← Commentary_S6_574_679_song ngữ

TCF 658 - 668: S6S8 Part I

Trích nội dung chương

3. Con người chứa trong chính mình mọi nguyên tố được tìm thấy trong vũ trụ.—S. D., I, 619; III, 584. 402. We presume this to be a true statement, but must interpret carefully. It does not mean that every atom of substance will become a man. The art of grouping many to make synthesized wholes must be considered.


397. The word “Tabernacle” (which is a lesser Temple) suggests the lunar vehicles of man.

397. Từ “Nhà Tạm” (vốn là một Đền thờ nhỏ hơn) gợi đến các vận cụ nguyệt tính của con người.

Compare S. D., II, 174. Read Proverbs VIII.

So sánh S. D., II, 174. Đọc Châm Ngôn VIII.

Study Biblical description of Tabernacle:—

Nghiên cứu mô tả trong Kinh Thánh về Nhà Tạm:—

a. Outer court, the place of animal sacrifice and purification.

a. Sân ngoài, nơi hiến tế loài vật và thanh tẩy.

398. The energies of Mars and the Moon are made pure within the Tabernacle.

398. Các năng lượng của Sao Hỏa và Mặt Trăng được làm cho thanh khiết bên trong Nhà Tạm.

b. The Holy place, the place of consecration and service.

b. Nơi Thánh, nơi thánh hiến và phụng sự.

c. The Holy of Holies.

c. Nơi Chí Thánh.

399. Three levels in the life of man have, thus, been symbolized.

399. Như vậy, ba cấp độ trong sự sống của con người đã được biểu tượng hóa.

The first corresponds to the life of the personality.

Cấp độ thứ nhất tương ứng với đời sống của phàm ngã.

The second to that of the Ego, or Higher Self.

Cấp độ thứ hai tương ứng với đời sống của Chân ngã, hay Bản Ngã Cao Siêu.

The last to that of the Monad, or Divine Self.

Cấp độ cuối cùng tương ứng với đời sống của chân thần, hay Bản Ngã Thiêng Liêng.

400. To this grouping we should add:

400. Vào nhóm này chúng ta nên thêm vào:

a. The Holy City—Shamballa

a. Thánh Thành—Shamballa

b. The New Jerusalem—Hierarchy

b. Tân Jerusalem—Thánh Đoàn

c. The City Standing Foursquare—Humanity (cf. DON 23)

c. Thành Vuông Bốn Cạnh—Nhân loại (x. DON 23)

3. Man contains in himself every element found in the universe.—S. D., I, 619; III, 584.

3. Con người chứa trong chính mình mọi nguyên tố được tìm thấy trong vũ trụ.—S. D., I, 619; III, 584.

401. This is holographic theory, a modern reflection of Hylozoism.

401. Đây là lý thuyết toàn ảnh, một phản ánh hiện đại của thuyết vật hoạt.

a. All in nature tends to become Man.—S. D., II, 179.

a. Mọi sự trong thiên nhiên đều có khuynh hướng trở thành Con Người.—S. D., II, 179.

402. We presume this to be a true statement, but must interpret carefully. It does not mean that every atom of substance will become a man. The art of grouping many to make synthesized wholes must be considered.

402. Chúng ta giả định đây là một phát biểu đúng, nhưng phải diễn giải cẩn trọng. Điều đó không có nghĩa là mọi nguyên tử chất liệu đều sẽ trở thành một con người. Phải xét đến nghệ thuật kết nhóm nhiều đơn vị để tạo thành các toàn thể tổng hợp.

b. All the impulses of the dual, centripetal and centrifugal force are directed towards one point—Man.—S. D., II, 179.

b. Mọi xung lực của mãnh lực kép, hướng tâm và ly tâm, đều được hướng về một điểm—Con Người.—S. D., II, 179.

403. The “dual, centripetal and centrifugal force” are symbolized by the energies of Venus and Mars, respectively. The two types of forces work under the Law of Attraction (and Repulsion), and so aggregate the various lives in cosmos that the Divine Pattern may be realized.

403. “Mãnh lực kép, hướng tâm và ly tâm” được biểu tượng hóa lần lượt bởi các năng lượng của Sao Kim và Sao Hỏa. Hai loại mãnh lực này hoạt động dưới Định luật Hấp Dẫn (và Đẩy Lùi), và do đó kết tập các sự sống khác nhau trong vũ trụ để Mô Hình Thiêng Liêng có thể được chứng nghiệm.

c. Man is the storehouse...he unites in himself all forms.—S. D. II, 303.

c. Con người là kho tàng... y hợp nhất trong chính mình mọi hình tướng.—S. D. II, 303.

404. We have been studying man in various modes, microcosmic and macrocosmic. We may say that in microcosmic man, all forms are at least reflected. Paracelsus is said to have said: “For every star in the heavens there is a star in man”.

404. Chúng ta đã nghiên cứu con người trong nhiều phương diện khác nhau, vi mô và vĩ mô. Chúng ta có thể nói rằng trong con người vi mô, mọi hình tướng ít nhất đều được phản chiếu. Paracelsus được cho là đã nói: “Với mỗi ngôi sao trên trời, có một ngôi sao trong con người”.

d. The potentiality of every organ useful to animal life is locked up in Man.—S. D., II, 723.

d. Tiềm năng của mọi cơ quan hữu ích cho đời sống động vật đều được khóa kín trong Con Người.—S. D., II, 723.

405. Whatever the animal can achieve, the fully developed man can achieve to a far greater extent. The greater includes the lesser.

405. Bất cứ điều gì loài vật có thể đạt được, con người phát triển đầy đủ có thể đạt được ở mức độ lớn hơn rất nhiều. Cái lớn hơn bao gồm cái nhỏ hơn.

4. Man tends to become a God and then God, like every other atom in the universe.—S. D., I, 183.

4. Con người có khuynh hướng trở thành một vị thần rồi thành Thượng đế, như mọi nguyên tử khác trong vũ trụ.—S. D., I, 183.

406. Man is, occultly considered, an “atom in the universe”.

406. Xét theo huyền bí học, con người là một “nguyên tử trong vũ trụ”.

407. Gods are included within the All-Inclusive God.

407. Các vị thần được bao hàm trong Thượng đế Bao Gồm Tất Cả.

408. Again, we approach with caution what it means to “become a God” or become God. The process by which the many become One must be carefully considered.

408. Một lần nữa, chúng ta tiếp cận một cách thận trọng ý nghĩa của việc “trở thành một vị thần” hay trở thành Thượng đế. Tiến trình nhờ đó số nhiều trở thành Đấng Duy Nhất phải được xem xét cẩn trọng.

Compare the atom and the Microcosm, man. Illustration:—S. D., I, 174. Every atom has seven planes of being.—S. D., I, 205. Read S. D., I, 201.

So sánh nguyên tử và Tiểu thiên địa, con người. Minh họa:—S. D., I, 174. Mọi nguyên tử đều có bảy cõi hiện hữu.—S. D., I, 205. Đọc S. D., I, 201.

409. Man is an atom and the structures of the atom of the scientist and the atom, man, are parallel.

409. Con người là một nguyên tử và các cấu trúc của nguyên tử theo nhà khoa học và nguyên tử là con người thì song song với nhau.

a. Every atom contains the germ from which he may raise the tree of knowledge. (Of good and evil, therefore conscious discrimination).—S. D., II, 622.

a. Mọi nguyên tử đều chứa mầm từ đó y có thể nâng lên cây tri thức. (Về thiện và ác, do đó là sự phân biện có ý thức).—S. D., II, 622.

410. The essence of every atom is the cosmically omnipotent Deity, Himself. All potentials are found in every form of life, even though the potentials be latent in most.

410. Tinh túy của mọi nguyên tử là chính Thượng đế toàn năng vũ trụ. Mọi tiềm năng đều được tìm thấy trong mọi hình thức sự sống, dù các tiềm năng ấy còn tiềm ẩn trong phần lớn trường hợp.

411. Although the intelligence of the atom of the scientist is unconscious, through such an atom the faculty of discrimination is at work.

411. Mặc dù trí thông minh của nguyên tử theo nhà khoa học là vô thức, nhưng qua một nguyên tử như thế, năng lực phân biện vẫn đang hoạt động.

b. It is the spiritual evolution of the inner immortal man that forms the fundamental tenet of the occult sciences.—S. D., I, 694.

b. Chính sự tiến hoá tinh thần của con người nội tại bất tử tạo thành giáo điều nền tảng của các khoa học huyền bí.—S. D., I, 694.

412. The modern presentation of occultism works for the expansion of consciousness. The focus is on the consciousness aspect and not, per se, on the development of the matter aspect.

412. Sự trình bày hiện đại của huyền bí học hoạt động vì sự mở rộng tâm thức. Trọng tâm đặt trên phương diện tâm thức chứ không phải, chính nó, trên sự phát triển của phương diện vật chất.

413. In a way, it matters not what becomes of the matter aspect in any one incarnation, so long as the consciousness of the inner immortal man profits.

413. Theo một nghĩa nào đó, phương diện vật chất sẽ ra sao trong bất kỳ một kiếp lâm phàm nào cũng không quan trọng, miễn là tâm thức của con người nội tại bất tử được lợi ích.

c. Atoms and souls are synonymous terms in the language of the initiates.—S. D., I, 620-621.

c. Nguyên tử và linh hồn là những thuật ngữ đồng nghĩa trong ngôn ngữ của các điểm đạo đồ.—S. D., I, 620-621.

414. There is no such thing as an atom un-ensouled. The entire cosmos, itself, is an ensouled Atom.

414. Không hề có cái gọi là một nguyên tử không được phú linh. Toàn thể vũ trụ, tự thân nó, là một Nguyên tử được phú linh.

