Trích nội dung chương
57. This is a profoundly occult idea. It would seem that we are speaking of two aspects of the Sun in relation to the production of the capacity for sensation—the “Heart of the Sun” or consciousness aspect, and the physical Sun, or more material aspect. 57. Đây là một ý tưởng huyền bí học hết sức sâu xa. Có vẻ như chúng ta đang nói đến hai phương diện của Mặt Trời liên quan đến việc tạo ra năng lực cảm giác—“Trái Tim của Mặt Trời” hay phương diện tâm thức, và Mặt Trời hồng trần, hay phương diện vật chất hơn.
57. This is a profoundly occult idea. It would seem that we are speaking of two aspects of the Sun in relation to the production of the capacity for sensation—the “Heart of the Sun” or consciousness aspect, and the physical Sun, or more material aspect.
57. Đây là một ý tưởng huyền bí học hết sức sâu xa. Có vẻ như chúng ta đang nói đến hai phương diện của Mặt Trời liên quan đến việc tạo ra năng lực cảm giác—“Trái Tim của Mặt Trời” hay phương diện tâm thức, và Mặt Trời hồng trần, hay phương diện vật chất hơn.
58. The Sun and Leo represent the ‘sensitive factor’ in man—namely the factor of consciousness. If Leo is the sign of “sensitivity”, the Sun is thereby related to sensitivity.
58. Mặt Trời và Sư Tử tượng trưng cho ‘yếu tố nhạy cảm’ nơi con người—tức là yếu tố tâm thức. Nếu Sư Tử là dấu hiệu của “tính nhạy cảm”, thì Mặt Trời do đó có liên hệ với tính nhạy cảm.
59. There is the implication that the heart factor is involved in all sensation. The Sun is the heart of the solar system and Leo is that sign/constellation correlated with the heart.
59. Có một hàm ý rằng yếu tố tim có liên quan trong mọi cảm giác. Mặt Trời là trái tim của hệ mặt trời và Sư Tử là dấu hiệu/chòm sao tương ứng với trái tim.
60. Consciousness is that something which is always in touch.
60. Tâm thức là cái gì đó luôn luôn tiếp xúc.
3. Knowledge is the end of sense.—S. D., I, 300.
3. Tri thức là cứu cánh của giác quan.—S. D., I, 300.
61. This is an important general principle. Senses (the usual five) are preparatory to knowledge, which is their synthesis. It is the mind or sixth sense which coordinates and gives meaning to the usual five senses.
61. Đây là một nguyên lý tổng quát quan trọng. Các giác quan (năm giác quan thông thường) là bước chuẩn bị cho tri thức, vốn là sự tổng hợp của chúng. Chính trí tuệ hay giác quan thứ sáu điều phối và ban ý nghĩa cho năm giác quan thông thường.
62. Knowledge, in a way, corresponds to the Monad which correlates and synthesizes the activity and life of the five lesser planes.
62. Tri thức, theo một cách nào đó, tương ứng với chân thần, vốn tương liên và tổng hợp hoạt động cùng sự sống của năm cõi thấp hơn.
4. There is a double set of senses, spiritual and material.—S. D., I, 582; S. D., II, 307, 308. This finds its reflection in the double set of physical senses noted in defining the indriyas.
4. Có một bộ giác quan kép, tinh thần và vật chất.—S. D., I, 582; S. D., II, 307, 308. Điều này tìm thấy sự phản chiếu của nó trong bộ giác quan hồng trần kép được ghi nhận khi định nghĩa các indriyas.
63. In TCF the list of sense-groups expands to five—a group for each of the planes studied in this regard—physical/etheric, astral, mental, buddhic and atmic.
63. Trong Luận về Lửa Vũ Trụ danh sách các nhóm giác quan mở rộng thành năm—một nhóm cho mỗi cõi được khảo sát theo phương diện này—hồng trần/dĩ thái, cảm dục, trí tuệ, Bồ đề và atma.
64. It becomes necessary to greatly expand our understanding of the term “senses”.
64. Việc mở rộng rất lớn sự thấu hiểu của chúng ta về thuật ngữ “giác quan” trở nên cần thiết.
65. In the quotation immediately above, the spiritual senses related to the second aspect of divinity and the material sense to the third aspect. Correspondingly, the indryas reflect this division (centripetally and centrifugally) as indicated above.
65. Trong đoạn trích ngay trên, các giác quan tinh thần liên hệ với phương diện thứ hai của thiên tính và giác quan vật chất với phương diện thứ ba. Tương ứng như vậy, các indryas phản ánh sự phân chia này (theo hướng tâm và ly tâm) như đã nêu ở trên.
5. The senses might be enumerated as follows: S. D., I, 583 and note 123; S. D., II, 600, 674, 675, 676.
5. Các giác quan có thể được liệt kê như sau: S. D., I, 583 và chú thích 123; S. D., II, 600, 674, 675, 676.
6. The elements are the progenitors of the senses....—S. D., II, 112, 113.
6. Các nguyên tố là những đấng sinh thành của các giác quan....—S. D., II, 112, 113.
a. Aether Hearing, Sound Atmic plane
a. Dĩ thái Thính giác, Âm thanh Cõi atma
b. Air Touch Sound, touch Buddhic plane
b. Khí Xúc giác Âm thanh, xúc chạm Cõi Bồ đề
c. Fire Sight Sound, touch, sight Mental plane
c. Lửa Thị giác Âm thanh, xúc chạm, thị giác Cõi trí
d. Water Taste Sound, touch, sight, taste Astral plane
d. Nước Vị giác Âm thanh, xúc chạm, thị giác, vị giác Cõi cảm dục
e. Earth Smell Sound, touch, sight, taste, smell Physical plane
e. Đất Khứu giác Âm thanh, xúc chạm, thị giác, vị giác, khứu giác Cõi hồng trần
66. There are different ways to consider whether senses are relatively higher or lower. In certain tabulations, hearing and touch are the two lowest senses. In this tabulation, they are the highest. Smell and taste also are considered high or low depending on the point of view. Both perspectives are correct in their own way.
66. Có những cách khác nhau để xem các giác quan là tương đối cao hay thấp. Trong một số bảng liệt kê, thính giác và xúc giác là hai giác quan thấp nhất. Trong bảng này, chúng lại là cao nhất. Khứu giác và vị giác cũng được xem là cao hay thấp tùy theo quan điểm. Cả hai cách nhìn đều đúng theo cách riêng của chúng.
67. If we rise to the Akasha (one dimension above the Aether and only implied in the chart above), the usual senses will drop away. If we proceeded with this tabulation, Akasha would correspond to mind or the common sense, and the Sea of Fire of the first plane to the seventh sense, the esoteric sense.
67. Nếu chúng ta vươn lên Akasha (cao hơn Dĩ thái một chiều và chỉ được hàm ý trong biểu đồ trên), các giác quan thông thường sẽ rơi rụng. Nếu tiếp tục bảng liệt kê này, Akasha sẽ tương ứng với trí tuệ hay giác quan chung, còn Biển Lửa của cõi thứ nhất sẽ tương ứng với giác quan thứ bảy, giác quan huyền bí.
68. It is important to differentiate how the sense of hearing on the physical plane is distinct from that same sense on the aetheric plane (the atmic plane). Similarly, we must seek the distinctions between touch on the buddhic and astral planes. Smell pertains to both the physical and atmic planes, and taste to the astral and buddhic planes.
68. Điều quan trọng là phải phân biệt cách mà thính giác trên cõi hồng trần khác với chính giác quan ấy trên cõi dĩ thái (cõi atma). Tương tự, chúng ta phải tìm ra những khác biệt giữa xúc giác trên cõi Bồ đề và cõi cảm dục. Khứu giác thuộc về cả cõi hồng trần lẫn cõi atma, còn vị giác thuộc về cả cõi cảm dục lẫn cõi Bồ đề.
69. These thoughts invite the perspective that hearing and smell must be related. Similarly, taste and touch would be related. In relation to taste and touch we have a more direct contact of that which is sensed and that which performs the act of sensing. With respect to hearing and smell, there is necessarily contact, but that contact is less direct or, shall we say, ‘adhesive’.
69. Những ý tưởng này gợi ra quan điểm rằng thính giác và khứu giác hẳn phải có liên hệ với nhau. Tương tự, vị giác và xúc giác cũng sẽ có liên hệ. Liên hệ với vị giác và xúc giác, chúng ta có một sự tiếp xúc trực tiếp hơn giữa cái được cảm nhận và cái thực hiện hành vi cảm nhận. Đối với thính giác và khứu giác, sự tiếp xúc tất yếu vẫn có, nhưng sự tiếp xúc ấy kém trực tiếp hơn hoặc, chúng ta hãy nói rằng, có tính ‘bám dính’.
70. We are given the important idea that “the elements are the progenitors of the senses”. This means that the existence of the elements makes the various senses possible.
70. Chúng ta được trao cho ý tưởng quan trọng rằng “các nguyên tố là những đấng sinh thành của các giác quan”. Điều này có nghĩa là sự hiện hữu của các nguyên tố làm cho các giác quan khác nhau trở nên khả hữu.
71. Each sense functions in a manner dependent upon the type of element which is its medium. Elements, in a way, are ‘modes of motion’, and according to these modes so are the senses possible in relation to any element constrained.
71. Mỗi giác quan hoạt động theo một cách tùy thuộc vào loại nguyên tố là môi trường của nó. Các nguyên tố, theo một cách nào đó, là những ‘phương thức chuyển động’, và tùy theo các phương thức ấy mà các giác quan trở nên khả hữu trong liên hệ với bất kỳ nguyên tố bị giới hạn nào.
72. A particular elemental ‘mode of motion’ would be associated with each type of sense.
72. Một ‘phương thức chuyển động’ hành khí đặc thù sẽ gắn liền với mỗi loại giác quan.
73. VSK remarks that “This table suggests that the ‘losing’ of a sense equates to a greater gain in knowledge.”
73. VSK nhận xét rằng “Bảng này gợi ý rằng việc ‘mất đi’ một giác quan tương đương với một sự gia tăng lớn hơn về tri thức.”
74. The tabulation presented by HPB may be misleading in one respect; all senses are present on all dimensional levels regardless of the particular element to which a dimensional level is most correlated.
74. Bảng liệt kê do HPB trình bày có thể gây hiểu lầm ở một phương diện; mọi giác quan đều hiện diện trên mọi cấp độ chiều kích bất kể cấp độ chiều kích ấy tương ứng nhiều nhất với nguyên tố đặc thù nào.
75. But the manner in which a particular sense may function on any particular dimensional level will definitely be conditioned by the nature of that dimensional level, and that nature is dependent upon the nature of the element most associated with that level.
75. Nhưng cách thức mà một giác quan đặc thù có thể hoạt động trên bất kỳ cấp độ chiều kích nào chắc chắn sẽ được tác động bởi bản chất của cấp độ chiều kích ấy, và bản chất đó lại tùy thuộc vào bản chất của nguyên tố gắn bó nhiều nhất với cấp độ ấy.
