Trích nội dung chương
345. In a reference below, the analogy is drawn between the seven Kumaras the seven head centers, and this is surely apt. 345. Trong một dẫn chiếu bên dưới, sự tương đồng được vạch ra giữa bảy Kumara và bảy trung tâm đầu, và điều này chắc chắn là thích đáng.
345. In a reference below, the analogy is drawn between the seven Kumaras the seven head centers, and this is surely apt.
345. Trong một dẫn chiếu bên dưới, sự tương đồng được vạch ra giữa bảy Kumara và bảy trung tâm đầu, và điều này chắc chắn là thích đáng.
346. It may be that, when we involve the two many-petalled lotuses, we will be required to reference Shamballa and higher ‘residents’.
346. Có thể là, khi chúng ta đưa hai hoa sen nhiều cánh vào, chúng ta sẽ phải dẫn chiếu đến Shamballa và những “cư dân” cao hơn.
347. VSK suggest that we might question how the sixty-three ‘permanent’ members of Hierarchy are related to the centers or to specific points within the centers. It would require a very advanced inquiry and demand more knowledge than we presently have.
347. VSK gợi ý rằng chúng ta có thể đặt câu hỏi sáu mươi ba thành viên “thường trực” của Thánh đoàn liên hệ với các trung tâm hay với những điểm đặc thù nào trong các trung tâm. Điều đó sẽ đòi hỏi một cuộc khảo cứu rất cao cấp và cần nhiều tri thức hơn những gì hiện nay chúng ta có.
348. Much about the assignment of centers to planetary groups depends upon the contexts we choose.
348. Nhiều điều về việc quy các trung tâm cho các nhóm hành tinh tùy thuộc vào những ngữ cảnh mà chúng ta chọn.
a. We can choose that the entire chakra system will represent only the Hierarchy
a. Chúng ta có thể chọn rằng toàn bộ hệ thống chakra sẽ chỉ đại diện cho Thánh đoàn
b. We can choose that the entire chakra system will represent Hierarchy and Shamballa
b. Chúng ta có thể chọn rằng toàn bộ hệ thống chakra sẽ đại diện cho Thánh đoàn và Shamballa
c. We can choose that the entire chakra system will represent all planetary kingdoms, including Hierarchy, Humanity and Shamballa
c. Chúng ta có thể chọn rằng toàn bộ hệ thống chakra sẽ đại diện cho tất cả các giới hành tinh, bao gồm Thánh đoàn, Nhân loại và Shamballa
349. In each case, different groupings will be assigned to different chakras or triangles of chakras.
349. Trong mỗi trường hợp, những tập hợp khác nhau sẽ được quy cho những chakra hay những tam giác chakra khác nhau.
[Page 181]
[Page 181]
Another triangle in connection with our own planetary Logos is that formed by the seven Kumaras—the four exoteric Kumaras corresponding to the four minor head centres, and the three esoteric Kumaras corresponding to the three major head centres.75,76
Một tam giác khác liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế của chính chúng ta là tam giác được tạo thành bởi bảy Kumara—bốn Kumara ngoại môn tương ứng với bốn trung tâm đầu phụ, và ba Kumara nội môn tương ứng với ba trung tâm đầu chính.75,76
350. This is a very important correspondence, and gives to Shamballa, proper, the domain of the head—for the Kumaras are members only of Shamballa and not, like the Chohans, of both Hierarchy and (sometimes) of Shamballa.
350. Đây là một tương ứng rất quan trọng, và trao cho Shamballa đúng nghĩa lãnh vực của đầu—vì các Kumara chỉ là thành viên của Shamballa chứ không phải, như các Chohan, thuộc về cả Thánh đoàn và (đôi khi) Shamballa.
351. When DK speaks of the four minor head centers and the three major ones, He may be considering the alta major center as the synthesis of the lower four, and the ajna and crown center as the higher two.
351. Khi Chân sư DK nói về bốn trung tâm đầu phụ và ba trung tâm đầu chính, có thể Ngài đang xem trung tâm alta major như sự tổng hợp của bốn trung tâm thấp hơn, còn trung tâm ajna và trung tâm đỉnh đầu là hai trung tâm cao hơn.
352. From one perspective, the Seven Kumaras, and the Planetary Logos would represent the “Seven Spirits before the Throne” of that Logos.
352. Từ một góc nhìn, Bảy Kumara và Hành Tinh Thượng Đế sẽ đại diện cho “Bảy Thánh Linh trước Thánh Ngai” của Thượng đế ấy.
353. It is, as we have seen, possible to view the head as a seven resolving into a superior eighth factor. It is also possible to view the head as a nine resolving into a tenth. In such a case the seven centers ‘within’ the head would be considered in relation to a superior three, with the crown center being one of those superior three.
353. Như chúng ta đã thấy, có thể xem đầu như một số bảy được giải thành một yếu tố thứ tám cao hơn. Cũng có thể xem đầu như một số chín được giải thành một số mười. Trong trường hợp như vậy, bảy trung tâm “bên trong” đầu sẽ được xét trong mối liên hệ với một bộ ba cao hơn, với trung tâm đỉnh đầu là một trong ba trung tâm cao hơn ấy.
354. There may also be a relationship in which the Planetary Logos represents the entire crown center and Sanat Kumara the heart within the head within that crown.
354. Cũng có thể có một mối liên hệ trong đó Hành Tinh Thượng Đế đại diện cho toàn bộ trung tâm đỉnh đầu và Đức Sanat Kumara là trái tim trong đầu bên trong trung tâm đỉnh đầu ấy.
355. A number of possible correspondences are here proposed. We can see that such correspondences would be rather intricate and would have to be worked out with care. Much depends upon whether we group various centers or groups as if they were all one unit (which in a way they are) or whether we consider them independently. The relationships change accordingly.
355. Ở đây một số tương ứng khả dĩ được đề xuất. Chúng ta có thể thấy rằng những tương ứng như thế sẽ khá phức tạp và phải được triển khai một cách cẩn trọng. Nhiều điều tùy thuộc vào việc chúng ta nhóm các trung tâm hay các nhóm khác nhau như thể tất cả chỉ là một đơn vị (mà theo một nghĩa nào đó đúng là như vậy) hay chúng ta xét chúng một cách độc lập. Các mối liên hệ thay đổi theo đó.
75:There are seven Kumaras connected with our planetary evolution, of Whom four are exoteric; the four exoteric have vehicles in etheric matter; three Kumaras are esoteric and have their vehicles in subtler matters still.
75:Có bảy Kumara liên hệ với sự tiến hoá hành tinh của chúng ta, trong đó bốn vị là ngoại môn; bốn vị ngoại môn có các vận cụ trong vật chất dĩ thái; ba Kumara là nội môn và có các vận cụ trong những loại vật chất còn vi tế hơn nữa.
356. We must question the nature of the etheric matter here referenced. Is DK talking about cosmic etheric matter—the matter of the systemic buddhic, atmic, monadic and logoic planes? If so, the still subtler matter in which the three esoteric Kumaras would have their vehicles could refer to the cosmic astral plane.
356. Chúng ta phải đặt câu hỏi về bản chất của vật chất dĩ thái được dẫn chiếu ở đây. Có phải Chân sư DK đang nói về vật chất dĩ thái vũ trụ—vật chất của các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoi của hệ thống? Nếu vậy, thì loại vật chất còn vi tế hơn nữa mà ba Kumara nội môn có các vận cụ trong đó có thể chỉ cõi cảm dục vũ trụ.
Sanat Kumara, The Lord of the world, is the representative on earth of the specialized force of the planetary Logos; the other six Kumaras transmit energy from the other six planetary schemes.
Đức Sanat Kumara, Đức Chúa Tể Thế Giới, là vị đại diện trên Trái Đất cho mãnh lực chuyên biệt của Hành Tinh Thượng Đế; sáu Kumara kia truyền dẫn năng lượng từ sáu hệ hành tinh còn lại.
357. Are we speaking here of “sacred” schemes, the vehicles of manifestation of the sacred Planetary Logoi? This is not necessarily the case. There are certainly more than “the other six planetary schemes” in relation to the Earth-scheme.
357. Ở đây chúng ta có đang nói về các hệ “thiêng liêng”, là những vận cụ biểu hiện của các Hành Tinh Thượng Đế thiêng liêng không? Điều này không nhất thiết là như vậy. Chắc chắn có nhiều hơn “sáu hệ hành tinh còn lại” trong mối liên hệ với hệ Địa Cầu.
358. Can it be that the synthesizing schemes are removed from consideration? If so, this would present its own problems, because the elimination of Uranus would deprive the set up of the major seventh ray planet (from the soul perspective).
358. Có thể nào các hệ tổng hợp đã bị loại khỏi sự xem xét? Nếu vậy, điều này sẽ tạo ra những vấn đề riêng của nó, vì việc loại bỏ Sao Thiên Vương sẽ tước khỏi cấu trúc này hành tinh cung bảy chính yếu (từ góc nhìn linh hồn).
359. There may be ways in which schemes are combined in such a manner as to represent a particular ray. Venus, Jupiter and Neptune all represent the second ray, and each can claim relationship to the sixth as well.
359. Có thể có những cách trong đó các hệ được kết hợp theo một phương thức sao cho đại diện cho một cung đặc thù. Sao Kim, Sao Mộc và Sao Hải Vương đều đại diện cho cung hai, và mỗi hành tinh cũng có thể khẳng định mối liên hệ với cung sáu nữa.
360. What we can gather from this statement is that each Kumara is representative of one of the seven rays, and so are the planetary schemes or combinations of planetary schemes. In some manner not yet disclosed, the “other six Kumaras” each transmits a particular ray energy and is a representative of one (or perhaps more) planetary schemes correlated with the ray energy which it represents.
360. Điều chúng ta có thể rút ra từ phát biểu này là mỗi Kumara là đại diện của một trong bảy cung, và các hệ hành tinh hay các tổ hợp hệ hành tinh cũng vậy. Theo một cách thức chưa được tiết lộ, “sáu Kumara kia” mỗi vị truyền dẫn một năng lượng cung đặc thù và là đại diện của một (hoặc có lẽ nhiều hơn) hệ hành tinh tương quan với năng lượng cung mà vị ấy đại diện.
76:S. D., I, 186-189.
76:S. D., I, 186-189.
The second hint I seek to give, lies in the triangle formed by the Earth, Mars and Mercury.
Gợi ý thứ hai mà tôi tìm cách đưa ra nằm trong tam giác được tạo thành bởi Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thủy.
361. Each of these planets is related to an expression of the kundalini energy. The Earth upholds a base of the spine center function within our solar system and is, therefore, must be a repository of systemic kundalini energy. This is not to say that the Earth would be the only repository of this energy.
361. Mỗi hành tinh này đều liên hệ với một biểu hiện của năng lượng kundalini. Trái Đất duy trì một chức năng trung tâm đáy cột sống trong hệ mặt trời của chúng ta và vì thế hẳn phải là một kho chứa năng lượng kundalini hệ thống. Điều này không có nghĩa rằng Trái Đất sẽ là kho chứa duy nhất của năng lượng này.
In connection with this triangle, the analogy lies in the fact that Mercury and the centre at the base of the spine in the human being are closely allied. Mercury demonstrates kundalini in intelligent activity, while Mars demonstrates kundalini latent. The truth lies hid in their two astrological symbols.
Liên quan đến tam giác này, sự tương đồng nằm ở chỗ Sao Thủy và trung tâm đáy cột sống trong con người có liên hệ mật thiết với nhau. Sao Thủy biểu lộ kundalini trong hoạt động thông minh, trong khi Sao Hỏa biểu lộ kundalini tiềm ẩn. Sự thật ẩn giấu trong hai biểu tượng chiêm tinh của chúng.
362. What symbol shall we use for Mars, for we have a choice? The truth in relation to their kundalinic functions is apparently hidden in their symbols. At least such truth is not easily seen—apparently.
362. Chúng ta sẽ dùng biểu tượng nào cho Sao Hỏa, vì chúng ta có một sự lựa chọn? Sự thật liên quan đến các chức năng kundalini của chúng dường như được ẩn giấu trong các biểu tượng của chúng. Ít nhất, sự thật ấy không dễ thấy—dường như là vậy.
363. The circle in such astrological symbols represents the Spirit which has been (in relation to kundalini) imbedded in matter.
363. Hình tròn trong những biểu tượng chiêm tinh như thế đại diện cho Tinh thần đã được cắm sâu vào vật chất (liên quan đến kundalini).
364. If the symbol for Mars were the cross over the circle, we could understand that Mars would represent kundalini latent or unexpressed, for the cross of matter would be, as it were, ‘holding down’ the circle of spirit.
364. Nếu biểu tượng của Sao Hỏa là thập giá ở trên hình tròn, chúng ta có thể hiểu rằng Sao Hỏa sẽ đại diện cho kundalini tiềm ẩn hay chưa biểu lộ, vì thập giá của vật chất sẽ, như thể, “đè giữ” hình tròn của tinh thần.
365. Mars would also be related to that part of kundalini which is represented by “latent fire”.
365. Sao Hỏa cũng sẽ liên hệ với phần kundalini được biểu thị bằng “lửa tiềm ẩn”.
366. The symbol for Earth is the cross within the circle, and this would represent a less suppressed state of the kundalini.
366. Biểu tượng của Trái Đất là thập giá bên trong hình tròn, và điều này sẽ biểu thị một trạng thái ít bị đè nén hơn của kundalini.
367. In the symbol for Mercury we have the circle of Spirit surmounting the cross and the crescent of conscious receptivity surmounting the circle. In this case the kundalini is liberated and ‘climbing’ intelligently. Mercury, at a point in human evolution beyond the third degree, represents the ajna center from which the rising of kundalini is intelligently directed. As well, the kundalini is said to ‘climb’ in figure-eights. The figure eight is closely associated with Mercury. Hence the aptness, on at least two counts, of Mercury’s association with “kundalini in intelligent activity”.
