Trích nội dung chương
b. Perhaps as an over-shadowing Avatar? It would seem that the Planetary Logos is the over-shadowing Presence in the case of Sanat Kumara. It would be hard to conceive of the Logos overshadowing a “human individuality”. b. Có lẽ như một Đấng Hoá Thân phủ bóng? Dường như Hành Tinh Thượng Đế là Hiện Diện phủ bóng trong trường hợp của Đức Sanat Kumara. Thật khó hình dung Thượng đế phủ bóng một “cá thể nhân loại”.
a. Perhaps in relation to the initiation of very higher initiates.
a. Có lẽ liên quan đến điểm đạo của các điểm đạo đồ rất cao.
b. Perhaps as an over-shadowing Avatar? It would seem that the Planetary Logos is the over-shadowing Presence in the case of Sanat Kumara. It would be hard to conceive of the Logos overshadowing a “human individuality”.
b. Có lẽ như một Đấng Hoá Thân phủ bóng? Dường như Hành Tinh Thượng Đế là Hiện Diện phủ bóng trong trường hợp của Đức Sanat Kumara. Thật khó hình dung Thượng đế phủ bóng một “cá thể nhân loại”.
197. Note that the evolution of man is “recommenced”!
197. Cần lưu ý rằng sự tiến hoá của con người được “táikhởi động”!
198. The term “Dhyan Chohan” like that of “Kumara” or “Manasaputra” can be interpreted on a more than one level, one of which is planetary and another of which is intra-planetary.
198. Thuật ngữ “Dhyan Chohan”, cũng như “Kumara” hay “Manasaputra”, có thể được diễn giải ở nhiều hơn một cấp độ, một cấp độ là hành tinh và một cấp độ khác là nội hành tinh.
Or you may look upon the Logos represented by as one belonging to the same class as the Logos which so appeared. In speaking of himself Krishna says, (chap. x, verse 6): "The seven great Rishis, the four preceding Manus, partaking of my nature were born from my mind: from them sprang, was (born) the human race and the world."
Hoặc các bạn có thể xem Thượng đế được biểu thị bởi như thuộc cùng một loại với Thượng đế đã xuất hiện như vậy. Khi nói về chính mình, Krishna nói (chương x, câu 6): "Bảy vị Rishi vĩ đại, bốn Đức Manu đi trước, cùng dự phần vào bản chất của ta, được sinh ra từ trí của ta: từ các vị ấy đã phát sinh, đã được sinh ra, nhân loại và thế giới."
199. The Krishna speaking in the above must have been in a very high state of identification for the Entity speaking through Him would seem to be the Planetary Logos.
199. Krishna nói trong đoạn trên hẳn đã ở trong một trạng thái đồng hoá rất cao, vì Thực Thể đang nói qua Ngài dường như là Hành Tinh Thượng Đế.
He speaks of the sapta Rishis and of the Manus as his manasaputras, or mind-born sons, which they would be if he was the so-called Prajapati, who appeared on this planet and commenced the work of evolution."--The Theosophist, Vol. VIII, p. 443.)
Ngài nói về sapta Rishis và các Đức Manu như các manasaputra của Ngài, hay những người con sinh từ trí của Ngài; điều này sẽ đúng nếu Ngài là Prajapati như được gọi, Đấng đã xuất hiện trên hành tinh này và khởi đầu công việc tiến hoá."--The Theosophist, Tập VIII, tr. 443.)
200. We may judge that the “sapta Rishis” or seven Rishis is also a generic term capable of application to different classes of entity, for it is an impossibility for a Prajapati (i.e., a Planetary Logos) have for His mind-born sons the Seven Rishis of the Great Bear!
200. Chúng ta có thể phán đoán rằng “sapta Rishis” hay bảy vị Rishi cũng là một thuật ngữ tổng quát có thể áp dụng cho những loại thực thể khác nhau, vì một Prajapati (tức một Hành Tinh Thượng Đế) không thể nào có Bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh làm những người con sinh từ trí của Ngài!
Footnote 20:
Chú thích 20:
The following tabulation should be borne in mind:
Bảng liệt kê sau đây cần được ghi nhớ:
Seven branch races make one subrace
Bảy giống dân nhánh tạo thành một giống dân phụ
Seven subraces make one rootrace
Bảy giống dân phụ tạo thành một giống dân gốc
Seven rootraces make one world period
Bảy giống dân gốc tạo thành một thời kỳ thế giới
Seven world periods make one round
Bảy thời kỳ thế giới tạo thành một cuộc tuần hoàn
Seven rounds make one chain period
Bảy cuộc tuần hoàn tạo thành một thời kỳ dãy
Seven chain periods make one planetary scheme
Bảy thời kỳ dãy tạo thành một hệ hành tinh
Ten planetary schemes make one solar system
Mười hệ hành tinh tạo thành một hệ mặt trời
201. We note that in the last two equivalences the term “period” or “round” is dropped. Yet there are, apparently, scheme-rounds as well as chain-rounds.
201. Chúng ta lưu ý rằng trong hai tương đương cuối cùng, thuật ngữ “thời kỳ” hay “cuộc tuần hoàn” bị lược bỏ. Tuy nhiên, dường như có các cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh cũng như các cuộc tuần hoàn của dãy.
202. A “world period” as here given, is one seventh of a complete round, or the duration of a round as it affects a particular globe or world.
202. Một “thời kỳ thế giới”, như được nêu ở đây, là một phần bảy của một cuộc tuần hoàn hoàn chỉnh, hay thời lượng của một cuộc tuần hoàn khi nó tác động đến một bầu hành tinh hay thế giới cụ thể.
203. There are many hidden mysteries in this little tabulation.
203. Có nhiều huyền nhiệm ẩn giấu trong bảng liệt kê nhỏ này.
a. To what Being are the planetary schemes as chains?
a. Đối với Hữu thể nào thì các hệ hành tinh là các dãy?
b. To what Being are the planetary schemes as globes or “worlds”.
b. Đối với Hữu thể nào thì các hệ hành tinh là các bầu hành tinh hay “thế giới”?
c. On the solar systemic level, what is the equivalence to a world period, a round or a chain period?
c. Ở cấp độ hệ mặt trời, tương đương với một thời kỳ thế giới, một cuộc tuần hoàn hay một thời kỳ dãy là gì?
204. If we could answer these questions, we might know something more about the dynamics of the solar system and the interaction of the planetary schemes.
204. Nếu chúng ta có thể trả lời những câu hỏi này, chúng ta có thể biết thêm điều gì đó về động lực học của hệ mặt trời và sự tương tác của các hệ hành tinh.
205. We are given a kind or order of the planetary chains in the Earth-scheme. Which planetary schemes actually correspond to these planetary chains? Some suggestions are given, but nothing definitive.
205. Chúng ta được cho biết một loại hay trật tự của các dãy hành tinh trong hệ Địa Cầu. Những hệ hành tinh nào thực sự tương ứng với các dãy hành tinh này? Có một số gợi ý được đưa ra, nhưng không có gì dứt khoát.
[Page 63]
[Page 63]
Each of these cosmic Entities is, in His essential essence, Fire; each manifests as fire in a threefold manner. In point of time the cosmic Lord of active Intelligence, considered from the standpoint of cosmic evolution, is more evolved than His two Brothers. He is the life of matter, its latent internal Fire. His is the fire essence that lies at the heart of the Sun, of the planet, and of man's material forms. He is the sumtotal of the Past.
Mỗi một Thực Thể vũ trụ này, trong tinh túy cốt yếu của Ngài, là Lửa; mỗi vị biểu lộ như lửa theo cách tam phân. Xét về thời gian, Chúa Tể vũ trụ của Trí Tuệ Hoạt Động, được xem từ quan điểm tiến hoá vũ trụ, tiến hoá hơn hai Huynh Đệ của Ngài. Ngài là sự sống của vật chất, Lửa nội tại tiềm tàng của nó. Của Ngài là tinh chất lửa nằm ở trung tâm của Mặt Trời, của hành tinh, và của các hình tướng vật chất của con người. Ngài là tổng thể của Quá Khứ.
Each of these cosmic entities in His essential essence is Fire and manifests in a threefold manner. We are further told that the third Logos of active intelligence is more evolved than His brothers. He is the life of matter, its latent internal Fire; the fire essence lying at the heart of the Sun, the planet and of man material forms; the sum-total of the past. The second Logos the Lord of cosmic love expressing the present and embodying conscious existence. The Lord of cosmic Will holds hid the future within His plans and consciousness. Those are the three Sons of the one Father and no difference exists between them from the standpoint of the Eternal Now, no one is greater or lesser than the others.
Mỗi một thực thể vũ trụ này trong tinh túy cốt yếu của Ngài là Lửa và biểu lộ theo cách tam phân. Chúng ta còn được cho biết rằng Thượng đế thứ ba của trí tuệ hoạt động tiến hoá hơn các Huynh Đệ của Ngài. Ngài là sự sống của vật chất, Lửa nội tại tiềm tàng của nó; tinh chất lửa nằm ở trung tâm của Mặt Trời, hành tinh và các hình tướng vật chất của con người; tổng thể của quá khứ. Thượng đế thứ hai, Chúa Tể của bác ái vũ trụ, biểu lộ hiện tại và hiện thân cho sự hiện hữu có tâm thức. Chúa Tể của Ý Chí vũ trụ giữ ẩn tương lai trong các kế hoạch và tâm thức của Ngài. Đó là ba Người Con của một Đức Cha duy nhất và không có khác biệt nào giữa Các Ngài từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu; không vị nào lớn hơn hay nhỏ hơn các vị khác.
206. The Life of Third Logos should be more than the “latent internal Fire”. In this description, it would seem that “latent fire” and “active fire” are being combined, for the Third Logos is surely, also, the radiatory or active fire of matter.
206. Sự Sống của Thượng đế thứ ba hẳn phải là nhiều hơn “Lửa nội tại tiềm tàng”. Trong mô tả này, dường như “lửa tiềm tàng” và “lửa hoạt động” đang được kết hợp, vì Thượng đế thứ ba chắc chắn cũng là lửa bức xạ hay lửa hoạt động của vật chất.
207. “Heart” (as here used) means the “center”, and not the “Heart of the Sun” (causal body of the Solar Logos).
207. “Trung tâm” (như được dùng ở đây) có nghĩa là “trung tâm”, chứ không phải “Tâm Mặt Trời” (thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế).
208. We note the often confusing analogous references to ‘centre’ and base and heart; we also recognize how the heart and base are also related to the 4th ray, and humanity, etc.
208. Chúng ta lưu ý những quy chiếu tương tự thường gây lẫn lộn đến ‘trung tâm’, đáy và tim; chúng ta cũng nhận ra tim và đáy cũng liên hệ với cung bốn, và nhân loại, v.v.
209. A Logos is a “fire essence”. A Logos if a “Fire”. These are an important definition.
209. Một Thượng đế là một “tinh chất lửa”. Một Thượng đế là một “Lửa”. Đây là những định nghĩa quan trọng.
210. The Lord of active Intelligence is, from what we can here gather, the soul of matter.
210. Chúa Tể của Trí Tuệ Hoạt Động, từ những gì chúng ta có thể rút ra ở đây, là linh hồn của vật chất.
The Lord of Cosmic Love now seeks union with His Brother, and, in point of time, embodies all the Present.
Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ giờ đây tìm cách hợp nhất với Huynh Đệ của Ngài, và xét về thời gian, hiện thân cho toàn bộ Hiện Tại.
211. The Lord of Cosmic Love embodies the present. The Lord of Active Intelligence embodies the past.
211. Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ hiện thân cho hiện tại. Chúa Tể của Trí Tuệ Hoạt Động hiện thân cho quá khứ.
He is the sumtotal of all that is embodied; He is conscious Existence. He is the Son divine and His life and nature evolve through every existent form.
Ngài là tổng thể của mọi điều được hiện thân; Ngài là Hiện Hữu có Tâm Thức. Ngài là Con thiêng liêng và sự sống cùng bản chất của Ngài tiến hoá qua mọi hình tướng hiện hữu.