76. In other words, touch on the physical plane is ‘earth-conditioned’ and subject to the limitations of the element earth. Similarly, touch on the astral plane is ‘water-conditioned’, and on the mental plane ‘fire-conditioned’, etc.
76. Nói cách khác, xúc giác trên cõi hồng trần là ‘được nguyên tố đất tác động’ và chịu những giới hạn của nguyên tố đất. Tương tự, xúc giác trên cõi cảm dục là ‘được nguyên tố nước tác động’, và trên cõi trí là ‘được nguyên tố lửa tác động’, v.v.
77. The science of psychology is only now arriving at an understanding of the mechanism of the senses of the physical plane, so we can imagine how much work remains to be done in order to understand how the senses work on planes that are not yet acknowledged as existent.
77. Khoa học tâm lý học chỉ mới hiện nay đạt tới sự thấu hiểu về bộ máy của các giác quan trên cõi hồng trần, vì vậy chúng ta có thể hình dung còn bao nhiêu công việc phải làm để hiểu cách các giác quan hoạt động trên những cõi chưa được thừa nhận là hiện hữu.
7. Every sense pervades every other sense....—S. D., III, 569.
7. Mọi giác quan đều thấm khắp mọi giác quan khác....—S. D., III, 569.
There is no universal order. All are on all planes.—S. D., III, 550.
Không có trật tự phổ quát nào. Tất cả đều ở trên mọi cõi.—S. D., III, 550.
78. We are dealing with a hierarchy, in one way, and with an equality in another.
78. Theo một cách, chúng ta đang xử lý một huyền giai, và theo một cách khác, một sự bình đẳng.
79. Hierarchically, every plane has its dominant sense, as given above, or as may be given differently in different tabulations. It is not that we must choose whether the sense of hearing is primarily atmic in nature or primarily related to the physical plane. Rather, we must understand why this sense should be specifically related to both of these planes.
79. Theo trật tự huyền giai, mỗi cõi có giác quan trội của nó, như đã nêu trên, hoặc như có thể được nêu khác đi trong những bảng liệt kê khác nhau. Không phải là chúng ta phải chọn xem thính giác chủ yếu có bản chất atma hay chủ yếu liên hệ với cõi hồng trần. Đúng hơn, chúng ta phải hiểu vì sao giác quan này lại phải được liên hệ đặc biệt với cả hai cõi ấy.
80. From the non-hierarchical perspective, all senses are part and parcel of consciousness. Wherever consciousness is to be found (and it is to be found everywhere) all senses or at least the rudimentary potential for them will be found.
80. Từ quan điểm phi huyền giai, mọi giác quan đều là phần không thể tách rời của tâm thức. Bất cứ nơi nào có thể tìm thấy tâm thức (và nó được tìm thấy ở khắp nơi), mọi giác quan hoặc ít nhất tiềm năng sơ khai của chúng đều sẽ được tìm thấy.
81. The development of all psychic powers will depend upon an understanding of how the various senses relate to each of the planes on which development is possible.
81. Sự phát triển của mọi năng lực thông linh sẽ tùy thuộc vào sự thấu hiểu về cách các giác quan khác nhau liên hệ với từng cõi mà trên đó sự phát triển là khả hữu.
8. The senses correspond with every other septenate in nature. See S. D., III, 448. (Compare S. D., III, 497. Practical reading....—S. D., I, 288
8. Các giác quan tương ứng với mọi bộ bảy khác trong bản chất. Xem S. D., III, 448. (So sánh S. D., III, 497. Cách đọc thực hành....—S. D., I, 288
82. As stated, to round out the septenate of the sense, the common sense and the esoteric sense must be added.
82. Như đã nói, để hoàn chỉnh bộ bảy của giác quan, phải thêm giác quan chung và giác quan huyền bí vào.
83. The common sense correlates and the esoteric sense eventually synthesizes the correlated senses.
83. Giác quan chung thì tương liên, còn giác quan huyền bí rốt cuộc tổng hợp các giác quan đã được tương liên.
[Page 186]
[Page 186]
What are the senses? How many are there? And what is their connection with the indwelling Man, the Thinker, the Divine Manasaputra? These are questions of vital moment, and in their due comprehension comes the ability wisely to follow the path of knowledge.
Các giác quan là gì? Có bao nhiêu giác quan? Và mối liên hệ của chúng với Con Người nội tại, Đấng Tư Tưởng, Manasaputra thiêng liêng là gì? Đây là những câu hỏi có tầm quan trọng thiết yếu, và trong sự thấu hiểu đúng đắn về chúng xuất hiện khả năng khôn ngoan bước theo con đường tri thức.
84. DK begins by setting forth fundamental questions.
84. Chân sư DK bắt đầu bằng cách nêu ra những câu hỏi nền tảng.
85. In discovering the relationship between the “indwelling Man (the “Thinker”) and the senses, we are dealing with the relationship between the Knower and that which serves as the means of his knowledge of all that can be considered objective (even subtly objective—for there are objectivities on the subtle planes).
85. Khi khám phá mối liên hệ giữa “Con Người nội tại” (“Đấng Tư Tưởng”) và các giác quan, chúng ta đang đề cập đến mối liên hệ giữa thức giả và cái phục vụ như phương tiện để tri thức của y về mọi điều có thể được xem là khách quan (ngay cả khách quan vi tế—vì có những tính khách quan trên các cõi vi tế).
86. VSK asks: “Could we call the path of knowledge the path of sensation?”
86. VSK hỏi: “Liệu chúng ta có thể gọi con đường tri thức là con đường của cảm giác chăng?”
87. What is the “path of knowledge”? It seems wise to differentiate it from the “Path of Wisdom” which relates to the apprehension of the archetypal structure of Creation and of the Self. From this perspective, the Path of Knowledge would pertain to the apprehension of all that pertains to the not-Self.
87. “Con đường tri thức” là gì? Có vẻ khôn ngoan khi phân biệt nó với “Con Đường Minh Triết”, vốn liên hệ đến sự nắm bắt cấu trúc nguyên mẫu của Sáng Tạo và của Bản Ngã. Từ quan điểm này, con đường tri thức sẽ liên quan đến sự nắm bắt mọi điều thuộc về phi-ngã.
The senses might be defined as those organs whereby man becomes aware of his surroundings.
Các giác quan có thể được định nghĩa là những cơ quan nhờ đó con người trở nên nhận biết được môi trường xung quanh mình.
88. This is a simple and excellent definition. In order to understand it we may say that the Self is surrounded by ‘circum-stance’, or by all which is the non-Self. Ultimately and philosophically, there is no not-Self, but for purposes of clarifying the normal consciousness with which man is endowed we must consider both a Self and not-Self as real.
88. Đây là một định nghĩa đơn giản và tuyệt hảo. Để hiểu nó, chúng ta có thể nói rằng Bản Ngã được bao quanh bởi ‘hoàn cảnh’, hay bởi tất cả những gì là phi-ngã. Rốt ráo và về mặt triết học, không có phi-ngã, nhưng nhằm mục đích làm sáng tỏ tâm thức thông thường mà con người được phú cho, chúng ta phải xem cả Bản Ngã lẫn phi-ngã đều là có thực.
We should perhaps express them not so much as organs (for after all, an organ is a material form, existent for a purpose) but as media whereby the Thinker comes in contact with his environment.
Có lẽ chúng ta không nên diễn tả chúng quá nhiều như những cơ quan (vì rốt cuộc, một cơ quan là một hình tướng vật chất, hiện hữu vì một mục đích) mà đúng hơn như những môi giới nhờ đó Đấng Tư Tưởng tiếp xúc với môi trường của mình.
89. DK thinks it is important that we do not physicalize our conception of the term “organ”. We are to consider the senses as means or “media” rather than as material organs. Such a medium is a subtle capacity to achieve contact and subsequent registration of that which is contacted.
89. Chân sư DK cho rằng điều quan trọng là chúng ta không hồng trần hóa quan niệm của mình về thuật ngữ “cơ quan”. Chúng ta phải xem các giác quan như những phương tiện hay “môi giới” hơn là như những cơ quan vật chất. Một môi giới như thế là một năng lực vi tế để đạt được sự tiếp xúc và sau đó là sự ghi nhận điều được tiếp xúc.
They are the means whereby he makes investigation on the plane of the gross physical, for instance; the means whereby he buys his experience, whereby he discovers that which he requires to know, whereby he becomes aware, and whereby he expands his consciousness.
Chúng là những phương tiện nhờ đó y khảo sát trên cõi hồng trần thô nặng, chẳng hạn; những phương tiện nhờ đó y mua lấy kinh nghiệm, nhờ đó y khám phá điều mình cần biết, nhờ đó y trở nên nhận biết, và nhờ đó y mở rộng tâm thức của mình.
90. DK offers a number of ways of thinking about the meaning of term “senses”
90. Chân sư DK đưa ra một số cách suy nghĩ về ý nghĩa của thuật ngữ “giác quan”.
91. Tabulating them, we find the senses as:
91. Khi lập bảng, chúng ta thấy các giác quan là:
a. The means of making investigation of the gross physical plane (but on all other planes as well)
a. Phương tiện để khảo sát cõi hồng trần thô nặng (nhưng cũng trên mọi cõi khác)
b. The means of buying experience
b. Phương tiện để mua lấy kinh nghiệm
c. The means of discovering that which it is required to know
c. Phương tiện để khám phá điều cần phải biết
d. The means of becoming aware
d. Phương tiện để trở nên nhận biết
e. The means of expanding the consciousness
e. Phương tiện để mở rộng tâm thức
92. From all this we can gather that the senses are relational—essentially, they are the relation between the Self and the not-self. They are media of conscious (and, at first, unconscious) apprehension.
92. Từ tất cả điều này, chúng ta có thể rút ra rằng các giác quan có tính quan hệ—về bản chất, chúng là mối liên hệ giữa Bản Ngã và phi-ngã. Chúng là những môi giới của sự nắm bắt hữu thức (và lúc đầu là vôthức).
We are dealing here with the five senses as used by the human being.
Ở đây chúng ta đang đề cập đến năm giác quan như được con người sử dụng.
93. And we could be dealing with both higher and lower correspondences, for higher beings as well as lower have their own correspondences to the five senses of man.
93. Và chúng ta có thể đang đề cập đến cả những tương ứng cao lẫn thấp, vì các hữu thể cao hơn cũng như thấp hơn đều có những tương ứng riêng của họ với năm giác quan của con người.
In the animal these five senses exist but, as the thinking correlating faculty is lacking, as the "relation between" the self and the not-self is but little developed, we will not concern ourselves with them at this juncture.
Ở loài vật, năm giác quan này có tồn tại nhưng, vì năng lực tư duy tương liên còn thiếu, vì “mối liên hệ giữa” bản ngã và phi-ngã chỉ phát triển rất ít, nên vào lúc này chúng ta sẽ không bàn đến chúng.
94. What we are being told is that the animal lacks the sixth sense (understood in this special way as the mind). The normal way of considering the “sixth sense” as psychic capacity is, perhaps, not a correct use of this term, for the psychic faculties are largely extensions of the normal five senses.