367. Trong biểu tượng của Sao Thủy, chúng ta có hình tròn của Tinh thần ở trên thập giá và hình lưỡi liềm của sự tiếp nhận có ý thức ở trên hình tròn. Trong trường hợp này kundalini được giải phóng và đang “leo lên” một cách thông minh. Sao Thủy, tại một điểm trong tiến hoá nhân loại vượt quá lần điểm đạo thứ ba, đại diện cho trung tâm ajna từ đó sự trỗi dậy của kundalini được điều hướng một cách thông minh. Hơn nữa, kundalini được nói là “leo” theo hình số tám. Số tám gắn bó chặt chẽ với Sao Thủy. Do đó, sự thích đáng, ít nhất trên hai phương diện, của mối liên hệ giữa Sao Thủy với “kundalini trong hoạt động thông minh”.
368. The other (and more common) glyph for Mars—the circle of Spirit surmounted by an arrow tilted at approximately forty-five degrees may also suggest the fact that kundalini will rise when the time is right.
368. Biểu tượng kia (và thông dụng hơn) của Sao Hỏa—hình tròn của Tinh thần với một mũi tên nghiêng khoảng bốn mươi lăm độ ở phía trên—cũng có thể gợi ý sự kiện rằng kundalini sẽ trỗi dậy khi thời điểm thích hợp.
369. The forty-five degree angle is also the octile (the result of dividing the circle of 360 degrees by eight. Again the eight appears (as in the case of Mercury), not to mention that Mars is the ruler of the eighth sign, Scorpio.
369. Góc bốn mươi lăm độ cũng là octile (kết quả của việc chia hình tròn 360 độ cho tám. Một lần nữa số tám lại xuất hiện (như trong trường hợp của Sao Thủy), chưa kể rằng Sao Hỏa là chủ tinh của dấu hiệu thứ tám, Hổ Cáp.
370. Another important interpretation of the latency of Mars and the activity of Mercury relates to the latent and active fires of the physical plane.
370. Một cách giải thích quan trọng khác về tính tiềm ẩn của Sao Hỏa và hoạt động của Sao Thủy liên hệ đến các lửa tiềm ẩn và hoạt động của cõi hồng trần.
371. Mars, the planet of heat, is easily associated with the fires of dense physical matter, the fires of the internal furnaces (though Vulcan would also be an important representative of such fires).
371. Sao Hỏa, hành tinh của nhiệt, dễ được liên kết với các lửa của vật chất hồng trần đậm đặc, các lửa của những lò nung nội tại (dù Vulcan cũng sẽ là một đại diện quan trọng của những lửa như thế).
372. Mercury, a planet closely associated with the etheric body (associated in part with the sign Gemini, which Mercury rules, and with the second decanate of Aquarius which Mercury rules—Aquarius being a sign also associated with the etheric body) and with the third ray of active intelligence, is easily understood as the representative of “active fire” (the fires associated with prana and the etheric body).
372. Sao Thủy, một hành tinh gắn bó chặt chẽ với thể dĩ thái (gắn một phần với dấu hiệu Song Tử, do Sao Thủy cai quản, và với thập độ thứ hai của Bảo Bình mà Sao Thủy cai quản—Bảo Bình cũng là một dấu hiệu gắn với thể dĩ thái) và với cung ba của trí tuệ hoạt động, dễ được hiểu là đại diện của “lửa hoạt động” (những lửa gắn với prana và thể dĩ thái).
373. From this perspective the two aspects of fire by friction (so much discussed in the foregoing pages) are well understood as represented by Mars and Mercury. The Earth (represented by a symbol which holds a kind of middle place between the symbols for Mars and Mercury) would represent a condition of equilibrised kundalinic energy, midway between latency and intelligent activity. (In fact Earth holds a true midway point between Mars and Venus (Mercury without a crescent Moon atop the circle of spirit).
373. Từ góc nhìn này, hai phương diện của Lửa ma sát (được bàn đến rất nhiều trong các trang trước) được hiểu rõ là được đại diện bởi Sao Hỏa và Sao Thủy. Trái Đất (được biểu thị bằng một biểu tượng giữ một vị trí trung gian nào đó giữa các biểu tượng của Sao Hỏa và Sao Thủy) sẽ đại diện cho một trạng thái năng lượng kundalini được quân bình, ở giữa tính tiềm ẩn và hoạt động thông minh. (Thật ra Trái Đất giữ một Điểm ở giữa đích thực giữa Sao Hỏa và Sao Kim (Sao Thủy không có lưỡi liềm Mặt Trăng trên đỉnh hình tròn của tinh thần).
374. We should remember that the Earth is often associated with that which is “of the Earth earthy”, but also with the etheric nature. As well, in the series of triangles recently discussed in relation to the developmental stages of man, the base of the spine center is given as associated with the etheric plane. The symbol for the basal center and the Earth are identical—the cross surrounded by the circle. (cf. EA 78, 25 and TCF 165 and following)
374. Chúng ta nên nhớ rằng Trái Đất thường gắn với điều gì đó “thuộc về đất, tính đất”, nhưng cũng gắn với bản chất dĩ thái. Hơn nữa, trong chuỗi tam giác vừa được bàn đến liên quan đến các giai đoạn phát triển của con người, trung tâm đáy cột sống được cho là gắn với cõi dĩ thái. Biểu tượng của trung tâm đáy và của Trái Đất là giống hệt nhau—thập giá được bao quanh bởi hình tròn. (xem EA 78, 25 và TCF 165 trở đi)
In transmutation and planetary geometrising, the secret may be revealed.
Trong sự chuyển hoá và sự hình học hóa hành tinh, bí mật có thể được mặc khải.
375. We have here a most occult hint. The implication is that the energy configurations representative of Mars are transmuted into those representative of Earth. The transmutation continues until the energy configurations representative of Earth are transmuted into those representative of Mercury.
375. Ở đây chúng ta có một gợi ý cực kỳ huyền bí. Hàm ý là các cấu hình năng lượng đại diện cho Sao Hỏa được chuyển hoá thành các cấu hình đại diện cho Trái Đất. Sự chuyển hoá tiếp tục cho đến khi các cấu hình năng lượng đại diện cho Trái Đất được chuyển hoá thành các cấu hình đại diện cho Sao Thủy.
376. When we read of “planetary geometrizing” we immediately think of the geometrical configurations representative of the various planets (as found in TCF, Charts VI and VIII, 373, 385). There are a number of geometrical hints given in the various representations of the planets. The diagrams for Mars, Earth and Mercury (whether as planetary schemes or planetary chains) are relative explicit and will admit of comparative interpretation—some fine day on which intuitive heroism prevails.
376. Khi chúng ta đọc về “sự hình học hóa hành tinh”, chúng ta lập tức nghĩ đến các cấu hình hình học đại diện cho các hành tinh khác nhau (như được tìm thấy trong TCF, Biểu đồ VI và VIII, 373, 385). Có một số gợi ý hình học được đưa ra trong các cách biểu hiện khác nhau của các hành tinh. Các sơ đồ cho Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy (dù là như các hệ hành tinh hay các dãy hành tinh) tương đối minh bạch và sẽ cho phép sự giải thích so sánh—vào một ngày đẹp trời nào đó khi chủ nghĩa anh hùng trực giác thắng thế.
377. Somehow, the geometries given may be associated with the stages of transmutation characteristic of the influence of each of these planets. Transmutation is most advanced in relation to Mercury (an alchemical planet) and least advanced in relation to Mars. The Earth holds a middle position.
377. Bằng cách nào đó, các hình học được nêu ra có thể gắn với các giai đoạn chuyển hoá đặc trưng cho ảnh hưởng của mỗi hành tinh này. Sự chuyển hoá tiến bộ nhất liên quan đến Sao Thủy (một hành tinh luyện kim) và kém tiến bộ nhất liên quan đến Sao Hỏa. Trái Đất giữ vị trí trung gian.
b. The Grand Man of the Heavens. The seven Heavenly Men are the seven centres in the body of the Logos, bearing to Him a relationship identical with that borne by the Masters and Their affiliated groups, to some planetary Logos.
b. Đại Nhân của Thiên Giới. Bảy Đấng Thiên Nhân là bảy trung tâm trong thân thể của Thượng đế, mang đối với Ngài một mối liên hệ giống hệt như mối liên hệ mà các Chân sư và các nhóm liên kết với Các Ngài mang đối với một Hành Tinh Thượng Đế nào đó.
378. We are lifting the consideration to the macrocosmic level.
378. Chúng ta đang nâng sự xem xét lên cấp độ đại thiên địa.
379. By “the seven Heavenly Men”, are meant principally the Heavenly Men of the seven sacred planets, but, of course, there are more than seven Heavenly Men.
379. Bởi “bảy Đấng Thiên Nhân”, chủ yếu muốn nói đến các Đấng Thiên Nhân của bảy hành tinh thiêng liêng, nhưng dĩ nhiên có nhiều hơn bảy Đấng Thiên Nhân.
380. The “Masters” here referenced are (at first glance) the Masters to be found working within the ring-pass-not of our Planetary Logos. The hint, however, is interesting for we do not read of our Planetary Logos but of “some” Planetary Logos.
380. Các “Chân sư” được dẫn chiếu ở đây là (thoạt nhìn) các Chân sư được thấy đang hoạt động bên trong vòng-giới-hạn của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Tuy nhiên, gợi ý này thật thú vị vì chúng ta không đọc thấy Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta mà là của “một” Hành Tinh Thượng Đế nào đó.
381. We may presume that not only do the Masters working upon and within our planet have a relation to the Planetary Logos of the Earth-scheme, but, perhaps, to a higher Planetary Logos, related to and yet superior to our Planetary Logos. Candidates for such a superior Planetary Logos would be, for instance, Venus and Saturn, as the Logoi of both of these schemes are closely related to the Planetary Logos of the Earth-scheme.
381. Chúng ta có thể giả định rằng không chỉ các Chân sư hoạt động trên và trong hành tinh của chúng ta có liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế của hệ Địa Cầu, mà có lẽ còn với một Hành Tinh Thượng Đế cao hơn, có liên hệ với và đồng thời cao hơn Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Những ứng viên cho một Hành Tinh Thượng Đế cao hơn như vậy có thể là, chẳng hạn, Sao Kim và Sao Thổ, vì các Thượng đế của cả hai hệ này đều gắn bó chặt chẽ với Hành Tinh Thượng Đế của hệ Địa Cầu.
382. From another perspective, DK may be hinting that on every planet there are Masters to be found and that these Masters and Their affiliated groups are to be related to that particular Planetary Logos in whose body of manifestation these Masters are functioning.
382. Từ một góc nhìn khác, Chân sư DK có thể đang gợi ý rằng trên mỗi hành tinh đều có thể tìm thấy các Chân sư và rằng các Chân sư này cùng các nhóm liên kết với Các Ngài phải được liên hệ với chính Hành Tinh Thượng Đế đặc thù mà trong thể biểu hiện của Ngài các Chân sư ấy đang hoạt động.
Systemic kundalini goes forward to the vivification of these centres, and at this stage of development certain centres are more closely allied than others.
Kundalini hệ thống tiến tới sự tiếp sinh lực cho các trung tâm này, và ở giai đoạn phát triển này một số trung tâm liên kết mật thiết với nhau hơn những trung tâm khác.
383. The progress of kundalini within a solar system is analogous to that within man, the microcosm. The centers or chakras are vivified in a particular order according to their relative degree of elevation within the solar system, and according to the monadic ray of the particular Solar Logos in question.
383. Sự tiến triển của kundalini trong một hệ mặt trời tương đồng với sự tiến triển của nó trong con người, tiểu thiên địa. Các trung tâm hay chakra được tiếp sinh lực theo một trật tự đặc thù tùy theo mức độ nâng cao tương đối của chúng trong hệ mặt trời, và tùy theo cung chân thần của Thái dương Thượng đế đặc thù đang được xét.
384. It is important for us to fathom the alliances between various of the planets in our solar system. This will be revealed by a close study of the Science of Triangles, systemically considered.
384. Điều quan trọng đối với chúng ta là phải thấu hiểu các liên minh giữa nhiều hành tinh khác nhau trong hệ mặt trời của chúng ta. Điều này sẽ được mặc khải nhờ sự nghiên cứu kỹ lưỡng Khoa Học về các Tam Giác, được xét một cách hệ thống.
Just as in connection with our planetary Logos, the three etheric planets of our chain—Earth, Mercury and Mars77—form a triangle of rare importance,
Cũng như liên quan đến Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, ba hành tinh dĩ thái của dãy chúng ta—Trái Đất, Sao Thủy và Sao Hỏa77—tạo thành một tam giác hiếm có tầm quan trọng,
385. The Tibetan is now (apparently) speaking of the fourth planetary chain of our Earth scheme, the Earth-chain.
385. Giờ đây Chân sư Tây Tạng đang (dường như) nói về dãy hành tinh thứ tư của hệ Địa Cầu chúng ta, Dãy Địa Cầu.
386. Within that chain, three planets or globes are referred to as “etheric planets”.
386. Trong dãy đó, ba hành tinh hay bầu hành tinh được gọi là “các hành tinh dĩ thái”.
387. To call Earth, Mars and Mercury the “three etheric planets of our chain” is, in some ways, a peculiar statement, as the Earth-globe is the one globe in our Earth-chain which actually has a physical globe. In what way, then, is the Earth-globe to be considered “etheric”?
387. Gọi Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Thủy là “ba hành tinh dĩ thái của dãy chúng ta” theo một số phương diện là một phát biểu kỳ lạ, vì bầu hành tinh Trái Đất là bầu hành tinh duy nhất trong Dãy Địa Cầu của chúng ta thực sự có một bầu hành tinh hồng trần. Vậy thì theo cách nào bầu hành tinh Trái Đất được xem là “dĩ thái”?
388. The Mars and Mercury globes, however, are said to have for their densest sphere an etheric sphere. They have no dense physical body.
388. Tuy nhiên, các bầu hành tinh Sao Hỏa và Sao Thủy được nói là có khối cầu đậm đặc nhất của chúng là một khối cầu dĩ thái. Chúng không có thể hồng trần đậm đặc.
