Trích nội dung chương
390. An old teacher and friend of mind used to speak of the capacity to see with ‘real-eyes’. Presumably he was talking of an unveiled condition of consciousness, perhaps related to the atmic plane. 390. Một vị huấn sư và bằng hữu cũ của tôi thường nói về khả năng thấy bằng “đôi mắt thật”. Có lẽ ông đang nói về một trạng thái tâm thức không bị che phủ, có thể liên hệ với cõi atma.
390. An old teacher and friend of mind used to speak of the capacity to see with ‘real-eyes’. Presumably he was talking of an unveiled condition of consciousness, perhaps related to the atmic plane.
390. Một vị huấn sư và bằng hữu cũ của tôi thường nói về khả năng thấy bằng “đôi mắt thật”. Có lẽ ông đang nói về một trạng thái tâm thức không bị che phủ, có thể liên hệ với cõi atma.
391. What is realized? May we say the unitary nature of reality? May it be that the Spirit within every form is actually seen?
391. Điều gì được chứng nghiệm? Chúng ta có thể nói đó là bản chất nhất nguyên của thực tại chăng? Có thể nào Tinh thần bên trong mọi hình tướng thực sự được thấy?
Let the student study carefully the lowest and highest demonstration of the senses as laid down in the tabulation earlier imparted, and note the occult significance of the expressions used in the summation.
Hãy để đạo sinh nghiên cứu cẩn thận biểu hiện thấp nhất và cao nhất của các giác quan như đã được trình bày trong bảng trước đó, và lưu ý ý nghĩa huyền bí của các cách diễn đạt được dùng trong phần tổng kết.
392. This, of course, is the great task, and many are the speculations or experiences that may result from such a focus.
392. Dĩ nhiên, đây là công việc lớn lao, và biết bao suy đoán hay kinh nghiệm có thể phát sinh từ một sự tập trung như thế.
Hearing Beatitude. This is realised through the not-self.
Thính giác Chí phúc. Điều này được chứng nghiệm qua phi-ngã.
393. Beatitude is a high state of blessedness. Work towards the beatific state signifies that the consciousness may, in fact, be focussed on the buddhic plane—its lowest level.
393. Chí phúc là một trạng thái hồng phúc cao cả. Nỗ lực hướng đến trạng thái chí phúc biểu thị rằng tâm thức thực sự có thể được tập trung trên cõi Bồ đề—ở cấp thấp nhất của nó.
394. If beatitude is realized through the not-Self or the form, perhaps it is a fourfold, harmonized sound which is registered, yielding a type of understanding which has not yet appeared through any merely mental approach.
394. Nếu chí phúc được chứng nghiệm qua phi-ngã hay hình tướng, thì có lẽ đó là một âm thanh tứ phân hài hòa được ghi nhận, tạo ra một loại thấu hiểu mà chưa từng xuất hiện qua bất kỳ cách tiếp cận nào chỉ thuần trí tuệ.
395. Beatitude suggests synthesis and its initial phases may correlate with the opening of the synthesis-love petal (petal eleven).
395. Chí phúc gợi ý sự tổng hợp và các giai đoạn đầu của nó có thể tương ứng với sự khai mở cánh hoa tổng hợp-bác ái (cánh hoa thứ mười một).
396. Once the causal body has been destroyed a truer meaning of blessedness, of beatitude may dawn.
396. Một khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, một ý nghĩa chân thực hơn của hồng phúc, của chí phúc có thể ló rạng.
397. The first and seventh rays are here involved, both of them synthetic.
397. Cung một và cung bảy đều được bao hàm ở đây, cả hai đều có tính tổng hợp.
Touch Service. The summation of the work of the Self for the not-self.
Xúc giác Phụng sự. Sự tổng kết công việc của Bản Ngã đối với phi-ngã.
398. Active Service is the highest demonstration (here given) of the sense of touch.
398. Phụng sự tích cực là biểu hiện cao nhất (được nêu ở đây) của xúc giác.
399. It will be a faculty which naturally resonates with the Law of Service.
399. Đó sẽ là một năng lực tự nhiên cộng hưởng với Định luật Phụng sự.
400. It would involve a complete understanding of the real needs of any life expressing through the form.
400. Nó sẽ bao hàm một sự thấu hiểu trọn vẹn về những nhu cầu thực sự của bất kỳ sự sống nào đang biểu lộ qua hình tướng.
401. It involves a most intimate sense of touch and a ‘touching’ realization of how that which is touched may be healed, harmonized and endowed with precisely what it needs.
401. Nó bao hàm một xúc giác hết sức mật thiết và một sự chứng nghiệm “cảm động” về cách mà điều được chạm đến có thể được chữa lành, hài hòa và được ban cho chính xác điều nó cần.
402. What are called the “Gifts of the Spirit” may be endowed here.
402. Điều được gọi là “Các Ân Tứ của Tinh thần” có thể được ban phát tại đây.
403. The second and sixth rays are involved.
403. Cung hai và cung sáu được bao hàm.
Sight Realisation. Recognition of the triplicity needed in manifestation, or the reflex action of the Self and the not-self.
Thị giác (sự)chứng nghiệm. Sự nhận biết bộ ba cần thiết trong biểu hiện, hay phản ứng phản chiếu của Bản Ngã và phi-ngã.
404. The highest demonstration of the sense of sight is called “Realization”. DK said the word “Realization” was inadequate to convey the meaning of this faculty. Indeed, His explanation is rather unexpected.
404. Biểu hiện cao nhất của thị giác được gọi là “(sự)chứng nghiệm”. Chân sư DK nói rằng từ “(sự)chứng nghiệm” không đủ để chuyển tải ý nghĩa của năng lực này. Quả thật, lời giải thích của Ngài khá bất ngờ.
405. Realization involves a recognition of a triplicity in manifestation. This is fitting, as sight is the third sense, developmentally considered.
405. (Sự)chứng nghiệm bao hàm sự nhận biết một bộ ba trong biểu hiện. Điều này thích hợp, vì thị giác là giác quan thứ ba nếu xét theo tiến trình phát triển.
406. Through Realization the trinity is seen as the modus operandi of Oneness. We might say that it has much to do with the ability to see consciousness as the necessary middle factor between Spirit and Matter.
406. Qua (sự)chứng nghiệm, Tam Vị được thấy như phương thức vận hành của Nhất Thể. Chúng ta có thể nói rằng nó liên quan rất nhiều đến khả năng thấy tâm thức như yếu tố trung gian tất yếu giữa Tinh thần và Vật chất.
407. Realization will be related to light, to Venus, the second ray and the fifth ray. We might call it the “registration of the connecting Light’. There is a recognition of Light and of the interactivity between Spirit and matter which proceeds because of the existence of the Light.
407. (Sự)chứng nghiệm sẽ liên hệ với ánh sáng, với Sao Kim, cung hai và cung năm. Chúng ta có thể gọi đó là “sự ghi nhận Ánh Sáng nối kết”. Có một sự nhận biết về Ánh Sáng và về tính tương tác giữa Tinh thần và vật chất, vốn diễn ra nhờ sự hiện hữu của Ánh Sáng.
408. The third and fifth rays are involved.
408. Cung ba và cung năm được bao hàm.
Taste Perfection. Evolution completed through the utilisation of the not-self and its realised adequacy.
Vị giác Toàn hảo. Tiến hoá hoàn tất qua việc sử dụng phi-ngã và sự chứng nghiệm tính đầy đủ của nó.
409. Perfection is related to the number four, and Jupiter, the planet of perfection (or of a perfected rounding out) is symbolized by a glyph which is very reminiscent of the number four.
409. Sự toàn hảo liên hệ với con số bốn, và Sao Mộc, hành tinh của sự toàn hảo (hay của một sự viên mãn hoàn bị), được biểu tượng bằng một ký hiệu rất gợi nhớ đến con số bốn.
410. The “mathematical exactitude” conveyed by the fourth ray is necessary to create perfection.
410. “Sự chính xác toán học” do cung bốn chuyển tải là điều cần thiết để tạo nên sự toàn hảo.
411. The number four represents completion in the initiatory sequence for the fourth initiation is the last strictly human initiation, or, at least, the initiation after which man need no longer incarnated in the human kingdom.
411. Con số bốn biểu thị sự hoàn tất trong chuỗi điểm đạo, vì lần điểm đạo thứ tư là lần điểm đạo cuối cùng còn mang tính nhân loại nghiêm ngặt, hay ít nhất là lần điểm đạo sau đó con người không còn cần phải nhập thể trong giới nhân loại nữa.
412. If evolution is to be completed, the not-Self has to be fully utilized. It is not enough to reject it. Full use in service of the not-Self is equivalent to its rejection.
412. Nếu tiến hoá phải được hoàn tất, thì phi-ngã phải được sử dụng trọn vẹn. Chỉ khước từ nó thôi thì chưa đủ. Việc sử dụng trọn vẹn phi-ngã trong phụng sự tương đương với việc khước từ nó.
413. Through the instrumentality of taste there is a deep appreciation of form and the different qualities which form can confer.
413. Qua công cụ của vị giác, có một sự trân trọng sâu sắc đối với hình tướng và những phẩm tính khác nhau mà hình tướng có thể ban cho.
414. This type of Perfection suggests perfection of the form as an instrument of Spirit. The form is taken as far as it is intended to go, prior to its destruction.
414. Loại Toàn hảo này gợi ý sự toàn hảo của hình tướng như một công cụ của Tinh thần. Hình tướng được đưa đi xa đến mức nó được dự định phải đi tới, trước khi bị hủy diệt.
415. Beauty and Perfection are parallel ideas. Heights of realized beauty are achieved at this stage of sensory unfoldment.
415. Cái Đẹp và Sự Toàn Hảo là những ý niệm song hành. Những đỉnh cao của cái đẹp được chứng nghiệm đạt được ở giai đoạn này của sự khai mở giác quan.
Smell Perfected Knowledge. The principle of manas in its discriminating activity, perfecting the inter-relation between the Self and the not-self.
Khứu giác Tri thức Toàn hảo. Nguyên khí manas trong hoạt động phân biện của nó, làm cho mối tương quan giữa Bản Ngã và phi-ngã trở nên toàn hảo.
416. This faculty is variously called “All Knowledge” or “Perfected Knowledge”. If it is called “Perfected Knowledge” it is related to its immediately preceding faculty, “Perfection”.
416. Năng lực này được gọi theo nhiều cách là “Toàn Tri” hay “Tri thức Toàn hảo”. Nếu được gọi là “Tri thức Toàn hảo” thì nó liên hệ với năng lực đứng ngay trước nó là “Sự Toàn Hảo”.
417. Perfection and Perfected Knowledge are to be compared carefully. The latter is more manasically related than the former.
417. Sự Toàn Hảo và Tri thức Toàn hảo cần được so sánh cẩn thận. Cái sau liên hệ với manas nhiều hơn cái trước.
418. In Perfection the not-Self is realized as adequate to the expression of the Self or Jiva. In Perfected Knowledge (or All Knowledge—at least with respect to thirty lower subplanes) that adequacy is perfected. Through the utilization of atmic mind (acutely related to the third ray) the Triadal Self and the not-Self are brought into an ideal interrelation.
418. Trong Sự Toàn Hảo, phi-ngã được chứng nghiệm là đầy đủ cho sự biểu lộ của Bản Ngã hay Jiva. Trong Tri thức Toàn hảo (hay Toàn Tri—ít nhất đối với ba mươi cõi phụ thấp), tính đầy đủ ấy được làm cho toàn hảo. Qua việc sử dụng trí tuệ atma (liên hệ sắc bén với cung ba), Bản Ngã Tam Nguyên Tinh Thần và phi-ngã được đưa vào một mối tương quan lý tưởng.
419. The essence of the Self is known or sensed through the sense of smell, and that essence is perfectly (through spiritual intelligence) related to its instrument of expression.
419. Tinh túy của Bản Ngã được biết đến hay được cảm nhận qua khứu giác, và tinh túy ấy được liên hệ một cách toàn hảo (qua trí tuệ tinh thần) với công cụ biểu lộ của nó.
This all concerns the perfected, realised Personality.
Tất cả điều này đều liên quan đến Phàm ngã đã được hoàn thiện và chứng nghiệm.
420. The number four of personality is being completed.
420. Con số bốn của phàm ngã đang được hoàn tất.
421. When we consider personality, it is important to include the contents of the causal body, which are derived, over millennia, from the personality sphere.
421. Khi xét đến phàm ngã, điều quan trọng là phải bao gồm cả nội dung của thể nguyên nhân, vốn được rút ra, qua hàng thiên niên kỷ, từ phạm vi phàm ngã.
In all these perfections is seen the awareness of the Self, and the graded process of identification, utilisation, manipulation and final rejection of the not-self by that Self who is now consciously aware.
