← Commentary_S6_574_679_song ngữ

TCF 574 - 586: S6S2

Trích nội dung chương

142. The wording above is perhaps ambiguous. The interpretation which seems to make the most sense is to regard “with His system” as referring to the Sirian Logos. This would mean that our Logos along with the system of the Sirian Logos are part of a still greater system. 142. Cách diễn đạt bên trên có lẽ mơ hồ. Cách giải thích dường như hợp lý nhất là xem “cùng với hệ thống của Ngài” là chỉ đến Thượng đế Sirius. Điều này có nghĩa là Thượng đế của chúng ta, cùng với hệ thống của Thượng đế Sirius, là một phần của một hệ thống còn lớn hơn nữa.


142. The wording above is perhaps ambiguous. The interpretation which seems to make the most sense is to regard “with His system” as referring to the Sirian Logos. This would mean that our Logos along with the system of the Sirian Logos are part of a still greater system.

142. Cách diễn đạt bên trên có lẽ mơ hồ. Cách giải thích dường như hợp lý nhất là xem “cùng với hệ thống của Ngài” là chỉ đến Thượng đế Sirius. Điều này có nghĩa là Thượng đế của chúng ta, cùng với hệ thống của Thượng đế Sirius, là một phần của một hệ thống còn lớn hơn nữa.

143. If the meaning of the sentence is as suggested, the Tibetan is a master of revelatory ambiguity.

143. Nếu ý nghĩa của câu là như được gợi ý, thì Chân sư Tây Tạng là một bậc thầy của sự mơ hồ mặc khải.

144. There is reason to suspect that Cosmic Logoi are focussed on the cosmic buddhic plane.

144. Có lý do để nghi ngờ rằng các Thượng đế Vũ Trụ được tập trung trên cõi Bồ đề vũ trụ.

145. The fact that the Sirian Logos (meaning the Logos Who expresses principally through the star Sirius) is on the cosmic mental plane distinguishes Him from our Solar Logos Who is focussed on the cosmic astral plane.

145. Sự kiện rằng Thượng đế Sirius (nghĩa là Thượng đế biểu lộ chủ yếu qua ngôi sao Sirius) ở trên cõi trí tuệ vũ trụ phân biệt Ngài với Thái dương Thượng đế của chúng ta, Đấng được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ.

146. This means that the Sirian Logos in relation to our Logos is relatively higher than Venus is in relation to Earth, because both Venus and the Earth are focussed on the cosmic astral plane—though Venus is focussed one sub-plane higher.

146. Điều này có nghĩa là Thượng đế Sirius, trong tương quan với Thượng đế của chúng ta, tương đối cao hơn Sao Kim trong tương quan với Trái Đất, bởi vì cả hai Sao Kim và Trái Đất đều được tập trung trên cõi cảm dục vũ trụ—dù Sao Kim được tập trung cao hơn một cõi phụ.

This does not involve loss of identity, though the matter is too abstruse to express more adequately.

Điều này không bao hàm sự mất bản sắc, dù vấn đề này quá thâm áo để có thể diễn đạt đầy đủ hơn.

147. Participation in the energy system of a greater Entity does not involve a loss of identity on the part of the lesser entities who, thus, participate.

147. Sự tham dự vào hệ thống năng lượng của một Thực Thể lớn hơn không bao hàm sự mất bản sắc nơi các thực thể nhỏ hơn, những thực thể nhờ đó mà tham dự.

148. Our Logos and the Logos of Sirius may serve as chakras within a Cosmic Logos, but do not, thereby, lose their identity.

148. Thượng đế của chúng ta và Thượng đế của Sirius có thể phụng sự như những luân xa bên trong một Thượng đế Vũ Trụ, nhưng vì thế mà không mất bản sắc của Các Ngài.

149. The basic principle is this: absorption does not indicate loss of differentiation.

149. Nguyên lý căn bản là thế này: sự hấp thu không chỉ ra sự mất biến phân.

It is in this analogy that the basic idea can be found of all teaching given out about the Grand Heavenly Man.

Chính trong phép loại suy này có thể tìm thấy ý tưởng căn bản của mọi giáo huấn được truyền ra về Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.

150. The Grand Heavenly Man, we remember, is a Solar Logos.

150. Chúng ta nhớ rằng Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại là một Thái dương Thượng đế.

151. We also remember from an earlier Tabulation (TCF 565), that the Grand Heavenly Man is called the “Personality” of the Solar Logos.

151. Chúng ta cũng nhớ từ một Bảng Liệt Kê trước đó (TCF 565), rằng Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại được gọi là “Phàm ngã” của Thái dương Thượng đế.

The whole conception of these laws is bound up in this idea. We have the three laws of the cosmic higher planes, holding in a synthesis of beauty the greater and the lesser system.

Toàn bộ quan niệm về các định luật này gắn liền với ý tưởng này. Chúng ta có ba định luật của các cõi cao vũ trụ, giữ trong một tổng hợp mỹ lệ hệ thống lớn hơn và hệ thống nhỏ hơn.

152. This is a vitally important statement as it moves in the direction of indicating the origin of the three cosmic laws—the Law of Synthesis, the Law of Attraction and the Law of Economy.

152. Đây là một phát biểu cực kỳ quan trọng vì nó tiến theo hướng chỉ ra nguồn gốc của ba định luật vũ trụ—Định luật Tổng Hợp, Định luật Hấp Dẫn và Định luật Tiết Kiệm.

153. Does the phrase “the cosmic higher planes” mean the three highest cosmic planes, or the cosmic monadic plane, the cosmic atmic plane and the cosmic buddhic plane? If so there would be some correspondential problems, as, while the cosmic monadic plane could be associated with the cosmic Law of Synthesis, the cosmic atmic plane is not easily associated with the cosmic Law of Attraction and the cosmic buddhic plane with the Law of Economy.

153. Cụm từ “các cõi cao vũ trụ” có nghĩa là ba cõi vũ trụ cao nhất, hay là cõi chân thần vũ trụ, cõi atma vũ trụ và cõi Bồ đề vũ trụ? Nếu vậy sẽ có một số vấn đề tương ứng, vì trong khi cõi chân thần vũ trụ có thể được liên kết với Định luật Tổng Hợp vũ trụ, thì cõi atma vũ trụ không dễ liên kết với Định luật Hấp Dẫn vũ trụ và cõi Bồ đề vũ trụ với Định luật Tiết Kiệm.

154. If the three higher cosmic planes are meant (cosmic logoic, cosmic monadic and cosmic atmic) what about the cosmic buddhic? What law pertains to it? Certainly an aspect of the cosmic Law of Attraction would seem to fit.

154. Nếu ba cõi vũ trụ cao hơn được ngụ ý (cõi logoic vũ trụ, cõi chân thần vũ trụ và cõi atma vũ trụ) thì còn cõi Bồ đề vũ trụ thì sao? Định luật nào thuộc về nó? Chắc chắn một phương diện của Định luật Hấp Dẫn vũ trụ dường như thích hợp.

155. One could think that the intermediate Law of Karma would be an appropriate fit for the cosmic buddhic plane, but in the section of text immediately below, it is assigned to the higher sub-planes of the cosmic mental plane.

155. Người ta có thể nghĩ rằng Định luật Nghiệp Quả trung gian sẽ là một sự phù hợp thích đáng cho cõi Bồ đề vũ trụ, nhưng trong đoạn văn ngay bên dưới, nó được gán cho các cõi phụ cao hơn của cõi trí tuệ vũ trụ.

156. Yet if the cosmic Law of Karma is really “intermediate”, it cannot be denied that the cosmic buddhic plane is the intermediate cosmic plane. Further if Venus has a strong buddhic expression, the analogy would suggest that Sirius (its higher cosmic correspondence) also has a strong buddhic expression.

156. Tuy nhiên nếu Định luật Nghiệp Quả vũ trụ thật sự là “trung gian”, thì không thể phủ nhận rằng cõi Bồ đề vũ trụ là cõi vũ trụ trung gian. Hơn nữa nếu Sao Kim có một biểu hiện Bồ đề mạnh, thì phép loại suy sẽ gợi ý rằng Sirius (tương ứng vũ trụ cao hơn của nó) cũng có một biểu hiện Bồ đề mạnh.

157. The destination of our Solar Logos is the cosmic buddhic plane; to what extent is the Logos of Sirius en rapport with that plane?

157. Đích đến của Thái dương Thượng đế của chúng ta là cõi Bồ đề vũ trụ; Thượng đế của Sirius có mức độ tương thông nào với cõi đó?

158. Further, the Solar Angels though focally active on the higher mental plane (systemically considered) are bearers of buddhic energy. We can apply this analogy to the higher Solar Angels on cosmic planes—those engaged with our Solar Logos and perhaps with the Logos of Sirius.

158. Hơn nữa, các Thái dương Thiên Thần tuy hoạt động tiêu điểm trên cõi thượng trí (xét theo hệ thống) nhưng là những vị mang năng lượng Bồ đề. Chúng ta có thể áp dụng phép loại suy này cho các Thái dương Thiên Thần cao hơn trên các cõi vũ trụ—những vị đang tham dự với Thái dương Thượng đế của chúng ta và có lẽ với Thượng đế của Sirius.

Next we have the great law of Sirius, the Law of Karma, on the third subplane of the cosmic mental plane, which law really controls our Logos, and His actions, in the same way as the ego—in due course of evolution—controls the human personality.

Tiếp theo chúng ta có định luật vĩ đại của Sirius, Định luật Nghiệp Quả, trên cõi phụ thứ ba của cõi trí tuệ vũ trụ, định luật thật sự kiểm soát Thượng đế của chúng ta, và các hành động của Ngài, theo cùng cách như chân ngã—đến đúng tiến trình tiến hoá—kiểm soát phàm ngã con người.

159. We note that the great Law of Karma which emanates from Sirius is focussed on the third sub-plane of the cosmic mental plane. This is significant as the causal body of our Planetary Logos is focussed there. The causal body of the Solar Logos (the Logos which is controlled by the Sirian Law of Karma) is not on the third sub-planes of the cosmic higher mental plane—it is on the first sub-plane.

159. Chúng ta lưu ý rằng Định luật Nghiệp Quả vĩ đại phát xuất từ Sirius được tập trung trên cõi phụ thứ ba của cõi trí tuệ vũ trụ. Điều này có ý nghĩa vì thể nguyên nhân của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta được tập trung ở đó. Thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế (Thượng đế bị kiểm soát bởi Định luật Nghiệp Quả Sirius) không ở trên các cõi phụ thứ ba của cõi thượng trí vũ trụ—nó ở trên cõi phụ thứ nhất.

160. It can be concluded, therefore, that our planetary scheme is especially subject to this Sirian law, and, thus, the conditions of suffering to be found here—and also, the great promise for the future.

160. Vì vậy có thể kết luận rằng hệ hành tinh của chúng ta đặc biệt chịu sự chi phối của định luật Sirius này, và do đó, những điều kiện đau khổ được tìm thấy ở đây—và cả lời hứa lớn lao cho tương lai.