389. Perhaps we can interpret the fact that the Earth is named as an etheric planet by realizing that the etheric body of any planet is its true physical body. The dense physical body is not considered a principle.
389. Có lẽ chúng ta có thể diễn giải sự kiện Trái Đất được gọi là một hành tinh dĩ thái bằng cách nhận ra rằng thể dĩ thái của bất kỳ hành tinh nào chính là thể hồng trần đích thực của nó. Thể hồng trần đậm đặc không được xem là một nguyên khí.
390. There are also chains in our planetary scheme which are called the Earth-chain, Mercury-chain and Mars-chain.
390. Trong hệ hành tinh của chúng ta cũng có các Dãy được gọi là Dãy Địa Cầu, Dãy Sao Thủy và Dãy Sao Hỏa.
391. The Earth-chain is the fourth; the Mercury-chain the fifth and the Mars-chain the sixth (cf. TCF 385). In some Theosophical charts, the Mars-globe of the Earth-chain is considered the third and the Mercury-globe the fifth (as indicated above) but this order, apparently, does not extend to the chain level.
391. Dãy Địa Cầu là dãy thứ tư; Dãy Sao Thủy là dãy thứ năm và Dãy Sao Hỏa là dãy thứ sáu (x. TCF 385). Trong một số biểu đồ Thông Thiên Học, bầu hành tinh Sao Hỏa của Dãy Địa Cầu được xem là thứ ba và bầu hành tinh Sao Thủy là thứ năm (như đã chỉ ra ở trên), nhưng trật tự này, dường như, không mở rộng đến cấp độ dãy.
392. We also remember that Earth and the base of the spine are related to the etheric body.
392. Chúng ta cũng nhớ rằng Trái Đất và đáy cột sống có liên hệ với thể dĩ thái.
393. These three planets are of great importance within the solar system because of their direct relation to the kundalini force.
393. Ba hành tinh này có tầm quan trọng lớn trong hệ mặt trời vì mối liên hệ trực tiếp của chúng với mãnh lực kundalini.
so it may be here said that at the present point in evolution of the logoic centres,
vì vậy ở đây có thể nói rằng tại điểm tiến hoá hiện nay của các trung tâm logoic,
394. For, indeed, logoic centers or chakras evolve or unfold just as do the centers or chakras of the human microcosm.
394. Vì quả thật, các trung tâm hay luân xa logoic tiến hoá hay khai mở đúng như các trung tâm hay luân xa của tiểu thiên địa con người tiến hoá hay khai mở vậy.
Venus, Earth and Saturn form one triangle of great interest. It is a triangle that is at this time undergoing vivification [Page 182] through the action of kundalini; it is consequently increasing the vibratory capacity of the centres, which are becoming slowly fourth-dimensional.
Sao Kim, Trái Đất và Sao Thổ tạo thành một tam giác rất đáng quan tâm. Đó là một tam giác hiện đang được tiếp sinh lực [Page 182] nhờ tác động của kundalini; do đó nó đang làm tăng khả năng rung động của các trung tâm, những trung tâm đang chậm rãi trở nên có tính bốn chiều.
395. While, as a triangle, Venus, Earth and Saturn may not represented solar systemic kundalini, the three are undergoing vivification by that kundalini.
395. Trong khi, với tư cách một tam giác, Sao Kim, Trái Đất và Sao Thổ có thể không biểu trưng cho kundalini của toàn hệ mặt trời, cả ba vẫn đang được tiếp sinh lực bởi kundalini ấy.
396. Microcosmically (i.e., in relation to man), Venus represents the ajna center, Earth the throat (or spleen, or, perhaps, base of the spine) and Saturn the throat.
396. Xét theo tiểu thiên địa (tức là, liên hệ với con người), Sao Kim tượng trưng cho trung tâm ajna, Trái Đất tượng trưng cho cổ họng (hoặc lá lách, hoặc có lẽ là đáy cột sống) và Sao Thổ tượng trưng cho cổ họng.
397. From a solar systemic perspective, Saturn could easily represent the throat, Earth the base of the spine and Venus, the heart. It is ambiguous whether Venus is to be taken as the heart chakra within the chakric expression of the Solar Logos.
397. Xét từ quan điểm toàn hệ mặt trời, Sao Thổ có thể dễ dàng tượng trưng cho cổ họng, Trái Đất cho đáy cột sống và Sao Kim cho tim. Vẫn còn mơ hồ liệu Sao Kim có nên được hiểu là luân xa tim trong biểu hiện luân xa của Thái dương Thượng đế hay không.
“First. Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence.
“Thứ nhất. Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể logoic, và vì thế có mối liên hệ qua lại với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời nơi phương diện tim là phương diện nổi trội hơn cả.
Second. Saturn corresponds to the throat centre, or to the creative activity of the third aspect. (TCF 182)
Thứ hai. Sao Thổ tương ứng với trung tâm cổ họng, hay với hoạt động sáng tạo của phương diện thứ ba. (TCF 182)
398. There are other possibilities for Venus; it may very well have more to do with the solar logoic solar plexus that with the heart center, as it is the “home” of the Planetary Logos of the sixth ray.
398. Còn có những khả năng khác đối với Sao Kim; rất có thể nó liên quan nhiều hơn đến tùng thái dương của Thái dương Thượng đế là đến trung tâm tim, vì nó là “nơi cư ngụ” của Đức Hành Tinh Thượng Đế cung sáu.
399. We have been reading about the meaning of fourth-dimensional rotation in relation to any chakra.
399. Chúng ta đã đọc về ý nghĩa của sự quay bốn chiều liên hệ với bất kỳ luân xa nào.
400. Is DK telling us that Venus, Saturn and Earth as chakras within the Solar Logos are each and all becoming fourth dimensional at this time? This possibility could well be understood of Venus and even of the Earth (as it is, developmentally, passing through a kind of fourth initiation—at least with respect to its fourth chain), but Saturn, though an advanced Logos, has only progressed to the fourth globe of its third chain, and is, thus, not very far unfolded (cf. EA 693) and so the fourth dimensional rotation of Saturn considered as a solar systemic chakra would be unlikely.
400. Phải chăng Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng Sao Kim, Sao Thổ và Trái Đất, với tư cách các luân xa trong Thái dương Thượng đế, vào lúc này mỗi hành tinh và cả ba đều đang trở nên bốn chiều? Khả năng này có thể được hiểu khá rõ đối với Sao Kim và ngay cả đối với Trái Đất (vì về mặt phát triển, nó đang trải qua một loại lần điểm đạo thứ tư—ít nhất là xét theo dãy thứ tư của nó), nhưng Sao Thổ, dù là một Thượng đế tiến bộ, mới chỉ tiến đến bầu hành tinh thứ tư của dãy thứ ba của nó, và vì thế chưa khai mở được bao xa (x. EA 693), nên việc xem sự quay bốn chiều của Sao Thổ như một luân xa của toàn hệ mặt trời là điều khó có thể xảy ra.
401. In comparing these two triangles, we note that they have Earth in common. Thus Mercury and Mars are to be compared with Venus and Saturn. Mercury has a relation to both Venus and Saturn, and Mars does also (being part of a natural planetary pair with Venus, and belonging with Saturn to the expression of a great third ray Entity). Mercury with Venus is part of the hermaphroditic mind and Mercury and Saturn are both highly mental planets.
401. Khi so sánh hai tam giác này, chúng ta lưu ý rằng chúng có chung Trái Đất. Vì vậy Sao Thủy và Sao Hỏa phải được so sánh với Sao Kim và Sao Thổ. Sao Thủy có liên hệ với cả Sao Kim lẫn Sao Thổ, và Sao Hỏa cũng vậy (vì là một phần của một cặp hành tinh tự nhiên với Sao Kim, và cùng với Sao Thổ thuộc về biểu hiện của một Thực Thể cung ba vĩ đại). Sao Thủy cùng với Sao Kim là một phần của trí tuệ lưỡng tính, và Sao Thủy cùng Sao Thổ đều là những hành tinh rất trí tuệ.
77:The chains of any planetary scheme are frequently called by the names of the seven sacred planets, making the study of the Law of Correspondences easier;
77:Các dãy của bất kỳ hệ hành tinh nào thường được gọi bằng tên của bảy hành tinh thiêng liêng, khiến việc nghiên cứu định luật tương ứng trở nên dễ dàng hơn;
402. There is some ease to be gained by this method of naming, but also some confusion, against which the Tibetan warns us later.
402. Phương pháp đặt tên này đem lại một mức độ dễ dàng nào đó, nhưng cũng gây ra một số nhầm lẫn, điều mà Chân sư Tây Tạng cảnh báo chúng ta về sau.
403. It is clear that smaller structures such as globes are related to larger structures such as chains and schemes, and that chains (considered as smaller structures) correspond to schemes considered as greater structures.
403. Rõ ràng là những cấu trúc nhỏ hơn như các bầu hành tinh có liên hệ với những cấu trúc lớn hơn như các dãy và các hệ hành tinh, và các dãy (được xem là những cấu trúc nhỏ hơn) tương ứng với các hệ hành tinh được xem là những cấu trúc lớn hơn.
similarly, the globes of any chain are called by planetary names, as is the case here. There are planetary schemes called Mars and Mercury.
Tương tự, các bầu hành tinh của bất kỳ dãy nào cũng được gọi bằng tên hành tinh, như trường hợp ở đây. Có những hệ hành tinh được gọi là Sao Hỏa và Sao Thủy.
404. Our task, and it will be a big one, will be to correlate the relationships between the globes, chains and schemes which are called by the same planetary name.
404. Nhiệm vụ của chúng ta, và đó sẽ là một nhiệm vụ lớn, là phải liên hệ các mối quan hệ giữa những bầu hành tinh, dãy và hệ hành tinh được gọi bằng cùng một tên hành tinh.
It is not yet permissible to point out others of the great triangles, but as regards the centres, we may here give two hints:
Hiện chưa được phép chỉ ra những tam giác lớn khác, nhưng liên quan đến các trung tâm, ở đây chúng ta có thể đưa ra hai gợi ý:
405. Other great triangles can be intuited. For example: Venus, Jupiter. Neptune: or Saturn, Neptune, Uranus; or Earth, Mars, Pluto.
405. Những tam giác lớn khác có thể được trực giác nhận ra. Thí dụ: Sao Kim, Sao Mộc, Sao Hải Vương; hoặc Sao Thổ, Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương; hoặc Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương.
406. The book Esoteric Astrology written later than TCF reveals the existence and nature of quite a number of such triangles.
406. Cuốn Chiêm Tinh Học Nội Môn được viết sau TCF đã tiết lộ sự hiện hữu và bản chất của khá nhiều tam giác như thế.
407. If logic is used we will understand that if any two chakras are taken as a pair, that pair will necessarily be related to every other chakra within the chakra system considered. Thus, within any system of a given number of chakras, every possible triangle must be identified and evaluated for its significance.
407. Nếu dùng logic, chúng ta sẽ hiểu rằng nếu bất kỳ hai luân xa nào được lấy làm một cặp, thì cặp ấy tất yếu sẽ có liên hệ với mọi luân xa khác trong hệ thống luân xa đang được xét. Vì vậy, trong bất kỳ hệ thống nào có một số lượng luân xa nhất định, mọi tam giác khả hữu đều phải được nhận diện và đánh giá về thâm nghĩa của chúng.
First. Venus corresponds to the heart centre in the body logoic, and has an inter-relationship therefore with all the other centres in the solar system wherein the heart aspect is the one of greater prominence.
Thứ nhất. Sao Kim tương ứng với trung tâm tim trong thể logoic, và vì thế có mối liên hệ qua lại với tất cả các trung tâm khác trong hệ mặt trời nơi phương diện tim là phương diện nổi trội hơn cả.
408. There may be a blind concealed here. It seems a very straightforward statement, but what of Jupiter which in the human microcosmic system is related to the heart, whereas Venus is related to the ajna center?
408. Có thể ở đây có một màn che được giấu kín. Câu này dường như rất trực tiếp, nhưng còn Sao Mộc thì sao, hành tinh trong hệ tiểu thiên địa con người có liên hệ với tim, trong khi Sao Kim lại liên hệ với trung tâm ajna?
409. Also, Venus has place within the esoteric quaternary of the Solar Logos. The quaternary is the personality nature, and the chakras ruling any personality nature are always sub-diaphragmatic.
409. Ngoài ra, Sao Kim có vị trí trong bộ tứ huyền bí của Thái dương Thượng đế. Bộ tứ này là bản chất phàm ngã, và các luân xa chi phối bất kỳ bản chất phàm ngã nào cũng luôn ở dưới cơ hoành.
410. It is to be considered whether Venus is to be understood as the ‘heart’ center within the lower chakras of the Solar Logos, among which Mars, Earth and Pluto would be numbered. There is much to associate Venus with the solar plexus center of the Logos, Mars with the sacral, Earth with the splenic center and Pluto with the base of the spine. Venus, then, would be the redeemer of these three planets, and placed in the highest of the sub-diaphragmatic positions relative to them—the position of the solar plexus.
410. Cần xem xét liệu Sao Kim có nên được hiểu là trung tâm “tim” trong các luân xa thấp của Thái dương Thượng đế hay không, trong số đó Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Diêm Vương sẽ được kể vào. Có nhiều điều gắn Sao Kim với trung tâm tùng thái dương của Thượng đế, Sao Hỏa với xương cùng, Trái Đất với trung tâm lá lách và Sao Diêm Vương với đáy cột sống. Khi đó, Sao Kim sẽ là đấng cứu chuộc của ba hành tinh này, và được đặt ở vị trí cao nhất trong các vị trí dưới cơ hoành tương đối với chúng—vị trí của tùng thái dương.
411. Venus almost certainly has a sixth ray Monad:
411. Sao Kim gần như chắc chắn có chân thần cung sáu:
“In the sixth Scheme, that of Venus, this can be seen clearly; it is the scheme of love. Viewed from one angle, the Venusian Scheme is the second, and from another it is the sixth. It depends upon whether we reason from the circumference to the centre or the reverse.