Trong tất cả những sự toàn hảo này, người ta thấy được sự nhận biết của Bản Ngã, và tiến trình tuần tự của sự đồng hoá, sử dụng, điều khiển và sự khước từ cuối cùng đối với phi-ngã bởi Bản Ngã ấy, nay đã có nhận biết một cách hữu thức.
422. DK emphasizes the consciousness angle.
422. Chân sư DK nhấn mạnh góc độ tâm thức.
423. Perfection is gradually reached through:
423. Sự toàn hảo dần dần đạt được qua:
a. Awareness of the Self
a. Sự nhận biết Bản Ngã
b. Identification with the not-Self
b. Sự đồng hoá với phi-ngã
c. Utilization of the not-Self
c. Sử dụng phi-ngã
d. Manipulation of the not-Self
d. Điều khiển phi-ngã
e. Final rejection of the not-Self by the Self.
e. Sự khước từ cuối cùng đối với phi-ngã bởi Bản Ngã.
424. In a state of Perfection, it is the Divine Self who is consciously aware. Personality consciousness, and even causally-based soul consciousness have been transcended.
424. Trong trạng thái Toàn Hảo, chính Đại Ngã thiêng liêng là Đấng có nhận biết một cách hữu thức. Tâm thức phàm ngã, và ngay cả tâm thức linh hồn đặt nền trên thể nguyên nhân, đều đã được vượt qua.
He hears the note of nature and that of his monad;
Ngài nghe âm điệu của thiên nhiên và âm điệu của chân thần của Ngài;
425. This, we decided, could occur at the point of taking the fourth initiation.
425. Chúng ta đã quyết định rằng điều này có thể xảy ra vào lúc tiếp nhận lần điểm đạo thứ tư.
426. The note of nature relates to the four elements which rule the lower worlds, over which the initiate of the fourth degree has now triumphed.
426. Âm điệu của thiên nhiên liên hệ với bốn nguyên tố cai quản các cõi thấp, mà điểm đạo đồ cấp bốn nay đã chiến thắng.
427. In terms of perception, the “Highest and the Lowest Meet”, for the high note of the Monad and the low note of nature are heard simultaneously.
427. Xét theo phương diện tri giác, “Cao Nhất và Thấp Nhất Gặp Nhau”, vì âm điệu cao của Chân thần và âm điệu thấp của thiên nhiên được nghe đồng thời.
he recognises their identity, utilises their vibration, and passes rapidly through the three stages of Creator, Preserver and Destroyer.
Ngài nhận ra bản sắc của chúng, sử dụng rung động của chúng, và nhanh chóng đi qua ba giai đoạn của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt.
428. The consciousness of the one possessing “Perfected Knowledge” or “All Knowledge” is exalted. It reaches the heights of Spirit and the depths of matter.
428. Tâm thức của người sở hữu “Tri thức Toàn hảo” hay “Toàn Tri” được nâng cao. Nó vươn tới những đỉnh cao của Tinh thần và những chiều sâu của vật chất.
429. The one who has reached this stage realizes that Spirit and matter are one, and that he is both of them.
429. Người đã đạt đến giai đoạn này chứng nghiệm rằng Tinh thần và vật chất là một, và rằng y là cả hai.
[Page 201]
[Page 201]
He touches or feels the vibration of the form or not-self in all its various grades, recognises his identity in time and space, and for purposes of existence or being and by means of the three Laws of Economy, Attraction and Synthesis utilises, blends and eventually dissociates himself.
Ngài chạm hay cảm nhận rung động của hình tướng hay phi-ngã trong mọi cấp độ khác nhau của nó, nhận ra bản sắc của Ngài trong thời gian và không gian, và vì những mục đích của sự tồn tại hay bản thể, và bằng ba Định luật Tiết Kiệm, Hấp Dẫn và Tổng Hợp, sử dụng, hòa nhập và cuối cùng tách mình ra.
430. In this section of summation, we are dealing with ultimate realizations (as far a normal humanity is concerned).
430. Trong phần tổng kết này, chúng ta đang đề cập đến những chứng nghiệm tối hậu (xét theo mức độ của nhân loại bình thường).
431. Such a spiritual man:
431. Một con người tinh thần như thế:
a. Utilizes form under the Law of Economy
a. Sử dụng hình tướng dưới Định luật Tiết Kiệm
b. Blends with form under the Law of Attraction
b. Hòa nhập với hình tướng dưới Định luật Hấp Dẫn
c. Dissociates himself from form under the Law of Synthesis
c. Tách mình ra khỏi hình tướng dưới Định luật Tổng Hợp
432. At this stage of evolution, all the senses have been raised to their highest pitch (at least the highest levels permitted discussion in this section of the book).
432. Ở giai đoạn tiến hoá này, mọi giác quan đã được nâng lên đến mức cao nhất của chúng (ít nhất là những mức cao nhất được phép bàn đến trong phần này của quyển sách).
He sees the threefold evolutionary process and by means of the development of the inner vision, sees within the heart of the system macrocosmic and microcosmic, the one SELF in many forms, and finally identifies himself with that one Self by the conscious rejection of the not-self after its complete subjugation and utilisation.
Ngài thấy tiến trình tiến hoá tam phân, và bằng sự phát triển của linh thị bên trong, thấy trong trái tim của hệ thống, đại thiên địa và tiểu thiên địa, một BẢN NGÃ duy nhất trong nhiều hình tướng, và cuối cùng đồng hoá mình với Bản Ngã duy nhất ấy bằng sự khước từ có ý thức đối với phi-ngã sau khi nó đã hoàn toàn bị chế ngự và được sử dụng.
433. We understand that the highest correspondence of sight always involves the sight of an operational trinity.
433. Chúng ta hiểu rằng sự tương ứng cao nhất của thị giác luôn bao hàm việc thấy một Tam Vị đang vận hành.
434. The type of higher sight here discussed necessitates seeing with the heart. It is a sight allied to “Divine Vision” and “Realization”.
434. Loại thị giác cao hơn được bàn đến ở đây đòi hỏi phải thấy bằng tim. Đó là một thị giác đồng minh với “Linh thị Thiêng liêng” và “(sự)chứng nghiệm”.
435. This type of sight is able to discern the one SELF in all tings and also to reject the not-Self if it obscures the One Self.
435. Loại thị giác này có thể phân biện BẢN NGÃ duy nhất trong mọi sự vật và cũng có thể khước từ phi-ngã nếu nó che khuất Bản Ngã duy nhất ấy.
436. It becomes apparent that on the lower turn of the spiral the five senses can more easily be discriminated. When we speak of the higher or highest correspondences of these physical senses, they all seem to coalesce and to serve the same purpose.
436. Rõ ràng là ở vòng xoắn thấp hơn, năm giác quan có thể được phân biệt dễ dàng hơn. Khi chúng ta nói về những tương ứng cao hơn hay cao nhất của các giác quan thể xác này, tất cả chúng dường như hợp lại và cùng phụng sự một mục đích.
d. Tasting. He tastes then finally and discriminates, for taste is the great sense that begins to hold sway during the discriminating process that takes place when the illusory nature of matter is in process of realisation.
d. Nếm. Khi ấy, Ngài rốt ráo nếm và phân biện, vì vị giác là giác quan lớn lao bắt đầu nắm quyền trong tiến trình phân biện diễn ra khi bản chất ảo tưởng của vật chất đang trong tiến trình được chứng nghiệm.
437. Taste is at the stage of evolution here described is much related to the mental processes. Glamor and illusion are seen for what they are, and through an increasingly refined sense of taste, the individual learns to choose that which is more real and reject that which is less so.
437. Vị giác ở giai đoạn tiến hoá được mô tả ở đây liên hệ rất nhiều đến các tiến trình trí tuệ. Ảo cảm và ảo tưởng được thấy đúng như chúng là, và qua một vị giác ngày càng tinh luyện, cá nhân học cách chọn điều chân thực hơn và khước từ điều kém chân thực hơn.
438. If we search the correspondences to the sense of physical taste, we shall see that Discrimination is the mental correspondence.
438. Nếu chúng ta tìm kiếm những tương ứng với giác quan vị giác hồng trần, chúng ta sẽ thấy rằng Phân Biện là sự tương ứng trí tuệ.
439. We often here of “personality taste”. It is interesting that taste is correlated with that dimension of the mental plane (the fourth) on which personality focus and integration occurs.
439. Chúng ta thường nghe nói đến “gu phàm ngã”. Thật thú vị khi vị giác tương ứng với chiều kích của cõi trí (thứ tư) nơi sự tập trung và tích hợp phàm ngã diễn ra.
Discrimination is the educatory process to which the Self subjects itself in the process of developing intuition—that faculty whereby the Self recognises its own essence in and under all forms.
Phân biện là tiến trình giáo dục mà Bản Ngã tự đặt mình vào trong tiến trình phát triển trực giác—năng lực nhờ đó Bản Ngã nhận ra tinh túy của chính nó trong và bên dưới mọi hình tướng.
440. These final sections are incredibly rich and instruct us in the movement whereby a given sense gives way to its higher correspondence. The sense called Discrimination gives place to Intuition, and this process is here described.
440. Những phần cuối này vô cùng phong phú và chỉ dạy chúng ta về sự chuyển động theo đó một giác quan nhất định nhường chỗ cho sự tương ứng cao hơn của nó. Giác quan được gọi là Phân Biện nhường chỗ cho Trực Giác, và tiến trình này được mô tả ở đây.
441. We are given an excellent definition of the faculty called Intuition. As described (though a higher correspondence to the sense of sight) it could be understood as a higher correspondence to the sense of smell, for the sense of smell also seeks out the essence under all forms.
441. Chúng ta được trao cho một định nghĩa tuyệt vời về năng lực gọi là Trực Giác. Như được mô tả (dù là một tương ứng cao hơn của thị giác), nó cũng có thể được hiểu như một tương ứng cao hơn của khứu giác, vì khứu giác cũng tìm ra tinh túy bên dưới mọi hình tướng.
442. We note that no external agency is submitting the Self to the curriculum of Discrimination. The Self subjects itself to this curriculum, and that subjection occurs at a fairly advanced stage of evolution.
442. Chúng ta lưu ý rằng không có tác nhân bên ngoài nào bắt Bản Ngã phải theo học chương trình Phân Biện. Bản Ngã tự đặt mình vào chương trình ấy, và sự tự đặt mình đó xảy ra ở một giai đoạn tiến hoá khá cao.
Discrimination concerns the duality of nature, the Self and the not-self, and is the means of their differentiation in the process of abstraction;
Phân biện liên quan đến nhị nguyên tính của bản chất, Bản Ngã và phi-ngã, và là phương tiện để biến phân chúng trong tiến trình trừu xuất;
443. At the fourth initiation, ruled in part by Mercury and Saturn, the Self must be discriminated from the not-Self. It is at this initiation that a significant abstraction occurs, for the consciousness is removed from the confines of the causal body and abstracted or elevated into buddhi consciousness.
443. Ở lần điểm đạo thứ tư, được cai quản một phần bởi Sao Thủy và Sao Thổ, Bản Ngã phải được phân biện khỏi phi-ngã. Chính ở lần điểm đạo này mà một sự trừu xuất quan trọng xảy ra, vì tâm thức được rút ra khỏi những giới hạn của thể nguyên nhân và được trừu xuất hay nâng lên vào tâm thức Bồ đề.
444. This is another way of saying that Discrimination serves buddhi, and through its proper exercise, gives place to intuition, the major faculty of the buddhic plane.
444. Đây là một cách khác để nói rằng Phân Biện phụng sự Bồ đề, và qua việc vận dụng đúng đắn, nó nhường chỗ cho trực giác, năng lực chủ yếu của cõi Bồ đề.
the intuition concerns unity and is the capacity of the Self to contact other selves, and is not a faculty whereby the not-self is contacted.
trực giác liên quan đến hợp nhất và là khả năng của Bản Ngã tiếp xúc với các bản ngã khác, chứ không phải là một năng lực nhờ đó phi-ngã được tiếp xúc.
445. This statement relates the Intuition to the Law of Magnetic Impulse (esoterically the Law of Polar Union). Under this law, soul contacts soul. Through the intuition (related as it is to the spiritual triad) Self contacts Self. The relationship is more Triad to Triad, or Spirit to Spirit.
445. Phát biểu này liên hệ Trực Giác với Định luật Xung Động Từ Tính (một cách huyền bí là Định luật Hợp Nhất Phân Cực). Dưới định luật này, linh hồn tiếp xúc với linh hồn. Qua trực giác (vì nó liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần), Bản Ngã tiếp xúc với Bản Ngã. Mối liên hệ này đúng hơn là Tam nguyên tinh thần với Tam nguyên tinh thần, hay Tinh thần với Tinh thần.
