← Commentary_S2_134_223_song ngữ

b. Jupiter

Trích nội dung chương

All lesser spheres ranging downward from these major spheres, include all grades of manifestation down to the elemental essence on the arc of involution. 64 Mọi khối cầu nhỏ hơn, trải dài xuống dưới từ các khối cầu lớn này, bao gồm mọi cấp độ biểu hiện cho đến tận tinh chất hành khí trên cung giáng hạ tiến hoá. 64


b. Jupiter

b. Sao Mộc

c. Saturn

c. Saturn

d. Mercury

d. Sao Thủy

e. Venus

e. Sao Kim

f. Neptune

f. Sao Hải Vương

g. Uranus

g. Sao Thiên Vương

All lesser spheres ranging downward from these major spheres, include all grades of manifestation down to the elemental essence on the arc of involution. 64

Mọi khối cầu nhỏ hơn, trải dài xuống dưới từ các khối cầu lớn này, bao gồm mọi cấp độ biểu hiện cho đến tận tinh chất hành khí trên cung giáng hạ tiến hoá. 64

93. All forms are spherical. This requires pondering.

93. Mọi hình tướng đều có dạng hình cầu. Điều này cần được suy ngẫm.

94. Even particles of elemental essence are to be considered spheres.

94. Ngay cả các hạt của Tinh chất hành khí cũng phải được xem là những khối cầu.

95. We remember that elemental essence is the matter of the six lower subplanes of any plane. Atomic substance (shall we call it ‘atomic essence’) is found upon the first or highest subplane.

95. Chúng ta nhớ rằng Tinh chất hành khí là vật chất của sáu cõi phụ thấp của bất kỳ cõi nào. Chất liệu nguyên tử (chúng ta có nên gọi là “tinh chất nguyên tử” chăng) được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất hay cao nhất.

96. Is there any unit of life within cosmos that is not, in some way, a form? As we have suggested, perhaps only the ‘ultimate particle’, or UPE (ultimate particle event, in the terminology of Infinitization of Selfhood).

96. Có đơn vị sự sống nào trong vũ trụ mà không, theo một cách nào đó, là một hình tướng chăng? Như chúng ta đã gợi ý, có lẽ chỉ có “hạt tối hậu”, hay UPE (biến cố hạt tối hậu, theo thuật ngữ của Sự vô hạn hóa của Tự tính).

We need to remember that on the Path of Involution, the action of Brahma is primarily felt, seeking the line of least resistance.

Chúng ta cần nhớ rằng trên Con Đường Giáng Hạ Tiến Hoá, hoạt động của Brahma được cảm nhận chủ yếu, tìm kiếm con đường ít trở ngại nhất.

97. The concept of the “line of least resistance” is distinctly associated with Brahma or the Third Logos.

97. Khái niệm “con đường ít trở ngại nhất” gắn liền một cách rõ rệt với Brahma hay Logos thứ ba.

98. Even though this is the second solar system, the fohatic method of creating the matter to be used in this solar system resonates most closely to the third aspect which was most powerful in the last solar system (which was the first or three major solar systems).

98. Mặc dù đây là hệ mặt trời thứ hai, phương pháp fohat để tạo ra vật chất sẽ được dùng trong hệ mặt trời này lại cộng hưởng gần gũi nhất với phương diện thứ ba, vốn mạnh mẽ nhất trong hệ mặt trời trước (là hệ thứ nhất trong ba hệ mặt trời chính).

99. Until our Solar Logos has achieved His next spiritual step forward, love will not be the line of least resistance in our solar system. Might we say that the spiritual tasks to which the Solar Logos is presently applying Himself are intended to make love the line of least resistance throughout the solar system?

99. Cho đến khi Thái dương Thượng đế của chúng ta đạt được bước tiến tinh thần kế tiếp của Ngài, tình thương sẽ không phải là con đường ít trở ngại nhất trong hệ mặt trời của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng những nhiệm vụ tinh thần mà Thái dương Thượng đế hiện đang dấn mình vào là nhằm làm cho tình thương trở thành con đường ít trở ngại nhất trong toàn hệ mặt trời chăng?

100. It requires struggle to resist taking the line of least resistance. The second and fourth rays (which are rays of intermediation) place a unit of life in a position in which it is torn by conflicting forces. One of these forces leads to the line of least resistance. The other type of force leads to newer patterns not conditioned by the Law of Economy. In short, reconditioning necessitates struggle.

100. Cần có đấu tranh để chống lại việc đi theo con đường ít trở ngại nhất. Cung hai và cung bốn (là những cung trung gian) đặt một đơn vị sự sống vào vị thế bị giằng co bởi các mãnh lực xung đột. Một trong các mãnh lực này dẫn đến con đường ít trở ngại nhất. Loại mãnh lực kia dẫn đến những mô hình mới hơn không bị tác động bởi Định luật Tiết Kiệm. Tóm lại, sự tái định hình đòi hỏi đấu tranh.

64:Elemental Essence is seen to consist of aggregations of matter, on one of the six non-atomic subplanes of the mental and the desire planes—aggregations which do not themselves serve as forms for any entity to inhabit, but as the material out of which such forms may be built.

64:Tinh chất hành khí được thấy là gồm những tập hợp vật chất, trên một trong sáu cõi phụ không-nguyên-tử của cõi trí và cõi dục vọng—những tập hợp mà bản thân chúng không đóng vai trò là hình tướng để bất kỳ thực thể nào cư ngụ, mà là chất liệu để từ đó những hình tướng như thế có thể được xây dựng.

101. If elemental essence consists of aggregations of matter, are not aggregations to be considered forms?

101. Nếu tinh chất hành khí gồm những tập hợp vật chất, thì chẳng phải các tập hợp cũng phải được xem là những hình tướng sao?

102. Or can an aggregation not be called a form unless a greater entity inhabits, informs or embodies it?

102. Hay một tập hợp không thể được gọi là hình tướng trừ phi có một thực thể lớn hơn cư ngụ, thấm nhuần hay nhập thể trong đó?

103. Perhaps the only greater entity which can be said to inhabit elemental essence is the Third Logos of the First Outpouring. It would seem that the consciousness of the Third Logos ensouls all matter of whatever type.

103. Có lẽ thực thể lớn hơn duy nhất có thể được nói là cư ngụ trong tinh chất hành khí là Logos thứ ba của Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất. Dường như tâm thức của Logos thứ ba phú linh mọi vật chất thuộc bất kỳ loại nào.

104. It may be that no entity is inhabiting atomic substance as well.

104. Có thể không có thực thể nào cư ngụ trong chất liệu nguyên tử nữa.

105. Yet, both atomic substance and elemental essence are intended to be built into forms.

105. Tuy nhiên, cả chất liệu nguyên tử lẫn tinh chất hành khí đều được dự định để được xây dựng thành các hình tướng.

106. Perhaps when thinking of aggregations of elemental essence which do not serve as forms for any entity to inhabit, we should call it ‘free elemental essence’. The elemental essence which is attracted into forms would then be ‘bound elemental essence’.

106. Có lẽ khi nghĩ về những tập hợp tinh chất hành khí không đóng vai trò là hình tướng để bất kỳ thực thể nào cư ngụ, chúng ta nên gọi đó là “tinh chất hành khí tự do”. Khi ấy, tinh chất hành khí bị hút vào trong các hình tướng sẽ là “tinh chất hành khí bị ràng buộc”.

On the Path of Evolution the work of the second Logos is felt, beginning at a point in time and space which hides the mystery of the second chain, but finding its point of accelerated vibration or the unification of the two modes of manifestation—rotary-spiral-cyclic—in the middle part of what we call the third chain.

Trên Con Đường Tiến Hoá, công việc của Logos thứ hai được cảm nhận, bắt đầu tại một điểm trong thời gian và không gian che giấu huyền nhiệm của dãy thứ hai, nhưng tìm thấy điểm rung động gia tốc của nó hay sự hợp nhất của hai phương thức biểu hiện—quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ—ở phần giữa của điều mà chúng ta gọi là dãy thứ ba.

107. We are now focusing on the work of the Second and Third Logos in relation to the Earth-chain and, therefore, very much within our solar system.

107. Hiện nay chúng ta đang tập trung vào công việc của Logos thứ hai và Logos thứ ba liên hệ với Dãy Địa Cầu và, do đó, rất nhiều trong phạm vi hệ mặt trời của chúng ta.

108. The roots of developments experienced in the third chain of the Earth-scheme are to be found in the second chain—correlated with either Venus or Jupiter depending upon one’s method of numbering.

108. Cội rễ của những phát triển đã kinh nghiệm trong dãy thứ ba của hệ hành tinh Địa Cầu được tìm thấy trong dãy thứ hai—tương ứng với hoặc Sao Kim hoặc Sao Mộc tùy theo phương pháp đánh số của mỗi người.

109. The third chain was discontinued after inevitable failure became evident. “On the moon chain individualisation took place during the fifth race of the third round…”(TCF 459), so the discontinuance of that chain could not have occurred before that somewhat middle point. It is probable that individualized man was responsible for much of the difficulty in that third chain.

109. Dãy thứ ba đã bị chấm dứt sau khi sự thất bại tất yếu trở nên hiển nhiên. “Trên Dãy Mặt Trăng, sự biệt ngã hóa đã diễn ra trong nhân loại thứ năm của cuộc tuần hoàn thứ ba…” (TCF 459), vì thế việc chấm dứt dãy ấy không thể xảy ra trước điểm ở giữa tương đối đó. Có lẽ con người đã được biệt ngã hóa phải chịu trách nhiệm cho phần lớn khó khăn trong dãy thứ ba ấy.

110. The second round of the fourth chain was particularly related to the work of the Dragons of Wisdom and, in general, to the meaning of the “reptile”. The developments in this round are numerically linked to the activities in relation to the second chain mentioned in the section above. The wording, however, is most obscure, doubly veiled, it seems.

110. Cuộc tuần hoàn thứ hai của Dãy Thứ Tư đặc biệt liên hệ với công việc của các Rồng Minh Triết và, nói chung, với ý nghĩa của “loài bò sát”. Những phát triển trong cuộc tuần hoàn này được liên kết về mặt số học với các hoạt động liên hệ đến dãy thứ hai được nhắc đến trong phần trên. Tuy nhiên, cách diễn đạt lại hết sức tối nghĩa, dường như được che phủ hai lần.

111. Motion turns insistently spiral cyclic after the “turn”. The turn happens in the fourth of seven phases.

111. Chuyển động chuyển một cách kiên quyết thành xoắn ốc chu kỳ sau “bước ngoặt”. Bước ngoặt xảy ra ở giai đoạn thứ tư trong bảy giai đoạn.

112. Developments on the Moon-chain (the third chain) are obscure to us at best. If, however, we speak of the fourth chain (about which more is written) we will note that the Solar Angels who came in approximately the middle of the third round (which is necessarily correlated with the third chain).

112. Những phát triển trên Dãy Mặt Trăng (dãy thứ ba) đối với chúng ta tối nghĩa là cùng. Tuy nhiên, nếu chúng ta nói về Dãy Thứ Tư (về dãy này có nhiều điều được viết hơn) thì chúng ta sẽ lưu ý rằng các Thái dương Thiên Thần đã đến vào khoảng giữa cuộc tuần hoàn thứ ba (điều này tất yếu tương ứng với dãy thứ ba).

113. When, during the third subrace of the fourth round (in the fourth chain), Sanat Kumara came to supervise our globe, the sexes were divided. They need to learn right and wrong, and the division of the sexes facilitated this. We remember that Earth-chain humanity had been individualized before the division of the sexes—some three million years before.

113. Khi, trong giống dân phụ thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư (trong Dãy Thứ Tư), Đức Sanat Kumara đến để giám sát bầu hành tinh của chúng ta, hai giới tính đã được phân chia. Họ cần học điều đúng và điều sai, và sự phân chia giới tính đã tạo điều kiện cho việc này. Chúng ta nhớ rằng nhân loại của Dãy Địa Cầu đã được biệt ngã hóa trước sự phân chia giới tính—khoảng ba triệu năm trước đó.

114. The work of the Solar Angels had not yet begun in the Moon-chain.

114. Công việc của các Thái dương Thiên Thần vẫn chưa bắt đầu trong Dãy Mặt Trăng.

“The fourth chain in every scheme sees the work of the solar Pitris in connection with man begun. It sees also the Pitris of his sheaths in activity through the impulse given by the solar Angels.” (TCF 781)

“Dãy thứ tư trong mọi hệ hành tinh chứng kiến công việc của các thái dương tổ phụ liên hệ với con người được bắt đầu. Nó cũng chứng kiến các tổ phụ của những thể của y hoạt động nhờ xung lực do các Thái dương Thiên Thần ban ra.” (TCF 781)

115. Does it seem premature that “rotary-spiral-cyclic” motion began in the third chain? Perhaps this indicates the increase of spiral-cyclic motion and its gradual overlapping with rotary motion. It is in this fourth round that we can expect that “rotary-spiral-cyclic” motion will be transformed into a purer form of “spiral-cyclic” motion. This will indicate a type of motion which will be more purely sponsored by the second ray, rather than a type of motion which is an admixture of the second and third rays.