5. Human beings...those Intelligences who have reached the appropriate equilibrium between Spirit and Matter.—S. D., I, 132.

5. Những con người...những Trí Tuệ đã đạt đến sự quân bình thích hợp giữa Tinh thần và Vật chất.—S. D., I, 132.

415. According to this definition, humanity is not confined to Earth. Anywhere in our solar system or within cosmos, when an appropriate equilibrium between Spirit and Matter is produced, the human being appears.

415. Theo định nghĩa này, nhân loại không bị giới hạn trên Trái Đất. Ở bất cứ đâu trong hệ mặt trời của chúng ta hay trong vũ trụ, khi một sự quân bình thích hợp giữa Tinh thần và Vật chất được tạo ra, con người xuất hiện.

Read also carefully:—S. D., I, 267, 449; S. D., II, 190.

Cũng hãy đọc cẩn thận:—S. D., I, 267, 449; S. D., II, 190.

a. On the descending arc Spirit becomes material.—S. D., I, 693.

a. Trên cung đi xuống, Tinh thần trở nên vật chất.—S. D., I, 693.

416. Through the process of emanation, Spirit not only becomes material but remains what it is on the higher planes. When a Great Candle lights a descending series of lesser candles, the flame of the Great Candle still remains.

416. Qua tiến trình phát xạ, Tinh thần không những trở nên vật chất mà còn vẫn là chính nó trên các cõi cao hơn. Khi một Ngọn Nến Vĩ Đại thắp sáng một chuỗi đi xuống gồm những ngọn nến nhỏ hơn, ngọn lửa của Ngọn Nến Vĩ Đại vẫn còn nguyên.

b. On the middle turn of the base both meet in man.—S. D., I, 214, 271.

b. Ở khúc quanh giữa của đáy, cả hai gặp nhau trong con người.—S. D., I, 214, 271.

417. We can say that man represents a fair equality between Spirit and Matter.

417. Chúng ta có thể nói rằng con người biểu hiện một sự bình đẳng tương đối giữa Tinh thần và Vật chất.

c. On the ascending arc Spirit asserts itself at the expense of the material.

c. Trên cung đi lên, Tinh thần tự khẳng định với cái giá của vật chất.

418. The materialization of Spirit is retracted in this ascent. Spirit is still what is always was, but the degree of its materialization (i.e., its complexification and Self-objectification) lessens.

418. Sự hiện hình của Tinh thần được rút lại trong cuộc đi lên này. Tinh thần vẫn là điều nó luôn luôn là, nhưng mức độ hiện hình của nó (tức sự phức hợp hóa và sự tự-khách thể-hóa của nó) giảm bớt.

d. This is true of Gods and of men. See S. D., II, 88.

d. Điều này đúng với các vị thần cũng như với con người. Xem S. D., II, 88.

419. The Gods are Men of a kind. Progress along the ‘Great Arc’ is parallel in both instances.

419. Các vị thần là những Con Người thuộc một loại nào đó. Sự tiến bộ dọc theo ‘Đại Cung’ là song song trong cả hai trường hợp.

e. Man is therefore a compound of Spirit and matter.—S. D., II, 45.

e. Vì vậy, con người là một hợp thể của Tinh thần và vật chất.—S. D., II, 45.

f. In man the intelligence links the two.—S. D., II, 102, 103.

f. Trong con người, trí thông minh nối kết hai điều ấy.—S. D., II, 102, 103.

420. Solar mind is the linking principle The Solar Angels are called “Benign Uniters”, and the Fifth Ray Lord is called “The Great Connecter”.

420. Trí tuệ thái dương là nguyên khí nối kết. Các Thái dương Thiên Thần được gọi là “Những Đấng Hợp Nhất Từ Hòa”, và Đấng Chúa Tể Cung năm được gọi là “Đấng Kết Nối Vĩ Đại”.

See note to S. D., II, 130. Compare S. D., II, 394.

Xem ghi chú cho S. D., II, 130. So sánh S. D., II, 394.

[Page 653]

[Page 653]

Group A. Agnichaitans. We have seen that on all planes the groups of devas can be divided into three [Page 654] main groups, even though usually studied in their dual capacity of involutionary and evolutionary force units.

Nhóm A. Agnichaitans. Chúng ta đã thấy rằng trên mọi cõi các nhóm deva có thể được chia thành ba [Page 654] nhóm chính, mặc dù chúng thường được nghiên cứu trong năng lực kép của chúng như những đơn vị mãnh lực giáng hạ tiến hoá và thăng thượng tiến hoá.

421. The more explicit three lie behind the more frequently presented two.

421. Bộ ba minh nhiên hơn này nằm phía sau bộ hai thường được trình bày hơn.

422. When DK speaks of “all the planes”, He means

422. Khi Chân sư DK nói về “mọi cõi”, Ngài muốn nói đến

a. The cosmic physical plane

a. Cõi hồng trần vũ trụ

b. Each systemic plane

b. Mỗi cõi của hệ mặt trời

c. Each systemic subplane

c. Mỗi cõi phụ của hệ mặt trời

Broadly speaking, these groups can be viewed as:

Nói một cách khái quát, các nhóm này có thể được xem là:

a. Those which embody the positive aspect, or positive electrical phenomena.

a. Những nhóm thể hiện phương diện dương, hay các hiện tượng điện dương.

423. This is the correspondence among the Agnichaitans of electric fire—the Shiva aspect.

423. Đây là sự tương ứng nơi các Agnichaitans của Lửa Điện—phương diện Shiva.

b. Those which embody the negative aspect.

b. Những nhóm thể hiện phương diện âm.

424. This is the correspondence within the Agnichaitans of fire by friction—the Brahma aspect.

424. Đây là sự tương ứng trong các Agnichaitans của Lửa ma sát—phương diện Brahma.

c. That group which—in time and space—is the union of the two aspects and which—during evolution—demonstrates the third type of electrical phenomena.

c. Nhóm mà—trong thời gian và không gian—là sự hợp nhất của hai phương diện, và mà—trong tiến hoá—biểu lộ loại hiện tượng điện thứ ba.

425. Here we are speaking of a central type of electricity—equilibrizing electrical phenomena—the Vishnu/Surya aspect.

425. Ở đây chúng ta đang nói về một loại điện trung tâm—các hiện tượng điện quân bình hóa—phương diện Vishnu/Surya.

426. No matter on what type of plane, the intermediate type of equilibrizing electricity will demonstrate.

426. Bất kể trên loại cõi nào, loại điện trung gian quân bình hóa cũng sẽ biểu lộ.

Another grouping of this triplicity can be made which brings them into line with the order of manifestation as laid down in the ancient cosmogony, and this we followed when we enumerated the groups of Agnichaitans.

Một cách phân nhóm khác của bộ ba này có thể được thực hiện, đưa chúng phù hợp với trật tự biểu hiện như đã được nêu trong vũ trụ luận cổ xưa, và đó là cách chúng ta đã theo khi liệt kê các nhóm Agnichaitans.

427. DK is helping us understand the enumeration of the Agnichaitans from various perspectives.

427. Chân sư DK đang giúp chúng ta hiểu sự liệt kê các Agnichaitans từ nhiều góc nhìn khác nhau.

Group A—Corresponds to the manifestations of existence as seen on the highest plane, or that aspect which is understood by the term Agni.

Nhóm A—Tương ứng với các biểu hiện của hiện hữu như được thấy trên cõi cao nhất, hay phương diện được hiểu qua thuật ngữ Agni.

428. DK reaffirms the linking of Agni with the first aspect of divinity and the first plane, the planet of Adi.

428. Chân sư DK tái khẳng định sự liên kết của Agni với phương diện thứ nhất của thiên tính và cõi thứ nhất, cõi Adi.

Group B—Corresponds to the Vishnu-Surya aspect.

Nhóm B—Tương ứng với phương diện Vishnu-Surya.

429. We notice that DK recently began introducing the word “Surya” whereas, usually, in the earlier parts of the book, He had spoken only of Vishnu.

429. Chúng ta nhận thấy rằng gần đây Chân sư DK bắt đầu đưa vào từ “Surya”, trong khi thông thường, ở các phần trước của sách, Ngài chỉ nói đến Vishnu.

430. We see that these two terms are roughly equivalent, both of them pertaining to the second aspect of divinity and closely related to the Law of Attraction.

430. Chúng ta thấy rằng hai thuật ngữ này gần như tương đương, cả hai đều liên hệ đến phương diện thứ hai của thiên tính và gắn bó chặt chẽ với Định luật Hấp Dẫn.

Group C—Corresponds to the Brahma or the creative Logos aspect.

Nhóm C—Tương ứng với phương diện Brahma hay phương diện Thượng đế sáng tạo.

431. It is a very good idea to think of Brahma as the “creative Logos”. DK’s preferred name of the Lord of the Third Ray is the “Ray of Creative Intelligence”.

431. Đó là một ý tưởng rất hay khi nghĩ về Brahma như “Thượng đế sáng tạo”. Tên gọi được Chân sư DK ưa dùng cho Chúa Tể của cung ba là “Cung của Trí Tuệ Sáng Tạo”.

We have recapitulated thus, as it is desirable to have the thought clearly defined.

Như vậy chúng ta đã tóm lược lại, vì điều đáng mong muốn là tư tưởng được xác định rõ ràng.

432. The didactic method of recapitulation is more than necessary given the great detail of this presentation on the devas. Or should it be said that for us, the presentation may seem to contain a wealth of detail. For DK, however, the presentation is but a thumbnail sketch.