212. The Lord of Cosmic Love is identified with the consciousness aspect of divinity.
212. Chúa Tể của Bác Ái Vũ Trụ được đồng nhất với phương diện tâm thức của thiên tính.
The first Lord or the Fire of spirit of Will blends with the fire of the second logos of love and demonstrate as Soul utilizing for purposes of manifestation the aid of the third logos. In this fourth round on this fourth globe of our planetary scheme, the fires of the third logos of intelligent matter are fusing somewhat with the fire of cosmic mind expressing will and power and animating the Thinker on all planes. The object of their co-operation is the perfected manifestation of the cosmic Lord of Love.
Chúa Tể thứ nhất hay Lửa của tinh thần của Ý Chí hòa trộn với lửa của thượng đế thứ hai của bác ái và biểulộ như linh hồn, sử dụng cho các mục đích biểu lộ sự trợ giúp của thượng đế thứ ba. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này trên bầu hành tinh thứ tư của hệ hành tinh chúng ta, các ngọn lửa của thượng đế thứ ba của vật chất thông tuệ đang dung hợp phần nào với lửa của trí tuệ vũ trụ biểu lộ ý chí và quyền năng và làm sinh động Nhà Tư Tưởng trên mọi cõi. Mục tiêu của sự hợp tác của các ngọn lửa ấy là sự biểu lộ hoàn hảo của Chúa Tể Bác Ái Vũ Trụ.
The Lord of Cosmic Will holds hid the future within His plans and consciousness.
Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ giữ ẩn tương lai trong các kế hoạch và tâm thức của Ngài.
213. The Lord of Cosmic Will, will be the future. He exists now, but is far from fully manifest.
213. Chúa Tể của Ý Chí Vũ Trụ sẽ là tương lai. Ngài hiện hữu ngay bây giờ, nhưng còn rất xa mới biểu lộ trọn vẹn.
They are all three the Sons of one Father, all three the aspects of the One God, all three are Spirit, all three are Soul, and all three are Rays emanating from one cosmic centre. All three are substance,…
Cả ba đều là những Người Con của một Đức Cha, cả ba đều là các phương diện của Đấng Duy Nhất, cả ba đều là Tinh thần, cả ba đều là Linh hồn, và cả ba đều là các Cung phát xạ từ một trung tâm vũ trụ. Tất cả ba đều là chất liệu,…
214. p63Q1: Who is the One Father—the “Undifferentiated Logos”?
214. tr63C1: Ai là Đức Cha duy nhất—“Thượng đế Không Biến Phân”?
215. We note that we cannot easily divide these Logoi saying that one of them is Spirit, one Soul and one Body—for all three of them together are Spirit, Soul and Body.
215. Chúng ta lưu ý rằng không thể dễ dàng phân chia các Thượng đế này bằng cách nói rằng một vị là Tinh thần, một vị là Linh hồn và một vị là Thể—vì cả ba vị cùng nhau là Tinh thần, Linh hồn và Thể.
216. p63Q2: Is the term “Rays” (as in “Rays emanating from one cosmic center”) to be associated with either “Spirit” or “Soul”, or is it an inclusive term? This must be pondered.
216. tr63C2: Thuật ngữ “Các Cung” (như trong “Các Cung phát xạ từ một trung tâm vũ trụ”) có nên được liên kết với “Tinh thần” hay “Linh hồn”, hay đó là một thuật ngữ bao gồm? Điều này phải được suy ngẫm.
217. The “cosmic center” is, very reasonably, the Solar Logos considered as a whole.
217. “Trung tâm vũ trụ”, rất hợp lý, là Thái dương Thượng đế được xem như một toàn thể.
218. It is important to realize that all three of these Entities are “substance” as well as Spirit and Soul.
218. Điều quan trọng là nhận ra rằng cả ba Thực Thể này đều là “chất liệu” cũng như Tinh thần và Linh hồn.
but in the past one Lord was the elder Son, in the present another Lord comes to the fore, and in the future still another.
nhưng trong quá khứ một Chúa Tể là Người Con lớn tuổi hơn, trong hiện tại một Chúa Tể khác tiến ra tiền cảnh, và trong tương lai lại là một vị khác.
219. We are dealing with the Science of Triangles. The term “elder” means “dominant”. Each member of a trinity rises to the apex of the triangle.
219. Chúng ta đang bàn đến Khoa Học về Các Tam Giác. Thuật ngữ “lớn tuổi hơn” có nghĩa là “chiếm ưu thế”. Mỗi thành viên của một bộ ba đều vươn lên đỉnh của tam giác.
220. Part of our task then, individually in terms of our service, and collectively in terms of our study, is to discern which is the apex at any one moment. At this time, with this body of work, or our sphere of influence, what is our apex or calling?
220. Như vậy, một phần nhiệm vụ của chúng ta, xét riêng từng người theo phụng sự của mình, và xét tập thể theo việc học của mình, là phân biện xem đâu là đỉnh ở bất kỳ khoảnh khắc nào. Vào lúc này, với khối công việc này, hay với khối cầu ảnh hưởng của chúng ta, đâu là đỉnh hay tiếng gọi của chúng ta?
But this is so only in Time.
Nhưng điều này chỉ đúng trong Thời gian.
221. A “standpoint” is a point of vision, a ‘point of view’, a ‘place’ from which a perspective can be gathered.
221. Một “quan điểm” là một điểm tầm nhìn, một ‘góc nhìn’, một ‘nơi chốn’ từ đó một viễn cảnh có thể được nắm bắt.
222. There is a standpoint from which Time seems real. There is another standpoint from which the Eternal Now is the only ‘temporal reality’ (if I may use an apparently contradictory phrase.
222. Có một quan điểm từ đó Thời gian dường như là thực. Có một quan điểm khác từ đó Hiện Tại Vĩnh Cửu là ‘thực tại thời gian’ duy nhất (nếu tôi có thể dùng một cụm từ có vẻ mâu thuẫn như vậy).
From the standpoint of the Eternal Now, none is greater nor less than another, for the last shall be first, and the first last.
Từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, không ai lớn hơn hay nhỏ hơn người khác, vì kẻ sau sẽ là trước, và kẻ trước sẽ là sau.
223. This idea must absolutely be remembered, for it is always the case that the first aspect is considered greater than the second and the first and second aspect greater than the third; In fact they are spiritually equivalent.
223. Ý tưởng này tuyệt đối phải được ghi nhớ, vì luôn luôn có trường hợp phương diện thứ nhất được xem là lớn hơn phương diện thứ hai và phương diện thứ nhất cùng thứ hai lớn hơn phương diện thứ ba; thật ra chúng tương đương về mặt tinh thần.
224. It is literally true that the last in order shall be first or dominant, and that the first in order shall be last or subservient.
224. Điều này đúng theo nghĩa đen rằng cái sau trong trật tự sẽ là cái trước hay chiếm ưu thế, và cái trước trong trật tự sẽ là cái sau hay phụ thuộc.
225. When dealing with the three primary colors, we cannot say that red, or blue or green is superior to its brother colors. They simply co-exist and have distinct functions.
225. Khi bàn đến ba màu sơ khởi, chúng ta không thể nói rằng đỏ, lam hay lục cao hơn các màu huynh đệ của nó. Chúng đơn giản cùng đồng tồn tại và có những chức năng riêng biệt.
226. When differentiation is negated it is always Now. Where differentiation is seen as reality, temporal sequence exists.
226. Khi biến phân bị phủ nhận thì luôn luôn là Hiện Tại. Nơi nào biến phân được xem là thực tại, ở đó có chuỗi thời gian.
227. To the concrete mind, the term Eternal Now is puzzling. To the triadal consciousness, it begins to make sense.
227. Đối với trí cụ thể, thuật ngữ Hiện Tại Vĩnh Cửu là điều gây bối rối. Đối với tâm thức tam nguyên tinh thần, nó bắt đầu có ý nghĩa.
Out of manifestation time is not, and freed from objectivity states of consciousness are not.
Ngoài biểu lộ thì thời gian không hiện hữu, và khi được giải thoát khỏi tính khách quan thì các trạng thái tâm thức cũng không hiện hữu.
228. The “philosophy of consciousness without an object” is suggested. There is one inclusive consciousness.
228. “Triết học về tâm thức không có đối tượng” được gợi ra. Có một tâm thức bao gồm duy nhất.
229. The three worlds are subject to the illusion of Time and Space.
229. Ba cõi giới chịu sự chi phối của ảo tưởng về Thời gian và Không gian.
230. Identification is the key to free oneself from objectivity.
230. Đồng hoá là chìa khóa để giải thoát chính mình khỏi tính khách quan.
231. When “states of consciousness are not”, consciousness, itself, still exists.
231. Khi các “trạng thái tâm thức không còn”, thì chính tâm thức vẫn còn tồn tại.
232. p61Q3: Does the state suggested in DK’s sentence immediately above refer to pralaya? Or to an intermediate state, cosmically considered? For instance, after the Logos has experienced through all three solar systems?
232. p61Q3: Trạng thái được gợi ý trong câu ngay trên của Chân sư DK có phải là giai kỳ qui nguyên không? Hay là một trạng thái trung gian, xét theo vũ trụ? Thí dụ, sau khi Thượng đế đã kinh nghiệm qua cả ba hệ mặt trời?
233. p61Q4: How do we free ourselves from “objectivity”? May we say, “through identification”? What if we knew ourselves to be the object, and thus the object became the Self? We would feel the oneness of all objects and would feel ourselves to be the oneness. We would be freed from objectivity.
233. p61Q4: Làm sao chúng ta giải thoát chính mình khỏi “tính khách quan”? Chúng ta có thể nói, “qua sự đồng hoá” chăng? Điều gì xảy ra nếu chúng ta biết mình là đối tượng, và như vậy đối tượng trở thành Bản Ngã? Chúng ta sẽ cảm nhận sự nhất thể của mọi đối tượng và sẽ cảm nhận chính mình là sự nhất thể ấy. Chúng ta sẽ được giải thoát khỏi tính khách quan.
The fire of Spirit is the essential fire of the first Lord of Will plus the fire of the second Logos of Love.
Lửa của tinh thần là lửa cốt yếu của Đấng Chúa Tể thứ nhất của Ý Chí cộng với lửa của Thượng đế thứ hai của Bác ái.
234. A vital statement. The spirit, microcosmically, is the monad. But in the monad there is an important combination of first and second rays. To this end, it is said that the monad is “atma-buddhi”.
234. Đây là một phát biểu thiết yếu. Tinh thần, xét theo tiểu thiên địa, là chân thần. Nhưng trong chân thần có một sự kết hợp quan trọng của cung một và cung hai. Vì mục đích này, người ta nói rằng chân thần là “atma-buddhi”.
235. And what about Shamballa? Shamballa has a second ray essence and a first ray expression.
235. Còn Shamballa thì sao? Shamballa có tinh chất cung hai và biểu hiện cung một.
236. What about Sanat Kumara? He is the highest example of the Teaching Ray on our planet, the greatest Saviour.
236. Còn Đức Sanat Kumara thì sao? Ngài là tấm gương cao nhất của Cung Giáo Huấn trên hành tinh chúng ta, là Đấng Cứu Độ vĩ đại nhất.
These two cosmic Entities blend, merge, and demonstrate as Soul, utilising for purposes of manifestation the aid of the third Logos.
Hai Thực Thể vũ trụ này hòa trộn, dung nhập, và biểu lộ thành linh hồn, sử dụng cho các mục đích biểu hiện sự trợ giúp của Thượng đế thứ ba.
237. Found within the soul body (causal body) are the “jewel in the lotus” (representing the first ray) and the petals of the lotus (representing the second).
237. Bên trong thể linh hồn (thể nguyên nhân) có “ngọc trong hoa sen” (tượng trưng cho cung một) và các cánh hoa của hoa sen (tượng trưng cho cung hai).
238. At our present stage of evolution (and particularly in our solar system) there is no manifestation of pure spirit without soul.
238. Ở giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta (và đặc biệt trong hệ mặt trời của chúng ta) không có sự biểu hiện nào của tinh thần thuần khiết mà không có linh hồn.