94. Điều chúng ta được cho biết là loài vật thiếu giác quan thứ sáu (được hiểu theo cách đặc biệt này là trí tuệ). Cách thông thường xem “giác quan thứ sáu” như năng lực thông linh có lẽ không phải là cách dùng đúng của thuật ngữ này, vì các năng lực thông linh phần lớn là những sự mở rộng của năm giác quan thông thường.
95. We can see that the thinking faculty is largely an organizing, correlating faculty, which gathers various sensations into what might be termed ‘object perception’. Senses are correlated and ‘attached’ or ‘bound’ (within the field of consciousness) to an object. An object (of consciousness) is simply a registration of correlated sensory impression.
95. Chúng ta có thể thấy rằng năng lực tư duy phần lớn là một năng lực tổ chức, tương liên, gom các cảm giác khác nhau vào trong cái có thể được gọi là ‘tri giác về đối tượng’. Các giác quan được tương liên và ‘gắn’ hay ‘buộc’ (trong trường tâm thức) vào một đối tượng. Một đối tượng (của tâm thức) đơn giản là một sự ghi nhận của ấn tượng giác quan đã được tương liên.
96. The naming of objects is an act of fixation or stabilization in consciousness.
96. Việc đặt tên cho các đối tượng là một hành vi cố định hóa hay ổn định hóa trong tâm thức.
The senses in the animal kingdom are group faculty and demonstrate as racial instinct.
Các giác quan trong giới động vật là năng lực nhóm và biểu lộ như bản năng của loài.
97. For the term “racial” we might substitute “species-”.
97. Đối với thuật ngữ “của chủng tộc”, chúng ta có thể thay bằng “của loài”.
98. For the animal, the various senses with which it may be endowed are not attached to an ego (or sense of ‘I-ness’).
98. Đối với loài vật, các giác quan khác nhau mà nó có thể được phú cho không gắn với một chân ngã (hay cảm thức về ‘tính tôi’).
The senses in man are his individual asset, and demonstrate:
Các giác quan nơi con người là tài sản cá nhân của y, và biểu lộ:
a. As the separate realisation of self-consciousness.
a. Như sự chứng nghiệm riêng biệt về ngã thức.
b. As ability to assert that individualism.
b. Như khả năng khẳng định tính cá nhân ấy.
c. As a valuable means to self-conscious evolution.
c. Như một phương tiện quý giá cho sự tiến hoá ngã thức.
d. As a source of knowledge.
d. Như một nguồn tri thức.
e. As the transmuting faculty towards the close of life in the three worlds.
e. Như năng lực chuyển hoá vào lúc gần kết thúc sự sống trong ba cõi thấp.
99. We are given a tabulation of the value to man of his senses. It would be important to understand how the five (or six) senses contribute to the each of the five tabulated items.
99. Chúng ta được trao cho một bảng liệt kê về giá trị của các giác quan đối với con người. Điều quan trọng là phải hiểu năm (hay sáu) giác quan đóng góp như thế nào vào từng một trong năm mục đã được liệt kê.
100. We have been considering the senses largely in terms of point d.—“a source of knowledge”.
100. Chúng ta đã xem xét các giác quan phần lớn theo phương diện điểm d.—“một nguồn tri thức”.
101. We can also understand how the correct use of the senses helps a self-conscious individual master his surroundings and thus evolve through a correct relation to and correct utilization of those surroundings—point c.
101. Chúng ta cũng có thể hiểu cách việc sử dụng đúng các giác quan giúp một cá nhân có ngã thức làm chủ môi trường xung quanh mình và nhờ đó tiến hoá qua mối liên hệ đúng đắn với và sự sử dụng đúng đắn môi trường ấy—điểm c.
102. The senses (normally directed ‘outward’) may at length be seen in contrast with a dimension which can only be called ‘inward’, and can thus be used to achieve and enhance “the separate realization of self-consciousness”. There comes a time when the consciousness simply knows that that which is perceived outwardly is in contrast to the ‘Self-center’ which is perceived inwardly (and not through the utilization of the senses)—point a.
102. Các giác quan (thông thường hướng ‘ra ngoài’) cuối cùng có thể được thấy trong sự tương phản với một chiều kích chỉ có thể gọi là ‘hướng nội’, và nhờ đó có thể được dùng để đạt tới và tăng cường “sự chứng nghiệm riêng biệt về ngã thức”. Sẽ đến lúc tâm thức đơn giản biết rằng cái được tri giác ở bên ngoài tương phản với ‘trung tâm Bản Ngã’ được tri giác ở bên trong (và không phải qua việc sử dụng các giác quan)—điểm a.
103. Via the sense the pathways of power are apprehended and the individual learns to direct his faculties intelligently and to greatest effect. There can be no assertion of individualism unless a ‘direction for assertion’ is realized. Such a direction is revealed by the senses—point a.
103. Qua giác quan, các con đường của quyền năng được nắm bắt và cá nhân học cách điều khiển các năng lực của mình một cách thông minh và đạt hiệu quả lớn nhất. Không thể có sự khẳng định tính cá nhân nếu không nhận ra một ‘hướng để khẳng định’. Một hướng như thế được các giác quan mặc khải—điểm a.
104. Finally, the senses are said to be a “transmuting faculty towards the close of life in the three worlds”. We might call this the power to ‘see through’. The senses become more refined and are transformed into their higher correspondences. Through the exercise of the refined senses at this relatively high stage of evolution, matter itself is elevated (which is the basic meaning of transmutation). If I exercise my increasingly acute senses properly, I am simultaneously refining/transmuting my vehicles. I choose to see higher sights, to touch and hear higher things, and to taste and smell similarly. Higher types of matter are built into my vehicles. Crudeness drops away from me and my vehicles are vibratorily enhanced. The crude use of the lower senses leads to crude contacts and retardation. The opposite is true of the exercise of refined senses. A virtuous circle is created, an upward spiral.
104. Sau cùng, các giác quan được nói là một “năng lực chuyển hoá vào lúc gần kết thúc sự sống trong ba cõi thấp”. Chúng ta có thể gọi đây là năng lực ‘nhìn xuyên qua’. Các giác quan trở nên tinh luyện hơn và được chuyển đổi thành những tương ứng cao hơn của chúng. Qua việc vận dụng các giác quan đã được tinh luyện ở giai đoạn tiến hoá tương đối cao này, chính vật chất được nâng lên (đó là ý nghĩa căn bản của sự chuyển hoá). Nếu tôi vận dụng đúng đắn các giác quan ngày càng sắc bén của mình, tôi đồng thời đang tinh luyện/chuyển hoá các vận cụ của mình. Tôi chọn nhìn những cảnh tượng cao hơn, chạm vào và nghe những điều cao hơn, và cũng nếm và ngửi như vậy. Những loại vật chất cao hơn được xây dựng vào các vận cụ của tôi. Sự thô trược rời bỏ tôi và các vận cụ của tôi được tăng cường về mặt rung động. Việc sử dụng thô trược các giác quan thấp dẫn đến những tiếp xúc thô trược và sự trì trệ. Điều ngược lại đúng với việc vận dụng các giác quan tinh luyện. Một vòng tròn thiện được tạo ra, một xoắn ốc đi lên.
As we know, the senses are five in number and in order of development are as follows:
Như chúng ta biết, các giác quan có số lượng là năm và theo thứ tự phát triển như sau:
a. Hearing.
a. Thính giác.
b. Touch.
b. Xúc giác.
c. Sight.
c. Thị giác.
d. Taste.
d. Vị giác.
e. Smell.
e. Khứu giác.
105. We must consider whether the developmental sequence is to be taken from above to below or below to above.
105. Chúng ta phải xét xem trình tự phát triển này nên được hiểu từ trên xuống dưới hay từ dưới lên trên.
106. From an involutionary perspective, the sense of smell, being correlated to earth, is the last to develop, and hearing the first.
106. Từ quan điểm giáng hạ tiến hoá, khứu giác, vì tương ứng với đất, là giác quan phát triển sau cùng, còn thính giác là đầu tiên.
107. VSK asks: “Are these the order in which the senses are abstracted during the death process; hearing, then, may be the final sensation registered?
107. VSK hỏi: “Đây có phải là thứ tự mà các giác quan được rút ra trong tiến trình chết hay không; như vậy, thính giác có thể là cảm giác cuối cùng được ghi nhận chăng?
108. If we begin our developmental series from the physical plane, disregarding the involutionary phase, we would find, as well, that hearing was the first to develop—as is the case with the human infant.
108. Nếu chúng ta bắt đầu chuỗi phát triển từ cõi hồng trần, bỏ qua giai đoạn giáng hạ tiến hoá, thì chúng ta cũng sẽ thấy rằng thính giác là giác quan phát triển đầu tiên—như trường hợp của trẻ sơ sinh.
[Page 187]
[Page 187]
Each of these five senses has a definite connection with one or other plane, and has also a correspondence on all planes.
Mỗi một trong năm giác quan này có một liên hệ xác định với cõi này hay cõi khác, và cũng có một tương ứng trên mọi cõi.
109. This is a key statement involving both hierarchy and ubiquity.
109. Đây là một phát biểu then chốt bao hàm cả tính huyền giai lẫn tính phổ hiện.
Let us first take up each of these senses, point out some interesting facts in connection with them, and suggest their subplane correspondence.
Trước hết, chúng ta hãy xét từng giác quan này, nêu ra một vài sự kiện thú vị liên quan đến chúng, và gợi ý sự tương ứng cõi phụ của chúng.
PLANE SENSE
CÕI GIÁC QUAN
1. Physical Hearing.
1. Hồng trần Thính giác.
2. Astral Touch or feeling.
2. Cảm dục Xúc giác hay cảm nhận.
3. Mental Sight.
3. Trí tuệ Thị giác.
4. Buddhic Taste.
4. Bồ đề Vị giác.
5. Atmic Smell.
5. Atma Khứu giác.
110. This is the principal correlation which is developed in TCF. In terms of human evolutionary development it makes perfect sense, whether that span of development relates to a particular incarnation or to a span of many incarnations.
110. Đây là sự tương ứng chính được triển khai trong Luận về Lửa Vũ Trụ. Xét theo sự phát triển thăng thượng tiến hoá của con người, điều này hoàn toàn hợp lý, dù khoảng phát triển ấy liên hệ đến một lần lâm phàm cụ thể hay đến một chuỗi nhiều lần lâm phàm.
111. VSK remarks: “Here is the conflict; these are exactly opposite as given in the SD footnote. Could it be that the SD references pertain to the third aspect and TCF references to the second? Thus, even though we would be discussing the fires of matter here, the application of the direction would be reversed? We are presented with a complete inversion.”
111. VSK nhận xét: “Đây là xung đột; chúng hoàn toàn đối nghịch với điều được nêu trong chú thích của SD. Có thể nào các dẫn chiếu SD thuộc về phương diện thứ ba còn các dẫn chiếu TCF thuộc về phương diện thứ hai? Như vậy, dù ở đây chúng ta đang bàn về các lửa của vật chất, việc áp dụng chiều hướng sẽ bị đảo ngược? Chúng ta được trình bày trước một sự đảo ngược hoàn toàn.”