446. The main idea to extract is that Intuition does not concern contact with the not-Self.
446. Ý tưởng chính cần rút ra là Trực Giác không liên quan đến sự tiếp xúc với phi-ngã.
Hence, its rarity these days owing to the intense individualisation of the Ego, and its identification with the form—necessary identification at this particular time.
Do đó, ngày nay nó hiếm hoi vì sự biệt ngã hóa mãnh liệt của Chân ngã, và sự đồng hoá của nó với hình tướng—một sự đồng hoá cần thiết vào thời điểm đặc biệt này.
447. An important idea is presented. Advanced man is subject to an “intense individualisation of the Ego”. He is identified with his lower self and with the world in which that lower self is focussed. He may also be identified with his individualized Ego on its own plane and thus be preoccupied with the content of his causal body. In neither case will the Intuition be allowed full sway.
447. Một ý tưởng quan trọng được trình bày. Con người tiến bộ chịu sự chi phối của một “sự biệt ngã hóa mãnh liệt của Chân ngã”. Y đồng hoá với phàm ngã thấp của mình và với thế giới trong đó phàm ngã thấp ấy được tập trung. Y cũng có thể đồng hoá với Chân ngã đã được biệt ngã hóa của mình trên cõi riêng của nó và do đó bận tâm với nội dung của thể nguyên nhân. Trong cả hai trường hợp, Trực Giác sẽ không được phép nắm quyền trọn vẹn.
448. The consciousness must be somewhat abstracted from the form, if intuition is to flash forth with frequency.
448. Tâm thức phải được trừu xuất phần nào khỏi hình tướng, nếu trực giác muốn lóe lên thường xuyên.
As the sense of taste on the higher planes is developed, it leads one to ever finer distinctions till one is finally led through the form, right to the heart of one's nature.
Khi vị giác trên các cõi cao hơn được phát triển, nó dẫn con người đến những phân biệt ngày càng tinh tế hơn cho đến khi cuối cùng người ta được dẫn xuyên qua hình tướng, đi thẳng đến trái tim của bản chất mình.
449. We are reminded that taste is discriminatory and that the discriminations to be made are ever more refined.
449. Chúng ta được nhắc rằng vị giác có tính phân biện và những sự phân biện cần được thực hiện ngày càng tinh tế hơn.
450. It is important to realize that all senses lead from a preoccupation with form and the information it can convey, to an intense focus on that which underlies the form. All senses, therefore, converge at an identical peak of identification and spiritual realization.
450. Điều quan trọng là phải chứng nghiệm rằng mọi giác quan đều dẫn từ sự bận tâm với hình tướng và thông tin mà nó có thể chuyển tải, đến một sự tập trung mãnh liệt vào điều nằm bên dưới hình tướng. Vì vậy, mọi giác quan đều hội tụ tại một đỉnh điểm đồng nhất của sự đồng hoá và chứng nghiệm tinh thần.
451. VSK would have us note the four basics of taste: sweet, salty, bitter, sour. And their esoteric correspondences.
451. VSK muốn chúng ta lưu ý bốn cơ bản của vị giác: ngọt, mặn, đắng, chua. Và những tương ứng huyền bí của chúng.
452. Planets related to these basics are Venus, Saturn and Mars. The planet associated with that which is sour is debatable—somewhat a mixture of Mars and Saturn.
452. Các hành tinh liên hệ với những cơ bản này là Sao Kim, Sao Thổ và Sao Hỏa. Hành tinh gắn với vị chua còn có thể tranh luận—phần nào là sự pha trộn giữa Sao Hỏa và Sao Thổ.
453. The “heart of one’s nature” is the Spirit itself, pure being.
453. “Trái tim của bản chất mình” chính là Tinh thần, bản thể thuần túy.
e. Smelling is the faculty of keen perception that eventually brings a man back to the source from whence he came, the archetypal plane, the plane where his true home is to be found.
e. Ngửi là năng lực tri giác sắc bén, cuối cùng đưa con người trở về nguồn cội từ đó y đã đến, cõi nguyên mẫu, cõi nơi quê hương đích thực của y được tìm thấy.
454. The archetypal plane, in this context, is the monadic plane. Thus smelling lead not only the atmic plane with which it is correspondentially associated, but to the monadic plane—man’s true home.
454. Trong ngữ cảnh này, cõi nguyên mẫu là cõi chân thần. Vì vậy, ngửi không chỉ dẫn đến cõi atma, cõi mà nó được liên kết theo tính tương ứng, mà còn đến cõi chân thần—quê hương đích thực của con người.
455. One would wonder whether the higher correspondences to the sense of smell would help an individual determine his monadic ray and trace his way back to his monadic home.
455. Người ta có thể tự hỏi liệu những tương ứng cao hơn của khứu giác có giúp một cá nhân xác định cung chân thần của mình và lần theo đường trở về quê hương chân thần của mình hay không.
456. This may fairly be said of idealism which is naturally related to the number six just as the Monad is (finding its residence on the sixth plane numbering from ‘below’). The highest sort of idealism lifts to the Monad. The Monad is, thus, the true ‘object’ of the idealistic impulse, though this is probably not recognized by the idealist.
456. Điều này có thể được nói một cách khá xác đáng về chủ nghĩa lý tưởng, vốn tự nhiên liên hệ với con số sáu cũng như Chân thần vậy (vì nó cư ngụ trên cõi thứ sáu tính từ “dưới” lên). Loại chủ nghĩa lý tưởng cao nhất nâng lên đến Chân thần. Vì vậy, Chân thần là “đối tượng” đích thực của xung lực lý tưởng, dù điều này có lẽ không được người theo chủ nghĩa lý tưởng nhận ra.
A perception of difference has been cultivated that has caused a divine discontent within the [Page 202] heart of the Pilgrim in the far country;
Một sự nhận biết về khác biệt đã được vun bồi, và điều đó đã gây nên một nỗi bất mãn thiêng liêng trong [Page 202] tim của Người Hành Hương nơi xứ xa;
457. “The Pilgrim in the far country” is the emanated extension of the Monad—i.e., the Jiva.
457. “Người Hành Hương nơi xứ xa” là sự phát xạ mở rộng của chân thần—tức Jiva.
458. How interesting that “a perception of difference” should awaken divine discontent! Of course the Spirit/Monad on its own plane perceives no essential difference.
458. Thật thú vị biết bao khi “một sự nhận biết về khác biệt” lại đánh thức nỗi bất mãn thiêng liêng! Dĩ nhiên, Tinh thần/chân thần trên cõi riêng của nó không nhận biết bất kỳ khác biệt bản chất nào.
459. We note that the “perception of difference” has been “cultivated”. This has occurred under the individualized mind, and is most necessary phase of evolution. The Spirit, however, considers this perception of difference a limitation and wishes to transcend it.
459. Chúng ta lưu ý rằng “sự nhận biết về khác biệt” đã được “vun bồi”. Điều này đã xảy ra dưới hạ trí đã được biệt ngã hóa, và là một giai đoạn rất cần thiết của tiến hoá. Tuy nhiên, Tinh thần xem sự nhận biết về khác biệt này là một giới hạn và muốn vượt lên trên nó.
460. It is also interesting that divine discontent (related to Neptune) awakens in the heart of the Pilgrim. Neptune, the planet of longing, in this case, is the longing for home arising within the heart. Neptune, as the primary second ray planet within our system (monadically considered—cf. EP I 420) is correctly placed in the heart at an advanced stage of development. Earlier, the Neptunian longing works through the solar plexus. It is a vague longing for the ideal. All may experience it, though all will not know the object or state for which they long.
460. Cũng thật thú vị khi nỗi bất mãn thiêng liêng (liên hệ với Sao Hải Vương) lại thức dậy trong tim của Người Hành Hương. Trong trường hợp này, Sao Hải Vương, hành tinh của khát vọng, là nỗi khát vọng hướng về quê nhà khởi lên trong tim. Sao Hải Vương, với tư cách là hành tinh cung hai chủ yếu trong hệ thống của chúng ta (xét theo phương diện chân thần—x. EP I 420), được đặt đúng vào tim ở một giai đoạn phát triển cao. Trước đó, khát vọng kiểu Hải Vương tinh hoạt động qua tùng thái dương. Đó là một khát vọng mơ hồ hướng đến lý tưởng. Mọi người đều có thể trải nghiệm nó, dù không phải ai cũng biết đối tượng hay trạng thái mà họ khát khao.
the prodigal son draws comparisons; he has developed the other four senses, and he utilises them.
người con hoang đàng bắt đầu so sánh; y đã phát triển bốn giác quan kia, và y sử dụng chúng.
461. The “prodigal son” is advancing rapidly, but he is not yet consciously oriented towards “home”—the monadic plane.
461. “Người con hoang đàng” đang tiến bộ rất nhanh, nhưng y vẫn chưa có ý thức hướng về “nhà”—cõi chân thần.
Now comes in the faculty of vibratory recognition of the home vibration, if it might be so expressed.
Giờ đây xuất hiện năng lực nhận biết rung động của rung động quê nhà, nếu có thể diễn đạt như vậy.
462. This will begin as the individual nears the period of the third initiation and will intensify thereafter.
462. Điều này sẽ bắt đầu khi cá nhân tiến gần đến thời kỳ của lần điểm đạo thứ ba và sẽ tăng cường sau đó.
It is the spiritual counterpart of that sense which in the animal, the pigeon and other birds, leads them back unerringly to the familiar spot from whence they originally came.
Đó là đối phần tinh thần của giác quan mà nơi loài vật, chim bồ câu và các loài chim khác, dẫn chúng quay về không sai lạc đến chốn quen thuộc mà từ đó ban đầu chúng đã ra đi.
463. We may expect a certain unerring quality in the higher correspondences to the sense of smell. DK is giving us a subtle assurance that we will find our way “home”.
463. Chúng ta có thể chờ đợi một phẩm tính không sai lạc nào đó trong các tương ứng cao hơn của khứu giác. Chân sư DK đang trao cho chúng ta một sự bảo đảm tinh tế rằng chúng ta sẽ tìm được đường “về nhà”.
464. He is also suggesting that, however buried the memory may be, the monadic plane is a “familiar spot” to us—as Spirits.
464. Ngài cũng đang gợi ý rằng, dù ký ức có bị chôn vùi đến đâu, cõi chân thần vẫn là một “chốn quen thuộc” đối với chúng ta—với tư cách là các Tinh thần.
It is the apprehension of the vibration of the Self, and a swift return by means of that instinct to the originating source.
Đó là sự nắm bắt rung động của Chân ngã, và một sự trở về mau lẹ nhờ bản năng ấy đến nguồn cội phát sinh.
465. There is an ongoing issue: does the higher sense of smell lead to the atmic plane or to the monadic plane, or to both? Probably, to both, though it may be a higher correspondence of the sixth sense, the mind, which leads finally to the monadic home. The number six tells the story.
465. Có một vấn đề vẫn đang được bàn đến: liệu giác quan khứu giác cao hơn dẫn đến cõi atma hay cõi chân thần, hay đến cả hai? Có lẽ là đến cả hai, dù nó có thể là một tương ứng cao hơn của giác quan thứ sáu, tức trí tuệ, vốn cuối cùng dẫn về quê nhà chân thần. Con số sáu kể lên câu chuyện ấy.
466. We note that the return is “swift” suggesting the “progress onwards” of the Spirit—a driving forward through the space that separates the longing consciousness from its Spirit-home.
466. Chúng ta lưu ý rằng sự trở về là “mau lẹ”, gợi ý về “sự tiến bước” của Tinh thần—một sự thúc đẩy tiến lên xuyên qua khoảng không ngăn cách tâm thức khát vọng với quê nhà Tinh thần của nó.
467. There are a number of instincts related to the higher life: spiritual instinct (first instinct); intuitive instinct (third initiation); and, perhaps, what we might call ‘ontological instinct’ or ‘existential instinct’ relating to Mastership and beyond.
467. Có một số bản năng liên hệ với đời sống cao hơn: bản năng tinh thần (bản năng thứ nhất); bản năng trực giác (lần điểm đạo thứ ba); và có lẽ là điều mà chúng ta có thể gọi là ‘bản năng bản thể học’ hay ‘bản năng hiện sinh’, liên hệ với quả vị Chân sư và vượt xa hơn nữa.
468. We have been discussing some very intricate matters in relation to the physical senses and their extensions, and, of course, we have only scratched the surface. This section of the book requires much pondering. DK suggested that we visualize the nature and meaning of the higher correspondences to the physical senses. Perhaps that is all we can do at this point. But one day, before long, the presence of these senses will make itself known to us and we will begin to apprehend in a non-theoretical manner what they reveal.
