← Commentary_S6_574_679_song ngữ

chapter 001 03

Trích nội dung chương

75. Rather the “round of evolution” suggests the going forth of the Solar Logoic Jiva (from the logoic causal body and functioning as the logoic soul-in-incarnation), just as the human Jiva (fulfilling its role as soul-in-incarnation) goes forth from and returns to the higher mental plane in a single incarnational cycle. 75. Đúng hơn, “chu kỳ tiến hoá” gợi ý sự xuất phát của Jiva Thượng đế Thái dương (từ thể nguyên nhân của Thượng đế và hoạt động như linh hồn đang nhập thể của Thượng đế), cũng như Jiva con người (hoàn thành vai trò của mình như linh hồn đang nhập thể) xuất phát từ cõi thượng trí và quay trở về đó trong một chu kỳ nhập thể…


75. Rather the “round of evolution” suggests the going forth of the Solar Logoic Jiva (from the logoic causal body and functioning as the logoic soul-in-incarnation), just as the human Jiva (fulfilling its role as soul-in-incarnation) goes forth from and returns to the higher mental plane in a single incarnational cycle.

75. Đúng hơn, “chu kỳ tiến hoá” gợi ý sự xuất phát của Jiva Thượng đế Thái dương (từ thể nguyên nhân của Thượng đế và hoạt động như linh hồn đang nhập thể của Thượng đế), cũng như Jiva con người (hoàn thành vai trò của mình như linh hồn đang nhập thể) xuất phát từ cõi thượng trí và quay trở về đó trong một chu kỳ nhập thể đơn nhất.

76. There are other evolutions than the human in the developmental system of the Solar Logos, and they, too must attain to the vibratory level of the “first main vibrations”.

76. Ngoài cuộc tiến hoá nhân loại còn có những cuộc tiến hoá khác trong hệ thống phát triển của Thái dương Thượng đế, và chúng cũng phải đạt đến cấp độ rung động của “những rung động chính đầu tiên”.

77. We realize that the first and principal vibration of the solar system lies beyond man’s expression as a Monad on the second solar plane—the monadic plane. It is the first systemic plane ruled by the Leo Creative Hierarchy which is especially the agent of the Solar Logos on the cosmic physical plane.

77. Chúng ta nhận ra rằng rung động đầu tiên và chủ yếu của hệ mặt trời vượt quá sự biểu hiện của con người như một chân thần trên cõi thái dương thứ hai—cõi chân thần. Đó là cõi thứ nhất trong hệ do Huyền Giai Sáng Tạo Sư Tử cai quản, vốn đặc biệt là tác nhân của Thái dương Thượng đế trên cõi hồng trần vũ trụ.

In the coming system we shall add the next two vibrations that complete the scale, and our Logos will then have completed His building.

Trong hệ sắp tới, chúng ta sẽ thêm vào hai rung động kế tiếp để hoàn tất thang âm, và khi đó Thượng đế của chúng ta sẽ hoàn tất công trình kiến tạo của Ngài.

78. In this solar system our number is seven. From one perspective, two vibrations yet remain, talking us to the number of completion, nine.

78. Trong hệ mặt trời này, con số của chúng ta là bảy. Từ một góc nhìn, vẫn còn hai rung động nữa, đưa chúng ta đến con số hoàn tất là chín.

79. We have moved from the five of the previous solar system into the seven of this solar system. It can be inferred that nine will be a very important number in the next solar system (even though, as the number of consciousness and of initiation, it is important in all of the three).

79. Chúng ta đã chuyển từ số năm của hệ mặt trời trước sang số bảy của hệ mặt trời này. Có thể suy ra rằng số chín sẽ là một con số rất quan trọng trong hệ mặt trời kế tiếp (dù với tư cách là con số của tâm thức và của điểm đạo, nó quan trọng trong cả ba hệ).

80. Already the nine of consciousness is important in this system.

80. Ngay trong hệ này, số chín của tâm thức đã là quan trọng.

81. How shall there be seven solar systems, which (so we are told there will be)? Shall six be counted together as a seventh? This is a method of counting often used by DK.

81. Làm sao lại có bảy hệ mặt trời, mà (như chúng ta được bảo) sẽ có? Phải chăng sáu được tính chung thành một thứ bảy? Đây là một phương pháp đếm mà Chân sư DK thường dùng.

It must be remembered that the possible cosmic streams of energy available for use in our solar system are seven in number, of which three are major. These three vary during vast and incalculable cycles. (TCF 1182)

Phải ghi nhớ rằng các dòng năng lượng vũ trụ khả hữu có thể dùng trong hệ mặt trời của chúng ta là bảy về số lượng, trong đó có ba dòng là chính. Ba dòng này biến đổi trong những chu kỳ mênh mông và không thể tính được. (TCF 1182)

Manas is the united faculty of four of the Heavenly Men, synthesised through a fifth Heavenly Man on the third plane of the system. These five Heavenly Men were the logoic embodiment in an earlier system and achieved the fullness of manasic life. Their synthetic life is that which is primarily understood when we speak of Brahma, that cosmic Entity Who is the sum-total of logoic active intelligence. (TCF 336)

Manas là năng lực hợp nhất của bốn Đấng Thiên Nhân, được tổng hợp qua một Đấng Thiên Nhân thứ năm trên cõi thứ ba của hệ. Năm Đấng Thiên Nhân này là hiện thân Thượng đế trong một hệ trước kia và đã đạt đến sự viên mãn của sự sống manas. Sự sống tổng hợp của Các Ngài là điều chủ yếu được hiểu đến khi chúng ta nói về Brahma, Thực Thể vũ trụ là tổng thể của trí tuệ hoạt động của Thượng đế. (TCF 336)

The fourth Creative Hierarchy, that of the human Monads, has to learn to vibrate positively, but the devas proceed along the line of least resistance;

Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư, tức Huyền Giai của các chân thần nhân loại, phải học cách rung động một cách tích cực, nhưng các thiên thần tiến bước theo con đường ít trở ngại nhất;

82. Humanity is closely connected with Vulcan. The lives on Vulcan become “fiery stones” whereas the lives on Earth become “living stones”.

82. Nhân loại có liên hệ mật thiết với Vulcan. Các sự sống trên Vulcan trở thành “những hòn đá lửa” trong khi các sự sống trên Trái Đất trở thành “những hòn đá sống”.

83. The “human monads” have to shatter the devic ring-pass-nots in which they are enclosed. Some degree of first ray energy will be required for this action. There is something at the root of the human kingdom which is strongly first ray in nature as it evolves through the destruction of form.

83. Các “chân thần nhân loại” phải phá vỡ các vòng-giới-hạn thiên thần mà chúng bị bao kín trong đó. Một mức độ năng lượng cung một nào đó sẽ cần thiết cho hành động này. Có điều gì đó ở tận gốc của giới nhân loại mang bản chất cung một rất mạnh, vì nó tiến hoá thông qua sự hủy diệt hình tướng.

they remain negative, taking the line of acquiescence, of falling in with the law.

chúng vẫn giữ tính tiêu cực, đi theo đường lối thuận phục, thuận theo định luật.

84. The devas obey the law. They adapt themselves to the law (thus acting according to the third ray). They acquiesce to the law (thus acting according to the second ray).

84. Các thiên thần tuân theo định luật. Chúng thích nghi với định luật (do đó hành động theo cung ba). Chúng thuận phục định luật (do đó hành động theo cung hai).

Only the human Monads, and only in the three worlds, follow the positive line, and by resistance, struggle, battle and strife learn the lesson of divine acquiescence.

Chỉ các chân thần nhân loại, và chỉ trong ba cõi giới, mới đi theo đường lối tích cực, và bằng sự kháng cự, đấu tranh, chiến đấu và xung đột mà học bài học về sự thuận phục thiêng liêng.

85. This is quite an amazing line of development. The devas instinctively know and understand adaptation and acquiescence to the Divine Law.

85. Đây quả là một đường phát triển đáng kinh ngạc. Các thiên thần theo bản năng biết và thấu hiểu sự thích nghi và thuận phục đối với Định luật Thiêng liêng.

86. Human Monads are ‘rebels’ and begin in a state which is anything but acquiescent. Through conflict they learn the “divine acquiescence” is best.

86. Các chân thần nhân loại là những “kẻ phản nghịch” và khởi đầu trong một trạng thái hoàn toàn không thuận phục. Qua xung đột, chúng học rằng “sự thuận phục thiêng liêng” là tốt nhất.

87. We have been told that the psychology of our Planetary Logos is that of a ‘Divine Rebel’; human beings a ‘monadic cells’ in certain of His centres, seem to inherit that psychology.

87. Chúng ta đã được bảo rằng tâm lý học của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là của một “Đấng Phản Nghịch Thiêng Liêng”; con người, với tư cách là những “tế bào chân thần” trong một số trung tâm của Ngài, dường như thừa hưởng tâm lý ấy.

88. The fourth ray (which characterizes humanity) is a warring ray and the struggle-filled method of human development reveals this.

88. Cung bốn (vốn đặc trưng cho nhân loại) là một cung chiến đấu và phương pháp phát triển đầy đấu tranh của nhân loại cho thấy điều này.

89. The human Creative Hierarchy is ruled by the sign Scorpio, a fourth ray sign with the first ray latent; it is paramountly a sign of struggle.

89. Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại được dấu hiệu hoàng đạo Hổ Cáp cai quản, một dấu hiệu cung bốn với cung một tiềm ẩn; đó chủ yếu là một dấu hiệu của đấu tranh.

Yet, owing to the increase of friction through that very struggle, they progress with a relatively greater rapidity than the devas. They have need to do this, for they have lost ground to make up.

Tuy nhiên, do sự gia tăng ma sát qua chính cuộc đấu tranh ấy, họ tiến bộ với một tốc độ tương đối nhanh hơn các thiên thần. Họ cần phải làm như vậy, vì họ có phần tụt hậu cần bù đắp.

