽ là ảo tưởng gặp phải trên mười tám cõi phụ thấp.
254. In this section Master DK is speaking of those incarnational cycles in which purpose has not been fulfilled. The greatest case of non-fulfillment in the history of our planet was the case of the failure on the Moon-chain.
254. Trong phần này Chân sư DK đang nói về những chu kỳ lâm phàm mà trong đó mục đích chưa được hoàn thành. Trường hợp không hoàn thành lớn nhất trong lịch sử hành tinh chúng ta là trường hợp thất bại trên Dãy Mặt Trăng.
255. We learn that we, as human individualities, can experience our own correspondence to the failure on the Moon-chain.
255. Chúng ta học được rằng chúng ta, với tư cách những cá thể nhân loại, có thể trải nghiệm sự tương ứng của chính mình với thất bại trên Dãy Mặt Trăng.
256. At least to know the incarnational purpose is of importance; this can go a long way towards the fulfillment of that purpose. The entire process of fulfillment on the Moon-chain had to aborted, according to the decision of the Solar Logos.
256. Ít nhất, biết được mục đích lâm phàm là điều quan trọng; điều này có thể đi rất xa hướng tới việc hoàn thành mục đích ấy. Toàn bộ tiến trình hoàn thành trên Dãy Mặt Trăng đã phải bị hủy bỏ, theo quyết định của Thái dương Thượng đế.
257. Group discussion then turned again to color:
257. Cuộc thảo luận nhóm sau đó lại quay về màu sắc:
a. Orange aids the focussing in the head, just as red stimulates the solar plexus and green has a definite effect upon the heart and life streams. (EH 456-457)
a. Cam giúp tập trung nơi đầu, cũng như đỏ kích thích tùng thái dương và lục có một tác động xác định lên tim và các dòng sự sống. (EH 456-457)
b. Blue and yellow mixed as pigments make green. Blue is correlated to ray two; yellow is correlated to ray four; 2 + 4 = 6 divided by 2 = 3 Green is correlated to ray three.
b. Lam và vàng pha như sắc tố tạo ra lục. Lam tương ứng với cung hai; vàng tương ứng với cung bốn; 2 + 4 = 6 chia cho 2 = 3. Lục tương ứng với cung ba.
c. Is yellow the solution to the ray three problem of selfish mind because yellow is the color of sacrifice. Yellow is associated with pain, but also with cowardice. Lepus the Hare (fleeing from the “Hound of Heaven”) is associated with the first decanate of Gemini and with the escapist tendencies of Mercury.
c. Có phải vàng là giải pháp cho vấn đề cung ba của trí tuệ ích kỷ vì vàng là màu của sự hi sinh? Vàng liên hệ với đau đớn, nhưng cũng với sự hèn nhát. Lepus Con Thỏ (chạy trốn “Thiên Cẩu”) liên hệ với thập độ đầu tiên của Song Tử và với các khuynh hướng trốn tránh của Sao Thủy.
d. Yellow is the color of sacrifice. This can be justified in one way as follows: In the Egoic Lotus, wherever there is sacrifice there is yellow. The sacrifice petals of that lotus are colored primarily by yellow; i.e., yellow is found in each of the sacrifice petals, and in the sacrifice petal of the other love and knowledge tier.
d. Vàng là màu của sự hi sinh. Điều này có thể được biện minh theo một cách như sau: Trong Hoa Sen Chân Ngã, ở đâu có hi sinh thì ở đó có màu vàng. Các cánh hoa hi sinh của hoa sen ấy được nhuộm màu chủ yếu bởi vàng; tức là, vàng được tìm thấy trong mỗi cánh hoa hi sinh, và trong cánh hoa hi sinh của hai tầng bác ái và tri thức còn lại.
e. The Law of Sacrifice is ruled by ray four. Mercury is given the color yellow and Mercury also distributes the fourth ray. Yellow, the Tibetan tells us, harmonizes all in the autumn. Lords of Karma bring harmony and harmony is yellow.