468. Chúng ta đã bàn đến một số vấn đề rất tinh vi liên quan đến các giác quan hồng trần và những phần mở rộng của chúng, và dĩ nhiên, chúng ta mới chỉ chạm vào bề mặt. Phần này của cuốn sách đòi hỏi phải suy ngẫm rất nhiều. Chân sư DK gợi ý rằng chúng ta hãy hình dung bản chất và ý nghĩa của các tương ứng cao hơn đối với các giác quan hồng trần. Có lẽ đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm vào lúc này. Nhưng một ngày không xa, sự hiện diện của các giác quan này sẽ tự biểu lộ cho chúng ta biết, và chúng ta sẽ bắt đầu nắm bắt một cách không còn thuần lý thuyết điều mà chúng tiết lộ.
TCF 202-213 S2S9
1. We recall our context—the senses and centres.
1. Chúng ta nhớ lại bối cảnh của mình—các giác quan và các trung tâm.
The consideration of this subject awakens the realisation of the vastness of the region of thought concerned—the region of the whole evolutionary development of the human being.
Việc khảo sát chủ đề này đánh thức sự nhận biết tính bao la của lĩnh vực tư tưởng được liên hệ—lĩnh vực của toàn bộ sự phát triển tiến hoá của con người.
2. Could we but trace the evolution of humanity, it would reveal the unfoldment of the senses. Along with this method of tracing unfoldment, we could trace the unfoldment of the petals of the egoic lotus. The two unfoldments obviously parallel each other.
2. Giá như chúng ta có thể truy theo tiến hoá của nhân loại, điều đó sẽ cho thấy sự khai mở của các giác quan. Cùng với phương pháp truy theo sự khai mở này, chúng ta có thể truy theo sự khai mở của các cánh hoa của hoa sen chân ngã. Hai sự khai mở ấy hiển nhiên song hành với nhau.
3. It is probable that response to sound correlates with the unfoldment of the knowledge petals; response to touch with the love petals; and response to sight, the sacrifice petals. This analogy is only general and does not mean that acute touch or sight will not be found during the lengthy unfoldment of the knowledge petals.
3. Có lẽ sự đáp ứng với âm thanh tương quan với sự khai mở của các cánh hoa tri thức; sự đáp ứng với xúc chạm tương quan với các cánh hoa bác ái; và sự đáp ứng với thị giác tương quan với các cánh hoa hi sinh. Sự tương đồng này chỉ có tính khái quát và không có nghĩa là xúc giác hay thị giác sắc bén sẽ không được tìm thấy trong suốt tiến trình dài lâu khai mở các cánh hoa tri thức.
4. From this perspective, the emergence of sight correlates with the process of initiation (which necessitates the unfoldment of the sacrifice petals).
4. Từ góc nhìn này, sự xuất hiện của thị giác tương quan với tiến trình điểm đạo (điều đòi hỏi sự khai mở của các cánh hoa hi sinh).
Yet all that is possible here, as elsewhere, is to indicate lines of thought for careful pondering, and to emphasise certain ideas which may serve as the foundation thoughts for the future mental activity of the immediate generation.
Tuy nhiên, ở đây cũng như ở nơi khác, tất cả những gì có thể làm chỉ là chỉ ra những đường hướng tư tưởng để suy ngẫm cẩn trọng, và nhấn mạnh một số ý tưởng nào đó có thể dùng làm những tư tưởng nền tảng cho hoạt động trí tuệ tương lai của thế hệ trước mắt.
5. VSK states: ‘We see here emphasized that this is foundational for mental activity of the immediate generation. Does this include us, or are we now past the stage of mental development? What is meant by “immediate generation”? Why would mental activity, and not something more holistic or intuitional be suggested?
5. VSK nói: ‘Ở đây chúng ta thấy được nhấn mạnh rằng điều này là nền tảng cho hoạt động trí tuệ của thế hệ trước mắt. Điều này có bao gồm chúng ta không, hay hiện nay chúng ta đã vượt qua giai đoạn phát triển trí tuệ ấy rồi? “Thế hệ trước mắt” có nghĩa là gì? Tại sao lại gợi ý hoạt động trí tuệ, chứ không phải điều gì toàn diện hơn hay trực giác hơn?
6. It is suggested that there is a close correlation between the senses and the mind, both ruled by the number five.
6. Người ta gợi ý rằng có một sự tương quan chặt chẽ giữa các giác quan và trí tuệ, cả hai đều được cai quản bởi con số năm.
7. It is also suggested that the role of the senses (and of the higher senses or faculties) in the unfoldment of human consciousness is not well understood, and that much mental activity must be expended on this subject.
7. Cũng có ý rằng vai trò của các giác quan (và của các giác quan hay năng lực cao hơn) trong sự khai mở của tâm thức con người chưa được thấu hiểu đầy đủ, và rằng phải dành nhiều hoạt động trí tuệ cho chủ đề này.
The following facts must also be borne in mind when considering the matter:
Cũng phải ghi nhớ những sự kiện sau đây khi xem xét vấn đề này:
a. That the senses have been dealt with in this division of our Treatise on Cosmic Fire because they concern the material form.
a. Rằng các giác quan đã được đề cập trong phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ của chúng ta vì chúng liên quan đến hình tướng vật chất.
8. We remember that this section of the Treatise is especially concerned with an analysis of the material form.
8. Chúng ta nhớ rằng phần này của Luận thuyết đặc biệt quan tâm đến việc phân tích hình tướng vật chất.
Strictly speaking the five senses, as we know them, are the means of contact built up by the Thinker (polarised in his etheric body) and find their expression in the physical form in those nerve centres, brain cells, ganglia and plexus which exoteric science recognises.
Nói một cách chính xác, năm giác quan, như chúng ta biết, là những phương tiện tiếp xúc được Thức giả xây dựng nên (phân cực trong thể dĩ thái của y) và tìm thấy sự biểu lộ của chúng trong hình thể hồng trần nơi những trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch thần kinh và đám rối mà khoa học ngoại môn thừa nhận.
9. The Tibetan is speaking “strictly”.
9. Chân sư Tây Tạng đang nói một cách “chính xác”.
10. The physical body (in this solar system) is never a principle, and the true physical nature of man is etheric.
10. Thể xác (trong hệ mặt trời này) không bao giờ là một nguyên khí, và bản chất hồng trần đích thực của con người là dĩ thái.
11. The archetypal polarization of the Thinker is, initially, in the etheric body, but there can be no doubt that the ability to sense the energy flows of the etheric body increases dramatically with the refinement which evolution brings.
11. Sự phân cực nguyên mẫu của Thức giả, lúc đầu, ở trong thể dĩ thái, nhưng không thể nghi ngờ rằng khả năng cảm nhận các dòng năng lượng của thể dĩ thái tăng lên mạnh mẽ cùng với sự tinh luyện mà tiến hoá mang lại.
12. As human development proceeded, the focus of human consciousness ascends through the personality vehicles and beyond, bringing an ascending series of senses (or psychic powers) under generation and cultivation.
12. Khi sự phát triển của con người tiến triển, tiêu điểm tâm thức con người đi lên xuyên qua các vận cụ của phàm ngã và vượt xa hơn nữa, đưa một chuỗi tăng dần các giác quan (hay năng lực thông linh) vào tiến trình phát sinh và vun bồi.
13. The expression of these “means of contact” through “nerve centres, brain cells, ganglia and plexus” is merely a reflection of energy structures to be found within the etheric body, and with roots even deeper in the subtle nature of man.
13. Sự biểu lộ của những “phương tiện tiếp xúc” này qua “các trung tâm thần kinh, tế bào não, hạch thần kinh và đám rối” chỉ là một phản ánh của các cấu trúc năng lượng được tìm thấy trong thể dĩ thái, và còn có gốc rễ sâu hơn nữa trong bản chất vi tế của con người.
14. We note that the senses are “built up by the Thinker”. This means that they are derived from the potency of the soul on its own plane as that soul is focussed within the various vehicles.
14. Chúng ta lưu ý rằng các giác quan được “Thức giả xây dựng nên”. Điều này có nghĩa là chúng bắt nguồn từ tiềm lực của linh hồn trên cõi riêng của nó khi linh hồn ấy được tập trung trong các vận cụ khác nhau.
15. A study of occult history indicates that, over time, there has been a considerable development of the senses. Even the five normal senses were not always as they are now.
15. Một nghiên cứu về lịch sử huyền bí học cho thấy rằng, theo thời gian, đã có một sự phát triển đáng kể của các giác quan. Ngay cả năm giác quan thông thường cũng không phải lúc nào cũng như hiện nay.
b. That these senses for all purposes of present manifestation, have their focal point on the astral plane and are therefore largely under the stimulating action of the solar plexus—that great focal point in the centre of the body which is the stimulating agent for most of the human family at this time.
b. Rằng các giác quan này, xét cho mọi mục đích của sự biểu hiện hiện tại, có tiêu điểm của chúng trên cõi cảm dục và vì vậy phần lớn nằm dưới tác động kích thích của tùng thái dương—tiêu điểm lớn lao ấy ở trung tâm cơ thể, vốn là tác nhân kích thích đối với phần lớn gia đình nhân loại vào lúc này.
16. VSK inquires: If Thinker is polarised in the etheric, why is the focal point on the astral plane? Or is this just the majority? What are the other possibilities?
16. VSK hỏi: Nếu Thức giả phân cực trong thể dĩ thái, tại sao tiêu điểm lại ở trên cõi cảm dục? Hay đây chỉ là đa số? Những khả năng khác là gì?
17. It is suggested that the Tibetan speaks of the astral plane because of the great sensitivity of that vehicle—especially in this astral-buddhic solar system.
17. Người ta gợi ý rằng Chân sư Tây Tạng nói đến cõi cảm dục vì tính nhạy cảm lớn lao của vận cụ ấy—đặc biệt trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này.
18. It is also to be remembered that the majority of human beings is, at this time, astrally focussed, hence it is natural that the solar plexus would be the principle source for sensory stimulation.
18. Cũng cần nhớ rằng đa số nhân loại hiện nay được tập trung trên cõi cảm dục, vì thế việc tùng thái dương là nguồn chính của sự kích thích giác quan là điều tự nhiên.
19. We note, however, the use of the word “largely” which suggests that the senses can be stimulated by other centers.
19. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý việc dùng từ “phần lớn”, điều này gợi ý rằng các giác quan có thể được kích thích bởi những trung tâm khác.
20. As evolution proceeds, the focus of human consciousness also rises, and with this ascent, different senses will come under generation and cultivation. The senses ‘left behind’, as it were, become automatic in their functioning.
20. Khi tiến hoá tiếp diễn, tiêu điểm tâm thức con người cũng nâng lên, và cùng với sự đi lên này, những giác quan khác nhau sẽ được đưa vào tiến trình phát sinh và vun bồi. Những giác quan bị “bỏ lại phía sau”, có thể nói như vậy, trở nên tự động trong hoạt động của chúng.
c. That as the higher triangle comes into play and the polarisation steps up to the higher centres, the senses begin to make themselves felt on the mental level and [Page 203] man becomes aware on that plane.
c. Rằng khi tam giác cao hơn bắt đầu hoạt động và sự phân cực nâng lên các trung tâm cao hơn, các giác quan bắt đầu tự biểu lộ trên cấp độ trí tuệ và [Page 203] con người trở nên nhận biết trên cõi ấy.
21. We remember that man controlled from the astral plane is focussed in the base of the spine, the solar plexus and the heart. (TCF 169)
21. Chúng ta nhớ rằng con người bị kiểm soát từ cõi cảm dục thì được tập trung ở đáy cột sống, tùng thái dương và tim. (TCF 169)
22. Man controlled from the mental plane is focussed in the base of the spine, the heart and the throat. We can consider this triangle representative the “higher centres” here mentioned.
22. Con người bị kiểm soát từ cõi trí thì được tập trung ở đáy cột sống, tim và trung tâm cổ họng. Chúng ta có thể xem tam giác này là đại diện cho các “trung tâm cao hơn” được nhắc đến ở đây.
23. It becomes clear that as the senses begin to make themselves felt on any plane, man becomes aware on that plane.
23. Rõ ràng là khi các giác quan bắt đầu tự biểu lộ trên bất kỳ cõi nào, con người trở nên nhận biết trên cõi ấy.
24. It also becomes clear that it is the increasing circulation of energy through the chakras that simulates the centers. This energy, we recall, comes ultimately from the Monad.
24. Cũng trở nên rõ ràng rằng chính sự lưu chuyển năng lượng ngày càng tăng qua các luân xa đã kích thích các trung tâm. Chúng ta nhớ rằng năng lượng này rốt cuộc đến từ chân thần.