“Trong hệ hành tinh thứ sáu, tức hệ Sao Kim, điều này có thể thấy rõ; đó là hệ của tình thương. Xét từ một góc độ, Hệ Sao Kim là hệ thứ hai, và từ một góc độ khác nó là hệ thứ sáu. Điều đó tùy thuộc vào việc chúng ta suy luận từ chu vi vào trung tâm hay theo chiều ngược lại.
It is the home of the planetary Logos of the sixth Ray. This may sound like a contradiction, but it is not so really; we must remember the interlocking, the gradual shifting and changing, that takes place in time on all [Page 596] the Rays. In the same way the Earth chain is the third if viewed from one aspect and the fifth viewed from another.” (TCF 595-596)
Đó là nơi cư ngụ của Đức Hành Tinh Thượng Đế Cung sáu. Điều này có thể nghe như một mâu thuẫn, nhưng thật ra không phải vậy; chúng ta phải nhớ đến sự đan xen, sự chuyển dịch và thay đổi dần dần diễn ra theo thời gian trên mọi [Page 596] cung. Cũng theo cách ấy, Dãy Địa Cầu là dãy thứ ba nếu nhìn từ một phương diện và là dãy thứ năm nếu nhìn từ một phương diện khác.” (TCF 595-596)
The word “home” relates to the Monad, for Uranus (a planet with a first ray Monad—cf. EP I 420)) is called the “home of ‘fire electric’” (TCF 1154)
Từ “nơi cư ngụ” liên hệ đến chân thần, vì Sao Thiên Vương (một hành tinh có chân thần cung một—x. EP I 420)) được gọi là “nơi cư ngụ của ‘lửa điện’” (TCF 1154)
412. Thus, Venus will certainly be associated in some way with solar plexus function.
412. Vì vậy, chắc chắn Sao Kim sẽ được liên kết theo một cách nào đó với chức năng của tùng thái dương.
413. We live in an astral-buddhic solar system (TCF 176), and have not yet taken our fourth interim initiation nor cosmic third initiation (cf. TCF 384) Thus, systemically, our heart center cannot be fully developed. Yet Venus, in terms of its unfoldment, is the most developed planet and has already entered the processes of obscuration. This would fit if Venus represented the solar plexus, but not if Venus truly represented the heart center, which will only fully unfold just before the fourth cosmic initiation.
413. Chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề (TCF 176), và chưa trải qua lần điểm đạo tạm thời thứ tư cũng như lần điểm đạo vũ trụ thứ ba của mình (x. TCF 384). Vì vậy, xét theo hệ thống, trung tâm tim của chúng ta không thể phát triển trọn vẹn. Tuy nhiên, xét về sự khai mở của nó, Sao Kim là hành tinh phát triển nhất và đã bước vào các tiến trình che mờ. Điều này sẽ phù hợp nếu Sao Kim tượng trưng cho tùng thái dương, nhưng không phù hợp nếu Sao Kim thật sự tượng trưng cho trung tâm tim, vốn chỉ khai mở hoàn toàn ngay trước lần điểm đạo vũ trụ thứ tư.
414. The heart center should not be considered related to the logoic quaternary. It is more the organ of soul and of buddhi.
414. Không nên xem trung tâm tim là có liên hệ với bộ tứ logoic. Nó đúng hơn là cơ quan của linh hồn và của Bồ đề.
415. DK uses the word “corresponds” when He speaks of Venus’ relation to the heart center. We have to ask, “In what context does this correspondence apply?” Is the context the entirety of the solar system, or is the context that part of the solar system which can be considered sub-diaphragmatic and part of the solar logoic quaternary?
415. Chân sư DK dùng từ “tương ứng” khi Ngài nói về mối liên hệ của Sao Kim với trung tâm tim. Chúng ta phải hỏi, “Trong bối cảnh nào sự tương ứng này được áp dụng?” Bối cảnh ấy là toàn thể hệ mặt trời, hay là phần của hệ mặt trời có thể được xem là ở dưới cơ hoành và là một phần của bộ tứ logoic của Thái dương Thượng đế?
Second. Saturn corresponds to the throat centre, or to the creative activity of the third aspect.
Thứ hai. Sao Thổ tương ứng với trung tâm cổ họng, hay với hoạt động sáng tạo của phương diện thứ ba.
416. With this correspondence there seems to be no difficulty. Saturn is a deeply third ray planet, perhaps in both its soul and monadic nature, and the throat center is a center intimately associated with the third ray.
416. Với sự tương ứng này dường như không có khó khăn gì. Sao Thổ là một hành tinh cung ba sâu sắc, có lẽ trong cả bản chất linh hồn lẫn chân thần của nó, và trung tâm cổ họng là một trung tâm gắn bó mật thiết với cung ba.
417. If we for a moment credit Venus as pertaining to the solar logoic heart, then the throat, heart and base of the spine (from one angle) would be the systemic triangle being activated by systemic kundalini. This activation would correspond to man at the mental stage of development.
417. Nếu trong chốc lát chúng ta chấp nhận Sao Kim là thuộc về tim của Thái dương Thượng đế, thì cổ họng, tim và đáy cột sống (xét từ một góc độ) sẽ là tam giác hệ thống đang được kundalini của hệ thống kích hoạt. Sự kích hoạt này sẽ tương ứng với con người ở giai đoạn phát triển trí tuệ.
“3. Man controlled from the mental plane.
“3. Con người được kiểm soát từ cõi trí.
a. The base of the spine.
a. Đáy cột sống.
b. The heart.
b. Tim.
c. The throat. (TCF 169)
c. Cổ họng. (TCF 169)
418. Yet, our Solar Logos, in one respect, is not entirely controlled from the mental plane, still having much to do to master His emotions (as the battle is being fought out on the fourth subplane of the cosmic astral plane, we are told).
418. Tuy nhiên, Thái dương Thượng đế của chúng ta, trên một phương diện, chưa hoàn toàn được kiểm soát từ cõi trí, vẫn còn nhiều việc phải làm để làm chủ cảm xúc của Ngài (vì chúng ta được cho biết rằng trận chiến đang diễn ra trên cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục vũ trụ).
419. From another perspective, our Logos is a cosmic initiate of the second degree in process of moving towards the third cosmic initiation (cf. TCF 384)
419. Từ một góc nhìn khác, Thượng đế của chúng ta là một điểm đạo đồ vũ trụ cấp hai đang trong tiến trình tiến tới lần điểm đạo vũ trụ thứ ba (x. TCF 384)
420. When we are told that the Solar Logos, like our Planetary Logos, is “midway through His career upon the cosmic Path of Initiation” what exactly does this mean? Is the midway point between the second and third cosmic initiation the midway point? Midway between the first and fifth cosmic initiations? It seems reasonable, if only the major five initiations are being considered. The Solar Logos, we are told, may take His fifth cosmic initiation in the present solar system.
420. Khi chúng ta được bảo rằng Thái dương Thượng đế, cũng như Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, đang “ở giữa chặng đường sự nghiệp của Ngài trên Con Đường Điểm Đạo vũ trụ”, điều này chính xác có nghĩa là gì? Điểm ở giữa có phải là điểm nằm giữa lần điểm đạo vũ trụ thứ hai và thứ ba không? Hay là giữa lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất và thứ năm? Điều đó có vẻ hợp lý, nếu chỉ xét năm lần điểm đạo chính. Chúng ta được cho biết rằng Thái dương Thượng đế có thể sẽ nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ năm trong hệ mặt trời hiện tại.
As evolution proceeds, the other centres attain a more pronounced vibration and the fire (circulating triangularly) will bring them into greater prominence; the two above mentioned, however, are of prime importance at this time.
Khi tiến hoá tiếp diễn, các trung tâm khác đạt đến một rung động rõ rệt hơn và lửa (lưu chuyển theo hình tam giác) sẽ đưa chúng vào vị thế nổi bật hơn; tuy nhiên, hai trung tâm vừa nêu trên lại có tầm quan trọng hàng đầu vào lúc này.
421. Of course, we will have to ask why this should be the case.
421. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ phải hỏi vì sao lại như vậy.
422. Mars, Earth and Mercury could be important because of the upward rising of both latent and active fires (by friction) within our system.
422. Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy có thể quan trọng vì sự dâng lên hướng thượng của cả các lửa tiềm tàng lẫn các lửa đang hoạt động (do ma sát) trong hệ thống của chúng ta.
423. Venus, Saturn and the Earth may related to the fusing of the third and second aspects of divinity, for Saturn and Earth are much associated with the third ray and Venus with the soft line energy—especially rays two and six.
423. Sao Kim, Sao Thổ và Trái Đất có thể liên hệ với sự dung hợp của phương diện thứ ba và thứ hai của thiên tính, vì Sao Thổ và Trái Đất gắn nhiều với cung ba còn Sao Kim gắn với năng lượng thuộc tuyến mềm—đặc biệt là cung hai và cung sáu.
424. When we think of Venus, Saturn and the Earth, is it not illuminating to consider Venus, Saturn and Jupiter—the homes (presently) for the three super principles? We can see from the following, why considering Venus, Saturn and Jupiter is not far fetched in this context:
424. Khi chúng ta nghĩ đến Sao Kim, Sao Thổ và Trái Đất, chẳng phải sẽ soi sáng hơn nếu xét Sao Kim, Sao Thổ và Sao Mộc—những nơi cư ngụ (hiện nay) của ba siêu nguyên khí—hay sao? Từ đoạn sau, chúng ta có thể thấy vì sao việc xét Sao Kim, Sao Thổ và Sao Mộc không phải là gượng ép trong bối cảnh này:
“We might consider—from the standpoint of the present—that Venus, Jupiter and Saturn might be considered as the vehicles of the three super-principles at this time. Mercury, the Earth and Mars are closely allied to these three, but a hidden mystery lies here. (TCF 299)
“Chúng ta có thể xem xét—từ quan điểm hiện tại—rằng Sao Kim, Sao Mộc và Sao Thổ có thể được xem là các vận cụ của ba siêu nguyên khí vào lúc này. Sao Thủy, Trái Đất và Sao Hỏa có liên hệ mật thiết với ba hành tinh này, nhưng ở đây có một huyền nhiệm ẩn giấu. (TCF 299)
425. All the planets we have been considering are here represented, with Jupiter taking the place of Earth in the higher triangle.
425. Tất cả các hành tinh mà chúng ta đang xét đều được trình bày ở đây, với Sao Mộc thay chỗ của Trái Đất trong tam giác cao hơn.
426. In some way the higher triangle may be considered a higher correspondence to the lower. There is no way to know how to arrange the higher three as a number of arrangements are justifiable.
426. Theo một cách nào đó, tam giác cao hơn có thể được xem là một tương ứng cao hơn của tam giác thấp hơn. Không có cách nào biết chắc phải sắp xếp ba hành tinh cao hơn ấy ra sao, vì có nhiều cách sắp xếp đều có thể biện minh được.
a. Jupiter may represent the monadic principle and the first aspect. We realize how much second ray Jupiter is related to the monadic plane, the second plane counting from above.
a. Sao Mộc có thể tượng trưng cho nguyên khí chân thần và phương diện thứ nhất. Chúng ta nhận ra Sao Mộc cung hai liên hệ nhiều thế nào với cõi chân thần, tức cõi thứ hai tính từ trên xuống.
b. Venus may represent consciousness and the second aspect
b. Sao Kim có thể tượng trưng cho tâm thức và phương diện thứ hai
c. Saturn may represent the intelligence aspect, personality—the third aspect (though it could as easily represent the first aspect, though not the second, for which either Jupiter or Venus would have to be chosen)
c. Sao Thổ có thể tượng trưng cho phương diện trí năng, phàm ngã—phương diện thứ ba (dù nó cũng có thể dễ dàng tượng trưng cho phương diện thứ nhất, nhưng không phải phương diện thứ hai, vì khi đó hoặc Sao Mộc hoặc Sao Kim sẽ phải được chọn)
427. Going with this possible arrangement, then:
427. Vậy nếu theo cách sắp xếp khả dĩ này:
a. Mars (representing the lowest aspect of the kundalini) would correspond with Saturn
a. Sao Hỏa (tượng trưng cho phương diện thấp nhất của kundalini) sẽ tương ứng với Sao Thổ
b. Earth (representing the middle condition of kundalini) would correspond with Venus.
b. Trái Đất (tượng trưng cho trạng thái trung gian của kundalini) sẽ tương ứng với Sao Kim.
c. Mercury (representing the highest aspect of kundalini—in intelligent activity) would correspond with Jupiter.
c. Sao Thủy (tượng trưng cho phương diện cao nhất của kundalini—trong hoạt động trí năng) sẽ tương ứng với Sao Mộc.
428. Those who know astrology realize that each of these three correspondences is more than justifiable (though others can be interpreted as valid).
428. Những ai biết chiêm tinh học đều nhận ra rằng mỗi một trong ba sự tương ứng này đều hơn cả mức có thể biện minh được (dù những cách khác cũng có thể được diễn giải là hợp lệ).
a. Mars and Saturn are the two “malefics” and relate to the astral body and mental body of a great third ray Entity.
a. Sao Hỏa và Sao Thổ là hai “hung tinh” và liên hệ với thể cảm dục và thể trí của một Thực Thể cung ba vĩ đại.
b. Earth and Venus are “sisters” and closely intertwined. Venus is perhaps the planet most closely related to the Earth.
b. Trái Đất và Sao Kim là “chị em” và đan quyện chặt chẽ với nhau. Có lẽ Sao Kim là hành tinh liên hệ mật thiết nhất với Trái Đất.
c. Mercury and Jupiter are the two orthodox rulers of the Mutable Cross (exoterically considered).
c. Sao Thủy và Sao Mộc là hai chủ tinh ngoại môn của Thập Giá Biến đổi (xét theo ngoại môn).
429. Another valid assignment would see Saturn as representative of the first aspect, Jupiter or the Second, and Venus of the third. It does not seem reasonable to place Venus in the first position or Saturn in the second.
429. Một cách phân định hợp lệ khác sẽ xem Sao Thổ là đại diện của phương diện thứ nhất, Sao Mộc của phương diện thứ hai, và Sao Kim của phương diện thứ ba. Có vẻ không hợp lý khi đặt Sao Kim vào vị trí thứ nhất hay Sao Thổ vào vị trí thứ hai.
These two, with the lesser triangle of our chain, constitute the focal point of energy viewed from our planetary standpoint.
Hai tam giác này, cùng với tam giác nhỏ hơn của dãy chúng ta, tạo thành tiêu điểm năng lượng khi nhìn từ quan điểm hành tinh của chúng ta.
430. Only one triangle in our planetary chain has been discussed in these pages. Since this triangle is formed of the planets in the three ‘lowest’ positions in our chain, it is reasonable that this is the triangle referenced—the triangle Earth, Mars, Mercury.
430. Chỉ có một tam giác trong dãy hành tinh của chúng ta đã được bàn đến trong những trang này. Vì tam giác này được tạo thành từ các hành tinh ở ba vị trí “thấp” nhất trong dãy của chúng ta, nên hợp lý khi cho rằng đây là tam giác được nói đến—tam giác Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Thủy.
431. The relationship of Venus and Saturn (two planets of initiation because rulers of Capricorn) are to be related to this lower triangle.
431. Mối liên hệ của Sao Kim và Sao Thổ (hai hành tinh của điểm đạo vì là các chủ tinh của Ma Kết) cần được liên hệ với tam giác thấp hơn này.
432. The inclusion of Jupiter expands the consideration.
432. Việc đưa Sao Mộc vào làm mở rộng sự xem xét.
433. When Venus and Saturn are related to the Mars, Earth and Mercury globes of the Earth-chain, the importance of Sanat Kumara is suggested, because if the Great Kumara is related to any two planets, it is to Venus and Saturn. He is the “Lord of Venusian Love” and His name “Sanat” is easily seen as related to Saturn (for He is, as well, the “Ancient of Days”).
433. Khi Sao Kim và Sao Thổ được liên hệ với các bầu hành tinh Sao Hỏa, Trái Đất và Sao Thủy của Dãy Địa Cầu, tầm quan trọng của Đức Sanat Kumara được gợi ra, bởi vì nếu Đại Kumara có liên hệ với bất kỳ hai hành tinh nào, thì đó là Sao Kim và Sao Thổ. Ngài là “Chúa Tể của Tình Thương Sao Kim” và tên của Ngài là “Sanat” dễ thấy là có liên hệ với Sao Thổ (vì Ngài cũng là “Đấng Thái Cổ”).
In addition to these some hints in connection with the microcosmic and macrocosmic centres, we might here give the cosmic correspondences at which it is possible to hint.
Ngoài những gợi ý này liên quan đến các trung tâm tiểu thiên địa và đại thiên địa, ở đây chúng ta có thể đưa ra những tương ứng vũ trụ mà người ta có thể gợi ý đến.
434. The Tibetan must, at this time, be satisfied with hinting at these stupendous matters. It is not allowed to tell all, but it is allowed to drop those seed-hints which may assist in the evocation of the intuition of His students.
434. Vào lúc này, Chân sư Tây Tạng phải bằng lòng với việc chỉ gợi ý về những vấn đề vĩ đại ấy. Không được phép nói ra tất cả, nhưng được phép gieo xuống những gợi ý hạt giống có thể giúp gợi lên trực giác của các đạo sinh của Ngài.
The Cosmos. Our solar system, with the Pleiades and one of the stars of the Great Bear, form a cosmic triangle, or an aggregation of three centres in the Body of HIM OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID.
Vũ trụ. Hệ mặt trời của chúng ta, cùng với Pleiades và một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh, tạo thành một tam giác vũ trụ, hay một tập hợp gồm ba trung tâm trong Thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.
435. This is a stupendous hint. From the first we have a scale problem. We are given a combination of two stars and constellation of stars.
435. Đây là một gợi ý vô cùng lớn lao. Ngay từ đầu chúng ta đã gặp một vấn đề về tỷ lệ. Chúng ta được cho một tổ hợp gồm hai ngôi sao và một chòm sao.
436. When DK speaks of the Pleiades, what does He mean—the entirety of that great cluster of hundreds of stars, or only the seven stars with which we are familiar—the Seven Sisters? Depending on what He wants to say, He could mean both.
436. Khi Chân sư DK nói đến Pleiades, Ngài muốn nói gì—toàn bộ cụm sao lớn ấy gồm hàng trăm ngôi sao, hay chỉ bảy ngôi sao mà chúng ta quen thuộc—Bảy Chị Em? Tùy theo điều Ngài muốn nói, Ngài có thể muốn nói cả hai.
437. If he is considering the entirety of the Pleiades, then He is speaking of the entire “Central Spiritual Sun” cosmically considered (at least within our local cosmo-system). In this case:
437. Nếu Ngài đang xét toàn thể Pleiades, thì Ngài đang nói về toàn bộ “Mặt trời Tinh thần Trung Ương” xét theo vũ trụ (ít nhất là trong cosmo-system địa phương của chúng ta). Trong trường hợp này:
a. The Pleiades would represent the crown center of that Great Being—the One About Whom Naught May Be Said
a. Pleiades sẽ tượng trưng cho trung tâm đỉnh đầu của Đấng Vĩ Đại ấy—Đấng Bất Khả Tư Nghị
b. One of the stars in the Great Bear would probably be that star within the seven head centers (the “Greater Seven”) of the OAWNMBS correlated to the heart center.
b. Một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh có lẽ sẽ là ngôi sao trong bảy trung tâm đầu ( “Bảy Lớn Hơn”) của Đấng Bất Khả Tư Nghị tương ứng với trung tâm tim.
c. Our solar system would represent the heart center within the “Lesser Seven”
c. Hệ mặt trời của chúng ta sẽ tượng trưng cho trung tâm tim trong “Bảy Nhỏ Hơn”
d. This arrangement has much to recommend it.
d. Cách sắp xếp này có nhiều điều đáng được tán đồng.
438. There is a reference in the teaching where one of the stars in the Great Bear and one of the stars in the Pleiades are seen in relation to our Earth. This relation is, where our Earth is concerned, the source of cosmic evil. (cf. TCF 990)
438. Trong giáo huấn có một chỗ nói rằng một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh và một trong các ngôi sao của Pleiades được thấy trong mối liên hệ với Trái Đất của chúng ta. Mối liên hệ này, xét đối với Trái Đất của chúng ta, là nguồn gốc của điều ác vũ trụ. (x. TCF 990)
439. But now we are not speaking of the Earth but of our solar system as an entirety.
439. Nhưng giờ đây chúng ta không nói về Trái Đất mà nói về toàn thể hệ mặt trời của chúng ta.
440. It is possible, however, that one of the stars in the Great Bear and another star in the Pleiades are more closely related to our particular Solar Logos than to any of the other six brother-Logoi contained within the Seven Solar Systems of Which Ours is One.
440. Tuy nhiên, có thể là một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh và một ngôi sao khác trong Pleiades có liên hệ mật thiết hơn với Thái dương Thượng đế đặc thù của chúng ta so với bất kỳ vị nào trong sáu huynh đệ-Logoi khác nằm trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó.
441. In any case, our Solar Logos and his solar system are as a heart chakra in a great Being—one of the Ones About Whom Naught May Be Said.
441. Dù sao đi nữa, Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài giống như một luân xa tim trong một Đấng vĩ đại—một trong các Đấng Bất Khả Tư Nghị.
442. However many ways we might find to relate all three of these Beings (Great Bear, Pleiades and our solar system) in their entirety or according to various of their parts, it does seem as if the Pleiades (as an entirety or at least as a septenate) is here indicated.
442. Dù chúng ta có thể tìm ra bao nhiêu cách để liên hệ cả ba Đấng này (Đại Hùng Tinh, Pleiades và hệ mặt trời của chúng ta) trong toàn thể của các Ngài hay theo nhiều phần khác nhau của các Ngài, thì dường như ở đây Pleiades (xét như một toàn thể hay ít nhất như một bộ bảy) vẫn được chỉ ra.
443. Such being the case, it is probably best to consider the three as representing three different levels in the chakric hierarchy of the One About Whom Naught May Be Said:
443. Nếu đúng như vậy, có lẽ tốt nhất là xem ba thực thể này như tượng trưng cho ba cấp độ khác nhau trong hệ thống phân cấp luân xa của Đấng Bất Khả Tư Nghị:
a. The thousand petalled lotus of the OAWNMBS
a. Hoa sen ngàn cánh của Đấng Bất Khả Tư Nghị
b. A head center within the head of the OAWNMBS—thus within the “Greater Seven”
b. Một trung tâm đầu trong đầu của Đấng Bất Khả Tư Nghị—do đó thuộc “Bảy Lớn Hơn”
c. A chakra (the heart charka) within one of the chakras of the OAWNMBS—thus, a chakra within a chakra to be found within the “Lesser Seven”.
c. Một luân xa (luân xa tim) trong một trong các luân xa của Đấng Bất Khả Tư Nghị—do đó, một luân xa trong một luân xa được tìm thấy trong “Bảy Nhỏ Hơn”.
444. Obviously, we have not exhausted the possibilities within this hint, but have offered some lines of interpretation that can be pondered—for a few lives!
444. Hiển nhiên, chúng ta chưa khai thác hết các khả năng trong gợi ý này, nhưng đã đưa ra một vài đường hướng diễn giải có thể được suy ngẫm—trong vài kiếp sống!
The seven stars in the constellation of the Great Bear are the correspondences to the seven head centres in the body of that Being, greater than our Logos.
Bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng Tinh là những tương ứng với bảy trung tâm đầu trong thể của Đấng ấy, vĩ đại hơn Thượng đế của chúng ta.
445. DK is very careful with His wording. There are of course many Beings greater than our Logos. DK is speaking of one particular Being, probably the greater of two Ones About Whom Naught May Be Said (a Being who has constellations as chakras—cf. TCF 293)
445. Chân sư DK rất cẩn trọng trong cách dùng từ của Ngài. Dĩ nhiên có nhiều Đấng vĩ đại hơn Thượng đế của chúng ta. Chân sư DK đang nói về một Đấng đặc thù, có lẽ là vị lớn hơn trong hai Đấng Bất Khả Tư Nghị (một Đấng có các chòm sao làm luân xa—x. TCF 293)
446. The piece of information being conveyed is of great importance. The stars in the Great Bear are being linked to the seven major head centers in the One About Whom Naught May Be Said. These seven correspond to the “Greater Seven” in the human being (cf. Rule VIII for Applicants).
446. Mẩu thông tin đang được truyền đạt này có tầm quan trọng lớn. Các ngôi sao trong Đại Hùng Tinh đang được nối kết với bảy trung tâm đầu chính trong Đấng Bất Khả Tư Nghị. Bảy trung tâm này tương ứng với “Bảy Lớn Hơn” trong con người (x. Quy luật VIII cho những người chí nguyện).
447. According to an excellent book called Layayoga by Shyam Sundar Goswami, these head centers (the “Greater Seven” as DK refers to them—cf. R&I 21), are located between the ajna center and the crown center (with the ajna and crown forming the boundaries of the major head centers). These centers protrude in front of the forehead and on top of the dome of the head, and are not within the head at all.
447. Theo một cuốn sách xuất sắc mang tên Layayoga của Shyam Sundar Goswami, các trung tâm đầu này (“Bảy Lớn Hơn” như Chân sư DK gọi chúng—x. R&I 21) nằm giữa trung tâm ajna và trung tâm đỉnh đầu (với ajna và đỉnh đầu tạo thành các ranh giới của những trung tâm đầu chính). Các trung tâm này nhô ra phía trước trán và trên đỉnh vòm đầu, chứ hoàn toàn không nằm bên trong đầu.
Again, two other systems, when allied with the solar system and the Pleiades, make a lower quaternary which are eventually synthesised into the seven head centres in much the same way as in the human being after the fourth initiation.
Một lần nữa, hai hệ thống khác, khi liên kết với hệ mặt trời và Pleiades, tạo thành một bộ tứ thấp hơn mà cuối cùng được tổng hợp vào bảy trung tâm đầu theo cách rất giống như nơi con người sau lần điểm đạo thứ tư.
[Page 183]
[Page 183]
1. The base of the spine.
1. Đáy cột sống.
2. The solar plexus.
2. Tùng thái dương.
3. The heart.
3. Tim.
4. The throat.
4. Cổ họng.
448. We are receiving some profound cosmic hints which will naturally elude complete interpretation at this point in our understanding.
448. Chúng ta đang tiếp nhận một số gợi ý vũ trụ sâu xa mà dĩ nhiên vào thời điểm này trong sự thấu hiểu của chúng ta sẽ chưa thể được giải thích trọn vẹn.
449. The word “systems” is elusive and ambiguous. We do not know whether it refers specifically to solar systems or to constellations. It would be justifiable to refer to either.
449. Từ “systems” thật khó nắm bắt và mơ hồ. Chúng ta không biết liệu nó có chỉ riêng các hệ mặt trời hay các chòm sao hay không. Việc quy chiếu đến một trong hai đều là chính đáng.
450. The quaternary listed is not a lower quaternary.
450. Bộ tứ được liệt kê không phải là bộ tứ thấp.
451. We remember that there are five centers which correlate with the five systemic planes (or five bodies) of an entity.
