← Commentary_S2_134_223_song ngữ

chapter 001 18

Trích nội dung chương

c. The vortices or wheels of lambent flame become interlinked by triangles of fire which pass and circulate from one to another, till we have a web of fiery lines, uniting centres of living fire, and giving truth to the statement that the Sons of Mind are FLAMES. c. Các xoáy lực hay bánh xe của ngọn lửa rực sáng trở nên liên kết với nhau bằng những tam giác lửa truyền đi và lưu chuyển từ cái này sang cái khác, cho đến khi chúng ta có một mạng lưới những đường lửa, hợp nhất các trung tâm của lửa sống, và làm cho phát biểu rằng các Con của Trí Tuệ là NHỮNG NGỌN LỬA trở thành chân thực.


c. The vortices or wheels of lambent flame become interlinked by triangles of fire which pass and circulate from one to another, till we have a web of fiery lines, uniting centres of living fire, and giving truth to the statement that the Sons of Mind are FLAMES.

c. Các xoáy lực hay bánh xe của ngọn lửa rực sáng trở nên liên kết với nhau bằng những tam giác lửa truyền đi và lưu chuyển từ cái này sang cái khác, cho đến khi chúng ta có một mạng lưới những đường lửa, hợp nhất các trung tâm của lửa sống, và làm cho phát biểu rằng các Con của Trí Tuệ là NHỮNG NGỌN LỬA trở thành chân thực.

119. This is a most descriptive little paragraph. We are given a way of visualizing the vortices on the various levels—as “wheels of lambent flame”. The lambency of the flame suggests iridescence.

119. Đây là một đoạn ngắn có tính mô tả rất cao. Chúng ta được cho một cách để hình dung các xoáy lực trên các cấp độ khác nhau—như những “bánh xe của ngọn lửa rực sáng”. Tính rực sáng của ngọn lửa gợi ý sự óng ánh.

120. The triangular interlinking of the vortices suggests the foundational importance of the Science of Triangles.

120. Sự liên kết tam giác của các xoáy lực gợi ý tầm quan trọng nền tảng của Khoa Học về các Tam Giác.

121. We human beings are the “Sons of Mind”. If we are viewed in a stage of high spiritual development, we are seen as “FLAMES”. The Solar Angels who are our source of inspiration are also, in their own way, and far more magnificently, “FLAMES”.

121. Chúng ta, những con người, là “Các Con của Trí Tuệ”. Nếu được nhìn ở một giai đoạn phát triển tinh thần cao, chúng ta được thấy như những “NGỌN LỬA”. Các Thái dương Thiên Thần là nguồn cảm hứng của chúng ta cũng, theo cách riêng của các Ngài, và huy hoàng hơn rất nhiều, là những “NGỌN LỬA”.

d. These centres reach this condition of perfection as the Spirit or Will aspect takes ever fuller control.

d. Các trung tâm này đạt đến trạng thái hoàn hảo khi phương diện Tinh thần hay Ý Chí ngày càng nắm quyền kiểm soát đầy đủ hơn.

122. The Sprit within man is an agent of perfection. It brings all into increasingly perfect adjustment with the Fixed Design.

122. Tinh thần bên trong con người là một tác nhân của sự hoàn hảo. Nó đưa mọi sự vào sự điều chỉnh ngày càng hoàn hảo hơn với Mô Thức Cố Định.

123. It should be remembered that the ‘sense’ or higher psychic faculty known as “Perfection” is to be found upon the fourth level of the atmic plane and is, therefore, closely related to the dimension of Spirit.

123. Cần nhớ rằng “giác quan” hay năng lực thông linh cao hơn được biết đến như “Sự Hoàn Hảo” được tìm thấy trên cấp độ thứ tư của cõi atma và vì vậy có liên hệ mật thiết với chiều kích của Tinh thần.

The unifying triangles are produced by the action of the fire of mind, while the fire of matter holds the form together in ordered sequence.

Các tam giác hợp nhất được tạo ra bởi tác động của lửa của trí tuệ, trong khi lửa của vật chất giữ cho hình tướng gắn kết với nhau trong trình tự có trật tự.

124. We are given a functional distinction for the work of the fire of mind and the fire of matter.

124. Chúng ta được trao cho một sự phân biệt chức năng đối với công việc của lửa của trí tuệ và lửa của vật chất.

125. Souls are essentially triangles “and so it should be no surprise so see that it is the fire of mind, or solar (“triangles” is another name for “souls”) fire, which produces “the unifying triangles”. Until solar fire is released within the energy system, triangular development within the etheric body is not to be noted, or at least not prominent. At least this seems to be what is said.

125. Về bản chất, các linh hồn là những tam giác, “và vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng chính lửa của trí tuệ, hay lửa thái dương (“tam giác” là một tên gọi khác của “các linh hồn”), tạo ra những tam giác hợp nhất”. Cho đến khi lửa thái dương được giải phóng trong hệ thống năng lượng, sự phát triển tam giác bên trong thể dĩ thái không được ghi nhận, hoặc ít nhất cũng không nổi bật. Ít nhất dường như đây là điều đang được nói đến.

126. The fire of matter sustains (in ordered sequence) the structure of the energy system. The factor of relationship and interplay is caused by the fire of mind.

126. Lửa của vật chất duy trì (trong trình tự có trật tự) cấu trúc của hệ thống năng lượng. Yếu tố liên hệ và tương tác được gây ra bởi lửa của trí tuệ.

127. We find the fire of matter playing a role characteristic of the seventh ray (or perhaps the third), and the fire of mind a role characterized by the second.

127. Chúng ta thấy lửa của vật chất đóng một vai trò đặc trưng của cung bảy (hoặc có lẽ cung ba), và lửa của trí tuệ một vai trò được đặc trưng bởi cung hai.

So the interdependence of matter, mind and Spirit can be seen and demonstrates to the eye of the clairvoyant as the co-ordination of the three fires.

Vì vậy có thể thấy sự tương thuộc của vật chất, trí tuệ và Tinh thần, và điều đó biểu lộ trước mắt nhà thông nhãn như sự phối hợp của ba ngọn lửa.

128. The interdependence of matter, mind and Spirit is factual. The symbol of this interdependence is the demonstrated coordination of the three fires.

128. Sự tương thuộc của vật chất, trí tuệ và Tinh thần là một thực kiện. Biểu tượng của sự tương thuộc này là sự phối hợp được biểu lộ của ba ngọn lửa.

129. Earlier, we learned of the specific effects of prana and kundalini upon the various chakras.

129. Trước đây, chúng ta đã học về những tác động đặc thù của prana và kundalini lên các chakra khác nhau.

“The fire of kundalini produces the heat of the centre, and its intense radiance and brilliance, while the pranic emanatory fire produces ever increasing activity and rotation.” (TCF 124)

“Lửa kundalini tạo ra nhiệt của trung tâm, và sự rạng ngời cùng chói sáng mãnh liệt của nó, trong khi lửa phát xạ prana tạo ra hoạt động và sự quay ngày càng gia tăng.” (TCF 124)

These two effects should be related to the coordination of the three fires.

Hai tác động này nên được liên hệ với sự phối hợp của ba ngọn lửa.

e. In the Heavenly Man and His body, a chain of globes87 likewise can be seen and we need here to remember [Page 206] very carefully that the seven chains of a scheme are the expression of a planetary Logos. The Heavenly Men are expressing Themselves through a scheme of seven chains and the emphasis has been laid unduly, perhaps, upon the dense physical planet in any particular chain.

e. Trong Đấng Thiên Nhân và thân thể của Ngài, một dãy các bầu hành tinh87 cũng có thể được thấy, và ở đây chúng ta cần ghi nhớ [Page 206] thật cẩn thận rằng bảy dãy của một hệ hành tinh là biểu hiện của một Hành Tinh Thượng Đế. Các Đấng Thiên Nhân đang biểu lộ Chính Các Ngài qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy và có lẽ sự nhấn mạnh đã được đặt quá mức vào hành tinh hồng trần đậm đặc trong bất kỳ dãy đặc thù nào.

130. Here is one of the instances in which Planetary Logoi and Heavenly Men are seen to be equivalent.

130. Đây là một trong những trường hợp mà các Hành Tinh Thượng Đế và các Đấng Thiên Nhân được thấy là tương đương.

131. In fact, in the body of the Heavenly Man, at least seven chains of globes are to be reckoned with, and probably up to ten (at various points in the evolutionary process).

131. Thật ra, trong thân thể của Đấng Thiên Nhân, ít nhất phải tính đến bảy dãy bầu hành tinh, và có lẽ lên đến mười (ở những điểm khác nhau trong tiến hoá).

132. Each planetary scheme has one dense physical planet. Our Earth-scheme has two such physical planets, but one of them is dead—i.e., our Moon. One of the mysteries of our scheme is why it should have two physical globes and why the chain associated with the older of these globes no longer exists or now has a different name.

132. Mỗi hệ hành tinh có một hành tinh hồng trần đậm đặc. Hệ Địa Cầu của chúng ta có hai hành tinh hồng trần như thế, nhưng một trong số đó đã chết—tức là Mặt Trăng của chúng ta. Một trong những huyền nhiệm của hệ chúng ta là tại sao nó lại có hai bầu hành tinh hồng trần và tại sao dãy gắn với bầu hành tinh cổ hơn trong hai bầu ấy không còn tồn tại hoặc nay có một tên gọi khác.

133. DK is suggesting that there are areas of any planetary scheme which are of greater importance than the dense physical planet. Though the analogy is not exact, how important is our dense physical vehicle when compared to our higher vehicles?

133. Chân sư DK đang gợi ý rằng có những khu vực trong bất kỳ hệ hành tinh nào quan trọng hơn hành tinh hồng trần đậm đặc. Dù phép tương đồng không hoàn toàn chính xác, vận cụ hồng trần đậm đặc của chúng ta quan trọng đến đâu khi so với các vận cụ cao hơn của chúng ta?

This has caused the fact of the chain importance to be somewhat overlooked.

Điều này đã khiến sự kiện về tầm quan trọng của dãy phần nào bị bỏ qua.

134. Master DK is trying to help us think in terms of planetary chains rather than merely in terms of globes. Further, the dense physical globe is not necessarily the more important globe of the seven within any chain.

134. Chân sư DK đang cố giúp chúng ta suy nghĩ theo các dãy hành tinh thay vì chỉ theo các bầu hành tinh. Hơn nữa, bầu hành tinh hồng trần đậm đặc không nhất thiết là bầu hành tinh quan trọng hơn trong số bảy bầu của bất kỳ dãy nào.

135. The chains are the true chakras in the manifestation of a Planetary Logos. The globes, as fractions of a chain, are secondary.

135. Các dãy là những chakra đích thực trong biểu hiện của một Hành Tinh Thượng Đế. Các bầu hành tinh, như những phần nhỏ của một dãy, là thứ yếu.

Each of the seven chains might be looked upon as picturing the seven centres of one of the Heavenly Men.

Mỗi một trong bảy dãy có thể được xem như phác họa bảy trung tâm của một trong các Đấng Thiên Nhân.

136. This reference is of the utmost importance. There are a number of references to Ashrams as centers within a Planetary Logos, and the same is true of globes. A little thought, however, reveals that the chains must be considered the fundamental chakras.

136. Tham chiếu này có tầm quan trọng tối đa. Có một số tham chiếu đến các ashram như những trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng Đế, và điều tương tự cũng đúng với các bầu hành tinh. Tuy nhiên, chỉ cần suy nghĩ một chút sẽ cho thấy rằng các dãy phải được xem là các chakra căn bản.

The idea of groups of Egos forming centres in the Heavenly Men is nevertheless correct, but in this connection the reference is to the centres of force on buddhic and monadic levels.88

Ý tưởng về các nhóm Chân ngã tạo thành các trung tâm trong các Đấng Thiên Nhân tuy vậy là đúng, nhưng trong mối liên hệ này, tham chiếu là đến các trung tâm lực trên các cấp độ Bồ đề và chân thần.88

137. DK reiterates His often stated idea that groups of Egos form centers in a Heavenly Man. Such centers must be lesser centers in the Heavenly Man, for the higher principles of a Chain Lord would be found on cosmic planes, which is not the case for the higher principles of groups of Egos.

137. Chân sư DK nhắc lại ý tưởng Ngài thường nêu rằng các nhóm Chân ngã tạo thành các trung tâm trong một Đấng Thiên Nhân. Những trung tâm như thế hẳn phải là những trung tâm nhỏ hơn trong Đấng Thiên Nhân, vì các nguyên khí cao hơn của một Chúa Tể Dãy sẽ được tìm thấy trên các cõi vũ trụ, điều này không đúng đối với các nguyên khí cao hơn của các nhóm Chân ngã.

138. We are perhaps familiar with the idea that Ashrams are presently and for the most part buddhic groupings. There are also monadic groupings comprising seven great spheres on the systemic monadic plane. This is also true of groupings (far beyond our comprehension) on the cosmic monadic plane.

138. Có lẽ chúng ta quen thuộc với ý tưởng rằng các ashram hiện nay và phần lớn là những tập hợp nhóm Bồ đề. Cũng có những tập hợp chân thần bao gồm bảy khối cầu lớn trên cõi chân thần của hệ. Điều này cũng đúng với những tập hợp (vượt xa sự hiểu biết của chúng ta) trên cõi chân thần vũ trụ.