90. This is a very important revelation. We are told that the fourth ray man may make very rapid progress (or very little):

90. Đây là một mặc khải rất quan trọng. Chúng ta được bảo rằng con người cung bốn có thể tiến bộ rất nhanh (hoặc rất ít):

These contrasting forces in the nature make life one perpetual warfare and unrest for the fourth ray man; the friction and the experience gained thereby may produce very rapid evolution, but the man may as easily become a ne'er-do-well as a hero. (EP I 206)

Những mãnh lực tương phản này trong bản chất làm cho đời sống trở thành một cuộc chiến tranh và bất an liên miên đối với người cung bốn; ma sát và kinh nghiệm nhờ đó mà có thể tạo ra sự tiến hoá rất nhanh, nhưng con người cũng có thể dễ dàng trở thành một kẻ vô dụng như trở thành một anh hùng. (EP I 206)

91. When we hear of “friction” we must suspect that there is much of Mars in the psychology of the human being, and indeed, Mars is one of the planets closest in proximity (and development) to the Earth.

91. Khi nghe nói đến “ma sát”, chúng ta phải ngờ rằng có nhiều ảnh hưởng của Sao Hỏa trong tâm lý của con người, và quả thật, Sao Hỏa là một trong những hành tinh gần Trái Đất nhất về khoảng cách (và về sự phát triển).

92. We see that what is true of the individual human being is considered true for the entire race. They progress more rapidly than the devas, but they must because of the Moon-chain disaster which set them back.

92. Chúng ta thấy rằng điều đúng với cá nhân con người cũng được xem là đúng với toàn thể nhân loại. Họ tiến bộ nhanh hơn các thiên thần, nhưng họ phải như vậy vì tai họa của Dãy Mặt Trăng đã làm họ thụt lùi.

93. It can be questioned whether or not the devas expressing on the Moon-chain at that time were not also set back?

93. Có thể đặt câu hỏi rằng liệu các thiên thần biểu hiện trên Dãy Mặt Trăng vào thời đó có bị thụt lùi hay không?

94. Perhaps man was also set-back during the great wars of Atlantis when the Dark Brotherhood apparently was victorious.

94. Có lẽ con người cũng đã bị thụt lùi trong những cuộc đại chiến của Atlantis khi Huynh đệ Đoàn bóng tối dường như đã chiến thắng.

95. DK seems to say that humanity is behind the devas in its development; if these is the case, we have two parallel kingdoms but there is uneven development between them. Perhaps humanity (at the present time) has more to learn from the devas than the devas from humanity.

95. Chân sư DK dường như nói rằng nhân loại đi sau các thiên thần trong sự phát triển của mình; nếu đúng như vậy, chúng ta có hai giới song song nhưng có sự phát triển không đồng đều giữa chúng. Có lẽ nhân loại (vào thời điểm hiện nay) có nhiều điều phải học từ các thiên thần hơn là các thiên thần học từ nhân loại.

The Law of Vibration is the law of progress, of movement and of rotation.

Định luật Rung động là định luật của tiến bộ, của chuyển động và của sự quay.

96. Three factors are involved with the Law of Vibration:

96. Có ba yếu tố liên quan đến Định luật Rung động:

a. Progress

a. Tiến bộ

b. Movement

b. Chuyển động

c. Rotation

c. Sự quay

97. Impulsion creates spheres and spheres rotate.

97. Xung lực tạo ra các khối cầu và các khối cầu quay.

On the seventh or lowest plane, the vibration is slow, clogged and lethargic from the [Page 576] standpoint of the first, and it is in learning to vibrate or to rotate more rapidly, that we mount the path of return.

Trên cõi thứ bảy hay thấp nhất, rungđộng thì chậm, tắc nghẽn và trì trệ theo [Page 576] quan điểm của cõi thứ nhất, và chính trong việc học cách rung động hay quay nhanh hơn mà chúng ta leo lên Con Đường Trở Về.

98. Rotation through a cyclic period is a vibration. A cycle of vibration is, in many respects, a cycle of rotation. A complete vibration is one complete cycle. A complete rotation is one complete cycle.

98. Sự quay qua một chu kỳ là một rung động. Một chu kỳ rung động, trên nhiều phương diện, là một chu kỳ quay. Một rung động hoàn chỉnh là một chu kỳ hoàn chỉnh. Một sự quay hoàn chỉnh là một chu kỳ hoàn chỉnh.

99. The progress is from tamas, through rajas to sattva.

99. Sự tiến bộ là từ tamas, qua rajas đến sattva.

100. Slow, lethargic vibration must give way to rapid and delicately adjusted vibration.

100. Rung động chậm chạp, trì trệ phải nhường chỗ cho rung động nhanh và được điều chỉnh tinh tế.

It involves, therefore necessarily, the building in of finer matter into the vehicles, both deva and human.

Vì vậy, điều đó tất yếu bao hàm việc xây dựng vật chất tinh tế hơn vào trong các vận cụ, cả thiên thần lẫn con người.

101. Increase of vibratory frequency is, of course, facilitated by refinement.

101. Dĩ nhiên, sự gia tăng tần số rung động được tạo điều kiện bởi sự tinh luyện.

102. We can see how the Sacred Word (promoting expulsion of unsuitable matter) and the kundalini process promoting the same, will each work to bring the Law of Vibration into greater demonstration.

102. Chúng ta có thể thấy Linh từ Thiêng liêng (thúc đẩy sự trục xuất vật chất không thích hợp) và tiến trình kundalini thúc đẩy điều tương tự, mỗi bên sẽ hoạt động để đưa Định luật Rung động vào biểu hiện lớn hơn.

103. The use of the OM is one of the key vibrations for promoting the appropriate frequency for every plane and sub-plane.

103. Việc sử dụng OM là một trong những rung động chủ chốt để thúc đẩy tần số thích hợp cho mọi cõi và cõi phụ.

In this second system, on the five planes of human evolution, we have the five vehicles—physical, astral, mental, buddhic and atmic—which have all to be purified, rarefied, intensified and refined.

Trong hệ thứ hai này, trên năm cõi của tiến hoá nhân loại, chúng ta có năm vận cụ—thể xác, thể cảm dục, thể trí, Bồ đề và atma—mà tất cả đều phải được thanh lọc, làm loãng, tăng cường và tinh luyện.

104. In the second solar system, the Monad and its essence on the first sub-plane, work through the five—inherited, in a way, from the past solar system.

104. Trong hệ mặt trời thứ hai, chân thần và tinh túy của nó trên cõi phụ thứ nhất hoạt động thông qua năm vận cụ—được thừa hưởng, theo một nghĩa nào đó, từ hệ mặt trời trước.

105. The Tibetan seems to be making a distinction between the following four words:

105. Chân sư Tây Tạng dường như đang phân biệt giữa bốn từ sau đây:

a. Purified

a. Được thanh lọc

b. Rarefied

b. Được làm loãng

c. Intensified

c. Được tăng cường

d. Refined

d. Được tinh luyện

106. The distinctions between these terms are subtle and would repay pondering.

106. Sự phân biệt giữa các thuật ngữ này rất tinh tế và đáng để suy ngẫm.

107. Purification suggests the application of fire. Rarefaction suggests etherealization. Intensification suggests an increase in amplitude of vibration and perhaps in frequency as well. Refinement suggests delicate and harmonious interplay.

107. Sự thanh lọc gợi ý việc áp dụng lửa. Sự làm loãng gợi ý sự dĩ thái hóa. Sự tăng cường gợi ý sự gia tăng biên độ rung động và có lẽ cả tần số nữa. Sự tinh luyện gợi ý sự tương tác tinh tế và hài hòa.

108. All does not yet vibrate to the correct measure. Many impurities, crudities and laxities stand in the way of the possibility of creating the finished product through the application of this law—which is both the beginning and the end.

108. Mọi sự vẫn chưa rung động theo đúng mức độ. Nhiều tạp chất, thô trược và lỏng lẻo cản trở khả năng tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh thông qua việc áp dụng định luật này—định luật vừa là khởi đầu vừa là kết thúc.

109. We realize that there are other vehicles as well as the five mentioned which must also be purified or raised to their highest possible state of vibration—the causal vehicle and the vehicle of the abstract mind.

109. Chúng ta nhận ra rằng ngoài năm vận cụ đã nêu còn có những vận cụ khác cũng phải được thanh lọc hoặc nâng lên trạng thái rung động cao nhất có thể của chúng—vận cụ nguyên nhân và vận cụ của trí trừu tượng.

In the two lowest [vehicles], the physical and the astral, only matter of the five higher subplanes, of their respective planes, is to be found, for the two lowest subplanes are too low for deva or human bodies; they were dominated in the first system.

Trong hai [vận cụ] thấp nhất, thể xác và thể cảm dục, chỉ tìm thấy vật chất của năm cõi phụ cao hơn thuộc các cõi tương ứng của chúng, vì hai cõi phụ thấp nhất quá thấp đối với các thể thiên thần hay con người; chúng đã bị chi phối trong hệ thứ nhất.

110. It is important to realize that we do not have matter of the two lowest sub-planes in our bodies, nor do the devas.

110. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng chúng ta không có vật chất của hai cõi phụ thấp nhất trong các thể của mình, và các thiên thần cũng vậy.

111. We might simply accept this statement at face value until we realize that dense physical matter, and matter in its liquid state are not considered part of our physical body! Yet we act as if these states of matter are very much part of our body—in fact, the greater part.

111. Chúng ta có thể đơn giản chấp nhận phát biểu này theo nghĩa bề mặt cho đến khi nhận ra rằng vật chất hồng trần đậm đặc, và vật chất ở trạng thái lỏng của nó, không được xem là một phần của thể xác chúng ta! Tuy vậy chúng ta hành động như thể các trạng thái vật chất này thật sự là phần rất lớn của thể mình—thực ra là phần lớn hơn cả.

112. While we cannot explore the astral plane in the same way, by analogy we might presume that we ‘carry with us’ matter of the two lowest sub-planes which, for all its proximity, is not really to be considered part of our astral vehicle.

112. Dù chúng ta không thể khảo sát cõi cảm dục theo cùng cách ấy, nhưng theo định luật tương đồng, chúng ta có thể giả định rằng mình “mang theo” vật chất của hai cõi phụ thấp nhất mà, dù rất gần gũi, thực ra không nên được xem là một phần của vận cụ cảm dục của chúng ta.