451. Chúng ta nhớ rằng có năm trung tâm tương quan với năm cõi hệ thống (hay năm thể) của một thực thể.
a. Base of spine, the etheric plane
a. Đáy cột sống, cõi dĩ thái
b. Solar plexus, the astral plane
b. Tùng thái dương, cõi cảm dục
c. Throat center, the mental plane
c. Trung tâm cổ họng, cõi trí
d. Heart center, the buddhi plane
d. Trung tâm tim, cõi Bồ đề
e. As given in the earlier context referred to, the thousand petalled lotus corresponds to the atmic plane
e. Như đã nêu trong ngữ cảnh trước đó được dẫn chiếu, hoa sen ngàn cánh tương ứng với cõi atma
452. So, when considering the two other systems, we may be looking for either solar systems or constellational systems.
452. Vì vậy, khi xem xét hai hệ thống khác, chúng ta có thể đang tìm kiếm hoặc là các hệ mặt trời hoặc là các hệ chòm sao.
453. The Pleiades (if limited to the Seven Sisters) can be seen as related to the throat center. Our solar system is a kind of heart center. We will need two other solar systems which have been hypothesized as the system of Fomalhaut and Vega). There are good reasons both for and against this hypothesis. Fomalhaut is a “Royal Star”, and one may question whether it should be considered one of the Seven Solar Systems of Which Ours is One. Its distance of some twenty-five light years from our Sun may be too great, as may be the similar distance of Vega from the Sun. But all of this is uncertain.
453. Pleiades (nếu giới hạn trong Bảy Chị Em) có thể được xem là liên hệ với trung tâm cổ họng. Hệ mặt trời của chúng ta là một loại trung tâm tim. Chúng ta sẽ cần hai hệ mặt trời khác, vốn đã được giả thuyết là hệ của Fomalhaut và Vega). Có những lý do xác đáng cả ủng hộ lẫn phản đối giả thuyết này. Fomalhaut là một “Royal Star”, và người ta có thể đặt câu hỏi liệu nó có nên được xem là một trong Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là một trong đó hay không. Khoảng cách chừng hai mươi lăm năm ánh sáng từ nó đến Mặt Trời của chúng ta có thể là quá lớn, cũng như khoảng cách tương tự từ Vega đến Mặt Trời. Nhưng tất cả điều này đều chưa chắc chắn.
454. Probably within our local stellar surroundings there are two stars related to our solar system—these two representing a solar plexus center and a base of the spine center, with our Sun representing a heart center.
454. Có lẽ trong vùng sao lân cận địa phương của chúng ta có hai ngôi sao liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta—hai ngôi sao này tượng trưng cho một trung tâm tùng thái dương và một trung tâm đáy cột sống, còn Mặt Trời của chúng ta tượng trưng cho một trung tâm tim.
455. If we work on the constellational level, then our “solar system” must be considered a seven-starred Sirian system (including seven major stars). It is our “system” of seven suns that would represent the solar plexus within the greater Being. The base of the spine would be a combination of the Southern Cross and Draco, and the. The heart center is hypothesized by some to be Orion. The Pleiades as a whole would be the entirety of the head center (with the zodiacal constellations as the twelve petals of the major twelve-petalled head center)
455. Nếu chúng ta làm việc trên cấp độ chòm sao, thì “hệ mặt trời” của chúng ta phải được xem là một hệ Sirian bảy sao (bao gồm bảy ngôi sao chính). Chính “hệ” bảy mặt trời của chúng ta sẽ tượng trưng cho tùng thái dương bên trong Đấng lớn lao hơn. Trung tâm đáy cột sống sẽ là một sự kết hợp của Nam Thập Tự và Draco, và. Trung tâm tim được một số người giả thuyết là Orion. Toàn bộ Pleiades sẽ là toàn thể trung tâm đầu (với các chòm sao hoàng đạo là mười hai cánh hoa của trung tâm đầu mười hai cánh chính)
456. I think we can see how far we have to go before any certainty on these matters is possible for us.
456. Tôi nghĩ chúng ta có thể thấy mình còn phải đi xa đến mức nào trước khi bất kỳ sự chắc chắn nào về những vấn đề này trở nên khả hữu đối với chúng ta.
The sevenfold head centre in its turn finds ultimate expression in the gorgeous twofold centre above the top of the head and surrounding it.
Đến lượt mình, trung tâm đầu thất phân tìm thấy sự biểu hiện tối hậu trong trung tâm nhị phân huy hoàng ở phía trên đỉnh đầu và bao quanh nó.
457. Cosmically considered, this “gorgeous twofold centre” necessarily includes the twelve zodiacal constellations, and, according to present hypothesis, the entirety of the Pleiades. The greatest head center is twofold.
457. Xét theo vũ trụ, “trung tâm nhị phân huy hoàng” này tất yếu bao gồm mười hai chòm sao hoàng đạo, và theo giả thuyết hiện nay, toàn thể Pleiades. Trung tâm đầu vĩ đại nhất là nhị phân.
Equally so, beyond the above named constellations is still another cosmic centre. The name of this centre is one of the secrets of the final initiation, the seventh.
Cũng vậy, vượt ra ngoài các chòm sao được nêu tên ở trên vẫn còn một trung tâm vũ trụ khác nữa. Tên của trung tâm này là một trong những bí mật của lần điểm đạo cuối cùng, lần thứ bảy.
458. The constellations named in the immediately foregoing pages are the Pleiades and the Great Bear. The Pleiades (in their entirety) may be considered the hub of the local cosmic wheel, and the major vehicle for the One About Whom Naught May Be Said (that local Cosmic Lord Who has constellations for His chakras).
458. Các chòm sao được nêu trong những trang ngay trước đó là Pleiades và Đại Hùng Tinh. Pleiades (trong toàn thể của nó) có thể được xem là trục của bánh xe vũ trụ địa phương, và là vận cụ chính yếu cho Đấng Bất Khả Tư Nghị (Đấng Chúa Tể Vũ Trụ địa phương ấy, Đấng có các chòm sao làm các luân xa của Ngài).
459. But what of that Being who has OAWNMBSs for its chakras. No such being is listed in the important tabulation on TCF 293, but on the Chart on p. 344, a “Cosmic Parabrahm” is given—the highest triangle on the highest cosmic plane.
459. Nhưng còn Đấng có các OAWNMBS làm các luân xa của nó thì sao? Không có đấng nào như vậy được liệt kê trong bảng biểu quan trọng ở TCF 293, nhưng trong Biểu đồ ở tr. 344, một “Vũ trụ Parabrahm” được nêu ra—tam giác cao nhất trên cõi vũ trụ cao nhất.
460. The position of this Cosmic Parabrahm would fit correspondentially with the fact of “Resurrection” at the time of the seventh initiation.
460. Vị trí của Vũ trụ Parabrahm này sẽ phù hợp theo định luật tương ứng với sự kiện “Phục Sinh” vào thời điểm lần điểm đạo thứ bảy.
461. What such a Being may be we have no idea, but it can be presumed that its centers would be star clusters or aggregations of many constellations. A deep study of astronomy would be required of us should we have even some idea of possible candidates for this Super-OAWNMBS—a Cosmic Parabrahm.
461. Chúng ta không có ý niệm gì về việc một Đấng như thế có thể là gì, nhưng có thể giả định rằng các trung tâm của nó sẽ là các cụm sao hay các tập hợp gồm nhiều chòm sao. Chúng ta sẽ cần một sự nghiên cứu sâu về thiên văn học nếu muốn có dù chỉ một vài ý niệm về những ứng viên khả dĩ cho Siêu-OAWNMBS này—một Vũ trụ Parabrahm.
462. The study of OAWNMBSs takes us to the cosmic monadic plane. The study of the Super-Being here hinted takes us to the cosmic logoic plane. Such planes are merely names to us and any approach to them must be analogic and inferential at best.
462. Việc nghiên cứu các OAWNMBS đưa chúng ta đến cõi chân thần vũ trụ. Việc nghiên cứu Siêu-Đấng được gợi ý ở đây đưa chúng ta đến cõi logoic vũ trụ. Những cõi như thế đối với chúng ta chỉ đơn thuần là những danh xưng, và bất kỳ sự tiếp cận nào đối với chúng, cùng lắm, cũng phải mang tính tương đồng và suy diễn.
These are the only correspondences that may as yet be imparted. What lies beyond the solar ring-pass-not may be of intellectual interest,78 [Page S. D., I, 545, 726; II, 581, 582, 654] but, for the purposes of microcosmic evolution it is a matter of no vast import.
Đây là những tương ứng duy nhất mà hiện nay có thể được truyền đạt. Điều gì nằm ngoài vòng-giới-hạn mặt trời có thể có giá trị đối với trí tuệ,78 [Page S. D., I, 545, 726; II, 581, 582, 654] nhưng, đối với mục đích của tiến hoá vi mô, đó không phải là vấn đề có tầm quan trọng lớn lao.
463. When speaking of these matters we are clearly “way out there”—beyond what for us is the beyond. Astronomers may go there with ease, but those who are looking for the psychological and qualitative meaning of such great Entities may not proceed. Too little is known, even of our Solar Logos and of the relatively ‘local’ Constellational Deities of the twelve zodiacal constellations.
463. Khi nói về những vấn đề này, rõ ràng chúng ta đang ở “rất xa ngoài kia”—vượt quá cái vốn đối với chúng ta đã là bên kia rồi. Các nhà thiên văn có thể đi đến đó một cách dễ dàng, nhưng những ai đang tìm kiếm ý nghĩa tâm lý và phẩm tính của những Thực Thể vĩ đại như thế thì không thể tiến xa. Người ta biết quá ít, ngay cả về Thái dương Thượng đế của chúng ta và về các Thượng đế Chòm sao tương đối ‘địa phương’ của mười hai chòm sao hoàng đạo.
464. It is, after all, microcosmic evolution with which we must be concerned as there is so much to be done in this rather limited field. After great imaginative and intellectual extensions into incomprehensible spheres, we must return to where we are (apparently) and solve the problems related to our present sphere of limitation.
464. Rốt cuộc, chính tiến hoá vi mô là điều chúng ta phải quan tâm, vì có quá nhiều việc phải làm trong lĩnh vực khá hạn hẹp này. Sau những sự mở rộng lớn lao của sự tưởng tượng và trí tuệ vào những khối cầu không thể hiểu nổi, chúng ta phải quay về nơi chúng ta đang ở (bề ngoài là vậy) và giải quyết những vấn đề liên hệ với khối cầu giới hạn hiện tại của chúng ta.
TCF 183-189 S2S7
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity. The extensive commentary may otherwise disrupt the sense of flow.
Xin đọc các phần Bình Luận này với quyển TCF của các bạn ở bên cạnh để giữ được tính liên tục. Nếu không, phần bình luận quá rộng có thể làm gián đoạn mạch chảy của ý nghĩa.
1. We recall our context. We are focusing on Division D: Motion on the Physical and Astral Planes; Section V of V, Motion and the Centres, Point 3, the Centres and Kundalini; and point 4, Centres and Senses.
1. Chúng ta nhớ lại ngữ cảnh của mình. Chúng ta đang tập trung vào Phân khu D: Chuyển động trên Cõi Hồng Trần và Cõi Cảm Dục; Phần V của V, Chuyển động và các Trung tâm, Điểm 3, các Trung tâm và Kundalini; và điểm 4, các Trung tâm và các Giác quan.
3. The Centres and Kundalini.
3. Các Trung tâm và Kundalini.
As stated, it is not possible to impart much about kundalini, or the serpent fire. It might be of value, however, briefly to enumerate what has been said:
Như đã nói, không thể truyền đạt nhiều về kundalini, hay hỏa xà. Tuy nhiên, có lẽ sẽ có ích nếu ngắn gọn liệt kê những gì đã được nói:
2. We are engaged in a review which, given such a comprehensive text, is always advisable.
2. Chúng ta đang thực hiện một cuộc ôn lại, điều mà với một văn bản bao quát như thế này luôn luôn là điều nên làm.
a. Kundalini lies at the base of the spine, and, in the normal average man, its main function is the vitalisation of the body.
a. Kundalini nằm ở đáy cột sống, và, nơi con người bình thường trung bình, chức năng chính của nó là tiếp sinh lực cho thân thể.
3. Kundalini is a dual fire—both latent and active. It lies at the base of both the physical and etheric spine.
3. Kundalini là một ngọn lửa kép—vừa tiềm ẩn vừa hoạt động. Nó nằm ở đáy của cả cột sống hồng trần lẫn cột sống dĩ thái.
4. Given the occult lore surrounding kundalini, we may tend to forget its more basic function—vitalization.
4. Với tri thức huyền bí bao quanh kundalini, chúng ta có thể có khuynh hướng quên mất chức năng cơ bản hơn của nó—sự tiếp sinh lực.
b. Kundalini makes three at-one-ments during the period of evolution:
b. Kundalini tạo nên ba sự hợp nhất trong suốt thời kỳ tiến hoá:
1. With the radiatory fires of the body or prana at a point between the shoulder blades.
1. Với các ngọn lửa bức xạ của thể hay prana tại một điểm giữa hai bả vai.
2. With the fires of mind at a point at the very top of the spine, in the centre of the back part of the throat.
2. Với lửa của trí tuệ tại một điểm ở chính đỉnh cột sống, tại trung tâm của phần sau cổ họng.
3. With the fire of Spirit at the point where these two united fires of matter and of mind issue from the top of the head.
3. Với lửa của Tinh thần tại điểm mà hai ngọn lửa hợp nhất này của vật chất và của trí tuệ phát ra từ đỉnh đầu.
5. This is an important condensation bringing the three ‘at-one-ments’ simultaneously and clearly under the eye.
5. Đây là một sự cô đọng quan trọng, đồng thời và rõ ràng đặt ba sự ‘hợp nhất’ này trước mắt chúng ta.
6. The locations of the first and third at-one-ment have been often repeated. The location of the second has not been so clearly stated heretofore. What is new is the explicit association of the top of the spine with the throat center.
6. Vị trí của sự hợp nhất thứ nhất và thứ ba đã thường được nhắc lại. Vị trí của sự hợp nhất thứ hai trước đây chưa được nêu rõ đến thế. Điều mới mẻ là sự liên kết minh nhiên giữa đỉnh cột sống và trung tâm cổ họng.