We have in the human body an interesting reflection of the transference of the polarisation from the Personality to the Ego, or into the causal body, in the division that exists between the higher and the lower mental planes, and the dividing line of the diaphragm between the higher and the lower portions of the body.
Trong thể người, chúng ta có một phản ánh thú vị về sự chuyển dịch phân cực từ phàm ngã sang Chân ngã, hay vào trong thể nguyên nhân, trong sự phân chia tồn tại giữa cõi hạ trí và cõi thượng trí, và đường phân cách của cơ hoành giữa phần trên và phần dưới của cơ thể.
25. Let us consider three divisions:
25. Chúng ta hãy xét ba sự phân chia:
a. The division between the “Personality” and the “Ego”
a. Sự phân chia giữa “phàm ngã” và “Chân ngã”
b. The division between the lower and higher mental plane. On the lower mental plane we find the polarization of man as personality. On the higher mental plane, man polarizes as soul.
b. Sự phân chia giữa cõi hạ trí và cõi thượng trí. Trên cõi hạ trí, chúng ta thấy sự phân cực của con người với tư cách phàm ngã. Trên cõi thượng trí, con người phân cực như linh hồn.
c. The diaphragm as the dividing line between the higher and lower portions of the body.
c. Cơ hoành như đường phân cách giữa phần trên và phần dưới của cơ thể.
d. The chakras below the diaphragm are used largely by the personality, though such chakras can come under the conscious directorship of the soul and even Spirit, as needed. The base of the spine center, for instance, is especially active during the later phases of evolution when soul and Spirit emerge into power.
d. Các luân xa dưới cơ hoành phần lớn được phàm ngã sử dụng, dù những luân xa ấy có thể được đặt dưới sự chỉ đạo hữu thức của linh hồn và thậm chí của Tinh thần, khi cần. Chẳng hạn, trung tâm đáy cột sống đặc biệt hoạt động mạnh trong các giai đoạn sau của tiến hoá khi linh hồn và Tinh thần xuất hiện trong quyền năng.
e. The chakras above the diaphragm are those used more usually by the soul, but certain of them may also be in the service of the personality.
e. Các luân xa trên cơ hoành là những luân xa thường được linh hồn sử dụng hơn, nhưng một số trong đó cũng có thể phục vụ phàm ngã.
f. These dividing lines are to kept firmly in mind when considering the contrast between personality and soul expression.
f. Những đường phân cách này cần được ghi nhớ vững chắc khi xem xét sự tương phản giữa biểu hiện của phàm ngã và linh hồn.
Below the diaphragm we have the four lower centres:
Dưới cơ hoành, chúng ta có bốn trung tâm thấp:
1. The solar plexus.
1. Tùng thái dương.
2. The spleen.
2. Lá lách.
3. Organs of generation.
3. Các cơ quan sinh sản.
4. Base of the spine.
4. Đáy cột sống.
26. VSK inquires: We see the spleen placed here. Under what circumstances is the spleen used?
26. VSK hỏi: Chúng ta thấy lá lách được đặt ở đây. Trong những hoàn cảnh nào thì lá lách được sử dụng?
27. The spleen, of course, is not one of the major centers, but, in a way, it completes what is knows as the “lower quaternary”—in this case, those chakras through which the fourfold personality expresses.
27. Dĩ nhiên, lá lách không phải là một trong những trung tâm chính, nhưng theo một cách nào đó, nó hoàn tất điều được gọi là “bộ tứ thấp”—trong trường hợp này là những luân xa qua đó phàm ngã tứ phân biểu lộ.
28. VSK remarks: We see the ‘organs of generation’ mentioned, and not the ‘sacral centre’ – varying emphasis between externalized bodily organs and the energetic systems.
28. VSK nhận xét: Chúng ta thấy “các cơ quan sinh sản” được nhắc đến, chứ không phải “trung tâm xương cùng” – một sự thay đổi nhấn mạnh giữa các cơ quan thân thể đã ngoại hiện và các hệ thống năng lượng.
29. As we have studied various lists, we have noted that physical and etheric enters are frequently intermixed. This may serve the purpose, on occasion, of reminding us that the etheric-physical vehicle is really one vehicle.
29. Khi nghiên cứu nhiều danh sách khác nhau, chúng ta đã lưu ý rằng các trung tâm hồng trần và dĩ thái thường xuyên bị trộn lẫn với nhau. Điều này đôi khi có thể nhằm nhắc chúng ta rằng vận cụ dĩ thái-hồng trần thực sự là một vận cụ.
Above are the three higher:
Bên trên là ba trung tâm cao:
1. Heart.
1. Tim.
2. Throat.
2. Cổ họng.
3. Head.
3. Đầu.
In the microcosm we have the lower quaternary separated from the Triad in a similar manner, and this analogy will bear pondering upon.
Trong tiểu thiên địa, chúng ta có bộ tứ thấp được tách khỏi Tam nguyên tinh thần theo cách tương tự, và sự tương đồng này đáng để suy ngẫm.
30. The Tibetan would have us ponder on an analogy. As the three major centers above the diaphragm (excluding the ajna center) are separated from the four below (including the spleen), so the lower quaternary we call the personality of man is separated from the “Triad”—i.e., the spiritual triad.
30. Chân sư Tây Tạng muốn chúng ta suy ngẫm về một sự tương đồng. Cũng như ba trung tâm chính trên cơ hoành (không kể trung tâm ajna) được tách khỏi bốn trung tâm bên dưới (kể cả lá lách), thì bộ tứ thấp mà chúng ta gọi là phàm ngã của con người cũng được tách khỏi “Tam nguyên tinh thần”—tức Tam Nguyên Tinh Thần.
31. The division of four below and three above is frequently found. It must be remembered, however, that another division – four above and three below is also frequently found, as in relation to the four ethers and three dense planes of both the systemic physical plane and the cosmic physical plane.
31. Sự phân chia bốn ở dưới và ba ở trên thường được thấy. Tuy nhiên, cũng phải nhớ rằng một sự phân chia khác—bốn ở trên và ba ở dưới—cũng thường được thấy, như trong mối liên hệ với bốn dĩ thái và ba cõi đậm đặc của cả cõi hồng trần hệ thống lẫn cõi hồng trần vũ trụ.
32. It must also be remembered that there is a similarity between the lower quaternary and the Triad. The lower quaternary is the personality of the Ego (soul, on the higher mental plane). The Triad is the personality of the Monad. Both are, in their own ways, personalities. Sometimes the term “Ego” is used to indicate the spiritual triad.
32. Cũng phải nhớ rằng có một sự tương tự giữa bộ tứ thấp và Tam nguyên tinh thần. Bộ tứ thấp là phàm ngã của chân ngã (linh hồn, trên cõi thượng trí). Tam nguyên tinh thần là phàm ngã của chân thần. Cả hai, theo cách riêng của mình, đều là các phàm ngã. Đôi khi thuật ngữ “Chân ngã” được dùng để chỉ Tam Nguyên Tinh Thần.
33. VSK inquires: If the personality has its ‘home’ on the mental plane, is the Triad’s home not on the atmic plane?
33. VSK hỏi: Nếu phàm ngã có “quê nhà” của nó trên cõi trí, thì quê nhà của Tam nguyên tinh thần chẳng phải ở trên cõi atma sao?
34. This analogy seems sound. The atmic plane, in addition to being a plane of will, is one of high mental focus (being the third subplane of the cosmic physical plane—three being one of the key numbers of intelligence.).
34. Sự tương đồng này có vẻ vững chắc. Cõi atma, ngoài việc là một cõi của ý chí, còn là một cõi có sự tập trung trí tuệ cao (vì là cõi phụ thứ ba của cõi hồng trần vũ trụ—ba là một trong những con số chủ chốt của trí tuệ).
35. VSK suggests that the buddhic plane would be considered the heart of the Triad.
35. VSK gợi ý rằng cõi Bồ đề sẽ được xem là tim của Tam nguyên tinh thần.
36. VSK enquires: “what is the lower quaternary to the Triad?”
36. VSK hỏi: “bộ tứ thấp là gì đối với Tam nguyên tinh thần?”
37. It is suggested that the lower quaternary (in the life of the Planetary Logos) is a correspondence to the Triad. The physical body of the lower quaternary corresponds to the causal body (in relation to the Triad).
37. Người ta gợi ý rằng bộ tứ thấp (trong sự sống của Hành Tinh Thượng Đế) là một tương ứng với Tam nguyên tinh thần. Thể xác của bộ tứ thấp tương ứng với thể nguyên nhân (trong mối liên hệ với Tam nguyên tinh thần).
38. VSK notes that both the personality in the three worlds and the Triad in the higher worlds are composite vehicles.
38. VSK lưu ý rằng cả phàm ngã trong ba cõi thấp lẫn Tam nguyên tinh thần trong các cõi cao hơn đều là những vận cụ tổng hợp.
By careful thought we can therefore work out the reflex action of the centres and the senses from the standpoint of the different planes, remembering that as the centres are awakened the process will be threefold:
Vì vậy, bằng tư duy cẩn trọng, chúng ta có thể tìm ra tác động phản xạ của các trung tâm và các giác quan từ quan điểm của các cõi khác nhau, nhớ rằng khi các trung tâm được đánh thức, tiến trình sẽ là tam phân:
39. We recall that there are centers or chakras on each of the three lower planes (and perhaps on the buddhic and atmic planes as well, though these, if existent, have not yet been detailed in the Teaching).
39. Chúng ta nhớ rằng có các trung tâm hay luân xa trên mỗi một trong ba cõi thấp (và có lẽ cả trên cõi Bồ đề và cõi atma nữa, dù những trung tâm này, nếu có tồn tại, vẫn chưa được trình bày chi tiết trong Giáo Huấn).
40. A discussion arose in class yielding the following correspondences:
40. Một cuộc thảo luận đã nảy sinh trong lớp, đưa ra những tương ứng sau đây:
41. There are also centers above the head (higher centers) which are doubtlessly involved in or linked to the development and expression of the senses.
41. Cũng có những trung tâm ở phía trên đầu (các trung tâm cao hơn), chắc chắn có liên hệ hoặc gắn kết với sự phát triển và biểu hiện của các giác quan.
First. The awakening on the physical plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the Probationary Path is reached. This is paralleled by the increasing use of the senses, and their constant utilisation for the identification of the self and its sheaths.
Thứ nhất. Sự thức tỉnh trên cõi hồng trần, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt đến Con Đường Dự Bị. Điều này song hành với việc sử dụng ngày càng tăng các giác quan, và việc sử dụng liên tục chúng để đồng hoá cái ngã với các vỏ bọc của nó.
42. According to this text, the Probationary Path occurs before the first initiation. This thought, however, must be coupled to the thought that the Probationary Path is that which aspirants tread, and that “all true aspirants have taken the first initiation” (DINA I 716).
42. Theo đoạn này, Con Đường Dự Bị diễn ra trước lần điểm đạo thứ nhất. Tuy nhiên, tư tưởng này phải được kết hợp với tư tưởng rằng Con Đường Dự Bị là con đường mà những người chí nguyện bước đi, và rằng “mọi người chí nguyện chân chính đều đã trải qua lần điểm đạo thứ nhất” (DINA I 716).
43. The implication of this section is that the Probationary Path is definitely related to energy activations upon the astral plane. Before that time it is the physical plane which is the area of gradual awakening.
43. Hàm ý của phần này là Con Đường Dự Bị chắc chắn có liên hệ với các sự hoạt hóa năng lượng trên cõi cảm dục. Trước thời điểm đó, cõi hồng trần là lĩnh vực của sự thức tỉnh dần dần.
44. We see a special way in which the senses are utilized: “for the identification of the self and its sheaths”. In the early days of evolution there is little ability to discriminate between the self and its sheaths. Constantly, the testimony of the senses is confused with the nature of the self. This confusion is the basis of egoism—i.e., the identification of the self with its vehicles of expression.
44. Chúng ta thấy một cách đặc biệt mà các giác quan được sử dụng: “để đồng hoá cái ngã với các vỏ bọc của nó”. Trong những ngày đầu của tiến hoá, có rất ít khả năng phân biện giữa cái ngã và các vỏ bọc của nó. Không ngừng, chứng từ của các giác quan bị lẫn lộn với bản chất của cái ngã. Sự lẫn lộn này là nền tảng của tính vị ngã—tức sự đồng hoá cái ngã với các vận cụ biểu hiện của nó.
45. The identification of the self (note the lower case “s”) and its sheaths represents a kind of involutionary phase of human consciousness. It is initially necessary for the self to, as it were, ‘invest itself’ in the sensorily revealed world. The awakening self must become engaged with its environment. This requires the immersion of the self in sensorily revealed ‘reality’.