e. Định luật Hi Sinh được cai quản bởi cung bốn. Sao Thủy được gán màu vàng và Sao Thủy cũng phân phối cung bốn. Chân sư Tây Tạng cho chúng ta biết rằng màu vàng điều hòa mọi sự vào mùa thu. Các Đấng Nghiệp Quả mang lại hòa điệu và hòa điệu là màu vàng.
f. Esoteric ray three is green; exoteric ray three is black.
f. Cung ba huyền bí là lục; cung ba ngoại môn là đen.
g. Esoteric ray four is yellow; exoteric ray four is crème.
g. Cung bốn huyền bí là vàng; cung bốn ngoại môn là màu kem.
h. The primary colors in light are Red, Blue/Violet and Green
h. Các màu cơ bản trong ánh sáng là Đỏ, Lam/Tím và Lục
i. The primary colors in pigment/paint = are Red, Blue and Yellow. Green is not primary in pigment.
i. Các màu cơ bản trong sắc tố/sơn là Đỏ, Lam và Vàng. Lục không phải là màu cơ bản trong sắc tố.
j. The note of the first solar system is green and FA
j. Âm điệu của hệ mặt trời thứ nhất là lục và FA
k. The note of the second solar system is blue and SOL, but also yellow/gold is related to SOL.
k. Âm điệu của hệ mặt trời thứ hai là lam và SOL, nhưng vàng/kim sắc cũng liên hệ với SOL.
l. According to Rudolph Steiner, the color of skin should be orange blossom. We can relate orange blossom and the soul. Of all colors, orange is the principal color of the causal body.
l. Theo Rudolph Steiner, màu của da nên là hoa cam. Chúng ta có thể liên hệ hoa cam với linh hồn. Trong tất cả các màu, cam là màu chính của thể nguyên nhân.
m. Blue and green are foundational colors for our second ray/third ray planet.
m. Lam và lục là những màu nền tảng cho hành tinh cung hai/cung ba của chúng ta.
n. Out of the green comes the blue; out of photosynthesis comes oxygen which is blue and correlated to ray two.
n. Từ lục phát sinh lam; từ quang hợp phát sinh oxy vốn có màu lam và tương ứng với cung hai.
o. There was a statement that oxygen, in fact, did not emerge from the photosynthesis process.
o. Có một phát biểu rằng trên thực tế oxy đã không phát sinh từ tiến trình quang hợp.
This leads, when comprehended, to a life of dignity and offers an aim worthy of our best endeavour.
Điều này, khi được thấu hiểu, dẫn đến một đời sống có phẩm giá và đưa ra một mục tiêu xứng đáng với nỗ lực tốt đẹp nhất của chúng ta.
258. An understanding of purpose and the preservation of dignity are closely related.
258. Sự thấu hiểu về mục đích và việc duy trì phẩm giá có liên hệ chặt chẽ với nhau.
259. A human being has dignity when he has clear purpose and abides by that purpose regardless of temptations which lead towards enslaving involvement with the four elements.
259. Một con người có phẩm giá khi y có mục đích rõ ràng và tuân giữ mục đích ấy bất kể những cám dỗ dẫn đến sự dấn thân nô lệ với bốn nguyên tố.
When this angle of truth is universally recognised, as it will be when the intelligence of the race suffices, then evolution will proceed with certainty, and the failures be less numerous.
Khi góc độ chân lý này được nhìn nhận một cách phổ quát, như sẽ xảy ra khi trí tuệ của nhân loại đủ mức, thì tiến hoá sẽ tiến hành một cách chắc chắn, và những thất bại sẽ ít đi.
260. The growth of intelligence is indispensable in the promotion of a more successful evolutionary process.
260. Sự tăng trưởng của trí tuệ là điều không thể thiếu trong việc thúc đẩy một tiến trình tiến hoá thành công hơn.
261. As a human race we have been greatly subject to failures—relatively. The present efforts to affect a transformation of human consciousness are meant to make our entire evolutionary process more successful.