7. VSK inquires: “Why is the heart not more involved in the kundalini process?”
7. VSK hỏi: “Tại sao tim lại không tham dự nhiều hơn vào tiến trình kundalini?”
8. We would have to say that the heart comes definitely under the vitalization of kundalini, but we are dealing specifically here with body, mind and Spirit. The heart relates to the dimension of soul, or (more completely) to a union between soul and Spirit.
8. Chúng ta sẽ phải nói rằng tim chắc chắn nằm dưới sự tiếp sinh lực của kundalini, nhưng ở đây chúng ta đang đặc biệt bàn đến thân thể, trí tuệ và Tinh thần. Tim liên hệ với chiều kích của linh hồn, hay (đầy đủ hơn) với một sự hợp nhất giữa linh hồn và Tinh thần.
c. Each of the three channels within the spinal column have for specific purpose the blending of these threefold fires.
c. Mỗi một trong ba kênh bên trong cột sống đều có mục đích chuyên biệt là hòa trộn ba ngọn lửa tam phân này.
9. This statement is important as it shows the spinal column to be related to all three fires.
9. Mệnh đề này quan trọng vì nó cho thấy cột sống liên hệ với cả ba ngọn lửa.
10. We also learn that the major function of the spinal channels is the blending of the threefold fires. The suggestion is that each of the three fires is threefold.
10. Chúng ta cũng học được rằng chức năng chính của các kênh cột sống là sự hòa trộn ba ngọn lửa tam phân. Gợi ý ở đây là mỗi một trong ba ngọn lửa đều là tam phân.
11. When the term “spinal column” is used, DK has laid the emphasis upon its etheric correspondence. The word “channels” suggests the etheric emphasis.
11. Khi thuật ngữ “cột sống” được dùng, Chân sư DK đã nhấn mạnh vào đối phần dĩ thái của nó. Từ “các kênh” gợi ý sự nhấn mạnh dĩ thái ấy.
We need to bear in mind that the [Page 184] fires circulate, and that, at the moment of achievement, every triangle in the body is vivified, every centre is fully functioning, and a threefold path of fire can be seen extending the entire length of the backbone.
Chúng ta cần ghi nhớ rằng các ngọn lửa tuần hoàn, và rằng, vào lúc thành tựu, mọi tam giác trong thể đều được tiếp sinh lực, mọi trung tâm đều hoạt động đầy đủ, và có thể thấy một con đường lửa tam phân kéo dài suốt toàn bộ chiều dài xương sống.
12. We recall the cosmic equivalence of Sirius, Pleiades, and the Great Bear as a threefold channel into our Solar System (TCF 156) VSK inquires: “What may be the cosmic equivalence to a threefold path of fire ‘seen extending the entire length of the backbone?”
12. Chúng ta nhớ lại sự tương đương vũ trụ của Sirius, Pleiades và Đại Hùng Tinh như một kênh tam phân đi vào hệ mặt trời của chúng ta (TCF 156) VSK hỏi: “Điều gì có thể là sự tương đương vũ trụ với một con đường lửa tam phân ‘được thấy kéo dài suốt toàn bộ chiều dài xương sống’?”
13. May we suggest that the microcosmic triangle of atma, buddhi and manas (or higher mind) may be compared to the Great Bear, the Pleiades and Sirius—in that order?
13. Chúng ta có thể gợi ý rằng tam giác vi mô của atma, Bồ đề và manas (hay thượng trí) có thể được so sánh với Đại Hùng Tinh, Pleiades và Sirius—theo đúng thứ tự ấy chăng?
14. We also remember a kind of correspondence on a lower level, in which Sirius is related to akashic substance, the Pleiades to electrical substance and the Great Bear to prana. Prana is the least material of these three radiations and akashic substance the most material.
14. Chúng ta cũng nhớ một loại tương ứng ở cấp độ thấp hơn, trong đó Sirius liên hệ với chất liệu akasha, Pleiades với chất liệu điện, và Đại Hùng Tinh với prana. Prana là ít vật chất nhất trong ba bức xạ này và chất liệu akasha là vật chất nhất.
d. When kundalini has blended with the pranic fire, the centres become three-dimensional.
d. Khi kundalini đã hòa trộn với lửa prana, các trung tâm trở nên ba chiều.
15. This is a new piece of information. Normal three-dimensional rotation is not discussed earlier. The emphasis is laid upon fourth dimensional rotation.
15. Đây là một mẩu thông tin mới. Sự quay ba chiều bình thường không được bàn đến trước đây. Sự nhấn mạnh được đặt vào sự quay bốn chiều.
When it blends with mind or solar fire and the two fires are perfectly united, the centres become fourth-dimensional.
Khi nó hòa trộn với trí tuệ hay Lửa Thái dương và hai ngọn lửa được hợp nhất hoàn hảo, các trung tâm trở nên bốn chiều.
16. From this it can be inferred that there is a perfect union of kundalini, pranic fire and solar fire at the fourth initiation, with this tendency towards fourth-dimensional rotation appearing when the initiatory process begins (cf. Point 5, TCF 172). The fire of Spirit however, would be involved to a degree by the time the perfect blending had occurred and a turning or rotation involving the “two more dimensions” (as mentioned below) would already be somewhat in progress.
16. Từ đây có thể suy ra rằng có một sự hợp nhất hoàn hảo của kundalini, lửa prana và Lửa Thái dương vào lần điểm đạo thứ tư, với xu hướng hướng tới sự quay bốn chiều này xuất hiện khi tiến trình điểm đạo bắt đầu (x. Điểm 5, TCF 172). Tuy nhiên, lửa của Tinh thần sẽ can dự ở một mức độ nào đó vào lúc sự hòa trộn hoàn hảo xảy ra, và một sự xoay hay quay bao hàm “hai chiều nữa” (như được nhắc đến bên dưới) khi ấy cũng đã phần nào bắt đầu tiến hành.
17. We can see that there is necessarily a kind of overlapping which occurs in relation to the type of dimensional movement/turning/rotation expected to occur at the various stages of evolutionary unfoldment.
17. Chúng ta có thể thấy rằng tất yếu có một loại chồng lấn xảy ra liên hệ với kiểu chuyển động/xoay/quay theo chiều kích được mong đợi sẽ xuất hiện ở các giai đoạn khác nhau của sự khai mở tiến hoá.
When it blends with the electric fire of pure Spirit after the third Initiation, they take on two more dimensions.
Khi nó hòa trộn với Lửa Điện của Tinh thần thuần túy sau lần Điểm đạo thứ ba, chúng mang thêm hai chiều nữa.
18. It is difficult to conceive the nature of fourth-dimensional rotation, let alone a type of rotation involving a fifth and sixth dimension.
18. Thật khó hình dung bản chất của sự quay bốn chiều, huống chi là một kiểu quay bao hàm chiều thứ năm và thứ sáu.
19. If we consider the dimensions as related to the planes, perhaps each higher type of dimensional rotation/turning/movement involves an impulsion from one or other of the higher planes (buddhic, atmic, monadic) and the necessity for possession of the type of consciousness associated with particular higher planes, if the additional types of movement (for instance fourth, fifth and sixth dimensional movement) are to be detected.
19. Nếu chúng ta xem các chiều kích là liên hệ với các cõi, thì có lẽ mỗi kiểu quay/xoay/chuyển động theo chiều kích cao hơn đều bao hàm một xung lực từ một hay cõi cao hơn nào đó (Bồ đề, atma, chân thần) và đòi hỏi phải sở hữu loại tâm thức gắn liền với những cõi cao hơn nhất định, nếu những loại chuyển động bổ sung ấy (chẳng hạn chuyển động bốn, năm và sáu chiều) muốn được nhận biết.
20. We might also question whether chakras on the lower planes are capable of fully fifth and sixth dimensional movement, and whether such movement could appear before the fourth initiation had been taken.
20. Chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi liệu các luân xa trên các cõi thấp có khả năng chuyển động năm và sáu chiều một cách trọn vẹn hay không, và liệu chuyển động như thế có thể xuất hiện trước khi lần điểm đạo thứ tư được tiếp nhận hay không.
21. Are there chakras in the vehicles of the Spiritual Triad? If so, it stands to reason that they would be capable of fifth and sixth dimensional movement.
21. Có các luân xa trong các vận cụ của Tam Nguyên Tinh Thần hay không? Nếu có, thì hợp lý mà nói, chúng sẽ có khả năng chuyển động năm và sáu chiều.
22. From a simpler perspective, perhaps we can envision the centers which have taken on “two more dimensions” as follows:
22. Từ một góc nhìn đơn giản hơn, có lẽ chúng ta có thể hình dung các trung tâm đã mang thêm “hai chiều nữa” như sau:
“a blazing, fiery wheel, turning every way, with radiant channels of fire from the centre to the ring-pass-not,—fire within, without and around until the wheel is consumed and there is naught remaining but perfected fire.” (TCF 161)
“một bánh xe lửa rực cháy, xoay chuyển về mọi hướng, với những kênh lửa rạng ngời từ trung tâm đến vòng-giới-hạn,—lửa ở bên trong, bên ngoài và chung quanh cho đến khi bánh xe bị thiêu rụi và chẳng còn gì ngoài lửa hoàn hảo.” (TCF 161)
23. And as follows:
23. Và như sau:
“At the close, the centres are seen as globes of radiant fire with the spokes of the wheel (or the evolution of the cross from the point in the centre) merging and blending into a "fire that burneth up the whole." (TCF 172)
“Sau cùng, các trung tâm được thấy như những bầu hành tinh lửa rạng ngời với các nan hoa của bánh xe (hay sự tiến hoá của thập giá từ điểm ở trung tâm) hòa nhập và dung hợp vào một ‘ngọn lửa thiêu đốt toàn thể.’ (TCF 172)
e. Kundalini, as it is aroused, steadily increases the vibratory action, not only of the centres, but of every atom of matter in all the bodies—etheric, astral and mental. This quickening of activity has a dual effect of great interest:
e. Kundalini, khi được khơi dậy, đều đặn làm gia tăng hoạt động rung động, không chỉ của các trung tâm, mà còn của mọi nguyên tử vật chất trong tất cả các thể—dĩ thái, cảm dục và trí. Sự tăng tốc hoạt động này có một tác động kép rất đáng quan tâm:
24. We are given the thought that kundalini increases vibratory action as follows:
24. Chúng ta được trao cho ý tưởng rằng kundalini làm gia tăng hoạt động rung động như sau:
a. Of the centers
a. Của các trung tâm
b. Of every atom of matter in all bodies
b. Của mọi nguyên tử vật chất trong tất cả các thể
c. This is part of the general vitalization for which kundalini is responsible
c. Đây là một phần của sự tiếp sinh lực tổng quát mà kundalini chịu trách nhiệm
1. It causes the elimination of all matter that is coarse and unsuitable, and casts it off in exactly the same way as a rapidly rotating wheel casts off or rejects from its surface.
1. Nó gây ra sự loại bỏ mọi vật chất thô trược và không thích hợp, và tống khứ nó đi đúng theo cùng cách mà một bánh xe quay nhanh tống ra hay loại bỏ khỏi bề mặt của nó.
25. In this respect, kundalini functions as does the Sacred Word which drives out impure matter (while attracting matter of higher quality).
25. Về phương diện này, kundalini hoạt động giống như Linh từ Thiêng liêng vốn xua đuổi vật chất ô uế (đồng thời thu hút vật chất có phẩm chất cao hơn).
26. Kundalini is, therefore, a great agent of refinement and transmutation.
26. Vì vậy, kundalini là một tác nhân lớn của sự tinh luyện và chuyển hoá.
27. It seems suggested that matter which cannot stay magnetically related to the rapidly rotating wheel is cast off.
27. Dường như có gợi ý rằng vật chất nào không thể duy trì liên hệ từ tính với bánh xe quay nhanh thì sẽ bị tống ra.
2. It sweeps into its sphere of influence matter that is keyed to its own vibration, and builds it into its vibratory content.
2. Nó cuốn vào trong khối cầu ảnh hưởng của nó loại vật chất được điều chỉnh theo chính rung động của nó, và xây dựng nó vào trong nội dung rung động của nó.
28. These are unusual words. What exactly does it mean to be ‘built into its vibratory content’? It is the term “vibratory content” that needs close examination. The new matter, which is responsive to the vibration of kundalini, is taken in and correlated with matter which is already responsive to the vibration of kundalini.
28. Đây là những lời lẽ khác thường. Chính xác thì “được xây dựng vào trong nội dung rung động của nó” có nghĩa là gì? Chính thuật ngữ “nội dung rung động” cần được khảo sát kỹ. Vật chất mới, vốn đáp ứng với rung động của kundalini, được thu nhận vào và được tương quan với vật chất vốn đã đáp ứng với rung động của kundalini.
29. The “sphere of influence” can be the vehicle or vehicles through which kundalini is coursing.
29. “Khối cầu ảnh hưởng” có thể là vận cụ hay các vận cụ mà qua đó kundalini đang tuôn chảy.
30. At the very least, we come to understand that kundalini acts in a magnetically selective manner and is, indeed, a “refiner’s fire”. It is said of God that “He is like a refiner’s fire”. This is certainly true of the god buried in the depths of matter—kundalini.
30. Ít nhất, chúng ta đi đến chỗ hiểu rằng kundalini hoạt động theo cách chọn lọc từ tính và quả thật là một “ngọn lửa của người tinh luyện”. Người ta nói về Thượng đế rằng “Ngài giống như ngọn lửa của người tinh luyện”. Điều này chắc chắn đúng đối với vị thần bị chôn vùi trong chiều sâu của vật chất—kundalini.
This is but a reflection of the action of the Logos in sweeping into differentiation the matter of the solar system.
Đây chỉ là một phản ánh của hoạt động của Thượng đế trong việc cuốn vật chất của hệ mặt trời vào sự biến phân.
31. We are given a hint about the method of magnetic selectivity which precedes the creation of a solar system.
31. Chúng ta được trao cho một gợi ý về phương pháp chọn lọc từ tính vốn đi trước sự sáng tạo một hệ mặt trời.
32. So we see the dual Law of Attraction and Repulsion—the centrifugal and centripetal effects in the action of Kundalini when aroused.