45. Sự đồng hoá cái ngã (lưu ý chữ “s” viết thường) với các vỏ bọc của nó biểu thị một loại giai đoạn giáng hạ tiến hoá của tâm thức con người. Ban đầu, điều cần thiết là cái ngã phải, có thể nói như vậy, ‘đầu tư chính nó’ vào thế giới được các giác quan tiết lộ. Cái ngã đang thức tỉnh phải dấn thân vào môi trường của nó. Điều này đòi hỏi sự chìm đắm của cái ngã trong ‘thực tại’ được các giác quan tiết lộ.
46. But as evolution proceeds and the senses become more acute, they can be used as fine discriminators in the separation of self from sense.
46. Nhưng khi tiến hoá tiếp diễn và các giác quan trở nên sắc bén hơn, chúng có thể được dùng như những công cụ phân biện tinh tế trong việc tách biệt cái ngã khỏi giác quan.
47. The intensive use of the senses for this purpose is indicated in the following section.
47. Việc sử dụng mãnh liệt các giác quan cho mục đích này được chỉ ra trong phần sau.
Second. The awakening on the astral plane, and the gradually increasing activity of the centres, until the first Initiation is reached. This is paralleled by the tremendously keen use of the senses for the purposes of discriminating between the Self and the not-self.
Thứ hai. Sự thức tỉnh trên cõi cảm dục, và hoạt động tăng dần của các trung tâm, cho đến khi đạt đến lần Điểm đạo thứ nhất. Điều này song hành với việc sử dụng các giác quan một cách vô cùng sắc bén nhằm mục đích phân biện giữa Chân ngã và phi-ngã.
48. Here we are speaking of the awakening of the astral chakras which, however, may be thought of functioning (at least at times) in synchronization with the physical and mental chakras. This type of synchronization will be seen as a result of personality integration.
48. Ở đây chúng ta đang nói về sự thức tỉnh của các luân xa cảm dục, tuy nhiên có thể xem chúng hoạt động (ít nhất là đôi khi) đồng bộ với các luân xa hồng trần và trí tuệ. Kiểu đồng bộ này sẽ được thấy như một kết quả của sự tích hợp phàm ngã.
49. It is also, however, possible to focus in one vehicle or another without the pronounced activation of other vehicles.
49. Tuy nhiên, cũng có thể tập trung vào vận cụ này hay vận cụ khác mà không có sự hoạt hóa rõ rệt của các vận cụ khác.
50. The first initiation seems to require the development of a degree of emotional sensitivity and an awakening of the astral senses through the activation of astral chakras. This would make sense as the astral body is correlated to the heart center which receives a new type of activation or emphasis at the first degree.
50. Lần điểm đạo thứ nhất dường như đòi hỏi sự phát triển một mức độ nhạy cảm cảm xúc và một sự thức tỉnh của các giác quan cảm dục thông qua sự hoạt hóa các luân xa cảm dục. Điều này hợp lý vì thể cảm dục tương quan với trung tâm tim, trung tâm nhận một loại hoạt hóa hay nhấn mạnh mới ở cấp độ thứ nhất.
51. We note that DK speaks of the discrimination between the Self and the not-self. The term “Self” in this case has a capital “S” which is not the case in the preceding section.
51. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK nói về sự phân biện giữa Chân ngã và phi-ngã. Trong trường hợp này, thuật ngữ “Chân ngã” được viết hoa chữ “C”, điều không xảy ra trong phần trước.
52. By keen observation of that which the senses reveal and by a quiet registration of that which is the senses do not reveal (namely the Observer), can this discrimination be sharpened.
52. Chính nhờ quan sát sắc bén điều mà các giác quan tiết lộ và nhờ ghi nhận tĩnh lặng điều mà các giác quan không tiết lộ (tức Người Quan Sát), mà sự phân biện này có thể được làm cho sắc bén hơn.
[Page 204]
[Page 204]
Third. The awakening upon the mental plane, and the gradually increasing activity of the centres and the senses. The effect in both cases tends to identification of the Self with its own essence in all groups and the rejection of the sheaths and the forms.
Thứ ba. Sự thức tỉnh trên cõi trí, và hoạt động tăng dần của các trung tâm và các giác quan. Hiệu quả trong cả hai trường hợp đều có xu hướng dẫn đến sự đồng hoá Chân ngã với bản chất riêng của nó trong mọi nhóm và sự khước từ các vỏ bọc và các hình tướng.
53. We are speaking of the awakening of the senses in three phases.
53. Chúng ta đang nói về sự thức tỉnh của các giác quan trong ba giai đoạn.
54. VSK remarks: We see the mental plane as that whereupon the identification of essence or essential unity and rejection of the not-self is effected.
54. VSK nhận xét: Chúng ta xem cõi trí là nơi sự đồng hoá với tinh túy hay hợp nhất cốt yếu và sự loại bỏ cái không-phải-ngã được thực hiện.
55. We have passed through two phases thus far:
55. Cho đến nay, chúng ta đã đi qua hai giai đoạn:
a. The identification of the self and its sheaths facilitated through the medium of the senses.
a. Sự đồng hoá cái ngã và các thể vỏ bọc của nó được tạo điều kiện qua trung gian của các giác quan.
b. The increasing use of the senses for discriminating the Self from the not-self
b. Việc ngày càng sử dụng các giác quan để phân biện Chân ngã với cái không-phải-ngã
c. Finally, in this mental stage, the Self finds the Self in all groups (and presumably, in all individuals) and rejects the sheaths or forms through which Self had been expressing. Essence reaches out to essence.
c. Sau cùng, trong giai đoạn trí tuệ này, Chân ngã tìm thấy Chân ngã trong mọi nhóm (và có lẽ, trong mọi cá nhân) và loại bỏ các thể vỏ bọc hay hình tướng mà qua đó Chân ngã đã biểu lộ. Tinh túy vươn tới tinh túy.
56. This third stage definitely lies beyond the second (which is simply an act of discrimination) because of the nature of the act of identification involved—the identification of Self with Self, of essence with essence.
56. Giai đoạn thứ ba này rõ ràng vượt quá giai đoạn thứ hai (vốn chỉ đơn giản là một hành động phân biện) do bản chất của hành động đồng hoá có liên quan—sự đồng hoá Chân ngã với Chân ngã, tinh túy với tinh túy.
57. A considerable power of abstraction is required for the process involved in the third stage.
57. Một năng lực trừu tượng hoá đáng kể là cần thiết cho tiến trình liên quan đến giai đoạn thứ ba.
This development is paralleled on the two higher planes simultaneously as in the lower, and as the astral senses come into perfected activity, the corresponding centres of force on the buddhic plane begin to function until the vibratory interplay between the two is consummated, and the force of the Triad can be felt definitely in the Personality via the astral.
Sự phát triển này được song hành đồng thời trên hai cõi cao hơn cũng như ở các cõi thấp, và khi các giác quan cảm dục đi vào hoạt động hoàn hảo, các trung tâm mãnh lực tương ứng trên cõi Bồ đề bắt đầu vận hành cho đến khi sự tương tác rung động giữa hai bên được hoàn tất, và mãnh lực của Tam nguyên tinh thần có thể được cảm nhận rõ rệt trong phàm ngã qua trung gian cõi cảm dục.
58. VSK remarks: Our referral here to the two higher planes is atmic and buddhic; so we are dealing with the five planes of human and super-human evolution and not yet with the seven planes of the cosmic physical plane.
58. VSK nhận xét: Việc chúng ta ở đây đề cập đến hai cõi cao hơn là cõi atma và cõi Bồ đề; vì vậy chúng ta đang bàn đến năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại chứ chưa phải bảy cõi của cõi hồng trần vũ trụ.
59. There is to be noted a definite relationship between the astral and buddhic planes and between the mental and atmic planes. The astral is the second plane within the lower three worlds, whether counting from below to above, and the buddhic plane is the second plane within the five worlds of human and super-human evolution, counting from above (beginning with the atmic plane).
59. Cần lưu ý rằng có một mối liên hệ xác định giữa cõi cảm dục và cõi Bồ đề, và giữa cõi trí và cõi atma. Cõi cảm dục là cõi thứ hai trong ba cõi thấp, dù đếm từ dưới lên hay từ trên xuống, và cõi Bồ đề là cõi thứ hai trong năm cõi của tiến hoá nhân loại và siêu nhân loại, nếu đếm từ trên xuống (bắt đầu với cõi atma).
60. The mental plane is the third plane in the lower three worlds (counting from below) and the atmic plane, the third plane of the entire cosmic physical plane (counting from above). Thus, there are numerological parallels.
60. Cõi trí là cõi thứ ba trong ba cõi thấp (đếm từ dưới lên) và cõi atma là cõi thứ ba của toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ (đếm từ trên xuống). Vì vậy, có những sự tương đồng về số học.
61. We note that only when the astral plane comes into “perfected activity” is there “corresponding development of force” on the buddhic plane. The important thing to realize is that there are, indeed, “corresponding centers of force” on that higher plane!
61. Chúng ta lưu ý rằng chỉ khi cõi cảm dục đi vào “hoạt động hoàn hảo” thì mới có “sự phát triển mãnh lực tương ứng” trên cõi Bồ đề. Điều quan trọng cần chứng nghiệm là quả thật có những “trung tâm mãnh lực tương ứng” trên cõi cao hơn ấy!
62. This may come as a surprise, as there are no chakras diagrammed for the buddhic and atmic planes. Yet, we are told of permanent atoms (shaped like figure eights) on the buddhic plane. If such tiny formal structures as permanent atoms exist on these more rarefied planes, why not chakras?
62. Điều này có thể gây ngạc nhiên, vì không có chakra nào được minh hoạ cho cõi Bồ đề và cõi atma. Tuy nhiên, chúng ta được cho biết về các Nguyên tử trường tồn (có hình số tám) trên cõi Bồ đề. Nếu những cấu trúc hình tướng cực nhỏ như các Nguyên tử trường tồn tồn tại trên các cõi tinh tế hơn này, thì tại sao lại không có các chakra?
63. There is also the possibility that the “corresponding centers” on these higher planes could be centers of force found within Ashrams, or aspects of Ashrams considered as corresponding centers of force. It will be necessary to reserve judgment until more is ascertained.
63. Cũng có khả năng rằng các “trung tâm tương ứng” trên những cõi cao hơn này có thể là các trung tâm mãnh lực được tìm thấy trong các ashram, hoặc là các phương diện của các ashram được xem như những trung tâm mãnh lực tương ứng. Sẽ cần phải tạm hoãn phán đoán cho đến khi xác định được nhiều hơn.
64. VSK suggests we note the heart center correspondences of both the astral and buddhic planes.
64. VSK gợi ý rằng chúng ta nên lưu ý các tương ứng của trung tâm tim nơi cả cõi cảm dục lẫn cõi Bồ đề.
65. Can the force of the spiritual triad be felt only through buddhic impression upon the astral plane, or can atmic impression upon the mental plane equally represent the presence of the spiritual triad in the personality?
65. Mãnh lực của Tam nguyên tinh thần chỉ có thể được cảm nhận qua sự cảm ứng Bồ đề lên cõi cảm dục, hay sự cảm ứng atma lên cõi trí cũng có thể biểu thị sự hiện diện của Tam nguyên tinh thần trong phàm ngã?
Again the corresponding vortices on the atmic level come into active vibration as the mental centres become fourth dimensional, till we have a wonderful fiery activity demonstrating on all the three planes.
Một lần nữa, các xoáy lực tương ứng trên cấp độ atma đi vào rung động tích cực khi các trung tâm trí tuệ trở nên bốn chiều, cho đến khi chúng ta có một hoạt động hỏa diệu kỳ diệu biểu lộ trên cả ba cõi.
66. Here we learn of “corresponding vortices on the atmic level”. The wording used is easily understood as referring to chakras—possibly atmic chakras (though we must not jump to conclusions).
66. Ở đây chúng ta biết được về các “xoáy lực tương ứng trên cấp độ atma”. Cách dùng từ này dễ được hiểu là ám chỉ các chakra—có thể là các chakra atma (dù chúng ta không được vội kết luận).
67. May we gather that the atmic developments here discussed would occur only as the third initiation is approached?
67. Chúng ta có thể suy ra rằng những phát triển atma được bàn đến ở đây chỉ xảy ra khi lần điểm đạo thứ ba đang đến gần chăng?
68. In an earlier Commentary we studied the development of the chakras by means of Five Cosmic Symbols.
68. Trong một Cổ Luận trước đây, chúng ta đã nghiên cứu sự phát triển của các chakra bằng năm Biểu Tượng Vũ Trụ.
69. Now a new piece of information is added: when the mental centers become fourth dimensional, the atmic vortices corresponding to the mental chakras will become active.
69. Giờ đây một mẩu thông tin mới được thêm vào: khi các trung tâm trí tuệ trở nên bốn chiều, các xoáy lực atma tương ứng với các chakra trí tuệ sẽ trở nên hoạt động.
