Trích nội dung chương
They have no spiritual effect, and concern themselves solely with the matter in which the centres of force are located. Chúng không có tác động tinh thần, và chỉ liên quan duy nhất đến vật chất trong đó các trung tâm lực được định vị.
They have no spiritual effect, and concern themselves solely with the matter in which the centres of force are located.
Chúng không có tác động tinh thần, và chỉ liên quan duy nhất đến vật chất trong đó các trung tâm lực được định vị.
190. In the sense here meant, matter is not spiritual, though ultimately everything is “of the spirit”.
190. Theo nghĩa được nói ở đây, vật chất không phải là tinh thần, dù rốt cuộc mọi sự đều “thuộc về tinh thần”.
191. That which has a “spiritual effect” affects the development of consciousness.
191. Điều gì có “tác động tinh thần” thì tác động đến sự phát triển của tâm thức.
These centres of force are always directed by manas or mind, or by the conscious effort of the indwelling entity;
Các trung tâm lực này luôn luôn được manas hay trí tuệ, hoặc bởi nỗ lực có ý thức của thực thể nội tại, điều khiển;
192. The role of mind in the directing of matter is stated.
192. Vai trò của trí tuệ trong việc điều khiển vật chất được nêu ra.
but that entity is held back in the effects he seeks to achieve until the vehicles through which he is seeking expression, and their directing, energising centres, make adequate response.
nhưng thực thể đó bị ngăn trở trong các hiệu quả mà y tìm cách đạt được cho đến khi các vận cụ mà qua đó y đang tìm cách biểu lộ, cùng các trung tâm tiếp sinh lực và điều khiển của chúng, có sự đáp ứng thích đáng.
193. There is a need to bring matter into a state of adequate responsiveness or the indwelling entity will be thwarted.
193. Cần phải đưa vật chất vào một trạng thái đáp ứng thích đáng, nếu không thực thể nội tại sẽ bị cản trở.
194. Mind cannot direct matter until matter is responsive enough to be directed.
194. Trí tuệ không thể điều khiển vật chất cho đến khi vật chất đủ đáp ứng để được điều khiển.
195. To bring matter into this condition, purification if required—this means the submitting of matter to the purifying fire.
195. Để đưa vật chất vào tình trạng này, cần có sự thanh luyện—điều này có nghĩa là đặt vật chất dưới lửa thanh luyện.
Hence it is only in due course of evolution, and when the matter of these vehicles is energised sufficiently by its own latent fires that he can accomplish his long-held purpose.
Vì thế chỉ theo đúng tiến trình tiến hoá, và khi vật chất của các vận cụ này được tiếp sinh lực đầy đủ bởi chính các lửa tiềm ẩn của nó thì y mới có thể hoàn thành mục đích đã ôm giữ từ lâu của mình.
196. Latent fires are directly related to matter, active fires to ether.
196. Các lửa tiềm ẩn liên hệ trực tiếp với vật chất, các lửa hoạt động liên hệ với dĩ thái.
197. Matter, per se, is ever both the obstruction to the expression of higher energies and the intended medium of that expression.
197. Vật chất, chính nó, luôn vừa là sự cản trở đối với sự biểu lộ của các năng lượng cao hơn, vừa là môi trường dự định cho sự biểu lộ ấy.
198. There must be a certain degree of activation of matter if the Indweller is to be capable of accomplishing his purposes.
198. Phải có một mức độ hoạt hóa nhất định của vật chất nếu Đấng Nội Tại muốn có khả năng hoàn thành các mục đích của mình.
199. We can see that matter is to be subjected to both energizing and purifying (discussed elsewhere) if it is to be sufficiently response that the Indweller can succeed.
199. Chúng ta có thể thấy rằng vật chất phải chịu cả sự tiếp sinh lực lẫn thanh luyện (được bàn ở nơi khác) nếu nó muốn đủ đáp ứng để Đấng Nội Tại có thể thành công.
200. Something important is here said: it is not only the subjection of matter to the active fires that energizes and purifies it; matter must also be energies “by its own latent fires”. This gives the latent fire of matter an important role in rendering matter responsive to direction by manas.
200. Ở đây có một điều quan trọng được nói ra: không chỉ việc đặt vật chất dưới các lửa hoạt động mới tiếp sinh lực và thanh luyện nó; vật chất cũng phải được tiếp sinh lực “bởi chính các lửa tiềm ẩn của nó”. Điều này trao cho lửa tiềm ẩn của vật chất một vai trò quan trọng trong việc làm cho vật chất trở nên đáp ứng với sự điều khiển của manas.
Hence again the need of the ascension of the fire of matter to its own place, and its resurrection from its long burial and seeming prostitution before it can be united with its Father in Heaven, the third Logos, Who is the Intelligence of matter itself. The correspondence, again, holds good. Even the atom of the physical plane has its goal, its initiations and its ultimate triumph.
Vì thế lại càng cần đến sự thăng lên của lửa vật chất đến đúng chỗ của nó, và sự phục sinh của nó khỏi sự chôn vùi lâu dài và sự dường như bị lạm dụng trước khi nó có thể được hợp nhất với Cha của nó trên Thiên Đàng, Đấng Logos thứ ba, Đấng là Trí Tuệ của chính vật chất. Sự tương ứng, một lần nữa, vẫn đúng. Ngay cả nguyên tử của cõi hồng trần cũng có mục tiêu của nó, các lần điểm đạo của nó và chiến thắng tối hậu của nó.
201. In this section we are speaking of the exaltation and ascension of matter.
201. Trong phần này, chúng ta đang nói về sự tôn cao và thăng lên của vật chất.
202. It is not so much that matter, per se, ascends, but that the “fire of matter” ascends. Can we call this the ascension of the buried emanations of Fohat?
202. Không hẳn là vật chất, chính nó, thăng lên, mà là “lửa của vật chất” thăng lên. Chúng ta có thể gọi đây là sự thăng lên của các phát xạ bị chôn vùi của Fohat chăng?
203. The Third Logos is the Holy Spirit. There seem to be three ‘Fathers in Heaven’—each of the three Logoi.
203. Đấng Logos thứ ba là Chúa Thánh Thần. Dường như có ba “Người Cha trên Thiên Đàng”—mỗi vị là một trong ba Đấng Thượng đế.
204. The fire of matter needs to ascend to merge with its particular “Father”
204. Lửa của vật chất cần thăng lên để hợp nhất với “Người Cha” riêng của nó
205. Perhaps pure spirit (the Self) and pure matter (Mulaprakriti) are equal in that they do not need redemption. It is that which has invested itself in matter which needs redemption.
205. Có lẽ tinh thần thuần túy (Bản Ngã) và vật chất thuần túy (Mulaprakriti) ngang nhau ở chỗ chúng không cần được cứu chuộc. Chính cái đã khoác lấy vật chất mới cần được cứu chuộc.
206. Matter, per se, is the homogeneous reflection of homogeneous spirit. It is pure spirit in objectivity.
206. Vật chất, chính nó, là sự phản chiếu đồng nhất của tinh thần đồng nhất. Nó là tinh thần thuần túy trong tính khách quan.
207. The matter which came from the first solar system is, however, not pure, homogeneous matter.
207. Tuy nhiên, vật chất đến từ hệ mặt trời thứ nhất không phải là vật chất thuần túy, đồng nhất.
208. Where, in all that which we now call matter, is mulaprakriti to be found?
208. Ở đâu, trong tất cả những gì hiện nay chúng ta gọi là vật chất, có thể tìm thấy mulaprakriti?
Other angles of this subject, such as the centres and their relationship to manas, the fire of Spirit and manas, and the eventual blending of the three fires, will be dealt with in our next two main divisions. In this division we are confining ourselves to the study of matter and fire, and must not digress, or confusion will ensue.
Những góc độ khác của chủ đề này, như các trung tâm và mối liên hệ của chúng với manas, lửa của Tinh thần và manas, và sự hòa trộn cuối cùng của ba lửa, sẽ được bàn đến trong hai phần chính kế tiếp của chúng ta. Trong phần này, chúng ta đang giới hạn mình vào việc nghiên cứu vật chất và lửa, và không được đi chệch hướng, nếu không sự lẫn lộn sẽ xảy ra.
209. DK realizes what will happen when too many streams of thought are mixed together. For some, the streams are already too many.
209. DK nhận ra điều gì sẽ xảy ra khi quá nhiều dòng tư tưởng bị trộn lẫn với nhau. Với một số người, các dòng ấy vốn đã quá nhiều rồi.
210. This first part of A Treatise on Cosmic Fire is, focally, a very material study, however many associations there may be to greater and wider subjects.
210. Phần đầu này của Luận về Lửa Vũ Trụ, về trọng tâm, là một nghiên cứu rất vật chất, cho dù có bao nhiêu liên hệ với những chủ đề lớn hơn và rộng hơn đi nữa.
[Page 139]
[Page 139]
II. THE AROUSING OF KUNDALINI
II. SỰ ĐÁNH THỨC KUNDALINI
How this fire at the base of the spine can be aroused, the form its progression [where do you go firstly, secondly and thirdly] should take (dependent upon the Ray), [Page of the monad] the blending of the fire [He is talking about the latent aspect of kundalini] with pranic fire and their subsequent united progression, are things of the past with many, and fortunately for the race, the work was achieved without conscious effort.
Làm thế nào lửa này ở đáy cột sống có thể được đánh thức, hình thức tiến trình của nó [trước hết bạn đi đâu, thứ hai và thứ ba đi đâu] nên diễn ra như thế nào (tùy thuộc vào cung), [Page của chân thần] sự hòa trộn của lửa [Ngài đang nói về phương diện tiềm ẩn của kundalini] với lửa prana và tiến trình hợp nhất tiếp theo của chúng, là những điều đã thuộc về quá khứ đối với nhiều người, và may mắn cho nhân loại, công việc ấy đã được hoàn thành mà không có nỗ lực có ý thức.
211. Because the work was achieved unconsciously, the danger of tampering and subsequent confusion, danger and even disaster were averted.
211. Bởi vì công việc ấy đã được hoàn thành một cách vô thức, nên nguy cơ can thiệp sai lầm và sự lẫn lộn, nguy hiểm, thậm chí tai họa tiếp theo đã được tránh khỏi.
212. We note the following sequence in relation to the arousing of the fire at the base of the spine:
212. Chúng ta lưu ý trình tự sau đây liên quan đến sự đánh thức lửa ở đáy cột sống:
a. Its arousing
a. Sự đánh thức của nó
b. Its correct progression according to Ray (almost certainly the primary ray or ray of the monad).
b. Sự tiến triển đúng đắn của nó theo cung (gần như chắc chắn là cung chính hay cung của chân thần).
c. The blending of the fire at the base of the spine with pranic fire
c. Sự hòa trộn của lửa ở đáy cột sống với lửa prana
d. The subsequent united progression of the two blended fires
d. Tiến trình hợp nhất tiếp theo của hai lửa đã hòa trộn ấy
213. In the section above we are dealing with the first blending—of latent fire with active fire.
213. Trong phần trên, chúng ta đang bàn đến sự hòa trộn thứ nhất—giữa lửa tiềm ẩn và lửa hoạt động.
The second blending with the fire of manas has to be effected. Scarcely as yet have men succeeded in directing the fire up more than one channel of the threefold column; hence two-thirds of its effect in the majority is yet confined to the stimulation of the organs of race propagation.
Sự hòa trộn thứ hai với lửa của manas phải được thực hiện. Cho đến nay, con người hầu như chưa thành công trong việc hướng lửa đi lên quá một kênh của cột tam phân; vì thế hai phần ba tác dụng của nó nơi đa số vẫn còn bị giới hạn vào sự kích thích các cơ quan sinh sản của nhân loại.
214. We are given an understanding of where man presently stands. It is not a very advanced stage of development.
214. Chúng ta được cho một sự hiểu biết về vị trí hiện nay của con người. Đó không phải là một giai đoạn phát triển thật cao.
215. The channel which has been utilized is assumed to be that connected with matter and the personality. Shall we call it the “Ida”?
215. Kênh đã được sử dụng được giả định là kênh nối với vật chất và phàm ngã. Chúng ta có nên gọi nó là “Ida” không?
216. The channel connected with soul and mind is not yet activated by the majority.
216. Kênh nối với linh hồn và trí tuệ vẫn chưa được đa số hoạt hóa.
217. If the fire is not directed upwards, it remains in the lower centers of the body and is utilized by the organs of generation. As there are three channels and only one has been a conduit for rising fire, two-thirds of the fire at the base of the spine is utilized for lower purposes. The unrisen fire stimulates the lower centers to which it is contiguous.
217. Nếu lửa không được hướng lên trên, nó vẫn ở trong các trung tâm thấp của cơ thể và được các cơ quan sinh sản sử dụng. Vì có ba kênh và chỉ một kênh đã là ống dẫn cho lửa đi lên, nên hai phần ba lửa ở đáy cột sống được dùng cho các mục đích thấp hơn. Lửa chưa đi lên kích thích các trung tâm thấp mà nó tiếp giáp.
218. Has the one-third risen to the throat center?
218. Phải chăng một phần ba đã đi lên trung tâm cổ họng?
219. From this, we can tell that man is still very much under the influence of the third aspect of divinity and is thus “lunar” in his expression.
219. Từ đây, chúng ta có thể thấy rằng con người vẫn còn chịu ảnh hưởng rất mạnh của phương diện thứ ba của thiên tính và do đó còn “nguyệt tính” trong sự biểu lộ của mình.
Only when the fire has circled unimpeded up another channel is the complete merging with the fire of manas effected,
Chỉ khi lửa đã tuần hoàn không bị cản trở đi lên theo một kênh khác thì sự hợp nhất hoàn toàn với lửa của manas mới được thực hiện,
220. This channel can be assumed to be the Pingala.
220. Kênh này có thể được giả định là Pingala.
221. Notice that the rising of the fire is called a circling; the fire must have “circled unimpeded” before the complete merging with the fire of manas is effected.
221. Hãy lưu ý rằng sự đi lên của lửa được gọi là một sự tuần hoàn; lửa phải đã “tuần hoàn không bị cản trở” trước khi sự hợp nhất hoàn toàn với lửa của manas được thực hiện.
222. We remember that the complete merging is the process undertaken between the first and fourth initiations.
222. Chúng ta nhớ rằng sự hợp nhất hoàn toàn là tiến trình được thực hiện giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ tư.
and only when it progresses geometrically up all the three
và chỉ khi nó tiến triển theo hình học lên cả ba
223. It progresses according to the ray of the monad.
223. Nó tiến triển theo cung của chân thần.
—with simultaneous action and at uniform vibration
—với hoạt động đồng thời và rung động đồng nhất
224. Implying the influence of the sign Libra which can be correlated with the base of the spine center just as Aries is correlated to the head center.
224. Hàm ý ảnh hưởng của dấu hiệu Thiên Bình, vốn có thể được tương quan với trung tâm đáy cột sống cũng như Bạch Dương được tương quan với trung tâm đầu.
—is the true kundalini fire fully aroused,
—thì lửa kundalini chân chính mới được đánh thức hoàn toàn,
225. This full arousal occurring, finally, at the fifth initiation, though the full arousal here discussed may well be said to occur at the fourth degree.
225. Sự đánh thức hoàn toàn này rốt cuộc xảy ra ở lần điểm đạo thứ năm, dù sự đánh thức hoàn toàn được bàn ở đây cũng rất có thể được nói là xảy ra ở cấp bốn.
and therefore able to perform its work of cleansing through the burning of the confining web and of the separating particles.
và do đó có thể thực hiện công việc thanh tẩy của nó bằng cách đốt cháy mạng lưới giam hãm và các hạt phân cách.
226. What restricts the rising of the fire?—“the confining web” and “separating particles”.
226. Điều gì hạn chế sự đi lên của lửa?—“mạng lưới giam hãm” và “các hạt phân cách”.
When this is accomplished the threefold channel becomes one channel. Hence the danger.
Khi điều này được hoàn thành, kênh tam phân trở thành một kênh duy nhất. Vì thế mới có nguy hiểm.
227. Earlier we discussed that the etheric channel was both threefold and unitary. Here we see the point of evolution at which the three channels become the one.
227. Trước đây chúng ta đã bàn rằng kênh dĩ thái vừa có tính tam phân vừa có tính nhất nguyên. Ở đây chúng ta thấy điểm tiến hoá mà tại đó ba kênh trở thành một.
228. Immediately below we have an hypothesis regarding the order of the ease of opening of the tiers of petals (or of the three types of petal within any tier) within the causal body.
228. Ngay bên dưới, chúng ta có một giả thuyết liên quan đến thứ tự dễ khai mở của các tầng cánh hoa (hay của ba loại cánh hoa trong bất kỳ tầng nào) bên trong thể nguyên nhân.
229. As a general rule, the knowledge petals open first, the love petals next and the sacrifice petals third, but tiers and petals do not open in regular rhythmic sequence because the monadic ray will affect the rhythm of opening.
229. Theo quy luật chung, các cánh hoa tri thức mở ra trước, các cánh hoa bác ái kế tiếp, và các cánh hoa hi sinh thứ ba, nhưng các tầng và các cánh hoa không mở ra theo một trình tự nhịp điệu đều đặn vì cung chân thần sẽ ảnh hưởng đến nhịp điệu khai mở.
230. The code used is the following: FRM = First Ray Monad; SRM = Second Ray Monad: TRM = Third Ray Monad.
230. Mã được dùng như sau: FRM = Chân thần Cung một; SRM = Chân thần Cung hai: TRM = Chân thần Cung ba.
231. Explanation: For FRM, it is very hard to love.
231. Giải thích: Đối với FRM, việc yêu thương là rất khó.
“The Monads of power have a much greater struggle, and hence the fact so often apparent that people on what we term the power Ray, have so often a hard time, and are so frequently unlovable. They have to build in on all the six planes the love aspect, which is not prominent in their development.” (TCF 578-579)
“Các Chân thần quyền lực có một cuộc đấu tranh lớn lao hơn nhiều, và do đó có sự kiện thường thấy là những người thuộc điều chúng ta gọi là Cung quyền lực thường gặp thời kỳ khó khăn, và thường rất khó mến. Họ phải xây dựng phương diện bác ái trên cả sáu cõi, phương diện này không nổi trội trong sự phát triển của họ.” (TCF 578-579)
232. For the SRM knowledge is hardest to achieve. (TCF 546)
232. Đối với SRM, tri thức là điều khó đạt được nhất. (TCF 546)
233. For the TRM, who is so individualistic, it is very hard to sacrifice his own methods and go with the higher will.
233. Đối với TRM, vốn rất cá nhân chủ nghĩa, việc hi sinh các phương pháp riêng của mình và đi theo ý chí cao hơn là rất khó.
234. For the FRM, the knowledge petal unfolds midway between the unfoldment of that petal for the SRM (slow) and TRM (fast); the sacrifice petals for the FRM unfold fastest of all, but love petals slower than the other two. There is a big delay on the unfoldment of the love petals for FRM, and later, the sacrifice petals and love petals unfold in a shorter period of time, closer to each other.
234. Đối với FRM, cánh hoa tri thức khai mở ở điểm giữa giữa sự khai mở của cánh hoa đó nơi SRM (chậm) và TRM (nhanh); các cánh hoa hi sinh nơi FRM khai mở nhanh nhất trong tất cả, nhưng các cánh hoa bác ái lại chậm hơn hai loại kia. Có một sự trì hoãn lớn trong sự khai mở các cánh hoa bác ái nơi FRM, và về sau, các cánh hoa hi sinh và các cánh hoa bác ái khai mở trong một khoảng thời gian ngắn hơn, gần nhau hơn.
235. For all types the knowledge petals are first to unfold and the sacrifice petals the last, but there are relative differences in the rate of this unfoldment.
235. Đối với mọi loại, các cánh hoa tri thức là những cánh đầu tiên khai mở và các cánh hoa hi sinh là những cánh cuối cùng, nhưng có những khác biệt tương đối trong tốc độ khai mở này.
236. We have three triangles. Below, the aspects are assigned to the points in each triangle.
236. Chúng ta có ba tam giác. Bên dưới, các phương diện được gán cho các điểm trong mỗi tam giác.
a. Pineal, Pituitary, Alta (1, 2, 3)
a. Tùng quả, tuyến yên, alta major (1, 2, 3)
b. Shoulder, Diaphragm, Spleen (1, 2, 3)
b. Vai, cơ hoành, lá lách (1, 2, 3)
c. Base of Spine, Reproductive Organ 1, Reproductive Organ 2 (1, 2, 3?)
c. Đáy cột sống, cơ quan sinh sản 1, cơ quan sinh sản 2 (1, 2, 3?)
237. Reasoning is now given for using the order of petal unfoldment suggested:
237. Nay đưa ra lập luận cho việc sử dụng thứ tự khai mở cánh hoa được gợi ý:
a. The etheric body reflects the causal body. The petals of the egoic lotus relate to chakras in the etheric chakra system. The detailed design of this relationship is a subject for deep exploration. Suffice it to say that we may hypothesize that different chakras relate to different petals (and tiers of petals) and vice versa.
a. Thể dĩ thái phản ánh thể nguyên nhân. Các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã liên hệ với các luân xa trong hệ thống luân xa dĩ thái. Thiết kế chi tiết của mối liên hệ này là một chủ đề cần được khảo cứu sâu xa. Chỉ cần nói rằng chúng ta có thể giả định rằng các luân xa khác nhau liên hệ với các cánh hoa khác nhau (và các tầng cánh hoa), và ngược lại.
b. The speed of unfoldment of the petals of the egoic lotus is determined by the monadic ray. May it be that different monadic types unfold petals at different speeds because they apply their energy to the petals in a different order? It appear that the different monadic types follow, according to the Law of Economy, the Line of Least Resistance in the process of unfolding the petals of the egoic lotus/
b. Tốc độ khai mở của các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã được quyết định bởi cung chân thần. Có thể chăng các loại chân thần khác nhau khai mở các cánh hoa với tốc độ khác nhau vì chúng áp dụng năng lượng của mình lên các cánh hoa theo một thứ tự khác nhau? Có vẻ như các loại chân thần khác nhau tuân theo, theo Định luật Tiết Kiệm, con đường ít trở ngại nhất trong tiến trình khai mở các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã/
c. The following paragraph illustrates the principle relating the monadic ray to speed of petal unfoldment.:
c. Đoạn văn sau minh họa nguyên lý liên hệ cung chân thần với tốc độ khai mở cánh hoa.:
“First, that according to the Ray of the Monad, so will the petals unfold. For instance, if the Ray of the Monad is the second Ray, the knowledge petal will be the first to open, but the second petal of love will almost parallel its development, being for that particular type of Ego the line of easiest unfoldment; the knowledge petal will be for it the most difficult to open.” (TCF 546)
“Thứ nhất, rằng theo cung của Chân thần, các cánh hoa sẽ khai mở như vậy. Chẳng hạn, nếu cung của Chân thần là cung hai, cánh hoa tri thức sẽ là cánh đầu tiên mở ra, nhưng cánh hoa bác ái thứ hai sẽ gần như song hành với sự phát triển của nó, vì đối với loại Chân ngã đặc biệt đó, đây là đường khai mở dễ dàng nhất; cánh hoa tri thức sẽ là cánh khó mở nhất đối với nó.” (TCF 546)
d. The progression of the rising fire geometrically is determined by a man’s “Ray”. We assume this means the monadic ray. The monadic ray is connected with the etheric body through the principle of Life/Vitality.
d. Sự tiến triển theo hình học của ngọn lửa đi lên được quyết định bởi “cung” của một người. Chúng ta giả định điều này có nghĩa là cung chân thần. Cung chân thần được nối kết với thể dĩ thái thông qua nguyên khí Sự Sống/Sinh lực.
e. The unfoldment of the petals of the egoic lotus is correlated with the rising of the fire through the system of chakras (by triangles). The knowledge petals unfolding are correlated ONLY with the activation of the lower triangles of the chakric system or, at least, not with the unfoldment of the highest triangles.
e. Sự khai mở các cánh hoa của Hoa Sen Chân Ngã có tương quan với sự đi lên của lửa qua hệ thống các luân xa (bằng các tam giác). Sự khai mở các cánh hoa tri thức CHỈ tương quan với sự hoạt hóa các tam giác thấp của hệ thống luân xa hoặc, ít nhất, không tương quan với sự khai mở các tam giác cao nhất.
f. IF we have arrived at the correct progression of unfoldment in the egoic lotus, we may infer a similar progression of activation in the triangles of the etheric body.
f. NẾU chúng ta đã đi đến đúng tiến trình khai mở trong Hoa Sen Chân Ngã, thì chúng ta có thể suy ra một tiến trình hoạt hóa tương tự trong các tam giác của thể dĩ thái.
238. The value of this exploration is to help us know our next step in the evolutionary process.
238. Giá trị của sự khảo cứu này là giúp chúng ta biết bước kế tiếp của mình trong tiến trình tiến hoá.
239. Below, there are listed a number of etheric triangles with aspects of divinity (first, second and third) assigned to each point in the triangle.
239. Bên dưới liệt kê một số tam giác dĩ thái với các phương diện của thiên tính (thứ nhất, thứ hai và thứ ba) được gán cho mỗi điểm trong tam giác.
240. There is suggested a process whereby to determine the progression of the fire through the triangles according to the monadic ray type.
240. Có một tiến trình được gợi ý để xác định sự tiến triển của lửa qua các tam giác theo loại cung chân thần.
a. Name the rays associated with the triangle points
a. Nêu tên các cung liên kết với các điểm của tam giác
b. Then determine according to monadic ray, which points come first, second and third for each type of monad.
b. Sau đó xác định, theo cung chân thần, những điểm nào đến trước, thứ hai và thứ ba đối với mỗi loại chân thần.
241. Some triangles with aspects assigned:
241. Một số tam giác với các phương diện được gán như sau:
1. The pranic triangle.
1. Tam giác prana.
a. The shoulder centre. [1]
a. Trung tâm vai. [1]
b. The centre near the diaphragm.[2]
b. Trung tâm gần cơ hoành.[2]
c. The spleen. [3]
c. Lá lách. [3]
2. Man controlled from the astral plane.
2. Con người được kiểm soát từ cõi cảm dục.
a. The base of spine. [1]
a. Đáy cột sống. [1]
b. The solar plexus. [3]
b. Tùng thái dương. [3]
c. The heart. [2]
c. Tim. [2]
3. Man controlled from the mental plane.
3. Con người được kiểm soát từ cõi trí.
a. The base of spine. [1]
a. Đáy cột sống. [1]
b. The heart. [2]
b. Tim. [2]
c. The throat. [3]
c. Cổ họng. [3]
242. If we want to test this hypothesis, the very least required is a knowledge of the monadic ray.
242. Nếu chúng ta muốn kiểm nghiệm giả thuyết này, thì điều tối thiểu cần có là tri thức về cung chân thần.
243. If we want to test this astrologically and assign planets and rays to the centers, we can look at the chart for a triangle stage prominent for a particular person, and see which of the three points show the greatest degree of activation.
243. Nếu chúng ta muốn kiểm nghiệm điều này theo chiêm tinh học và gán các hành tinh cùng các cung cho các trung tâm, chúng ta có thể xem lá số đối với một giai đoạn tam giác nổi trội nơi một người cụ thể, và xem điểm nào trong ba điểm cho thấy mức độ hoạt hóa lớn nhất.
244. Of course there are many pitfalls, and one would have to be an accurate clairvoyant to observe the process properly.
244. Dĩ nhiên có nhiều cạm bẫy, và người ta sẽ phải là một nhà thông nhãn chính xác mới có thể quan sát tiến trình này một cách đúng đắn.
245. For the three triangles above, the order of activation for the various monadic types is suggested to be as follows:
245. Đối với ba tam giác trên, thứ tự hoạt hóa cho các loại chân thần khác nhau được gợi ý như sau:
a. FRM: a, c, b
a. FRM: a, c, b
b. SRM: b, a, c
b. SRM: b, a, c
c. TRM: c, b, a
c. TRM: c, b, a
246. Below are more advanced chakric triangles, but note that the aspect assignment to the different points in the triangle differs from the assignments given for the first three triangles.
246. Bên dưới là các tam giác luân xa cao cấp hơn, nhưng lưu ý rằng sự gán phương diện cho các điểm khác nhau trong tam giác khác với các sự gán đã nêu cho ba tam giác đầu tiên.
4. Man partially controlled by the Ego, advanced man.
4. Con người được Chân ngã kiểm soát một phần, con người tiến bộ.
a. The heart. [2]
a. Tim. [2]
b. The throat. [3]
b. Cổ họng. [3]
c. The head, i.e., the four lesser centres and their synthesis, the ajna centre. [1]
c. Đầu, tức là bốn trung tâm nhỏ hơn và sự tổng hợp của chúng, trung tâm ajna. [1]
5. Spiritual man to the third Initiation.
5. Con người tinh thần cho đến lần điểm đạo thứ ba.
a. The heart. [2]
a. Tim. [2]
b. The throat. [3]
b. Cổ họng. [3]
c. The seven head centres. [1]
c. Bảy trung tâm đầu. [1]
247. Many who study these teachings find themselves in this fifth phase. The triangle above will be active for them. Can the investigator determine which of the three points is the most active? Which of the three points are similarly active? Which of the three is least active? Such a determination may help to determine the monadic ray. Of if the monadic ray is known, the relative activity or inactivity of the three centers may help to confirm or deny the theory of activation proposed.
247. Nhiều người nghiên cứu các giáo huấn này thấy mình ở trong giai đoạn thứ năm này. Tam giác trên sẽ hoạt động đối với họ. Nhà khảo cứu có thể xác định điểm nào trong ba điểm là hoạt động mạnh nhất không? Điểm nào trong ba điểm hoạt động tương tự nhau? Điểm nào trong ba điểm hoạt động yếu nhất? Một sự xác định như thế có thể giúp xác định cung chân thần. Hoặc nếu cung chân thần đã được biết, thì mức độ hoạt động hay bất hoạt tương đối của ba trung tâm có thể giúp xác nhận hay phủ nhận lý thuyết hoạt hóa được đề xuất.
6. Spiritual man to the fifth Initiation.
6. Con người tinh thần cho đến lần điểm đạo thứ năm.
a. The heart. [3?]
a. Tim. [3?]
b. The seven head centres. [2]
b. Bảy trung tâm đầu. [2]
c. The two many-petalled lotuses. [1]
c. Hai hoa sen nhiều cánh. [1]
248. In these last three triangles, the process lying ahead of the majority of humanity is described. The merging of the fires of matter with the fires of manas has yet to be effected in the majority of cases.
248. Trong ba tam giác cuối này, tiến trình đang ở phía trước đối với đa số nhân loại được mô tả. Sự hợp nhất các lửa của vật chất với các lửa của manas vẫn chưa được thực hiện trong đa số trường hợp.
249. The rising up the all three channels is apparently not direct but proceeds geometrically.
249. Sự đi lên qua cả ba kênh dường như không trực tiếp mà tiến hành theo hình học.
250. The progressive rising must be simultaneous (active in all three channels simultaneously) and vibrating in a uniform manner in all three channels. An unbalanced simultaneous rising would apparently be undesirable.
250. Sự đi lên tuần tự phải đồng thời diễn ra (hoạt động trong cả ba kênh cùng lúc) và rung động một cách đồng đều trong cả ba kênh. Một sự đi lên đồng thời nhưng mất cân bằng dường như là điều không mong muốn.
251. It is clear that the full rising of kundalini does not take place immediately and at first, but in progressive stages.
251. Rõ ràng là sự đi lên trọn vẹn của kundalini không diễn ra ngay lập tức và lúc đầu, mà theo các giai đoạn tuần tự.
252. The rising fire has two cleansing tasks:
252. Ngọn lửa đi lên có hai nhiệm vụ thanh tẩy:
a. The burning of the confining web
a. Đốt cháy mạng lưới giam hãm
b. The burning of separating particles
b. Đốt cháy các hạt phân cách
253. When there is adequate cleansing and purification, the three channels become one channel—a reflection of the higher mystery of the three that are one—the Trinity.
253. Khi có sự thanh tẩy và tinh luyện đầy đủ, ba kênh trở thành một kênh—một phản ánh của huyền nhiệm cao hơn về ba là một—Ba Ngôi/Tam Vị.
254. A hint is here given about “danger”. The force rising through one, synthetic channel, must be far stronger than the force divided amongst three channels.
254. Ở đây có một gợi ý về “nguy hiểm”. Mãnh lực đi lên qua một kênh tổng hợp duy nhất phải mạnh hơn rất nhiều so với mãnh lực được phân chia giữa ba kênh.
255. Perhaps there is a greater temporary safety in threefoldness than in a premature unification.
255. Có lẽ có một sự an toàn tạm thời lớn hơn trong tính tam phân hơn là trong một sự hợp nhất quá sớm.
No more can be imparted concerning this subject. He who directs his efforts to the control of the fires of matter, is (with a dangerous certainty) playing with a fire that may literally destroy him.
Không thể truyền đạt thêm gì về chủ đề này. Kẻ nào hướng nỗ lực của mình vào việc kiểm soát các lửa của vật chất thì đang (với một sự chắc chắn nguy hiểm) đùa với một ngọn lửa có thể theo nghĩa đen hủy diệt y.
256. Such direction is not a fit enterprise for the modern disciple.
256. Sự định hướng như thế không phải là một công việc thích hợp cho đệ tử hiện đại.
257. Note the words “dangerous certainty”. It is certain that such a willful enterprise is dangerous and may lead to the destruction of the one who “plays with…fire”.
257. Lưu ý các từ “sự chắc chắn nguy hiểm”. Điều chắc chắn là một nỗ lực cố ý như thế thì nguy hiểm và có thể dẫn đến sự hủy diệt của kẻ “đùa với…lửa”.
258. The destruction promised is “literal” and not figurative.
258. Sự hủy diệt được báo trước là “theo nghĩa đen” chứ không phải nghĩa bóng.
He should not cast his eyes backwards, but should lift them to the plane where dwells his immortal Spirit [the monad], and then by self-discipline, mind-control and a definite refining of his material bodies, whether subtle or physical, fit himself to be a vehicle for the divine birth, and participate in the first Initiation.
Y không nên ngoái mắt nhìn về phía sau, mà nên ngước mắt lên cõi nơi ngự trị Tinh thần bất tử của y [chân thần], rồi bằng sự tự kỷ luật, sự kiểm soát trí tuệ và một sự tinh luyện xác định các thể vật chất của mình, dù vi tế hay hồng trần, làm cho mình thích hợp để trở thành một vận cụ cho sự sinh ra thiêng liêng, và tham dự vào lần điểm đạo thứ nhất.
259. It would appear that this “playing with fire” may occur even before experiencing the first initiation, if the term “first initiation” as used here means the Initiation of Birth. The word “divine birth” is used.
259. Có vẻ như việc “đùa với lửa” này có thể xảy ra ngay cả trước khi trải qua lần điểm đạo thứ nhất, nếu thuật ngữ “lần điểm đạo thứ nhất” như được dùng ở đây có nghĩa là Cuộc Điểm Đạo Giáng Sinh. Từ “sự sinh ra thiêng liêng” được dùng.
260. To be preoccupied with matter is to cast one’s eyes backwards.
260. Bận tâm với vật chất là ngoái mắt nhìn về phía sau.
261. The advisable mode of approach is given. We must question our objective and our motive.
261. Phương thức tiếp cận nên theo đã được nêu ra. Chúng ta phải tự hỏi về mục tiêu và động cơ của mình.
262. Five Requirements
262. Năm Yêu Cầu
a. Preamble: Not look back
a. Mở đầu: Không nhìn lại phía sau
b. Preamble: Lift your eyes to the immortal Spirit: these last two are needed to avoid becoming a black magician.
b. Mở đầu: Ngước mắt lên Tinh thần bất tử: hai điều cuối này cần thiết để tránh trở thành một nhà hắc thuật.
c. Practice self-discipline
c. Thực hành tự kỷ luật
d. Control the mind
d. Kiểm soát trí tuệ
e. Refine the material bodies
e. Tinh luyện các thể vật chất
f. Thus, become a vehicle for the divine birth.
f. Như vậy, trở thành một vận cụ cho sự sinh ra thiêng liêng.
263. Note that it is suggested that we actually lift our eyes to the plane where dwells the monad, the “immortal Spirit”. This means that we are to lift our eyes to the second plane, the monadic plane.
263. Lưu ý rằng có gợi ý rằng chúng ta thực sự ngước mắt lên cõi nơi chân thần, “Tinh thần bất tử”, ngự trị. Điều này có nghĩa là chúng ta phải ngước mắt lên cõi thứ hai, cõi chân thần.
When the Christ-child (as the Christian so beautifully expresses it) has been born in the cave of the heart, then that divine guest can consciously control the lower material bodies by means of consecrated mind.
Khi Hài Nhi Christ (như tín đồ Cơ Đốc diễn tả thật đẹp) đã được sinh ra trong hang động của tim, thì vị khách thiêng liêng ấy có thể một cách hữu thức kiểm soát các thể vật chất thấp bằng phương tiện của trí tuệ đã được thánh hiến.
264. The birth of the Christ in the heart augments the power of control over the lower material bodies.
264. Sự giáng sinh của Đức Christ trong tim làm tăng cường quyền năng kiểm soát các thể vật chất thấp.
265. The mind is sacredly committed (consecrated) to such control.
265. Trí tuệ được cam kết một cách thiêng liêng (được thánh hiến) cho sự kiểm soát như thế.
266. Disciples need to cultivate the mind that is in Christ.
266. Các đệ tử cần vun bồi trí tuệ ở trong Đức Christ.
267. It seems that Master DK, in the foregoing discussion, is preparing people for an understanding of the value of the first initiation—the “Birth”.
267. Có vẻ như Chân sư DK, trong phần luận bàn trên, đang chuẩn bị con người cho một sự thấu hiểu về giá trị của lần điểm đạo thứ nhất—“Giáng Sinh”.
Only when buddhi has assumed an ever-increasing control [Page 140] of the personality, via the mental plane (hence the need of building the antaskarana),
Chỉ khi Bồ đề đã đảm nhận một sự kiểm soát ngày càng tăng [Page 140] đối với phàm ngã, qua cõi trí (do đó cần phải xây dựng antaskarana),
268. This means soul-infusion.
268. Điều này có nghĩa là sự được linh hồn thấm nhuần.
269. Buddhi will work especially through the second level of the higher mental plane, for the advanced man and initiate whose causal body is to be found on that plane.
269. Bồ đề sẽ hoạt động đặc biệt qua cấp độ thứ hai của Cõi thượng trí, đối với con người tiến bộ và điểm đạo đồ mà thể nguyên nhân của y được tìm thấy trên cõi đó.
will the personality respond to that which is above, and the lower fires [fires of matter] mount and blend with the two higher. [fires of mind and of spirit]
thì phàm ngã mới đáp ứng với điều ở bên trên, và các lửa thấp [các lửa của vật chất] đi lên và hòa trộn với hai lửa cao hơn. [các lửa của trí tuệ và của tinh thần]
270. We are now dealing with a still higher phase of the initiatory process.
270. Hiện nay chúng ta đang đề cập đến một giai đoạn còn cao hơn nữa của tiến trình điểm đạo.
271. We note that it is buddhi which is to assume control. The abstract mind is not mentioned as the controlling factor.
271. Chúng ta lưu ý rằng chính Bồ đề sẽ đảm nhận sự kiểm soát. Trí trừu tượng không được nhắc đến như yếu tố kiểm soát.
272. It is important to realize that buddhi can work “via the mental plane”. When this happens, the intuitive mind emerges.
272. Điều quan trọng là nhận ra rằng Bồ đề có thể hoạt động “qua cõi trí”. Khi điều này xảy ra, trí tuệ trực giác xuất hiện.
273. Access to buddhi must occur through the antaskarana.
273. Sự tiếp cận Bồ đề phải diễn ra qua antaskarana.
274. Buddhi, which works through the loving soul, acts as a magnet for the lower fires, bringing them in relation to the higher two types of fires.
274. Bồ đề, hoạt động qua linh hồn bác ái, tác động như một nam châm đối với các lửa thấp, đưa chúng vào tương quan với hai loại lửa cao hơn.
Only when Spirit, by the power of thought, controls the material vehicles,
Chỉ khi Tinh thần, bằng quyền năng của tư tưởng, kiểm soát các vận cụ vật chất,
275. We recall the downrushing of the fire of Spirit summoned by the invocatory power of the three higher centers when powerfully energized.
275. Chúng ta nhớ lại sự tuôn xuống của lửa Tinh thần được triệu gọi bởi quyền năng khẩn cầu của ba trung tâm cao hơn khi được tiếp năng lượng mạnh mẽ.
does the subjective life assume its rightful place,
thì sự sống chủ quan mới đảm nhận vị trí chính đáng của nó,
276. The “subjective life” is the life and consciousness of the Indweller.
276. “Sự sống chủ quan” là sự sống và tâm thức của Đấng Nội Tại.
does the God within [the projection of the monad within the causal body] shine and blaze forth till the form is lost from sight, and "The path of the just shine ever more and more until the day be with us."
thì Thượng đế bên trong [sự phóng chiếu của chân thần bên trong thể nguyên nhân]mới chiếu sáng và bừng cháy cho đến khi hình tướng khuất khỏi tầm nhìn, và “Con đường của người công chính chiếu sáng càng lúc càng hơn cho đến khi ngày ở cùng chúng ta.”
277. We have now moved to from the “Birth” to the “Renunciation”.
277. Giờ đây chúng ta đã chuyển từ “Giáng Sinh” sang “Từ Bỏ”.
278. This is a beautiful consummatory statement. The “Path of the Just” leads straight to the monad, once the causal body has been destroyed.
278. Đây là một phát biểu kết thúc thật đẹp. “Con Đường của Người Công Chính” dẫn thẳng đến chân thần, một khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt.
279. The mode of alignment through which control of the material vehicles is effected is clear: Spirit—mind—matter.
279. Phương thức chỉnh hợp qua đó sự kiểm soát các vận cụ vật chất được thực hiện thì rõ ràng: Tinh thần—trí tuệ—vật chất.
280. DK evokes an image of the “blotting out” of all form in the light of the subjective blaze. This signifies the triumph of the Spirit.
280. DK gợi lên một hình ảnh về sự “xóa mờ” mọi hình tướng trong ánh sáng của ngọn lửa chủ quan. Điều này biểu thị sự chiến thắng của Tinh thần.
281. We see that for consummation to be reached, Spirit must be in control. Before that, the subjective life (of consciousness) cannot assume its rightful place.
281. Chúng ta thấy rằng để đạt đến sự viên mãn, Tinh thần phải nắm quyền kiểm soát. Trước đó, sự sống chủ quan (của tâm thức) không thể đảm nhận vị trí chính đáng của nó.
282. Mention of the “Path of the Just” is inserted in relation to the discussion of the Kundalini. The blended threefold etheric channel (blended into one) can be considered “The Path of the Just”, or, rather, a significant material reflection of a higher version of this Path—i.e. the antahkarana (blended with the sutratma or life thread). When the antahkarana truly reaches to the monad, it is an indication that the kundalini has risen in fullness. Mercury (the antahkarana) and the Sun (the monad) are then one.
282. Việc nhắc đến “Con Đường của Người Công Chính” được chen vào liên hệ với cuộc bàn luận về Kundalini. Kênh dĩ thái tam phân đã hòa trộn (hòa thành một) có thể được xem là “Con Đường của Người Công Chính”, hay đúng hơn, là một phản ánh vật chất quan trọng của một phiên bản cao hơn của Con Đường này—tức là antahkarana (được hòa trộn với sutratma hay sinh mệnh tuyến). Khi antahkarana thực sự vươn tới chân thần, đó là một dấu hiệu cho thấy kundalini đã dâng lên trọn vẹn. Sao Thủy (antahkarana) và Mặt Trời (chân thần) khi ấy là một.
TCF 141-152:S2S2
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các cước chú và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
Please Read these Commentaries with your TCF Book Handy for the Sake of Continuity
Xin đọc các phần Bình Luận này với sách TCF trong tay để bảo đảm tính liên tục
[Page 141]
[Page 141]
DIVISION E - MOTION ON THE PHYSICAL AND ASTRAL PLANES
PHÂN ĐOẠN E - CHUYỂN ĐỘNG TRÊN CÕI HỒNG TRẦN VÀ CÕI CẢM DỤC
I. Preliminary remarks.
I. Những nhận xét sơ bộ.
1. The threefold goal.
1. Mục tiêu tam phân.
2. The threefold function.
2. Chức năng tam phân.
3. The threefold mode of activity.
3. Phương thức hoạt động tam phân.
II. The effects of rotary motion.
II. Những hiệu quả của chuyển động quay.
1. Separation.
1. Sự phân ly.
2. Momentum.
2. Động lượng.
3. Friction.
3. Ma sát.
4. Absorption.
4. Sự hấp thu.
III. The qualities of rotary motion.
III. Những phẩm tính của chuyển động quay.
1. Inertia.
1. Quán tính.
2. Mobility.
2. Tính động.
3. Rhythm.
3. Nhịp điệu.
IV. Rotary motion and symbolism.
IV. Chuyển động quay và biểu tượng học.
V. Motion and the centres.
V. Chuyển động và các trung tâm.
1. The nature of the centres.
1. Bản chất của các trung tâm.
2. The centres and the rays.
2. Các trung tâm và các cung.
3. The centres and kundalini.
3. Các trung tâm và kundalini.
4. The centres and the senses.
4. Các trung tâm và các giác quan.
5. The centres and initiation.
5. Các trung tâm và điểm đạo.
1. We see from the nature of the outline that DK is beginning a most comprehensive subject
1. Từ bản dàn ý, chúng ta thấy DK đang bắt đầu một chủ đề hết sức toàn diện
I. PRELIMINARY REMARKS
I. NHỮNG NHẬN XÉT SƠ BỘ
I would point out primarily and emphasize the fact that the motion we are considering is that due to the fire latent in matter itself, a motion that is the prime characteristic and basic quality of the Primordial Ray of Active Intelligence.