139. VSK suggests: Each physical planet we see is the physical globe of its own scheme. The planet names of chains in the Earth-scheme (which will be addressed in that portion of TCF referring to solar fire) refer to qualities found within any particular planetary scheme, which are resonant to the qualities of other planetary schemes. For instance, the Venus-chain of our Earth-scheme is resonant to the quality of the Venus-scheme as a whole. In the last analysis the numerical approach to ‘naming’ different globes and chains may make the lines of qualitative interplay clearer and offer less opportunity for confusion.

139. VSK gợi ý: Mỗi hành tinh hồng trần mà chúng ta thấy là bầu hành tinh hồng trần của chính hệ của nó. Tên hành tinh của các dãy trong hệ Địa Cầu (sẽ được bàn đến trong phần của Luận về Lửa Vũ Trụ nói về Lửa Thái dương) chỉ đến những phẩm tính được tìm thấy trong bất kỳ hệ hành tinh đặc thù nào, những phẩm tính này cộng hưởng với các phẩm tính của những hệ hành tinh khác. Chẳng hạn, dãy Kim Tinh của hệ Địa Cầu chúng ta cộng hưởng với phẩm tính của toàn bộ hệ Kim Tinh. Xét đến cùng, cách tiếp cận bằng số để “đặt tên” các bầu hành tinh và dãy khác nhau có thể làm cho các đường tương tác phẩm tính trở nên rõ ràng hơn và tạo ít cơ hội gây nhầm lẫn hơn.

Footnote 87

Chú thích 87

The Planetary Chains:

Các Dãy Hành Tinh:

The seven Heavenly Men Form, the sun and the seven sacred planets.—S. D., I, 100, 155.

Bảy Đấng Thiên Nhân tạo thành Mặt Trời và bảy hành tinh thiêng liêng.—S. D., I, 100, 155.

Some of their names and qualities.

Một số tên gọi và phẩm tính của các Ngài.

a. The seven planetary Logoi, or the seven Spirits before the throne.

a. Bảy Hành Tinh Thượng Đế, hay Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai.

b. The seven Kumaras S. D., III, 59, 327.

b. Bảy Kumara S. D., III, 59, 327.

c. Seven solar deities S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.

c. Bảy thần thái dương S. D., I, 114; I, 228; II, 92, 257.

d. The primordial seven S. D., I, 116.

d. Bảy vị nguyên sơ S. D., I, 116.

e. The seven Builders S. D., I, 152, 153.

e. Bảy đấng kiến tạo S. D., I, 152, 153.

f. Seven intellectual Breaths S. D., II, 332, note.

f. Bảy Hơi Thở trí tuệ S. D., II, 332, note.

g. The seven Manus S. D., I, 488.

g. Bảy Đức Manu S. D., I, 488.

h. The Flames S. D., II, 258.

h. Các Ngọn Lửa S. D., II, 258.

140. These are important references from The Secret Doctrine. Note the alternative names—not just Planetary Logoi, but “Kumaras”, “solar deities”, “Builders”, “intellectual Breaths”, “Manus”, “Flames” etc.

140. Đây là những tham chiếu quan trọng từ Giáo Lý Bí Nhiệm. Hãy lưu ý các tên gọi thay thế—không chỉ là các Hành Tinh Thượng Đế, mà còn là “Kumaras”, “các thần thái dương”, “các đấng kiến tạo”, “các Hơi Thở trí tuệ”, “các Đức Manu”, “các Ngọn Lửa”, v.v.

141. Such names are commonly used on lesser dimensional levels and so one must be careful to distinguish between entities carrying the same name—they may be one or more levels apart.

141. Những tên gọi như thế thường được dùng ở các cấp độ chiều kích thấp hơn, vì vậy người ta phải cẩn thận phân biệt giữa các thực thể mang cùng một tên—chúng có thể cách nhau một hoặc nhiều cấp độ.

They came from previous kalpas S. D., II, 99.

Các Ngài đến từ những kalpa trước đó S. D., II, 99.

142. The term “kalpas” here probably means “Mahamanvantaras”.

142. Thuật ngữ “kalpas” ở đây có lẽ có nghĩa là “Mahamanvantaras”.

143. If Solar Angels are separated in their development from human beings by at least one Mahamanvantara, how much greater will be the developmental separation between Planetary Logoi and human beings. Many Mahamanvantaras ago, our Planetary Logos was as a Master is today.

143. Nếu các Thái dương Thiên Thần cách biệt con người trong sự phát triển của các Ngài ít nhất một Mahamanvantara, thì sự cách biệt phát triển giữa các Hành Tinh Thượng Đế và con người sẽ còn lớn đến mức nào. Nhiều Mahamanvantaras trước đây, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã như một Chân sư ngày nay.

Their nature is knowledge and love S. D., II, 275; S. D., II, 619.

Bản chất của các Ngài là tri thức và bác ái S. D., II, 275; S. D., II, 619.

144. They are “Dragons of Wisdom”, but have not yet developed the Will fully, or even, in some cases, the Love aspect.

144. Các Ngài là “Những Con Rồng Minh Triết”, nhưng chưa phát triển đầy đủ Ý Chí, hoặc thậm chí trong một số trường hợp, cả phương diện Bác ái.

The seven sacred planets are:

Bảy hành tinh thiêng liêng là:

1. Saturn 2. Jupiter.

1. Sao Thổ 2. Sao Mộc.

3. Mars 4. Sun (substitute for another).

3. Sao Hỏa 4. Mặt Trời (thay cho một hành tinh khác).

5. Venus 6. Mercury.

5. Sao Kim 6. Sao Thủy.

7. Moon (substitute for another).

7. Mặt Trăng (thay cho một hành tinh khác).

145. It is clear that the Sun and Moon are as substitutes for Neptune and Uranus. Perhaps Mars is a substitute for Vulcan, which is not much mentioned in The Secret Doctrine.

145. Rõ ràng Mặt Trời và Mặt Trăng là những vật thay thế cho Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương. Có lẽ Sao Hỏa là vật thay thế cho Vulcan, vốn không được nhắc đến nhiều trong Giáo Lý Bí Nhiệm.

146. We see that the ordering is an old one as no trans-Saturnian planets are listed. Thus, Saturn is the outer bound and hence the first planet found on the list.

146. Chúng ta thấy rằng trật tự này là một trật tự cổ xưa vì không có hành tinh nào ngoài Sao Thổ được liệt kê. Do đó, Sao Thổ là ranh giới ngoài cùng và vì vậy là hành tinh đầu tiên được thấy trong danh sách.

147. Interestingly the order is exactly that which Sepharial uses to establish decanates. It is an order based upon speed of rotation around the particular center in question. Most revolutions are around the Sun, but the placement of the Sun in the fourth position has to do with the speed of revolution of the Earth around the Sun and the placement of the Moon has to do with the speed of the Moon’s revolution around the Earth.

147. Điều thú vị là trật tự này chính xác là trật tự mà Sepharial dùng để thiết lập các thập độ. Đó là một trật tự dựa trên tốc độ quay quanh trung tâm đặc thù đang được xét. Hầu hết các cuộc quay là quanh Mặt Trời, nhưng việc đặt Mặt Trời ở vị trí thứ tư liên quan đến tốc độ quay của Trái Đất quanh Mặt Trời, và việc đặt Mặt Trăng liên quan đến tốc độ quay của Mặt Trăng quanh Trái Đất.

148. We could debate which planets to substitute for the Sun and Moon, for either Neptune or Uranus would do.

148. Chúng ta có thể tranh luận nên thay thế Mặt Trời và Mặt Trăng bằng hành tinh nào, vì hoặc Sao Hải Vương hoặc Sao Thiên Vương đều được.

149. Perhaps it would be best to substitute Neptune for the Sun, as Neptune is related to the fourth or buddhic plane, and the Sun’s position in the tabulation is the fourth. If we substitute Uranus for the Moon, the number seven is appropriate.

149. Có lẽ tốt nhất là thay Mặt Trời bằng Sao Hải Vương, vì Sao Hải Vương liên hệ với cõi thứ tư hay cõi Bồ đề, và vị trí của Mặt Trời trong bảng là vị trí thứ tư. Nếu chúng ta thay Mặt Trăng bằng Sao Thiên Vương, thì số bảy là thích hợp.

Neptune and Uranus are not here enumerated, nor Vulcan.

Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương không được liệt kê ở đây, Vulcan cũng vậy.

150. As stated.

150. Đúng như đã nói.

The orbit of Neptune includes apparently the entire ring-pass-not.

Quỹ đạo của Sao Hải Vương dường như bao gồm toàn bộ vòng-giới-hạn.

151. This is no longer the case, following the discovery of Pluto and other planets still more removed from the solar center.

151. Điều này không còn đúng nữa, sau khi khám phá ra Sao Diêm Vương và những hành tinh khác còn xa trung tâm thái dương hơn nữa.

152. We note the use of the word “apparently” to hint at the existence of planets beyond the orbit of Neptune. Interestingly, however, there are occasions when the orbit of Pluto is found within that of Neptune.

152. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “dường như” để gợi ý sự tồn tại của các hành tinh vượt ra ngoài quỹ đạo Sao Hải Vương. Tuy nhiên, điều thú vị là có những lúc quỹ đạo của Sao Diêm Vương lại nằm bên trong quỹ đạo của Sao Hải Vương.

Vulcan is within the orbit of Mercury.

Vulcan nằm trong quỹ đạo của Sao Thủy.

153. This is a definite statement with important astronomical value. It is generally accepted as factual—at least by esotericists.

153. Đây là một phát biểu dứt khoát có giá trị thiên văn quan trọng. Nó thường được chấp nhận là thực kiện—ít nhất là bởi các nhà bí truyền học.

Each one of the Heavenly Men manifests through a chain of seven globes.

Mỗi một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy gồm bảy bầu hành tinh.

154. Again, what sort of Heavenly Man is meant? If a Heavenly Man who is a Planetary Logos, then the phrase “manifests through a scheme of seven chains” should be used. If the Heavenly Man meant is a Chain-Lord, then the phrase “chain of seven globes” seems correct.

154. Một lần nữa, loại Đấng Thiên Nhân nào được hàm ý ở đây? Nếu là một Đấng Thiên Nhân là một Hành Tinh Thượng Đế, thì nên dùng cụm từ “biểu lộ qua một hệ hành tinh gồm bảy dãy”. Nếu Đấng Thiên Nhân được hàm ý là một Chúa Tể Dãy, thì cụm từ “dãy gồm bảy bầu hành tinh” có vẻ đúng.

All the seven Logoi influence a chain, but one of Them is the incarnating Entity.

Cả bảy Thượng đế đều ảnh hưởng đến một dãy, nhưng một trong Các Ngài là Thực Thể đang lâm phàm.

155. Here an important principle is stated—the influence of every Planetary Logos upon every other Planetary Logos through the constituent structural and temporal aspects of that other Planetary Logos.

155. Ở đây một nguyên lý quan trọng được nêu ra—ảnh hưởng của mỗi Hành Tinh Thượng Đế lên mọi Hành Tinh Thượng Đế khác thông qua các phương diện cấu thành về cấu trúc và thời gian của Hành Tinh Thượng Đế kia.

They influence:

Các Ngài ảnh hưởng đến:

a. Some globe in chain. b. Some plane c. Some round.

a. Một bầu hành tinh nào đó trong dãy. b. Một cõi nào đó c. Một cuộc tuần hoàn nào đó.

d. Some world period e. Some rootrace f. Some subrace.

d. Một thời kỳ thế giới nào đó e. Một giống dân gốc nào đó f. Một giống dân phụ nào đó.

g. Some branch race h. Some group i. Some human unit.

g. Một nhân loại nhánh nào đó h. Một nhóm nào đó i. Một đơn vị nhân loại nào đó.

156. One sphere of influence is omitted—“some chain in a scheme”.

156. Một phạm vi ảnh hưởng đã bị bỏ sót—“một dãy nào đó trong một hệ hành tinh”.

157. As for the nine areas or periods mentioned, they do seem somewhat in descending order of magnitude. All are impermanent, even a globe in a chain.

157. Đối với chín lĩnh vực hay thời kỳ được nêu, chúng quả thật dường như theo thứ tự giảm dần về độ lớn. Tất cả đều vô thường, ngay cả một bầu hành tinh trong một dãy.

158. Some of the categories mentioned are clearly and exclusively temporal—such as “some round” or “some world period”. A “world period” may, in this context, be considered the passage of a round through a particular

158. Một số phạm trù được nêu rõ ràng và hoàn toàn thuộc về thời gian—chẳng hạn như “một cuộc tuần hoàn nào đó” hay “một thời kỳ thế giới nào đó”. Trong ngữ cảnh này, một “thời kỳ thế giới” có thể được xem là sự đi qua của một cuộc tuần hoàn qua một

159. To correlate the various influential Planetary Logoi with the various categories of influences would be a great task. An influencing planet would have to be analyzed for its full ray structure (especially the rays of its three periodical vehicles). A planet’s order from the Sun would be important as would its relative spiritual maturity and stage of unfoldment. The spiritual maturity of Venus, for instance, is quite high but not among the highest of the Planetary Logoi in our solar system, but the stage of unfoldment of Venus is, relative to all other Planetary Logoi, the highest.

