← Commentary_S3_223_340_song ngữ

117. We learn that the dense physical plane is not very much the work of the greater builders (or “great builders” as here stated).

Trích nội dung chương

117. We learn that the dense physical plane is not very much the work of the greater builders (or “great builders” as here stated). 117. Chúng ta biết rằng cõi hồng trần đậm đặc không phải là công trình của các đấng đại kiến tạo (hay “great builders” như được nói ở đây) cho lắm.


117. We learn that the dense physical plane is not very much the work of the greater builders (or “great builders” as here stated).

117. Chúng ta biết rằng cõi hồng trần đậm đặc không phải là công trình của các đấng đại kiến tạo (hay “great builders” như được nói ở đây) cho lắm.

118. We could pause for a serious question: “Is DK now speaking systemically or cosmically, i.e., is he speaking of the three lower sub-planes systemically or cosmically?

118. Chúng ta có thể dừng lại trước một câu hỏi nghiêm túc: “Hiện nay Chân sư DK đang nói theo nghĩa hệ thống hay vũ trụ, tức là Ngài đang nói về ba cõi phụ thấp hơn theo nghĩa hệ thống hay vũ trụ?

119. While I could be incorrect, I believe that, in this context, He is speaking systemically. He could say the same thing from a cosmic perspective, with interesting implications regarding an apparent “congestion” existing in our systemic mental, astral and physical-etheric planes.

119. Dù tôi có thể sai, tôi tin rằng trong ngữ cảnh này, Ngài đang nói theo nghĩa hệ thống. Ngài cũng có thể nói điều tương tự từ một viễn cảnh vũ trụ, với những hàm ý thú vị liên quan đến một sự “tắc nghẽn” biểu kiến hiện hữu trong các cõi hệ thống trí tuệ, cảm dục và dĩ thái-hồng trần của chúng ta.

120. We note that DK did not say “the dense physical plane” (singular) because of the intraconvertability between the solid, liquid and gaseous states.

120. Chúng ta lưu ý rằng Chân sư DK đã không nói “cõi hồng trần đậm đặc cõi” (số ít) vì tính chuyển đổi nội tại giữa các trạng thái rắn, lỏng và khí.

121. The formation of the dense physical planes (solid, liquid and gaseous) is interesting. It is caused by the “meeting of seven streams of force or electricity”. These dense physical planes, further, are called a “congestion in matter”. This gives us some idea of the divine energy flow to be expected on these planes when compared to such a flow on the ‘uncongested’ or ‘decongested’ planes. Relatively, there is little freedom on the dense physical planes.

121. Sự hình thành các cõi hồng trần đậm đặc (rắn, lỏng và khí) thật đáng chú ý. Nó được gây ra bởi “sự gặp gỡ của bảy dòng mãnh lực hay điện”. Hơn nữa, các cõi hồng trần đậm đặc này được gọi là một “sự tắc nghẽn trong vật chất”. Điều này cho chúng ta một ý niệm nào đó về dòng năng lượng thiêng liêng có thể được mong đợi trên các cõi này khi so sánh với một dòng chảy như thế trên các cõi ‘không tắc nghẽn’ hay ‘được giải tắc’. Tương đối mà nói, có rất ít tự do trên các cõi hồng trần đậm đặc.

122. In a way the “congestion” is not real but only “apparent”. Further, the lower three planes are an ‘apparency’ or an ‘appearance’.

122. Theo một nghĩa nào đó, “sự tắc nghẽn” không phải là thực mà chỉ là “biểu kiến”. Hơn nữa, ba cõi thấp là một ‘sắc tướng’ hay một ‘vẻ ngoài’.

123. A congestion occurs when a large volume of a liquid (or that which flows) attempts to pass through a ‘space’ too narrow or limited for the rate of flow to continue as it was. There is a backing up. We can see that the physical body presents much resistance to flow. In this type of instance, the resistance is electrical.

123. Sự tắc nghẽn xảy ra khi một thể tích lớn của một chất lỏng (hay điều gì đó đang chảy) cố đi qua một ‘không gian’ quá hẹp hay quá giới hạn để tốc độ dòng chảy tiếp tục như trước. Có sự dồn ứ lại. Chúng ta có thể thấy rằng thể xác gây ra rất nhiều sự kháng cự đối với dòng chảy. Trong loại trường hợp này, sự kháng cự ấy là điện.

124. There are conceivably, however, methods of refining, purifying and rearranging the dense physical planes so that the rate of flow would be much augmented, and so the electrical demonstration of the dense physical planes would be more in accord with that of, for instance, the etheric plane. Great souls have accomplished this and it is the destiny of humanity and the other kingdoms of nature—eventually.

124. Tuy nhiên, có thể hình dung được những phương pháp tinh luyện, thanh lọc và tái sắp xếp các cõi hồng trần đậm đặc để tốc độ dòng chảy được gia tăng rất nhiều, và như thế sự biểu lộ điện của các cõi hồng trần đậm đặc sẽ phù hợp hơn với, chẳng hạn, cõi dĩ thái. Các linh hồn vĩ đại đã hoàn thành điều này, và đó là định mệnh của nhân loại cùng các giới khác trong bản chất—rốt cuộc là như vậy.

125. The seven streams of force or electricity cannot include streams of force from the lowest three sub-planes, because we are talking about the manner of formation of those very planes.

125. Bảy dòng mãnh lực hay điện không thể bao gồm các dòng mãnh lực từ ba cõi phụ thấp nhất, bởi vì chúng ta đang nói về cách thức hình thành của chính những cõi ấy.

126. Perhaps, the seven streams of electricity can be considered representative of the seven cosmic sub-planes of the cosmic physical plane, including the systemic etheric plane as the seventh and lowest.

126. Có lẽ bảy dòng điện có thể được xem là đại diện cho bảy cõi phụ vũ trụ của cõi hồng trần vũ trụ, bao gồm cõi dĩ thái hệ thống như là cõi thứ bảy và thấp nhất.

127. If we were speaking cosmically, about an apparent congestion manifesting through the systemic mental, astral and etheric-physical sub-planes, then the seven streams of electricity would all be cosmic in nature and would be representative of the seven cosmic planes, taking the buddhic, atmic, monadic and logoic planes as four cosmic ethers, and, thus, a source of the lowest of the seven streams.

127. Nếu chúng ta đang nói theo nghĩa vũ trụ, về một sự tắc nghẽn biểu kiến biểu hiện qua các cõi phụ hệ thống trí tuệ, cảm dục và dĩ thái-hồng trần, thì bảy dòng điện ấy đều sẽ có bản chất vũ trụ và sẽ là đại diện cho bảy cõi vũ trụ, lấy các cõi Bồ đề, atma, chân thần và logoic làm bốn dĩ thái vũ trụ, và như vậy là một nguồn của dòng thấp nhất trong bảy dòng.

128. In any case, it is a fascinating statement and requires pondering. The seven have produced the three.

128. Dù sao đi nữa, đây là một phát biểu đầy hấp dẫn và đòi hỏi phải suy ngẫm. Bảy đã tạo ra ba.

This apparent congestion is, after all, but the exceeding electronic activity or energy of the mass of negative atoms awaiting the stimulation that will result from the presence of a certain number of positive atoms. This needs to be borne in mind.

Rốt cuộc, sự tắc nghẽn biểu kiến này chỉ là hoạt động điện tử quá mức hay năng lượng của khối lượng các nguyên tử âm đang chờ sự kích thích sẽ phát sinh từ sự hiện diện của một số nguyên tử dương nhất định. Điều này cần được ghi nhớ.

129. The congestion is not real by only “apparent”. DK has now repeated this idea.

129. Sự tắc nghẽn không phải là thực mà chỉ “biểu kiến”. Giờ đây Chân sư DK đã lặp lại ý này.

130. When we speak of “electronic activity”, it would seem we are speaking of the activity of electrons.

130. Khi chúng ta nói về “hoạt động điện tử”, dường như chúng ta đang nói về hoạt động của các electron.

131. The negative atoms may be thought of as those composing the three dense levels of the systemic physical plane; these atoms are not etheric atoms.

131. Các nguyên tử âm có thể được xem là những nguyên tử cấu thành ba cấp độ đậm đặc của cõi hồng trần hệ thống; các nguyên tử này không phải là nguyên tử dĩ thái.

132. These negative or dense atoms require stimulation from the etheric levels of the physical plane. The “positive atoms” can be considered etheric atoms.

132. Những nguyên tử âm hay đậm đặc này cần sự kích thích từ các cấp độ dĩ thái của cõi hồng trần. Các “nguyên tử dương” có thể được xem là các nguyên tử dĩ thái.

133. The negative atoms could be considered as comprising what we usually think of as “dead matter”. It is matter gathered from an earlier solar system, awaiting stimulation and redemption in the present system.

133. Các nguyên tử âm có thể được xem là cấu thành điều mà chúng ta thường nghĩ là “vật chất chết”. Đó là vật chất được thu gom từ một hệ mặt trời trước, đang chờ được kích thích và cứu chuộc trong hệ hiện tại.

134. From the atomic perspective, we might consider such negative atoms as the ‘atomic failures’ of the first solar system.

134. Từ góc độ nguyên tử, chúng ta có thể xem những nguyên tử âm như thế là các ‘thất bại nguyên tử’ của hệ mặt trời thứ nhất.

135. The “exceeding electronic activity” could simply be the bonding which occurs between atoms of positive and negative valence. The atoms are so bound together through this activity that they would appear locked into a resistant congestion.

135. “Hoạt động điện tử quá mức” có thể đơn giản là sự liên kết xảy ra giữa các nguyên tử có hóa trị dương và âm. Các nguyên tử được liên kết với nhau chặt chẽ đến mức qua hoạt động này, chúng dường như bị khóa vào một sự tắc nghẽn đầy kháng cự.

136. As we rise up the cosmic physical plane, the atoms involved become more numerous, less complex and freer. Compared to the atoms of the dense physical planes (systemically considered) they are undergoing de-aggregation.

136. Khi chúng ta đi lên cõi hồng trần vũ trụ, các nguyên tử liên quan trở nên nhiều hơn, ít phức tạp hơn và tự do hơn. So với các nguyên tử của các cõi hồng trần đậm đặc (xét theo nghĩa hệ thống), chúng đang trải qua sự giải kết tập.

137. What is not given is the manner in which etheric atoms (carrying, occultly, a positive charge) come to influence the mass of negative atoms towards a new types of vitalization—perhaps inclining them towards radioactivity. The manner in which the energy of the higher planes flows with decreasing resistance through the mass of negative atoms is not given.

137. Điều không được nêu ra là cách thức mà các nguyên tử dĩ thái (mang, một cách huyền bí, điện tích dương) đi đến chỗ ảnh hưởng lên khối lượng các nguyên tử âm hướng tới một loại tiếp sinh lực mới—có lẽ khiến chúng nghiêng về tính phóng xạ. Cách thức mà năng lượng của các cõi cao hơn chảy qua khối lượng các nguyên tử âm với sức kháng cự ngày càng giảm không được nêu ra.

138. VSK invites the scientists among us: “A modern scientific view, or rewording it in some other manner may assist in getting across some more meaning.”

138. VSK mời gọi các nhà khoa học trong chúng ta: “Một quan điểm khoa học hiện đại, hay việc diễn đạt lại theo cách nào khác, có thể giúp chuyển tải thêm một số ý nghĩa.”

139. From another point of view which deals only with the matter of the dense physical planes (solar logoically considered) we might consider the negative atoms to be negatively charged particles, or ions. The positive atoms could be considered positively charged particles or ions.:Probably, however, this is not correct, because probably in DK’s view, the dense physical planes are composed entirely of a mass of negative atoms awaiting stimulation.

139. Từ một quan điểm khác chỉ bàn đến vật chất của các cõi hồng trần đậm đặc (xét theo nghĩa thái dương logoic), chúng ta có thể xem các nguyên tử âm là những hạt mang điện tích âm, hay các ion. Các nguyên tử dương có thể được xem là những hạt mang điện tích dương hay ion.:Có lẽ, tuy nhiên, điều này không đúng, bởi vì có lẽ theo quan điểm của Chân sư DK, các cõi hồng trần đậm đặc hoàn toàn được cấu thành bởi một khối các nguyên tử âm đang chờ được kích thích.