Trước hết tôi muốn chỉ ra và nhấn mạnh sự kiện rằng chuyển động mà chúng ta đang xét là chuyển động do lửa tiềm ẩn trong chính vật chất, một chuyển động là đặc tính chủ yếu và phẩm tính căn bản của Cung Nguyên Sơ của Trí Tuệ Hoạt Động.
2. Motion, itself, is fundamental to the manifestation of cosmos. Motion can be considered part of a foundational Trinity: Time, Space. Motion. Fire produces rotation and rotation is the basic quality of the first type of motion to be considered.
2. Bản thân chuyển động là nền tảng đối với sự biểu hiện của vũ trụ. Chuyển động có thể được xem là một phần của một Tam Vị nền tảng: Thời gian, Không gian, Chuyển động. Lửa tạo ra sự quay, và sự quay là phẩm tính căn bản của loại chuyển động đầu tiên được xem xét.
3. The motion here considered is “the prime characteristic and basic quality of the Primordial Ray of Active Intelligence”.
3. Chuyển động được xét ở đây là “đặc tính chủ yếu và phẩm tính căn bản của Cung Nguyên Sơ của Trí Tuệ Hoạt Động”.
To express it otherwise: it is the outstanding faculty of the third Logos, of Brahma [Page 142] viewed as the Creator, and this faculty is the product or result of an earlier manifestation.
Nói theo cách khác: đó là năng lực nổi bật của Thượng đế thứ ba, của Brahma [Page 142] được nhìn như Đấng Sáng Tạo, và năng lực này là sản phẩm hay kết quả của một sự biểu hiện sớm hơn.
4. There are summary statements.
4. Đây là những phát biểu tóm lược.
5. Creativity depends upon that quality of motion we call rotation.
5. Tính sáng tạo tùy thuộc vào phẩm tính chuyển động mà chúng ta gọi là sự quay tròn.
6. Brahma is the Creator and Third Logos; He wields the Primordial Ray which was most active in an earlier manifestation—what is known (in relation to the expression of our Solar Logos) as the “first solar system” (though really the fourth).
6. Brahma là Đấng Sáng Tạo và là Logos thứ ba; Ngài vận dụng Cung Nguyên Sơ vốn hoạt động mạnh nhất trong một biểu hiện trước kia—điều được biết đến (liên hệ với sự biểu lộ của Thái dương Thượng đế của chúng ta) như là “hệ mặt trời thứ nhất” (dù thực ra là thứ tư).
7. As a human being develops through his physical-etheric, astral and mental bodies, followed by personality, soul and Spirit development, so it is with a Solar Logos.
7. Cũng như một con người phát triển qua thể xác-dĩ thái, thể cảm dục và thể trí của y, rồi tiếp theo là sự phát triển của phàm ngã, linh hồn và tinh thần, thì một Thái dương Thượng đế cũng như vậy.
8. The very first solar system would correspond to the Lemurian stage of development; the focus would be upon the physical-etheric nature of the Solar Logos; focus in the second solar system would be upon His astral body and in the third upon his lower mental vehicle. The fourth solar system would be mental in focus and concerned with the development, integration and expression of the solar logoic personality. Our present solar system is the fifth (from this perspective) and its focus is upon the soul nature of the Solar Logos. The solar system to come will focus upon the Spirit development of the Solar Logos.
8. Hệ mặt trời đầu tiên sẽ tương ứng với giai đoạn phát triển Lemuria; trọng tâm sẽ đặt vào bản chất xác thân-dĩ thái của Thái dương Thượng đế; trọng tâm trong hệ mặt trời thứ hai sẽ đặt vào thể cảm dục của Ngài và trong hệ thứ ba sẽ đặt vào vận cụ hạ trí của Ngài. Hệ mặt trời thứ tư sẽ có trọng tâm trí tuệ và liên quan đến sự phát triển, sự tích hợp và sự biểu lộ của phàm ngã logoi thái dương. Hệ mặt trời hiện nay của chúng ta là hệ thứ năm (xét từ góc nhìn này) và trọng tâm của nó đặt vào bản chất linh hồn của Thái dương Thượng đế. Hệ mặt trời sắp đến sẽ đặt trọng tâm vào sự phát triển tinh thần của Thái dương Thượng đế.
Each of the three Logoi, when in manifestation and thus personified, is exemplifying some one quality which predominates over the others.
Mỗi một trong ba Logos, khi đang biểu hiện và do đó được nhân cách hóa, đều nêu biểu một phẩm tính nào đó trội hơn các phẩm tính khác.
9. When a Logos is in manifestation, He is considered “personified”. Personification occurs only in manifestation.
9. Khi một Logos đang biểu hiện, Ngài được xem là “được nhân cách hóa”. Sự nhân cách hóa chỉ xảy ra trong biểu hiện.
10. “Personification” is the aggregation of lower vehicles through which to manifest inherent quality.
10. “Sự nhân cách hóa” là sự tập hợp các vận cụ thấp để qua đó biểu lộ phẩm tính cố hữu.
11. We note that the various Logoi have qualities other than and in addition to the one which they most exemplify.
11. Chúng ta lưu ý rằng các Logos khác nhau có những phẩm tính khác với và bổ sung cho phẩm tính mà các Ngài nêu biểu mạnh nhất.
Each, more or less, exemplifies all, but each demonstrates one of the three aspects so profoundly as to be recognised as that aspect itself.
Mỗi Đấng, ít nhiều, đều nêu biểu tất cả, nhưng mỗi Đấng biểu hiện một trong ba phương diện sâu sắc đến mức được nhìn nhận như chính phương diện ấy.
12. This is an extremely important statement. We may tend to think of the Logoi as if they were characterized only by the quality for which they are most recognized. This would be an error, for “each, more or less, exemplifies all” qualities.
12. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng. Chúng ta có thể có khuynh hướng nghĩ về các Logos như thể các Ngài chỉ được đặc trưng bởi phẩm tính mà các Ngài được biết đến nhiều nhất. Điều này sẽ là một sai lầm, vì “mỗi Đấng, ít nhiều, đều nêu biểu tất cả” các phẩm tính.
13. Brahma and Vishnu are in Shiva; Brahma and Shiva are in Vishnu; Shiva and Vishnu are in Brahma.
13. Brahma và Vishnu ở trong Shiva; Brahma và Shiva ở trong Vishnu; Shiva và Vishnu ở trong Brahma.
14. Thus, it may be inferred that each of the three fires would similarly hold the others ‘latent’ or, perhaps, simply subsidiary ‘within’ it.
14. Do đó, có thể suy ra rằng mỗi một trong ba ngọn lửa cũng tương tự như vậy, đều giữ hai ngọn kia ở trạng thái “tiềm ẩn” hoặc có lẽ chỉ là phụ thuộc “bên trong” chính nó.
In much the same way, for instance, the different incarnating jivas carry a vibration which is their main measure, though they may also have lesser vibrations that are subsidiary to them.
Theo cách rất tương tự như vậy, chẳng hạn, các jiva nhập thể khác nhau mang một rung động là thước đo chính của chúng, dù chúng cũng có thể có những rung động nhỏ hơn phụ thuộc vào rung động chính ấy.
15. What is a “reincarnating jiva”? A Jiva is the “prodigal son” setting forth on a pilgrimage which will take him into the five Brahmic planes of vibration on the cosmic physical plane: atmic, buddhic, manasic, astral and etheric-physical. “Having pervaded the entire universe with a fragment of myself, I remain.” The Monad remains, though its emanation (the Jiva) goes forth.
15. “Jiva tái sinh” là gì? Một Jiva là “đứa con hoang đàng” lên đường trong một cuộc hành hương sẽ đưa y vào năm cõi Brahma của rung động trên cõi hồng trần vũ trụ: atma, Bồ đề, manas, cảm dục và dĩ thái-hồng trần. “Sau khi thấm nhuần toàn thể vũ trụ bằng một mảnh của chính ta, ta vẫn còn.” Chân thần vẫn còn đó, dù sự phát xạ của nó (Jiva) đi ra ngoài.
16. When DK speaks of the lesser vibrations which are in the possession of the Jiva, it is another way of saying that each of us (as Jivas) has all the rays, and all the various astrological qualities, though in differing proportions.
16. Khi Chân sư DK nói về những rung động nhỏ hơn mà Jiva sở hữu, đó là một cách khác để nói rằng mỗi chúng ta (với tư cách là các Jiva) đều có mọi cung, và mọi phẩm tính chiêm tinh khác nhau, dù theo những tỉ lệ khác nhau.
Let us get this clear, for the truth embodied is fundamental.
Chúng ta hãy làm rõ điều này, vì chân lý được hàm chứa ở đây là nền tảng.
17. We are discussing a holographic principle. The whole is reflected in each part, though the proportion of the aspects of the whole which are reflected varies.
17. Chúng ta đang bàn đến một nguyên lý toàn ảnh. Toàn thể được phản chiếu trong mỗi phần, dù tỉ lệ các phương diện của toàn thể được phản chiếu thì khác nhau.
1. The threefold goal,
1. Mục tiêu tam phân,
2. The threefold function,
2. Chức năng tam phân,
3. The threefold mode of activity.
3. Phương thức hoạt động tam phân.
18. The number nine is evident in this tabulation. Nine is the number of completion. The complete cycle of initiation has nine phases.
18. Con số chín hiển nhiên trong bảng liệt kê này. Chín là con số của sự hoàn tất. Chu kỳ điểm đạo trọn vẹn có chín giai đoạn.
The Third Logos. The third Logos, or Brahma, is characterised by active intelligence; His mode of action is that which we call rotary, or that measured revolution of the matter of the system, first as a grand totality, setting in movement the material circumscribed by the entire ring-pass-not, and secondly differentiating it, according to seven vibratory rates or measures into the seven planes. [this is what Fohat does]
Logos thứ ba. Logos thứ ba, hay Brahma, được đặc trưng bởi trí tuệ linh hoạt; phương thức hành động của Ngài là điều chúng ta gọi là quay tròn, hay sự xoay chuyển có nhịp độ của vật chất của hệ thống, trước hết như một tổng thể lớn lao, làm cho chất liệu được bao hàm trong toàn bộ vòng-giới-hạn chuyển động, và thứ hai là biến phân nó, theo bảy nhịp độ hay thước đo rung động thành bảy cõi. [this is what Fohat does]
19. This is a review.
19. Đây là một sự điểm lại.
20. Musical keys are determined by rates and measures.
20. Các khóa nhạc được xác định bởi các nhịp độ và thước đo.
21. Can the Logoi be the Gods of the super constellations? There are Logoi on various levels. Some are intra-systemic; some extra-systemic; some are definitely cosmic.
21. Các Logos có thể là các Thượng đế của những siêu chòm sao không? Có những Logos ở nhiều cấp độ khác nhau. Một số là nội hệ; một số là ngoại hệ; một số rõ ràng là vũ trụ.
22. It is clear that each type of rotation has its own measure or period (of rotation), all the way from the rotation of the “grand totality” down to the rotation of the tiny differentiated unit.
22. Rõ ràng là mỗi loại quay tròn đều có thước đo hay chu kỳ riêng của nó (của sự quay tròn), từ sự quay tròn của “tổng thể lớn lao” cho đến sự quay tròn của đơn vị biến phân nhỏ bé.
23. Brahma, Fohat and the Holy Spirit are equivalent terms.
23. Brahma, Fohat và Chúa Thánh Thần là những thuật ngữ tương đương.
24. The “seven vibratory rates and measures” of the seven planes of the cosmic physical plane are certainly numbered among the secrets of initiation.