239. It should be remembered however, that spirit (on its own level) has soul and body). Every member of the Trinity is threefold.
239. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng tinh thần (trên cấp độ riêng của nó) có linh hồn và thân thể. Mỗi thành viên của Tam Vị đều là tam phân.
The three fires blend and merge. In this fourth round and on this fourth globe of our planetary scheme, the fires of the third Logos of intelligent matter are fusing somewhat with the fires of cosmic [Page 64] mind, showing as will or power, and animating the Thinker on all planes.
Ba ngọn lửa hòa trộn và dung nhập. Trong cuộc tuần hoàn thứ tư này và trên bầu hành tinh thứ tư này của hệ hành tinh chúng ta, các ngọn lửa của Thượng đế thứ ba của vật chất thông tuệ đang dung hợp phần nào với các ngọn lửa của [Page 64]trí tuệ vũ trụ, biểu lộ thành ý chí hay quyền năng, và tiếp sinh lực cho Thức giả trên mọi cõi.
240. The three fires may be conceived as coming from the cosmic mental—the Fire of Intelligent Will from the highest subplane of the cosmic mental plane; the Fire of Intelligent Love also from the higher subplanes of the cosmic mental plane; and the Fire of Intelligent Activity from the lower four subplanes of the cosmic mental plane.
240. Có thể hình dung ba ngọn lửa này phát xuất từ cõi trí vũ trụ—Lửa của Ý Chí Thông Tuệ từ cõi phụ cao nhất của cõi trí vũ trụ; Lửa của Bác Ái Thông Tuệ cũng từ các cõi phụ cao của cõi trí vũ trụ; và Lửa của Hoạt Động Thông Tuệ từ bốn cõi phụ thấp của cõi trí vũ trụ.
241. Term “somewhat” is important, for much remains to be done.
241. Từ “phần nào” rất quan trọng, vì còn nhiều điều phải được thực hiện.
242. We note that will and mind are united.
242. Chúng ta lưu ý rằng ý chí và trí tuệ được hợp nhất.
243. It is not that will shows forth as will, but that mind shows forth as will—at least in our present solar system and under the limitations to which our planet is subject.
243. Không phải ý chí biểu lộ thành ý chí, mà là trí tuệ biểu lộ thành ý chí—ít nhất trong hệ mặt trời hiện nay của chúng ta và dưới những giới hạn mà hành tinh chúng ta phải chịu.
244. Notice another name for the Third Logos: “the third Logos of intelligent matter”. This name should be compared with the Fire of Intelligent Activity or the Logos of Active Intelligence.
244. Hãy chú ý một tên gọi khác của Thượng đế thứ ba: “Thượng đế thứ ba của vật chất thông tuệ”. Tên gọi này nên được so sánh với Lửa của Hoạt Động Thông Tuệ hay Thượng đế của Trí Tuệ Hoạt Động.
245. What is really happening on our globe with respect to these three fires. The fires of mind (representing love) are fusing with the fires of matter. But the fires of mind represent not only love but will, and so cosmic will is somewhat involved in this fusing, however incompletely and imperfectly.
245. Điều thực sự đang xảy ra trên bầu hành tinh của chúng ta liên quan đến ba ngọn lửa này là gì? Các ngọn lửa của trí tuệ (tượng trưng cho bác ái) đang dung hợp với các ngọn lửa của vật chất. Nhưng các ngọn lửa của trí tuệ không chỉ tượng trưng cho bác ái mà còn cho ý chí, và vì thế ý chí vũ trụ phần nào cũng dự phần vào sự dung hợp này, dù còn rất bất toàn và không hoàn hảo.
246. From the microcosmic point of view what this means is that although we, at present, are learning more fully to love, we are also learning something about the will.
246. Xét từ quan điểm tiểu thiên địa, điều này có nghĩa là tuy hiện nay chúng ta đang học cách yêu thương trọn vẹn hơn, chúng ta cũng đang học được đôi điều về ý chí.
247. It is also suggested that the Thinker (the soul aspect) is animated by both love and will.
247. Điều này cũng gợi ý rằng Thức giả (phương diện linh hồn) được tiếp sinh lực bởi cả bác ái lẫn ý chí.
The object of Their co-operation is the perfected manifestation of the cosmic Lord of Love. This should be pondered upon for it reveals a mystery.
Mục đích của sự hợp tác của Các Ngài là sự biểu hiện hoàn hảo của Chúa Tể vũ trụ của Bác ái. Điều này cần được suy gẫm vì nó tiết lộ một huyền nhiệm.
248. The lowest fire is required to combine with the Fire of Love (the Fire of Cosmic Mind) if there is to be the perfected manifestation of the cosmic Lord of Love.
248. Ngọn lửa thấp nhất cần phải kết hợp với Lửa của Bác ái (Lửa của Trí Tuệ Vũ Trụ) nếu muốn có sự biểu hiện hoàn hảo của Chúa Tể vũ trụ của Bác ái.
249. What is suggested is that in our solar system, the manifestation of love is closely allied to the manifestation of mind.
249. Điều được gợi ý là trong hệ mặt trời của chúng ta, sự biểu hiện của bác ái liên kết chặt chẽ với sự biểu hiện của trí tuệ.
250. It is also suggested that it takes a degree of will if the Lord of Love is to be manifested perfectly.
250. Điều này cũng gợi ý rằng cần có một mức độ ý chí nào đó nếu Chúa Tể của Bác ái muốn được biểu hiện một cách hoàn hảo.
Pondering the mystery The mystery is hidden in the interaction between the three logoi in manifestation and the assistance provided by two logoi when out of manifestation to the one who happens to be manifesting at any particular time. It is hidden in the co-operation and infallible demonstration by those lives for which the goal is the purpose hidden in the activity of intelligence, love and will permeating the whole of creative manifestation.
Suy gẫm về huyền nhiệm Huyền nhiệm này ẩn giấu trong sự tương tác giữa ba Thượng đế đang biểu hiện và sự trợ giúp do hai Thượng đế cung cấp, khi không biểu hiện, cho Đấng đang tình cờ biểu hiện vào bất cứ thời điểm nào. Nó ẩn giấu trong sự hợp tác và biểu lộ không sai chạy của những sự sống mà mục tiêu của họ là mục đích ẩn kín trong hoạt động của trí tuệ, bác ái và ý chí thấm nhuần toàn thể biểu hiện sáng tạo.
The mystery is not a mystery at all when one realises that all is moving according to will and purpose even though to our undeveloped eyes, they appear to travel in the opposite direction. It is only in man that conflict by its own three aspects with each other which appear during manifestation. But even this if we only knew it, has a purpose leading to the establishment of the purpose.
Huyền nhiệm ấy thực ra вовсе không phải là huyền nhiệm khi người ta chứng nghiệm rằng mọi sự đều vận động theo ý chí và mục đích, dù đối với đôi mắt chưa phát triển của chúng ta, chúng dường như đi theo chiều ngược lại. Chỉ trong con người mới có xung đột bởi chính ba phương diện của y với nhau xuất hiện trong khi biểu hiện. Nhưng ngay cả điều này, nếu chúng ta chỉ biết được, cũng có một mục đích dẫn đến việc thiết lập mục đích ấy.
The blending of the three fires, the merging of the three Rays, and the co-operation of the three Logoi have in view (at this time and within this solar system) the development of the Essence of the cosmic Lord of Love, the second Person in the logoic trinity. Earlier it was not so, later it will not be, but now it is.
Sự hòa trộn của ba ngọn lửa, sự dung nhập của ba cung, và sự hợp tác của ba Thượng đế đều nhắm đến (vào lúc này và trong hệ mặt trời này) sự phát triển của Tinh Chất của Chúa Tể vũ trụ của Bác ái, Ngôi thứ hai trong tam vị thượng đế. Trước đây không phải vậy, về sau cũng sẽ không phải vậy, nhưng hiện nay là như thế.
251. There is always the cooperation of the three, though depending upon time the cooperation will be equal or unequal.
251. Luôn luôn có sự hợp tác của cả ba, dù tùy theo thời gian mà sự hợp tác ấy sẽ bình đẳng hay không bình đẳng.
252. The present form of cooperation between the three Logoi will lead to the perfected expression of the Lord of Cosmic Love in our solar system. This is here referred to as the “development of the Essence of the cosmic Lord of Love”.
252. Hình thức hợp tác hiện nay giữa ba Thượng đế sẽ dẫn đến sự biểu lộ hoàn hảo của Chúa Tể của Bác ái Vũ trụ trong hệ mặt trời của chúng ta. Điều này ở đây được gọi là “sự phát triển của Tinh Chất của Chúa Tể vũ trụ của Bác ái”.
253. Earlier the three conspired for the emergence of the Lord of Cosmic Intelligence into perfected activity and later their cooperation will bring about the emergence of the perfected expression of the Lord of Cosmic Will.
253. Trước đây, cả ba đã cùng hành động để đưa Chúa Tể của Trí Tuệ Vũ Trụ xuất hiện vào hoạt động hoàn hảo, và về sau sự hợp tác của các Ngài sẽ mang lại sự xuất hiện của biểu hiện hoàn hảo của Chúa Tể của Ý Chí Vũ trụ.
The blending of the fires is a hint to aid the realisation of the working out of the above mystery in the present temporary system of love and its relation and dependence upon the previous system of intelligence and upon the coming system of Will.
Sự hòa trộn của các ngọn lửa là một gợi ý giúp chứng nghiệm sự triển khai của huyền nhiệm trên trong hệ thống bác ái tạm thời hiện nay và mối liên hệ cũng như sự lệ thuộc của nó vào hệ thống trí tuệ trước đây và vào hệ thống Ý Chí sắp đến.
When viewed from the cosmic mental plane [higher] these Three constitute the PERSONALITY OF THE LOGOS, and are seen functioning as one.
Khi được nhìn từ cõi trí vũ trụ [cao hơn], Ba Đấng này cấu thành PHÀM NGÃ CỦA THƯỢNG ĐẾ, và được thấy đang hoạt động như một.
254. The personality of Solar Logos is called Agni or the Holy Spirit.
254. Phàm ngã của Thái dương Thượng đế được gọi là Agni hay Chúa Thánh Thần.
255. Lord Agni is the Lord of the Logoic Personality. Within the Lord Agni are the three aspects represented by Agni, Varuna and Kshiti.
255. Chúa Agni là Chúa Tể của Phàm Ngã Thượng đế. Bên trong Chúa Agni có ba phương diện được tượng trưng bởi Agni, Varuna và Kshiti.
256. We are to view the Logos from the higher levels of the cosmic mental plane.
256. Chúng ta phải nhìn Thượng đế từ các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ.
257. The monad expresses through the mind; the soul through the astral body; and the personality through the physical body.
257. Chân thần biểu lộ qua thể trí; linh hồn qua thể cảm dục; và phàm ngã qua thể xác.
258. The physical nature of the Logos expresses through the cosmic physical plane.
258. Bản chất hồng trần của Thượng đế biểu lộ qua cõi hồng trần vũ trụ.
Hence the secret (well recognised as fact, though not understood) of the excessive heat, occultly expressed, of the astral or central body of the triple personality.
Do đó có bí mật của sức nóng quá mức, được diễn tả một cách huyền bí, của thể cảm dục hay thể trung tâm của phàm ngã tam phân.
259. Humanity has a ‘hot’ astral body. Neptune will help bring a necessary cooling.
259. Nhân loại có một thể cảm dục “nóng”. Sao Hải Vương sẽ giúp đem lại sự làm mát cần thiết.
260. Our problem is cool down the astral body and warm the heart. Again Neptune is involved, for it rules the repository of the “solar flames”.
260. Vấn đề của chúng ta là làm mát thể cảm dục và sưởi ấm trái tim. Một lần nữa Sao Hải Vương có liên quan, vì nó cai quản nơi chứa đựng các “ngọn lửa thái dương”.
261. In our solar system, we may infer that the solar logoic astral nature is characterized by excessive heat. We may infer that this is true for the Planetary Logos and for man.