In the two lower planes in the three worlds—the astral and the physical—the five subplanes of human endeavour are the five highest. The two lowest subplanes, the sixth and seventh, are what we might express as "below the threshold," and concern forms of life beneath the human altogether.
Trong hai cõi thấp ở ba cõi giới—cõi cảm dục và cõi hồng trần—năm cõi phụ của nỗ lực nhân loại là năm cõi phụ cao nhất. Hai cõi phụ thấp nhất, tức cõi phụ thứ sáu và thứ bảy, là điều chúng ta có thể diễn tả là “dưới ngưỡng”, và liên quan đến những hình tướng sự sống hoàn toàn ở dưới mức con người.
112. DK points out a very interesting subplane focus for the human race. The lower two subplanes of both the physical and astral planes are considered “below the threshold” and are not to be the focus of attention for man.
112. Chân sư DK chỉ ra một tiêu điểm cõi phụ rất thú vị đối với nhân loại. Hai cõi phụ thấp hơn của cả cõi hồng trần lẫn cõi cảm dục được xem là “dưới ngưỡng” và không phải là trọng tâm chú ý của con người.
113. The forms of life related to these two lower subplanes might be natural forms, such as the mineral or vegetable. They might also be degenerate forms—demons and the like.
113. Những hình tướng sự sống liên hệ với hai cõi phụ thấp này có thể là những hình tướng tự nhiên, như giới kim thạch hoặc giới thực vật. Chúng cũng có thể là những hình tướng thoái hóa—ma quỷ và những loại tương tự.
114. If we spread the seven kingdoms over the seven subplanes, beginning with the lowest kingdom on the lowest subplane, we can see that the rightful focus of the human being begins on that subplane correlated to the animal kingdom. From another perspective, man includes within his developmental range the gaseous subplane but not the concrete and liquid subplanes.
114. Nếu chúng ta trải bảy giới trên bảy cõi phụ, bắt đầu với giới thấp nhất trên cõi phụ thấp nhất, chúng ta có thể thấy rằng tiêu điểm chính đáng của con người bắt đầu trên cõi phụ tương ứng với giới động vật. Từ một góc nhìn khác, con người bao gồm trong phạm vi phát triển của mình cõi phụ khí thể nhưng không bao gồm các cõi phụ đặc và lỏng.
We have a corroborating analogy in the fact that the two earliest root-races in this round are not definitely human, and that it is the third root-race which is really human for the first time.
Chúng ta có một phép loại suy xác nhận trong sự kiện rằng hai giống dân gốc sớm nhất trong cuộc tuần hoàn này chưa hẳn là con người, và chính giống dân gốc thứ ba mới thật sự là con người lần đầu tiên.
115. The third rootrace is the race of animal man. The first part of it was lived in the animal stage and the second part in the human (though the human being of that period was a very animal type of human).
115. Giống dân gốc thứ ba là nhân loại người thú. Phần đầu của giống dân này được sống trong giai đoạn động vật và phần sau trong giai đoạn con người (dù con người của thời kỳ ấy là một kiểu người rất đậm tính thú vật).
116. The first two rootraces were not individualized and, hence, could not be called “definitely human”, however much they may have tended towards the human condition.
116. Hai giống dân gốc đầu tiên chưa được biệt ngã hóa và vì thế không thể được gọi là “hẳn nhiên là con người”, cho dù chúng có thể đã có xu hướng tiến về tình trạng con người đến đâu đi nữa.
117. If we examine the tabulations of the senses to be found in the next number of pages, we will learn that as regards the first and second systemic planes, the two lowest subplanes are not the province of the human being; as regards the fourth and fifth systemic planes (the buddhic and the atmic), the first and second subplanes, numbering from above, are also not the province of human beings, but of those who transcend the state of Master of the Wisdom and, thus, are no longer strictly human.
117. Nếu chúng ta khảo sát các bảng liệt kê về các giác quan sẽ thấy trong những trang kế tiếp, chúng ta sẽ học được rằng xét về cõi thứ nhất và cõi thứ hai của hệ, hai cõi phụ thấp nhất không thuộc phạm vi của con người; còn xét về cõi thứ tư và cõi thứ năm của hệ (cõi Bồ đề và cõi atma), hai cõi phụ thứ nhất và thứ hai, đếm từ trên xuống, cũng không thuộc phạm vi của con người, mà thuộc về những Đấng vượt lên trên trạng thái Chân sư Minh triết và do đó không còn nghiêm ngặt là con người nữa.
Counting, therefore, from the bottom upwards it is only the third subplane on the physical and the astral planes which mark the commencement of human effort, leaving five subplanes to be subdued.
Vì vậy, đếm từ dưới lên, chỉ có cõi phụ thứ ba trên cõi hồng trần và cõi cảm dục mới đánh dấu sự khởi đầu của nỗ lực nhân loại, để lại năm cõi phụ cần được chế ngự.
118. We may compare the Creative Hierarchies with the subplanes, and as long as we do not push the analogy too far, we might say that the Moon and Mars rule the two lowest subplanes and Venus the third, numbering from below.
118. Chúng ta có thể so sánh các Huyền Giai Sáng Tạo với các cõi phụ, và chừng nào chúng ta không đẩy phép loại suy đi quá xa, chúng ta có thể nói rằng Mặt Trăng và Sao Hỏa cai quản hai cõi phụ thấp nhất và Sao Kim cai quản cõi phụ thứ ba, đếm từ dưới lên.
119. It is Venus that makes animal man human, and it is on the Venus level (seen in this way) that man may begin his effort to subdue the subplanes.
119. Chính Sao Kim làm cho người thú trở thành con người, và chính trên cấp độ Sao Kim (được nhìn theo cách này) mà con người có thể bắt đầu nỗ lực chế ngự các cõi phụ.
120. The Baskets of Nourishment (the seventh manifest Creative Hierarchy) and the Lunar Lords (the sixth such Hierarchy) force themselves into our consciousness as inescapable facts, but the true focus of man begins on the mental level where the human personality (the Crocodiles) is to be found.
120. Các Giỏ Nuôi Dưỡng (Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện thứ bảy) và các nguyệt tinh quân (Huyền Giai thứ sáu như thế) tự áp đặt vào tâm thức chúng ta như những sự kiện không thể tránh khỏi, nhưng tiêu điểm đích thực của con người bắt đầu trên cấp độ trí tuệ, nơi phàm ngã con người (Cá Sấu) được tìm thấy.
121. Concerning this fifth or tenth Creative Hierarchy there is much mystery. They are in a way the Solar Angels, but in a way they also are not.
121. Liên quan đến Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm hay thứ mười này có rất nhiều điều huyền nhiệm. Theo một cách nào đó, họ là các Thái dương Thiên Thần, nhưng theo một cách nào đó, họ cũng không phải vậy.
122. It is important for man to understand where he must work and where he must not intrude or venture.
122. Điều quan trọng đối với con người là phải thấu hiểu nơi nào y phải làm việc và nơi nào y không được xâm nhập hay mạo hiểm bước vào.
On the mental plane the five lower subplanes have to be subjugated during purely human evolution.
Trên cõi trí, năm cõi phụ thấp hơn phải được chế ngự trong tiến hóa thuần túy nhân loại.
123. We note that one of the causal subplanes (or higher mental subplanes) is included for subjugation “during purely human evolution”.
123. Chúng ta lưu ý rằng một trong các cõi phụ nguyên nhân (hay các cõi phụ thượng trí) được bao gồm để chế ngự “trong tiến hóa thuần túy nhân loại”.
124. The lowest of the causal subplanes pertains to mind and to the third aspect, and thus, to the human condition, because man is Manas—the Thinker.
124. Cõi phụ thấp nhất của các cõi phụ nguyên nhân thuộc về trí tuệ và phương diện thứ ba, và do đó thuộc về tình trạng con người, bởi vì con người là Manas—Đấng Tư Tưởng.
When the consciousness is centred on the fifth subplane (counting from below upwards) then the planes of abstraction—from the standpoint of man in the three worlds—supervene, the two subplanes of synthesis, demonstrating through the synthesis of the five senses.
Khi tâm thức được định tâm trên cõi phụ thứ năm (đếm từ dưới lên) thì các cõi trừu tượng—xét từ quan điểm của con người trong ba cõi giới—xuất hiện, tức hai cõi phụ tổng hợp, biểu lộ qua sự tổng hợp của năm giác quan.
125. From one perspective the lowest of the casual subplanes is a plane of abstraction (at least with respect to the planes of concrete mind). But from another perspective it is still relatively concrete compared with the true planes of abstraction (mentally considered), the sixth and seventh counting from below upwards.
125. Từ một góc nhìn, cõi phụ thấp nhất của các cõi phụ nguyên nhân là một cõi trừu tượng (ít nhất là so với các cõi của trí cụ thể). Nhưng từ một góc nhìn khác, nó vẫn còn tương đối cụ thể so với các cõi trừu tượng đích thực (xét về mặt trí tuệ), tức cõi phụ thứ sáu và thứ bảy đếm từ dưới lên.
126. In any septenate, factors six and seven are considered synthetic in relation to the original five.
126. Trong bất kỳ bộ bảy nào, các yếu tố sáu và bảy được xem là có tính tổng hợp trong tương quan với năm yếu tố ban đầu.
127. This section suggests that the two highest senses—the common sense or mind and the esoteric sense—demonstrate through the synthesis of the five senses, once the period of initiatory development is reached. This period is marked by a refocussing of the causal body on the second subplane of the mental plane (counting from above to below), and also involves increasing rapport with the energies of the first subplane.
127. Đoạn này gợi ý rằng hai giác quan cao nhất—thường thức hay trí tuệ và giác quan huyền bí—biểu lộ qua sự tổng hợp của năm giác quan, một khi giai đoạn phát triển điểm đạo đã đạt tới. Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự tái định tiêu điểm của thể nguyên nhân trên cõi phụ thứ hai của cõi trí (đếm từ trên xuống dưới), và cũng bao hàm sự tương thông ngày càng tăng với các năng lượng của cõi phụ thứ nhất.
128. We must hold in our minds that the highest two subplanes of the mental plane are planes of synthesis and abstraction.
128. Chúng ta phải ghi nhớ rằng hai cõi phụ cao nhất của cõi trí là các cõi của tổng hợp và trừu tượng.
In the evolution of the Heavenly Man we have exactly the same thing: the five planes of endeavour, the five lower planes of the solar system, and the two higher planes of abstraction, the spiritual or monadic and the divine, or logoic.
Trong sự tiến hóa của Đấng Thiên Nhân, chúng ta có đúng cùng một điều như vậy: năm cõi của nỗ lực, năm cõi thấp của hệ mặt trời, và hai cõi cao của trừu tượng, cõi tinh thần hay chân thần và cõi thiêng liêng, hay cõi logoi.
129. The analogy holds good.
129. Phép loại suy này hoàn toàn đúng.
130. We do note however that the monadic systemic subplane is called the “spiritual”, and the logoic systemic subplane is called the “divine”. We should remember these terms as they may serve to elucidate much along the way.
130. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng cõi phụ chân thần của hệ được gọi là “tinh thần”, và cõi phụ logoi của hệ được gọi là “thiêng liêng”. Chúng ta nên ghi nhớ các thuật ngữ này vì chúng có thể giúp làm sáng tỏ nhiều điều trên đường đi.
131. The five worlds of human evolution have atma as the crown. The atmic plane is the ring-pass-not of the Saturnian, Jehovic god, who rules over the fivefold path of knowledge or of sensation.
131. Năm thế giới của tiến hóa nhân loại lấy atma làm đỉnh cao. Cõi atma là vòng-giới-hạn của vị thần Saturn, Jehovic, Đấng cai quản con đường tri thức hay cảm giác ngũ phân.
[Page 188]
[Page 188]
MICROCOSMIC SENSORY EVOLUTION
TIẾN HÓA GIÁC QUAN VI MÔ
132. We turn to a consideration of the microcosm, which if understood with fair clarity will do much to clarify the nature of the macrocosm and man’s relation to it.
132. Chúng ta chuyển sang xem xét tiểu thiên địa, điều mà nếu được thấu hiểu với mức độ rõ ràng tương đối sẽ góp phần rất nhiều vào việc làm sáng tỏ bản chất của đại thiên địa và mối liên hệ của con người với nó.
133. The following tabulations are important and should simply be memorized so that one can work more ably with the implications.
133. Các bảng liệt kê sau đây rất quan trọng và đơn giản là nên được ghi nhớ để người ta có thể làm việc thành thạo hơn với các hàm ý của chúng.
Plane
Cõi
Physical.....
Hồng trần.....
1. Hearing 5th gaseous
1. Thính giác cõi phụ khí thể thứ 5
2. Touch, feeling 4th First etheric
2. Xúc giác, cảm giác cõi phụ dĩ thái thứ nhất thứ 4
3. Sight 3rd super-etheric
3. Thị giác cõi phụ siêu dĩ thái thứ 3
4. Taste 2nd sub-atomic
4. Vị giác cõi phụ hạ nguyên tử thứ 2
5. Smell 1st atomic
5. Khứu giác cõi phụ nguyên tử thứ 1
134. The sequence of first etheric, super-etheric, sub-atomic and atomic must, as well, be memorized.
134. Trình tự dĩ thái thứ nhất, siêu dĩ thái, hạ nguyên tử và nguyên tử cũng phải được ghi nhớ.
Astral.....
Cảm dục.....
1. Clairaudience 5th
1. Thông nhĩ cõi phụ thứ 5
2. Psychometry 4th
2. Thuật trắc tâm cõi phụ thứ 4
3. Clairvoyance 3rd
3. Thông nhãn cõi phụ thứ 3
4. Imagination 2nd
4. Sự tưởng tượng cõi phụ thứ 2
5. Emotional idealism 1st
5. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc cõi phụ thứ 1
Mental.....
Trí tuệ.....
1. Higher clairaudience 7th FORM
1. Thông nhĩ cao cõi phụ thứ 7 CÓ HÌNH TƯỚNG
2. Planetary psychometry 6th FORM
2. Thuật trắc tâm hành tinh cõi phụ thứ 6 CÓ HÌNH TƯỚNG
3. Higher clairvoyance 5th FORM
3. Thông nhãn cao cõi phụ thứ 5 CÓ HÌNH TƯỚNG
4. Discrimination 4th FORM
4. Phân biện cõi phụ thứ 4 CÓ HÌNH TƯỚNG
5. Spiritual discernment 3rd FORMLESS
5. Phân biện tinh thần cõi phụ thứ 3 VÔ TƯỚNG
Response to group vibration 2nd FORMLESS
Đáp ứng với rung động nhóm cõi phụ thứ 2 VÔ TƯỚNG
Spiritual telepathy 1st FORMLESS
Viễn cảm tinh thần cõi phụ thứ 1 VÔ TƯỚNG
Buddhic.....
Bồ đề.....
1. Comprehension 7th
1. Sự lĩnh hội cõi phụ thứ 7
2. Healing 6th
2. Trị liệu cõi phụ thứ 6
3. Divine vision 5th
3. linh thị thiêng liêng cõi phụ thứ 5
4. Intuition 4th
4. Trực giác cõi phụ thứ 4
5. Idealism 3rd
5. Chủ nghĩa lý tưởng cõi phụ thứ 3
Atmic.....
Atma.....
1. Beatitude 7th
1. Chí phúc cõi phụ thứ 7
2. Active service 6th
2. Phụng sự tích cực cõi phụ thứ 6
3. Realisation 5th
3. (sự)chứng nghiệm cõi phụ thứ 5
4. Perfection 4th
4. Toàn hảo cõi phụ thứ 4
5. All knowledge 3rd
5. Toàn tri cõi phụ thứ 3
135. Much is contained in this fivefold differentiation and will be developed in the subsequent section.
135. Rất nhiều điều được chứa đựng trong sự biến phân ngũ phân này và sẽ được khai triển trong phần tiếp theo.
136. The tabulation can be read in two ways. We can learn the progressive nature of the senses on each of the five planes, or we can compare the sense/psychic power in the corresponding position on each plane. For instance, all senses pertaining to the fifth subplane of very plane can be compared. As well the sense to be found in relation to the first, second, third, fourth and fifth positions on any plane must be compared to the sense to be found in the first, second, third, fourth and fifth positions on all the other four planes.
136. Bảng liệt kê này có thể được đọc theo hai cách. Chúng ta có thể học bản chất tiến triển của các giác quan trên mỗi một trong năm cõi, hoặc chúng ta có thể so sánh giác quan/năng lực thông linh ở vị trí tương ứng trên mỗi cõi. Chẳng hạn, tất cả các giác quan thuộc về cõi phụ thứ năm của mỗi cõi đều có thể được so sánh. Đồng thời, giác quan được tìm thấy ở vị trí thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm trên bất kỳ cõi nào cũng phải được so sánh với giác quan được tìm thấy ở các vị trí thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm trên cả bốn cõi kia.
137. Thus, there will be much cross-referencing and contrasting.
137. Do đó, sẽ có rất nhiều sự đối chiếu và tương phản.
138. In the last analysis, and after all the intellectual work is accomplished, one must turn towards experiential apprehension of the area of consciousness to which each of these senses offers admittance.
138. Sau cùng, và sau khi toàn bộ công việc trí tuệ đã hoàn tất, người ta phải hướng đến sự lĩnh hội bằng kinh nghiệm về lĩnh vực tâm thức mà mỗi giác quan này mở lối đi vào.
It can be noted that we have not summed up the two planes of abstraction on the atmic and the buddhic planes, the reason being that they mark a degree of realisation which is the property of initiates of higher degree [Page 189] than that of the adept, and which is beyond the concept of the evolving human unit, for whom this treatise is written.
Cần lưu ý rằng chúng ta chưa tổng kết hai cõi trừu tượng trên cõi atma và cõi Bồ đề, lý do là vì chúng đánh dấu một mức độ (sự)chứng nghiệm là sở hữu của các điểm đạo đồ có cấp bậc cao hơn [Page 189] cấp bậc của chân sư, và vượt ngoài khái niệm của đơn vị nhân loại đang tiến hóa, là đối tượng mà bộ luận này được viết cho.
139. DK is telling us that these two subplanes of abstraction on the buddhic and atmic planes concern the development of Chohans of the sixth and seventh initiations. Apparently, we cannot even fathom the nature of the degrees of realization to which such faculties admit the consciousness.
139. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng hai cõi phụ trừu tượng này trên cõi Bồ đề và cõi atma liên quan đến sự phát triển của các Chohan ở lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy. Rõ ràng, chúng ta thậm chí không thể dò thấu bản chất của các mức độ chứng ngộ mà những năng lực như thế cho phép tâm thức đạt tới.
140. There is an analogy between the subplanes of abstraction on the buddhic and atmic planes (the higher two in each case) and the systemic planes of abstraction (the monadic and logoic planes). May it be thought that the realizations on the subplanes of abstraction are as an entrée to the realizations to be found upon the systemic, synthetic planes of abstraction—the monadic and logoic?
140. Có một phép loại suy giữa các cõi phụ trừu tượng trên cõi Bồ đề và cõi atma (hai cõi phụ cao hơn trong mỗi trường hợp) và các cõi trừu tượng của hệ (cõi chân thần và cõi logoi). Có thể nào nghĩ rằng những chứng ngộ trên các cõi phụ trừu tượng là như một sự mở đầu cho những chứng ngộ được tìm thấy trên các cõi trừu tượng tổng hợp của hệ—cõi chân thần và cõi logoi?
We might here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis:
Tại đây, vì mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các tương ứng của chúng có thể được hình dung một cách dễ dàng, dùng bảng trên làm cơ sở:
141. DK is facilitating our understanding of correspondences. We have to come to terms with both:
141. Chân sư DK đang tạo điều kiện cho sự thấu hiểu của chúng ta về các tương ứng. Chúng ta phải làm quen với cả hai điều sau:
a. Development on any one plane
a. Sự phát triển trên bất kỳ một cõi nào
b. Groupings created by gathering the corresponding senses across all five planes
b. Các nhóm được tạo thành bằng cách tập hợp các giác quan tương ứng trên cả năm cõi
142. When it comes to describing those psychic powers or senses found on the higher mental, buddhic or atmic planes, careful definitions will be needed, and a careful examination concerning how each such power may relate to its lower correspondences (and vise versa).
142. Khi nói đến việc mô tả những năng lực thông linh hay giác quan được tìm thấy trên cõi thượng trí, cõi Bồ đề hay cõi atma, sẽ cần đến những định nghĩa cẩn trọng, và một sự khảo sát cẩn trọng về cách mỗi năng lực như thế có thể liên hệ với các tương ứng thấp hơn của nó (và ngược lại).
a. The First Sense......Hearing.
a. Giác quan thứ nhất......Thính giác.
1. Physical hearing.
1. Thính giác hồng trần.
2. Clairaudience.
2. Thông nhĩ.
3. Higher clairaudience.
3. Thông nhĩ cao.
4. Comprehension (of four sounds)
4. Sự lĩnh hội (bốn âm thanh)
5. Beatitude.
5. Chí phúc.
b. The Second Sense.....Touch or feeling.
b. Giác quan thứ hai.....Xúc giác hay cảm giác.
1. Physical touch.
1. Xúc giác hồng trần.
2. Psychometry.
2. Thuật trắc tâm.
3. Planetary psychometry.
3. Thuật trắc tâm hành tinh.
4. Healing.
4. Trị liệu.
5. Active service.
5. Phụng sự tích cực.
c. The Third Sense......Sight.
c. Giác quan thứ ba......Thị giác.
1. Physical sight.
1. Thị giác hồng trần.
2. Clairvoyance.
2. Thông nhãn.
3. Higher clairvoyance.
3. Thông nhãn cao.
4. Divine vision.
4. linh thị thiêng liêng.
5. Realisation.
5. (sự)chứng nghiệm.
d. The Fourth Sense.....Taste.
d. Giác quan thứ tư.....Vị giác.
1. Physical taste.
1. Vị giác hồng trần.
2. Imagination.
2. Sự tưởng tượng.
3. Discrimination.
3. Phân biện.
4. Intuition.
4. Trực giác.
5. Perfection.
5. Toàn hảo.
e. The Fifth Sense......Smell.
e. Giác quan thứ năm......Khứu giác.
1. Physical smell.
1. Khứu giác hồng trần.
2. Emotional idealism.
2. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc.
3. Spiritual discernment.
3. Phân biện tinh thần.
4. Idealism.
4. Chủ nghĩa lý tưởng.
5. All knowledge.
5. Toàn tri.
143. Many of these senses and powers seem easy to understand, but some of them are not so. Thus we will proceed carefully through the next Commentary in order to fathom possibilities which might otherwise escape us.
143. Nhiều giác quan và năng lực này dường như dễ hiểu, nhưng một số thì không như vậy. Do đó, chúng ta sẽ tiến hành cẩn trọng qua phần Bình Luận tiếp theo để dò thấu những khả năng mà nếu không có thể sẽ thoát khỏi chúng ta.
144. The charts which VSK has created will now be made available so that we can appreciate the whole scheme more clearly and synthetically.
144. Các biểu đồ mà VSK đã tạo ra giờ đây sẽ được cung cấp để chúng ta có thể đánh giá toàn bộ hệ thống một cách rõ ràng và tổng hợp hơn.
TCF 190-202 S2S8
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity. The extensive commentary may otherwise disrupt the sense of flow.
Xin đọc các phần Bình Luận này với sách TCF trong tầm tay để giữ được tính liên tục. Nếu không, phần bình luận quá rộng có thể làm gián đoạn mạch chảy của ý nghĩa.
1. We recall our context. We are focusing on the Senses and the Centres.
1. Chúng ta nhớ lại bối cảnh của mình. Chúng ta đang tập trung vào các Giác Quan và các Trung Tâm.
2. We will again tabulate them here as they appear on TCF, 189.
2. Tại đây, chúng ta sẽ lại lập bảng chúng như chúng xuất hiện trong TCF, 189.
We might here, for the sake of clarity, tabulate the five different aspects of the five senses on the five planes, so that their correspondences may be readily visualised, using the above table as the basis:
Tại đây, vì mục đích làm sáng tỏ, chúng ta có thể lập bảng năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi, để các tương ứng của chúng có thể được hình dung một cách dễ dàng, dùng bảng trên làm cơ sở:
3. We might note that DK asks for an act of visualization in relation to the five different aspects of the five senses on the five planes. It is unlikely that any of us will grasp with fulness the significance of the highest and, even, the higher correspondences to the five senses. Acts of visualization may be the best method for learning at least something of them.
3. Chúng ta có thể lưu ý rằng Chân sư DK yêu cầu một hành vi hình dung liên quan đến năm phương diện khác nhau của năm giác quan trên năm cõi. Khó có khả năng bất kỳ ai trong chúng ta sẽ nắm bắt đầy đủ thâm nghĩa của những tương ứng cao nhất và thậm chí cả những tương ứng cao hơn đối với năm giác quan. Những hành vi hình dung có thể là phương pháp tốt nhất để học được ít nhất điều gì đó về chúng.
4. It is also necessary to study the subplanes upon which a particular faculty appears. For instance, in relation to the sense of hearing, it is significant that this sense and its higher correspondences appear on the fifth subplane of the physical, the fifth subplane of the astral, the seventh subplane of the mental, the seventh subplane of the buddhic and the seventh of the atmic (all counting from above downwards).
4. Cũng cần phải nghiên cứu các cõi phụ mà trên đó một năng lực đặc thù xuất hiện. Chẳng hạn, liên quan đến giác quan thính giác, điều có ý nghĩa là giác quan này và các tương ứng cao hơn của nó xuất hiện trên cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần, cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục, cõi phụ thứ bảy của cõi trí, cõi phụ thứ bảy của cõi Bồ đề và cõi phụ thứ bảy của cõi atma (tất cả đều đếm từ trên xuống dưới).
5. Another way of cross-referencing is to compare all senses occurring on a particular subplane with each other.
5. Một cách đối chiếu khác là so sánh tất cả các giác quan xuất hiện trên một cõi phụ nhất định với nhau.
a. The First Sense......Hearing.
a. Giác quan thứ nhất......Thính giác.
1. Physical hearing.
1. Thính giác hồng trần.
2. Clairaudience.
2. Thông nhĩ.
3. Higher clairaudience.
3. Thông nhĩ cao.
4. Comprehension (of four sounds)
4. Sự lĩnh hội (bốn âm thanh)
5. Beatitude.
5. Chí phúc.
6. General observations:
6. Những nhận xét tổng quát:
a. All five of these capacities are related to the sense of hearing. It is especially important to grasp this when thinking of the final two faculties—Comprehension and Beatitude.
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với giác quan thính giác. Điều đặc biệt quan trọng là phải nắm được điều này khi suy nghĩ về hai năng lực cuối cùng—Sự lĩnh hội và Chí phúc.
b. The third aspect of divinity, correlated with the area of the throat and ears is always the first to develop in the evolutionary cycle.
b. Phương diện thứ ba của thiên tính, tương ứng với vùng cổ họng và tai, luôn luôn là phương diện đầu tiên phát triển trong chu kỳ tiến hóa.
c. The heart is involved with the higher aspects of hearing. The “heart” is formed by the “hear” plus the cross (the “t”).
c. Tim có liên quan đến các phương diện cao hơn của thính giác. “Heart” được hình thành từ “hear” cộng với thập giá (chữ “t”).
d. Leaders upon the first ray are often called “dictators”. They speak directly and expect to be heard and obeyed. This dynamic illustrates the close relation between the first and the third ray. First ray types prefer to appeal directly to the ear rather than to the eye through the written word.
d. Các nhà lãnh đạo trên cung một thường được gọi là “nhà độc tài”. Họ nói trực tiếp và mong được lắng nghe và tuân phục. Tính năng động này minh họa mối liên hệ chặt chẽ giữa cung một và cung ba. Những người thuộc cung một thích tác động trực tiếp đến tai hơn là đến mắt qua lời viết.
e. The sense of hearing is related to what might be called ‘Lemurian perception’.
e. Giác quan thính giác liên hệ với điều có thể được gọi là ‘tri giác Lemuria’.
b. The Second Sense.....Touch or feeling.
b. Giác quan thứ hai.....Xúc giác hay cảm giác.
1. Physical touch.
1. Xúc giác hồng trần.
2. Psychometry.
2. Thuật trắc tâm.
3. Planetary psychometry.
3. Thuật trắc tâm hành tinh.
4. Healing.
4. Trị liệu.
5. Active service.
5. Phụng sự tích cực.
7. General observations:
7. Những nhận xét tổng quát:
a. All the five capacities are based upon the sense of touch.
a. Cả năm năng lực đều dựa trên giác quan xúc giác.
b. The faculties related to the astral and mental planes are similar, but with respect to the mental plane there is a great expansion in scope. Psychometry becomes planetary psychometry.
b. Các năng lực liên hệ với cõi cảm dục và cõi trí thì tương tự nhau, nhưng đối với cõi trí có một sự mở rộng rất lớn về phạm vi. Thuật trắc tâm trở thành thuật trắc tâm hành tinh.
c. It is important, when thinking of the essence of both Healing and Active Service, that they are fundamentally based on the sense of touch. Neither can occur without a refined sense of touch.
c. Điều quan trọng, khi suy nghĩ về bản chất của cả Trị liệu lẫn Phụng sự Tích cực, là chúng về căn bản đều dựa trên giác quan xúc giác. Không điều nào trong hai điều ấy có thể xảy ra nếu không có một giác quan xúc giác tinh luyện.
d. The sense of touch is correlated to both the sixth and second rays (the two of which are closely related to each other). The fact that touch is the second sense in the developmental evolutionary sequence relates it to the second ray. Touch is also the predominant sense related to the astral plane, which is the sixth plane (counting from above) and thus related to the second ray. That the astral plane is the second (counting from below) relates it to the second ray.
d. Giác quan xúc giác tương ứng với cả cung sáu lẫn cung hai (hai cung này có liên hệ chặt chẽ với nhau). Sự kiện rằng xúc giác là giác quan thứ hai trong trình tự phát triển tiến hóa khiến nó liên hệ với cung hai. Xúc giác cũng là giác quan nổi trội liên hệ với cõi cảm dục, là cõi thứ sáu (đếm từ trên xuống) và do đó liên hệ với cung hai. Việc cõi cảm dục là cõi thứ hai (đếm từ dưới lên) khiến nó liên hệ với cung hai.
e. The sense of touch is related to what might be called ‘Atlantean perception’.
e. Giác quan xúc giác liên hệ với điều có thể được gọi là ‘tri giác Atlantis’.
c. The Third Sense......Sight.
c. Giác quan thứ ba......Thị giác.
1. Physical sight.
1. Thị giác hồng trần.
2. Clairvoyance.
2. Thông nhãn.
3. Higher clairvoyance.
3. Thông nhãn cao.
4. Divine vision.
4. linh thị thiêng liêng.
5. Realisation.
5. (sự)chứng nghiệm.
8. General observations:
8. Những nhận xét tổng quát:
a. All these five faculties are related to the sense of sight
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với giác quan thị giác
b. The sense of sight is the sense preeminently relating to the mental plane.
b. Giác quan thị giác là giác quan nổi bật nhất liên hệ với cõi trí.
c. The sense of sight was initially developed during the second part of the Lemurian rootrace (the third rootrace). The higher correspondences of this sense were especially developed during the Aryan rootrace, which is the third of the self-conscious rootraces, hence the importance of the number three in relation to the sense of sight.
c. Giác quan thị giác ban đầu được phát triển trong phần thứ hai của giống dân gốc Lemuria (giống dân gốc thứ ba). Các tương ứng cao hơn của giác quan này đặc biệt được phát triển trong giống dân gốc Arya, là giống dân thứ ba trong các giống dân gốc có ngã thức, do đó tầm quan trọng của con số ba liên quan đến giác quan thị giác.
d. The sense of sight is correlated especially to the fifth ray, the Ray of Observation.
d. Giác quan thị giác đặc biệt tương ứng với cung năm, Cung của Quan Sát.
e. It is also correlated to the first ray (the Ray of Synthesis) because sight is a synthetic sense facilitating the grasp of many relationships simultaneously.
e. Nó cũng tương ứng với cung một (Cung của Tổng Hợp) bởi vì thị giác là một giác quan tổng hợp, tạo điều kiện cho việc nắm bắt đồng thời nhiều mối liên hệ.
f. Sight is also correlated to the third ray because the development of sight correlates with the development of intelligence.
f. Thị giác cũng tương ứng với cung ba bởi vì sự phát triển của thị giác tương ứng với sự phát triển của trí tuệ.
g. Four of the corresponding senses/faculties relate easily and understandably to the sense of sight. It must be realized that “Realization” is also an aspect of sight—atmic sight.
g. Bốn trong các giác quan/năng lực tương ứng liên hệ một cách dễ dàng và dễ hiểu với giác quan thị giác. Cần phải nhận ra rằng “(sự)chứng nghiệm” cũng là một phương diện của thị giác—thị giác atma.
h. We should not leave out the correlation of sight to the second ray, the ray most sensitive to light.
h. Chúng ta cũng không nên bỏ qua sự tương ứng của thị giác với cung hai, cung nhạy cảm nhất với ánh sáng.
d. The Fourth Sense.....Taste.
d. Giác quan thứ tư.....Vị giác.
1. Physical taste.
1. Vị giác hồng trần.
2. Imagination.
2. Sự tưởng tượng.
3. Discrimination.
3. Sự phân biện.
4. Intuition.
4. Trực giác.
5. Perfection.
5. Sự hoàn hảo.
9. General observations:
9. Những nhận xét tổng quát:
a. All these five faculties are related to the sense of taste.
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với vị giác.
b. The sense of taste will be far more fully developed during the sixth and coming rootrace.
b. Vị giác sẽ được phát triển đầy đủ hơn rất nhiều trong giống dân gốc thứ sáu sắp đến.
c. The sense of taste is particularly correlated to the buddhic plane and the faculty of buddhi.
c. Vị giác đặc biệt tương quan với cõi Bồ đề và năng lực buddhi.
d. The development of buddhi confers a heightened sense of values, necessary if the higher correspondences to the sense of taste are to be developed.
d. Sự phát triển của buddhi ban cho một ý thức về giá trị được nâng cao, điều cần thiết nếu các tương ứng cao hơn với vị giác muốn được phát triển.
e. Whereas the higher correspondences relating to the three senses just considered are for the most part easily seen as related to the particular sense on which all of them are based, it is more difficult to see the relation between physical taste and its four higher correspondences. This will have to be worked out.
e. Trong khi các tương ứng cao hơn liên quan đến ba giác quan vừa được xét phần lớn dễ thấy là có liên hệ với giác quan đặc thù mà tất cả chúng đều dựa trên đó, thì khó thấy hơn mối liên hệ giữa vị giác hồng trần và bốn tương ứng cao hơn của nó. Điều này sẽ phải được khai triển.
f. The sense of taste involves the factor of choice—acceptance or rejection.
f. Vị giác bao hàm yếu tố lựa chọn—chấp nhận hoặc từ chối.
i. Taste is related to desire and one’s sense of values. According to one’s desires and values so one imagines, fashioning only certain types of images and.
i. Vị giác liên hệ với dục vọng và ý thức về giá trị của một người. Theo dục vọng và giá trị của mình, người ta tưởng tượng, chỉ tạo tác những loại hình ảnh nhất định mà thôi.
ii. According to one’s desires and sense of values one chooses to identify with the soul or with the personality sphere. In this choice discrimination is exercised.
ii. Theo dục vọng và ý thức về giá trị của mình, người ta chọn đồng hoá với linh hồn hay với phạm vi của phàm ngã. Trong sự lựa chọn này, sự phân biện được vận dụng.
iii. According to one’s desires and sense of values one chooses to be cognizant of the wholeness or merely of parts. Thus the factor of intuition, which is ever aware of wholeness, unity, cohesions and the One is engaged.
iii. Theo dục vọng và ý thức về giá trị của mình, người ta chọn nhận biết tính toàn thể hay chỉ các phần riêng lẻ. Vì vậy, yếu tố trực giác, vốn luôn ý thức về tính toàn thể, sự hợp nhất, sự kết dính và Đấng Duy Nhất, được vận dụng.
iv. According to one’s desires and sense of values one learns to reject that which is unsuitable for the achievement of a final perfection. One must exercise a refined spiritual ‘taste’ to select only that which is suitable to that final arrangement of energies called perfection.
iv. Theo dục vọng và ý thức về giá trị của mình, người ta học cách từ chối điều không thích hợp cho việc đạt đến một sự hoàn hảo tối hậu. Người ta phải vận dụng một “vị giác” tinh thần tinh tế để chỉ chọn điều thích hợp với sự sắp xếp năng lượng tối hậu ấy, được gọi là sự hoàn hảo.
g. Because the sense of taste is the fourth sense in the evolutionary, developmental sequence, it is naturally related to the fourth ray of Harmony, Beauty and Art. Even conventionally, it is often recognized that those with the fourth ray prominent are endowed with a more developed sense of ‘taste’ (on the several levels to which this sense may be applied).
g. Bởi vì vị giác là giác quan thứ tư trong chuỗi tiến hoá và phát triển, nên tự nhiên nó liên hệ với cung bốn của Hài Hòa, Mỹ Đẹp và Nghệ Thuật. Ngay cả theo cách hiểu thông thường, người ta cũng thường công nhận rằng những ai nổi trội cung bốn được phú cho một ý thức “thẩm vị” phát triển hơn (trên nhiều cấp độ mà giác quan này có thể được áp dụng).
h. The second, fourth and sixth rays are concerned with this sense. Buddhi, required for the full development of this sense, is the sixth principle and thus related to the sixth ray. Buddhi is also the conveyer of the second ray of love wisdom. The buddhic plane is the fourth and thus related to the fourth ray.
h. Cung hai, cung bốn và cung sáu đều liên quan đến giác quan này. Buddhi, cần thiết cho sự phát triển trọn vẹn của giác quan này, là nguyên khí thứ sáu và vì thế liên hệ với cung sáu. Buddhi cũng là tác nhân chuyển tải cung hai của bác ái-minh triết. Cõi Bồ đề là cõi thứ tư và vì thế liên hệ với cung bốn.
i. From one angle, the sense of taste can be considered one of the lower senses, very dependent upon the sense of touch. From a higher perspective, it is one of the later senses to develop.
i. Từ một góc độ, vị giác có thể được xem là một trong những giác quan thấp, rất lệ thuộc vào xúc giác. Từ một viễn tượng cao hơn, nó là một trong những giác quan phát triển muộn hơn.
e. The Fifth Sense......Smell.
e. Giác quan thứ năm......Khứu giác.
1. Physical smell.
1. Khứu giác hồng trần.
2. Emotional idealism.
2. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc.
3. Spiritual discernment.
3. Sự phân biện tinh thần.
4. Idealism.
4. Chủ nghĩa lý tưởng.
5. All knowledge.
5. Mọi tri thức.
10. General observations:
10. Những nhận xét tổng quát:
a. All these five faculties are related to the sense of smell.
a. Cả năm năng lực này đều liên hệ với khứu giác.
b. As with the sense of taste, the higher correspondences to the physical sense of smell are not immediately to be seen as related to that physical sense. Thought is required to show the relationships and will be expended.
b. Cũng như với vị giác, các tương ứng cao hơn với khứu giác hồng trần không thể lập tức được thấy là có liên hệ với giác quan hồng trần ấy. Cần có tư duy để chỉ ra các mối liên hệ, và tư duy ấy sẽ được vận dụng.
c. In general all the faculties built upon the sense of smell (and even the physical sense of smell) concern that which is not obvious to sight, but which is present and may be detected by the discernment which the sense of smell embodies.
c. Nói chung, mọi năng lực được xây dựng trên khứu giác (và ngay cả khứu giác hồng trần) đều liên quan đến điều không hiển nhiên đối với thị giác, nhưng vẫn hiện diện và có thể được phát hiện nhờ sự phân biện mà khứu giác thể hiện.
d. The foundational sense of the atmic plane is the sense of smell. Thus, although the sense of smell can be considered a rudimentary sense in one respect (and very animal in nature), its essence is of a very refined nature and pertains most directly to the highest of the five planes under consideration.
d. Giác quan nền tảng của cõi atma là khứu giác. Vì vậy, tuy khứu giác có thể được xem là một giác quan sơ khai ở một phương diện nào đó (và rất có bản chất động vật), tinh túy của nó lại có bản chất rất tinh luyện và liên hệ trực tiếp nhất đến cõi cao nhất trong năm cõi đang được xem xét.
e. Since the atmic plane is ruled by the first and third rays, the sense of smell must also be related to these rays.
e. Vì cõi atma được cai quản bởi cung một và cung ba, nên khứu giác cũng phải liên hệ với các cung này.
f. Further, an examination of the higher correspondences to the physical sense of smell will reveal the importance of the sixth ray of Idealism—for both Emotional Idealism and Idealism are listed among the higher correspondences.
f. Hơn nữa, việc khảo sát các tương ứng cao hơn với khứu giác hồng trần sẽ cho thấy tầm quan trọng của cung sáu của Chủ nghĩa Lý tưởng—vì cả Chủ nghĩa Lý tưởng Cảm xúc lẫn Chủ nghĩa Lý tưởng đều được liệt kê trong các tương ứng cao hơn.
g. We do remember, however, the close relationship existing between the third and the sixth rays. The third ray is visible in relation to such faculties as Spiritual Discernment and All Knowledge, just as the sixth is in relation to Emotional Idealism and Idealism.
g. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nhớ mối liên hệ mật thiết hiện hữu giữa cung ba và cung sáu. Cung ba biểu lộ trong mối liên hệ với những năng lực như Sự Phân Biện Tinh Thần và Mọi Tri Thức, cũng như cung sáu biểu lộ trong mối liên hệ với Chủ nghĩa Lý tưởng Cảm xúc và Chủ nghĩa Lý tưởng.
11. It has been said above that another way of comparing the senses is to list all those which occur on the same subplane of any plane. The lists would then be as follows:
11. Trên đây đã nói rằng một cách khác để so sánh các giác quan là liệt kê tất cả những giác quan xuất hiện trên cùng một cõi phụ của bất kỳ cõi nào. Khi đó các danh sách sẽ như sau:
a. Appearing on the seventh subplane
a. Xuất hiện trên cõi phụ thứ bảy
i. Higher Clairaudience
i. Thông nhĩ cao hơn
ii. Comprehension
ii. Sự thấu hiểu
iii. Beatitude
iii. Chí phúc
b. Appearing on the sixth subplane
b. Xuất hiện trên cõi phụ thứ sáu
i. Planetary psychometry
i. Thuật trắc tâm hành tinh
ii. Healing
ii. Trị liệu
iii. Active Service
iii. Phụng sự tích cực
c. Appearing on the fifth subplane
c. Xuất hiện trên cõi phụ thứ năm
i. Physical hearing
i. Thính giác hồng trần
ii. Clairaudience
ii. Thông nhĩ
iii. Higher clairvoyance
iii. Thông nhãn cao hơn
iv. Divine vision
iv. Linh thị thiêng liêng
v. Realization
v. Sự chứng nghiệm
d. Appearing on the fourth subplane
d. Xuất hiện trên cõi phụ thứ tư
i. Physical touch, feeling
i. Xúc giác hồng trần, cảm giác
ii. Psychometry
ii. Thuật trắc tâm
iii. Discrimination
iii. Sự phân biện
iv. Intuition
iv. Trực giác
v. Perfection
v. Sự hoàn hảo
e. Appearing on the third subplane
e. Xuất hiện trên cõi phụ thứ ba
i. Physical sight
i. Thị giác hồng trần
ii. Clairvoyance
ii. Thông nhãn
iii. Spiritual discernment
iii. Sự phân biện tinh thần
iv. Idealism
iv. Chủ nghĩa lý tưởng
v. All knowledge
v. Mọi tri thức
f. Appearing on the second subplane
f. Xuất hiện trên cõi phụ thứ hai
i. Physical taste
i. Vị giác hồng trần
ii. Imagination
ii. Sự tưởng tượng
iii. Response to group vibration
iii. Đáp ứng với rung động nhóm
g. Appearing on the first subplane
g. Xuất hiện trên cõi phụ thứ nhất
i. Physical smell
i. Khứu giác hồng trần
ii. Emotional idealism
ii. Chủ nghĩa lý tưởng cảm xúc
iii. Spiritual telepathy
iii. Viễn cảm tinh thần
12. The ordering suggested is different from that ordering (listed by the Tibetan) which is created by comparing, let us say, all the senses in the lowest position of any series of five (or, in one case, seven), in the next to lowest position, etc., etc.. In the Tibetan’s arrangement, Response to Group Vibration and Spiritual Telepathy are not compared to other senses.
12. Trật tự được gợi ý này khác với trật tự kia (do Chân sư Tây Tạng liệt kê), vốn được tạo ra bằng cách so sánh, chúng ta hãy nói rằng, tất cả các giác quan ở vị trí thấp nhất của bất kỳ chuỗi năm giác quan nào (hoặc trong một trường hợp là bảy), rồi đến vị trí thấp kế tiếp, v.v.. Trong cách sắp xếp của Chân sư Tây Tạng, Đáp ứng với Rung động Nhóm và Viễn cảm Tinh thần không được so sánh với các giác quan khác.
13. While some of these relationships might not be readily understandable, they would repay pondering. Finding similarities between apparently dissimilar things is a method of illumination.
13. Dù một số mối liên hệ này có thể không dễ hiểu ngay, chúng vẫn đáng để suy ngẫm. Tìm ra những điểm tương đồng giữa những điều bề ngoài khác nhau là một phương pháp soi sáng.
14. In interpreting faculties/senses assembled in this way, the relationships between one/three, two/four, three/five, four/ six, etc. must be considered.
14. Khi diễn giải các năng lực/giác quan được tập hợp theo cách này, phải xét đến các mối liên hệ giữa một/ba, hai/bốn, ba/năm, bốn/sáu, v.v..
[Page 190]
[Page 190]
Let us now proceed to take up each of these senses in detail:
Giờ đây chúng ta hãy tiếp tục khảo sát chi tiết từng giác quan này:
15. We will attempt to understand the development of these senses from the occult perspective.
15. Chúng ta sẽ cố gắng thấu hiểu sự phát triển của các giác quan này từ viễn tượng huyền bí học.
a. Hearing. This, very appropriately, is the first sense to be manifested; the first aspect of manifestation is that of sound, and necessarily therefore we would expect sound to be the first thing noticed by man on the physical plane, the plane of densest manifestation, and of the most marked effects of sound, regarding it as a creating factor.
a. Thính giác. Điều này, rất thích đáng, là giác quan đầu tiên được biểu lộ; phương diện đầu tiên của sự biểu lộ là âm thanh, và tất yếu do đó chúng ta sẽ chờ đợi âm thanh là điều đầu tiên được con người nhận biết trên cõi hồng trần, cõi của sự biểu lộ đậm đặc nhất, và của những hiệu quả rõ rệt nhất của âm thanh, khi xem nó như một yếu tố sáng tạo.
16. In this section we find sound to be related both to the highest and the lowest of the planes under consideration (as per the tabulation in the Secret Doctrine)
16. Trong phần này, chúng ta thấy âm thanh liên hệ với cả cõi cao nhất lẫn cõi thấp nhất trong các cõi đang được xem xét (theo bảng liệt kê trong Giáo Lý Bí Nhiệm)
a. Aether Hearing, Sound Atmic plane
a. Thính giác dĩ thái, Âm thanh Cõi atma
b. Air Touch Sound, touch Buddhic plane
b. Khí Xúc giác Âm thanh, xúc giác Cõi Bồ đề
c. Fire Sight Sound, touch, sight Mental plane
c. Lửa Thị giác Âm thanh, xúc giác, thị giác Cõi trí
d. Water Taste Sound, touch, sight, taste Astral plane
d. Nước Vị giác Âm thanh, xúc giác, thị giác, vị giác Cõi cảm dục
e. Earth Smell Sound, touch, sight, taste, smell Physical plane
e. Đất Khứu giác Âm thanh, xúc giác, thị giác, vị giác, khứu giác Cõi hồng trần
17. In a still more fundamental respect, sound should be related to the Akasha of the second plane, a plane which is not included in this tabulation.
17. Ở một phương diện còn căn bản hơn nữa, âm thanh phải được liên hệ với Akasha của cõi thứ hai, một cõi không được bao gồm trong bảng liệt kê này.
18. The major idea put forward is that the originating sense (on the highest of the planes considered) will be the first sense developed (on the lowest of the planes considered).
18. Ý tưởng chính được nêu ra là giác quan khởi nguyên (trên cõi cao nhất trong các cõi được xét) sẽ là giác quan đầu tiên được phát triển (trên cõi thấp nhất trong các cõi được xét).
19. It is interesting that the physical plane, whereon densest manifestation occurs, is considered the plane where the “most marked effects of sound” are to be experienced, if sound is regarded as a “creating factor”.
19. Thật thú vị khi cõi hồng trần, nơi sự biểu lộ đậm đặc nhất xảy ra, lại được xem là cõi mà “những hiệu quả rõ rệt nhất của âm thanh” được kinh nghiệm, nếu âm thanh được xem như một “yếu tố sáng tạo”.
20. Through sound, magical effects are wrought on the physical plane. Similar effects on subtler planes would, perhaps, not be considered quite so magical.
20. Thông qua âm thanh, các hiệu quả huyền thuật được tạo ra trên cõi hồng trần. Những hiệu quả tương tự trên các cõi vi tế hơn có lẽ sẽ không được xem là huyền thuật đến thế.
21. Because they are most affected by sound, the atmic and physical planes are related. Since sound is more intimately related to the monadic plane (the akashic plane), that plane, too, must be intimately related to the physical plane (in both its dense and etheric aspects). We do see this, in fact, because so many of the dynamics of energy movement and transmission in the etheric body are related to the Monad (on the second plane from above).
21. Bởi vì chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi âm thanh, cõi atma và cõi hồng trần có liên hệ với nhau. Vì âm thanh còn liên hệ mật thiết hơn với cõi chân thần (cõi akasha), nên cõi ấy cũng phải liên hệ mật thiết với cõi hồng trần (trong cả hai phương diện đậm đặc và dĩ thái của nó). Thật vậy, chúng ta thấy điều này, vì rất nhiều động lực của sự vận động và truyền dẫn năng lượng trong thể dĩ thái đều liên hệ với Chân thần (trên cõi thứ hai tính từ trên xuống).
22. VSK suggests: “It seems sound is the first to manifest (to man’s physical brain as sensation), and the last to abstract (from man’s consciousness in the 3/5 worlds).
22. VSK gợi ý: “Dường như âm thanh là điều đầu tiên biểu lộ (đối với bộ não hồng trần của con người như một cảm giác), và là điều cuối cùng được rút ra khỏi (khỏi tâm thức con người trong ba/năm cõi giới).
23. Upon the physical plane, it is primarily through the medium of air that sound is transmitted (though other and more rapid means of transmission are to be found—water or metal, for instance).
23. Trên cõi hồng trần, âm thanh chủ yếu được truyền qua môi trường khí (dù cũng có thể tìm thấy những phương tiện truyền dẫn khác và nhanh hơn—chẳng hạn như nước hoặc kim loại).
24. The physical plane is paramountly the plane of separation, and it is sound that initially overcomes that sense of separation, relating separated objects via vibratory transmission through the air. This type of relationship precedes the more intimate sense of touch.
24. Cõi hồng trần trước hết và trên hết là cõi của sự phân ly, và chính âm thanh ban đầu vượt qua cảm giác phân ly ấy, liên hệ các vật thể tách biệt qua sự truyền dẫn rung động trong không khí. Loại liên hệ này có trước giác quan thân mật hơn là xúc giác.
Pre-eminently the physical plane is the plane of hearing and hence the sense ascribed to the lowest plane of evolution, and of each of the five planes.
Trước hết và trên hết, cõi hồng trần là cõi của thính giác và vì thế là giác quan được quy cho cõi thấp nhất của tiến hoá, và của mỗi một trong năm cõi.
25. The relationship of the physical plane and of hearing to the third ray has already been suggested. The third ray is the “Primordial Ray”—the foundation, the basis of all subsequent development.
25. Mối liên hệ của cõi hồng trần và của thính giác với cung ba đã được gợi ra. Cung ba là “Cung Nguyên Sơ”—nền tảng, cơ sở của mọi sự phát triển tiếp theo.
On this seventh or lowest plane man has to come to full cognisance of the effect of the Sacred Word as it is in process of sounding forth.
Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất này, con người phải đi đến chỗ nhận biết trọn vẹn hiệu quả của Linh từ thiêng liêng khi nó đang trong tiến trình được xướng lên.
26. What may be considered the origin of the Sacred Word? Certainly it originates far ‘above’ the cosmic physical plane. May we say that its origin is (in relation to our solar system) the higher levels of the cosmic mental plane upon which the “Heart of the Sun” (or the Egoic nature of the Solar Logos) may be found? In fact its origin must be even ‘higher’.
26. Điều gì có thể được xem là nguồn gốc của Linh từ thiêng liêng? Chắc chắn nó phát nguyên rất “cao” bên trên cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta có thể nói rằng nguồn gốc của nó là (trong liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta) các cấp độ cao hơn của cõi trí vũ trụ, nơi có thể tìm thấy “Trái Tim của Mặt Trời” (hay bản chất chân ngã của Thái dương Thượng đế) chăng? Thật ra, nguồn gốc của nó còn phải “cao” hơn nữa.
27. In simple terms, what is being said is that the Word of the Soul (first in its microcosmic expression, and then in increasingly comprehensive expressions) must come to be recognized on the physical plane.
27. Nói một cách đơn giản, điều đang được nói là Quyền năng từ của linh hồn (trước hết trong biểu hiện vi mô của nó, rồi sau đó trong những biểu hiện ngày càng bao quát hơn) phải được nhận biết trên cõi hồng trần.
28. In all listening, we are, in fact, listening for the sounding of the Word of the Soul. To this, all true listening leads.
28. Trong mọi sự lắng nghe, thật ra chúng ta đang lắng nghe tiếng vang của Quyền năng từ của linh hồn. Mọi sự lắng nghe chân chính đều dẫn đến điều này.
As it reverberates throughout the system, it drives matter into its appointed place, and on the physical plane finds its point of deepest materiality and of most concrete demonstration.
Khi nó vang dội khắp hệ thống, nó đẩy vật chất vào vị trí đã được chỉ định của nó, và trên cõi hồng trần tìm thấy điểm vật chất tính sâu đậm nhất và sự biểu hiện cụ thể nhất của nó.