Trích nội dung chương
211. It is also a highly metaphysical sense bringing the one who senses through smell in touch with essence. 211. Nó cũng là một giác quan có tính siêu hình cao, đưa người cảm nhận bằng mùi tiếp xúc với tinh túy.
211. It is also a highly metaphysical sense bringing the one who senses through smell in touch with essence.
211. Nó cũng là một giác quan có tính siêu hình cao, đưa người cảm nhận bằng mùi tiếp xúc với tinh túy.
212. The senses of hearing, touch and sight are relatively external compared to the last two senses, which allow the one who senses to achieve an increasing intimacy with his object of sensation.
212. Các giác quan thính giác, xúc giác và thị giác tương đối bên ngoài so với hai giác quan cuối, vốn cho phép người cảm nhận đạt đến sự thân mật ngày càng tăng với đối tượng cảm giác của mình.
213. The sense of smell as here described achieves even a greater intimacy with the sensed object than does the sense of taste. One penetrates far beneath the surface of the object to that which is innate and of the essence.
213. Khứu giác như được mô tả ở đây đạt đến một sự thân mật với đối tượng được cảm nhận còn lớn hơn cả vị giác. Người ta xuyên thấu sâu dưới bề mặt của đối tượng đến điều gì là bẩm sinh và thuộc về tinh túy.
214. We can see that the sense of smell (which leads the sensing one ‘home’) is the method of finding similarity of essence and thus lead to the sense of identification and synthesis.
214. Chúng ta có thể thấy rằng khứu giác (vốn dẫn người cảm nhận ‘về nhà’) là phương pháp để tìm ra sự tương đồng về tinh túy và do đó dẫn đến cảm thức đồng nhất hóa và tổng hợp.
215. If smell leads ‘homewards’, the extensions of this sense will help the sensing one rediscover the Monad, which is the true home (and related closely to some of the higher correspondences of the physical sense of smell—for instance Idealism and All-Knowledge).
215. Nếu khứu giác dẫn ‘về quê nhà’, thì những mở rộng của giác quan này sẽ giúp người cảm nhận tái khám phá chân thần, vốn là quê nhà đích thực (và liên hệ chặt chẽ với một số tương ứng cao hơn của khứu giác hồng trần—chẳng hạn như Chủ Nghĩa Duy Tưởng và Toàn Tri).
216. It would seem that the sense of smell is as closely related to monadic life as to atmic life. Both areas of vibration relate to the presence of Will and Spirit—factors which are unitary and identical as the essence of all beings.
216. Dường như khứu giác liên hệ với sự sống chân thần cũng chặt chẽ như với sự sống atma. Cả hai vùng rung động đều liên hệ với sự hiện diện của Ý Chí và tinh thần—những yếu tố có tính nhất nguyên và đồng nhất như tinh túy của mọi hữu thể.
217. The sense of smell is again a great directional sense. One learns to “follow the scent home”, staying on the beam and ignoring many distractions. There is a certain linear quality to the whole process.
217. Khứu giác lại là một giác quan định hướng lớn. Người ta học cách “lần theo mùi hương để về nhà”, giữ đúng trên tia tuyến và bỏ qua nhiều sự xao lãng. Toàn bộ tiến trình có một phẩm tính tuyến tính nhất định.
In all these definitions it is necessary to bear in mind that the whole object of the senses is to reveal the not-self, and to enable the Self therefore to differentiate between the real and the unreal.82
Trong tất cả những định nghĩa này, cần ghi nhớ rằng toàn bộ mục đích của các giác quan là tiết lộ vô ngã, và do đó giúp Bản Ngã phân biệt giữa cái thực và cái không thực.82
218. The major function of the senses is given—to reveal the not-Self. It would seem that the sense are capable of an amazing degree of refinement and would be active on all planes (even those far above any plane thus far indicated as existent), for any thing that can be revealed (other than Oneself) is definitely of the not-Self (experientially at least). (Ultimately, and metaphysically, all things are the SELF.)
218. Chức năng chính của các giác quan đã được nêu ra—tiết lộ vô ngã. Dường như các giác quan có khả năng tinh luyện đến một mức độ đáng kinh ngạc và sẽ hoạt động trên mọi cõi (ngay cả những cõi cao hơn rất xa bất kỳ cõi nào cho đến nay đã được chỉ ra là hiện hữu), vì bất kỳ vật gì có thể được tiết lộ (ngoài Chính Mình) thì chắc chắn thuộc về vô ngã (ít nhất là về mặt kinh nghiệm). (Rốt ráo, và về mặt siêu hình, mọi sự vật đều là ĐẠI NGÃ.)
219. Notice the Tibetans use of the word “object” in “object of the senses”. This is a play on words which causes one to ponder.
219. Hãy lưu ý cách người Tây Tạng dùng từ “đối tượng” trong cụm “đối tượng của các giác quan”. Đây là một lối chơi chữ khiến người ta phải suy ngẫm.
220. From a deeper perspective there is naught but the SELF and, so, any revelation of the not-Self, no matter how seemingly distinct from self and objective, is nonetheless, the SELF.
220. Từ một góc nhìn sâu hơn, không có gì ngoài ĐẠI NGÃ và vì vậy, bất kỳ sự tiết lộ nào về vô ngã, dù có vẻ tách biệt với bản ngã và khách quan đến đâu, vẫn là ĐẠI NGÃ.
221. Leaving the Philosophy of Ultimates aside, we can see that the progressive use of ever-more refined senses leads to a more convinced realization of Selfhood. The Self is real, the not-Self unreal, and the senses are one of the chief means of telling the difference between them.
221. Gác sang một bên Triết Học về Những Cứu Cánh Tối Hậu, chúng ta có thể thấy rằng việc sử dụng tiến bộ những giác quan ngày càng tinh luyện hơn dẫn đến một sự chứng nghiệm ngày càng xác tín về Bản Ngã tính. Bản Ngã là thực, vô ngã là không thực, và các giác quan là một trong những phương tiện chủ yếu để phân biệt giữa chúng.
Footnote 82:
Chú thích 82:
82 Sensations aroused by sense objects are experienced by means of the outer instruments of the Lord of the Body or senses (Indriya) which are the pathways through which the Jiva receives worldly experience.
82 Những cảm giác được khơi dậy bởi các đối tượng giác quan được trải nghiệm bằng các công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể hay các giác quan (Indriya), vốn là những con đường qua đó Jiva tiếp nhận kinh nghiệm thế gian.
222. The senses are called “Indriya”. They are outer instruments of the Lord of the Body. The Jiva is the Lord of the Body.
222. Các giác quan được gọi là “Indriya”. Chúng là những công cụ bên ngoài của Chúa Tể của Thể. Jiva là Chúa Tể của Thể.
223. The senses are the means of “worldly” and ‘otherworldly’ experience.
223. Các giác quan là phương tiện của kinh nghiệm “thế gian” và ‘siêu thế gian’.
These are ten in number, and are of two classes:
Chúng có mười loại, và thuộc hai nhóm:
a. The five organs of sensation Jnanendriya
a. Năm cơ quan cảm giác Jnanendriya
1. The Ear Hearing.
1. Tai Nghe.
2. Skin Feeling by touch.
2. Da Cảm nhận bằng xúc chạm.
3. Eye Sight.
3. Mắt Thấy.
4. Tongue Taste.
4. Lưỡi Nếm.
5. Nose Smell.
5. Mũi Ngửi.
b. The five organs of action Karmendriya
b. Năm cơ quan hành động Karmendriya
1. Mouth Speaking.
1. Miệng Nói.
2. Hands Grasping.
2. Tay Nắm bắt.
3. Legs Walking.
3. Chân Đi.
4. Anus Excretion.
4. Hậu môn Bài tiết.
5. Genitals Procreation.
5. Cơ quan sinh dục Sinh sản.
224. The description of the ten Indriya is straight-forward. It is interesting that the hands are seen as the instruments of grasping (a rather first ray activity) rather than as instruments of creativity or of manipulation (though the ability to grasp or to hold is assumed in any manual creative, manipulative act).
224. Mô tả về mười Indriya khá trực tiếp. Thật thú vị khi đôi tay được xem là công cụ của sự nắm bắt (một hoạt động khá thuộc cung một) hơn là công cụ của sáng tạo hay thao tác (dù khả năng nắm hay giữ được giả định trong bất kỳ hành động sáng tạo hay thao tác thủ công nào).
The organs of sensation are the reactive response which the Self makes to sensation. The organs of action are those through which effect is given to the Jiva's desires.
Các cơ quan cảm giác là đáp ứng phản ứng mà Bản Ngã thực hiện đối với cảm giác. Các cơ quan hành động là những cơ quan qua đó các ham muốn của Jiva được biểu lộ thành hiệu quả.
225. It might be more accurate to say that “the organs of sensation are the means of the reactive response which the Self makes to vibrational impact”.
225. Có lẽ sẽ chính xác hơn nếu nói rằng “các cơ quan cảm giác là phương tiện của đáp ứng phản ứng mà Bản Ngã thực hiện đối với tác động rung động”.
226. The second sentence seems reasonable and accurate. It would seem that the anus and the genitals function at first instinctually and not so much according to conscious desire. Even the mouth, hands and legs seem to have an instinctual life of their own before the Jiva gains a more conscious grip over his instrument.
226. Câu thứ hai có vẻ hợp lý và chính xác. Dường như hậu môn và cơ quan sinh dục lúc đầu hoạt động theo bản năng chứ không nhiều theo ham muốn có ý thức. Ngay cả miệng, tay và chân cũng dường như có một đời sống bản năng riêng của chúng trước khi Jiva đạt được sự nắm giữ có ý thức hơn đối với công cụ của mình.
"The Indriya or sense is not the physical organ, but the faculty of mind operating through that organ as its instrument.
"Indriya hay giác quan không phải là cơ quan hồng trần, mà là năng lực của trí tuệ hoạt động qua cơ quan ấy như công cụ của nó.
227. The important point is made that the real sense is not the physical organ. Rather, it is a faculty of mind that responds to impact.
227. Điểm quan trọng được nêu ra là giác quan thực sự không phải là cơ quan hồng trần. Đúng hơn, nó là một năng lực của trí tuệ đáp ứng với tác động.
The outward sense organs are the usual means whereby on the physical plane the functions of hearing and so forth are accomplished. But, as they are mere instruments and their power is derived from the mind, a Yogi may accomplish by the mind only all that may be done by means of these physical organs without the use of the latter....
Các cơ quan giác quan bên ngoài là những phương tiện thông thường nhờ đó trên cõi hồng trần các chức năng nghe và vân vân được hoàn thành. Nhưng vì chúng chỉ là những công cụ và quyền năng của chúng bắt nguồn từ trí tuệ, nên một Yogi chỉ bằng trí tuệ cũng có thể hoàn thành mọi điều có thể được thực hiện bằng các cơ quan hồng trần này mà không cần dùng đến chúng....
228. This may seem an amazing thought to some who have not thought the matter through, but the sensory faculty may be activated independently of the normal organ of sensation.
228. Điều này có thể có vẻ là một ý tưởng đáng kinh ngạc đối với một số người chưa suy nghĩ thấu đáo về vấn đề này, nhưng năng lực cảm giác có thể được kích hoạt độc lập với cơ quan cảm giác thông thường.
"The three functions of attention, selection and synthesising the discreet manifold of the senses, are those belonging to that aspect of the mental body, the internal agent, called Manas. Just as manas is necessary to the senses, the latter are necessary for manas....Manas is thus the leading indriya, of which the senses are powers."—Serpent Power, by Arthur Avalon.
"Ba chức năng chú ý, chọn lọc và tổng hợp cái đa tạp rời rạc của các giác quan là những chức năng thuộc về phương diện ấy của thể trí, tác nhân nội tại, được gọi là Manas. Cũng như manas cần thiết cho các giác quan, các giác quan cũng cần thiết cho manas....Vì vậy manas là indriya dẫn đầu, mà các giác quan là những quyền năng của nó."—Serpent Power, của Arthur Avalon.
229. An indriya is a sense. The leading sense or indriya is said to be manas, but in extension, it might be named as buddhi which is a still more synthetic faculty than manas.
229. Một indriya là một giác quan. Giác quan hay indriya dẫn đầu được nói là manas, nhưng theo sự mở rộng, nó có thể được gọi là buddhi, vốn là một năng lực tổng hợp hơn nữa so với manas.
230. There is definitely the closest interplay between manas and the senses. It is a relationship which seems to occur in relation to the third and fifth rays.