261. Trong hệ mặt trời của chúng ta, chúng ta có thể suy ra rằng bản chất cảm dục của Thái dương Thượng đế được đặc trưng bởi sức nóng quá mức. Chúng ta có thể suy ra rằng điều này cũng đúng đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế và đối với con người.
It animates and controls the physical body, and its desires hold sway in the majority of cases; it demonstrates in time and space the correspondence of the temporary union of spirit and matter, the fires of cosmic love and the fires of matter blended.
Nó tiếp sinh lực và kiểm soát thể xác, và các ham muốn của nó chi phối trong đa số trường hợp; nó biểu lộ trong thời gian và không gian sự tương ứng của sự hợp nhất tạm thời giữa tinh thần và vật chất, các ngọn lửa của bác ái vũ trụ và các ngọn lửa của vật chất được hòa trộn.
262. This is a very interesting idea. The astral body demonstrates a correspondence between the union of spirit and matter. The fires of cosmic love are equated with spirit (a very interesting equivalence and perhaps surprising), and the fires of matter with matter itself.
262. Đây là một ý tưởng rất thú vị. Thể cảm dục biểu lộ một sự tươngứng giữa sự hợp nhất của tinh thần và vật chất. Các ngọn lửa của bác ái vũ trụ được đồng nhất với tinh thần (một sự tương đương rất thú vị và có lẽ đáng ngạc nhiên), còn các ngọn lửa của vật chất thì được đồng nhất với chính vật chất.
263. In one way this is reasonable. There is a close relation between the spirit in man (the monad) and the astral plane, for the astral plane is the sixth counting from above and the monadic plane whereon the monad is found is the sixth counting from below.
263. Theo một cách nào đó điều này là hợp lý. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa tinh thần trong con người (chân thần) và cõi cảm dục, vì cõi cảm dục là cõi thứ sáu tính từ trên xuống và cõi chân thần, nơi chân thần được tìm thấy, là cõi thứ sáu tính từ dưới lên.
264. This means that our spirit is closely allied to the principle of love.
264. Điều này có nghĩa là tinh thần của chúng ta liên kết chặt chẽ với nguyên khí bác ái.
A similar analogy is found in the heat apparent in this second solar system.
Một sự tương đồng tương tự được tìm thấy trong sức nóng biểu hiện trong hệ mặt trời thứ hai này.
265. p64Q1: We might ask, “In what manner is this heat apparent?” Perhaps it is not yet apparent to human investigation and science, but is to the science of the Masters.
265. p64Q1: Chúng ta có thể hỏi, “Sức nóng này biểu hiện theo cách nào?” Có lẽ nó chưa biểu hiện rõ đối với sự khảo cứu và khoa học của con người, nhưng lại biểu hiện đối với khoa học của các Chân sư.
266. As inferred, our Planetary Logos (a being analogous to our Solar Logos in a number of ways {cf. TCF 384} should also be demonstrating an overplus of heat).
266. Như đã suy ra, Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta (một hữu thể tương tự với Thái dương Thượng đế của chúng ta theo nhiều phương diện {xem TCF 384}) cũng nên đang biểu lộ một sự dư thừa nhiệt lượng.
267. The kind of “heat” here referenced suggest fire by friction rather than the clear cold light of the soul, induced by the second aspect of divinity. It would seem that all three kinds of atoms are struggling with transmuting a preoccupation with fire by friction (each on its own level) into solar fire.
267. Loại “nhiệt” được nhắc đến ở đây gợi ý lửa ma sát hơn là ánh sáng lạnh trong sáng của linh hồn, được gây ra bởi phương diện thứ hai của thiên tính. Dường như cả ba loại nguyên tử đều đang vật lộn để chuyển hoá một sự bận tâm với lửa ma sát (mỗi loại trên cấp độ riêng của nó) thành Lửa Thái dương.
d. The Atom. The inner fires of the atom can likewise be seen functioning along similar lines, their demonstration being already somewhat recognised by science. This being so there exists no necessity for further elaboration.21
d. Nguyên tử. Các ngọn lửa bên trong nguyên tử cũng có thể được thấy là hoạt động theo những đường lối tương tự, và sự biểu lộ của chúng đã phần nào được khoa học công nhận. Vì vậy, không cần phải khai triển thêm.21
268. The inner substance of the atom should be compared to systemic, animated akasha, to “planetary productive substance” and to that current of vitalization within the human body which assures bodily warmth.
268. Chất liệu bên trong của nguyên tử nên được so sánh với akasha sống động của hệ thống, với “chất liệu sản sinh hành tinh” và với dòng tiếp sinh lực trong cơ thể con người bảo đảm sự ấm áp của thân thể.
269. We are talking here of that which ‘heats’ the atom. Since heat is measured through the relative frequency of vibration, the existence of subatomic particles may be inferred.
269. Ở đây chúng ta đang nói về cái làm “nung nóng” nguyên tử. Vì nhiệt được đo qua tần số rung động tương đối, nên có thể suy ra sự hiện hữu của các hạt dưới nguyên tử.
Footnote 21:"It should be remembered that the mere scale does not matter, for greatness and smallness are essentially relative.”
Chú thích 21:“Cần ghi nhớ rằng chỉ riêng quy mô không quan trọng, vì sự lớn và sự nhỏ về bản chất đều là tương đối.”
270. This is an extraordinarily important statement. There is no absolute greatness or smallness. To be called “great” or “small” a thing must be compared to another thing.
270. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng. Không có sự lớn hay nhỏ tuyệt đối nào. Để được gọi là “lớn” hay “nhỏ”, một vật phải được so sánh với một vật khác.
The destiny of each atom is to create a brahmanda. Brahmandas like or smaller or larger than ours, held together by a sun, are present in every atom.
Định mệnh của mỗi nguyên tử là tạo ra một brahmanda. Những brahmanda giống như, nhỏ hơn hay lớn hơn brahmanda của chúng ta, được giữ lại với nhau bởi một mặt trời, hiện diện trong mọi nguyên tử.
271. The term “Brahmanda” seems to mean a “universe”—large or small.
271. Thuật ngữ “Brahmanda” dường như có nghĩa là một “vũ trụ”—lớn hay nhỏ.
272. From a certain perspective (and one used occasionally in TCF) a universe and a solar system are equivalent.
272. Từ một góc nhìn nào đó (và là góc nhìn đôi khi được dùng trong Luận về Lửa Vũ Trụ), một vũ trụ và một hệ mặt trời là tương đương.
Vishvas, great world-systems, exist in an atom, and atoms again exist in these vishvas.
Các vishva, những hệ thống thế giới lớn, tồn tại trong một nguyên tử, và các nguyên tử lại tồn tại trong những vishva này.
273. One wonders how many ‘sub-atomic universes’ exist within an atom.
273. Người ta tự hỏi có bao nhiêu “vũ trụ dưới nguyên tử” tồn tại bên trong một nguyên tử.
274. Somewhere there must be a limit, or we enter the impossibility of the actual infinite divisibility of matter (however theoretically possible such infinite divisibility may be).
274. Ở đâu đó hẳn phải có một giới hạn, nếu không chúng ta sẽ rơi vào điều bất khả của sự phân chia vô hạn thực sự của vật chất (dù sự phân chia vô hạn ấy về mặt lý thuyết có thể có).
This is the significance of 'many from one'; wherever we see the one we should recognise the many also, and conversely. After securing the ability of, and then actually, creating a brahmanda, the next step is the creation of a jagat, then a vishva, then a maha-vishva and so on, till the status of maha-vishnu is reached." —Bhagavan Das in the Pranava Vada, p. 94.)
Đây là thâm nghĩa của “nhiều từ một”; ở đâu chúng ta thấy cái một thì chúng ta cũng nên nhận ra cái nhiều, và ngược lại. Sau khi đạt được khả năng tạo ra một brahmanda, rồi thực sự tạo ra nó, bước kế tiếp là tạo ra một jagat, rồi một vishva, rồi một maha-vishva, v.v., cho đến khi đạt tới địa vị maha-vishnu.” —Bhagavan Das trong Pranava Vada, tr. 94.)
275. The terms here used must be defined. We know that “maha-vishnu” is effectively the first aspect of divinity.
275. Những thuật ngữ được dùng ở đây phải được định nghĩa. Chúng ta biết rằng “maha-vishnu” thực chất là phương diện thứ nhất của thiên tính.
276. p64Q2: What type of evolution is Bhagavan Das suggesting for the atom?
276. p64Q2: Bhagavan Das đang gợi ý loại tiến hoá nào cho nguyên tử?
277. In summary, the Solar Logos considers 21 systemic subplanes as densely material and the Planetary Logos considers 18 systemic subplanes as densely material. The man considers 3 systemic subplanes as densely material. We remind ourselves that the word “dense” includes the densest earthly, the liquid and the gaseous layers. The entire mental plane is considered gaseous.
277. Tóm lại, Thái dương Thượng đế xem 21 cõi phụ của hệ thống là vật chất đậm đặc và Hành Tinh Thượng Đế xem 18 cõi phụ của hệ thống là vật chất đậm đặc. Con người xem 3 cõi phụ của hệ thống là vật chất đậm đặc. Chúng ta tự nhắc mình rằng từ “đậm đặc” bao gồm lớp trần thế đặc nhất, lớp lỏng và lớp khí. Toàn bộ cõi trí được xem là thể khí.
278. p64Q3: What is the distinction between the gaseousness of the lower four subplanes and that of the higher three?
278. p64Q3: Sự khác biệt giữa tính khí của bốn cõi phụ thấp và của ba cõi phụ cao là gì?
[Page 65]
[Page 65]
II. FIRE ELEMENTALS AND DEVAS
II. HÀNH KHÍ LỬA VÀ THIÊN THẦN
We might now briefly consider the subject of the fire elementals and devas, and then deal with the relation of the Personality Ray to this internal fire of the system in its threefold manifestation.
Bây giờ chúng ta có thể ngắn gọn xét đến đề tài các hành khí lửa và thiên thần, rồi sau đó bàn đến mối liên hệ của cung phàm ngã với ngọn lửa nội tại này của hệ thống trong biểu hiện tam phân của nó.
Certain facts are known in connection with the fire spirits (if so they may be termed).
Một số sự kiện được biết đến liên quan đến các tinh linh lửa (nếu có thể gọi như vậy).
279. The term “spirits” is being used here as that which is capable of causing movement or animation. It does not mean “spirit”, or the highest aspect of an entity.
279. Thuật ngữ “tinh linh” ở đây được dùng để chỉ cái có khả năng gây ra chuyển động hay sự sống động. Nó không có nghĩa là “tinh thần”, hay phương diện cao nhất của một thực thể.
The fundamental fact that should here be emphasised is that AGNI, the Lord of Fire, rules over all the fire elementals and devas on the three planes of human evolution, the physical, the astral, and the mental, and rules over them not only on this planet, called the Earth, but on the three planes in all parts of the system.
Sự kiện căn bản cần được nhấn mạnh ở đây là AGNI, Chúa Tể của Lửa, cai quản mọi hành khí lửa và thiên thần trên ba cõi của tiến hoá nhân loại, là cõi hồng trần, cõi cảm dục và cõi trí, và cai quản họ không chỉ trên hành tinh này, gọi là Trái Đất, mà còn trên ba cõi ấy trong mọi phần của hệ mặt trời.
280. Agni is a cosmic being operating throughout the solar system.
280. Agni là một hữu thể vũ trụ hoạt động khắp hệ mặt trời.
281. p65Q1: What about the different Agni(s) on other planets? They are emanations of a greater Lord Agni.
281. p65Q1: Còn những Agni khác nhau trên các hành tinh khác thì sao? Họ là những phát xạ của một Chúa Agni vĩ đại hơn.
282. Since the Lord Varuna rules over the water elementals and the Lord Kshiti over the earth elementals (as given elsewhere) it must be assumed that the Lord Agni includes or embraces the Lord Varuna and the Lord Kshiti.