113. We do, however, encounter this lower sub-plane matter all the time. Certainly this is seen on the physical plane.

113. Tuy nhiên, chúng ta vẫn gặp phải vật chất cõi phụ thấp này mọi lúc. Chắc chắn điều này được thấy trên cõi hồng trần.

114. It can be imagined that it is undesirable to contact matter of the two lowest astral sub-planes. Perhaps these lowest astral vibrations represent the ‘astral hell worlds’.

114. Có thể hình dung rằng việc tiếp xúc với vật chất của hai cõi phụ cảm dục thấp nhất là điều không mong muốn. Có lẽ những rung động cảm dục thấp nhất này tượng trưng cho các “thế giới địa ngục cảm dục”.

115. It would seem necessary constantly to distinguish our emotional vibration from such base (shall we say, “inhuman”) vibrations.

115. Dường như cần phải luôn luôn phân biệt rung động cảm xúc của chúng ta với những rung động thấp kém như thế (có thể nói là “phi nhân tính”).

116. What would happen if the astral body of a human somehow contracted matter of the lower sub-planes? Would this indicate a very base individual? Someone in danger of significant retrogression? Little is said about the matter.

116. Điều gì sẽ xảy ra nếu thể cảm dục của một con người bằng cách nào đó co hút vật chất của các cõi phụ thấp hơn? Điều này có cho thấy một cá nhân rất thấp kém không? Một người đang đối diện nguy cơ thoái hóa đáng kể chăng? Rất ít điều được nói về vấn đề này.

117. It is interesting, however, that this type of matter was active in the vehicles of those who lived in the previous solar system where it was dominated.

117. Tuy nhiên, điều thú vị là loại vật chất này đã hoạt động trong các vận cụ của những ai sống trong hệ mặt trời trước, nơi nó đã bị chi phối.

The mental body is the first in which we find matter of all the subplanes. The aim of evolution for us is love dominated by intelligence—or intelligence dominated by love, for the interaction will be complete.

Thể trí là thể đầu tiên trong đó chúng ta tìm thấy vật chất của mọi cõi phụ. Mục tiêu tiến hoá đối với chúng ta là bác ái được trí tuệ chi phối—hay trí tuệ được bác ái chi phối, vì sự tương tác sẽ hoàn toàn trọn vẹn.

118. Love dominated by intelligence signifies a preliminary developmental stage in line with the expression of the first solar system.

118. Bác ái được trí tuệ chi phối biểu thị một giai đoạn phát triển sơ khởi phù hợp với sự biểu hiện của hệ mặt trời thứ nhất.

119. Intelligence dominated by love signifies the goal of our present solar system.

119. Trí tuệ được bác ái chi phối biểu thị mục tiêu của hệ mặt trời hiện tại của chúng ta.

The human race came into the chain at a point where it naturally took bodies of the fifth astral and physical subplanes, and we can see here an analogy to the coming into the fourth root-race of the more advanced Egos.

Nhân loại đi vào dãy tại một điểm mà ở đó một cách tự nhiên nó tiếp nhận các thể của cõi phụ cảm dục và hồng trần thứ năm, và ở đây chúng ta có thể thấy một sự tương đồng với việc các Chân ngã tiến bộ hơn đi vào giống dân gốc thứ tư.

120. How shall we describe this coming in of the “human race”? Was not the human race ‘created’ in the fourth round of this chain by a process of individualization? Perhaps this is what DK means by coming into the chain.

120. Chúng ta sẽ mô tả việc “nhân loại” đi vào này như thế nào? Chẳng phải nhân loại đã được “tạo ra” trong cuộc tuần hoàn thứ tư của dãy này bằng một tiến trình biệt ngã hóa sao? Có lẽ đó là điều Chân sư DK muốn nói khi nói đến việc đi vào dãy.

121. We might infer that the animal man from whom the human race was created had bodies of courser astral material reflecting the astral condition in the previous solar system.

121. Chúng ta có thể suy ra rằng người thú, từ đó nhân loại được tạo ra, có các thể bằng chất liệu cảm dục thô hơn, phản ánh trạng thái cảm dục trong hệ mặt trời trước.

122. The process of individualization involves the number five and so at individualization the fifth sub-plane of physical and astral planes are appropriated by the presence in animal man of the spark provided by the Solar Angel.

122. Tiến trình biệt ngã hóa liên quan đến con số năm và vì vậy khi biệt ngã hóa, cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần và cõi cảm dục được chiếm dụng nhờ sự hiện diện trong người thú của tia lửa do Thái dương Thiên Thần cung cấp.

123. Already individualized man from the Moon-chain came into the Earth-chain during the fourth root race (probably during the third subrace, which corresponds to the emphasis on the number three during the third or Moon-chain).

123. Con người đã được biệt ngã hóa từ Dãy Mặt Trăng đi vào Dãy Địa Cầu trong giống dân gốc thứ tư (có lẽ trong giống dân phụ thứ ba, tương ứng với sự nhấn mạnh vào con số ba trong dãy thứ ba hay Dãy Mặt Trăng).

124. These mental types gravitated towards matter of the fifth astral and physical sub-planes. Such matter is of the third sub-plane (counting from below, upward) and correlates with the Moon-chain emphasis upon the number three. Numerical affinity determines such relations.

124. Những loại hình trí tuệ này hấp dẫn về phía vật chất của cõi phụ cảm dục và hồng trần thứ năm. Loại vật chất ấy thuộc cõi phụ thứ ba (đếm từ dưới lên) và tương quan với sự nhấn mạnh của Dãy Mặt Trăng vào con số ba. Sự tương hợp số học quyết định những mối liên hệ như thế.

2. The Law of Cohesion.—This is one of the branch laws of the cosmic Law of Attraction.

2. Định luật Cố Kết.—Đây là một trong những định luật nhánh của Định luật Hấp Dẫn vũ trụ.

125. The cosmic Law of Attraction and the systemic Law of Cohesion are both, obviously, ruled by the second ray of Love-Wisdom

125. Định luật Hấp Dẫn vũ trụ và Định luật Cố Kết của hệ đều hiển nhiên được cung hai Bác Ái – Minh Triết cai quản

It is interesting to notice how this law [the Law of Attraction] demonstrates in this Love-System in a threefold manner:

Thật thú vị khi lưu ý cách định luật này [Định luật Hấp Dẫn] biểu hiện trong Hệ Bác Ái này theo một cách tam phân:

126. Sometimes our system is called love system and sometimes a love-wisdom system. It is not called, purely and simply a wisdom system.

126. Đôi khi hệ của chúng ta được gọi là hệ bác ái và đôi khi là hệ bác ái-minh triết. Nó không được gọi, một cách thuần túy và đơn giản, là một hệ minh triết.

On the plane of the Monad, as the law of cohesion, the law of birth, if we might use that term, resulting in the appearance of the Monads in their seven groups. Love the source, and the Monad of love, the result.

Trên cõi của chân thần, như định luật cố kết, định luật sinh ra, nếu chúng ta có thể dùng thuật ngữ ấy, dẫn đến sự xuất hiện của các chân thần trong bảy nhóm của chúng. Bác ái là nguồn, và chân thần của bác ái là kết quả.

127. It is very interesting to hear the Tibetan calling the “law of cohesion” the “law of birth”.

127. Thật rất thú vị khi nghe Chân sư Tây Tạng gọi “định luật cố kết” là “định luật sinh ra”.

128. In a way, ‘Form’ is born on the monadic plane. Fittingly (and a point that was not yet revealed when this section of TCF was written) the sign Virgo (the sign so closely allied to gestation and subsequent birth) rules the monadic plane.

128. Theo một nghĩa nào đó, “Hình tướng” được sinh ra trên cõi chân thần. Thật thích hợp (và đây là một điểm chưa được mặc khải khi phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ được viết) rằng dấu hiệu hoàng đạo Xử Nữ (dấu hiệu gắn bó mật thiết với sự thai nghén và sự sinh ra tiếp theo) cai quản cõi chân thần.

129. There are seven groups of Monads (all responding to a different sound within the One Sound conditioning all life on the cosmic physical plane).

129. Có bảy nhóm chân thần (tất cả đều đáp ứng với một âm điệu khác nhau bên trong Âm Thanh Duy Nhất đang tác động lên mọi sự sống trên cõi hồng trần vũ trụ).

130. The seven groups of Monads correlate with the fact that the Creative Hierarchy of Greater Builders (Who are the progenitors of the Monads) are the seventh Creative Hierarchy.

130. Bảy nhóm chân thần tương quan với sự kiện rằng Huyền Giai Sáng Tạo của các đấng đại kiến tạo (Đấng là các vị sinh thành của các chân thần) là Huyền Giai Sáng Tạo thứ bảy.

131. Love is an energy which induces sphericity. The monadic plane is a plane of essential love. We could call it a plane of ‘loving will’.

131. Bác ái là một năng lượng tạo ra tính hình cầu. Cõi chân thần là một cõi của bác ái cốt yếu. Chúng ta có thể gọi đó là một cõi của “ý chí yêu thương”.

132. Although the Monad represents the first aspect within man, that aspect is deeply imbedded in a field of solar love.

132. Mặc dù chân thần tượng trưng cho phương diện thứ nhất trong con người, phương diện ấy lại được cắm sâu trong một trường bác ái thái dương.

133. It might also be profitable to think of birth as a process of “sphere creation”. Thus we can associate birth with Jupiter (the planet of sphericity) and the hierarchical ruler of Jupiter (the sign ruling the monadic plane).

133. Cũng có thể hữu ích khi nghĩ về sự sinh ra như một tiến trình “tạo khối cầu”. Như vậy chúng ta có thể liên kết sự sinh ra với Sao Mộc (hành tinh của tính hình cầu) và chủ tinh huyền giai của Sao Mộc (dấu hiệu cai quản cõi chân thần).

On the plane of buddhi, as the law of magnetic control.

Trên cõi Bồ đề, như định luật kiểm soát từ tính.

134. On the buddhic plane the Law of Attraction manifests as the Law of Magnetic Control, which we have briefly discussed in a foregoing section.

134. Trên cõi Bồ đề, Định luật Hấp Dẫn biểu hiện thành định luật Kiểm Soát Từ Tính, mà chúng ta đã bàn ngắn gọn trong một phần trước.