432. Phương pháp giảng dạy bằng cách tóm lược còn hơn cả cần thiết, xét đến chi tiết rất lớn của phần trình bày này về các deva. Hay nên nói rằng đối với chúng ta, phần trình bày này dường như chứa một sự phong phú chi tiết. Tuy nhiên, đối với Chân sư DK, phần trình bày ấy chỉ là một phác thảo rất sơ lược.

We have touched upon the two lower groups of devas. Now, we might take up the consideration of Group A, the most important group on the physical plane from the standpoint of creation, and of objectivity, for they are the life of matter itself and the intelligence animating the forms of all that exists on the systemic physical [Page 655] plane; they are not self-conscious intelligence, but consciousness as understood by the occultist.

Chúng ta đã chạm đến hai nhóm deva thấp hơn. Giờ đây, chúng ta có thể xét đến Nhóm A, nhóm quan trọng nhất trên cõi hồng trần theo quan điểm sáng tạo và khách thể tính, vì họ là sự sống của chính vật chất và trí thông minh làm sinh động các hình tướng của mọi sự hiện hữu trên cõi hồng trần của hệ mặt trời [Page 655]; họ không phải là trí thông minh ngã thức, mà là tâm thức như được nhà huyền bí học hiểu.

433. Here DK wisely differentiates between consciousness (as the occultist understands that term) and self-consciousness. These devas on the evolutionary arc are conscious but not self-conscious.

433. Ở đây Chân sư DK phân biệt một cách khôn ngoan giữa tâm thức (theo cách nhà huyền bí học hiểu thuật ngữ ấy) và ngã thức. Những deva này trên cung tiến hoá là hữu thức nhưng không phải là ngã thức.

434. What does He say of these Group A. Agnichaitans?

434. Ngài nói gì về các Agnichaitans Nhóm A này?

a. They are the most important devas of the physical plane from the standpoint of creation and objectivity.

a. Họ là những deva quan trọng nhất của cõi hồng trần theo quan điểm sáng tạo và khách thể tính.

b. They are the life of matter itself.

b. Họ là sự sống của chính vật chất.

c. They are the intelligence animating all forms which exist on the systemic physical plane. If they animate, there is something in them akin to the soul aspect in relation to the personality.

c. Họ là trí thông minh làm sinh động mọi hình tướng hiện hữu trên cõi hồng trần của hệ mặt trời. Nếu họ làm sinh động, thì trong họ có điều gì đó tương tự phương diện linh hồn trong tương quan với phàm ngã.

Each of the atomic subplanes in the solar system is closely interrelated with the others,

Mỗi cõi phụ nguyên tử trong hệ mặt trời đều liên hệ mật thiết với các cõi khác,

435. This is the ‘atomic channel’ which allows rapid transmission from one atomic plane to the others.

435. Đây là “kênh nguyên tử” cho phép sự truyền dẫn nhanh chóng từ một cõi nguyên tử sang các cõi khác.

and the seven atomic subplanes of all the planes form a unity, and are essentially the cosmic physical plane as the term is occultly understood.

và bảy cõi phụ nguyên tử của mọi cõi tạo thành một hợp nhất, và về bản chất là cõi hồng trần vũ trụ như thuật ngữ này được hiểu theo huyền bí học.

436. Fohat as the Third Logos works upon the atomic subplanes. The energy of the Second Logos creates the molecular combinations of matter which characterize the six subsidiary subplanes.

436. Fohat với tư cách Logos thứ ba hoạt động trên các cõi phụ nguyên tử. Năng lượng của Logos thứ hai tạo ra các tổ hợp phân tử của vật chất vốn đặc trưng cho sáu cõi phụ thứ yếu.

437. Occultly understood, these seven atomic subplanes are the entire cosmic physical plane. If this is the case, we can say that the seven Raja Deva Lords compose (occultly) the seven subplanes of the cosmic physical plane.

437. Theo huyền bí học, bảy cõi phụ nguyên tử này là toàn bộ cõi hồng trần vũ trụ. Nếu đúng như vậy, chúng ta có thể nói rằng bảy Raja Deva Lords cấu thành (theo huyền bí học) bảy cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ.

The subplanes of which they are the originating source bear the same relationship to them as the six principles do to the seventh.

Các cõi phụ mà các Ngài là nguồn gốc phát sinh có cùng mối tương quan với các Ngài như sáu nguyên khí đối với nguyên khí thứ bảy.

438. This is a clear statement. It becomes apparent that the six subsidiary principles are in some manner derivative from the seventh.

438. Đây là một phát biểu rõ ràng. Hiển nhiên là sáu nguyên khí thứ yếu theo một cách nào đó đều phát sinh từ nguyên khí thứ bảy.

439. The atoms of the six molecular subplanes are combinations of the atoms of the atomic subplanes of their particular systemic plane.

439. Các nguyên tử của sáu cõi phụ phân tử là những tổ hợp của các nguyên tử thuộc cõi phụ nguyên tử của cõi hệ mặt trời tương ứng của chúng.

Therefore, the devas of Group A are the concentrated creative force of the subplanes, the origin of the objective side of physical manifestation, and the source of the seven Breaths of the creative Logos on the physical plane.

Vì vậy, các deva của Nhóm A là mãnh lực sáng tạo cô đọng của các cõi phụ, nguồn gốc của phương diện khách thể của sự biểu hiện hồng trần, và là nguồn của bảy Hơi Thở của Thượng đế sáng tạo trên cõi hồng trần.

440. To deal clearly with the nature of the Group A. Agnichaitans, let us tabulate the statements about their nature:

440. Để bàn đến rõ ràng bản chất của các Agnichaitans Nhóm A, chúng ta hãy lập bảng các phát biểu về bản chất của họ:

a. They are the concentrated creative force of the subplanes. Their concentration relates them to the principle of will.

a. Họ là mãnh lực sáng tạo cô đọng của các cõi phụ. Sự cô đọng của họ liên hệ họ với nguyên khí ý chí.

b. They are the origin of the objective side of physical manifestation. We know that the permanent atoms are responsible for the building of the lunar vehicles. Group A. Agnichaitans work in relation to these permanent atoms and in fact are the substance of these permanent atoms.

b. Họ là nguồn gốc của phương diện khách thể của sự biểu hiện hồng trần. Chúng ta biết rằng các Nguyên tử trường tồn chịu trách nhiệm xây dựng các vận cụ nguyệt tính. Các Agnichaitans Nhóm A hoạt động trong mối liên hệ với các Nguyên tử trường tồn này và thực ra là chất liệu của các Nguyên tử trường tồn ấy.

c. They are the source of the seven Breaths of the creative Logos (Brahma) on the physical plane. We are learning that on each systemic plane there are seven creative Breaths. “Breaths” are incoming energy activations and outgoing energy de-activations.

c. Họ là nguồn của bảy Hơi Thở của Thượng đế sáng tạo (Brahma) trên cõi hồng trần. Chúng ta đang học rằng trên mỗi cõi của hệ mặt trời đều có bảy Hơi Thở sáng tạo. “Hơi Thở” là những sự hoạt hóa năng lượng đi vào và những sự ngưng hoạt năng lượng đi ra.

But it must be remembered that in each scheme the creative impulse or will is the planetary Logos of the scheme, Who as truly creates His body of Manifestation under the Law (His dense physical planet) as man—under the same Law—creates his physical body, or as the solar Logos (at the other end of the scale) creates His body, a solar system.

Nhưng phải nhớ rằng trong mỗi hệ hành tinh xung lực sáng tạo hay ý chí là Hành Tinh Thượng Đế của hệ hành tinh ấy, Đấng cũng thực sự tạo ra thể Biểu Hiện của Ngài dưới Định luật (hành tinh hồng trần đậm đặc của Ngài) như con người—dưới cùng Định luật ấy—tạo ra thể xác của mình, hay như Thái dương Thượng đế (ở đầu kia của thang bậc) tạo ra thân thể của Ngài, một hệ mặt trời.

441. The implication of this statement is that the Planetary Logos of any scheme (as the creative impulse or will of the scheme) works through the Group A. Agnichaitans and through the permanent atoms constituted of Group A. Agnichaitans.

441. Hàm ý của phát biểu này là Hành Tinh Thượng Đế của bất kỳ hệ hành tinh nào (với tư cách xung lực sáng tạo hay ý chí của hệ hành tinh) hoạt động thông qua các Agnichaitans Nhóm A và thông qua các Nguyên tử trường tồn được cấu thành bởi các Agnichaitans Nhóm A.

442. The Logos, therefore, of any “M/man” is ultimately responsible for creating His body of manifestation, and utilizes in the process Group A. Agnichaitans.

442. Vì vậy, Thượng đế của bất kỳ “M/con người” nào rốt cuộc đều chịu trách nhiệm tạo ra thể biểu hiện của Ngài, và trong tiến trình ấy sử dụng các Agnichaitans Nhóm A.

This has a definite and esoteric bearing upon the subject under discussion, and the essential differences between the Heavenly Men seeking manifestation will be seen in Their schemes, and therefore in the types of devas through whom They function, and out of whose essence Their form is made.

Điều này có một liên hệ xác định và huyền bí với chủ đề đang được bàn đến, và những khác biệt cốt yếu giữa các Đấng Thiên Nhân đang tìm cách biểu hiện sẽ được thấy trong các hệ hành tinh của Các Ngài, và do đó trong các loại thiên thần mà qua đó Các Ngài hoạt động, và từ tinh chất của họ mà hình tướng của Các Ngài được tạo nên.

443. Heavenly Men are different from each other. We learned that Group B. Agnichaitans found as the substance of the various chakras were especially attuned to certain rays and astrological influences. This can equally be said of those Group B. Agnichaitans who go to the formation of those chakras in the Solar Logos which the Heavenly Men represent.

