Trích nội dung chương
30. From what is here said, it becomes apparent that the Sacred Word is intimately related to the Fixed Design which exists in the archetypal worlds and which must be manifested in the ‘mosaic worlds’. In relation to human development, the monadic plane is considered the true archetypal plane. 30. Từ điều được nói ở đây, trở nên hiển nhiên rằng Linh từ thiêng liêng liên hệ mật thiết với Mô Hình Cố Định hiện hữu trong các thế giới nguyên mẫu và phải được biểu lộ trong các “thế giới khảm ghép”. Trong liên hệ với sự phát triển của con người, cõi chân thần được xem là cõi nguyên mẫu đích thực.
29. The Sacred Word arranges all according to the design dictated by pure reason.
29. Linh từ thiêng liêng sắp xếp mọi sự theo mô hình do lý trí thuần túy chỉ định.
30. From what is here said, it becomes apparent that the Sacred Word is intimately related to the Fixed Design which exists in the archetypal worlds and which must be manifested in the ‘mosaic worlds’. In relation to human development, the monadic plane is considered the true archetypal plane.
30. Từ điều được nói ở đây, trở nên hiển nhiên rằng Linh từ thiêng liêng liên hệ mật thiết với Mô Hình Cố Định hiện hữu trong các thế giới nguyên mẫu và phải được biểu lộ trong các “thế giới khảm ghép”. Trong liên hệ với sự phát triển của con người, cõi chân thần được xem là cõi nguyên mẫu đích thực.
31. We see that the Sacred Word as it manifests on the physical plane is (through the forms it produces) manifesting in its more concrete demonstration).
31. Chúng ta thấy rằng Linh từ thiêng liêng khi biểu lộ trên cõi hồng trần thì (thông qua các hình tướng mà nó tạo ra) đang biểu lộ trong sự chứng minh cụ thể hơn của nó).
32. VSK suggests a reiteration: “Sound is the MOST concrete of the senses.”
32. VSK gợi ý một sự nhắc lại: “Âm thanh là giác quan CỤ THỂ nhất.”
The key for man to discover and turn, concerns itself with the revealing of the mystery of:
Chiếc chìa khóa để con người khám phá và xoay mở liên quan đến việc vén lộ huyền nhiệm của:
33. We are alerted immediately to the fact that we are dealing with “mystery”—with things that are not easily apprehended.
33. Chúng ta lập tức được báo cho biết rằng mình đang xử lý “huyền nhiệm”—những điều không dễ lĩnh hội.
34. Of course, such apprehension depends upon the acuity of ‘listening’—however listening may be interpreted on each of these levels.
34. Dĩ nhiên, sự lĩnh hội như thế tùy thuộc vào độ sắc bén của “sự lắng nghe”—dù sự lắng nghe được diễn giải thế nào trên mỗi cấp độ này.
35. The discoveries required are, in a way, a search for the note of each of the entities listed below.
35. Những khám phá cần thiết, theo một cách nào đó, là một cuộc tìm kiếm âm điệu của mỗi thực thể được liệt kê dưới đây.
a. His own sound.
a. Âm thanh của chính y.
36. This is achieved through close self-observation and ‘self-listening’ leading to ever more extensive self-knowledge
36. Điều này đạt được qua sự tự quan sát chặt chẽ và “tự lắng nghe”, dẫn đến sự tự tri ngày càng rộng lớn hơn
b. His brother's sound.
b. Âm thanh của huynh đệ y.
37. This is partially achieved through the expedient of altruism and brotherly love, and, of course, acute listening through the heart. In all of the types of listening necessary, it is the heart that must hear the Sacred Word resounding through the entity to which attentive listening is given.
37. Điều này phần nào đạt được qua phương tiện của lòng vị tha và tình huynh đệ, và dĩ nhiên, qua sự lắng nghe sắc bén bằng trái tim. Trong mọi loại lắng nghe cần thiết, chính trái tim phải nghe Linh từ thiêng liêng vang vọng xuyên qua thực thể mà sự lắng nghe chăm chú đang hướng đến.
c. His group sound.
c. Âm thanh của nhóm y.
38. This is partially achieved through the art of group identification, which is based upon the ability to remove preoccupation with one’s lower self.
38. Điều này phần nào đạt được qua nghệ thuật đồng hoá với nhóm, vốn dựa trên khả năng loại bỏ sự bận tâm về phàm ngã của mình.
d. The sound of that one of the Heavenly Men with whom he is connected.
d. Âm thanh của một trong các Đấng Thiên Nhân mà y có liên hệ.
39. If DK is speaking of human beings living on this planet, they are naturally all connected with the Planetary Logos of the Earth-scheme.
39. Nếu Chân sư DK đang nói về những con người sống trên hành tinh này, thì tự nhiên tất cả họ đều đều liên hệ với Đức Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh Địa Cầu.
40. This sentence may also speak of the connection which exists between any initiate—according to his soul ray and/or monadic ray—and the Heavenly Man Who expresses through that ray.
40. Câu này cũng có thể nói đến mối liên hệ hiện hữu giữa bất kỳ điểm đạo đồ nào—tùy theo cung linh hồn và/hoặc cung chân thần của y—với Đấng Thiên Nhân biểu lộ qua cung ấy.
e. The sound of the Logos, or the sound of nature; of the solar system, of the Grand Man of the Heavens.
e. Âm thanh của Thượng đế, hay âm thanh của thiên nhiên; của hệ mặt trời, của Đại Nhân trên Thiên Giới.
41. More than one note seems indicated. We have been told that the “sound of nature” or the “note of nature” is the note, FA, the green note. The note FA applies not only to our Earth (with its obvious third ray, correlated to FA) but to the entire solar system.
41. Dường như có hơn một âm điệu được chỉ ra. Chúng ta đã được cho biết rằng “âm thanh của thiên nhiên” hay “âm điệu của thiên nhiên” là nốt FA, nốt xanh lục. Nốt FA không chỉ áp dụng cho Trái Đất của chúng ta (với cung ba hiển nhiên của nó, tương quan với FA) mà còn cho toàn bộ hệ mặt trời.
“In system one, the completion of the First Breath, the culmination, was the sounding forth, in note majestic, of the note FA,—the note which forms the basic note of this system, the note of manifested nature. This note is, and to it must be supplemented the second note for this the second system. It is not fully sounded or rounded out, nor to the end of the greater cycle will it be completed. The Logos sounds it now, and should He cease to breathe it forth, the whole system would disappear into complete obscuration. It would mark the end of manifestation.” (LOM 52)
“Trong hệ thống thứ nhất, sự hoàn tất của Hơi Thở Thứ Nhất, sự viên mãn, là việc xướng lên, trong âm điệu uy nghi, nốt FA,—nốt tạo thành âm điệu căn bản của hệ thống này, âm điệu của thiên nhiên biểu lộ. Nốt này hiện hữu, và vào đó phải được bổ sung nốt thứ hai cho hệ thống thứ hai này. Nó chưa được xướng lên đầy đủ hay hoàn chỉnh, và cho đến hết chu kỳ lớn hơn nó cũng sẽ chưa hoàn tất. Thượng đế đang xướng nó lúc này, và nếu Ngài ngừng thở ra nó, toàn bộ hệ thống sẽ biến mất vào sự che khuất hoàn toàn. Điều đó sẽ đánh dấu sự chấm dứt của biểu lộ.” (LOM 52)
42. Yet it would seem that a higher note of the Solar Logos would be in need of discovery—the note of the soul nature of our Logos, which may be (we are not told with complete certainty) the note SOL.
42. Tuy nhiên, dường như một âm điệu cao hơn của Thái dương Thượng đế cần được khám phá—âm điệu của bản chất linh hồn của Thượng đế chúng ta, có thể là (chúng ta không được cho biết với sự chắc chắn hoàn toàn) nốt SOL.
43. The method of apprehending this latter note would necessitate familiarity with the “Heart of the Sun”, by means of which the soul nature of the Logos may be dimly apprehended. Apprehension would also require entering that series of initiations which are called “solar” initiations, and which begin (for humanity) with the third degree. Surely, no disciple who has not taken the third degree can possibly register the soul-sound of the Logos.
43. Phương pháp để lĩnh hội âm điệu sau này sẽ đòi hỏi sự quen thuộc với “Trái Tim của Mặt Trời”, nhờ đó bản chất linh hồn của Thượng đế có thể được lĩnh hội một cách mơ hồ. Sự lĩnh hội cũng sẽ đòi hỏi phải bước vào chuỗi điểm đạo được gọi là các điểm đạo “thái dương”, bắt đầu (đối với nhân loại) từ cấp thứ ba. Chắc chắn không đệ tử nào chưa trải qua cấp thứ ba có thể ghi nhận âm thanh linh hồn của Thượng đế.
44. It is clear that detection of these sounds is related to detecting the major ray which conditions each of these five entities.
44. Rõ ràng việc phát hiện những âm thanh này liên hệ với việc phát hiện cung chính tác động lên mỗi một trong năm thực thể này.
Therefore, we note that on the physical plane a man has to find his own note, finding it in spite of the density of the form.
Vì vậy, chúng ta lưu ý rằng trên cõi hồng trần, con người phải tìm ra âm điệu riêng của mình, tìm thấy nó bất chấp sự đậm đặc của hình tướng.
45. The density of the form has its own note which is frequently so obtrusive as to drown out the soul note of the one using the form.
45. Sự đậm đặc của hình tướng có âm điệu riêng của nó, thường xâm lấn đến mức lấn át âm điệu linh hồn của người đang sử dụng hình tướng ấy.
46. Immediately below we are to note an interesting progression which relates the notes of each of the five entities to the first five planes, beginning with the physical plane.
46. Ngay bên dưới, chúng ta sẽ lưu ý một tiến trình thú vị liên hệ các âm điệu của mỗi một trong năm thực thể với năm cõi đầu tiên, bắt đầu từ cõi hồng trần.
a. On the physical plane he finds his own note.
a. Trên cõi hồng trần y tìm thấy âm điệu riêng của mình.
47. This is done through meditation and the achieving of a soul-mind-brain alignment.
47. Điều này được thực hiện qua tham thiền và việc đạt được sự chỉnh hợp linh hồn-trí tuệ-bộ não.
48. We might say that “his own note” is his individual note and relates to the expression of his soul nature through his personality on the physical plane.
48. Chúng ta có thể nói rằng “âm điệu riêng của y” là âm điệu cá nhân của y và liên hệ với sự biểu lộ bản chất linh hồn của y qua phàm ngã của y trên cõi hồng trần.
49. Since the physical plane is the plane of greatest separation, it is fitting that the note of the apparently separate individual should be found there.
49. Vì cõi hồng trần là cõi của sự phân ly lớn nhất, nên thật thích hợp khi âm điệu của cá nhân có vẻ tách biệt được tìm thấy ở đó.
b. On the astral plane he finds his brother's note; through identity of emotion he comes to the recognition of his brother's identity.
b. Trên cõi cảm dục y tìm thấy âm điệu của huynh đệ mình; qua sự đồng nhất về cảm xúc, y đi đến chỗ nhận ra bản sắc của huynh đệ mình.
50. Some reflection of the love-wisdom energy is required.
50. Cần có một sự phản chiếu nào đó của năng lượng bác ái-minh triết.
51. The process suggests the utilization of the potencies of Gemini (the sign of one’s brother) in relation to the astral plane.
51. Tiến trình này gợi ý việc sử dụng các tiềm năng của Song Tử (dấu hiệu của huynh đệ mình) trong liên hệ với cõi cảm dục.
52. The astral plane is a plane of relationship, somewhat governed by the number two, the number of relationship.
52. Cõi cảm dục là một cõi của tương quan, phần nào được chi phối bởi con số hai, con số của tương quan.
53. The source of true identity, the Monad, has a direct reflection upon the astral plane, for the monadic plane is the second plane from ‘above’ and the astral plane, the second from ‘below’. We may expect that there is something about the functioning of the emotional body which will reveal the nature of the Monad/Spirit.
53. Nguồn gốc của bản sắc chân thực, chân thần, có một sự phản chiếu trực tiếp trên cõi cảm dục, vì cõi chân thần là cõi thứ hai tính từ “trên xuống” và cõi cảm dục là cõi thứ hai tính từ “dưới lên”. Chúng ta có thể chờ đợi rằng có điều gì đó trong hoạt động của thể cảm xúc sẽ tiết lộ bản chất của chân thần/tinh thần.
54. The value of coming into emotional rapport with one’s brother is emphasized as a means of understanding the nature of one’s brother’s identity.
54. Giá trị của việc đi vào sự tương thông cảm xúc với huynh đệ mình được nhấn mạnh như một phương tiện để thấu hiểu bản chất bản sắc của huynh đệ mình.
55. The implication is that we must ‘feel’ each other within an astral field if we are really to know each other.
55. Hàm ý ở đây là chúng ta phải “cảm” nhau trong một trường cảm dục nếu thực sự muốn biết nhau.
[Page 191]
[Page 191]
c. On the mental plane he begins to find his group note.
c. Trên cõi trí, y bắt đầu tìm thấy âm điệu nhóm của mình.