70. May we assume that when the astral chakras become fourth dimensional in their rotation, that the buddhic vortices become active?
70. Chúng ta có thể giả định rằng khi các chakra cảm dục trở nên bốn chiều trong sự quay của chúng, thì các xoáy lực Bồ đề trở nên hoạt động chăng?
71. Fourth dimensional rotation is only gradually produced. The following quotation suggests that it is produced during the two stages of the Path:
71. Sự quay bốn chiều chỉ được tạo ra dần dần. Trích dẫn sau đây gợi ý rằng nó được tạo ra trong hai giai đoạn của Con Đường:
5. The swastika. At this stage the centre becomes fourth-dimensional; the inner rotating cross begins to turn upon its axis, and to drive the flaming periphery to all sides so that the centre is better described as a sphere of fire than as a wheel. It marks the stage of the Path in its two divisions, for the process of producing the effect described covers the whole period of the Path. At the close, the centres are seen as globes of radiant fire with the spokes of the wheel (or the evolution of the cross from the point in the centre) merging and blending into a "fire that burneth up the whole." (TCF 172)
5. Chữ vạn. Ở giai đoạn này trung tâm trở nên bốn chiều; thập giá quay bên trong bắt đầu xoay trên trục của nó, và đẩy chu vi rực lửa ra mọi phía để trung tâm được mô tả đúng hơn như một khối cầu lửa hơn là như một bánh xe. Nó đánh dấu giai đoạn của Con Đường trong hai phân bộ của nó, vì tiến trình tạo ra hiệu quả được mô tả bao trùm toàn bộ thời kỳ của Con Đường. Vào lúc kết thúc, các trung tâm được thấy như những bầu hành tinh lửa rạng ngời với các nan hoa của bánh xe (hay sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm) hòa nhập và dung hợp vào một “ngọn lửa thiêu đốt toàn thể.” (TCF 172)
72. What we may gather from this description is that, as the Path is trodden, buddhic and atmic activations parallel the fulfillment of the astral and mental developments characteristic of the Path.
72. Điều chúng ta có thể rút ra từ mô tả này là, khi Con Đường được bước đi, các sự hoạt hoá Bồ đề và atma song hành với sự hoàn tất các phát triển cảm dục và trí tuệ đặc trưng của Con Đường.
73. This should not come as a surprise, for the process of initiation is activated by the impact of higher planes upon lower.
73. Điều này không nên gây ngạc nhiên, vì tiến trình điểm đạo được hoạt hoá bởi sự va chạm của các cõi cao hơn lên các cõi thấp hơn.
74. Note the nature of the “spokes of the wheel”; they are, in fact, the result of “the evolution of the cross from the point in the centre”.
74. Hãy lưu ý bản chất của các “nan hoa của bánh xe”; thật ra, chúng là kết quả của “sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm”.
From the point of view of fire,86 leaving the aura and [Page 205] its colors out of temporary consideration, the evolutionary development marks an equally definite process.
Từ quan điểm của lửa,86 tạm thời gác hào quang và [Page 205] các màu sắc của nó sang một bên, sự phát triển tiến hoá cũng đánh dấu một tiến trình xác định tương tự.
75. The Tibetan now deals with the evolution of the senses in terms of fire.
75. Giờ đây Chân sư Tây Tạng bàn đến sự tiến hoá của các giác quan theo phương diện lửa.
Footnote 86
Chú thích 86
The Fire of the manifested cosmos is Septenary.
Lửa của vũ trụ biểu hiện là thất phân.
The Threefold God manifests through the seven Fires:
Thượng đế Tam phân biểu lộ qua bảy Loại Lửa:
76. The “Threefold God” is the Solar Logos.
76. “Thượng đế Tam phân” là Thái dương Thượng đế.
1. Electric fire — The seven Heavenly Men.
1. Lửa Điện — Bảy Đấng Thiên Nhân.
2. Solar fire — Evolution of the seven Entities through their vehicles developing the seven principles.
2. Lửa Thái dương — Sự tiến hoá của bảy Thực Thể qua các vận cụ của các Ngài, phát triển bảy nguyên khí.
3. Fire by friction — The seven chains.
3. Lửa ma sát — Bảy Dãy.
77. The method of division is interesting. The monadic nature of the seven Heavenly Men could be called “electric fire”. What, however, are the “seven Entities” which through their vehicles develop the seven principles? Are these seven Ray Lords, on the intra-planetary level, each of them associated with a particular principle manifesting through a particular one of seven chains?
77. Phương pháp phân chia này thật đáng chú ý. Bản chất chân thần của bảy Đấng Thiên Nhân có thể được gọi là “Lửa Điện”. Tuy nhiên, “bảy Thực Thể” là gì, những Đấng phát triển bảy nguyên khí qua các vận cụ của mình? Có phải đây là bảy Đấng Chúa Tể Cung, ở cấp độ nội-hành tinh, mỗi Đấng trong các Ngài liên kết với một nguyên khí đặc thù biểu lộ qua một trong bảy dãy đặc thù?
78. Or are we dealing with the systemic Ray Lords, embodying each, one of the seven systemic principles? In this case, each one of the “seven Entities” would be associated with the manifestation of a particular planetary scheme.
78. Hay chúng ta đang bàn đến các Đấng Chúa Tể Cung hệ thống, mỗi Đấng thể hiện một trong bảy nguyên khí hệ thống? Trong trường hợp này, mỗi một trong “bảy Thực Thể” sẽ liên kết với sự biểu lộ của một hệ hành tinh đặc thù.
79. Here and in the following tabulations, DK seems to be associating the seven principles with solar fire, or with the second aspect in general. The number seven is often associated with the number two. The rays of Jupiter are an example.
79. Ở đây và trong các bảng liệt kê tiếp theo, Chân sư DK dường như đang liên kết bảy nguyên khí với Lửa Thái dương, hay với phương diện thứ hai nói chung. Số bảy thường được liên kết với số hai. Các cung của Sao Mộc là một ví dụ.
80. If we stay focussed on the level of the Planetary Logoi, are we speaking of the material aspect of the Planetary Logos when discussing the seven planetary chains?
80. Nếu chúng ta vẫn tập trung vào cấp độ của các Hành Tinh Thượng Đế, thì khi bàn đến bảy dãy hành tinh, chúng ta có đang nói về phương diện vật chất của Hành Tinh Thượng Đế không?
81. Or is the term “chains”, in this context, really meant as a substitute for “schemes”?
81. Hay thuật ngữ “dãy”, trong ngữ cảnh này, thật ra được dùng như một từ thay thế cho “hệ hành tinh”?
82. It should be noted that the Heavenly Men are not associated with electric fire.
82. Cần lưu ý rằng các Đấng Thiên Nhân không được liên kết với Lửa Điện.
They are the seven centres of the Logos.
Các Ngài là bảy trung tâm của Thượng đế.
83. Much depends upon the meaning of the word “chains” in this context. There are times, in Theosophy, when the term “chains” is used for the term “schemes”.
83. Rất nhiều điều tùy thuộc vào ý nghĩa của từ “dãy” trong ngữ cảnh này. Có những lúc, trong Thông Thiên Học, thuật ngữ “dãy” được dùng thay cho thuật ngữ “hệ hành tinh”.
84. In this context, it seems, indeed, that the term “chains” is equivalent to “schemes”.
84. Trong ngữ cảnh này, quả thật có vẻ như thuật ngữ “dãy” tương đương với “hệ hành tinh”.
85. In the above tabulation we seem to be differentiating between:
85. Trong bảng liệt kê trên, dường như chúng ta đang phân biệt giữa:
a. Monads
a. các chân thần
b. Principles
b. các nguyên khí
c. Chakric vehicles of expression
c. các vận cụ biểu lộ dạng chakra
86. We are using the same division for the different types of atoms.
86. Chúng ta đang dùng cùng một cách phân chia cho các loại nguyên tử khác nhau.
A Heavenly Man manifests through a chain.
Một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy.
87. While this is true, it is more inclusive to say that a Heavenly Man manifests through a scheme.
87. Dù điều này là đúng, nói rằng một Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh thì bao gồm hơn.
88. There are different types of Heavenly Men. The Lord of a scheme is a Heavenly Man, as is the Lord of a chain or globe.
88. Có những loại Đấng Thiên Nhân khác nhau. Chúa Tể của một hệ hành tinh là một Đấng Thiên Nhân, cũng như Chúa Tể của một dãy hay một bầu hành tinh.
89. If, below, DK is speaking of the Heavenly Man who manifests through a chain (and the term “chain” actually means “chain”, precisely, instead of “scheme”) then, it seems, He has skipped one entire level—that of the kind of Heavenly Man Who manifests through a scheme).
89. Nếu, ở dưới đây, Chân sư DK đang nói về Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một dãy (và thuật ngữ “dãy” thật sự có nghĩa chính xác là “dãy”, thay vì “hệ hành tinh”) thì dường như Ngài đã bỏ qua trọn một cấp độ—đó là loại Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua một hệ hành tinh).
1. He is electric fire — The seven solar entities who inform each globe.
1. Ngài là Lửa Điện — Bảy thực thể thái dương phú linh cho mỗi bầu hành tinh.
90. Here we receive an important piece of information. The entities who inform each globe in a planetary chain are solar entities. We usually call them chain lords.
90. Ở đây chúng ta nhận được một mẩu thông tin quan trọng. Các thực thể phú linh cho mỗi bầu hành tinh trong một dãy hành tinh là các thực thể thái dương. Chúng ta thường gọi các vị ấy là các chúa tể dãy.
91. We may also gather that a Chain-Lord is, as well, a solar entity.
91. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng một Chúa Tể Dãy đồng thời cũng là một thực thể thái dương.
92. The extensive tabulation on TCF 844 should be searched for solar entities.
92. Nên tra cứu bảng liệt kê rộng lớn ở TCF 844 để tìm các thực thể thái dương.
2. He is solar fire — Evolution of the life through the forms,
2. Ngài là Lửa Thái dương — Sự tiến hoá của sự sống qua các hình tướng,
developing the seven principles.
phát triển bảy nguyên khí.
93. From this we can see that DK is definitely associating solar fire with the seven principles. From what is said there may emerge a suggestion that development within the spiritual triad is related to solar fire. The spiritual triad is the true soul, and, although related to the Monad, is also related to the middle fire.
93. Từ đây chúng ta có thể thấy rằng Chân sư DK rõ ràng liên kết Lửa Thái dương với bảy nguyên khí. Từ điều được nói ra, có thể xuất hiện một gợi ý rằng sự phát triển trong Tam nguyên tinh thần có liên hệ với Lửa Thái dương. Tam nguyên tinh thần là linh hồn đích thực, và tuy có liên hệ với chân thần, nó cũng liên hệ với ngọn lửa trung gian.
3. He is fire by friction — The seven globes.
3. Ngài là Lửa ma sát — Bảy bầu hành tinh.
94. When DK is speaking of chains or globes, in this context, He seems definitely to be speaking of the material or prakritic level.
94. Khi Chân sư DK nói về các dãy hay các bầu hành tinh trong ngữ cảnh này, Ngài dường như rõ ràng đang nói về cấp độ vật chất hay prakriti.
Each Heavenly Man has seven principles.
Mỗi Đấng Thiên Nhân có bảy nguyên khí.
95. This is true of all the kinds of entities under discussion.
95. Điều này đúng với mọi loại thực thể đang được bàn đến.
96. Principles are really functional divisions of monadic energy, or qualified projections of monadic power.
96. Các nguyên khí thật ra là những phân chia chức năng của năng lượng chân thần, hay những phóng chiếu được phẩm tính hoá của quyền năng chân thần.
A Man, the Microcosm, manifests through his vehicles:
Con Người, Tiểu thiên địa, biểu lộ qua các vận cụ của mình:
1. He is electric fire — The monad, a solar entity.
1. Y là Lửa Điện — chân thần, một thực thể thái dương.
97. This is an important statement. The Monad is said to be “that which finds its home within the sun” (IHS 167). The statement here, that the Monad is a “solar entity” seems to be a confirmation of this thought.
97. Đây là một phát biểu quan trọng. Chân thần được nói là “điều tìm thấy ngôi nhà của nó trong mặt trời” (IHS 167). Phát biểu ở đây, rằng chân thần là một “thực thể thái dương”, dường như xác nhận tư tưởng này.
2. He is solar fire — Evolution of the life through the vehicles
2. Y là Lửa Thái dương — Sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ
in order to develop the seven principles.
để phát triển bảy nguyên khí.
98. “Life”, in this context, is the energy of the Monad. Another way of viewing the seven principles, therefore, is as a product of the “evolution of life through the vehicles”.