115. Có phải dường như quá sớm khi chuyển động “quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ” bắt đầu trong dãy thứ ba chăng? Có lẽ điều này cho thấy sự gia tăng của chuyển động xoắn ốc-chu kỳ và sự chồng lấn dần dần của nó với chuyển động quay tròn. Chính trong cuộc tuần hoàn thứ tư này mà chúng ta có thể mong đợi chuyển động “quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ” sẽ được chuyển đổi thành một dạng thuần khiết hơn của chuyển động “xoắn ốc-chu kỳ”. Điều này sẽ chỉ ra một loại chuyển động được bảo trợ thuần túy hơn bởi cung hai, thay vì một loại chuyển động là sự pha trộn của cung hai và cung ba.

116. At that time, spiral cyclic motion will break free of its association with rotary motion.

116. Vào lúc đó, chuyển động xoắn ốc chu kỳ sẽ thoát khỏi sự liên kết của nó với chuyển động quay tròn.

117. We might ask of the above section, “Why discuss the Path of Evolution when dealing with involutionary chains?”

117. Chúng ta có thể hỏi về đoạn trên rằng: “Vì sao lại bàn đến Con Đường Tiến Hoá khi đang đề cập đến các dãy giáng hạ tiến hoá?”

118. Can we, in this context, say that anything that builds forms is called evolutionary?

118. Trong bối cảnh này, chúng ta có thể nói rằng bất cứ điều gì xây dựng các hình tướng đều được gọi là thăng thượng tiến hoá chăng?

119. We seem to be discussing the Path of Evolution as it applies to our planetary scheme, unless the term chain is here being used to refer to a planetary scheme (as HPB seems to do), such as the Venus Scheme, for in theosophical literature the term “chain” sometimes does means “scheme”. If a chain as here used is a scheme, then Venus is the second chain!

119. Dường như chúng ta đang bàn đến Con Đường Tiến Hoá khi nó áp dụng cho hệ hành tinh của chúng ta, trừ phi ở đây thuật ngữ dãy được dùng để chỉ một hệ hành tinh (như HPB dường như làm), chẳng hạn như Hệ Sao Kim, vì trong văn học Thông Thiên Học, thuật ngữ “dãy” đôi khi quả thực có nghĩa là “hệ hành tinh”. Nếu một dãy như được dùng ở đây là một hệ hành tinh, thì Sao Kim là dãy thứ hai!

120. We must decide whether the statement refers to the Second Logos as it is active in our solar system or within the Earth-scheme

120. Chúng ta phải quyết định liệu phát biểu này nói đến Logos thứ hai như đang hoạt động trong hệ mặt trời của chúng ta hay trong hệ hành tinh Địa Cầu

121. There is, however, is no convincing indication that the word “chain” is being used here in that manner.

121. Tuy nhiên, không có dấu hiệu thuyết phục nào cho thấy từ “dãy” đang được dùng ở đây theo cách đó.

122. We should note that a mode of motion is here mentioned that is not strictly rotary and not strictly spiral-cyclic, but is a combination of the two—“rotary-spiral-cyclic”.

122. Chúng ta nên lưu ý rằng ở đây có nhắc đến một phương thức chuyển động không hoàn toàn là quay tròn và cũng không hoàn toàn là xoắn ốc-chu kỳ, mà là sự kết hợp của cả hai—“quay tròn-xoắn ốc-chu kỳ”.

123. A “point of accelerated vibration” is another name for the unification of two modes of manifestation.

123. “Điểm rung động gia tốc” là một tên gọi khác của sự hợp nhất của hai phương thức biểu hiện.

124. It is implied that on the third chain, not long after the time when “a point of accelerated vibration” was reached, the Moon-chain failure occurred. Apparently the Second Logos did not gain sufficient momentum to overcome the tendencies of the Third Logos (Brahma).

124. Hàm ý là trên dãy thứ ba, không lâu sau thời điểm đạt đến “một điểm rung động gia tốc”, sự thất bại của Dãy Mặt Trăng đã xảy ra. Rõ ràng Logos thứ hai đã không đạt được đủ động lượng để vượt qua các khuynh hướng của Logos thứ ba (Brahma).

125. Later in TCF attention is given to the name of the chains in the Earth-scheme and of the globes in the Earth-chain.

125. Về sau trong TCF, sự chú ý được dành cho tên gọi của các dãy trong hệ hành tinh Địa Cầu và của các bầu hành tinh trong Dãy Địa Cầu.

126. If we follow analogy, the higher analogy to the influence of the “serpents” in the second round of the Earth-chain may be a buddhic influence from the “Dragon” (and/or Pleiades) in the period when the second chain of the Earth-scheme was being stimulated.

126. Nếu chúng ta theo định luật tương đồng, thì sự tương đồng cao hơn với ảnh hưởng của các “con rắn” trong cuộc tuần hoàn thứ hai của Dãy Địa Cầu có thể là một ảnh hưởng Bồ đề từ “Rồng” (và/hoặc Pleiades) trong thời kỳ khi dãy thứ hai của hệ hành tinh Địa Cầu đang được kích thích.

This is after all the blending of the activity of Brahma with the onward progress of Vishnu. We have the correspondence to this in the sumtotal of the effects brought about in the second and third root races.

Rốt cuộc, đây là sự hòa trộn hoạt động của Brahma với sự tiến triển đi tới của Vishnu. Chúng ta có sự tương ứng với điều này trong tổng thể các hiệu quả được tạo ra trong giống dân gốc thứ hai và thứ ba.

127. The motion of “progress onward” is related to the first ray. The term “onward progress” sounds like it should be applied to the first ray, but is here applied to Vishnu, the God of the second aspect. Compared to strictly rotary motion, the motion of the second ray, or Second Logos, is indeed “onward progress”.

127. Chuyển động của “sự tiến triển đi tới” liên hệ với cung một. Thuật ngữ “sự tiến triển đi tới” nghe như thể nên được áp dụng cho cung một, nhưng ở đây lại được áp dụng cho Vishnu, Thượng đế của phương diện thứ hai. So với chuyển động quay tròn thuần túy, chuyển động của cung hai, hay Logos thứ hai, quả thực là “sự tiến triển đi tới”.

128. It seems to be suggested that strictly rotary motion applied to the development of the first chain, while the blending of rotary with spiral-cyclic motion applies to chains two and three, and especially chain three.

128. Dường như có sự gợi ý rằng chuyển động quay tròn thuần túy áp dụng cho sự phát triển của dãy thứ nhất, trong khi sự hòa trộn giữa quay tròn với xoắn ốc-chu kỳ áp dụng cho dãy hai và ba, và đặc biệt là dãy ba.

129. Something had to happen in the middle of the Moon-chain (the third chain) which was reflected (or compensated) in the middle of the third race. The Moon-chain failure took place in the third chain, and the redemptive intervention in the third round of the fourth chain.

129. Điều gì đó đã phải xảy ra ở giữa Dãy Mặt Trăng (dãy thứ ba), điều được phản chiếu (hay bù đắp) ở giữa giống dân thứ ba. Sự thất bại của Dãy Mặt Trăng đã diễn ra trong dãy thứ ba, và sự can thiệp cứu chuộc trong cuộc tuần hoàn thứ ba của Dãy Thứ Tư.

130. That which occurs in chains two and three (presumably, now, of our Earth-scheme) is reflected in development in the second and third rootraces of our globe.

130. Điều xảy ra trong dãy hai và ba (giờ đây có lẽ là của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta) được phản chiếu trong sự phát triển của giống dân gốc thứ hai và thứ ba của bầu hành tinh chúng ta.

131. What can we say happened in the second and third rootraces of our globe? Non-individualized man was created in the first root race and individualization occurred midway through the third. Is there any development which the second and third rootraces shared in common?

131. Chúng ta có thể nói điều gì đã xảy ra trong giống dân gốc thứ hai và thứ ba của bầu hành tinh chúng ta? Con người chưa được biệt ngã hóa đã được tạo ra trong giống dân gốc thứ nhất và sự biệt ngã hóa đã xảy ra vào giữa giống dân gốc thứ ba. Có sự phát triển nào mà giống dân gốc thứ hai và thứ ba cùng chia sẻ chung không?

132. It was suggested by a student that the separation of male and female in humanity can be related to the separation of deva and man (as exemplified in the Capricorn and Scorpio Creative Hierarchies (respectively related to the Solar Angels and man).

132. Một đạo sinh đã gợi ý rằng sự phân chia nam và nữ trong nhân loại có thể liên hệ với sự phân chia giữa thiên thần và con người (như được nêu gương trong các Huyền Giai Sáng Tạo Capricorn và Hổ Cáp (lần lượt liên hệ với các Thái dương Thiên Thần và con người).

The activity of the second Logos is carried on under the cosmic Law of Attraction.

Hoạt động của Logos thứ hai được tiến hành dưới Định luật Hấp Dẫn vũ trụ.

133. Just as the activity of the Third Logos (i.e., the one active at the First Outpouring) is carried on under the cosmic Law of Economy.

133. Cũng như hoạt động của Logos thứ ba (tức Đấng hoạt động trong Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất) được tiến hành dưới Định luật Tiết Kiệm vũ trụ.

134. It is important to remember that the Third Logos (though His work comes first) functions under the third ray and the First Logos (though His work comes third) under the first.

134. Điều quan trọng là phải nhớ rằng Logos thứ ba (dù công việc của Ngài đến trước) vận hành dưới cung ba và Logos thứ nhất (dù công việc của Ngài đến thứ ba) dưới cung một.

The Law of Economy has for one of its branches a subsidiary Law of marked development called the Law of Repulsion.

Định luật Tiết Kiệm có một trong những phân nhánh của nó là một Định luật phụ có sự phát triển nổi bật được gọi là Định luật Đẩy Lùi.

135. The Law of Repulsion is sometimes associated with the Law of Attraction, which is called in numerous places in the Teaching the “Law of Attraction and Repulsion”

135. Định luật Đẩy Lùi đôi khi được liên kết với Định luật Hấp Dẫn, vốn được gọi ở nhiều nơi trong Giáo Huấn là “Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi”

The cosmic Laws of Attraction and Economy are therefore the raison d'être (viewed from one angle) of the eternal repulsion that goes on as Spirit seeks ever to liberate itself from form.

Vì vậy, các Định luật Hấp Dẫn và Tiết Kiệm vũ trụ là raison d'être (xét từ một góc độ) của sự đẩy lùi vĩnh cửu diễn ra khi tinh thần luôn tìm cách giải thoát chính nó khỏi hình tướng.

136. It is interesting that both of these cosmic laws are involved in “eternal repulsion” associated with the liberation of Spirit from form.

136. Thật thú vị khi cả hai định luật vũ trụ này đều liên quan đến “sự đẩy lùi vĩnh cửu” gắn với việc giải thoát tinh thần khỏi hình tướng.

137. We need to understand the “one angle” from which we are to view the matter. Obviously, from other reasons there are other reasons (raisons d'être) for this type of repulsion.

137. Chúng ta cần thấu hiểu “một góc độ” mà từ đó chúng ta phải nhìn vấn đề này. Hiển nhiên, từ những lý do khác còn có những lý do khác (raisons d'être) cho loại đẩy lùi này.

138. What of the Law of Synthesis? Is repulsion associated with it as well? What would be repelled? Perhaps the consciousness of fragmentation or any action based upon the consciousness of fragmentation?

138. Còn Định luật Tổng Hợp thì sao? Sự đẩy lùi có liên hệ với nó nữa không? Điều gì sẽ bị đẩy lùi? Có lẽ là tâm thức phân mảnh hay bất kỳ hành động nào dựa trên tâm thức phân mảnh chăng?

139. It is easy to understand how the Law of Attraction includes within itself a factor of repulsion to that which is not attracted. How does repulsion relate to the Law of Economy? Perhaps, through the repulsion of ‘similars’? Or simply through the repulsion of anything that demands an adaptive change towards inclusivity?

139. Thật dễ hiểu cách Định luật Hấp Dẫn bao hàm trong chính nó một yếu tố đẩy lùi đối với điều không bị hấp dẫn. Sự đẩy lùi liên hệ thế nào với Định luật Tiết Kiệm? Có lẽ, thông qua sự đẩy lùi những cái ‘tương tự’? Hay đơn giản là thông qua sự đẩy lùi bất cứ điều gì đòi hỏi một sự thay đổi thích ứng hướng tới tính bao gồm?

The matter aspect always follows the line of least resistance, and repulses all tendency to group formation, while Spirit, governed by the Law of Attraction, seeks ever to separate itself from matter by the method of attracting an ever more adequate type of matter in the process of distinguishing the real from the unreal, and passing from one illusion to another until the resources of matter are fully utilised.

Phương diện vật chất luôn đi theo con đường ít trở ngại nhất, và đẩy lùi mọi khuynh hướng hướng tới sự hình thành nhóm, trong khi tinh thần, được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, luôn tìm cách tách mình ra khỏi vật chất bằng phương pháp thu hút một loại vật chất ngày càng thích đáng hơn trong tiến trình phân biệt cái thực với cái không thực, và đi từ ảo tưởng này sang ảo tưởng khác cho đến khi các tài nguyên của vật chất được sử dụng trọn vẹn.

140. Here is the answer to the question posed. Under the Law of Economy, matter “repulses all tendency to group formation”. Units of matter thus remain intent on their own ‘self-rotation’ divorced from attraction to other units with which they might form a group. Individualism (whether unconscious or conscious) rules.

140. Đây là câu trả lời cho câu hỏi đã được nêu ra. Dưới Định luật Tiết Kiệm, vật chất “đẩy lùi mọi khuynh hướng hướng tới sự hình thành nhóm”. Vì vậy, các đơn vị vật chất vẫn chăm chú vào “sự tự quay” của riêng mình, tách rời khỏi sự hấp dẫn đối với các đơn vị khác mà cùng với chúng chúng có thể tạo thành một nhóm. Chủ nghĩa cá nhân (dù vô thức hay có ý thức) ngự trị.

141. In this solar system that which is called Spirit is governed by the Law of Attraction. Is it ever (in this solar system) governed by the Law of Synthesis? We would say that it is so governed during the later stages of man’s evolution and certainly for beings higher than man. Yet, since this is the second solar system, the first aspect of divinity comes under the sway of the second.

141. Trong hệ mặt trời này, điều được gọi là tinh thần được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn. Có bao giờ nó (trong hệ mặt trời này) được chi phối bởi Định luật Tổng Hợp không? Chúng ta sẽ nói rằng điều đó xảy ra trong các giai đoạn sau của sự tiến hoá của con người và chắc chắn đối với những hữu thể cao hơn con người. Tuy nhiên, vì đây là hệ mặt trời thứ hai, phương diện thứ nhất của thiên tính nằm dưới sự chi phối của phương diện thứ hai.

142. Spirit under the influence of the Law of Attraction does not repel matter absolutely, but only repels less adequate types of matter in search of matter more adequate to its intended expression.

142. Tinh thần dưới ảnh hưởng của Định luật Hấp Dẫn không đẩy lùi vật chất một cách tuyệt đối, mà chỉ đẩy lùi những loại vật chất kém thích đáng hơn trong khi tìm kiếm loại vật chất thích đáng hơn cho sự biểu lộ đã được dự định của nó.

143. The correspondence to passing from an illusion to a lesser illusion is the attraction (while seeking expression) of a higher form of matter to substitute for a lesser—thus repulsing the lesser.

143. Sự tương ứng với việc đi từ một ảo tưởng sang một ảo tưởng ít hơn là sự hấp dẫn (trong khi tìm kiếm biểu lộ) của một dạng vật chất cao hơn để thay thế cho một dạng thấp hơn—như thế đẩy lùi dạng thấp hơn.

144. In the process of group formation the factor of repulsion is at work. Units must be of a certain adequacy to form abiding members of a group. As the group advances, those units who fail to advance with it are repelled.

144. Trong tiến trình hình thành nhóm, yếu tố đẩy lùi đang hoạt động. Các đơn vị phải có một mức độ thích đáng nhất định để trở thành những thành viên bền vững của một nhóm. Khi nhóm tiến lên, những đơn vị không tiến lên cùng nó sẽ bị đẩy lùi.

[Page 145]

[Page 145]

Eventually the Indweller of the form feels the urge, or attractive pull, of its Own Self.

Cuối cùng, Đấng Nội Tại của hình tướng cảm nhận được sự thôi thúc, hay lực hút, của Chính Bản Ngã của nó.

145. Would this not occur under the Law of Synthesis? The One Self is synthetic, undivided, homogeneous.

145. Điều này há chẳng xảy ra dưới Định luật Tổng Hợp sao? Một Bản Ngã là tổng hợp, không phân chia, đồng nhất.

The reincarnating jiva, for instance, lost in the maze of illusion, begins in course of time to recognise (under the Law of Attraction) the vibration of its own Ego, which stands to it as the Logos of its own system, its deity in the three worlds of experience.

Ví dụ, jiva tái sinh, bị lạc trong mê cung của ảo tưởng, theo thời gian bắt đầu nhận ra (dưới Định luật Hấp Dẫn) rung động của chân ngã riêng của nó, chân ngã ấy đứng đối với nó như Thượng đế của hệ thống riêng của nó, vị thần của nó trong ba cõi kinh nghiệm.

146. In this case the “Ego” is not the Monad, but very reasonably the Solar Angel. But immediately below, DK refers to the “body egoic” and the eventual discovery of its illusory nature. The Solar Angel, we realize, is involved in the nature of the “body egoic”.

146. Trong trường hợp này, “chân ngã” không phải là chân thần, mà khá hợp lý là Thái dương Thiên Thần. Nhưng ngay bên dưới, Chân sư DK nhắc đến “thể chân ngã” và sự khám phá sau cùng về bản chất ảo tưởng của nó. Chúng ta nhận ra rằng Thái dương Thiên Thần có liên hệ với bản chất của “thể chân ngã”.

147. One might also say that the reincarnating jiva in the midst of personality illusion begins to recognize a higher center of consciousness more deeply ‘within’ itself.

147. Người ta cũng có thể nói rằng jiva tái sinh ở giữa ảo tưởng của phàm ngã bắt đầu nhận ra một trung tâm tâm thức cao hơn, sâu hơn ‘bên trong’ chính nó.

Later, when the body egoic itself is seen as illusion, the vibration of the Monad is felt, and the jiva, working under the same law, works its way back through the matter of the two planes of superhuman evolution, [buddhic and atmic planes] till it is merged in its own essence [on the monadic plane].

Về sau, khi chính thể chân ngã được thấy là ảo tưởng, rung động của chân thần được cảm nhận, và jiva, hoạt động dưới cùng một định luật, lần đường quay trở lại xuyên qua vật chất của hai cõi của tiến hoá siêu nhân, [cõi Bồ đề và cõi atma] cho đến khi nó được hòa nhập vào tinh túy riêng của nó [trên cõi chân thần].

148. The “body egoic” is seen as an illusion as the incarnated jiva approaches the fourth initiation at which time the body egoic is destroyed.

148. “Thể chân ngã” được thấy là một ảo tưởng khi jiva nhập thể tiến gần đến lần điểm đạo thứ tư, vào lúc ấy thể chân ngã bị hủy diệt.

149. The two planes of superhuman evolution are, reasonably, the buddhic and atmic. Often DK refers to the five planes of superhuman evolution, but only two of them are really super-human.

149. Hai cõi của tiến hoá siêu nhân, một cách hợp lý, là cõi Bồ đề và cõi atma. Chân sư DK thường nhắc đến năm cõi của tiến hoá siêu nhân, nhưng chỉ có hai cõi trong số đó thực sự là siêu nhân.

150. The Master is the Master of five planes.

150. Chân sư là Chân sư của năm cõi.

151. The causal body is, from one perspective, personal. A body is always somewhat a distorting lens for that which is embodied, never a completely adequate means of expression.

151. Thể nguyên nhân, từ một góc nhìn, là có tính cá nhân. Một thể luôn luôn phần nào là một thấu kính làm méo mó đối với điều được hiện thân trong nó, chứ không bao giờ là một phương tiện biểu đạt hoàn toàn thích đáng.

152. A flower may be beautiful, but no flower can or should last forever.

152. Một bông hoa có thể đẹp, nhưng không bông hoa nào có thể hay nên tồn tại mãi mãi.

153. If one is going to be a superhuman, one has to have mastery on five planes. But the strictly superhuman planes are from buddhi and above, even to the logoic planes.

153. Nếu một người sẽ trở thành siêu nhân, người ấy phải làm chủ trên năm cõi. Nhưng các cõi siêu nhân theo nghĩa nghiêm ngặt là từ Bồ đề trở lên, thậm chí đến các cõi logoic.

154. The merging of the jiva in its own essence occurs on the monadic plane.

154. Sự hòa nhập của jiva vào tinh túy riêng của nó xảy ra trên cõi chân thần.

155. The term “jiva” is used for that part of the Monad which descends through the lower planes on an involutionary and evolutionary pilgrimage. It is the Monad in extension.

155. Thuật ngữ “jiva” được dùng cho phần ấy của chân thần, phần đi xuống qua các cõi thấp trong một cuộc hành hương giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá. Nó là chân thần trong sự mở rộng.

Therefore:

Vì vậy:

a. The goal of the second Logos is consciousness, to be achieved in co-operation with the third Logos.

a. mục tiêu của Logos thứ hai là tâm thức, sẽ được đạt đến trong sự hợp tác với Logos thứ ba.

156. To elaborate this goal, we might call it ‘consciousness through form building and utilization’.

156. Để khai triển mục tiêu này, chúng ta có thể gọi nó là ‘tâm thức thông qua việc xây dựng và sử dụng hình tướng’.

157. The goal of the Third Logos (of the First Outpouring) is ‘adaptability for the sake of substantiality’.

157. Mục tiêu của Logos thứ ba (của Lần Tuôn Đổ Thứ Nhất) là ‘khả năng thích ứng vì mục đích tính chất liệu’.

158. In our solar system, the consciousness of the Second Logos is not yet consummated. The consummation will occur at the termination of our system (which will climax in the solar logoic fourth or fifth cosmic initiation—depending upon which references are studied).

158. Trong hệ mặt trời của chúng ta, tâm thức của Logos thứ hai vẫn chưa viên mãn. Sự viên mãn sẽ xảy ra vào lúc chấm dứt hệ thống của chúng ta (điều sẽ đạt cực điểm trong lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm của Thái dương Thượng đế—tùy theo những tài liệu nào được nghiên cứu).

b. His function is the building of forms to be His instruments of experience.

b. Chức năng của Ngài là xây dựng các hình tướng để làm công cụ kinh nghiệm của Ngài.

159. The more adequate the forms the more adequate the experience.

159. Các hình tướng càng thích đáng thì kinh nghiệm càng thích đáng.

160. For a long time our human task (working under the Second Logos) will be the building of ever more adequate forms. Even after the destruction of the causal body, there are more adequate forms (of a triadal nature) to be built.

160. Trong một thời gian dài, nhiệm vụ nhân loại của chúng ta (hoạt động dưới Logos thứ hai) sẽ là xây dựng những hình tướng ngày càng thích đáng hơn. Ngay cả sau khi thể nguyên nhân bị hủy diệt, vẫn còn những hình tướng thích đáng hơn (mang bản chất tam nguyên tinh thần) cần được xây dựng.

c. His mode of action is cyclic and spiral, the revolution of the wheel of existence [non-specific wheel, which wheel of existence?] in ordered cycles for a specific purpose [therefore there is a destination], and the progression of these spheres of matter around a fixed centre, within the solar periphery.

c. Phương thức hoạt động của Ngài có tính chu kỳ và xoắn ốc, sự quay vòng của bánh xe hiện hữu [bánh xe không xác định, bánh xe hiện hữu nào?] trong những chu kỳ có trật tự vì một mục đích xác định [vì vậy có một đích đến], và sự tiến hành của những khối cầu vật chất này quanh một trung tâm cố định, bên trong chu vi mặt trời.

161. Having a fixed center around which to revolve, establishes the principle of devotion—on both the second and sixth rays.

161. Việc có một trung tâm cố định để quay quanh thiết lập nguyên lý sùng tín—trên cả cung hai lẫn cung sáu.

162. Is a mode of action which is “cyclic and spiral” the same as a mode of action which is “spiral-cyclic”?

162. Một phương thức hoạt động “chu kỳ và xoắn ốc” có phải là cùng một điều với một phương thức hoạt động “xoắn ốc-chu kỳ” không?

163. There is a mathematical formula for the spiral which determines its dimensions as it progresses. There are widening (or expanding) spirals, lessening (or tightening) spirals; and spirals which preserve the same ‘shape’ whether ascending or descending. There are rising and descending spirals, and spirals which, relative to the point of view, seem to move forward or backward.

163. Có một công thức toán học cho đường xoắn ốc, công thức ấy xác định các kích thước của nó khi nó tiến triển. Có những đường xoắn ốc mở rộng (hay nới rộng), những đường xoắn ốc thu hẹp (hay siết chặt); và những đường xoắn ốc giữ nguyên cùng một ‘hình dạng’ dù đi lên hay đi xuống. Có những đường xoắn ốc đi lên và đi xuống, và những đường xoắn ốc mà, tùy theo quan điểm, dường như chuyển động tiến tới hoặc lùi lại.

164. There could also be many cycles within the greater cycle.

164. Cũng có thể có nhiều chu kỳ bên trong chu kỳ lớn hơn.

165. Notice that in describing the Second Logos the term “rotation” is not used, but rather, “revolution”.

165. Hãy lưu ý rằng khi mô tả Logos thứ hai, thuật ngữ “rotation” không được dùng, mà là “revolution”.

166. The “fixed centre, within the solar periphery” seems to be the Sun itself.

166. “Trung tâm cố định, bên trong chu vi mặt trời” dường như là chính Mặt Trời.

167. The phrase, “revolution of the wheel of existence in ordered cycles for a specific purpose” is possibly ambiguous. It could refer to the Sun with all its planets; or only to planets; or the phrase could be metaphysical.

167. Cụm từ “sự quay vòng của bánh xe hiện hữu trong những chu kỳ có trật tự vì một mục đích xác định” có thể mơ hồ. Nó có thể chỉ Mặt Trời cùng tất cả các hành tinh của nó; hoặc chỉ các hành tinh; hoặc cụm từ ấy có thể mang tính siêu hình.

168. What is the meaning of the “wheel of existence” in this instance? Could we be speaking solar systemically of the revolution of the Sun and its solar system around a greater center?

168. Ý nghĩa của “bánh xe hiện hữu” trong trường hợp này là gì? Có thể chăng chúng ta đang nói theo nghĩa hệ mặt trời về sự quay vòng của Mặt Trời và hệ mặt trời của nó quanh một trung tâm lớn hơn?

169. Or is the “wheel of existence” the same as “these spheres of matter”?

169. Hay “bánh xe hiện hữu” cũng chính là “những khối cầu vật chất này”?

170. Our planet is a wheel of existence and a sphere of matter. From another angle, the same can be said of our Sun.

170. Hành tinh của chúng ta là một bánh xe hiện hữu và một khối cầu vật chất. Từ một góc độ khác, điều tương tự cũng có thể được nói về Mặt Trời của chúng ta.

171. The other possibility for interpreting the “wheel of existence” is that the word “revolution” really means “rotation”, for a planet, as a “wheel of existence” certainly both rotates and revolves.

171. Khả năng khác để giải thích “bánh xe hiện hữu” là từ “revolution” thực sự có nghĩa là “rotation”, vì một hành tinh, như một “bánh xe hiện hữu”, chắc chắn vừa tự quay vừa quay quanh.

172. When it comes to the progression of spheres of matter around a fixed center, we are, in this instance, obviously talking about the planets who are revolving around the Sun. Because the Sun is “driving forward through space”, the revolution of the planes becomes a spiral-cyclic revolution. The implication is that revolution (which could at first sight seem simply rotary) is an ever-ascending revolution—i.e., a forward-tending or upward-tending spiral (both ‘tendings’ moving towards an Attractor or point of destination.).

172. Khi nói đến sự tiến hành của các khối cầu vật chất quanh một trung tâm cố định, trong trường hợp này hiển nhiên chúng ta đang nói về các hành tinh đang quay quanh Mặt Trời. Bởi vì Mặt Trời đang “lao tới xuyên qua không gian”, sự quay vòng của các cõi trở thành một sự quay vòng xoắn ốc-chu kỳ. Hàm ý là sự quay vòng (thoạt nhìn có thể dường như chỉ đơn thuần là quay tròn) là một sự quay vòng luôn đi lên—tức là một đường xoắn ốc có xu hướng tiến tới hay đi lên (cả hai ‘xu hướng’ đều chuyển động về phía một Đấng Hấp Dẫn hay một điểm đích đến).

173. It could be said that all spirals include cycles, so what is the purpose of calling such motion spiral-cyclic (which seems redundant)?

173. Có thể nói rằng mọi đường xoắn ốc đều bao hàm các chu kỳ, vậy mục đích của việc gọi chuyển động như thế là xoắn ốc-chu kỳ là gì (điều này dường như thừa)?

174. We note how the seventh ray is closely associated with the second, for the revolution related to the Law of Attraction occurs in “ordered cycles” (a ordering requiring the seventh ray).

174. Chúng ta lưu ý cách cung bảy được liên kết chặt chẽ với cung hai, vì sự quay vòng liên hệ với Định luật Hấp Dẫn xảy ra trong “những chu kỳ có trật tự” (một sự sắp xếp đòi hỏi cung bảy).

These three concepts are governed by the Law of Attraction, or the law governing the interplay or the action and reaction:

Ba khái niệm này được chi phối bởi Định luật Hấp Dẫn, hay định luật chi phối sự tương tác hoặc tác động và phản tác động:

175. The three concepts are:

175. Ba khái niệm ấy là:

a. The tendency towards the goal of consciousness

a. Khuynh hướng hướng tới mục tiêu của tâm thức

b. The tendency towards form building

b. Khuynh hướng hướng tới việc xây dựng hình tướng

c. The mode of spiral and cyclic progression (or, probably more accurately, spiral-cyclic progression)

c. Phương thức tiến hành xoắn ốc và chu kỳ (hay có lẽ chính xác hơn là tiến hành xoắn ốc-chu kỳ)

176. The Law of Attraction governs the interplay between the following entities:

176. Định luật Hấp Dẫn chi phối sự tương tác giữa các thực thể sau đây:

a. Between the Sun and its six brothers.

a. Giữa Mặt Trời và sáu huynh đệ của nó.

177. Who are the Sun and its six brothers? The Logoi of the Seven Solar Systems of which ours is One? This would be reasonable, but not necessarily implied. It is reasonable to infer that the Law of Attraction is active between the members of the “Seven Solar Systems of which Ours is One”

177. Mặt Trời và sáu huynh đệ của nó là ai? Các Thượng đế của Bảy Hệ Mặt Trời mà hệ của chúng ta là Một trong đó chăng? Điều này sẽ là hợp lý, nhưng không nhất thiết được hàm ý. Thật hợp lý để suy ra rằng Định luật Hấp Dẫn hoạt động giữa các thành viên của “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một trong đó”

178. Or could we be speaking of the Sun in relation to six planetary spheres which (according to the Secret Doctrine), in early days, began as “brothers” rather than “sons” of the Sun.

178. Hay có thể chúng ta đang nói về Mặt Trời trong liên hệ với sáu khối cầu hành tinh mà (theo Giáo Lý Bí Nhiệm), vào thuở ban đầu, đã khởi đầu như những “huynh đệ” hơn là những “người con” của Mặt Trời.

179. But there are seven sacred planets, and not six.

179. Nhưng có bảy hành tinh thiêng liêng, chứ không phải sáu.

180. In the Secret Doctrine we have the following reference to Marttanda (the Sun), who is clearly the “brother” of the seven planets as they are all born of the same mother, Aditi.

180. Trong Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta có đoạn dẫn chiếu sau đây về Marttanda (Mặt Trời), rõ ràng là “huynh đệ” của bảy hành tinh vì tất cả đều được sinh ra từ cùng một Mẹ, Aditi.

"Eight Sons were born from the body of Aditi; she approached the gods with seven, but cast away the eighth, Marttanda," our sun. The seven sons called the Aditya are, cosmically or astronomically, the seven planets; and the Sun being excluded from their number shows plainly that the Hindus may have known, and in fact knew of a seventh planet, without calling it Uranus.**(SD I 99)

"Tám Người Con được sinh ra từ thân thể của Aditi; bà đến với các thần cùng bảy người, nhưng loại bỏ người thứ tám, Marttanda," mặt trời của chúng ta. Bảy người con được gọi là Aditya, theo nghĩa vũ trụ hay thiên văn, là bảy hành tinh; và việc Mặt Trời bị loại khỏi số đó cho thấy rõ rằng người Hindu có thể đã biết, và thực sự đã biết, về một hành tinh thứ bảy mà không gọi nó là Uranus.**(SD I 99)

Marttanda (the Sun) watches and threatens — without abandoning the central position to which his Mother, Aditi, relegated him — his seven brothers, the planets; "he pursues them, turning slowly around himself... and follows them from afar, moving in the same direction that they do, on the path that encircles their houses" — or the orbit. SD I 529)

Marttanda (Mặt Trời) quan sát và đe dọa — mà không từ bỏ vị trí trung tâm mà Mẹ của nó, Aditi, đã dành cho nó — bảy huynh đệ của nó, các hành tinh; "nó đuổi theo họ, chậm rãi quay quanh chính mình... và theo họ từ xa, chuyển động theo cùng hướng mà họ chuyển động, trên con đường bao quanh những ngôi nhà của họ" — hay quỹ đạo. SD I 529)

This "first begotten Ogdoad" was (a) in theogony the second Logos (the manifested) because he was born of the Seven-fold first Logos, hence he is the eighth on this manifested plane; and (b) in astrolatry, it was the Sun, Marttanda — the eighth son of Aditi, whom she rejects while preserving her Seven Sons, the planets. For the ancients have never regarded the Sun as a planet, but as a central and fixed Star. This, then, is the second Hebdomad born of the Seven-rayed one, Agni, the Sun

"Bộ Tám đầu tiên được sinh ra" này là (a) trong thần hệ học, Logos thứ hai (đã biểu hiện) vì Ngài được sinh ra từ Logos thứ nhất thất phân, do đó Ngài là người thứ tám trên cõi biểu hiện này; và (b) trong sự thờ phụng tinh tú, đó là Mặt Trời, Marttanda — người con thứ tám của Aditi, bị bà từ bỏ trong khi vẫn giữ lại Bảy Người Con của bà, các hành tinh. Vì người xưa chưa bao giờ xem Mặt Trời là một hành tinh, mà là một Ngôi Sao trung tâm và cố định. Như vậy, đây là Bộ Bảy thứ hai được sinh ra từ Đấng có Bảy Cung, Agni, Mặt Trời

(SD I 448)

(SD I 448)

“*** The solar Chnouphis, or Agathodaemon, is the Christos of the Gnostics, as every scholar knows. He is intimately connected with the seven sons of Sophia (Wisdom), the seven sons of Aditi (universal Wisdom), her eighth being Marttanda, the Sun, which seven are the seven planetary regents or genii. Therefore Chnouphis was the spiritual Sun of Enlightenment, of Wisdom, hence the patron of all the Egyptian Initiates, as Bel-Merodach (or Bel-Belitanus) became later with the Chaldeans. (SD II 210)

“*** Chnouphis mặt trời, hay Agathodaemon, là Christos của phái Ngộ đạo, như mọi học giả đều biết. Ngài liên hệ mật thiết với bảy người con của Sophia (Minh triết), bảy người con của Aditi (Minh triết vũ trụ), người thứ tám của bà là Marttanda, Mặt Trời; bảy vị ấy là bảy vị nhiếp chính hay chơn linh hành tinh. Vì vậy Chnouphis là Mặt Trời tinh thần của Giác ngộ, của Minh triết, do đó là đấng bảo trợ của tất cả các điểm đạo đồ Ai Cập, cũng như Bel-Merodach (hay Bel-Belitanus) về sau đã trở thành như vậy đối với người Chaldea. (SD II 210)

181. From the Secret Doctrine we arrive at the conclusion that the Sun has seven brothers.

181. Từ Giáo Lý Bí Nhiệm chúng ta đi đến kết luận rằng Mặt Trời có bảy huynh đệ.

b. Between the circling whirling seven planes of the solar system.

b. Giữa bảy cõi đang quay tròn và xoáy chuyển của hệ mặt trời.

182. The seven planes of the solar system are mutually attracted and have mutual interplay and they circle and whirl (each, presumably, on its own axis?).

182. Bảy cõi của hệ mặt trời hút nhau lẫn nhau và có sự tương tác hỗ tương, và chúng quay tròn và xoáy chuyển (mỗi cõi, có lẽ, quanh trục riêng của nó?).

183. This circling and whirling seems more rotary, but it cannot be denied that the planes are attracted to each other and thus cohere in a sevenfold whole.

183. Sự quay tròn và xoáy chuyển này dường như có tính tự quay hơn, nhưng không thể phủ nhận rằng các cõi hút nhau và do đó kết dính thành một toàn thể thất phân.

184. We may infer that fire by friction is produced through the circling and whirling of the seven planes. The fourth ray would presumably be important in the harmonizing of inter-planar fire by friction.

184. Chúng ta có thể suy ra rằng Lửa ma sát được tạo ra qua sự quay tròn và xoáy chuyển của bảy cõi. Cung bốn hẳn là quan trọng trong việc điều hòa Lửa ma sát liên-cõi.

c. Between everything in the matter of all forms [like subatomic particles?], the spheres of matter themselves and the aggregate of those spheres that are embodied in the forms of still others [other spheres].

c. Giữa mọi sự trong vật chất của mọi hình tướng [như các hạt hạ nguyên tử?], chính các khối cầu vật chất ấy và tập hợp của những khối cầu ấy được hiện thân trong các hình tướng của những cái khác nữa [những khối cầu khác].

185. The Law of Attraction could be called the ‘Law of Sustained Relationship’. When there is chaos the Law of Attraction is not working. The Law of Attraction organizes chaos.

185. Định luật Hấp Dẫn có thể được gọi là ‘Định luật của Mối Liên Hệ Được Duy Trì’. Khi có hỗn loạn thì Định luật Hấp Dẫn không hoạt động. Định luật Hấp Dẫn tổ chức hỗn loạn.

186. If there is no love, there is no attraction. The Black Lodge finally ends in chaos, with no love, and no pure reason.

186. Nếu không có tình thương thì không có hấp dẫn. Hắc đoàn cuối cùng kết thúc trong hỗn loạn, không có tình thương, và không có lý trí thuần khiết.

187. Every unit is attracted to its fellow units and to its parent unit.

187. Mỗi đơn vị đều bị hút về các đơn vị đồng loại của nó và về đơn vị mẹ của nó.

188. An aggregate is a collection of items.

188. Một tập hợp là một bộ sưu tập các hạng mục.

189. This section above requires pondering as the wording is unusual and definitely difficult to understand.

189. Đoạn trên đây đòi hỏi phải suy ngẫm vì cách diễn đạt là khác thường và rõ ràng khó hiểu.

190. May we say that “spheres of matter” are the building blocks of forms? An atom would be a sphere of matter. All atoms within a form would be mutually attracted.

190. Chúng ta có thể nói rằng “các khối cầu vật chất” là những khối xây dựng của các hình tướng chăng? Một nguyên tử sẽ là một khối cầu vật chất. Tất cả các nguyên tử bên trong một hình tướng sẽ hút nhau lẫn nhau.

191. Spheres of matter and aggregates of spheres of matter would be attracted to other aggregates of spheres of matter and to the spheres of matter within those aggregates.

191. Các khối cầu vật chất và các tập hợp của những khối cầu vật chất sẽ bị hút về những tập hợp khác của các khối cầu vật chất và về các khối cầu vật chất bên trong những tập hợp ấy.

192. To simplify this, we might say that all spheres of matter in cosmos are in some sense gravitationally attracted.

192. Để đơn giản hóa điều này, chúng ta có thể nói rằng mọi khối cầu vật chất trong vũ trụ đều, theo một nghĩa nào đó, bị hấp dẫn trọng lực.

193. But a simple question must be answered before comprehension can come: what is “everything in the matter of all forms”. We are led into the problem concerning the extent of the divisibility of matter

193. Nhưng một câu hỏi đơn giản phải được trả lời trước khi sự thấu hiểu có thể đến: “mọi sự trong vật chất của mọi hình tướng” là gì? Chúng ta được dẫn vào vấn đề liên quan đến mức độ khả phân của vật chất

The First Logos. The first Logos is the Ray of Cosmic Will. His mode of action is a literal driving forward of the solar ring-pass-not through space,

Logos thứ nhất. Logos thứ nhất là Cung của Ý Chí Vũ Trụ. Phương thức hoạt động của Ngài là một sự lao tới theo nghĩa đen của vòng-giới-hạn mặt trời xuyên qua không gian,

194. Is the First Logos to be considered intra-systemic or extra-systemic? If He were strictly intra-systemic, could He drive the solar ring-pass-not forward through space?

194. Logos thứ nhất nên được xem là nội-hệ thống hay ngoại-hệ thống? Nếu Ngài hoàn toàn là nội-hệ thống, liệu Ngài có thể đẩy vòng-giới-hạn mặt trời lao tới xuyên qua không gian không?

195. The Third and Second Logoi seem to be operating within the solar systemic ring-pass-not. Is this also being said of the First Logos? Simply put, is the driving coming from within or is it imposed?

195. Logos thứ ba và Logos thứ hai dường như đang hoạt động bên trong vòng-giới-hạn của hệ mặt trời. Điều này có được nói về Logos thứ nhất không? Nói đơn giản, sự lao đẩy ấy đến từ bên trong hay nó được áp đặt?

196. When using terms like First Logos, Second Logos, and Third Logos, we must realize that they can be used intra-systemically and extra-systemically. The three intra-systemic Logoi are simply reflections or extensions of extra-systemic Logoi.

196. Khi dùng những thuật ngữ như Logos thứ nhất, Logos thứ hai và Logos thứ ba, chúng ta phải nhận ra rằng chúng có thể được dùng theo nghĩa nội-hệ thống và ngoại-hệ thống. Ba Logos nội-hệ thống chỉ đơn giản là những phản chiếu hay những sự mở rộng của các Logos ngoại-hệ thống.

197. DK does not always alert us to the moment when He switches levels and contexts.

197. Chân sư DK không phải lúc nào cũng báo cho chúng ta biết khoảnh khắc khi Ngài chuyển cấp độ và ngữ cảnh.

198. With this “driving forward” we are considering the proper motion of a star. Our solar system, astronomers tell us, is driving towards Vega and eventually Hercules.

198. Với “sự lao tới” này, chúng ta đang xét đến chuyển động riêng của một ngôi sao. Các nhà thiên văn cho chúng ta biết rằng hệ mặt trời của chúng ta đang lao về phía Vega và cuối cùng là Hercules.

199. The term “literal” is used because our solar ring-pass-not is on its way towards a destination and is moving towards that destination on a path that seems rather linear, though ultimately, because of the rotation of the entirety of the cosmic atom, it cannot be.

199. Thuật ngữ “theo nghĩa đen” được dùng vì vòng-giới-hạn mặt trời của chúng ta đang trên đường hướng tới một đích đến và đang chuyển động về phía đích đến ấy trên một con đường dường như khá tuyến tính, dù rốt cuộc, do sự tự quay của toàn bộ nguyên tử vũ trụ, nó không thể như vậy.

and until the end of this mahamanvantara or day of Brahma (the logoic [Page 146] cycle [Page see TCF 334]) we shall not be able to conceive of the first aspect of will or power as it really is.

và cho đến cuối Đại giai kỳ sinh hóa hay ngày của Brahma này (chu kỳ [Page 146] logoic [Page xem TCF 334]) chúng ta sẽ không thể quan niệm được phương diện thứ nhất của ý chí hay quyền năng đúng như nó thực sự là.

200. The planetary schemes are to the Solar Logos as the planetary chains are to the Planetary Logos (Planetary Schemes).

200. Các hệ hành tinh đối với Thái dương Thượng đế cũng như các dãy hành tinh đối với Đức Hành Tinh Thượng Đế (Các Hệ Hành Tinh).

201. A Solar Logoic Scheme endures for one mahamanvantara or maha-kalpa, or 100 years of Brahma.

201. Một Hệ của Thái dương Thượng đế tồn tại trong một Đại giai kỳ sinh hóa hay maha-kalpa, hay 100 năm của Brahma.

202. The Solar Logos is in His fifth mahamanvantara (TCF 605). He will achieve either His fourth or fifth cosmic initiation in this mahamanvantara.

202. Thái dương Thượng đế đang ở trong Đại giai kỳ sinh hóa thứ năm của Ngài (TCF 605). Ngài sẽ đạt hoặc lần điểm đạo vũ trụ thứ tư hoặc thứ năm của Ngài trong Đại giai kỳ sinh hóa này.

203. A manvantara is a “day” of Brahma. How can we talk of a mahamanvantaric achievement in terms of “day” of Brahma rather than a “century” of Brahma? Either the use of the term “day” is a misprint or an occult blind.

203. Một giai kỳ sinh hóa là một “ngày” của Brahma. Làm sao chúng ta có thể nói về một thành tựu mahamanvantaric theo nghĩa “ngày” của Brahma thay vì một “thế kỷ” của Brahma? Hoặc việc dùng thuật ngữ “ngày” là một lỗi in, hoặc là một bức màn huyền bí.

204. A Maha-Kalpa is a Mahamanvantara.

204. Một Maha-Kalpa là một Đại giai kỳ sinh hóa.

205. Our inescapable limitation in this regard is stated. The true nature of the first aspect will be entirely beyond our comprehension for vast periods of time to come.

205. Giới hạn không thể tránh khỏi của chúng ta trong phương diện này đã được nêu ra. Bản chất thực sự của phương diện thứ nhất sẽ hoàn toàn vượt ngoài sự thấu hiểu của chúng ta trong những thời kỳ vô cùng dài sắp tới.

206. We have to watch the terminology carefully as a mahamanvantara should be a century of Brahma—not so small a unit as a “day”. The term “day” seems far to short unless it is meant to refer to the duration of our planet. Even then it seems too short.

206. Chúng ta phải theo dõi thuật ngữ một cách cẩn thận vì một Đại giai kỳ sinh hóa phải là một thế kỷ của Brahma—chứ không phải một đơn vị nhỏ như một “ngày”. Thuật ngữ “ngày” dường như quá ngắn trừ khi nó được dùng để chỉ thời lượng của hành tinh chúng ta. Ngay cả như vậy nó vẫn có vẻ quá ngắn.

207. The duration of a “day of Brahma” does, however, seem to correlate with the duration of our planet as science presently conceives that duration.

207. Tuy nhiên, thời lượng của một “ngày của Brahma” quả thật dường như tương ứng với thời lượng của hành tinh chúng ta như khoa học hiện nay quan niệm về thời lượng ấy.

208. In occultism, the duration of a planet would accord more convincingly with at year of Brahma.

208. Trong huyền bí học, thời lượng của một hành tinh sẽ phù hợp thuyết phục hơn với một năm của Brahma.

We know it now as the will to exist, manifesting through the matter of the forms (the Primordial Ray and the Divine Ray), and we know it as that which in some occult manner links the system up with its cosmic centre. [this could be Pleiades] In a manner inconceivable to us the first Logos brings in the influence of other constellations.

Hiện nay chúng ta biết nó như là ý chí hiện hữu, biểu lộ qua vật chất của các hình tướng (Cung Nguyên Sơ và Cung Thiêng Liêng), và chúng ta biết nó như điều mà theo một cách huyền bí nào đó nối kết hệ thống với trung tâm vũ trụ của nó. [điều này có thể là Pleiades] Theo một cách không thể quan niệm đối với chúng ta, Logos thứ nhất mang vào ảnh hưởng của những chòm sao khác.

209. We understand the nature of the first aspect (at this time) as the “will to exist”. Later we shall understand the first aspect in its own right. At the moment (in our solar system) this aspect is mediated through the Primordial Ray and the Divine Ray.

209. Hiện nay chúng ta hiểu bản chất của phương diện thứ nhất như là “ý chí hiện hữu”. Về sau chúng ta sẽ hiểu phương diện thứ nhất trong quyền tính riêng của nó. Hiện tại (trong hệ mặt trời của chúng ta) phương diện này được trung giới qua Cung Nguyên Sơ và Cung Thiêng Liêng.

210. Are the Three Logoi all associated with bodies, with stars, with constellations? Or do they actually embody extra-systemic bodies, stars or constellations?

210. Cả Ba Logos có phải đều liên kết với các thể, với các ngôi sao, với các chòm sao không? Hay các Ngài thực sự hiện thân các thể, các ngôi sao hay các chòm sao ngoại-hệ thống?

211. Certainly, one grander way of conceiving these three Logoi is as three aspects within the One About Whom Naught May Be Said in which our Solar Logos is a minor center.

211. Chắc chắn, một cách lớn lao hơn để quan niệm về ba Logos này là như ba phương diện bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị, trong Đấng ấy Thái dương Thượng đế của chúng ta là một trung tâm nhỏ.

212. What does the word other mean (as in “other constellations”)? Does this suggest that the First Logos is associated with a constellation? That is to say, is the First Logos an intra-systemic being merely associated with “other constellations”, or is the First Logos an extra-systemic being embodying a certain extra-systemic constellation or constellations?

212. Từ khác có nghĩa là gì (như trong “những chòm sao khác”)? Điều này có gợi ý rằng Logos thứ nhất liên kết với một chòm sao không? Nói cách khác, Logos thứ nhất là một hữu thể nội-hệ thống chỉ đơn thuần liên kết với “những chòm sao khác”, hay Logos thứ nhất là một hữu thể ngoại-hệ thống hiện thân một chòm sao hay những chòm sao ngoại-hệ thống nào đó?

213. Both perspectives are probably true depending upon the context we choose to consider.

213. Cả hai quan điểm có lẽ đều đúng tùy theo ngữ cảnh mà chúng ta chọn để xem xét.

a. There are three Logoi who are aspects of our Solar Logos. These intra-systemic Logoi can bring in the influences of other greater Logoi (working through other stars and constellations)

a. Có ba Thượng đế là các phương diện của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Các Thượng đế nội hệ này có thể mang vào những ảnh hưởng của các Thượng đế vĩ đại khác (hoạt động qua các ngôi sao và các chòm sao khác)

b. There are three still greater Logoi who are aspects of the One About Whom Naught May Be Said. The three Logoi who are aspects of our Solar Logos are merely extensions of the three greater Logoi.

b. Có ba Thượng đế còn vĩ đại hơn nữa là các phương diện của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Ba Thượng đế là các phương diện của Thái dương Thượng đế của chúng ta chỉ đơn thuần là những sự mở rộng của ba Thượng đế lớn hơn ấy.

214. The will of the Ray of Cosmic Will is here called “will to exist”. At least this is one way of describing that will, though a very limited way.

214. Ý chí của Cung Ý Chí Vũ Trụ ở đây được gọi là “ý chí hiện hữu”. Ít nhất, đó là một cách để mô tả ý chí ấy, dù là một cách rất hạn chế.

215. If the First Logos is related to Sirius (the hypothesized head center of the SSSOWOIO), then Sirius is a conduit for the energy of three great constellations, such as Great Bear, Little Bear/Orion and Seven Sisters. This possibility must be carefully considered.

215. Nếu Thượng đế thứ nhất có liên hệ với Sirius (trung tâm đầu được giả định của SSSOWOIO), thì Sirius là một ống dẫn cho năng lượng của ba chòm sao lớn, như Đại Hùng Tinh, Tiểu Hùng Tinh/Orion và Thất Nữ Tinh. Khả năng này phải được xem xét cẩn trọng.

216. The process described (i.e., the process of ‘bringing in’) is like meditating and having one’s head center stimulated by energies extraneous to one’s own system and, then, conducting extraneous energies to all parts of one’s system. Always the head center must be stimulated.

216. Tiến trình được mô tả (tức là tiến trình “mang vào”) giống như tham thiền và có trung tâm đầu của mình được kích thích bởi những năng lượng ngoại lai đối với hệ thống riêng của mình, rồi sau đó dẫn truyền những năng lượng ngoại lai ấy đến mọi phần trong hệ thống của mình. Luôn luôn, trung tâm đầu phải được kích thích.

217. When we use a phrase like the “matter of forms” we have combined the influence of the Primordial Ray (“matter”) and the Divine Ray (“forms”).

217. Khi chúng ta dùng một cụm từ như “vật chất của các hình tướng”, chúng ta đã kết hợp ảnh hưởng của Cung Nguyên Sơ (“vật chất”) và Cung Thiêng Liêng (“các hình tướng”).

218. What is the “cosmic center” of our solar system? Shall we call it the Pleiades? Another, though lesser “center” could be considered Sirius, since Sirius, hypothetically, could play the role of head center within the SSSOWOIO.

218. “Trung tâm vũ trụ” của hệ mặt trời chúng ta là gì? Chúng ta có nên gọi đó là Thất Nữ Tinh không? Một “trung tâm” khác, dù nhỏ hơn, có thể được xem là Sirius, vì Sirius, theo giả thuyết, có thể đóng vai trò trung tâm đầu bên trong SSSOWOIO.

219. Presumably, the First Logos (of the Third Outpouring) brings in the influence of constellations within the periphery of the One About Whom Naught May Be Said. I do not think we are focussing beyond that periphery.

219. Có lẽ, Thượng đế thứ nhất (của Lần Tuôn Đổ thứ ba) mang vào ảnh hưởng của các chòm sao nằm trong chu vi của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Tôi không nghĩ rằng chúng ta đang tập trung vượt ra ngoài chu vi ấy.

220. Does the ultimate First Logos within the OAWNMBS have its center in a particular constellation? It is reasonable that the Three Logoi, when considered as extra-systemic, would be particularly associated with extra-systemic constellations.

220. Phải chăng Thượng đế thứ nhất tối hậu bên trong Đấng Bất Khả Tư Nghị có trung tâm của Ngài trong một chòm sao đặc biệt nào đó? Hợp lý khi cho rằng Ba Thượng đế, khi được xét như là ngoài hệ, sẽ đặc biệt liên kết với các chòm sao ngoài hệ.

221. If the manner is “inconceivable to us”, is the Tibetan including Himself in this “us”?

221. Nếu cách thức ấy là “không thể quan niệm được đối với chúng ta”, thì Chân sư Tây Tạng có bao gồm chính Ngài trong chữ “chúng ta” này không?

When this first aspect is better understood (in the next mahamanvantara)

Khi phương diện thứ nhất này được thấu hiểu tốt hơn (trong Đại giai kỳ sinh hóa kế tiếp)

222. Again, we must presume that the term “mahamanvantara” must mean the next solar system during which event the first Ray of Will and Power will be dominant in our solar system.

222. Một lần nữa, chúng ta phải giả định rằng thuật ngữ “mahamanvantara” phải có nghĩa là hệ mặt trời kế tiếp, trong đó cung một của Ý Chí và Quyền Năng sẽ chiếm ưu thế trong hệ mặt trời của chúng ta.

223. This does not necessarily mean that within the context of the OAWNMBS the First Logos of that far grander system will be dominant.

223. Điều này không nhất thiết có nghĩa là trong bối cảnh của Đấng Bất Khả Tư Nghị, Thượng đế thứ nhất của hệ thống vĩ đại hơn rất xa ấy sẽ chiếm ưu thế.

the work of the seven Rishis of the Great Bear,65 and the supreme influence of Sirius will be comprehended;

công việc của bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh,65 và ảnh hưởng tối thượng của Sirius sẽ được thấu hiểu;

224. The Seven Rishis have a predominately will influence on our solar system.

224. Bảy vị Rishi có ảnh hưởng chủ yếu là ý chí đối với hệ mặt trời của chúng ta.

225. Why is the influence of Sirius considered “supreme”? This term indicates an influence more elevated and more powerful than all other influences. Would it only be so in relation to our Solar Logos and its solar system since our Solar Logos is so intimately associated with the Logos of Sirius?

225. Tại sao ảnh hưởng của Sirius lại được xem là “tối thượng”? Thuật ngữ này chỉ ra một ảnh hưởng cao hơn và mạnh hơn mọi ảnh hưởng khác. Phải chăng điều đó chỉ đúng trong liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta và hệ mặt trời của Ngài vì Thái dương Thượng đế của chúng ta liên kết mật thiết đến thế với Thượng đế của Sirius?

226. Does “supreme” mean “supreme” for our solar system?

226. “Tối thượng” có nghĩa là “tối thượng” đối với hệ mặt trời của chúng ta chăng?

227. It is interesting that the influence of Sirius was even greater in the previous solar system than it is in this one. Do we anticipate that the Sirian influence will grow in the next solar system? Or that the Sirian influence is simply supreme in relation to our Solar Logos regardless of how strong its relative influence may be in relation to the first, second or third solar systems?

227. Điều đáng chú ý là ảnh hưởng của Sirius trong hệ mặt trời trước còn lớn hơn trong hệ này. Chúng ta có dự đoán rằng ảnh hưởng Sirian sẽ tăng lên trong hệ mặt trời kế tiếp không? Hay là ảnh hưởng Sirian đơn giản là tối thượng trong liên hệ với Thái dương Thượng đế của chúng ta, bất kể sức mạnh tương đối của nó có thể là bao nhiêu trong liên hệ với hệ mặt trời thứ nhất, thứ hai hay thứ ba?

in this present manifestation of the Son, or of the Vishnu aspect, we are concerned more closely with the Pleiades and their influence via the Sun, and, in relation to our planet, via Venus.

trong sự biểu hiện hiện tại này của Con, hay của phương diện Vishnu, chúng ta quan tâm mật thiết hơn đến Thất Nữ Tinh và ảnh hưởng của chúng qua Mặt Trời, và, trong liên hệ với hành tinh chúng ta, qua Sao Kim.

228. This is surely interesting, as when we think of the Pleiades, we usually think of an influence related to the third aspect of divinity. Indeed, some third ray influence does come from the Pleiades and we can never forget the link of Venus to the principle of Intelligence.

228. Điều này quả thật thú vị, vì khi nghĩ đến Thất Nữ Tinh, chúng ta thường nghĩ đến một ảnh hưởng liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính. Quả thật, một số ảnh hưởng cung ba có đến từ Thất Nữ Tinh và chúng ta không bao giờ được quên mối liên hệ của Sao Kim với nguyên khí Trí Tuệ.

229. However, the Pleiades are also the source of cosmic buddhi and hence would reasonably be correlated to developments within our second or buddhic solar system. (TCF 1162) (“3. The cosmic buddhic plane, and the constellation of the Pleiades.” (TCF 905)

229. Tuy nhiên, Thất Nữ Tinh cũng là nguồn của Bồ đề vũ trụ và do đó hợp lý khi được tương quan với những phát triển bên trong hệ mặt trời thứ hai hay hệ mặt trời Bồ đề của chúng ta. (TCF 1162) (“3. Cõi Bồ đề vũ trụ, và chòm sao Thất Nữ Tinh.” (TCF 905)

230. In this book which appeared earlier than Esoteric Astrology, DK seems to be hinting at a triangle He there mentioned: Pleiades—Cancer—Venus. At least two of the three sources are given, and there is, at least, a relation.

230. Trong quyển sách này xuất hiện sớm hơn Chiêm Tinh Học Nội Môn, Chân sư DK dường như đang gợi ý về một tam giác mà tại đó Ngài có nhắc đến: Thất Nữ Tinh—Cự Giải—Sao Kim. Ít nhất hai trong ba nguồn đã được nêu ra, và ít nhất cũng có một mối liên hệ.

231. The triangle here suggested is literally Pleiades—Sun—Venus, makes sense for our second ray solar system.

231. Tam giác được gợi ý ở đây theo nghĩa đen là Thất Nữ Tinh—Mặt Trời—Sao Kim, điều này hợp lý đối với hệ mặt trời cung hai của chúng ta.

232. The relationship of the Pleiades to the Solar Angels is therefore inferred, for the Sun and Venus are both sources for the Solar Angels.

232. Vì vậy, mối liên hệ của Thất Nữ Tinh với các Thái dương Thiên Thần được suy ra, vì Mặt Trời và Sao Kim đều là những nguồn cho các Thái dương Thiên Thần.

233. In the following TCF reference the relation of the Pleiades to the Solar Angels is given directly. “b. Force from the Pleiades, via the solar Angel or Ego.” (TCF 1157)

233. Trong trích dẫn TCF sau đây, mối liên hệ của Thất Nữ Tinh với các Thái dương Thiên Thần được nêu trực tiếp. “b. Mãnh lực từ Thất Nữ Tinh, qua Thái dương Thiên Thần hay chân ngã.” (TCF 1157)

65:"The Hindus place their seven primitive Rishis in the Great Bear. The prototypes or the animating source of the seven Heavenly Men, the planetary Logoi, are considered the seven Existences who function through the seven stars of the Bear."—S. D., II, 668.

65:“Người Hindu đặt bảy vị Rishi nguyên thủy của họ trong Đại Hùng Tinh. Các nguyên mẫu hay nguồn sinh động của bảy Đấng Thiên Nhân, các Hành Tinh Thượng Đế, được xem là bảy Hiện Hữu hoạt động qua bảy ngôi sao của chòm Gấu.” — Giáo Lý Bí Nhiệm, II, 668.

234. Why is the word “primitive” used? There is something primordial or primeval about the Rishis but nothing primitive. Since HBP is extremely responsible in her use of words, we must presume a deepened meaning for the term.

234. Tại sao từ “nguyên thủy” lại được dùng? Có điều gì đó nguyên sơ hay cổ sơ nơi các vị Rishi, nhưng không có gì là thô sơ cả. Vì HBP cực kỳ cẩn trọng trong cách dùng từ, chúng ta phải giả định một ý nghĩa sâu hơn cho thuật ngữ này.

235. When thinking of the Rishis let us think of them as the “prototypes or animating sources of the seven Heavenly Men”. This may mean that one day the “seven Heavenly Men” will be as the Rishis are now, and that the Rishis bear an archetypal relation to these Heavenly Men.

235. Khi nghĩ về các vị Rishi, chúng ta hãy nghĩ đến các Ngài như là “các nguyên mẫu hay nguồn sinh động của bảy Đấng Thiên Nhân”. Điều này có thể có nghĩa là một ngày kia “bảy Đấng Thiên Nhân” sẽ như các vị Rishi hiện nay, và rằng các vị Rishi mang một mối liên hệ nguyên mẫu với các Đấng Thiên Nhân này.

236. See the work of Stephen D. Pugh on the Makara Website. There the various names and functions of the Seven Rishis can be found.

236. Hãy xem công trình của Stephen D. Pugh trên trang Makara. Ở đó có thể tìm thấy các tên gọi và chức năng khác nhau của Bảy vị Rishi.

This subject of the first Logos, manifesting only in connection with the other two in the system, is a profound mystery, which is not fully understood by even those who have taken the sixth Initiation.

Chủ đề này về Thượng đế thứ nhất, chỉ biểu hiện trong liên hệ với hai Đấng kia trong hệ thống, là một huyền nhiệm sâu xa, mà ngay cả những người đã trải qua lần điểm đạo thứ sáu cũng chưa thấu hiểu trọn vẹn.

237. Again our limited possibilities for comprehension are stated.

237. Một lần nữa, những khả năng thấu hiểu hạn chế của chúng ta được nêu ra.

238. We are dealing with the question of why the First Logos manifests only in connection with the other two Logoi (at least in relation to our solar system). The question (not to be answered by us) is why it cannot manifest in its own right.

238. Chúng ta đang bàn đến câu hỏi vì sao Thượng đế thứ nhất chỉ biểu hiện trong liên hệ với hai Thượng đế kia (ít nhất là trong liên hệ với hệ mặt trời của chúng ta). Câu hỏi ấy (không phải để chúng ta trả lời) là vì sao Ngài không thể biểu hiện theo quyền năng riêng của Ngài.

239. At the time of this writing, the Tibetan had not taken the sixth initiation (so we gather from His various writings), and therefore, He is saying that even He does not fully understand the subject of the First Logos.

239. Vào lúc viết điều này, Chân sư Tây Tạng chưa trải qua lần điểm đạo thứ sáu (ít nhất đó là điều chúng ta suy ra từ các trước tác khác nhau của Ngài), và vì vậy, Ngài đang nói rằng ngay cả chính Ngài cũng không hoàn toàn thấu hiểu chủ đề về Thượng đế thứ nhất.

240. Presumably, those who have taken the seventh initiation (such as the Christ and Buddha have—at least in part) can understand this mystery.

240. Có lẽ, những vị đã trải qua lần điểm đạo thứ bảy (như Đức Christ và Đức Phật đã trải qua—ít nhất là một phần) có thể thấu hiểu huyền nhiệm này.

241. We see that there is no full manifestation for the First Logos in our solar system, but that in this solar system, He must always manifest in connection with the other two Logoi.

241. Chúng ta thấy rằng không có sự biểu hiện trọn vẹn nào cho Thượng đế thứ nhất trong hệ mặt trời của chúng ta, mà trong hệ mặt trời này, Ngài luôn luôn phải biểu hiện trong liên hệ với hai Thượng đế kia.

242. What the First Logos is, in a larger sense (within the body of manifestation of the OAWNMBS) is entirely beyond us, except for the possibility of noting some correspondences.

242. Thượng đế thứ nhất là gì, theo một nghĩa rộng lớn hơn (bên trong thể biểu hiện của Đấng Bất Khả Tư Nghị), hoàn toàn vượt ngoài chúng ta, ngoại trừ khả năng nhận ra một vài tương ứng.

243. We only note that when considering the natures of the Three Logoi, we cannot strictly confine ourselves to our solar system, but must definitely consider larger contexts. The ultimate context for consideration is the entirety of the universe—all stars and all starry systems and the Beings Who inform them.

243. Chúng ta chỉ ghi nhận rằng khi xem xét bản chất của Ba Thượng đế, chúng ta không thể nghiêm ngặt giới hạn mình trong hệ mặt trời của chúng ta, mà nhất định phải xét đến những bối cảnh lớn hơn. Bối cảnh tối hậu để xem xét là toàn thể vũ trụ—mọi ngôi sao và mọi hệ sao cùng các Đấng thấm nhuần chúng.

244. It arose in discussion that even though a big star disappears relatively quickly when compared to our Sun, it may have a subjective life which is much longer than our Solar Logos’ star, our Sun.

244. Trong thảo luận đã nêu lên rằng dù một ngôi sao lớn biến mất tương đối nhanh khi so với Mặt Trời của chúng ta, nó vẫn có thể có một sự sống chủ quan dài hơn nhiều so với ngôi sao của Thái dương Thượng đế chúng ta, tức Mặt Trời của chúng ta.

The first Logos embodies the "will to live"

Thượng đế thứ nhất hiện thân cho “ý chí sống”

245. A little earlier we were told that His type of will was the “will to exist”. In this case the terms “live” and “exist” can be considered identical.

245. Trước đó một chút, chúng ta được cho biết rằng loại ý chí của Ngài là “ý chí hiện hữu”. Trong trường hợp này, các thuật ngữ “sống” và “hiện hữu” có thể được xem là đồng nhất.

246. Note also the “will to be” as mentioned later in the text.

246. Cũng hãy lưu ý đến “ý chí là” như được nhắc đến sau này trong bản văn.

and it was through His instrumentality that the Manasaputras came into objective existence in relation to the human and deva hierarchies. [note the plural].

và chính qua công cụ của Ngài mà các Manasaputras đi vào hiện hữu khách quan trong liên hệ với các huyền giai nhân loại và thiên thần. [lưu ý số nhiều].

247. This could mean that the First Logos was active at man’s individualization at which time, it could be said, that the “Manasaputras came into objective existence”.

247. Điều này có thể có nghĩa là Thượng đế thứ nhất đã hoạt động vào lúc con người biệt ngã hóa, khi đó có thể nói rằng các “Manasaputras đi vào hiện hữu khách quan”.

248. We have to define the level of the Manasaputras.

248. Chúng ta phải xác định cấp độ của các Manasaputras.

249. The Manasaputras (if divine) are the Heavenly Men or Planetary Logoi. Divine Manasaputras

249. Các Manasaputras (nếu là thiêng liêng) là các Đấng Thiên Nhân hay các Hành Tinh Thượng Đế. Các Manasaputras thiêng liêng

250. But Manasaputras can also mean Solar Angels. If the term “Manasaputras” here means “Solar Angels”, then the phrase “human and deva hierarchies” means the members of the fourth, sixth and seventh hierarchies which are lower than the Solar Angels and which the Solar Angels sacrificially serve.

250. Nhưng Manasaputras cũng có thể có nghĩa là các Thái dương Thiên Thần. Nếu thuật ngữ “Manasaputras” ở đây có nghĩa là “các Thái dương Thiên Thần”, thì cụm từ “các huyền giai nhân loại và thiên thần” có nghĩa là các thành viên của huyền giai thứ tư, thứ sáu và thứ bảy, thấp hơn các Thái dương Thiên Thần và được các Thái dương Thiên Thần phụng sự một cách hi sinh.

251. Let us also remember that Manasaputras (as Solar Angels) are active on planets other than our own.

251. Chúng ta cũng hãy nhớ rằng các Manasaputras (với tư cách các Thái dương Thiên Thần) hoạt động trên những hành tinh khác ngoài hành tinh của chúng ta.

252. These Manasaputras had a subjective existence, but the First Logos is responsible for bringing them through into “objective existence”. This must be pondered.

252. Các Manasaputras này đã có một hiện hữu chủ quan, nhưng Thượng đế thứ nhất chịu trách nhiệm đưa các vị ấy đi vào “hiện hữu khách quan”. Điều này phải được suy ngẫm.

253. If the Manasaputras are Planetary Logoi, then we must consider that there is a relationship between a Planetary Logos, and the human and deva hierarchies which has been ‘engineered’ by the First Logos (intra-systemically considered). This relationship probably concerns the human and deva Monads which constitute or go to the composition of the centers within a Planetary Logos.

253. Nếu các Manasaputras là các Hành Tinh Thượng Đế, thì chúng ta phải xét rằng có một mối liên hệ giữa một Hành Tinh Thượng Đế với các huyền giai nhân loại và thiên thần đã được Thượng đế thứ nhất “thiết lập” (khi xét trong nội hệ). Mối liên hệ này có lẽ liên quan đến các chân thần nhân loại và thiên thần cấu thành hay góp phần vào sự cấu tạo của các trung tâm bên trong một Hành Tinh Thượng Đế.

254. There is only one human Creative Hierarchy as far as we know, but many deva Hierarchies (on the list of Creative Hierarchies).

254. Theo như chúng ta biết, chỉ có một Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại, nhưng có nhiều Huyền Giai thiên thần (trong danh sách các Huyền Giai Sáng Tạo).

255. IF, however, we are talking about human “hierarchies” (plural), we are then speaking in a solar systemic sense for there are, distributed among the other planets, human hierarchies.

255. Tuy nhiên, NẾU chúng ta đang nói về các “huyền giai” nhân loại (số nhiều), thì khi ấy chúng ta đang nói theo nghĩa toàn hệ mặt trời, vì được phân bố trên các hành tinh khác có các huyền giai nhân loại.

256. We, therefore, have two questions before us in relation to this section:

256. Vì vậy, trước mắt chúng ta có hai câu hỏi liên quan đến phần này:

a. Whether, in this section, we are speaking strictly in terms of our planet, or in terms of the solar system. In The phrase “human and deva hierarchies”, the plural, “hierarchies”, could still be used properly even if there was only one human hierarchy, and, thus, the interpretation strictly in terms of our Earth is possible.

a. Liệu trong phần này, chúng ta đang nói hoàn toàn theo phạm vi hành tinh của chúng ta, hay theo phạm vi hệ mặt trời. Trong cụm từ “các huyền giai nhân loại và thiên thần”, số nhiều “huyền giai” vẫn có thể được dùng đúng ngay cả nếu chỉ có một huyền giai nhân loại, và do đó, cách giải thích hoàn toàn theo phạm vi Trái Đất của chúng ta là có thể.

b. Whether the Manasaputras here mentioned are Solar Angels or Planetary Logoi.

b. Liệu các Manasaputras được nhắc đến ở đây là các Thái dương Thiên Thần hay các Hành Tinh Thượng Đế.

257. I think it is likely that the Manasaputras here considered are Solar Angels and that we are speaking of their activity on the Earth as well as on other planets.

257. Tôi nghĩ có khả năng là các Manasaputras được xét ở đây là các Thái dương Thiên Thần và rằng chúng ta đang nói về hoạt động của các vị ấy trên Trái Đất cũng như trên các hành tinh khác.

258. What is the relationship between Uranus (monadically, ray one) and the First Logos?

258. Mối liên hệ giữa Sao Thiên Vương (xét theo chân thần, cung một) và Thượng đế thứ nhất là gì?

In this system, the blending of the Divine Ray of Wisdom and the Primordial Ray of intelligent matter forms the great dual evolution;

Trong hệ thống này, sự hòa trộn của Cung Thiêng Liêng của Minh triết và Cung Nguyên Sơ của vật chất trí tuệ tạo thành cuộc tiến hóa kép vĩ đại;

259. This blending is going on in our solar system and notably, on our planet, whose soul ray is the second and personality ray the third.

259. Sự hòa trộn này đang diễn ra trong hệ mặt trời của chúng ta và đặc biệt là trên hành tinh của chúng ta, hành tinh có cung linh hồn là cung hai và cung phàm ngã là cung ba.

260. This same blending in occurring will be occurring in the life of every human being (thus reflecting solar systemic and planetary processes).

260. Chính sự hòa trộn này cũng đang và sẽ diễn ra trong đời sống của mỗi con người (do đó phản ánh các tiến trình toàn hệ mặt trời và hành tinh).

261. Remember that the Divine Ray of Wisdom and the Primordial Ray are also to be considered extra-systemic Beings.

261. Hãy nhớ rằng Cung Thiêng Liêng của Minh triết và Cung Nguyên Sơ cũng phải được xem là các Đấng ngoài hệ.

back of both these cosmic Entities [as they manifest in our solar system] stands another Entity Who is the embodiment of Will, and Who is the utiliser of forms—though not the forms of any other than the Greater Building devas and the human hierarchies [again the plural] in time and space.

đằng sau cả hai Thực Thể vũ trụ này [khi các Ngài biểu hiện trong hệ mặt trời của chúng ta] là một Thực Thể khác là hiện thân của Ý Chí, và là Đấng sử dụng các hình tướng—dù không phải các hình tướng của bất cứ ai khác ngoài các thiên thần đại kiến tạo và các huyền giai nhân loại [một lần nữa là số nhiều] trong thời gian và không gian.

262. We must remember that even the Solar Logos is called a “cosmic” entity.

262. Chúng ta phải nhớ rằng ngay cả Thái dương Thượng đế cũng được gọi là một thực thể “vũ trụ”.

263. In this context, we are considering the First Logos intra-systemically.

263. Trong bối cảnh này, chúng ta đang xét Thượng đế thứ nhất theo nghĩa nộihệ.

264. The great Lord of Will can descend no lower than the buddhic plane or the plane of the Fourth Creative Hierarchy.

264. Đấng Chúa Tể vĩ đại của Ý Chí không thể giáng xuống thấp hơn cõi Bồ đề hay cõi của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư.

265. Whether this great Being utilizes the Fifth Creative Hierarchy is up for discussion, as the members of that Hierarchy are (paradoxically) in advance of the Human Creative Hierarchy (the fourth) even though the number associated with them would normally indicated lesser development. The Fifth Creative Hierarchy is (from a study of the charts) ‘located’ on the systemic mental plane. Does this mean that the Fifth Creative Hierarchy (higher in development than the fourth) cannot be influenced by the First Logos? This requires pondering.

265. Việc Thực Thể vĩ đại này có sử dụng Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm hay không vẫn còn để bàn, vì các thành viên của Huyền Giai ấy (một cách nghịch lý) lại tiến hóa cao hơn Huyền Giai Sáng Tạo Nhân Loại (thứ tư), dù con số gắn với họ bình thường sẽ chỉ ra sự phát triển thấp hơn. Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm (qua việc nghiên cứu các biểu đồ) được “đặt” trên cõi trí của hệ thống. Điều này có nghĩa là Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm (cao hơn về phát triển so với huyền giai thứ tư) không thể bị Thượng đế thứ nhất tác động chăng? Điều này cần được suy ngẫm.

266. The Greater Builders are devas after all. Can the Greater Builders be called “devic hierarchies”? It seems that the term “deva” is being used generically.

266. Rốt cuộc, các Đấng Đại Kiến Tạo là các thiên thần. Có thể gọi các Đấng Đại Kiến Tạo là “các huyền giai thiên thần” không? Có vẻ như thuật ngữ “thiên thần” đang được dùng theo nghĩa khái quát.

267. Here the term “human hierarchies” is definitely isolated, unlike the earlier phrase “human and deva hierarchies”. This indicates that our consideration is focussing on the entire solar system and not just on the Earth (where there is only one human hierarchy).

267. Ở đây, thuật ngữ “các huyền giai nhân loại” rõ ràng được tách riêng, khác với cụm từ trước đó là “các huyền giai nhân loại và thiên thần”. Điều này cho thấy sự xem xét của chúng ta đang tập trung vào toàn bộ hệ mặt trời chứ không chỉ vào Trái Đất (nơi chỉ có một huyền giai nhân loại).

He is the animating principle; the will-to-live aspect of the seven Hierarchies.

Ngài là nguyên khí sinh động; là phương diện ý chí-sống của bảy Huyền Giai.

268. Above we are told that the First Logos is not the utilizer of Creative Hierarchies other than the Human Creative Hierarchy and those that contain the Greater Builders.

268. Ở trên, chúng ta được cho biết rằng Thượng đế thứ nhất không phải là Đấng sử dụng các Huyền Giai Sáng Tạo nào khác ngoài Huyền Giai Sáng Tạo Nhân Loại và những huyền giai chứa các Đấng Đại Kiến Tạo.

269. But the First Logos could touch the monadic aspect of all the Hierarchies.

269. Nhưng Thượng đế thứ nhất có thể chạm đến phương diện chân thần của mọi Huyền Giai.

270. Here, we seem to be told that He is related to all “seven Hierarchies” (presumably, the seven manifested Creative Hierarchies).

270. Ở đây, dường như chúng ta được cho biết rằng Ngài có liên hệ với tất cả “bảy Huyền Giai” (có lẽ là bảy Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện).

271. If He is related to the unmanifested Creative Hierarchies, then (counting the manifested Creative Hierarchies to which He is also related) there will be more than seven.

271. Nếu Ngài có liên hệ với các Huyền Giai Sáng Tạo Không Biểu Hiện, thì (tính cả các Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện mà Ngài cũng có liên hệ) sẽ có nhiều hơn bảy.

272. All seven Hierarchies have a “will-to-live aspect” which is, presumably, monadic. The First Logos, as the “animating principle”, is the bestower of life.

272. Cả bảy Huyền Giai đều có một “phương diện ý chí-sống”, mà có lẽ là chân thần. Thượng đế thứ nhất, với tư cách “nguyên khí sinh động”, là Đấng ban phát sự sống.

Nevertheless these seven Hierarchies are (as says H. P. B.) the sevenfold ray of wisdom, the dragon in its seven forms.66,67,68

Tuy nhiên bảy Huyền Giai này là (như H. P. B. nói) cung minh triết thất phân, con rồng trong bảy hình thức của nó.66,67,68

273. Why “wisdom”? Presumably, because the “seven Hierarchies” come from the causal body of the Solar Logos. Wisdom is connected with the second aspect and so is the causal body.

273. Tại sao lại là “minh triết”? Có lẽ vì “bảy Huyền Giai” xuất phát từ thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế. Minh triết liên hệ với phương diện thứ hai và thể nguyên nhân cũng vậy.

274. The seven Hierarchies come from the causal body or Egoic Lotus of the Solar Logos, and especially from the second tier of petals (correlated with love and wisdom). Could it be the fifth petal of the second tier?

274. Bảy Huyền Giai xuất phát từ thể nguyên nhân hay Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế, và đặc biệt từ tầng cánh hoa thứ hai (tương quan với bác ái và minh triết). Có thể đó là cánh hoa thứ năm của tầng thứ hai chăng?

“The symbols of the seven Creative Hierarchies now in manifestation are all enclosed in a circle denoting limitation and the circumscribing of the Life. All these hierarchies are Sons of Desire, and are paramountly an expression of the desire for manifested life of the solar Logos. They receive their primary impulse from the cosmic astral plane. They are also the expression of a vibration emanating from the second row of petals in the logoic Lotus on the cosmic mental plane. (TCF 1225)”

“Các biểu tượng của bảy Huyền Giai Sáng Tạo hiện đang biểu hiện đều được bao trong một vòng tròn biểu thị sự giới hạn và sự bao bọc của Sự sống. Tất cả các huyền giai này đều là các Con của Dục vọng, và trên hết là một biểu hiện của dục vọng sống biểu hiện của Thái dương Thượng đế. Chúng nhận xung lực sơ khởi từ cõi cảm dục vũ trụ. Chúng cũng là biểu hiện của một rung động phát ra từ hàng cánh hoa thứ hai trong Hoa Sen logoic trên cõi trí vũ trụ. (TCF 1225)”

275. The “dragon” can be understood as the “Dragon of Wisdom” (a name for a Planetary Logos). The Solar Logos is a “Lion of Cosmic Will”.

275. “Con rồng” có thể được hiểu là “Rồng Minh Triết” (một tên gọi của một Hành Tinh Thượng Đế). Thái dương Thượng đế là một “Sư Tử của Ý Chí Vũ Trụ”.

276. Our Planetary Logos, for instance, manifests through seven forms of lives who are the lives of the seven manifested Creative Hierarchies.

276. Chẳng hạn, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta biểu hiện qua bảy hình thức sự sống là các sự sống của bảy Huyền Giai Sáng Tạo biểu hiện.

277. The same, however, can be predicated of our Solar Logos, and really, the seven or twelve Creative Hierarchies are expression of the Solar Logos more than of any Planetary Logos.

277. Tuy nhiên, điều tương tự cũng có thể được khẳng định về Thái dương Thượng đế của chúng ta, và thật ra, bảy hay mười hai Huyền Giai Sáng Tạo là biểu hiện của Thái dương Thượng đế nhiều hơn là của bất kỳ Hành Tinh Thượng Đế nào.

278. Uranus rules the Hierarchies, and Uranus rules Leo, and Leo is connected to the causal body of the Solar Logos.

278. Sao Thiên Vương cai quản các Huyền Giai, và Sao Thiên Vương cai quản Sư Tử, còn Sư Tử thì liên hệ với thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế.

279. The causal body of the Solar Logos is on the atomic subplane of the mental plane.

279. Thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế nằm trên cõi phụ nguyên tử của cõi trí.

“10. The causal body of the Heavenly Men is upon the third subplane of the cosmic mental plane, while that of the solar Logos and those of the three Persons of the logoic Trinity are upon the first subplane.”

“10. Thể nguyên nhân của các Đấng Thiên Nhân ở trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ, trong khi thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế và của ba Ngôi của Tam Vị logoic ở trên cõi phụ thứ nhất.”

(TCF 532) Three persons of the Logoic Trinity are found on 1238 of TCF

(TCF 532) Ba ngôi của Tam Vị logoic được tìm thấy ở trang 1238 của TCF

280. It was remembered that the second aspect of the Will destroys the causal body. This is the Will to Unify or to Love.

280. Người ta nhớ lại rằng phương diện thứ hai của Ý Chí hủy diệt thể nguyên nhân. Đó là Ý Chí Hợp Nhất hay Ý Chí-Yêu Thương.

This is a [Page 147] deep mystery, and only a clue to it all can be found at this time by man in the contemplation of his own nature in the three worlds of his manifestation.

Đây là một huyền nhiệm sâu xa [Page 147], và vào lúc này con người chỉ có thể tìm thấy một đầu mối cho toàn bộ điều đó trong sự chiêm ngưỡng bản chất riêng của mình trong ba cõi thấp của sự biểu hiện của y.

281. In this respect, our Monad manifests through seven principles which can be considered analogous to the seven Creative Hierarchies, through which both our Planetary Logos and Solar Logos manifest.

281. Về phương diện này, chân thần của chúng ta biểu hiện qua bảy nguyên khí có thể được xem là tương tự với bảy Huyền Giai Sáng Tạo, qua đó cả Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế của chúng ta đều biểu hiện.

282. The “Dragon” (related to the mystery) relates to the base of the spine center in the OAWNMBS. Uranus, the planet through which the energies of the Creative Hierarchies are mediated can reasonably be associated with this basal energy which is transformational and ‘archetypalizing’ in the most profound sense.

282. “Con Rồng” (liên hệ với huyền nhiệm này) liên hệ với trung tâm đáy cột sống trong Đấng Bất Khả Tư Nghị. Sao Thiên Vương, hành tinh qua đó các năng lượng của các Huyền Giai Sáng Tạo được truyền dẫn, có thể được liên kết một cách hợp lý với năng lượng nền tảng này, vốn có tính chuyển đổi và “archetypalizing” theo nghĩa sâu xa nhất.

66:S. D., I, 100-108.

66:Giáo Lý Bí Nhiệm, I, 100-108.

67:Subba Rao says in Five Years of Theosophy, page 102:"As a general rule, whenever seven entities are mentioned in the ancient occult science of India in any connection whatsoever, you must suppose that those seven entities came into existence from three primary entities; and that these three entities, again, are evolved out of a single entity or monad.

67:Subba Rao nói trong Five Years of Theosophy, trang 102:“Theo một quy luật tổng quát, bất cứ khi nào bảy thực thể được nhắc đến trong khoa huyền bí cổ xưa của Ấn Độ trong bất kỳ mối liên hệ nào, bạn phải giả định rằng bảy thực thể ấy đã đi vào hiện hữu từ ba thực thể sơ nguyên; và ba thực thể này, đến lượt chúng, lại được tiến hoá ra từ một thực thể hay chân thần duy nhất.

283. This is a very useful thought.

283. Đây là một ý tưởng rất hữu ích.

284. The question often asked is whether the three primary entities are included in the seven or superior to them. The later option seems to make more sense and is supported by the thought that wherever as seven is mentioned a ten is implied.

284. Câu hỏi thường được nêu ra là liệu ba thực thể sơ nguyên ấy có được bao gồm trong bảy thực thể hay cao hơn chúng. Khả năng sau dường như hợp lý hơn và được hỗ trợ bởi ý tưởng rằng ở đâu bảy được nhắc đến thì một mười được hàm ý.