56. What is interesting here is that finding one’s group note is not a matter of astral feeling, as might be expected.
56. Điều thú vị ở đây là việc tìm thấy âm điệu nhóm của mình không phải là vấn đề của sự cảm nhận cảm dục, như người ta có thể chờ đợi.
57. The mental plane is responsive to the energy of purpose, and one finds one’s true group according to purpose. In other words, following one’s deeper interests leads to the revelation of purpose. Those with similar purpose aggregate into groups.
57. Cõi trí đáp ứng với năng lượng của mục đích, và người ta tìm thấy nhóm chân thực của mình tùy theo mục đích. Nói cách khác, việc theo đuổi những mối quan tâm sâu xa hơn của mình dẫn đến sự mặc khải về mục đích. Những ai có mục đích tương tự sẽ tập hợp thành nhóm.
58. It becomes clear that detecting the group note is not fundamentally a sentient activity but an activity involving deep thought, involving not only the lower mental plane but, especially, the higher.
58. Rõ ràng là việc nhận ra âm điệu nhóm về căn bản không phải là một hoạt động cảm nhận mà là một hoạt động bao hàm tư tưởng sâu sắc, không chỉ liên quan đến cõi hạ trí mà đặc biệt là cõi thượng trí.
59. The mental plane is divided into two sections and on the higher levels of that plane the casual body or “soul body” is to be found. Causal bodies, according to their quality, are gathered into groups. One’s true group is the group of souls into which one is gathered according to one’s soul nature and quality.
59. Cõi trí được chia thành hai phần và trên các cấp độ cao hơn của cõi ấy có thể tìm thấy thể nguyên nhân hay “thể linh hồn”. Các thể nguyên nhân, tùy theo phẩm tính của chúng, được tập hợp thành nhóm. Nhóm chân thực của một người là nhóm các linh hồn mà người ấy được tập hợp vào theo bản chất và phẩm tính linh hồn của mình.
60. This type of group abides incarnation after incarnation, stable in the face of the many transient groups with which the personality may affiliate.
60. Loại nhóm này tồn tại từ kiếp lâm phàm này sang kiếp lâm phàm khác, ổn định trước vô số nhóm tạm thời mà phàm ngã có thể liên kết với.
61. To find the group note, then, it would seem that a deep connection with the causal body and its sponsoring Solar Angel must be established—through both meditation and service.
61. Vậy thì, để tìm thấy âm điệu nhóm, dường như phải thiết lập một sự nối kết sâu xa với thể nguyên nhân và Thái dương Thiên Thần bảo trợ của nó—thông qua cả tham thiền lẫn phụng sự.
d. On the buddhic plane, or the plane of wisdom, he begins to find the note of his planetary Logos.
d. Trên cõi Bồ đề, hay cõi minh triết, y bắt đầu tìm thấy âm điệu của Hành Tinh Thượng Đế của mình.
62. A man becomes a planetary factor when he takes the third initiation, thus entering into a more direct relationship with the Divine Plan expressed through the Spiritual Triad. Entrée into the Spiritual Triad is achieved at the third degree, though even at the fifth degree the initiate is still polarized within the triad—the atmic aspect at that particular point of development.
62. Con người trở thành một nhân tố hành tinh khi y nhận lần điểm đạo thứ ba, nhờ đó đi vào một mối liên hệ trực tiếp hơn với Thiên Cơ được biểu lộ qua Tam Nguyên Tinh Thần. Sự đi vào Tam Nguyên Tinh Thần đạt được ở cấp độ thứ ba, dù ngay cả ở cấp độ thứ năm, điểm đạo đồ vẫn còn phân cực trong tam nguyên—ở phương diện atma tại điểm phát triển đặc thù ấy.
63. Interestingly the third initiation represents a kind of intuitive victory over one significant phase of illusion. It requires intuition (buddhi) to dispel illusion, and this intuition is significantly accessed at the third degree which, interestingly, is the first solar initiation. Solar fire, intuition and buddhi are closely related.
63. Điều đáng chú ý là lần điểm đạo thứ ba tượng trưng cho một loại chiến thắng trực giác trước một giai đoạn quan trọng của ảo tưởng. Cần có trực giác (Bồ đề) để làm tiêu tan ảo tưởng, và trực giác này được tiếp cận một cách đáng kể ở cấp độ thứ ba, vốn cũng là lần điểm đạo thái dương đầu tiên. Lửa Thái dương, trực giác và Bồ đề có liên hệ mật thiết với nhau.
64. So at the first solar initiation, at which the energy of buddhi is given new access to the initiate’s energy system, the nature of the note of the Planetary Logos begins to be revealed. A fuller revelation will obviously come when the buddhic consciousness is no longer encumbered by the causal vehicle on the higher mental plane.
64. Vì vậy, ở lần điểm đạo thái dương đầu tiên, khi năng lượng của Bồ đề được mở ra một lối tiếp cận mới vào hệ thống năng lượng của điểm đạo đồ, bản chất của âm điệu của Hành Tinh Thượng Đế bắt đầu được tiết lộ. Một sự mặc khải đầy đủ hơn hiển nhiên sẽ đến khi tâm thức Bồ đề không còn bị vận cụ nguyên nhân trên cõi thượng trí cản trở nữa.
65. It becomes clear that the finding of this note necessitates intuition. A Planetary Logos is a Dragon of Wisdom in whom the Love-Wisdom energy is demonstrating. The identity of this great Being must similarly be approached through an energy related to Love-Wisdom—namely buddhi.
65. Rõ ràng là việc tìm ra âm điệu này đòi hỏi trực giác. Một Hành Tinh Thượng Đế là một Rồng Minh Triết trong đó năng lượng Bác Ái – Minh Triết đang biểu lộ. Bản sắc của Đấng Vĩ Đại này cũng phải được tiếp cận qua một năng lượng liên hệ với Bác Ái – Minh Triết—tức là Bồ đề.
66. We do remember that the majority of Ashrams are to be found on the buddhic plane and that these Ashrams are considered as chakras within the energy system of the Planetary Logos. Naturally, a growing sense of the Planetary Logos’ chakric development will reveal more of His identity as expressed through His note.
66. Chúng ta nhớ rằng đa số các ashram được tìm thấy trên cõi Bồ đề và các ashram này được xem như những luân xa trong hệ thống năng lượng của Hành Tinh Thượng Đế. Một cách tự nhiên, cảm nhận ngày càng tăng về sự phát triển luân xa của Hành Tinh Thượng Đế sẽ tiết lộ thêm về bản sắc của Ngài như được biểu lộ qua âm điệu của Ngài.
e. On the atmic, or spiritual, plane the note logoic begins to sound within his consciousness.
e. Trên cõi atma, hay cõi tinh thần, âm điệu logoic bắt đầu vang lên trong tâm thức của y.
67. This is an interesting idea if pursued. The atmic plane is a plane of will and of intelligence (since as the third plane from ‘above’ it is ruled by Saturn and the third ray of Abstract Intelligence). Since the atmic plane is also the first of the Brahmic planes, it is related as well to the first ray.
67. Đây là một ý tưởng thú vị nếu được theo đuổi. Cõi atma là một cõi của ý chí và của trí tuệ (vì là cõi thứ ba tính từ “trên xuống” nên nó được Sao Thổ và cung ba của Trí Tuệ Trừu Tượng cai quản). Vì cõi atma cũng là cõi thứ nhất trong các cõi Brahmic, nên nó cũng liên hệ với cung một.
68. The solar logoic note (we are here told) is initially apprehended on the atmic plane and, presumably, even more fully apprehended on the monadic level (which is still more resonant with the identity of the great Solar God expressing principally through the second ray). One might wonder why, on the buddhic plane, that solar logoic note might not be initially detected.
68. Âm điệu logoic thái dương (ở đây chúng ta được cho biết) ban đầu được lĩnh hội trên cõi atma và, có lẽ, còn được lĩnh hội đầy đủ hơn nữa trên cấp độ chân thần (vốn còn cộng hưởng hơn với bản sắc của vị Thượng đế Thái dương vĩ đại, Đấng biểu lộ chủ yếu qua cung hai). Người ta có thể tự hỏi vì sao trên cõi Bồ đề, âm điệu logoic thái dương ấy lại không được nhận ra ngay từ đầu.
69. We are being told, in essence, that an apprehension of the note of the Solar Logos must be approached through will, even though Love-Wisdom may be His principle note at this time. This means that knowledge and the sense of unity are not enough truly to reveal this highest note.
69. Về bản chất, điều đang được nói với chúng ta là sự lĩnh hội âm điệu của Thái dương Thượng đế phải được tiếp cận qua ý chí, mặc dù Bác Ái – Minh Triết có thể là âm điệu nguyên khí của Ngài vào lúc này. Điều đó có nghĩa là tri thức và cảm thức hợp nhất không đủ để thực sự tiết lộ âm điệu tối cao này.
70. The atmic plane is called not only the “spiritual” plane but also the “nirvanic” plane. The nirvanic experience focussed there is the beginning of intelligent and willing participation in solar logoic life. Entry into the stream of solar logoic life (as fully occurs on the monadic plane) is the first nirvana.
70. Cõi atma không chỉ được gọi là cõi “tinh thần” mà còn là cõi “Niết Bàn”. Kinh nghiệm Niết Bàn tập trung tại đó là sự khởi đầu của việc tham dự một cách thông tuệ và đầy ý chí vào sự sống logoic thái dương. Việc đi vào dòng sự sống logoic thái dương (như xảy ra một cách trọn vẹn trên cõi chân thần) là niết bàn thứ nhất.
71. Interestingly, the note FA, the green note, connected with the third ray and Saturn is the note of nature and the note which resounded at the close of the first solar system. From the atmic plane resonance may be established with this particular note of the Logos as a point of departure for apprehending a still deeper note, based on Love-Wisdom and positioned at a higher frequency than the note of nature. That note, the note hypothesized as “G” or SOL, is closely correlated to the monadic plane.
71. Điều đáng chú ý là nốt FA, nốt xanh lục, liên hệ với cung ba và Sao Thổ, là âm điệu của thiên nhiên và là âm điệu đã vang lên vào lúc kết thúc hệ mặt trời thứ nhất. Từ cõi atma có thể thiết lập sự cộng hưởng với âm điệu đặc thù này của Thượng đế như một điểm khởi hành để lĩnh hội một âm điệu còn sâu xa hơn, dựa trên Bác Ái – Minh Triết và được đặt ở một tần số cao hơn âm điệu của thiên nhiên. Âm điệu ấy, âm điệu được giả định là “G” hay SOL, có tương quan mật thiết với cõi chân thần.
I am differentiating thus for the sake of clarity.
Tôi phân biệt như vậy vì mục đích làm sáng tỏ.
72. The differentiation offered is surely thought-provoking however difficult it may be to see such clear distinctions when viewing the life-as-lived.
72. Sự phân biệt được đưa ra quả thật gợi nhiều suy nghĩ, dù có thể rất khó nhận ra những phân biệt rõ ràng như thế khi quan sát sự sống như nó đang được sống.
73. When we seek to come en rapport with the five entities listed, we shall know somewhat more clearly ‘where’ and how to focus our consciousness.
73. Khi chúng ta tìm cách đi vào sự tương thông với năm thực thể được liệt kê, chúng ta sẽ biết rõ hơn phần nào “ở đâu” và bằng cách nào để tập trung tâm thức của mình.
In evolution itself, due to the parallelism of nature, the distinctions are not so sharply made, and a man's ray, point of development, the work earlier accomplished, his temporary limitations, and other causes create a seeming confusion, but in the great scheme as seen from above downwards, the work proceeds as described.
Trong chính tiến hoá, do tính song hành của thiên nhiên, những phân biệt ấy không được tạo ra một cách sắc nét đến thế, và cung của một người, điểm tiến hoá, công việc đã hoàn thành trước đó, những giới hạn tạm thời của y, cùng các nguyên nhân khác tạo nên một sự lẫn lộn bề ngoài; nhưng trong đại thể, như được nhìn từ trên xuống dưới, công việc diễn tiến như đã mô tả.
74. DK suggests that in order to see these distinctions with clarity, the point of vantage must be from ‘above’ downwards.
74. Chân sư DK gợi ý rằng để thấy những phân biệt này một cách rõ ràng, điểm quan sát phải là từ “trên” nhìn xuống.
75. Our evolutionary task is a progressive series of broadening and deepening identifications, each of them related to a certain vibratory level of the cosmic physical plane.
75. Nhiệm vụ tiến hoá của chúng ta là một chuỗi tiến triển của những sự đồng hoá ngày càng mở rộng và đào sâu, mỗi sự đồng hoá đều liên hệ với một cấp độ rung động nhất định của cõi hồng trần vũ trụ.
76. VSK suggests the following: “So it appears the cause is one plane above the effect; thus the group note is found on the mental (point c.), although the group/ashram is usually on the buddhic?”
76. VSK gợi ý như sau: “Vì vậy dường như nguyên nhân nằm ở cõi cao hơn hiệu quả một bậc; do đó âm điệu nhóm được tìm thấy trên cõi trí (điểm c.), mặc dù nhóm/ashram thường ở trên cõi Bồ đề?”
77. It is important to realize that the “move” of Hierarchy from the higher mental to the buddhic plane was not discussed in this rather early book, A Treatise on Cosmic Fire, published in 1925.
77. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng sự “di chuyển” của Thánh đoàn từ cõi thượng trí sang cõi Bồ đề đã không được bàn đến trong cuốn sách tương đối sớm này, Luận về Lửa Vũ Trụ, xuất bản năm 1925.
Hearing on the astral plane is commonly called clairaudience, and means the ability to hear the sounds of the astral plane.
Thông nhĩ trên cõi cảm dục thường được gọi là thông nhĩ, và có nghĩa là khả năng nghe các âm thanh của cõi cảm dục.
78. Apprehending these sounds may either help extricate ourselves from or immerse ourselves more deeply within the burgeoning illusion of that plane.
78. Việc lĩnh hội các âm thanh này hoặc có thể giúp chúng ta thoát ra khỏi, hoặc khiến chúng ta chìm sâu hơn vào ảo tưởng đang phát triển của cõi ấy.
It is a faculty that demonstrates throughout the entire astral body, and a man hears all over his vehicle and not only through the specialised organs, the ears, the product of physical plane action and reaction.
Đó là một năng lực biểu lộ khắp toàn bộ thể cảm dục, và con người nghe bằng toàn bộ vận cụ của mình chứ không chỉ qua các cơ quan chuyên biệt, tức đôi tai, vốn là sản phẩm của tác động và phản ứng trên cõi hồng trần.
79. One of the key rulers of the systemic physical level is Saturn, the planet of space, time and localization. The astral plane is, however, ruled by Neptune which blurs distinctions and eradicates boundaries. Under Neptune it is reasonable that sensitivity should be more generalized and not so particularly focused through concrete localized organs of reception.
79. Một trong những chủ tinh then chốt của cấp độ hồng trần hệ thống là Sao Thổ, hành tinh của không gian, thời gian và sự định vị. Tuy nhiên, cõi cảm dục được Sao Hải Vương cai quản, hành tinh làm mờ các phân biệt và xóa bỏ các ranh giới. Dưới Sao Hải Vương, thật hợp lý khi tính nhạy cảm trở nên tổng quát hơn và không quá tập trung đặc biệt qua các cơ quan tiếp nhận cụ thể và định vị rõ rệt.
This would necessarily be so, owing to the fluidic nature of the astral body.
Điều này tất yếu phải như vậy, do bản chất linh động của thể cảm dục.
80. DK tells us something about the nature of the astral body: it is fluidic (a term associated with the dynamics of Neptune).
80. Chân sư DK cho chúng ta biết điều gì đó về bản chất của thể cảm dục: nó có tính linh động (một thuật ngữ gắn với động lực của Sao Hải Vương).
Man on the physical plane hears at the same time a certain range of sounds, and only a small and particular gamut of vibrations impinges upon his ears.
Con người trên cõi hồng trần đồng thời nghe được một phạm vi âm thanh nhất định, và chỉ một âm giai nhỏ và đặc thù của các rung động tác động lên tai của y.
81. Saturn is the planet of limitation and, under Saturn, the range of impressionability is naturally limited.
81. Sao Thổ là hành tinh của sự giới hạn, và dưới Sao Thổ, phạm vi khả năng tiếp nhận ấn tượng tự nhiên bị giới hạn.
There are many of the lesser sounds of nature which entirely escape him, while the major group sounds are not differentiated at all.
Có nhiều âm thanh nhỏ hơn của thiên nhiên hoàn toàn thoát khỏi y, trong khi các âm thanh nhóm lớn hơn thì hoàn toàn không được phân biệt.
82. DK elaborates a bit on the sounds missed by the average human being. The small and great sounds elude his auditory apprehension equally. He fails to detect the sounds caused by tiny processes and by comprehensive processes as well. As he becomes more identified with large processes, his ability to register the minute will also grow. Man presently functions within a very limited ‘middle’ range.
82. Chân sư DK giải thích thêm đôi chút về những âm thanh mà con người trung bình bỏ lỡ. Các âm thanh nhỏ và lớn đều thoát khỏi sự lĩnh hội thính giác của y như nhau. Y không nhận ra những âm thanh do các tiến trình cực nhỏ cũng như các tiến trình bao quát gây ra. Khi y ngày càng đồng hoá với các tiến trình lớn, khả năng ghi nhận cái vi tế của y cũng sẽ tăng lên. Hiện nay con người hoạt động trong một phạm vi “trung gian” rất hạn hẹp.
83. By major group sounds (as they impact the physical plane) may be meant:
83. Các âm thanh nhóm lớn (khi chúng tác động lên cõi hồng trần) có thể được hiểu là:
a. The sounds of soul groups
a. Các âm thanh của những nhóm linh hồn
b. The sounds of nations and races
b. Các âm thanh của các quốc gia và các nhân loại
c. The sounds of kingdoms, including the sound of humanity.
c. Các âm thanh của các giới, kể cả âm thanh của nhân loại.
d. The sound of Nature
d. Âm thanh của Thiên nhiên
e. And so forth…
e. Vân vân…
84. We note the importance of the word “differentiated”. Sounds may be present but unless they are differentiated, noticed, isolated, it is as if they were not.
84. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng của từ “được phân biệt”. Âm thanh có thể hiện diện nhưng nếu không được phân biệt, được chú ý, được tách riêng ra, thì cũng như không có.
85. We see something of the importance of Saturn (Lord of the third ray, and intimately related to sound and its sources) in the isolating and differentiating of various sounds.
85. Chúng ta thấy phần nào tầm quan trọng của Sao Thổ (Đấng Chúa Tể của cung ba, và liên hệ mật thiết với âm thanh cùng các nguồn của nó) trong việc cô lập và phân biệt các âm thanh khác nhau.
As evolution proceeds and the inner sense of hearing becomes acute,
Khi tiến hoá tiếp diễn và nội nhĩ trở nên sắc bén,
86. The energy of the third ray (a ray related to sound) is called “the acute energy of divine mental perception”. With growing acuity of thought it can be inferred that there will arise a growing acuity of the inner sense of hearing.
86. Năng lượng của cung ba (một cung liên hệ với âm thanh) được gọi là “năng lượng sắc bén của tri giác trí tuệ thiêng liêng”. Từ sự sắc bén ngày càng tăng của tư tưởng, có thể suy ra rằng sẽ xuất hiện sự sắc bén ngày càng tăng của nội nhĩ.
these other physical plane sounds will likewise swing into his ken,
những âm thanh khác trên cõi hồng trần này cũng sẽ đi vào tầm nhận biết của y,
87. The sounds (“lesser sounds of nature” and “major group sounds”) are considered physical plane sounds, no matter what may be their occult origin on higher planes.
87. Các âm thanh (“những âm thanh nhỏ hơn của thiên nhiên” và “các âm thanh nhóm lớn”) được xem là những âm thanh của cõi hồng trần, bất kể nguồn gốc huyền bí của chúng có thể ở các cõi cao hơn nào.
and he will be acutely conscious of all sounds on the astral, and the physical plane—a thing, which if possible now, would result in the shattering of the body.
và y sẽ hữu thức một cách sắc bén về mọi âm thanh trên cõi cảm dục và cõi hồng trần—điều mà, nếu hiện nay có thể xảy ra, sẽ dẫn đến sự tan vỡ của thể xác.
88. This is a fascinating and important sentence. Sound can shatter—of this we are aware. We come to understand the reason for those veils which presently limit the acuity of the senses. They are protective mechanisms.
88. Đây là một câu rất hấp dẫn và quan trọng. Âm thanh có thể làm tan vỡ—điều này chúng ta biết. Chúng ta bắt đầu hiểu lý do của những bức màn hiện đang giới hạn sự sắc bén của các giác quan. Chúng là những cơ chế bảo vệ.
89. Probably in dream states we become very aware of “sounds on the astral”, but at such times, sounds on the physical plane are not apprehensible.
89. Có lẽ trong các trạng thái mộng, chúng ta trở nên rất ý thức về “những âm thanh trên cõi cảm dục”, nhưng vào những lúc ấy, các âm thanh trên cõi hồng trần lại không thể được lĩnh hội.
90. It is the combination of the two types of sounds that may have a shattering effect.
90. Chính sự kết hợp của hai loại âm thanh này mới có thể gây ra tác động làm tan vỡ.
91. We begin to realize that the human nervous system and energy system in general must be in a very fit and resilient condition to withstand what we glibly call “continuity of consciousness”.
91. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng hệ thần kinh con người và hệ thống năng lượng nói chung phải ở trong một tình trạng rất thích hợp và dẻo dai mới có thể chịu đựng điều mà chúng ta hời hợt gọi là “sự liên tục của tâm thức”.
If the note of nature, for instance, were to strike but once upon the ear of a man (a note made up of the totality of vibrations produced by all dense material forms) his physical body would be completely disrupted.
Chẳng hạn, nếu âm điệu của thiên nhiên chỉ đánh vào tai con người một lần thôi (một âm điệu được cấu thành bởi tổng thể các rung động do mọi hình tướng vật chất đậm đặc tạo ra) thì thể xác của y sẽ hoàn toàn bị phá vỡ.
92. We are given a clear definition of the “note of nature”, and it is, from this description, a very “material” note.
92. Chúng ta được trao cho một định nghĩa rõ ràng về “âm điệu của thiên nhiên”, và từ mô tả này, đó là một âm điệu rất “vật chất”.
93. We notice that even one impact of this note would be sufficient to completely disrupt the physical body of man.
93. Chúng ta lưu ý rằng chỉ một tác động của âm điệu này cũng đủ để hoàn toàn phá vỡ thể xác của con người.
94. We should perhaps take with a grain of salt the testimony of those who state that they constantly hear the note of nature.
94. Có lẽ chúng ta nên dè dặt trước lời chứng của những người nói rằng họ liên tục nghe thấy âm điệu của thiên nhiên.
95. Well may we be impressed by a growing awareness of the constructive and destructive power of sound!
95. Chúng ta hẳn phải ấn tượng trước sự nhận biết ngày càng tăng về quyền năng kiến tạo và hủy diệt của âm thanh!
[Page 192] He is not ready yet for such a happening; the inner ear is not duly prepared. Only when the threefold hearing is consummated will completed hearing on the physical plane be likewise permitted.
[Page 192] Y vẫn chưa sẵn sàng cho một biến cố như thế; nội nhĩ chưa được chuẩn bị đúng mức. Chỉ khi nào sự nghe tam phân được hoàn tất thì sự nghe hoàn chỉnh trên cõi hồng trần mới cũng được cho phép.
96. The preparation of the inner ear is a slow process involving the wearing away of the etheric web through the agency of the combination of fire by friction and solar fire over a long period of time.
96. Sự chuẩn bị của nội nhĩ là một tiến trình chậm chạp, bao gồm sự bào mòn của màng lưới dĩ thái nhờ tác động của sự kết hợp giữa Lửa ma sát và Lửa Thái dương trong một thời gian dài.
97. Through such a gradual exposure to an increasing range of sounds, the disruptive shock of sudden impacts can be avoided.
97. Nhờ sự phơi mở dần dần như thế trước một phạm vi âm thanh ngày càng tăng, có thể tránh được cú sốc phá vỡ do những tác động đột ngột gây ra.
98. What may be meant by the “threefold hearing”? And the consummation of threefold hearing? Perhaps we are speaking of hearing on all three planes leading to some consummation of hearing achieved on the buddhic plane (a plane which can be understood as a “plane of consummation”).
98. “Sự nghe tam phân” có thể có nghĩa là gì? Và sự hoàn tất của sự nghe tam phân? Có lẽ chúng ta đang nói đến sự nghe trên cả ba cõi dẫn đến một sự hoàn tất của sự nghe đạt được trên cõi Bồ đề (một cõi có thể được hiểu là “cõi của sự hoàn tất”).
99. We may be dealing with a resonance related to the number four. When, for instance, hearing is consummated on the buddhic plane (the fourth) the hearing of the note of nature on the fourth and lowest plane of the personality (mental, astral, etheric, and physical) can be allowed. There is a certain symmetry in this thought.
99. Có thể chúng ta đang đề cập đến một sự cộng hưởng liên hệ với con số bốn. Chẳng hạn, khi sự nghe được hoàn tất trên cõi Bồ đề (cõi thứ tư), thì sự nghe âm điệu của thiên nhiên trên cõi thứ tư và thấp nhất của phàm ngã (trí tuệ, cảm dục, dĩ thái và hồng trần) có thể được cho phép. Có một sự đối xứng nhất định trong ý tưởng này.
100. It is as if one must be quite free of the lower three worlds (achieved with growing buddhic polarization) if the sound of the densest level of the lowest of those three worlds can be allowed to impact the now prepared ear.
100. Dường như người ta phải thực sự thoát khỏi ba cõi thấp (đạt được nhờ sự phân cực Bồ đề ngày càng tăng) thì âm thanh của cấp độ đậm đặc nhất của cõi thấp nhất trong ba cõi ấy mới có thể được phép tác động lên đôi tai nay đã được chuẩn bị.
101. What would be the value of hearing the note of nature? We would know the sound from which we are emerging and the basis of all progressive evolution into a higher note. We would be able to detect whether any influence resonated to the past or the intended future.