282. Vì Chúa Varuna cai quản các hành khí nước và Chúa Kshiti cai quản các hành khí đất (như đã nêu ở nơi khác), nên phải giả định rằng Chúa Agni bao hàm hay ôm trọn Chúa Varuna và Chúa Kshiti.
283. A tabulation might be offered as follows:
283. Có thể đưa ra một bảng như sau:
a. Lord AGNI rules over:
a. Chúa AGNI cai quản:
i. A lesser Lord Agni
i. một Chúa Agni nhỏ hơn
ii. Lord Varuna
ii. Chúa Varuna
iii. Lord Kshiti
iii. Chúa Kshiti
b. There are still greater Lord AGNIs
b. Còn có những Chúa AGNI lớn hơn nữa
He is one of the seven Brothers (to use an expression familiar to students of the Secret Doctrine) Who each embody one of the seven principles, or Who are in Themselves the seven centres in the body of the cosmic Lord of Fire, called by H. P. B.."
Ngài là một trong bảy Huynh Đệ (dùng một cách diễn đạt quen thuộc với các đạo sinh của Giáo Lý Bí Nhiệm), mỗi vị hiện thân một trong bảy nguyên khí, hay chính Các Ngài là bảy trung tâm trong thân thể của Đấng Chúa Tể vũ trụ của Lửa, được H.P.B. gọi là.”
284. Fohat is the Cosmic Lord of Fire. Agni is one of the seven “Sons of Fohat”.
284. Fohat là Đấng Chúa Tể vũ trụ của Lửa. Agni là một trong bảy “Con của Fohat”.
285. p65Q2: Could the seven Sons of Fohat be called: Kshiti (earth), Varuna (water), Agni (fire-mental), Indra (air-buddhic), Brahma (Aether-atmic), Vishnu (akasha-monadic), Shiva (Sea of Fire—logoic)? These (at least the first four, definitely) are called Raja Lords of the systemic planes. They would have their higher correspondences.
285. p65Q2: Bảy Con của Fohat có thể được gọi là: Kshiti (đất), Varuna (nước), Agni (lửa-trí tuệ), Indra (khí-Bồ đề), Brahma (dĩ thái-atma), Vishnu (akasha-chân thần), Shiva (Biển Lửa-thượng đế) chăng? Những vị này (ít nhất bốn vị đầu, chắc chắn như vậy) được gọi là các Raja Lord của các cõi hệ thống. Các vị ấy sẽ có những đối ứng cao hơn của mình.
286. Perhaps only the first four are to be called “Raja Lords of the planes”, and the latter three by another name. And yet, even the three higher systemic planes have their material aspect and would thus, it seems, have to be ruled by a great Deva or Raja Lord.
286. Có lẽ chỉ bốn vị đầu mới được gọi là “Raja Lord của các cõi”, còn ba vị sau thì bằng một tên khác. Tuy nhiên, ngay cả ba cõi cao của hệ thống cũng có phương diện vật chất của chúng và vì vậy, dường như chúng cũng phải được cai quản bởi một thiên thần vĩ đại hay một Raja Lord.
He [Page Fohat or Agni?] is that active fiery Intelligence, Who is the basis of the internal fires of the solar system.
Ngài [Page Fohat hay Agni?] là Trí Tuệ lửa hoạt động ấy, Đấng là nền tảng của các ngọn lửa nội tại của hệ mặt trời.
287. p65Q3: Does He continue to speak of Fohat as “the cosmic Lord of Fire” or of Agni?
287. p65Q3: Ngài tiếp tục nói về Fohat như “Đấng Chúa Tể vũ trụ của Lửa” hay về Agni?
288. For Fohat and His “Seven Sons” are the basis of the fires of matter (matter of all kinds).
288. Vì Fohat và “Bảy Người Con” của Ngài là nền tảng của các ngọn lửa của vật chất (vật chất thuộc mọi loại).
289. As there is matter on all the seven systemic planes, internal fires hold sway on all seven.
289. Vì có vật chất trên cả bảy cõi hệ thống, nên các ngọn lửa nội tại chi phối trên cả bảy cõi.
290. It is also conceivable (from the cosmic point of view) to call the fires of the first two and a half cosmic planes “internal fires”.
290. Cũng có thể hình dung được (xét từ quan điểm vũ trụ) việc gọi các ngọn lửa của hai cõi rưỡi đầu tiên của vũ trụ là “các ngọn lửa nội tại”.
On each plane one of these Brothers holds sway, and the three elder Brothers (for always the three will be seen, and later the seven, who eventually merge into the primary three) rule on the first, third and the fifth planes, or on the plane of adi, of atma22 and of manas.
Trên mỗi cõi, một trong các Huynh Đệ này nắm quyền chi phối, và ba Huynh Đệ lớn tuổi hơn (vì luôn luôn người ta sẽ thấy ba, và về sau là bảy, rồi cuối cùng bảy nhập vào ba nguyên thủy) cai quản trên cõi thứ nhất, thứ ba và thứ năm, hay trên cõi adi, cõi atma22 và cõi manas.
291. p65Q4: Why are the Brothers “elder”? Did they develop their potency in a previous solar system?
291. p65Q4: Tại sao các Huynh Đệ lại là “lớn tuổi hơn”? Có phải các vị đã phát triển quyền năng của mình trong một hệ mặt trời trước đây không?
292. We seem to be dealing with a ten—for the seven merge into the primary three.
292. Dường như chúng ta đang xử lý một bộ mười—vì bảy nhập vào ba nguyên thủy.
293. p65Q5: We are confronted with a mystery: “Why should the three elder Brothers rule on the adic, atmic and manasic planes”?” Are these planes of cosmic Mahat related to the material/mental aspect?
293. p65Q5: Chúng ta đối diện với một huyền nhiệm: “Tại sao ba Huynh Đệ lớn tuổi hơn lại cai quản trên các cõi adic, atmic và manasic?” Những cõi này của Mahat vũ trụ có liên hệ với phương diện vật chất/trí tuệ chăng?
17A. p. 65:What is the definition of Agni? Does this term have more than one definition?
17A. p. 65:Định nghĩa của Agni là gì? Thuật ngữ này có hơn một định nghĩa không?
It is urgent that we here remember that They are fire viewed [Page 66] in its third aspect, the fire of matter. In Their totality these seven Lords form the essence of the cosmic Lord, called in the occult books, Fohat.23
Điều khẩn thiết là ở đây chúng ta phải nhớ rằng Các Ngài là lửa được nhìn [Page 66] trong phương diện thứ ba của nó, lửa của vật chất. Trong tính toàn thể của Các Ngài, bảy Chúa Tể này tạo thành tinh chất của Đấng Chúa Tể vũ trụ, được gọi trong các sách huyền bí là Fohat.23
294. Fire viewed in terms of being is the Seven Spirits of Darkness. Fire viewed in terms of consciousness is the Seven Rays. Fire viewed in its third aspect and in terms of matter is the Seven Sons of Fohat.
294. Lửa được nhìn theo phương diện bản thể là Bảy Thánh Linh của Bóng Tối. Lửa được nhìn theo phương diện tâm thức là Bảy Cung. Lửa được nhìn trong phương diện thứ ba của nó và theo phương diện vật chất là Bảy Con của Fohat.
295. We are told that the three “elder Brothers” are on the first, third and fifth planes. We are speaking of the systemic planes.
295. Chúng ta được cho biết rằng ba “Huynh Đệ lớn tuổi hơn” ở trên các cõi thứ nhất, thứ ba và thứ năm. Chúng ta đang nói về các cõi hệ thống.
296. Is DK numbering from below? No, because He uses term of “adi” which is the topmost plane of the cosmic physical plane.
296. Có phải Chân sư DK đang đánh số từ dưới lên không? Không, vì Ngài dùng thuật ngữ “adi”, là cõi cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ.
297. The “elder Brothers” seem to be associated with the “hard line” and with hard-line rays and planes.
297. Các “Huynh Đệ lớn tuổi hơn” dường như liên hệ với “đường lối cứng rắn” và với các cung và cõi đường lối cứng rắn.
298. The elder Brothers may be related to the first solar system (the one immediately before our own). In that system green and orange were active, convening rays three and five, correlating with the atmic and manasic planes. But red was not active.
298. Các Huynh Đệ lớn tuổi hơn có thể liên hệ với hệ mặt trời thứ nhất (hệ ngay trước hệ của chúng ta). Trong hệ ấy, màu lục và màu cam hoạt động, quy tụ các cung ba và năm, tương ứng với các cõi atmic và manasic. Nhưng màu đỏ thì không hoạt động.
299. The Masters of the Black Lodge are largely first ray Masters who developed during the first solar system and responding to the first ray, they would be sensitive to the plane of adi and to the Brother who rules on that plane.
299. Các Chân sư của Hắc đoàn phần lớn là các Chân sư cung một, những vị đã pháttriển trong hệ mặt trời thứ nhất, và do đáp ứng với cung một, các vị ấy sẽ nhạy cảm với cõi adi và với Huynh Đệ cai quản trên cõi ấy.
300. All seven Sons of Fohat are the Fires of Matter.
300. Cả bảy Con của Fohat đều là các Ngọn Lửa của Vật Chất.
Footnote 22:Atma [Page does he mean the Atman, which is the true Self?] means as you all know the self or the ego or an individualised centre of consciousness around which all worldly experiences in their dual aspect of subjective and objective cluster and arrange themselves.
Chú thích 22:Atma [Page ông ấy có muốn nói Atman, tức là Bản Ngã chân thực không?] có nghĩa, như tất cả các bạn đều biết, là bản ngã hay chân ngã hay một trung tâm tâm thức đã được biệt ngã hóa, quanh đó mọi kinh nghiệm thế gian trong phương diện kép chủ quan và khách quan của chúng tụ lại và tự sắp xếp.
301. In a way, our self, or ego or individualized centre is simply an emanation of the monad (from a plane higher than the atmic).
301. Theo một cách nào đó, bản ngã, hay chân ngã, hay trung tâm biệt ngã hóa của chúng ta chỉ đơn giản là một phát xạ của chân thần (từ một cõi cao hơn cõi atmic).
302. From this perspective the “Atman” is equivalent to the Monad, but “Atma” is not.
302. Từ góc nhìn này, “Atman” tương đương với Chân thần, nhưng “Atma” thì không.
It is as it were one of the foci from which emerge rays of light to illumine the cosmic waters and in which also converge the rays sent back by those waters. In Theosophical writings, it is called the selfconscious individuality or the Higher Manas. From this point of view, you will see that the Higher Manas is the most important principle or the central pivot of the human constitution or the true soul.
Nó, có thể nói như vậy, là một trong những tiêu điểm từ đó các tia sáng phát ra để soi sáng các đại dương vũ trụ và cũng là nơi các tia do những đại dương ấy phản chiếu trở về hội tụ lại. Trong các trước tác Thông Thiên Học, nó được gọi là cá thể tính tự ý thức hay Thượng Manas. Từ quan điểm này, các bạn sẽ thấy rằng Thượng Manas là nguyên khí quan trọng nhất hay trục trung tâm của cấu tạo con người hay linh hồn chân thực.
303. Our salvation depends upon relating properly to the “Higher Manas” (which also involves the spiritual triad).
303. Sự cứu rỗi của chúng ta tùy thuộc vào việc liên hệ đúng đắn với “Thượng Manas” (điều này cũng bao hàm Tam Nguyên Tinh Thần).
It is the thread which ought to be caught hold of by one who wants to know the truth and lift himself out of this conditioned existence.
Nó là sợi dây mà người muốn biết chân lý và nâng mình ra khỏi sự tồn tại bị điều kiện hóa này phải nắm lấy.
304. This is a practical statement, and simply means that humanity is and should be focussed on soul development.
304. Đây là một phát biểu thực tiễn, và đơn giản có nghĩa là nhân loại đang và nên được tập trung vào sự phát triển linh hồn.
To this it may be objected that Atma represents the seventh principle of the theosophical septenary and that the Manas is far lower in the scale. But the plain answer is that the seventh principle is the ultimate state attainable by the self after crossing the ocean of conditioned existence or samsara."—Some Thoughts on the Gita, p. 26.)