It shows itself as the love-wisdom aspect, irradiating the ego, and eventually gathering to itself the essence of all experience, garnered, via the Ego, through the personality lives,

Nó biểu lộ như phương diện bác ái-minh triết, chiếu rọi chân ngã, và rốt cuộc thu hút về cho chính nó tinh túy của mọi kinh nghiệm, được thu hoạch, qua chân ngã, thông qua các kiếp sống phàm ngã,

135. We notice that the Monad was discussed in terms of “Love”—the “Monads of Love”, but when the discussion turns to buddhi, the factor of wisdom enters, for buddhi means “wisdom”.

135. Chúng ta lưu ý rằng chân thần đã được bàn đến theo thuật ngữ “Bác ái”—“các Chân thần của Bác ái”, nhưng khi cuộc bàn luận chuyển sang buddhi, yếu tố minh triết xuất hiện, vì buddhi có nghĩa là “minh triết”.

136. There are two functions of this “love-wisdom aspect”:

136. Có hai chức năng của “phương diện bác ái-minh triết” này:

a. It irradiates the ego

a. Nó chiếu rọi chân ngã

b. It garners the essence of all experience via the “Ego”

b. Nó thu góp tinh túy của mọi kinh nghiệm thông qua “Chân ngã”

137. Is there any reason why the term “ego” is given in lower case early in the sentence and in upper case (“Ego”) later?

137. Có lý do nào khiến thuật ngữ “ego” được viết thường ở đầu câu và viết hoa (“Ego”) về sau không?

138. While the term “Ego” can mean “spiritual triad”, and when it does so, will usually be capitalized, there does not appear any compelling reason why these two terms should have different capitalization—at least in this context.

138. Dù thuật ngữ “Ego” có thể có nghĩa là “Tam Nguyên Tinh Thần”, và khi mang nghĩa đó thì thường được viết hoa, dường như không có lý do thuyết phục nào khiến hai thuật ngữ này phải có cách viết hoa khác nhau—ít nhất là trong ngữ cảnh này.

139. It does seem that the term “ego” (in lower case) means, in this instance, the E/ego on the higher mental plane.

139. Quả thật có vẻ như thuật ngữ “ego” (viết thường), trong trường hợp này, có nghĩa là E/ego trên Cõi thượng trí.

140. We see that although the E/ego is on the higher mental plane it is very much the vehicle for buddhi conveyed via the Law of Magnetic Control.

140. Chúng ta thấy rằng mặc dù E/ego ở trên Cõi thượng trí, nó vẫn rất rõ ràng là vận cụ của buddhi được truyền đạt qua Định luật Xung Động Từ Tính.

141. The fact that experience is garnered or gathered via the “Ego” suggests that the “Ego” here really does mean the egoic lotus on the higher mental plane and not the spiritual triad. At least the first garnering or gathering occurs for millions of years before the later transference in the spiritual triad of all that which has been alchemically gathered.

141. Sự kiện rằng kinh nghiệm được thu góp hay gom lại thông qua “Chân ngã” cho thấy rằng “Chân ngã” ở đây thực sự có nghĩa là Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí chứ không phải Tam Nguyên Tinh Thần. Ít nhất thì sự thu góp hay gom lại đầu tiên diễn ra trong hàng triệu năm trước khi có sự chuyển dịch về sau vào Tam Nguyên Tinh Thần của tất cả những gì đã được thu thập một cách luyện kim.

142. The magnetism of buddhi stimulates the in-gathering process which the egoic lotus stimulates in relation to the personality.

142. Từ điện của buddhi kích thích tiến trình thu gom mà Hoa Sen Chân Ngã kích thích trong mối liên hệ với phàm ngã.

143. The bottom line is that the energy of buddhi is fundamental to the functioning of the egoic lotus on the higher mental plane—or the ‘E/ego’ as it is variously called.

143. Kết luận cốt yếu là năng lượng của buddhi là nền tảng đối với sự vận hành của Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí—hay ‘E/ego’ như nó được gọi theo nhiều cách khác nhau.

and controlled throughout from the plane of buddhi.

và được kiểm soát xuyên suốt từ cõi buddhi.

144. Magnetic control is the control by buddhi of lower spheres. The second law of the soul, the Law of Magnetic Impulse, is also fundamentally buddhic and ruled by the second ray. Since that law is related to Libra, we have another good case for relating Libra to the second ray.

144. Kiểm soát từ tính là sự kiểm soát của buddhi đối với các khối cầu thấp hơn. Định luật thứ hai của linh hồn, Định luật Xung Động Từ Tính, cũng về căn bản là thuộc buddhi và được cung hai cai quản. Vì định luật đó liên hệ với Libra, chúng ta có thêm một trường hợp tốt nữa để liên hệ Libra với cung hai.

145. We could pause to ask ourselves to what extent we find our lives influenced by and/or controlled by buddhi?

145. Chúng ta có thể dừng lại để tự hỏi mình rằng đời sống của chúng ta chịu ảnh hưởng và/hoặc được buddhi kiểm soát đến mức nào?

146. We remember that the Law of Attraction is fundamentally behind all such control.

146. Chúng ta nhớ rằng Định luật Hấp Dẫn về căn bản đứng sau mọi sự kiểm soát như thế.

Magnetism, and the capacity to show love, are occultly synonymous.

Từ điện, và năng lực biểu lộ bác ái, về mặt huyền bí là đồng nghĩa.

147. This is a very practical statement. If we wish to be magnetic we must become more adept at showing love. Love is the great magnet.

147. Đây là một phát biểu rất thực tiễn. Nếu chúng ta muốn có từ tính, chúng ta phải trở nên thiện xảo hơn trong việc biểu lộ bác ái. Bác ái là nam châm vĩ đại.

148. We note that these two are “occultly” synonymous, which means that they are not synonymous in any obvious way.

148. Chúng ta lưu ý rằng hai điều này “về mặt huyền bí” là đồng nghĩa, điều đó có nghĩa là chúng không đồng nghĩa theo bất kỳ cách nào hiển nhiên.

On the astral plane, as love demonstrating through the [Page 577] personality.

Trên cõi cảm dục, như bác ái biểu lộ qua [Page 577] phàm ngã.

149. Personality love is primarily astral in nature. The solar plexus center is ruled by Mars (and Neptune in a higher sense). The solar plexus is the organ which expresses astral energy within the personality. Mars is the planet associated with every level of the personality.

149. Bác ái của phàm ngã chủ yếu có bản chất cảm dục. Trung tâm tùng thái dương được Sao Hỏa cai quản (và Sao Hải Vương theo nghĩa cao hơn). Tùng thái dương là cơ quan biểu lộ năng lượng cảm dục bên trong phàm ngã. Sao Hỏa là hành tinh gắn liền với mọi cấp độ của phàm ngã.

150. The Law of Attraction expressing on the monadic plane demonstrates as that aspect of solar fire we call “electric fire”. We have no pure electric fire demonstrating in this solar system.

150. Định luật Hấp Dẫn biểu lộ trên cõi chân thần cho thấy như phương diện của lửa thái dương mà chúng ta gọi là “Lửa Điện”. Chúng ta không có Lửa Điện thuần túy nào biểu lộ trong hệ mặt trời này.

151. The Law of Attraction expressing itself on the buddhic plane (and, thence, through the egoic lotus on the higher mental plane) is the solar aspect of the greater solar fire. The buddhic energy represents (as far as the cosmic physical plane is concerned) a particularly strong expression of solar fire.

151. Định luật Hấp Dẫn tự biểu lộ trên cõi Bồ đề (và từ đó qua Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí) là phương diện thái dương của Lửa Thái dương lớn hơn. Năng lượng Bồ đề biểu trưng (xét theo cõi hồng trần vũ trụ) cho một biểu lộ đặc biệt mạnh mẽ của Lửa Thái dương.

152. The Law of Attraction expressing itself on the astral plane demonstrates through personality love, which is the fire-by-friction expression of the greater solar fire.

152. Định luật Hấp Dẫn tự biểu lộ trên cõi cảm dục cho thấy qua bác ái của phàm ngã, vốn là biểu lộ lửa ma sát của Lửa Thái dương lớn hơn.

153. Personality love is a force which does ‘bring together’, but it is personalities which are brought together—and physical bodies.

153. Bác ái của phàm ngã là một mãnh lực quả thực có “mang lại sự tụ hội”, nhưng điều được mang lại cùng nhau là các phàm ngã—và các thể xác.

All branches of the law of attraction, demonstrating in this system, show themselves as a force that ingathers, that tends to coherence, that results in adhesion, and leads to absorption. All these terms are needed to give a general idea of the basic quality of this law.

Mọi nhánh của định luật hấp dẫn, biểu lộ trong hệ này, đều cho thấy mình như một mãnh lực thu gom, có khuynh hướng đi đến cố kết, tạo ra sự bám dính, và dẫn đến sự hấp thụ. Tất cả những thuật ngữ này đều cần thiết để đưa ra một ý niệm tổng quát về phẩm tính căn bản của định luật này.

154. Let us tabulate the manner in which the Law of Attraction manifests in this solar system. The suggestion is that it could and probably does manifest in different ways in other systems. The Law of Attraction in this solar system manifests as:

154. Hãy lập bảng cách thức mà Định luật Hấp Dẫn biểu lộ trong hệ mặt trời này. Hàm ý ở đây là nó có thể, và có lẽ thực sự, biểu lộ theo những cách khác trong các hệ khác. Định luật Hấp Dẫn trong hệ mặt trời này biểu lộ như:

a. A force that ingatheres

a. Một mãnh lực thu gom

b. A force that tends to coherence

b. Một mãnh lực có khuynh hướng đi đến cố kết

c. A force that results in adhesion

c. Một mãnh lực tạo ra sự bám dính

d. A force that leads to absorption

d. Một mãnh lực dẫn đến sự hấp thụ

155. When Master DK is so specific in the use of words, the invite careful pondering.

155. Khi Chân sư DK dùng từ ngữ một cách đặc biệt chính xác như vậy, điều đó mời gọi sự suy ngẫm cẩn trọng.

a. Ingathering draws all towards a center

a. Sự thu gom kéo mọi sự về một trung tâm

b. Coherence is the process of holding together

b. Sự cố kết là tiến trình giữ cho gắn kết với nhau

c. Adhesion is the process ‘sticking to’ (usually to the surface)

c. Sự bám dính là tiến trình ‘dính vào’ (thường là vào bề mặt)

d. Absorption is more than gathering to or towards a center. It represents the disappearance of that which is gathered into that which gathers.

d. Sự hấp thụ còn hơn cả việc được gom về hay hướng về một trung tâm. Nó biểu thị sự biến mất của cái được gom vào trong cái đang gom.