159. Việc tương quan các Hành Tinh Thượng Đế có ảnh hưởng khác nhau với các phạm trù ảnh hưởng khác nhau sẽ là một công việc lớn lao. Một hành tinh gây ảnh hưởng sẽ phải được phân tích theo toàn bộ cấu trúc cung của nó (đặc biệt là các cung của ba hiện thể chu kỳ của nó). Thứ tự của một hành tinh tính từ Mặt Trời sẽ quan trọng, cũng như mức độ trưởng thành tinh thần tương đối và giai đoạn khai mở của nó. Chẳng hạn, sự trưởng thành tinh thần của Sao Kim khá cao nhưng không thuộc hàng cao nhất trong các Hành Tinh Thượng Đế của hệ mặt trời chúng ta, nhưng giai đoạn khai mở của Sao Kim thì, so với tất cả các Hành Tinh Thượng Đế khác, là cao nhất.

160. In this intricate study there is a great deal of correlating work to do, and many areas of subtlety to be pondered. Classifications are not entirely straightforward.

160. Trong công trình nghiên cứu phức tạp này, có rất nhiều việc tương quan phải làm, và nhiều lĩnh vực tinh tế cần được suy ngẫm. Các phân loại không hoàn toàn đơn giản.

Footnote 88:

Chú thích 88:

In the Secret Doctrine, the Sons of Mind are spoken of as flames. In Stanza VII, 4, "These are the three-tongued flame of the four wicks. The wicks are the sparks, that draw from the three-tongued flame shot out by the seven flames. The spark hangs from the flame by the finest thread of Fohat."

Trong Giáo Lý Bí Nhiệm, Các Con của Trí Tuệ được nói đến như những ngọn lửa. Trong Bài kệ VII, 4, “Đây là ngọn lửa ba lưỡi của bốn tim đèn. Các tim đèn là những tia lửa, rút ra từ ngọn lửa ba lưỡi được phóng ra bởi bảy ngọn lửa. Tia lửa treo vào ngọn lửa bằng sợi dây Fohat mảnh nhất.”

161. We human beings are a “three-tongued flame”.

161. Chúng ta, những con người, là một “ngọn lửa ba lưỡi”.

162. The wicks are the more material aspects of the human constitution which need to draw energy from that part of the human being more related to the seven flames—namely, from the three-tongued flame.

162. Các tim đèn là những phương diện vật chất hơn của cấu tạo con người, những phương diện cần rút năng lượng từ phần của con người liên hệ nhiều hơn với bảy ngọn lửa—tức là từ ngọn lửa ba lưỡi.

163. The “seven flames” may be considered the major Planetary Logoi. Something of the origin of the Monads is here given.

163. “Bảy ngọn lửa” có thể được xem là các Hành Tinh Thượng Đế chính yếu. Ở đây có đưa ra đôi điều về nguồn gốc của các chân thần.

164. Here we speak of the “sparks” (plural) and the “spark” (singular). The “spark” is the human Monad, and the “flame” from which the spark hands may be considered the monadic nature of the Planetary Logos, or, even more essentially, of the Solar Logos.

164. Ở đây chúng ta nói đến “các tia lửa” (số nhiều) và “tia lửa” (số ít). “Tia lửa” là chân thần con người, và “ngọn lửa” mà tia lửa treo vào có thể được xem là bản chất chân thần của Hành Tinh Thượng Đế, hoặc, còn căn bản hơn nữa, của Thái dương Thượng đế.

165. When considering the “three-tongued flame”, the third Creative Hierarchy known as the “Lesser Builders” or the Triads should be considered, and their relation to the “Great Builders” (the second Creative Hierarchy) who are the prototypes of the human Monads.

165. Khi xét đến “ngọn lửa ba lưỡi”, nên xét đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ ba được biết như “các vị tiểu kiến tạo” hay các Tam nguyên tinh thần, và mối liên hệ của các vị ấy với “các Đại Kiến Tạo” (Huyền Giai Sáng Tạo thứ hai), là những nguyên mẫu của các chân thần con người.

166. This except from The Secret Doctrine could be given still more abstract interpretations.

166. Đoạn trích này từ Giáo Lý Bí Nhiệm có thể còn được diễn giải theo những cách trừu tượng hơn nữa.

167. Usually when dealing with atomic structure (whatever may be the atom) we have a higher three and a lower seven; here we seem to have a higher seven and a lower three.

167. Thông thường khi đề cập đến cấu trúc nguyên tử (dù nguyên tử có thể là gì), chúng ta có một bộ ba cao hơn và một bộ bảy thấp hơn; ở đây dường như chúng ta có một bộ bảy cao hơn và một bộ ba thấp hơn.

[Page 207]

[Page 207]

In connection with this there is a fundamental point that must never be forgotten: these seven Heavenly Men might be considered as being in physical incarnation through the medium of a physical planet, and herein lies the mystery of planetary evolution.

Liên hệ với điều này có một điểm căn bản không bao giờ được quên: bảy Đấng Thiên Nhân này có thể được xem là đang lâm phàm hồng trần qua trung gian của một hành tinh hồng trần, và chính trong đó có huyền nhiệm của tiến hoá hành tinh.

168. All the Heavenly Men of which we are experientially aware (largely through sight or its instrumental extensions) are in physical incarnation, but we are told that a number of the Logoi of planets and planetoids are not in physical incarnation.

168. Tất cả các Đấng Thiên Nhân mà chúng ta nhận biết bằng kinh nghiệm (phần lớn qua thị giác hay các phần mở rộng công cụ của nó) đều đang lâm phàm hồng trần, nhưng chúng ta được cho biết rằng một số Thượng đế của các hành tinh và tiểu hành tinh thì không đang lâm phàm hồng trần.

169. What is the “mystery of planetary evolution”? Probably there are many mysteries. Without a physical planet, however, it is difficult to conceive of how a Planetary Logos could be considered in physical incarnation.

169. “Huyền nhiệm của tiến hoá hành tinh” là gì? Có lẽ có nhiều huyền nhiệm. Tuy nhiên, nếu không có một hành tinh hồng trần, thật khó hình dung làm sao một Hành Tinh Thượng Đế có thể được xem là đang lâm phàm hồng trần.

Herein lies the mystery of our planet, the most mysterious of all the planets.

Chính trong đó có huyền nhiệm của hành tinh chúng ta, huyền bí nhất trong mọi hành tinh.

170. Our planet is, for reasons we cannot fathom, the “most mysterious of all the planets”.

170. Hành tinh của chúng ta, vì những lý do chúng ta không thể thấu hiểu, là “huyền bí nhất trong mọi hành tinh”.

171. The fourth of the seven of nine cosmic paths, I.e., the Path to Sirius, is also considered mysterious.

171. Con đường thứ tư trong bảy trên chín Con Đường vũ trụ, tức Con Đường đến Sirius, cũng được xem là huyền bí.

“This path is of all the Paths the most veiled in the clouds of mystery.” (TCF 1258)

“Con đường này là Con Đường bị che phủ nhiều nhất trong những đám mây huyền nhiệm.” (TCF 1258)

172. The Earth is the fourth planet from the Sun (counting Vulcan and not counting such hypothetical planets as Adonis), and the Path to Sirius is the fourth Path. Humanity is the fourth kingdom of the seven kingdoms of nature.

172. Trái Đất là hành tinh thứ tư tính từ Mặt Trời (tính cả Vulcan và không tính những hành tinh giả định như Adonis), và Con Đường đến Sirius là Con Đường thứ tư. Nhân loại là giới thứ tư trong bảy giới của thiên nhiên.

Just as the karma of individuals differs, so differs the karma of the various Logoi, and the karma of our planetary Logos has been a heavy one, and veiled in the mystery of personality at this time.

Cũng như nghiệp quả của các cá nhân khác nhau, nghiệp quả của các Thượng đế khác nhau cũng khác nhau, và nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là một nghiệp quả nặng nề, và hiện nay bị che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã.

173. The heavy karmic load of our planet relates to developmental disasters on the third chain of an earlier planetary era—the Moon-chain.

173. Gánh nặng nghiệp quả của hành tinh chúng ta liên hệ với những thảm họa phát triển trên dãy thứ ba của một kỷ nguyên hành tinh trước đây—Dãy Mặt Trăng.

174. The heaviness of our planetary karma relates it to Saturn—not only the greatest of the planetary Lords of Karma, but the planet associated with great weight.

174. Tính nặng nề của nghiệp quả hành tinh chúng ta liên hệ nó với Sao Thổ—không chỉ là vị lớn nhất trong các Chúa Tể Nghiệp Quả hành tinh, mà còn là hành tinh gắn với trọng lượng lớn.

175. It is mysterious to say that our planetary karma is “veiled in the mystery of personality at this time”. This veiling links our planetary karma to the fifth Creative Hierarchy—the Makara.

175. Thật huyền bí khi nói rằng nghiệp quả hành tinh của chúng ta “hiện nay bị che phủ trong huyền nhiệm của phàm ngã”. Sự che phủ này nối kết nghiệp quả hành tinh của chúng ta với Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm—Makara.

176. Our Planetary Logos is hardly a fully functioning soul free from the limitations of His own personality. Makara rules the human personality (cf. EA 35)

176. Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta hầu như chưa phải là một linh hồn hoạt động trọn vẹn, tự do khỏi những giới hạn của chính phàm ngã của Ngài. Makara cai quản phàm ngã con người (x. EA 35)

177. it is interesting that there is a “mystery of personality”. Anyone who has tried to study the dual Makara Creative Hierarchy realizes that this is the case.

177. thật thú vị khi có một “huyền nhiệm của phàm ngã”. Bất kỳ ai đã cố nghiên cứu Huyền Giai Sáng Tạo Makara nhị nguyên đều nhận ra rằng đúng là như vậy.

178. The mystery of personality is, in a way, the mystery of egoism and ‘mistaken identity’. It is a mystery of false identification arising from the captivation of consciousness by the lunar lords.

178. Huyền nhiệm của phàm ngã, theo một cách nào đó, là huyền nhiệm của tính vị kỷ và “bản sắc lầm lẫn”. Đó là huyền nhiệm của sự đồng hoá sai lầm phát sinh từ việc tâm thức bị các nguyệt tinh quân mê hoặc.

179. The mystery of personality is also the mystery of the upright and inverted pentagram.

179. Huyền nhiệm của phàm ngã cũng là huyền nhiệm của ngôi sao năm cánh dựng đứng và đảo ngược.

180. We must also remember the times when Sanat Kumara is referred to as the “Personality” of the Planetary Logos, though on other occasions, He is referred to as the “Soul”.

180. Chúng ta cũng phải nhớ những lúc Đức Sanat Kumara được gọi là “Phàm ngã” của Hành Tinh Thượng Đế, dù trong những dịp khác, Ngài lại được gọi là “Linh hồn”.

The first or will energy is, as you know, focussed in Sanat Kumara, the Ancient of Days (as He is called in the Christian Bible), the Lord of Shamballa, Who is the embodiment of the Personality of the planetary Logos. (EXH 86)

Năng lượng thứ nhất hay năng lượng ý chí, như các bạn biết, được tập trung trong Đức Sanat Kumara, Đấng Thái Cổ (như Ngài được gọi trong Kinh Thánh Cơ Đốc), Chúa Tể của Shamballa, Đấng là hiện thân của Phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế. (EXH 86)

Again, according as the centres are active or inactive, so the manifestation differs likewise, and the study which opens up is of vast and abstruse interest in connection with the solar system.

Một lần nữa, tùy theo các trung tâm hoạt động hay bất hoạt mà biểu hiện cũng khác nhau tương ứng, và công trình nghiên cứu mở ra là vô cùng rộng lớn và thâm áo trong liên hệ với hệ mặt trời.

181. “Vast” and “abstruse”—these are the words given to describe our study. Fortunately, as the intuitive, correspondential mind opens up, the relationships begin to appear without the necessity of learning them from a book.

181. “Rộng lớn” và “thâm áo”—đó là những từ được dùng để mô tả công trình nghiên cứu của chúng ta. May thay, khi trí tuệ trực giác, tương ứng mở ra, các mối liên hệ bắt đầu xuất hiện mà không cần phải học chúng từ sách vở.

5. The Centres and Initiation

5. Các Trung Tâm và Điểm Đạo

We have dealt briefly with the evolution of the centres, with their function, their organisation and their gradually increasing activity from a point of comparative inertia until they are consummated motion.

Chúng ta đã bàn ngắn gọn về sự tiến hoá của các trung tâm, về chức năng, tổ chức của chúng và hoạt động tăng dần từ một điểm có tính trì trệ tương đối cho đến khi chúng là chuyển động viên mãn.

182. Let us review what we have covered so far:

182. Hãy điểm lại những gì chúng ta đã đề cập cho đến nay:

a. The evolution of the centers

a. Sự tiến hoá của các trung tâm

b. Their function

b. Chức năng của chúng

c. Their organisation

c. Tổ chức của chúng

d. Their gradually increasing activity—from comparative inertia to consummated motion

d. Hoạt động tăng dần của chúng—từ tính trì trệ tương đối đến chuyển động viên mãn

183. Note the words “consummated motion”. It is not that the centers have consummated motion but that they are consummated motion. There is a hint here about what can be learned of the nature and development of motion by studying the fully activated chakras.

183. Hãy lưu ý các từ “chuyển động viên mãn”. Không phải là các trung tâm có chuyển động viên mãn mà là chúng là chuyển động viên mãn. Ở đây có một gợi ý về điều có thể học được liên quan đến bản chất và sự phát triển của chuyển động bằng cách nghiên cứu các chakra đã được hoạt hóa đầy đủ.