261. Với tư cách một nhân loại, chúng ta đã chịu rất nhiều thất bại — theo nghĩa tương đối. Những nỗ lực hiện nay nhằm tạo ra một sự chuyển đổi tâm thức nhân loại có mục đích làm cho toàn bộ tiến trình tiến hoá của chúng ta thành công hơn.
262. At length, failure fails to be useful. Failure can, however, be initially useful if the lessons of failure are learnt.
262. Cuối cùng, thất bại không còn hữu ích nữa. Tuy nhiên, ban đầu thất bại có thể hữu ích nếu những bài học của thất bại được học lấy.
263. How certain is the achievement of the evolutionary objective? There is no relative certainty and any self-conscious entity (on any scale) may fail—temporarily, at least. The Lord of the Moon was an aspect of our Planetary Logos and that Lord (and through Him, the Planetary Logos) failed. This may also be true of even larger entities. The factor of freewill, free choice, seems inherent throughout the universe.
263. Việc đạt được mục tiêu tiến hoá chắc chắn đến mức nào? Không có sự chắc chắn tương đối nào và bất kỳ thực thể ngã thức nào (ở bất kỳ quy mô nào) cũng có thể thất bại — ít nhất là tạm thời. Chúa Tể của Mặt Trăng là một phương diện của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và Chúa Tể ấy (và qua Ngài, Đức Hành Tinh Thượng Đế) đã thất bại. Điều này cũng có thể đúng với cả những thực thể lớn hơn nữa. Yếu tố tự do ý chí, tự do chọn lựa, dường như vốn có khắp vũ trụ.
264. The question arises as to whether the necessity for ultimate success is built into every universe. No one can know the answer to this question: “Can the entirety of the universe end in failure?” Surely a duration of a universe (when compared to the duration of the life of man) is like a day, a year or a life (depending on our perspective), and some days, years or lives can end in relative failure. But can the same be said of the ultimate structure?
264. Câu hỏi được đặt ra là liệu sự cần thiết của thành công tối hậu có được xây dựng sẵn trong mọi vũ trụ hay không. Không ai có thể biết câu trả lời cho câu hỏi này: “Toàn thể vũ trụ có thể kết thúc trong thất bại không?” Chắc chắn thời lượng của một vũ trụ (khi so với thời lượng đời sống của con người) giống như một ngày, một năm hay một đời sống (tùy theo góc nhìn của chúng ta), và một số ngày, năm hay đời sống có thể kết thúc trong thất bại tương đối. Nhưng điều tương tự có thể được nói về cấu trúc tối hậu hay không?
265. Here is where faith enters the picture, for surely the rational intellect cannot decide the correctness or incorrectness of assuming that the universe can or cannot end in failure.
265. Đây là nơi đức tin bước vào, vì chắc chắn trí năng duy lý không thể quyết định tính đúng hay sai của giả định rằng vũ trụ có thể hay không thể kết thúc trong thất bại.
266. In general, over the span of planetary history, we do see ascent; and in the lives of people, we see more ascent than descent. The root races have evolved, and primitivity has given place to greater sophistication. We know what the trend should be and we can see (that despite setbacks) that trend is working out.
266. Nói chung, trong suốt chiều dài lịch sử hành tinh, chúng ta thực sự thấy có sự đi lên; và trong đời sống con người, chúng ta thấy đi lên nhiều hơn đi xuống. Các giống dân gốc đã tiến hoá, và tính nguyên sơ đã nhường chỗ cho sự tinh vi lớn hơn. Chúng ta biết xu hướng phải là gì và có thể thấy rằng (dù có những bước lùi) xu hướng ấy đang được triển khai.
267. The ultimate questions, however, will have to be left to the intuition of beings far greater than we are.
267. Tuy nhiên, những câu hỏi tối hậu sẽ phải được để lại cho trực giác của những hữu thể vĩ đại hơn chúng ta rất nhiều.
268. Today there is a great struggle between the forces of life and death. In planetary terms, Uranus (life) and Saturn (death) are struggling for ascendancy.
