Trích nội dung chương
489. The Master Serapis who is doing so much work with the deva kingdom (we are told) and who is preparing the way for the New Renaissance, in which human beings and devas will so closely cooperate, is on the fourth ray and may be supposed to be working much in relation to the buddhic plane. 489. Chân sư Serapis, Đấng đang thực hiện rất nhiều công việc với giới thiên thần (như chúng ta được biết) và đang chuẩn bị con đường cho Thời Phục Hưng Mới, trong đó con người và thiên thần sẽ hợp tác rất mật thiết, thuộc cung bốn và có thể được giả định là đang làm việc nhiều trong liên hệ với cõi Bồ đề.
489. The Master Serapis who is doing so much work with the deva kingdom (we are told) and who is preparing the way for the New Renaissance, in which human beings and devas will so closely cooperate, is on the fourth ray and may be supposed to be working much in relation to the buddhic plane.
489. Chân sư Serapis, Đấng đang thực hiện rất nhiều công việc với giới thiên thần (như chúng ta được biết) và đang chuẩn bị con đường cho Thời Phục Hưng Mới, trong đó con người và thiên thần sẽ hợp tác rất mật thiết, thuộc cung bốn và có thể được giả định là đang làm việc nhiều trong liên hệ với cõi Bồ đề.
490. The “permanent alliance” is all for the fulfillment of planetary logoic Purpose and perhaps, on a higher turn of the spiral, for solar logoic Purpose. The alliance does not exist for personal reasons (i.e., because devas and human beings would find it enjoyable to work together), but for planetary (or solar) reasons, as revealed within the spiritual triad (a domain which includes the buddhic plane).
490. “Sự liên minh thường trực” ấy hoàn toàn nhằm hoàn thành Thiên Ý logoi hành tinh và có lẽ, ở một vòng xoắn cao hơn, là Thiên Ý logoi thái dương. Sự liên minh không tồn tại vì những lý do cá nhân (tức là vì thiên thần và con người sẽ thấy thích thú khi làm việc cùng nhau), mà vì những lý do hành tinh (hay thái dương), như được mặc khải trong tam nguyên tinh thần (một lãnh vực bao gồm cõi Bồ đề).
On this plane also the "devas of the shadows" who are concerned in the building of the planetary scheme, pursue their work, and thus parallel the work done in the three worlds by the lesser builders who work with the etheric body of man.
Trên cõi này cũng vậy, các "thiên thần của bóng tối" liên quan đến việc kiến tạo hệ hành tinh theo đuổi công việc của họ, và do đó song hành với công việc được thực hiện trong ba cõi giới bởi các vị tiểu kiến tạo làm việc với thể dĩ thái của con người.
491. We see that the term “devas of the shadows” is not at all confined to the systemic ethers but can apply as well to the cosmic ethers.
491. Chúng ta thấy rằng thuật ngữ “các thiên thần của bóng tối” hoàn toàn không bị giới hạn trong các dĩ thái của hệ mà cũng có thể áp dụng cho các dĩ thái vũ trụ.
492. The “devas of the shadows” who work upon the buddhic plane can be numbered among the greater builders if the “devas of the shadows” who work with the etheric body of man within the three worlds are considered “lesser builders”, as seems to be indicated here.
492. Các “thiên thần của bóng tối” làm việc trên cõi Bồ đề có thể được xếp vào hàng các đấng đại kiến tạo nếu các “thiên thần của bóng tối” làm việc với thể dĩ thái của con người trong ba cõi giới được xem là “vị tiểu kiến tạo”, như dường như được chỉ ra ở đây.
493. The buddhic “devas of the shadows” parallel the work done by the lesser “devas of the shadows”. The work done within the solar ethers pertains to man; the work done within the cosmic ethers pertains to the Heavenly Man or even to the Solar Logos.
493. Các “thiên thần của bóng tối” Bồ đề song hành với công việc được thực hiện bởi các “thiên thần của bóng tối” thấp hơn. Công việc được thực hiện trong các dĩ thái thái dương liên quan đến con người; công việc được thực hiện trong các dĩ thái vũ trụ liên quan đến Đấng Thiên Nhân hay thậm chí đến Thái dương Thượng đế.
494. These higher “devas of the shadows” are involved with the building of the planetary scheme—not the building of the tangible outer form of man as is the case with the lesser builders in the category of “devas of the shadows”.
494. Các “thiên thần của bóng tối” cao hơn này liên quan đến việc kiến tạo hệ hành tinh—không phải việc kiến tạo hình tướng bên ngoài hữu hình của con người như trường hợp của các vị tiểu kiến tạo trong loại “các thiên thần của bóng tối”.
495. Always the principle of parallelism is to be sought.
495. Luôn luôn phải tìm kiếm nguyên lý song hành.
496. The concept of analogy and that of parallelism convey similar ideas.
496. Khái niệm tương đồng và khái niệm song hành chuyển tải những ý tưởng tương tự.
So can the analogies be worked out, for ever this Law of Resemblance holds good;
Như thế các sự tương đồng có thể được triển khai, vì Định luật Tương Tự này luôn luôn đúng;
497. Another good name for the Law of Analogy—the Law of Resemblance.
497. Một tên gọi hay khác cho định luật tương đồng—Định luật Tương Tự.
yet ever must it be remembered that the analogy is of a psychic nature, and demonstrates in work, activity, and quality, and not in literal identity of form.
tuy nhiên luôn luôn phải nhớ rằng sự tương đồng có bản chất thông linh, và được chứng minh trong công việc, hoạt động và phẩm tính, chứ không phải trong sự đồng nhất từng chữ của hình tướng.
498. An important proviso is given in relation to the Law of Resemblance or Law of Analogy. The analogy is “of a psychic nature” demonstrating in work, activity, and quality and not in literal identicality of form.
498. Một điều kiện quan trọng được nêu ra liên quan đến Định luật Tương Tự hay định luật tương đồng. Sự tương đồng “có bản chất thông linh”, được chứng minh trong công việc, hoạt động và phẩm tính chứ không phải trong sự đồng nhất nguyên văn của hình tướng.
499. It would seem that this point has been made at numerous times; it must be difficult to absorb it.
499. Có vẻ như điểm này đã được nêu ra nhiều lần; hẳn là khó hấp thu nó.
500. When using the Law of Analogy, it is primarily the broad resemblances we must seek.
500. Khi sử dụng định luật tương đồng, điều chúng ta phải tìm kiếm trước hết là những nét giống nhau rộng lớn.
501. An overly literal, formalistic approach will mislead. We are looking for ‘psychic analogies’ or psychological analogies. We are looking for similarities in function and relationship. Forms may differ, but general functions show sufficient similarity (within context) to be noteworthy and illuminative.
501. Một cách tiếp cận quá sát chữ, quá hình thức sẽ gây lạc hướng. Chúng ta đang tìm kiếm những ‘tương đồng thông linh’ hay những tương đồng tâm lý học. Chúng ta đang tìm kiếm những điểm tương tự trong chức năng và tương quan. Các hình tướng có thể khác nhau, nhưng các chức năng tổng quát cho thấy đủ sự tương tự (trong bối cảnh) để đáng được lưu ý và soi sáng.
As time elapses the work of the Heavenly Men in the cosmic etheric spheres will be better comprehended, and assisted intelligently by those lesser intelligences who—by the study of the physical ethers—will eventually hold the key of the greater manifestation.
Khi thời gian trôi qua, công việc của các Đấng Thiên Nhân trong các khối cầu dĩ thái vũ trụ sẽ được thấu hiểu tốt hơn, và được trợ giúp một cách thông minh bởi những trí tuệ thấp hơn ấy, những vị—qua việc nghiên cứu các dĩ thái hồng trần—cuối cùng sẽ nắm giữ chìa khóa của biểu lộ lớn hơn.
502. We human beings are those “lesser intelligences”.
502. Chúng ta, những con người, chính là những “trí tuệ thấp hơn” ấy.
503. The idea there is that, as we learn more about the physical ethers, we will be in a better position to understand and cooperate with the work of the Heavenly Men.
503. Ý tưởng ở đây là, khi chúng ta học hỏi nhiều hơn về các dĩ thái hồng trần, chúng ta sẽ ở vào vị thế tốt hơn để thấu hiểu và hợp tác với công việc của các Đấng Thiên Nhân.
504. It is not only “as above, so below”, but, to some degree, “as below, so above”. The idea is that we should study ourselves very well if we want to comprehend the larger sphere.
504. Không chỉ là “trên sao, dưới vậy”, mà ở một mức độ nào đó còn là “dưới sao, trên vậy”. Ý tưởng là chúng ta nên nghiên cứu chính mình thật kỹ nếu muốn thấu hiểu khối cầu lớn hơn.
505. The keenly observant fifth ray type is in an excellent position to extrapolate from what he has observed to that which he cannot possibly observe. Thus the concrete mind is transformed into the abstract mind with the help of analogical thinking.
505. Người cung năm có óc quan sát sắc bén ở vào một vị thế tuyệt hảo để ngoại suy từ điều y đã quan sát được đến điều mà y không thể nào quan sát được. Nhờ vậy trí cụ thể được chuyển đổi thành trí trừu tượng với sự trợ giúp của tư duy tương đồng.
Science is the handmaiden of wisdom,
Khoa học là nữ tỳ của minh triết,
506. The “handmaiden of wisdom” is the servant of wisdom.
506. “Nữ tỳ của minh triết” là người phụng sự của minh triết.
507. DK is telling us that if we wish to be wise we must also be scientific in our approach. This means that we must use the mind carefully.
507. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng nếu muốn minh triết, chúng ta cũng phải có tính khoa học trong cách tiếp cận. Điều này có nghĩa là chúng ta phải sử dụng trí tuệ một cách cẩn trọng.
508. Unless we have sufficient knowledge it is difficult to develop wisdom. Wisdom demands mental capacity, but it much more than such capacity. It also demands the use of the heart.
508. Trừ phi chúng ta có đủ tri thức, thật khó phát triển minh triết. Minh triết đòi hỏi năng lực trí tuệ, nhưng còn hơn nhiều so với năng lực ấy. Nó cũng đòi hỏi việc sử dụng trái tim.
and opens the door to those infinite reaches and to those cosmic expanses, where stand Those vaster Intelligences, Who manipulate the matter of the higher planes, and bend it to the desired form, causing the vibrations thus set up to be felt at the furthest bounds of the solar ring-pass-not.
và mở cánh cửa đến những tầm mức vô hạn ấy và những không gian vũ trụ ấy, nơi đứng Những Trí Tuệ bao la hơn ấy, Đấng vận dụng vật chất của các cõi cao hơn, và uốn nó theo hình tướng mong muốn, khiến những rung động được thiết lập như thế được cảm nhận ở những ranh giới xa nhất của vòng-giới-hạn thái dương.
509. We are talking of cosmic beings—“Those vaster Intelligences”—probably Beings which are extra-systemic.
509. Chúng ta đang nói về các Hữu thể vũ trụ—“Những Trí Tuệ bao la hơn ấy”—có lẽ là những Hữu thể ngoài hệ.
510. What are the “higher planes”? Only the matter of the cosmic physical plane? Or matter of still higher cosmic planes?
510. Các “cõi cao” là gì? Chỉ là vật chất của cõi hồng trần vũ trụ chăng? Hay là vật chất của những cõi vũ trụ còn cao hơn nữa?
511. We may be speaking of such Entities as the Solar Logoi, the Cosmic Logoi and even of the One About Whom Naught May Be Said.
511. Có thể chúng ta đang nói đến những Thực Thể như các Thái dương Thượng đế, các Thượng đế Vũ trụ, và ngay cả Đấng Bất Khả Tư Nghị.
512. Manipulation goes on on all levels—planes and sub-planes. There is nothing wrong with the word “manipulation”; it suggests intelligence in action.