This law is one of the most important of the systemic laws,

Định luật này là một trong những định luật hệ thống quan trọng nhất,

156. It is now clear that DK is speaking of the Law of Cohesion (a systemic law) and not the Law of Attraction (which is a cosmic law).

156. Giờ đây rõ ràng rằng Chân sư DK đang nói về Định luật Cố Kết (một định luật hệ thống) chứ không phải Định luật Hấp Dẫn (vốn là một định luật vũ trụ).

157. Certainly it is important because it is so resonant with the ray and principal law (the Law of Attraction) of this system.

157. Chắc chắn nó quan trọng vì nó cộng hưởng rất mạnh với cung và định luật chính yếu (Định luật Hấp Dẫn) của hệ này.

if it is permissible to differentiate at all; we might term it the law of coalescence.

nếu quả thật được phép phân biệt như thế; chúng ta có thể gọi nó là định luật của sự hợp nhất.

158. We must exert some caution with the faculty of discrimination. We tend to view these systemic laws as somewhat separate from each other, but they are all interpenetrating and should only be differentiated carefully—as aspects of one whole.

158. Chúng ta phải hết sức thận trọng với năng lực phân biện. Chúng ta có khuynh hướng xem các định luật hệ thống này như phần nào tách biệt nhau, nhưng tất cả chúng đều xuyên thấm lẫn nhau và chỉ nên được phân biệt một cách cẩn trọng—như các phương diện của một toàn thể duy nhất.

159. An alternative name given for the Law of Cohesion is the “law of coalescence”. This terms suggests a blending and merging together. In coalescence, boundaries seem to disappear. A kind of ‘gelling’ takes place. Differences disappear in the growing unity.

159. Một tên gọi thay thế được đưa ra cho Định luật Cố Kết là “định luật của sự hợp nhất”. Thuật ngữ này gợi ý một sự hòa trộn và dung nhập với nhau. Trong sự hợp nhất, các ranh giới dường như biến mất. Một loại ‘đông kết’ diễn ra. Các khác biệt biến mất trong sự hợp nhất đang lớn dần.

On the path of involution it controls the primal gathering together of molecular matter, beneath the atomic subplane.

Trên con đường giáng hạ tiến hoá, nó kiểm soát sự tụ họp nguyên sơ của vật chất phân tử, bên dưới cõi phụ nguyên tử.

160. We recall the thought suggested that even matter on atomic sub-planes below the logoic atomic sub-plane is, in a sense, molecular. When more than one come together for mutual functioning, a molecule exists.

160. Chúng ta nhớ lại ý tưởng đã được gợi ra rằng ngay cả vật chất trên các cõi phụ nguyên tử bên dưới cõi phụ nguyên tử logoic, theo một nghĩa nào đó, cũng là phân tử. Khi nhiều hơn một đơn vị cùng đến với nhau để hoạt động hỗ tương, một phân tử hiện hữu.

161. Atoms on the atomic levels of the six lower systemic planes are composites of the highest form of atomic matter on the highest sub-plane of the highest systemic plane.

161. Các nguyên tử trên các cấp độ nguyên tử của sáu cõi hệ thống thấp hơn là những hợp thể của dạng vật chất nguyên tử cao nhất trên cõi phụ cao nhất của cõi hệ thống cao nhất.

162. A reasonable question might be asked: “Is the atomic matter of the first sub-plane of the systemic monadic plane (for instance) more complex that the sub-plane matter of the six lower sub-planes of the systemic logoic plane? According the principles laid out in Occult Chemistry it would seem that it must be, and yet, Fohat made the matter of the first sub-plane of the monadic plane during the original first outpouring. Did Fohat in doing this, take into consideration that there would be complex molecular matter of the six lower sub-planes of the logoic plane positioned ‘above’ the first sub-plane matter of the monadic plane?

162. Một câu hỏi hợp lý có thể được nêu ra: “Chẳng hạn, vật chất nguyên tử của cõi phụ thứ nhất của cõi chân thần hệ thống có phức tạp hơn vật chất cõi phụ của sáu cõi phụ thấp hơn của cõi logoic hệ thống không? Theo các nguyên lý được trình bày trong Hóa Học Huyền Bí thì dường như là phải như vậy, thế nhưng Fohat đã tạo ra vật chất của cõi phụ thứ nhất của cõi chân thần trong lần tuôn đổ đầu tiên nguyên thủy. Khi làm như vậy, Fohat có tính đến việc sẽ có vật chất phân tử phức tạp của sáu cõi phụ thấp hơn của cõi logoic được đặt ‘ở trên’ vật chất cõi phụ thứ nhất của cõi chân thần không?

163. The point is an abstruse one. It has to do with the problem that molecular matter is said to be formed only on the second sub-plane of any plane, and increasingly below the second sub-plane. Yet, the matter of the atomic sub-plane of the second, third, fourth, fifth, sixth and seventh planes must be more complex (and hence more molecular) than the matter of the sub-planes of the systemic plane above ‘it’.

163. Điểm này rất thâm áo. Nó liên quan đến vấn đề rằng vật chất phân tử được nói là chỉ hình thành trên cõi phụ thứ hai của bất kỳ cõi nào, và ngày càng nhiều hơn bên dưới cõi phụ thứ hai. Tuy nhiên, vật chất của cõi phụ nguyên tử của các cõi thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy hẳn phải phức tạp hơn (và do đó mang tính phân tử hơn) so với vật chất của các cõi phụ của cõi hệ thống nằm ‘bên trên’ nó.

164. So something does not stand to reason and the assertions in this regard to be found in Occult Chemistry must be carefully investigated to see whether contradictions do not exist between it and what DK says about the formation of molecular matter compared to the formation, by Fohat, of atomic sub-plane matter.

164. Vì vậy có điều gì đó không hợp lý, và những khẳng định về phương diện này được tìm thấy trong Hóa Học Huyền Bí phải được khảo sát cẩn thận để xem liệu có tồn tại những mâu thuẫn giữa tác phẩm ấy và điều Chân sư DK nói về sự hình thành vật chất phân tử so với sự hình thành, bởi Fohat, của vật chất cõi phụ nguyên tử hay không.

165. Returning form this digression, when DK uses the word “primal” He seems to suggest the first gathering together of molecular matter on second sub-planes. There are obviously successive gatherings together on still lower sub-planes than the second.

165. Trở lại sau sự lạc đề này, khi Chân sư DK dùng từ “nguyên sơ”, Ngài dường như muốn gợi ý sự tụ họp đầu tiên của vật chất phân tử trên các cõi phụ thứ hai. Hiển nhiên có những sự tụ họp kế tiếp trên các cõi phụ còn thấp hơn cõi phụ thứ hai.

166. Under the Law of Cohesion or of Coalescence, the complexity of aggregations increases according to the Plan. But the first gathering on the second sub-plane sets the tone for all subsequent gatherings into still greater complexity.

166. Dưới Định luật Cố Kết hay Định luật Hợp Nhất, độ phức tạp của các tập hợp gia tăng theo Thiên Cơ. Nhưng sự tụ họp đầu tiên trên cõi phụ thứ hai đặt ra âm điệu cho mọi sự tụ họp tiếp theo vào những mức độ phức tạp còn lớn hơn.

It is the basis of the attractive quality that sets in motion the molecules and draws them into the needed aggregations.

Nó là nền tảng của phẩm tính hấp dẫn, phẩm tính này làm cho các phân tử chuyển động và kéo chúng vào những tập hợp cần thiết.

167. An important idea is here offered: attraction sets in motion. In a way, Love moves the planets and the stars. This the great poet Dante affirmed.

167. Ở đây một ý tưởng quan trọng được nêu ra: hấp dẫn làm phát sinh chuyển động. Theo một cách nào đó, Bác ái làm chuyển động các hành tinh và các ngôi sao. Đại thi hào Dante đã khẳng định điều này.

168. That which is attracted moves towards that which attracts. That which is repelled moves away from that which repels.

168. Cái gì bị hấp dẫn thì chuyển động về phía cái hấp dẫn nó. Cái gì bị đẩy lùi thì chuyển động ra xa cái đẩy lùi nó.

169. We can see or feel this law working out in human society and also among those who are more spiritually inclined and seek cohesion on planes higher than the planes of personality.

169. Chúng ta có thể thấy hoặc cảm nhận định luật này đang vận hành trong xã hội loài người và cả giữa những người có khuynh hướng tinh thần hơn và tìm kiếm sự cố kết trên những cõi cao hơn các cõi của phàm ngã.

It is the measure of the subplanes.

Nó là thước đo của các cõi phụ.

170. The number two is the musical number because all music is based on ratio, and twoness is necessitated if ratio is to be produced.

170. Con số hai là con số âm nhạc vì mọi âm nhạc đều dựa trên tỉ lệ, và tính hai mặt là điều cần thiết nếu tỉ lệ được tạo ra.

171. According to the ‘sounding gatherings’ on the second sub-plane, so will the measure defining vibratory movement on still lower sub-planes be determined.

171. Theo những ‘sự tụ họp có âm vang’ trên cõi phụ thứ hai, thước đo xác định chuyển động rung động trên các cõi phụ còn thấp hơn sẽ được quyết định như vậy.

172. The Monad sounds through the akasha, and all that is ‘lower’ sounds (or later, attempts to sound) in accordance.

172. Chân thần xướng qua akasha, và mọi thứ ‘thấp hơn’ đều xướng (hoặc về sau cố gắng xướng) cho phù hợp.

The atomic subplane sets the rate of vibration;

Cõi phụ nguyên tử ấn định tốc độ rung động;

173. This is the ‘reference frequency’ for the entire plane.

173. Đây là ‘tần số quy chiếu’ cho toàn bộ cõi đó.