Then they become living wheels of flame, distinguished by a dual motion of the periphery and the inner revolving wheels,

Khi đó chúng trở thành những bánh xe lửa sống động, được phân biệt bởi một chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay bên trong,

184. We are told of the dual motion of the periphery and the internal, rotating cross.

184. Chúng ta được cho biết về chuyển động kép của chu vi và thập giá quay bên trong.

185. Note the term “wheels” which is plural. One would normally think of an ‘inner revolving wheel’—singular. The suggestion is that a chakra has multiple circular or spherical components.

185. Hãy lưu ý thuật ngữ “các bánh xe” ở số nhiều. Thông thường người ta sẽ nghĩ đến một “bánh xe quay bên trong” — số ít. Điều này gợi ý rằng một luân xa có nhiều thành phần tròn hay hình cầu.

186. We must think carefully if the word “revolving” is being distinguished in meaning from “rotating”.

186. Chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận xem từ “quay vòng” có được phân biệt về ý nghĩa với từ “xoay chuyển” hay không.

and by a fourth-dimensional effect, due primarily to the alignment of the inner subtler vortices with the comparatively exoteric etheric centres. This alignment is brought about eventually at initiation.

và bởi một hiệu ứng bốn chiều, chủ yếu do sự chỉnh hợp của các xoáy lực tinh tế bên trong với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn. Sự chỉnh hợp này rốt cuộc được mang lại vào lúc điểm đạo.

187. Some very occult hints are here given.

187. Ở đây có những gợi ý rất huyền bí được đưa ra.

188. While fourth dimensional rotation of a chakra is frequently discussed, the reason or reasons for that fourth dimensional rotation is not. Here we find at least a hint.

188. Trong khi sự xoay chuyển bốn chiều của một luân xa thường được bàn đến, thì nguyên nhân hay các nguyên nhân của sự xoay chuyển bốn chiều ấy lại không được bàn đến. Ở đây ít nhất chúng ta tìm thấy một gợi ý.

189. We are told that chakras have “inner subtler vortices”, and that it is the alignment of these inner vortices with the comparatively exoteric etheric centers which causes the fourth dimensional effect. This must be pondered and thought through.

189. Chúng ta được cho biết rằng các luân xa có “các xoáy lực tinh tế bên trong”, và chính sự chỉnh hợp của các xoáy lực bên trong này với các trung tâm dĩ thái tương đối ngoại môn gây ra hiệu ứng bốn chiều. Điều này phải được suy gẫm và suy xét thấu đáo.

190. Could it be that vortices characteristic of the higher planes make their way (influentially) into the ring pass not of the etheric chakra? We would have to know about the passage of vibratory chakric influence from plane to plane.

190. Có thể nào các xoáy lực đặc trưng của các cõi cao hơn đi vào một cách có ảnh hưởng trong vòng-giới-hạn của luân xa dĩ thái chăng? Chúng ta sẽ phải biết về sự chuyển tiếp của ảnh hưởng luân xa rung động từ cõi này sang cõi khác.

191. We have learned that as the astral and mental senses come into “perfected activity” so the buddhic and atmic correspondences of these sense arises. This is all part of the initiatory process. It would seem that the “inner subtler vortices” here mentioned may have something to do with influential vibrations from higher planes contacted during the initiatory process.

191. Chúng ta đã học rằng khi các giác quan cảm dục và trí tuệ đi vào “hoạt động hoàn thiện” thì các tương ứng Bồ đề và atma của các giác quan này phát sinh. Tất cả điều này đều là một phần của tiến trình điểm đạo. Có vẻ như “các xoáy lực tinh tế bên trong” được nhắc đến ở đây có thể liên quan đến các rung động có ảnh hưởng từ các cõi cao hơn được tiếp xúc trong tiến trình điểm đạo.

192. The fourth dimensional effect should have something significant to do with the buddhic plane, which can be considered the ‘fourth planar dimension’, or, alternatively, as the ‘fourth dimension’—if plane are to considered as dimensions.

192. Hiệu ứng bốn chiều hẳn phải có điều gì đó mang thâm nghĩa liên quan đến cõi Bồ đề, vốn có thể được xem là “chiều kích phẳng thứ tư”, hoặc, theo cách khác, là “chiều thứ tư” — nếu các cõi được xem như các chiều kích.

193. VSK queries: “So ‘living’ comes out of inertia, via motion?

193. VSK nêu câu hỏi: “Vậy thì ‘sự sống’ xuất hiện từ Quán tính, thông qua chuyển động sao?

194. VSK suggests we think of the dual motion of the periphery and inner revolving wheels while noting that the earth’s magnetic field is created from an inner revolving core, etc. …

194. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy nghĩ đến chuyển động kép của chu vi và các bánh xe quay bên trong, đồng thời lưu ý rằng từ trường của trái đất được tạo ra từ một lõi quay bên trong, v.v. …

195. It becomes clear that the induction of fourth dimensional rotation depends upon alignment with inner, higher and subtler processes.

195. Rõ ràng là sự cảm ứng của sự xoay chuyển bốn chiều tùy thuộc vào sự chỉnh hợp với các tiến trình bên trong, cao hơn và tinh tế hơn.

At the time that initiation is taken, the centres are all active and the lower four (which correspond to the Personality) are beginning the process of translating the fire into the three higher.

Vào lúc điểm đạo được tiếp nhận, các trung tâm đều hoạt động và bốn trung tâm thấp (tương ứng với phàm ngã) đang bắt đầu tiến trình chuyển dịch lửa vào ba trung tâm cao.

196. The phrase “lower quaternary” is often used in occult explanations and must be understood. The lower quaternary is the personality as represented, especially, by the lower four centers.

196. Cụm từ “bộ tứ thấp” thường được dùng trong các giải thích huyền bí và phải được hiểu rõ. Bộ tứ thấp là phàm ngã như được biểu hiện, đặc biệt, qua bốn trung tâm thấp.

197. All centers which are sub-diaphragmatic may be considered representative of the lower quaternary. Sometimes the throat and ajna centers are involved in personality expression, but these centers are among the higher three or the higher four.

197. Tất cả các trung tâm ở dưới cơ hoành có thể được xem là đại diện cho bộ tứ thấp. Đôi khi trung tâm cổ họng và ajna có liên quan đến sự biểu lộ của phàm ngã, nhưng các trung tâm này thuộc về ba trung tâm cao hơn hoặc bốn trung tâm cao hơn.

198. We are discussing the transference of energy from the lower four to the higher three. In this regard we may think of the four wicks and the three-tongued flame.

198. Chúng ta đang bàn đến sự chuyển dịch năng lượng từ bốn trung tâm thấp lên ba trung tâm cao. Về điều này, chúng ta có thể nghĩ đến bốn tim đèn và ngọn lửa ba chẽ.

199. The personality is often represented by the number four and by the square.

199. Phàm ngã thường được biểu thị bằng số bốn và bằng hình vuông.

200. At initiation all centers may be active but not all are equally active.

200. Vào lúc điểm đạo, mọi trung tâm đều có thể hoạt động nhưng không phải tất cả đều hoạt động đồng đều.

The dual revolution in the lower centres is clearly to be seen and the three higher are commencing to be similarly active.

Sự quay kép trong các trung tâm thấp có thể được thấy rõ và ba trung tâm cao đang bắt đầu trở nên hoạt động tương tự.

201. What does DK mean by “at the time that initiation is taken”? Does He mean the third initiation?

201. DK muốn nói gì qua cụm từ “vào lúc điểm đạo được tiếp nhận”? Ngài có muốn nói đến lần điểm đạo thứ ba chăng?

202. It is clear from this section that “dual revolution”, related to fourth-dimensional rotation, is seen sooner in the lower chakras than in the higher. This stands to reason as fuller activation within that which is lower precedes such activation in that which is higher.

202. Từ phần này có thể thấy rõ rằng “sự quay kép”, liên hệ với sự xoay chuyển bốn chiều, được thấy nơi các luân xa thấp sớm hơn nơi các luân xa cao. Điều này hợp lý, vì sự hoạt hóa đầy đủ hơn trong cái thấp đi trước sự hoạt hóa như thế trong cái cao.

203. The dual revolution of the chakras is related to the interrelationship between what in astrology are called the “Wheel of Consciousness” and the “Wheel of Form”.

203. Sự quay kép của các luân xa có liên quan đến mối tương quan giữa điều mà trong chiêm tinh học được gọi là “Bánh Xe Tâm thức” và “Bánh Xe Hình Tướng”.

204. The degree of activation in various of the Planetary Logoi follows the same pattern (at least as a general trend). The most spiritually mature of the planets, such as Jupiter, Saturn, Uranus and Neptune are not yet unfolded to any great degree, while Planetary Logoi less mature, Venus, Mercury, Earth and Mars are more fully unfolded. Thus, these latter are solar systemic chakras displaying dual revolution before certain centers (the higher planets) which do not yet display dual revolution.

204. Mức độ hoạt hóa nơi các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau tuân theo cùng một mô hình (ít nhất như một xu hướng tổng quát). Những hành tinh trưởng thành nhất về mặt tinh thần, như Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, vẫn chưa được khai mở ở mức độ lớn nào, trong khi các Hành Tinh Thượng Đế kém trưởng thành hơn — Sao Kim, Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa — lại được khai mở đầy đủ hơn. Vì vậy, các hành tinh sau này là các luân xa của hệ mặt trời biểu lộ sự quay kép trước một số trung tâm (các hành tinh cao hơn) vốn chưa biểu lộ sự quay kép.

205. In the four sub-diaphragmatic chakras here implied, there are twenty-six petals total:

205. Trong bốn luân xa dưới cơ hoành được hàm ý ở đây, tổng cộng có hai mươi sáu cánh hoa:

a. Four for the Base of the Spine

a. Bốn cho đáy cột sống

b. Six for the Spleen

b. Sáu cho lá lách

c. Six for the Sacral Center

c. Sáu cho trung tâm xương cùng

d. Ten for the Solar Plexus

d. Mười cho tùng thái dương

By the application of the Rod of Initiation at the time of the initiation ceremony, certain results are achieved in connection with the centres which might be enumerated as follows:

Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo vào lúc nghi lễ điểm đạo, một số kết quả nhất định được đạt tới liên quan đến các trung tâm, có thể được liệt kê như sau:

206. Perhaps someone would like to do a complete compilation on the “Rod of Initiation”. It would be useful.

206. Có lẽ ai đó sẽ muốn thực hiện một bản tổng hợp đầy đủ về “Thần Trượng Điểm đạo”. Điều đó sẽ hữu ích.

207. The Rod of Initiation lifts energies vibratorily and rearranges them.

207. Thần Trượng Điểm đạo nâng các năng lượng lên về mặt rung động và tái sắp xếp chúng.

a. The fire at the base of the spine is definitely directed [Page 208] to whichever centre is the object of special attention.

a. Lửa ở đáy cột sống được hướng một cách rõ rệt [Page 208] đến bất cứ trung tâm nào là đối tượng của sự chú ý đặc biệt.

208. This is a most occult piece of information. It would seem that each wielding of the Rod has, as its initial phase or one of its initial phases, the raising of the energy at the base of the spine to a particular chakra which is the focus of initiatory attention.

208. Đây là một mẩu thông tin cực kỳ huyền bí. Có vẻ như mỗi lần sử dụng Thần Trượng, như giai đoạn đầu tiên của nó hoặc một trong những giai đoạn đầu tiên của nó, là sự nâng năng lượng ở đáy cột sống lên một luân xa đặc biệt là tiêu điểm của sự chú ý điểm đạo.

209. From this, we can think of the base of the spine energy as being a kind of common denominator in relation to all the other chakric energies. In this regard, we do know that the kundalini energy (coiled at the base) must at length vivify each of the chakras. There is something stored in this center which appears needed for the vivification of each and all of the others.

209. Từ đây, chúng ta có thể nghĩ đến năng lượng đáy cột sống như một loại mẫu số chung liên hệ với mọi năng lượng luân xa khác. Về điều này, chúng ta biết rằng năng lượng kundalini (cuộn lại ở đáy) cuối cùng phải tiếp sinh lực cho từng luân xa. Có điều gì đó được tích trữ trong trung tâm này dường như cần thiết cho sự tiếp sinh lực của từng trung tâm khác và của tất cả các trung tâm khác.

This varies according to the Ray, or the specialised work of the initiate.

Điều này thay đổi tùy theo cung, hoặc công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ.

210. The order of vivification is not only a question of which initiation is being undergone, but of the ray of the individual undergoing the initiation.

210. Trật tự tiếp sinh lực không chỉ là vấn đề lần điểm đạo nào đang được trải qua, mà còn là vấn đề cung của cá nhân đang trải qua điểm đạo.

211. The other criterion concerning which center may be vivified concerns the specialized work of the initiate (which may, after all, be correlated with his principle rays).

211. Tiêu chuẩn khác liên quan đến việc trung tâm nào có thể được tiếp sinh lực là công việc chuyên biệt của điểm đạo đồ (rốt cuộc có thể tương quan với các cung nguyên khí của y).

212. The application of the Rod (whichever Rod it may be) is a most specialized and potent science. Any error in such application would have disastrous effects.

212. Việc áp dụng Thần Trượng (bất kể đó là Thần Trượng nào) là một khoa học cực kỳ chuyên biệt và mãnh liệt. Bất kỳ sai lầm nào trong việc áp dụng như thế đều sẽ có những hậu quả tai hại.

b. The centre has its activity intensified, its rate of evolution increased, and certain of the central spokes of the wheel brought into more active radiance.

b. Trung tâm được tăng cường hoạt động, tốc độ tiến hoá của nó được gia tăng, và một số nan hoa trung tâm của bánh xe được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn.