Đối với điều này, người ta có thể phản đối rằng Atma tượng trưng cho nguyên khí thứ bảy của bộ bảy Thông Thiên Học và Manas thì thấp hơn nhiều trong thang bậc. Nhưng câu trả lời rõ ràng là nguyên khí thứ bảy là trạng thái tối hậu mà bản ngã có thể đạt được sau khi vượt qua đại dương của sự tồn tại bị điều kiện hóa hay samsara.” —Some Thoughts on the Gita, tr. 26.)
305. The Buddha attained to Nirvana, and the atmic plane is called the “Nirvanic Plane”. The Buddha crossed the “ocean of conditioned existence or samsara” and may thus be thought to have attained to “Atma”.
305. Đức Phật đã đạt đến Niết Bàn, và cõi atmic được gọi là “Cõi Niết Bàn”. Đức Phật đã vượt qua “đại dương của sự tồn tại bị điều kiện hóa hay samsara” và vì thế có thể được xem là đã đạt tới “Atma”.
306. In fact, it is likely that the Buddha’s attainment was monadic (thus relating more to the “Atman” than to “Atma”.) It is reasonable to think that He achieved the sixth initiation relating Him to the monad before the Christ did, and the Christ achieved it in Palestine, about five hundred years after the Buddha flourished in India.
306. Thực ra, có khả năng sự thành đạt của Đức Phật là chân thần (do đó liên hệ nhiều hơn với “Atman” hơn là với “Atma”.) Có lý khi nghĩ rằng Ngài đã đạt lần điểm đạo thứ sáu liên hệ Ngài với chân thần trước Đức Christ, và Đức Christ đã đạt điều đó tại Palestine, khoảng năm trăm năm sau khi Đức Phật hưng thịnh ở Ấn Độ.
Footnote 23: Fohat, or electricity, is an Entity.
Chú thích 23:Fohat, hay điện, là một Thực Thể.
He is the primordial electric Entity S. D., I, 105.
Ngài là Thực Thể điện nguyên sơ S. D., I, 105.
He is Will S. D., I, 136.
Ngài là Ý Chí S. D., I, 136.
He is Love-Wisdom S. D., I, 100,144,155.
Ngài là Bác Ái – Minh Triết S. D., I, 100,144,155.
He is Active Intelligence S. D., I, 136.
Ngài là Trí Tuệ Hoạt Động S. D., I, 136.
Therefore He is God S. D., I, 167.
Vì vậy Ngài là Thượng đế S. D., I, 167.
He is the sumtotal of the energy of the seven Spirits, Who are the sumtotal of the Logos.—S. D., I, 169.)
Ngài là tổng số năng lượng của bảy Thánh Linh, các Đấng là tổng số của Thượng đế.—S. D., I, 169.)
307. Fohat is a One who is a Seven.
307. Fohat là Một Đấng mà lại là Bảy.
308. It may be that Fohat is equivalent to a greater Agni.
308. Có thể Fohat tương đương với một Agni vĩ đại hơn.
309. One way of considering Fohat is as the Lord of the entire cosmic physical plane.
309. Một cách để xem xét Fohat là như Chúa Tể của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ.
310. On a far higher turn of the spiral, He may be considered as Lord of the seven cosmic planes (considering these seven as a super-cosmic physical plane of a still greater set of seven planes).
310. Trên một vòng xoắn ốc cao hơn rất nhiều, Ngài có thể được xem là Chúa Tể của bảy cõi vũ trụ (xem bảy cõi này như một cõi hồng trần siêu vũ trụ của một bộ bảy cõi còn vĩ đại hơn nữa).
311. Ultimately Fohat (noumenally) is to be associated with the Prime Mover and, even more essentially, with the (never ending, never beginning) PRIMARY MOVEMENT which originated the universe and all universes.
311. Cuối cùng, Fohat (xét theo bản thể) phải được liên kết với Động Cơ Đầu Tiên và, còn cốt yếu hơn nữa, với CHUYỂN ĐỘNG SƠ KHỞI (không bao giờ chấm dứt, không bao giờ bắt đầu) đã khởi nguyên vũ trụ và mọi vũ trụ.
312. Noumenal Fohat is MOTION itself.
312. Fohat xét theo bản thể là chính CHUYỂN ĐỘNG.
Plane. As used in occultism, the term denotes the range or extent of some state of consciousness or of the perceptive power of a particular set of senses or the action or a particular force, or the state of matter corresponding to any of the above.)
Cõi. Theo cách dùng trong huyền bí học, thuật ngữ này chỉ phạm vi hay tầm mức của một trạng thái tâm thức nào đó hay của năng lực tri giác của một bộ giác quan nhất định, hay hoạt động của một mãnh lực nhất định, hay trạng thái của vật chất tương ứng với bất kỳ điều nào trong số đó.)
313. Notice that a plane is not considered strictly in material terms, but also in terms of consciousness.
313. Hãy lưu ý rằng một cõi không được xét một cách nghiêm ngặt theo phương diện vật chất, mà còn theo phương diện tâm thức.
314. We have been told that a plane and a state of consciousness are equivalent.
314. Chúng ta đã được cho biết rằng một cõi và một trạng thái tâm thức là tương đương.
315. From this point of view, a plane is a ‘sphere of perception or a ring-pass-not in which a certain type of perception prevails.
315. Từ quan điểm này, một cõi là một ‘khối cầu tri giác hay một vòng-giới-hạn trong đó một loại tri giác nhất định chiếm ưu thế.
This is so in the same sense as the seven Chohans,24 with Their affiliated groups of pupils, form the essence or centres in the body of one of the Heavenly Men, one of the planetary Logoi.
Điều này cũng đúng theo cùng ý nghĩa như bảy Chohan,24 cùng với các nhóm đệ tử liên kết của Các Ngài, tạo thành tinh chất hay các trung tâm trong thân thể của một trong các Đấng Thiên Nhân, một trong các Hành Tinh Thượng Đế.
316. We are not told what type of “centres”. It is clear that Chohans are related largely to globes and thus might be considered as forming major centres in the body of manifestation of a Globe Lord; minor centres in the body of manifestation of a Chain-Lord; and minute centres in the body of manifestation of a Scheme-Lord (i.e., a Planetary Logos).
316. Chúng ta không được cho biết đó là loại “trung tâm” nào. Rõ ràng là các Chohan phần lớn liên hệ với các bầu hành tinh và vì vậy có thể được xem như tạo thành các trung tâm lớn trong thể biểu hiện của một Chúa Tể Bầu Hành Tinh; các trung tâm nhỏ trong thể biểu hiện của một Chúa Tể Dãy; và các trung tâm cực vi trong thể biểu hiện của một Chúa Tể Hệ Hành Tinh (tức một Hành Tinh Thượng Đế).
317. There are a number of types of “Heavenly Men”. A Globe Lord is a Heavenly Man, but so is a Chain-Lord and the Lord of Planetary Scheme.
317. Có một số loại “Đấng Thiên Nhân”. Một Chúa Tể Bầu Hành Tinh là một Đấng Thiên Nhân, nhưng một Chúa Tể Dãy cũng vậy, và Chúa Tể của Hệ Hành Tinh cũng vậy.
Footnote 24:Chohan (Tibetan).
Chú thích 24:Chohan (Tây Tạng).
A Lord or Master. A high Adept. An initiate who has taken more Initiations than the five major Initiations which make man a "Master of the Wisdom.")
Một Chúa Tể hay Chân sư. Một chân sư cao cấp. Một điểm đạo đồ đã nhận nhiều cuộc điểm đạo hơn năm cuộc điểm đạo lớn khiến con người trở thành một “Chân sư Minh Triết”.
318. A Chohan is, technically, no longer a man. “They are no longer men as are the Masters” (Rule VII, The Rays and the Initiations)
318. Về mặt kỹ thuật, một Chohan không còn là con người nữa. “Các Ngài không còn là con người như các Chân sư nữa” (Quy luật VII, Các Cung và các Cuộc Điểm Đạo)
These seven again in Their turn form the essence of the Logos. [meaning the Solar Logos].
Bảy Đấng này, đến lượt Các Ngài, tạo thành tinh túy của Thượng đế.[nghĩa là, Thái dương Thượng đế].
319. The term “essence” is interesting. We can easily conceive that Planetary Logoi (and their manifestations) for chakras or centres in the manifestation of a Solar Logos.
319. Thuật ngữ “tinh túy” thật đáng chú ý. Chúng ta có thể dễ dàng quan niệm rằng các Hành Tinh Thượng Đế (và các biểu hiện của Các Ngài) là các luân xa hay trung tâm trong biểu hiện của một Thái dương Thượng đế.
320. Does the term “essence” relate to “principles”? Each of the Planetary Logos (if not the actual principle of a Solar Logos) must be intimately associated with one such principle.
320. Thuật ngữ “tinh túy” có liên hệ với “các nguyên khí” không? Mỗi Hành Tinh Thượng Đế (nếu không phải là chính nguyên khí thực sự của một Thái dương Thượng đế) hẳn phải liên kết mật thiết với một nguyên khí như thế.
Each of the seven Lords of Fire25 are differentiated into numerous groups of fire entities, from the Deva-Lords of a plane down to the little salamanders of the internal furnaces.
Mỗi một trong bảy Chúa Tể của Lửa25 được biến phân thành nhiều nhóm thực thể lửa, từ các Thiên thần-Chúa Tể của một cõi cho đến những salamander nhỏ bé của các lò lửa bên trong.
321. The term “fire entities” is very broad, including great Raja Lords and tiny fire elementals.
321. Thuật ngữ “thực thể lửa” rất rộng, bao gồm các Đại Raja Chúa Tể và những tinh linh lửa cực nhỏ.
322. What shall we say about salamanders? It seems they represent a quite material fire. Salamanders are in or are objective flame.
322. Chúng ta sẽ nói gì về các salamander? Dường như chúng tượng trưng cho một thứ lửa khá vật chất. Salamander ở trong hay là ngọn lửa khách quan.
323. Is there a difference between the seven Lords of Fire (Sons of Fohat) and the seven “Deva-Lords”?
323. Có sự khác biệt nào giữa bảy Chúa Tể của Lửa (các Con của Fohat) và bảy “Thiên thần-Chúa Tể” không?
324. Are Kshiti, Varuna, systemic Agni, and Indra considered “Sons of Fohat”.
324. Kshiti, Varuna, Agni hệ thống, và Indra có được xem là “các Con của Fohat” không.
Footnote 25:The seven Brothers. See S. D., I, 105.
Chú thích 25:Bảy Huynh Đệ. Xem S. D., I, 105.
These seven are the seven differentiations of primordial electric energy. [i.e., Fohat]
Bảy Đấng này là bảy sự biến phân của năng lượng điện nguyên thủy. [tức là, Fohat]
325. Fohat, then, is “primordial electric energy”.
325. Vậy thì, Fohat là “năng lượng điện nguyên thủy”.
326. The term “primordial” of course, relates to the third aspect, for the Primordial Ray is the Third Ray.
326. Dĩ nhiên, thuật ngữ “nguyên thủy” liên hệ đến phương diện thứ ba, vì Cung Nguyên Thủy là Cung ba.
19A. p. 66:Consider the footnote on Fohat. How can "electricity" be said to be an "entity"?
19A. tr. 66:Hãy xem chú thích về Fohat. Làm sao “điện” có thể được gọi là một “thực thể”?
We are not dealing with the fiery essences of the higher planes at this stage in our discussion.
Ở giai đoạn này của cuộc bàn luận, chúng ta không đề cập đến các tinh túy lửa của các cõi cao.
327. It is important to realize that there are “fiery essences” of the higher planes.
327. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng có những “tinh túy lửa” của các cõi cao.
328. Every systemic plane (no matter what element might be assigned to it) has its fiery essences. By analogy, this may also be true of cosmic planes.
328. Mỗi cõi hệ thống (bất kể có thể được gán cho nguyên tố nào) đều có các tinh túy lửa của nó. Theo phép loại suy, điều này cũng có thể đúng đối với các cõi vũ trụ.