268. Ngày nay có một cuộc đấu tranh lớn giữa các lực của sự sống và cái chết. Xét theo hành tinh, Sao Thiên Vương (sự sống) và Sao Thổ (cái chết) đang tranh đấu để giành ưu thế.
269. The higher four (of which, on our planet, Shamballa is the greatest example) seek to impress the lower four (the elemental lives which are residues from the previous solar system).
269. Bốn cao hơn (mà trên hành tinh chúng ta, Shamballa là ví dụ lớn nhất) tìm cách áp đặt lên bốn thấp (các sự sống hành khí là tàn dư từ hệ mặt trời trước).
270. Great Devic Lives are in contest through this struggle. Progress demands that in our solar system, we move into the second aspect and away from dominance by the third. On Earth, we are in a critical moment in the juncture between the three and the two. We are in the scales right now and are being balanced.
270. Các Sự Sống Thiên Thần Vĩ Đại đang tranh chấp qua cuộc đấu tranh này. Tiến bộ đòi hỏi rằng trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta phải đi vào phương diện thứ hai và rời xa sự thống trị của phương diện thứ ba. Trên Trái Đất, chúng ta đang ở trong một thời khắc quyết định tại điểm giao nhau giữa ba và hai. Ngay lúc này chúng ta đang ở trong cán cân và đang được cân bằng.
271. Our task is to move from Libra (the Scales) into Scorpio (where the power of the second aspect asserts control). In this respect it is interesting to realize that Saturn (in many ways representing the old) is exalted in Libra and Uranus (representing the new) is exalted in Scorpio.
271. Nhiệm vụ của chúng ta là chuyển từ Thiên Bình (Cán Cân) sang Hổ Cáp (nơi quyền năng của phương diện thứ hai khẳng định sự kiểm soát). Về phương diện này, thật thú vị khi nhận ra rằng Sao Thổ (theo nhiều cách đại diện cho cái cũ) được tôn vinh trong Thiên Bình và Sao Thiên Vương (đại diện cho cái mới) được tôn vinh trong Hổ Cáp.
272. Second Ray/Third ray = Uranus/Saturn = Etheric Body/Dense Physical Body = Soul/Personality = New/Old. The terms of these analogical equations could be meaningfully extended, and as an exercise, they could be.
272. Cung hai/cung ba = Sao Thiên Vương/Sao Thổ = Thể dĩ thái/Thể xác đậm đặc = Linh hồn/Phàm ngã = Mới/Cũ. Các hạng từ của những phương trình tương đồng này có thể được mở rộng một cách có ý nghĩa, và như một bài tập, chúng có thể được làm như vậy.
273. We have been studying the etheric body and especially its involvement in the factor of death or pralaya. At a time when humanity is seeking to “come alive” through the relinquishment of matter/form, this study is of central importance.
273. Chúng ta đã nghiên cứu thể dĩ thái và đặc biệt là sự dính líu của nó vào yếu tố chết hay Giai kỳ qui nguyên. Vào một thời điểm khi nhân loại đang tìm cách “sống dậy” qua việc từ bỏ vật chất/hình tướng, sự nghiên cứu này có tầm quan trọng trung tâm.
274. If we manage to understand the etheric body and to shift out attention into that body from its present fixation in the dense physical, the scales will tip and we shall find ourselves moving, as a race, towards the expression of Love-Wisdom, the great theme of the second ray soul of our Planetary Logos and the second ray soul and personality of our Solar Logos.
274. Nếu chúng ta xoay xở để thấu hiểu thể dĩ thái và chuyển sự chú ý của mình vào thể ấy khỏi sự cố định hiện nay trong thể xác đậm đặc, thì cán cân sẽ nghiêng và chúng ta sẽ thấy mình đang tiến tới, với tư cách một nhân loại, sự biểu hiện của Bác Ái – Minh Triết, chủ đề lớn của linh hồn cung hai của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và của linh hồn cung hai cùng phàm ngã cung hai của Thái dương Thượng đế.