213. Let us tabulate the effects of the application of the Rod upon the center to which it is applied:

213. Chúng ta hãy lập bảng các hiệu quả của việc áp dụng Thần Trượng lên trung tâm mà nó được áp dụng vào:

a. The activity of the center is increased—the kundalini effect

a. Hoạt động của trung tâm được gia tăng — hiệu ứng kundalini

b. The rate of revolution of the center is increased—the pranic effect

b. Tốc độ quay của trung tâm được gia tăng — hiệu ứng prana

c. Certain central spokes are brought into more active radiance. These pokes are related to what might be called a ‘whirling cross’.

c. Một số nan hoa trung tâm được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn. Các nan hoa này liên hệ với điều có thể được gọi là một “thập giá xoáy chuyển”.

214. We can view the chakras in different ways. From some perspectives, they will be composed of petals. From other perspectives they will be seen as spokes of light. The same can be said of the egoic lotus.

214. Chúng ta có thể nhìn các luân xa theo những cách khác nhau. Từ một số góc nhìn, chúng sẽ được cấu thành bởi các cánh hoa. Từ những góc nhìn khác, chúng sẽ được thấy như các nan hoa ánh sáng. Điều tương tự cũng có thể được nói về Hoa Sen Chân Ngã.

215. Which particular spokes of the wheel will be brought into more active radiance will depend upon the initiation being undergone, and probably upon the ray of the individual.

215. Những nan hoa đặc biệt nào của bánh xe sẽ được đưa vào sự rạng ngời hoạt động hơn sẽ tùy thuộc vào lần điểm đạo đang được trải qua, và có lẽ còn tùy thuộc vào cung của cá nhân.

These spokes which are also called by some students lotus-petals, have a close connection with the different spirillae in the permanent atoms.

Những nan hoa này, cũng được một số đạo sinh gọi là các cánh hoa sen, có liên hệ mật thiết với các loa tuyến khác nhau trong các nguyên tử trường tồn.

216. While the number of petals or spokes in a particular chakra varies greatly, the number of spirillae in a permanent atom is seven (unless we are considering the mental unit which is a kind of incomplete permanent atom having only four rather than seven spirillae).

216. Trong khi số lượng cánh hoa hay nan hoa trong một luân xa cụ thể thay đổi rất lớn, số lượng loa tuyến trong một nguyên tử trường tồn là bảy (trừ khi chúng ta đang xét đến đơn vị hạ trí, vốn là một loại nguyên tử trường tồn chưa hoàn chỉnh chỉ có bốn thay vì bảy loa tuyến).

217. The numerical correlation, therefore, will be inexact. Perhaps certain of the petals or spokes correlate with any one or more of the spirillae.

217. Do đó, sự tương quan về số lượng sẽ không chính xác. Có lẽ một số cánh hoa hay nan hoa nào đó tương quan với một hay nhiều loa tuyến bất kỳ.

218. The lower petals or spokes will probably correlate with the lower spirillae, and those petals or spokes which are activated under soul or Spirit unfoldment will probably correlate with the higher spirillae. We are given no picture of exact correlation.

218. Các cánh hoa hay nan hoa thấp có lẽ sẽ tương quan với các loa tuyến thấp, và những cánh hoa hay nan hoa được hoạt hóa dưới sự khai mở của linh hồn hay tinh thần có lẽ sẽ tương quan với các loa tuyến cao. Chúng ta không được cung cấp một bức tranh về sự tương quan chính xác.

Through their stimulation there comes into play one or more of the corresponding spirillae in the permanent atoms on the three lower planes.

Qua sự kích thích của chúng, một hay nhiều loa tuyến tương ứng trong các nguyên tử trường tồn trên ba cõi thấp được đưa vào hoạt động.

219. Note the phase “one or more”. The related combinations are not given. We do not know which or how many petals/spokes may correspond to which spirilla or spirillae.

219. Hãy lưu ý cụm từ “một hay nhiều”. Các tổ hợp liên hệ không được nêu ra. Chúng ta không biết cánh hoa/nan hoa nào hay bao nhiêu cánh hoa/nan hoa có thể tương ứng với loa tuyến hay các loa tuyến nào.

220. We do know that the lower four spirillae correspond to personality development; the fifth spirilla to soul development; the sixth and seventh probably to triadal and monadic development. There are aspects of the spiritual triad which are soul-related and aspects of the Monad which correlate with the number six, though the liberation of the Monad correlates with the number seven.

220. Chúng ta biết rằng bốn loa tuyến thấp tương ứng với sự phát triển của phàm ngã; loa tuyến thứ năm với sự phát triển của linh hồn; loa tuyến thứ sáu và thứ bảy có lẽ với sự phát triển tam nguyên tinh thần và chân thần. Có những phương diện của Tam Nguyên Tinh Thần liên hệ với linh hồn và những phương diện của chân thần tương quan với số sáu, dù sự giải thoát của chân thần tương quan với số bảy.

221. A parallel consideration would be of the stimulation of the casual petals or spokes in relation to the activation of spirillae.

221. Một sự xem xét song song sẽ là sự kích thích các cánh hoa hay nan hoa nguyên nhân trong liên hệ với sự hoạt hóa các loa tuyến.

After the third Initiation, a corresponding stimulation takes place in the permanent atoms of the Triad, leading to the co-ordination of the buddhic vehicle, and the transference of the lower polarisation into the higher.

Sau lần điểm đạo thứ ba, một sự kích thích tương ứng diễn ra trong các nguyên tử trường tồn của Tam nguyên tinh thần, dẫn đến sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, và sự chuyển dịch phân cực thấp vào phân cực cao.

222. The stimulation which occurs before the third initiation involves the chakras as they relate to the simulation of the spirillae in the permanent atoms related to the personality.

222. Sự kích thích xảy ra trước lần điểm đạo thứ ba liên quan đến các luân xa trong mối liên hệ của chúng với sự kích thích các loa tuyến trong các nguyên tử trường tồn liên hệ với phàm ngã.

223. The third initiation is that spiritual juncture at which the spiritual triad begins to be the recipient of initiatory stimulation.

223. Lần điểm đạo thứ ba là thời điểm tinh thần mà tại đó Tam Nguyên Tinh Thần bắt đầu trở thành bên tiếp nhận sự kích thích điểm đạo.

224. In other writings, DK speaks of the coordination of the buddhic vehicle necessitating the prominent presence of the planet Neptune in the astrological chart.

224. Trong các trước tác khác, DK nói rằng sự phối hợp của vận cụ Bồ đề đòi hỏi sự hiện diện nổi bật của hành tinh Sao Hải Vương trong lá số chiêm tinh.

225. When, actually, is the buddhic vehicle coordinated? Probably, to a degree, that coordination begins at the second initiation at which time the ray of Neptune is so prominent. However, from this reference, it seems evident that there is no true or complete coordination of the buddhic vehicle until after the third degree.

225. Thực ra, khi nào vận cụ Bồ đề được phối hợp? Có lẽ, ở một mức độ nào đó, sự phối hợp ấy bắt đầu vào lần điểm đạo thứ hai, khi mà cung của Sao Hải Vương rất nổi bật. Tuy nhiên, từ đoạn tham chiếu này, dường như rõ ràng rằng không có sự phối hợp đích thực hay trọn vẹn nào của vận cụ Bồ đề cho đến sau cấp độ thứ ba.

226. May we say that the third degree the manasic permanent atom is stimulated; at the fourth degree the buddhic permanent atom and at the fifth, the atmic permanent atom? Some sequentiality seems reasonable.

226. Chúng ta có thể nói rằng ở cấp độ thứ ba, nguyên tử trường tồn manas được kích thích; ở cấp độ thứ tư, nguyên tử trường tồn Bồ đề; và ở cấp độ thứ năm, nguyên tử trường tồn atma chăng? Một tính tuần tự nào đó sequentiality dường như là hợp lý.

227. We know, however, that some stimulation of these atoms occurs earlier (as the atmic permanent atom at the third degree), but complete simulation no doubt occurs later. It is not really possible to focus fully in the buddhic consciousness until the fourth degree.

227. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng một số sự kích thích của các nguyên tử này xảy ra sớm hơn (như nguyên tử trường tồn atma ở cấp độ thứ ba), nhưng sự kích thích hoàn toàn chắc chắn xảy ra muộn hơn. Thật ra không thể tập trung trọn vẹn trong tâm thức Bồ đề cho đến cấp độ thứ tư.

228. Along with the transference here discussed goes the dynamic of ‘etheric substitution’. The etheric focus of the individual becomes through the process of initiation a higher etheric focus (for the spiritual triad—involved in the higher initiations—is ‘located’ on the higher etheric planes).

228. Cùng với sự chuyển dịch được bàn đến ở đây là động lực của “sự thay thế dĩ thái”. Tiêu điểm dĩ thái của cá nhân, qua tiến trình điểm đạo, trở thành một tiêu điểm dĩ thái cao hơn (vì Tam Nguyên Tinh Thần — liên quan đến các lần điểm đạo cao hơn — được “định vị” trên các cõi dĩ thái cao hơn).

229. In regard to the coordination of the buddhic vehicle, the power of sacrifice is of much assistance. Since the ninth petal of the egoic lotus (signaling the “utter sacrifice of all forever”) is fully opened at the third degree, we can see how sacrifice would play a far greater role after this point than before. Thus, a preliminary condition is created for the fuller coordination of the buddhic vehicle.

229. Liên quan đến sự phối hợp của vận cụ Bồ đề, năng lực hi sinh trợ giúp rất nhiều. Vì cánh hoa thứ chín của Hoa Sen Chân Ngã (báo hiệu “sự hi sinh hoàn toàn của tất cả mãi mãi”) được mở trọn vẹn ở cấp độ thứ ba, chúng ta có thể thấy hi sinh sẽ đóng vai trò lớn hơn rất nhiều sau điểm này so với trước đó. Như vậy, một điều kiện sơ bộ được tạo ra cho sự phối hợp đầy đủ hơn của vận cụ Bồ đề.

c. By the application of the Rod of Initiation the downflow of force from the Ego to the personality is tripled, the direction of that force being dependent upon whether the centres receiving attention are the etheric, or the astral at the first and second Initiations, or whether the initiate is standing before the LORD OF THE WORLD.

c. Bằng việc áp dụng Thần Trượng Điểm đạo, dòng mãnh lực tuôn xuống từ Chân ngã đến phàm ngã được tăng gấp ba, hướng đi của mãnh lực ấy tùy thuộc vào việc các trung tâm đang nhận sự chú ý là các trung tâm dĩ thái, hay các trung tâm cảm dục ở lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, hay việc điểm đạo đồ đang đứng trước ĐỨC CHÚA TỂ THẾ GIỚI.

230. We are here given most important occult information. The Science of Initiation is a science. Science of full of quantifications, as in this instance.

230. Ở đây chúng ta được cung cấp thông tin huyền bí hết sức quan trọng. Khoa Học Điểm Đạo là một khoa học. Đó là một khoa học đầy những định lượng, như trong trường hợp này.

231. We may well wonder concerning the degree of augmentation of egoic force in relation to personality which arises from a good meditation, for instance. The tripling of such force seems arresting in its implications.

231. Chúng ta hoàn toàn có thể tự hỏi về mức độ gia tăng của mãnh lực chân ngã trong tương quan với phàm ngã phát sinh, chẳng hạn, từ một lần tham thiền tốt. Sự tăng gấp ba của mãnh lực như thế thật đáng chú ý trong các hàm ý của nó.

232. The fact that for every candidate there is one initiator and two sponsors (thus three intimate officiants) may relate to this tripling.

232. Sự kiện rằng đối với mỗi ứng viên có một Đấng Điểm đạo và hai vị bảo trợ (như vậy là ba vị chủ lễ thân cận) có thể liên hệ với sự tăng gấp ba này.

233. The tripling may also be related to the Science of Triangles. Frequently we read of energy circulation passing three times around the area of circulation.

233. Sự tăng gấp ba này cũng có thể liên hệ với Khoa Học Tam Giác. Chúng ta thường đọc thấy sự tuần hoàn năng lượng đi ba vòng quanh khu vực tuần hoàn.

234. It becomes clear that at the first initiation, it is the etheric centers which, principally, are stimulated. At the second initiation it is principally the astral centers which receive stimulation and, presumably, at the third degree, the mental centers are those stimulated.

234. Rõ ràng là ở lần điểm đạo thứ nhất, chính các trung tâm dĩ thái chủ yếu được kích thích. Ở lần điểm đạo thứ hai, chủ yếu là các trung tâm cảm dục nhận sự kích thích và, có lẽ, ở cấp độ thứ ba, các trung tâm trí tuệ là những trung tâm được kích thích.

235. Since there are presently only four chakric centers upon the mental plane, it is clear that that the causal body with its tiers of petals correlated to the head, heart and throat chakras of other planes, would receive stimulation by the One Initiator.

235. Vì hiện nay chỉ có bốn trung tâm luân xa trên cõi trí, rõ ràng là thể nguyên nhân với các tầng cánh hoa của nó tương quan với các luân xa đầu, tim và cổ họng của các cõi khác, sẽ nhận sự kích thích bởi Đấng Điểm đạo Duy Nhất.

In the latter case, his mental centres or their corresponding force vortices on higher levels, will receive stimulation.