443. Các Đấng Thiên Nhân khác nhau với nhau. Chúng ta đã học rằng Nhóm B. Agnichaitans, được tìm thấy như chất liệu của các luân xa khác nhau, đặc biệt được chỉnh hợp với một số cung và các ảnh hưởng chiêm tinh nhất định. Điều này cũng có thể được nói về những Agnichaitans Nhóm B. tạo thành các luân xa ấy trong Thái dương Thượng đế mà các Đấng Thiên Nhân đại diện.

444. On a systemic scale, the different Heavenly Men (representing different chakras in the Solar Logos) are composed of different kinds of deva substance, differentially attuned to greater systemic and also cosmic sources and influences.

444. Trên quy mô hệ thống, các Đấng Thiên Nhân khác nhau (đại diện cho các luân xa khác nhau trong Thái dương Thượng đế) được cấu thành từ những loại chất liệu thiên thần khác nhau, được chỉnh hợp khác biệt với các nguồn và ảnh hưởng lớn hơn của hệ thống và cả vũ trụ.

It might be expressed thus: Just as each man has a body which, in its main characteristics and form, resembles other bodies, yet in its quality and personal distinctive features is unique, so each of the Heavenly Men builds for Himself a body out of deva substance or spirit-matter which is of the same nature as that of His brothers, and yet which is distinctive, coloured by His own peculiar colouring, vibrant to His own particular key, and able to demonstrate His own unique quality.

Điều này có thể được diễn đạt như sau: Cũng như mỗi người đều có một thể mà, trong những đặc điểm chính và hình tướng của nó, giống với các thể khác, nhưng trong phẩm tính và những nét riêng biệt cá nhân thì độc nhất, thì mỗi Đấng Thiên Nhân cũng tự xây dựng cho Ngài một thể từ chất liệu thiên thần hay tinh thần-vật chất vốn có cùng bản chất như của các huynh đệ của Ngài, nhưng lại đặcthù, được nhuốm màu bởi sắc thái riêng của Ngài, rung động theo chủ âm riêng của Ngài, và có thể biểu lộ phẩm tính độc đáo riêng của Ngài.

445. Again the analogy is clear. Each human being is the same as every other human being, yet distinctive. So it is with the Planetary Logoi, and the differences between Them is accounted for by the type of deva essence used in the construction of Their vehicles of manifestation.

445. Một lần nữa, phép loại suy thật rõ ràng. Mỗi con người đều giống như mọi con người khác, nhưng vẫn đặc thù. Các Hành Tinh Thượng Đế cũng vậy, và những khác biệt giữa Các Ngài được giải thích bởi loại tinh chất thiên thần được dùng trong việc kiến tạo các vận cụ biểu hiện của Các Ngài.

446. Of the constitution of each Planetary Logos it is said:

446. Về cấu tạo của mỗi Hành Tinh Thượng Đế, người ta nói rằng:

a. Each Planetary Logos has a distinctive nature

a. Mỗi Hành Tinh Thượng Đế có một bản chất đặc thù

b. Each Planetary Logos has His own peculiar coloring

b. Mỗi Hành Tinh Thượng Đế có sắc thái riêng của Ngài

c. Each Planetary Logos is vibrant to His own peculiar key

c. Mỗi Hành Tinh Thượng Đế rung động theo chủ âm riêng của Ngài

d. Each Planetary Logos is expressive of His own unique quality.

d. Mỗi Hành Tinh Thượng Đế biểu lộ phẩm tính độc đáo riêng của Ngài.

This is produced through the peculiar type of deva [Page 656] essence He chooses, or (to word it perhaps more occultly) it has involved the response of certain peculiar groups of devas to His note.

Điều này được tạo ra qua loại tinh chất thiên thần đặc thù mà [Page 656]Ngài chọn, hoặc (nói theo cách có lẽ huyền bí hơn) nó đã bao hàm sự đáp ứng của một số nhóm thiên thần đặc thù đối với âm điệu của Ngài.

447. The occult basis to the distinction between Planetary Logoi is given. It is not so much that different Planetary Logoi “choose” different deva essences to constitute Their vehicles, but that different groups of devas are summoned for construction and participation in the vehicles of a Planetary Logos because of their relation to the note which He occultly sounds as the process of manifestation begins.

447. Nền tảng huyền bí của sự khác biệt giữa các Hành Tinh Thượng Đế đã được nêu ra. Không hẳn là các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau “chọn” các tinh chất thiên thần khác nhau để cấu thành các vận cụ của Các Ngài, mà đúng hơn là các nhóm thiên thần khác nhau được triệu gọi để kiến tạo và tham dự vào các vận cụ của một Hành Tinh Thượng Đế do mối liên hệ của họ với âm điệu mà Ngài xướng lên một cách huyền bí khi tiến trình biểu hiện bắt đầu.

They embody in themselves just those constituents which He requires to build His body or scheme.

Họ hiện thân trong chính mình đúng những thành phần mà Ngài cần để xây dựng thể hay hệ hành tinh của Ngài.

448. The note the Planetary Logos sounds gives the necessary occult ‘information’ regarding just the type of deva constituents He requires for His body of scheme.

448. Âm điệu mà Hành Tinh Thượng Đế xướng lên cung cấp “thông tin” huyền bí cần thiết về chính loại thành phần thiên thần mà Ngài cần cho thể của hệ hành tinh của Ngài.

It will, therefore, be recognised that the devas of Group A, being what we might call the key-devas, are of prime importance, and, from our present standpoint, must remain abstract and esoteric.

Do đó, sẽ được nhận ra rằng các thiên thần của Nhóm A, là điều mà chúng ta có thể gọi là các thiên thần chủ âm, có tầm quan trọng hàng đầu, và, từ quan điểm hiện nay của chúng ta, phải vẫn còn trừu tượng và huyền bí.

449. Esoteric “key-notes” are always found on atomic subplanes—whether for the vehicles of various vibrational strata or for the vehicles of “M/men”.

449. Các “chủ âm” huyền bí luôn được tìm thấy trên các cõi phụ nguyên tử—dù là đối với các vận cụ của những tầng rung động khác nhau hay đối với các vận cụ của “M/nhân loại”.

450. When keynotes are sounded, they are sounded on atomic subplanes.

450. Khi các chủ âm được xướng lên, chúng được xướng lên trên các cõi phụ nguyên tử.

451. Those who can control the sounding of keynotes can control all manifestation which occurs as a result of that sounding.

451. Những ai có thể kiểm soát việc xướng lên các chủ âm thì có thể kiểm soát mọi biểu hiện xảy ra như là kết quả của sự xướng lên đó.

If we consider this under the Law of Analogy, and study the essentially esoteric nature of the plane of the Logos (the first plane, called Adi) the reason for this will be apparent.

Nếu chúng ta xem xét điều này dưới định luật tương đồng, và nghiên cứu bản chất huyền bí cốt yếu của cõi của Thượng đế (cõi thứ nhất, gọi là Adi) thì lý do của điều này sẽ trở nên hiển nhiên.

452. The “esoteric nature” of the Planetary Logos would be increasingly revealed through the study of the esoteric nature of the plane of the Logos—the adic plane.

452. “Bản chất huyền bí” của Hành Tinh Thượng Đế sẽ ngày càng được mặc khải qua việc nghiên cứu bản chất huyền bí của cõi của Thượng đế—cõi adi.

If the devas of Group A could be recognised, or even contacted by advanced men, the study of their nature, colouring and tone would reveal to unprepared humanity the colouring and tone of our particular planetary Logos. For this knowledge the race is not ready.

Nếu các thiên thần của Nhóm A có thể được nhận biết, hay thậm chí được tiếp xúc bởi những người nam và nữ tiến bộ, thì việc nghiên cứu bản chất, sắc thái và âm điệu của họ sẽ tiết lộ cho nhân loại chưa được chuẩn bịsắc thái và âm điệu của Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của hành tinh chúng ta. Nhân loại chưa sẵn sàng cho tri thức này.

453. DK is telling us that, possessed of such knowledge, unprepared humanity could meddle in the creative process of its own Planetary Logos.

453. Chân sư DK đang nói với chúng ta rằng, nếu sở hữu tri thức như thế, nhân loại chưa được chuẩn bị có thể can thiệp vào tiến trình sáng tạo của chính Hành Tinh Thượng Đế của mình.

454. The notes sounding on the plane of Adi is the note of our Solar Logos with respect to the cosmic physical plane.

454. Các âm điệu được xướng lên trên cõi Adi là âm điệu của Thái dương Thượng đế của chúng ta đối với cõi hồng trần vũ trụ.

455. The differentiated notes sounding on the second subplane of the cosmic physical plane pertain to qualities of the various Planetary Logoi.

455. Các âm điệu biệt phân được xướng lên trên cõi phụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ liên quan đến các phẩm tính của các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau.

456. There are three types of atomic subplanes with which we are concerned:

456. Có ba loại cõi phụ nguyên tử mà chúng ta quan tâm:

a. The plane of Adi

a. Cõi Adi

b. The atomic subplane of the each of the seven systemic planes

b. Cõi phụ nguyên tử của mỗi một trong bảy cõi hệ thống

c. The atomic division of each of the forty-nine systemic subplanes, whatever such a division may be called.

c. Phân khu nguyên tử của mỗi một trong bốn mươi chín cõi phụ hệ thống, dù một phân khu như thế có thể được gọi là gì đi nữa.

457. Wherever there is recognition of keynotes sounding on atomic subplanes, the possibility exists to gain control over that atomic subplane and over the lesser subplanes which are related to that atomic subplane.