24. “Bảy nhịp độ và thước đo rung động” của bảy cõi trên cõi hồng trần vũ trụ chắc chắn nằm trong số những bí mật của điểm đạo.
25. When speaking of “rotation” note how the term “revolution” is substituted for it.
25. Khi nói về “sự quay tròn”, hãy lưu ý cách thuật ngữ “sự xoay chuyển” được dùng thay cho nó.
26. An important concept is offered: the revolution of the matter of the system as “a grand totality” precedes the differentiation of that matter into manifold types.
26. Một khái niệm quan trọng được nêu ra: sự xoay chuyển của vật chất của hệ thống như “một tổng thể lớn lao” đi trước sự biến phân của vật chất ấy thành nhiều loại khác nhau.
On each of these planes the process is pursued, and the matter of any plane within the plane ring-pass-not shows first as a totality and then as a sevenfold differentiation.
Trên mỗi cõi này, tiến trình ấy được tiếp tục, và vật chất của bất kỳ cõi nào trong vòng-giới-hạn của cõi trước hết xuất hiện như một tổng thể rồi sau đó như một sự biến phân thất phân.
27. There is always a rotation of the totality; then, seven different kinds of rotation differentiate the totality into seven different strata.
27. Luôn luôn có sự quay tròn của tổng thể; rồi bảy loại quay tròn khác nhau biến phân tổng thể thành bảy tầng lớp khác nhau.
28. Planes do rotate.
28. Các cõi quả thực có quay tròn.
29. Rotation differentiates.
29. Sự quay tròn tạo ra biến phân.
30. Rotation is based on the triangle.
30. Sự quay tròn dựa trên tam giác.
31. Not only is there the rotation of the “grand totality”, but each of the seven differentiated planes rotates according to its own measure. Each of the subplanes constituting any plane each has its own measure of rotation.
31. Không chỉ có sự quay tròn của “tổng thể lớn lao”, mà mỗi một trong bảy cõi đã biến phân cũng quay tròn theo thước đo riêng của nó. Mỗi cõi phụ cấu thành bất kỳ cõi nào cũng đều có thước đo quay tròn riêng của nó.
32. Something of interest concerning numbers was suggested by one of the participants. The Third Logos would be the epitome of 9, as 3x3; the Second Logos, a 6, as 3x2; the First Logos the 3, as 3 is 3 x 1. In a way, this view is the inverse of that which is presented on (TCF p. 574), where the third system representing the first aspect is associated with the number 27; the second system with the number 18 and the first system (third aspect) with the number 9.
32. Một điều thú vị liên quan đến các con số đã được một người tham dự gợi ý. Logos thứ ba sẽ là tinh hoa của số 9, như 3x3; Logos thứ hai là số 6, như 3x2; Logos thứ nhất là số 3, vì 3 là 3 x 1. Theo một cách nào đó, quan điểm này đảo ngược với điều được trình bày ở (TCF tr. 574), nơi hệ thống thứ ba đại diện cho phương diện thứ nhất được gắn với số 27; hệ thống thứ hai với số 18 và hệ thống thứ nhất (phương diện thứ ba) với số 9.
This differentiation of matter is brought about by rotary motion, and is controlled by the Law of Economy (one of the cosmic laws) with which we will deal later, only pausing here to say that this Law of Economy might be considered as the controlling factor in the life of the third Logos.
Sự biến phân của vật chất này được tạo ra bởi chuyển động quay tròn, và được kiểm soát bởi Định luật Tiết Kiệm (một trong các định luật vũ trụ) mà chúng ta sẽ bàn đến sau, ở đây chỉ dừng lại để nói rằng Định luật Tiết Kiệm này có thể được xem như là nhân tố kiểm soát trong sự sống của Logos thứ ba.
33. According to the Law of Economy any task is performed with the least expenditure of energy. The negative reflection of this Law is the cutting of corners, expediency at all costs (the fast, easy, and even sloppy way, pursued with the least effort along the line of least resistance). In the negative reflection of the Law there is not much struggle—dictated by moral standards. Rather, sharp practices appear, and organizations that are “lean and mean”.
33. Theo Định luật Tiết Kiệm, bất kỳ công việc nào cũng được thực hiện với mức tiêu hao năng lượng ít nhất. Sự phản chiếu tiêu cực của Định luật này là làm tắt, tính vụ lợi bằng mọi giá (cách nhanh, dễ, thậm chí cẩu thả, được theo đuổi với ít nỗ lực nhất trên con đường ít trở ngại nhất). Trong sự phản chiếu tiêu cực của Định luật này không có nhiều đấu tranh—do các tiêu chuẩn đạo đức chi phối. Thay vào đó, xuất hiện những thủ đoạn sắc sảo, và những tổ chức “gọn nhẹ nhưng khắc nghiệt”.
34. Each of the three Logoi is related to one of the cosmic laws:
34. Mỗi một trong ba Logos liên hệ với một trong các định luật vũ trụ:
a. Third Logos—Law of Economy
a. Logos thứ ba—Định luật Tiết Kiệm
b. Second Logos—Law of Attraction
b. Logos thứ hai—Định luật Hấp Dẫn
c. First Logos—Law of Synthesis
c. Logos thứ nhất—Định luật Tổng Hợp
35. The principle to emerge here is that rotary motion differentiates.
35. Nguyên lý nổi lên ở đây là chuyển động quay tròn tạo ra biến phân.
36. Fohat, in one respect, is the great differentiator of matter.
36. Fohat, trên một phương diện, là đấng biến phân vĩ đại của vật chất.
37. Below, the goals for the Third Logos are listed.
37. Dưới đây, các mục tiêu của Logos thứ ba được liệt kê.
Therefore:
Do đó:
a. His goal is the perfect blending of Spirit and matter.
a. Mục tiêu của Ngài là sự hòa trộn hoàn hảo giữa tinh thần và vật chất.
38. The Third Logos does not seek to create and maintain a sphere of activity unto itself, but to bring about such a condition within the sphere of matter that it may be perfectly blended with Spirit.
38. Logos thứ ba không tìm cách tạo ra và duy trì một khối cầu hoạt động cho riêng Ngài, mà là tạo nên một tình trạng như vậy trong khối cầu vật chất để nó có thể được hòa trộn hoàn hảo với tinh thần.
39. He conditions matter so that it will blend with Spirit.
39. Ngài tác động lên vật chất để nó hòa trộn với tinh thần.
b. His function is the manipulation of prakriti, or matter, so as to make it fit, or equal to, the demands and needs of the Spirit. [Page 143]
b. Chức năng của Ngài là vận dụng prakriti, hay vật chất, để làm cho nó thích hợp, hay tương xứng, với những đòi hỏi và nhu cầu của tinh thần. [Page 143]
40. Through manipulation, the adapting of matter, comes the fitness of matter to meet the needs of Spirit. It is the duty of matter to work for Spirit.
40. Qua sự vận dụng, sự thích nghi của vật chất xuất hiện, và từ đó vật chất trở nên thích hợp để đáp ứng các nhu cầu của tinh thần. Bổn phận của vật chất là hoạt động cho tinh thần.
c. His mode of action is rotary, or, by the revolution of matter, to increase activity and thereby make the material more pliable.
c. Phương thức hành động của Ngài là quay tròn, hay, qua sự xoay chuyển của vật chất, làm gia tăng hoạt động và nhờ đó khiến chất liệu trở nên dễ uốn nắn hơn.
41. The Third Ray is flexible, adaptable and pliable. One of its symbols is the chameleon. People on various rays can be identified by hand gestures. The ‘slippery’ rubbing together of the hands often typifies third ray individuals and exemplifies fire by friction—the fire associated with the third ray.
41. Cung ba thì linh hoạt, dễ thích nghi và dễ uốn nắn. Một trong những biểu tượng của nó là con tắc kè hoa. Những người thuộc các cung khác nhau có thể được nhận ra qua cử chỉ tay. Động tác xoa hai tay với nhau một cách “trơn tuột” thường tiêu biểu cho những cá nhân cung ba và nêu biểu lửa ma sát—ngọn lửa gắn với cung ba.
42. Pliability is related to speed and fluidity.
42. Tính dễ uốn nắn liên hệ với tốc độ và tính lưu chất.
43. An important suggestion is offered: speed is proportionate to pliability. The greater the speed of rotation of a unit of matter, the more pliable the matter.
43. Một gợi ý quan trọng được đưa ra: tốc độ tỉ lệ thuận với tính dễ uốn nắn. Tốc độ quay tròn của một đơn vị vật chất càng lớn thì vật chất càng dễ uốn nắn.
44. Another way of saying this is that the greater the frequency of a unit of matter, the greater its responsiveness (to higher energies).
44. Một cách khác để nói điều này là tần số của một đơn vị vật chất càng lớn thì khả năng đáp ứng của nó (đối với các năng lượng cao hơn) càng lớn.
All these three concepts are governed by the Law of Economy, which is the Law of Adaptation in time and space, or the line of least resistance. [expediency] This line of least resistance is that which is sought for and followed on the matter side of existence.
Cả ba khái niệm này đều được chi phối bởi Định luật Tiết Kiệm, vốn là Định luật Thích Nghi trong thời gian và không gian, hay con đường ít trở ngại nhất. [expediency] Con đường ít trở ngại nhất này là điều được tìm kiếm và đi theo ở phía vật chất của sự tồn tại.
45. Those who express the third ray (at least during relatively early stages of evolution) quickly adapt and change themselves rather than stand on principle. Their principles are flexible rather than firm. As evolution proceeds, and the qualities of the first and second rays are absorbed, this changes.
45. Những ai biểu lộ cung ba (ít nhất trong các giai đoạn tiến hoá tương đối sớm) nhanh chóng thích nghi và thay đổi chính mình hơn là đứng vững trên nguyên khí. Các nguyên khí của họ linh hoạt hơn là vững chắc. Khi tiến hoá tiếp diễn, và các phẩm tính của cung một và cung hai được hấp thu, điều này thay đổi.
46. In the later stages of evolution, each member of a trinity has constructively absorbed the qualities of the other two members. This leads to a more balanced expression.
46. Trong các giai đoạn tiến hoá về sau, mỗi thành viên của một bộ ba đã hấp thu một cách xây dựng các phẩm tính của hai thành viên kia. Điều này dẫn đến một sự biểu lộ quân bình hơn.
47. Important things are said about the Law of Economy. Another name for this fundamental Law is the “Law of Adaptation in time and space”.
47. Những điều quan trọng được nói ra về Định luật Tiết Kiệm. Một tên gọi khác của Định luật nền tảng này là “Định luật Thích Nghi trong thời gian và không gian”.
48. We might also call it the ‘Law of Intelligent Change According to Conditions’.
48. Chúng ta cũng có thể gọi nó là “Định luật của Sự Thay Đổi Thông Minh Theo Hoàn Cảnh”.
49. When following the Law of Economy, the line of least resistance is sought. That which is to be accomplished, when accomplished intelligently, is accomplished with the minimum expenditure of energy and force.
49. Khi tuân theo Định luật Tiết Kiệm, con đường ít trở ngại nhất được tìm kiếm. Điều cần được hoàn thành, khi được hoàn thành một cách thông minh, sẽ được hoàn thành với mức tiêu hao năng lượng và mãnh lực tối thiểu.
50. Another name for this Law might be the ‘Law of Expediency’. Under this Law the easiest way to accomplish a task is sought. The easiest way is the way of least resistance, often called the “line of least resistance”.
50. Một tên gọi khác của Định luật này có thể là “Định luật của Tính Vụ Lợi”. Dưới Định luật này, cách dễ nhất để hoàn thành một công việc được tìm kiếm. Cách dễ nhất là con đường ít trở ngại nhất, thường được gọi là “con đường ít trở ngại nhất”.