Trong trường hợp sau, các trung tâm trí tuệ của y hay các xoáy lực tương ứng của chúng trên các cấp độ cao hơn, sẽ nhận sự kích thích.

236. In this case, the “corresponding force vortices on higher levels” are energy structures within the causal body.

236. Trong trường hợp này, “các xoáy lực tương ứng trên các cấp độ cao hơn” là các cấu trúc năng lượng bên trong thể nguyên nhân.

When the World Teacher initiates at the first and second Initiations, the direction of the Triadal force is turned to the vivification of the heart, and throat centres, and the ability to synthesise the force of the lower centres is greatly increased.

Khi Đức Chưởng Giáo điểm đạo ở lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai, hướng của mãnh lực Tam nguyên tinh thần được chuyển sang sự tiếp sinh lực cho các trung tâm tim và cổ họng, và khả năng tổng hợp mãnh lực của các trung tâm thấp được gia tăng rất nhiều.

237. Note that we are speaking of the “direction of the Triadal force”. Above we spoke of the “downflow of force from the Ego to the personality”. The term “Triad” and “Ego” are seen as equivalent.

237. Hãy lưu ý rằng chúng ta đang nói về “hướng của mãnh lực Tam nguyên tinh thần”. Ở trên chúng ta đã nói về “dòng mãnh lực tuôn xuống từ Chân ngã đến phàm ngã”. Các thuật ngữ “Tam nguyên tinh thần” và “Chân ngã” được xem là tương đương.

238. It is clear that the Initiator promotes a flow from the spiritual triad to the personality.

238. Rõ ràng là Đấng Điểm đạo thúc đẩy một dòng chảy từ Tam Nguyên Tinh Thần đến phàm ngã.

239. The spiritual triad carries the energies of synthesis.

239. Tam Nguyên Tinh Thần mang các năng lượng của sự tổng hợp.

240. If we pay attention to the order of vivification, we shall note that it is the heart that is stimulated at the first initiation and the throat at the second. Love means something new at the first degree, and the second degree is characterized by spiritual intelligence and a degree of mental illumination.

240. Nếu chúng ta chú ý đến trật tự tiếp sinh lực, chúng ta sẽ lưu ý rằng tim được kích thích ở lần điểm đạo thứ nhất và cổ họng ở lần điểm đạo thứ hai. Bác ái mang một ý nghĩa mới ở cấp độ thứ nhất, và cấp độ thứ hai được đặc trưng bởi trí tuệ tinh thần và một mức độ soi sáng trí tuệ nào đó.

241. It is interesting to see that even at the first and second degrees, triadal forces are active producing an enhanced capacity to synthesize the forces of the lower centers. Initiation (even the early initiations) is a process involving synthesis.

241. Thật thú vị khi thấy rằng ngay cả ở cấp độ thứ nhất và thứ hai, các mãnh lực tam nguyên tinh thần vẫn hoạt động, tạo ra một năng lực tăng cường để tổng hợp các mãnh lực của các trung tâm thấp. Điểm đạo (ngay cả các lần điểm đạo đầu tiên) là một tiến trình bao hàm sự tổng hợp.

When the One Initiator applies the Rod of His Power, the downflow is from the Monad, and though the throat and heart intensify vibration as a response, the main direction of the force is to the seven head centres, and finally (at liberation) to the radiant head centre above, and synthesising the lesser seven head centres.

Khi Đấng Điểm đạo Duy Nhất áp dụng Thần Trượng Quyền năng của Ngài, dòng tuôn xuống là từ chân thần, và dù cổ họng và tim tăng cường rung động như một sự đáp ứng, hướng chính của mãnh lực là đến bảy trung tâm đầu, và cuối cùng (khi giải thoát) đến trung tâm đầu rạng ngời ở phía trên, và tổng hợp bảy trung tâm đầu nhỏ hơn.

242. Most valuable information is again given.

242. Một lần nữa, thông tin hết sức quý giá lại được đưa ra.

243. Egoic/triadal force is liberated in downflow for the first two initiations.

243. Mãnh lực chân ngã/tam nguyên tinh thần được giải phóng trong dòng tuôn xuống cho hai lần điểm đạo đầu tiên.

244. One would expect that atmic energy from the spiritual triad would also be liberated at the third degree—perhaps accompanying the downflowing energy from the Monad.

244. Người ta có thể mong đợi rằng năng lượng atma từ Tam Nguyên Tinh Thần cũng sẽ được giải phóng ở cấp độ thứ ba — có lẽ đi kèm với năng lượng tuôn xuống từ chân thần.

245. It is important to realize that at the third degree the heart and throat continue to be stimulated.

245. Điều quan trọng là nhận ra rằng ở cấp độ thứ ba, tim và cổ họng tiếp tục được kích thích.

246. The seven head centers are related to atma, just as the Great Bear (representing the seven head center of the OAWNMBS may be inferred as focussing on the cosmic atmic plane—TCF 1162).

246. Bảy trung tâm đầu có liên hệ với atma, cũng như Đại Hùng Tinh (đại diện cho bảy trung tâm đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể được suy ra là tập trung trên cõi atma vũ trụ — TCF 1162).

247. The third degree is a pivotal initiation, relating soul to monad. Under the regime of the soul/Ego, atma is contacted, but under the regime of the Monad, the One Initiator draws down monadic force for the stimulation of the seven head centers.

247. Cấp độ thứ ba là một lần điểm đạo then chốt, liên hệ linh hồn với chân thần. Dưới chế độ của linh hồn/chân ngã, atma được tiếp xúc, nhưng dưới chế độ của chân thần, Đấng Điểm đạo Duy Nhất kéo mãnh lực chân thần xuống để kích thích bảy trung tâm đầu.

248. Liberation signifies the fifth degree. The major head center on the top of the head is related to liberation. But that same major center is also related to the atmic plane, as we have earlier learned.

248. Giải thoát biểu thị cấp độ thứ năm. Trung tâm đầu lớn ở đỉnh đầu có liên hệ với sự giải thoát. Nhưng chính trung tâm lớn ấy cũng có liên hệ với cõi atma, như chúng ta đã học trước đây.

249. While the seven head centers are the object of stimulation at the third degree, the synthesis of these seven centers is apparently not completed until the fifth degree.

249. Trong khi bảy trung tâm đầu là đối tượng của sự kích thích ở cấp độ thứ ba, sự tổng hợp của bảy trung tâm này rõ ràng chưa hoàn tất cho đến cấp độ thứ năm.

250. Some experience with the monadic energy will clearly be necessitated before it becomes possible to take the third degree.

250. Một số kinh nghiệm với năng lượng chân thần rõ ràng là điều cần thiết trước khi có thể tiếp nhận cấp độ thứ ba.

251. We are not told whether the downflow of force from the Monad to the soul infused personality is tripled, doubled or in any way magnified, as is the downflow of force from the Ego to the personality. Some augmentation, however, would be expected.

251. Chúng ta không được cho biết liệu dòng mãnh lực tuôn xuống từ chân thần đến phàm ngã được linh hồn thấm nhuần có được tăng gấp ba, gấp đôi hay được khuếch đại theo cách nào không, như dòng mãnh lực tuôn xuống từ Chân ngã đến phàm ngã. Tuy nhiên, người ta có thể mong đợi một sự gia tăng nào đó.

d. The centres at initiation receive a fresh access of [Page 209] vibratory capacity and of power, and this results, in the exoteric life, as:

d. Các trung tâm vào lúc điểm đạo nhận được một sự gia tăng mới về [Page 209] năng lực rung động và quyền năng, và điều này dẫn đến, trong đời sống ngoại môn, như sau:

252. This “fresh access” is due to the stimulation of the Rod. A clear channel of reliable access is created.

252. “Sự gia tăng mới” này là do sự kích thích của Thần Trượng. Một kênh tiếp cận rõ ràng và đáng tin cậy được tạo ra.

First. A sensitiveness and refinement of the vehicles which may result, at first, in much suffering to the initiate, but which produces a capacity to respond to contacts that far outweighs the incidental pain.

Thứ nhất. Một sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ mà lúc đầu có thể dẫn đến nhiều đau khổ cho điểm đạo đồ, nhưng lại tạo ra một năng lực đáp ứng với các tiếp xúc vượt xa nỗi đau ngẫu nhiên đi kèm.

253. Here we are speaking of the “sacred pains” so relevant in the life of the advancing initiate. The initiate Krishnamurti experienced such pains to an extreme degree as his vehicles were being prepared for the overshadowing of the Christ.

253. Ở đây chúng ta đang nói về “những nỗi đau thiêng liêng” rất thích đáng trong đời sống của điểm đạo đồ đang tiến bộ. Điểm đạo đồ Krishnamurti đã trải qua những nỗi đau như thế ở mức độ cực đoan khi các vận cụ của ông đang được chuẩn bị cho sự phủ bóng của Đức Christ.

254. To endure the pain is a sacrifice, well-rewarded, once the ordeal has been passed, by greater sensitivity and responsiveness.

254. Chịu đựng nỗi đau là một sự hi sinh, được đền đáp xứng đáng, một khi thử thách đã qua, bằng sự nhạy cảm và khả năng đáp ứng lớn hơn.

255. We learn that the process of initiation, promoting the fresh access of the centers to vibratory capacity and power, will lead to refinement through pain.

255. Chúng ta học được rằng tiến trình điểm đạo, thúc đẩy sự gia tăng mới nơi các trung tâm về năng lực rung động và quyền năng, sẽ dẫn đến sự tinh luyện thông qua đau đớn.

Second. A development of psychic faculty that again may lead to temporary distress, but which eventually causes a recognition of the one Self in all selves, which is the goal of endeavor.

Thứ hai. Sự phát triển năng lực thông linh, điều này một lần nữa có thể dẫn đến khổ sở tạm thời, nhưng rốt cuộc gây ra sự nhận biết một Bản Ngã duy nhất trong mọi bản ngã, vốn là mục tiêu của nỗ lực.

256. A development of psychic faculty is another form of sensitization. All sensitization, initially, may lead to pain and distress.

256. Sự phát triển năng lực thông linh là một hình thức nhạy cảm hóa khác. Mọi sự nhạy cảm hóa, lúc đầu, đều có thể dẫn đến đau đớn và khổ sở.

257. This psychic development is an aspect of the wearing away of the veils which will reveal the One Self. Usually, registration of this One Self is blocked by insensitivity.

257. Sự phát triển thông linh này là một phương diện của sự bào mòn các bức màn sẽ mặc khải Bản Ngã Duy Nhất. Thông thường, sự ghi nhận Bản Ngã Duy Nhất này bị ngăn trở bởi sự vô cảm.

258. We see that every type of advancement has its price.

258. Chúng ta thấy rằng mọi loại tiến bộ đều có cái giá của nó.

Third. A burning away, through a gradual arousing of kundalini, and its correct geometrical progression through the etheric web.

Thứ ba. Một sự thiêu hủy, thông qua sự đánh thức dần dần của kundalini, và sự tiến triển hình học đúng đắn của nó xuyên qua mạng dĩ thái.

259. We have seen that the power and vibratory capacity received at initiation via the Rod have promoted—

259. Chúng ta đã thấy rằng quyền năng và năng lực rung động nhận được vào lúc điểm đạo qua Thần Trượng đã thúc đẩy —

a. Sensitiveness and refinement of the vehicles

a. Sự nhạy cảm và tinh luyện của các vận cụ

b. A development of psychic faculty

b. Sự phát triển năng lực thông linh

c. Now we add a burning away by means of kundalini

c. Giờ đây chúng ta thêm vào một sự thiêu hủy bằng kundalini

260. The burning away must be accompanied by a correct geometrical rising of the kundalini fire. The power conferred by the Rod apparently promotes not only kundalinic arousal but its geometrically correct arousal.

260. Sự đốt cháy đi phải đi kèm với sự bốc lên đúng theo hình học của lửa kundalini. Quyền năng được ban bởi Thần Trượng dường như không chỉ thúc đẩy sự thức dậy của kundalinic mà còn thúc đẩy sự thức dậy đúng theo hình học của nó.

261. That which is burnt away is physical-etheric dross. There is no doubt dross on the astral and mental planes which the higher correspondence to etheric-physical kundalini will also burn.

261. Điều bị đốt cháy đi là cặn bã hồng trần-dĩ thái. Hẳn nhiên cũng có cặn bã trên cõi cảm dục và cõi trí mà sự tương ứng cao hơn của kundalini dĩ thái-hồng trần cũng sẽ đốt cháy.

This produces a resultant continuity of consciousness which enables the initiate consciously to utilise time as a factor in the plans of evolution.

Điều này tạo ra một sự liên tục của tâm thức như là kết quả mà cho phép điểm đạo đồ một cách hữu thức sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch của tiến hoá.

262. VSK inquires: “How and why is time tied to the webbing?

262. VSK hỏi: “Thời gian gắn với mạng lưới như thế nào và tại sao?”

263. Time is related to the third aspect and so is the web of life.

263. Thời gian liên hệ với phương diện thứ ba và mạng lưới sự sống cũng vậy.

264. If the web is too prohibitive, the life is subject to the limitation of sequentiality rather than the liberation of simultaneity.

264. Nếu mạng lưới quá ngăn trở, sự sống sẽ chịu sự giới hạn của tính tuần tự thay vì sự giải thoát của tính đồng thời.

265. The right kind of burning away allows the simultaneous registration of energies and forces on all three levels of the personality—etheric-physical, emotional and mental.