98. “Sự sống”, trong ngữ cảnh này, là năng lượng của chân thần. Vì vậy, một cách khác để nhìn bảy nguyên khí là xem chúng như một sản phẩm của “sự tiến hoá của sự sống qua các vận cụ”.
3. He is fire by friction — The seven sheaths:
3. Y là Lửa ma sát — Bảy thể vỏ bọc:
1. Atmic 2. Buddhic.
1. Atma 2. Bồ đề.
3. Causal 4. Mental body.
3. Nguyên nhân 4. thể trí.
5. Astral body 6. Etheric body.
5. thể cảm dục 6. thể dĩ thái.
7. Physical body.
7. thể xác.
99. The sheaths are definitely the material spheres, and in this context correspond to the globes and chains mentioned above in relation to larger contexts.
99. Các thể vỏ bọc rõ ràng là những khối cầu vật chất, và trong ngữ cảnh này tương ứng với các bầu hành tinh và các dãy được nhắc đến ở trên trong những ngữ cảnh lớn hơn.
100. What is listed immediately above is a tabulation of sheaths and not principles. The distinction should be retained within the mind.
100. Điều được liệt kê ngay trên đây là một bảng về các thể vỏ bọc chứ không phải các nguyên khí. Sự phân biệt này nên được giữ trong trí tuệ.
Physical Plane man manifests in the three worlds:
Con người cõi Hồng trần biểu lộ trong ba cõi giới:
1. Electric fire — The higher self.
1. Lửa Điện — chân ngã.
2. Solar fire — The seven centres.
2. Lửa Thái dương — Bảy trung tâm.
3. Fire by friction — The sheaths.
3. Lửa ma sát — Các thể vỏ bọc.
101. The tabulation immediately above is of importance though different in some particulars from other frequently seen tabulations.
101. Bảng liệt kê ngay trên đây rất quan trọng, dù khác ở vài chi tiết so với những bảng thường thấy khác.
a. The higher self would be a combination of Monad and spiritual triad as they express through the Ego in the egoic body.
a. Chân ngã sẽ là sự kết hợp của chân thần và Tam nguyên tinh thần khi chúng biểu lộ qua Chân ngã trong thể chân ngã.
b. In a way, the tabulation above refers to a group of relationships which is entirely within the domain of solar fire.
b. Theo một cách nào đó, bảng liệt kê trên nói đến một nhóm các mối liên hệ hoàn toàn nằm trong phạm vi của Lửa Thái dương.
c. It is strange to see the seven centers as representing solar fire, since we are told that the chakras are vortices of energy which are essentially expressions of the Monad. But of course, the Monad works through Ego, and thus the Ego is involved in the manifestation and development of the chakras.
c. Thật lạ khi thấy bảy trung tâm được xem là biểu thị Lửa Thái dương, vì chúng ta được cho biết rằng các chakra là những xoáy lực năng lượng vốn cốt yếu là những biểu lộ của chân thần. Nhưng dĩ nhiên, chân thần hoạt động qua chân ngã, và do đó chân ngã có liên quan đến sự biểu lộ và phát triển của các chakra.
d. If we remember that we are within the province of the Ego, then one can understand the seven centers as related to solar fire.
d. Nếu chúng ta nhớ rằng mình đang ở trong lĩnh vực của chân ngã, thì người ta có thể hiểu bảy trung tâm là có liên hệ với Lửa Thái dương.
e. The sheaths, of course, are easily related to fire by friction.
e. Dĩ nhiên, các thể vỏ bọc dễ dàng được liên hệ với Lửa ma sát.
102. It seems important to note that the centers are considered superior to, or more essential than, the sheaths.
102. Dường như điều quan trọng là phải lưu ý rằng các trung tâm được xem là cao hơn, hay cốt yếu hơn, so với các thể vỏ bọc.
103. VSK suggests: “As we continue, since we are speaking of evolutionary development, and we see the five-pointed list, below, let’s overlay our other symbols, e.g., the circle, circle with point, divided circle, cross in circle, and swastika.
103. VSK gợi ý: “Khi tiếp tục, vì chúng ta đang nói về sự phát triển tiến hoá, và chúng ta thấy danh sách năm điểm ở dưới đây, hãy chồng ghép các biểu tượng khác của chúng ta, thí dụ, hình tròn, hình tròn có điểm, hình tròn phân chia, thập giá trong hình tròn, và chữ vạn.
104. Immediately below, we are dealing with evolutionary development in terms of fire.
104. Ngay bên dưới, chúng ta đang bàn đến sự phát triển tiến hoá theo phương diện lửa.
a. The vivification of the inner heat of the sheaths, or the tiny point of fire latent in every individual atom of matter. This process proceeds in all three bodies, at first slowly, then more rapidly, and finally simultaneously and synthetically.
a. Sự tiếp sinh lực cho nhiệt nội tại của các thể vỏ bọc, hay điểm lửa nhỏ bé tiềm ẩn trong mỗi nguyên tử vật chất cá biệt. Tiến trình này diễn ra trong cả ba thể, lúc đầu chậm, rồi nhanh hơn, và sau cùng đồng thời và tổng hợp.
105. We are referring to the material level and to that latent fire which is the heat of dense matter.
105. Chúng ta đang nói đến cấp độ vật chất và ngọn lửa tiềm ẩn vốn là nhiệt của vật chất đậm đặc.
106. Latent fire is to be considered the lower aspect of fire by friction.
106. Lửa tiềm ẩn phải được xem là phương diện thấp của Lửa ma sát.
107. Lest we think that latent fire is only to be found in the matter of the dense physical plane, we are informed of the fact that it is found equally in the material aspect of all three bodies of the personality. It is to be found sustaining all atoms of all sheaths.
107. Để chúng ta không nghĩ rằng lửa tiềm ẩn chỉ được tìm thấy trong vật chất của cõi hồng trần đậm đặc, chúng ta được cho biết rằng nó cũng được tìm thấy tương tự trong phương diện vật chất của cả ba thể của phàm ngã. Nó được tìm thấy như nền tảng duy trì mọi nguyên tử của mọi thể vỏ bọc.
108. May it be that even on those levels where radiatory fire is most influential, some form of latent fire is to be found? To answer this would require careful thought.
108. Có thể chăng ngay cả trên những cấp độ mà lửa bức xạ có ảnh hưởng mạnh nhất, vẫn có thể tìm thấy một dạng lửa tiềm ẩn nào đó? Trả lời điều này sẽ đòi hỏi suy nghĩ cẩn trọng.
109. There seems to be an initial sequentiality to the development of latent fire in the three sheaths. Eventually this inner heat is seen developing simultaneously in each sheath and eventually, synthetically.
109. Dường như có một tính tuần tự ban đầu trong sự phát triển của lửa tiềm ẩn trong ba thể vỏ bọc. Cuối cùng, nhiệt nội tại này được thấy phát triển đồng thời trong mỗi thể vỏ bọc và sau hết, một cách tổng hợp.
110. Every sheath has its more material aspect and its more etheric aspect. May it be said that “active fire” is found on certain subplanes of all three vehicles of the personality, and “latent fire” on other subplanes? This is a subtle question as it is possible to divide every systemic plane into a higher four and lower three (or, as is the case for the mental plane) into a higher three and a lower four.
110. Mỗi thể vỏ bọc đều có phương diện vật chất hơn và phương diện dĩ thái hơn của nó. Có thể nói rằng “lửa hoạt động” được tìm thấy trên một số cõi phụ của cả ba vận cụ của phàm ngã, còn “lửa tiềm ẩn” thì ở những cõi phụ khác chăng? Đây là một câu hỏi tinh tế vì có thể chia mỗi cõi hệ thống thành bốn cõi cao và ba cõi thấp (hoặc, như trường hợp cõi trí, thành ba cõi cao và bốn cõi thấp).
111. In some manner or other we should find latent fire and radiatory fire related to all atoms found within the eighteen lower subplanes. Latent fire provides the heat for such atoms (no matter how relatively refined may be the atoms when compared to physical atoms), and radiatory fire provides their coherency. As stated, the question is a subtle one.
111. Bằng cách nào đó, chúng ta nên thấy lửa tiềm ẩn và lửa bức xạ có liên hệ với mọi nguyên tử được tìm thấy trong mười tám cõi phụ thấp. Lửa tiềm ẩn cung cấp nhiệt cho những nguyên tử như thế (dù các nguyên tử ấy có tinh luyện tương đối đến đâu khi so với các nguyên tử hồng trần), và lửa bức xạ cung cấp tính cố kết của chúng. Như đã nói, đây là một câu hỏi tinh tế.
b. The bringing into activity from latency of the seven centres on all planes, beginning from the bottom upwards, until the centres (according to ray and type) are interrelated and co-ordinated. There are manifest thirty-five vortices of fire in the perfected adept,—all of radiant activity and all interacting.
b. Sự đưa vào hoạt động từ trạng thái tiềm ẩn của bảy trung tâm trên mọi cõi, bắt đầu từ dưới lên trên, cho đến khi các trung tâm (theo cung và loại) liên hệ với nhau và phối hợp. Có ba mươi lăm xoáy lực lửa biểu hiện nơi chân sư hoàn hảo,—tất cả đều hoạt động rạng ngời và tất cả đều tương tác.
112. In the normal evolutionary process, the activation of the chakras occurs, in general, sequentially from below to above.
112. Trong tiến trình tiến hoá bình thường, sự hoạt hoá các chakra nói chung diễn ra tuần tự từ dưới lên trên.
113. It is important to note that the centres are interrelated and coordinated according to ray and type. The phrase “according to ray” may mean ‘according to the ray of the Monad’. It may also suggest that coordination occurs according to the type of ray resonance found between different chakras. For instance, the solar plexus and the heart centres would be resonant with each other according to the rays archetypally associated with these centres, as would the sacral center and throat center.
113. Điều quan trọng là phải lưu ý rằng các trung tâm liên hệ với nhau và được phối hợp theo cung và loại. Cụm từ “theo cung” có thể có nghĩa là ‘theo cung của chân thần’. Nó cũng có thể gợi ý rằng sự phối hợp xảy ra theo loại cộng hưởng cung được tìm thấy giữa các chakra khác nhau. Chẳng hạn, các trung tâm tùng thái dương và tim sẽ cộng hưởng với nhau theo các cung được liên kết nguyên mẫu với các trung tâm này, cũng như trung tâm xương cùng và trung tâm cổ họng.
114. We are given a very big hint. A perfected adept is a Master! What number characterizes the Master?—the number five. How many planes does a Master master? Again five.
114. Chúng ta được cho một gợi ý rất lớn. Một chân sư hoàn hảo là một Chân sư! Con số nào đặc trưng cho Chân sư?—con số năm. Một Chân sư làm chủ bao nhiêu cõi? Lại là làm chủ năm.
115. We seem to be speaking of the developed chakra system of a completed Master of the Wisdom. There would be seven chakras for each of the vehicles of a Master, on each of five planes, for a Master is master over five planes.
115. Dường như chúng ta đang nói về hệ thống chakra đã phát triển của một Chân sư Minh triết viên mãn. Sẽ có bảy chakra cho mỗi vận cụ của một Chân sư, trên mỗi một trong năm cõi, vì một Chân sư làm chủ năm cõi.
116. In one way the number of the Adept is thirty-five. This number, in the ray theories of Stephen Pugh is associated with the fifth ray—which again makes perfect sense. The fifth ray is of great importance in producing that manifestation we can an Adept.
116. Theo một cách nào đó, con số của chân sư là ba mươi lăm. Con số này, trong các lý thuyết về cung của Stephen Pugh, được liên kết với cung năm—điều này lại hoàn toàn hợp lý. Cung năm có tầm quan trọng lớn trong việc tạo ra biểu lộ mà chúng ta có thể gọi là một chân sư.
117. Below are the number assignments for the seven rays drawn from DK and supplemented by the extended theories of SDP.
117. Dưới đây là các quy định số cho bảy cung được rút ra từ Chân sư DK và được bổ sung bởi các lý thuyết mở rộng của SDP.
R1 = 1
R1 = 1
R2 = 5
R2 = 5
R3 = 9
R3 = 9
R4 = 2. 5, 25
R4 = 2. 5, 25
R5 = 3. 5, 35 The Adept is the five-pointed star.
R5 = 3. 5, 35 Chân sư là ngôi sao năm cánh.
R6 = 1. 5, 15
R6 = 1. 5, 15
R7 = 7
R7 = 7
118. The interaction of an Adept’s thirty-five vortices occurs within each of the five systemic planes and, according to resonance, across the five planes.
118. Sự tương tác của ba mươi lăm xoáy lực của một chân sư xảy ra bên trong mỗi một trong năm cõi hệ thống và, theo cộng hưởng, xuyên qua năm cõi.