101. Giá trị của việc nghe âm điệu của thiên nhiên là gì? Chúng ta sẽ biết âm thanh mà từ đó mình đang vươn ra, và nền tảng của mọi tiến hoá tiến bộ vào một âm điệu cao hơn. Chúng ta sẽ có thể nhận ra liệu bất kỳ ảnh hưởng nào cộng hưởng với quá khứ hay với tương lai được dự định.
102. Hearing the note of nature would reveal what we have been and thus clarify the direction in which we are intended to progress. From a developmental perspective, it is necessary to hear the note of the past even if we no longer wish to identify with that note.
102. Việc nghe âm điệu của thiên nhiên sẽ tiết lộ chúng ta đã từng là gì và nhờ đó làm sáng tỏ hướng mà chúng ta được dự định tiến tới. Từ góc độ phát triển, cần phải nghe âm điệu của quá khứ dù chúng ta không còn muốn đồng hoá với âm điệu ấy nữa.
103. VSK suggests that threefold hearing may be achieved as the three spinal channels are completely opened through the progress of kundalini.
103. VSK gợi ý rằng sự nghe tam phân có thể đạt được khi ba kinh mạch cột sống được khai mở hoàn toàn nhờ sự tiến triển của kundalini.
Hearing on the mental plane is simply an extension of the faculty of differentiating sound.
Sự nghe trên cõi trí đơn giản là sự mở rộng của năng lực phân biệt âm thanh.
104. We can understand how much the faculty of hearing has to do with differentiation, Saturn and the third ray (the “Essential Discriminating Life”).
104. Chúng ta có thể hiểu năng lực nghe liên hệ nhiều đến mức nào với sự biến phân, Sao Thổ và cung ba (“Sự Sống Phân Biện Cốt Yếu”).
105. Hearing is the initial faculty by means of which location and direction in time in space is determined.
105. Sự nghe là năng lực ban đầu nhờ đó vị trí và phương hướng trong thời gian và không gian được xác định.
106. Through hearing on the mental plane the group note is found. Since the process of “differentiating sound” is of focal importance, it can be inferred that part of the finding of the group note is the differentiating of various group notes from each other. Discrimination is involved—both mental and sentient discrimination (as may be found on the higher mental plane, especially on the second subplane of that plane, whereon is found “Response to Group Vibration”)
106. Nhờ sự nghe trên cõi trí mà âm điệu nhóm được tìm thấy. Vì tiến trình “phân biệt âm thanh” có tầm quan trọng trọng yếu, có thể suy ra rằng một phần của việc tìm ra âm điệu nhóm là phân biệt các âm điệu nhóm khác nhau với nhau. Sự phân biện có liên quan—cả phân biện trí tuệ lẫn phân biện cảm nhận (như có thể thấy trên cõi thượng trí, đặc biệt trên cõi phụ thứ hai của cõi ấy, nơi có “Đáp Ứng với Rung Động Nhóm”)
107. Since on the higher mental plane, groupings of causal bodies (or egoic lotuses) can be found, it is clear why the mental plane should be level upon the group note may be found. The ‘move’ of Ashrams to the buddhic plane may have modified this somewhat, but the principle, it would seem, still holds good.
107. Vì trên cõi thượng trí có thể tìm thấy những nhóm thể nguyên nhân (hay các Hoa Sen Chân Ngã), nên rõ ràng vì sao cõi trí phải là cấp độ mà trên đó âm điệu nhóm có thể được tìm thấy. Sự “di chuyển” của các ashram sang cõi Bồ đề có thể đã phần nào sửa đổi điều này, nhưng nguyên lý ấy, dường như, vẫn còn đúng.
The hearing dealt with on all these planes is the hearing that has to do with the form, that concerns the vibration of matter, and that is occupied with the not-self.
Sự nghe được bàn đến trên tất cả các cõi này là sự nghe có liên quan đến hình tướng, liên quan đến rung động của vật chất, và bận tâm với không-phải-ngã.
108. By “all these planes” does DK include both the buddhic and atmic planes (not yet discussed in relation to hearing) or only those planes thus far discussed—physical, astral and mental?
108. Bởi “tất cả các cõi này”, Chân sư DK có bao gồm cả cõi Bồ đề và cõi atma (chưa được bàn đến liên hệ với sự nghe) hay chỉ những cõi đã được bàn đến cho đến nay—hồng trần, cảm dục và trí tuệ?
109. Hearing is, in many ways, a relatively ‘external’ sense, but upon the higher planes (i.e., the formless or arupa planes) it would seem to move beyond occupation with the not-Self.
109. Sự nghe, theo nhiều phương diện, là một giác quan tương đối “bên ngoài”, nhưng trên các cõi cao hơn (tức các cõi vô sắc hay arupa) dường như nó vượt ra ngoài sự bận tâm với không-phải-Ngã.
It has not to do with the psyche, or the telepathic communication that proceeds from mind to mind, but with the sound of the form or that power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself. Bear this carefully in mind.
Nó không liên quan đến thức giả, hay Giao tiếp viễn cảm diễn ra từ trí tuệ này sang trí tuệ khác, mà liên quan đến âm thanh của hình tướng hay quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức biệt lập nhận biết một đơn vị khác không phải là chính mình. Hãy ghi nhớ điều này cẩn thận.
110. DK seems to be specifying a particular type of hearing. We are given a particularly useful definition of hearing (as that sense is now being discussed): “That power whereby one separated unit of consciousness is aware of another unit who is not himself”.
110. Chân sư DK dường như đang xác định một loại sự nghe đặc thù. Chúng ta được trao cho một định nghĩa đặc biệt hữu ích về sự nghe (theo nghĩa đang được bàn ở đây): “Quyền năng nhờ đó một đơn vị tâm thức biệt lập nhận biết một đơn vị khác không phải là chính mình”.
111. Hearing of this type, therefore, is a tool for detection of the “other”, or of that which is not recognized as the self. It is an initial awareness of that “other” within the field of consciousness.
111. Vì vậy, loại sự nghe này là một công cụ để phát hiện “cái khác”, hay cái không được nhận ra là bản ngã. Đó là sự nhận biết ban đầu về “cái khác” ấy trong trường tâm thức.
112. We often ask when faced with a large environment: “Did you hear anything?” “Did you hear anyone?” “Is there anyone there?” It is a question of detecting another within the field.
112. Chúng ta thường hỏi khi đối diện với một môi trường rộng lớn: “Bạn có nghe thấy gì không?” “Bạn có nghe thấy ai không?” “Có ai ở đó không?” Đó là vấn đề phát hiện một kẻ khác trong trường ấy.
When the extension of hearing becomes such that it concerns the psyche, then we call it telepathy or that wordless communication that is the synthesis of hearing on all the three lower planes and which is known by the Ego in the causal body on the formless levels of the mental plane.
Khi sự mở rộng của sự nghe đạt đến mức liên quan đến thức giả, thì chúng ta gọi đó là viễn cảm hay sự giao tiếp không lời là sự tổng hợp của sự nghe trên cả ba cõi thấp và được chân ngã trong thể nguyên nhân trên các cấp độ vô sắc của cõi trí biết đến.
113. At this point in the discussion we are distinguishing between rupa and arupa hearing—hearing in relation to form and hearing on the so-called formless planes (including the higher mental plane as formless).
113. Tại điểm này trong cuộc bàn luận, chúng ta đang phân biệt giữa sự nghe rupa và arupa—sự nghe liên hệ với hình tướng và sự nghe trên các cõi được gọi là vô sắc (bao gồm cả cõi thượng trí như là vô sắc).
114. We are aware that on the first or atomic subplane of the mental plane the faculty of “Spiritual Telepathy” can be found. It is apparently this faculty which is here described as “the synthesis of hearing on all the lower planes”. Perhaps there is a kind of telepathy associated with each of the subplanes of the higher mental plane, “Spiritual Telepathy” being that which particular concerns the Spiritual Triad and the Divine Plan (as the word “spiritual”—so often used in relation to the Spiritual Triad—suggests).
114. Chúng ta biết rằng trên cõi phụ thứ nhất hay cõi phụ nguyên tử của cõi trí có thể tìm thấy năng lực “Viễn cảm Tinh thần”. Rõ ràng chính năng lực này được mô tả ở đây như là “sự tổng hợp của sự nghe trên tất cả các cõi thấp”. Có lẽ có một loại viễn cảm gắn với mỗi cõi phụ của cõi thượng trí, trong đó “Viễn cảm Tinh thần” là loại đặc biệt liên quan đến Tam Nguyên Tinh Thần và Thiên Cơ (như chính từ “tinh thần”—thường được dùng trong liên hệ với Tam Nguyên Tinh Thần—gợi ý).
115. The psyche is the knower. That which is known is, initially, the form.
115. Thức giả là kẻ biết. Điều được biết, lúc ban đầu, là hình tướng.
116. VSK suggests that we have here “a strong emphasis on the difference between the fires of matter and the to-be-addressed fires of mind. This is always a key ‘level check’ as to the focus and point in development of any entity under consideration, before attempting to place them in relation to other entities.”
116. VSK gợi ý rằng ở đây chúng ta có “một sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào sự khác biệt giữa các lửa của vật chất và các lửa của trí tuệ cần được đề cập đến. Đây luôn là một ‘kiểm tra cấp độ’ then chốt về tiêu điểm và điểm phát triển của bất kỳ thực thể nào đang được xem xét, trước khi cố gắng đặt họ trong tương quan với các thực thể khác.”
117. It is significant that telepathy is considered “wordless”. This fact alone removes it from the province of the third ray which is the influence under which so many word-sounds are created.
117. Điều đáng chú ý là viễn cảm được xem là “không lời”. Chỉ riêng sự kiện này đã đưa nó ra khỏi phạm vi của cung ba, vốn là ảnh hưởng dưới đó rất nhiều âm-thanh-ngôn-từ được tạo ra.
118. A hint is here given suggesting that when causal consciousness is truly achieved, our modes of communication will be wordless—in fact, telepathic. Perhaps the moments of wordless communication which we experience to a greater or lesser extent are indications of moments of causal alignment.
118. Ở đây có một gợi ý cho thấy rằng khi tâm thức nguyên nhân thực sự đạt được, các phương thức giao tiếp của chúng ta sẽ là không lời—thực ra là viễn cảm. Có lẽ những khoảnh khắc giao tiếp không lời mà chúng ta trải nghiệm ở mức độ nhiều hay ít là những dấu hiệu của những khoảnh khắc chỉnh hợp nguyên nhân.
On the buddhic plane, hearing (now of the synthetic quality called telepathy) demonstrates as complete comprehension, for it has involved two things:
Trên cõi Bồ đề, sự nghe (nay mang phẩm tính tổng hợp được gọi là viễn cảm) biểu lộ như sự thấu hiểu trọn vẹn, vì nó đã bao hàm hai điều:
119. Telepathy may begin to develop on the higher mental plane, but by the time the buddhic plane is the more customary focus of consciousness, it is well established.
119. Viễn cảm có thể bắt đầu phát triển trên cõi thượng trí, nhưng đến khi cõi Bồ đề trở thành tiêu điểm tâm thức quen thuộc hơn, thì nó đã được thiết lập vững chắc.
120. The buddhic plane is one of the planes on which synthesis can begin to be appreciated.
120. Cõi Bồ đề là một trong những cõi mà trên đó sự tổng hợp có thể bắt đầu được cảm nhận.
121. VSK suggests: “Now we are dealing with telepathy, and therefore with the psyche. Thus, a definition of the fires of matter is simply the focus on (or evolutionarily transit through) the lower three worlds. The first solar system as the mental, astral, and physical, quite explicitly, can be understood in this way as opposed to something that happened ‘in the past’ or in any time sense.”
121. VSK gợi ý: “Hiện nay chúng ta đang bàn đến viễn cảm, và do đó bàn đến psyche. Vì vậy, một định nghĩa về các lửa của vật chất đơn giản là sự tập trung vào (hay sự chuyển qua theo tiến hoá) ba cõi thấp. Hệ mặt trời thứ nhất, với tính cách là trí tuệ, cảm dục và hồng trần, khá minh nhiên, có thể được hiểu theo cách này thay vì như một điều gì đã xảy ra ‘trong quá khứ’ hay theo bất kỳ ý nghĩa thời gian nào.”
122. VSK suggests that “buddhic hearing or telepathy is the basic hearing of the second solar system (the system developing dual life of consciousness) bridging the three colours of matter with the fires of light.”
122. VSK gợi ý rằng “thông nhĩ Bồ đề hay viễn cảm là sự nghe căn bản của hệ mặt trời thứ hai (hệ đang phát triển sự sống nhị nguyên của tâm thức), bắt cầu ba màu sắc của vật chất với các lửa của ánh sáng.”
123. We are given an important definition of hearing on the buddhic plane; such hearing is called “telepathy”. The atomic subplane of the mental plane (on which is focussed Spiritual Telepathy” is thus linked with the seventh or lowest subplane of the buddhic plane (the plane of Comprehension—of Four Sounds).