265. Loại đốt cháy đúng đắn cho phép sự ghi nhận đồng thời các năng lượng và mãnh lực trên cả ba cấp độ của phàm ngã—dĩ thái-hồng trần, cảm xúc và trí tuệ.

266. Under normal circumstances “it takes time” for the impressions of the astral and mental nature to filter through into the brain. What if such impressions were immediately available in relation to any physical impacts being experienced? A wholeness of perception not formerly available would be immediately so. Patterns of relation would be immediately grasped rather than sequentially so.

266. Trong những hoàn cảnh bình thường, các ấn tượng của bản chất cảm dục và trí tuệ cần “mất thời gian” để thấm lọc vào bộ não. Điều gì sẽ xảy ra nếu những ấn tượng như thế có thể lập tức sẵn có trong tương quan với bất kỳ tác động hồng trần nào đang được trải nghiệm? Khi ấy, một tính toàn vẹn của tri giác trước đây chưa có sẽ lập tức xuất hiện. Các mô hình tương quan sẽ được nắm bắt ngay tức thì thay vì theo tuần tự.

267. VSK queries: “What might it look like if one is utilizing time as a factor in the plans of evolution?”

267. VSK hỏi: “Sẽ trông như thế nào nếu một người đang sử dụng thời gian như một yếu tố trong các kế hoạch của tiến hoá?”

268. May it be suggested that a fairly accurate knowledge of the Science of Cycles will be in the possession of the initiate?

268. Có thể gợi ý rằng một tri thức khá chính xác về Khoa Học về Các Chu Kỳ sẽ nằm trong sự sở hữu của điểm đạo đồ chăng?

269. As well, it would not be necessary to wait so long before acting intelligently. With fairly instantaneous apprehension, swift and appropriate action could follow.

269. Ngoài ra, sẽ không cần phải chờ quá lâu trước khi hành động một cách thông minh. Với sự lĩnh hội gần như tức thời, hành động mau lẹ và thích hợp có thể tiếp theo.

Fourth. A gradual grasp of the Law of Vibration as an aspect of the basic law of building;

Thứ tư. Một sự nắm bắt dần dần Định luật Rung động như một phương diện của định luật căn bản về kiến tạo;

270. Only matter characterized by certain vibrations can be rightly built into the divinely intended, Plan-appropriate forms.

270. Chỉ vật chất được đặc trưng bởi những rung động nhất định mới có thể được xây dựng đúng đắn vào những hình tướng do thiêng liêng dự định, thích hợp với Thiên Cơ.

271. Understanding the Law of Vibration reveals appropriate substances for the building process.

271. Sự thấu hiểu Định luật Rung động mặc khải những chất liệu thích hợp cho tiến trình kiến tạo.

the initiate learns consciously to build, to manipulate thought matter for the perfecting of the plans of the Logos, to work in mental essence, and to apply the law of mental levels and thereby affect the physical plane.

điểm đạo đồ học cách kiến tạo một cách hữu thức, vận dụng chất liệu tư tưởng để hoàn thiện các kế hoạch của Thượng đế, làm việc trong tinh chất trí tuệ, và áp dụng định luật của các cấp độ trí tuệ, nhờ đó tác động đến cõi hồng trần.

272. We remember that this manipulative ability is related to the fresh access of vibratory capacity and power received through the application of the Rod.

272. Chúng ta nhớ rằng khả năng vận dụng này liên hệ với sự tiếp cận mới mẻ đến năng lực và quyền năng rung động nhận được qua việc áp dụng Thần Trượng.

273. There is a resonant relationship between the mental and physical planes. All thoughts tend to become actions.

273. Có một mối liên hệ cộng hưởng giữa cõi trí và cõi hồng trần. Mọi tư tưởng đều có khuynh hướng trở thành hành động.

Motion originates cosmically on cosmic mental levels, and in the microcosm the same order will be seen. There is an occult hint here that will reveal much if pondered upon.

Chuyển động khởi nguồn một cách vũ trụ trên các cấp độ trí tuệ vũ trụ, và trong tiểu thiên địa cũng sẽ thấy cùng một trật tự như vậy. Ở đây có một gợi ý huyền bí sẽ tiết lộ nhiều điều nếu được suy gẫm.

274. The mind is a field of movement. The field of becoming begins with mind. The stilling of the mind, therefore, reveals the realm of being. In a way, movement, though cosmically inescapable, distorts the face of Reality.

274. Trí tuệ là một trường chuyển động. Trường của sự trở thành bắt đầu với trí tuệ. Vì vậy, sự làm lắng yên trí tuệ sẽ mặc khải lĩnh vực của bản thể. Theo một nghĩa nào đó, chuyển động, dù không thể tránh khỏi về mặt vũ trụ, vẫn làm méo mó dung nhan của Thực Tại.

275. Movement on planes above the mental is of a different order that motion on the plane of mind. Though, since the cosmic ethers are still to be found upon the cosmic physical plane, motion will play a part in their expression.

275. Chuyển động trên các cõi cao hơn cõi trí thuộc một trật tự khác với chuyển động trên cõi trí. Tuy vậy, vì các dĩ thái vũ trụ vẫn còn được tìm thấy trên cõi hồng trần vũ trụ, nên chuyển động sẽ đóng một vai trò trong sự biểu lộ của chúng.

276. Those of us who wish to move the lower worlds, had best learn white magic which begins with mental magic.

276. Những ai trong chúng ta muốn làm chuyển động các cõi thấp, tốt hơn hết nên học Chánh Thuật, vốn bắt đầu bằng huyền thuật trí tuệ.

At initiation, at the moment of the application of the Rod, the initiate consciously realises the meaning of the Law of Attraction in form building, and in the synthesis of the three fires. Upon his ability to retain that realisation and himself to apply the law, will depend his power and progress.

Khi điểm đạo, vào lúc áp dụng Thần Trượng, điểm đạo đồ một cách hữu thức chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong việc kiến tạo hình tướng, và trong sự tổng hợp của ba ngọn lửa. Quyền năng và sự tiến bộ của y sẽ tùy thuộc vào khả năng giữ được sự chứng nghiệm đó và tự mình áp dụng định luật,

277. The Rod of Initiation conveys principally the second aspect of divinity correlated with the Law of Attraction.

277. Thần Trượng Điểm đạo chủ yếu truyền đạt phương diện thứ hai của thiên tính tương quan với Định luật Hấp Dẫn.

278. The application of the Rod reveals

278. Việc áp dụng Thần Trượng mặc khải

a. The realization of the meaning of the Law of Attraction in form building

a. Sự chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong việc kiến tạo hình tướng

b. The realization of the meaning of the Law of Attraction in the synthesis of the three fires

b. Sự chứng nghiệm ý nghĩa của Định luật Hấp Dẫn trong sự tổng hợp của ba ngọn lửa

279. Power and progress in this second solar system, and upon this essentially second ray planet, depends upon progressing along the line indicated by the second aspect.

279. Quyền năng và sự tiến bộ trong hệ mặt trời thứ hai này, và trên hành tinh về bản chất là cung hai này, tùy thuộc vào việc tiến bước theo đường lối được chỉ ra bởi phương diện thứ hai.

280. VSK suggests that we maintain the consideration of Law of Attraction as a dual law encompassing repulsion as well, centrifugal and centripetal, cohering and refining the material.

280. VSK gợi ý rằng chúng ta duy trì việc xem xét Định luật Hấp Dẫn như một định luật kép cũng bao hàm cả sự đẩy lùi, ly tâm và hướng tâm, kết dính và tinh luyện vật chất.

281. It is implied that the initiate may not remember the realizations impressed during the initiation ceremony. It would obviously be of value to consciously retain that which has been imparted.

281. Điều này hàm ý rằng điểm đạo đồ có thể không nhớ những chứng nghiệm được ghi khắc trong nghi lễ điểm đạo. Hiển nhiên sẽ rất có giá trị nếu một cách hữu thức giữ lại điều đã được truyền đạt.

e. By the application of the Rod, the fire of kundalini is aroused, and its upward progress directed.

e. Bằng việc áp dụng Thần Trượng, lửa kundalini được khơi dậy, và sự tiến lên trên của nó được định hướng.

282. The arousal of the kundalini is a natural process, however, if the downflow of energy of the Ego can be tripled through the application of the Rod, what of the up-flow of the force of kundalini? Is it also tripled or multiplied in some manner?.

282. Sự khơi dậy kundalini là một tiến trình tự nhiên; tuy nhiên, nếu dòng năng lượng đi xuống của Chân ngã có thể được tăng gấp ba qua việc áp dụng Thần Trượng, thì còn dòng đi lên của mãnh lực kundalini thì sao? Nó cũng được tăng gấp ba hay được nhân lên theo cách nào đó chăng?.

The fire at the base of the spine, and the fire of mind are [Page 210] directed along certain routes, or triangles, by the action of the Rod as it moves in a specified manner.

Lửa ở đáy cột sống, và lửa của trí tuệ được [Page 210] định hướng theo những lộ trình nhất định, hay những tam giác, bởi tác động của Thần Trượng khi nó chuyển động theo một cách thức xác định.

283. Again, these fires follow certain routes in a natural progression during evolution, but the fires must be greatly sped upon their way by the application of the Rod.

283. Một lần nữa, các ngọn lửa này đi theo những lộ trình nhất định trong một sự tiến triển tự nhiên trong tiến hoá, nhưng các ngọn lửa phải được thúc đẩy rất mạnh trên đường đi của chúng bởi việc áp dụng Thần Trượng.

284. Perhaps new routes (or intended routes) may be delineated by means of the application.

284. Có lẽ những lộ trình mới (hay những lộ trình được dự định) có thể được vạch ra bằng phương tiện của sự áp dụng này.

285. We remember that the two fires here mentioned, must blend and merge at various junctures along the spine..

285. Chúng ta nhớ rằng hai ngọn lửa được nhắc đến ở đây phải hòa trộn và hợp nhất tại nhiều điểm giao nhau khác nhau dọc theo cột sống..

There is a definite occult reason, under the Laws of Electricity, behind the known fact that every initiate, presented to the Initiator, is accompanied by two of the Masters, who stand one on either side of him. The three of them together form a triangle which makes the work possible.

Có một lý do huyền bí xác định, theo các Định luật Điện, đằng sau sự kiện đã biết rằng mọi điểm đạo đồ, khi được đưa đến trước Đấng Điểm đạo, đều được hai Chân sư đi kèm, đứng mỗi vị một bên y. Cả ba cùng nhau tạo thành một tam giác khiến công việc trở nên khả thi.

286. The three aspects of electricity are represented by the candidate and the two sponsors.

286. Ba phương diện của điện được tượng trưng bởi ứng viên và hai vị bảo trợ.

287. We can imagine the candidate representing solar fire (neutral fire). One of the sponsors will represent the positive polarity (electric fire) and the other the negative polarity (fire by friction).

287. Chúng ta có thể hình dung ứng viên tượng trưng cho Lửa Thái dương (ngọn lửa trung tính). Một trong hai vị bảo trợ sẽ tượng trưng cho cực tính dương (Lửa Điện) và vị kia cho cực tính âm (Lửa ma sát).

288. From another perspective, it is the Initiator Who completed the triangle of officiants, and thus would represent the power of solar fire.

288. Từ một góc nhìn khác, chính Đấng Điểm đạo là Đấng hoàn tất tam giác của những vị chủ lễ, và như thế sẽ tượng trưng cho quyền năng của Lửa Thái dương.

289. The triangle is a fundamental electrical map, holding the secret of the equilibrizing of electricity.

289. Tam giác là một sơ đồ điện căn bản, nắm giữ bí mật của sự quân bình hóa điện.

The force of the Rod is twofold, and its power terrific.

Mãnh lực của Thần Trượng là nhị phân, và quyền năng của nó thật khủng khiếp.

290. The word “terrific” will not be used lightly.

290. Từ “khủng khiếp” sẽ không được dùng một cách nhẹ nhàng.

291. The twofold force of the Rod suggests the positive and negative polarities.

291. Mãnh lực nhị phân của Thần Trượng gợi ra các cực tính dương và âm.

292. The twofoldness may also relate to the potencies of solar fire and electric fire.

292. Tính nhị phân cũng có thể liên hệ với các tiềm lực của Lửa Thái dương và Lửa Điện.

Apart and alone the initiate could not receive the voltage from the Rod without serious hurt, but in triangular formation transmission comes safely.

Tách riêng và đơn độc, điểm đạo đồ không thể tiếp nhận điện thế từ Thần Trượng mà không bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng trong đội hình tam giác, sự truyền dẫn diễn ra an toàn.

293. The “hurt” would be damage to his vehicles—initially his causal vehicle, since initiation is in relation to the first four initiations, accomplished within the causal body, but secondarily to the vehicles of his personality, since there is a downflow of force from the causal vehicle to the personality vehicles.

293. “Sự tổn hại” ấy sẽ là tổn thương đối với các vận cụ của y—trước hết là vận cụ nguyên nhân của y, vì điểm đạo ở đây liên hệ đến bốn lần điểm đạo đầu tiên, được hoàn thành trong thể nguyên nhân, nhưng thứ yếu là đối với các vận cụ của phàm ngã y, vì có một dòng mãnh lực chảy xuống từ vận cụ nguyên nhân đến các vận cụ phàm ngã.

294. What we may grasp from this section, in general, is the protective value of triangular formation.

294. Điều chúng ta có thể nắm bắt từ phần này, nói chung, là giá trị bảo vệ của đội hình tam giác.