161. In the section of text above, the Sirian Logos working through the Law of Karma is likened to the human ego on the higher mental plane (controlling the human personality). The solar system of our Solar Logos thus becomes, analogically, as kind of ‘personality’ in relation to the Sirian Logos Who serves, analogically, as the soul.

161. Trong đoạn văn bên trên, Thượng đế Sirius hoạt động qua Định luật Nghiệp Quả được ví với chân ngã con người trên cõi thượng trí (kiểm soát phàm ngã con người). Do đó, hệ mặt trời của Thái dương Thượng đế của chúng ta trở thành, theo phép loại suy, như một loại “phàm ngã” trong tương quan với Thượng đế Sirius, Đấng phụng sự, theo phép loại suy, như linh hồn.

162. Of course we will not fall into the trap of saying that the Sirian Logos is the soul of our Solar Logos. Each E/entity has its own soul—even though all souls are One Soul!

162. Dĩ nhiên chúng ta sẽ không rơi vào cái bẫy nói rằng Thượng đế Sirius là linh hồn của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Mỗi Thực thể/thực thể đều có linh hồn riêng của mình—dù mọi linh hồn đều là Một Linh Hồn!

We need to remember that, under the Law of Correspondences, we shall have a relationship in the Cosmos, similar to that existing in the microcosm between the ego and the personality. The suggestion holds much that we might consider with benefit.

Chúng ta cần nhớ rằng, dưới định luật tương ứng, chúng ta sẽ có một mối liên hệ trong Vũ trụ, tương tự như mối liên hệ tồn tại trong tiểu thiên địa giữa chân ngã và phàm ngã. Gợi ý này chứa đựng nhiều điều mà chúng ta có thể suy xét một cách hữu ích.

163. Just as the ego on the higher mental plane trains its personality, so does the Sirian Logos train our Solar Logos (who is still very much working through His personality).

163. Cũng như chân ngã trên cõi thượng trí huấn luyện phàm ngã của nó, thì Thượng đế Sirius cũng huấn luyện Thái dương Thượng đế của chúng ta (Đấng vẫn còn đang hoạt động rất nhiều qua phàm ngã của Ngài).

164. Of the Sirian Logos we could say—He is more soul-infused (in the cosmic sense) than in our Logos.

164. Về Thượng đế Sirius, chúng ta có thể nói—Ngài được linh hồn thấm nhuần nhiều hơn (theo nghĩa vũ trụ) so với Thượng đế của chúng ta.

We must not, however, carry the analogy too far; as we have not yet evolved to where we have planetary consciousness, still less systemic, how can we really expect even to conceive of the A B C of cosmic truth?

Tuy nhiên, chúng ta không được đẩy phép loại suy đi quá xa; vì chúng ta chưa tiến hoá đến mức có tâm thức hành tinh, càng chưa nói đến tâm thức hệ thống, thì làm sao chúng ta có thể thực sự mong đợi ngay cả việc quan niệm được ABC của chân lý vũ trụ?

165. There are three categories of knowledge:

165. Có ba loại tri thức:

a. Planetary

a. Hành tinh

b. Systemic

b. Hệ thống

c. Cosmic

c. Vũ trụ

166. The Logos expressing through the star Sirius both is and is not a Cosmic Logos. A true Cosmic Logos expresses through a sevenfold constellation of seven Solar Logoi. The Logos of the star Sirius does not. Yet it is relatively “cosmic” when compared to our Solar Logos, and perhaps mediates much cosmic influence to our solar system.

166. Thượng đế biểu lộ qua ngôi sao Sirius vừa là vừa không là một Thượng đế Vũ Trụ. Một Thượng đế Vũ Trụ đích thực biểu lộ qua một chòm sao thất phân gồm bảy Thái dương Thượng đế. Thượng đế của ngôi sao Sirius thì không. Tuy nhiên, Ngài tương đối “vũ trụ” khi so với Thái dương Thượng đế của chúng ta, và có lẽ trung gian nhiều ảnh hưởng vũ trụ đến hệ mặt trời của chúng ta.

167. For all its relative grandeur, the star Sirius is still a dwarf star.

167. Dù có sự vĩ đại tương đối của nó, ngôi sao Sirius vẫn là một ngôi sao lùn.

168. DK is telling us that, in studying these matters, we are working with the inconceivable—i.e., with that which human beings cannot conceive.

168. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng, khi nghiên cứu những vấn đề này, chúng ta đang làm việc với điều không thể quan niệm được—tức là với điều mà con người không thể quan niệm.

Just broad hints, wide conceptions, and generalities, are as yet possible. Of one thing we can be sure, and that is that identity ever remains.

Hiện nay chỉ có thể có những gợi ý rộng, những quan niệm bao quát, và những khái quát. Có một điều chúng ta có thể chắc chắn, và đó là bản sắc luôn luôn còn mãi.

169. This is a profoundly important statement. The question is: “Is there really more than One Identity in this entire Universe?”

169. Đây là một phát biểu cực kỳ sâu sắc và quan trọng. Câu hỏi là: “Thật sự có hơn Một Bản Sắc trong toàn thể Vũ trụ này chăng?”

170. If the answer to this question is “No”, then we can be sure that the Identity of the ‘Recurrent One’ ever remains, but that the identity of the lesser emanated E/entities (which may remain more or less throughout the duration of a given cosmos) do not remain from cosmos to cosmos (i.e., from Universe to Universe).

170. Nếu câu trả lời cho câu hỏi này là “Không”, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng Bản Sắc của ‘Đấng Duy Nhất Tái Diễn’ luôn còn mãi, nhưng bản sắc của các Thực thể/thực thể được phát xạ nhỏ hơn (có thể tồn tại ít nhiều trong suốt thời gian của một vũ trụ nhất định) thì không còn mãi từ vũ trụ này sang vũ trụ khác (tức là từ Vũ trụ này sang Vũ trụ khác).

171. For practical purposes, it would seem that within a cosmos, the identity of emanated E/entities ever remains, but since such identities are none other than the One Identity, there is a point of identity-dissolution at which point only the One Identity remains—the sum of its many emanated identities and yet, always more.

171. Vì những mục đích thực tiễn, dường như trong một vũ trụ, bản sắc của các Thực thể/thực thể được phát xạ luôn còn mãi, nhưng vì những bản sắc như thế không gì khác hơn là Một Bản Sắc, nên có một điểm tan biến bản sắc mà tại điểm đó chỉ còn Một Bản Sắc—tổng số của nhiều bản sắc được phát xạ của nó và tuy vậy, luôn luôn còn hơn thế nữa.

Let me explain by illustration:

Hãy để tôi giải thích bằng minh họa:

Each one of us, in due process of evolution, forms part of one of the Heavenly Men, Who Themselves form the [Page 572] seven centres in that greater Heavenly Man, the Logos. Yet, though we are merged with the whole, we do not lose our identity, but forever remain separated units of consciousness, though one with all that lives or is.

Mỗi người trong chúng ta, theo đúng tiến trình tiến hoá, tạo thành một phần của một trong các Đấng Thiên Nhân, mà chính Các Ngài tạo thành [Page 572] bảy trung tâm trong Đấng Thiên Nhân lớn hơn ấy, tức Thượng đế. Tuy nhiên, dù chúng ta được hòa nhập vào toàn thể, chúng ta không mất bản sắc của mình, mà mãi mãi vẫn là những đơn vị tâm thức tách biệt, dù là một với tất cả những gì sống hay hiện hữu.

172. This is the great paradox. We are “one with all that lives or is” and yet “forever remain separated units of consciousness”.

172. Đây là nghịch lý lớn lao. Chúng ta “là một với tất cả những gì sống hay hiện hữu” và tuy vậy “mãi mãi vẫn là những đơn vị tâm thức tách biệt”.

173. We must be careful about the interpretation of the word “forever”; I assume it to mean—‘throughout the duration of a single cosmos’.

173. Chúng ta phải cẩn trọng về cách giải thích từ “mãi mãi”; tôi giả định nó có nghĩa là—‘trong suốt thời gian tồn tại của một vũ trụ đơn nhất’.

174. It seems clear that behind and within all these “separated units of consciousness” is but One Consciousness.

174. Dường như rõ ràng rằng đằng sau và bên trong tất cả những “đơn vị tâm thức tách biệt” này chỉ có Một Tâm Thức.

In like manner our Logos loses not His identity, even though He forms part of the Consciousness of the Logos of Sirius. In His turn, the Sirian Logos forms one of the seven Grand Heavenly Men, who are the centres in the body of ONE OF WHOM NOUGHT MAY BE SAID.

Tương tự như vậy, Thượng đế của chúng ta không mất bản sắc của Ngài, dù Ngài tạo thành một phần của Tâm Thức của Thượng đế của Sirius. Đến lượt mình, Thượng đế Sirius tạo thành một trong bảy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, là những trung tâm trong thể của ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.

175. The utmost caution is needed here. We can understand the general principle brought forward—the amalgamation of a unit in a greater whole does not result in the loss of identity of the unit amalgamated.

175. Ở đây cần sự thận trọng tối đa. Chúng ta có thể hiểu nguyên lý tổng quát được nêu ra—sự hòa nhập của một đơn vị vào một toàn thể lớn hơn không dẫn đến sự mất bản sắc của đơn vị được hòa nhập.

176. What do we mean by the “Sirian Logos”? If we mean the Logos that expresses through the star Sirius, then that Being called here, “ONE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID” is a Cosmic Logos whose major centers are seven Grand Heavenly Men.

176. Chúng ta muốn nói gì bởi “Thượng đế Sirius”? Nếu chúng ta muốn nói Thượng đế biểu lộ qua ngôi sao Sirius, thì Đấng ở đây được gọi là “ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ” là một Thượng đế Vũ Trụ mà các trung tâm chính của Ngài là bảy Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại.

177. However, our Solar Logos, too, is a Grand Heavenly Man, and so the Sirian Logos and our Logos are both centres is the Being Who in this reference is called ONE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID.

177. Tuy nhiên, Thái dương Thượng đế của chúng ta cũng là một Đấng Thiên Nhân Vĩ Đại, và vì vậy Thượng đế Sirius và Thượng đế của chúng ta đều là những trung tâm trong Đấng mà trong chỗ dẫn chiếu này được gọi là ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ.

178. There is also the possibility, however, that by the term “Sirian Logos” (as distinct from the “Logos of Sirius”) is meant that Cosmic Logos in Whom the Logos of the star Sirius forms a part. In this case the ONE OF WHOM NAUGHT MAY BE SAID would be a Super-Cosmic Logos Who would have Cosmic Logoi for His chakras.

178. Tuy nhiên, cũng có khả năng rằng bởi thuật ngữ “Thượng đế Sirius” (phân biệt với “Thượng đế của Sirius”) người ta muốn nói đến Thượng đế Vũ Trụ mà trong Ngài, Thượng đế của ngôi sao Sirius tạo thành một phần. Trong trường hợp này, ĐẤNG BẤT KHẢ TƯ NGHỊ sẽ là một Thượng đế Siêu-Vũ-Trụ mà các Thượng đế Vũ Trụ sẽ là những luân xa của Ngài.