123. Chúng ta được trao cho một định nghĩa quan trọng về sự nghe trên cõi Bồ đề; sự nghe như thế được gọi là “viễn cảm”. Cõi phụ nguyên tử của cõi trí (nơi “Viễn Cảm Tinh Thần” được tập trung) vì thế được nối kết với cõi phụ thứ bảy hay thấp nhất của cõi Bồ đề (cõi của Sự Thấu Triệt—của Bốn Âm Thanh).
124. It is also suggested that true comprehension does not occur through word but in a telepathic manner.
124. Cũng có gợi ý rằng sự thấu triệt chân chính không xảy ra qua linh từ mà theo cách viễn cảm.
125. Comprehension is an intuitive act, not a mental one. This is important. At least, a deeper level of comprehension than mental understanding (or comprehension) is experienced on the buddhic plane.
125. Sự thấu triệt là một hành động trực giác, không phải một hành động trí tuệ. Điều này quan trọng. Ít nhất, một cấp độ thấu triệt sâu hơn sự hiểu biết trí tuệ (hay sự thấu triệt) được kinh nghiệm trên cõi Bồ đề.
126. Comprehension has in it the factor of synthesis; we remember that the number seven (found in relation to the subplane on which Comprehension is experienced) is a number of synthesis.
126. Sự thấu triệt có trong nó yếu tố tổng hợp; chúng ta nhớ rằng con số bảy (được thấy trong liên hệ với cõi phụ nơi Sự Thấu Triệt được kinh nghiệm) là một con số của tổng hợp.
127. We note that the Comprehension suggestion is not ‘Comprehension of four words’ but “Comprehension—of four sounds”. In this case the sound is superior to the word, and a conveyer of synthesis.
127. Chúng ta lưu ý rằng gợi ý về Sự Thấu Triệt không phải là ‘Sự Thấu Triệt của bốn linh từ’ mà là “Sự Thấu Triệt—của bốn âm thanh”. Trong trường hợp này, âm thanh cao hơn linh từ, và là một tác nhân chuyển tải tổng hợp.
1. A knowledge and recognition of individual sound,
1. Một tri thức và sự nhận biết âm thanh cá nhân,
2. A similar knowledge of group sound,
2. Một tri thức tương tự về âm thanh nhóm,
and their complete unification.
và sự hợp nhất hoàn toàn của chúng.
128. The Comprehension achieved has been a prepared process. On the physical plane the individual sound has been recognized and understood. On the astral plane, the same recognition and understanding have applied to a brother’s note. A group sound has been recognized and understood on the mental plane (especially the higher mental plane).
128. Sự Thấu Triệt đạt được là một tiến trình đã được chuẩn bị. Trên cõi hồng trần, âm thanh cá nhân đã được nhận biết và thấu hiểu. Trên cõi cảm dục, cùng sự nhận biết và thấu hiểu ấy đã được áp dụng vào âm điệu của một huynh đệ. Một âm thanh nhóm đã được nhận biết và thấu hiểu trên cõi trí (đặc biệt là cõi trí thượng).
129. It is difficult to know why DK does not include recognition and understanding of a brother’s note on the astral plane. It would seem that the synthesis of which He speaks would be incomplete without the astral experience.
129. Thật khó biết vì sao Chân sư DK không bao gồm sự nhận biết và thấu hiểu âm điệu của một huynh đệ trên cõi cảm dục. Có vẻ như sự tổng hợp mà Ngài nói đến sẽ không trọn vẹn nếu thiếu kinh nghiệm cảm dục.
130. In any case, there is a unification of these recognitions and understandings, and this unification prepares the way for the synthetic understanding (called Comprehension) of the lowest buddhic level.
130. Dù sao đi nữa, có một sự hợp nhất của những nhận biết và thấu hiểu này, và sự hợp nhất ấy chuẩn bị con đường cho sự hiểu biết tổng hợp (được gọi là Sự Thấu Triệt) của cấp Bồ đề thấp nhất.
This causes the most perfect comprehension, and is the secret of the Master's power.
Điều này tạo ra sự thấu triệt hoàn hảo nhất, và là bí mật của quyền năng của Chân sư.
131. Knowledge/understanding/comprehension are, together, one significant source of power.
131. Tri thức/sự hiểu biết/sự thấu triệt, cùng nhau, là một nguồn quyền năng đầy ý nghĩa.
132. We can see that we are discussing no insignificant psychic faculty if it is the “secret of the Master’s power”.
132. Chúng ta có thể thấy rằng mình không đang bàn về một năng lực thông linh không đáng kể nào, nếu đó là “bí mật của quyền năng của Chân sư”.
133. We will, perhaps, pause to consider how often we misunderstand, distort, misconceive, etc. So much of this wrong reception and assimilation is based on words and the different ways in which they can be understood by different psyches. Once the telepathy of the higher mental and buddhic planes is truly functioning, all possibility for misunderstanding is removed. The truth blazes forth.
133. Có lẽ chúng ta sẽ dừng lại để xét xem chúng ta thường xuyên hiểu lầm, bóp méo, hiểu sai, v.v. đến mức nào. Quá nhiều sự tiếp nhận và đồng hoá sai lầm này dựa trên linh từ và những cách khác nhau mà chúng có thể được các psyche khác nhau hiểu. Một khi viễn cảm của cõi thượng trí và cõi Bồ đề thực sự hoạt động, mọi khả năng hiểu lầm đều bị loại bỏ. Chân lý bừng sáng.
134. The word “perfect” is significant, for it means “complete” and is related to the number four. We are dealing with the first faculty developed in relation to the buddhic plane.
134. Từ “hoàn hảo” thật có ý nghĩa, vì nó có nghĩa là “trọn vẹn” và liên hệ với con số bốn. Chúng ta đang bàn đến năng lực đầu tiên được phát triển trong liên hệ với cõi Bồ đề.
135. The buddhic plane is a plane of great clarity (achieved through transcendent calmness or serenity). This clarity contributes to what is being called “the most perfect comprehension”.
135. Cõi Bồ đề là một cõi của sự minh bạch lớn lao (đạt được qua sự bình an siêu việt hay sự tĩnh lặng). Sự minh bạch này góp phần vào điều đang được gọi là “sự thấu triệt hoàn hảo nhất”.
136. In relation to this faculty of Comprehension, hearing and the heart must be blended.
136. Trong liên hệ với năng lực Thấu Triệt này, sự nghe và tim phải được hòa trộn.
137. The Master’s power is based upon the apprehension of truth to which Comprehension greatly contributes.
137. Quyền năng của Chân sư dựa trên sự nắm bắt chân lý mà Sự Thấu Triệt góp phần rất lớn vào đó.
On the atmic plane this perfected hearing is seen as beatitude.
Trên cõi atma, sự nghe đã được hoàn thiện này được thấy như chí phúc.
138. Here is a list of the Beatitudes as recognized by Christianity (Wikipedia quoting the New American Bible):
138. Đây là một danh sách các Mối Phúc Thật như được Kitô giáo công nhận (Wikipedia trích dẫn New American Bible):
a. Matthew 5:3 - "Blessed are the poor in spirit, for theirs is the kingdom of heaven.
a. Ma-thi-ơ 5:3 - "Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
b. Matthew 5:4 - Blessed are they who mourn, for they will be comforted.
b. Ma-thi-ơ 5:4 - Phúc cho những ai sầu khổ, vì họ sẽ được ủi an.
c. Matthew 5:5 - Blessed are the meek, for they will inherit the land.
c. Ma-thi-ơ 5:5 - Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
d. Matthew 5:6 - Blessed are they who hunger and thirst for righteousness, for they will be satisfied.
d. Ma-thi-ơ 5:6 - Phúc cho những ai đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no thoả.
e. Matthew 5:7 - Blessed are the merciful, for they will be shown mercy.
e. Ma-thi-ơ 5:7 - Phúc cho những ai xót thương người, vì họ sẽ được xót thương.
f. Matthew 5:8 - Blessed are the clean of heart, for they will see God.
f. Ma-thi-ơ 5:8 - Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được thấy Thượng đế.
g. Matthew 5:9 - Blessed are the peacemakers, for they will be called children of God.
g. Ma-thi-ơ 5:9 - Phúc cho những ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con cái của Thượng đế.
h. Matthew 5:10 - Blessed are they who are persecuted for the sake of righteousness, for theirs is the kingdom of heaven.
h. Ma-thi-ơ 5:10 - Phúc cho những ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ.
i. Matthew 5:11-12 - Blessed are you when they insult you and persecute you and utter every kind of evil against you (falsely) because of me. Rejoice and be glad, for your reward will be great in heaven."
i. Ma-thi-ơ 5:11-12 - Phúc cho các bạn khi người ta sỉ nhục, bách hại các bạn và vu khống đủ điều xấu xa chống lại các bạn vì tôi. Hãy vui mừng hoan hỉ, vì phần thưởng của các bạn ở trên trời sẽ lớn lao."
139. There is also a version of the Beatitudes offered in the Gospel According to St. Luke. They offer greater contrasts.
139. Cũng có một bản các Mối Phúc Thật được nêu trong Phúc Âm theo Thánh Lu-ca. Chúng đưa ra những tương phản lớn hơn.
a. "Blessed are you who are poor, for the kingdom of God is yours.
a. "Phúc cho các bạn là những người nghèo khó, vì Thiên Giới là của các bạn.
b. Blessed are you who are now hungry, for you will be satisfied.
b. Phúc cho các bạn là những người hiện đang đói, vì các bạn sẽ được no thoả.
c. Blessed are you who are now weeping, for you will laugh.
c. Phúc cho các bạn là những người hiện đang khóc, vì các bạn sẽ cười.
d. Blessed are you when people hate you, and when they exclude and insult you, and denounce your name as evil on account of the Son of Man. Rejoice and leap for joy on that day! Behold, your reward will be great in heaven. For their ancestors treated the prophets in the same way.
d. Phúc cho các bạn khi người ta ghét các bạn, loại trừ và sỉ nhục các bạn, và phỉ báng tên các bạn là xấu xa vì Con Người. Hãy vui mừng và nhảy lên vì hoan hỉ trong ngày ấy! Kìa, phần thưởng của các bạn ở trên trời sẽ lớn lao. Vì tổ tiên họ đã đối xử với các vị tiên tri cũng theo cách ấy.
e. But woe to you who are rich, for you have received your consolation.
e. Nhưng khốn cho các bạn là những người giàu có, vì các bạn đã nhận phần an ủi của mình rồi.
f. But woe to you who are filled now, for you will be hungry.
f. Nhưng khốn cho các bạn là những người hiện đang no đủ, vì các bạn sẽ đói.
g. Woe to you who laugh now, for you will grieve and weep.
g. Khốn cho các bạn là những người hiện đang cười, vì các bạn sẽ sầu khổ và khóc than.
h. Woe to you when all speak well of you, for their ancestors treated the false prophets in this way."
h. Khốn cho các bạn khi mọi người đều nói tốt về các bạn, vì tổ tiên họ đã đối xử với các tiên tri giả theo cách ấy."
140. The following is a selection from the article on the Beatitudes. It describes the stage of the those who are blessed—i.e., who are members of the Kingdom of God. We may also, in this context, refer to the section in EP II which describes the nature of the “Blessed Ones” (beginning EP II 32)
140. Phần sau đây được chọn từ bài viết về các Mối Phúc Thật. Nó mô tả giai đoạn của những người được chúc phúc—tức là những thành viên của Thiên Giới. Trong bối cảnh này, chúng ta cũng có thể tham chiếu đến phần trong EP II mô tả bản chất của các “Đấng Chân Phúc” (bắt đầu từ EP II 32)
“The Beatitudes (from Latin, beatitudo, happiness) is the name given to a well-known, and to some, such as Henri Nouwen, definitive and central, portion of the Sermon on the Mount, recorded in the Gospels of Matthew and Luke. In this section, Jesus describes the qualities of the citizens of the Kingdom of heaven, showing how each is/will be blessed. The Beatitudes do not describe many separate individuals, but rather the characteristics of those who are deemed blessed by God. Each of the blessed individuals are generally not considered blessed according to worldly standards, but we see, with a heavenly perspective, they truly are blessed. The word traditionally translated into English as "blessed" or "happy" is in the Greek original μακαριος; a more literal translation into contemporary English would be "possessing an inward contentness and joy that is not affected by the physical circumstances." Each of the Beatitudes presents a situation in which the person described would not be described by the world as "blessed," yet Jesus declares that they truly are blessed, and they are blessed with a blessing that outlasts any type of blessing this world has to offer. (Wikipedia)
“Các Mối Phúc Thật (từ tiếng Latin, beatitudo, hạnh phúc) là tên gọi dành cho một phần nổi tiếng, và đối với một số người, như Henri Nouwen, là phần có tính quyết định và trung tâm, của Bài Giảng Trên Núi, được ghi lại trong các Phúc Âm của Ma-thi-ơ và Lu-ca. Trong phần này, Đức Jesus mô tả các phẩm tính của công dân Nước Trời, cho thấy mỗi người được/sẽ được chúc phúc như thế nào. Các Mối Phúc Thật không mô tả nhiều cá nhân riêng biệt, mà đúng hơn là những đặc tính của những người được Thượng đế xem là có phúc. Mỗi cá nhân được chúc phúc nói chung không được xem là có phúc theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng chúng ta thấy, với một viễn tượng thiên thượng, rằng họ thực sự có phúc. Từ theo truyền thống được dịch sang tiếng Anh là "blessed" hay "happy" trong nguyên ngữ Hy Lạp là μακαριος; một bản dịch sát hơn sang tiếng Anh đương đại sẽ là "sở hữu một sự mãn nguyện và hoan hỉ nội tâm không bị ảnh hưởng bởi các hoàn cảnh hồng trần." Mỗi Mối Phúc Thật trình bày một hoàn cảnh trong đó người được mô tả sẽ không được thế gian gọi là "có phúc", nhưng Đức Jesus tuyên bố rằng họ thực sự có phúc, và họ được chúc phúc bằng một phúc lành bền lâu hơn bất kỳ loại phúc lành nào mà thế gian này có thể ban tặng. (Wikipedia)
141. We can see that the state of blessed happiness really begins on the buddhic plane and is related to an understanding of some fundamental principles realized and lived by members of the Kingdom of God.