457. Bất cứ nơi nào có sự nhận biết các chủ âm được xướng lên trên các cõi phụ nguyên tử, thì ở đó tồn tại khả năng giành được quyền kiểm soát cõi phụ nguyên tử ấy và các cõi phụ thấp hơn có liên hệ với cõi phụ nguyên tử đó.

458. We have been given some knowledge of the ray and coloring of our own Planetary Logos, but we do not know how the ray (really there are three major rays), the coloring, and the tones associated with the coloring will be modified by expression on each subplane level. The matter would be exceedingly intricate. Real control of subplane processes requires far more than the generalities which have been conferred upon us.

458. Chúng ta đã được ban cho một số tri thức về cung và sắc thái của chính Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, nhưng chúng ta không biết cung ấy (thật ra có ba cung chính), sắc thái ấy, và các âm điệu gắn liền với sắc thái ấy sẽ được biến đổi như thế nào khi biểu lộ trên mỗi cấp độ cõi phụ. Vấn đề này sẽ cực kỳ phức tạp. Sự kiểm soát thực sự các tiến trình cõi phụ đòi hỏi nhiều hơn rất xa những khái quát đã được ban cho chúng ta.

459. We know that our Planetary Logos expresses the first, second and third rays. This, however, tells us little about how these notes (one of them, two of them or all of them) sound forth on the various atomic subplanes (and subdivisions) within the cosmic physical plane.

459. Chúng ta biết rằng Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta biểu lộ cung một, cung hai và cung ba. Tuy nhiên, điều này cho chúng ta biết rất ít về cách các âm điệu này (một trong chúng, hai trong chúng hay tất cả chúng) được xướng ra trên các cõi phụ nguyên tử khác nhau (và các phân khu) bên trong cõi hồng trần vũ trụ.

It would reveal also, through the study of the Law of Action and Reaction, which of the incarnating Egos were on the ray of this Logos;

Điều đó cũng sẽ tiết lộ, qua việc nghiên cứu Định luật Hành Động và Phản Ứng, những Chân ngã đang lâm phàm nào thuộc về cung của Thượng đế này;

460. Different Monads and Egos within our Earth-scheme manifestation have different Planetary Logoi are their Sources.

460. Các Chân thần và Chân ngã khác nhau bên trong biểu hiện hệ Địa Cầu của chúng ta có các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau là Nguồn gốc của họ.

461. If such information were in the hands of those who were intelligent but morally selfish, they could exert control over the Monads and Egos they encountered and could also (through the mobilization of unified ray groups) invoke and evoke planetary and extra-planetary energies (perhaps even cosmic energies) for which the Earth-scheme was unprepared. Serious energy imbalances could eventuate.

461. Nếu thông tin như thế rơi vào tay những người thông minh nhưng ích kỷ về mặt đạo đức, họ có thể tác động quyền kiểm soát lên các Chân thần và Chân ngã mà họ gặp, và cũng có thể (qua việc huy động các nhóm cung hợp nhất) khẩn cầu và gợi lên các năng lượng hành tinh và ngoài hành tinh (có lẽ ngay cả các năng lượng vũ trụ) mà hệ Địa Cầu chưa được chuẩn bị để tiếp nhận. Những mất cân bằng năng lượng nghiêm trọng có thể xảy ra.

the deductions from this would lead men into dangerous realms, and put power into hands as yet unprepared to wield it wisely.

những suy luận từ điều này sẽ dẫn con người vào những lĩnh vực nguy hiểm, và đặt quyền năng vào những bàn tay còn chưa được chuẩn bị để sử dụng nó một cách minh triết.

462. DK can see far ahead regarding the uses of the knowledge which He dispenses and which He could dispense. Probably, as yet, we have little idea of how certain kinds of knowledge could be used or misused.. In His wisdom, He can foresee possible uses and potential misuses. This is the foresight of the Master.

462. Chân sư DK có thể thấy rất xa về phía trước liên quan đến những cách sử dụng tri thức mà Ngài ban ra và mà Ngài có thể ban ra. Có lẽ, cho đến nay, chúng ta vẫn ít có ý niệm về việc một số loại tri thức nhất định có thể được dùng hay bị lạm dụng như thế nào.. Trong minh triết của Ngài, Ngài có thể thấy trước những cách dùng khả dĩ và những lạm dụng tiềm tàng. Đây là sự tiên liệu của Chân sư.

Therefore, Group A of Agnichaitans must remain profoundly esoteric, and their true nature can only be revealed to the Adept of the great Law.

Do đó, Nhóm A của Agnichaitans phải vẫn còn hết sức huyền bí, và bản chất chân thực của họ chỉ có thể được tiết lộ cho chân sư của đại Định luật.

463. Thus, when one is a Master of the Wisdom, the true esoteric nature of the Group A. Agnichaitans, can be revealed and not before.

463. Vì vậy, chỉ khi một người là một Chân sư Minh triết thì bản chất huyền bí chân thực của Nhóm A. Agnichaitans mới có thể được tiết lộ, chứ không phải trước đó.

464. We have often been told that the fourth and third ether are considered exoteric and the second and first ethers, esoteric. The first ether (and the devic lives who make it what it is) is the most esoteric of all the four ethers. We have been told why this is the case.

464. Chúng ta thường được bảo rằng dĩ thái thứ tư và thứ ba được xem là ngoại môn, còn dĩ thái thứ hai và thứ nhất là nội môn. Dĩ thái thứ nhất (và các sự sống thiên thần làm cho nó là chính nó) là huyền bí nhất trong cả bốn dĩ thái. Chúng ta đã được cho biết vì sao điều này là như vậy.

Thus only a few hints are permissible, and these deal simply with the relationship of man to these entities.

Vì thế chỉ một vài gợi ý là được phép, và những gợi ý này chỉ đơn giản bàn đến mối liên hệ của con người với các thực thể này.

465. One must have great knowledge, indeed, to know what knowledge is permissible for dispensation. Probably many of us who have only a little knowledge cannot refrain from discussing things, which under the circumstances, we should not. Our knowledge of implications and ramifications is so small.

465. Quả thật, người ta phải có tri thức lớn lao mới biết tri thức nào được phép ban truyền. Có lẽ nhiều người trong chúng ta, những người chỉ có chút ít tri thức, không thể ngăn mình bàn luận về những điều mà trong hoàn cảnh hiện tại, lẽ ra chúng ta không nên bàn. Tri thức của chúng ta về các hàm ý và hệ quả còn quá ít ỏi.

He is related to them primarily because his physical permanent atom is directly energised by them, being a part of their essential nature, and having a place in their form.

Y có liên hệ với họ chủ yếu vì nguyên tử trường tồn hồng trần của y được họ trực tiếp tiếp sinh lực, vì nó là một phần trong bản chất cốt yếu của họ, và có một vị trí trong hình tướng của họ.

466. Here is one of the most succinct statements concerning the relation of Group A. Agnichaitans to man.

466. Đây là một trong những phát biểu súc tích nhất liên quan đến mối liên hệ của Nhóm A. Agnichaitans với con người.

467. Man’s physical permanent atoms are:

467. Các nguyên tử trường tồn hồng trần của con người là:

a. Directly energised by Group A. Agnichaitans

a. Được Nhóm A. Agnichaitans trực tiếp tiếp sinh lực

b. Group A. Agnichaitans are part of the essential nature of man’s physical permanent atom

b. Nhóm A. Agnichaitans là một phần trong bản chất cốt yếu của nguyên tử trường tồn hồng trần của con người

c. Group A. Agnichaitans (how many of such devas we do not know, whether one or more) have place in the form of the physical permanent atom of any particular man.

c. Nhóm A. Agnichaitans (chúng ta không biết có bao nhiêu thiên thần như thế, là một hay nhiều) có chỗ trong hình tướng của nguyên tử trường tồn hồng trần của bất kỳ người nào.

It will be apparent to any student that if the permanent atoms of the lower man are within the causal periphery the devas of the three worlds on the atomic subplanes must work in the closest co-operation; there must be unity of purpose and of plan.

Điều này sẽ hiển nhiên đối với bất kỳ đạo sinh nào rằng nếu các nguyên tử trường tồn của phàm nhân ở trong chu vi nhân thể thì các thiên thần của ba cõi giới trên các cõi phụ nguyên tử phải hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ nhất; phải có sự hợp nhất về mục đích và về Thiên Cơ.

468. The devas of the atomic subplanes (found in the physical permanent atom and the astral permanent atom of man, but not, apparently, in the fourfold mental unit), must work in the closest cooperation with the Solar Angels who direct the processes within the causal body and in the personality vehicles via the two lower permanent atoms and the mental unit.

468. Các thiên thần của các cõi phụ nguyên tử (được tìm thấy trong nguyên tử trường tồn hồng trần và nguyên tử trường tồn cảm dục của con người, nhưng dường như không có trong đơn vị hạ trí tứ phân), phải hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ nhất với các Thái dương Thiên Thần, những Đấng điều khiển các tiến trình bên trong thể nguyên nhân và trong các vận cụ phàm ngã qua hai nguyên tử trường tồn thấp hơn và đơn vị hạ trí.

The devas of the atomic levels of all the planes in our scheme work in close affiliation:

Các thiên thần của các cấp độ nguyên tử trên mọi cõi trong hệ hành tinh của chúng ta hoạt động trong sự liên kết chặt chẽ:

469. Since there is a channel from atomic subplane to atomic subplane, this closely interdependent work is to be expected.

469. Vì có một kênh từ cõi phụ nguyên tử này sang cõi phụ nguyên tử khác, nên công việc phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ này là điều có thể được mong đợi.

470. We may say that such devas and their close interrelation provide the synthetic factor in the matter of the cosmic physical plane.