179. The major problems rests with the name to be attached to the Lord of the Seven Solar Systems of Which Ours is One. Are we to call this Lord the “Sirian Logos”, since Sirius may well be the most prominent star within this constellation? If we do call the Lord of the seven systems the “Sirian Logos” we must differentiate Him from the Logos of the star Sirius (Who would be only one chakra within the “Sirian Logos”).

179. Vấn đề chính nằm ở tên gọi được gắn cho Chúa Tể của Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một. Chúng ta có nên gọi Chúa Tể này là “Thượng đế Sirius”, vì Sirius rất có thể là ngôi sao nổi bật nhất trong chòm sao này chăng? Nếu chúng ta gọi Chúa Tể của bảy hệ là “Thượng đế Sirius” thì chúng ta phải phân biệt Ngài với Thượng đế của ngôi sao Sirius (Đấng sẽ chỉ là một luân xa bên trong “Thượng đế Sirius”).

The Laws and the Planes.—We might, while studying the seven laws of the solar system, take them plane by plane, showing certain things—three in all:

Các Định luật và Các Cõi.—Trong khi nghiên cứu bảy định luật của hệ mặt trời, chúng ta có thể xét chúng theo từng cõi, chỉ ra một số điều—tổng cộng là ba:

1. We might study their effect as they demonstrate on the path of involution.

1. Chúng ta có thể nghiên cứu tác động của chúng khi chúng biểu lộ trên con đường giáng hạ tiến hoá.

180. The “path of involution” is the first part of the cycle of the Second Logos.

180. “Con đường giáng hạ tiến hoá” là phần đầu của chu kỳ của Thượng đế thứ hai.

2. As they manifest on the path of evolution, or return.

2. Khi chúng biểu hiện trên con đường tiến hoá, hay Con Đường Trở Về.

181. This is the second part of the cycle of the Second Logos. The First Logos also becomes involved upon the path of evolution when the point of the individualization of animal man is reached.

181. Đây là phần thứ hai của chu kỳ của Thượng đế thứ hai. Thượng đế thứ nhất cũng trở nên liên hệ trên con đường tiến hoá khi đạt đến điểm biệt ngã hóa của người thú.

3. We might also touch on the laws as they affect the human and deva organisms that evolve by means of them.

3. Chúng ta cũng có thể đề cập đến các định luật khi chúng ảnh hưởng đến các cơ thể người và thiên thần tiến hoá bằng phương tiện của chúng.

182. We are told that the evolution of the human and deva organisms depends upon the seven systemic laws.

182. Chúng ta được cho biết rằng sự tiến hoá của các cơ thể người và thiên thần tùy thuộc vào bảy định luật hệ thống.

183. The key thing to understand is that law is a great protective mechanism, promoting and guarding the evolutionary process.

183. Điều then chốt cần thấu hiểu là định luật là một bộ máy bảo vệ vĩ đại, thúc đẩy và gìn giữ tiến trình tiến hoá.

As we do this, we shall gradually get a broad general idea of how this system of ours (the thought-form of the Logos), was gradually built up, how it is controlled and held together, and how numerous and intricate are the interrelations.

Khi làm điều này, chúng ta sẽ dần dần có được một ý niệm tổng quát rộng lớn về cách hệ thống của chúng ta (hình tư tưởng của Thượng đế) đã được xây dựng dần dần như thế nào, nó được kiểm soát và giữ lại với nhau ra sao, và các mối tương quan nhiều vô số và phức tạp đến mức nào.

184. We should pause to note how DK views our solar system: it is “the thought-form of the Logos”.

184. Chúng ta nên dừng lại để lưu ý Chân sư DK nhìn hệ mặt trời của chúng ta như thế nào: nó là “hình tư tưởng của Thượng đế”.

185. Usually when the solar system if referenced we are speaking of the etheric-physical nature of the Solar Logos, which can easily be understood as a logoic thought-form. It would seem, as well, that the astral and mental natures of the Logos should also be considered aspects of the logoic thought-form even though not included in the logoic solar system as usually considered.

185. Thông thường khi hệ mặt trời được nhắc đến, chúng ta đang nói về bản chất dĩ thái-hồng trần của Thái dương Thượng đế, điều có thể dễ dàng được hiểu như một hình tư tưởng logoic. Dường như, bản chất cảm dục và trí tuệ của Thượng đế cũng nên được xem là các phương diện của hình tư tưởng logoic dù không được bao gồm trong hệ mặt trời logoic như thường được hiểu.

186. With respect to the solar system we are going to study:

186. Đối với hệ mặt trời mà chúng ta sẽ nghiên cứu:

a. How it was built up

a. Nó đã được xây dựng như thế nào

b. How it is controlled and held together

b. Nó được kiểm soát và giữ lại với nhau như thế nào

c. The numerous and intricate relations within it

c. Những mối liên hệ nhiều vô số và phức tạp bên trong nó

Certain fundamental hypotheses are assumed, which must form the background for all we would say. We must assume first that a Builder, or some Creative Mind, is working to bring about an ordered production, and is seeking to manifest through a demonstrable objective. The objective universe is but the product of some subjective mind.

Một số giả thuyết nền tảng được giả định, và chúng phải tạo thành bối cảnh cho mọi điều chúng ta muốn nói. Trước hết chúng ta phải giả định rằng một đấng kiến tạo, hay một Trí Tuệ Sáng Tạo nào đó, đang hoạt động để tạo ra một sản phẩm có trật tự, và đang tìm cách biểu lộ qua một mục tiêu khách quan có thể chứng minh được. Vũ trụ khách quan chỉ là sản phẩm của một trí tuệ chủ quan nào đó.

187. From our studies we have determined that this “Creative Mind” or “subjective mind” is defined as “Manas”. An I/intelligence is behind and within every objective creation.

187. Từ các nghiên cứu của mình, chúng ta đã xác định rằng “Trí Tuệ Sáng Tạo” hay “trí tuệ chủ quan” này được định nghĩa là “Manas”. Một trí năng đứng đằng sau và bên trong mọi sáng tạo khách quan.

Next we must posit that the material for the building of this universe lay ready to the hand of the Builder, and that this material itself is the fruit of some previous system, all that is left of some past consummated product.

Tiếp theo chúng ta phải đặt định rằng chất liệu để xây dựng vũ trụ này đã sẵn trong tay đấng kiến tạo, và rằng chính chất liệu này là thành quả của một hệ thống trước đó, tất cả những gì còn lại của một sản phẩm quá khứ đã hoàn tất.

188. DK is telling us that the structures of our present solar system were built upon ‘materials’ inherited from the earlier solar system.

188. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng các cấu trúc của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta được xây dựng trên những “chất liệu” thừa hưởng từ hệ mặt trời trước.

189. He seems to call our present solar system a “universe”. We can see that if the “universe” as here mentioned were the Grand Totality, the statement would not make sense because the entire Grand Totality (the Universe) would be built up of material from some previous solar system! So, obviously, the term “universe” means something far more circumscribed—in fact, a solar system.

189. Dường như Ngài gọi hệ mặt trời hiện tại của chúng ta là một “vũ trụ”. Chúng ta có thể thấy rằng nếu “vũ trụ” như được nhắc đến ở đây là Tổng Thể Vĩ Đại, thì phát biểu ấy sẽ không có nghĩa, bởi vì toàn bộ Tổng Thể Vĩ Đại (Vũ trụ) sẽ được xây dựng bằng chất liệu từ một hệ mặt trời trước nào đó! Vì vậy, hiển nhiên thuật ngữ “vũ trụ” có nghĩa gì đó bị giới hạn hơn nhiều—thật ra là một hệ mặt trời.

190. The “Builder” is that great manasic ‘Intelligence’ Who builds the system through the powers of manas.

190. “Đấng kiến tạo” là ‘Trí Tuệ’ manas vĩ đại xây dựng hệ thống qua các quyền năng của manas.

Given, therefore, the Builder and the material, we must next accede [Page 573] to the proposition that this Builder proceeds with His building under some definite laws that guide His choice of material, that control the form that He erects, and that indicate to Him the process to be followed in the consummating of His idea.

Vì vậy, khi đã có đấng kiến tạo và chất liệu, tiếp theo chúng ta phải chấp nhận [Page 573] mệnh đề rằng đấng kiến tạo này tiến hành việc xây dựng của Ngài dưới những định luật xác định nào đó, những định luật hướng dẫn sự lựa chọn chất liệu của Ngài, kiểm soát hình tướng mà Ngài dựng nên, và chỉ cho Ngài tiến trình phải theo để hoàn tất ý tưởng của Ngài.

191. Let us tabulate how the Builder (in this case the Solar Logos) proceeds. He proceeds under definite laws and these laws do the following:

191. Chúng ta hãy lập bảng cách đấng kiến tạo (trong trường hợp này là Thái dương Thượng đế) tiến hành. Ngài tiến hành dưới những định luật xác định và những định luật này làm những điều sau:

a. They guide His choice of material

a. Chúng hướng dẫn sự lựa chọn chất liệu của Ngài

b. They control the form He erects

b. Chúng kiểm soát hình tướng Ngài dựng nên

c. They indicate the process to be followed in consummating His idea.

c. Chúng chỉ ra tiến trình phải theo để hoàn tất ý tưởng của Ngài.

192. We gather the important point that systemic law determines the workings of ‘Universal Process’

192. Chúng ta rút ra điểm quan trọng rằng định luật hệ thống quyết định sự vận hành của ‘Tiến Trình Vũ Trụ’

We must not forget that three great symbols stand, in the mind of the Logos, for each of His three systems, that the whole exists for Him as a concrete thought-form, for He is learning to manipulate the matter of the cosmic mental plane on concrete levels, in the same way that man is working on the laws of thought, and on the building of thought-forms.

Chúng ta không được quên rằng ba biểu tượng vĩ đại đứng, trong trí tuệ của Thượng đế, cho mỗi một trong ba hệ thống của Ngài, rằng toàn thể tồn tại đối với Ngài như một hình tư tưởng cụ thể, vì Ngài đang học cách thao tác vật chất của cõi trí tuệ vũ trụ trên các cấp độ cụ thể, theo cùng cách con người đang làm việc trên các định luật của tư tưởng, và trên việc xây dựng các hình tư tưởng.

193. We recall that our Solar Logos is not yet mentally polarized, but He is working in cosmic mental substance.

193. Chúng ta nhớ rằng Thái dương Thượng đế của chúng ta chưa phân cực trí tuệ, nhưng Ngài đang hoạt động trong chất liệu trí tuệ vũ trụ.

194. The symbol for each solar system must be of the utmost importance as it indicates, overall, the Archetype and quality of that system. All the Planetary Logoi must align with this symbol in the administration of their planetary systems.

194. Biểu tượng cho mỗi hệ mặt trời hẳn phải có tầm quan trọng tối đa vì nó chỉ ra, trên tổng thể, Nguyên mẫu và phẩm tính của hệ thống ấy. Tất cả các Hành Tinh Thượng Đế phải chỉnh hợp với biểu tượng này trong việc quản trị các hệ hành tinh của Các Ngài.

195. Each solar system is a ‘universal conception’ (using the word “universe” here as it applies to a solar system).

195. Mỗi hệ mặt trời là một ‘quan niệm vũ trụ’ (dùng từ “vũ trụ” ở đây theo nghĩa áp dụng cho một hệ mặt trời).

196. The solar system(s) in their three major aspects are literally the Creation of ‘God-the-Solar Logos’.

196. Hệ mặt trời trong ba phương diện chính của nó theo nghĩa đen là Sáng Tạo của ‘Thượng đế-Thái dương Thượng đế’.

It is impossible to do more than sense the symbols of the systems past and present. Perhaps if we could visualise a swastika of ten arms revolving at right angles, of a radiant green colour, all the ten arms emanating from a central blazing sun, we might have some idea of the thought-form that formed the basis of System I, the activity system.

Không thể làm gì hơn ngoài việc cảm nhận các biểu tượng của những hệ thống quá khứ và hiện tại. Có lẽ nếu chúng ta có thể hình dung một chữ vạn mười cánh quay vuông góc, có màu xanh lục rực sáng, cả mười cánh phát ra từ một mặt trời rực cháy ở trung tâm, chúng ta có thể có một ý niệm nào đó về hình tư tưởng đã tạo thành nền tảng của Hệ I, hệ thống hoạt động.

197. This is an amazingly evocative idea. Let us detail the proposed symbol for System I (or at least for the first major solar system in a series, probably, of six).

197. Đây là một ý tưởng gợi lên đáng kinh ngạc. Chúng ta hãy trình bày chi tiết biểu tượng được đề nghị cho Hệ I (hay ít nhất cho hệ mặt trời chính đầu tiên trong một chuỗi, có lẽ, gồm sáu hệ).

a. The swastika has ten arms. Five is a number of Brahma and ten is double this amount. The number ten relates this symbol to Capricorn, a Brahmic sign ruled by Saturn, the planet of Brahma.

a. Chữ vạn có mười cánh. Năm là một con số của Brahma và mười là gấp đôi số đó. Số mười liên hệ biểu tượng này với Ma Kết, một dấu hiệu Brahma do Thổ Tinh cai quản, hành tinh của Brahma.

b. The arms of the swastika revolve at right angles. The right angle or square (in astrology) signifies constructiveness in mater and suggests the lower quaternary which was brought to a high point in the previous solar system.

b. Các cánh của chữ vạn quay vuông góc. Góc vuông hay hình vuông (trong chiêm tinh học) biểu thị tính kiến tạo trong vật chất và gợi ý bộ tứ thấp đã được đưa đến một điểm cao trong hệ mặt trời trước.

c. The arms are of a radiant green color

c. Các cánh có màu xanh lục rực sáng

d. All ten arms radiate from a central blazing sun

d. Cả mười cánh đều phát xạ từ một mặt trời rực cháy ở trung tâm

e. We are not told the color of this sun.

e. Chúng ta không được cho biết màu của mặt trời này.

198. It seems clear that there are ten potencies which are to be associated with System I.

198. Dường như rõ ràng rằng có mười tiềm lực được liên kết với Hệ I.

199. It is also interesting that there were 100 billion units in the one dominant evolution of that system.

199. Cũng thật thú vị khi có 100 tỷ đơn vị trong sự tiến hoá thống trị duy nhất của hệ thống ấy.

1. In the first solar system there was one dominant evolution, and it consisted of one hundred thousand million monads.

1. Trong hệ mặt trời thứ nhất có một sự tiến hoá thống trị, và nó gồm một trăm ngàn triệu chân thần.

2. In the present system, the second, there are two dominant evolutions, the human and the deva; there are—as earlier stated—sixty thousand million human monads. Add to this the feminine evolution of the devas, consisting of 140 thousand million, and you have the necessary two hundred thousand million. This elucidates my statement anent this being a feminine system.

2. Trong hệ thống hiện tại, hệ thứ hai, có hai sự tiến hoá thống trị, nhân loại và thiên thần; có—như đã nói trước đó—sáu mươi ngàn triệu chân thần nhân loại. Cộng thêm vào đó sự tiến hoá nữ tính của các thiên thần, gồm 140 ngàn triệu, và các bạn có đủ hai trăm ngàn triệu cần thiết. Điều này làm sáng tỏ phát biểu của tôi liên quan đến việc đây là một hệ thống nữ tính.

3. In the third solar system, the total number in evolution will be the needed three hundred thousand million that perfection requires of the threefold Logos. (EH 109-110)

3. Trong hệ mặt trời thứ ba, tổng số đang tiến hoá sẽ là ba trăm ngàn triệu cần thiết mà Thượng đế tam phân đòi hỏi nơi sự hoàn hảo. (EH 109-110)

The basic thought-form for the second system embodies the green swastika of the first manifestation, and adds to it concentric and interlaced circles in blue, in groups of three, linked by one large circle. Both symbols are, of course, in the higher dimensions. The symbol for the next system is unknown.

Hình tư tưởng căn bản cho hệ thống thứ hai bao hàm chữ vạn xanh lục của biểu hiện thứ nhất, và thêm vào đó những vòng tròn đồng tâm và đan xen màu xanh lam, theo từng nhóm ba, được nối kết bởi một vòng tròn lớn. Dĩ nhiên, cả hai biểu tượng đều ở trong các chiều cao hơn. Biểu tượng cho hệ thống kế tiếp thì chưa được biết.

200. We note that there is continuity between the first and second solar system—the color green is preserved.

200. Chúng ta lưu ý rằng có sự liên tục giữa hệ mặt trời thứ nhất và thứ hai—màu xanh lục được giữ lại.

201. However, the colour, blue, characterizing the second solar system emerges.

201. Tuy nhiên, màu xanh lam, đặc trưng cho hệ mặt trời thứ hai, xuất hiện.

202. The blue-green planet, the Earth, suggests the transition from major System I to major System II.

202. Hành tinh xanh lam-xanh lục, Trái Đất, gợi ý sự chuyển tiếp từ Hệ I chính sang Hệ II chính.

203. One wonders how circles can be both “concentric” and “interlaced”. Also we are not told how many groups of three circles there are. Are there perhaps three groups or three, indicating the nine initiations which are to be taken in this solar system? The Solar Logos seems to take at least six cosmic initiations (but, this, over a span of more than one solar system), and nine lesser initiations, perhaps within this solar system.

203. Người ta tự hỏi làm sao các vòng tròn có thể vừa “đồng tâm” vừa “đan xen”. Ngoài ra chúng ta cũng không được cho biết có bao nhiêu nhóm ba vòng tròn. Có lẽ có ba nhóm ba chăng, chỉ ra chín lần điểm đạo sẽ được tiếp nhận trong hệ mặt trời này? Thái dương Thượng đế dường như tiếp nhận ít nhất sáu điểm đạo vũ trụ (nhưng điều này trải qua hơn một hệ mặt trời), và chín điểm đạo nhỏ hơn, có lẽ trong hệ mặt trời này.

204. From the perspective of the cosmic planes, the circle is an important symbol of the second ray in all its fulness. Circles first appear on the monadic plane which is ruled in large part by the number, two.

204. Từ quan điểm của các cõi vũ trụ, vòng tròn là một biểu tượng quan trọng của cung hai trong toàn bộ sự viên mãn của nó. Các vòng tròn lần đầu xuất hiện trên cõi chân thần, cõi được cai quản phần lớn bởi số hai.

205. It is interesting that our solar system (the second major system) is, in a way, a blue-green solar system just as our planet, Earth, is a blue-green planet. There is a hint here concerning the karma of our planet and its relation to the karma of our solar system.

205. Thật thú vị khi hệ mặt trời của chúng ta (hệ thống chính thứ hai) theo một cách nào đó là một hệ mặt trời xanh lam-xanh lục, cũng như hành tinh của chúng ta, Trái Đất, là một hành tinh xanh lam-xanh lục. Ở đây có một gợi ý liên quan đến nghiệp quả của hành tinh chúng ta và mối liên hệ của nó với nghiệp quả của hệ mặt trời chúng ta.

After grasping and conceding these three basic ideas, we can now proceed to the working out of the laws of the system on the seven planes, remembering always that these seven laws hold good on the numerically corresponding subplane on each plane.

Sau khi nắm bắt và chấp nhận ba ý tưởng căn bản này, giờ đây chúng ta có thể tiến tới việc triển khai các định luật của hệ thống trên bảy cõi, luôn luôn nhớ rằng bảy định luật này có hiệu lực trên cõi phụ tương ứng về số trên mỗi cõi.

206. Always the three must be established before attempting to interpret the seven (which are derivative of the three).

206. Luôn luôn phải xác lập ba trước khi cố gắng giải thích bảy (vốn phát sinh từ ba).

207. We are informed that the seven systemic laws apply not only to the seven sub-planes of the cosmic physical plane, but to the seven sub-planes of any of the systemic planes. Realizing this allows us to understand and to work on a scale closer to the scope of our normal lives.

207. Chúng ta được cho biết rằng bảy định luật hệ thống không chỉ áp dụng cho bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ, mà còn cho bảy cõi phụ của bất kỳ cõi nào trong các cõi hệ thống. Nhận ra điều này cho phép chúng ta thấu hiểu và làm việc trên một quy mô gần hơn với phạm vi đời sống bình thường của chúng ta.

208. The adaptation of the laws to sub-planes will be more concrete and of smaller scope than the application of the laws to entire, systemic planes.

208. Sự thích ứng của các định luật với các cõi phụ sẽ cụ thể hơn và có phạm vi nhỏ hơn việc áp dụng các định luật cho toàn bộ các cõi hệ thống.

Let me briefly illustrate:

Hãy để tôi minh họa ngắn gọn:

The fourth law, Magnetic Control, for instance, holds sway on the fourth subplane of each plane, in the fourth round, and in the fourth root-race specially. We shall then have the correspondence as follows:

Chẳng hạn, định luật thứ tư, Kiểm Soát Từ Tính, ngự trị trên cõi phụ thứ tư của mỗi cõi, trong cuộc tuần hoàn thứ tư, và đặc biệt trong giống dân gốc thứ tư. Khi đó chúng ta sẽ có sự tương ứng như sau:

[Page 574]

[Page 574]

4th LawMagnetic Control.

Định luật thứ 4Kiểm Soát Từ Tính.

4th RayHarmony or beauty.

Cung thứ 4Hài hòa hay mỹ lệ.

4th PlaneThe buddhic.

Cõi thứ 4Cõi Bồ đề.

4th SubplaneBuddhic Magnetic Control. [Page 574]

Cõi phụ thứ 4Kiểm Soát Từ Tính Bồ đề. [Page 574]

4th RoundDense Physical Magnetism, controlling sex manifestation on the physical plane, and inspired by astral desire, the reflection of the buddhic.

Cuộc tuần hoàn thứ 4Từ tính hồng trần đậm đặc, kiểm soát biểu hiện tính dục trên cõi hồng trần, và được cảm hứng bởi dục vọng cảm dục, sự phản chiếu của cõi Bồ đề.

4th Root-RaceThe Atlantean, in which the above qualities specially demonstrated.

Giống dân gốc thứ tưGiống dân Atlantis, trong đó các phẩm tính trên được biểu lộ đặc biệt.

209. The "Law of Magnetic Control" is wielded from the buddhi plane.

209. “Định luật Kiểm Soát Từ Tính” được vận dụng từ cõi Bồ đề.

210. The fourth sub-plane of the mental plane is not mentioned, but will be important. The integrated personality focused on this fourth sub-plane and responsive to the soul (and through the soul, to buddhi) is the plane from which the fourfold personality is deliberately and mentally controlled.

210. Cõi phụ thứ tư của cõi trí không được đề cập đến, nhưng sẽ là điều quan trọng. Phàm ngã tích hợp, tập trung trên cõi phụ thứ tư này và đáp ứng với linh hồn (và qua linh hồn, với Bồ đề), là cõi từ đó phàm ngã tứ phân được kiểm soát một cách có chủ ý và bằng trí tuệ.

211. If this control is to eventuate, the personality must be responsive to the soul on the higher mental plane as it expresses buddhi.

211. Nếu sự kiểm soát này muốn thành tựu, phàm ngã phải đáp ứng với linh hồn trên Cõi thượng trí khi nó biểu lộ Bồ đề.

212. We note that the fourth sub-plane of the fourth plane is especially responsive to the Law of Magnetic Control. What will happen if we factor in the subtle ‘sense’ of “intuition” as it relates especially to the fourth sub-plane of the buddhic plane? When the fourfold personality is responding to the fourth law, the Law of Magnetic Control, may it be that the intuition is released into the personality consciousness via the mental unit on the fourth sub-plane of the mental plane?

212. Chúng ta lưu ý rằng cõi phụ thứ tư của cõi thứ tư đặc biệt đáp ứng với Định luật Kiểm Soát Từ Tính. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đưa vào yếu tố “cảm thức” vi tế của “trực giác” khi nó liên hệ đặc biệt đến cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề? Khi phàm ngã tứ phân đáp ứng với định luật thứ tư, Định luật Kiểm Soát Từ Tính, có thể nào trực giác được giải phóng vào tâm thức phàm ngã qua đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí chăng?

213. We gather than “Dense Physical Magnetism” is the physical correspondence of buddhic magnetism. Desire is a lower form of love, and physical man responds to desire through sexual attraction.

213. Chúng ta hiểu rằng “Từ tính Hồng trần Đậm đặc” là sự tương ứng hồng trần của từ tính Bồ đề. Dục vọng là một hình thức thấp của bác ái, và con người hồng trần đáp ứng với dục vọng qua sức hấp dẫn tính dục.

214. We gather that by building the antahkarana under fourth ray Mercury, a link can be established between the mental unit on the fourth sub-plane of the mental plane and the power of intuition as it is focussed on the fourth sub-plane of the buddhic plane.

214. Chúng ta hiểu rằng bằng cách xây dựng antahkarana dưới Sao Thủy cung bốn, có thể thiết lập một liên kết giữa đơn vị hạ trí trên cõi phụ thứ tư của cõi trí và quyền năng của trực giác khi nó được tập trung trên cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề.

TCF 574 - 586: S6S2

11 October – 26 October 2007

11 tháng 10 – 26 tháng 10 năm 2007

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ ra, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

1. Now we address the Laws of the Planes:

1. Giờ đây chúng ta bàn đến các Định luật của các Cõi:

1. The Law of Vibration.--This is the law of the first plane, and it governs all the atomic subplanes of each plane.

1. Định luật Rung động.--Đây là định luật của cõi thứ nhất, và nó chi phối mọi cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi.

2. We hypothesize this law to function under Vulcan and, to a degree, Uranus. Both are planets which strongly express the first ray.

2. Chúng ta giả định định luật này hoạt động dưới Vulcan và, ở một mức độ nào đó, dưới Sao Thiên Vương. Cả hai đều là những hành tinh biểu lộ mạnh mẽ cung một.

It marks the beginning of the work of the Logos, the first setting in motion of mulaprakriti.

Nó đánh dấu sự khởi đầu công việc của Thượng đế, sự khởi động đầu tiên của mulaprakriti.

3. This is the action of the Third Logos at the first outpouring.

3. Đây là hoạt động của Thượng đế thứ ba trong lần tuôn đổ thứ nhất.

4. The Law of Vibration is a law through which mulaprakriti is differentiated into diverse types of matter. Differing movements of the Third Logos (Fohat) ‘within’ mulaprakriti are the diverse types of matter.

4. Định luật Rung động là một định luật qua đó mulaprakriti được biến phân thành những loại vật chất khác nhau. Những chuyển động khác nhau của Thượng đế thứ ba (Fohat) “bên trong” mulaprakriti chính là những loại vật chất khác nhau ấy.

5. In a way, matter is motion. From another perspective, matter is the vacuity caused by motion.

5. Theo một cách nào đó, vật chất là chuyển động. Theo một góc nhìn khác, vật chất là khoảng trống do chuyển động gây ra.

On each plane the vibration of the atomic subplane sets in motion the matter of that plane. It is the key measure.

Trên mỗi cõi, rung động của cõi phụ nguyên tử làm cho vật chất của cõi ấy chuyển động. Đó là thước đo chủ âm.

6. We need to understand the keynote or key frequency of each plane (and sub-plane).

6. Chúng ta cần thấu hiểu chủ âm hay tần số chủ đạo của mỗi cõi (và cõi phụ).

7. As on sub-planes lower than the atomic there may be different combinations of atomic sub-plane matter (i.e., different molecules), the units of matter of each sub-plane will not be uniform in their vibration, but each plane or sub-plane will, nevertheless, have its keynote.

7. Vì trên các cõi phụ thấp hơn cõi nguyên tử có thể có những tổ hợp khác nhau của vật chất cõi phụ nguyên tử (tức là những phân tử khác nhau), nên các đơn vị vật chất của mỗi cõi phụ sẽ không đồng nhất trong rung động của chúng, nhưng dầu vậy mỗi cõi hay cõi phụ vẫn sẽ có chủ âm của nó.

We might sum up the significance of this law in the words, “light” or “fire.”

Chúng ta có thể tóm lược thâm nghĩa của định luật này trong những từ “ánh sáng” hay “lửa”.

8. The Law of Vibration is the law ruling the “Sea of Fire” and the sub-plane correspondence to the “Sea of Fire” on each of the systemic planes.

8. Định luật Rung động là định luật cai quản “Biển Lửa” và sự tương ứng cõi phụ với “Biển Lửa” trên mỗi cõi của hệ thống.

It is the law of fire;

Đó là định luật của lửa;

9. Vulcan is the major planet closest to the sun. Its color is occultly red or red-orange. It is related to all fiery processes within the solar system.

9. Vulcan là hành tinh chính ở gần mặt trời nhất. Màu sắc của nó, theo huyền bí học, là đỏ hoặc đỏ-cam. Nó liên hệ với mọi tiến trình rực lửa trong hệ mặt trời.

it governs the transmutation of differentiated colours back to their synthesis.

nó chi phối sự chuyển hoá các màu sắc đã biến phân trở lại sự tổng hợp của chúng.

10. Here is where the energy of the planet Uranus has application. Uranus is, paramountly, the alchemical planet and governs the transmutative process-the “passage across from one state of being to another through the agency of fire”.

10. Đây là nơi năng lượng của hành tinh Sao Thiên Vương có ứng dụng. Sao Thiên Vương, trên hết, là hành tinh luyện kim và cai quản tiến trình chuyển hoá—“sự vượt qua từ trạng thái hiện hữu này sang trạng thái khác qua tác nhân của lửa”.

11. Uranus (an essentially first ray planet) is also the planet of ‘occult synthesis’.

11. Sao Thiên Vương (một hành tinh về bản chất thuộc cung một) cũng là hành tinh của ‘tổng hợp huyền bí học’.

12. The color synthesizing the colors in our solar system is indigo blue. Uranus can be associated with electric blue. Uranus has an important connection with the blue ray of Love-Wisdom as it appears in the following second ray alignment: Sirius—Pisces—Uranus—Hierarchy—Heart—Solar Plexus.

12. Màu sắc tổng hợp các màu trong hệ mặt trời của chúng ta là xanh chàm. Sao Thiên Vương có thể được liên kết với màu xanh điện. Sao Thiên Vương có một liên hệ quan trọng với cung xanh của Bác Ái – Minh Triết như nó xuất hiện trong sự chỉnh hợp cung hai sau đây: Sirius—Song Ngư—Sao Thiên Vương—Thánh Đoàn—Tim—Tùng thái dương.

13. When differentiated vibrations all return to a common frequency or measure, then homogeneity or complete synthesis prevails.

13. Khi các rung động đã biến phân đều trở về một tần số hay thước đo chung, thì tính đồng nhất hay sự tổng hợp hoàn toàn sẽ ngự trị.

It controls the breaking up of the One into the seven, and then the reabsorption back into the One.

Nó kiểm soát sự phân tách Đấng Duy Nhất thành bảy, rồi sự tái hấp thu trở lại vào Đấng Duy Nhất.

14. We notice the term “breaking” which suggest first ray action.

14. Chúng ta lưu ý thuật ngữ “phân tách”, điều này gợi ý hoạt động của cung một.

15. When we speak of “reabsorption back into the One” the action of the synthesizing planets is suggested.

15. Khi chúng ta nói về “sự tái hấp thu trở lại vào Đấng Duy Nhất”, thì hoạt động của các hành tinh tổng hợp được gợi ra.

16. It must not be forgotten that Saturn is a correspondence to the physical permanent atom of the cosmic physical plane (cf. TCF 406). Saturn is a planet of differentiation (as well as being absorptive of the Brahma aspect). We cannot dispose of Saturn when we look at how the Law of Vibration functions. Saturn also has a strong first ray component.

16. Không được quên rằng Sao Thổ là một sự tương ứng với nguyên tử trường tồn hồng trần của cõi hồng trần vũ trụ (x. TCF 406). Sao Thổ là một hành tinh của sự biến phân (đồng thời cũng hấp thu phương diện Brahma). Chúng ta không thể gạt bỏ Sao Thổ khi xem xét cách Định luật Rung động hoạt động. Sao Thổ cũng có một thành phần cung một mạnh mẽ.

17. Through the stabilizing influence of Saturn, a frequency established is sustained.

17. Qua ảnh hưởng ổn định của Sao Thổ, một tần số đã được thiết lập sẽ được duy trì.

It is really the basic law of evolution, which necessitates involution.

Đó thực sự là định luật căn bản của tiến hoá, định luật này đòi hỏi giáng hạ tiến hoá.

18. Evolution proceeds through the gradual and ordered heightening of vibration. Involution proceeds through the gradual and ordered lessening of vibration.

18. Tiến hoá diễn ra qua sự nâng cao rung động dần dần và có trật tự. Giáng hạ tiến hoá diễn ra qua sự hạ thấp rung động dần dần và có trật tự.

It is analogous to the first movement the Logos made to express Himself through this solar system.

Nó tương tự với chuyển động đầu tiên mà Thượng đế đã thực hiện để biểu lộ Chính Ngài qua hệ mặt trời này.

19. Vulcan is always associated with ‘first impulsion’—the “hammer blow” which sets all into motion.

19. Vulcan luôn gắn liền với ‘xung lực đầu tiên’—“nhát búa” khiến mọi sự chuyển động.

20. The Sun is exalted in Aries. We could say that the Sun in Aries always veils Uranus, but from a certain perspective, it also veils fiery, impelling Vulcan.

20. Mặt Trời được tôn vinh trong Bạch Dương. Chúng ta có thể nói rằng Mặt Trời trong Bạch Dương luôn che phủ Sao Thiên Vương, nhưng từ một góc nhìn nào đó, nó cũng che phủ Vulcan rực lửa và thúc đẩy.

He uttered the Sound, a threefold Sound, one sound for each of His three systems, and started a ripple on the ocean of space.

Ngài đã xướng Âm Thanh, một Âm Thanh tam phân, một âm cho mỗi hệ trong ba hệ của Ngài, và khởi lên một gợn sóng trên đại dương không gian.

21. Vibration originates in sound. The Great Singer is naturally associated with Taurus (the sign which rules the throat center of all beings). Significantly, Taurus is ruled by Vulcan.

21. Rung động phát sinh trong âm thanh. Đấng Đại Ca Sĩ dĩ nhiên được liên kết với Kim Ngưu (dấu hiệu hoàng đạo cai quản trung tâm cổ họng của mọi hữu thể). Điều đáng chú ý là Kim Ngưu do Vulcan cai quản.

22. This section of texts presents the Creative Process somewhat from the perspective of the “Eternal Now”. The “threefold Sound” is uttered at once, so it seems or, at least, in one utterance.

22. Phần văn bản này trình bày Tiến Trình Sáng Tạo phần nào từ góc nhìn của “Hiện Tại Vĩnh Cửu”. “Âm Thanh tam phân” được xướng lên cùng một lúc, dường như là vậy, hoặc ít nhất trong một lần phát âm.

23. The “ocean of space” can be considered the “Ocean of Matter”.

23. “Đại dương không gian” có thể được xem là “Đại Dương Vật Chất”.

24. The impact of the uttered Sound (the sung Sound) is equivalent to the hammer blow of Vulcan.

24. Tác động của Âm Thanh được xướng lên (Âm Thanh được hát lên) tương đương với nhát búa của Vulcan.

25. It is as if the Vishnu aspect (the “Singer”) sends Fohat forth—Fohat vibrating to the tones of the Singer. Fohat’s differentiated vibrations/oscillatory movements are the “holes” dug in space. In this case “space” is mulaprakriti—whether utterly undifferentiated mulaprakriti which is Mulaprakriti, or that which is differentiated but (with respect to the system to be created) is minimally differentiated and thus serves the role of “root matter” for that particular system.

25. Dường như phương diện Vishnu (“Ca Sĩ”) phóng Fohat ra—Fohat rung động theo các âm điệu của Ca Sĩ. Những rung động/chuyển động dao động đã biến phân của Fohat là những “lỗ hổng” được đào trong không gian. Trong trường hợp này “không gian” là mulaprakriti—dù là mulaprakriti hoàn toàn chưa biến phân, tức Mulaprakriti, hay cái đã biến phân nhưng (xét theo hệ sẽ được tạo ra) chỉ biến phân ở mức tối thiểu và do đó giữ vai trò “vật chất gốc” cho hệ đặc thù ấy.

26. It is not yet clear whether all systems are generated from undifferentiated Mulaprakriti, or whether such undifferentiated matter exists only at the very beginning of the entire cosmic process.

26. Hiện chưa rõ liệu mọi hệ đều được phát sinh từ Mulaprakriti chưa biến phân, hay loại vật chất chưa biến phân như thế chỉ tồn tại vào lúc khởi đầu của toàn bộ tiến trình vũ trụ.

The Sound grows in volume as time progresses, and when it has reached its full volume, when it is fully completed, it forms one of the notes in the major cosmic chord.

Âm Thanh lớn dần về âm lượng theo thời gian, và khi nó đạt đến âm lượng trọn vẹn, khi nó hoàn toàn viên mãn, nó tạo thành một trong những nốt của hợp âm vũ trụ lớn.

27. Presumably the note which the Sound is sounding is the same note from the outset. What differs over time is the intensity of volume.

27. Có lẽ nốt mà Âm Thanh đang phát ra vẫn là cùng một nốt ngay từ đầu. Điều khác biệt theo thời gian là cường độ âm lượng.

28. The phrase “major cosmic chord” is important. DK may mean one of the following:

28. Cụm từ “hợp âm vũ trụ lớn” là điều quan trọng. Chân sư DK có thể muốn nói một trong những điều sau:

a. That the chord is important and, hence, “major”

a. Rằng hợp âm ấy quan trọng và do đó là “lớn”

b. That the chord is (in musical terminology) major rather than minor. This would mean that the chord was sounding in a major key—i.e., it possesses a major third rather than a minor third.

b. Rằng hợp âm ấy, theo thuật ngữ âm nhạc, là trưởng chứ không phải thứ. Điều này có nghĩa là hợp âm ấy vang lên ở điệu trưởng—tức là nó có quãng ba trưởng thay vì quãng ba thứ.

c. From another perspective, a “major cosmic chord” may be created by when seven great Sounds peal forth from seven allied solar systems. This is the cosmic and not the systemic perspective.

c. Từ một góc nhìn khác, một “hợp âm vũ trụ lớn” có thể được tạo ra khi bảy Âm Thanh Vĩ Đại vang dội từ bảy hệ mặt trời liên minh. Đây là góc nhìn vũ trụ chứ không phải góc nhìn hệ thống.

29. Within our solar system, it appears that the note related to each systemic law and, thus, to each plane, is one of the notes of this major intra-systemic chord. This would mean that the note to be sounded when all seven laws are ‘sounding’ has seven notes and, therefore, is no ordinary triad, no ordinary musical chord.

29. Trong hệ mặt trời của chúng ta, dường như nốt liên hệ với mỗi định luật của hệ thống và do đó với mỗi cõi, là một trong những nốt của hợp âm lớn nội-hệ thống này. Điều này có nghĩa là nốt sẽ được phát ra khi cả bảy định luật đều đang ‘vang lên’ có bảy nốt và vì thế không phải là một tam nguyên tinh thần thông thường, không phải một hợp âm âm nhạc thông thường.

30. Until we know more it would probably be best to interpret the words “major cosmic chord” as ‘important cosmic cord’, perhaps involving seven solar systems and also, eventually, a reflection of the cosmic chord through seven systemic laws and the seven planes of the cosmic physical plane.

30. Cho đến khi chúng ta biết nhiều hơn, có lẽ tốt nhất nên diễn giải các từ “hợp âm vũ trụ lớn” như là ‘dây hợp âm vũ trụ quan trọng’, có lẽ liên quan đến bảy hệ mặt trời và cuối cùng cũng là một phản chiếu của hợp âm vũ trụ qua bảy định luật của hệ thống và bảy cõi của cõi hồng trần vũ trụ.

31. A little thought will reveal to us that this major cosmic chord is very much “in the making” and is not sounding yet sounding at its full volume. Our Solar Logos is far from being fully developed.

31. Chỉ cần suy nghĩ một chút sẽ cho chúng ta thấy rằng hợp âm vũ trụ lớn này vẫn còn rất nhiều “đang được hình thành” và chưa vang lên với âm lượng trọn vẹn. Thái dương Thượng đế của chúng ta còn rất xa mới phát triển hoàn toàn.

32. If the chord involves other solar systems, our Solar Logos must reach the point at which His note in the sevenfold whole is properly tuned to the other notes and sounding at the correct volume, with the correct timbre and quality.

32. Nếu hợp âm ấy liên quan đến các hệ mặt trời khác, thì Thái dương Thượng đế của chúng ta phải đạt đến điểm mà nốt của Ngài trong toàn thể thất phân được chỉnh đúng với các nốt khác và vang lên với âm lượng đúng, với âm sắc và phẩm tính đúng.

Each note has six subtones, which, with the first, make the seven;

Mỗi nốt có sáu phụ âm, cùng với nốt thứ nhất tạo thành bảy;

33. This statement applies to the cosmic physical plane and also to each of the sevenfold sub-planes of the cosmic physical plane—i.e., the sevenfold solar or systemic planes.

33. Mệnh đề này áp dụng cho cõi hồng trần vũ trụ và cũng áp dụng cho mỗi cõi phụ thất phân của cõi hồng trần vũ trụ—tức là bảy cõi thái dương hay cõi của hệ thống.

34. Always the one will be surrounded by the six others equal to the one. Depending upon the systemic plane concerned, that central one will represent one of the seven rays and that one of the planets which most represents that ray.

34. Luôn luôn một nốt sẽ được bao quanh bởi sáu nốt khác ngang bằng với nó. Tùy theo cõi của hệ thống được xét, nốt trung tâm ấy sẽ đại diện cho một trong bảy cung và cho hành tinh đại diện nhiều nhất cho cung ấy.

35. There is an incredible order in this whole process of differentiation.

35. Có một trật tự đáng kinh ngạc trong toàn bộ tiến trình biến phân này.

the Law of Vibration, therefore, comprises eighteen lesser vibrations and three major, making the twenty-one of our three systems.

do đó, Định luật Rung động bao gồm mười tám rung động nhỏ hơn và ba rung động lớn, thành hai mươi mốt của ba hệ chúng ta.

36. One way of arriving at the composite number of our three systems (i.e., the number twenty-one) is to consider:

36. Một cách để đi đến con số tổng hợp của ba hệ chúng ta (tức là số hai mươi mốt) là xét:

a. Five as the number of Brahma, Ruler of the first major solar system

a. Năm là số của Brahma, Đấng cai quản hệ mặt trời lớn thứ nhất

b. Seven as the number of Vishnu, Ruler of the second major solar system

b. Bảy là số của Vishnu, Đấng cai quản hệ mặt trời lớn thứ hai

c. Nine as the number of Shiva, Rules of the third major solar system

c. Chín là số của Shiva, Đấng cai quản hệ mặt trời lớn thứ ba

37. Another way is as follows: for each solar system there is one keynote vibrating or sounding forth on the logoic plane—the atomic plane of the system. All the notes of the other six lower planes are considered sub-tones or lesser notes.

37. Một cách khác như sau: đối với mỗi hệ mặt trời có một chủ âm rung động hay vang lên trên cõi logoic—cõi nguyên tử của hệ. Tất cả các nốt của sáu cõi thấp hơn khác được xem là các phụ âm hay các nốt nhỏ hơn.

38. This will provide us with all twenty-one vibrations for the three solar systems—the major vibration on the atomic plane of each sevenfold system, and the six vibration of the six subsidiary planes of each sevenfold system.

38. Điều này sẽ cho chúng ta đủ cả hai mươi mốt rung động của ba hệ mặt trời—rung động lớn trên cõi nguyên tử của mỗi hệ thất phân, và sáu rung động của sáu cõi phụ thuộc của mỗi hệ thất phân.

39. It may be questioned whether the planar structure of each of the three major solar systems, is identical—i.e., sevenfold. DK seems to hint that it is, but one also things of a sequence of fivefold, sevenfold and ninefold structures.

39. Có thể đặt câu hỏi liệu cấu trúc cõi của mỗi một trong ba hệ mặt trời lớn có đồng nhất hay không—tức là thất phân. Chân sư DK dường như gợi ý là có, nhưng người ta cũng nghĩ đến một chuỗi cấu trúc ngũ phân, thất phân và cửu phân.

40. If we look at the numbers eighteen plus three, we will also see the eighteen lower sub-planes and the three higher sub-planes of the higher mental plane.

40. Nếu chúng ta nhìn vào các số mười tám cộng ba, chúng ta cũng sẽ thấy mười tám cõi phụ thấp hơn và ba cõi phụ cao hơn của Cõi thượng trí.

41. We may infer that each of the three sub-planes of the higher mental plane sounds a note correlating with one of the lower three systemic planes:

41. Chúng ta có thể suy ra rằng mỗi một trong ba cõi phụ của Cõi thượng trí phát ra một nốt tương ứng với một trong ba cõi thấp của hệ thống:

a. The first and highest sub-plane correlating with the entire mental plane

a. Cõi phụ thứ nhất và cao nhất tương ứng với toàn bộ cõi trí

b. The second sub-plane of the higher mental plane correlating with the entire astral plane

b. Cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí tương ứng với toàn bộ cõi cảm dục

c. The third sub-plane correlating with the etheric-physical plane

c. Cõi phụ thứ ba tương ứng với cõi dĩ thái-hồng trần

42. The perspective advanced here, however, suggests that the atomic sub-plane sets the note for its subsidiary six sub-planes.

42. Tuy nhiên, góc nhìn được nêu ra ở đây gợi ý rằng cõi phụ nguyên tử đặt ra nốt cho sáu cõi phụ phụ thuộc của nó.

a. The highest mental sub-plane setting the note for the entire systemic mental plane—higher and lower

a. Cõi phụ trí tuệ cao nhất đặt ra nốt cho toàn bộ cõi trí của hệ thống—cao và thấp

b. The highest astral sub-plane setting the note for the entire systemic astral plane

b. Cõi phụ cảm dục cao nhất đặt ra nốt cho toàn bộ cõi cảm dục của hệ thống

c. The highest etheric sub-plane setting the note for the entire etheric-physical plane.

c. Cõi phụ dĩ thái cao nhất đặt ra nốt cho toàn bộ cõi dĩ thái-hồng trần.

Two multiplied by nine (2x9), makes the necessary eighteen, which is the key number of our love system.

Hai nhân với chín (2x9), tạo thành mười tám cần thiết, là con số chủ chốt của hệ bác ái của chúng ta.

43. Eighteen is, in a way, the number of the Moon. In ancient India the Brahman’s lineage was considered lunar. They were the great teachers and thus represented the second ray.

43. Mười tám, theo một cách nào đó, là con số của Mặt Trăng. Ở Ấn Độ cổ đại, dòng dõi của người Bà-la-môn được xem là thuộc về Mặt Trăng. Họ là những huấn sư vĩ đại và do đó đại diện cho cung hai.

44. Nine always represents completion, and the nine multiplied by the two correlates with the second major system, yields eighteen.

44. Chín luôn luôn tượng trưng cho sự hoàn tất, và chín nhân với hai, tương ứng với hệ lớn thứ hai, cho ra mười tám.

45. From this perspective, nine would be the number of the first major solar system: we would have 1 x 9. Eighteen would be the number of the second major solar system; we would have 2 x 9. Twenty-seven would be the number of the third major solar system: we would have 3 x 9.

45. Từ góc nhìn này, chín sẽ là con số của hệ mặt trời lớn thứ nhất: chúng ta sẽ có 1 x 9. Mười tám sẽ là con số của hệ mặt trời lớn thứ hai; chúng ta sẽ có 2 x 9. Hai mươi bảy sẽ là con số của hệ mặt trời lớn thứ ba: chúng ta sẽ có 3 x 9.

46. The two together might suggest combining a ninefold series of physical initiations and a ninefold series of astral initiations.

46. Hai số ấy cùng nhau có thể gợi ý việc kết hợp một chuỗi cửu phân các điểm đạo hồng trần và một chuỗi cửu phân các điểm đạo cảm dục.

47. To get to the deepest root of why eighteen should be the “key number of our love system” more pondering will be required.

47. Để đi đến căn nguyên sâu xa nhất của lý do vì sao mười tám phải là “con số chủ chốt của hệ bác ái của chúng ta”, sẽ cần suy ngẫm thêm nữa.

Twenty-seven holds hid the mystery of the third system.

Hai mươi bảy che giấu huyền nhiệm của hệ thứ ba.

44. If this is the case, then nine must be the key number of the first solar system.

44. Nếu đúng như vậy, thì chín hẳn phải là con số chủ chốt của hệ mặt trời thứ nhất.

45. We have three sets of key numbers for these three systems:

45. Chúng ta có ba bộ con số chủ chốt cho ba hệ này:

Key Numbers

Key Numbers

Key Numbers

First Solar System

3

5

9

Second Solar System

2

7

18

Third Solar System

1

9

27

46. In these calculations, it is important to remember that nine is an important number relating to consciousness, for nine is the number of initiatory steps in consciousness, just as seven suggests the structural phases of the form.

46. Trong các phép tính này, điều quan trọng là phải nhớ rằng chín là một con số quan trọng liên hệ với tâm thức, vì chín là số của các bước điểm đạo trong tâm thức, cũng như bảy gợi ý các giai đoạn cấu trúc của hình tướng.

On the path of involution, the seven great Breaths or Sounds drove to the atomic subplane of each plane, and [Page 575] there the basic vibration repeated in its own little world the method of logoic vibration, giving rise itself to six subsidiary breaths.

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, bảy Hơi Thở Vĩ Đại hay Âm Thanh đã thúc đẩy đến cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi, và [Page 575] tại đó rung động căn bản đã lặp lại trong tiểu thế giới riêng của nó phương pháp rung động logoic, tự nó làm phát sinh sáu hơi thở phụ thuộc.

47. “Breaths” are “Sounds”. This suggests the fusion of the first and second aspects. The “Breath” is always associated with the first aspect. The Sound can be associated equally with the first, second or third divine aspects.

47. “Hơi thở” là “Âm Thanh”. Điều này gợi ý sự dung hợp của phương diện thứ nhất và thứ hai. “Hơi thở” luôn luôn được liên kết với phương diện thứ nhất. Âm Thanh có thể được liên kết ngang nhau với phương diện thiêng liêng thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba.

48. It would seem that Fohat is operating under the impulsion of the “seven great Breaths of Sounds”. We remember that Vishnu is the Divine Singer, and so Fohat responds to Vishnu.

48. Dường như Fohat đang hoạt động dưới xung lực của “bảy Hơi Thở Vĩ Đại của Âm Thanh”. Chúng ta nhớ rằng Vishnu là Đấng Ca Sĩ Thiêng Liêng, và vì thế Fohat đáp ứng với Vishnu.

49. Fohat sets into motion only the atomic sub-plane of each systemic plane. Yet how did the six subsidiary systemic planes arise, for they are sub-planes of the highest of the systemic planes—or are they?

49. Fohat chỉ làm cho cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi hệ thống chuyển động. Tuy nhiên, sáu cõi hệ thống phụ thuộc đã phát sinh như thế nào, vì chúng là các cõi phụ của cõi cao nhất trong các cõi hệ thống—hay có phải vậy không?

50. Perhaps Fohat carries seven fundamental vibrations and when encountering Mulaprakriti creates seven vibratory domains, six of which are subsidiary to the first. These seven would be created simultaneously, and would not have to be chained together—the second awaiting the first, the third awaiting the second, etc.

50. Có lẽ Fohat mang theo bảy rung động căn bản và khi gặp Mulaprakriti thì tạo ra bảy miền rung động, trong đó sáu miền phụ thuộc miền thứ nhất. Bảy miền này sẽ được tạo ra đồng thời, và không cần phải được xâu chuỗi với nhau—miền thứ hai chờ miền thứ nhất, miền thứ ba chờ miền thứ hai, v.v.

51. When we read the words “drove to”, we sense a first ray process in motion—a first ray impulsion within the realm of third ray Fohat.

51. Khi chúng ta đọc các từ “đã thúc đẩy đến”, chúng ta cảm nhận một tiến trình cung một đang vận động—một xung lực cung một trong phạm vi của Fohat cung ba.

It will be remembered that the first great outpouring from the Logos vivified universal substance and caused every atom of matter within the “ring-pass-not” of His system to vibrate in seven different measures of vibration. [The work of logoic Fohat] [Fohat only differentiates matter on the atomic sub-planes] The second outpouring caused molecular combinations, thus forming the six subplanes below the atomic on each plane, and produced form. (EP I 168)

Cần lưu ý rằng lần tuôn đổ lớn thứ nhất từ Thượng đế đã tiếp sinh lực cho chất liệu vũ trụ và khiến mọi nguyên tử vật chất bên trong “vòng-giới-hạn” của hệ Ngài rung động theo bảy thước đo rung động khác nhau. [Công việc của Fohat Thượng đế] [Fohat chỉ biến phân vật chất trên các cõi phụ nguyên tử] Lần tuôn đổ thứ hai gây ra các tổ hợp phân tử, nhờ đó hình thành sáu cõi phụ bên dưới cõi nguyên tử trên mỗi cõi, và tạo ra hình tướng. (EP I 168)

52. From what is stated in the reference above, it would seem that Fohat created directly from Mulaprakriti the seven differentiated vibrations. It is not that the lower six had to be created by molecular combination from the vibrations of the first systemic plane.

52. Từ điều được nêu trong tham chiếu trên, dường như Fohat đã trực tiếp tạo ra từ Mulaprakriti bảy rung động đã biến phân. Không phải là sáu rung động thấp hơn phải được tạo ra bằng tổ hợp phân tử từ các rung động của cõi hệ thống thứ nhất.

53. And yet, if Occult Chemistry is to be credited as accurate, the matter of the atomic sub-planes of each of the lower six systemic planes is all relatively molecular—i.e., in a state of combination when compared to the matter of the first systemic sub-plane.

53. Tuy nhiên, nếu Hóa Học Huyền Bí được xem là chính xác, thì vật chất của các cõi phụ nguyên tử của mỗi một trong sáu cõi hệ thống thấp hơn đều tương đối có tính phân tử—tức là ở trong trạng thái kết hợp khi so với vật chất của cõi phụ hệ thống thứ nhất.

54. It would seem, then, that Fohat (when working to create the six lower atomic sub-planes) creates atomic sub-plane matter which is (when compared with the matter of the first systemic sub-plane) molecular matter. This must be further investigated.

54. Vậy thì dường như Fohat (khi hoạt động để tạo ra sáu cõi phụ nguyên tử thấp hơn) tạo ra vật chất cõi phụ nguyên tử mà (khi so với vật chất của cõi phụ hệ thống thứ nhất) là vật chất phân tử. Điều này cần được khảo cứu thêm.

55. In a way, all forms are molecular if they have any combined parts whatsoever. So the term “molecular” is a relative term.

55. Theo một cách nào đó, mọi hình tướng đều là phân tử nếu chúng có bất kỳ bộ phận kết hợp nào. Vì vậy thuật ngữ “phân tử” là một thuật ngữ tương đối.

We get the same correspondence here as we did in the matter of the Rays, for we shall find that the lines of vibration are 1-2-4-6. Logically this would be so, for involution is negative, receptive, and corresponds to the feminine pole, just as the abstract rays were 2-4-6. This truth requires meditation, and an attempt to think abstractly; it is linked to the fact that the whole second system is receptive and feminine; it concerns the evolution of consciousness of the psyche.

Ở đây chúng ta có cùng một sự tương ứng như trong vấn đề các cung, vì chúng ta sẽ thấy rằng các đường rung động là 1-2-4-6. Điều này về mặt logic là như vậy, vì giáng hạ tiến hoá là âm, tiếp nhận, và tương ứng với cực nữ tính, cũng như các cung trừu tượng là 2-4-6. Chân lý này đòi hỏi sự tham thiền, và một nỗ lực suy nghĩ một cách trừu tượng; nó liên kết với sự kiện rằng toàn bộ hệ thứ hai là tiếp nhận và nữ tính; nó liên quan đến sự tiến hoá của tâm thức của tâm linh.

56. Involution is a process of form-building. The second ray is the form-builder and rays four and six are derivative of ray two. Yet, ray one must set the whole process in motion.

56. Giáng hạ tiến hoá là một tiến trình xây dựng hình tướng. Cung hai là cung xây dựng hình tướng và cung bốn cùng cung sáu là những cung phát sinh từ cung hai. Tuy nhiên, cung một phải khởi động toàn bộ tiến trình.

57. Within the second solar system there is cultivated the power to respond sensitively to the forms built until the perceiving consciousness within the form is not only detected, but realized to be the same consciousness as the perceiving consciousness.

57. Trong hệ mặt trời thứ hai, quyền năng đáp ứng một cách nhạy bén với các hình tướng được xây dựng được vun bồi cho đến khi tâm thức tri giác bên trong hình tướng không những được phát hiện mà còn được chứng nghiệm là cùng một tâm thức với tâm thức đang tri giác.

58. We appear then to be speaking of the relations between laws one, two, four and six and planes one, two, four and six.

58. Như vậy dường như chúng ta đang nói đến các mối liên hệ giữa các định luật một, hai, bốn và sáu với các cõi một, hai, bốn và sáu.

59. The deva kingdom is feminine. The encounter of the deva and human kingdom occurs especially on planes six, four and two.

59. Giới thiên thần là nữ tính. Sự gặp gỡ của giới thiên thần và giới nhân loại xảy ra đặc biệt trên các cõi sáu, bốn và hai.

60. We might say that on the path of involution the power of the devas predominate and the forms through which consciousness functions are built.

60. Chúng ta có thể nói rằng trên con đường giáng hạ tiến hoá, quyền năng của các thiên thần chiếm ưu thế và các hình tướng qua đó tâm thức hoạt động được xây dựng.

61. On the path of evolution, and especially after individualization, the emphasis is upon achieving freedom from the forms which the devas (or form-builders) have built. The path of initiation is said to be ruled by the first and seventh rays—hard-line rays.

61. Trên con đường tiến hoá, và đặc biệt sau biệt ngã hóa, trọng tâm là đạt được sự giải thoát khỏi các hình tướng mà các thiên thần (hay các đấng kiến tạo hình tướng) đã xây dựng. Con Đường Điểm Đạo được nói là do cung một và cung bảy cai quản—những cung cứng rắn.

On the path of evolution this law controls the positive aspect of the process.

Trên con đường tiến hoá, định luật này kiểm soát phương diện dương của tiến trình.

62. The “positive aspect of the process” is the process of liberation from form.

62. “Phương diện dương của tiến trình” là tiến trình giải thoát khỏi hình tướng.

63. Vulcan is a builder and related to the second aspect and the Heart of the Sun, but He is also one who destroys and shatters, liberating the ‘condensed light’ of matter into the blinding light—the “Greatest Light”.

63. Vulcan là một đấng kiến tạo và liên hệ với phương diện thứ hai cùng Trái Tim của Mặt Trời, nhưng Ngài cũng là Đấng hủy diệt và đập tan, giải phóng ‘ánh sáng cô đặc’ của vật chất vào ánh sáng chói lòa—“Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất”.

64. When St. Paul begin the third initiation process, he was struck by a Vulcanian energy.

64. Khi Thánh Paul bắt đầu tiến trình lần điểm đạo thứ ba, ông đã bị một năng lượng Vulcan tác động.

65. At the fourth initiation the revealed “Jewel in the Lotus” become destructive in relation to the causal body. Vulcan is the generic ruler of all jewels and is closely associated with the “Jewel in the Lotus”.

65. Ở lần điểm đạo thứ tư, “Bảo Châu trong Hoa Sen” được mặc khải trở nên có tính hủy diệt đối với thể nguyên nhân. Vulcan là chủ tinh tổng quát của mọi bảo châu và có liên hệ mật thiết với “Bảo Châu trong Hoa Sen”.

All is rhythm and movement, and when all that evolves on each plane attains the vibration of the atomic subplane, then the goal is reached.

Mọi sự đều là nhịp điệu và chuyển động, và khi mọi sự tiến hoá trên mỗi cõi đạt đến rung động của cõi phụ nguyên tử, thì mục tiêu được đạt đến.

66. At first, and through the processes of involution, differentiation arises on each of the solar planes. The measure of the atomic sub-plane of each systemic plane is a certain frequency and the measures of the six subsidiary sub-planes are correlated harmoniously with that foundational frequency.

66. Thoạt tiên, và thông qua các tiến trình giáng hạ tiến hoá, sự biến phân phát sinh trên mỗi cõi của thái dương. Mức độ của cõi phụ nguyên tử của mỗi cõi trong hệ là một tần số nhất định, và các mức độ của sáu cõi phụ thứ yếu được tương quan hài hòa với tần số nền tảng ấy.

67. But eventually sub-plane matter is elevated, its frequency increasing, until, on any given plane, only sub-plane matter of the atomic frequency remains.

67. Nhưng rốt cuộc vật chất cõi phụ được nâng lên, tần số của nó gia tăng, cho đến khi, trên bất kỳ cõi nào, chỉ còn lại vật chất cõi phụ có tần số nguyên tử.

68. This we have learned in connection with the vehicles of the human being during the initiation process as follows:

68. Điều này chúng ta đã học được liên quan đến các vận cụ của con người trong tiến trình điểm đạo như sau:

Again, the four initiations, prior to that of the adept, mark respectively the attainment of certain proportions of atomic matter in the bodies—for instance, at the first initiation one-fourth atomic matter, at the second one-half atomic matter, at the third three-quarters atomic matter, and so on to the completion. Since buddhi is the unifying principle (or the welder of all), at the fifth initiation the adept lets the lower vehicles go, and stands in his buddhic sheath. He creates thence his body of manifestation. (IHS 16-17) [We note that it is the Adept who lets the lower vehicles go. What of the Arhat? At the fourth initiation does he not also let the lower vehicles go?]

Một lần nữa, bốn lần điểm đạo, trước lần điểm đạo của chân sư, lần lượt đánh dấu việc đạt được những tỉ lệ nhất định của vật chất nguyên tử trong các thể—thí dụ, ở lần điểm đạo thứ nhất là một phần tư vật chất nguyên tử, ở lần điểm đạo thứ hai là một nửa vật chất nguyên tử, ở lần điểm đạo thứ ba là ba phần tư vật chất nguyên tử, và cứ thế cho đến hoàn tất. Vì Bồ đề là nguyên khí hợp nhất (hay là tác nhân hàn gắn mọi sự), nên ở lần điểm đạo thứ năm chân sư buông bỏ các vận cụ thấp và đứng trong vỏ bọc Bồ đề của Ngài. Từ đó Ngài tạo ra thể biểu hiện của mình. (IHS 16-17) [Chúng ta lưu ý rằng chính chân sư buông bỏ các vận cụ thấp. Còn vị A La Hán thì sao? Ở lần điểm đạo thứ tư y chẳng phải cũng buông bỏ các vận cụ thấp sao?]

69. If this is true for the microcosm, it must also be true for the macrocosm.

69. Nếu điều này đúng đối với tiểu thiên địa, thì nó cũng hẳn phải đúng đối với đại thiên địa.

70. That which combines eventually returns to the state of simplicity, the uncombined state.

70. Điều kết hợp lại rốt cuộc quay về trạng thái đơn giản, trạng thái không kết hợp.

71. When, on each systemic plane, there is once again only atomic sub-plane matter, then the evolutionary goal is reached. It is not expected that this happens simultaneously on all systemic planes.

71. Khi trên mỗi cõi trong hệ, một lần nữa chỉ còn vật chất cõi phụ nguyên tử, thì mục tiêu tiến hoá được đạt đến. Không thể chờ đợi điều này xảy ra đồng thời trên mọi cõi trong hệ.

72. There may be a tendency for matter of the lower systemic planes to return to atomic condition somewhat sooner than matter of higher systemic planes. Certainly, triadal development occurs much later than development within the lower three worlds, do the return to the uncombined state on the higher planes and sub-planes occurs later.

72. Có thể có khuynh hướng để vật chất của các cõi thấp trong hệ trở về trạng thái nguyên tử sớm hơn đôi chút so với vật chất của các cõi cao hơn trong hệ. Chắc chắn, sự phát triển của Tam nguyên tinh thần xảy ra muộn hơn nhiều so với sự phát triển trong ba cõi thấp, nên sự trở về trạng thái không kết hợp trên các cõi và cõi phụ cao hơn cũng xảy ra muộn hơn.

When, therefore, we have achieved the first main vibrations, and have perfected vehicles for all evolutions (not merely the human), of fivefold atomic subplane matter, then we have completed the round of evolution for this system.

Vì vậy, khi chúng ta đã đạt được các rung động chính đầu tiên, và đã hoàn thiện các vận cụ cho mọi cuộc tiến hoá (không chỉ riêng nhân loại), bằng vật chất cõi phụ nguyên tử ngũ phân, thì chúng ta đã hoàn tất chu kỳ tiến hoá cho hệ này.

73. DK is speaking of the completion of the development of the solar system. We note that it is not enough to humanity to complete its evolution; all kingdoms must also complete theirs.

73. Chân sư DK đang nói về sự hoàn tất sự phát triển của hệ mặt trời. Chúng ta lưu ý rằng nhân loại hoàn tất tiến hoá của mình thôi thì chưa đủ; mọi giới cũng phải hoàn tất tiến hoá của chúng.

74. The “round of evolution” is not a conventional round—a chain round, a scheme-round or a systemic round (of which we may also presume there to be seven).

74. “Chu kỳ tiến hoá” không phải là một cuộc tuần hoàn thông thường—một cuộc tuần hoàn của dãy, một cuộc tuần hoàn của hệ hành tinh hay một cuộc tuần hoàn của hệ thống (mà chúng ta cũng có thể giả định là có bảy).