141. Chúng ta có thể thấy rằng trạng thái hạnh phúc được chúc phúc thực sự bắt đầu trên cõi Bồ đề và liên hệ với sự thấu hiểu một số nguyên khí căn bản được chứng nghiệm và sống bởi các thành viên của Thiên Giới.
142. It is interesting that the Gospel of Matthew offers nine Beatitudes and that of Luke, eight. Either of these numbers can be considered significant. The number eight, for instance, is particular related to the buddhic plane.
142. Điều thú vị là Phúc Âm Ma-thi-ơ đưa ra chín Mối Phúc Thật và Phúc Âm Lu-ca đưa ra tám.Một trong hai con số này đều có thể được xem là có ý nghĩa. Chẳng hạn, con số tám, đặc biệt liên hệ với cõi Bồ đề.
143. Perfect atmic hearing is perfected understanding. It excels the comprehension of the seventh subplane of the buddhic plane because it hears or understands the Will of the Planetary Logos.
143. Sự nghe atma hoàn hảo là sự thấu hiểu đã được hoàn thiện. Nó vượt hơn sự thấu triệt của cõi phụ thứ bảy của cõi Bồ đề vì nó nghe hay thấu hiểu Ý Chí của Hành Tinh Thượng Đế.
Sound, the basis of existence; sound, the method of being; sound, the final unifier; sound therefore realised as the raison d'être, as the method of evolution, and therefore as beatitude.80
Âm thanh, nền tảng của hiện hữu; âm thanh, phương pháp của hiện thể; âm thanh, đấng hợp nhất tối hậu; vì vậy âm thanh được chứng nghiệm như raison d'être, như phương pháp của tiến hoá, và do đó như chí phúc.80
144. Here is one of the Tibetan’s excellent summaries. Let us tabulate for clearer comprehension:
144. Đây là một trong những bản tóm lược tuyệt vời của Chân sư Tây Tạng. Chúng ta hãy lập bảng để thấu triệt rõ hơn:
a. Sound the basis of existence
a. Âm thanh là nền tảng của hiện hữu
b. Sound, the method of being
b. Âm thanh, phương pháp của hiện thể
c. Sound the final unifier
c. Âm thanh là đấng hợp nhất tối hậu
d. Sound realizes as the raison d’être
d. Âm thanh được chứng nghiệm như raison d’être
e. Sound as the method of evolution
e. Âm thanh như phương pháp của tiến hoá
f. Sound as beatitude
f. Âm thanh như chí phúc
145. Is sound beatitude because it is the “method of evolution” or because of all the things it is said to be in this summary?
145. Âm thanh là chí phúc vì nó là “phương pháp của tiến hoá” hay vì tất cả những điều mà nó được nói là như thế trong bản tóm lược này?
146. We are reminded of the “sounding joy” of full happiness.
146. Chúng ta được nhắc nhớ về “niềm vui vang ngân” của hạnh phúc viên mãn.
147. The Beatitudes tell us how we may be supremely happy—from the spiritual perspective. From the worldly perspective, they may not seem like very good advice, but from the perspective of one who is a member of the Kingdom of God, they are divinely correct and make perfect spiritual sense.
147. Các Mối Phúc Thật cho chúng ta biết làm thế nào chúng ta có thể hạnh phúc tối thượng—từ viễn tượng tinh thần. Từ viễn tượng thế gian, chúng có thể không có vẻ là lời khuyên thật hay, nhưng từ viễn tượng của một người là thành viên của Thiên Giới, chúng hoàn toàn đúng đắn một cách thiêng liêng và có ý nghĩa tinh thần trọn vẹn.
148. An implication arises—that supreme happiness or blessedness (understood as beatitude) is inseparable from sound.
148. Một hàm ý xuất hiện—rằng hạnh phúc tối thượng hay phúc lành tối thượng (được hiểu là chí phúc) không thể tách rời khỏi âm thanh.
149. The Buddha has told us how we may be happy through His Four Noble Truths and His Noble Eightfold Path. The advice of the Christ is equally a path to happiness, though very different and filled with the spirit of the paradoxical fourth ray—such are the contrasts offered.
149. Đức Phật đã chỉ cho chúng ta biết làm thế nào chúng ta có thể hạnh phúc qua Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo của Ngài. Lời dạy của Đức Christ cũng là một con đường dẫn đến hạnh phúc, tuy rất khác biệt và chan chứa tinh thần của cung bốn đầy nghịch lý—đó là những tương phản được đưa ra.
150. We are being offered buddhic wisdom and understanding from one who completely understands the fourth or buddhic plane—a plane of great harmony, and yet of contrasts.
150. Chúng ta đang được trao cho minh triết và sự thấu hiểu Bồ đề từ một Đấng hoàn toàn thấu hiểu cõi thứ tư hay cõi Bồ đề—một cõi của sự hài hoà lớn lao, nhưng cũng là của những tương phản.
Footnote 80:
Cước chú 80:
..."the chief agency by which Nature's wheel is moved in a phenomenal direction is sound. Sound is the first aspect of the manifested pentagon since it is a property of ether called Akas and as I already said Vedic recitation is the highest Yagnam containing in itself all minor Yagnams and tending to preserve the manifested pentagon in the proper order.
..."tác nhân chính nhờ đó bánh xe của Thiên Nhiên được chuyển động theo hướng hiện tượng là âm thanh. Âm thanh là phương diện thứ nhất của ngũ giác biểu hiện vì nó là một thuộc tính của dĩ thái được gọi là Akas và như tôi đã nói, sự tụng đọc Veda là Yagnam cao nhất, tự chứa trong nó mọi Yagnam nhỏ hơn và có khuynh hướng bảo tồn ngũ giác biểu hiện trong trật tự thích đáng.
151. By the “manifested pentagon” we are to understand all potencies of the lower five systemic planes of the cosmic physical plane. The atmic plane (related by HPB to sound) stands at the apex of this pentagram.
151. Bởi “ngũ giác biểu hiện”, chúng ta phải hiểu là mọi tiềm năng của năm cõi hệ thống thấp của cõi hồng trần vũ trụ. Cõi atma (được HPB liên hệ với âm thanh) đứng ở đỉnh của ngôi sao năm cánh này.
152. In this section of Some Thought from the Gita sound is also related to the Akasha through the word “Akas”. As here presented, sound and “Akas” are one.
152. Trong phần này của Some Thought from the Gita, âm thanh cũng được liên hệ với Akasha qua từ “Akas”. Như được trình bày ở đây, âm thanh và “Akas” là một.
153. A Yagnam is apparently a creative potency. Sound, being the highest Yagnam, holds all lesser Yagnams in place. Sound has an inherent ordering potency.
153. Một Yagnam rõ ràng là một tiềm năng sáng tạo. Âm thanh, là Yagnam cao nhất, giữ mọi Yagnam thấp hơn ở đúng vị trí. Âm thanh có một tiềm năng sắp xếp cố hữu.
In the opinion of our old philosophers sound or speech is next to thought the highest karmic agent used by man.
Theo quan điểm của các triết gia xưa của chúng ta, âm thanh hay lời nói, chỉ sau tư tưởng, là tác nhân nghiệp quả cao nhất được con người sử dụng.
154. This is a thought much emphasized by the Tibetan. Thought, however, is given preeminence as a karmic agent.
154. Đây là một tư tưởng được Chân sư Tây Tạng nhấn mạnh rất nhiều. Tuy nhiên, tư tưởng được đặt ở vị trí ưu tiên như một tác nhân nghiệp quả.
Of the various karmic agencies wielded by man in the way of moulding himself and surroundings, sound or speech is the most important, for, to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water and earth.
Trong số các tác nhân nghiệp quả khác nhau mà con người vận dụng để uốn nắn chính mình và hoàn cảnh xung quanh, âm thanh hay lời nói là quan trọng nhất, vì nói là hoạt động trong dĩ thái, mà dĩ nhiên dĩ thái cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất.
155. We should note the significant thought that “to speak is to work in ether which of course rules the lower quaternary of elements, air, fire, water an earth”.
155. Chúng ta nên lưu ý tư tưởng đầy ý nghĩa rằng “nói là hoạt động trong dĩ thái, mà dĩ nhiên dĩ thái cai quản bộ tứ thấp của các nguyên tố: khí, lửa, nước và đất”.
156. To speak is thus to wield a great formative agency, patterning results that will precipitate upon the physical plane.
156. Vì thế, nói là vận dụng một tác nhân tạo hình lớn lao, tạo mô hình cho những kết quả sẽ ngưng tụ trên cõi hồng trần.
Human sound or language contains therefore all the elements required to move the different classes of Devas and those elements are of course the vowels and the consonants.
Vì vậy, âm thanh hay ngôn ngữ của con người chứa mọi yếu tố cần thiết để làm chuyển động các loại thiên thần khác nhau, và dĩ nhiên những yếu tố ấy là các nguyên âm và phụ âm.
157. T. Subba Row speaks of the potency of human sound and language. In his opinion language already in the possession of man is sufficient to wield power over many different classes of Devas.
157. T. Subba Row nói về tiềm năng của âm thanh và ngôn ngữ con người. Theo quan điểm của ông, ngôn ngữ mà con người đã sở hữu đủ để vận dụng quyền năng trên nhiều loại thiên thần khác nhau.
The details of the philosophy of sound in its relation to the devas who preside over the subtle world, belong to the domain of true Mantra Sastra which of course is in the hands of the knowers."—Some Thoughts on the Gita, p. 72.
Các chi tiết của triết học về âm thanh trong mối liên hệ của nó với các thiên thần chủ quản thế giới vi tế thuộc về lãnh vực của Mantra Sastra chân chính, mà dĩ nhiên nằm trong tay các thức giả."—Some Thoughts on the Gita, tr. 72.
158. The science of Mantra Yoga is called “Mantra Sastra” must be potent in the extreme. Little of it is in the possession of the average student.
158. Khoa học của Mantra Yoga được gọi là “Mantra Sastra” hẳn phải có tiềm năng cực lớn. Rất ít điều trong đó nằm trong sự sở hữu của đạo sinh trung bình.
159. Apparently, by implication, there are many imitations of the “true Mantra Sastra”.
159. Rõ ràng, theo hàm ý, có nhiều sự bắt chước của “Mantra Sastra chân chính”.
[Page 193]
[Page 193]
b. Touch. In taking up the subject of the second sense, that of touch, we must note that this sense is preeminently the sense of very great importance in this, the second, solar system—a system of astral-buddhic consciousness.81
b. Xúc giác. Khi bắt đầu đề tài về giác quan thứ hai, tức xúc giác, chúng ta phải lưu ý rằng giác quan này nổi bật hơn hết như là giác quan có tầm quan trọng rất lớn trong hệ mặt trời thứ hai này—một hệ của tâm thức cảm dục-Bồ đề.81
160. We may say that the sense of touch is preeminent in our astral-buddhic solar system.
160. Chúng ta có thể nói rằng xúc giác là giác quan nổi trội trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta.
161. If we think carefully we shall see that no sense can operate without the factor of touch, for always (with respect to every sense) there is impression via a medium of impression. That impression is a variety of touch.
161. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng không giác quan nào có thể hoạt động mà không có yếu tố xúc chạm, vì luôn luôn (đối với mọi giác quan) có sự ghi nhận qua một môi trường ghi nhận. Sự ghi nhận ấy là một dạng xúc chạm.
162. In relation to the sense of touch the factor of attraction and repulsion is a central dynamic. The sense of touch comes under the second cosmic law of Attraction (and Repulsion).
162. Trong liên hệ với xúc giác, yếu tố hấp dẫn và đẩy lùi là một động lực trung tâm. Xúc giác thuộc về định luật vũ trụ thứ hai là Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi).
Each of these senses, after having reached a certain point, begins to synthesise with the others in such a way that it is almost impossible to know where one begins and the other ends.
Mỗi giác quan này, sau khi đã đạt đến một điểm nào đó, bắt đầu tổng hợp với các giác quan khác theo cách khiến gần như không thể biết được giác quan này bắt đầu ở đâu và giác quan kia chấm dứt ở đâu.