The two Masters Who thus sponsor the initiate, represent two polarities of the electric All; part of Their work is therefore to stand with all applicants for initiation when they come before the Great Lord.

Hai Chân sư như thế bảo trợ cho điểm đạo đồ tượng trưng cho hai cực tính của Điện Toàn Thể; vì vậy, một phần công việc của Các Ngài là đứng cùng mọi ứng viên xin điểm đạo khi họ đến trước Đức Chúa Tể Vĩ Đại.

295. VSK suggests the following thoughts: “The exoteric correlations of a positive, negative, and ground—the threefold flow necessary for safe, insulated, transmission of electrical voltage. The initiate therefore being as the ground, or equilibrising force perchance; relevant to the necessity of having a physical body (a ‘ground wire’) for initiation.

295. VSK gợi ý những tư tưởng sau: “Những tương quan ngoại môn của dương, âm và tiếp địa—dòng chảy tam phân cần thiết cho sự truyền dẫn điện thế an toàn, có cách điện. Vì vậy, điểm đạo đồ giống như tiếp địa, hay có lẽ là mãnh lực quân bình hóa; liên hệ đến sự cần thiết phải có một thể xác (một ‘dây tiếp địa’) cho điểm đạo.

296. The idea of sponsorship exists in a number of fraternal organizations. The electrical basis of the custom of sponsorship should be remembered.

296. Ý tưởng về sự bảo trợ tồn tại trong một số tổ chức huynh đệ. Nền tảng điện học của tập tục bảo trợ này cần được ghi nhớ.

297. The triangular setup is reminiscent of the configuration of Spirit, soul and body. Placed between the two Masters, the candidate most likely represents soul.

297. Cấu hình tam giác gợi nhớ đến cấu trúc của tinh thần, linh hồn và thể xác. Được đặt giữa hai Chân sư, ứng viên rất có thể tượng trưng cho linh hồn.

298. The Great Lord may be either the Christ or the Lord of the World—both are ‘Great Lords’.

298. Đức Chúa Tể Vĩ Đại có thể là Đức Christ hoặc Đức Chúa Tể Thế Giới—cả hai đều là ‘Đức Chúa Tể Vĩ Đại’.

299. When we “stand with” another in support, we should remind ourselves of the electrical implications of our stance.

299. Khi chúng ta “đứng cùng” một người khác để hỗ trợ, chúng ta nên tự nhắc mình về những hàm ý điện học của lập trường ấy.

When the Rods of Initiation are held in the hands of the Initiator in His position of power, and at the stated seasons, they act as transmitters of electric force from very high levels,—so high indeed that the "Flaming Diamond" at certain of the final initiations (the sixth and seventh) transmits force, via the Logos, from outside the system altogether.

Khi các Thần Trượng Điểm đạo được cầm trong tay Đấng Điểm đạo ở vị thế quyền năng của Ngài, và vào những mùa kỳ đã định, chúng hoạt động như những vật truyền dẫn mãnh lực điện từ những cấp độ rất cao,—quả thật cao đến mức “Kim Cương Rực Lửa” trong một số lần điểm đạo cuối cùng (thứ sáu và thứ bảy) truyền dẫn mãnh lực, qua Thượng đế, từ hoàn toàn bên ngoài hệ thống.

300. The initiation process is well-timed. Initiation cannot occur simply at any time. Periods of the Full Moon are likely occasions, and especially certain of the Full Moons—that of Wesak especially. The Full Moons of the three Great Festivals would seem indicated moments, but much would depend upon which initiation was being offered. The periods of the Leo and Capricorn Full Moon would also seem indicated moments.

300. Tiến trình điểm đạo được định thời rất chuẩn xác. Điểm đạo không thể xảy ra đơn giản vào bất kỳ lúc nào. Những thời kỳ Trăng Tròn có thể là những dịp thích hợp, và đặc biệt là một số kỳ Trăng Tròn—nhất là kỳ Wesak. Những kỳ Trăng Tròn của ba Đại Lễ dường như là những thời điểm được chỉ định, nhưng nhiều điều sẽ tùy thuộc vào lần điểm đạo nào đang được ban trao. Những thời kỳ Trăng Tròn Sư Tử và Ma Kết cũng dường như là những thời điểm được chỉ định.

301. Probably the different Full Moons would, each of them, be most appropriate for initiations of different degrees. This would be an intricate study and is, no doubt, deeply veiled. It would be a study of ‘divine occasions’.

301. Có lẽ mỗi kỳ Trăng Tròn khác nhau sẽ thích hợp nhất cho những lần điểm đạo ở những cấp bậc khác nhau. Đây hẳn sẽ là một ngành nghiên cứu tinh vi và chắc chắn được che giấu sâu xa. Đó sẽ là một nghiên cứu về những ‘cơ hội thiêng liêng’.

302. We note that the Rod of Initiation is held in the “hands” and not the “hand” of the initiator. This, interestingly, suggests that Sanat Kumara is the kind of being who indeed has hands. It is likely that He presents Himself in human form before the candidate for the fifth initiation.

302. Chúng ta lưu ý rằng Thần Trượng Điểm đạo được cầm trong “hai tay” chứ không phải “một tay” của đấng điểm đạo. Điều này, một cách thú vị, gợi ý rằng Đức Sanat Kumara là loại hữu thể quả thật có hai tay. Có khả năng Ngài tự hiện diện trước ứng viên cho lần điểm đạo thứ năm trong hình tướng con người.

303. The word “hands” also suggests that the Rod may be held in both hands simultaneously or in different hands according to purpose.

303. Từ “hai tay” cũng gợi ý rằng Thần Trượng có thể được cầm đồng thời bằng cả hai tay hoặc bằng những tay khác nhau tùy theo mục đích.

304. Although Sanat Kumara would wield the Rod of Initiation at the third and fourth initiations, He would not be seen in person by the candidate. The image before the candidate would be either that of a star or an eye, we are told in The Rays and the Initiations

304. Mặc dù Đức Sanat Kumara sẽ sử dụng Thần Trượng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ ba và thứ tư, Ngài sẽ không được ứng viên trông thấy đích thân. Chúng ta được cho biết trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo rằng hình ảnh trước ứng viên sẽ là một ngôi sao hoặc một con mắt.

305. The Christ, however, would be seen face to face.

305. Tuy nhiên, Đức Christ sẽ được thấy mặt đối mặt.

306. It is interesting to contemplate that, though initiation for the first two degrees occurs within the causal body (and probably for the third and fourth as well), the initiator for those first two degrees would still be seen in human form. Though the Christ would be focussing upon the causal level, He would still present Himself before the candidate in human form.

306. Thật thú vị để chiêm ngưỡng rằng, dù điểm đạo cho hai cấp đầu xảy ra bên trong thể nguyên nhân (và có lẽ cả lần thứ ba và thứ tư cũng vậy), đấng điểm đạo cho hai cấp đầu ấy vẫn sẽ được thấy trong hình tướng con người. Dù Đức Christ tập trung trên cấp độ nguyên nhân, Ngài vẫn sẽ tự hiện diện trước ứng viên trong hình tướng con người.

307. The “Flaming Diamond” is the Rod of Initiation wielded by Sanat Kumara at the third, fourth and fifth initiations.

307. “Kim Cương Rực Lửa” là Thần Trượng Điểm đạo được Đức Sanat Kumara sử dụng trong lần điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm.

308. It is said that Sanat Kumara is not the Initiator at the sixth and seventh initiations. A mysterious existence called the “Silent Watcher” presides at the first of these initiations and the Planetary Logos at the second. Does this mean that the Flaming Diamond is not in the exclusive charge of Sanat Kumara, but can be wielded by these two greater Existences?

308. Người ta nói rằng Đức Sanat Kumara không phải là Đấng Điểm đạo trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy. Một Hiện Hữu huyền nhiệm được gọi là “Đấng Quan Sát Thầm Lặng” chủ trì lần đầu trong hai lần điểm đạo này và Đức Hành Tinh Thượng Đế chủ trì lần thứ hai. Điều này có nghĩa là Kim Cương Rực Lửa không nằm dưới sự quản giữ độc quyền của Đức Sanat Kumara, mà có thể được hai Đại Hiện Hữu cao cả hơn này sử dụng chăng?

309. We are told that at the sixth and seventh initiations, force from the Solar Logos is involved, and greater forces still, transmitted “via the Logos” from sources outside our solar system.

309. Chúng ta được cho biết rằng trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, mãnh lực từ Thái dương Thượng đế có liên quan, và những mãnh lực còn lớn hơn nữa được truyền “qua Thượng đế” từ những nguồn bên ngoài hệ mặt trời của chúng ta.

310. We must remember that these two initiations are initiations of the Monad and are beyond what, for man, is the first cosmic initiation—i.e., the fifth initiation.

310. Chúng ta phải nhớ rằng hai lần điểm đạo này là những cuộc điểm đạo của chân thần và vượt quá điều mà, đối với con người, là cuộc điểm đạo vũ trụ đầu tiên—tức là lần điểm đạo thứ năm.

311. One suspects that the Logos of the Seven Solar Systems may be influential at the sixth initiation and that the One About Whom Naught May Be Said may be slightly influential at the seventh.

311. Người ta nghi rằng Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời có thể có ảnh hưởng trong lần điểm đạo thứ sáu và rằng Đấng Bất Khả Tư Nghị có thể có một ảnh hưởng nhẹ trong lần thứ bảy.

312. We must not forget the star Sirius as potentially influential at the sixth and seventh initiations, as those initiations are, respectively, the Baptism and Transfiguration in the Sirian system of initiations.

312. Chúng ta không được quên ngôi sao Sirius như một yếu tố có thể có ảnh hưởng trong lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy, vì các lần điểm đạo ấy lần lượt là Phép Rửa và Biến hình trong hệ thống điểm đạo của Sirius.

313. When referring to forces “from outside the system altogether”, we cannot discount the thought that the Tibetan may be referring to the cosmic astral plane and the cosmic mental plane. These two cosmic planes are often considered as lying outside the solar system.

313. Khi nói đến những mãnh lực “hoàn toàn từ bên ngoài hệ thống”, chúng ta không thể loại trừ ý nghĩ rằng Chân sư Tây Tạng có thể đang nói đến cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ. Hai cõi vũ trụ này thường được xem là nằm ngoài hệ mặt trời.

We need to remember that this major Rod is the one used on this planet, but that within the system there are several such Rods of Power, and that they are to be found in three grades, if it may be so expressed.

Chúng ta cần nhớ rằng Thần Trượng lớn này là Thần Trượng được dùng trên hành tinh này, nhưng trong hệ thống có một số Thần Trượng Quyền Năng như thế, và chúng được tìm thấy trong ba cấp, nếu có thể nói như vậy.

314. As there are three grades of planet within our solar system (synthesizing, sacred and non-sacred), the existence of three types or grades of Rods of Power is reasonable.

314. Vì trong hệ mặt trời của chúng ta có ba cấp hành tinh (tổng hợp, thiêng liêng và không thiêng liêng), nên sự tồn tại của ba loại hay ba cấp Thần Trượng Quyền Năng là điều hợp lý.

315. From what is given below, we have four Rods of Power in three grades, making twelve spheres of focus in all.

315. Từ những gì được trình bày dưới đây, chúng ta có bốn Thần Trượng Quyền Năng trong ba cấp, tạo thành mười hai khối cầu tập trung tất cả.

316. Unless it is meant that the several Rods mentioned below are graded, as is obvious.

316. Trừ phi điều được hàm ý là các Thần Trượng khác nhau được nhắc đến dưới đây vốn đã được phân cấp, như điều hiển nhiên.

First. The Rod of Initiation used for the first two initiations and wielded by the Great Lord, the Christ, the World Teacher. It is magnetised by application of the "Flaming Diamond"—the magnetisation being repeated when each new world Teacher takes office.

Thứ nhất. Thần Trượng Điểm đạo được dùng cho hai lần điểm đạo đầu tiên và do Đức Chúa Tể Vĩ Đại, Đức Christ, Đức Chưởng Giáo sử dụng. Nó được từ hóa bằng việc áp dụng “Kim Cương Rực Lửa”—sự từ hóa ấy được lặp lại khi mỗi Đức Chưởng Giáo mới nhậm chức.

317. We notice that a greater Rod magnetizes the immediately lesser Rod.

317. Chúng ta nhận thấy rằng một Thần Trượng lớn hơn từ hóa Thần Trượng nhỏ hơn ngay kế đó.

318. The Rod here referenced is sometimes known as the Rod of the Bodhisattva or the Bodhisattva’s Rod.

318. Thần Trượng được nói đến ở đây đôi khi được biết đến như Thần Trượng của Đức Bồ Tát.

319. Since it may be reasonably inferred that a World Teacher takes office once every two thousand five hundred years, the magnetizations would occur with that frequency.

319. Vì có thể suy ra một cách hợp lý rằng một Đức Chưởng Giáo nhậm chức mỗi hai nghìn năm trăm năm, nên các lần từ hóa sẽ xảy ra với tần suất ấy.

320. The Christ will be World Teacher for two consecutive periods (totaling five thousand years). One would wonder however, whether this Rod would not have to be magnetized for its use during the Aquarian dispensation.

320. Đức Christ sẽ là Đức Chưởng Giáo trong hai thời kỳ liên tiếp (tổng cộng năm nghìn năm). Tuy nhiên, người ta có thể tự hỏi liệu Thần Trượng này có cần phải được từ hóa để sử dụng trong thời kỳ Bảo Bình hay không.