The work of evolution is based on two methods and demonstrates as:

Công việc của tiến hoá dựa trên hai phương pháp và biểu hiện như sau:

Involution, wherein the negative electrons of matter preponderate. The percentage of these feminine electrons is one of the secrets of initiation and is so vast during the involutionary stage that the rarity of the positive [Page 322] atoms is very noticeable; they are so rare as only to serve to keep the mass coherent.

Giáng hạ tiến hoá, trong đó các electron âm của vật chất chiếm ưu thế. Tỷ lệ của những electron nữ tính này là một trong những bí mật của điểm đạo và lớn đến mức trong giai đoạn giáng hạ tiến hoá, sự hiếm hoi của các dương [Page 322] nguyên tử trở nên rất rõ rệt; chúng hiếm đến mức chỉ đủ để giữ cho khối ấy kết dính.

140. Here we are speaking not of “negative atoms” but of “negative electrons”, or feminine electrons.

140. Ở đây chúng ta đang nói không phải về “nguyên tử âm” mà về “electron âm”, hay các electron nữ tính.

141. Could we be speaking of “charged particles”, i.e., positive and negative ions? A feminine electron would be negatively charged particle. A ‘masculine electron’ would be positively charged particle. Again, this is probably not the case as it does not emphasize the division between the dense physical planes (solar logoically and not cosmically considered) and this is what DK seems to be doing in this section.

141. Có thể chăng chúng ta đang nói về “các hạt mang điện”, tức là các ion dương và âm? Một electron nữ tính sẽ là một hạt mang điện tích âm. Một ‘electron nam tính’ sẽ là một hạt mang điện tích dương. Tuy nhiên, một lần nữa, có lẽ không phải như vậy vì điều đó không nhấn mạnh sự phân chia giữa các cõi hồng trần đậm đặc (xét theo nghĩa thái dương logoic chứ không phải vũ trụ), và đó dường như là điều Chân sư DK đang làm trong phần này.

142. Yet a charged particle is of much greater mass than an electron. Could the electrons themselves (which are found in orbits or electron shells) be considered either feminine or masculine, either negative or positive? Perhaps, however…

142. Tuy vậy, một hạt mang điện có khối lượng lớn hơn electron rất nhiều. Liệu chính các electron ấy (được tìm thấy trong các quỹ đạo hay lớp vỏ electron) có thể được xem là hoặc nữ tính hoặc nam tính, hoặc âm hoặc dương chăng? Tuy nhiên, có lẽ…

143. We should note that DK seems to be using the terms “electrons” and “atoms” interchangeably. He speaks of “feminine electrons” but compares them with “positive atoms”, of which there is a paucity in the involutionary stage. We may remember that He often, as well, uses the terms “atoms” and “cells” interchangeably.

143. Chúng ta nên lưu ý rằng Chân sư DK dường như đang dùng các thuật ngữ “electron” và “nguyên tử” thay thế cho nhau. Ngài nói về “electron nữ tính” nhưng lại so sánh chúng với “nguyên tử dương”, vốn rất khan hiếm trong giai đoạn giáng hạ tiến hoá. Chúng ta cũng có thể nhớ rằng Ngài thường dùng các thuật ngữ “nguyên tử” và “tế bào” thay thế cho nhau.

144. It is also possible that, for DK, the term “electron” does not mean what it does for modern science. “Feminine electrons” could simply be; what He has been calling a “negative atoms”—those which are essentially the matter of the former solar system.

144. Cũng có thể đối với Chân sư DK, thuật ngữ “electron” không có nghĩa như trong khoa học hiện đại. “Electron nữ tính” có thể đơn giản là điều mà Ngài đã gọi là “nguyên tử âm”—những gì về bản chất là vật chất của hệ mặt trời trước.

145. Really, what we are reading is quite unusual and difficult to correlate with modern science. It is deceptively simple.

145. Thực sự, điều chúng ta đang đọc là khá bất thường và khó tương quan với khoa học hiện đại. Nó đơn giản một cách đánh lừa.

146. We have also to remember DK’s analogical perspective. Nothing is simply one thing and one thing alone. Everything changes its identity when seen from a higher or lower perspective. What is an atom of one level of perception, can be as an electron at another.

146. Chúng ta cũng phải nhớ đến viễn cảnh tương đồng của Chân sư DK. Không có gì chỉ đơn giản là một thứ và chỉ một thứ mà thôi. Mọi thứ đều thay đổi bản sắc của nó khi được nhìn từ một viễn cảnh cao hơn hay thấp hơn. Điều là một nguyên tử ở một cấp độ tri giác có thể lại là một electron ở cấp độ khác.

147. In the involutionary process the negative electrons preponderate greatly and have to be balanced by a small number of “positive atoms”, otherwise the mass of atoms would not be kept coherent.

147. Trong tiến trình giáng hạ tiến hoá, các electron âm chiếm ưu thế rất lớn và phải được cân bằng bởi một số nhỏ “nguyên tử dương”, nếu không khối nguyên tử sẽ không được giữ cho kết dính.

148. On the atomic level, it seems we have operative a kind of ‘sub-microscopic polygamy’.

148. Ở cấp độ nguyên tử, dường như chúng ta có một loại ‘đa phối ngẫu dưới vi mô’ đang hoạt động.

149. VSK comments: “Interesting that the ratio is so heavy to the feminine. Whereas, for example, in the gonads the female produces very few eggs to the man’s milliards of sperm.”

149. VSK bình luận: “Thật thú vị khi tỷ lệ nghiêng quá nặng về phía nữ tính. Trong khi đó, chẳng hạn, ở tuyến sinh dục, con cái tạo ra rất ít trứng so với hàng tỷ tinh trùng của người nam.”

150. VSK continues: “These ratios are much larger also than the ratios we have between devic and human lives.”

150. VSK tiếp tục: “Những tỷ lệ này cũng lớn hơn rất nhiều so với các tỷ lệ giữa các sự sống thiên thần và sự sống con người.”

151. VSK notes: “Note that it is only a rare positive atom that serves to keep the mass coherent.”

151. VSK lưu ý: “Lưu ý rằng chỉ có một nguyên tử dương hiếm hoi mới giúp giữ cho khối ấy kết dính.”

Evolution, wherein, due to the action of manas, these negative atoms become stimulated and either dissipate back into the central electrical reservoir, or merge in their opposite pole, and are consequently again lost.

Tiến hoá, trong đó, do tác động của manas, những nguyên tử âm này trở nên được kích thích và hoặc làm tiêu tan trở lại vào hồ chứa điện trung tâm, hoặc hòa nhập vào cực đối nghịch của chúng, và do đó lại bị mất đi.

152. VSK enquires: “Does manas only come into action during the phase of evolution?”

152. VSK hỏi: “Có phải manas chỉ đi vào hoạt động trong giai đoạn tiến hoá thôi sao?”

153. May it be said that manas is active throughout involution and evolution, but has a special stimulating, de-aggregating and etherealizing effect on the path of Evolution

153. Có thể nói rằng manas hoạt động xuyên suốt giáng hạ tiến hoá và tiến hoá, nhưng có một tác động kích thích, giải kết tập và dĩ thái hóa đặc biệt trên con đường Tiến hoá

154. VSK asks: “Why would negative atoms ‘dissipate’ or merge into the opposite pole, due to stimulation?”

154. VSK hỏi: “Vì sao các nguyên tử âm lại ‘làm tiêu tan’ hay hòa nhập vào cực đối nghịch do sự kích thích?”

155. May it be said, that from the redemptive angle, the negative atoms become more like positive atoms—more etheric in nature.

155. Có thể nói rằng, từ góc độ cứu chuộc, các nguyên tử âm trở nên giống các nguyên tử dương hơn—có bản chất dĩ thái hơn.

156. VSK comments: “Being ‘lost’ is of interest. At what point do ‘atoms’ attain their own identity and, therefore, cannot be ‘lost’?”

156. VSK bình luận: “Việc bị ‘mất đi’ thật đáng chú ý. Ở điểm nào thì các ‘nguyên tử’ đạt được bản sắc riêng của chúng và do đó không thể bị ‘mất đi’?”

157. There are two ways that an atom may be “lost”, and these ways should be compared to the human level of functioning.

157. Có hai cách để một nguyên tử có thể bị “mất đi”, và những cách này nên được so sánh với cấp độ hoạt động của con người.

a. Atoms may become stimulated and dissipated back into the central electrical reservoir

a. Các nguyên tử có thể trở nên được kích thích và làm tiêu tan trở lại vào hồ chứa điện trung tâm

b. Atoms may become stimulated and thus merge in their opposite pole.

b. Các nguyên tử có thể trở nên được kích thích và do đó hòa nhập vào cực đối nghịch của chúng.

158. I would think that the manasic stimulation (itself putably of a positive nature) may occultly alter the negative polarization of the “negative atoms” or “feminine electrons” (the two terms seem equivalent). Such an altered polarization may contribute to dissipation back into the reservoir. The atoms, in short, are becoming more like etheric atoms through a process of ‘de-aggregation under stimulation’.

158. Tôi nghĩ rằng sự kích thích manas (bản thân nó được cho là có bản chất dương) có thể một cách huyền bí làm thay đổi sự phân cực âm của các “nguyên tử âm” hay “electron nữ tính” (hai thuật ngữ này dường như tương đương). Một sự phân cực đã thay đổi như thế có thể góp phần vào việc làm tiêu tan trở lại vào hồ chứa. Nói ngắn gọn, các nguyên tử đang trở nên giống các nguyên tử dĩ thái hơn thông qua một tiến trình ‘giải kết tập dưới sự kích thích’.

159. Merging with an atom of opposite polarity would also cause a loss of distinctiveness. The Father and the Mother are, as it were, “lost” in the emerging Son. Does such a merging occur in relation to human units? And if it does occur, in what context does it occur? Within the Ashram?

159. Việc hòa nhập với một nguyên tử có cực tính đối nghịch cũng sẽ gây ra sự mất đi tính phân biệt. Người Cha và Người Mẹ, có thể nói như vậy, bị “mất đi” trong Người Con đang xuất hiện. Liệu sự hòa nhập như thế có xảy ra trong liên hệ với các đơn vị nhân loại không? Và nếu có, nó xảy ra trong ngữ cảnh nào? Trong ashram chăng?

160. The function of manas during involution is to produce a diversity of adaptable forms. During evolution, manas promotes the development of consciousness.

160. Chức năng của manas trong giáng hạ tiến hoá là tạo ra một sự đa dạng của các hình tướng có khả năng thích ứng. Trong tiến hoá, manas thúc đẩy sự phát triển của tâm thức.

161. Atoms, it would seem, have a limited duration in specificity. Their distinctiveness is easily lost in the general reservoir or atomic field, or in the merging process.

161. Dường như các nguyên tử có một thời hạn hữu hạn trong tính đặc thù. Tính phân biệt của chúng dễ dàng bị mất đi trong hồ chứa chung hay trường nguyên tử, hoặc trong tiến trình hòa nhập.

This results in:

Điều này dẫn đến:

Synthesis.

Tổng hợp.

Homogeneity.

Tính đồng nhất.

162. We seem to be speaking of the process of etherealization.

162. Dường như chúng ta đang nói về tiến trình dĩ thái hóa.

163. When faced with terms like “Synthesis” and “Homogeneity” we are reminded of the process of obscuration or absorption.

163. Khi đối diện với những thuật ngữ như “Tổng hợp” và “Tính đồng nhất”, chúng ta được nhắc nhớ đến tiến trình che mờ hay hấp thu.

164. The planets too, as they are absorbed in the obscuration process, become etherealized.

164. Các hành tinh cũng vậy, khi được hấp thu trong tiến trình che mờ, trở nên dĩ thái hóa.

The rarity instead of the density of matter.

Sự hiếm thay cho sự đậm đặc của vật chất.

165. As evolution proceeds, dense matter becomes less common.

165. Khi tiến hoá tiếp diễn, vật chất đậm đặc trở nên ít phổ biến hơn.

166. For instance, during the involutionary processes of a planetary globe, each successive globe (as the fourth globe is approached) has an increasing density of matter. Following the turn, as globes successive to the fourth are approached, the density of matter lessens accordingly.