18A. p. 66:Is there a contrast between fire elementals and devas? If so what?
18A. tr. 66:Có sự tương phản nào giữa tinh linh lửa và thiên thần không? Nếu có thì là gì?
Having dealt with the expression of the latent fire in its three aspects in the sun, the planet man and the atom, we are now going to study the details and the lives expressing the activities of that fire. The Lord Agni is the ruler of the devas and fire elementals in the solar system and in every thing included in it. Agni is one of the seven brothers embodying each of the seven principles and who are in themselves the seven centres in the cosmic Lord of Fire. He is that active fiery intelligence, the basis of the internal fires of the solar system. One of the seven brothers holds sway upon each of the seven planes of the system and the three elder brother’s rule on the first, third and fifth planes or on the plane of Adi, of atma and of manas. These are the fires in its third aspect, the fire of matter. In their totality these seven Lords form the essence of the cosmic Lord called by HPB, Fohat.
Sau khi đã bàn đến sự biểu lộ của lửa tiềm tàng trong ba phương diện của nó nơi mặt trời, hành tinh, con người và nguyên tử, giờ đây chúng ta sẽ nghiên cứu các chi tiết và các sự sống biểu lộ những hoạt động của lửa ấy. Chúa Tể Agni là chủ tinh của các thiên thần và tinh linh lửa trong hệ mặt trời và trong mọi sự vật bao gồm trong đó. Agni là một trong bảy huynh đệ hiện thân cho mỗi một trong bảy nguyên khí và tự thân là bảy trung tâm trong Chúa Tể Lửa vũ trụ. Ngài là trí tuệ lửa năng động ấy, là nền tảng của các nội hỏa của hệ mặt trời. Một trong bảy huynh đệ nắm quyền trên mỗi một trong bảy cõi của hệ thống, và ba huynh trưởng cai quản trên cõi thứ nhất, thứ ba và thứ năm, hay trên cõi của Adi, của atma và của manas. Đây là các ngọn lửa trong phương diện thứ ba của chúng, lửa của vật chất. Trong tổng thể, bảy Chúa Tể này tạo thành tinh túy của Chúa Tể vũ trụ mà HPB gọi là Fohat.
We will only enumerate somewhat briefly some of the better known groups, as contacted in the three worlds.
Chúng ta sẽ chỉ liệt kê khá vắn tắt một vài nhóm quen thuộc hơn, như được tiếp xúc trong ba cõi thấp.
1. Physical Plane.
1. Cõi Hồng Trần.
329. Listing of fire spirits.
329. Liệt kê các tinh linh lửa.
We now turn to the fire elementals active upon the dense physical plane. The Salamanders or little fire elementals that can be seen tending the fires of the hearth and the home and factory. They are also the group of fire spirit who can be contacted deep in the fiery bowels of the planet. The Fire Spirits latent in all focal points of heat, being the essence of warmth and can be found in the heat of the bodily frame. The Agnichaitans are a higher grade of fire spirit forming a vortex of fire in volcanoes and large scale burnings. Those are the pranic elementals, those tiny fiery essences who have the ability to permeate the texture of all the four kingdoms of nature and who blend with the fires of the microcosmic systems. We have also under this category certain members of the deva kingdom who ensoul certain of the great light rays and who are the essence of the rays.
Giờ đây chúng ta chuyển sang các tinh linh lửa hoạt động trên cõi hồng trần đậm đặc. Các salamander hay những tinh linh lửa nhỏ bé có thể được thấy đang chăm nom các ngọn lửa của lò sưởi, gia đình và nhà máy. Chúng cũng là nhóm tinh linh lửa có thể được tiếp xúc sâu trong lòng lửa của hành tinh. Các tinh linh lửa tiềm tàng trong mọi tiêu điểm nhiệt, tự chúng là tinh túy của sự ấm nóng và có thể được tìm thấy trong nhiệt của khung thể xác. Các Agnichaitan là một cấp độ cao hơn của tinh linh lửa, tạo thành một xoáy lửa trong núi lửa và những vụ cháy lớn khi được nhìn trên quy mô lớn. Đó là các hành khí prana, những tinh túy lửa cực nhỏ có khả năng thấm nhập kết cấu của cả bốn giới trong thiên nhiên và hòa trộn với các ngọn lửa của các hệ thống tiểu thiên địa. Chúng ta cũng có, trong loại này, một số thành viên của giới thiên thần phú linh cho một số đại quang tuyến và là tinh túy của các quang tuyến ấy.
Salamanders, those little fire elementals who can be seen dancing in every flame, tending the fires of the hearth and the home, and of the factory.
Salamander, những tinh linh lửa nhỏ bé có thể được thấy nhảy múa trong mọi ngọn lửa, chăm nom các ngọn lửa của lò sưởi, gia đình và nhà máy.
330. p66Q1: Are salamanders the fires or do they tend the fires?
330. tr66C1: Các salamander là các ngọn lửa hay chúng chăm nom các ngọn lửa?
331. p66Q2: Does the flame pre-exist their dance? Or are they the dancing flame? How many can dance on a flame?
331. tr66C2: Ngọn lửa có hiện hữu trước điệu múa của chúng không? Hay chúng là ngọn lửa đang nhảy múa? Có bao nhiêu con có thể nhảy múa trên một ngọn lửa?
They are of the same group as the fire spirits who can be contacted deep in the fiery bowels of the planet.
Chúng thuộc cùng một nhóm với các tinh linh lửa có thể được tiếp xúc sâu trong lòng lửa của hành tinh.
332. The bowels are defines as both the small and large intestine. Medically, the bowel is the large intestine.
332. “Bowels” được định nghĩa là cả ruột non lẫn ruột già. Về y học, bowel là ruột già.
333. If salamanders are material, then the “fire spirits…in the fiery bowels of the planet” are also material and are related to “interior” fires or the fires of dense matter.
333. Nếu salamander là vật chất, thì “các tinh linh lửa… trong lòng lửa của hành tinh” cũng là vật chất và liên hệ với các ngọn lửa “bên trong” hay các ngọn lửa của vật chất đậm đặc.
20A. p. 66:What insights emerge for you when you consider the five classes of fire elementals——salamanders, fire spirits, Agnichaitans, pranic elementals and light devas?
20A. tr. 66:Những nhận thức nào xuất hiện nơi các bạn khi các bạn xem xét năm loại hành khí lửa—salamander, tinh linh lửa, Agnichaitan, hành khí prana và thiên thần ánh sáng?
Fire spirits, latent in all focal points of heat, who are themselves the essence of warmth, and can be contacted [Page 67] in the heat of the bodily frame, whether human or animal, and who are likewise the warmth terrestrial.
Tinh linh lửa, tiềm tàng trong mọi tiêu điểm nhiệt, tự chúng là tinh túy của sự ấm nóng, và có thể được tiếp xúc [Page 67] trong nhiệt của khung thể xác, dù là người hay thú, và cũng là sự ấm nóng của địa cầu.
334. p67Q1: How are these “fire spirits” different from salamanders?
334. tr67C1: Các “tinh linh lửa” này khác với salamander như thế nào?
335. These fire spirits are “latent heat”, not “active heat”
335. Các tinh linh lửa này là “nhiệt tiềm tàng”, không phải “nhiệt hoạt động”
336. Radiatory and magnetic healing—is He using the terms in the same way as in the book, Esoteric Healing.
336. Trị liệu bức xạ và từ tính—Ngài có đang dùng các thuật ngữ này theo cùng cách như trong sách Trị Liệu Huyền Môn không?
337. p67Q2: Could the “focal points of heat” be the crossing points of meridians (in a human body or the Earth)? Are there distributing fiery points of heat in the body? Liver, in Chinese Medicine? Are the fires spirits involves in the cultivation of Tumo Yoga—the generation of fiery heat.
337. tr67C2: Các “tiêu điểm nhiệt” có thể là các giao điểm của kinh mạch (trong cơ thể người hay Trái Đất) không? Có những điểm nhiệt lửa phân phối trong cơ thể không? Gan, trong Y học Trung Hoa? Các tinh linh lửa có tham gia vào việc tu tập Tumo Yoga—sự phát sinh nhiệt lửa—không?
338. p.67Q3: Are these fire spirits involutionary? Are all latent fires involutionary? Latent fires would seem to be less evolved than radiatory fires.
338. tr.67C3: Các tinh linh lửa này có thuộc giáng hạ tiến hoá không? Có phải mọi ngọn lửa tiềm tàng đều thuộc giáng hạ tiến hoá không? Các ngọn lửa tiềm tàng dường như kém tiến hóa hơn các ngọn lửa bức xạ.
The Agnichaitans, a higher grade of fire spirit, who form a vortex of fire when viewed on a large scale, such as in volcanoes and large destructive burnings.
Các Agnichaitan, một cấp độ cao hơn của tinh linh lửa, tạo thành một xoáy lửa khi được nhìn trên quy mô lớn, như trong núi lửa và những vụ cháy hủy diệt lớn.
339. Thus, they thus have a first ray association and are related to the department of the Manu.
339. Vì vậy, chúng có liên hệ với Cung một và liên hệ với bộ phận của Đức Manu.
They are closely allied to a still more important group of devas, who form the fiery envelope of the sun.
Chúng liên kết chặt chẽ với một nhóm thiên thần còn quan trọng hơn nữa, là những vị tạo thành lớp bao lửa của mặt trời.
340. p67Q4: DK is listing five types of “fire entities”. Is He starting with lower entities and moving towards higher entities?
340. tr67C4: Chân sư DK đang liệt kê năm loại “thực thể lửa”. Ngài có đang bắt đầu từ các thực thể thấp hơn và tiến dần đến các thực thể cao hơn không?
341. It would seem that the Planetary Logos has its type of Agnichaitans and the Solar Logos an allied but higher form of Agnichaitan.
341. Dường như Hành Tinh Thượng Đế có loại Agnichaitan của Ngài và Thái dương Thượng đế có một dạng cao hơn nhưng tương ứng của Agnichaitan.
342. It is interesting that Vulcan (the planet ruling Agnichaitans) has sometimes been associated (whether rightly or wrongly) with the “fiery envelope of the sun”.
342. Thật thú vị khi Vulcan (hành tinh cai quản các Agnichaitan) đôi khi đã được liên kết (dù đúng hay sai) với “lớp bao lửa của mặt trời”.
343. p67Q5: Are the Agnichaitans evolutionary or involutionary?
343. tr67C5: Các Agnichaitan thuộc thăng thượng tiến hoá hay giáng hạ tiến hoá?
344. The following reference tells us of possible divisions among the Agnichaitans indicating that some of involutionary and some evolutionary.
344. Đoạn tham chiếu sau cho chúng ta biết về những phân chia khả dĩ giữa các Agnichaitan, cho thấy rằng một số thuộc giáng hạ tiến hoá và một số thuộc thăng thượng tiến hoá.
Group A. Agnichaitans. We have seen that on all planes the groups of devas can be divided into three [Page 654] main groups, even though usually studied in their dual capacity of involutionary and evolutionary force units. (TCF 653-654)
Nhóm A. Agnichaitan. Chúng ta đã thấy rằng trên mọi cõi, các nhóm thiên thần có thể được chia thành ba [Page 654] nhóm chính, dù thường được nghiên cứu trong năng lực kép của chúng như các đơn vị mãnh lực giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. (TCF 653-654)
345. There are Agnichaitans related to the three major principles—Brahma, Vishnu-Surya and Agni. Agni in this case seems equivalent to Shiva. The question of their involutionary or evolutionary status might be solved by determining the Lord to which they are related.
345. Có những Agnichaitan liên hệ với ba nguyên khí chính—Brahma, Vishnu-Surya và Agni. Trong trường hợp này, Agni dường như tương đương với Shiva. Câu hỏi về địa vị giáng hạ tiến hoá hay thăng thượng tiến hoá của chúng có thể được giải quyết bằng cách xác định Chúa Tể mà chúng liên hệ.
The pranic elementals, those minute fiery essences who have the ability to permeate the texture of the human body, of a tree, or of all that may be found in the human, vegetable and animal kingdoms, and who blend with the fires of the microcosmic systems.