470. Chúng ta có thể nói rằng các thiên thần như thế và mối tương liên chặt chẽ của họ cung cấp yếu tố tổng hợp trong vật chất của cõi hồng trần vũ trụ.

[Page 657]

[Page 657]

471. Immediately below we deal with the types of interplay to be expected among these types of devas.

471. Ngay bên dưới, chúng ta bàn đến các loại tương tác có thể được mong đợi giữa các loại thiên thần này.

a. With each other, thus making seven groups who are the sumtotal of the Brahma aspect of our planetary Logos.

a. Với nhau, nhờ đó tạo thành bảy nhóm là tổng thể của phương diện Brahma của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

472. From what is here said, we may gather that the Brahma aspect of our Planetary Logos relates to all seven atomic subplanes.

472. Từ những gì được nói ở đây, chúng ta có thể suy ra rằng phương diện Brahma của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta liên hệ với cả bảy cõi phụ nguyên tử.

473. This is interesting, as the expression of the Planetary Logos seems to be more focussed upon the second cosmic subplane of the cosmic physical plane than upon the first or adic subplane, yet His presence cannot be removed from the logoic plane (since He has higher vehicles on the cosmic astral plane and the cosmic lower mental plane.

473. Điều này thật thú vị, vì sự biểu lộ của Hành Tinh Thượng Đế dường như tập trung nhiều hơn vào cõi phụ vũ trụ thứ hai của cõi hồng trần vũ trụ hơn là vào cõi phụ thứ nhất hay cõi adi, tuy nhiên sự hiện diện của Ngài không thể bị tách khỏi cõi logoic (vì Ngài có các vận cụ cao hơn trên cõi cảm dục vũ trụ và cõi hạ trí vũ trụ.

474. The Group A. Agnichaitans, cosmically considered, must be closely related to Agni, with each one of the seven sub-groups being an aspect of expression of one of the Raja Deva Lords.

474. Nhóm A. Agnichaitans, xét theo vũ trụ, hẳn phải có liên hệ chặt chẽ với Agni, với mỗi một trong bảy phân nhóm là một phương diện biểu lộ của một trong các Chúa Tể Raja Deva.

b. With the seven groups who constitute the atomic matter of that scheme which is the polar opposite of ours.

b. Với bảy nhóm cấu thành vật chất nguyên tử của hệ hành tinh là đối cực của hệ chúng ta.

475. That scheme is the Venus-scheme. Raja Deva Lords of our scheme must be closely related to the corresponding Raja Deva Lords of the Venus-scheme.

475. Hệ hành tinh đó là hệ Kim Tinh. Các Chúa Tể Raja Deva của hệ chúng ta hẳn phải có liên hệ chặt chẽ với các Chúa Tể Raja Deva tương ứng của hệ Kim Tinh.

c. With that particular group in that scheme which is one of the points in a systemic triangle of which our scheme and our opposite scheme are the other two.

c. Với nhóm đặc thù trong hệ hành tinh ấy là một trong những điểm trong một tam giác hệ thống mà hệ của chúng ta và hệ đối cực của chúng ta là hai điểm còn lại.

476. We may propose that the atomic interaction embraces the seven Raja Deva Lords of the Mars-scheme.

476. Chúng ta có thể đề xuất rằng sự tương tác nguyên tử bao gồm bảy Chúa Tể Raja Deva của hệ Hỏa Tinh.

d. With corresponding groups in lesser degree in all the systemic schemes.

d. Với các nhóm tương ứng ở mức độ thấp hơn trong mọi hệ hành tinh của hệ thống.

477. The major devic interrelation is with the two planetary schemes which form a triangle with our own. Yet, interaction with corresponding devic groups within the seven Raja Deva Lords of the seven planes of other planetary schemes also takes place.

477. Mối tương liên thiên thần chủ yếu là với hai hệ hành tinh tạo thành một tam giác với hệ của chúng ta. Tuy nhiên, sự tương tác với các nhóm thiên thần tương ứng bên trong bảy Chúa Tể Raja Deva của bảy cõi của các hệ hành tinh khác cũng diễn ra.

e. With the scheme which corresponds to the first aspect, or the plane of Adi.

e. Với hệ hành tinh tương ứng với phương diện thứ nhất, hay cõi Adi.

478. Is this scheme the Uranus Scheme? The monadic ray of the Uranus scheme is hinted as the first (EP I, 430); the monadic ray of the Earth-scheme is given as the first.

478. Đây có phải là hệ Sao Thiên Vương không? Cung chân thần của hệ Sao Thiên Vương được gợi ý là cung một (EP I, 430); cung chân thần của hệ Địa Cầu được nêu là cung một.

f. With those devas who form the spirit-substance of the manifestation of that particular Rishi of the Great Bear Who is the prototype of our particular planetary Logos.

f. Với những thiên thần tạo thành tinh thần-chất liệu của sự biểu hiện của vị Rishi đặc thù của Đại Hùng Tinh nào là nguyên mẫu của Hành Tinh Thượng Đế đặc thù của chúng ta.

479. How are Prototypes within the Great Bear related to Planetary Logoi within our solar system for which They (the Seven Rishis of the Bear) are Prototypes? Is it via one of the rays? The monadic ray, for instance? The soul-ray, possibly? The mode of relationship may change with the developmental stage of the Planetary Logos concerned and perhaps with the development of particular Rishis of the Bear.

479. Các Nguyên Mẫu trong Đại Hùng Tinh liên hệ như thế nào với các Hành Tinh Thượng Đế trong hệ mặt trời của chúng ta mà Các Ngài (Bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh) là Nguyên Mẫu? Có phải qua một trong các cung không? Chẳng hạn cung chân thần? Có thể là cung linh hồn? Phương thức liên hệ có thể thay đổi theo giai đoạn phát triển của Hành Tinh Thượng Đế liên hệ và có lẽ theo sự phát triển của các vị Rishi đặc thù của Đại Hùng Tinh.

480. We note that the relationship is with devas who form the “spirit-substance” of one of these Rishis, meaning substance as it pertains to the cosmic ethers and not to the dense physical plane of the Rishi concerned—IF such Rishis even have dense substance.

480. Chúng ta lưu ý rằng mối liên hệ này là với các thiên thần tạo thành “chất liệu-tinh thần” của một trong các vị Rishi này, nghĩa là chất liệu trong chừng mực nó liên quan đến các dĩ thái vũ trụ chứ không phải đến cõi hồng trần đậm đặc của vị Rishi liên hệ—NẾU các vị Rishi như thế thậm chí có chất liệu đậm đặc.

481. Given that our Earth-scheme functions at this time very much upon the third ray, there may be (again, at this time) a close connection between the third star Alioth and the Earth. Later the star Mizar and later still Benetnasch, (stars expressing the second and first rays respectively) may have a special connection with the Logos of the Earth-scheme.

481. Với điều kiện hệ Địa Cầu của chúng ta hoạt động vào lúc này rất nhiều trên cung ba, có thể có (một lần nữa, vào lúc này) một liên hệ chặt chẽ giữa ngôi sao thứ ba Alioth và Trái Đất. Về sau ngôi sao Mizar và về sau nữa Benetnasch, (các ngôi sao biểu lộ lần lượt cung hai và cung một) có thể có một liên hệ đặc biệt với Thượng đế của hệ Địa Cầu.

g. With those devas who form the substance of that one of those esoteric existences who are spoken of in the Secret Doctrine14 [S. D., II, 579-582.] as “The wives of the seven Rishis,” or the seven sisters, the Pleiades. One of these seven sisters has a close connection with our Heavenly Man, and therefore we have an interesting cosmic interplay as follows:

g. Với những thiên thần tạo thành chất liệu của một trong những Hiện Hữu huyền bí được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm14 [S. D., II, 579-582.] là “Những người vợ của bảy vị Rishi,” hay bảy chị em, tức Thất Nữ Tinh. Một trong bảy chị em này có liên hệ chặt chẽ với Đấng Thiên Nhân của chúng ta, và do đó chúng ta có một sự tương tác vũ trụ thú vị như sau:

482. It appears that we are speaking of the Pleiad, Maya. At any rate it is the third Pleiad as the distributor of the third ray.

482. Dường như chúng ta đang nói về ngôi sao Maya trong Thất Nữ Tinh. Dù sao đi nữa, đó là ngôi sao Thất Nữ Tinh thứ ba với tư cách là đấng phân phối cung ba.

1. One of the seven Rishis of the Great Bear.

1. Một trong bảy vị Rishi của Đại Hùng Tinh.

2. One of the seven Sisters, or a Pleiad.

2. Một trong bảy Chị Em, hay một ngôi sao Thất Nữ Tinh.

3. The Heavenly Man of our scheme.

3. Đấng Thiên Nhân của hệ hành tinh chúng ta.

483. This cosmic triangle (or rather a maladjustment within this triangle) is, we are told, responsible for the cosmic evil which overflows our Earth.

483. Tam giác vũ trụ này (hay đúng hơn là một sự mất điều chỉnh trong tam giác này) được cho biết là chịu trách nhiệm về điều ác vũ trụ tràn ngập Trái Đất của chúng ta.

484. We are being presented with a vast picture of devic resonance and interdependency. We see that the Law of Vibration as it demonstrates on our planet, and which has to do with action and reaction within devic substance, reflects relationships are not only interplanetary but cosmic as well.

484. Chúng ta đang được trình bày một bức tranh rộng lớn về sự cộng hưởng và phụ thuộc lẫn nhau của giới thiên thần. Chúng ta thấy rằng Định luật Rung động khi biểu lộ trên hành tinh chúng ta, và có liên quan đến hành động và phản ứng bên trong chất liệu thiên thần, phản ánh những mối liên hệ không chỉ liên hành tinh mà còn vũ trụ nữa.