166. Chẳng hạn, trong các tiến trình giáng hạ tiến hoá của một bầu hành tinh, mỗi bầu kế tiếp (khi bầu thứ tư được tiếp cận) có mật độ vật chất tăng dần. Sau bước ngoặt, khi các bầu kế tiếp sau bầu thứ tư được tiếp cận, mật độ vật chất giảm đi tương ứng.

167. Even in relation to the fourth globe itself, there is an involutionary period when the preponderance of negative atoms (or negative or “feminine” electrons) is great, and a later period when this preponderance becomes greatly reduced.

167. Ngay cả trong liên hệ với chính bầu thứ tư, cũng có một giai đoạn giáng hạ tiến hoá khi sự áp đảo của các nguyên tử âm (hay các electron âm hoặc “nữ tính”) là rất lớn, và một giai đoạn sau khi sự áp đảo này giảm đi rất nhiều.

168. On our present globe at this time, we are moving (however slowly) towards Synthesis and Homogeneity. Actually, we have turned towards obscuration, at least in relation to our globe. Other planetary schemes definitely possessed of physical globes are much father advanced in the obscuration process—Venus and Mercury.

168. Trên bầu hiện tại của chúng ta vào lúc này, chúng ta đang tiến tới (dù chậm chạp) Tổng hợp và Tính đồng nhất. Thực ra, chúng ta đã quay về phía sự che mờ, ít nhất là trong liên hệ với bầu của chúng ta. Những hệ hành tinh khác chắc chắn có các bầu hồng trần thì tiến xa hơn nhiều trong tiến trình che mờ—Sao Kim và Sao Thủy.

The fourth cosmic ether, the buddhic, is the plane of air, and is also the plane of absorption for the three worlds.

Dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề, là cõi của khí, và cũng là cõi hấp thu đối với ba cõi thấp.

169. Yes, we are speaking of absorption and of the merging (not only of the three densest systemic subplanes into the fourth ether, but) of the three lowest cosmic physical sub-planes into the fourth cosmic ether, the buddhic plane.

169. Đúng vậy, chúng ta đang nói về sự hấp thu và về sự hòa nhập (không chỉ của ba cõi phụ hệ thống đậm đặc nhất vào dĩ thái thứ tư, mà còn) của ba cõi phụ hồng trần vũ trụ thấp nhất vào dĩ thái vũ trụ thứ tư, cõi Bồ đề.

170. This is another way of saying that mind becomes merged in transcendental mind; or that lower Saturn becomes merged in Jupiter.

170. Đây là một cách khác để nói rằng trí tuệ hòa nhập vào Trí Tuệ Siêu Việt; hay rằng Sao Thổ thấp hòa nhập vào Sao Mộc.

171. DK is switching His perspective between the cosmic and systemic: the absorption of the three dense physical planes systemically considered, and the same type of absorption cosmically considered.

171. Chân sư DK đang chuyển đổi viễn cảnh của Ngài giữa vũ trụ và hệ thống: sự hấp thu của ba cõi hồng trần đậm đặc khi được xét theo nghĩa hệ thống, và cùng loại hấp thu ấy khi được xét theo nghĩa vũ trụ.

This rarefication of dense matter (as we know it) simply means that at the close of the evolutionary process it will have been transmuted and be practically, from our point of view, non-existent;

Sự làm loãng này của vật chất đậm đặc (như chúng ta biết) đơn giản có nghĩa là vào lúc kết thúc tiến trình tiến hoá, nó sẽ được chuyển hoá và trên thực tế, từ quan điểm của chúng ta, sẽ không còn hiện hữu;

172. We are speaking of the “rarefaction of dense matter”. Another way of describing this is the manasic stimulation of the negative atoms which, then, become dissipated back into the central electrical reservoir or merged in or with their opposite pole.

172. Chúng ta đang nói về “sự làm loãng của vật chất đậm đặc”. Một cách khác để mô tả điều này là sự kích thích manas đối với các nguyên tử âm, rồi từ đó chúng bị làm tiêu tan trở lại vào hồ chứa điện trung tâm hoặc hòa nhập vào hay với cực đối nghịch của chúng.

173. These thoughts are more in line with those of conventional occultism. The etherealization of matter will proceed with the evolution of our globe.

173. Những tư tưởng này phù hợp hơn với những tư tưởng của huyền bí học thông thường. Sự dĩ thái hóa của vật chất sẽ tiếp diễn cùng với sự tiến hoá của bầu hành tinh chúng ta.

174. We see this going on in the human physical-etheric body when the stream of manas joins the united stream of prana-kundalini, and makes possible the beginning of the initiation process, which is really a process of transmutation and “rarefication”.

174. Chúng ta thấy điều này đang diễn ra trong thể dĩ thái-hồng trần của con người khi dòng manas hợp với dòng prana-kundalini đã hợp nhất, và làm cho sự khởi đầu của tiến trình điểm đạo trở nên khả hữu, vốn thực sự là một tiến trình chuyển hoá và “làm loãng”.

175. The words “from our point of view” are interesting. DK may be speaking about the ability of man in the future to function in relation to the etheric plane in such a manner that the dense physical plane is barely noticed.

175. Những từ “từ quan điểm của chúng ta” thật đáng chú ý. Chân sư DK có thể đang nói về khả năng của con người trong tương lai hoạt động trong liên hệ với cõi dĩ thái theo cách mà cõi hồng trần đậm đặc hầu như không được nhận thấy.

176. One should not overlook the many mutations of terms which have appeared in this section. DK is constantly hinting that that which modern science does not yet realize.

176. Không nên bỏ qua nhiều biến thể của các thuật ngữ đã xuất hiện trong phần này. Chân sư DK liên tục ám chỉ đến điều mà khoa học hiện đại chưa nhận ra.

all that will be left will be the positive atoms, or certain vortices of force which—having absorbed the negative will demonstrate as electrical phenomena of a form inconceivable to man at his present stage of knowledge.

tất cả những gì còn lại sẽ là các nguyên tử dương, hay một số xoáy lực nhất định mà—đã hấp thu cái âm sẽ biểu lộ như những hiện tượng điện dưới một hình thức mà con người ở giai đoạn hiểu biết hiện nay không thể hình dung nổi.

177. We are definitely speaking of the mysteries of electricity and there is nothing easy about what is being said.

177. Chúng ta chắc chắn đang nói về các huyền nhiệm của điện, và không có gì dễ dàng trong điều đang được nói ra.

178. Positive atoms (which are certain vortices of force—for that is what atoms are—will have absorbed the negative atoms.

178. Các nguyên tử dương (vốn là những xoáy lực nhất định—vì đó là bản chất của nguyên tử) sẽ hấp thu các nguyên tử âm.

179. A certain kind of electrical phenomenon will then be in demonstration, but we are not now capable of conceiving what it might be.

179. Khi đó một loại hiện tượng điện nào đó sẽ được biểu lộ, nhưng hiện nay chúng ta chưa có khả năng hình dung nó có thể là gì.

180. Let us review what we have been considering:

180. Chúng ta hãy điểm lại điều mình đã xem xét:

a. Negative atoms and positive atoms

a. Các nguyên tử âm và các nguyên tử dương

b. Negative or feminine “electrons” and, therefore, probably (in contrast), positive or masculine electrons.

b. Các “electron” âm hay nữ tính và do đó, có lẽ (đối lập lại), các electron dương hay nam tính.

c. The possibility (increasingly remote) that we may be talking of charged particles or ions.

c. Khả năng (ngày càng xa vời) rằng chúng ta có thể đang nói về các hạt mang điện hay các ion.

d. Involutionary and evolutionary stages of the great Evolutionary Process, and the changes of in the nature and preponderance of certain types of atoms and electrons during various phases of the process.

d. Các giai đoạn giáng hạ tiến hoá và tiến hoá của Đại Tiến Trình Tiến Hoá, và những thay đổi trong bản chất cũng như sự áp đảo của một số loại nguyên tử và electron nhất định trong các giai đoạn khác nhau của tiến trình.

e. The production of dense matter (during involution) and the “rarefaction of dense matter” (during the later stages of the evolutionary process.

e. Sự tạo ra vật chất đậm đặc (trong giáng hạ tiến hoá) và “sự làm loãng vật chất đậm đặc” (trong các giai đoạn sau của tiến trình tiến hoá.

f. Processes accompanying absorption and obscuration.

f. Các tiến trình đi kèm với sự hấp thu và che mờ.

181. VSK suggests that reviewing the chart on TCF, 56, may be helpful?

181. VSK gợi ý rằng việc xem lại biểu đồ trong TCF, 56, có thể hữu ích chăng?

182. VSK questions: “What could this electrical phenomena be?”

182. VSK đặt câu hỏi: “Hiện tượng điện này có thể là gì?”

183. VSK asks: “What becomes of the planes ‘below’ the fourth etheric at the close of evolution?

183. VSK hỏi: “Điều gì xảy ra với các cõi ‘bên dưới’ dĩ thái thứ tư vào lúc kết thúc tiến hoá?

184. May it be suggested that such planes are absorbed into the etheric planes through the process of transmuting dense physical atoms into etheric atoms.

184. Có thể gợi ý rằng những cõi như thế được hấp thu vào các cõi dĩ thái thông qua tiến trình chuyển hoá các nguyên tử hồng trần đậm đặc thành các nguyên tử dĩ thái.

185. In the following section we have a description of the activity of positive atoms as certain vortices of force.

185. Trong phần tiếp theo, chúng ta có một mô tả về hoạt động của các nguyên tử dương như những xoáy lực nhất định.

186. We remember that we are still in the midst of discussing various kinds of electrical phenomena.

186. Chúng ta nhớ rằng mình vẫn đang ở giữa cuộc thảo luận về nhiều loại hiện tượng điện khác nhau.

These vortices will be distinguished by:

Những xoáy này sẽ được phân biệt bởi:

1. Intense vibratory activity.

1. Hoạt động rung động mãnh liệt.

187. Will this be an etheric vibration? Surely as the absorption process continues, an intensification of vibration can be expected.

187. Đây có phải sẽ là một rung động dĩ thái không? Chắc chắn khi tiến trình hấp thu tiếp diễn, có thể chờ đợi một sự tăng cường rung động.

2. The predominance of one certain colour according to the quality of the etheric display, and its source.

2. Sự trội hơn của một màu sắc nhất định tùy theo phẩm tính của biểu hiện dĩ thái, và nguồn gốc của nó.

188. If we are speaking about the predominance of a certain colour according to the quality of the etheric display, we seem to be describing a point in the evolutionary process when etheric display and etheric vibration are the main ‘physical’ vibrations.

188. Nếu chúng ta đang nói về sự trội hơn của một màu sắc nhất định tùy theo phẩm tính của biểu hiện dĩ thái, thì dường như chúng ta đang mô tả một điểm trong tiến trình tiến hoá khi biểu hiện dĩ thái và rung động dĩ thái là những rung động ‘hồng trần’ chính.

189. We remember that in relation to the etheric planes, four colours are to be found: dark purple, violet, light violet, lavender/heliotrope.

189. Chúng ta nhớ rằng liên quan đến các cõi dĩ thái, có thể tìm thấy bốn màu: tím sẫm, tím, tím nhạt, oải hương/heliotrope.

190. These are probably the colors to choose from in relation to the quality of etheric display.

190. Đây có lẽ là những màu cần chọn trong liên hệ với phẩm tính của biểu hiện dĩ thái.

These devas of the shadows are of a dark purple on the fourth etheric level, of a lighter purple, much the same colour as violet, on the third etheric level, a light violet on the second, whilst on the atomic subplane they are of a glorious translucent lavender. (TCF 912)

Những thiên thần của bóng tối này có màu tím sẫm ở cấp độ dĩ thái thứ tư, màu tím nhạt hơn, gần như cùng màu với tím, ở cấp độ dĩ thái thứ ba, tím nhạt ở cấp độ thứ hai, trong khi ở cõi phụ nguyên tử chúng có màu oải hương trong suốt rực rỡ. (TCF 912)

3. Repulsion to all bodies of similar vibratory rate and polarity. Their attractive quality at the end of evolution will cease owing to the fact that naught remains to be attracted.

3. Sự đẩy lùi đối với mọi thể có cùng nhịp độ rung động và cùng sự phân cực. Phẩm tính hấp dẫn của chúng vào cuối tiến hoá sẽ chấm dứt do sự kiện là không còn gì để hấp dẫn nữa.

191. We seem to be describing a time of de-aggregation and destruction of cohesion.

191. Dường như chúng ta đang mô tả một thời kỳ tan rã kết tập và hủy diệt sự cố kết.

192. We see that one of the main theatres of attraction is that existing between the positive atoms (etheric) and the negative atoms of the dense physical planes.

192. Chúng ta thấy rằng một trong những sân khấu chính của lực hấp dẫn là lực hiện hữu giữa các nguyên tử dương (dĩ thái) và các nguyên tử âm của các cõi hồng trần đậm đặc.

193. We are speaking of two qualities as regards these positive force vortices:

193. Chúng ta đang nói đến hai phẩm tính liên quan đến các xoáy mãnh lực dương này:

a. Their repulsive quality

a. Phẩm tính đẩy lùi của chúng

b. Their attractive quality.

b. Phẩm tính hấp dẫn của chúng.

194. We have been learning that negative atoms are absorbed within these positive force vortices by means of the power of attraction. It would seem that in the period under discussion, that absorption of the negative by the positive will have been completed.

194. Chúng ta đã học rằng các nguyên tử âm được hấp thụ vào trong các xoáy mãnh lực dương này nhờ quyền năng hấp dẫn. Có vẻ như trong thời kỳ đang được bàn đến, sự hấp thụ cái âm vào cái dương ấy sẽ đã hoàn tất.

195. We appear to be speaking of a time, not only within the evolutionary process, but at the end of the evolutionary process.

195. Dường như chúng ta đang nói về một thời điểm, không chỉ trong tiến trình tiến hoá, mà còn ở cuối tiến trình tiến hoá.

196. Again a reminder that atoms and vortices of force are identical. This we can see by a study of Babbitt’s Atom.

196. Lại một lần nữa nhắc rằng các nguyên tử và các xoáy mãnh lực là đồng nhất. Điều này chúng ta có thể thấy qua việc nghiên cứu Nguyên Tử của Babbitt.

197. In attempting to understand this book, it is very necessary to learn which terms (though seemingly different) are equivalent.

197. Khi cố gắng thấu hiểu cuốn sách này, điều rất cần thiết là phải học xem những thuật ngữ nào (dù bề ngoài có vẻ khác nhau) lại tương đương nhau.

The vortices in each planetary scheme will be, during evolution, seven.

Các xoáy trong mỗi hệ hành tinh sẽ là bảy trong suốt tiến hoá.

198. We note how rapidly we switch between the human and planetary perspective. Before we were speaking of positive atomic vortices. Now we elevate the consideration to a number of different kinds of vortices (of varying scope) to be found within a planetary scheme.

198. Chúng ta lưu ý mình chuyển đổi nhanh thế nào giữa quan điểm nhân loại và quan điểm hành tinh. Trước đó chúng ta đang nói về các xoáy nguyên tử dương. Giờ đây chúng ta nâng sự xem xét lên một số loại xoáy khác nhau (với phạm vi khác nhau) được tìm thấy trong một hệ hành tinh.

199. The number seven is associated with the process of evolution.

199. Số bảy gắn liền với tiến trình tiến hoá.

200. If there are seven vortices within each planetary scheme, these vortices must be associated with the seven planetary chains, which, from the point of view we are considering, can probably also be seen as vortices of force.

200. Nếu có bảy xoáy trong mỗi hệ hành tinh, thì các xoáy này hẳn phải liên hệ với bảy dãy hành tinh, mà từ quan điểm chúng ta đang xét, có lẽ cũng có thể được xem là các xoáy mãnh lực.

201. One wonders whether there is any apparently tangible ‘thing’ which is not, really, a vortex of force.

201. Người ta tự hỏi liệu có bất kỳ ‘vật’ nào có vẻ hữu hình mà thực ra lại không phải là một xoáy mãnh lực hay không.

202. VSK suggests: “All schemes are septenates, but aren’t some schemes complete in five rounds? Or fewer?”

202. VSK gợi ý: “Mọi hệ đều là các bộ bảy, nhưng chẳng phải một số hệ hoàn tất chỉ trong năm cuộc tuần hoàn sao? Hoặc ít hơn?”

203. DK has told us that the Venus process will be complete in five rounds and probably the same for the Mercury process.

203. Chân sư DK đã cho chúng ta biết rằng tiến trình của Sao Kim sẽ hoàn tất trong năm cuộc tuần hoàn và có lẽ tiến trình của Sao Thủy cũng vậy.

Later, during the period of obscuration, three of the vortices will approximate their masculine pole and eventually but one will be left.

Về sau, trong thời kỳ che khuất, ba trong các xoáy sẽ tiến gần cực nam tính của chúng và cuối cùng chỉ còn lại một.

204. We are simply talking about the process of absorption within a planetary scheme (probably an etheric phenomenon) but we are using other terms. We are speaking of vortices being absorbed in other vortices instead of chains being absorbed within other chains.

204. Chúng ta đơn giản đang nói về tiến trình hấp thụ trong một hệ hành tinh (có lẽ là một hiện tượng dĩ thái) nhưng lại dùng những thuật ngữ khác. Chúng ta đang nói về các xoáy được hấp thụ vào các xoáy khác thay vì các dãy được hấp thụ vào trong các dãy khác.

205. It would also be possible to consider planetary schemes as vortices, each of them destined for polar union.

205. Cũng có thể xem các hệ hành tinh như những xoáy, mỗi xoáy đều được định cho sự hợp nhất cực tính.

206. Within a planetary scheme there are apparently three feminine vortices, which three approximate their masculine pole (merging it would seem).

206. Trong một hệ hành tinh dường như có ba xoáy nữ tính, và cả ba xoáy này tiến gần cực nam tính của chúng (dường như là hòa nhập vào đó).

207. When DK says “but one will be left”, He probably means, one vortex comprising all other vortices within a planetary scheme will remain. The word “eventually” gives the hint.

207. Khi Chân sư DK nói “nhưng chỉ còn lại một”, có lẽ Ngài muốn nói rằng một xoáy bao gồm tất cả các xoáy khác trong một hệ hành tinh sẽ còn lại. Từ “cuối cùng” cho thấy gợi ý đó.

208. We are probably speaking of the absorption process as it relates to seven major vortices and not to all the possible vortices within a planetary scheme.

208. Có lẽ chúng ta đang nói về tiến trình hấp thụ khi nó liên hệ đến bảy xoáy chính chứ không phải mọi xoáy có thể có trong một hệ hành tinh.

209. VSK suggests: “Much therefore must still be ‘happening’ during obscuration if the three approximate their pole and then only one is left after the obscuring period.”

209. VSK gợi ý: “Vì vậy hẳn còn rất nhiều điều vẫn đang ‘xảy ra’ trong thời kỳ che khuất nếu ba xoáy tiến gần cực của chúng rồi sau đó chỉ còn một sau thời kỳ che khuất.”

210. Having begun with the atom of matter, DK is now extending the analogy.

210. Bắt đầu với nguyên tử của vật chất, giờ đây Chân sư DK đang mở rộng phép loại suy.

In man a similar procedure can be seen in connection with his [Page 323] seven centres during the process of initiation.

Trong con người, một tiến trình tương tự có thể được thấy liên quan đến [Page 323] bảy trung tâm của y trong tiến trình điểm đạo.

211. Initiation is a gradual, absorptive process.

211. Điểm đạo là một tiến trình hấp thụ dần dần.

First there are seven, then three absorb the lower four through electrical interaction.

Trước hết có bảy, rồi ba hấp thụ bốn thấp thông qua tương tác điện.

212. We might consider that the ‘Vortices of Aspect’ absorb the ‘Vortices of Attribute’.

212. Chúng ta có thể xem rằng các ‘Xoáy Trạng Thái’ hấp thụ các ‘Xoáy Thuộc Tính’.

213. The process of absorption or approximation is one of electrical interplay.

213. Tiến trình hấp thụ hay tiến gần là một tiến trình của sự tương tác điện.

214. But is the process occurring with the planetary scheme really analogous to that which is occurring in relation to the absorption process in amongst the human chakras.

214. Nhưng liệu tiến trình đang xảy ra với hệ hành tinh có thật sự tương tự với tiến trình đang xảy ra liên quan đến sự hấp thụ giữa các luân xa của con người hay không.

215. We re-read the following in relation to the absorption process within the planetary scheme:

215. Chúng ta đọc lại điều sau đây liên quan đến tiến trình hấp thụ trong hệ hành tinh:

Later, during the period of obscuration, three of the vortices will approximate their masculine pole and eventually but one will be left.

Về sau, trong thời kỳ che khuất, ba trong các xoáy sẽ tiến gần cực nam tính của chúng và cuối cùng chỉ còn lại một.

216. Does this sound the same as:

216. Điều này có giống như:

First there are seven, then three absorb the lower four through electrical interaction.

Trước hết có bảy, rồi ba hấp thụ bốn thấp thông qua tương tác điện.

217. There are problems in trying to conceive them as truly parallel processes.

217. Có những khó khăn khi cố hình dung chúng như những tiến trình thật sự song song.

218. It could be if the one that was “left” was one of the lower four, three of which approximated their masculine pole. But there are problems with this schema.

218. Điều đó có thể đúng nếu cái “còn lại” là một trong bốn thấp, trong đó ba cái tiến gần cực nam tính của chúng. Nhưng có những vấn đề với sơ đồ này.

219. There are a number of different ways of conceiving the absorption process amongst the seven:

219. Có một số cách khác nhau để hình dung tiến trình hấp thụ giữa bảy trung tâm:

220. Let us number the chakras. in the following way:

220. Chúng ta hãy đánh số các luân xa theo cách sau:

a. Base of the spine center = 1

a. Trung tâm đáy cột sống = 1

b. Sacral center = 2

b. Trung tâm xương cùng = 2

c. Solar plexus center = 3

c. Trung tâm tùng thái dương = 3

d. Heart center = 4

d. Trung tâm tim = 4

e. Throat center = 5

e. Trung tâm cổ họng = 5

f. Ajna center = 6

f. Trung tâm ajna = 6

g. Head center = 7

g. Trung tâm đầu = 7

221. In relation to the following, variations are possible depending upon what is being absorbed: human chakras, planes, planets, solar systems—and we do not know the intricacies of these absorption patterns.

221. Liên quan đến điều sau đây, có thể có những biến thể tùy thuộc vào điều gì đang được hấp thụ: các luân xa của con người, các cõi, các hành tinh, các hệ mặt trời—và chúng ta không biết những phức tạp tinh vi của các mô hình hấp thụ này.

222. The stages offered below are hypothetical. It is hard to distinguish between the throat center and the heart center in terms of their primacy—for the heart is primary to the throat, yet the throat has sixteen petals and the heart center only twelve. And the question arises, if the heart is primary to the throat center, then why is it ‘lower’ on the ladder of ascending chakras than the throat center?

222. Những giai đoạn được nêu dưới đây chỉ là giả thuyết. Thật khó phân biệt giữa trung tâm cổ họng và trung tâm tim xét theo tính ưu trội—vì tim ưu trội hơn cổ họng, nhưng cổ họng có mười sáu cánh hoa còn trung tâm tim chỉ có mười hai. Và câu hỏi nảy sinh là, nếu tim ưu trội hơn trung tâm cổ họng, thì tại sao nó lại ‘thấp hơn’ trên chiếc thang các luân xa đi lên so với trung tâm cổ họng?

223. Notice that the spleen as a minor center is left out of the process (though it is often represented along with the major centers). It is probable that the minor centers have their own method of absorption, and that, chiefly, they are absorbed into the major chakra that rules the part of the etheric body where they are found.

223. Lưu ý rằng lá lách như một trung tâm phụ bị bỏ ra ngoài tiến trình này (dù nó thường được trình bày cùng với các trung tâm chính). Có lẽ các trung tâm phụ có phương pháp hấp thụ riêng của chúng, và chủ yếu chúng được hấp thụ vào luân xa chính cai quản phần thể dĩ thái nơi chúng được tìm thấy.

Absorption Tabulation 1

Bảng Hấp Thụ 1

Hypothetical Chakric Absorption Process 1

Hypothetical Chakric Absorption Process 2

Stage 1

2→5. = 2/5

2→5. = 2/5

Stage 2

3→4. = 4/3

3→4. = 4/3

Stage 3

2/5→6

2/5→4/3. = 2/5/4/3

Stage 4

4/3→6

2/5/4/3→6

Stage 5

1→6

1→6

Stage 6

6→7

6→7

224. Note in Process 1, we reserve the absorption of the base of the spine center until near the last, because the base of the spine center is focal during the fifth initiation.

224. Lưu ý trong Tiến trình 1, chúng ta để việc hấp thụ trung tâm đáy cột sống đến gần cuối, vì trung tâm đáy cột sống là tiêu điểm trong lần điểm đạo thứ năm.

225. The ajna center is also considered a kind of higher heart and higher throat.

225. Trung tâm ajna cũng được xem như một loại tim cao hơn và cổ họng cao hơn.

226. Further, the ajna center must remain until very near the end of the process, because it is from the ajna center that the final rising of kundalini is directed. The ‘director’, therefore, must not disappear before that which is directed.

226. Hơn nữa, trung tâm ajna phải còn lại cho đến rất gần cuối tiến trình, vì chính từ trung tâm ajna mà sự dâng lên cuối cùng của kundalini được điều khiển. Vì vậy, ‘đấng điều khiển’ không được biến mất trước cái được điều khiển.

227. In Process 2, instead of bringing the throat/sacral directly to the ajna center, we bring it to the heart/solar plexus first and then this combination centered in the heart center to the ajna center. Whether or not this is feasible can perhaps be clarified if one considers what we are told of the planets and their manner of absorption.

227. Trong Tiến trình 2, thay vì đưa cổ họng/xương cùng trực tiếp đến trung tâm ajna, chúng ta đưa nó đến tim/tùng thái dương trước rồi sau đó đưa tổ hợp này, được tập trung trong trung tâm tim, đến trung tâm ajna. Điều này có khả thi hay không có lẽ có thể được làm sáng tỏ nếu người ta xem xét điều chúng ta được cho biết về các hành tinh và cách thức hấp thụ của chúng.

228. Now we will look at absorptive process in relation to the planets, which is much more intricate, as there are more of them than seven.

228. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét tiến trình hấp thụ liên hệ với các hành tinh, vốn phức tạp hơn nhiều, vì có nhiều hơn bảy hành tinh.

229. The difficulty we will face and which will not be immediately resolved is that the methods of absorption which have been described in relation to the planets may not, at first, seem to accord with the probable absorption patterns for the chakras. As all planets are chakras, this is problematic.

229. Khó khăn mà chúng ta sẽ đối diện và sẽ không được giải quyết ngay là các phương pháp hấp thụ đã được mô tả liên quan đến các hành tinh thoạt đầu có thể không phù hợp với các mô hình hấp thụ có thể có của các luân xa. Vì mọi hành tinh đều là các luân xa, điều này là một vấn đề.

230. What is proposed blow does not entertain two possibilities:

230. Điều được đề xuất dưới đây không xét đến hai khả năng:

a. That there are three planetary triangles in relation to every chakric position within the Solar Logos.

a. Rằng có ba tam giác hành tinh liên hệ với mỗi vị trí luân xa trong Thái dương Thượng đế.

b. That Earth is the base of the spine center for the Solar Logos. I believe it will be, but is not yet, as it is not yet function through its first ray Monad.

b. Rằng Trái Đất là trung tâm đáy cột sống của Thái dương Thượng đế. Tôi tin rằng nó sẽ là như vậy, nhưng chưa phải bây giờ, vì nó chưa vận hành qua chân thần cung một của nó.

231. The attempt is merely to lay out some possibilities over which the group mind may ponder in the attempt to produce greater clarity. It would be presumptuous to imagine that the correct pattern could here be ascertained.

231. Nỗ lực này chỉ đơn thuần là trình bày một số khả năng để tâm trí nhóm có thể suy ngẫm nhằm tạo ra sự sáng tỏ lớn hơn. Sẽ là quá tự phụ nếu tưởng rằng mô hình đúng có thể được xác định ở đây.

232. The planetary chakra assignments will be somewhat as follows (disregarding the various ways that different planets—sometimes quite a number of them—can all be assigned to the same chakra):

232. Việc quy gán luân xa hành tinh sẽ phần nào như sau (bỏ qua những cách khác nhau mà các hành tinh khác nhau—đôi khi khá nhiều hành tinh—đều có thể được quy vào cùng một luân xa):

a. Base of the spine center = Pluto

a. Trung tâm đáy cột sống = Sao Diêm Vương

b. Base of spine center, splenic center, solar logoic mental unit = Earth

b. Trung tâm đáy cột sống, trung tâm lá lách, đơn vị hạ trí thái dương logoic = Trái Đất

c. Sacral center = Mars

c. Trung tâm xương cùng = Sao Hỏa

d. Solar plexus center and solar logoic astral permanent atom = Venus

d. Trung tâm tùng thái dương và nguyên tử trường tồn cảm dục thái dương logoic = Sao Kim

e. Heart center = Jupiter

e. Trung tâm tim = Sao Mộc

f. Throat center and solar logoic physical permanent atom = Saturn

f. Trung tâm cổ họng và nguyên tử trường tồn hồng trần thái dương logoic = Sao Thổ

g. Ajna center = Mercury, and Neptune to a degree, as a synthesizing planet will be needed there.

g. Trung tâm ajna = Sao Thủy, và Sao Hải Vương ở một mức độ nào đó, vì ở đó sẽ cần một hành tinh tổng hợp.

h. Seven head centers = Vulcan

h. Bảy trung tâm đầu = Vulcan

i. Crown center = Uranus; it may also serve in relation to the base of the spine center.

i. Trung tâm vương miện = Sao Thiên Vương; nó cũng có thể phụng sự liên hệ với trung tâm đáy cột sống.

j. Heart within the Head = Neptune (and Vulcan by association with the “Heart of the Sun”)

j. Tim trong Đầu = Sao Hải Vương (và Vulcan do liên hệ với “Trái Tim của Mặt Trời”)

233. When considering these possible patterns of absorption, it may be profitable to consider the three synthesizing planets as all incorporated within the highest head center. This would mean that essentially, the highest head center would be tri-partite, with Saturn, Neptune and Uranus all having a part to play within it.

233. Khi xem xét các mô hình hấp thụ khả dĩ này, có lẽ sẽ hữu ích nếu xem ba hành tinh tổng hợp như đều được bao gồm trong trung tâm đầu cao nhất. Điều này có nghĩa là về bản chất, trung tâm đầu cao nhất sẽ có tính tam phân, với Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương đều có một vai trò trong đó.

234. The order of absorption must be held loosely as much absorption is not strictly sequential but simultaneous. Of course, the sacral and solar plexus centers being their upward movement before the base of the spine center completes its upward movement.

234. Trật tự hấp thụ phải được giữ một cách linh hoạt vì nhiều sự hấp thụ không hoàn toàn tuần tự mà đồng thời. Dĩ nhiên, các trung tâm xương cùng và tùng thái dương bắt đầu chuyển động đi lên của chúng trước khi trung tâm đáy cột sống hoàn tất chuyển động đi lên của nó.

Absorption Tabulation 2

Bảng Hấp Thụ 2

→

Hypothetical Planetary Absorption Process 1

Following, to a degree, the

Chakric Absorption Pattern 1. Above

Hypothetical Planetary Absorption Process 2

Following what is given or may be inferred re Planetary Absorption

(Ignoring many Chakra Dynamics)

Hypothetical Planetary Absorption Process 3

Following what is given re Planetary Absorption

(Ignoring many Chakra Dynamics)

Hypothetical Planetary Absorption Process 4

Regarding Saturn as the Final Absorber of the Brahmic Seven and Necessitating a Planet other than Pluto for the Final Representative of the Base of in its Last Degree of Activation

Stage 1

Mars→Saturn

Mars→Earth

Mars→Earth

Pluto→Mars

Stage 2

Venus→Jupiter

Earth/Mars→Saturn

Mars/Earth→Saturn

Mars/Pluto→Earth

Stage 3

Saturn/Mars→Neptune (as ajna)

Venus→Neptune

Venus→Neptune

Earth/Mars/Pluto→Venus

Stage 4

Jupiter/Venus→Neptune (as ajna)

Jupiter→Saturn

Jupiter→Neptune

Venus/Earth/Mars/Pluto→Jupiter

Stage 5

Mercury→Neptune

Saturn→Neptune

Pluto→Mercury

Mercury→Vulcan or Vulcan→Mercury

Stage 6

Neptune/Mercury/Jupiter/Venus/Saturn Mars (combining ajna and seven head centers) merge

Pluto→Mercury

Mercury→Uranus

Jupiter/Venus/Earth/Mars/Pluto→Saturn

Stage 7

Pluto→ Neptune/Mercury/Jupiter/Venus/Saturn Mars

Mercury/Pluto→Vulcan

Vulcan→Saturn or Uranus

Mercury/Vulcan→Saturn

Note that all six subsidiary Brahmic planets are now resolved into Saturn (a process for which certain references call)

Stage 8

Neptune/Mercury/Jupiter/Venus/Saturn Mars/Pluto→Uranus

Neptune/Saturn/Venus→Uranus

Saturn→Neptune (third aspect into second)

Saturn/Mercury/Vulcan/Jupiter/Earth/Mars/Pluto→Neptune or Uranus

Stage 9

Uranus→Sun

Vulcan/Mercury/Pluto→Uranus

Neptune→Uranus (or Uranus→Neptune (see commentary below)

Neptune→Uranus or

Uranus→Neptune

Stage 10

Uranus→Sun or

Neptune→Sun

Uranus/Neptune→Sun or

Neptune/Uranus→Sun

235. These four processes (and perhaps there are more that are reasonable) are all to be pondered carefully. Perhaps the intuition will resolve the problems with each of them which pondering will reveal.

235. Cả bốn tiến trình này (và có lẽ còn những tiến trình hợp lý khác) đều cần được suy ngẫm cẩn thận. Có lẽ trực giác sẽ giải quyết những vấn đề của từng tiến trình mà sự suy ngẫm sẽ làm lộ ra.

236. When contemplating the possible absorption processes, the mind is overcome with reasonable possibility, every one of which seems to contradict an indication from the Teaching. Having laid out what I consider to be some possible modes of process (remember that much of the process is occurring simultaneously) I would simply recommend brooding over it all, accompanied by intelligent discussion.

236. Khi chiêm ngưỡng các tiến trình hấp thụ khả dĩ, trí tuệ bị choáng ngợp bởi những khả năng hợp lý, mỗi khả năng dường như đều mâu thuẫn với một chỉ dẫn nào đó từ Giáo Huấn. Sau khi trình bày điều tôi xem là một số phương thức tiến trình có thể có (hãy nhớ rằng phần lớn tiến trình đang xảy ra đồng thời), tôi chỉ đơn giản khuyên nên suy tư sâu về toàn bộ điều này, đi kèm với thảo luận thông minh.

237. Process 1. is unconventional, and follows a rational chakra absorption process, but ignores much of what is said about how planets are absorbed.

237. Tiến trình 1. là không theo quy ước, và tuân theo một tiến trình hấp thụ luân xa hợp lý, nhưng bỏ qua nhiều điều đã được nói về cách các hành tinh được hấp thụ.

238. One of the key issues could be named ‘The Problem of Multiple Absorption’: when DK tells us, for instance, that Venus is absorbed into Neptune, does He mean that…

238. Một trong những vấn đề then chốt có thể được gọi là ‘Vấn Đề Hấp Thụ Đa Trùng’: chẳng hạn, khi Chân sư DK cho chúng ta biết rằng Sao Kim được hấp thụ vào Sao Hải Vương, thì Ngài có ý rằng…

a. Venus is the only planet absorbed into Neptune?

a. Sao Kim là hành tinh duy nhất được hấp thụ vào Sao Hải Vương?

b. Or that Venus is absorbed into Neptune by itself?

b. Hay Sao Kim được hấp thụ vào Sao Hải Vương một mình?

c. Or that Venus, in an already absorbed state, may then be absorbed by Neptune. For instance, if Venus is absorbed by Jupiter and Jupiter is then absorbed by Neptune, it could be said that Venus is absorbed by Neptune.

c. Hay Sao Kim, trong một trạng thái đã được hấp thụ rồi, sau đó có thể được Sao Hải Vương hấp thụ. Chẳng hạn, nếu Sao Kim được Sao Mộc hấp thụ rồi Sao Mộc lại được Sao Hải Vương hấp thụ, thì có thể nói rằng Sao Kim được Sao Hải Vương hấp thụ.

d. This idea can be generalized to other planets. The matter is exceedingly intricate from the human perspective.

d. Ý tưởng này có thể được khái quát hóa cho các hành tinh khác. Vấn đề này cực kỳ phức tạp từ quan điểm con người.

239. We leave Uranus (representing the head center) as the Final Absorber. There is a reference, however, that suggests that Saturn may be the Final Absorber. Perhaps this has to be interpreted with respect to the cosmic physical plane only, as the absorption process may well continue on the cosmic astral plane and the cosmic mental plane.

239. Chúng ta để Sao Thiên Vương (đại diện cho trung tâm đầu) là Đấng Hấp Thụ Cuối Cùng. Tuy nhiên, có một dẫn chiếu gợi ý rằng Sao Thổ có thể là Đấng Hấp Thụ Cuối Cùng. Có lẽ điều này phải được diễn giải chỉ liên hệ với cõi hồng trần vũ trụ, vì tiến trình hấp thụ rất có thể còn tiếp tục trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi trí vũ trụ.

“The Saturn scheme is esoterically regarded as having absorbed the `frictional fires' of solar space.” (TCF 1154.)

“Hệ Sao Thổ được xem một cách huyền bí là đã hấp thụ các ‘lửa ma sát’ của không gian thái dương.” (TCF 1154.)

"Saturn is the synthesising scheme for the four planets which embody manas pure and simple and is the major resolution for the minor four and eventually for all The Seven." (TCF 370.)

"Sao Thổ là hệ tổng hợp cho bốn hành tinh thể hiện manas thuần túy và đơn giản, và là sự phân giải chính cho bốn hành tinh nhỏ hơn và cuối cùng cho toàn bộ Bảy.” (TCF 370.)

240. So much here depends upon what is meant by “The Seven”. Probably, this does not refer to only the sacred planets, but especially to the seven which do not include Neptune and Uranus.

240. Rất nhiều điều ở đây tùy thuộc vào ý nghĩa của “Bảy”. Có lẽ điều này không chỉ nói đến các hành tinh thiêng liêng, mà đặc biệt là bảy hành tinh không bao gồm Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương.

241. It may also be possible that in a second ray solar system, Neptune would be the Final Absorber. At the head of the Kabbalistic Tree of Life, Neptune is often place in the role of Kether—“The Crown”. This hints at the primacy of Neptune, which is problematic, because it is said not even to be a true member of our solar system.

241. Cũng có thể trong một hệ mặt trời cung hai, Sao Hải Vương sẽ là Đấng Hấp Thụ Cuối Cùng. Ở đỉnh của Cây Sự Sống Kabbalah, Sao Hải Vương thường được đặt vào vai trò Kether—“Vương Miện”. Điều này gợi ý tính ưu trội của Sao Hải Vương, điều này lại gây vấn đề, vì người ta nói rằng nó thậm chí không phải là một thành viên thực sự của hệ mặt trời chúng ta.

242. Naturally, these absorption patterns can be extrapolated to relate to systems of Solar Logoi and systems of Cosmic Logoi.

242. Một cách tự nhiên, các mô hình hấp thụ này có thể được ngoại suy để liên hệ với các hệ của các Thái dương Thượng đế và các hệ của các Thượng đế Vũ Trụ.

243. On another note, we are clear, at least, that ‘vorticular absorption’ or chakric absorption is “electrical interaction”. This we must remember.

243. Ở một phương diện khác, ít nhất chúng ta rõ rằng ‘sự hấp thụ xoáy tính’ hay sự hấp thụ luân xa là “tương tác điện”. Điều này chúng ta phải ghi nhớ.

We are here viewing the subject wholly from the point of view of our present discussion.

Ở đây chúng ta đang nhìn chủ đề hoàn toàn từ quan điểm của cuộc thảo luận hiện tại.

244. This is clear. The process of absorption is being presented in terms more related to energy/force.

244. Điều này rõ ràng. Tiến trình hấp thụ đang được trình bày bằng những thuật ngữ liên hệ nhiều hơn đến năng lượng/mãnh lực.

Finally, only the head centre is left, for it is the positive pole to all the others.

Cuối cùng, chỉ còn lại trung tâm đầu, vì nó là cực dương đối với tất cả các trung tâm khác.

245. The major chakra of all remains—no matter what the system we may be considering.

245. Luân xa chính của tất cả vẫn còn lại—bất kể hệ nào mà chúng ta có thể đang xem xét.

246. As stated:

246. Như đã nói:

a. There is justification for considering the monadically ray one planet, Uranus as the major representative of the head center

a. Có cơ sở để xem hành tinh chân thần cung một, Sao Thiên Vương, là đại diện chính của trung tâm đầu

b. There is justification for considering the monadically ray two planet, Neptune, as the major representative of the head center (since we are in a ray two solar system.

b. Có cơ sở để xem hành tinh chân thần cung hai, Sao Hải Vương, là đại diện chính của trung tâm đầu (vì chúng ta đang ở trong một hệ mặt trời cung hai.

c. There is justification for considering that all the three synthesizing planets will be intimately related to the highest head center.

c. Có cơ sở để xem rằng cả ba hành tinh tổng hợp sẽ liên hệ mật thiết với trung tâm đầu cao nhất.

247. Here is yet another proposed system of absorption described below

247. Đây là một hệ hấp thụ được đề xuất khác nữa được mô tả dưới đây

248. There are three synthesizing vortices in every such system of seven. Two of the synthesizing vortices (not the main synthesizing vortex) each absorb two of the lesser vortices. The four lesser vortices approximate, leaving two lesser vortices. Each of these two approximates with one of the synthesizing vortices. The two lesser synthesizing vortices that, between them, have absorbed the lower four vortices, now approximate, leaving one vortex to be absorbed by the major positive pole—the major synthesizing vortex. The schema below should help simplify:

248. Có ba xoáy tổng hợp trong mỗi hệ bảy như vậy. Hai trong các xoáy tổng hợp (không phải xoáy tổng hợp chính) mỗi xoáy hấp thụ hai xoáy nhỏ hơn. Bốn xoáy nhỏ hơn tiến gần, để lại hai xoáy nhỏ hơn. Mỗi xoáy trong hai xoáy này tiến gần với một trong các xoáy tổng hợp. Hai xoáy tổng hợp nhỏ hơn, giữa chúng đã hấp thụ bốn xoáy thấp hơn, giờ đây tiến gần nhau, để lại một xoáy sẽ được hấp thụ bởi cực dương chính—xoáy tổng hợp chính. Sơ đồ dưới đây sẽ giúp đơn giản hóa:

Additional Absorption Pattern 1

Mô Hình Hấp Thụ Bổ Sung 1

[table 11]

→

→

Stage 1

Giai đoạn 1

Stage 2

Giai đoạn 2

Stage 3

Giai đoạn 3

Stage 4

Giai đoạn 4

Stage 5

Giai đoạn 5

Stage 6

Giai đoạn 6

Stage 7

Giai đoạn 7

Stage 8

Giai đoạn 8

249. The seven vortices are the sacred seven. There are non-sacred vortices which must be absorbed before the sacred seven can engaged in the absorption process. In Absorption Table 2. I have suggested some possible patterns.

249. Bảy xoáy là bảy xoáy thiêng liêng. Có những xoáy không thiêng liêng phải được hấp thụ trước khi bảy xoáy thiêng liêng có thể tham gia vào tiến trình hấp thụ. Trong Bảng Hấp Thụ 2. tôi đã gợi ý một số mô hình có thể có.

250. Here is another absorption pattern very much like the one just presented but with a few differences:

250. Đây là một mô hình hấp thụ khác rất giống mô hình vừa trình bày nhưng có một vài khác biệt:

Additional Absorption Pattern 2

Mô Hình Hấp Thụ Bổ Sung 2

[table 12]

→

→

Stage 1

Giai đoạn 1

Stage 2

Giai đoạn 2

Stage 3

Giai đoạn 3

Stage 4

Giai đoạn 4

Stage 5

Giai đoạn 5

Stage 6

Giai đoạn 6

Stage 7

Giai đoạn 7

Stage 8

Giai đoạn 8

251. Here is yet another Absorption Pattern (let us call it “Additional Absorption Pattern 3) based upon Planes. It is the most straightforward of all and needs no diagram.

251. Đây là một Mô Hình Hấp Thụ khác nữa (chúng ta hãy gọi nó là “Mô Hình Hấp Thụ Bổ Sung 3”) dựa trên các Cõi. Đây là mô hình trực tiếp nhất trong tất cả và không cần sơ đồ.

a. Plane 6. absorbs plane 7

a. Cõi 6. hấp thụ cõi 7

b. Plane 5. absorbs plane 6

b. Cõi 5. hấp thụ cõi 6

c. Plane 4. absorbs plane 5

c. Cõi 4. hấp thụ cõi 5

d. Plane 3. absorbs plane 4

d. Cõi 3. hấp thụ cõi 4

e. Plane 2. absorbs plane 3

e. Cõi 2. hấp thụ cõi 3

f. Finally, plane 1. absorbs plane 2

f. Cuối cùng, cõi 1. hấp thụ cõi 2

g. Only the atomic plane thus remains

g. Vì vậy chỉ còn lại cõi nguyên tử

252. VSK queries: “The crown centre, or the dual head centre?”

252. VSK hỏi: “Trung tâm vương miện, hay trung tâm đầu kép?”

253. May it be suggested that we seem to be speaking of the thousand petalled lotus which includes the major twelve head center petals and is thus a “dual head centre”. DK also discussed the “two many petalled lotuses” (TCF 170) and these are the ajna center and the dual head center.

253. Có thể gợi ý rằng dường như chúng ta đang nói về hoa sen ngàn cánh bao gồm mười hai cánh hoa chính của trung tâm đầu và vì vậy là một “trung tâm đầu kép”. Chân sư DK cũng đã bàn về “hai hoa sen nhiều cánh” (TCF 170) và đó là trung tâm ajna và trung tâm đầu kép.

254. All these absorption patterns have some merit and are based either on logic or on that which DK has given. NINE have been presented in all touching on…

254. Tất cả các mô hình hấp thụ này đều có một số giá trị và dựa hoặc trên logic hoặc trên điều Chân sư DK đã đưa ra. Tổng cộng đã trình bày CHÍN mô hình, chạm đến…

a. Absorption patterns based entirely on known or inferred inter-chakric dynamics

a. Các mô hình hấp thụ hoàn toàn dựa trên động lực liên-luân xa đã biết hoặc được suy ra

b. Absorption patterns based on known or inferred interplanetary dynamics

b. Các mô hình hấp thụ dựa trên động lực liên-hành tinh đã biết hoặc được suy ra

c. Absorption patterns based on a combination of known or inferred inter-chakric and interplanetary dynamics

c. Các mô hình hấp thụ dựa trên sự kết hợp của động lực liên-luân xa và liên-hành tinh đã biết hoặc được suy ra

d. An absorption pattern relating to the seven planes and their ‘telescopic retraction’, each into a higher.

d. Một mô hình hấp thụ liên hệ với bảy cõi và sự ‘co rút kiểu viễn vọng’ của chúng, mỗi cõi vào một cõi cao hơn.

255. After this somewhat lengthy but related digression, we remind ourselves of the originating subject.

255. Sau sự lạc đề hơi dài nhưng có liên hệ này, chúng ta nhắc mình về chủ đề khởi nguyên.

This question of the electrical polarity of the centres is one of real difficulty, and little can be communicated on the matter.

Vấn đề về cực tính điện của các trung tâm này thật sự rất khó, và rất ít điều có thể được truyền đạt về vấn đề ấy.

256. It must be obvious that we are dealing with a veiled subject. To say too much about it would be to reveal the electrical polarities not only of our atoms of matter/substance, but the polarities of the planets and the stars. Too much knowledge would be at our disposal (though in our present state of ignorance, we might not realize how this would be the case).