Các hành khí prana, những tinh túy lửa cực nhỏ có khả năng thấm nhập kết cấu của thể xác con người, của một cái cây, hay của mọi thứ có thể được tìm thấy trong giới nhân loại, giới thực vật và giới động vật, và hòa trộn với các ngọn lửa của các hệ thống tiểu thiên địa.
346. These are “active fire” or “radiatory fire”.
346. Đây là “lửa hoạt động” hay “lửa bức xạ”.
347. Because they permeate, they are not densely material.
347. Vì chúng thấm nhập, chúng không phải là vật chất đậm đặc.
348. What does it mean that they “blend with the fires of the microcosmic systems”? Perhaps that they are experienced as radiatory fire, and are related to the internal heat of the Sun or the our planet.
348. Điều đó có nghĩa gì khi nói rằng chúng “hòa trộn với các ngọn lửa của các hệ thống tiểu thiên địa”? Có lẽ là chúng được trải nghiệm như lửa bức xạ, và liên hệ với nội nhiệt của Mặt Trời hay của hành tinh chúng ta.
349. Are they Involutionary or evolutionary? They seem involutionary.
349. Chúng thuộc giáng hạ tiến hoá hay thăng thượng tiến hoá? Chúng dường như thuộc giáng hạ tiến hoá.
350. Among elemental kingdoms which are involutionary, interestingly, the elementals of higher planes are considered less advanced than those of the lower planes—i.e., closer to the mineral kingdom.
350. Thật thú vị, trong các giới hành khí thuộc giáng hạ tiến hoá, các hành khí của các cõi cao hơn được xem là kém phát triển hơn các hành khí của các cõi thấp hơn—tức là gần với giới kim thạch hơn.
Certain of the deva kingdom who may be described as ensouling certain of the great light rays, and Who are in Themselves the essence of those rays. Other forms of such elemental lives and of deva groups might be enumerated, but the above tabulation will suffice for our present purpose.
Một số thành viên của giới thiên thần có thể được mô tả là phú linh cho một số đại quang tuyến, và tự thân Các Ngài là tinh túy của các quang tuyến ấy. Những hình thức khác của các sự sống hành khí như thế và của các nhóm thiên thần như thế có thể được liệt kê, nhưng bảng kê trên là đủ cho mục đích hiện tại của chúng ta.
351. Such devas seem evolutionary rather than involutionary. The word “ensouling” gives this hint.
351. Những thiên thần như thế dường như thuộc thăng thượng tiến hoá hơn là giáng hạ tiến hoá. Từ “phú linh” gợi ra điều này.
352. What are the “great light rays”? Can one divide light rays?
352. “Đại quang tuyến” là gì? Có thể phân chia các quang tuyến ánh sáng không?
353. Are “great light rays” from the Sun, for instance?
353. Chẳng hạn, “đại quang tuyến” có phải từ Mặt Trời không?
354. We seem to be speaking of “radiatory fire”.
354. Dường như chúng ta đang nói về “lửa bức xạ”.
355. What you see is just a straight wave? Or do they have an undulatory motion?
355. Điều các bạn thấy chỉ là một làn sóng thẳng? Hay chúng có chuyển động nhấp nhô?
356. These devas are not the light rays, per se, but the essence—the ensouling essence of the light rays.
356. Các thiên thần này không phải chính các quang tuyến ánh sáng, mà là tinh túy—tinh túy phú linh của các quang tuyến ánh sáng.
357. Below, for ease of study, is a fivefold tabulation containing the types of fire entities mentioned above by DK:
357. Dưới đây, để dễ nghiên cứu, là một bảng kê ngũ phân chứa các loại thực thể lửa được Chân sư DK nêu trên:
Fire Entities
Các Thực Thể Lửa
Salamanders
Salamander
Fire Spirits
Tinh linh lửa
Agnichaitans
Agnichaitan
Pranic elementals
Hành khí prana
Devas ensouling great light rays
Các thiên thần phú linh cho các đại quang tuyến
20A. p. 66:What insights emerge for you when you consider the five classes of fire elementals——salamanders, fire spirits, Agnichaitans, pranic elementals and light devas?
20A. tr. 66:Những nhận thức nào xuất hiện nơi các bạn khi các bạn xem xét năm loại hành khí lửa—salamander, tinh linh lửa, Agnichaitan, hành khí prana và thiên thần ánh sáng?
2. The Astral Plane.
2. Cõi Cảm Dục.
The fiery essences of this plane are more difficult for us to comprehend, having not, as yet, the seeing eye upon that plane.
Các tinh túy lửa của cõi này khó cho chúng ta thấu hiểu hơn, vì cho đến nay chúng ta vẫn chưa có hành khí thấy trên cõi đó.
358. This assumes we have the seeing eye with respect to the five types of fire entities just listed!
358. Điều này giả định rằng chúng ta có hành khí thấy đối với năm loại thực thể lửa vừa được liệt kê!
The Astral Plane: The fiery essences of this plane are the warmth and heat of the emotional body. They are of a low order when expressing desire and transmute into a high order when upon the path of aspiration. These astral devas come in many group and the most important for our purpose are those who tend the fires that will later destroy the causal body. We are reminded that it is the upspringing of the latent fire of matter and it’s merging with the other two fires that cause destruction. These elementals and devas are called the Agnisuryans and in their totality are the fiery essence of Buddhi.
Cõi Cảm Dục: Các tinh túy lửa của cõi này là sự ấm nóng và nhiệt của thể cảm dục. Chúng thuộc một cấp thấp khi biểu lộ dục vọng và chuyển hoá thành một cấp cao khi ở trên con đường khát vọng. Các thiên thần cảm dục này đến trong nhiều nhóm và quan trọng nhất đối với mục đích của chúng ta là những vị chăm nom các ngọn lửa mà về sau sẽ hủy diệt thể nguyên nhân. Chúng ta được nhắc rằng chính sự bùng lên của lửa tiềm tàng của vật chất và sự hòa nhập của nó với hai ngọn lửa kia gây ra sự hủy diệt. Các hành khí và thiên thần này được gọi là các Agnisuryan và trong tổng thể là tinh túy lửa của Bồ đề.
They are in themselves the warmth and heat of the emotional body, and of the body of feeling. They are of a low order when upon the path of desire, and of a high order when upon the path of aspiration, for the elemental is then transmuted into the deva.
Tự chúng là sự ấm nóng và nhiệt của thể cảm xúc, và của thể cảm giác. Chúng thuộc một cấp thấp khi ở trên con đường dục vọng, và thuộc một cấp cao khi ở trên con đường khát vọng, vì khi ấy hành khí được chuyển hoá thành thiên thần.
359. Is the “emotional body” different from the “body of feeling”? Why?
359. “Thể cảm xúc” có khác với “thể cảm giác” không? Tại sao?
360. Fiery essences have different orders; they are higher in the aspirant upon the “path of aspiration”.
360. Các tinh túy lửa có những cấp độ khác nhau; chúng cao hơn nơi người chí nguyện trên “con đường khát vọng”.
361. Do elementals change into deva on Path of Aspiration? This change may be considered a kind of reversal of the wheel for these little lives. They might change then, from an involutionary being to an evolutionary being.
361. Các hành khí có biến thành thiên thần trên Con Đường Khát Vọng không? Sự thay đổi này có thể được xem như một loại đảo chiều bánh xe đối với những sự sống nhỏ bé này. Khi ấy chúng có thể chuyển từ một hữu thể giáng hạ tiến hoá sang một hữu thể thăng thượng tiến hoá.
362. Being an evolutionary being does not mean that such a being is self-conscious. It simply means that the being is oriented towards a gradually expanding consciousness. Involutionary beings seek a gradual contraction of consciousness.
362. Là một hữu thể thăng thượng tiến hoá không có nghĩa là hữu thể ấy có ngã thức. Điều đó chỉ có nghĩa là hữu thể ấy được định hướng về một tâm thức dần dần mở rộng. Các hữu thể giáng hạ tiến hoá tìm kiếm sự co rút dần dần của tâm thức.
363. Are there any elementals that are evolutionary? There are no references to support it. But there are references which speak of involutionary and evolutionary devas.
363. Có bất kỳ hành khí nào thuộc thăng thượng tiến hoá không? Không có tài liệu tham chiếu nào để hỗ trợ điều đó. Nhưng có những tài liệu tham chiếu nói về các thiên thần giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá.
364. The whole question of the transmutation of the elemental into the deva is profoundly important. Elementals are always controlled; devas, eventually, develop into those who control.
364. Toàn bộ vấn đề về sự chuyển hoá của hành khí thành thiên thần có tầm quan trọng sâu xa. Hành khí luôn luôn bị kiểm soát; thiên thần thì cuối cùng phát triển thành những vị kiểm soát.
The elementals are, in their essential essence, subhuman. The fact that they can he contacted on the emotional plane is no guarantee that they are on the evolutionary [Page 174] path.
Các hành khí, trong tinh túy cốt yếu của chúng, là dưới nhân loại. Việc chúng có thể được tiếp xúc trên cõi cảm xúc không bảo đảm rằng chúng ở trên con đường thăng thượng tiến hoá [Page 174].
365. This statement is made because the emotional plane is considered higher than the physical plane.
365. Phát biểu này được đưa ra vì cõi cảm xúc được xem là cao hơn cõi hồng trần.
On the contrary, they are on the path of involution, on the downward arc. They [elementals] are to be found on all planes, and the etheric elemental forms—such as the brownies, gnomes and pixies—are well known. They can be roughly divided into four groups:—
Trái lại, chúng ở trên con đường giáng hạ tiến hoá, trên cung đi xuống. Chúng [các hành khí] được tìm thấy trên mọi cõi, và các hình thức hành khí dĩ thái—như brownies, gnomes và pixies—đều rất quen thuộc. Chúng có thể được chia đại khái thành bốn nhóm:—
1. The elementals of earth.
1. Các hành khí của đất.
2. The elementals of water.
2. Các hành khí của nước.
3. The elementals of air.
3. Các hành khí của khí.
4. The elementals of fire. (LOM 173-174)
4. Các hành khí của lửa. (LOM 173-174)
366. From these statements, it would seem that all elementals are involutionary. They seek further concretion and limitation. In this respect they are under Saturn, whereas evolutionary devic life is more under Uranus (responding to the Creative Word).
366. Từ những phát biểu này, dường như mọi hành khí đều thuộc giáng hạ tiến hoá. Chúng tìm kiếm sự kết đặc và giới hạn thêm nữa. Về phương diện này, chúng ở dưới Sao Thổ, trong khi sự sống thiên thần thuộc thăng thượng tiến hoá ở dưới Sao Thiên Vương nhiều hơn (đáp ứng với Linh từ Sáng Tạo).
Under group 1 are found all the elementals working with the etheric doubles of men, all the elementals forming the etheric bodies wherein is life, and all the elementals working with the etheric counterparts of so-called inanimate objects. These are named in the order and the importance of their development.
Dưới nhóm 1 có tất cả các hành khí làm việc với các bản sao dĩ thái của những người nam và nữ, tất cả các hành khí tạo thành các thể dĩ thái trong đó có sự sống, và tất cả các hành khí làm việc với các đối phần dĩ thái của những vật được gọi là vô tri. Chúng được nêu tên theo trật tự và tầm quan trọng của sự phát triển của chúng.
367. Three types of elementals are given:
367. Ba loại hành khí được nêu ra là:
a. Those working with the etheric doubles of men
a. Những hành khí làm việc với các bản sao dĩ thái của những người nam và nữ
b. Those working with the etheric bodies “wherein is life”
b. Những hành khí làm việc với các thể dĩ thái “trong đó có sự sống”
c. Those working with the “etheric counterparts of so-called inanimate objects”.
c. Những hành khí làm việc với “các đối phần dĩ thái của những vật được gọi là vô tri”.
368. They are named from the most advanced of this series to the least.
368. Chúng được nêu tên từ loại phát triển nhất trong chuỗi này đến loại kém nhất.