51. We might say that those who work under this law seek to avoid unnecessary friction. This is interesting in that fire-by-friction is associated with the Third Logos and, numerically, with the Law of Economy.
51. Chúng ta có thể nói rằng những ai hoạt động dưới định luật này tìm cách tránh ma sát không cần thiết. Điều này thật thú vị ở chỗ lửa ma sát gắn với Logos thứ ba và, về mặt số học, với Định luật Tiết Kiệm.
Incidentally, Brahma manifests Will, because He is purpose, and Love because in this solar system Love is the line of least resistance.
Nhân đây, Brahma biểu lộ Ý Chí, vì Ngài là mục đích, và biểu lộ Bác ái vì trong hệ mặt trời này Bác ái là con đường ít trở ngại nhất.
52. DK is demonstrating how the other two divine aspects are included within any one of them. In this case Brahma includes both Shiva (Will) and Vishnu (Love).
52. Chân sư DK đang chứng minh cách hai phương diện thiêng liêng kia được bao hàm trong bất kỳ một phương diện nào. Trong trường hợp này Brahma bao gồm cả Shiva (Ý Chí) lẫn Vishnu (Bác ái).
53. When it is stated that “Brahma…is purpose”, we think of the atmic plane in relation to which both the first and third rays are active.
53. Khi nói rằng “Brahma… là mục đích”, chúng ta nghĩ đến cõi atma, liên hệ với cõi này thì cả cung một lẫn cung ba đều hoạt động.
54. If one would use the energy of love properly, it would break down unnecessary resistance, but (in our present era) love is not properly used and other less beneficent means are used against resistance. The expression of love has not yet become a spiritual habit.
54. Nếu người ta sử dụng năng lượng bác ái một cách đúng đắn, nó sẽ phá vỡ sự kháng cự không cần thiết, nhưng (trong thời đại hiện nay của chúng ta) bác ái không được sử dụng đúng cách và những phương tiện khác kém từ thiện hơn được dùng để chống lại sự kháng cự. Sự biểu lộ bác ái vẫn chưa trở thành một thói quen tinh thần.
55. Is manipulation the line of least resistance for humanity? If so, it would correlate with the fact that humanity represents the throat center of Sanat Kumara. Or, perhaps it is conflict that is the line of least resistance. If so, it would relate to the fourth ray nature of humanity.
55. Sự vận dụng có phải là con đường ít trở ngại nhất đối với nhân loại không? Nếu đúng vậy, điều đó sẽ tương ứng với sự kiện rằng nhân loại đại diện cho trung tâm cổ họng của Đức Sanat Kumara. Hoặc có lẽ chính xung đột mới là con đường ít trở ngại nhất. Nếu vậy, điều đó sẽ liên hệ với bản chất cung bốn của nhân loại.
56. If, in this solar system, “Love is the line of least resistance”, why is love so difficult to implement on this planet? Perhaps, on Earth, we live in a “special case”, in which the third ray is unusually prominent and the first ray substands our entire evolution (as the monadic ray of our Planetary Logos).
56. Nếu, trong hệ mặt trời này, “Bác ái là con đường ít trở ngại nhất”, thì tại sao bác ái lại khó thực hiện đến vậy trên hành tinh này? Có lẽ, trên Trái Đất, chúng ta sống trong một “trường hợp đặc biệt”, trong đó cung ba nổi trội một cách khác thường và cung phụ cung một nâng đỡ toàn bộ tiến hoá của chúng ta (với tư cách là cung chân thần của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta).
57. In the astrological chart, the Moon represents the line of least resistance, at first. Then, the line of least resistance is represented by the Sun, but not the Rising-sign, except at the very highest (or monadic) phases of development.
57. Trong lá số chiêm tinh, lúc đầu Mặt Trăng tượng trưng cho con đường ít trở ngại nhất. Sau đó, con đường ít trở ngại nhất được tượng trưng bởi Mặt Trời, nhưng không phải bởi dấu hiệu mọc, ngoại trừ ở những giai đoạn phát triển rất cao (hay chân thần).
58. Second nature is the line of least resistance. Some colloquial phrases used to indicate this: “I can do it with my eyes closed”; it’s like falling off a log”; “You’re a natural”.
58. Bản chất thứ hai là con đường ít trở ngại nhất. Một số cụm từ thông tục được dùng để chỉ điều này: “Tôi có thể làm điều đó nhắm mắt cũng được”; “nó dễ như trở bàn tay”; “Bạn có năng khiếu bẩm sinh”.
59. Our spiritual task is to make the Rising-sign natural.
59. Nhiệm vụ tinh thần của chúng ta là làm cho dấu hiệu mọc trở nên tự nhiên.
60. Evolution requires resistance. The operative ‘mantram’ is: “No pain, no gain”. Development demands resistance. Labor summons the fires of space. Resistance lights the fires. Challenge inertia. The Zen Master hits his disciple with his staff!
60. Tiến hoá đòi hỏi sự kháng cự. “Mantram” vận hành là: “Không đau đớn, không thành tựu”. Sự phát triển đòi hỏi sự kháng cự. Lao động triệu gọi các ngọn lửa của không gian. Sự kháng cự thắp sáng các ngọn lửa. Hãy thách thức quán tính. Chân sư Thiền đánh đệ tử của mình bằng gậy!
While this is an occult statement worthy of consideration, yet it must be remembered that He is primarily activity and intelligence with the aim of adaptability, and that this is His main characteristic.
Dù đây là một phát biểu huyền bí đáng để suy ngẫm, nhưng cần nhớ rằng Ngài trước hết là hoạt động và trí tuệ với mục tiêu là tính thích nghi, và đó là đặc tính chính của Ngài.
61. The Tibetan has us consider first things first—i.e., the primary quality of Brahma, and not to over-emphasize His secondary qualities.
61. Chân sư Tây Tạng khiến chúng ta xem xét điều cốt yếu trước tiên—tức là phẩm tính chính yếu của Brahma, và không nhấn mạnh quá mức các phẩm tính thứ yếu của Ngài.
62. The primary nature of Brahma is as follows: “He is primarily activity and intelligence with the aim of adaptability”. The purpose of the adaptability is (with the greatest ease and least expenditure of energy) to make matter a vehicle for Spirit.
62. Bản chất chính yếu của Brahma như sau: “Ngài trước hết là hoạt động và trí tuệ với mục tiêu là tính thích nghi”. Mục đích của tính thích nghi là (với sự dễ dàng lớn nhất và mức tiêu hao năng lượng ít nhất) làm cho vật chất trở thành vận cụ cho tinh thần.
The Second Logos. The second Logos, Vishnu, the divine Wisdom Ray, the great principle of Buddhi seeking to blend with the principle of Intelligence, is characterised by Love.
Logos thứ hai. Logos thứ hai, Vishnu, Cung Minh Triết thiêng liêng, nguyên khí vĩ đại của Bồ đề đang tìm cách hòa trộn với nguyên khí Trí Tuệ, được đặc trưng bởi Bác ái.
63. We are given a good name for the Second Logos or Vishnu: “the divine Wisdom Ray”.
63. Chúng ta được cho một tên gọi hay cho Logos thứ hai hay Vishnu: “Cung Minh Triết thiêng liêng”.
64. In this context, Buddhi and Intelligence are not the same. When buddhi blends with intelligence we have buddhi-manas, the goal of many disciples.
64. Trong ngữ cảnh này, Bồ đề và Trí Tuệ không giống nhau. Khi Bồ đề hòa trộn với Trí Tuệ, chúng ta có buddhi-manas, mục tiêu của nhiều đệ tử.
65. We must remember that in discussing these Logoi, we must focus extra-systemically. There are, of course, aspects of the Solar Logos which reflect the Three Logoi, but when speaking of these Logoi we are often focusing cosmically.
65. Chúng ta phải nhớ rằng khi bàn về các Logos này, chúng ta phải tập trung theo hướng ngoại hệ. Dĩ nhiên, có những phương diện của Thái dương Thượng đế phản chiếu Ba Logos, nhưng khi nói về các Logos này, chúng ta thường tập trung theo nghĩa vũ trụ.
66. The cosmic principle of buddhi certainly includes all within our microcosmic life we call “monadic”.
66. Nguyên khí Bồ đề vũ trụ chắc chắn bao gồm mọi điều trong sự sống vi mô của chúng ta mà chúng ta gọi là “chân thần”.
67. Thus far, our Solar Logos, is more involved with the reception and expression of cosmic buddhi than cosmic atma.
67. Cho đến nay, Thái dương Thượng đế của chúng ta liên hệ nhiều hơn với việc tiếp nhận và biểu lộ Bồ đề vũ trụ hơn là atma vũ trụ.
His motion is that which we might term spiral cyclic. Availing Himself of the rotary motion of all atoms, He adds to that His own form of motion or of spiralling periodical movement, and by circulation along an orbit or spheroidal path (which circles around a central focal point in an ever ascending spiral) two results are brought about:
Chuyển động của Ngài là điều mà chúng ta có thể gọi là xoắn ốc chu kỳ. Tận dụng chuyển động quay tròn của mọi nguyên tử, Ngài thêm vào đó hình thức chuyển động riêng của Ngài hay chuyển động xoắn ốc tuần hoàn, và bằng sự tuần hoàn dọc theo một quỹ đạo hay đường đi hình cầu (đường này quay quanh một tiêu điểm trung tâm trong một đường xoắn ốc luôn đi lên) hai kết quả được tạo ra:
68. If the Second Logos has as a form of motion “spiraling periodical movement”, it must contain the impulsion of the first ray.
68. Nếu Logos thứ hai có một hình thức chuyển động là “chuyển động xoắn ốc tuần hoàn”, thì nó hẳn phải chứa xung lực của cung một.
69. It would seem that “spiralling periodical movement” is another term for “spiral-cyclic motion”
69. Có vẻ như “chuyển động xoắn ốc tuần hoàn” là một thuật ngữ khác cho “chuyển động xoắn ốc chu kỳ”
70. Spiral motion (as here considered) is uplifting suggesting the second and sixth rays
70. Chuyển động xoắn ốc (như được xét ở đây) có tính nâng lên, gợi ý cung hai và cung sáu
71. When one spirals upward, one learns from the repetition of similar experiences. This type of motion is accompanied by both a sense of history and a sense of progress. Those upon the first ray, however, may not look back. The type of motion which characterizes their approach is called “progress onward”.
71. Khi một người đi lên theo đường xoắn ốc, y học hỏi từ sự lặp lại của những kinh nghiệm tương tự. Loại chuyển động này đi kèm với cả ý thức về lịch sử lẫn ý thức về tiến bộ. Tuy nhiên, những ai thuộc cung một có thể không ngoái nhìn lại. Loại chuyển động đặc trưng cho cách tiếp cận của họ được gọi là “tiến lên phía trước”.