230. Chắc chắn có một sự tương tác hết sức mật thiết giữa manas và các giác quan. Đây là một mối liên hệ dường như xảy ra trong tương quan với cung ba và cung năm.
231. Without the senses, manas would have nothing to coordinate and correlate. Without manas, the senses could not be organized and the field of consciousness would remain chaotic.
231. Không có các giác quan, manas sẽ không có gì để phối hợp và tương liên. Không có manas, các giác quan không thể được tổ chức và trường tâm thức sẽ vẫn hỗn loạn.
[Page 195]
[Page 195]
In the evolution of the senses, hearing is the first vague something which calls the attention of the apparently blind self.
Trong sự tiến hoá của các giác quan, thính giác là một cái gì đó mơ hồ đầu tiên gọi sự chú ý của bản ngã dường như mù lòa.
232. When the Tibetan does not want to define something in terms of yet another word (which also would need defining), He uses the word “something”, or “that”.
232. Khi người Tây Tạng không muốn định nghĩa một điều gì bằng một từ khác nữa (mà từ ấy cũng lại cần được định nghĩa), Ngài dùng từ “cái gì đó”, hay “điều đó”.
233. From what is said here, the senses attract the attention of the Jiva, who is initially not consciously related to his new environment. The senses draw the Jiva’s attention outwards.
233. Từ điều được nói ở đây, các giác quan thu hút sự chú ý của Jiva, vốn ban đầu chưa có liên hệ có ý thức với môi trường mới của mình. Các giác quan kéo sự chú ý của Jiva ra bên ngoài.
234. We note that the Tibetan describes the self as the “apparently blind self”. Something within the self, of course, is not blind.
234. Chúng ta lưu ý rằng người Tây Tạng mô tả bản ngã là “bản ngã dường như mù lòa”. Dĩ nhiên, có điều gì đó bên trong bản ngã không mù.
a. To another vibration.
a. Đến một rung động khác.
b. To something originating outside of itself.
b. Đến một điều gì đó phát sinh từ bên ngoài chính nó.
c. To the concept of externality. When sound is first contacted the consciousness for the first time becomes aware of that which is without.
c. Đến khái niệm về tính bên ngoài. Khi âm thanh lần đầu được tiếp xúc, tâm thức lần đầu tiên nhận biết điều gì ở bên ngoài.
235. How interesting, this relation of the sense of hearing to the “concept of externality”! The concept of the Self and not-Self (which will grow throughout most of the incarnation) thus has its basis in the sense of hearing.
235. Thật thú vị, mối liên hệ này của giác quan thính giác với “khái niệm về tính bên ngoài”! Khái niệm về Bản Ngã và vô ngã (sẽ phát triển trong phần lớn thời kỳ nhập thể) như vậy có nền tảng trong giác quan thính giác.
236. One must compare the meaning of the “concept of externality” with the meaning of Saturn and earth signs (such as Capricorn which Saturn rules). Capricorn, the Third Ray Lord and Saturn are closely related to the presentation to consciousness of the illusion of time and space.
236. Người ta phải so sánh ý nghĩa của “khái niệm về tính bên ngoài” với ý nghĩa của Sao Thổ và các dấu hiệu hành thổ (như Ma Kết do Sao Thổ cai quản). Ma Kết, Đấng Chúa Tể Cung ba và Sao Thổ liên hệ chặt chẽ với việc trình hiện cho tâm thức ảo tưởng về thời gian và không gian.
237. The senses are centrifugal rather than centripetal. Mars is the centrifugal planet and the, interestingly, the five senses are ruled by Mars. The senses also relate most specifically to the astral plane over which Mars has a definite (if incomplete) rulership.
237. Các giác quan có tính ly tâm hơn là hướng tâm. Sao Hỏa là hành tinh ly tâm và, thật thú vị, năm giác quan được Sao Hỏa cai quản. Các giác quan cũng liên hệ đặc biệt nhất với cõi cảm dục, cõi mà Sao Hỏa có một quyền cai quản rõ rệt (dù chưa hoàn toàn).
“Thirdly, Mars governs the senses which are five in number. These senses are the basis of all human knowledge where that which is tangible and objective is concerned or inferred. Mars, therefore, rules science and hence the reason in this present era for the fundamental but not permanent [Page 216] materiality of science—a materiality which is rapidly lessening as Mars nears the end of its present cycle of influence.” (EA 215-216)
“Thứ ba, Sao Hỏa cai quản các giác quan, vốn có năm loại. Những giác quan này là nền tảng của mọi tri thức nhân loại ở nơi điều gì hữu hình và khách quan được quan tâm đến hay được suy ra. Vì vậy, Sao Hỏa cai quản khoa học và do đó là lý do trong thời đại hiện nay cho tính duy vật căn bản nhưng không thường hằng [Page 216] của khoa học—một tính duy vật đang nhanh chóng giảm bớt khi Sao Hỏa tiến gần đến cuối chu kỳ ảnh hưởng hiện tại của nó.” (EA 215-216)
But all that is grasped by the dormant consciousness (by means of this one sense of hearing) is the fact of something extraneous to itself, and of the direction in which that something lies.
Nhưng tất cả những gì được tâm thức còn ngủ yên nắm bắt (bằng phương tiện của một giác quan thính giác này) chỉ là sự kiện về một điều gì đó ở ngoài chính nó, và về phương hướng mà điều đó nằm ở đó.
238. The Tibetan is unfolding the story of the development of the senses in a more narrative form.
238. Người Tây Tạng đang khai triển câu chuyện về sự phát triển của các giác quan theo một hình thức tường thuật hơn.
239. The sense of hearing (at first) is quite rudimentary. It identifies externality and the direction (within the sphere of consciousness) in which that which is sensed as external may be found.
239. Giác quan thính giác (lúc đầu) khá sơ khai. Nó nhận diện tính bên ngoài và phương hướng (trong khối cầu tâm thức) nơi điều được cảm nhận là bên ngoài có thể được tìm thấy.
This apprehension, in course of time, calls into being another sense, that of touch.
Sự lĩnh hội này, theo thời gian, gọi một giác quan khác vào hiện hữu, đó là xúc giác.
240. We notice how the exercise of one sense calls a succeeding one into activity.
240. Chúng ta lưu ý cách việc vận dụng một giác quan gọi giác quan kế tiếp vào hoạt động.
The Law of Attraction works, the consciousness moves slowly outwards towards that which is heard; and when contact is made with the not-self it is called touch.
Định luật Hấp Dẫn vận hành, tâm thức chậm rãi di chuyển ra ngoài hướng về điều được nghe; và khi sự tiếp xúc được tạo ra với vô ngã thì đó được gọi là xúc giác.
241. While through the medium of sound transmission a kind of ‘touch’ occurs, the sense of hearing precedes that which is really and fully touched.
241. Trong khi qua trung gian của sự truyền âm có xảy ra một loại ‘xúc chạm’, thì giác quan thính giác đi trước điều gì thực sự và trọn vẹn được chạm tới.
242. Here we have an excellent definition of touch: “when contact is made with the not-Self it is called touch.” This means that direct contact between the self and the not-Self is made (physically) through the skin, or if the sense of touch is related to a higher dimension and higher vehicle, then direct contact is made through the organ of touch utilized in relation to that dimension and to any ‘object/state/energy pattern, etc.’ being ‘touched’ within that dimension. The type of contact characteristic of touch is far more intimate, far closer, than the type of contact existing in relation to the sense of hearing.
242. Ở đây chúng ta có một định nghĩa tuyệt vời về xúc giác: “khi sự tiếp xúc được tạo ra với vô ngã thì đó được gọi là xúc giác.” Điều này có nghĩa là sự tiếp xúc trực tiếp giữa bản ngã và vô ngã được tạo ra (về mặt hồng trần) qua da, hoặc nếu giác quan xúc giác liên hệ với một chiều kích cao hơn và một vận cụ cao hơn, thì sự tiếp xúc trực tiếp được tạo ra qua cơ quan xúc giác được sử dụng trong liên hệ với chiều kích đó và với bất kỳ ‘đối tượng/trạng thái/mô hình năng lượng, v.v.’ nào đang được ‘chạm tới’ trong chiều kích ấy. Loại tiếp xúc đặc trưng của xúc giác thân mật hơn nhiều, gần gũi hơn nhiều so với loại tiếp xúc tồn tại trong liên hệ với giác quan thính giác.
This touch conveys other ideas to the groping consciousness, ideas of size, of external texture, and of surface differences; the concept of the Thinker is thus slowly enlarged.
Sự xúc chạm này truyền đạt những ý niệm khác cho tâm thức đang dò dẫm, những ý niệm về kích thước, về kết cấu bên ngoài, và về những khác biệt bề mặt; khái niệm của Thức giả nhờ đó được mở rộng dần dần.
243. We note that the Tibetan, in describing the nature of the senses, is using words like “idea” and “concept”. It becomes clear that the senses can be called ‘media of information’ or ‘media of education’.
243. Chúng ta lưu ý rằng người Tây Tạng, khi mô tả bản chất của các giác quan, đang dùng những từ như “ý niệm” và “khái niệm”. Điều này làm rõ rằng các giác quan có thể được gọi là ‘những môi trường thông tin’ hay ‘những môi trường giáo dục’.
244. The term “groping consciousness” is very vivid; it conveys to us the idea of how the consciousness tries to cope with the environment when it cannot yet see.
244. Thuật ngữ “tâm thức đang dò dẫm” rất sinh động; nó truyền cho chúng ta ý niệm về cách tâm thức cố gắng ứng phó với môi trường khi nó chưa thể thấy.
245. For purposes of clarity and impression, let us tabulate the ideas conveyed to the groping consciousness by the sense of touch:
245. Để rõ ràng và gây ấn tượng hơn, chúng ta hãy lập bảng các ý tưởng được truyền đạt đến tâm thức đang lần mò qua xúc giác:
a. Ideas of size
a. Các ý tưởng về kích thước
b. Ideas of external texture
b. Các ý tưởng về kết cấu bên ngoài
c. Ideas of surface differences
c. Các ý tưởng về những khác biệt bề mặt
246. We can see that the sense of touch is also dealing largely with externalities.
246. Chúng ta có thể thấy rằng xúc giác cũng chủ yếu đề cập đến các yếu tố bên ngoài.
He can hear and feel, but as yet knows not enough to correlate nor name. When he succeeds in naming, he has made a big stride forward.
Y có thể nghe và cảm nhận, nhưng cho đến nay vẫn chưa biết đủ để tương liên hay gọi tên. Khi y thành công trong việc gọi tên, y đã tiến một bước lớn về phía trước.
247. Sound (through hearing) indicates an externality and something about its location and direction, as well as its relative ‘power’ within the environment. For instance, loud sounds are threatening; gentle sounds may be inviting; unusual sounds may call for alertness.
247. Âm thanh (qua thính giác) cho biết một yếu tố bên ngoài và đôi điều về vị trí cũng như phương hướng của nó, cũng như “quyền năng” tương đối của nó trong môi trường. Chẳng hạn, âm thanh lớn mang tính đe dọa; âm thanh nhẹ nhàng có thể mang tính mời gọi; âm thanh bất thường có thể đòi hỏi sự cảnh giác.
248. Feeling tells much about whether the one who feels wishes to ‘remain in touch’ or to withdraw. If the one who touches, touches, for instance, spines or nettles, or excessive heat or cold, there will almost always be withdrawal.
248. Cảm giác cho biết nhiều điều về việc kẻ cảm nhận có muốn “duy trì tiếp xúc” hay rút lui. Chẳng hạn, nếu kẻ chạm phải gai nhọn hay cây tầm ma, hoặc sức nóng hay lạnh quá mức, thì hầu như luôn luôn sẽ có sự rút lui.
249. When hearing and touch are the only senses operative, there is not enough known about the object heard or touched, or about the environment, to make correlation possible.
249. Khi thính giác và xúc giác là hai giác quan duy nhất hoạt động, thì chưa biết đủ về vật được nghe hay được chạm, hoặc về môi trường, để có thể tạo ra sự tương liên.
250. The act of naming is the act of attaching a sound (or a written form) to a perception. With naming, the power of generalization begins. All impressions from the same object are associated with that object and not considered unrelated to each other. A kind of fixation occurs and the perception of the environment simplifies. Instead of numerous unrelated impressions, it is noticed that a number of the impressions are related because they ‘belong’ to the same something in the field of consciousness. Thus, through fixation comes simplification of the environment and a greater ability to manage it.
250. Hành vi gọi tên là hành vi gắn một âm thanh (hoặc một hình thức viết) với một tri giác. Cùng với việc gọi tên, năng lực khái quát hóa bắt đầu. Mọi ấn tượng từ cùng một đối tượng đều được liên kết với đối tượng ấy và không còn bị xem là không liên hệ với nhau. Một loại sự cố định xuất hiện và tri giác về môi trường trở nên đơn giản hơn. Thay vì vô số ấn tượng không liên hệ, người ta nhận thấy rằng một số ấn tượng có liên hệ với nhau vì chúng “thuộc về” cùng một cái gì đó trong trường tâm thức. Như vậy, nhờ sự cố định mà có sự đơn giản hóa môi trường và khả năng quản lý nó lớn hơn.
251. Before the power to notice sameness and to name appears, the sphere of consciousness is chaotic and unmanageable. Naming begins the process of ordering the sphere of consciousness or the “contents of consciousness”.
251. Trước khi xuất hiện năng lực nhận ra sự giống nhau và gọi tên, khối cầu tâm thức là hỗn loạn và không thể quản lý. Việc gọi tên khởi đầu tiến trình sắp xếp khối cầu tâm thức hay “nội dung của tâm thức”.
We might note here, therefore, that the earliest cosmic symbols are applicable to the senses as well as elsewhere:
Do đó, ở đây chúng ta có thể lưu ý rằng những biểu tượng vũ trụ sớm nhất cũng áp dụng cho các giác quan cũng như ở những nơi khác:
252. Thus far, we have applied the five cosmic symbols to the etheric body in general and, then, to the development of the chakras. Now they are to be applied to the five senses.
252. Cho đến nay, chúng ta đã áp dụng năm biểu tượng vũ trụ cho thể dĩ thái nói chung và sau đó cho sự phát triển của các luân xa. Giờ đây chúng sẽ được áp dụng cho năm giác quan.
The point in the centre—consciousness and the not-self at a stage where sound alone is descriptive.
Điểm ở trung tâm—tâm thức và phi-ngã ở một giai đoạn mà chỉ riêng âm thanh là có tính mô tả.
253. The inference is that the circle without the dot would represent a condition of ‘pre-sensibility’—a condition in which the Jiva or indwelling consciousness is out of sensory contact with its environment.
253. Suy luận ở đây là vòng tròn không có chấm sẽ tượng trưng cho một trạng thái “tiền cảm giác”—một trạng thái trong đó Jiva hay tâm thức nội tại không có tiếp xúc giác quan với môi trường của nó.
254. We may say that the point in the center indicates the arising of the first sense—that of hearing (in relation to sound).
254. Chúng ta có thể nói rằng điểm ở trung tâm biểu thị sự phát sinh của giác quan đầu tiên—đó là thính giác (liên hệ với âm thanh).
255. The one who hears stands in the center of his environment or circumstances and is receptive to sound impacts from the environmental sphere.
255. Kẻ nghe đứng ở trung tâm môi trường hay hoàn cảnh của mình và tiếp nhận các tác động âm thanh từ khối cầu môi trường.
256. VSK suggests that we recall the diagram in R&I in which the point in the circle represents the AUM becoming the OM and the OM receding simply to a point.
256. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy nhớ lại sơ đồ trong R&I, trong đó điểm trong vòng tròn tượng trưng cho AUM trở thành OM và OM lùi dần chỉ còn là một điểm.
257. The point in the circle in relation to the OM, however, would represent a stage of finality in a process rather than an incipient stage (as in relation to the senses).
257. Tuy nhiên, điểm trong vòng tròn liên hệ với OM sẽ tượng trưng cho một giai đoạn chung cuộc trong một tiến trình hơn là một giai đoạn khởi sinh (như trong liên hệ với các giác quan).
The divided circle—consciousness aware of the not-self, through a dual recognition.
Vòng tròn phân chia—tâm thức nhận biết phi-ngã, qua một sự nhận biết nhị nguyên.
258. Though the term “touch” is not utilized in connection with this second symbol, it is implied.
258. Dù thuật ngữ “xúc giác” không được dùng liên hệ với biểu tượng thứ hai này, nó vẫn được hàm ý.
259. The divided circle suggests the self and the not-Self, not separated, but touching, for each of them as a semi-circle, shares the same diameter.
259. Vòng tròn phân chia gợi ý ngã và phi-ngã, không tách rời, mà đang chạm nhau, vì mỗi bên như một nửa vòng tròn đều chia sẻ cùng một đường kính.
260. Touch is necessarily based upon division, but requires that a divided duality be in close contact.
260. Xúc giác tất yếu dựa trên sự phân chia, nhưng đòi hỏi một nhị nguyên đã phân chia phải ở trong tiếp xúc gần.
261. The symbol also suggests the duality of our astral-buddhic solar system.
261. Biểu tượng này cũng gợi ý tính nhị nguyên của hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta.
[Page 196]
[Page 196]
Sight follows on this, the third sense, and the one definitely marking the correlation of ideas, or the relation between; it parallels the coming of Mind, both in time and function.
Tiếp theo là thị giác, giác quan thứ ba, và là giác quan đánh dấu rõ rệt sự tương liên của các ý tưởng, hay mối liên hệ giữa chúng; nó song hành với sự xuất hiện của trí tuệ, cả về thời gian lẫn chức năng.
262. Presumably, the sense of sight is symbolized by the cross within the circle.
262. Có lẽ xúc giác được biểu tượng hóa bằng thập giá bên trong vòng tròn.
263. The arrival of sight and of mind are quite simultaneous occurrences. The planet Venus (a planet intimately related to sight and to its organs, the eyes) is, as well, the planet connected with the implantation of mind in the consciousness of animal man.
263. Sự xuất hiện của thị giác và của trí tuệ là những biến cố xảy ra khá đồng thời. Hành tinh Sao Kim (một hành tinh liên hệ mật thiết với thị giác và với các cơ quan của nó là đôi mắt) đồng thời cũng là hành tinh gắn với việc cấy trí tuệ vào tâm thức của người thú.
264. VSK suggests making a correlation between the emergence of this third function, sight, and the characteristics of the animal kingdom. Animals see; plants do not; animals have budding mind, memory and anticipation; plants do not.
264. VSK gợi ý tạo một sự tương liên giữa sự xuất hiện của chức năng thứ ba này, thị giác, và các đặc tính của giới động vật. Động vật nhìn thấy; thực vật thì không; động vật có trí tuệ đang nảy nở, ký ức và sự dự liệu; thực vật thì không.
265. Following on this idea, the mineral kingdom would be connected to sound. The huge sonic effects from explosions during the recent great wars affected the mineral kingdom by rupturing the etheric webs separating the physical plane from the astral (the plane particularly associated with the vegetable kingdom).
265. Theo ý tưởng này, giới kim thạch sẽ được liên kết với âm thanh. Những tác động âm thanh khổng lồ từ các vụ nổ trong những cuộc đại chiến gần đây đã ảnh hưởng đến giới kim thạch bằng cách làm vỡ các màng dĩ thái ngăn cách cõi hồng trần với cõi cảm dục (cõi đặc biệt liên hệ với giới thực vật).
266. VSK suggests that the separation of the sexes is related to the vegetable kingdom where sex differentiation first appears. Fifth ray Venus rules the vegetable kingdom and the Law of Cleavage (and hence the dividing of the circle).
266. VSK gợi ý rằng sự phân chia giới tính có liên hệ với giới thực vật, nơi sự phân biệt giới tính lần đầu xuất hiện. Sao Kim cung năm cai quản giới thực vật và Định luật Phân Ly (và do đó là sự phân chia vòng tròn).
267. The divided circle can be seen as the symbol for the separation of the sexes, but so can the cross, with the horizontal line representing the female and the vertical the male.
267. Vòng tròn phân chia có thể được xem là biểu tượng cho sự phân chia giới tính, nhưng thập giá cũng vậy, với đường ngang tượng trưng cho nữ và đường dọc tượng trưng cho nam.
We have hearing, touch or feeling, and then sight. In connection with the correspondence it is to be noted that sight came in with the third root-race in this round, and that the third race saw also the coming in of Mind.
Chúng ta có thính giác, xúc giác hay cảm giác, rồi đến thị giác. Liên hệ với định luật tương ứng, cần lưu ý rằng thị giác xuất hiện cùng với giống dân gốc thứ ba trong cuộc tuần hoàn này, và giống dân thứ ba cũng chứng kiến sự xuất hiện của trí tuệ.
268. This is an important piece of historical information. Animal man was apparently a groping creature before the advent of sight. Interestingly, however, a great number of animals far lower than man have eyes and can see.
268. Đây là một mẩu thông tin lịch sử quan trọng. Người thú dường như là một sinh vật lần mò trước khi thị giác xuất hiện. Tuy nhiên, điều thú vị là có rất nhiều loài động vật thấp hơn con người rất xa vẫn có mắt và có thể nhìn thấy.
269. If sight (with respect to human development) came in the third root-race in this round (the fourth), it was probably at the time of individualization and the (probably subsequent) separation of the sexes.
269. Nếu thị giác (xét theo sự phát triển của con người) xuất hiện trong giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn này (cuộc tuần hoàn thứ tư), thì có lẽ đó là vào thời kỳ biệt ngã hóa và sự phân chia giới tính (có lẽ xảy ra sau đó).
The Self and the not-self were immediately correlated, and co-ordinated.
Ngã và phi-ngã lập tức được tương liên và phối hợp.
270. We are here given one of the great functions of the sense of sight—the correlation of the Self and the not-Self. By the Self we mean the indwelling consciousness or Jiva. We note that the spelling of the word (as that spelling appears in the Teaching) as either “self” or “Self” is not always significant. There are many times when the term “self” has been used when “Self” would have been more appropriate, but was simply not chosen. In the Commentary there is an attempt to be more consistent but the consistency is not exhaustive.
270. Ở đây chúng ta được cho biết một trong những chức năng lớn của thị giác—sự tương liên giữa Ngã và phi-ngã. Bởi Ngã, chúng ta muốn nói đến tâm thức nội tại hay Jiva. Chúng ta lưu ý rằng cách viết từ này (như xuất hiện trong Giáo Huấn) dưới dạng “self” hay “Self” không phải lúc nào cũng có ý nghĩa. Nhiều lần thuật ngữ “self” đã được dùng trong khi “Self” sẽ thích hợp hơn, nhưng đơn giản là đã không được chọn. Trong Cổ Luận có một nỗ lực nhằm nhất quán hơn, nhưng sự nhất quán ấy không hoàn toàn triệt để.
271. The number of registered items/perceptions within the field of consciousness increases dramatically when the sense of sight emerges. There are so many ‘things’ in the environment which simply do not sound, or whose sounds cannot be detected by human ears. What is revealed especially is:
271. Số lượng các mục/tri giác được ghi nhận trong trường tâm thức tăng lên mạnh mẽ khi thị giác xuất hiện. Có quá nhiều “sự vật” trong môi trường đơn giản là không phát ra âm thanh, hoặc âm thanh của chúng không thể được tai người phát hiện. Điều được tiết lộ đặc biệt là:
a. Relative position (far more precisely than either the sense of hearing or touch could reveal it)
a. Vị trí tương đối (chính xác hơn nhiều so với điều thính giác hay xúc giác có thể tiết lộ)
b. Relative size
b. Kích thước tương đối
c. The relative motions of items within the field of consciousness. Such relative motions are almost impossible to register and apprehend through the sense of hearing and touch only.
c. Những chuyển động tương đối của các mục trong trường tâm thức. Những chuyển động tương đối như thế hầu như không thể được ghi nhận và lĩnh hội chỉ qua thính giác và xúc giác.
d. As well, an entirely new qualitative dimension is revealed—the dimension of color which adds great variety within the field of vision.
d. Ngoài ra, một chiều kích phẩm tính hoàn toàn mới được tiết lộ—chiều kích của màu sắc, vốn làm tăng thêm sự đa dạng lớn lao trong trường thị giác.
e. Through sight it becomes possible to identify objects which were the source of various impressions heard and touched. The identification of objects as the sources of various sensations is established. The sense of location in space is greatly clarified.
e. Qua thị giác, có thể nhận diện các đối tượng vốn là nguồn gốc của những ấn tượng khác nhau được nghe và chạm. Sự nhận diện các đối tượng như là nguồn gốc của các cảm giác khác nhau được xác lập. Cảm nhận về vị trí trong không gian được làm sáng tỏ rất nhiều.
f. The fifth and seventh rays are rays which specify location. The sense of hearing is related to the seventh ray and the sense of sight to the fifth.
f. Cung năm và cung bảy là những cung xác định vị trí. Thính giác liên hệ với cung bảy và thị giác liên hệ với cung năm.
Their close partnership became an accomplished fact, and evolution hastened forward with renewed impetus.
Sự cộng tác mật thiết của chúng trở thành một sự kiện đã hoàn tất, và tiến hoá được thúc đẩy tiến lên với động lực mới.
272. When Self and not-Self were correlated, the incarnated Jiva became far more effective in relation to his environment.
272. Khi Ngã và phi-ngã được tương liên, Jiva nhập thể trở nên hữu hiệu hơn rất nhiều trong mối liên hệ với môi trường của mình.
These three major senses (if I might so describe them) are very definitely allied, each with one of the three Logoi:
Ba giác quan chính này (nếu tôi có thể mô tả như vậy) rất rõ ràng liên kết, mỗi giác quan với một trong ba Các Thượng đế:
273. We are speaking of both the three intra-systemic Logoi and the Logoi of an extra-systemic variety.
273. Chúng ta đang nói đến cả ba Các Thượng đế nội-hệ thống lẫn Các Thượng đế thuộc loại ngoại-hệ thống.
274. We note that there are considered to be major and minor senses; hearing, touch and sight are considered major.
274. Chúng ta lưu ý rằng có những giác quan chính và phụ; thính giác, xúc giác và thị giác được xem là chính.
275. In this respect, we note that in any pentagram, there are three major vertices and two minor (the legs of the pentagram).
275. Về phương diện này, chúng ta lưu ý rằng trong bất kỳ ngôi sao năm cánh nào cũng có ba đỉnh chính và hai đỉnh phụ (hai chân của ngôi sao năm cánh).
Hearing—The recognition of the fourfold word, the activity of matter, the third Logos.
Thính giác—Sự nhận biết Linh từ tứ phân, hoạt động của vật chất, Thượng đế thứ ba.
276. The fourfold “Word” works under the Third Logos.
276. “Linh từ” tứ phân hoạt động dưới Thượng đế thứ ba.
277. Each aspect of this “Word” correlates with one of the four directions, the four Archangels and the four elements.
277. Mỗi phương diện của “Linh từ” này tương liên với một trong bốn phương hướng, bốn Tổng Thiên Thần và bốn nguyên tố.
278. VSK suggests: Within the Secret Doctrine reference, hearing/sound is related to the atmic plane; the Third Logos is related to atma, to Saturn and to the Libran Hierarchy. This atmic focus stands at the head of the five worlds or manifesting pentagon (the Kumaras). There are also references to the Lord of Karma (Libra) holding sway in the fourfold world/word.
278. VSK gợi ý: Trong tham chiếu của Giáo Lý Bí Nhiệm, thính giác/âm thanh liên hệ với cõi atma; Thượng đế thứ ba liên hệ với atma, với Sao Thổ và với Huyền Giai Thiên Bình. Trọng điểm atma này đứng đầu năm thế giới hay ngũ giác biểu hiện (các Kumara). Cũng có những tham chiếu về Chúa Tể của Nghiệp Quả (Thiên Bình) nắm quyền chi phối trong thế giới/linh từ tứ phân.
Touch—The recognition of the sevenfold Form Builder, the gathering together of forms, their approximation and interrelation, the second Logos. The Law of Attraction between the Self and the not-self begins to work.
Xúc giác—Sự nhận biết Đấng Kiến Tạo Hình Tướng thất phân, sự tập hợp các hình tướng, sự xích lại gần nhau và tương liên của chúng, Thượng đế thứ hai. Định luật Hấp Dẫn giữa Ngã và phi-ngã bắt đầu hoạt động.
279. One of the numbers associated with the second ray is the number seven. The number of the second solar system is considered to be seven; five is associated with the first solar system and nine with the third.
279. Một trong những con số gắn với cung hai là số bảy. Con số của hệ mặt trời thứ hai được xem là bảy; năm gắn với hệ mặt trời thứ nhất và chín với hệ mặt trời thứ ba.
280. It would seem that the form builders work not only under the second ray but through the utilization of the sense of touch.
280. Dường như các đấng kiến tạo hình tướng không chỉ hoạt động dưới cung hai mà còn thông qua việc sử dụng xúc giác.
281. It is the sense of touch which facilitates:
281. Chính xúc giác tạo điều kiện cho:
a. The gathering together of forms
a. Sự tập hợp các hình tướng
b. The approximation of forms to each other
b. Sự xích lại gần nhau của các hình tướng
c. The interrelation of forms to each other
c. Sự tương liên của các hình tướng với nhau
282. Through the utilization of the sense of touch, the Self is attracted to the not-Self. Through touch begins the entire engagement of the Jiva with created circumstance.
282. Qua việc sử dụng xúc giác, Ngã bị thu hút đến phi-ngã. Qua xúc giác bắt đầu toàn bộ sự dấn thân của Jiva vào hoàn cảnh được tạo ra.
Sight—The recognition of totality, the synthesis of all, the realisation of the One in Many, the first Logos. The Law of Synthesis, operating between all forms which the self occupies, and the recognition of the essential unity of all manifestation by the means of sight.
Thị giác—Sự nhận biết tính toàn thể, sự tổng hợp của tất cả, sự chứng nghiệm Đấng Duy Nhất trong Nhiều, Thượng đế thứ nhất. Định luật Tổng Hợp, hoạt động giữa mọi hình tướng mà ngã chiếm ngụ, và sự nhận biết tính hợp nhất cốt yếu của mọi biểu hiện bằng phương tiện thị giác.
283. We can see how the sense of sight is related to the first ray and to synthesis. Thus, hearing would be related to the seventh ray, touch to the sixth ray and sight also to the fifth ray. Similarly (in relation to the Rays of Aspect) hearing would be related to the third ray, touch to the second, and sight to the first ray (as here stated).
283. Chúng ta có thể thấy thị giác liên hệ như thế nào với cung một và với sự tổng hợp. Như vậy, thính giác sẽ liên hệ với cung bảy, xúc giác với cung sáu và thị giác cũng với cung năm. Tương tự (liên hệ với Các Cung Trạng Thái), thính giác sẽ liên hệ với cung ba, xúc giác với cung hai, và thị giác với cung một (như được nêu ở đây).
284. It is sight that reveals the unity of the many (which sight discloses) and the One (the wholeness of which the field of vision reveals).
284. Chính thị giác tiết lộ sự hợp nhất của cái nhiều (điều mà thị giác phơi bày) và Đấng Duy Nhất (tính toàn vẹn mà trường thị giác tiết lộ).
285. The realization of synthesis as a fact is related to the “single eye” which supersedes the normal duality of right and left eyes.
285. Sự chứng nghiệm tổng hợp như một sự kiện liên hệ với “mắt đơn” vượt lên trên tính nhị nguyên thông thường của mắt phải và mắt trái.
As regards taste and smell, we might call them minor senses, for they are closely allied to the important sense of touch. They are practically subsidiary to that sense.
Về vị giác và khứu giác, chúng ta có thể gọi chúng là những giác quan phụ, vì chúng liên kết mật thiết với giác quan quan trọng là xúc giác. Chúng thực tế là phụ thuộc vào giác quan ấy.
286. This is a most important statement. If touch functions primarily in relation to the second and sixth rays, can this be said of the senses of taste and smell—so related to touch?
286. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Nếu xúc giác hoạt động chủ yếu liên hệ với cung hai và cung sáu, thì điều này có thể được nói về vị giác và khứu giác—vốn liên hệ với xúc giác—hay không?
287. The sense of touch depends upon close contact. Certainly, we can see that this is true of the sense of taste. Physically, at least, there must be direct contact between the taster and that which is tasted, if the sense of taste is to be activated. The sense of smell is rather more distant than the sense of taste. Physically, taste usually involves contact between the taster and matter in a dense or liquid state. Physically, the one who smells contacts matter in a less condensed and more gaseous state. Yet there is touch between the one who exercises the sense of smell and that which he detects through the sense of smell.
287. Xúc giác phụ thuộc vào sự tiếp xúc gần. Chắc chắn, chúng ta có thể thấy điều này đúng với vị giác. Ít nhất về mặt thể chất, phải có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người nếm và vật được nếm thì vị giác mới được kích hoạt. Khứu giác có phần xa hơn vị giác. Về mặt thể chất, vị giác thường bao hàm sự tiếp xúc giữa người nếm và vật chất ở trạng thái đậm đặc hay lỏng. Về mặt thể chất, người ngửi tiếp xúc với vật chất ở trạng thái ít ngưng tụ hơn và có tính khí hơn. Tuy nhiên vẫn có sự chạm xúc giữa người sử dụng khứu giác và điều mà y phát hiện qua khứu giác.
This second sense, and its connection with this second solar system, should be carefully pondered over. It is predominantly the sense most closely connected with the second Logos.
Giác quan thứ hai này, và mối liên hệ của nó với hệ mặt trời thứ hai này, cần được suy ngẫm cẩn trọng. Đây chủ yếu là giác quan liên hệ mật thiết nhất với Thượng đế thứ hai.
288. We do live in a solar system wherein the sense of touch is predominant. This reveals to us that we do not yet live in a solar system of vision.
288. Quả thật chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời mà xúc giác là chủ yếu. Điều này tiết lộ cho chúng ta rằng chúng ta chưa sống trong một hệ mặt trời của tầm nhìn.
289. Correspondingly, our Solar Logos has not yet taken the third cosmic initiation (cf. TCF 384) which liberates the sense of sight. It may well be the Logos of Sirius Who conveys to our Solar Logos the necessary enhancement of the sense of sight which would make sight the characteristic sense this solar system. Similarly, it is Venus who conveys to our Planetary Logos the necessary enhancement of the sense of sight which would make sight the characteristic sense of the Earth-scheme.
289. Tương ứng, Thái dương Thượng đế của chúng ta vẫn chưa trải qua lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (x. TCF 384), vốn giải phóng thị giác. Rất có thể chính Thượng đế của Sirius truyền cho Thái dương Thượng đế của chúng ta sự tăng cường cần thiết của thị giác, điều sẽ khiến thị giác trở thành giác quan đặc trưng của hệ mặt trời này. Tương tự, chính Sao Kim truyền cho Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta sự tăng cường cần thiết của thị giác, điều sẽ khiến thị giác trở thành giác quan đặc trưng của hệ hành tinh Địa Cầu.
This conveys a hint of much value if duly considered. It is of value to study the extensions of physical plane touch on other planes and to see whither we are led.
Điều này chuyển tải một gợi ý rất có giá trị nếu được suy xét đúng mức. Sẽ có giá trị khi nghiên cứu những sự mở rộng của xúc giác cõi hồng trần trên các cõi khác và xem chúng ta được dẫn đến đâu.
290. This is the method to be followed in relation to all the senses.
290. Đây là phương pháp cần được theo đuổi trong mối liên hệ với mọi giác quan.
It is the faculty which enables us to arrive [Page 197] at the essence by due recognition of the veiling sheath.
Đó là năng lực giúp chúng ta đạt đến [Page 197] tinh chất nhờ sự nhận biết đúng đắn lớp vỏ che phủ.
291. The veiling sheath represents the essence. Touch begins with outer contact but at length reveals or discloses the inner nature.
291. Lớp vỏ che phủ biểu hiện tinh chất. Xúc giác bắt đầu bằng sự tiếp xúc bên ngoài nhưng cuối cùng tiết lộ hay phơi bày bản chất bên trong.
292. We remember that it is the sense of smell, primarily, that reveals essence.
292. Chúng ta nhớ rằng chính khứu giác, trước hết, là giác quan tiết lộ tinh chất.
It enables the Thinker who fully utilises it to put himself en rapport with the essence of all selves at all stages, and thereby to aid in the due evolution of the sheath and actively to serve.
Nó giúp Nhà Tư Tưởng, khi hoàn toàn sử dụng nó, đặt mình vào sự tương thông với tinh chất của mọi ngã ở mọi giai đoạn, và nhờ đó trợ giúp cho sự tiến hoá đúng đắn của lớp vỏ và tích cực phụng sự.
293. Two of the extensions of the sense of touch are Healing (buddhic) and Active Service (atmic). When the Tibetan speaks immediately above of the ability ‘actively to serve” He is speaking of the sense of touch as it expresses on the atmic plane.
293. Hai trong những sự mở rộng của xúc giác là Trị Liệu Huyền Môn (Bồ đề) và Phụng sự Tích cực (atma). Khi Chân sư Tây Tạng nói ngay bên trên về khả năng “tích cực phụng sự”, Ngài đang nói về xúc giác khi nó biểu lộ trên cõi atma.
294. The healer and the one who actively serves are in process of aiding “in the due evolution of the sheath”.
294. Nhà trị liệu và người tích cực phụng sự đang trong tiến trình trợ giúp “sự tiến hoá đúng đắn của lớp vỏ”.
295. We infer that the ability to come “en rapport with the essence of all selves at all stages” is preceded by a preliminary outer contact.
295. Chúng ta suy ra rằng khả năng đi vào “sự tương thông với tinh chất của mọi ngã ở mọi giai đoạn” được đi trước bởi một tiếp xúc bên ngoài sơ bộ.
296. One of the planets ruling the astral plane, Neptune, is a planet inducing great sensitivity and is immediately related to the sense of touch.
296. Một trong những hành tinh cai quản cõi cảm dục, Sao Hải Vương, là một hành tinh tạo ra sự nhạy cảm lớn và liên hệ trực tiếp với xúc giác.
297. It is clear that the Christ, Who knew what was in man, had developed the subtle sense of touch to a very great degree. He was also a profound healer engaged in active service.
297. Rõ ràng Đức Christ, Đấng biết điều gì ở trong con người, đã phát triển xúc giác vi tế đến một mức độ rất cao. Ngài cũng là một nhà trị liệu sâu sắc dấn thân trong sự phụng sự tích cực.
298. The healer who serves actively must touch the sheaths of others in such a way that these sheathes may fully represent and express the inner reality. Healing very often occurs when the inner solar god is given free expression through the form.
298. Nhà trị liệu phụng sự tích cực phải chạm đến các lớp vỏ của người khác theo cách sao cho những lớp vỏ ấy có thể biểu hiện và diễn đạt đầy đủ thực tại bên trong. Sự trị liệu rất thường xảy ra khi vị thần mặt trời nội tại được tự do biểu lộ qua hình tướng.
A Lord of Compassion is one who (by means of touch) feels with, fully comprehends, and realises the manner in which to heal and correct the inadequacies of the not-self and thus actively to serve the plan of evolution.
Một Chúa Tể của Lòng Từ Bi là Đấng mà (bằng phương tiện xúc giác) cảm cùng, thấu hiểu trọn vẹn, và nhận ra cách thức để chữa lành và sửa chữa những bất toàn của phi-ngã và nhờ đó tích cực phụng sự thiên cơ tiến hoá.
299. Here we have an extraordinary definition of healing and of the type of human being who usually wields the healing energy—a Lord of Compassion.
299. Ở đây chúng ta có một định nghĩa phi thường về trị liệu và về kiểu con người thường vận dụng năng lượng trị liệu—một Chúa Tể của Lòng Từ Bi.
300. We remember in this regard that among the ranks of the Masters there are to be found both Masters of the Wisdom (fewer in number) and Lords of Compassion (numerically greater in this astral-buddhic solar system).
300. Chúng ta nhớ rằng về phương diện này, trong hàng ngũ các Chân sư có thể tìm thấy cả các Chân sư Minh Triết (ít hơn về số lượng) lẫn các Chúa Tể của Lòng Từ Bi (nhiều hơn về số lượng trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề này).
301. The inadequacies of the not-Self are those that prevent it from being the faithful instrument of the Jiva or Self. The personality is not meant to be made perfect for its own sake.
301. Những bất toàn của phi-ngã là những gì ngăn nó trở thành công cụ trung thực của Jiva hay Ngã. Phàm ngã không nhằm được làm cho hoàn hảo vì chính bản thân nó.
302. For the lengthier part of its career, form is in inadequate approximation to the inner conscious reality. This must be corrected, for it leads to division, distress and disease. The healer and later, the active server, are the ones who correct such problems.
302. Trong phần dài hơn của sự nghiệp của nó, hình tướng ở trong sự xích lại gần không đầy đủ với thực tại hữu thức bên trong. Điều này phải được sửa chữa, vì nó dẫn đến phân ly, khổ đau và bệnh tật. Nhà trị liệu và về sau là người phụng sự tích cực là những người sửa chữa các vấn đề như thế.
303. Master Jesus and Master Serapis are Lords of Compassion. Still greater beings such as the Christ and Buddha are both Lords of Compassion and, technically, “Masters of the Wisdom”.
303. Chân sư Jesus và Chân sư Serapis là các Chúa Tể của Lòng Từ Bi. Những Đấng còn vĩ đại hơn như Đức Christ và Đức Phật thì đồng thời là các Chúa Tể của Lòng Từ Bi và, về mặt kỹ thuật, là “các Chân sư Minh Triết”.
We should study likewise in this connection the value of touch as demonstrated by the healers of the race (those on the Bodhisattva line)83 and the effect of the Law of Attraction and Repulsion as thus manipulated by them.
Chúng ta cũng nên nghiên cứu trong mối liên hệ này giá trị của xúc giác như được chứng minh bởi các nhà trị liệu của nhân loại (những vị trên tuyến của Đức Bồ Tát)83 và hiệu quả của Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi như được các vị ấy vận dụng.
304. In the western world, the Christ is the major recent example of a healing Bodhisattva. The students and disciples of the Christ also demonstrated prodigious healing powers.
304. Trong thế giới phương Tây, Đức Christ là tấm gương lớn gần đây nhất của một Đức Bồ Tát trị liệu. Các đạo sinh và đệ tử của Đức Christ cũng đã biểu lộ những quyền năng trị liệu phi thường.
305. Probably the Buddha was a healer as well (how could He help but be, given His radiation and illumination), but in the Buddhist literature at least the physical healings attributed to the Buddha are far less numerous than those attributed to the Christ. Might we say, however, that the Buddha was one of the greatest mental/psychological healers in human history?
305. Có lẽ Đức Phật cũng là một nhà trị liệu (làm sao Ngài lại không thể như vậy, xét đến bức xạ và sự soi sáng của Ngài), nhưng ít nhất trong văn học Phật giáo, những sự chữa lành thể xác được quy cho Đức Phật ít hơn nhiều so với những điều được quy cho Đức Christ. Tuy nhiên, liệu chúng ta có thể nói rằng Đức Phật là một trong những nhà trị liệu trí tuệ/tâm lý vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại hay không?
Footnote 83:
Chú thích 83:
The line of the Bodhisattva is that of Love-Wisdom, and of the detailed science of the soul;
Tuyến của Đức Bồ Tát là tuyến của Bác Ái – Minh Triết, và của khoa học chi tiết về linh hồn;
306. The Bodhisattva emerges along the second ray line; the second ray is also called the “Ray of Specialized Detail”, and of “Detailed Unity”. We realize that Master DK is especially adept at understanding and teaching the “detailed science of the soul”. Patanjali, the author of the Yoga Sutras, would, necessarily, have been another such teacher, for what are the Yoga Sutras if not a detailed exposition on the science of the soul and the unfoldment of soul powers?
306. Đức Bồ Tát xuất hiện theo tuyến cung hai; cung hai cũng được gọi là “Cung của Chi Tiết Chuyên Biệt”, và của “Sự Hợp Nhất Chi Tiết”. Chúng ta nhận ra rằng Chân sư DK đặc biệt thiện xảo trong việc thấu hiểu và giảng dạy “khoa học chi tiết về linh hồn”. Patanjali, tác giả của Yoga Sutras, tất yếu cũng là một huấn sư như vậy, vì Yoga Sutras là gì nếu không phải là một trình bày chi tiết về khoa học của linh hồn và sự khai mở các quyền năng của linh hồn?
307. Study DINA II, 518, for descriptions of the two types of second ray approach here mentioned.
307. Hãy nghiên cứu DINA II, 518, để biết các mô tả về hai loại tiếp cận cung hai được nhắc đến ở đây.
it is the teaching line and the path upon which all must eventually pass.
đó là tuyến giảng dạy và con đường mà rốt cuộc tất cả đều phải đi qua.
308. Must all who are part of this solar system eventually pass upon the teaching line, or only all those on the second ray line? Might we say that all lives within this solar system are necessarily upon the second ray because our Solar Logos is both a second ray soul and second ray personality?
308. Phải chăng tất cả những ai là một phần của hệ mặt trời này cuối cùng đều phải đi trên tuyến giảng dạy, hay chỉ tất cả những ai ở trên tuyến cung hai? Liệu chúng ta có thể nói rằng mọi sự sống trong hệ mặt trời này tất yếu đều ở trên cung hai vì Thái dương Thượng đế của chúng ta vừa là linh hồn cung hai vừa là phàm ngã cung hai hay không?
Students of etymology will have noted that the origin of the word touch is somewhat obscure, but probably means to 'draw with quick motion.'
Những người nghiên cứu từ nguyên học hẳn đã lưu ý rằng nguồn gốc của từ touch phần nào mơ hồ, nhưng có lẽ có nghĩa là “kéo bằng chuyển động nhanh.”
309. This definition seems almost to suggest a gesture frequently found in the subtle healing arts. Miasmic energy is frequently drawn off in such a manner, and more beneficial energy distributed.
309. Định nghĩa này dường như gần như gợi ý một cử chỉ thường thấy trong các nghệ thuật trị liệu vi tế. Năng lượng nhiễm khí thường được rút ra theo cách như vậy, và năng lượng có lợi hơn được phân phối.
310. The definition of “draw” seems related to “draw away”, to attract.
310. Định nghĩa của “kéo” dường như liên hệ với “kéo ra”, với sự thu hút.
Herein lies the whole secret of this objective solar system, and herein will be demonstrated the quickening of vibration by means of touch.
Chính trong đây có toàn bộ bí mật của hệ mặt trời khách quan này, và chính trong đây sẽ được chứng minh sự làm tăng nhanh rung động bằng phương tiện xúc giác.
311. It is the First Ray Lord who is called “The Power that touches and withdraws”. An effective mode of vibratory stimulation is thus indicated.
311. Chính Đấng Chúa Tể Cung một được gọi là “Quyền năng chạm vào rồi rút lui”. Như vậy, một phương thức hữu hiệu của sự kích thích rung động được nêu ra.
312. The factor of ‘drawing’ is particularly related to the second ray and the “quick motion” to the first ray.
312. Yếu tố “thu hút” đặc biệt liên hệ với cung hai, còn “chuyển động mau lẹ” thì liên hệ với cung một.
313. This definition suggests the magnetic interplay which relates various entities.
313. Định nghĩa này gợi ra sự tương tác từ tính liên kết các thực thể khác nhau.
Inertia, mobility, rhythm, are the qualities manifested by the not-self.
Quán tính, tính động, nhịp điệu, là những phẩm tính được biểu lộ bởi vô ngã.
314. DK is telling us that the three gunas relate to the not-Self.
314. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng ba guna liên hệ với vô ngã.
Rhythm, balance, and stable vibration are achieved by means of this very faculty of touch or feeling.
Nhịp điệu, quân bình và rung động ổn định được đạt tới nhờ chính năng lực xúc chạm hay cảm nhận này.
315. Rhythm, balance and stable vibration relate to the third guna, Sattva. In relating the sense of touch to Sattva, DK is pointing out the importance of the second ray in achieving the sattvic state.
315. Nhịp điệu, quân bình và rung động ổn định liên hệ với guna thứ ba, Sattva. Khi liên hệ xúc giác với Sattva, Chân sư DK đang chỉ ra tầm quan trọng của cung hai trong việc đạt tới trạng thái sattva.
Let me illustrate briefly so as to make the problem somewhat clearer. What results in meditation? By dint of strenuous effort and due attention to rules laid down, the aspirant succeeds in touching matter of a quality rarer than is his usual custom. He contacts his causal body, in time he contacts the matter of the buddhic plane. By means of this touch his own vibration is temporarily and briefly quickened.
Hãy để tôi minh họa ngắn gọn để làm cho vấn đề phần nào rõ ràng hơn. Kết quả của tham thiền là gì? Nhờ nỗ lực mãnh liệt và sự chú ý thích đáng đến các quy luật đã được đặt ra, người chí nguyện thành công trong việc chạm tới vật chất có phẩm tính tinh tế hơn điều vốn là thói quen thường lệ của y. Y tiếp xúc với thể nguyên nhân của mình, và theo thời gian y tiếp xúc với vật chất của cõi Bồ đề. Nhờ sự xúc chạm này, rung động của chính y tạm thời và trong chốc lát được gia tốc.
316. The quickening may relate to the second guna, Rajas. When brief quickening becomes an established tendency, and promotes a heightened stability within the entire energy system, then the state of Sattva has been reached.
316. Sự gia tốc này có thể liên hệ với guna thứ hai, Rajas. Khi sự gia tốc ngắn ngủi trở thành một khuynh hướng đã được xác lập, và thúc đẩy một sự ổn định cao hơn trong toàn bộ hệ thống năng lượng, thì trạng thái Sattva đã đạt được.
317. Touch may either quicken or retard.
317. Sự xúc chạm có thể hoặc gia tốc hoặc làm chậm lại.
318. It becomes clear that one of the purposes of our usual meditative practices is to touch (and assimilate) matter of a higher vibration than that to which we are accustomed.
318. Rõ ràng là một trong những mục đích của các thực hành tham thiền thông thường của chúng ta là chạm tới (và đồng hóa) vật chất có rung động cao hơn điều mà chúng ta vốn quen thuộc.
Fundamentally we are brought back to the subject that we deal with in this treatise. The latent fire of matter attracts to itself that fire, latent in other forms. They touch, and recognition and awareness ensues. The fire of manas burns continuously and is fed by that which is attracted and repulsed. When the two [Page 198] blend, the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified. The Law of Attraction persists in its work until another fire is attracted and touched, and the threefold merging is completed.
Về căn bản, chúng ta được đưa trở lại với chủ đề mà chúng ta bàn đến trong bộ luận này. Lửa tiềm ẩn của vật chất tự thu hút về mình ngọn lửa tiềm ẩn trong các hình tướng khác. Chúng chạm nhau, và sự nhận biết cùng tâm thức phát sinh. Lửa của manas cháy liên tục và được nuôi dưỡng bởi điều được thu hút và bị đẩy lui. Khi cả hai [Page 198] hòa trộn, sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường. Định luật Hấp Dẫn tiếp tục công việc của nó cho đến khi một ngọn lửa khác được thu hút và được chạm tới, và sự hợp nhất tam phân được hoàn tất.
319. Fires of like nature attract and touch each other. When like touches like, awareness ensues.
319. Những ngọn lửa đồng tính chất thu hút và chạm vào nhau. Khi cái tương đồng chạm vào cái tương đồng, sự nhận biết phát sinh.
320. Another principle that may be gathered from the foregoing: the touch of like with like promotes intensification.
320. Một nguyên lý khác có thể rút ra từ những điều trên đây: sự xúc chạm của cái tương đồng với cái tương đồng thúc đẩy sự tăng cường.
321. With increased stimulation, the sense of touch becomes more acute, more responsive.
321. Khi sự kích thích gia tăng, xúc giác trở nên bén nhạy hơn, đáp ứng hơn.
322. The sense of touch is related especially to solar fire, the higher fire of mind. When solar fire meets solar fire, “the stimulation is greatly increased and the ability to touch intensified”.
322. Xúc giác đặc biệt liên hệ với Lửa Thái dương, ngọn lửa cao hơn của trí tuệ. Khi Lửa Thái dương gặp Lửa Thái dương, “sự kích thích tăng lên rất nhiều và khả năng xúc chạm được tăng cường”.
323. VSK notes: “So the fires of mind are fed by BOTH attraction AND repulsion. Desire for or antipathy against; any ‘passion’, any energy in any direction (whether towards merging or repulsion), is a fuel.
323. VSK ghi chú: “Vậy là các ngọn lửa của trí tuệ được nuôi dưỡng bởi CẢ hấp dẫn LẪN đẩy lui. Ham muốn hay ác cảm; bất kỳ ‘đam mê’ nào, bất kỳ năng lượng nào theo bất kỳ hướng nào (dù hướng tới hợp nhất hay đẩy lui), đều là nhiên liệu.
324. Although a given fire attracts the same fire, it is also necessary that fire by friction attract solar fire, and that the blend of fire by friction and solar fire attract Spirit-fire.
324. Mặc dù một ngọn lửa nhất định thu hút cùng loại lửa ấy, nhưng cũng cần thiết là Lửa ma sát phải thu hút Lửa Thái dương, và sự hòa trộn của Lửa ma sát với Lửa Thái dương phải thu hút Lửa-tinh thần.
325. The technicalities of the science of the merging of the fires (of the same or contrasting fires) are beyond us. It is sufficient for us to realize that all such merging is occurring under the Law of Attraction (and Repulsion).
325. Những chi tiết kỹ thuật của khoa học về sự hợp nhất các ngọn lửa (cùng loại hay tương phản) vượt ngoài khả năng của chúng ta. Chỉ cần chúng ta nhận ra rằng mọi sự hợp nhất như thế đều đang diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi).
Forget not in this connection the mystery of the Rod of Initiation.84
Đừng quên, trong mối liên hệ này, huyền nhiệm của Thần Trượng Điểm đạo.84
326. This is another great example of the power of touch, for the Rod is, indeed, used to touch that which is to be stimulated.
326. Đây là một thí dụ lớn khác về quyền năng của sự xúc chạm, vì Thần Trượng quả thực được dùng để chạm vào điều cần được kích thích.
Later when we consider the subject of the centres and Initiation it must be remembered that we are definitely studying one aspect of this mysterious faculty of touch, the faculty of the second Logos, wielding the law of Attraction.
Sau này khi chúng ta khảo sát chủ đề các trung tâm và điểm đạo, cần nhớ rằng chúng ta đang dứt khoát nghiên cứu một phương diện của năng lực xúc chạm huyền nhiệm này, năng lực của Logos thứ hai, vận dụng định luật Hấp Dẫn.
327. Touch is to be considered “the faculty of the second Logos, wielding the Law of Attraction”.
327. Sự xúc chạm cần được xem là “năng lực của Logos thứ hai, vận dụng Định luật Hấp Dẫn”.
328. DK seems to be telling us that there can be no initiation unless the faculty of touch is involved.
328. Chân sư DK dường như đang cho chúng ta biết rằng không thể có điểm đạo nếu không có năng lực xúc chạm tham dự vào.
329. This thought reminded one of certain Eastern Masters who conveyed initiatory potency to their chelas by touching them, often quite suddenly and unexpectedly.
329. Ý tưởng này khiến người ta nhớ đến một số Chân sư phương Đông, những vị đã truyền đạt năng lực điểm đạo cho các đệ tử của mình bằng cách chạm vào họ, thường là khá đột ngột và bất ngờ.
330. VSK enquires; “How can a Law be ‘wielded’. Like gravity, a Law simply IS. Can it be turned on and off or directed hither or thence by an Entity?
330. VSK nêu câu hỏi: “Làm sao một Định luật có thể được ‘vận dụng’? Giống như trọng lực, một Định luật đơn giản là HIỆN HỮU. Nó có thể được bật lên tắt xuống hay được hướng về đây hoặc kia bởi một Thực Thể chăng?
331. It may be said that a Master wields energy in full cognizance of a Law. He works with the Law and wields according to the Law. He does not change the Law.
331. Có thể nói rằng một Chân sư vận dụng năng lượng với sự nhận biết trọn vẹn về một Định luật. Ngài làm việc với Định luật và vận dụng theo Định luật. Ngài không thay đổi Định luật.
Footnote 84:
Chú thích 84:
The Initiations spoken of in this Treatise are the major Initiations which bring about those expansions of consciousness which lead to liberation; these are taken in the causal body and from thence reflected into the physical [astral and mental]; the Initiate never proclaims his initiation.
Các cuộc điểm đạo được nói đến trong bộ Luận này là những cuộc điểm đạo lớn đem lại những sự mở rộng tâm thức dẫn đến giải thoát; chúng được tiếp nhận trong thể nguyên nhân và từ đó được phản chiếu vào thể xác hồng trần [astral and mental]; điểm đạo đồ không bao giờ công bố sự điểm đạo của mình.
332. By “major initiations” DK does not mean the third degree and beyond, for the first and second initiations (of the Threshold) are also taken in the causal body.
332. Bởi “những cuộc điểm đạo lớn”, Chân sư DK không có ý nói từ cấp ba trở lên, vì lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai (của Ngưỡng Cửa) cũng được tiếp nhận trong thể nguyên nhân.
333. There are minor initiation (Initiations of the Four Elements) taken between the major initiations, and especially between the first and second initiations.
333. Có những cuộc điểm đạo nhỏ (Các cuộc Điểm đạo của Bốn Nguyên tố) được tiếp nhận giữa các cuộc điểm đạo lớn, và đặc biệt là giữa lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai.
334. Initiations taken in the causal body are reflected not only into the physical body but into the astral and mental vehicles as well.
334. Các cuộc điểm đạo được tiếp nhận trong thể nguyên nhân không chỉ được phản chiếu vào thể xác mà còn vào cả các vận cụ cảm dục và trí tuệ nữa.
335. It goes without saying that the initiate will not (and cannot) proclaim his initiation. Those who thus proclaim signal that they cannot possibly be true initiates. Yet, the persistent ego will proclaim and make all sorts of excuses for doing so. Let those who have eyes to see, see.
335. Không cần phải nói rằng điểm đạo đồ sẽ không (và không thể) công bố sự điểm đạo của mình. Những ai công bố như thế tự cho thấy rằng họ không thể nào là những điểm đạo đồ chân chính. Tuy nhiên, chân ngã cố chấp sẽ công bố và đưa ra đủ mọi loại biện minh để làm như vậy. Ai có mắt để thấy, hãy thấy.
Let us now finish what may be imparted on the remaining three senses—sight, taste, smell—and then briefly sum up their relationship to the centres, and their mutual action and interaction.
Giờ đây chúng ta hãy hoàn tất những gì có thể được truyền đạt về ba giác quan còn lại—thị giác, vị giác, khứu giác—rồi sau đó ngắn gọn tổng kết mối liên hệ của chúng với các trung tâm, cùng hoạt động và sự tương tác lẫn nhau của chúng.
336. A vast subject to be dealt with briefly.
336. Một chủ đề bao la cần được bàn đến một cách ngắn gọn.
That will then leave two more points to be dealt with in this first division of the Treatise on Cosmic Fire, and a summing up. We shall then be in a position to take up that portion of the treatise that deals with the fire of manas and with the development of the manasaputras,85 both in their totality and likewise individually.
Sau đó, trong phần thứ nhất của Luận về Lửa Vũ Trụ này, sẽ còn lại hai điểm nữa cần được bàn đến, cùng một phần tổng kết. Khi ấy chúng ta sẽ ở vào vị thế có thể bắt đầu phần của bộ luận bàn về lửa của manas và về sự phát triển của các manasaputra,85 cả trong tính toàn thể của họ lẫn từng cá thể riêng biệt.
337. The section of TCF which deals with the manasaputras deals with the present and with our current solar system. It will be, DK tells us, the most widely read section in the book because it has so much immediate relevance.
337. Phần của Luận về Lửa Vũ Trụ bàn về các manasaputra bàn về hiện tại và về hệ mặt trời hiện nay của chúng ta. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng đó sẽ là phần được đọc rộng rãi nhất trong sách vì nó có quá nhiều liên hệ trực tiếp trước mắt.
338. As difficult as it may have been to work through the section of the book dealing specifically with matter and fire by friction, it has been a necessary preamble to the more accessible psychological work of the middle section.
338. Dù việc nghiên cứu phần sách bàn riêng về vật chất và Lửa ma sát có thể đã khó khăn đến đâu, nó vẫn là phần dẫn nhập cần thiết cho công trình tâm lý học dễ tiếp cận hơn ở phần giữa.
This topic is of the most imperative importance as it deals entirely with man, the Ego, the thinker, and shows the cosmic blending of the fires of matter and of mind, and their utilisation by the indwelling Flame.
Chủ đề này có tầm quan trọng cấp thiết nhất vì nó hoàn toàn bàn về con người, chân ngã, nhà tư tưởng, và cho thấy sự hòa trộn vũ trụ của các ngọn lửa của vật chất và của trí tuệ, cùng sự sử dụng chúng bởi Ngọn Lửa nội tại.
339. The essence of the coming section is clearly given. We are the Ego, the Thinker on his own plane. On this planet and in this solar system we are learning to be fully that Ego/Thinker, and to express the potencies of the Ego/Thinker in the lower worlds as well as upon the higher mental plane.
339. Tinh túy của phần sắp tới được nêu ra rất rõ. Chúng ta là chân ngã, Nhà Tư Tưởng trên cõi riêng của mình. Trên hành tinh này và trong hệ mặt trời này, chúng ta đang học để hoàn toàn là chân ngã/Nhà Tư Tưởng ấy, và để biểu lộ các tiềm năng của chân ngã/Nhà Tư Tưởng trong các cõi thấp cũng như trên Cõi thượng trí.
340. DK, who does not exaggerate, tells us that the coming theme is of “imperative importance”. We should take Him at His word and learn to realize ourselves as souls in expression, as the Ego/Thinker in incarnation.
340. Chân sư DK, Đấng không hề cường điệu, cho chúng ta biết rằng chủ đề sắp tới có tầm quan trọng “cấp thiết”. Chúng ta nên tin lời Ngài và học cách chứng nghiệm chính mình như những linh hồn đang biểu lộ, như chân ngã/Nhà Tư Tưởng đang lâm phàm.
341. The term “indwelling Flame” relates to the Spirit aspect. We have studied the word “flame” and seen its close connection to pure being and also to the more objective aspects of fire.
341. Thuật ngữ “Ngọn Lửa nội tại” liên hệ với phương diện Tinh thần. Chúng ta đã nghiên cứu từ “ngọn lửa” và thấy mối liên hệ chặt chẽ của nó với bản thể thuần túy và cả với những phương diện khách quan hơn của lửa.
Footnote 85:
Chú thích 85:
Manasaputras: These are the Sons of Mind, the individual principle in man, the Ego, the solar Angel, in his own body on the abstract levels of the mental plane.
Manasaputras: Đây là các Con của Trí Tuệ, nguyên khí cá thể trong con người, chân ngã, Thái dương Thiên Thần, trong thể riêng của y trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí.
342. Man is the Solar Angel and yet he is not. The definition immediately above equates a number of terms for which fine distinctions can be found.
342. Con người là Thái dương Thiên Thần mà cũng không phải là như vậy. Định nghĩa ngay trên đây đồng nhất một số thuật ngữ mà giữa chúng có thể tìm thấy những phân biệt tinh tế.
343. The causal body is one of the bodies of the Solar Angel. As a very advanced being, the Solar Angel has other vehicles on planes which the teaching does not yet specify.
343. Thể nguyên nhân là một trong các thể của Thái dương Thiên Thần. Là một hữu thể rất cao cấp, Thái dương Thiên Thần có những vận cụ khác trên các cõi mà giáo huấn hiện chưa nêu rõ.
344. Simply stated, Manasaputras are members of the Fifth Creative Hierarchy; they are Solar Angels, who are “returning Nirvanis” from a previous mahamanvantara. They are identified with man, but are beings greatly in advance of man’s development.
344. Nói một cách đơn giản, các Manasaputras là những thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm; họ là các Thái dương Thiên Thần, là những “nirvani trở về” từ một Đại giai kỳ sinh hóa trước đó. Họ được đồng hóa với con người, nhưng là những hữu thể vượt rất xa sự phát triển của con người.
c. Sight. This sense, as said before, is the paramount correlating sense of the solar system.
c. Thị giác. Giác quan này, như đã nói trước đây, là giác quan tương quan tối thượng của hệ mặt trời.
345. Mercury is at once the planet of correlation and the planet of sight, for “Mercury heals the blind and restores sight, mental and physical.” (II. 571, EA 663).
345. Sao Thủy đồng thời là hành tinh của sự tương quan và là hành tinh của thị giác, vì “Sao Thủy chữa lành người mù và phục hồi thị giác, cả trí tuệ lẫn thể xác.” (II. 571, EA 663).
346. Venus is also a planet promoting sight, but not so much a planet of correlation (at least, mental correlation).
346. Sao Kim cũng là một hành tinh thúc đẩy thị giác, nhưng không hẳn là một hành tinh của sự tương quan (ít nhất là sự tương quan trí tuệ).
347. Both Mercury and Venus are related to the ajna center (each representing one of the two eyes—with the Sun representing the third) and are thus related to the sense of sight.
347. Cả Sao Thủy lẫn Sao Kim đều liên hệ với trung tâm ajna (mỗi hành tinh tượng trưng cho một trong hai mắt—còn Mặt Trời tượng trưng cho con mắt thứ ba) và do đó liên hệ với thị giác.
Under the Law of Economy man hears. Sound permeates matter and is the basis of its subsequent heterogeneity.
Dưới Định luật Tiết Kiệm, con người nghe. Âm thanh thấm khắp vật chất và là nền tảng của tính dị biệt tiếp theo của nó.
348. Master DK is relating the primary senses to the three major Laws of Cosmos.
348. Chân sư DK đang liên hệ các giác quan chính yếu với ba Định luật lớn của Vũ trụ.
349. Sound is particularly related to the first, third and seventh rays. Sound differentiates, as does the third ray (the “Discriminating Essential Life”).
349. Âm thanh đặc biệt liên hệ với cung một, cung ba và cung bảy. Âm thanh tạo ra sự biến phân, cũng như cung ba ( “Sự Sống Cốt Yếu có tính Phân Biện”).
350. Sound causes the heterogeneity of all things and hearing is the sense that reveals externality and the heterogeneity of that externality.
350. Âm thanh gây ra tính dị biệt của mọi sự vật, và thính giác là giác quan phơi bày tính bên ngoài cùng tính dị biệt của cái bên ngoài ấy.
351. Words convey sounds, and most word-sounds are keyed to diversity and are perpetuators of the illusion of diversity. When the use of word-sounds is transcended, the illusion of diversity is also ended.
351. Ngôn từ chuyển tải âm thanh, và phần lớn các âm thanh-ngôn từ đều được điều chỉnh theo tính đa tạp và là những yếu tố duy trì ảo tưởng về tính đa tạp. Khi việc sử dụng các âm thanh-ngôn từ được siêu vượt, ảo tưởng về tính đa tạp cũng chấm dứt.
352. VSK suggests that we relate sound (as it works through matter) as the origin of the Heresy of Separateness.
352. VSK gợi ý rằng chúng ta hãy liên hệ âm thanh (khi nó hoạt động qua vật chất) với nguồn gốc của Đại Tà thuyết về Tính Tách Biệt.
Under the Law of Attraction, man touches and makes contact with that which is brought to his attention [Page 199] through sound waves of activity. This leads to a condition of mutual repulsion and attraction between the one who apprehends and that which is apprehended.
Dưới Định luật Hấp Dẫn, con người chạm vào và tiếp xúc với điều được đưa đến sự chú ý của y [Page 199] qua các làn sóng âm thanh của hoạt động. Điều này dẫn đến một trạng thái đẩy lui và hấp dẫn hỗ tương giữa người lĩnh hội và điều được lĩnh hội.
353. Sound brings externality to attention. This is such an important idea.
353. Âm thanh đưa tính bên ngoài đến sự chú ý. Đây là một ý tưởng rất quan trọng.
354. But recognizing that something exists (through the agency of sound) is not the same as being in touch with that which is recognized.
354. Nhưng việc nhận ra rằng một điều gì đó hiện hữu (qua tác động của âm thanh) không giống với việc tiếp xúc với điều được nhận ra ấy.
355. First we must ‘hear’ the soul, the Word expressed perhaps through the “Voice of Conscience”. Later we come in touch with that which has spoken and, therefore, experience its energy in a non-theoretical manner.
355. Trước hết chúng ta phải “nghe” linh hồn, Linh từ có lẽ được biểu lộ qua “Tiếng Nói của Lương Tâm”. Về sau chúng ta mới tiếp xúc với điều đã cất tiếng nói, và do đó kinh nghiệm năng lượng của nó theo cách không còn chỉ là lý thuyết.
356. When contact is made through the sense of touch, attraction or repulsion follow, or perhaps, simply, indifference.
356. Khi sự tiếp xúc được tạo lập qua xúc giác, hấp dẫn hay đẩy lui sẽ theo sau, hoặc có lẽ đơn giản chỉ là điềm nhiên.
357. Those to whom we are most related are those we either love or hate. By far, the greatest number of those who could be contacted are those to whom we are, relatively speaking, indifferent.
357. Những người mà chúng ta liên hệ nhiều nhất là những người chúng ta hoặc yêu thương hoặc căm ghét. Phần lớn nhất, vượt xa mọi số khác, trong số những người có thể được tiếp xúc là những người mà nói tương đối, chúng ta điềm nhiên đối với họ.
358. Some degree of diversity and of difference is noted through the sense of hearing and the agency of sound. Awareness of diversity and difference is heightened through the Law of Attraction and the sense of touch. Awareness of similarity, however, is also heightened.
358. Một mức độ đa tạp và khác biệt nào đó được ghi nhận qua thính giác và tác động của âm thanh. Sự nhận biết về tính đa tạp và khác biệt được tăng cường qua Định luật Hấp Dẫn và xúc giác. Tuy nhiên, sự nhận biết về tính tương đồng cũng được tăng cường.
Having apprehended and then contacted his eyes are opened and he recognises his place in the whole order under the Law of Synthesis.
Sau khi đã lĩnh hội rồi tiếp xúc, mắt y được mở ra và y nhận ra vị trí của mình trong toàn bộ trật tự dưới Định luật Tổng Hợp.
Hearing Unity
Thính giác Hợp nhất
Touch Duality
Xúc giác Nhị nguyên tính
Sight Triplicity.
Thị giác Bộ ba.
359. The opening of the eyes follows upon contact. This is true in relation to soul culture. When once one has felt the presence of the soul the door is open to see that which one has felt.
359. Sự mở mắt xảy ra sau sự tiếp xúc. Điều này đúng trong liên hệ với việc nuôi dưỡng linh hồn. Một khi người ta đã cảm nhận được sự hiện diện của linh hồn thì cánh cửa mở ra để thấy điều mà người ta đã cảm nhận.
360. The sense of hearing gives a general idea of location, but when the sense of sight emerges, the idea of location becomes much more specific, because so many more items of perception ‘fill’ perceptual space. The concept of “order” emerges with the sense of sight and one sees far more exactly where he fits.
360. Thính giác cho một ý niệm tổng quát về vị trí, nhưng khi thị giác xuất hiện, ý niệm về vị trí trở nên đặc thù hơn nhiều, vì có rất nhiều yếu tố tri giác hơn “lấp đầy” không gian tri giác. Khái niệm “trật tự” xuất hiện cùng với thị giác, và người ta thấy chính xác hơn nhiều mình phù hợp ở đâu.
361. Looking at the three words, Unity, Duality and Triplicity, we note that either Triplicity or Unity could be applied to the sense of sight. This might also be said for the sense of hearing. Duality will always apply to the sense of sight until that which is ‘touched’ becomes more interior, more essential.
361. Khi nhìn vào ba từ Hợp nhất, Nhị nguyên tính và Bộ ba, chúng ta lưu ý rằng hoặc Bộ ba hoặc Hợp nhất đều có thể được áp dụng cho thị giác. Điều này cũng có thể được nói về thính giác. Nhị nguyên tính sẽ luôn áp dụng cho thị giác cho đến khi điều được “chạm tới” trở nên nội tại hơn, cốt yếu hơn.
362. If sight must correlate to the Cross in Circle, it is indicative of triplicity—two lines and one circle.
362. Nếu thị giác phải tương quan với Thập Giá trong Vòng Tròn, thì nó biểu thị bộ ba—hai đường và một vòng tròn.
363. The triplicity to which sight is related is easily seen as a unity for, in relation to the Trinity, the Three are the One. The Seer, the Seen and the ‘Seeing’ are all one.
363. Bộ ba mà thị giác liên hệ có thể dễ dàng được thấy như một hợp nhất, vì trong liên hệ với Tam Vị, Ba là Một. Nhà thông nhãn, điều được thấy và sự “thấy” đều là một.
In these three senses the present is summed up for us. The work of evolution is to recognise, utilise, co-ordinate, and dominate the whole till the Self, by means of these three, becomes actively aware of every form, of every vibration, and of every pulsation of the not-self; then, through the arranging power of mind, the objective of the self will be to find the truth, or that centre in the circle of manifestation which is, for the Self, the centre of equilibrium, and the one point where the co-ordination is perfected; then the Self can dissociate itself from every veil, every contact, and every sense.
Trong ba giác quan này, hiện tại được tổng kết cho chúng ta. Công việc của tiến hoá là nhận ra, sử dụng, phối hợp và làm chủ toàn thể cho đến khi Bản Ngã, nhờ ba giác quan này, trở nên nhận biết một cách chủ động mọi hình tướng, mọi rung động và mọi nhịp đập của vô ngã; rồi, nhờ quyền năng sắp xếp của trí tuệ, mục tiêu của bản ngã sẽ là tìm ra chân lý, hay trung tâm ấy trong vòng tròn biểu hiện, vốn là đối với Bản Ngã, trung tâm quân bình, và là điểm duy nhất nơi sự phối hợp được hoàn thiện; khi ấy Bản Ngã có thể tách mình ra khỏi mọi màn che, mọi tiếp xúc và mọi giác quan.
364. Again we have one of those brilliant summaries by means of which Master DK is able to reveal the interrelation of so many factors.
364. Một lần nữa, chúng ta có một trong những phần tổng kết xuất sắc ấy, nhờ đó Chân sư DK có thể phơi bày mối tương quan của rất nhiều yếu tố.
365. If the three major senses represent the present, may it be inferred that the sense of taste and of smell indicate the future?
365. Nếu ba giác quan chính yếu tượng trưng cho hiện tại, liệu có thể suy ra rằng vị giác và khứu giác chỉ ra tương lai chăng?
366. The senses are to reveal the nature of the form. The Self/Jiva is to become totally aware of all forms.
366. Các giác quan phải phơi bày bản chất của hình tướng. Bản Ngã/Jiva phải trở nên hoàn toàn nhận biết mọi hình tướng.
367. Awareness is the first step; arrangement, the second.
367. Nhận biết là bước thứ nhất; sắp xếp là bước thứ hai.
368. If one wishes to know one of the chief faculties of the mind, it is an “arranging power”—the power to move things into new and more desirable relationships.
368. Nếu ai muốn biết một trong những năng lực chủ yếu của trí tuệ, thì đó là “quyền năng sắp xếp”—quyền năng đưa sự vật vào những tương quan mới và đáng mong muốn hơn.
369. Total awareness of what is within the environmental field, does not guarantee that truth (in relation to that field) will be found.
369. Sự nhận biết toàn diện về những gì nằm trong trường môi trường không bảo đảm rằng chân lý (liên hệ với trường ấy) sẽ được tìm ra.
370. Truth is likened to the center of the circle—the point related to all other points within the circle or sphere of perception.
370. Chân lý được ví như trung tâm của vòng tròn—điểm liên hệ với mọi điểm khác trong vòng tròn hay khối cầu tri giác.
371. The Self or dot in the center of the circle or sphere means the following:
371. Bản Ngã hay điểm ở trung tâm của vòng tròn hay khối cầu có nghĩa như sau:
a. The Self’s center of equilibrium
a. Trung tâm quân bình của Bản Ngã
b. The Self’s vantage point for the perfection of coordination
b. Điểm thuận lợi của Bản Ngã để hoàn thiện sự phối hợp
372. From this center in the circle or sphere, the Self can begin its process of dissociation:
372. Từ trung tâm này trong vòng tròn hay khối cầu, Bản Ngã có thể bắt đầu tiến trình tách rời:
a. Dissociation from every veil
a. Tách rời khỏi mọi màn che
b. Dissociation from every contact
b. Tách rời khỏi mọi tiếp xúc
c. Dissociation from every sense
c. Tách rời khỏi mọi giác quan
373. Let us essentialize the process:
373. Chúng ta hãy tinh yếu hóa tiến trình này:
a. Awareness
a. Nhận biết
b. Truth
b. Chân lý
c. Balance
c. Quân bình
d. Environmental Coordination and Mastery
d. Phối hợp và làm chủ môi trường
e. Dissociation
e. Tách rời
374. Earlier, the point in the center of the circle or sphere was likened to the sense of hearing.
374. Trước đây, điểm ở trung tâm của vòng tròn hay khối cầu đã được ví với thính giác.
375. We are now presented with a more advanced meaning for this symbol; it is the center through which the Self/Jiva masters its environment or sphere of experience.
375. Giờ đây chúng ta được trình bày một ý nghĩa cao hơn của biểu tượng này; đó là trung tâm qua đó Bản Ngã/Jiva làm chủ môi trường hay khối cầu kinh nghiệm của mình.
376. From this point of power, liberation may at length be achieved. The point within the circle or sphere is also the symbol for the Master.
376. Từ điểm quyền năng này, cuối cùng sự giải thoát có thể đạt được. Điểm trong vòng tròn hay khối cầu cũng là biểu tượng của Chân sư.
This leads in every manifestation to three types of separation:
Điều này dẫn trong mọi biểu hiện đến ba loại phân ly:
377. We have an important threefold distinction below. Three great phases of the developmental process are discussed.
377. Dưới đây chúng ta có một sự phân biệt tam phân quan trọng. Ba giai đoạn lớn của tiến trình phát triển được bàn đến.
Involution. The separation of matter, or the one becoming the many. The senses are developed, and the apparatus is perfected by the Self for the utilisation of matter. This is under the Law of Economy.
Giáng hạ tiến hoá. Sự phân ly của vật chất, hay cái Một trở thành cái Nhiều. Các giác quan được phát triển, và bộ máy được Bản Ngã hoàn thiện để sử dụng vật chất. Điều này diễn ra dưới Định luật Tiết Kiệm.
378. The senses are developed upon the Path of Involution. The development of the senses make possible the utilization of matter by the Self.
378. Các giác quan được phát triển trên Con Đường Giáng Hạ Tiến Hoá. Sự phát triển các giác quan làm cho việc sử dụng vật chất bởi Bản Ngã trở nên khả hữu.
379. The senses are one of the chief means through which the One, having become the Many, may again become the One. But first must come the mastery of the Many through the use of the senses.
379. Các giác quan là một trong những phương tiện chủ yếu nhờ đó Đấng Duy Nhất, sau khi đã trở thành cái Nhiều, có thể lại trở thành cái Một. Nhưng trước hết phải đến sự làm chủ cái Nhiều qua việc sử dụng các giác quan.
Evolution up to the time of the Probationary Path. The merging of Spirit and matter, and the utilisation of the senses in a progressing identification of the Self with all forms from the lowest to those relatively refined. This is under the Law of Attraction.
Tiến hoá cho đến thời kỳ của Con Đường Dự Bị. Sự hòa trộn của Tinh thần và vật chất, và sự sử dụng các giác quan trong một sự đồng hóa tiến triển của Bản Ngã với mọi hình tướng từ thấp nhất đến những hình tướng tương đối tinh tế. Điều này diễn ra dưới Định luật Hấp Dẫn.
380. In the first phase the senses are applied to the utilization of matter; in this second phase, they are applied to a gradual (very gradual) merging of Spirit and matter. Under the Law of Attraction, identification of the Self with form occurs. This is not the same process as the stage of identification of the Self with the life within the forms.
380. Trong giai đoạn thứ nhất, các giác quan được áp dụng vào việc sử dụng vật chất; trong giai đoạn thứ hai này, chúng được áp dụng vào sự hòa trộn dần dần (rất dần dần) của Tinh thần và vật chất. Dưới Định luật Hấp Dẫn, sự đồng hóa của Bản Ngã với hình tướng xảy ra. Đây không phải là cùng một tiến trình với giai đoạn đồng hóa của Bản Ngã với sự sống bên trong các hình tướng.
Evolution on the Path.
Tiến hoá trên Con Đường.
381. For practical purposes, we may say that this evolution begins at a time near the first initiation.
381. Vì những mục đích thực tiễn, chúng ta có thể nói rằng sự tiến hoá này bắt đầu vào một thời điểm gần lần điểm đạo thứ nhất.
Again the separation of spirit from matter, its identification with the One, and the ultimate rejection of form.
Một lần nữa, sự phân ly của tinh thần khỏi vật chất, sự đồng hóa của nó với Đấng Duy Nhất, và sự từ bỏ hình tướng sau cùng.
382. In this third phase, three processes are experienced:
382. Trong giai đoạn thứ ba này, ba tiến trình được kinh nghiệm:
a. The separation of Spirit from matter
a. Sự phân ly của Tinh thần khỏi vật chất
b. The identification of Spirit with the One (as that One appears in and through all forms)
b. Sự đồng hoá của Tinh thần với Đấng Duy Nhất (như Đấng ấy xuất hiện trong và xuyên qua mọi hình tướng)
c. The ultimate rejection by Spirit of form
c. Sự khước từ tối hậu của Tinh thần đối với hình tướng
383. We are therefore dealing with a lengthy threefold process of separation, identification and separation/identification
383. Vì vậy, chúng ta đang đề cập đến một tiến trình tam phân kéo dài gồm sự tách biệt, sự đồng hoá và sự tách biệt/đồng hoá.
The senses then are synthesised into acquired faculty, and the Self has no [Page 200] further use for the not-self. It blends with the All-Self. This is under the Law of Synthesis.
Khi ấy, các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã thủ đắc, và Bản Ngã không còn [Page 200] dùng đến phi-ngã nữa. Nó hòa nhập với Đại Ngã. Điều này diễn ra dưới Định luật Tổng Hợp.
384. What can be meant by this statement: “the senses are then synthesized into acquired faculty”? Rather than instruments of reception, they become instruments primarily of execution. The major purpose of the senses has been achieved. There is no further need for engagement with externalities, unless because of strictly sacrificial service. The fourth initiation and a significant stage of synthesis have been reached.
384. Câu phát biểu này có thể được hiểu là gì: “khi ấy các giác quan được tổng hợp thành năng lực đã thủ đắc”? Thay vì là những công cụ tiếp nhận, chúng trở thành những công cụ chủ yếu để thi hành. Mục đích chính của các giác quan đã được hoàn tất. Không còn cần phải dấn thân vào các ngoại vật nữa, trừ phi vì sự phụng sự có tính hi sinh nghiêm ngặt. Lần điểm đạo thứ tư và một giai đoạn tổng hợp quan trọng đã đạt đến.
385. When the Self begins to blend with the All-Self, Mercury and the Sun have become one. From a very important perspective, Mercury, the planet of mediation, is the significator of the senses. When Mercury symbolically blends with the Sun (symbol of synthesized knowledge and faculty), the senses (at least in relation to the eighteen lower subplanes) are no longer needed.
385. Khi Bản Ngã bắt đầu hòa nhập với Đại Ngã, Sao Thủy và Mặt Trời đã trở thành một. Từ một góc nhìn rất quan trọng, Sao Thủy, hành tinh của sự trung gian, là biểu trưng của các giác quan. Khi Sao Thủy hòa nhập một cách biểu tượng với Mặt Trời (biểu tượng của tri thức và năng lực được tổng hợp), các giác quan (ít nhất trong liên hệ với mười tám cõi phụ thấp) không còn cần thiết nữa.
386. The “acquired faculty” here mentioned has to do with causal faculty and faculties which can be elevated into the spiritual triad.
386. “Năng lực đã thủ đắc” được nhắc đến ở đây liên quan đến năng lực nguyên nhân và các năng lực có thể được nâng lên Tam Nguyên Tinh Thần.
If this is borne in mind it leads to a realisation that the separation of the Spirit from the material vehicle involves two aspects of the One great All; herein is seen the work of the Creator, the Preserver and the Destroyer.
Nếu ghi nhớ điều này, nó sẽ dẫn đến sự nhận biết rằng sự tách biệt của Tinh thần khỏi vận cụ vật chất bao hàm hai phương diện của Một Toàn Thể Vĩ Đại; chính trong đó thấy được công việc của Đấng Sáng Tạo, Đấng Bảo Tồn và Đấng Hủy Diệt.
387. Separation involves both the third and the first aspects of divinity—the Creator and the Destroyer. The Preserver works primarily through attraction, but where attraction is present, repulsion is also to be found. The second aspect promotes the process whereby matter/form of higher quality is attracted and matter/form of lesser quality is rejected—thus involving the principle of separation even with respect to the Law of Attraction.
387. Sự tách biệt bao hàm cả phương diện thứ ba lẫn phương diện thứ nhất của thiên tính—Đấng Sáng Tạo và Đấng Hủy Diệt. Đấng Bảo Tồn hoạt động chủ yếu qua sự hấp dẫn, nhưng ở đâu có hấp dẫn, ở đó cũng có đẩy lùi. Phương diện thứ hai thúc đẩy tiến trình theo đó vật chất/hình tướng có phẩm tính cao hơn được thu hút và vật chất/hình tướng có phẩm tính thấp hơn bị khước từ—do đó bao hàm nguyên lý tách biệt ngay cả đối với Định luật Hấp Dẫn.
388. Students of our type are involved with the second phase and envisioning the possibility of the third.
388. Những đạo sinh thuộc loại chúng ta đang dính líu đến giai đoạn thứ hai và hình dung khả năng của giai đoạn thứ ba.
In the final perfection of this third sense of sight, the term used is the wholly inadequate one of realisation.
Trong sự toàn hảo cuối cùng của giác quan thứ ba này là thị giác, thuật ngữ được dùng là từ hoàn toàn không thỏa đáng (sự)chứng nghiệm.
389. The sense of psychic power called “Realization” represents the final perfection of the sense of sight. DK considers the word inadequate.
389. Năng lực thông linh được gọi là “(sự)chứng nghiệm” biểu thị sự toàn hảo cuối cùng của thị giác. Chân sư DK xem từ này là không thỏa đáng.