256. Hẳn phải rõ ràng rằng chúng ta đang xử lý một chủ đề được che giấu. Nói quá nhiều về nó sẽ là tiết lộ các cực tính điện không chỉ của các nguyên tử vật chất/chất liệu của chúng ta, mà còn các cực tính của các hành tinh và các ngôi sao. Quá nhiều tri thức sẽ nằm trong tầm tay chúng ta (dù trong tình trạng vô minh hiện nay, có thể chúng ta không nhận ra tại sao lại như vậy).

It may be safely pointed out, however, that the generative organs are the negative pole to the throat centre as is the solar plexus to the heart.

Tuy nhiên, có thể an toàn chỉ ra rằng các cơ quan sinh sản là cực âm đối với trung tâm cổ họng cũng như tùng thái dương là cực âm đối với tim.

257. This is a straightforward thought and upon it we based some of the suggested absorption patterns above. The positive pole absorbs the energy of the negative pole. Such a simple process will be useful to bear in mind as we attempt to decipher the kind of veiled material we have been studying.

257. Đây là một tư tưởng trực tiếp và trên đó chúng ta đã xây dựng một số mô hình hấp thụ được gợi ý ở trên. Cực dương hấp thụ năng lượng của cực âm. Một tiến trình đơn giản như thế sẽ hữu ích để ghi nhớ khi chúng ta cố giải mã loại tài liệu che giấu mà chúng ta đã nghiên cứu.

258. We note that DK mentions here the “generative organs” (an obviously physical reference) and not the sacral center.

258. Chúng ta lưu ý rằng ở đây Chân sư DK nhắc đến “các cơ quan sinh sản” (một quy chiếu rõ ràng về thể xác) chứ không phải trung tâm xương cùng.

The order of the development of the centres, the ray-type and colour, coupled to the fact that during certain stages of the evolutionary process different centres (such as the base of the spine) are positive to all the others, not even excluding the head centre, leads to the vast complexity of the subject.

Trật tự phát triển của các trung tâm, loại cung và màu sắc, kết hợp với sự kiện rằng trong những giai đoạn nhất định của tiến trình tiến hoá, các trung tâm khác nhau (như đáy cột sống) là cực dương đối với tất cả các trung tâm khác, thậm chí không loại trừ cả trung tâm đầu, dẫn đến tính phức tạp to lớn của chủ đề này.

259. DK is notifying us of the difficulty of the subject. Here are some points of difficulty which we should register:

259. Chân sư DK đang báo cho chúng ta về sự khó khăn của chủ đề này. Đây là một số điểm khó mà chúng ta nên ghi nhận:

a. The order of the development of the centres

a. Trật tự phát triển của các trung tâm

b. The ray type of the centers

b. Loại cung của các trung tâm

c. The colour of the centres

c. Màu sắc của các trung tâm

d. The change in the polarity of different centers (such as the base of the spine center) at certain points in the evolutionary process

d. Sự thay đổi cực tính của các trung tâm khác nhau (như trung tâm đáy cột sống) tại những điểm nhất định trong tiến trình tiến hoá

260. It is not just complexity that we are dealing with but “vast” complexity.

260. Điều chúng ta đang xử lý không chỉ là sự phức tạp mà là sự phức tạp “to lớn”.

261. We are dealing with the full development of a ‘solar system’—whether that solar system is within man, within the Planetary Logos or actually within the ring-pass-not of the Solar Logos. In the tiny atomic worlds ‘solar systems’ also develop.

261. Chúng ta đang xử lý sự phát triển trọn vẹn của một ‘hệ mặt trời’—dù hệ mặt trời đó ở trong con người, trong Hành Tinh Thượng Đế hay thực sự trong vòng-giới-hạn của Thái dương Thượng đế. Trong những thế giới nguyên tử tí hon, các ‘hệ mặt trời’ cũng phát triển.

262. Chakra systems are solar systems. Each chakra is as a sun.

262. Các hệ luân xa là các hệ mặt trời. Mỗi luân xa như một mặt trời.

263. VSK enquires: “Do the other synthesizing centres, i.e., heart and throat, become negative to the head at some stage, or are they always negative (in some relative sense)?”

263. VSK hỏi: “Các trung tâm tổng hợp khác, tức tim và cổ họng, có trở thành âm đối với đầu ở một giai đoạn nào đó không, hay chúng luôn luôn là âm (theo một nghĩa tương đối nào đó)?”

264. Probably they are not negative at all times. The heart we learned is positive to the throat and the throat to the sacral center. We could infer that these two centers, heart and throat, are always, in some relative sense, negative to the head center, but the head center only develops its full magnetic and radiatory power during the later stages of evolution—after the development of the throat and heart centers.

264. Có lẽ chúng không âm tính vào mọi lúc. Chúng ta đã học rằng tim dương tính đối với trung tâm cổ họng và cổ họng dương tính đối với trung tâm xương cùng. Chúng ta có thể suy ra rằng hai trung tâm này, tim và cổ họng, luôn luôn, theo một ý nghĩa tương đối nào đó, âm tính đối với trung tâm đầu, nhưng trung tâm đầu chỉ phát triển đầy đủ quyền năng từ tính và phóng xạ của nó trong các giai đoạn sau của tiến hoá—sau sự phát triển của các trung tâm cổ họng và tim.

265. With reference to absorption patterns, we can only imagine what it would be like to begin a speculation regarding the absorption patterns of the Seven Solar Systems of Which Ours is One or in relation to the constellational chakras of the One About Whom Naught May Be Said. The process, would however, be purely academic as most human beings are far from absorption/obscuration and so is our planet, yet alone our solar system.

265. Liên quan đến các mô hình hấp thu, chúng ta chỉ có thể hình dung sẽ như thế nào nếu bắt đầu suy đoán về các mô hình hấp thu của Bảy hệ mặt trời mà hệ của chúng ta là một trong đó, hoặc liên hệ với các luân xa chòm sao của Đấng Bất Khả Tư Nghị. Tuy nhiên, tiến trình ấy sẽ thuần túy có tính học thuật vì đa số nhân loại còn rất xa sự hấp thu/sự che khuất, và hành tinh của chúng ta cũng vậy, huống chi là hệ mặt trời của chúng ta.

Likewise certain of the planetary schemes are positive and others negative; three of the schemes are dual, both negative and positive.

Tương tự, một số hệ hành tinh là dương tính và những hệ khác là âm tính; ba hệ là kép, vừa âm vừa dương.

266. A fascinating area of speculation has just been opened.

266. Một lĩnh vực suy đoán đầy hấp dẫn vừa được mở ra.

267. Are we to assume that we are dealing only with the major seven here, such that two would be positive, two negative and three dual.

267. Chúng ta có nên giả định rằng ở đây chúng ta chỉ đang đề cập đến bảy hệ chính, sao cho hai hệ sẽ dương tính, hai hệ âm tính và ba hệ kép.

268. Probably, we are talking of more than the sacred seven.

268. Có lẽ, chúng ta đang nói đến nhiều hơn là bảy hành tinh thiêng liêng.

269. It is possible to divide the planets into three categories: synthesizing planets, sacred planets and non-sacred planets.

269. Có thể chia các hành tinh thành ba loại: các hành tinh tổng hợp, các hành tinh thiêng liêng và các hành tinh không thiêng liêng.

270. We have a facile method of dividing polarity according to these three categories—whether or not it is correct:

270. Chúng ta có một phương pháp dễ dãi để phân chia cực tính theo ba loại này—dù đúng hay không:

a. Synthesizing planets—positive

a. Các hành tinh tổng hợp—dương tính

b. Sacred planets (i.e., the ones which are not synthesizing planets)—dual

b. Các hành tinh thiêng liêng (tức là những hành tinh không phải là hành tinh tổng hợp)—kép

c. Non-sacred planets—negative

c. Các hành tinh không thiêng liêng—âm tính

271. Such a division cannot be entirely accurate, for there would be four sacred planets which were not synthesizing planets, and we are told there are only three dual planetary schemes.

271. Một sự phân chia như vậy không thể hoàn toàn chính xác, vì sẽ có bốn hành tinh thiêng liêng không phải là hành tinh tổng hợp, và chúng ta được cho biết chỉ có ba hệ hành tinh kép.

272. Qualitatively, when thinking of possible dual planetary schemes, Venus and Earth for different reasons seem good candidates.

272. Về mặt phẩm tính, khi nghĩ đến các hệ hành tinh kép khả dĩ, Sao Kim và Trái Đất vì những lý do khác nhau dường như là những ứng viên thích hợp.

273. If we were to confine ourselves only to the sacred planets (which includes the synthesizing planets), Venus and Mercury could be investigated for signs of being dual schemes. Perhaps Jupiter and Neptune could be seen as receptive or negative schemes, and Uranus as a positive scheme. This leaves Saturn and Vulcan unassigned.

273. Nếu chúng ta chỉ giới hạn vào các hành tinh thiêng liêng (bao gồm các hành tinh tổng hợp), thì Sao Kim và Sao Thủy có thể được khảo sát để tìm các dấu hiệu là những hệ kép. Có lẽ Sao Mộc và Sao Hải Vương có thể được xem là các hệ tiếp nhận hay âm tính, và Sao Thiên Vương là một hệ dương tính. Điều này để lại Sao Thổ và Vulcan chưa được phân định.

274. Well, we are simply dealing with the ABC’s of a stupendous science concerning the polarities of chakras. The best we can presently do is to speculate.

274. Chúng ta chỉ đơn giản đang xử lý bảng chữ cái ABC của một khoa học kỳ vĩ liên quan đến các cực tính của các luân xa. Điều tốt nhất hiện nay chúng ta có thể làm là suy đoán.

The same can be predicated anent a solar system, and, curiously enough, anent the planes themselves.

Điều tương tự có thể được khẳng định đối với một hệ mặt trời, và, kỳ lạ thay, đối với chính các cõi nữa.

275. We are being told that since solar systems are chakras, they can be arranged as positive, negative and dual (or neutral).

275. Chúng ta đang được cho biết rằng vì các hệ mặt trời là các luân xa, chúng có thể được sắp xếp thành dương tính, âm tính và kép (hay trung tính).

276. There does seem to be a hierarchy in the matter of positivity and negativity, just as there is for atoms.

276. Quả thực dường như có một thứ bậc trong vấn đề dương tính và âm tính, cũng như có đối với các nguyên tử.

277. The positive chakras are the head center, the heat center and the throat center. They are positive to the base of the spine center, the solar plexus center and the sacral center respectively.

277. Các luân xa dương tính là trung tâm đầu, trung tâm nhiệt và trung tâm cổ họng. Chúng dương tính đối với trung tâm đáy cột sống, trung tâm tùng thái dương và trung tâm xương cùng tương ứng.

278. Because the ajna center may yet be one of the final absorbers, it too can be considered positive, but, in a way it is dual.

278. Bởi vì trung tâm ajna có thể còn là một trong những trung tâm hấp thu cuối cùng, nên nó cũng có thể được xem là dương tính, nhưng theo một cách nào đó nó là kép.

279. In a planetary scheme we could apportion the chains accordingly.

279. Trong một hệ hành tinh, chúng ta có thể phân bổ các dãy cho phù hợp.

280. In a solar system, we could find those planets which rule the three (or possibly four) higher centers and consider them positive.

280. Trong một hệ mặt trời, chúng ta có thể tìm ra những hành tinh cai quản ba (hoặc có thể là bốn) trung tâm cao hơn và xem chúng là dương tính.

281. Of course, the ultimate rulers of those centers may not yet be in powerfully because of the slow rate of developmental unfoldment of the planets with higher spiritual status. It is also possible that every center really has a triangle of planets associated with it, giving us the full twenty-one, and the sum of all, equally twenty-two.

281. Dĩ nhiên, các chủ tinh tối hậu của những trung tâm ấy có thể chưa biểu lộ mạnh mẽ, vì tốc độ khai mở phát triển chậm chạp của các hành tinh có địa vị tinh thần cao hơn. Cũng có thể mỗi trung tâm thực sự có một tam giác hành tinh liên kết với nó, cho chúng ta trọn vẹn hai mươi mốt, và tổng của tất cả, cũng là hai mươi hai.

282. When considering the planes and their polarities, we find that there are many ways to divide them. We can be sure, however, that the highest three planes eventually absorb the lower four. Perhaps we can think of it this way:

282. Khi xem xét các cõi và cực tính của chúng, chúng ta thấy có nhiều cách để phân chia chúng. Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng ba cõi cao nhất cuối cùng hấp thu bốn cõi thấp hơn. Có lẽ chúng ta có thể nghĩ theo cách này:

a. Physical and astral merge.

a. Cõi hồng trần và cõi cảm dục hợp nhất.

b. The mental plane and the buddhic plane merge.

b. Cõi trí và cõi Bồ đề hợp nhất.

c. With this foundation, there are two ways to go;

c. Với nền tảng này, có hai cách để đi tiếp;

i. That which results from the merging of the physical and astral plane merges with that which results from the merging of the mental and buddhic plane, and the result of this merging of four, reduced to one, merges with the atmic plane, which then merges with the monadic plane. That which remains merges with the logoic.

i. Cái phát sinh từ sự hợp nhất của cõi hồng trần và cõi cảm dục hợp nhất với cái phát sinh từ sự hợp nhất của cõi trí và cõi Bồ đề, và kết quả của sự hợp nhất của bốn cõi này, được giảm thành một, hợp nhất với cõi atma, rồi cõi này hợp nhất với cõi chân thần. Cái còn lại hợp nhất với cõi logoic.

ii. Or, probably less likely: That which results from the merging of the physical and astral plane is absorbed by the atmic plane. That which results from the merging of the mental and buddhic planes merges with the monadic plane. The atmic and monadic planes then merge, later to merge with the logoic.

ii. Hoặc, có lẽ ít khả năng hơn: Cái phát sinh từ sự hợp nhất của cõi hồng trần và cõi cảm dục được cõi atma hấp thu. Cái phát sinh từ sự hợp nhất của cõi trí và cõi Bồ đề hợp nhất với cõi chân thần. Sau đó cõi atma và cõi chân thần hợp nhất, rồi về sau hợp nhất với cõi logoic.

iii. The scenario in ‘i.’ may be better as it is more continuous and does not leap over planes. In these matter of absorption it is best to preserve continuity—YET (as an example of discontinuity) it must be remembered that (according to TCF 406) Venus merges into Neptune and not into Saturn, and that Mercury merges into Uranus and not into Saturn. To preserve strict continuity, Saturn would receive both Venus and Mercury. It would not be, as it were, ‘skipped’ for Neptune and Uranus. (cf. TCF 406).

iii. Kịch bản trong ‘i.’ có thể tốt hơn vì nó liên tục hơn và không nhảy qua các cõi. Trong những vấn đề hấp thu này, tốt nhất là bảo toàn tính liên tục—TUY NHIÊN (như một ví dụ về tính gián đoạn) cần nhớ rằng (theo TCF 406) Sao Kim hợp nhất vào Sao Hải Vương chứ không vào Sao Thổ, và Sao Thủy hợp nhất vào Sao Thiên Vương chứ không vào Sao Thổ. Để bảo toàn tính liên tục nghiêm ngặt, Sao Thổ sẽ tiếp nhận cả Sao Kim lẫn Sao Thủy. Nó sẽ không bị, có thể nói như vậy, ‘bỏ qua’ để đến Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương. (xem TCF 406).

283. Regarding the merging of planes, the most straightforward method was given above and is, in short: 7→6→5→4→3→2→1

283. Liên quan đến sự hợp nhất của các cõi, phương pháp trực tiếp nhất đã được nêu ở trên và, tóm lại, là: 7→6→5→4→3→2→1

284. So there are many ways to proceed, and thus far, no certainty about which way is the correct way. The whole subject is deeply veiled, but as we progress in synthetic understanding, an unveiling will occur.

284. Vì vậy có nhiều cách để tiến hành, và cho đến nay, chưa có sự chắc chắn nào về cách nào là đúng. Toàn bộ chủ đề này bị che phủ sâu kín, nhưng khi chúng ta tiến bộ trong sự thấu hiểu tổng hợp, một sự vén màn sẽ xảy ra.

For instance, in connection with the earth scheme we have a positive polarity of a temporary nature based on the type of incarnation our particular Heavenly Man is undergoing on our planet.

Chẳng hạn, liên quan đến hệ địa cầu, chúng ta có một cực tính dương có tính tạm thời dựa trên loại lâm phàm mà Đấng Thiên Nhân đặc thù của chúng ta đang trải qua trên hành tinh của chúng ta.

285. It becomes clear that planetary schemes switch polarity at different stages of their evolution and with respect to other planets.

285. Rõ ràng là các hệ hành tinh chuyển đổi cực tính ở những giai đoạn khác nhau của tiến hoá của chúng và trong tương quan với các hành tinh khác.

286. This adds one more level of complexity to the whole consideration. The same center or chakra can be either of a positive polarity or a negative at different times of the solar system’s development. The same planet can also be positive to one planet and negative to another.

286. Điều này thêm một cấp độ phức tạp nữa vào toàn bộ sự xem xét. Cùng một trung tâm hay luân xa có thể mang cực tính dương hoặc âm vào những thời điểm khác nhau trong sự phát triển của hệ mặt trời. Cùng một hành tinh cũng có thể dương tính đối với hành tinh này và âm tính đối với hành tinh khác.

By this is meant that there are masculine and feminine incarnations undergone by Heavenly Men as by men, considering the entire subject from the angle of electrical polarity and not from sex as understood in connection with the physical body.

Điều này có nghĩa là có những lần lâm phàm nam tính và nữ tính mà các Đấng Thiên Nhân trải qua cũng như con người, xét toàn bộ chủ đề từ góc độ cực tính điện chứ không phải từ giới tính như được hiểu liên hệ với thể xác.

287. To undergo new incarnation, the planetary physical bodies (and some subtle bodies) do not have to disappear and disintegrate as is the case with a human being.

287. Để trải qua lần lâm phàm mới, các thể xác hồng trần của hành tinh (và một số thể vi tế) không nhất thiết phải biến mất và tan rã như trường hợp của con người.

288. Electrical polarity is a much bigger subject than the subject of sex (when considered only in relation to a physical body).

288. Cực tính điện là một chủ đề lớn hơn nhiều so với chủ đề giới tính (khi chỉ được xét trong liên hệ với một thể xác).

289. VSK speculating and questioning: “What would this be? Base to Head, Sacral to Throat, Solar Plexus to Heart makes the three higher centres, by subplane. What is the other of the ‘lower four’? Is the Spleen here to be considered? Or, would Heart go to Ajna, e.g.? What are our possibilities?”

289. VSK suy đoán và đặt câu hỏi: “Điều này sẽ là gì? Đáy lên Đầu, Xương cùng lên Cổ họng, Tùng thái dương lên Tim tạo thành ba trung tâm cao hơn, theo cõi phụ. Cái nào là cái còn lại của ‘bốn thấp’? Lá lách có được xét ở đây không? Hay, chẳng hạn, Tim sẽ đi đến Ajna? Những khả năng của chúng ta là gì?”

290. May it be suggested that almost too many possibilities have been offered in various hypothetical absorption patterns above?

290. Có thể gợi ý rằng gần như đã có quá nhiều khả năng được đưa ra trong các mô hình hấp thu giả thuyết khác nhau ở trên chăng?

291. VSK further queries: “What are the Ray equivalences? The Scheme absorptions?”

291. VSK hỏi thêm: “Các tương đương cung là gì? Các sự hấp thu của Hệ hành tinh?”

292. There are many possible ‘routes’ for absorption. A number of them are feasible, which does not mean they are accurate. Probably, our best bet is to map out feasible ‘routes’ and withhold judgment until more is known—or intuited.

292. Có nhiều ‘lộ trình’ hấp thu khả dĩ. Một số trong đó là khả thi, điều này không có nghĩa là chúng chính xác. Có lẽ, cách tốt nhất của chúng ta là vạch ra các ‘lộ trình’ khả thi và đình chỉ phán đoán cho đến khi biết thêm—hoặc được trực giác nhận biết.

Venus is negatively polarised, and hence it became possible for a mysterious absorption by the Earth of Venusian force.

Sao Kim được phân cực âm tính, và do đó đã trở nên có thể có một sự hấp thu huyền nhiệm của Trái Đất đối với lực Sao Kim.

293. Considering the spiritual status of Venus in relation to the Earth, it may seem strange to consider it negatively polarized. The matter is solved not by considering relative spiritual status, but the nature of the incarnation through which a particular Planetary Logos is passing.

293. Xét địa vị tinh thần của Sao Kim trong tương quan với Trái Đất, có thể thấy lạ khi xem nó là phân cực âm tính. Vấn đề được giải quyết không phải bằng cách xét địa vị tinh thần tương đối, mà bằng bản chất của lần lâm phàm mà một Đức Hành Tinh Thượng Đế đặc thù đang trải qua.

294. We are learning throughout this section that the positive absorbs the negative. The positive chakras (the ones with the greater number of petals) absorb the energy of the lesser chakras—whether dual/equilibrised or negative.

294. Chúng ta đang học xuyên suốt phần này rằng cái dương hấp thu cái âm. Các luân xa dương tính (những luân xa có số cánh hoa lớn hơn) hấp thu năng lượng của các luân xa nhỏ hơn—dù là kép/cân bằng hay âm tính.

295. So much of what we now call elevation and evolution on Earth resulted from this “mysterious absorption”.

295. Rất nhiều điều mà hiện nay chúng ta gọi là sự nâng cao và tiến hoá trên Trái Đất đã phát sinh từ “sự hấp thu huyền nhiệm” này.

Again in this connection the question of sex may serve to elucidate. The karmic tie between the two Heavenly Men—one in a positive incarnation and the other in a negative—caused the working out of an old debt and a planetary alliance.

Một lần nữa, trong mối liên hệ này, vấn đề giới tính có thể giúp làm sáng tỏ. Mối ràng buộc nghiệp quả giữa hai Đấng Thiên Nhân—một vị trong lần lâm phàm dương tính và vị kia trong lần lâm phàm âm tính—đã gây ra sự giải quyết một món nợ cũ và một liên minh hành tinh.

296. This sounds like the need to harmonize a relationship. Perhaps human marriages eventuate for just the same reason. Old debts are worked out, and, once harmony is achieved, an alliance between souls eventuates.

296. Điều này nghe như nhu cầu phải điều hoà một mối quan hệ. Có lẽ hôn nhân của con người cũng xảy ra vì chính lý do ấy. Những món nợ cũ được giải quyết, và, một khi sự hài hoà đạt được, một liên minh giữa các linh hồn sẽ xảy ra.

297. In any case, it is evident that there is a definite karmic tie between the Planetary Logos of Venus and the Planetary Logos of Earth.

297. Dù sao đi nữa, rõ ràng là có một mối ràng buộc nghiệp quả xác định giữa Đức Hành Tinh Thượng Đế của Sao Kim và Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất.

Light flashed forth [Page 324] in Lemurian days in a number of great groups of the human family when these two opposite poles made electrical connection.

Ánh sáng đã bừng phát [Page 324] trong những ngày Lemuria trong một số nhóm lớn của gia đình nhân loại khi hai cực đối nghịch này tạo nên sự nối kết điện.

298. A planetary event caused this flashing forth in relation to the human family. The mysterious absorption of Venusian force by our Earth caused great developments within “a number of great groups of the human family”.

298. Một biến cố hành tinh đã gây ra sự bừng phát này liên hệ với gia đình nhân loại. Sự hấp thu huyền nhiệm của lực Sao Kim bởi Trái Đất của chúng ta đã gây nên những phát triển lớn lao trong “một số nhóm lớn của gia đình nhân loại”.

299. Should we actually call these groups members of the human family when the true human being had not been born? Perhaps, we can use the term “human family” loosely when thinking in terms of the earliest ‘human’ root races. Or we should call the group the ‘pre-human family’.

299. Chúng ta có nên thực sự gọi các nhóm này là những thành viên của gia đình nhân loại khi con người chân chính còn chưa ra đời không? Có lẽ, chúng ta có thể dùng thuật ngữ “gia đình nhân loại” theo nghĩa rộng khi suy nghĩ theo các giống dân gốc ‘nhân loại’ sớm nhất. Hoặc chúng ta nên gọi nhóm ấy là ‘gia đình tiền-nhân loại’.