72. Group discussion dealt with some of the following ideas:
72. Thảo luận nhóm đã bàn đến một số ý tưởng sau đây:
a. In our normal lives, the reflection of rotary motion is experienced in various ways. People who are “stuck making a living”, who simply “go to work and come home from work” are caught in a rotary cycle. Their lives are not moving forward.
a. Trong đời sống bình thường của chúng ta, sự phản chiếu của chuyển động quay tròn được trải nghiệm theo nhiều cách khác nhau. Những người “mắc kẹt trong việc mưu sinh”, chỉ đơn giản “đi làm rồi từ chỗ làm trở về nhà” bị mắc trong một chu kỳ quay tròn. Đời sống của họ không tiến lên phía trước.
b. Rotary motion governs routine. The cycle of work is related to routine.
b. Chuyển động quay tròn chi phối thói quen thường nhật. Chu kỳ của công việc liên hệ với thói quen thường nhật.
c. It is necessary to break out of rotary motion into one’s dharma. This requires sacrifice—the sacrifice to break free; sacrifice matter. We sacrifice the extra weight or the ‘baggage’ we are carrying so that we may live truer to our inner pattern.. Second ray sixth ray uplifting. But do not use the system.
c. Cần phải thoát ra khỏi chuyển động quay tròn để đi vào dharma của mình. Điều này đòi hỏi hi sinh—sự hi sinh để giải thoát; hi sinh vật chất. Chúng ta hi sinh trọng lượng dư thừa hay “hành lý” mà chúng ta đang mang để có thể sống chân thật hơn với mô hình bên trong của mình.. Sự nâng lên của cung hai cung sáu. Nhưng đừng sử dụng hệ thống.
d. On planet Earth, governed in its personality by the third ray, “work” must be performed. The realm of “work” is governed by Saturn—the major planet of the third ray and the planet of repetition and routine.
d. Trên hành tinh Trái Đất, được cai quản trong phàm ngã của nó bởi cung ba, “công việc” phải được thực hiện. Lĩnh vực “công việc” được Sao Thổ cai quản—hành tinh chính của cung ba và là hành tinh của sự lặp lại và thói quen thường nhật.
e. Spiritual life and everyday life should not be separated. Whatever one does can be spiritual. That is a learning point for the soul in incarnation. To some second and sixth ray types, money (related to the third aspect and to work) is considered “bad”. This is obviously a bias produced by the fact that those upon the 2/4/6 line of energy do not relate as well to the material plane as those upon the 1/3/5/7 line.
e. Đời sống tinh thần và đời sống hằng ngày không nên bị tách rời. Bất cứ điều gì người ta làm cũng có thể là tinh thần. Đó là một điểm học hỏi cho linh hồn đang nhập thể. Đối với một số người cung hai và cung sáu, tiền bạc (liên hệ với phương diện thứ ba và với công việc) bị xem là “xấu”. Điều này rõ ràng là một thiên kiến do sự kiện rằng những ai ở trên tuyến năng lượng 2/4/6 không liên hệ tốt với cõi vật chất bằng những ai ở trên tuyến 1/3/5/7.
73. The third ray induces a kind of motion by means of which a body turns upon itself, rotating on its own axis.
73. Cung ba tạo ra một loại chuyển động nhờ đó một thể tự quay trên chính nó, xoay quanh trục riêng của nó.
74. The second ray (resonant to the quality of devotion) circulates or revolves around a central focal point. Notice that we do not usually use the word “rotate” in relation to second ray motion; instead the word “revolve” is used.
74. Cung hai (cộng hưởng với phẩm tính sùng tín) tuần hoàn hay xoay quanh một tiêu điểm trung tâm. Hãy lưu ý rằng chúng ta thường không dùng từ “quay tròn” liên hệ với chuyển động cung hai; thay vào đó từ “xoay quanh” được dùng.
75. The “ever ascending spiral” characteristic of the second ray could not be produced unless driving first ray motion were applied to rotary third ray motion.
75. “Đường xoắn ốc luôn đi lên” đặc trưng của cung hai không thể được tạo ra trừ khi chuyển động thúc đẩy của cung một được áp dụng vào chuyển động quay tròn của cung ba.
76. For an illuminating image of rotary and spiral motion, one may study the picture of Babbitt’s Atom. This image was conceived before the revolution is physics and is very different (and probably more occultly derived) than our modern conventional models.
76. Để có một hình ảnh soi sáng về chuyển động quay tròn và xoắn ốc, người ta có thể nghiên cứu hình vẽ Nguyên tử của Babbitt. Hình ảnh này được hình thành trước cuộc cách mạng trong vật lý và rất khác (và có lẽ có nguồn gốc huyền bí hơn) so với các mô hình quy ước hiện đại của chúng ta.
a. He gathers the atoms into forms.
a. Ngài tập hợp các nguyên tử thành những hình tướng.
77. The atoms are gathered by means of the Law of Attraction.
77. Các nguyên tử được tập hợp nhờ Định luật Hấp Dẫn.
78. We remind ourselves that form is not matter. If forms are to be produced, matter must be gathered into forms.
78. Chúng ta tự nhắc mình rằng hình tướng không phải là vật chất. Nếu các hình tướng được tạo ra, thì vật chất phải được tập hợp vào trong các hình tướng.
b. By means of these forms He gains the needed contact, and develops full consciousness on the five planes of human development, gradually rarefying and refining the forms as the Spirit of Love or the Flame Divine spirals ever onward towards its goal, that goal which is also the source from which it came.
b. Nhờ các hình tướng này, Ngài đạt được sự tiếp xúc cần thiết, và phát triển tâm thức trọn vẹn trên năm cõi của sự phát triển nhân loại, dần dần làm các hình tướng trở nên tinh tế và thanh lọc hơn khi Tinh thần của Tình thương hay Ngọn Lửa Thiêng liêng xoắn ốc mãi về phía trước hướng đến mục tiêu của nó, mục tiêu ấy cũng chính là nguồn cội từ đó nó đã đi ra.
79. Life evolves through the impartation of vibratory quality from one unit of life to another. Each unit has something to share and to receive.
79. Sự sống tiến hoá thông qua việc truyền đạt phẩm tính rung động từ một đơn vị sự sống sang một đơn vị khác. Mỗi đơn vị đều có điều gì đó để chia sẻ và để tiếp nhận.
80. Form hold relationships between units of life in steadiness. This steadiness is necessary so that the contact between such units may be sufficiently prolonged to result in the necessary impartation of quality from one unit of life to another.
80. Hình tướng giữ cho các mối liên hệ giữa những đơn vị sự sống được ổn định. Sự ổn định này là cần thiết để sự tiếp xúc giữa các đơn vị ấy được kéo dài đủ lâu hầu dẫn đến sự truyền đạt phẩm tính cần thiết từ đơn vị sự sống này sang đơn vị sự sống khác.
81. Without form, chaos would result. Chaos is a condition in which purposeful and sustained relationship does not exist.
81. Không có hình tướng, hỗn mang sẽ phát sinh. Hỗn mang là một trạng thái trong đó không tồn tại mối liên hệ có mục đích và bền vững.
82. In a chaotic condition quality cannot be imparted from one unit to another.
82. Trong một trạng thái hỗn mang, phẩm tính không thể được truyền từ đơn vị này sang đơn vị khác.
83. The five planes are the atmic, buddhic, manasic, astral and etheric/physical planes.
83. Năm cõi là cõi atma, cõi Bồ đề, cõi manas, cõi cảm dục và cõi dĩ thái/hồng trần.
84. We note the names used: the “Spirit of Love” is the “Flame Divine”.
84. Chúng ta lưu ý các danh xưng được dùng: “Tinh thần của Tình thương” là “Ngọn Lửa Thiêng liêng”.
85. Love refines and rarefies.
85. Tình thương làm tinh luyện và thanh lọc.
86. Why does the Spirit of Love refine forms? Shall we say, because the Spirit of Love brings all into right relationship? Through such relationship, energy may flow in the most constructive and cleansing manner. A refined form is a form which reflects its archetype, and the Spirit of Love arranges all forms into patterns reflective of archetypal relationships.
86. Vì sao Tinh thần của Tình thương lại thanh lọc các hình tướng? Chúng ta có thể nói rằng, bởi vì Tinh thần của Tình thương đưa mọi sự vào đúng tương quan chăng? Thông qua tương quan như thế, năng lượng có thể lưu chuyển theo cách kiến tạo và thanh tẩy nhất. Một hình tướng được tinh luyện là một hình tướng phản chiếu nguyên mẫu của nó, và Tinh thần của Tình thương sắp xếp mọi hình tướng thành những mô hình phản chiếu các tương quan nguyên mẫu.
87. We must think of the literal and psychological meaning of spiral ascent. Any form participating in such a spiral moves ever closer to its intended archetypal configuration.
87. Chúng ta phải suy nghĩ về ý nghĩa theo nghĩa đen và ý nghĩa tâm lý của sự thăng tiến theo đường xoắn ốc. Bất kỳ hình tướng nào tham dự vào đường xoắn ốc ấy đều di chuyển ngày càng gần hơn đến cấu hình nguyên mẫu đã được dự định cho nó.
88. Discussion in class brought the following thoughts and questions:
88. Phần thảo luận trong lớp đã đưa ra những suy nghĩ và câu hỏi sau đây:
a. If love refines, do you find that love brings refinement or purification into your life?
a. Nếu tình thương làm tinh luyện, bạn có thấy rằng tình thương mang sự tinh luyện hay thanh lọc vào đời sống của bạn không?
b. Harmonization is part of the process of refinement.
b. Sự hài hoà hóa là một phần của tiến trình tinh luyện.
c. On our planet pain contributes to harmonization. This is a principle related to the manner in which the Lords of Karma work.
c. Trên hành tinh của chúng ta, đau khổ góp phần vào sự hài hoà hóa. Đây là một nguyên khí liên hệ đến cách thức các Đấng Nghiệp Quả hoạt động.
d. The fourth purpose of Sanat Kumara relates pain, karma and refinement.
d. Mục đích thứ tư của Đức Sanat Kumara liên hệ đau khổ, nghiệp quả và sự tinh luyện với nhau.
e. True contact with the heart refines the life.
e. Sự tiếp xúc chân thực với tim làm tinh luyện đời sống.
f. Contact with the Christ is contact with a refining, harmonizing fire.
f. Sự tiếp xúc với Đức Christ là sự tiếp xúc với một ngọn lửa tinh luyện, hài hoà hóa.
These forms are the sumtotal of all spheres or atoms within the solar system, or within the solar ring-pass-not, and in their seven major differentiations they are the [Page 144] spheres of the seven Spirits, or the seven planetary Logoi.
Các hình tướng này là tổng thể của mọi khối cầu hay nguyên tử bên trong hệ mặt trời, hay bên trong vòng-giới-hạn mặt trời, và trong bảy sự biến phân chính của chúng, chúng là các [Page 144] khối cầu của bảy Thánh Linh, hay bảy Hành Tinh Thượng Đế.
89. Are atoms forms? What type of building block can rightly be considered simply as matter and not a form? Such a building block would be non-composite; it would be the tiniest material unit in the entire cosmos.
89. Nguyên tử có phải là hình tướng không? Loại khối xây dựng nào có thể được xem một cách đúng đắn chỉ đơn thuần là vật chất chứ không phải là một hình tướng? Một khối xây dựng như thế sẽ là không hợp thể; nó sẽ là đơn vị vật chất nhỏ bé nhất trong toàn thể vũ trụ.
90. It would seem that the major forms within the solar system are the spheres of the seven Planetary Logoi. At least this is so materially and objectively.
90. Dường như các hình tướng chính bên trong hệ mặt trời là các khối cầu của bảy Hành Tinh Thượng Đế. Ít nhất điều này là đúng về mặt vật chất và khách quan.
91. The form of the Sun (including all its subtle prakritic levels) must also be considered as no sumtotal of all spheres or atoms within the solar system would be complete without it.
91. Hình tướng của Mặt Trời (bao gồm mọi cấp độ prakriti vi tế của nó) cũng phải được xem xét vì không có tổng thể nào của mọi khối cầu hay nguyên tử bên trong hệ mặt trời lại trọn vẹn nếu thiếu nó.
92. The seven Planetary Logoi are the Logoi of the seven sacred planets, given below in the order of the rays they express through their soul nature:
92. Bảy Hành Tinh Thượng Đế là các Thượng đế của bảy hành tinh thiêng liêng, được nêu dưới đây theo thứ tự các cung mà các Ngài biểu lộ qua bản chất linh hồn của mình:
a. Vulcan
a. Vulcan