174. In this setting of vibration the fixative influence of Vulcan can be sensed.

174. Trong sự ấn định rung động này, có thể cảm nhận được ảnh hưởng cố định hóa của Vulcan.

175. The phrase “sets the rate of vibration” is obviously being differentiated fire of mind “set the measure”. The term “measure” seems to suggest a cyclic rhythm of a composite, spherical entity. Rate of vibration is found on the first sub-plane but not “measure”. A measure in music is a recurrent pattern of beats and usually involves more than one note.

175. Cụm từ “ấn định tốc độ rung động” hiển nhiên đang được phân biệt với “lửa của trí tuệ ấn định thước đo”. Thuật ngữ “thước đo” dường như gợi ý một nhịp điệu chu kỳ của một thực thể hợp thể, hình cầu. Tốc độ rung động được tìm thấy trên cõi phụ thứ nhất nhưng không phải “thước đo”. Một ô nhịp trong âm nhạc là một mô hình nhịp lặp lại và thường bao gồm nhiều hơn một nốt.

the Law of Cohesion might be said to fix the colouring of each plane.

Định luật Cố Kết có thể được nói là ấn định sắc thái của mỗi cõi.

176. The first sub-plane has a quality analogous to synthetic, white light.

176. Cõi phụ thứ nhất có một phẩm tính tương tự như ánh sáng trắng tổng hợp.

177. Color and differentiation (into seven qualities) enters with the second sub-plane. The seven qualities of the seven ‘monadic Forms’ are the seven principal colorings which determine all subsequent combinations of color.

177. Màu sắc và sự biến phân (thành bảy phẩm tính) xuất hiện cùng với cõi phụ thứ hai. Bảy phẩm tính của bảy ‘Hình Tướng’ chân thần là bảy sắc thái chính yếu quyết định mọi sự kết hợp màu sắc về sau.

178. In the following, we will use the term “Form” in the Platonic sense of “Archetype”.

178. Trong phần sau, chúng ta sẽ dùng thuật ngữ “Hình Tướng” theo nghĩa Plato là “Nguyên mẫu”.

179. One “Form” on the second sub-plane must reflect the quality of the first sub-plane.

179. Một “Hình Tướng” trên cõi phụ thứ hai phải phản ánh phẩm tính của cõi phụ thứ nhất.

180. One Form on the second sub-plane is correlated principally with that very sub-plane—the second.

180. Một Hình Tướng trên cõi phụ thứ hai tương quan chủ yếu với chính cõi phụ ấy—cõi phụ thứ hai.

181. All the other Forms set the coloration for the five lower planes and for the sub-planes of those five lower planes.

181. Tất cả các Hình Tướng khác ấn định sắc thái cho năm cõi thấp hơn và cho các cõi phụ của năm cõi thấp hơn ấy.

182. Since there are seven Forms, one of them would have to have reference to the highest sub-plane, and yet it would not seem correct that its color should be white.

182. Vì có bảy Hình Tướng, một trong số đó hẳn phải liên hệ với cõi phụ cao nhất, tuy nhiên dường như không đúng nếu màu của nó là trắng.

183. There is much interwoven complexity in all this. The general idea is all we can grasp. In other places DK has discussed the blending and merging of colors. It is a very orderly process but its intricacy makes it rather inapprehensible.

183. Có rất nhiều sự phức tạp đan xen trong tất cả điều này. Ý tưởng tổng quát là tất cả những gì chúng ta có thể nắm bắt. Ở những nơi khác Chân sư DK đã bàn về sự hòa trộn và dung nhập của các màu sắc. Đó là một tiến trình rất có trật tự nhưng sự tinh vi của nó khiến nó khá khó lĩnh hội.

184. Coloring is always a veiling. With the second law—the Law of Cohesion, veiling beings. From a philosophical point of view, consciousness veils pure being. Consciousness implies the presence of another. Pure being (by its very nature) suggests the One and Only.

184. Sắc thái hóa luôn luôn là một sự che phủ. Với định luật thứ hai—Định luật Cố Kết, sự che phủ bắt đầu. Từ quan điểm triết học, tâm thức che phủ bản thể thuần túy. Tâm thức hàm ý sự hiện diện của một cái khác. Bản thể thuần túy (do chính bản chất của nó) gợi ý Đấng Duy Nhất và Duy Nhất mà thôi.

It is the same thing in other words. We need always to remember in discussing these abstract fundamentals that words but dim the meaning, and serve but as suggestions and not as elucidations.

Đó cũng là cùng một điều nhưng bằng những lời khác. Chúng ta luôn cần nhớ khi bàn về những nền tảng trừu tượng này rằng ngôn từ chỉ làm mờ ý nghĩa, và chỉ đóng vai trò như những gợi ý chứ không phải những sự làm sáng tỏ.

185. Setting and fixing are synonymous terms.

185. “Ấn định” và “cố định” là những thuật ngữ đồng nghĩa.

186. Suggestions are as “hints”. DK is telling us that as much as He might like to elucidate definitively, He is limited by the very nature of words.

186. Các gợi ý giống như “ám chỉ”. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng dù Ngài có thể muốn làm sáng tỏ một cách dứt khoát đến đâu, Ngài vẫn bị giới hạn bởi chính bản chất của ngôn từ.

In manifestation the cosmic Law of Attraction controls all these subsidiary laws,

Trong biểu hiện, Định luật Hấp Dẫn vũ trụ kiểm soát tất cả các định luật phụ thuộc này,

187. This is an important point. The second cosmic law (the Law of Attraction) controls the seven systemic laws. Always we shall see the two and seven in accord. We have already seen that the number seven is particularly the number for this second solar system.

187. Đây là một điểm quan trọng. Định luật vũ trụ thứ hai (Định luật Hấp Dẫn) kiểm soát bảy định luật hệ thống. Chúng ta sẽ luôn thấy số hai và số bảy hòa hợp với nhau. Chúng ta đã thấy rằng số bảy đặc biệt là con số của hệ mặt trời thứ hai này.

188. In many ways, these seven systemic laws relate to the form—form building and form destruction. They correlate with both the attractive and repulsive energies of the Law of Attraction (and Repulsion—not to be forgotten).

188. Theo nhiều cách, bảy định luật hệ thống này liên hệ với hình tướng—sự kiến tạo hình tướng và sự hủy diệt hình tướng. Chúng tương quan với cả các năng lượng hấp dẫn lẫn đẩy lùi của Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi—không nên quên).

just as the Law of Synthesis governs pralaya and obscuration,

cũng như Định luật Tổng Hợp chi phối pralaya và sự che khuất,

189. We can, when sufficiently advanced, detect the synthesis underlying all, but the Law of Synthesis does not really come into obtrusive expression until the “end times” arrive.

189. Khi đủ tiến hóa, chúng ta có thể nhận ra sự tổng hợp nằm bên dưới mọi sự, nhưng Định luật Tổng Hợp thực sự không đi vào biểu lộ nổi bật cho đến khi “thời kỳ kết thúc” đến.

190. The next solar system will be especially expressive of the Law of Synthesis. It may also be the solar system which sees the end of a six-phrased process of solar systemic development.

190. Hệ mặt trời kế tiếp sẽ đặc biệt biểu lộ Định luật Tổng Hợp. Nó cũng có thể là hệ mặt trời chứng kiến sự kết thúc của một tiến trình phát triển hệ mặt trời gồm sáu giai đoạn.

191. We must always bear in mind DK’s statement that there are really seven solar systems. Finding the way to count this is important.

191. Chúng ta phải luôn ghi nhớ phát biểu của Chân sư DK rằng thực ra có bảy hệ mặt trời. Tìm ra cách đếm điều này là điều quan trọng.

and the law of Economy deals with the general working out, along the line of least resistance, of the logoic scheme.

và Định luật Tiết Kiệm đề cập đến sự vận hành tổng quát, theo con đường ít trở ngại nhất, của hệ hành tinh logoic.

192. The Law of Economy works in an outward direction—from higher planes towards the lower. It is a law of manifestation, wisely using available energy to promote the divinely-intended manifestation.

192. Định luật Tiết Kiệm vận hành theo hướng ra ngoài—từ các cõi cao xuống các cõi thấp. Đây là một định luật của biểu hiện, sử dụng một cách khôn ngoan năng lượng sẵn có để thúc đẩy sự biểu hiện do thiêng liêng chủ định.

193. We are entering the period of a great “working out”. We call it the “Externalization of the Hierarchy”.

193. Chúng ta đang bước vào thời kỳ của một sự “vận hành” lớn lao. Chúng ta gọi đó là “Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn”.

194. We might also relate the Law of Economy to a ‘working in’, as the manifested Divine Idea seeks to adapt itself for the sake of re-amalgamation with its source.

194. Chúng ta cũng có thể liên hệ Định luật Tiết Kiệm với một ‘sự vận hành vào trong’, khi Ý Tưởng thiêng liêng đã biểu hiện tìm cách tự thích nghi vì mục đích tái hòa nhập với nguồn cội của nó.

During manifestation we have most to do with the Law of Attraction, and it will be found, on study, that each subsidiary law is but a differentiation of that law.

Trong biểu hiện, chúng ta liên hệ nhiều nhất với Định luật Hấp Dẫn, và qua nghiên cứu sẽ thấy rằng mỗi định luật phụ thuộc chỉ là một sự biến phân của định luật ấy.

195. It will be our task to find the way in which each of the seven systemic laws is related to the Law of Attraction. This is a study in itself and requires much careful pondering.

195. Nhiệm vụ của chúng ta sẽ là tìm ra cách mà mỗi một trong bảy định luật hệ thống liên hệ với Định luật Hấp Dẫn. Đây tự nó là một nghiên cứu và đòi hỏi nhiều suy ngẫm cẩn trọng.

196. For at least three of the laws directly keyed to the second ray or complementary rays, the relationship will be easy to discern. Seeing the relationship between the Law of Attraction and the other four laws, manifesting on the hard-line rays might be more challenging.