This interplay will be threefold

Sự tương tác này sẽ là tam phân

485. We are speaking of a threefold cosmic interplay.

485. Chúng ta đang nói về một sự tương tác vũ trụ tam phân.

and as far as we are concerned just now will involve a transmission of life force through the atomic matter of our planes, circulating in deva substance.

và trong chừng mực chúng ta đang quan tâm lúc này, nó sẽ bao hàm một sự truyền dẫn sinh lực qua vật chất nguyên tử của các cõi chúng ta, lưu chuyển trong chất liệu thiên thần.

486. Life force circulates in devic substance—especially through the atomic matter of our planes. Via atomic matter of the various systemic atomic subplanes, a great matrix of planetary, extra-planetary and cosmic energies can be and, in fact, are interconnected.

486. Sinh lực lưu chuyển trong chất liệu thiên thần—đặc biệt qua vật chất nguyên tử của các cõi chúng ta. Qua vật chất nguyên tử của các cõi phụ nguyên tử khác nhau của hệ thống, một ma trận lớn của các năng lượng hành tinh, ngoài hành tinh và vũ trụ có thể được, và trên thực tế đang được, liên kết với nhau.

487. The information given here can be related to the modus operandi of esoteric astrology, dependent as it is on systemic and cosmic etheric circulations of energies and forces.

487. Thông tin được đưa ra ở đây có thể được liên hệ với phương thức hoạt động của Chiêm Tinh Học Nội Môn, vốn phụ thuộc vào các sự lưu chuyển năng lượng và mãnh lực dĩ thái của hệ thống và của vũ trụ.

This will materially affect certain types of humanity more than others, according to their ray and nature, and this effect will demonstrate in [Page 658] a vivification of the spirillae of the permanent atoms and of the centres.

Điều này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến một số loại nhân loại hơn những loại khác, tùy theo cung và bản chất của họ, và ảnh hưởng này sẽ biểu lộ trong [Page 658] sự làm sống động các loa tuyến của các nguyên tử trường tồn và của các trung tâm.

488. We are dealing with an exact occult science. Although the relations described are even cosmic in extent, they affect the microcosm man in certain specific ways.

488. Chúng ta đang bàn đến một khoa học huyền bí chính xác. Mặc dù các mối liên hệ được mô tả có phạm vi thậm chí là vũ trụ, chúng vẫn ảnh hưởng đến tiểu thiên địa con người theo một số cách đặc thù.

489. We are gathering some small idea of the great importance of these esoteric, Group A. Agnichaitans. They are powerful receivers and transmitters and bring the cosmos into our planetary system and into the microcosmic participants within that system.

489. Chúng ta đang thu thập được một ý niệm nhỏ nào đó về tầm quan trọng lớn lao của những Agnichaitans huyền bí này thuộc Nhóm A. Họ là những bộ phận tiếp nhận và truyền dẫn mạnh mẽ, và đưa vũ trụ vào hệ hành tinh của chúng ta và vào những thành phần tham dự vi mô bên trong hệ ấy.

490. If we have wondered about the sources of energy which reach our Earth and man, and the means of transmission, much, in principle, is revealed by this account of the functions and interplay of various types of Agnichaitans from various sources—systemic and cosmic.

490. Nếu chúng ta từng tự hỏi về các nguồn năng lượng đến với Trái Đất và con người, và về các phương tiện truyền dẫn, thì nhiều điều, về nguyên tắc, được tiết lộ qua bản tường thuật này về các chức năng và sự tương tác của nhiều loại Agnichaitans khác nhau từ nhiều nguồn khác nhau—thuộc hệ thống và thuộc vũ trụ.

491. A picture of interdependency, cosmic in scope, has been presented.

491. Một bức tranh về sự phụ thuộc lẫn nhau, có tầm mức vũ trụ, đã được trình bày.

492. Thus far, we have discussed only Agnichaitans (the devas of the cosmic physical plane) when considering this type of devic life from the cosmic perspective. We have yet to discuss the Agnisuryans related not only the cosmic physical plane physical plane but to the cosmic astral plane, and Agnishvattas, related, again, not only to the cosmic physical plane, but to the cosmic mental plane.

492. Cho đến nay, chúng ta mới chỉ bàn đến Agnichaitans (các thiên thần của cõi hồng trần vũ trụ) khi xem xét loại sự sống thiên thần này từ góc độ vũ trụ. Chúng ta vẫn còn phải bàn đến các Agnisuryans liên hệ không chỉ với cõi hồng trần vũ trụ mà còn với cõi cảm dục vũ trụ, và Agnishvattas, lại một lần nữa, liên hệ không chỉ với cõi hồng trần vũ trụ mà còn với cõi trí vũ trụ.

TCF 658 - 668: S6S8 Part I

8 - 23 January 2008

8 - 23 tháng Giêng 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the analysis.

Người ta gợi ý rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiến hành, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần phân tích.

Agnisuryans—Astral Plane Devas.

Agnisuryans—Các thiên thần cõi cảm dục.

We start here upon a consideration of those groups of devas who are the substance of the astral plane, the Agnisuryans.

Ở đây chúng ta bắt đầu xem xét những nhóm thiên thần là chất liệu của cõi cảm dục, tức các Agnisuryans.

1. We are to remember that this group of devas is also found on the buddhic plane.

1. Chúng ta cần nhớ rằng nhóm thiên thần này cũng được tìm thấy trên cõi Bồ đề.

They may be considered in the following manner, and by the employment of synonymous terms, some general idea of their function may be arrived at before we begin to differentiate them into groups

Chúng có thể được xem xét theo cách sau đây, và bằng việc sử dụng các thuật ngữ đồng nghĩa, có thể đạt được một ý niệm tổng quát nào đó về chức năng của chúng trước khi chúng ta bắt đầu biệt phân chúng thành các nhóm

2. The principle of order is required in this exacting study. The devas are typified by orderly action and a correct approach to understanding them will have to body done in an orderly manner.

2. Nguyên lý trật tự là điều cần thiết trong công trình nghiên cứu đòi hỏi chính xác này. Các thiên thần được tiêu biểu bởi hành động có trật tự và một cách tiếp cận đúng đắn để thấu hiểu họ sẽ phải được thực hiện một cách có trật tự.

and study their relation to:

và nghiên cứu mối liên hệ của chúng với:

1. The various entities who are the soul of the differing kingdoms, or groups, such as the animal kingdom, the human kingdom, and higher in the scale of consciousness than men—the planetary Logos.

1. Các thực thể khác nhau là linh hồn của các giới khác nhau, hay các nhóm, chẳng hạn như giới động vật, giới nhân loại, và cao hơn trên thang tâm thức so với những người nam và nữ—Hành Tinh Thượng Đế.

3. We will study the relation of the Agnisuryans to great ensouling Entities—i.e., in relation to the ensouling consciousness of groups.

3. Chúng ta sẽ nghiên cứu mối liên hệ của các Agnisuryans với các Thực Thể phú linh vĩ đại—tức là, trong mối liên hệ với tâm thức phú linh của các nhóm.

2. Man himself.

2. Chính con người.

4. This is man considered as the microcosm.

4. Đây là con người được xét như tiểu thiên địa.

5. The manifestation of man is inseparable from his interplay with the deva kingdom.

5. Sự biểu hiện của con người không thể tách rời khỏi sự tương tác của y với giới thiên thần.

3. The plane as a totality.

3. Cõi như một toàn thể.

6. We may be considering the astral plane or other planes in relation to the astral plane.

6. Chúng ta có thể đang xem xét cõi cảm dục hoặc các cõi khác trong tương quan với cõi cảm dục.

7. The evolutionary devas we are considering are the positive forces of the planes.

7. Các thiên thần thăng thượng tiến hoá mà chúng ta đang xét đến là những mãnh lực tích cực của các cõi.

We might consider these devas:

Chúng ta có thể xem xét các thiên thần này:

First, as the substance of the astral plane in its seven grades.

Thứ nhất, như chất liệu của cõi cảm dục trong bảy cấp độ của nó.

8. Each systemic subplane is distinct grade of substance. There are seven systemic subplanes in one systemic plane.

8. Mỗi cõi phụ hệ thống là một cấp độ chất liệu riêng biệt. Có bảy cõi phụ hệ thống trong một cõi hệ thống.

9. The Agnisuryans are particularly the energy-force-substance of the astral plane. They are not, however, the involutionary, elemental essence of that plane.

9. Các Agnisuryan đặc biệt là năng lượng-mãnh lực-chất liệu của cõi cảm dục. Tuy nhiên, các vị ấy không phải là tinh chất hành khí giáng hạ tiến hoá của cõi đó.

Second, as that aspect of logoic manifestation which corresponds to the liquid subplane in the systemic physical plane.

Thứ hai, như phương diện của biểu hiện logoic tương ứng với cõi phụ lỏng trong cõi hồng trần hệ thống.

10. The systemic astral plane is the liquid subplane of the cosmic physical plane. When we think in strictly systemic terms and look for the liquid subplane of the systemic physical plane, our focus is upon the subplane above the lowest of the forty-nine systemic sub-planes—either the second subplane or the forty-eighth depending on whether one is counting from below or above.

10. Cõi cảm dục hệ thống là cõi phụ lỏng của cõi hồng trần vũ trụ. Khi chúng ta suy nghĩ theo những thuật ngữ hoàn toàn hệ thống và tìm cõi phụ lỏng của cõi hồng trần hệ thống, sự chú ý của chúng ta đặt vào cõi phụ ở trên cõi thấp nhất trong bốn mươi chín cõi phụ hệ thống—hoặc là cõi phụ thứ hai hoặc cõi phụ thứ bốn mươi tám tùy theo việc người ta đếm từ dưới lên hay từ trên xuống.