32. Vì vậy chúng ta thấy Định luật kép của Hấp Dẫn và Định luật Đẩy Lùi—các tác động ly tâm và hướng tâm trong hoạt động của Kundalini khi được khơi dậy.
33. There must be a sound to the kundalini process, for sound is the great agent through which attraction and repulsion occurs.
33. Ắt hẳn phải có một âm thanh đối với tiến trình kundalini, vì âm thanh là tác nhân lớn qua đó sự hấp dẫn và đẩy lùi xảy ra.
Kundalini is likewise the fire or force of matter, and therefore the life of the third Logos.
Kundalini cũng vậy, là lửa hay mãnh lực của vật chất, và do đó là sự sống của Logos thứ ba.
34. We may gather from this that kundalini is related to the life of that cosmic Lord of Fire, Fohat. In a way, kundalini is fire by friction, Brahma, the Holy Spirit and Fohat.
34. Từ đây chúng ta có thể suy ra rằng kundalini liên hệ với sự sống của vị Chúa Tể Lửa vũ trụ ấy, Fohat. Theo một nghĩa nào đó, kundalini là Lửa ma sát, Brahma, Chúa Thánh Thần và Fohat.
35. It is significant that kundalini is said to be the “life” of the third Logos.
35. Điều có ý nghĩa là kundalini được nói là “sự sống” của Logos thứ ba.
f. Kundalini has two effects upon the etheric web, as it is called.
f. Kundalini có hai tác động lên màng lưới dĩ thái, như nó được gọi.
1. By its gradually increasing action it purifies that etheric form and cleanses it from "dross," as the Christian expresses it.
1. Bằng hoạt động tăng dần của nó, nó thanh lọc hình tướng dĩ thái ấy và làm sạch nó khỏi “cặn bã”, như người Kitô giáo diễn đạt.
36. First, we see the cleansing function of kundalini.
36. Trước hết, chúng ta thấy chức năng tẩy sạch của kundalini.
37. “Dross” can be defined as impurities which prevent the etheric web from responding to higher energy sources. Impurities can be understood as etheric contents of inadequate vibration or as contents which are not capable of integration with the etheric structure.
37. “Cặn bã” có thể được định nghĩa là những tạp chất ngăn cản màng lưới dĩ thái đáp ứng với các nguồn năng lượng cao hơn. Các tạp chất có thể được hiểu là những nội dung dĩ thái có rung động không thích đáng hoặc là những nội dung không có khả năng tích hợp với cấu trúc dĩ thái.
2. Eventually, after the two fires of matter and the fire of mind have begun to blend (a slow and gradual process), the web itself is destroyed [Page 185] and by the time the third Initiation is reached, the man should have continuity of consciousness.
2. Cuối cùng, sau khi hai ngọn lửa của vật chất và lửa của trí tuệ đã bắt đầu hòa trộn (một tiến trình chậm chạp và từ từ), chính màng lưới ấy bị phá hủy [Page 185] và vào lúc đạt đến lần Điểm đạo thứ ba, con người phải có sự liên tục của tâm thức.
38. This is a clear and definite statement relating to the type of unimpeded sensitivity that should be developed by the time the third initiation is reached.
38. Đây là một phát biểu rõ ràng và dứt khoát liên hệ với loại tính nhạy bén không bị cản trở cần phải được phát triển vào lúc đạt đến lần điểm đạo thứ ba.
39. It is probably most often the case, but not necessarily.
39. Có lẽ đó là trường hợp xảy ra thường xuyên nhất, nhưng không nhất thiết luôn luôn như vậy.
40. It is important to realize that continuity of consciousness requires a destruction of the web.
40. Điều quan trọng là nhận ra rằng sự liên tục của tâm thức đòi hỏi sự phá hủy màng lưới.
41. We remember that it is the action of the fire of mind (in conjunction with the two fires of matter) which is responsible for the burning of the web.
41. Chúng ta nhớ rằng chính hoạt động của lửa của trí tuệ (kết hợp với hai ngọn lửa của vật chất) chịu trách nhiệm cho việc đốt cháy màng lưới.
42. We are reminded that the blending of the fires of matter and of mind is a slow and gradual process.
42. Chúng ta được nhắc rằng sự hòa trộn các ngọn lửa của vật chất và của trí tuệ là một tiến trình chậm chạp và từ từ.
43. It seems suggested that the third initiation is an important stage marking a significant, quite complete blending of the fires of matter and of mind.
43. Dường như có gợi ý rằng lần điểm đạo thứ ba là một giai đoạn quan trọng, đánh dấu một sự hòa trộn đáng kể, khá trọn vẹn của các ngọn lửa của vật chất và của trí tuệ.
This is so unless for certain work and for certain specific ends, the man consciously and willingly foregoes the burning of the web, a thing which can be brought about by the conscious action of the will.
Điều này là như vậy trừ phi, vì một số công việc nào đó và vì một số mục đích chuyên biệt nào đó, con người một cách có ý thức và tự nguyện từ bỏ việc đốt cháy màng lưới, một điều có thể được thực hiện bằng hành động có ý thức của ý chí.
44. There are always exceptions to the rule. To forego the burning of the web would be an act of deliberate focus or containment. It would be a sacrifice—a temporary refusal of the power to be aware of a wider and more subtle environment, so that all forces could be concentrated upon a specifically chosen, more confined environment (obviously for service purposes).
44. Luôn luôn có những ngoại lệ đối với quy luật. Từ bỏ việc đốt cháy màng lưới sẽ là một hành động tập trung hay kiềm giữ có chủ ý. Đó sẽ là một sự hi sinh—một sự từ chối tạm thời đối với quyền năng nhận biết một môi trường rộng lớn hơn và vi tế hơn, để mọi mãnh lực có thể được tập trung vào một môi trường được chọn lựa chuyên biệt, giới hạn hơn (hiển nhiên là vì mục đích phụng sự).
45. It would seem that by a conscious act of the will, the liberating fires of mind-matter can be inhibited from their normal action upon the web.
45. Dường như bằng một hành động có ý thức của ý chí, các ngọn lửa giải phóng của trí tuệ-vật chất có thể bị ngăn cản không cho tác động bình thường lên màng lưới.
46. In such a case the Will-to-Serve would stand opposed to the Will-to-Liberation.
46. Trong trường hợp như thế, Ý Chí-Phụng sự sẽ đứng đối nghịch với Ý Chí-Giải Thoát.
47. VSK suggests: “The etheric web is what separates consciousness from … continuity. Like a sphere or planetary orb that rotates ‘around a sun’ thus creating a day and night. The etheric web in this way can be seen as a function of a rotating satellite; it creates dark and light duality. This conception could help to break up the linear planar visualizations in which some may get stuck, and help them to see the web in another way – not necessarily accurately, but the limitations or habits of the imagination can be thick.)
47. VSK gợi ý: “Màng lưới dĩ thái là điều ngăn cách tâm thức khỏi … sự liên tục. Giống như một khối cầu hay quả cầu hành tinh quay ‘quanh một mặt trời’ và do đó tạo ra ngày và đêm. Theo cách này, màng lưới dĩ thái có thể được xem như một chức năng của một vệ tinh quay; nó tạo ra nhị nguyên tính tối và sáng. Quan niệm này có thể giúp phá vỡ những sự hình dung tuyến tính theo mặt phẳng mà một số người có thể mắc kẹt trong đó, và giúp họ thấy màng lưới theo một cách khác – không nhất thiết là chính xác, nhưng những giới hạn hay thói quen của sự tưởng tượng có thể rất dày đặc.)
4. The Centres and the Senses, Normal and Supernormal.
4. Các Trung tâm và các Giác quan, Bình thường và Siêu thường.
Before at all dealing with the centres and their relationship to the senses, it will be necessary first of all to point out certain facts of interest in connection with those senses,79 and so clear the ground for further information.
Trước khi bàn đến các trung tâm và mối liên hệ của chúng với các giác quan, trước hết cần phải chỉ ra một số sự kiện đáng quan tâm liên hệ với các giác quan ấy,79 và như vậy dọn đường cho thông tin tiếp theo.
48. We are entering upon a somewhat technical subject and will have to think carefully.
48. Chúng ta đang bước vào một chủ đề phần nào mang tính kỹ thuật và sẽ phải suy nghĩ cẩn thận.
FOOTNOTE: 79
CƯỚC CHÚ: 79
The seven senses or the avenues of perception.—S. D., I, 489, 490. The third or Indriya Creation.—S. D., III, 567.
Bảy giác quan hay các con đường của tri giác.—S. D., I, 489, 490. Cuộc Sáng Tạo thứ ba hay Indriya.—S. D., III, 567.
49. Usually, in relation to man, we consider that there are five senses. Always, however, above the pentad there are an additional two points of focus. This applies to the senses as it does to the planes, chakras and planets.
49. Thông thường, liên hệ với con người, chúng ta cho rằng có năm giác quan. Tuy nhiên, luôn luôn ở trên ngũ phân ấy có thêm hai điểm tập trung nữa. Điều này áp dụng cho các giác quan cũng như cho các cõi, các luân xa và các hành tinh.
Indriya—The control of the senses in yoga practice. These are the 10 external agents; the 5 senses which are used for perception are called 'Jnana-indriya' and the 5 used for action 'karma-indriya.'—Theosophical Glossary.
Indriya—Sự kiểm soát các giác quan trong thực hành yoga. Đây là 10 tác nhân bên ngoài; 5 giác quan được dùng cho tri giác được gọi là 'Jnana-indriya' và 5 giác quan được dùng cho hành động là 'karma-indriya.'—Từ điển Thông Thiên Học.
50. We have an important distinction amongst the senses. There are ten external agents, five of which are readily recognized as the five senses. They contribute to the accumulation of knowledge of the external world.
50. Chúng ta có một sự phân biệt quan trọng giữa các giác quan. Có mười tác nhân bên ngoài, năm trong số đó được dễ dàng nhận ra là năm giác quan. Chúng góp phần vào sự tích lũy tri thức về thế giới bên ngoài.
51. There are also five organs of action—“karma-indriya’.
51. Cũng có năm cơ quan hành động—“karma-indriya”.
52. In The Light of the Soul this information is given as follows:
52. Trong Ánh sáng trên Đường Đạo thông tin này được trình bày như sau:
“b. The five sense organs: the ear, the skin, the eye, the tongue and the nostrils, those physical organs or channels through which identification with the tangible world becomes possible.
“b. Năm cơ quan giác quan: tai, da, mắt, lưỡi và lỗ mũi, những cơ quan hồng trần hay những kênh qua đó sự đồng hoá với thế giới hữu hình trở nên khả hữu.
c. The five organs of action: voice, hands, feet, the excretory organs and the organs of generation. [An analysis of the chakra areas involved shows the throat center standing in the highest position of these five]
c. Năm cơ quan hành động: tiếng nói, bàn tay, bàn chân, các cơ quan bài tiết và các cơ quan sinh sản. [Một phân tích về các vùng luân xa liên hệ cho thấy trung tâm cổ họng đứng ở vị trí cao nhất trong năm cơ quan này]
d. The mind. This is the sixth sense, the organ which synthesises all the other sense organs and eventually will make their use a thing of the past. (LOS 157)
d. Trí tuệ. Đây là giác quan thứ sáu, cơ quan tổng hợp tất cả các cơ quan giác quan khác và rốt cuộc sẽ khiến việc sử dụng chúng trở thành chuyện của quá khứ. (LOS 157)
"Jnana-indriyas"—literally knowledge-senses...by which knowledge is obtained....They are the avenues inward.
"Jnana-indriyas"—nghĩa đen là các giác quan tri thức...nhờ đó tri thức được thu nhận....Chúng là những con đường hướng vào trong.
"Karma-indriyas"—literally action senses...those producing action. They are the avenues outwards.—Study in Consciousness, pp. 166-167.
"Karma-indriyas"—nghĩa đen là các giác quan hành động...những gì tạo ra hành động. Chúng là những con đường hướng ra ngoài.—Study in Consciousness, tr. 166-167.
53. Here the distinction between the two types of “senses” is made more clear. “Jnana-indryas” are centripetal. “Karma-indriyas” are centrifugal.
53. Ở đây sự phân biệt giữa hai loại “giác quan” được làm rõ hơn. “Jnana-indryas” là hướng tâm. “Karma-indriyas” là ly tâm.
54. It makes sense to call the normal senses, “knowledge-senses”. It requires some adjustment of thought to consider the organs of action as “action senses”.
54. Thật hợp lý khi gọi các giác quan thông thường là “các giác quan tri thức”. Cần có một sự điều chỉnh trong tư duy để xem các cơ quan hành động như là “các giác quan hành động”.
55. If we examine these ten, we shall see that “Karma-indriyas” are more closely related to the third aspect of divinity, and “Jnana-indriyas” to the second aspect.
55. Nếu khảo sát mười giác quan này, chúng ta sẽ thấy rằng “Karma-indriyas” liên hệ mật thiết hơn với phương diện thứ ba của thiên tính, còn “Jnana-indriyas” thì với phương diện thứ hai.
1. Sensation is latent in every atom of substance.—S. D., II, 710.
1. Cảm giác tiềm ẩn trong mọi nguyên tử của chất liệu.—S. D., II, 710.
56. This is because consciousness infuses every atom of substance. There is no ‘place’ where consciousness is not and no form or ‘particle’ of substance which is not possessed by its consciousness aspect.
56. Điều này là vì tâm thức thấm nhuần mọi nguyên tử của chất liệu. Không có ‘nơi chốn’ nào mà tâm thức không hiện diện, và không có hình tướng hay ‘hạt’ chất liệu nào lại không sở hữu phương diện tâm thức của nó.
2. The Sun is the heart of the system and sensation emanates from there. It is due to solar radiation.—S. D., I, 590, 662.
2. Mặt Trời là trái tim của hệ thống và cảm giác phát xuất từ đó. Điều này là do bức xạ thái dương.—S. D., I, 590, 662.