163. DK speaks of the synthesis of the senses, presumably as the more synthetic initiations are taken.
163. Chân sư DK nói về sự tổng hợp của các giác quan, có lẽ khi các lần điểm đạo tổng hợp hơn được tiếp nhận.
Footnote 81:
Cước chú 81:
Astral-buddhic consciousness is the term applied to the basic consciousness in our solar system. It is characterised by emotion, by feeling, sensation, which have eventually to be transmuted into intuition, spiritual perception and unity.
Tâm thức cảm dục-Bồ đề là thuật ngữ được áp dụng cho tâm thức căn bản trong hệ mặt trời của chúng ta. Nó được đặc trưng bởi cảm xúc, cảm giác, tri giác, những điều cuối cùng phải được chuyển hoá thành trực giác, tri giác tinh thần và hợp nhất.
164. The functional link between the astral and buddhic types of consciousness is presented.
164. Mối nối chức năng giữa các loại tâm thức cảm dục và Bồ đề được trình bày.
165. It is relatively easy to understand how emotion, feeling and sensation are related to the sense of touch. What must also be realized is that intuition, spiritual perception and the sense of unity are also related to this sense (though a much subtler form of touch).
165. Tương đối dễ hiểu cách cảm xúc, cảm giác và tri giác liên hệ với xúc giác. Điều cũng phải được chứng nghiệm là trực giác, tri giác tinh thần và ý thức hợp nhất cũng liên hệ với giác quan này (dù là một hình thức xúc chạm tinh tế hơn nhiều).
Touch is that innate recognition of contact through the exercise of manas or mind in a threefold manner:
Xúc giác là sự nhận biết bẩm sinh về tiếp xúc qua việc vận dụng manas hay trí tuệ theo cách tam phân:
As recognition.
Như sự nhận biết.
As memory.
Như ký ức.
As anticipation.
Như sự dự cảm.
166. In this definition of touch, it is interesting to understand that it is inseparable from the exercise of manas or mind.
166. Trong định nghĩa này về xúc giác, điều thú vị là hiểu rằng nó không thể tách rời khỏi việc vận dụng manas hay trí tuệ.
167. There may be contact of many kinds and yet the sense of touch remain dormant because there is no manasic recognition of the touch. The touch is not noticed.
167. Có thể có nhiều loại tiếp xúc mà xúc giác vẫn ngủ yên vì không có sự nhận biết manas về sự xúc chạm. Sự xúc chạm không được ghi nhận.
168. The focus of touch in the past, present and future are here given.
168. Ở đây, tiêu điểm của xúc giác trong quá khứ, hiện tại và tương lai được nêu ra.
a. Touch in relation to the past may be experienced through memory.
a. Xúc giác trong liên hệ với quá khứ có thể được kinh nghiệm qua ký ức.
b. Touch in relation to the present may be experienced through recognition.
b. Xúc giác trong liên hệ với hiện tại có thể được kinh nghiệm qua sự nhận biết.
c. Touch in relation to the future may be experienced through anticipation.
c. Xúc giác trong liên hệ với tương lai có thể được kinh nghiệm qua sự dự cảm.
169. In relation to the future, touch and the factor of faith are closely related.
169. Trong liên hệ với tương lai, xúc giác và yếu tố đức tin liên hệ mật thiết với nhau.
170. If there is contact and one is not aware of the contact, has the sense of touch been activated? It would seem not.
170. Nếu có tiếp xúc mà người ta không ý thức được tiếp xúc ấy, thì xúc giác đã được hoạt hóa chưa? Có vẻ là chưa.
Each of the five senses, when coupled with manas, develops within the subject a concept embodying the past, the present and the future.
Mỗi một trong năm giác quan, khi được kết hợp với manas, phát triển bên trong chủ thể một khái niệm bao hàm quá khứ, hiện tại và tương lai.
171. This is a concept of great importance. If manas is not coupled with the senses, the senses may be active but no concept of the past, present and future will exist.
171. Đây là một khái niệm vô cùng quan trọng. Nếu manas không được kết hợp với các giác quan, các giác quan có thể hoạt động nhưng sẽ không có khái niệm nào về quá khứ, hiện tại và tương lai tồn tại.
172. The animal (for instance, a developed mammal) has the five senses active and yet, no sense of past, present or future, because the manas is not activated. There has been no arrangement or categorization of sensory impression into three types.
172. Con vật (chẳng hạn, một loài có vú phát triển) có năm giác quan hoạt động mà vẫn không có ý thức về quá khứ, hiện tại hay tương lai, vì manas chưa được hoạt hóa. Chưa có sự sắp xếp hay phân loại các ghi nhận giác quan thành ba loại.
Therefore when a man is very highly evolved, has transcended time (as known in the three worlds),
Vì vậy khi con người đã tiến hoá rất cao, đã vượt khỏi thời gian (như được biết trong ba cõi thấp),
173. We note the care with which this phrase is worded. Time as it is known in the three worlds may be transcended by the highly evolved human being. This is not to say that time, in any absolute sense, is transcended, for there is also time as it is experienced on planes far higher than those of the three worlds.
173. Chúng ta lưu ý sự cẩn trọng trong cách diễn đạt cụm từ này. Thời gian như nó được biết trong ba cõi thấp có thể được con người tiến hoá cao vượt qua. Điều này không có nghĩa là thời gian, theo bất kỳ ý nghĩa tuyệt đối nào, đã bị vượt qua, vì còn có thời gian như được kinh nghiệm trên những cõi cao hơn rất nhiều so với ba cõi thấp.
and can therefore look at the three lower planes from the standpoint of the Eternal Now, he has superseded the senses by full active consciousness.
và do đó có thể nhìn ba cõi thấp từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu, y đã vượt qua các giác quan bằng tâm thức đầy đủ và hoạt động.
174. The transcending of time as it is related to the three worlds is related to the transcending of the relationship between manas and the senses. When faculties other (and higher) than manas are related to the senses, the limiting sense of past, present and future will not hold the consciousness in bondage.
174. Sự vượt qua thời gian trong liên hệ với ba cõi thấp có liên hệ với sự vượt qua mối quan hệ giữa manas và các giác quan. Khi những năng lực khác (và cao hơn) manas được liên hệ với các giác quan, ý thức hạn chế về quá khứ, hiện tại và tương lai sẽ không còn trói buộc tâm thức nữa.
175. How may we supersede the senses? The answer comes: “By full active consciousness”. There is a kind of ‘wholeness in consciousness’ which embraces past, present and future simultaneously. This wholeness is not limited by the sense of unalterable sequence. It can reach far ‘forwards’ or ‘backwards’ simultaneously and yet perceive the present fully in the moment.
175. Làm thế nào chúng ta có thể vượt qua các giác quan? Câu trả lời đến là: “Bằng tâm thức đầy đủ và hoạt động”. Có một loại ‘toàn thể tính trong tâm thức’ bao trùm đồng thời quá khứ, hiện tại và tương lai. Toàn thể tính này không bị giới hạn bởi cảm giác về chuỗi tiếp nối bất biến. Nó có thể vươn rất xa ‘về phía trước’ hay ‘về phía sau’ cùng một lúc mà vẫn tri giác trọn vẹn hiện tại trong khoảnh khắc.
176. The corollary to the implications from this section is also to be examined: if one is under the spell of the senses, one has not yet achieved full active consciousness.
176. Hệ quả rút ra từ phần này cũng cần được khảo sát: nếu một người còn ở dưới bùa mê của các giác quan, người ấy vẫn chưa đạt được tâm thức đầy đủ và hoạt động.
177. In the perception of the Eternal Now, that which is beyond any possibility of change must be constantly registered even ‘while’ that which changes always is ‘also’ registered.
177. Trong tri giác về Hiện Tại Vĩnh Cửu, điều vượt ngoài mọi khả năng thay đổi phải được ghi nhận liên tục ngay cả ‘trong khi’ điều luôn thay đổi cũng ‘đồng thời’ được ghi nhận.
178. Astrologically considered we are speaking of the transition from Saturn (time, space, sense, sequence) to Uranus (simultaneity, essence, fusion, synthesis).
178. Xét theo chiêm tinh học, chúng ta đang nói đến sự chuyển tiếp từ Sao Thổ (thời gian, không gian, giác quan, chuỗi tiếp nối) sang Sao Thiên Vương (tính đồng thời, tinh tuý, sự dung hợp, tổng hợp).
179. VSK remarks: “So the superseding of time is equivalent to the superseding of senses. Interesting in relation to the definition of the Plan given as the “transcending of time”, and in relation to the foregoing discussion of the kundalini and the burning away of webs in the three lower worlds, thus synthesizing these worlds ‘from the standpoint of the Eternal Now’. This is fun.
179. VSK nhận xét: “Như vậy, việc vượt khỏi thời gian tương đương với việc vượt khỏi các giác quan. Thật thú vị khi liên hệ với định nghĩa về Thiên Cơ được nêu là sự ‘siêu vượt thời gian’, và liên hệ với phần bàn luận trước đó về kundalini và việc đốt cháy các màng lưới trong ba cõi thấp, nhờ đó tổng hợp các cõi này ‘từ quan điểm của Hiện Tại Vĩnh Cửu’. Điều này thật thú vị.
He knows, and needs not the senses to guide him any longer to knowledge.
Y biết, và không còn cần các giác quan dẫn dắt y đến tri thức nữa.
180. From the astrological perspective, Mercury and the Sun have become one. The Path to Knowledge is the antahkarana which ends, eventually, in the fullness of the Sun (which represents the fullness of knowledge and realization).
180. Từ góc độ chiêm tinh học, Sao Thủy và Mặt Trời đã trở thành một. Con Đường đến Tri Thức là antahkarana, cuối cùng kết thúc trong sự viên mãn của Mặt Trời (vốn biểu trưng cho sự viên mãn của tri thức và chứng nghiệm).
181. The senses are mediators and give mediated knowledge. There is such a thing as “direct knowledge” (in the words of Master Morya). Direct knowledge is ever fuller and more satisfying that mediated knowledge, which is ever conditioned by the medium through which the knowledge must, as it were, pass.
181. Các giác quan là những trung gian và ban cho tri thức đã được trung giới hóa. Có một điều gọi là “tri thức trực tiếp” (theo lời Chân sư Morya). Tri thức trực tiếp luôn đầy đủ hơn và thỏa đáng hơn tri thức được trung giới hóa, vốn luôn bị tác động bởi môi trường trung gian mà tri thức ấy phải, có thể nói như vậy, đi qua.
182. Direct knowledge arises through identification, which suggests the ability to become (or realize one’s identicality with) the object of knowledge.
182. Tri thức trực tiếp phát sinh qua sự đồng hoá với, điều này gợi ý khả năng trở thành (hay chứng nghiệm sự đồng nhất của mình với) đối tượng của tri thức.
But in time, and in the three worlds, each sense on each plane is employed to convey to the Thinker some aspect of the not-self, and by the aid [Page 194] of mind, the Thinker can then adjust his relationship thereto.
Nhưng theo thời gian, và trong ba cõi giới, mỗi giác quan trên mỗi cõi được sử dụng để truyền đạt cho Thức giả một phương diện nào đó của vô ngã, và nhờ sự trợ giúp [Page 194] của trí tuệ, Thức giả khi ấy có thể điều chỉnh mối liên hệ của y với điều đó.
183. The right use of the senses is an unavoidable prelude to identificatory realization. We must accept mediated knowledge before we can be impressed with direct essence.
183. Việc sử dụng đúng đắn các giác quan là phần mở đầu không thể tránh khỏi cho sự chứng nghiệm bằng đồng nhất hóa. Chúng ta phải chấp nhận tri thức được trung giới hóa trước khi có thể được gây ấn tượng bởi tinh túy trực tiếp.
184. The senses reveal what is “out there” (including what seems to be “in there”) but is really “out there”—though in a more subtle manner.
184. Các giác quan tiết lộ điều gì là “ở ngoài kia” (kể cả điều gì dường như là “ở trong kia”) nhưng thật ra là “ở ngoài kia”—dù theo một cách tinh tế hơn.
185. Through the revelation of the nature of the not-Self, the Thinker can properly adjust to that not-Self. The clearer the testimony of the senses, the more probability of an intelligent adjustment.
185. Thông qua sự mặc khải về bản chất của vô ngã, Thức giả có thể điều chỉnh đúng đắn với vô ngã đó. Chứng cứ của các giác quan càng rõ ràng thì xác suất có được một sự điều chỉnh thông minh càng lớn.
186. VSK remarks: “Always ‘neti neti’ … seems like the Thinker would ‘get it ‘after a while that the only adjustment to make is to ‘no relationship’, as any relationship, per se, must be with the not-Self.
186. VSK nhận xét: “Luôn luôn là ‘neti neti’ … dường như Thức giả rồi cũng sẽ ‘hiểu ra’ sau một thời gian rằng sự điều chỉnh duy nhất cần thực hiện là ‘không có mối liên hệ’, vì bất kỳ mối liên hệ nào, chính nó, cũng phải là với vô ngã.
187. Now begins a more important tabulation of that which is conveyed to the Thinker by each of the senses. These short indications elucidate the meaning of the senses in unexpected ways.
187. Giờ đây bắt đầu một bảng liệt kê quan trọng hơn về điều được mỗi giác quan truyền đạt cho Thức giả. Những chỉ dẫn ngắn gọn này làm sáng tỏ ý nghĩa của các giác quan theo những cách không ngờ.