196. Đối với ít nhất ba định luật trực tiếp được khóa vào cung hai hoặc các cung bổ sung, mối liên hệ sẽ dễ nhận ra. Việc thấy được mối liên hệ giữa Định luật Hấp Dẫn và bốn định luật kia, biểu lộ trên các cung tuyến cứng, có thể sẽ khó hơn.

197. Two are laws relating to disintegration, death and sacrifice. Of course, that which aggregates must de-aggregate, and so we can certainly see the relation of laws three and seven to the form.

197. Hai trong số đó là các định luật liên hệ với sự tan rã, cái chết và sự hi sinh. Dĩ nhiên, cái gì kết tụ thì phải giải kết tụ, và vì thế chúng ta chắc chắn có thể thấy mối liên hệ của định luật ba và bảy với hình tướng.

198. Law five deals with fixation and stabilization of the form.

198. Định luật năm đề cập đến sự cố định và ổn định hóa của hình tướng.

199. Law one provide the sine qua non—that without which form cannot exist—namely vibration.

199. Định luật một cung cấp điều kiện tiên quyết tuyệt đối—điều mà thiếu nó hình tướng không thể tồn tại—đó là rung động.

200. Much more study will be required.

200. Sẽ cần nhiều nghiên cứu hơn nữa.

This second law of the system governs specially the second plane, and the second subplane on each plane.

Định luật thứ hai của hệ này đặc biệt chi phối cõi thứ hai, và cõi phụ thứ hai trên mỗi cõi.

201. The numerology holds good.

201. Số học huyền bí ở đây hoàn toàn đúng.

202. This second law (the Law of Cohesion) relates to the functioning of the heart center as the first Law of Vibration relates to the functioning of the head center.

202. Định luật thứ hai này (Định luật Cố Kết) liên hệ với sự vận hành của trung tâm tim cũng như Định luật Rung Động thứ nhất liên hệ với sự vận hành của trung tâm đầu.

It might be interesting to work this out and trace the underlying correspondence, bearing in mind always that all that can be done is to point out certain things, and indicate lines of thought that may lead, if pursued, to illumination.

Có lẽ sẽ thú vị nếu triển khai điều này và truy tìm sự tương ứng nền tảng, luôn ghi nhớ rằng tất cả những gì có thể làm chỉ là chỉ ra một số điều và nêu lên những đường lối tư tưởng mà, nếu được theo đuổi, có thể dẫn đến sự soi sáng.

203. We must be satisfied with the thought that DK is simply offering us indications which can be followed by means of careful study—hopefully producing illumination.

203. Chúng ta phải hài lòng với ý nghĩ rằng Chân sư DK chỉ đơn giản đưa ra cho chúng ta những chỉ dẫn có thể được theo đuổi bằng sự nghiên cứu cẩn trọng—hy vọng sẽ tạo ra sự soi sáng.

204. We can correlate the laws, the planes, the planets, the rays and arrive at illuminating correlations. It would be an elaborate task and, perhaps, will be pursued in the future schools of meditation.

204. Chúng ta có thể tương quan các định luật, các cõi, các hành tinh, các cung và đi đến những tương quan soi sáng. Đó sẽ là một công việc công phu và có lẽ sẽ được theo đuổi trong các trường tham thiền tương lai.

Ray Two and Law Two are closely allied, and it is [Page 578] interesting to realise that it is on the second subplane of the monadic plane that the majority of the Monads have their habitat;

Cung hai và Định luật hai liên hệ rất mật thiết, và thật thú vị khi chứng nghiệm rằng [Page 578] chính trên cõi phụ thứ hai của cõi chân thần mà đa số các Chân thần cư ngụ;

205. According to the ray of the Monad so will be the sub-plane of the monadic plane whereon that Monad focuses or has its “habitat”.

205. Tùy theo cung của chân thần mà sẽ có cõi phụ của cõi chân thần, nơi chân thần ấy tập trung hoặc có “nơi cư ngụ” của mình.

206. DK is speaking of the majority of Monads in this second solar system.

206. Chân sư DK đang nói về đa số các chân thần trong hệ mặt trời thứ hai này.

there are a few Monads of power or will on the atomic subplane, but their numbers are not many, and they simply form a nucleus in evolutionary preparation for System III, the power system.

có một số ít chân thần quyền lực hay ý chí ở cõi phụ nguyên tử, nhưng số lượng của họ không nhiều, và họ chỉ đơn giản tạo thành một hạt nhân đang chuẩn bị tiến hoá cho Hệ III, hệ quyền lực.

207. Approximately one twelfth of the Monads in this second major solar system are Monad of Power.

207. Xấp xỉ một phần mười hai các chân thần trong hệ mặt trời lớn thứ hai này là các chân thần Quyền Lực.

208. The day for the expression of first ray Monads has not yet arrived. They do exist in our solar system and upon the planet, Earth. One of the chelas in DK’s groups was definitely told he/she was a first ray Monad. Hints were given concerning two other chelas who, as well, were almost certainly first ray Monads. But the opportunity for full expression of this type will exist more in the next solar system (ruled by the first ray from the personality perspective of our Solar Logos) rather than in this system.

208. Ngày để các chân thần cung một biểu lộ vẫn chưa đến. Chúng quả thực hiện hữu trong hệ mặt trời của chúng ta và trên hành tinh Trái Đất. Một trong các đệ tử trong những nhóm của Chân sư DK đã được nói rõ rằng y là một chân thần cung một. Những gợi ý cũng đã được đưa ra liên quan đến hai đệ tử khác, mà cũng gần như chắc chắn là các chân thần cung một. Nhưng cơ hội để loại này biểu lộ trọn vẹn sẽ hiện hữu nhiều hơn trong hệ mặt trời kế tiếp (được cai quản bởi cung một từ góc độ phàm ngã của Thái dương Thượng đế của chúng ta) hơn là trong hệ này.

The majority of the Monads are on the second subplane and they are the Monads of love;

Đa số các chân thần ở trên cõi phụ thứ hai, và họ là các chân thần bác ái;

209. This hold good fro the system more than for our planet, per se.

209. Điều này đúng với hệ mặt trời hơn là với chính hành tinh của chúng ta.

on the third subplane can be found quite a number of the Monads of activity, but numerically not as many as the Monads of love. They are the failures of System I.

trên cõi phụ thứ ba có thể tìm thấy khá nhiều chân thần hoạt động, nhưng về số lượng thì không nhiều bằng các chân thần bác ái. Họ là những kẻ thất bại của Hệ I.

210. We see the phrase “quite a number” and we wish to know:

210. Chúng ta thấy cụm từ “khá nhiều” và muốn biết:

a. Does this mean that all the Monads of Activity are to be found on the third sub-plane of the monadic plane and that there are “quite a number” of these Monads.

a. Điều này có nghĩa là tất cả các chân thần Hoạt Động đều được tìm thấy trên cõi phụ thứ ba của cõi chân thần và rằng có “khá nhiều” chân thần như thế hay không.

b. Or, does it mean that “quite a number” of the Monads of Activity (but not all of them) are found focussed on sub-plane three of the monadic plane.

b. Hay điều đó có nghĩa là “khá nhiều” chân thần Hoạt Động (nhưng không phải tất cả họ) được tìm thấy đang tập trung trên cõi phụ thứ ba của cõi chân thần.

211. Here we have a very significant statement: “They are the failures of System I.” Either all or great numbers of third ray Monads (of which there are large numbers incarnating on our Earth) are the “failures of System I”.

211. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất có thâm nghĩa: “Họ là những kẻ thất bại của Hệ I.” Hoặc tất cả hoặc số lượng lớn các chân thần cung ba (mà có rất nhiều đang lâm phàm trên Trái Đất của chúng ta) là những “kẻ thất bại của Hệ I”.

212. What does it mean to be a “failure”? One way of understanding this is that they had not completed their evolution as human beings when System I came to an end.

212. “Thất bại” có nghĩa là gì? Một cách để hiểu điều này là họ đã chưa hoàn tất tiến hoá của mình với tư cách con người khi Hệ I đi đến chấm dứt.

213. There are Monads on the first ray presently expressing in this solar system. They (or, at least, large numbers of them) will not complete their evolution in this system and must do so in the next. They will be known as the “failures” of System II.

213. Hiện nay có những chân thần trên cung một đang biểu lộ trong hệ mặt trời này. Họ (hoặc ít nhất là số lượng lớn trong họ) sẽ không hoàn tất tiến hoá của mình trong hệ này và phải làm như vậy trong hệ kế tiếp. Họ sẽ được biết đến như những “kẻ thất bại” của Hệ II.

214. Much depends upon the ‘time of entry’ into our system or any system. Given that the majority of first ray Monads in our Earth-scheme entered later than the other monadic groupings, and given that the ‘love-bias’ in our system works against their full expression, it is only natural that they (or at least most of them) would not complete their development under present systemic circumstances.

214. Nhiều điều tùy thuộc vào “thời điểm đi vào” hệ của chúng ta hay bất kỳ hệ nào. Nếu đa số các chân thần cung một trong hệ hành tinh Trái Đất của chúng ta đi vào muộn hơn các nhóm chân thần khác, và nếu thiên hướng bác ái trong hệ của chúng ta chống lại sự biểu lộ trọn vẹn của họ, thì việc họ (hoặc ít nhất phần lớn họ) sẽ không hoàn tất sự phát triển của mình trong các hoàn cảnh hệ thống hiện tại là điều hoàn toàn tự nhiên.

215. Some Monads of Power entered in the Moon-chain (which would, in fact, give them sufficient time to complete their development in this solar system.

215. Một số chân thần Quyền Lực đã đi vào trong Dãy Mặt Trăng (điều này thực ra sẽ cho họ đủ thời gian để hoàn tất sự phát triển của mình trong hệ mặt trời này).

216. It may also be the case that Monads of Power also individualized in the previous solar system (we are not told), but if this were the case, there would definitely be sufficient time for them to complete their development in our solar system.

216. Cũng có thể là các chân thần Quyền Lực cũng đã biệt ngã hóa trong hệ mặt trời trước (chúng ta không được cho biết), nhưng nếu đúng như vậy, chắc chắn sẽ có đủ thời gian để họ hoàn tất sự phát triển của mình trong hệ mặt trời của chúng ta.