512. Sự vận dụng diễn ra trên mọi cấp độ—các cõi và các cõi phụ. Không có gì sai với từ “sự vận dụng”; nó gợi ý trí tuệ trong hành động.
513. It is clear that Intelligences greater than our Solar Logos are responsible for much that the Solar Logos experiences, even at the “furthest bounds of the solar ring-pass-not”.
513. Rõ ràng là những Trí Tuệ vĩ đại hơn Thái dương Thượng đế của chúng ta chịu trách nhiệm cho nhiều điều mà Thái dương Thượng đế trải nghiệm, ngay cả tại “ranh giới xa nhất của vòng-giới-hạn thái dương”.
514. VSK states: Science as the fifth ray expression, is the handmaiden of Wisdom, or the second ray. Again we see the TWO using the FIVE.
514. VSK nói: Khoa học, như biểu hiện của cung năm, là nữ tỳ của Minh triết, hay của cung hai. Một lần nữa chúng ta thấy HAI sử dụng NĂM.
Automatically then all lesser lives and all the denser materials are swept and carried into the needed channels and forms.
Khi ấy, mọi sự sống nhỏ hơn và mọi chất liệu đậm đặc hơn đều được cuốn đi và mang vào những kênh dẫn và hình tướng cần thiết.
515. We have no will, no say, in the arrangements and rearrangements caused by the influences of these “vaster Intelligences”. We are merely extensions of Them, and as They will, so it happens to ‘us’—though, really, we are not different than they are—essentially.
515. Chúng ta không có ý chí, không có tiếng nói nào, trong những sắp xếp và tái sắp xếp do ảnh hưởng của các “Trí Tuệ bao la hơn” này gây ra. Chúng ta chỉ đơn thuần là những sự mở rộng của Các Ngài, và Các Ngài muốn thế nào thì điều đó xảy ra với ‘chúng ta’ như thế ấy—dù thật ra, về bản chất, chúng ta không khác các Ngài.
516. The channels and forms that are “needed” are those decreed by the Divine Plan (at ever higher levels of expression).
516. Những kênh dẫn và hình tướng “cần thiết” là những gì được Thiên Cơ ấn định (ở những cấp độ biểu hiện ngày càng cao hơn).
517. Under these manipulations by greater Lives, our local cosmos will be ordered as it should be, according to Divine Purpose and Plan.
517. Dưới những sự vận dụng của các Sự sống lớn lao hơn này, vũ trụ cục bộ của chúng ta sẽ được sắp đặt đúng như nó phải thế, theo Thiên Ý và Thiên Cơ.
Vibration, or initial activity, light, or activity taking form and animating form, sound the basis of differentiation and the source of the evolutionary process, and colour the sevenfold differentiation—thus is the work carried on.
Rung động, hay hoạt động khởi nguyên; ánh sáng, hay hoạt động mang hình tướng và làm sinh động hình tướng; âm thanh, nền tảng của sự biến phân và nguồn gốc của tiến trình tiến hoá; và màu sắc, sự biến phân thất phân—công việc được tiến hành như thế.
518. Here a deeper understanding is offered concerning vibration, light, sound and colour.
518. Ở đây một sự thấu hiểu sâu hơn được đưa ra về rung động, ánh sáng, âm thanh và màu sắc.
519. Let us tabulate these definitions:
519. Chúng ta hãy lập bảng các định nghĩa này:
a. Vibration—initial activity
a. Rung động—hoạt động khởi nguyên
b. Light—activity taking form and animating form.
b. Ánh sáng—hoạt động mang hình tướng và làm sinh động hình tướng.
c. Sound—the basis of differentiation and the source of the evolutionary process
c. Âm thanh—nền tảng của sự biến phân và nguồn gốc của tiến trình tiến hoá
d. Colour—the sevenfold differentiation.
d. Màu sắc—sự biến phân thất phân.
520. Each one of these descriptions is a potent seed thought
520. Mỗi mô tả này là một Tư tưởng hạt giống đầy mãnh lực
521. Had we thought of the inseparability of light and form? Light and the objectivity of form are inseparable.
521. Liệu chúng ta đã từng nghĩ đến tính bất khả phân ly của ánh sáng và hình tướng chưa? Ánh sáng và tính khách quan của hình tướng là bất khả phân ly.
522. Sound differentiates, and arranges the rearrangements necessitated by the unfoldment of Spirit in matter/form. Sound attracts toward the fulfillment of the design set forth in the Archetype.
522. Âm thanh tạo ra sự biến phân, và sắp xếp những tái sắp xếp cần thiết do sự khai mở của tinh thần trong vật chất/hình tướng. Âm thanh thu hút hướng về sự hoàn thành mô hình được nêu ra trong nguyên mẫu.
523. Light may be associated with the monadic plane, but it is impossible to think that sound is not.
523. Ánh sáng có thể được liên kết với cõi chân thần, nhưng không thể nghĩ rằng âm thanh lại không như vậy.
524. Colour is the most physical and tangible of the three.
524. Màu sắc là điều hồng trần và hữu hình nhất trong ba yếu tố ấy.
525. We are well, aware, however, that sometimes sound precedes light. “In the beginning was the Word”, precedes the fiat, “Let there by Light”.
525. Tuy nhiên, chúng ta biết rõ rằng đôi khi âm thanh đi trước ánh sáng. “Ban đầu là Linh từ” đi trước lời phán, “Hãy có Ánh sáng”.
We have been dealing with these four in connection with a solar Logos, and equally with the work of a Heavenly Man and of Man, of the human monad.
Chúng ta đã bàn đến bốn yếu tố này trong liên hệ với một Thái dương Thượng đế, và cũng tương tự với công việc của một Đấng Thiên Nhân và của Con Người, của chân thần nhân loại.
526. These four factors associated with vibration are the basis of all manifestation. They are, in a way, the four principal etheric qualities.
526. Bốn yếu tố này gắn liền với rung động là nền tảng của mọi biểu hiện. Theo một nghĩa nào đó, chúng là bốn phẩm tính dĩ thái chính yếu.
Students should also bear in mind another point that is often forgotten, which is that every plane can be studied and divided in two ways:
Các đạo sinh cũng nên ghi nhớ một điểm khác thường bị quên lãng, đó là mỗi cõi có thể được nghiên cứu và phân chia theo hai cách:
527. Perhaps, there are even more than two ways to divide a plane.
527. Có lẽ thậm chí còn có nhiều hơn hai cách để phân chia một cõi.
a. 1-6
a. 1-6
c. 2-5
c. 2-5
d. 3-4
d. 3-4
e. 4-3
e. 4-3
g. 1-2-2-2
g. 1-2-2-2
h. 5-2
h. 5-2
i. 6-1
i. 6-1
First. The seven subplanes can be divided into the [Page 330] higher three planes or the abstract planes, and the lower four or the concrete planes.
Thứ nhất. Bảy cõi phụ có thể được chia thành [Page 330] ba cõi cao hơn hay các cõi trừu tượng, và bốn cõi thấp hơn hay các cõi cụ thể.
528. This method of division correlates with the division of the rays into the three Rays of Aspect and the four Rays of Attribute.
528. Phương pháp phân chia này tương ứng với sự phân chia các cung thành ba Các Cung Trạng Thái và bốn Các Cung Thuộc Tính.
This division is the best and most purely metaphysical, for it embodies the entire idea of the Self, the Not-Self, and the Intelligence, with their synthesis, which produces the objective universe, whether solar system, planetary scheme, or human incarnation.
Sự phân chia này là tốt nhất và thuần siêu hình nhất, vì nó bao hàm toàn bộ ý niệm về Chân ngã, không-phải-Chân ngã, và Trí Tuệ, cùng với sự tổng hợp của chúng, vốn tạo ra vũ trụ khách quan, dù là hệ mặt trời, hệ hành tinh hay một lần lâm phàm của con người.
529. In this division, we do not easily have the three factors mentioned (Self, not-Self and Intelligence), for it is a division into two and not into three.
529. Trong sự phân chia này, chúng ta không dễ dàng có được ba yếu tố được nhắc đến (Chân ngã, không-phải-Chân ngã và Trí Tuệ), vì đây là sự phân chia thành hai chứ không phải thành ba.
530. Yet the three can be found, for always between the triad and the quaternary is an objective effulgence—an objective sphere is light.
530. Tuy vậy, vẫn có thể tìm thấy ba yếu tố ấy, vì luôn luôn giữa bộ ba và bộ bốn có một sự rực sáng khách quan—một khối cầu ánh sáng khách quan.
531. The formula is again repeated: Self, not-Self and Intelligence, when synthesized, produce the objective universe.
531. Công thức lại được lặp lại: Chân ngã, không-phải-Chân ngã và Trí Tuệ, khi được tổng hợp, tạo ra vũ trụ khách quan.
532. Notice here the flexible definition of “universe”: it can mean a solar system, a planetary scheme or a human incarnation.
532. Hãy lưu ý ở đây định nghĩa linh hoạt của “vũ trụ”: nó có thể có nghĩa là một hệ mặt trời, một hệ hành tinh hay một lần lâm phàm của con người.
533. VSK queries: “Does “their synthesis” refer to the buddhic plane, and the plane of colour, or visible light?”
533. VSK hỏi: “Liệu ‘sự tổng hợp của chúng’ có chỉ cõi Bồ đề, và cõi của màu sắc, hay ánh sáng khả kiến không?”
534. May it be said, that it could, if the division instead of 3-4. were.
534. Có thể nói rằng là có, nếu sự phân chia thay vì là 3-4. lại là.
In connection with the Logos it is fully discussed and illuminatingly considered in the first volume of the Secret Doctrine, where the work of the Father and the Mother in producing the Son through conscious intelligent co-operation is handled by H. P. B. in a masterly manner.
Trong liên hệ với Thượng đế, điều này được bàn luận đầy đủ và xem xét một cách soi sáng trong quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm, nơi công việc của Cha và Mẹ trong việc sinh ra Người Con qua sự hợp tác hữu thức và thông tuệ được H. P. B. xử lý một cách bậc thầy.
535. One wonders at the use of the term “masterly”. DK took the fifth initiation in the year 1875, we are told, and Helena Roerich told us that HPB in her next incarnation made her way to the “Central Stronghold”—to become, we presume, a Master.
535. Người ta tự hỏi về việc dùng từ “bậc thầy”. Chúng ta được cho biết rằng Chân sư DK đã nhận lần điểm đạo thứ năm vào năm 1875, và Helena Roerich cho chúng ta biết rằng HPB trong lần lâm phàm kế tiếp đã tiến đến “Thành Trì Trung Ương”—để trở thành, như chúng ta giả định, một Chân sư.
536. Is DK telling us that HPB wrote the first volume of the Secret Doctrine in a way very similar to how a Master would write it?
536. Có phải Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng HPB đã viết quyển thứ nhất của Giáo Lý Bí Nhiệm theo một cách rất giống như cách một Chân sư sẽ viết nó chăng?
537. One should re-read the Secret Doctrine with this specifically in mind.
537. Người ta nên đọc lại Giáo Lý Bí Nhiệm với điều này đặc biệt trong tâm trí.
In connection with man the point can be grasped more easily if the causal body on the abstract levels of the mental plane is considered in connection with the lower four or concrete levels from whence manifestation emanates.
Trong liên hệ với con người, điểm này có thể được nắm bắt dễ dàng hơn nếu thể nguyên nhân trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí được xét trong liên hệ với bốn cấp độ thấp hơn hay cụ thể, từ đó biểu hiện phát xuất.
538. To absorb the intended teaching, it is necessary to think not so much of the relation of the Monad (in man) to his quaternary, but of the relation between the causal body on the abstract levels of the mental plane in relation to the four concrete levels of the mental plane. Again we will have the higher three and the lower four.
538. Để hấp thụ giáo huấn được dự định, cần phải suy nghĩ không nhiều về mối liên hệ của chân thần (trong con người) với bộ bốn của y, mà nhiều hơn về mối liên hệ giữa thể nguyên nhân trên các cấp độ trừu tượng của cõi trí với bốn cấp độ cụ thể của cõi trí. Một lần nữa chúng ta sẽ có ba cõi cao hơn và bốn cõi thấp hơn.
539. The manasic permanent atom represents the Father; the lower four concrete levels of the mental plane, the Mother; the Son is represented by that demonstration of vibration, light, sound and color which we call the causal body, focussed on the second and third sub-planes of the mental plane. Whether the human causal body ever rises to the first sub-plane (as does the causal body of the Solar Logos) is a point much debated.
539. Nguyên tử trường tồn manas đại diện cho Cha; bốn cấp độ cụ thể thấp hơn của cõi trí, đại diện cho Mẹ; Người Con được biểu hiện bởi sự biểu lộ của rung động, ánh sáng, âm thanh và màu sắc mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân, được tập trung trên cõi phụ thứ hai và thứ ba của cõi trí. Liệu thể nguyên nhân của con người có bao giờ vươn lên cõi phụ thứ nhất hay không (như thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế) là một điểm còn được tranh luận nhiều.
540. VSK asks: “How does this help to grasp the point? Why would it not be helpful to consider it in terms of the higher three planes? Does manifestation emanate from the lower four, or is it an effect of the higher three?”
540. VSK hỏi: “Điều này giúp nắm bắt điểm ấy như thế nào? Tại sao sẽ không hữu ích nếu xét nó theo ba cõi cao hơn? Biểu hiện phát xuất từ bốn cõi thấp hơn, hay là một hiệu quả của ba cõi cao hơn?”
541. DK seems to be telling us that manifestation emanates from the lower four levels of the mental plane. Perhaps there is a specific relationship between these lower four sub-planes and the four etheric sub-planes of the systemic etheric-physical plane.
541. Chân sư DK dường như đang nói với chúng ta rằng biểu hiện phát xuất từ bốn cấp độ thấp hơn của cõi trí. Có lẽ có một mối liên hệ đặc thù giữa bốn cõi phụ thấp hơn này và bốn cõi phụ dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống.
542. In any case, we are presently discussing the metaphysical division of three and four.
542. Dù sao đi nữa, hiện nay chúng ta đang bàn đến sự phân chia siêu hình của ba và bốn.
Second. Dividing the seven subplanes into the same higher three but making the fourth plane the plane of meeting or of at-one-ment, and regarding the lower three as the planes of endeavour. This division primarily concerns man.
Thứ hai. Chia bảy cõi phụ thành cùng ba cõi cao hơn ấy nhưng lấy cõi thứ tư làm cõi gặp gỡ hay hợp nhất, và xem ba cõi thấp hơn là các cõi nỗ lực. Sự phân chia này chủ yếu liên quan đến con người.
543. This type of division results in a model of.
543. Kiểu phân chia này dẫn đến một mô hình của.
544. This method of division places emphasis upon the buddhic plane which is the major, intended area of expression for the human Monads (i.e., the members of the Fourth Creative Hierarchy, focussed, as the charts {cf. EA 35} indicate, on the buddhic plane).
544. Phương pháp phân chia này đặt trọng tâm vào cõi Bồ đề, vốn là khu vực biểu hiện chính yếu, được dự định cho các chân thần nhân loại (tức các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, được tập trung, như các biểu đồ {cf. EA 35} cho thấy, trên cõi Bồ đề).
545. We might say that that the higher Creative Hierarchies and the lower Creative Hierarchies (which comprising the vehicles of man) meet upon the buddhic plane, where their interplay is harmonized.
545. Chúng ta có thể nói rằng các Huyền Giai Sáng Tạo cao hơn và các Huyền Giai Sáng Tạo thấp hơn (tạo thành các vận cụ của con người) gặp nhau trên cõi Bồ đề, nơi sự tương tác của chúng được điều hoà.
Both these divisions will be seen later as existing on every plane in the system and as having their origin in electrical force which shows itself differently on each plane
Về sau, cả hai sự phân chia này sẽ được thấy là tồn tại trên mọi cõi trong hệ thống và có nguồn gốc trong mãnh lực điện biểu lộ khác nhau trên mỗi cõi
546. DK is telling us that the divisions 3-4. and 3-1-3. can evolution found in relation to every systemic plane, and probably in relation to every cosmic plane.
546. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng các sự phân chia 3-4. và 3-1-3. có thể được tìm thấy trong liên hệ với mọi cõi hệ thống, và có lẽ trong liên hệ với mọi cõi vũ trụ.
547. We are reminded that electrical force demonstrates on each plane of every seven-planed system.
547. Chúng ta được nhắc rằng mãnh lực điện biểu lộ trên mỗi cõi của mọi hệ thống bảy cõi.
548. It is not that we have to choose regarding which method of dividing a plane is correct; both these methods of division are operative simultaneously, with others as well. All depends upon the perspective.
548. Không phải là chúng ta phải chọn xem phương pháp phân chia một cõi nào là đúng; cả hai phương pháp phân chia này đều cùng lúc vận hành, cùng với những phương pháp khác nữa. Tất cả tùy thuộc vào góc nhìn.
549. Methods of division and implications:
549. Các phương pháp phân chia và hàm ý:
a. 1-6—the logoic plane, or cosmic atomic ether, is differentiated from the six sub-planes derived from it.
a. 1-6—cõi logoic, hay dĩ thái nguyên tử vũ trụ, được phân biệt với sáu cõi phụ phát sinh từ nó.
—the domains of the Solar Logos, Planetary Logos and man are differentiated
—các phạm vi của Thái dương Thượng đế, Hành Tinh Thượng Đế và con người được phân biệt
c. 2-5—the two higher aspects taken as a unit are differentiated from the Brahmic planes.
c. 2-5—hai phương diện cao hơn được lấy như một đơn vị được phân biệt với các cõi Brahma.
d. 3-4—a division suggesting the three Rays of Aspect and the four Rays of Attribute
d. 3-4—một sự phân chia gợi ý ba Các Cung Trạng Thái và bốn Các Cung Thuộc Tính
e. 4-3—a division in which the four ethers and differentiated from the dense sub-planes.
e. 4-3—một sự phân chia trong đó bốn cõi dĩ thái được phân biệt với các cõi phụ đậm đặc.
—a division emphasizing the manner in which the Solar Logoi and Planetary Logoi can meet the human evolution on the buddhic plane.
—một sự phân chia nhấn mạnh cách thức mà các Thái dương Thượng đế và các Hành Tinh Thượng Đế có thể gặp gỡ tiến hoá nhân loại trên cõi Bồ đề.
g. 1-2-2-2—a division indicating the domain of will, of spirit, of soul and the irrational sphere
g. 1-2-2-2—một sự phân chia chỉ ra phạm vi của ý chí, của tinh thần, của linh hồn và của khối cầu phi lý trí
h. 5-2—a division separating the five rational and super-rational sub-planes from the lower irrational sub-planes.
h. 5-2—một sự phân chia tách năm cõi phụ lý trí và siêu lý trí khỏi các cõi phụ phi lý trí thấp hơn.
i. 6-1—a division which considers the physical nature as the rind of true inner existence
i. 6-1—một sự phân chia xem bản chất hồng trần như lớp vỏ của sự tồn tại chân thực bên trong
j. Not all of these divisions should be given in whole numbers as some fractions are involved.
j. Không phải tất cả các sự phân chia này đều nên được đưa ra bằng số nguyên vì có liên quan đến một số phân số.
550. Each method of division places the emphasis on different dynamics and emphasizes different relationships between the planes.
550. Mỗi phương pháp phân chia đặt trọng tâm vào những động lực khác nhau và nhấn mạnh những mối liên hệ khác nhau giữa các cõi.
but acts on all under three laws: Attraction or Repulsion, Economy, and Synthesis.
nhưng tác động lên tất cả dưới ba định luật: Hấp Dẫn hay Đẩy Lùi, Tiết Kiệm, và Tổng Hợp.
551. When electrical force acts, it acts under three laws—the three cosmic laws.
551. Khi mãnh lực điện tác động, nó tác động dưới ba định luật—ba định luật vũ trụ.
552. We note that the Law of Attraction and Repulsion is listed first in this context, even though is the second cosmic law. This is probably because the Law of Attraction and Repulsion has so much to do with the manner in which electricity functions—electricity being principally a bi-polar phenomenon.
552. Chúng ta lưu ý rằng Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi được liệt kê đầu tiên trong ngữ cảnh này, dù nó là định luật vũ trụ thứ hai. Điều này có lẽ là vì Định luật Hấp Dẫn và Đẩy Lùi liên quan rất nhiều đến cách điện năng vận hành—điện năng chủ yếu là một hiện tượng lưỡng cực.
553. We also must remember that the electrical force most prominent in our second ray solar system, must be the electrical force associated with the second cosmic law—of Attraction and Repulsion.
553. Chúng ta cũng phải nhớ rằng mãnh lực điện nổi bật nhất trong hệ mặt trời cung hai của chúng ta hẳn phải là mãnh lực điện gắn liền với định luật vũ trụ thứ hai—Hấp Dẫn và Đẩy Lùi.
The lower three planes or subplanes act under the Law of Economy primarily; the plane of meeting or of union acts under a phase of the Law of Attraction. Paralleling them, of course, during evolution are their opposites, showing as Dispersion, Repulsion, and Differentiation.
Ba cõi hay cõi phụ thấp hơn tác động chủ yếu dưới Định luật Tiết Kiệm; cõi gặp gỡ hay hợp nhất tác động dưới một pha của Định luật Hấp Dẫn. Song song với chúng, dĩ nhiên, trong tiến hoá là các đối cực của chúng, biểu lộ thành Sự Phân Tán, Đẩy Lùi, và Biến Phân.
554. DK is speaking of the relations of the three cosmic laws to the division of the planes.
554. Chân sư DK đang nói về các mối liên hệ của ba định luật vũ trụ với sự phân chia các cõi.
555. The Law of Economy is a third ray law and fittingly relates to the functioning of the lower (and most material) three planes in any system of seven planes or sub-planes.
555. Định luật Tiết Kiệm là một định luật cung ba và thích hợp liên hệ với sự vận hành của ba cõi thấp hơn (và vật chất nhất) trong bất kỳ hệ thống nào gồm bảy cõi hay cõi phụ.
556. Upon the buddhic plane, the Law of Attraction operates, but only once the phases of “Dispersion Repulsion and Differentiation” have been passed through on the three lower planes.
556. Trên cõi Bồ đề, Định luật Hấp Dẫn vận hành, nhưng chỉ sau khi các pha của “Phân Tán, Đẩy Lùi và Biến Phân” đã được trải qua trên ba cõi thấp hơn.
The question of the electrical manifestation of the akasha on the seven planes has therefore to be studied in its three main divisions,
Vì vậy, vấn đề về biểu hiện điện của akasha trên bảy cõi phải được nghiên cứu trong ba phân bộ chính của nó,
557. We see that the term “akasha” is not localized, pertaining only to the second sub-plane of any system of seven, though there may be a special emphasis there.
557. Chúng ta thấy rằng thuật ngữ “akasha” không bị định vị chỉ liên quan đến cõi phụ thứ hai của bất kỳ hệ thống bảy cõi nào, dù có thể có một sự nhấn mạnh đặc biệt ở đó.
558. In fact the second sub-plane of all the seven systemic planes could be considered akashic.
558. Thật ra, cõi phụ thứ hai của mọi cõi hệ thống trong bảy cõi đều có thể được xem là có tính akasha.
559. Further, there is a strange equivalence between the terms “akasha” and “ether”. As most if not all planes of the cosmic physical plane can be considered “etheric”, then most if not all can be considered “akashic”. When the terms are use loosely or as if seen from a very high perspective, these equivalences appear.