Hearing gives him an idea of relative direction, and enables a man to fix his place in the scheme and to locate himself.
Thính giác cho y một ý niệm về phương hướng tương đối, và giúp con người xác định vị trí của mình trong hệ hành tinh và định vị chính mình.
188. We see how very closely the sense of hearing is related to the establishment and maintenance of the illusion of time and space (and thus, of the illusion of separation).
188. Chúng ta thấy giác quan thính giác liên hệ rất chặt chẽ với việc thiết lập và duy trì ảo tưởng về thời gian và không gian (và do đó, ảo tưởng về sự phân ly).
189. Hearing conveys the impression not only of direction and location but of distance. It defines the time-space sphere or “Cube of Space”.
189. Thính giác không chỉ truyền đạt ấn tượng về phương hướng và vị trí mà còn về khoảng cách. Nó xác định khối cầu thời-không hay “Khối Lập Phương Không Gian”.
190. Saturn (the planet of hearing) might also be called the ‘planet of location’, for it convinces the consciousness that its apparatus can only be in one place at one time—if ‘here’, then not ‘there’; if ‘there’, then not ‘here’. Location means fixity of position and Saturn is one of the major planets of fixation. Vulcan may be another and Mars cannot be left out of the consideration.
190. Sao Thổ (hành tinh của thính giác) cũng có thể được gọi là ‘hành tinh của vị trí’, vì nó thuyết phục tâm thức rằng bộ máy của nó chỉ có thể ở một nơi vào một thời điểm—nếu ‘ở đây’ thì không ‘ở đó’; nếu ‘ở đó’ thì không ‘ở đây’. Vị trí có nghĩa là sự cố định của chỗ đứng, và Sao Thổ là một trong những hành tinh lớn của sự cố định. Vulcan có thể là một hành tinh khác, và Sao Hỏa cũng không thể bị loại khỏi sự xem xét này.
191. The sign ruling the ears and hearing, Taurus, ruled initially by fifth ray Venus, contributes to the sense of ‘here and not there’, and Vulcan, the esoteric ruler of Taurus anchors the consciousness in one location by means of a body apparently ‘attached’ to the Earth. For all its higher potentials, Vulcan has a materialistic effect upon the consciousness in the early stages of development.
191. Dấu hiệu hoàng đạo cai quản tai và thính giác là Kim Ngưu, ban đầu do Sao Kim cung năm cai quản, góp phần tạo nên cảm giác ‘ở đây chứ không ở đó’, và Vulcan, chủ tinh huyền bí của Kim Ngưu, neo tâm thức vào một vị trí bằng một thể dường như ‘gắn chặt’ với Trái Đất. Dù có mọi tiềm năng cao hơn, Vulcan vẫn tạo ra một tác động duy vật lên tâm thức trong các giai đoạn phát triển ban đầu.
192. The wording in DK’s sentence tells us that we should study the Law of Fixation in relation to the sense of hearing.
192. Cách diễn đạt trong câu của Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nên nghiên cứu định luật Cố Định trong liên hệ với giác quan thính giác.
Touch gives him an idea of relative quantity and enables him to fix his relative value as regards other bodies, extraneous to himself.
Xúc giác cho y một ý niệm về lượng tương đối và giúp y xác định giá trị tương đối của mình đối với các thể khác, ở ngoài y.
193. If hearing conveys the idea of location and direction, the idea of “relative quantity” is conferred by the sense of touch. What is ‘big’ and what is ‘small’ are realized. Sight (when large distances are involved) can be misleading in this regard.
193. Nếu thính giác truyền đạt ý niệm về vị trí và phương hướng, thì ý niệm về “lượng tương đối” được ban cho bởi xúc giác. Điều gì là ‘lớn’ và điều gì là ‘nhỏ’ được nhận biết. Thị giác (khi có khoảng cách lớn) có thể gây hiểu lầm về phương diện này.
194. The word “value” is interesting, relating to both Venus and Taurus (both influences inclining towards tactility—yet towards a keen sense of the visual as well). “Value” suggests worth—comparisons between coarse and fine, uncomfortable and comfortable, and many of the pairs of opposites.
194. Từ “giá trị” thật thú vị, liên hệ với cả Sao Kim lẫn Kim Ngưu (cả hai ảnh hưởng đều nghiêng về tính xúc chạm—nhưng cũng hướng đến một cảm nhận sắc bén về thị giác). “Giá trị” gợi ý sự đáng giá—những so sánh giữa thô và tinh, khó chịu và dễ chịu, cùng nhiều cặp đối đãi khác.
195. The word “value” in this context may also mean “condition” or “state”.
195. Từ “giá trị” trong ngữ cảnh này cũng có thể có nghĩa là “điều kiện” hay “trạng thái”.
196. We can see that the factor of comparison is implicit in any consideration of the senses.
196. Chúng ta có thể thấy rằng yếu tố so sánh hàm ẩn trong mọi sự xem xét về các giác quan.
Sight gives him an idea of proportion, and enables him to adjust his movements to the movements of others.
Thị giác cho y một ý niệm về tỉ lệ, và giúp y điều chỉnh các chuyển động của mình theo các chuyển động của người khác.
197. The idea of proportion is implicit in the visual field. One ‘sees’ the great and small and is able to compare them instantly. The visual field is filled with things of many sizes, though when great distances are involved, size as it appears within the visual field can be most misleading. Are stars, appearing small, really small in comparison with all other elements in the visual field? Are the Sun and the moon really the same size, as the eye suggests they are? Clearly the mind must enter to make important adjustments. Such items as immense distant objects cannot be heard (except through electronic assistance), touched, tasted or smelled, and thus the other four senses cannot correct optical illusions. The mind, however, can.
197. Ý niệm về tỉ lệ hàm ẩn trong trường thị giác. Người ta ‘thấy’ cái lớn và cái nhỏ và có thể so sánh chúng tức thì. Trường thị giác đầy những vật có nhiều kích thước khác nhau, dù khi có khoảng cách lớn, kích thước như nó xuất hiện trong trường thị giác có thể gây hiểu lầm rất nhiều. Các ngôi sao, trông nhỏ bé, có thật sự nhỏ so với mọi yếu tố khác trong trường thị giác không? Mặt Trời và mặt trăng có thật sự cùng kích thước như mắt gợi ra không? Rõ ràng trí tuệ phải tham gia để thực hiện những điều chỉnh quan trọng. Những vật như các đối tượng ở xa vô cùng lớn không thể được nghe thấy (trừ khi có trợ giúp điện tử), chạm tới, nếm hay ngửi, và vì thế bốn giác quan kia không thể sửa chữa các ảo tưởng quang học. Tuy nhiên, trí tuệ có thể.
198. Much might be learned by a contemplation of the words “optical illusions”.
198. Có thể học được nhiều điều bằng cách chiêm ngưỡng các từ “ảo tưởng quang học”.
199. As for proportion, we can relate the sense of sight closely to the sign Libra, ruling as it does the ajna center and relating to both the right and left eyes (as well as to the central eye). Venus, an important planet of sight, is the first ruler of Libra.
199. Về tỉ lệ, chúng ta có thể liên hệ giác quan thị giác một cách chặt chẽ với dấu hiệu Thiên Bình, vì dấu hiệu này cai quản trung tâm ajna và liên hệ với cả mắt phải lẫn mắt trái (cũng như con mắt trung tâm). Sao Kim, một hành tinh quan trọng của thị giác, là chủ tinh thứ nhất của Thiên Bình.
200. A correct sense of proportion is the antidote to glamor, and so we can see how the emergence of the sense of sight (and of the mind more prominently) enabled man to escape from the emotional glamor characteristic of the era when the sense of touch (physical and, especially, astral) reigned supreme (the Atlantean phase of consciousness).
200. Một ý thức về tỉ lệ đúng đắn là thuốc giải cho ảo cảm, và vì vậy chúng ta có thể thấy sự xuất hiện của giác quan thị giác (và của trí tuệ nổi bật hơn) đã giúp con người thoát khỏi ảo cảm cảm xúc đặc trưng của thời kỳ mà xúc giác (hồng trần và đặc biệt là cảm dục) ngự trị tối cao (giai đoạn Atlantis của tâm thức).
201. We can also see the social function of the sense of sight, for when the movements of people can be reasonably adjusted to each other, social living is possible. Exaggerated movements (all out of proportion—again suggesting the importance of the comparative Libran influence) indicate a lack of cohesion with the norms of society.
201. Chúng ta cũng có thể thấy chức năng xã hội của giác quan thị giác, vì khi các chuyển động của con người có thể được điều chỉnh hợp lý với nhau, đời sống xã hội trở nên khả hữu. Những chuyển động phóng đại (đều mất cân xứng—một lần nữa gợi ý tầm quan trọng của ảnh hưởng so sánh thuộc Thiên Bình) cho thấy sự thiếu gắn kết với các chuẩn mực của xã hội.
202. A young child spends a long time observing and imitating, to learn how to ‘act’ or move in relation to those around him who are also acting and moving. We might say that the sense of sight keeps movement “within due bounds”.
202. Một đứa trẻ nhỏ dành rất nhiều thời gian để quan sát và bắt chước, nhằm học cách ‘hành động’ hay di chuyển trong liên hệ với những người quanh nó, những người cũng đang hành động và di chuyển. Chúng ta có thể nói rằng giác quan thị giác giữ cho chuyển động “trong những giới hạn thích đáng”.
203. The sense of sight is also related to the Law of Attraction and Repulsion, for, on the basis of what we see, we are both attracted and repelled. This might be said of all the senses to a degree, but the amount of information coming through the eye far exceeds that arising through the use of the other senses.
203. Giác quan thị giác cũng liên hệ với Định luật Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi, vì trên cơ sở điều chúng ta thấy, chúng ta vừa bị thu hút vừa bị đẩy lùi. Điều này có thể nói về mọi giác quan ở một mức độ nào đó, nhưng lượng thông tin đi vào qua mắt vượt xa lượng phát sinh qua việc sử dụng các giác quan khác.
Taste gives him an idea of value, and enables him to fix upon that which to him appears best.
Vị giác cho y một ý niệm về giá trị, và giúp y quyết định điều gì đối với y dường như là tốt nhất.
204. Again we have the word “value” used, as in describing the sense of touch. Indeed, taste is based primarily upon touch.
204. Một lần nữa chúng ta lại có từ “giá trị” được dùng, như trong phần mô tả xúc giác. Thật vậy, vị giác chủ yếu dựa trên xúc giác.
205. Taste reveals to the ‘taster’ his similarly or dissimilarity to (harmony or inharmony with) that which is tasted. It reveals whether that which is tasted (or to be tasted or was tasted) is assimilable by the taster, whether it can be incorporated into his system.
205. Vị giác tiết lộ cho ‘người nếm’ sự tương đồng hay bất tương đồng của y với (sự hài hòa hay bất hài hòa với) điều được nếm. Nó tiết lộ liệu điều được nếm (hay sẽ được nếm hoặc đã được nếm) có thể được đồng hóa bởi người nếm hay không, liệu nó có thể được kết hợp vào hệ thống của y hay không.
206. That which is of value is desired by the assimilating entity. The better the assimilation of valuable inputs or ‘imports’, the better the condition and growth of the entity—i.e., the more rapid the trajectory of fulfillment.
206. Điều gì có giá trị thì được thực thể đồng hóa mong muốn. Sự đồng hóa các đầu vào hay ‘nhập liệu’ có giá trị càng tốt thì tình trạng và sự tăng trưởng của thực thể càng tốt—tức là quỹ đạo hoàn thành càng nhanh.
207. We note again that the term “fix” is used as was the case in the description of touch. This is another confirmation that touch and taste are related.
207. Chúng ta lại lưu ý rằng thuật ngữ “xác định” được dùng như trong phần mô tả xúc giác. Đây là một xác nhận nữa rằng xúc giác và vị giác có liên hệ với nhau.
208. After much life experience one may become ‘set in his tastes’, and seek to incorporate only that which he has definitely decided is of value.
208. Sau nhiều kinh nghiệm sống, người ta có thể trở nên ‘cố định trong thị hiếu của mình’, và chỉ tìm cách kết hợp vào mình điều mà y đã dứt khoát quyết định là có giá trị.
209. The sense of taste is related to the general improvement of quality—whether of the environment (external) or of the individual (internal). We might say that this sense is related to the refinement of the desire body.
209. Giác quan vị giác liên hệ với sự cải thiện chung về phẩm tính—dù là của môi trường (bên ngoài) hay của cá nhân (bên trong). Chúng ta có thể nói rằng giác quan này liên hệ với sự tinh luyện thể dục vọng.
Smell gives him an idea of innate quality, and enables him to find that which appeals to him as of the same quality or essence as himself.
Khứu giác cho y một ý niệm về phẩm tính bẩm sinh, và giúp y tìm ra điều gì hấp dẫn y như có cùng phẩm tính hay tinh túy với chính y.
210. The sense of smell is at once the most internal and external sense. It is closely related to the animal brain and very active in the animal kingdom.
210. Khứu giác đồng thời là giác quan nội tại nhất và ngoại tại nhất. Nó liên hệ chặt chẽ với bộ não động vật và rất hoạt động trong giới động vật.