There is a direct channel, as we know, between the atomic subplane on each plane.

Như chúng ta biết, có một kênh trực tiếp giữa cõi phụ nguyên tử trên mỗi cõi.

217. This is largely a question of resonance. It conduces to the rapid transmission of force from sub-plane to sub-plane.

217. Điều này phần lớn là vấn đề cộng hưởng. Nó dẫn đến sự truyền mãnh lực nhanh chóng từ cõi phụ này sang cõi phụ khác.

218. How does this channel work and on what numbers is it based? This question cannot be answered by us at this time, and the answer will not be give to us at this time? However, we can be sure that the matter of the atomic level of the logoic plane vibrates more rapidly that the matter or the atomic level of the monadic plane. We may also reasonably gather that the atomic matter of the monadic plane is in some manner more aggregated than the atomic matter of the logoic plane. These are technicalities but upon their right understanding is based an accurate understanding of how the creative process proceeds.

218. Kênh này vận hành như thế nào và nó dựa trên những con số nào? Hiện nay chúng ta không thể trả lời câu hỏi này, và câu trả lời cũng sẽ không được trao cho chúng ta vào lúc này. Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng chất liệu của cấp độ nguyên tử của cõi logoic rung động nhanh hơn chất liệu của cấp độ nguyên tử của cõi chân thần. Chúng ta cũng có thể suy ra một cách hợp lý rằng vật chất nguyên tử của cõi chân thần, theo một cách nào đó, được kết tụ nhiều hơn vật chất nguyên tử của cõi logoic. Đây là những chi tiết kỹ thuật, nhưng trên sự thấu hiểu đúng đắn về chúng được đặt nền tảng cho một sự thấu hiểu chính xác về cách tiến trình sáng tạo diễn ra.

This is more or less true of each subplane and its corresponding higher subplane numerically,

Điều này ít nhiều đúng với mỗi cõi phụ và cõi phụ cao hơn tương ứng của nó về mặt số học,

219. Thus the second sub-plane on the etheric level (the sub-atomic plane) is in direct alignment with the sub-atomic plane on the astral plane and on the second sub-plane of the higher mental plane—and so forth.

219. Do đó, cõi phụ thứ hai trên cấp độ dĩ thái (cõi hạ nguyên tử) chỉnh hợp trực tiếp với cõi hạ nguyên tử trên cõi cảm dục và với cõi phụ thứ hai của Cõi thượng trí—và cứ thế tiếp tục.

220. One should study the siddhis which pertain to the various sub-planes of the cosmic physical plane (twenty seven senses and their extensions are given). The accumulated correspondences will be revealing. Lines of possible development will also be indicated.

220. Người ta nên nghiên cứu các siddhi liên quan đến các cõi phụ khác nhau của cõi hồng trần vũ trụ (hai mươi bảy giác quan và các phần mở rộng của chúng đã được nêu ra). Những tương ứng được tích lũy sẽ làm lộ rõ nhiều điều. Các đường phát triển khả dĩ cũng sẽ được chỉ ra.

221. For instance, a disciple who develops the creative imagination relation to astral sub-plane two, may be placing himself in line to develop response to group vibration on mental sub-plane two.

221. Chẳng hạn, một đệ tử phát triển Sự tưởng tượng sáng tạo liên hệ với cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục có thể đang đặt mình vào đường để phát triển sự đáp ứng với rung động nhóm trên cõi phụ thứ hai của cõi trí.

222. Or the disciple who develops discrimination on mental sub-plane four may be placing himself in line to more easily develop intuition on buddhic sub-plane four or “perfection” on atmic sub-plane four.

222. Hoặc đệ tử phát triển sự phân biện trên cõi phụ thứ tư của cõi trí có thể đang đặt mình vào đường để dễ dàng hơn phát triển trực giác trên cõi phụ thứ tư của cõi Bồ đề hoặc “sự toàn hảo” trên cõi phụ thứ tư của cõi atma.

223. The Law of Economy requires that we develop an understanding of the lines of least resistance.

223. Định luật Tiết Kiệm đòi hỏi chúng ta phải phát triển sự thấu hiểu về những con đường ít trở ngại nhất.

and there is, therefore, a direct and quite expansive channel between the second subplane on all planes, enabling the Monads of love to link up with peculiar facility with all their vehicles when composed of second subplane matter.

và vì vậy, có một kênh trực tiếp và khá rộng mở giữa cõi phụ thứ hai trên mọi cõi, giúp các chân thần bác ái liên kết với tất cả các hiện thể của họ một cách đặc biệt dễ dàng khi các hiện thể ấy được cấu thành bằng chất liệu cõi phụ thứ hai.

224. One would expect a “quite expansive channel” given that Jupiter expresses the second ray and Jupiter expands all that it touches.

224. Người ta sẽ mong đợi một “kênh khá rộng mở”, vì Sao Mộc biểu lộ cung hai và Sao Mộc mở rộng mọi thứ mà nó chạm đến.

225. We see that DK is always offering hints for those who have eyes to see. May we, in increasing measure, number ourselves among them!

225. Chúng ta thấy rằng Chân sư DK luôn đưa ra những gợi ý cho những ai có mắt để thấy. Mong sao chúng ta ngày càng được kể vào số đó!

226. A channel is created from the Monad of love on the second sub-plane of the monadic plane to the buddhic plane (probably via the second sub-plane), through the egoic lotus of the initiate focussed on the second sub-plane of the mental plane (and especially through the petals keyed to the second ray), thence through the second sub-plane of the astral plane (given to imagination—hence the usefulness of imagination in inducing such flows) and thence to and through the second sub-plane of the physical plane, the etheric sub-atomic sub-plane.

226. Một kênh được tạo ra từ chân thần bác ái trên cõi phụ thứ hai của cõi chân thần đến cõi Bồ đề (có lẽ qua cõi phụ thứ hai), xuyên qua Hoa Sen Chân Ngã của điểm đạo đồ đang tập trung trên cõi phụ thứ hai của cõi trí (và đặc biệt qua các cánh hoa được khóa theo cung hai), rồi từ đó qua cõi phụ thứ hai của cõi cảm dục (dành cho sự tưởng tượng—do đó sự hữu ích của sự tưởng tượng trong việc tạo ra những dòng chảy như thế) và từ đó đến và xuyên qua cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần, tức cõi phụ hạ nguyên tử dĩ thái.

227. The point about imagination is important as it can stimulate this second-sub-plane linking.

227. Điểm liên quan đến sự tưởng tượng là quan trọng vì nó có thể kích thích sự liên kết cõi phụ thứ hai này.

228. If are a Monad of Love we should do all we can to develop second sub-plane matter in our vehicles; a more facilitated linking with thereby occur. It would seem that this would tend to happen at the third initiation.

228. Nếu chúng ta là một chân thần Bác Ái, chúng ta nên làm mọi điều có thể để phát triển chất liệu cõi phụ thứ hai trong các hiện thể của mình; nhờ đó sẽ xảy ra một sự liên kết được tạo điều kiện dễ dàng hơn. Có vẻ như điều này sẽ có khuynh hướng xảy ra vào lần điểm đạo thứ ba.

229. If we are a Monad of Intelligence, the linking to the Monad would be via third sub-plane matter, and this, perhaps, could occur before the third initiation.

229. Nếu chúng ta là một chân thần Trí Tuệ, sự liên kết với chân thần sẽ thông qua chất liệu cõi phụ thứ ba, và điều này, có lẽ, có thể xảy ra trước lần điểm đạo thứ ba.

230. Monads of Power could be reached with greater facility once the fourth initiation was taken, because, by that time all matter in the lower vehicles would be atomic matter.

230. Các chân thần Quyền Lực có thể được tiếp cận dễ dàng hơn một khi lần điểm đạo thứ tư đã được tiếp nhận, bởi vì vào lúc đó mọi vật chất trong các hiện thể thấp đều sẽ là vật chất nguyên tử.

231. Some interesting lines of thought and practice could be developed using these indications.

231. Một số đường suy tưởng và thực hành thú vị có thể được phát triển bằng cách sử dụng những chỉ dẫn này.

232. Each of us has to develop the best way of ‘reaching’ the monadic vibration. It will not be the same alignment for all.

232. Mỗi chúng ta phải phát triển cách tốt nhất để “vươn tới” rung động chân thần. Sự chỉnh hợp ấy sẽ không giống nhau cho tất cả mọi người.

233. For the Monad of Love part of the linkage is as follows:

233. Đối với chân thần Bác Ái, một phần của sự liên kết như sau:

a. From the Monad to the love petals of the egoic lotus.

a. Từ chân thần đến các cánh hoa bác ái của Hoa Sen Chân Ngã.

b. From these love petals to the astral vehicle, energising all astral matter found in the equipment of the phenomenal man. “The spirit of God moves upon the face of the waters “

b. Từ các cánh hoa bác ái này đến hiện thể cảm dục, tiếp sinh lực cho toàn bộ vật chất cảm dục được tìm thấy trong bộ máy của con người hiện tượng. “Tinh thần của Thượng đế chuyển động trên mặt nước”

c. From thence to the solar plexus centre.

c. Từ đó đến trung tâm tùng thái dương.

d. From that centre to the heart centre. The needed duality connected with the astral body thus appears. We have here also a correspondence to the descent of the fire of the will to the base of the spine with its subsequent raising, along the spinal column, to the head. (EP II 388)

d. Từ trung tâm đó đến trung tâm tim. Nhị nguyên tính cần thiết liên hệ với thể cảm dục do đó xuất hiện. Ở đây chúng ta cũng có một tương ứng với sự giáng xuống của lửa ý chí đến đáy cột sống cùng với sự nâng lên tiếp theo của nó, dọc theo cột sống, đến đầu. (EP II 388)

234. A linkage for the third ray disciple (probably one that has a third ray soul but, perhaps, one for whom the third ray Monad is becoming expressive) is as follows:

234. Một sự liên kết dành cho đệ tử cung ba (có lẽ là người có cung linh hồn cung ba nhưng, có lẽ, là người mà chân thần cung ba đang trở nên biểu lộ) như sau: