← Commentary_S3_223_340_song ngữ

chapter 001 25

Trích nội dung chương

300. A study of TCF and the Secret Doctrine reveals that not all members of the ‘human family’ individualized through this flashing forth of light. The Solar Angels did not spiritually ‘impregnate’ all those who would become members of the fourth kingdom of nature. Some were not sufficiently advanced and others, coming from the Moon-chain were awaiting incarnation in inter-chain pralaya until a later time. 300. Một nghiên cứu về TCF và Giáo Lý Bí Nhiệm cho thấy rằng không phải mọi thành viên của ‘gia đình nhân loại’ đều biệt ngã hóa qua sự bừng phát ánh sáng này. Các Thái dương Thiên Thần đã không ‘thụ tinh’ về mặt tinh thần cho tất cả…


300. A study of TCF and the Secret Doctrine reveals that not all members of the ‘human family’ individualized through this flashing forth of light. The Solar Angels did not spiritually ‘impregnate’ all those who would become members of the fourth kingdom of nature. Some were not sufficiently advanced and others, coming from the Moon-chain were awaiting incarnation in inter-chain pralaya until a later time.

300. Một nghiên cứu về TCF và Giáo Lý Bí Nhiệm cho thấy rằng không phải mọi thành viên của ‘gia đình nhân loại’ đều biệt ngã hóa qua sự bừng phát ánh sáng này. Các Thái dương Thiên Thần đã không ‘thụ tinh’ về mặt tinh thần cho tất cả những kẻ sẽ trở thành thành viên của giới thứ tư của bản chất. Một số chưa đủ tiến bộ và những kẻ khác, đến từ Dãy Mặt Trăng, đang chờ lâm phàm trong giai kỳ qui nguyên liên-dãy cho đến một thời điểm muộn hơn.

301. We recall also that objectification occurs through a ‘flashing’ process.

301. Chúng ta cũng nhớ rằng sự khách quan hóa xảy ra qua một tiến trình ‘bừng phát’.

302. We are speaking of the results of the electrical connection between the Planetary Logos of Venus and the Planetary Logos of Earth, with Earth as the positive pole receiving the influence of Venus (in this instance, the negative pole).

302. Chúng ta đang nói về các kết quả của sự nối kết điện giữa Đức Hành Tinh Thượng Đế của Sao Kim và Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất, với Trái Đất là cực dương tiếp nhận ảnh hưởng của Sao Kim (trong trường hợp này là cực âm).

It needed the joint work of the two Heavenly Men, working on buddhic levels (the fourth cosmic ether) to bring about the blazing forth of the light of manas in the causal groups on the fifth cosmic gaseous plane, the mental plane of the solar system.

Cần đến công việc phối hợp của hai Đấng Thiên Nhân, hoạt động trên các cấp độ Bồ đề (dĩ thái vũ trụ thứ tư) để mang lại sự bừng cháy của ánh sáng manas trong các nhóm nguyên nhân trên cõi khí vũ trụ thứ năm, tức cõi trí của hệ mặt trời.

303. VSK remarks: “The effect of a connection on the buddhic causes effect of light on the mental”.

303. VSK nhận xét: “Hiệu quả của một sự nối kết trên cõi Bồ đề gây ra hiệu quả ánh sáng trên cõi trí”.

304. In this instance, the term “Heavenly Men” is equivalent to “Planetary Logoi”.

304. Trong trường hợp này, thuật ngữ “Đấng Thiên Nhân” tương đương với “Các Hành Tinh Thượng Đế”.

305. The Logos of Venus and the Logos of Earth were engaged in “joint work”.

305. Thượng đế của Sao Kim và Thượng đế của Trái Đất đã tham gia vào “công việc phối hợp”.

306. The connection between them was etheric. The buddhic plane is considered a type of etheric plane in relation to both of these Heavenly Men.

306. Sự nối kết giữa các Ngài là dĩ thái. Cõi Bồ đề được xem là một loại cõi dĩ thái trong tương quan với cả hai Đấng Thiên Nhân này.

307. There seems to be a suggestion that the causal groups had been created and existed on the higher mental plane before the interplay between Venus and Earth originating on buddhic levels became effective to promote the “blazing forth o the light of manas”.

307. Dường như có một gợi ý rằng các nhóm nguyên nhân đã được tạo ra và tồn tại trên Cõi thượng trí trước khi sự tương tác giữa Sao Kim và Trái Đất phát sinh trên các cấp độ Bồ đề trở nên hữu hiệu để thúc đẩy “sự bừng cháy của ánh sáng manas”.

308. IF, we are speaking of the process of individualization, then the causal groups seem to have been created before the blaze.

308. NẾU chúng ta đang nói về tiến trình biệt ngã hóa, thì các nhóm nguyên nhân dường như đã được tạo ra trước ngọn lửa bùng lên.

309. This does not really make sense, as there can have been no causal groups without the coming of the Solar Angels, which coming was coeval with the interchange between Venus and Earth.

309. Điều này thực ra không hợp lý, vì không thể có các nhóm nguyên nhân nếu không có sự đến của các Thái dương Thiên Thần, mà sự đến này đồng thời với sự trao đổi giữa Sao Kim và Trái Đất.

310. We could, however, be speaking about a relatively lengthy process, the first part of which saw the creation of the causal groups and the second part of which saw the intensification of manas within those causal groups.

310. Tuy nhiên, chúng ta có thể đang nói về một tiến trình tương đối dài, phần đầu của nó chứng kiến việc tạo ra các nhóm nguyên nhân và phần thứ hai của nó chứng kiến sự tăng cường manas trong các nhóm nguyên nhân ấy.

311. Both processes, then, would be considered related to the joint work of the two Heavenly Men and the coeval coming of the Lords of the Flame (which was the result of the interplay of these two Heavenly Men).

311. Khi đó, cả hai tiến trình đều sẽ được xem là có liên hệ với công việc phối hợp của hai Đấng Thiên Nhân và sự đến đồng thời của các Đấng Chúa Tể của Lửa (vốn là kết quả của sự tương tác giữa hai Đấng Thiên Nhân này).

312. Venus has already achieved much of the buddhic consciousness, planetarily considered. This would have made possible, in relation to Earth, buddhic stimulation.

312. Sao Kim đã đạt được phần lớn tâm thức Bồ đề, xét theo phương diện hành tinh. Điều này hẳn đã làm cho sự kích thích Bồ đề trở nên khả hữu trong tương quan với Trái Đất.

313. We see, importantly, that the light of manas is really derivative of buddhic energy. Along this line we see that the Solar Angels were working buddhically before there was a manasic effect.

313. Điều quan trọng là chúng ta thấy rằng ánh sáng manas thực sự là cái phát sinh từ năng lượng Bồ đề. Theo đường hướng này, chúng ta thấy rằng các Thái dương Thiên Thần đã hoạt động theo Bồ đề trước khi có một hiệu quả manas.

It will be remembered that it was earlier pointed out that the majority of men function consciously on the fifth subplane of the three planes in the three worlds.

Cần nhớ rằng trước đây đã chỉ ra rằng đa số những người nam và nữ hoạt động một cách hữu thức trên cõi phụ thứ năm của ba cõi trong ba cõi thấp.

314. An important statement localizing the majority men in terms of their planar functioning.

314. Một phát biểu quan trọng định vị đa số những người nam và nữ theo phương diện hoạt động cõi giới của họ.

315. This tells us that the majority of men are not yet personalities in the true sense of the word, as this requires the utilization of the number of four—the number of personality.

315. Điều này cho chúng ta biết rằng đa số những người nam và nữ chưa phải là các phàm ngã theo đúng nghĩa của từ này, vì điều này đòi hỏi việc sử dụng con số bốn—con số của phàm ngã.

In them the fifth principle is beginning to function, but not in sufficient force as yet to do more than keep them in line with the electrical force flowing from the fourth cosmic ether down to the next subplane of the cosmic physical.

Trong họ, nguyên khí thứ năm đang bắt đầu hoạt động, nhưng chưa đủ mạnh để làm hơn là giữ họ thẳng hàng với mãnh lực điện chảy từ dĩ thái vũ trụ thứ tư xuống cõi phụ kế tiếp của cõi hồng trần vũ trụ.

316. The fifth principle is dual, as we have seen, manifesting as lower and higher mind.

316. Như chúng ta đã thấy, nguyên khí thứ năm là kép, biểu lộ thành hạ trí và thượng trí.

317. The fifth principle is only beginning to function in the majority of men. This means that the third petal of the egoic lotus is awakening.

317. Nguyên khí thứ năm chỉ mới bắt đầu hoạt động trong đa số những người nam và nữ. Điều này có nghĩa là cánh hoa thứ ba của Hoa Sen Chân Ngã đang thức tỉnh.

318. Still fewer have the higher aspect of the fifth principle active; this would involve soul influence in relation to the personality.

318. Còn ít người hơn nữa có phương diện cao hơn của nguyên khí thứ năm hoạt động; điều này sẽ bao hàm ảnh hưởng của linh hồn trong tương quan với phàm ngã.

319. Buddhic force emanates from the fourth cosmic ether; it flows down to the next cosmic physical sub-plane—the systemic or solar mental plane.

319. Mãnh lực Bồ đề phát ra từ dĩ thái vũ trụ thứ tư; nó chảy xuống cõi phụ kế tiếp của cõi hồng trần vũ trụ—cõi trí của hệ thống hay hệ mặt trời.

320. The majority of human beings, though not truly in the stage of soul development, are at least able to grow normally, and remain aligned with planetary purpose as it is mediated from buddhi to manas.

320. Đa số con người, dù chưa thực sự ở trong giai đoạn phát triển linh hồn, ít nhất vẫn có thể tăng trưởng bình thường, và duy trì sự chỉnh hợp với thiên ý hành tinh khi thiên ý ấy được truyền đạt từ buddhi đến manas.

321. VSK asks: “Is the majority of men, therefore, not able to cause effect (of light) upon the astral?”

321. VSK hỏi: “Vậy thì đa số những người nam và nữ không thể gây ra hiệu quả (của ánh sáng) trên cõi cảm dục sao?”

It must ever be borne in mind that each plane and each subplane which is numerically allied, is embodying the same type of force, and is consequently of the same polarity.

Phải luôn ghi nhớ rằng mỗi cõi và mỗi cõi phụ có liên hệ số học với nhau đều hiện thân cùng một loại mãnh lực, và do đó có cùng cực tính.

322. Here is a clarifying principle. Planes which are numerically allied (as odd numbers are to other odd numbers, and even to even) are “of the same polarity”.

322. Đây là một nguyên lý làm sáng tỏ. Các cõi có liên hệ số học với nhau (như các số lẻ với các số lẻ khác, và các số chẵn với các số chẵn) thì “có cùng cực tính”.

323. We should see if using this schema can help us decipher polar alliances between chakras and planets.

323. Chúng ta nên xem liệu việc sử dụng sơ đồ này có thể giúp chúng ta giải mã các liên minh cực tính giữa các luân xa và các hành tinh hay không.

324. If planes 1-3-5-7. are numerically allied and of the same polarity, then would the planets hierarchically ruling these planes may be numerically allied and of the same polarity? And would the same apply to interpreting the numerical alliance between planets.

324. Nếu các cõi 1-3-5-7. có liên hệ số học với nhau và có cùng cực tính, thì liệu các hành tinh cai quản theo thứ bậc các cõi này cũng có thể có liên hệ số học với nhau và có cùng cực tính không? Và điều tương tự có áp dụng cho việc diễn giải liên minh số học giữa các hành tinh.

325. Perhaps there would be mixed results. Are Vulcan, Saturn, Venus and Uranus all of the same polarity? Are Jupiter, Mercury and Mars all of the same polarity?

325. Có lẽ sẽ có những kết quả pha trộn. Vulcan, Sao Thổ, Sao Kim và Sao Thiên Vương có phải đều cùng một cực tính không? Sao Mộc, Sao Thủy và Sao Hỏa có phải đều cùng một cực tính không?

Again, the astral plane and the buddhic plane are related, as we already know; the astral is negative in relation to the buddhic plane.

Một lần nữa, cõi cảm dục và cõi Bồ đề có liên hệ với nhau, như chúng ta đã biết; cõi cảm dục âm tính trong tương quan với cõi Bồ đề.

326. Here we have two planes related through numerical alliance, yet the lower of the two planes is negative to the higher—i.e., the astral to the buddhic.

326. Ở đây chúng ta có hai cõi liên hệ với nhau qua liên minh số học, nhưng cõi thấp hơn trong hai cõi lại âm tính đối với cõi cao hơn—tức là cõi cảm dục đối với cõi Bồ đề.

When the polarity of the different planes is known, when the polarity of the subplanes is comprehended, and when the interaction between them and the corresponding cosmic planes is grasped, then will man be free, but not before.

Khi cực tính của các cõi khác nhau được biết, khi cực tính của các cõi phụ được thấu hiểu, và khi sự tương tác giữa chúng và các cõi vũ trụ tương ứng được nắm bắt, khi đó con người sẽ được tự do, nhưng không trước đó.

327. What is the freedom here suggested? Is it freedom from the cosmic physical plane?

327. Sự tự do được gợi ý ở đây là gì? Có phải là tự do khỏi cõi hồng trần vũ trụ không?

328. Here is quite an extraordinary statement. It alerts us to the fact that, although we have been given a key which helps us understand which planes and sub-planes are positive and negative and, therefore, which are related to each other in terms of polarity, there is much which remains to be known.

328. Đây là một phát biểu thật phi thường. Nó cảnh báo chúng ta về sự kiện rằng, mặc dù chúng ta đã được trao một chìa khóa giúp hiểu cõi nào và cõi phụ nào là dương hay âm, và do đó cõi nào liên hệ với cõi nào theo phương diện cực tính, vẫn còn rất nhiều điều cần được biết.

329. Is DK speaking of an individual man or of man as humanity?

329. Chân sư DK đang nói về một con người cá biệt hay về con người như nhân loại?

330. We have three levels of planes and sub-planes interacting—cosmic, systemic, and systemic sub-planar.

330. Chúng ta có ba cấp độ cõi và cõi phụ đang tương tác—vũ trụ, hệ thống, và cõi phụ của hệ thống.

331. If we understand resonance, then many of these subtle occult truths related to planar interplay will stand revealed.

331. Nếu chúng ta hiểu sự cộng hưởng, thì nhiều chân lý huyền bí vi tế liên hệ với sự tương tác giữa các cõi này sẽ được mặc khải.

332. DK has given us the hint regarding the numerical alliances between planes and sub-planes, and thus hints regarding the polarity of planes and sub-planes. He has not revealed to us the method of their interplay, which, we can imagine is a profoundly difficult subject.

332. Chân sư DK đã cho chúng ta gợi ý liên quan đến các liên minh số học giữa các cõi và các cõi phụ, và do đó là những gợi ý liên quan đến cực tính của các cõi và các cõi phụ. Ngài chưa mặc khải cho chúng ta phương pháp tương tác của chúng, mà chúng ta có thể hình dung là một chủ đề vô cùng khó khăn.

333. VSK muses: “How can the astral and buddhic be negative and positive to each other? Is not the mental positive to the astral? Is the buddhic negative to the atmic? Is it all relative, e.g., everything below one plane being negative to the higher?”

333. VSK trầm ngâm: “Làm sao cõi cảm dục và cõi Bồ đề có thể âm và dương đối với nhau? Cõi trí chẳng phải dương tính đối với cõi cảm dục sao? Cõi Bồ đề có âm tính đối với cõi atma không? Có phải tất cả đều tương đối, chẳng hạn, mọi thứ ở dưới một cõi đều âm tính đối với cõi cao hơn?”

When the polarity of the ethers to each other and their relationship to the whole is comprehended, human evolution will have run its course.

Khi cực tính của các dĩ thái đối với nhau và mối liên hệ của chúng với toàn thể được thấu hiểu, tiến hoá nhân loại sẽ hoàn tất tiến trình của nó.

334. We are speaking about the consummation of that which is now the fourth kingdom of nature.

334. Chúng ta đang nói về sự hoàn mãn của điều hiện nay là giới thứ tư của bản chất.

335. We may have been given the hint concerning the “polarity of the ethers to each other” but their relationship to the whole is not even minutely grasped.

335. Có thể chúng ta đã được cho gợi ý liên quan đến “cực tính của các dĩ thái đối với nhau” nhưng mối liên hệ của chúng với toàn thể thì thậm chí còn chưa được nắm bắt dù chỉ rất nhỏ.

336. We see how much the fulfilling of the objectives of human evolution has to do with an understanding of and mastery of the ethers.

336. Chúng ta thấy việc hoàn thành các mục tiêu của tiến hoá nhân loại liên hệ nhiều đến mức nào với sự thấu hiểu và làm chủ các dĩ thái.

A Master has solved the problem of electrical phenomena in the three worlds, hence His freedom.

Một Chân sư đã giải quyết vấn đề của các hiện tượng điện trong ba cõi thấp, do đó có được tự do của Ngài.

337. Those who solve the problem of electrical phenomena in relation to the worlds in which those phenomena apply are free of those worlds.

337. Những ai giải quyết được vấn đề của các hiện tượng điện trong tương quan với các thế giới mà những hiện tượng ấy áp dụng thì được tự do khỏi các thế giới ấy.

338. We must remember, regarding the scope of development of a Master—He is only truly free with respect to the development of the three lower worlds.

338. Chúng ta phải nhớ, liên quan đến phạm vi phát triển của một Chân sư—Ngài chỉ thực sự tự do đối với sự phát triển của ba cõi thấp.

339. The seemingly miraculous things which a Master can perform are the result of His mastery of electrical phenomena in the three worlds.

339. Những điều dường như kỳ diệu mà một Chân sư có thể thực hiện là kết quả của sự làm chủ của Ngài đối với các hiện tượng điện trong ba cõi thấp.

Further, when the relationship of the negative form to the positive Spirit is grasped, and their joint connection with the cosmic Entities Who indwell the whole system is somewhat apprehended, group liberation will be achieved.

Hơn nữa, khi mối liên hệ của hình tướng âm tính với Tinh thần dương tính được nắm bắt, và mối liên kết chung của chúng với các Thực Thể vũ trụ đang nội tại trong toàn bộ hệ thống được phần nào lĩnh hội, sự giải thoát nhóm sẽ đạt được.

340. We are receiving certain prophecies of a broad scope.

340. Chúng ta đang tiếp nhận một số lời tiên tri có phạm vi rộng lớn.

341. Positive Spirit and negative form have a relationship. Together they are related to “the cosmic Entities Who indwell the whole system”. That is to say, these cosmic Entities affect both the Spirit and form aspect of various planetary groups, including man.

341. Tinh thần dương tính và hình tướng âm tính có một mối liên hệ. Cùng nhau, chúng liên hệ với “các Thực Thể vũ trụ đang nội tại trong toàn bộ hệ thống”. Nghĩa là, các Thực Thể vũ trụ này tác động đến cả phương diện Tinh thần lẫn hình tướng của nhiều nhóm hành tinh khác nhau, kể cả con người.

342. What is the scope of these cosmic Entities? Are they Planetary Logoi? Are they greater still? Because Planetary Logoi have their causal bodies on the higher part of the cosmic mental plane, we can consider them as cosmic entities.

342. Phạm vi của các Thực Thể vũ trụ này là gì? Các Ngài có phải là Các Hành Tinh Thượng Đế không? Hay còn vĩ đại hơn nữa? Bởi vì Các Hành Tinh Thượng Đế có các thể nguyên nhân của Các Ngài trên phần cao của cõi trí vũ trụ, chúng ta có thể xem Các Ngài là các thực thể vũ trụ.

343. So often when we speak of groups we are speaking in terms of Planetary Logoi or Heavenly Men. It is as we merge into the life of the Heavenly Man that we become increasingly group conscious.

343. Rất thường khi nói về các nhóm, chúng ta đang nói theo phương diện Các Hành Tinh Thượng Đế hay các Đấng Thiên Nhân. Chính khi chúng ta dung hợp vào sự sống của Đấng Thiên Nhân mà chúng ta ngày càng có tâm thức nhóm.

344. It is possible, however, that the cosmic Entities referenced may be of much greater scope than Planetary Logoi. There are many types of groups to be liberated.

344. Tuy nhiên, có thể các Thực Thể vũ trụ được nhắc đến có phạm vi lớn hơn nhiều so với Các Hành Tinh Thượng Đế. Có nhiều loại nhóm cần được giải thoát.

Perhaps in considering this abstruse matter it may [Page 325] help to clarify the point of view if it is recollected that man is essentially positive in his own nature but his vehicles are negative;

Có lẽ khi xem xét vấn đề thâm áo này, điều đó có thể [Page 325] giúp làm sáng tỏ quan điểm nếu nhớ rằng con người về bản chất cốt yếu là dương tính nhưng các vận cụ của y thì âm tính;

345. Again the word “abstruse” is used, and we can only agree. We are reaching far beyond our normal experience in the attempt to fathom certain processes of which we know, really, nothing.

345. Một lần nữa từ “thâm áo” được dùng, và chúng ta chỉ có thể đồng ý. Chúng ta đang vươn xa vượt quá kinh nghiệm bình thường của mình trong nỗ lực dò thấu một số tiến trình mà thực ra chúng ta không biết gì cả.

346. Man contains within himself both the positive and the negative. As a Monad he is positive to every one of his vehicles, even those which express his higher nature.

346. Con người chứa trong chính mình cả cái dương lẫn cái âm. Là một chân thần, y dương tính đối với mọi vận cụ của mình, ngay cả những vận cụ biểu lộ bản chất cao hơn của y.

hence he is the central unit of positive electricity that draws and holds to him atoms of an opposite polarity.

do đó y là đơn vị trung tâm của điện dương, đơn vị thu hút và giữ vào mình các nguyên tử có cực tính đối nghịch.

347. Is it being said that all atoms of whatever sheath are really “atoms of an opposite polarity” when compared to the “central unit of positive electricity”.

347. Có phải ở đây đang nói rằng mọi nguyên tử của bất kỳ vỏ bọc nào thực sự đều là “các nguyên tử có cực tính đối nghịch” khi so với “đơn vị trung tâm của điện dương” không.

348. That “central unit” is necessarily the Spirit/Monad.

348. “Đơn vị trung tâm” ấy tất yếu là Tinh thần/chân thần.

When he has merged and blended the two poles, and produced light of a definite magnitude during any particular incarnation (which magnitude is settled by the Ego prior to incarnation) then obscuration takes place.

Khi y đã hợp nhất và hòa trộn hai cực, và tạo ra ánh sáng có một cường độ xác định trong bất kỳ lần lâm phàm đặc thù nào (mà cường độ ấy được chân ngã ấn định trước khi lâm phàm) thì sự che khuất xảy ra.

349. The purpose of every incarnation is the augmentation of light, or, in other words, an increase in consciousness.

349. Mục đích của mọi lần lâm phàm là sự gia tăng ánh sáng, hay nói cách khác, sự gia tăng tâm thức.

350. The two poles responsible for this augmentation are Spirit/matter.

350. Hai cực chịu trách nhiệm cho sự gia tăng này là tinh thần/vật chất.

351. It would seem that the Ego knows how much ‘we’, the personality (soul in incarnation), will achieve in any one incarnation.

351. Dường như chân ngã biết ‘chúng ta’, phàm ngã (linh hồn đang nhập thể), sẽ đạt được bao nhiêu trong bất kỳ một lần lâm phàm nào.

352. We have no idea what an exact science of light and consciousness is wielded by the Solar Angel as it supervises the development of His charge—the human being.

352. Chúng ta không hề biết khoa học chính xác về ánh sáng và tâm thức được Thái dương Thiên Thần vận dụng đến mức nào khi nó giám sát sự phát triển của đối tượng mà Ngài chăm nom—con người.

The electrical manifestation burns up and destroys the medium, and the light goes out;

Biểu hiện điện đốt cháy và hủy diệt môi giới, và ánh sáng tắt đi;

353. When our body dies, it represents the destruction of a medium for the expression of light. Death is brought about because an “electrical manifestation burns up and destroys the medium”.

353. Khi thân thể của chúng ta chết, điều đó biểu thị sự hủy diệt một môi giới cho sự biểu lộ của ánh sáng. Cái chết được mang lại vì một “biểu hiện điện đốt cháy và hủy diệt môi giới”.

354. Death, too, is an electrical event, an electrical demonstration.

354. Cái chết cũng là một biến cố điện, một sự biểu hiện điện.

355. All life processes in form result from aggregation and de-aggregation. If we think carefully, we shall see that aggregations and de-aggregations are electrically impulsed.

355. Mọi tiến trình sự sống trong hình tướng đều phát sinh từ sự kết tụ và tan rã kết tụ. Nếu suy nghĩ cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng các sự kết tụ và tan rã kết tụ được thúc đẩy bằng điện.

what we call physical death ensues, for the electrical current burns up that which had caused objectivity, and that which shone.

điều mà chúng ta gọi là cái chết hồng trần xảy ra, vì dòng điện đốt cháy cái đã gây ra tính khách quan, và cái đã chiếu sáng.

356. This is such an interesting perspective on the cause of physical death as the human being experiences it, and probably as all atoms experience it!

356. Đây là một góc nhìn thật thú vị về nguyên nhân của cái chết hồng trần như con người trải nghiệm nó, và có lẽ như mọi nguyên tử đều trải nghiệm!

357. In physical death, the medium for the shining forth is burnt up, and the shining, or objectivity, ceases.

357. Trong cái chết hồng trần, môi giới cho sự chiếu sáng bị đốt cháy, và sự chiếu sáng, hay tính khách quan, chấm dứt.

358. There are many different kinds of death, and probably, the burning is found in relation to them all. (We remember at this point, the “burning desire” related to the second or monadic plane.)

358. Có nhiều loại chết khác nhau, và có lẽ sự cháy được tìm thấy trong mối liên hệ với tất cả chúng. (Ở đây chúng ta nhớ đến “khát vọng cháy bỏng” liên hệ với cõi thứ hai hay cõi chân thần.)

359. One thinks of the filament in a light bulb. Current passes through it, and there is objectivity or light. In a way, light is objectivity.

359. Người ta nghĩ đến dây tóc trong một bóng đèn. Dòng điện đi qua nó, và có tính khách quan hay ánh sáng. Theo một cách nào đó, ánh sáng là tính khách quan.

360. But then, at length, the filament (through degradation) can no longer support the current. The filament burns up and light ceases. The analogy is simple but useful.

360. Nhưng rồi, cuối cùng, dây tóc (do sự thoái hóa) không còn có thể nâng đỡ dòng điện nữa. Dây tóc cháy hết và ánh sáng chấm dứt. Phép loại suy này đơn giản nhưng hữu ích.

Let us carry this idea further and realise that these units called men (who are positive as regards their own vehicles) are but the negative cells in the body of a Heavenly Man,

Chúng ta hãy mang ý tưởng này đi xa hơn và nhận ra rằng những đơn vị được gọi là con người này (vốn là dương tính đối với các vận cụ riêng của họ) chỉ là những tế bào âm tính trong thân thể của một Đấng Thiên Nhân,

361. Would DK also call them ‘negative atoms’ or ‘negative electrons’.

361. Liệu Chân sư DK cũng sẽ gọi họ là “những nguyên tử âm tính” hay “những điện tử âm tính” chăng.

362. From a close study of TCF one gathers that such terms as “cells”, “atoms” and “electrons” can be used almost interchangeably.

362. Từ một sự nghiên cứu kỹ lưỡng về TCF, người ta thu nhận rằng những thuật ngữ như “tế bào”, “nguyên tử” và “điện tử” có thể được dùng gần như thay thế cho nhau.

363. Our realization is that positivity and negativity are completely relative. When the point of view changes so does the estimation of polarity.

363. Sự chứng nghiệm của chúng ta là tính dương và tính âm hoàn toàn có tính tương đối. Khi quan điểm thay đổi thì sự đánh giá về cực tính cũng thay đổi.

364. It is important to note that not only are human beings “cells” in the body or chakras of a Heavenly Man, but “negative cells”.

364. Điều quan trọng cần lưu ý là con người không chỉ là những “tế bào” trong thể hay các luân xa của một Đấng Thiên Nhân, mà còn là những “tế bào âm tính”.

365. The Heavenly Man is positive and the human beings, being negative, are attracted to that Heavenly Man.

365. Đấng Thiên Nhân là dương tính và con người, vì là âm tính, bị hút về Đấng Thiên Nhân ấy.

366. The human being as a “central unit of positive electricity” is positive to the atomic constituents of all of his vehicles.

366. Con người như một “đơn vị trung tâm của điện dương” là dương tính đối với các thành phần nguyên tử của mọi vận cụ của y.

367. Human being/atoms of his vehicles = human beings as Monads/Heavenly Man

367. Con người/các nguyên tử của các vận cụ của y = con người như các chân thần/Đấng Thiên Nhân

and are held within His sphere of influence by the force of His electrical life.

và được giữ trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài bởi mãnh lực của sự sống điện của Ngài.

368. The electrical life of the Planetary Logos holds us, a human beings, within His sphere of influences.

368. Sự sống điện của Đức Hành Tinh Thượng Đế giữ chúng ta, là những con người, trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài.

369. The tiny atoms within the vehicles of man are likewise held within the sphere of influence of the man, attracted as they are to his positive center—the Monad—the “central unit of positive electricity”.

369. Những nguyên tử nhỏ bé trong các vận cụ của con người cũng được giữ trong phạm vi ảnh hưởng của con người, vì chúng bị hút về trung tâm dương tính của y—chân thần—“đơn vị trung tâm của điện dương”.

Bear in mind again that the Heavenly Men are thus positive as regards the lesser lives, but in Their turn are negative as regards the greater Life that contains Them.

Hãy lại ghi nhớ rằng các Đấng Thiên Nhân như vậy là dương tính đối với các sự sống nhỏ hơn, nhưng đến lượt Các Ngài lại là âm tính đối với Sự sống lớn hơn chứa đựng Các Ngài.

370. As the ladder ascends, the polarity shifts.

370. Khi chiếc thang đi lên, cực tính dịch chuyển.

371. To what sort of Being are the Heavenly Men merely as negative atoms. It would have to be a being far greater than the Solar Logos; far greater than a Constellational Logos; far greater even than the One About Whom Naught May Be Said.

371. Đối với loại Hữu thể nào mà các Đấng Thiên Nhân chỉ như những nguyên tử âm tính? Đó hẳn phải là một Hữu thể lớn lao hơn rất nhiều so với Thái dương Thượng đế; lớn lao hơn rất nhiều so với một Thượng đế Chòm Sao; thậm chí còn lớn lao hơn cả Đấng Bất Khả Tư Nghị.

Here again is demonstrated the truth of the teaching given by H. P. B.

Ở đây một lần nữa chân lý của giáo huấn do H. P. B. ban ra được chứng minh.

Electric Fire Positive Spirit.

Lửa Điện Dương tính Tinh thần.

Fire by Friction Negative Matter.

Lửa ma sát Âm tính Vật chất.

Solar Fire Light The two blended and thus

Lửa Thái dương Ánh sáng Hai cái hòa trộn và như thế

producing the objective blaze.

tạo ra ngọn lửa khách quan.

372. This is a fundamental tabulation and should be incorporated in consciousness.

372. Đây là một bảng tóm lược nền tảng và nên được hội nhập vào tâm thức.

373. We should try to understand: objectivity is a blaze. That which is seen is a blaze. The result of the blending of Spirit and Matter is a blaze.

373. Chúng ta nên cố gắng thấu hiểu: tính khách quan là một ngọn lửa. Điều được thấy là một ngọn lửa. Kết quả của sự hòa trộn giữa Tinh thần và Vật chất là một ngọn lửa.

We have thus considered the question of the electrical origin of all manifestation in connection with the four higher subplanes of the solar system

Như vậy chúng ta đã xem xét vấn đề về nguồn gốc điện của mọi biểu hiện liên hệ với bốn cõi phụ cao hơn của hệ mặt trời

374. Particularly so (in relation to the four) but we have also hinted at the thought that all planes upon the cosmic physical plane are really an electrical demonstration.

374. Đặc biệt là như vậy (liên hệ với bốn cõi), nhưng chúng ta cũng đã gợi ý tư tưởng rằng mọi cõi trên cõi hồng trần vũ trụ thực sự đều là một sự biểu lộ điện.

375. Once the One was Self-divided, electricity became inevitable.

375. Một khi Đấng Duy Nhất tự phân chia, điện trở thành điều tất yếu.

376. In a way, electricity is simply the means by which the Many re-become the One. It may also be the means by which duality becomes multiplicity.

376. Theo một cách nào đó, điện đơn giản là phương tiện nhờ đó Cái Nhiều lại trở thành Đấng Duy Nhất. Nó cũng có thể là phương tiện nhờ đó nhị nguyên tính trở thành đa thể.

—those four planes which are the four cosmic ethers, and therefore form the body of objectivity of a Heavenly Man in exactly the same sense as the four physical ethers of the solar system form the etheric body of a man.

—bốn cõi ấy là bốn dĩ thái vũ trụ, và do đó tạo thành thể khách quan của một Đấng Thiên Nhân theo đúng cùng ý nghĩa như bốn dĩ thái hồng trần của hệ mặt trời tạo thành thể dĩ thái của con người.

377. What we are coming to understand is that the etheric body is the true “body of objectivity”.

377. Điều chúng ta đang đi đến chỗ thấu hiểu là thể dĩ thái mới là “thể khách quan” đích thực.

378. From this perspective, the three lowest sub-planes of the cosmic physical plane are really a kind of “congestion” in the same way that it was said (systemically) that the three lowest systemic sub-planes were a “congestion”.

378. Từ góc nhìn này, ba cõi phụ thấp nhất của cõi hồng trần vũ trụ thực sự là một loại “sự tắc nghẽn”, cũng giống như đã từng nói (trong hệ) rằng ba cõi phụ thấp nhất của hệ là một “sự tắc nghẽn”.

379. Is it not fascinating that with respect to our Heavenly Man, we have not, most of us, even entered His true “body of objectivity”? We are focussed within the densest reflection of that objectivity, and have not yet achieved buddhic consciousness.

379. Chẳng phải thật hấp dẫn sao khi xét đối với Đấng Thiên Nhân của chúng ta, phần lớn chúng ta thậm chí còn chưa đi vào “thể khách quan” đích thực của Ngài? Chúng ta tập trung trong sự phản chiếu đậm đặc nhất của tính khách quan ấy, và vẫn chưa đạt được tâm thức Bồ đề.

I have here repeated the fact, as its importance has not yet been grasped by the average occult student; this fact—when [Page 326] conceded and realised—serves in a wonderful way to clarify the whole subject of planetary evolution.

Ở đây tôi đã lặp lại sự kiện này, vì tầm quan trọng của nó vẫn chưa được đạo sinh huyền bí học trung bình nắm bắt; sự kiện này—khi được [Page 326] thừa nhận và chứng nghiệm—phục vụ một cách kỳ diệu để làm sáng tỏ toàn bộ chủ đề về tiến hoá hành tinh.

380. The fact is the fact of the ubiquity of electrical demonstration, and the electrical origin of all that can be considered truly principled substance, and even of that which cannot.

380. Sự kiện ấy là sự kiện về tính phổ biến khắp nơi của sự biểu lộ điện, và nguồn gốc điện của mọi điều có thể được xem là chất liệu nguyên khí đích thực, và ngay cả của điều không thể được xem như vậy.

381. Let us attempt to appreciate that DK states He is helping to clarify our minds within respect to the whole subject of planetary evolution. He is doing this because He is sharing with us an understanding of the “electrical origin of all manifestation”—with regard to the four cosmic ethers, at least.

381. Chúng ta hãy cố gắng nhận thức rằng Chân sư DK nói rằng Ngài đang giúp làm sáng tỏ trí tuệ của chúng ta đối với toàn bộ chủ đề về tiến hoá hành tinh. Ngài làm điều này vì Ngài đang chia sẻ với chúng ta một sự thấu hiểu về “nguồn gốc điện của mọi biểu hiện”—ít nhất là đối với bốn dĩ thái vũ trụ.

We have now reached the three planes wherein man functions, or the gaseous, liquid, and dense subplanes of the cosmic physical.

Giờ đây chúng ta đã đạt đến ba cõi nơi con người hoạt động, hay các cõi phụ khí, lỏng và đậm đặc của cõi hồng trần vũ trụ.

382. This gives us some idea of the true province of man. We have far to go. Our major focus is within that which to a Planetary Logos is not even a principle, from the perspectives of the Solar Logos and Planetary Logos.

382. Điều này cho chúng ta một ý niệm nào đó về phạm vi đích thực của con người. Chúng ta còn phải đi rất xa. Trọng tâm chính của chúng ta nằm trong điều mà đối với một Đức Hành Tinh Thượng Đế thậm chí còn không phải là một nguyên khí, xét từ các góc nhìn của Thái dương Thượng đế và Đức Hành Tinh Thượng Đế.

The whole subject of the akasha will be greatly clarified as exoteric science delves into the question of the ethers.

Toàn bộ chủ đề về akasha sẽ được làm sáng tỏ rất nhiều khi khoa học ngoại môn đi sâu vào vấn đề các dĩ thái.

383. Akasha is usually identified as the second ether—whether systemic or cosmic.

383. Akasha thường được đồng nhất với dĩ thái thứ hai—dù là của hệ hay của vũ trụ.

384. Just as the entire cosmic physical plane is etheric (from one perspective) so is everything etheric really akashic. We will have to proceed carefully when dealing with these terms in order to see when they are being use specifically and when generally.

384. Cũng như toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ là dĩ thái (theo một góc nhìn), thì mọi thứ dĩ thái thực ra đều là akashic. Chúng ta sẽ phải tiến hành cẩn trọng khi bàn đến các thuật ngữ này để thấy khi nào chúng được dùng theo nghĩa chuyên biệt và khi nào theo nghĩa tổng quát.

As knowledge of the four types of ethers is available, as the vibratory action of these ethers is realised, and as the details concerning their composition, utilisation, light-bearing capacity,

Khi tri thức về bốn loại dĩ thái trở nên sẵn có, khi tác động rung động của các dĩ thái này được chứng nghiệm, và khi các chi tiết liên quan đến thành phần cấu tạo, sự sử dụng, khả năng mang ánh sáng của chúng,

385. Apparently every ether has a distinctive light-bearing capacity.

385. Hiển nhiên mỗi dĩ thái đều có một khả năng mang ánh sáng đặc thù.

386. What must be know of the four types of ether?

386. Điều gì phải được biết về bốn loại dĩ thái?

a. The vibratory action of each ether

a. Tác động rung động của mỗi dĩ thái

b. The nature of the composition of each ether

b. Bản chất của thành phần cấu tạo của mỗi dĩ thái

c. The nature of the manner in which each ether may be utilized

c. Bản chất của cách thức mà mỗi dĩ thái có thể được sử dụng

d. The light-bearing capacity of each ether

d. Khả năng mang ánh sáng của mỗi dĩ thái

387. We are speaking of developments which lie far into the future.

387. Chúng ta đang nói về những phát triển nằm rất xa trong tương lai.

and the various angles from which they may be studied become known then paralleling knowledge anent the corresponding four cosmic ethers will be forthcoming.

và khi những góc độ khác nhau mà từ đó chúng có thể được nghiên cứu trở nên được biết đến, thì tri thức song hành liên quan đến bốn dĩ thái vũ trụ tương ứng cũng sẽ xuất hiện.

388. We are being told that our avenue to rightly understanding the four cosmic ethers is through an understanding of the systemic ethers.

388. Chúng ta được cho biết rằng con đường để hiểu đúng bốn dĩ thái vũ trụ là thông qua sự thấu hiểu các dĩ thái của hệ.

389. We can wonder whether a theoretical knowledge of the cosmic ethers can assist with our understanding of the systemic ethers.

389. Chúng ta có thể tự hỏi liệu một tri thức lý thuyết về các dĩ thái vũ trụ có thể hỗ trợ cho sự thấu hiểu của chúng ta về các dĩ thái của hệ hay không.

Much concerning them may be deduced from the already apprehended facts which relate to the four solar physical ethers.

Nhiều điều liên quan đến chúng có thể được suy diễn từ những sự kiện đã được lĩnh hội vốn liên hệ với bốn dĩ thái hồng trần thái dương.

390. That which is given on the systemic or solar ethers should be gathered, and analogy made to the cosmic ethers. This would be of great value in bringing us greater understanding of our life upon the seven sub-planes of the cosmic physical plane.

390. Điều được ban ra về các dĩ thái của hệ hay thái dương nên được thu thập, và áp dụng định luật tương đồng cho các dĩ thái vũ trụ. Điều này sẽ có giá trị lớn trong việc đem lại cho chúng ta sự thấu hiểu sâu hơn về đời sống của chúng ta trên bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

391. Probably, quite a deal about Shamballa could be inferred from such a study, for Shamballa manifests, it seems through both the cosmic and solar ethers, especially the former.

391. Có lẽ khá nhiều điều về Shamballa có thể được suy ra từ một nghiên cứu như thế, vì Shamballa biểu hiện, dường như, qua cả các dĩ thái vũ trụ lẫn thái dương, đặc biệt là các dĩ thái trước.

392. The planets most connected with shamballic functioning could be inferred by understanding the nature of the planets most influencing the four systemic ethers.

392. Những hành tinh liên hệ nhiều nhất với hoạt động shamballic có thể được suy ra bằng cách thấu hiểu bản chất của những hành tinh ảnh hưởng mạnh nhất đến bốn dĩ thái của hệ.

For instance, the fourth ether (which is even now being what we might call "discovered"), is at this stage characterised by certain things.

Chẳng hạn, dĩ thái thứ tư (ngay cả lúc này đang được điều mà chúng ta có thể gọi là “khám phá”) ở giai đoạn này được đặc trưng bởi một số điều nhất định.

393. The “discovery” relates to all that the twentieth century has revealed concerning atomic energy.

393. Sự “khám phá” này liên hệ với tất cả những gì thế kỷ hai mươi đã tiết lộ về năng lượng nguyên tử.

394. Fortunately, DK will give us an example of what He means.

394. May mắn thay, Chân sư DK sẽ cho chúng ta một ví dụ về điều Ngài muốn nói.

I might enumerate a few of these facts with exceeding brevity, as follows:

Tôi có thể liệt kê một vài trong số những sự kiện này với sự ngắn gọn tối đa, như sau:

395. We are characterizing the nature of the fourth ether.

395. Chúng ta đang đặc trưng hóa bản chất của dĩ thái thứ tư.

a. It is the ether which the violet ray uses as a medium.

a. Đây là dĩ thái mà cung tím sử dụng như một môi trường.

396. We are given four colors associated with the etheric sub-planes.

396. Chúng ta được cho bốn màu sắc liên kết với các cõi phụ dĩ thái.

At the beginning of this period of recognition, men will principally contact the violet devas, for those of the higher ranks amongst them are definitely making the attempt to contact the human. These devas of the shadows are of a dark purple on the fourth etheric level, of a lighter purple, much the same colour as violet, on the third etheric level, a light violet on the second, whilst on the atomic subplane they are of a glorious translucent lavender. (TCF 912)

Vào lúc bắt đầu thời kỳ nhận biết này, những người nam và nữ sẽ chủ yếu tiếp xúc với các thiên thần tím, vì những vị thuộc các cấp cao hơn trong số họ rõ ràng đang cố gắng tiếp xúc với con người. Những thiên thần của bóng tối này có màu tím sẫm ở cấp độ dĩ thái thứ tư, màu tím nhạt hơn, gần như cùng màu với tím violet, ở cấp độ dĩ thái thứ ba, màu tím violet nhạt ở cấp độ thứ hai, trong khi ở cõi phụ nguyên tử họ có màu oải hương trong suốt huy hoàng. (TCF 912)

397. We notice that in this later reference, DK is somewhat more explicit than earlier, differentiating between “dark purple” and “lighter purple” or violet.

397. Chúng ta nhận thấy rằng trong dẫn chiếu sau này, Chân sư DK có phần minh xác hơn trước, phân biệt giữa “tím sẫm” và “tím nhạt hơn” hay violet.

b. The fourth ether is that whereof the majority of the etheric bodies of men are made.

b. Dĩ thái thứ tư là dĩ thái mà phần lớn các thể dĩ thái của con người được tạo thành từ đó.

398. This suggests that the majority of human beings are controlled by the lower chakras, resident on the fourth ether. This excludes the throat, heart and head chakras which are found on the higher ethers.

398. Điều này gợi ý rằng phần lớn nhân loại bị kiểm soát bởi các luân xa thấp, nằm trên dĩ thái thứ tư. Điều này loại trừ các luân xa cổ họng, tim và đầu vốn được tìm thấy trên các dĩ thái cao hơn.

c. The fourth ether is largely the principal sphere of influence of the "devas of the shadows," or those violet devas which are closely concerned with the physical evolution of man.

c. Dĩ thái thứ tư phần lớn là khối cầu ảnh hưởng chính yếu của “các thiên thần của bóng tối”, hay những thiên thần tím có liên hệ mật thiết với sự tiến hoá hồng trần của con người.

399. We might say that the devas of the shadows (as they presently can express with respect to man) utilize the fourth ether principally—at this time.

399. Chúng ta có thể nói rằng các thiên thần của bóng tối (theo như hiện nay họ có thể biểu lộ đối với con người) chủ yếu sử dụng dĩ thái thứ tư—vào lúc này.

400. Yet all the four ethers are home to the “devas of the shadows”.

400. Tuy nhiên cả bốn dĩ thái đều là nơi cư ngụ của “các thiên thần của bóng tối”.

d. It is the etheric sphere within which, at a little later date, the human and the deva evolutions will touch.

d. Đây là khối cầu dĩ thái mà trong đó, vào một thời điểm muộn hơn đôi chút, hai dòng tiến hoá nhân loại và thiên thần sẽ chạm nhau.

401. DK is telling us that, as of 1922-1925, the human and deva evolutions had not really touched. Their real alliance, we may remember, occurs upon the buddhic plane.

401. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng, tính đến các năm 1922-1925, hai dòng tiến hoá nhân loại và thiên thần vẫn chưa thực sự chạm nhau. Chúng ta có thể nhớ rằng sự liên minh thực sự của họ xảy ra trên cõi Bồ đề.

402. We can see how far we are from the actual consciousness interplay of man and deva.

402. Chúng ta có thể thấy mình còn cách xa đến mức nào đối với sự tương tác tâm thức thực sự giữa con người và thiên thần.

e. From this fourth etheric sphere the dense physical bodies are created.

e. Từ khối cầu dĩ thái thứ tư này, các thể xác đậm đặc được tạo ra.

403. This fourth ether is the point of precipitation. The number four is so often associated with creativity and is related to the number seven, of manifestation.

403. Dĩ thái thứ tư này là điểm ngưng tụ. Con số bốn thường xuyên được liên kết với tính sáng tạo và có liên hệ với con số bảy, của biểu hiện.

f. It is the sphere of physical individualisation. Only when the animal to be individualised was fully conscious on that subplane of the physical plane was it possible to co-ordinate the corresponding spheres on the astral and mental planes and by means of this triple co-ordination to effect the necessary steps which enabled the quaternary to succeed in its effort to approximate the Triad.

f. Đây là khối cầu của sự biệt ngã hóa hồng trần. Chỉ khi con vật sắp được biệt ngã hóa hoàn toàn có tâm thức trên cõi phụ ấy của cõi hồng trần thì mới có thể phối hợp các khối cầu tương ứng trên cõi cảm dục và cõi trí và nhờ sự phối hợp tam phân này mà thực hiện các bước cần thiết, những bước giúp cho bộ tứ thành công trong nỗ lực tiến gần Tam nguyên tinh thần.

404. This is an amazing piece of occult information involving the resonance based on the number four.

404. Đây là một mẩu thông tin huyền bí học đáng kinh ngạc liên quan đến sự cộng hưởng dựa trên con số bốn.

405. It seems surprising, however, to speak of the “animal to be individualized” as fully conscious on the fourth ether—especially since we human beings are now trying to achieve some degree of consciousness in relation to that ether.

405. Tuy nhiên, có vẻ đáng ngạc nhiên khi nói về “con vật sắp được biệt ngã hóa” là hoàn toàn có tâm thức trên dĩ thái thứ tư—đặc biệt khi chúng ta, những con người, hiện nay đang cố đạt được một mức độ tâm thức nào đó liên hệ với dĩ thái ấy.

406. So we must question what it means for the animal to be “fully conscious” on that sub-plane.

406. Vì vậy chúng ta phải đặt câu hỏi điều đó có nghĩa gì khi con vật “hoàn toàn có tâm thức” trên cõi phụ ấy.

407. What we do see is that the event called individualization was an alignment—between the fourth ether, the four sub-plane of the astral plane, the fourth sub-plane of the mental plane and the triad (presumably with some buddhic involvement).

407. Điều chúng ta thực sự thấy là biến cố được gọi là biệt ngã hóa là một sự chỉnh hợp—giữa dĩ thái thứ tư, cõi phụ thứ tư của cõi cảm dục, cõi phụ thứ tư của cõi trí và Tam nguyên tinh thần (có lẽ với một mức độ dự phần nào đó của Bồ đề).

408. It is also reaffirmed that sub-planes are “spheres”.

408. Đồng thời điều này cũng tái khẳng định rằng các cõi phụ là những “khối cầu”.

409. Individualization, we see, is not simply some magical intervention by great Solar Beings, but results from an alignment achieved within the energy system of the pre-human animal.

409. Như chúng ta thấy, biệt ngã hóa không chỉ đơn giản là một sự can thiệp huyền thuật nào đó của các Đấng Thái Dương vĩ đại, mà là kết quả của một sự chỉnh hợp đạt được trong hệ thống năng lượng của con vật tiền nhân loại.

410. We can assume that the etheric brain is involved, just as is that level on the mental plane where on the mental unit (worked up from below) can be found.

410. Chúng ta có thể giả định rằng bộ não dĩ thái có liên hệ, cũng như cấp độ trên cõi trí nơi đơn vị hạ trí (được xây dựng từ bên dưới) có thể được tìm thấy.

411. We remember that DK said He would describe this ether with “exceeding brevity”.

411. Chúng ta nhớ rằng Chân sư DK đã nói Ngài sẽ mô tả dĩ thái này với “sự ngắn gọn tối đa”.

412. When the quaternary approximates the Triad, light breaks forth and individualization occurs.

412. Khi bộ tứ tiến gần Tam nguyên tinh thần, ánh sáng bừng phát và biệt ngã hóa xảy ra.

[Page 327]

[Page 327]

g. This fourth ether in this fourth round and on this fourth chain has to be completely mastered and controlled by the Human Hierarchy, the fourth creative. Every unit of the human family has to attain this mastery before the end of this round.

g. Dĩ thái thứ tư này trong cuộc tuần hoàn thứ tư và trên Dãy Thứ Tư này phải được Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức Huyền Giai Nhân loại, hoàn toàn làm chủ và kiểm soát. Mọi đơn vị của gia đình nhân loại đều phải đạt được sự làm chủ này trước khi cuộc tuần hoàn này chấm dứt.

413. Here we have an objective which applies to every unit of the human family.

413. Ở đây chúng ta có một mục tiêu áp dụng cho mọi đơn vị của gia đình nhân loại.

414. Can those who have not had the spark of mind implanted also be referenced? For they will not achieve until the fifth round? So then are such members of the human race included in the phrase “every unit of the human family”? The “end of this round” is the end of the fourth round.

414. Liệu những kẻ chưa được cấy tia lửa trí tuệ cũng được bao hàm ở đây chăng? Vì họ sẽ không đạt được cho đến cuộc tuần hoàn thứ năm? Vậy thì những thành viên như thế của nhân loại có được bao gồm trong cụm từ “mọi đơn vị của gia đình nhân loại” hay không? “Sự chấm dứt của cuộc tuần hoàn này” là sự chấm dứt của cuộc tuần hoàn thứ tư.

415. Again, we have to understand what “mastery” really means. Will it involve etheric vision?

415. Một lần nữa, chúng ta phải thấu hiểu “sự làm chủ” thực sự có nghĩa là gì. Liệu nó có bao hàm linh thị dĩ thái không?

h. It is the sphere wherein the initiations of the threshold are undergone, and the fivefold initiations of the physical plane are entered upon.

h. Đây là khối cầu trong đó các điểm đạo của ngưỡng cửa được trải qua, và các điểm đạo ngũ phân của cõi hồng trần được bắt đầu.

416. We have to understand the meaning of “initiations of the threshold”. Usually these are the first and second initiations, planetarily considered.

416. Chúng ta phải thấu hiểu ý nghĩa của “các điểm đạo của ngưỡng cửa”. Thông thường đây là lần điểm đạo thứ nhất và lần điểm đạo thứ hai, xét theo hành tinh.

417. If this is the case, may we expect that the third initiation involves the third ether, and in some manner the throat center?

417. Nếu đúng như vậy, liệu chúng ta có thể chờ đợi rằng lần điểm đạo thứ ba liên quan đến dĩ thái thứ ba, và theo một cách nào đó là trung tâm cổ họng chăng?

418. The phrase “initiations of the threshold” seems quite straightforward, but what may be the “fivefold initiations of the physical plane”.

418. Cụm từ “các điểm đạo của ngưỡng cửa” có vẻ khá trực tiếp, nhưng “các điểm đạo ngũ phân của cõi hồng trần” có thể là gì?

419. We are not simply speaking of the five major initiations but of initiations which are “fivefold”. On this, we must ponder.

419. Chúng ta không chỉ đơn thuần nói về năm lần điểm đạo chính mà về những điểm đạo “ngũ phân”. Về điều này, chúng ta phải suy ngẫm.

420. In looking at the structure of the initiation process (as we can through studying Initiation: Human and Solar, do we discern that the process has five phases? If so, we would have one meaning for “the fivefold initiations”.

420. Khi xem xét cấu trúc của tiến trình điểm đạo (như chúng ta có thể làm qua việc nghiên cứu Điểm Đạo: Nhân Loại và Thái Dương,), liệu chúng ta có nhận ra rằng tiến trình ấy có năm giai đoạn không? Nếu vậy, chúng ta sẽ có một ý nghĩa cho “các điểm đạo ngũ phân”.

Much more might be further added to this list, but I have sought only to point out those which can be easily realised as having a correspondence on the buddhic plane, the fourth cosmic ether.

Nhiều điều hơn nữa có thể được thêm vào danh sách này, nhưng tôi chỉ tìm cách nêu ra những điều có thể dễ dàng được chứng nghiệm là có một sự tương ứng trên cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.

421. DK is limiting the scope of His exposition.

421. Chân sư DK đang giới hạn phạm vi trình bày của Ngài.

422. He began this section by comparing the fourth systemic ether with the buddhic plane and has persisted.

422. Ngài đã bắt đầu phần này bằng cách so sánh dĩ thái thứ tư của hệ với cõi Bồ đề và đã kiên trì theo hướng ấy.

It should be borne in mind that our physical plane in its subplanes has its analogy likewise to the entire cosmic physical plane.

Cần ghi nhớ rằng cõi hồng trần của chúng ta trong các cõi phụ của nó cũng có sự tương đồng với toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ.

423. An extended analogy will be offered.

423. Một phép tương đồng mở rộng sẽ được đưa ra.

COSMIC PHYSICAL PLANE

CÕI HỒNG TRẦN VŨ TRỤ

1. Adi First cosmic ether. 1. Atomic subplane First ether.

1. Adi Dĩ thái vũ trụ thứ nhất. 1. Cõi phụ nguyên tử Dĩ thái thứ nhất.

2. Monadic Second cosmic ether. 2. Sub-atomic Second ether.

2. Chân thần Dĩ thái vũ trụ thứ hai. 2. Cõi phụ hạ nguyên tử Dĩ thái thứ hai.

3. Atmic Third cosmic ether. 3. Super-etheric Third ether.

3. Atma Dĩ thái vũ trụ thứ ba. 3. Siêu dĩ thái Dĩ thái thứ ba.

4. Buddhic Fourth cosmic ether. 4. Etheric Fourth ether.

4. Bồ đề Dĩ thái vũ trụ thứ tư. 4. Dĩ thái Dĩ thái thứ tư.

5. Mental Cosmic gaseous. 5. Gaseous.

5. Trí tuệ Khí vũ trụ. 5. Khí.

6. Astral Cosmic liquid. 6. Liquid.

6. Cảm dục Lỏng vũ trụ. 6. Lỏng.

7. Physical Cosmic dense. 7. Dense physical.

7. Hồng trần Đậm đặc vũ trụ. 7. Hồng trần đậm đặc.

424. Probably the substance of this chart has been quite fully absorbed by serious students of TCF.

424. Có lẽ nội dung của biểu đồ này đã được các đạo sinh nghiêm túc của TCF hấp thụ khá đầy đủ.

425. It would repay contemplation to ponder the nature of our systemic mental plane as the cosmic gaseous and our systemic astral plane as the cosmic liquidic.

425. Sẽ rất đáng để chiêm ngưỡng về bản chất của cõi trí của hệ chúng ta như là khí vũ trụ và cõi cảm dục của hệ chúng ta như là lỏng vũ trụ.

426. An entire unit of work is being opened for us. We will be allowed to come to an understanding of systemic and cosmic ethers by comparing them.

426. Cả một đơn vị công việc đang được mở ra cho chúng ta. Chúng ta sẽ được phép đi đến một sự thấu hiểu về các dĩ thái của hệ và của vũ trụ bằng cách so sánh chúng.

The solar physical plane might also be expressed accurately as follows, working out the anaIogy to the major planes:

Cõi hồng trần thái dương cũng có thể được diễn đạt một cách chính xác như sau, triển khai sự tương đồng với các cõi chính:

427. The solar physical plane is identical to the systemic physical plane. The words “solar” and “systemic” are anonymous.

427. Cõi hồng trần thái dương đồng nhất với cõi hồng trần của hệ. Các từ “thái dương” và “của hệ” là đồng nghĩa.

SOLAR PHYSICAL PLANE

CÕI HỒNG TRẦN THÁI DƯƠNG

First subplane atomic first ether physical adi.

Cõi phụ thứ nhất nguyên tử dĩ thái thứ nhất hồng trần adi.

Second subplane sub-atomic second ether physical anupadaka.

Cõi phụ thứ hai hạ nguyên tử dĩ thái thứ hai hồng trần anupadaka.

Third subplane super-etheric third ether physical atmic.

Cõi phụ thứ ba siêu dĩ thái dĩ thái thứ ba hồng trần atma.

Fourth subplane etheric fourth ether physical buddhic.

Cõi phụ thứ tư dĩ thái dĩ thái thứ tư hồng trần Bồ đề.

Fifth subplane gaseous physical mental.

Cõi phụ thứ năm khí hồng trần trí tuệ.

Sixth subplane liquid physical astral.

Cõi phụ thứ sáu lỏng hồng trần cảm dục.

Seventh subplane dense physical dense.

Cõi phụ thứ bảy đậm đặc hồng trần đậm đặc.

428. We are focussing on the solar physical plane. In order to understand its relations to the cosmic physical plane, the plane name of the sub-planes of the cosmic physical plane are superimposed upon the sub-planes of the solar physical plane.

428. Chúng ta đang tập trung vào cõi hồng trần thái dương. Để hiểu các mối liên hệ của nó với cõi hồng trần vũ trụ, tên cõi của các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ được chồng lên các cõi phụ của cõi hồng trần thái dương.

a. In this manner the atomic sub-plane of the systemic physical plane becomes the physical ‘adic’.

a. Theo cách này, cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần của hệ trở thành “adic” hồng trần.

b. The sub-atomic sub-plane of the systemic physical plane becomes the physical anupadakic, etc.

b. Cõi phụ hạ nguyên tử của cõi hồng trần của hệ trở thành anupadakic hồng trần, v.v.

429. In this manner one can relate the qualities of the sub-planes of the cosmic physical plane to the sub-planes of the solar physical plane. A different and perhaps illuminating perspective is offered.

429. Theo cách này người ta có thể liên hệ các phẩm tính của các cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ với các cõi phụ của cõi hồng trần thái dương. Một góc nhìn khác, và có lẽ soi sáng, được đưa ra.

430. One of the great questions to be asked is: “What do you learn when you compare this with that?”

430. Một trong những câu hỏi lớn cần được đặt ra là: “Các bạn học được điều gì khi các bạn so sánh cái này với cái kia?”

431. Now when we think of the physical ethers and sub-planes, we can also reference the qualities associated with adi, anupadaka, atmic, buddhic, mental, astral and dense and learn something additional regarding their constitution and functioning.

431. Giờ đây khi nghĩ đến các dĩ thái và các cõi phụ hồng trần, chúng ta cũng có thể quy chiếu đến các phẩm tính liên kết với adi, anupadaka, atma, Bồ đề, trí tuệ, cảm dục và đậm đặc, và học thêm điều gì đó liên quan đến cấu tạo và hoạt động của chúng.

[Page 328] In both the cosmic and solar physical planes, the plane of buddhi is ever the plane of at-one-ment, or the meeting ground of diversities, and of their blending—not into a fundamental unity—but into group unity.

[Page 328] Trong cả cõi hồng trần vũ trụ lẫn cõi hồng trần thái dương, cõi Bồ đề luôn luôn là cõi của sự hợp nhất, hay nơi gặp gỡ của các dị biệt, và của sự hòa trộn chúng—không phải thành một hợp nhất căn bản—mà thành sự hợp nhất nhóm.

432. Here we have a very useful description of what buddhi does.

432. Ở đây chúng ta có một mô tả rất hữu ích về điều mà Bồ đề thực hiện.

433. Here is a most important definition of buddhi, the “Plane of Harmony”.

433. Đây là một định nghĩa hết sức quan trọng về Bồ đề, “Cõi của Hài Hòa”.

434. On the buddhic plane, diversities are reconcile and blended.

434. Trên cõi Bồ đề, các dị biệt được hòa giải và hòa trộn.

435. From a practical perspective, we can see how much the energy of buddhi is needed to resolve the difficulties plaguing the human family.

435. Từ một góc nhìn thực tiễn, chúng ta có thể thấy năng lượng của Bồ đề cần thiết biết bao để giải quyết những khó khăn đang gây khổ cho gia đình nhân loại.

436. These diversities are not blended into a “fundamental unity” as is the case on the monadic plane (a plane of greater homogeneity), but, rather into a “group unity”.

436. Những dị biệt này không được hòa trộn thành một “hợp nhất căn bản” như trường hợp trên cõi chân thần (một cõi có tính đồng nhất lớn hơn), mà đúng hơn thành một sự hợp nhất “nhóm”.

437. The monadic plane is the plane of fundamental unity. Group unity (which is heterogeneous) is not as far advanced as fundamental unity (which is homogeneous). Buddhi is related to group consciousness; the fundamental unity is related to monadic consciousness which is, as far as the human being is concerned, ‘God-consciousness’.

437. Cõi chân thần là cõi của sự hợp nhất căn bản. Sự hợp nhất nhóm (vốn dị thể) chưa tiến xa bằng sự hợp nhất căn bản (vốn đồng thể). Bồ đề liên hệ với tâm thức nhóm; sự hợp nhất căn bản liên hệ với tâm thức chân thần, vốn, xét theo con người, là “tâm thức Thượng đế”.

438. The buddhic plane is preeminently the plane of group consciousness.

438. Cõi Bồ đề nổi bật hơn hết là cõi của tâm thức nhóm.

439. Let us tabulate the characteristics of the buddhic plane:

439. Chúng ta hãy lập bảng các đặc tính của cõi Bồ đề:

a. The plane of at-one-ment

a. Cõi của sự hợp nhất

b. The plane of the meeting ground of diversities

b. Cõi của nơi gặp gỡ của các dị biệt

c. The plane of the blending of diversities into a group unity

c. Cõi của sự hòa trộn các dị biệt thành một sự hợp nhất nhóm

d. It is not the plane of the blending of diversities into a fundamental unity

d. Không phải là cõi của sự hòa trộn các dị biệt thành một sự hợp nhất căn bản

This is owing to the fact that the buddhic plane is pre-eminently the plane most concerned with the evolution of the Heavenly Men.

Điều này là do cõi Bồ đề nổi bật hơn hết là cõi liên quan mật thiết nhất đến sự tiến hoá của các Đấng Thiên Nhân.

440. This is ever to be remembered.

440. Điều này luôn luôn phải được ghi nhớ.

441. Of course, we may question, which of the Heavenly Men are here referenced? Globe Lords? Chain Lords? Planetary Logoi?

441. Dĩ nhiên, chúng ta có thể đặt câu hỏi, những Đấng Thiên Nhân nào được nói đến ở đây? Các Chúa Tể Bầu Hành Tinh? Các Chúa Tể Dãy? Các Hành Tinh Thượng Đế?

442. In a way, all of them are one Entity, expressed through various subsidiary aspects.

442. Theo một nghĩa nào đó, tất cả Các Ngài là một Thực Thể, được biểu lộ qua nhiều phương diện phụ thuộc khác nhau.

443. As a human being develops the capacity for group consciousness, he is simultaneously entering into the consciousness of the Heavenly Man.

443. Khi một con người phát triển năng lực tâm thức nhóm, y đồng thời đang đi vào tâm thức của Đấng Thiên Nhân.

What I have therefore predicated anent the fourth physical ether can likewise be extended to the fourth cosmic ether, and find its analogy on the buddhic plane.

Vì vậy, điều tôi đã khẳng định liên quan đến dĩ thái hồng trần thứ tư cũng có thể được mở rộng đến dĩ thái vũ trụ thứ tư, và tìm thấy sự tương đồng của nó trên cõi Bồ đề.

444. A close study of what was said about the qualities and characteristics of the fourth ether can be extrapolated to more fully understand the buddhic plane.

444. Việc nghiên cứu kỹ lưỡng những gì đã được nói về các phẩm tính và đặc điểm của dĩ thái thứ tư có thể được ngoại suy để thấu hiểu đầy đủ hơn cõi Bồ đề.

a. On the buddhic plane the presence of the colour violet (or deep purple) can also be expected. The violet devas functioning there would, of course, be of a higher order than those to be found expressing through the strictly systemic ethers. Could the violet devas with whom the Master Jesus works be found working in relation to the buddhic plane?

a. Trên cõi Bồ đề, sự hiện diện của màu tím (hay tím sẫm) cũng có thể được chờ đợi. Các thiên thần tím hoạt động ở đó dĩ nhiên sẽ thuộc một cấp bậc cao hơn những vị được tìm thấy đang biểu lộ qua các dĩ thái thuần túy của hệ. Liệu các thiên thần tím mà Đức Jesus làm việc cùng có thể được thấy đang hoạt động trong liên hệ với cõi Bồ đề chăng?

A special group of devas work under His command, and His connection with all true church leaders and executives is very close. He acts ceaselessly on the inner esoteric council of the churches, and with Him the groups of violet angels cooperate. (EXH 506)

Một nhóm thiên thần đặc biệt hoạt động dưới quyền chỉ huy của Ngài, và mối liên hệ của Ngài với tất cả các nhà lãnh đạo và điều hành chân chính của giáo hội là rất mật thiết. Ngài hành động không ngừng trong hội đồng huyền bí nội tại của các giáo hội, và cùng với Ngài các nhóm thiên thần tím hợp tác. (EXH 506)

b. If the majority of etheric bodies of human beings are to be found composed of etheric substance of the fourth ether, could we expect that the majority of the bodies of the Heavenly Men would be found to consist of buddhic substance, the substance of the fourth cosmic ether? This would probably apply most to those Heavenly Men who represent the lower quaternary of the Solar Logos. Four of the lower chakras are found in the fourth ether of man: the base of the spine center, the sacral center, the splenic center and the solar plexus center. The planets representing these chakras would probably have etheric bodies composed of buddhic substance. The planets representing the throat, heart and head centers would, by analogy, have etheric bodies composed of substance of the higher cosmic ethers—the planet representing the throat center having an etheric body composed of atmic substance; the planet representing the heart center having an etheric body composed of monadic substance, and the planet representing the head center having an etheric body composed of logoic substance. At least this is what the analogy suggests.

b. Nếu đa số các thể dĩ thái của con người được thấy là cấu tạo bằng chất liệu dĩ thái của dĩ thái thứ tư, thì liệu chúng ta có thể chờ đợi rằng đa số các thể của các Đấng Thiên Nhân sẽ được thấy là gồm chất liệu Bồ đề, chất liệu của dĩ thái vũ trụ thứ tư chăng? Điều này có lẽ áp dụng nhiều nhất cho những Đấng Thiên Nhân đại diện cho bộ bốn thấp của Thái dương Thượng đế. Bốn luân xa thấp được tìm thấy trong dĩ thái thứ tư của con người: trung tâm đáy cột sống, trung tâm xương cùng, trung tâm lá lách và trung tâm tùng thái dương. Các hành tinh đại diện cho các luân xa này có lẽ sẽ có thể dĩ thái được cấu tạo bằng chất liệu Bồ đề. Các hành tinh đại diện cho các trung tâm cổ họng, tim và đầu, theo tương đồng, sẽ có các thể dĩ thái được cấu tạo bằng chất liệu của các dĩ thái vũ trụ cao hơn—hành tinh đại diện cho trung tâm cổ họng có thể dĩ thái được cấu tạo bằng chất liệu atma; hành tinh đại diện cho trung tâm tim có thể dĩ thái được cấu tạo bằng chất liệu chân thần, và hành tinh đại diện cho trung tâm đầu có thể dĩ thái được cấu tạo bằng chất liệu logoi. Ít nhất, đó là điều mà sự tương đồng gợi ý.

It is possible to consider the systemic higher mental plane as a kind of ether with respect to the Planetary Logoi. This has yet to be confirmed, but appears an analogical necessity. Some of the lowest of the Planetary Logoi would then, it would appear, have etheric bodies composed of substance of the higher mental plane, which is vibratorily ‘lower’ than buddhic substance.

Có thể xem cõi thượng trí của hệ như một loại dĩ thái đối với các Hành Tinh Thượng Đế. Điều này vẫn chưa được xác nhận, nhưng dường như là một tất yếu theo tương đồng. Khi ấy, dường như một số Hành Tinh Thượng Đế thấp nhất sẽ có các thể dĩ thái được cấu tạo bằng chất liệu của cõi thượng trí, vốn có rung động “thấp” hơn chất liệu Bồ đề.

c. On the buddhic plane we could likewise expect to find the higher correspondences of the “devas of the shadows”. We learn the colors o the devas of the shadows in the following:

c. Trên cõi Bồ đề, tương tự như vậy, chúng ta cũng có thể chờ đợi tìm thấy các tương ứng cao hơn của “các thiên thần của bóng tối”. Chúng ta biết các màu sắc của các thiên thần của bóng tối trong đoạn sau:

“These devas of the shadows are of a dark purple on the fourth etheric level, of a lighter purple, much the same colour as violet, on the third etheric level, a light violet on the second, whilst on the atomic subplane they are of a glorious translucent lavender.: (TCF 912)

“Các thiên thần của bóng tối này có màu tím sẫm ở cấp dĩ thái thứ tư, màu tím nhạt hơn, gần như cùng màu với tím violet, ở cấp dĩ thái thứ ba, tím nhạt ở cấp thứ hai, còn ở cõi phụ nguyên tử thì chúng có màu oải hương trong suốt rực rỡ.” (TCF 912)

By analogy we would expect to find the colour “dark purple” in relation to the buddhic plane.

Theo tương đồng, chúng ta sẽ chờ đợi tìm thấy màu “tím sẫm” trong liên hệ với cõi Bồ đề.

d. If the fourth ether is the sphere were the human and deva evolutions will touch (at a later date), then perhaps the buddhic plane is the plane whereon the Heavenly Men and a higher kind of deva evolution will touch (at a later date).

d. Nếu dĩ thái thứ tư là khối cầu nơi các tiến hoá nhân loại và thiên thần sẽ tiếp xúc nhau (vào một thời điểm sau này), thì có lẽ cõi Bồ đề là cõi nơi các Đấng Thiên Nhân và một loại tiến hoá thiên thần cao hơn sẽ tiếp xúc nhau (vào một thời điểm sau này).

e. If from the fourth ether the dense physical bodies of man are created, then perhaps from the fourth cosmic ether, the buddhic plane, the dense physical bodies of the Planetary Logoi are created. (As always there is the need to consider the higher mental plane and its unique role in relation to the Heavenly Men—a role it does not have in relation to the Solar Logos).

e. Nếu từ dĩ thái thứ tư mà các thể xác đậm đặc của con người được tạo ra, thì có lẽ từ dĩ thái vũ trụ thứ tư, tức cõi Bồ đề, mà các thể xác đậm đặc của các Hành Tinh Thượng Đế được tạo ra. (Như mọi khi, cần phải xét đến cõi thượng trí và vai trò độc đáo của nó trong liên hệ với các Đấng Thiên Nhân—một vai trò mà nó không có trong liên hệ với Thái dương Thượng đế).

f. The fourth systemic ether is considered the sphere of individualization. What is the correspondence to individualization for the Heavenly Men? They are already individualized (long ago, in the human sense), yet there may be a kind of cosmic individualization which pertains to the Heavenly Men and which admits them for the first time into a type of systemic consciousness which is analogous to the individualized consciousness of the newly made human being.

f. Dĩ thái thứ tư của hệ được xem là khối cầu của sự biệt ngã hóa. Tương ứng với sự biệt ngã hóa đối với các Đấng Thiên Nhân là gì? Các Ngài đã được biệt ngã hóa rồi (từ lâu, theo nghĩa nhân loại), tuy nhiên có thể có một loại biệt ngã hóa vũ trụ nào đó thuộc về các Đấng Thiên Nhân và lần đầu tiên đưa Các Ngài vào một loại tâm thức hệ, tương tự với tâm thức biệt ngã hóa của con người vừa mới được tạo thành.

g. If the fourth ether in this round and on this fourth chain is the ether that is to be completely mastered and controlled by the Fourth Creative Hierarchy, then, perhaps, the buddhic plane is the domain that is to be completely mastered and controlled by certain of the Heavenly Men who will be completing the higher correspondence to a chain round—namely a scheme round—of which, presumably there are seven, just as there are seven chain rounds.

g. Nếu dĩ thái thứ tư trong cuộc tuần hoàn này và trên dãy thứ tư này là dĩ thái sẽ được Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hoàn toàn làm chủ và kiểm soát, thì có lẽ cõi Bồ đề là lãnh vực sẽ được một số Đấng Thiên Nhân hoàn toàn làm chủ và kiểm soát, những Đấng sẽ hoàn tất sự tương ứng cao hơn với một cuộc tuần hoàn của dãy—tức là một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh—mà có lẽ có bảy, cũng như có bảy cuộc tuần hoàn của dãy.

h. If the fourth ether is for man the vibratory domain whereon the initiations of the threshold are undergone (these initiations being the first and second planetary initiations), then for Heavenly Men perhaps the buddhic plane is, at least, one of the domains in which corresponding initiations of the threshold are undergone, in the cosmic scheme of initiations.

h. Nếu dĩ thái thứ tư là đối với con người lãnh vực rung động nơi các điểm đạo của ngưỡng cửa được trải qua (các điểm đạo này là các lần điểm đạo hành tinh thứ nhất và thứ hai), thì đối với các Đấng Thiên Nhân, có lẽ cõi Bồ đề ít nhất là một trong những lãnh vực mà các điểm đạo tương ứng của ngưỡng cửa được trải qua, trong hệ điểm đạo vũ trụ.

Our Planetary Logos, for instance, has taken His first cosmic initiation, but is in process of preparing for His second (cf. TCF 384). Both of these are, by analogy, initiations “of the threshold”, cosmically considered. Since our Planetary Logos is engaged with initiations of the threshold, then, by analogy, the buddhic plane would be one which would be focal in this process. It is also possible that the higher mental plane is the plane in relation to which He took His first cosmic initiation.

Chẳng hạn, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đã nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất của Ngài, nhưng đang trong tiến trình chuẩn bị cho lần thứ hai của Ngài (x. TCF 384). Theo tương đồng, cả hai đều là những điểm đạo “của ngưỡng cửa”, xét theo vũ trụ. Vì Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta đang dấn thân vào các điểm đạo của ngưỡng cửa, nên theo tương đồng, cõi Bồ đề sẽ là một cõi giữ vai trò tiêu điểm trong tiến trình này. Cũng có thể cõi thượng trí là cõi liên hệ với đó mà Ngài đã nhận lần điểm đạo vũ trụ thứ nhất của Ngài.

445. We see how the analogies work. What has been suggested here is only a slight indication which could be expanded considerably.

445. Chúng ta thấy các sự tương đồng vận hành như thế nào. Điều được gợi ý ở đây chỉ là một chỉ dẫn nhỏ, có thể được khai triển đáng kể.

The place, for instance, of violet in the spectrum is of prime importance in connection with the greater cycles, and marks the end of a cycle and the beginning of a new one.

Chẳng hạn, vị trí của màu tím trong quang phổ có tầm quan trọng hàng đầu liên quan đến các chu kỳ lớn hơn, và đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ và sự khởi đầu của một chu kỳ mới.

446. We are not only speaking of violet, but of the place of “violet in the spectrum”. It is the last of the visible colours in the spectrum before red begins again (assuming that we progress in colour octaves).

446. Chúng ta không chỉ nói về màu tím, mà còn về vị trí của “màu tím trong quang phổ”. Đó là màu cuối cùng trong các màu khả kiến của quang phổ trước khi màu đỏ lại bắt đầu (giả sử rằng chúng ta tiến triển theo các quãng tám màu sắc).

447. We are now speaking not only of violet in relation to the solar etheric planets, but in relation to the buddhic plane considered as a cosmic ether.

447. Giờ đây chúng ta đang nói không chỉ về màu tím trong liên hệ với các hành tinh dĩ thái thái dương, mà còn trong liên hệ với cõi Bồ đề được xem như một dĩ thái vũ trụ.

448. We see that violet is not only involved with sub-planes of the systemic physical-etheric plane, but that it has a buddhic association.

448. Chúng ta thấy rằng màu tím không chỉ liên quan đến các cõi phụ của cõi hồng trần-dĩ thái của hệ, mà còn có một liên hệ với Bồ đề.

449. Because the seventh ray will be prominent for the next 2500. years or so, violet will be an important color during the Aquarian Age.

449. Bởi vì cung bảy sẽ nổi bật trong khoảng 2500. năm tới hoặc hơn, màu tím sẽ là một màu quan trọng trong Kỷ Nguyên Bảo Bình.

450. There is also, however, a much greater Aquarian Age (beginning at approximately this point in history) which has a span of 25,000. years. Reasonably, violet will be an important color during this greater cycle, especially if a greater seventh ray cycle accompanying the greater Aquarian Age, just as a lesser seventh ray cycle accompanies the lesser zodiacal Age of Aquarius. This, however, has yet to be ascertained.

450. Tuy nhiên, cũng có một Kỷ Nguyên Bảo Bình lớn hơn nhiều (bắt đầu vào khoảng thời điểm này trong lịch sử) có chu kỳ 25,000. năm. Một cách hợp lý, màu tím sẽ là một màu quan trọng trong chu kỳ lớn hơn này, đặc biệt nếu có một chu kỳ cung bảy lớn hơn đi kèm với Kỷ Nguyên Bảo Bình lớn hơn, cũng như một chu kỳ cung bảy nhỏ hơn đi kèm với Kỷ Nguyên Bảo Bình hoàng đạo nhỏ hơn. Tuy nhiên, điều này vẫn còn phải được xác định.

451. The first ray and the seventh rays are involved with the inauguration of cycles (especially the first ray) and their termination (both the first and seventh rays).

451. Cung một và cung bảy liên quan đến việc khai mở các chu kỳ (đặc biệt là cung một) và sự chấm dứt của chúng (cả cung một lẫn cung bảy).

452. It would seem that since the seventh ray is the final ray of the seven, violet would be much seen at the end of a cycle.

452. Có vẻ như vì cung bảy là cung cuối cùng trong bảy cung, nên màu tím sẽ được thấy nhiều vào cuối một chu kỳ.

453. The head center, usually associated with the first ray, is also much associated with the color violet (and white).

453. Trung tâm đầu, thường được liên kết với cung một, cũng được liên kết nhiều với màu tím (và trắng).

The buddhic plane is peculiarly the plane of violet, even though all the colours find their place there;

Cõi Bồ đề đặc biệt là cõi của màu tím, mặc dù mọi màu sắc đều tìm thấy chỗ đứng của chúng ở đó;

454. The buddhic plane is the fourth plane, and the number four is particularly associated with colour and with a love of colour.

454. Cõi Bồ đề là cõi thứ tư, và số bốn đặc biệt liên hệ với màu sắc và với tình yêu đối với màu sắc.

455. DK has enquired whether the buddhic plane should be considered violet, blue or yellow. Here He gives us, apparently, its strongest emphasis, but the other two colors (through Jupiter and Mercury respectively) have their justifiable association with buddhi.

455. Chân sư DK đã hỏi liệu cõi Bồ đề nên được xem là tím, xanh lam hay vàng. Ở đây, dường như Ngài cho chúng ta thấy điểm nhấn mạnh nhất của nó, nhưng hai màu kia (qua Sao Mộc và Sao Thủy tương ứng) cũng có mối liên hệ chính đáng với Bồ đề.

456. The fourth and seventh rays (the two practically artistic rays) work together frequently, and are rays on which the deva evolution can readily approached.

456. Cung bốn và cung bảy (hai cung thực tiễn có tính nghệ thuật) thường xuyên cùng hoạt động, và là những cung mà tiến hoá thiên thần có thể được tiếp cận một cách dễ dàng.

the Lord of the Ray of Ceremonial Magic, Who embodies the violet ray or hierarchy, has a special relationship to the buddhic plane.

Đấng Chúa Tể của Cung Huyền Thuật Nghi Lễ, Đấng hiện thân cho cung tím hay huyền giai tím, có một mối liên hệ đặc biệt với cõi Bồ đề.

457. The four and the seven are ever related.

457. Số bốn và số bảy luôn luôn liên hệ với nhau.

458. We are told of the special relationship of the Lord of the Ray of Ceremonial Magic to the buddhic plane, but we must not forget that the physical-etheric plane is also a plane on which the violet ray is peculiarly expressed, as given in EA 35. (Aquarius: Planet—Moon; Color—Violet).

458. Chúng ta được cho biết về mối liên hệ đặc biệt của Đấng Chúa Tể của Cung Huyền Thuật Nghi Lễ với cõi Bồ đề, nhưng chúng ta không được quên rằng cõi hồng trần-dĩ thái cũng là một cõi mà cung tím được biểu lộ một cách đặc biệt, như được nêu trong EA 35. (Bảo Bình: Hành tinh—Mặt Trăng; Màu sắc—Tím).

459. Probably, the color which should be most naturally associated with any particular plane or sub-plane depends upon the type of entity we are examining. For man, the buddhic plane may be more yellow than violet; for the Planetary Logos more blue, and for the Solar Logos more violet. VSK insightfully explains some of these mysteries of colour below.

459. Có lẽ màu sắc nên được liên kết một cách tự nhiên nhất với bất kỳ cõi hay cõi phụ nào tùy thuộc vào loại thực thể mà chúng ta đang khảo sát. Đối với con người, cõi Bồ đề có thể vàng hơn tím; đối với Hành Tinh Thượng Đế thì xanh lam hơn, và đối với Thái dương Thượng đế thì tím hơn. VSK giải thích một cách sâu sắc một số huyền nhiệm màu sắc này dưới đây.

It must be borne in mind that each planetary Logos works primarily on one of the seven planes; from this we can infer that His influence finds its line of least resistance on some one plane, even though it be exerted on all planes.

Cần ghi nhớ rằng mỗi Hành Tinh Thượng Đế hoạt động chủ yếu trên một trong bảy cõi; từ đó chúng ta có thể suy ra rằng ảnh hưởng của Ngài tìm thấy con đường ít trở ngại nhất của nó trên một cõi nào đó, dù ảnh hưởng ấy được vận dụng trên mọi cõi.

460. This is a bit like saying that every planet works primarily through one chakra (for chakras, like planes, are spheres), but that their influence can be exerted through all.

460. Điều này hơi giống như nói rằng mỗi hành tinh hoạt động chủ yếu qua một luân xa (vì các luân xa, cũng như các cõi, đều là các khối cầu), nhưng ảnh hưởng của chúng có thể được vận dụng qua tất cả.

461. We could say, as well, that every ray works primarily on one of the seven planes which is its line of least resistance, but that its influence can be exerted on all planes.

461. Chúng ta cũng có thể nói rằng mỗi cung hoạt động chủ yếu trên một trong bảy cõi, là con đường ít trở ngại nhất của nó, nhưng ảnh hưởng của nó có thể được vận dụng trên mọi cõi.

462. Rays, planes, planets, chains, globes, chakras are all spheres in relation to which a parallelism exists. Much that could be said of any one of them could be said of all of them.

462. Các cung, các cõi, các hành tinh, các dãy, các bầu hành tinh, các luân xa đều là những khối cầu mà trong liên hệ với chúng có một sự song hành tồn tại. Nhiều điều có thể nói về bất kỳ một cái nào trong số đó cũng có thể nói về tất cả chúng.

463. VSK offers some important thoughts about color.

463. VSK đưa ra một số tư tưởng quan trọng về màu sắc.

a. The spectrum, in order of appearance from infrared, the longest of the frequencies, is (in terms of the seven colours) red, orange, yellow, green, blue, indigo, violet.

a. Quang phổ, theo thứ tự xuất hiện từ hồng ngoại, dài nhất trong các tần số, là (xét theo bảy màu) đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím.

b. Violet is the end of normal visibility, as man’s eye does not detect ultraviolet (yet many fish do, e.g.). In this way it can be considered the end and a beginning (as red would also be in this context).

b. Màu tím là điểm cuối của khả kiến thông thường, vì mắt người không nhận ra tia cực tím (dù nhiều loài cá thì có, chẳng hạn). Theo cách này, nó có thể được xem là điểm cuối và là một khởi đầu (cũng như màu đỏ trong bối cảnh này).

c. VSK suggests that violet is the colour of the buddhic plane for the Solar Logos, as the buddhic is His lowest level of manifestation. For the Planetary or Heavenly Man, it is Blue (As his lowest level of manifestation is mental), and for man, Yellow. Vic could explain this in terms of the table on page TCF 331, coming up, and research on the colours from LOM.)

c. VSK gợi ý rằng màu tím là màu của cõi Bồ đề đối với Thái dương Thượng đế, vì Bồ đề là cấp biểu lộ thấp nhất của Ngài. Đối với Hành Tinh hay Đấng Thiên Nhân, đó là màu Lam (vì cấp biểu lộ thấp nhất của Ngài là cõi trí), và đối với con người, là màu Vàng. Vic có thể giải thích điều này theo bảng ở trang TCF 331, sắp tới, và nghiên cứu về các màu từ LOM.)

464. We see that although violet has the highest frequency of the visible colors, it is always associated with the lowest plane. There are some strange inversions with which we must reckon.

464. Chúng ta thấy rằng mặc dù màu tím có tần số cao nhất trong các màu khả kiến, nó luôn luôn được liên kết với cõi thấp nhất. Có một số đảo ngược kỳ lạ mà chúng ta phải tính đến.

465. I would like to state that point “c.” demonstrates that VSK has cracked an important code in relation to the colors of the planes. The question must always be asked: “What is the color of a plane in relation to a specific being?”

465. Tôi muốn nói rằng điểm “c.” chứng minh rằng VSK đã giải được một mật mã quan trọng liên quan đến màu sắc của các cõi. Câu hỏi luôn luôn phải được đặt ra là: “Màu của một cõi là gì trong liên hệ với một hữu thể cụ thể?”

Again, extend the second statement anent the etheric composition of the bodies of men to Those of the Heavenly Men, and it will be found that just as the majority of human etheric bodies are built of matter of the fourth ether, so it may also be said that four of the Heavenly Men have Their etheric vehicles composed of this fourth cosmic ether (buddhic matter).

Một lần nữa, hãy mở rộng phát biểu thứ hai liên quan đến thành phần dĩ thái của các thể người sang các thể của các Đấng Thiên Nhân, và sẽ thấy rằng cũng như đa số các thể dĩ thái của con người được kiến tạo bằng vật chất của dĩ thái thứ tư, thì cũng có thể nói rằng bốn Đấng Thiên Nhân có các vận cụ dĩ thái của Các Ngài được cấu tạo bằng dĩ thái vũ trụ thứ tư này (vật chất Bồ đề).

466. Which four? May we assume the members of the lower quaternary?

466. Bốn vị nào? Chúng ta có thể giả định đó là các thành viên của bộ bốn thấp chăng?

467. This was stated above. The division among the sacred Heavenly Men appears to be between three superior and four lesser.

467. Điều này đã được nêu ở trên. Sự phân chia giữa các Đấng Thiên Nhân thiêng liêng dường như là giữa ba vị cao hơn và bốn vị thấp hơn.

468. The Heavenly Men which may here be indicated are Vulcan Mercury, Venus, Jupiter.

468. Các Đấng Thiên Nhân có thể được chỉ ra ở đây là Vulcan, Sao Thủy, Sao Kim, Sao Mộc.

469. The other three Heavenly Men are the Logoi of synthesizing planets and may, we could imagine, have etheric bodies composed of matter of the higher cosmic ethers.

469. Ba Đấng Thiên Nhân còn lại là các Thượng đế của các hành tinh tổng hợp và, như chúng ta có thể hình dung, có thể có các thể dĩ thái được cấu tạo bằng vật chất của các dĩ thái vũ trụ cao hơn.

470. Four Heavenly Men (among the sacred Heavenly Men) is a majority, just as the majority of human etheric bodies are built of matter of the fourth ether.

470. Bốn Đấng Thiên Nhân (trong số các Đấng Thiên Nhân thiêng liêng) là một đa số, cũng như đa số các thể dĩ thái của con người được kiến tạo bằng vật chất của dĩ thái thứ tư.

471. Mercury, Venus and Jupiter are all planets with a relationship to buddhi. The Logos of Venus is working in relation to the buddhic sub-plane of the cosmic astral plane; Mercury is ruled by the fourth ray (the buddhic ray) and is, through its very name, “Buddha”, related to the buddhic plane. Jupiter is as Planetary Logos much related to intuition which is the buddhic faculty. Jupiter, however, is also monadically related.

471. Sao Thủy, Sao Kim và Sao Mộc đều là những hành tinh có liên hệ với Bồ đề. Thượng đế của Sao Kim đang hoạt động trong liên hệ với cõi phụ Bồ đề của cõi cảm dục vũ trụ; Sao Thủy được cai quản bởi cung bốn (cung Bồ đề) và, qua chính tên gọi của nó, “Buddha”, liên hệ với cõi Bồ đề. Sao Mộc, với tư cách Hành Tinh Thượng Đế, liên hệ nhiều với cõitrực giác là năng lực Bồ đề. Tuy nhiên, Sao Mộc cũng có liên hệ chân thần.

472. Vulcan does not seem to have much buddhic connection, yet Vulcan is definitely associated with the “Heart of the Sun” which is definitely buddhically related. It is in Vulcan’s deeper nature that His alliance with the fourth ray and with buddhi is demonstrated.

472. Vulcan dường như không có nhiều liên hệ với Bồ đề, tuy nhiên Vulcan chắc chắn được liên kết với “Trái Tim của Mặt Trời”, vốn chắc chắn có liên hệ Bồ đề. Chính trong bản chất sâu xa hơn của Vulcan mà sự liên minh của Ngài với cung bốn và với Bồ đề được chứng minh.

473. As for the lesser Heavenly Men (those of the planets Earth, Mars, Pluto, etc. —and there are many undiscovered and, thus, unnamed) would they have etheric bodies comprised of substance of the lowest cosmic ether (i.e., buddhic substance) or would substance of the cosmic gaseous plane (i.e., the systemic mental plane) be included as an etheric level?

473. Còn đối với các Đấng Thiên Nhân thấp hơn (những vị của các hành tinh Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Diêm Vương, v.v.—và còn nhiều vị chưa được khám phá nên chưa được đặt tên) thì liệu các thể dĩ thái của Các Ngài sẽ gồm chất liệu của dĩ thái vũ trụ thấp nhất (tức chất liệu Bồ đề) hay chất liệu của cõi khí vũ trụ (tức cõi trí của hệ) cũng sẽ được bao gồm như một cấp dĩ thái?

474. It bears repeating that the higher mental plane is a vibratory domain that can be considered spiritual, etheric or material depending upon the entity being discussed. It is spiritual to the man; possibly etheric to our Planetary Logos; and definitely material (higher gaseous) to the Solar Logos.

474. Cần nhắc lại rằng cõi thượng trí là một lãnh vực rung động có thể được xem là tinh thần, dĩ thái hay vật chất tùy theo thực thể đang được bàn đến. Nó là tinh thần đối với con người; có thể là dĩ thái đối với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta; và chắc chắn là vật chất (khí cao hơn) đối với Thái dương Thượng đế.

Further, the two great evolutions (human and deva) find their group unity on the buddhic plane, and portions of both hierarchies blend and merge so as to form the body of the divine Hermaphrodite.24,25.

Hơn nữa, hai tiến hoá lớn (nhân loại và thiên thần) tìm thấy sự hợp nhất nhóm của chúng trên cõi Bồ đề, và những phần của cả hai huyền giai hòa trộn và hợp nhất để tạo thành thể của Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng.24,25.

475. This is a long sought reference, lost some years ago and only now gratefully retrieved.

475. Đây là một dẫn chiếu được tìm kiếm từ lâu, đã thất lạc vài năm trước và chỉ nay mới được phục hồi lại một cách đầy biết ơn.

476. We remember that the buddhic plane is not the plane of “fundamental unity” but of a “group unity”—what we might call “unity in diversity”.

476. Chúng ta nhớ rằng cõi Bồ đề không phải là cõi của sự hợp nhất “căn bản” mà là của một sự hợp nhất “nhóm”—điều mà chúng ta có thể gọi là “hợp nhất trong dị biệt”.

477. We note that only “portions” of the two hierarchies blend and merge. The complete blending and merging can be expected on the monadic plane.

477. Chúng ta lưu ý rằng chỉ có “những phần” của hai huyền giai hòa trộn và hợp nhất. Sự hòa trộn và hợp nhất hoàn toàn có thể được chờ đợi trên cõi chân thần.

478. On the astral plane, men and devas may find themselves opposed, but on the buddhic plane, they achieve group unity.

478. Trên cõi cảm dục, những người nam và nữ và các thiên thần có thể thấy mình đối nghịch nhau, nhưng trên cõi Bồ đề, họ đạt được sự hợp nhất nhóm.

479. Remember, what we just read about the “plane of at-one-ment, or the meeting ground of diversities, and of their blending—not into a fundamental unity—but into group unity.”

479. Hãy nhớ điều chúng ta vừa đọc về “cõi của sự hợp nhất, hay nơi gặp gỡ của các dị biệt, và của sự hòa trộn chúng—không phải thành một sự hợp nhất căn bản—mà thành sự hợp nhất nhóm.”

480. A Planetary Logos is a Divine Hermaphrodite—some Heavenly Men more so than others.

480. Một Hành Tinh Thượng Đế là một Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng—một số Đấng Thiên Nhân còn như vậy nhiều hơn những vị khác.

481. Our Planetary Logos is a Divine Hermaphrodite and one would think the same to be the case of Venus. Many of the Planetary Logoi have prominent masculine and feminine aspects. Probably all Planetary Logoi have masculine and feminine aspects even though one or the other may not be prominent.

481. Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là một Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng và người ta sẽ nghĩ rằng Sao Kim cũng vậy. Nhiều Hành Tinh Thượng Đế có các phương diện nam tính và nữ tính nổi bật. Có lẽ mọi Hành Tinh Thượng Đế đều có các phương diện nam tính và nữ tính dù một trong hai có thể không nổi bật.

482. If ever the two planets Mercury and Venus were to merge we would truly have the Divine Hermaphrodite, because Mercury is Hermes and Venus as Aphrodite.

482. Nếu hai hành tinh Sao Thủy và Sao Kim từng hợp nhất với nhau thì chúng ta thực sự sẽ có Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng, bởi vì Sao Thủy là Hermes và Sao Kim là Aphrodite.

483. It is unlikely however that this will be the case as (in one absorption pattern, at least) Venus is to merge with Neptune and Mercury with Uranus (cf. TCF 406), so they will probably not merge with each other, otherwise their destined lines of absorption could not be followed. As I have shown, however, there are many choices of possible absorption patterns.

483. Tuy nhiên, điều này khó có thể xảy ra vì (ít nhất trong một mô hình hấp thu) Sao Kim sẽ hợp nhất với Sao Hải Vương và Sao Thủy với Sao Thiên Vương (x. TCF 406), nên có lẽ chúng sẽ không hợp nhất với nhau, nếu không thì các đường hấp thu đã định của chúng không thể được theo đuổi. Tuy nhiên, như tôi đã chỉ ra, có nhiều lựa chọn về các mô hình hấp thu khả dĩ.

24: The Pairs of Opposites:——From The Science of Social Organization, by Bhagavan Das.

24: Các Cặp Đối Cực:——Trích từ The Science of Social Organization, của Bhagavan Das.

484. From one perspective, humans and devas represent the great Pairs of Opposites.

484. Theo một góc nhìn, con người và thiên thần đại diện cho các Cặp Đối Cực lớn.

25: The Divine Hermaphrodite—this is the great Being, planetary or solar, who manifests in Himself the pair of opposites.

25: Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng—đây là Hữu thể vĩ đại, hành tinh hay thái dương, biểu lộ trong Chính Ngài cặp đối cực.

485. We see that we can have both planetary and solar Divine Hermaphrodites. Perhaps our Solar Logos, so closely related to the heart center and the fourth ray, can be considered such a Being.

485. Chúng ta thấy rằng có thể có cả các Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng hành tinh lẫn thái dương. Có lẽ Thái dương Thượng đế của chúng ta, vốn liên hệ rất mật thiết với trung tâm tim và cung bốn, có thể được xem là một Hữu thể như vậy.

486. In a way, it could be said that every Planetary Logos and every Solar Logos is really a Divine Hermaphrodite.

486. Theo một nghĩa nào đó, có thể nói rằng mọi Hành Tinh Thượng Đế và mọi Thái dương Thượng đế thực sự đều là một Đấng Lưỡng Tính thiêng liêng.

Earlier, at certain fixed points, they may temporarily approximate each [Page 329] other. On the buddhic plane definite and permanent alliance may be seen.

Trước đó, tại những điểm cố định nhất định, họ có thể tạm thời xích lại gần nhau [Page 329]. Trên cõi Bồ đề có thể thấy một sự liên minh xác định và thường trực.

487. What might those certain fixed points be? Perhaps the astral plane is one, and there, the human and deva evolutions will show distinct differences and less cooperation.

487. Những điểm cố định nhất định ấy có thể là gì? Có lẽ cõi cảm dục là một trong số đó, và ở đó, các tiến hoá nhân loại và thiên thần sẽ cho thấy những khác biệt rõ rệt và ít hợp tác hơn.

488. The buddhic plane, however, is the plane of alliance, of the reconciliation of opposites, of creating unity from diversity, and so it is reasonable that a “permanent alliance” between man and deva may there be seen.

488. Tuy nhiên, cõi Bồ đề là cõi của sự liên minh, của sự hòa giải các đối cực, của việc tạo ra hợp nhất từ dị biệt, và vì thế thật hợp lý khi một “sự liên minh thường trực” giữa con người và thiên thần có thể được thấy ở đó.