559. Hơn nữa, có một sự tương đương kỳ lạ giữa các thuật ngữ “akasha” và “dĩ thái”. Vì hầu hết nếu không phải tất cả các cõi của cõi hồng trần vũ trụ đều có thể được xem là “dĩ thái”, thì hầu hết nếu không phải tất cả cũng có thể được xem là “akashic”. Khi các thuật ngữ này được dùng một cách lỏng hoặc như thể được nhìn từ một góc nhìn rất cao, những sự tương đương này xuất hiện.
560. “Akasha” as here defined, seems to cover the entire cosmic physical plane.
560. “Akasha”, như được định nghĩa ở đây, dường như bao trùm toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ.
561. We are being told that the akasha has three main divisions. We have been studying one of these divisions (), but there are others (), for instance.
561. Chúng ta đang được cho biết rằng akasha có ba phân bộ chính. Chúng ta đã nghiên cứu một trong các phân bộ này (), nhưng còn có những phân bộ khác (), chẳng hạn.
562. We could think that electricity functions on the five lower sub-planes which are derivative of the second plane, the akasha, and indeed the akasha (considered as the energy-force of the second plane impulses the electrical demonstrations of the five planes below it).
562. Chúng ta có thể nghĩ rằng điện năng vận hành trên năm cõi phụ thấp hơn vốn là những dẫn xuất của cõi thứ hai, tức akasha, và quả thật akasha (được xem như năng lượng-mãnh lực của cõi thứ hai) thúc đẩy các biểu hiện điện của năm cõi bên dưới nó).
563. Akasha, specifically defined as the second vibratory domain on the cosmic physical plane, hovers over the five planes related to Fohat.
563. Akasha, được định nghĩa một cách đặc thù là phạm vi rung động thứ hai trên cõi hồng trần vũ trụ, lơ lửng trên năm cõi liên hệ với Fohat.
564. However, in this excerpt, DK speaks of the manifestation of the akasha “on the seven planes”, and so this type of manifestation cannot be confined to the lower five. Naturally the monadic plane is included and so is the logoic, or their lower correspondences.
564. Tuy nhiên, trong đoạn trích này, Chân sư DK nói về biểu hiện của akasha “trên bảy cõi”, và vì thế loại biểu hiện này không thể bị giới hạn trong năm cõi thấp hơn. Đương nhiên cõi chân thần được bao gồm và cõi logoic cũng vậy, hoặc các tương ứng thấp hơn của chúng.
then plane by plane or the sevenfold consideration,
rồi xét từng cõi một hay theo sự xem xét thất phân,
565. Is akasha, then, simply another name for “ether”? And “ether” for substance/matter?
565. Vậy thì akasha đơn giản chỉ là một tên gọi khác của “dĩ thái” sao? Và “dĩ thái” là của chất liệu/vật chất sao?
566. We are to consider the akasha plane by plane, so all the seven sub-planes of the cosmic physical plane are related to akasha. If we wish to be specific about the location of akasha on all these seven, we could still place emphasis upon the second sub-plane.
566. Chúng ta phải xem xét akasha từng cõi một, vì thế cả bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều liên hệ với akasha. Nếu chúng ta muốn xác định cụ thể vị trí của akasha trên cả bảy cõi này, chúng ta vẫn có thể nhấn mạnh cõi phụ thứ hai.
567. We have the problem that the term “akasha” could mean:
567. Chúng ta có vấn đề rằng thuật ngữ “akasha” có thể có nghĩa là:
a. The substance of that vibratory domain called the monadic plane
a. Chất liệu của phạm vi rung động được gọi là cõi chân thần
b. The substance of those vibratory domains which constitute the second sub-plane of each of the seven planes of the cosmic physical plane
b. Chất liệu của những phạm vi rung động cấu thành cõi phụ thứ hai của mỗi một trong bảy cõi của cõi hồng trần vũ trụ
c. All substance/matter of the cosmic physical plane. This last definition is the loosest, but seems, sometimes, to be suggested.
c. Toàn bộ chất liệu/vật chất của cõi hồng trần vũ trụ. Định nghĩa cuối cùng này là lỏng nhất, nhưng đôi khi dường như được gợi ý như vậy.
and finally as the forty-nine [Page 331] fires.
và cuối cùng là bốn mươi chín [Page 331] ngọn lửa.
568. But if the akasha is to be considered as forty-nine fires, then it is expressing through every plane and sub-plane in any system of seven/sub-forty-nine.
568. Nhưng nếu akasha được xem là bốn mươi chín ngọn lửa, thì nó đang biểu hiện qua mọi cõi và cõi phụ trong bất kỳ hệ thống nào gồm bảy/dưới-bốn-mươi-chín.
569. We will have to be alert to the possibility that the terms “ether”, “substance”, “matter-force” and akasha can be considered interchangeable.
569. Chúng ta sẽ phải cảnh giác với khả năng rằng các thuật ngữ “dĩ thái”, “chất liệu”, “vật chất-mãnh lực” và akasha có thể được xem là có thể thay thế cho nhau.
Throughout it must be recollected that the subject is still further complicated by the factor of time which brings these forty-nine fires at different stages under different spheres of influence and under the three laws of the cosmos.
Xuyên suốt, phải ghi nhớ rằng chủ đề này còn phức tạp hơn nữa bởi yếu tố thời gian, yếu tố đưa bốn mươi chín ngọn lửa này ở những giai đoạn khác nhau vào dưới những khối cầu ảnh hưởng khác nhau và dưới ba định luật của vũ trụ.
570. The forty-nine fires are not always subject to the same zodiacal, planetary or ray influences, or to same one of the three laws of cosmos. There is a constant shifting and cyclic sequencing.
570. Bốn mươi chín ngọn lửa không phải lúc nào cũng chịu cùng những ảnh hưởng hoàng đạo, hành tinh hay cung, hoặc cùng một trong ba định luật của vũ trụ. Có một sự chuyển dịch liên tục và một sự tuần tự theo chu kỳ.
571. Any one plane, at a given stage of the evolutionary process, may be affected by influences very different from those that affected it at an earlier stage or those that will affect it at a later.
571. Bất kỳ cõi nào, ở một giai đoạn nhất định của tiến trình tiến hoá, có thể bị tác động bởi những ảnh hưởng rất khác với những ảnh hưởng đã tác động lên nó ở giai đoạn trước đó hoặc sẽ tác động lên nó ở giai đoạn sau.
Thus the same fire at different periods will show itself forth as constructive light, or again bring about combustion and eventual obscuration as the result of burning out.
Vì vậy cùng một ngọn lửa, ở những thời kỳ khác nhau, sẽ biểu lộ như ánh sáng kiến tạo, hoặc lại gây ra sự cháy và cuối cùng là sự che khuất như kết quả của sự cháy cạn.
572. Here, DK is speaking of the causal body, which, at one phase of evolution, is principally a demonstration of light, but at a later phase (influenced by other rays and astrological influences) becomes a display of fiery combustion.
572. Ở đây, Chân sư DK đang nói về thể nguyên nhân, vốn ở một giai đoạn tiến hoá chủ yếu là một biểu hiện của ánh sáng, nhưng ở một giai đoạn sau (chịu ảnh hưởng của các cung khác và các ảnh hưởng chiêm tinh) lại trở thành một sự phô bày của sự cháy rực lửa.
573. The second aspect of divinity contributes to the light demonstration, but the second aspect of the will contributes to the conflagration.
573. Phương diện thứ hai của thiên tính góp phần vào biểu hiện ánh sáng, nhưng phương diện thứ hai của ý chí góp phần vào sự bùng cháy.
574. The principle to grasp is of constant, cyclic, intelligent mutation.
574. Nguyên lý cần nắm bắt là sự biến đổi có tính chu kỳ, thông tuệ và không ngừng.
575. We are beginning to get an impression of the dancing interplay of a wide variety of energies with a wide variety of substances.
575. Chúng ta đang bắt đầu có được một ấn tượng về sự tương tác nhảy múa của một loạt rất đa dạng các năng lượng với một loạt rất đa dạng các chất liệu.
In connection with the manifestation of electricity on the mental, astral and physical planes. We will not enlarge upon the subject, as it will later be discussed as fully as may be possible.
Trong liên hệ với biểu hiện của điện năng trên các cõi trí, cảm dục và hồng trần. Chúng ta sẽ không khai triển thêm về chủ đề này, vì về sau nó sẽ được bàn luận đầy đủ nhất có thể.
576. DK is dealing more with the principled planes of the Solar Logos and Planetary Logos than with those which are non-principled.
576. Chân sư DK đang bàn nhiều hơn về những cõi nguyên khí của Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế hơn là những cõi không-nguyên-khí.
577. The purpose of TCF is to see how substance contributes to the expansion of consciousness. The purpose is not to give detailed information on the workings of dense matter (solar-logoically considered), per se, though much has already been given in the first part of the book.
577. Mục đích của TCF là xem chất liệu góp phần như thế nào vào sự mở rộng của tâm thức. Mục đích không phải là cung cấp thông tin chi tiết về sự vận hành của vật chất đậm đặc (xét theo quan điểm thái dương-thượng-đế), chính nó, dù rất nhiều điều đã được trình bày trong phần đầu của quyển sách.
Suffice it to say that the law holds good and that what is laid down as fact anent a Heavenly Man on His Own planes is equally true of man on the four lower planes.
Chỉ cần nói rằng định luật này vẫn đúng và rằng điều được nêu ra như sự kiện liên quan đến một Đấng Thiên Nhân trên các cõi riêng của Ngài cũng đúng tương tự đối với con người trên bốn cõi thấp hơn.
578. Law of Analogy is reasserted by the Tibetan. It must become integral to out thinking.
578. Định luật tương đồng được Chân sư Tây Tạng tái khẳng định. Nó phải trở thành phần không thể tách rời trong tư duy của chúng ta.
Thus:
Vì vậy:
A SOLAR LOGOS
MỘT THÁI DƯƠNG THƯỢNG ĐẾ
1. Electrical vibration the plane logoic or adi.
1. Rung động điện cõi logoic hay adi.
2. Electrical light the plane monadic or anupadaka.
2. Ánh sáng điện cõi chân thần hay anupadaka.
3. Electrical sound the plane of atma.
3. Âm thanh điện cõi atma.
4. Electrical colour the plane of buddhi.
4. Màu sắc điện cõi Bồ đề.
A HEAVENLY MAN
MỘT ĐẤNG THIÊN NHÂN
1. Electrical vibration the plane monadic.
1. Rung động điện cõi chân thần.
2. Electrical light the plane of atma.
2. Ánh sáng điện cõi atma.
3. Electrical sound the plane of buddhi.
3. Âm thanh điện cõi Bồ đề.
4. Electrical colour the mental plane.
4. Màu sắc điện cõi trí.
MAN
CON NGƯỜI
1. Electrical vibration buddhic plane.
1. Rung động điện cõi Bồ đề.
2. Electrical light the mental plane.
2. Ánh sáng điện cõi trí.
3. Electrical sound the astral plane.
3. Âm thanh điện cõi cảm dục.
4. Electrical colour the physical plane.
4. Màu sắc điện cõi hồng trần.
579. By now we are accustomed to the sequence: vibration, light, sound color.
579. Đến nay chúng ta đã quen với chuỗi: rung động, ánh sáng, âm thanh, màu sắc.
580. We see the relativity of these demonstrations with respect to the planes.
580. Chúng ta thấy tính tương đối của những biểu hiện này đối với các cõi.
581. Only from the solar logoic point of view is the logoic plane the plane of electrical vibration. For the Heavenly Man it is the monadic plane and for man the buddhic plane. And so forth.
581. Chỉ từ quan điểm của Thái dương Thượng đế thì cõi logoic mới là cõi của rung động điện. Đối với Đấng Thiên Nhân, đó là cõi chân thần, và đối với con người, đó là cõi Bồ đề. Và cứ thế tiếp tục.
582. The planes are therefore be organized as follows:
582. Vì vậy các cõi sẽ được tổ chức như sau:
a. The planes of vibration: logoic, monadic, buddhic
a. Các cõi của rung động: logoic, chân thần, Bồ đề
b. The planes of light: monadic, atmic and mental
b. Các cõi của ánh sáng: chân thần, atma và trí
c. The planes of sound: atmic, buddhic, astral
c. Các cõi của âm thanh: atma, Bồ đề, cảm dục
d. The planes of colour: buddhic, mental, and physical
d. Các cõi của màu sắc: Bồ đề, trí, và hồng trần
583. Some may notice that there is a good chance that this chart is incomplete. There is a planar-gap between what is given of the Heavenly Man and that which is given for man.
583. Một số người có thể nhận thấy rằng có nhiều khả năng biểu đồ này chưa hoàn chỉnh. Có một khoảng trống về cõi giữa điều được nêu cho Đấng Thiên Nhân và điều được nêu cho con người.
584. Is there an entity for whom electrical vibration begins on the atmic level, electrical light on the buddhic, electrical sound on the mental, and electrical color on the astral?
584. Có chăng một thực thể mà đối với nó rung động điện bắt đầu ở cấp độ atma, ánh sáng điện ở cấp độ Bồ đề, âm thanh điện ở cấp độ trí, và màu sắc điện ở cấp độ cảm dục?
585. We have often spoken of subsidiary types of Heavenly Men. Perhaps such an arrangement would apply to Chain Lords or Globe Lords—with some modification.
585. Chúng ta thường nói đến những loại phụ thuộc của các Đấng Thiên Nhân. Có lẽ một sự sắp xếp như vậy sẽ áp dụng cho các Chúa Tể của Dãy hay các Chúa Tể của bầu hành tinh—với một vài điều chỉnh.
586. It may even be possible for there to be a planar-overlap, such that vibration does not begin on a systemic atomic sub-plane but more in the middle of a cosmic sub-plane. This would introduce quite a complication, and we are not really ready to understand it.
586. Thậm chí còn có thể có một sự chồng lấn cõi giới, đến mức rung động không bắt đầu trên một cõi phụ nguyên tử của hệ thống mà đúng hơn ở khoảng giữa của một cõi phụ vũ trụ. Điều này sẽ đưa vào một sự phức tạp đáng kể, và chúng ta thực sự chưa sẵn sàng để thấu hiểu điều đó.
We need to remember here that we were earlier dealing with the Logos, and with the Heavenly Men as incorporate parts of His body of manifestation.
Ở đây chúng ta cần nhớ rằng trước đó chúng ta đã bàn đến Thượng đế, và đến các Đấng Thiên Nhân như là những phần hợp thể trong thể biểu hiện của Ngài.
587. All wholes within greater wholes can be conceived as an “incorporate parts”, or ‘embodied aspects’ of the greater whole.
587. Mọi toàn thể nằm trong những toàn thể lớn hơn đều có thể được quan niệm như là những “phần hợp thể”, hay “những phương diện nhập thể” của toàn thể lớn hơn.
588. For any part there is no true independence from the incorporating whole.
588. Đối với bất kỳ phần nào, không có sự độc lập đích thực nào khỏi toàn thể bao hàm nó.
589. In this instance we are emphasizing the inseparability of the Planetary Logoi from the Whole which contains them as “incorporate parts”—i.e., the Solar Logos.
589. Trong trường hợp này, chúng ta đang nhấn mạnh tính bất khả phân ly của các Hành Tinh Thượng Đế khỏi Toàn Thể chứa Các Ngài như những “phần hợp thể” — tức là, Thái dương Thượng đế.
In the tabulation above given we are dealing with each separately,
Trong bảng liệt kê đã nêu ở trên, chúng ta đang xem xét từng vị một cách riêng biệt,
590. All of the beings listed in the tabulation are intimately related to each other. They cannot really be treated as separate entities.
590. Tất cả các hữu thể được liệt kê trong bảng đều liên hệ mật thiết với nhau. Thực ra không thể xem các vị ấy như những thực thể tách biệt.
591. As the greater descends into the lesser, there is no point at which the greater is no more present. The greater is present throughout all lessers. This we can understand if we understand the Law of Emanation.
591. Khi cái lớn hơn giáng xuống cái nhỏ hơn, không có điểm nào mà cái lớn hơn không còn hiện diện nữa. Cái lớn hơn hiện diện xuyên suốt mọi cái nhỏ hơn. Điều này chúng ta có thể hiểu nếu hiểu Định luật Xuất lộ/phát xạ.
[Page 332] and it should be observed that the manifestation of the groups of causal bodies on the mental plane is the colour manifestation of a Heavenly Man and His lowest point of objectivity.
[Page 332] và cần lưu ý rằng sự biểu hiện của các nhóm thể nguyên nhân trên cõi trí là sự biểu hiện màu sắc của một Đấng Thiên Nhân và là điểm khách quan thấp nhất của Ngài.
592. We remember that objectivity is not really material in nature, but rather, essentially, etheric.
592. Chúng ta nhớ rằng tính khách quan thực ra không có bản chất vật chất, mà đúng hơn, về căn bản, là dĩ thái.
593. For the Heavenly Man then, it seems confirmed that the causal body can be considered an etheric demonstration—His lowest.
593. Vậy thì đối với Đấng Thiên Nhân, dường như đã được xác nhận rằng thể nguyên nhân có thể được xem như một biểu hiện dĩ thái — thấp nhất của Ngài.
594. If the causal bodies of the mental plane are the colour manifestation of the Heavenly Man, we can see how accurate is this assignment! The causal bodies are indeed known for their gorgeous colour demonstration.
594. Nếu các thể nguyên nhân của cõi trí là biểu hiện màu sắc của Đấng Thiên Nhân, chúng ta có thể thấy sự quy định này chính xác đến mức nào! Quả thật các thể nguyên nhân được biết đến vì sự biểu hiện màu sắc huy hoàng của chúng.
595. That which is etheric is objective, but, as well, that which is gaseous is also considered objective.
595. Điều gì là dĩ thái thì là khách quan, nhưng đồng thời, điều gì là thể khí cũng được xem là khách quan.
596. The mental plane is, generically, a gaseous plane (considered within the context of the Solar Logos). The question we have been asking is: “Is the higher mental plane to be considered gaseous in relation to a Heavenly Man or quasi-etheric”. There seems good evidence for considering it etheric or at least quasi-etheric. For the Heavenly Man the lower mental plane is definitely gaseous.
596. Cõi trí, nói chung, là một cõi thể khí (được xét trong bối cảnh của Thái dương Thượng đế). Câu hỏi chúng ta đã nêu là: “Cõi thượng trí có nên được xem là thể khí trong tương quan với một Đấng Thiên Nhân hay là bán-dĩ thái?” Có vẻ có nhiều bằng chứng tốt để xem nó là dĩ thái hay ít nhất là bán-dĩ thái. Đối với Đấng Thiên Nhân, cõi trí hạ chắc chắn là thể khí.
597. The principle of planar-overlap has always to be considered. Not much is said about it, but there are hints.
597. Nguyên lý chồng lấn cõi giới luôn luôn phải được xét đến. Không nói nhiều về điều này, nhưng có những ám chỉ.
In man his lowest point of objectivity is the fifth subplane of the physical plane,
Ở con người, điểm khách quan thấp nhất của y là cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần,
598. For man, as well, the gaseous level of the dense physical plane is also considered objective—in fact his lowest point of objectivity.
598. Đối với con người cũng vậy, cấp độ thể khí của cõi hồng trần đậm đặc cũng được xem là khách quan — thực ra là điểm khách quan thấp nhất của y.
599. Although apparently very objective, the mineral/dense level of man’s manifestation is not to be considered a point of objectivity and neither is the liquid level of expression.
599. Mặc dù hiển nhiên rất khách quan, cấp độ khoáng vật/đậm đặc trong biểu hiện của con người không được xem là một điểm khách quan, và cấp độ lưu chất biểu hiện cũng vậy.
600. The fifth sub-plane of the physical plane is a gaseous sub-plane and not an etheric sub-plane. The numbering of man’s ethers begins with the systemic atomic physical sub-plane, whereas the numbering of the ethers of the Planetary Logos begins with the sub-atomic sub-plane of the cosmic physical plane. We, see, then that whereas for both, the gaseous plane (one cosmic and one systemic) is considered the “lowest point of objectivity”, it is possible due to the way the numbering began to count the causal realm as a kind of ether in relation to the Planetary Logos, but it is not possible to count the gaseous sub-plane of the systemic etheric-physical plane as etheric.
600. Cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần là một cõi phụ thể khí chứ không phải một cõi phụ dĩ thái. Việc đánh số các dĩ thái của con người bắt đầu từ cõi phụ hồng trần nguyên tử của hệ thống, trong khi việc đánh số các dĩ thái của Hành Tinh Thượng Đế bắt đầu từ cõi phụ hạ-nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Như vậy, chúng ta thấy rằng tuy đối với cả hai, cõi thể khí (một vũ trụ và một hệ thống) được xem là “điểm khách quan thấp nhất”, nhưng do cách việc đánh số bắt đầu, có thể tính cõi nguyên nhân như một loại dĩ thái trong tương quan với Hành Tinh Thượng Đế, còn không thể tính cõi phụ thể khí của cõi dĩ thái-hồng trần hệ thống là dĩ thái.
as the liquid and the dense subplanes are not counted as principles any more than the cosmic liquid and dense (the astral and the systemic physical planes) count with a Heavenly Man.
vì các cõi phụ lưu chất và đậm đặc không còn được tính là các nguyên khí, cũng như lưu chất và đậm đặc vũ trụ (cõi cảm dục và cõi hồng trần hệ thống) không được tính đối với một Đấng Thiên Nhân.
601. Is there a level of principled expression for man that is connected with the gaseous level of the systemic physical plane? Sometimes the dense physical is considered a principle but most often not. Usually the lowest principle for man is the etheric body. The gaseous sub-plane of the dense physical, however, has a strong influence upon the etheric body. Thus, the effectiveness of breathing exercises.
601. Có chăng một cấp độ biểu hiện nguyên khí nơi con người có liên hệ với cấp độ thể khí của cõi hồng trần hệ thống? Đôi khi hồng trần đậm đặc được xem là một nguyên khí nhưng thường thì không. Thông thường nguyên khí thấp nhất của con người là thể dĩ thái. Tuy nhiên, cõi phụ thể khí của hồng trần đậm đặc có ảnh hưởng mạnh lên thể dĩ thái. Do đó mới có hiệu quả của các bài tập hô hấp.
602. There is an analogy: the liquid and dense sub-planes—the lowest two—are not principles and are not areas of focus for the human being: likewise, the two lowest levels of the astral plane are not areas calling for the attention of the human being.
602. Có một sự tương đồng: hai cõi phụ thấp nhất — lưu chất và đậm đặc — không phải là các nguyên khí và không phải là những khu vực tập trung của con người; cũng vậy, hai cấp thấp nhất của cõi cảm dục không phải là những khu vực đòi hỏi sự chú ý của con người.
603. Similarly, the systemic physical and astral planes are areas of vibration to which the Heavenly Man gives no attention. For Him, these vibratory levels are not principles and belong entirely to the past.
603. Tương tự, cõi hồng trần hệ thống và cõi cảm dục là những khu vực rung động mà Đấng Thiên Nhân không chú ý đến. Đối với Ngài, các cấp rung động này không phải là các nguyên khí và hoàn toàn thuộc về quá khứ.
604. We can assume that the gaseous level is positioned midway between the past and the present. As we ascend the planes, the future (as it will be) is indicated.
604. Chúng ta có thể giả định rằng cấp độ thể khí nằm ở khoảng giữa giữa quá khứ và hiện tại. Khi chúng ta đi lên các cõi, tương lai (như nó sẽ là) được chỉ ra.
605. What DK says here about which sub-planes are counted as principles and which are not seems to be at variance with what is said elsewhere.
605. Điều Chân sư DK nói ở đây về những cõi phụ nào được tính là nguyên khí và những cõi nào không được tính dường như khác với điều được nói ở nơi khác.
a. Usually, for the Planetary Logos, the lower systemic mental plane is not counted as a principle
a. Thông thường, đối với Hành Tinh Thượng Đế, cõi hạ trí hệ thống không được tính là một nguyên khí
b. Usually, for the Solar Logos, both the lower and higher systemic mental planes are not counted as a principle.
b. Thông thường, đối với Thái dương Thượng đế, cả cõi hạ trí lẫn cõi thượng trí hệ thống đều không được tính là một nguyên khí.
606. The mental plane (or gaseous plane) is in something of a “no man’s land” with respect to its principled or unprincipled nature. The two lower sub-planes are definitely unprincipled. We cannot always say this of either the lower or higher mental planes.
606. Cõi trí (hay cõi thể khí) ở vào một dạng “vùng đất vô chủ” nào đó xét về bản chất có nguyên khí hay không có nguyên khí của nó. Hai cõi phụ thấp nhất chắc chắn là không có nguyên khí. Chúng ta không phải lúc nào cũng có thể nói như vậy về cõi hạ trí hay cõi thượng trí.
607. Perhaps we can think of the mental plane (in its two aspects, and in relation to Planetary Logoi and the Solar Logos) as a plane transitional between principled and unprincipled. For man, the systemic gaseous plane is also similarly transitional.
607. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ về cõi trí (trong hai phương diện của nó, và trong tương quan với các Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế) như một cõi chuyển tiếp giữa có nguyên khí và không có nguyên khí. Đối với con người, cõi thể khí hệ thống cũng chuyển tiếp theo cách tương tự.
We have seen that manas or mind is the fifth principle, or the basic vibration of the cosmic mental plane, the fifth plane; it was therefore impulse originating from the causal levels of the cosmic mental plane, which drove our solar Logos into manifestation,
Chúng ta đã thấy rằng manas hay trí tuệ là nguyên khí thứ năm, hay rung động căn bản của cõi trí vũ trụ, cõi thứ năm; vì vậy đó là xung lực phát sinh từ các cấp nguyên nhân của cõi trí vũ trụ đã thúc đẩy Thái dương Thượng đế của chúng ta đi vào biểu hiện,
608. The analogy holds good: all manifestation (whether cosmic or systemic or in relation to man) begins on the higher levels of a mental plane.
608. Sự tương đồng vẫn đúng: mọi biểu hiện (dù là vũ trụ hay hệ thống hay trong tương quan với con người) đều bắt đầu trên các cấp cao của một cõi trí.
609. When we speak of the “fifth principle” we are speaking of an aspect of Deity which originates on the cosmic mental plane.
609. Khi chúng ta nói về “nguyên khí thứ năm”, chúng ta đang nói về một phương diện của Thượng đế phát sinh trên cõi trí vũ trụ.
610. When speaking of driving our “Solar Logos into manifestation” we seem to be dealing with an Aretian impulse; Aries governs the first impulse towards manifestation whether for a man, a Planetary Logos or a Solar Logos. “I come forth and from the plane of mind, I rule”!
610. Khi nói về việc thúc đẩy “Thái dương Thượng đế của chúng ta đi vào biểu hiện”, dường như chúng ta đang bàn đến một xung lực Aretian; Bạch Dương chi phối xung lực đầu tiên hướng tới biểu hiện, dù là đối với con người, một Hành Tinh Thượng Đế hay một Thái dương Thượng đế. “Tôi xuất hiện và từ cõi trí Tôi cai quản.”!
611. The Lord of the Constellation Aries (cf. EA 304) is surely a Being greater than our Solar Logos, and could impel Him forward into incarnation.
611. Chúa Tể của Chòm sao Bạch Dương (x. EA 304) hẳn là một Hữu thể lớn hơn Thái dương Thượng đế của chúng ta, và có thể thúc đẩy Ngài tiến vào lâm phàm.
in the same way that the force which brings man into incarnation emanates from his causal body on the mental plane of the solar system.
theo cùng cách mà mãnh lực đưa con người vào lâm phàm phát ra từ thể nguyên nhân của y trên cõi trí của hệ mặt trời.
612. The causal body of the Solar Logos is located on the first sub-plane of the cosmic mental plane (we are told), and that of our Planetary Logos, on the third sub-plane of the cosmic mental plane (again we are told—how else would we ‘know’?).
612. Thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế nằm trên cõi phụ thứ nhất của cõi trí vũ trụ (như chúng ta được cho biết), và của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta nằm trên cõi phụ thứ ba của cõi trí vũ trụ (một lần nữa như chúng ta được cho biết — nếu không thì làm sao chúng ta “biết” được?).
613. Manifestation begins from the level of soul; the will-to-manifest (itself a reflection of the still higher “Will-to-Be”) originates there.
613. Biểu hiện bắt đầu từ cấp độ linh hồn; ý chí-biểu hiện (bản thân nó là một phản ánh của “Ý Chí-Hiện Hữu” còn cao hơn nữa) phát sinh từ đó.
We have seen also that manas is that discriminative faculty which animates all substance, and which is also the electrical fire of the system showing forth as attraction and repulsion, with all that is involved in those two words.
Chúng ta cũng đã thấy rằng manas là năng lực phân biện mà làm sinh động mọi chất liệu, và cũng là lửa điện của hệ thống biểu lộ thành hút và đẩy, cùng với tất cả những gì hàm chứa trong hai từ ấy.
614. We are rounding out what has been said of manas:
614. Chúng ta đang hoàn chỉnh những gì đã được nói về manas:
a. It is a discriminative faculty. This relates to the third ray: “The Discriminating Essential Life” (EP I 68)
a. Nó là một năng lực phân biện. Điều này liên hệ với cung ba: “Sự Sống Cốt Yếu Phân Biện” (EP I 68)
b. It animates all substance, which is another way of saying that it ensouls all substance. This relates manas to solar fire and to the second ray.
b. Nó làm sinh động mọi chất liệu, đó là một cách khác để nói rằng nó phú linh mọi chất liệu. Điều này liên hệ manas với Lửa Thái dương và với cung hai.
c. Manas is also “the electrical fire of the system”. Does DK mean “electric fire”? In any case, this “electrical fire” shows forth in a second ray manner as “attraction and repulsion”—aspects of the great Law of Attraction.
c. Manas cũng là “lửa điện của hệ thống”. Chân sư DK có muốn nói “Lửa Điện” không? Dù sao đi nữa, “lửa điện” này biểu lộ theo cách của cung hai như “hút và đẩy” — các phương diện của Định luật Hút lớn lao.
d. At the very least manas (cosmically considered) is the source of what we call the Primordial Ray (Intelligence) and the Divine Ray (Love-Wisdom).
d. Ít nhất thì manas (được xét về mặt vũ trụ) là nguồn gốc của điều chúng ta gọi là Cung Nguyên Sơ (Trí Tuệ) và Cung Thiêng Liêng (Bác Ái – Minh Triết).
e. There is also reason to believe that manas (as we can experience it) is the source for us of “electric fire”, for the manas of which we are speaking emanates from the cosmic mental plane.
e. Cũng có lý do để tin rằng manas (như chúng ta có thể kinh nghiệm nó) là nguồn gốc đối với chúng ta của “Lửa Điện”, vì manas mà chúng ta đang nói đến phát ra từ cõi trí vũ trụ.
In the widest sense of the idea the Laws of Economy and of Synthesis are only divisions of that same cosmic law of which Attraction and Repulsion are also manifestations.
Theo nghĩa rộng nhất của ý tưởng này, Định luật Tiết Kiệm và Định luật Tổng Hợp chỉ là những phân bộ của cùng một định luật vũ trụ mà Hút và Đẩy cũng là những biểu hiện của nó.
615. That cosmic law is the Law of Karma (and intermediate law positioned ‘above’ the laws we usually consider cosmic).
615. Định luật vũ trụ đó là Định luật Karma (một định luật trung gian được đặt “trên” các định luật mà chúng ta thường xem là vũ trụ).
616. This “widest sense” demands that we consider the functioning of a Cosmic Logos—perhaps of the Sirian system.
616. “Nghĩa rộng nhất” này đòi hỏi chúng ta phải xét đến hoạt động của một Thượng đế Vũ Trụ — có lẽ là của hệ thống Sirius.
This cosmic law, demonstrating thus in a threefold manner, might (for lack of a better term) be called the Law of Being, and is of a nature so incomprehensible to the finite mind of man that he can only sense it partially through the aforesaid three branches.
Định luật vũ trụ này, biểu lộ như thế theo cách tam phân, có thể (vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn) được gọi là Định luật Bản Thể, và có một bản chất khó hiểu đến mức đối với trí tuệ hữu hạn của con người, y chỉ có thể cảm nhận nó phần nào qua ba nhánh vừa nói trên.
617. Here we are told that our customary cosmic laws are aspects of the “Law of Being”. Elsewhere we are told that the three cosmic laws are expressions or divisions of the Law of Karma.
617. Ở đây chúng ta được cho biết rằng các định luật vũ trụ quen thuộc của chúng ta là những phương diện của “Định luật Bản Thể”. Ở nơi khác chúng ta được cho biết rằng ba định luật vũ trụ là những biểu hiện hay phân bộ của Định luật Karma.
618. I don’t think this is a contradiction as the Law of Karma (as an intermediary cosmic law) may be simply an expression of a much higher Law—the Law of Being.
618. Tôi không nghĩ đây là một mâu thuẫn, vì Định luật Karma (như một định luật vũ trụ trung gian) có thể đơn giản chỉ là một biểu hiện của một Định luật cao hơn nhiều — Định luật Bản Thể.
619. DK is telling us that if we are to sense this Law of Being, we must do it through an understanding of the three cosmic laws with which we are familiar: the Law of Economy; the Law of Attraction; and the Law of Synthesis.
619. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng nếu chúng ta muốn cảm nhận Định luật Bản Thể này, chúng ta phải làm điều đó qua sự thấu hiểu ba định luật vũ trụ mà chúng ta quen thuộc: Định luật Tiết Kiệm; Định luật Hút; và Định luật Tổng Hợp.
620. Thus, we approach the One through the Three.
620. Như vậy, chúng ta tiếp cận Đấng Duy Nhất qua Bộ Ba.
TCF 332-340: S3S12
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được để ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được để ở cỡ chữ 14. Phần bình luận ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.
Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.
3. MANAS IS THAT WHICH PRODUCES COHESION
3. MANAS LÀ ĐIỀU TẠO RA SỰ CỐ KẾT
1. VSK suggests: “Let’s review the concept – manas produces cohesion. We usually think of the manasic and fifth ray as dividing and discriminating, and the second ray as producing cohesion. Let’s attempt to recall from our previous instructions how manas (identified in one aspect with cosmic solar fire) produces cohesion.”
1. VSK gợi ý: “Hãy ôn lại khái niệm này — manas tạo ra sự cố kết. Chúng ta thường nghĩ manas và cung năm là phân chia và phân biện, còn cung hai là tạo ra sự cố kết. Hãy cố nhớ lại từ những chỉ dẫn trước đây của chúng ta xem manas (được đồng nhất trong một phương diện với lửa thái dương vũ trụ) tạo ra sự cố kết như thế nào.”
We come now to our third definition: The manasic principle is above all else that cohesive something which enables an Entity (whether Logos, Heavenly Man, or man) to work:
Giờ đây chúng ta đến với định nghĩa thứ ba của mình: Nguyên khí manas trên hết mọi thứ là cái gì đó có tính cố kết giúp cho một Thực Thể (dù là Thượng đế, Đấng Thiên Nhân, hay con người) hoạt động:
1. We note that manas is here being considered only in relation to self-conscious units, and not to the tiny, unconscious atom of matter/substance.
1. Chúng ta lưu ý rằng ở đây manas chỉ được xét trong tương quan với các đơn vị ngã thức, chứ không phải với nguyên tử nhỏ bé, vô thức của vật chất/chất liệu.
2. Here the second aspect of manas is being emphasized.
2. Ở đây phương diện thứ hai của manas đang được nhấn mạnh.
3. In this regard we must remember that manas, as we experience and express it, originates on the higher part of the cosmic mental plane. From this point of view manas is cosmic solar fire.
3. Về phương diện này, chúng ta phải nhớ rằng manas, như chúng ta kinh nghiệm và biểu lộ nó, phát sinh trên phần cao của cõi trí vũ trụ. Từ quan điểm này, manas là lửa thái dương vũ trụ.
[Page 333]
[Page 333]
a [Work] Through form, and thus exist.
a [Hoạt động] Qua hình tướng, và như thế hiện hữu.
1. Thus, manas is the cohesive something that enables ‘man’ to exist through form.
1. Như vậy, manas là cái gì đó có tính cố kết giúp “con người” hiện hữu qua hình tướng.
2. Manas contributes to the integrity of form. Without manas, form would not be created and the Entities referenced would not express through form.
2. Manas góp phần vào tính toàn vẹn của hình tướng. Không có manas, hình tướng sẽ không được tạo ra và các Thực Thể được nhắc đến sẽ không biểu lộ qua hình tướng.
b. [Work] By means of progressive development or cyclic evolution.
b. [Hoạt động] Bằng phương tiện phát triển tiến bộ hay tiến hoá theo chu kỳ.
1. Manas is the cohesive something that enables ‘man’ to evolve through cyclic development.
1. Manas là cái gì đó có tính cố kết giúp “con người” tiến hoá qua sự phát triển theo chu kỳ.
2. Manas provides the intelligence that promotes progressive development. The planning factor within manas enables the process of “cyclic evolution”.
2. Manas cung cấp trí tuệ thúc đẩy sự phát triển tiến bộ. Yếu tố hoạch định bên trong manas làm cho tiến trình “tiến hoá theo chu kỳ” trở nên khả hữu.
3. The soul/Solar Angel, for instance, has an intelligent plan for the development of its supervisee, the human personality.
3. Chẳng hạn, linh hồn/Thái dương Thiên Thần có một kế hoạch thông tuệ cho sự phát triển của đối tượng được nó giám sát, tức phàm ngã con người.
c. [Work] On certain planes, that are, for the entity concerned, the battleground of life, and the field of experience.
c. [Hoạt động] Trên những cõi nhất định, là những cõi, đối với thực thể liên hệ, vừa là chiến trường của sự sống vừa là lĩnh vực kinh nghiệm.
1. Manas is the cohesive something that enables ‘man’ to consciously experience certain planes.
1. Manas là cái gì đó có tính cố kết giúp “con người” kinh nghiệm một cách có ý thức những cõi nhất định.
2. Without manas there would be no way for the evolving entity to come to terms with the conditions on the planes through which it must evolve.
2. Không có manas, sẽ không có cách nào để thực thể đang tiến hoá thích ứng với các điều kiện trên những cõi mà nó phải tiến hoá qua.
3. There is the suggestion that every true field of experience is really an necessarily a “battleground”. If man does not fight for what he seeks to possess, he will not earn the right to possess. The ‘fight’ of course, takes place in man ways, not all of them violent, but all of them necessarily persistent.
3. Có một gợi ý rằng mọi lĩnh vực kinh nghiệm chân chính thực sự tất yếu là một “chiến trường”. Nếu con người không đấu tranh cho điều y tìm cách sở hữu, y sẽ không giành được quyền sở hữu. Dĩ nhiên, “cuộc đấu tranh” diễn ra theo nhiều cách nơi con người, không phải tất cả đều bạo lực, nhưng tất cả đều nhất thiết đòi hỏi sự bền bỉ.
d. [Work] By the method of manifestation, which is a gradual growth from a dim and distant dawn through an ever increasing splendour of light to a blaze of effulgent glory;
d. [Hoạt động] Bằng phương pháp biểu hiện, là một sự tăng trưởng dần dần từ một bình minh mờ xa qua một huy hoàng ánh sáng ngày càng tăng đến một ngọn lửa vinh quang rực rỡ;
1. Manas allows such Entities to work “by the method of manifestation”.
1. Manas cho phép các Thực Thể như thế hoạt động “bằng phương pháp biểu hiện”.
2. Note the glorious (and progressive) language through which manifestation is portrayed.
2. Hãy lưu ý ngôn ngữ huy hoàng (và tiến triển) qua đó biểu hiện được mô tả.
3. Certainly, manifestation is not a fait accompli as ‘Creationism’ envisions. Its exercise is characterized by intelligent gradualism.
3. Chắc chắn, biểu hiện không phải là một việc đã hoàn tất như thuyết Sáng tạo hình dung. Sự vận hành của nó được đặc trưng bởi tính tiệm tiến thông tuệ.
then through a steadily dimming twilight to final obscuration. Dawn, day, midday, twilight, night—thus is the order for the Logos, for a planetary Logos, and for man.
rồi qua một hoàng hôn mờ dần đều đặn đến sự che khuất cuối cùng. Bình minh, ban ngày, giữa trưa, hoàng hôn, đêm tối — đó là trật tự đối với Thượng đế, đối với một Hành Tinh Thượng Đế, và đối với con người.
1. VSK suggests: “We note that this function of manasic cohesion is what creates the spheroidal forms which revolve and thus creates the phases of ‘a day’.”
1. VSK gợi ý: “Chúng ta lưu ý rằng chức năng cố kết manas này là điều tạo ra các hình tướng hình cầu quay tròn và như thế tạo ra các pha của ‘một ngày’.”
2. We have five divisions of the day (though changes throughout the night are not noted).
2. Chúng ta có năm phân đoạn của một ngày (dù những thay đổi suốt đêm không được ghi nhận).
3. Within manas the factor of timing is intrinsic. Saturn is the Lord of Time and also a primary ‘Lord of Intelligence’—thus related to manas.
3. Trong manas, yếu tố thời gian là nội tại. Sao Thổ là Chúa Tể của Thời Gian và cũng là một “Chúa Tể của Trí Tuệ” chủ yếu — do đó liên hệ với manas.
4. The cohesive aspect of manas keeps the spheres in right alliance, thus producing the appearance of waxing and waning cycles. If lesser spheres were not magnetically related to a spherical source of light (producing, as a result, rotation and revolution), there would be no waxing and waning cycles. When dealing with “revolution” around a centralized source, rather than “rotation”, we are dealing with the second aspect of manas—that aspect of manas related to the love-wisdom and the second ray.
4. Phương diện cố kết của manas giữ các khối cầu trong sự liên kết đúng đắn, nhờ đó tạo ra vẻ ngoài của các chu kỳ tăng trưởng và suy giảm. Nếu các khối cầu nhỏ hơn không có liên hệ từ tính với một nguồn sáng hình cầu (kết quả là tạo ra sự tự quay và quay quanh), thì sẽ không có các chu kỳ tăng trưởng và suy giảm. Khi bàn đến “quay quanh” một nguồn tập trung, thay vì “tự quay”, chúng ta đang bàn đến phương diện thứ hai của manas — phương diện của manas liên hệ với bác ái – minh triết và cung hai.
If the above four points are carefully studied, it will be found that they are fairly comprehensive, and embody the four points that are as yet the only ones available for man in this fourth round.
Nếu bốn điểm trên đây được nghiên cứu cẩn thận, người ta sẽ thấy rằng chúng khá toàn diện, và bao hàm bốn điểm mà cho đến nay là những điểm duy nhất sẵn có cho con người trong cuộc tuần hoàn thứ tư này.
1. These four may be remembered in this way:
1. Có thể ghi nhớ bốn điểm này theo cách sau:
a Manas allows existence through form.
a Manas cho phép hiện hữu qua hình tướng.
b Manas allows cyclic, progressive development.
b Manas cho phép sự phát triển tiến bộ theo chu kỳ.
c Manas allows conscious functioning on the planes of experience.
c Manas cho phép hoạt động có ý thức trên các cõi kinh nghiệm.
d Manas allows manifestation.
d Manas cho phép biểu hiện.
1. Are these four distinct to us?
1. Bốn điểm này có phân biệt rõ đối với chúng ta không?
2. Without manas there would be no adjustment of the inner Entity to his outer circumstances, nor would there be a vehicle and a location through which to function, nor intelligent unfoldment through time.
2. Không có manas, sẽ không có sự điều chỉnh của Thực Thể bên trong đối với các hoàn cảnh bên ngoài của y, cũng sẽ không có một vận cụ và một vị trí để hoạt động, cũng không có sự khai mở thông tuệ qua thời gian.
3. We note how availability of “points” (or aspects) is controlled through occult numerology. That is available which correlates with the number of the cycle through which an entity is passing. During the fifth round we may reasonably suppose the five points will be available to man.
3. Chúng ta lưu ý cách tính sẵn có của các “điểm” (hay các phương diện) được kiểm soát qua số học huyền bí. Điều sẵn có là điều tương ứng với con số của chu kỳ mà một thực thể đang đi qua. Trong cuộc tuần hoàn thứ năm, chúng ta có thể hợp lý giả định rằng năm điểm sẽ sẵn có cho con người.
Man regards himself as a synthesised aggregate of physical body, emotional nature, and mentality, yet knows himself as more than these three, and recognises himself as the utiliser of form, of emotion, and of mentality, holding them all together coherently so that he is a unit.
Con người xem mình như một tổng thể tổng hợp của thể xác, bản chất cảm xúc, và trí tuệ, tuy nhiên biết mình là hơn ba điều này, và nhận ra mình là người sử dụng hình tướng, cảm xúc, và trí tuệ, giữ tất cả chúng lại với nhau một cách cố kết để y là một đơn vị.
1. Man is Manas, the Thinker. Man, in essence, is the Observer. There is much to relate manas (as Thinker) to the Observer.
1. Con người là Manas, là Nhà Tư Tưởng. Về bản chất, con người là Người Quan Sát. Có nhiều điều để liên hệ manas (như Nhà Tư Tưởng) với Người Quan Sát.
2. He recognizes the synthesized aggregate, yet also has found himself as the “utiliser” of the synthesized aggregate.
2. Y nhận ra tổng thể tổng hợp ấy, nhưng cũng đã tìm thấy chính mình như là “người sử dụng” của tổng thể tổng hợp đó.
3. Manas, manifested through the Solar Angel and the causal body, exerts a cohesive influence holding together the synthesized aggregate and eventually controlling it.
3. Manas, biểu lộ qua Thái dương Thiên Thần và thể nguyên nhân, tác động một ảnh hưởng cố kết giữ tổng thể tổng hợp lại với nhau và cuối cùng kiểm soát nó.
A planetary Logos similarly does the same, with the difference that manas is not the medium whereby he is a coherent whole. Owing to his more advanced stage of development, wisdom is for Him the dominant factor. A solar logos achieves through Will what a planetary Logos does through wisdom or buddhi, and man (on his tiny scale) through manas.
Một Hành Tinh Thượng Đế cũng làm điều tương tự, với sự khác biệt là manas không phải là môi giới nhờ đó Ngài là một toàn thể cố kết. Do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài, minh triết là yếu tố chi phối đối với Ngài. Một Thái dương Thượng đế đạt được qua Ý Chí điều mà một Hành Tinh Thượng Đế đạt được qua minh triết hay Bồ đề, và con người (trên quy mô nhỏ bé của mình) qua manas.
1. For man, manas is “the medium whereby he is a coherent whole”. Intelligence, as it were, holds him together as a synthesized aggregate.
1. Đối với con người, manas là “môi giới nhờ đó y là một toàn thể cố kết”. Có thể nói, trí tuệ giữ y lại với nhau như một tổng thể tổng hợp.
2. Thus, for man, manas is the “dominant factor”.
2. Như vậy, đối với con người, manas là “yếu tố chi phối”.
3. For a Planetary Logos, “wisdom” is the dominant factor; a Planetary Logos is a “Dragon of Wisdom” and manas is secondary—more instrumental.
3. Đối với một Hành Tinh Thượng Đế, “minh triết” là yếu tố chi phối; một Hành Tinh Thượng Đế là một “Rồng Minh Triết” và manas là thứ yếu — mang tính công cụ hơn.
4. For a Solar Logos, Will is the means whereby He is a coherent whole.
4. Đối với một Thái dương Thượng đế, Ý Chí là phương tiện nhờ đó Ngài là một toàn thể cố kết.
5. Have we thought about what it means to produce coherence through these three means: Intelligence/Manas, Wisdom and Will?
5. Chúng ta đã suy nghĩ về ý nghĩa của việc tạo ra sự cố kết qua ba phương tiện này chưa: Trí Tuệ/Manas, Minh Triết và Ý Chí?
6. Wisdom has much more experience than manas, per se. Manas knows what seems intelligent, but wisdom knows the eternal principles and how developing conditions fit within the objectives of the Plan. Will, per se, is, relatively, more potent than wisdom, related to Purpose, and assumes a certain factor of irresistibility.
6. Minh triết có nhiều kinh nghiệm hơn manas, chính nó. Manas biết điều gì có vẻ thông tuệ, nhưng minh triết biết các nguyên khí vĩnh cửu và biết các điều kiện đang phát triển phù hợp như thế nào trong các mục tiêu của Thiên Cơ. Còn Ý Chí, chính nó, tương đối mạnh hơn minh triết, liên hệ với Thiên Ý, và giả định một yếu tố nào đó của tính không thể cưỡng lại.
7. VSK queries: “Isn’t this contradictory to the opening statement that it is manas that allows all three types of ‘men’ to work? But here it is saying that the Planetary Logos uses Wisdom, not Manas; the Solar Logos uses Will, not manas. How do we resolve this to the first statement?”
7. VSK hỏi: “Điều này chẳng phải mâu thuẫn với phát biểu mở đầu rằng chính manas cho phép cả ba loại ‘người’ hoạt động sao? Nhưng ở đây lại nói rằng Hành Tinh Thượng Đế dùng Minh Triết, không phải Manas; Thái dương Thượng đế dùng Ý Chí, không phải manas. Chúng ta giải quyết điều này với phát biểu đầu tiên như thế nào?”
8. May it be suggested that each successive quality includes the foregoing quality? Wisdom presumes manas, and Will presumes wisdom.
8. Có thể gợi ý rằng mỗi phẩm tính kế tiếp đều bao gồm phẩm tính đi trước không? Minh triết giả định manas, và Ý Chí giả định minh triết.
9. Manas, therefore, is required in all three types of demonstration—that of man, as Planetary Logos or the Solar Logos. However, we are interested in the additional factor. To do what a Planetary Logos must do (given His vast scope of expression), wisdom must be added to manas (which is not yet the case for man, with his much smaller scope of expression).
9. Vì vậy, manas là cần thiết trong cả ba loại biểu hiện — của con người, của Hành Tinh Thượng Đế hay của Thái dương Thượng đế. Tuy nhiên, chúng ta quan tâm đến yếu tố bổ sung. Để làm điều mà một Hành Tinh Thượng Đế phải làm (xét theo phạm vi biểu hiện rộng lớn của Ngài), minh triết phải được thêm vào manas (điều này chưa phải trường hợp của con người, với phạm vi biểu hiện nhỏ hơn nhiều của y).
10. To do what a Solar Logos must do (given His scope of expression vaster far than that of a Planetary Logos), Will must be added to wisdom (which is certainly not the case for man, and is not even the case for a Planetary Logos, with His much smaller scope of expression). A Planetary Logos, of course, uses will, but not in the same way and same power that a Solar Logos does.
10. Để làm điều mà một Thái dương Thượng đế phải làm (xét theo phạm vi biểu hiện rộng lớn hơn rất nhiều so với một Hành Tinh Thượng Đế), Ý Chí phải được thêm vào minh triết (điều này chắc chắn không phải trường hợp của con người, và thậm chí cũng không phải trường hợp của một Hành Tinh Thượng Đế, với phạm vi biểu hiện nhỏ hơn nhiều của Ngài). Dĩ nhiên, một Hành Tinh Thượng Đế có dùng ý chí, nhưng không theo cùng cách và cùng quyền năng như một Thái dương Thượng đế.
11. VSK states and enquires: “Wisdom and Buddhi are equated as the medium for the Planetary Logos. Is not wisdom more of the second plane, and buddhi the fourth?”
11. VSK nêu và hỏi: “Minh Triết và Bồ đề được đồng nhất như môi giới đối với Hành Tinh Thượng Đế. Chẳng phải minh triết thuộc nhiều hơn về cõi thứ hai, còn Bồ đề thuộc cõi thứ tư sao?”
12. May it be stated that there is a close connection between wisdom and buddhi. When we speak of “Love-Wisdom”, we are speaking of buddhi and not only of that which transpires on the monadic plane.
12. Có thể nói rằng có một liên hệ mật thiết giữa minh triết và Bồ đề. Khi chúng ta nói về “Bác Ái – Minh Triết”, chúng ta đang nói về Bồ đề chứ không chỉ về điều diễn ra trên cõi chân thần.
13. Mercury is “Budh” or “Buddha” (EA 659). Mercury (“Buddha”) is “mind-wisdom”. “Mercury is the synthesis of manas-buddhi, mind-wisdom which expresses itself through the human soul;” (EA 284)
13. Sao Thủy là “Budh” hay “Buddha” (EA 659). Sao Thủy (“Buddha”) là “trí tuệ-minh triết”. “Sao Thủy là sự tổng hợp của manas-buddhi, trí tuệ-minh triết biểu lộ chính nó qua linh hồn con người;” (EA 284)
14. We might say that wisdom is in evidence through the quality of buddhi, but even more on the monadic plane.
14. Chúng ta có thể nói rằng minh triết được biểu lộ qua phẩm tính của buddhi, nhưng còn nhiều hơn nữa trên cõi chân thần.
15. Jupiter, planet of wisdom, is related to both planes—buddhic and monadic.
15. Sao Mộc, hành tinh của minh triết, có liên hệ với cả hai cõi—cõi Bồ đề và cõi chân thần.
16. Buddhi is the sixth principle and the monadic plane is the sixth plane (numbering from below).
16. Buddhi là nguyên khí thứ sáu và cõi chân thần là cõi thứ sáu (đếm từ dưới lên).
17. It requires wisdom to create “group unity”; it requires even a purer kind of wisdom to restore that “fundamental unity” characteristic of the monadic plane.
17. Cần có minh triết để tạo ra “sự hợp nhất nhóm”; cần một loại minh triết còn thuần khiết hơn nữa để phục hồi “sự hợp nhất căn bản” vốn là đặc trưng của cõi chân thần.
18. Words like “buddhi” and “wisdom” are difficult to categorize in terms of only one systemic or cosmic locale. They have a far more universal application.
18. Những từ như “buddhi” và “minh triết” rất khó được phân loại chỉ theo một vị trí hệ thống hay vũ trụ duy nhất. Chúng có một sự ứng dụng phổ quát hơn nhiều.
Yet, as both planetary Logos and man are but parts of their greater whole, the electric fire of will permeates them also, merging with the solar fire of buddhi, and fanning the fires of matter.
Tuy nhiên, vì cả Hành Tinh Thượng Đế lẫn con người đều chỉ là những phần của toàn thể lớn lao hơn của mình, Lửa Điện của ý chí cũng thấm nhuần họ, hòa nhập với Lửa Thái dương của buddhi, và quạt bùng các lửa của vật chất.
1. Here is a most important statement. We cannot separate lesser entities from their incorporation in greater Entities.
1. Đây là một phát biểu hết sức quan trọng. Chúng ta không thể tách rời các thực thể nhỏ hơn khỏi sự bao hàm của chúng trong các Thực Thể lớn hơn.
2. That which a greater Entity expresses through its own nature makes its way also into and through the lesser entities which are incorporate parts of its nature.
2. Điều mà một Thực Thể lớn hơn biểu lộ qua chính bản chất của nó cũng đi vào và đi qua các thực thể nhỏ hơn là những phần được bao hàm trong bản chất ấy.
3. So, in short, electric fire permeates solar fire and fire by friction, just as solar fire permeates fire by friction.
3. Vì vậy, nói ngắn gọn, Lửa Điện thấm nhuần Lửa Thái dương và Lửa ma sát, cũng như Lửa Thái dương thấm nhuần Lửa ma sát.
4. These thoughts can be applied to the problem of three distinct types of Heavenly Men—Planetary Logoi, Chain-Lords and Globe-Lords. They are distinct, but all three must, nevertheless, be considered the same entity.
4. Những tư tưởng này có thể được áp dụng vào vấn đề ba loại Đấng Thiên Nhân riêng biệt—các Hành Tinh Thượng Đế, các Chúa Tể Dãy và các Chúa Tể Bầu Hành Tinh. Chúng là riêng biệt, nhưng cả ba, tuy vậy, vẫn phải được xem là cùng một thực thể như nhau.
In all these distinctions and differentiations it must be remembered that they do not exist from the logoic standpoint, but are only to be predicated in relation [Page 334] to the lesser bodies which are included in the solar ring-pass-not.
Trong tất cả những phân biệt và biến phân này, cần phải nhớ rằng chúng không tồn tại từ quan điểm logoic, mà chỉ có thể được khẳng định trong tương quan [Page 334] với các thể nhỏ hơn được bao hàm trong vòng-giới-hạn mặt trời.
1. Here a valuable principle emerges. When we see from a lofty point of vantage, differences and distinctions disappear, because we are viewing the many parts from the angle of vision of the Whole which includes them.
1. Ở đây xuất hiện một nguyên lý quý giá. Khi chúng ta nhìn từ một điểm quan sát cao, những khác biệt và phân biệt biến mất, bởi vì chúng ta đang nhìn nhiều phần từ góc độ tầm nhìn của Toàn Thể bao hàm chúng.
2. When viewing from lesser perspectives, the illusion of distinction and differentiation is not easily avoided.
2. Khi nhìn từ những phối cảnh thấp hơn, ảo tưởng về sự phân biệt và biến phân không dễ tránh khỏi.
3. From the logoic standpoint, all that is otherwise interpreted as distinction and differentiation is seen as part of Himself, incorporate to the whole.
3. Từ quan điểm logoic, tất cả những gì vốn được diễn giải khác đi như là sự phân biệt và biến phân đều được thấy là một phần của chính Ngài, được bao hàm trong toàn thể.
4. We must, therefore, learn to see from the largest possible point of view.
4. Do đó, chúng ta phải học cách nhìn từ quan điểm rộng lớn nhất có thể.
5. If a human being sees from the soul perspective, how will he understand the personality and its apparent distinct parts?
5. Nếu một con người nhìn từ phối cảnh của linh hồn, y sẽ thấu hiểu phàm ngã và những phần riêng biệt bề ngoài của nó như thế nào?