11. DK is telling us that the astral plane (in which the Agnisuryans are the positive devic substance) is a liquid plane and corresponds (cosmically and logoically) to the liquidity of the sixth subplane (counting from above) on the solar systemic physical plane.

11. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng cõi cảm dục (trong đó các Agnisuryan là chất liệu thiên thần tích cực) là một cõi lỏng và tương ứng (về mặt vũ trụ và logoic) với tính lỏng của cõi phụ thứ sáu (đếm từ trên xuống) trên cõi hồng trần hệ mặt trời.

12. The word “substance” is sometimes difficult to understand. It can mean

12. Từ “chất liệu” đôi khi khó hiểu. Nó có thể có nghĩa là

a. Essential Being, as in the ABSOLUTE DEITY is the ONLY SUBSTANCE—THAT WHICH SUBSTANDS ALL-

a. Bản Thể cốt yếu, như trong THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI là CHẤT LIỆU DUY NHẤT—ĐIỀU NÂNG ĐỠ TẤT CẢ—

b. Energy substanding force

b. Năng lượng làm nền cho mãnh lực

c. Force substanding matter

c. Mãnh lực làm nền cho vật chất

d. Matter

d. Vật chất

13. When we encounter the word “substance” in discussing the devas we have to think of it principally as energy-force.

13. Khi gặp từ “chất liệu” trong khi bàn đến các thiên thần, chúng ta phải nghĩ về nó chủ yếu như năng lượng-mãnh lực.

Third, as the vehicle of the deva lord Varuna.

Thứ ba, như vận cụ của thiên thần chúa tể Varuna.

14. Each of the subplanes of the cosmic physical plane is ruled by a great Deva Lord—a Raja Deva Lord. We are not given the names of these system-wide Raja Deva Lords.

14. Mỗi cõi phụ của cõi hồng trần vũ trụ đều do một Đại Thiên Thần Chúa Tể cai quản—một Raja Deva Lord. Chúng ta không được cho biết tên của các Raja Deva Lord trên phạm vi hệ thống này.

15. The Lord Varuna is the Raja Deva Lord of the systemic astral plane of our Planetary Logos. The Lord Varuna (allied to Neptune) uses the Agnisuryans as His vehicle of expression.

15. Đức Chúa Tể Varuna là Raja Deva Lord của cõi cảm dục hệ thống của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta. Đức Chúa Tể Varuna (liên kết với Sao Hải Vương) dùng các Agnisuryan làm vận cụ biểu hiện của Ngài.

16. Above Him stand the Solar Lord of the system-wide astral plane and the Cosmic Lord of the cosmic astral vehicle of the Solar Logos.

16. Trên Ngài còn có Đức Chúa Tể Thái Dương của cõi cảm dục toàn hệ thống và Đức Chúa Tể Vũ Trụ của vận cụ cảm dục vũ trụ của Thái dương Thượng đế.

Fourth, as the animating lives of that involutionary matter of the astral plane which we call the elemental essence, and as the vitality energising the desire elementals of all that is sentient.

Thứ tư, như các sự sống linh hoạt hóa thứ vật chất giáng hạ tiến hoá của cõi cảm dục mà chúng ta gọi là tinh chất hành khí, và như sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí dục vọng của mọi hữu thể có tri giác.

14. Let us be clear—the Agnisuryans are not the involutionary matter of the astral plane called “elemental essence”.

14. Chúng ta hãy làm rõ—các Agnisuryan không phải là vật chất giáng hạ tiến hoá của cõi cảm dục được gọi là “tinh chất hành khí”.

15. Rather, the Agnisuryans are the “vitality energizing the desire elementals of all that is sentient”.

15. Đúng hơn, các Agnisuryan là “sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí dục vọng của mọi hữu thể có tri giác”.

16. We may say that the (lower) Agnisuryans, though unconscious, are on the evolutionary path and the elemental essence of the astral plane (the desire elementals) is not.

16. Chúng ta có thể nói rằng các Agnisuryan (thấp), dù vô thức, vẫn ở trên đường thăng thượng tiến hoá, còn tinh chất hành khí của cõi cảm dục (các hành khí dục vọng) thì không.

Viewed in this aspect in connection especially with man, they are the correspondence on the astral plane to the “devas of the shadows,” for the desire bodies of all human beings are composed of matter of the second, third and fourth subplanes of the astral plane.

Xét trong phương diện này, đặc biệt liên hệ với con người, chúng là sự tương ứng trên cõi cảm dục với “các thiên thần của bóng tối,” vì các thể dục vọng của mọi con người đều được cấu tạo bằng vật chất của các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi cảm dục.

17. The “devas of the shadows” are found, apparently, on all the four systemic ethers of the etheric-physical plane. Thus, we may infer because they are described in four classes of four differing shakes of violet.

17. “Các thiên thần của bóng tối” dường như được tìm thấy trên cả bốn dĩ thái hệ thống của cõi dĩ thái-hồng trần. Vì vậy, chúng ta có thể suy ra điều đó vì chúng được mô tả thành bốn loại với bốn sắc tím khác nhau.

18. However, it appears that the astral bodies of all human beings are composed of matter of the second, third and fourth subplanes of the astral plane.

18. Tuy nhiên, dường như các thể cảm dục của mọi con người đều được cấu tạo bằng vật chất của các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư của cõi cảm dục.

19. This is somewhat surprising, as only the sixth and seventh subplanes of the astral plane are considered inappropriate for the human constitution and for human focus and the fifth astral subplane (counting from above) is not.

19. Điều này có phần đáng ngạc nhiên, vì chỉ các cõi phụ thứ sáu và thứ bảy của cõi cảm dục mới được xem là không thích hợp cho cấu tạo con người và cho sự tập trung của con người, còn cõi phụ cảm dục thứ năm (đếm từ trên xuống) thì không phải.

20. In this connection, the following references must be compared as it seems to give an alternative indication:

20. Trong mối liên hệ này, các trích dẫn sau đây phải được so sánh vì dường như chúng đưa ra một chỉ dẫn thay thế:

Another cause of difference can be due to the polarization of the bodies. Unless this too meets with recognition in dealing with people lack of comprehension ensues. When you use the term: “a man polarized in his astral body”—you really mean a man whose ego works principally through that vehicle. Polarity indicates the clarity of the channel. Let me illustrate. The ego of the average [Page 113] man has its home on the third sub-plane of the mental plane. If a man has an astral vehicle largely composed of third sub-plane astral matter, and a mental vehicle mostly on the fifth sub-plane, the ego will centre his endeavour on the astral body. If he has a mental body of fourth sub-plane matter and an astral body of fifth sub-plane, the polarization will be mental. (TWM 112)

Một nguyên nhân khác của sự khác biệt có thể là do sự phân cực của các thể. Trừ phi điều này cũng được thừa nhận khi đề cập đến con người, nếu không sẽ nảy sinh sự thiếu thấu hiểu. Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người phân cực trong thể cảm dục của y”—thì bạn thực sự muốn nói một người mà chân ngã hoạt động chủ yếu qua vận cụ đó. Sự phân cực chỉ ra độ trong suốt của kênh dẫn. Hãy để tôi minh họa. Chân ngã của người trung bình [Page 113] có nơi cư ngụ trên cõi phụ thứ ba của cõi trí. Nếu một người có vận cụ cảm dục được cấu tạo phần lớn bằng vật chất cảm dục cõi phụ thứ ba, và một vận cụ trí tuệ phần lớn ở cõi phụ thứ năm, thì chân ngã sẽ tập trung nỗ lực của y vào thể cảm dục. Nếu y có một thể trí bằng vật chất cõi phụ thứ tư và một thể cảm dục thuộc cõi phụ thứ năm, thì sự phân cực sẽ là trí tuệ. (TWM 112)

Counting, therefore, from the bottom upwards it is only the third subplane on the physical and the astral planes which mark the commencement of human effort, leaving five subplanes to be subdued. (TCF 188)

Vì vậy, khi đếm từ dưới lên trên, chỉ cõi phụ thứ ba trên cõi hồng trần và cõi cảm dục mới đánh dấu sự khởi đầu của nỗ lực con người, để lại năm cõi phụ cần được chế ngự. (TCF 188)

When it is realised that the physical body is not a principle but that the kama-manasic principle (or desire-mind principle) is one of the most vital to man then the period or cycle in which a man functions on the fifth subplane of the astral (the fundamentally kama-manasic plane) will assume its rightful place. (TCF 303)

Khi chứng nghiệm được rằng thể xác không phải là một nguyên khí mà nguyên khí trí-cảm (hay nguyên khí dục vọng-trí tuệ) lại là một trong những nguyên khí thiết yếu nhất đối với con người, thì thời kỳ hay chu kỳ trong đó một người hoạt động trên cõi phụ thứ năm của cõi cảm dục (cõi căn bản là trí-cảm) sẽ đảm nhận vị trí đúng đắn của nó. (TCF 303)

Etc.

Vân vân.

21. It is clear that the fifth sub-plane in this instance is reached counting from above to below. The fifth subplane is lower than the fourth which reveals that the fifth does not really mean the third.

21. Rõ ràng trong trường hợp này cõi phụ thứ năm được đạt đến khi đếm từ trên xuống dưới. Cõi phụ thứ năm thấp hơn cõi thứ tư, điều này cho thấy rằng cõi thứ năm thực sự không có nghĩa là cõi thứ ba.

22. We appear to have a contradiction. When DK writes of “all human beings” does He seek to distinguish the human being from the more animal type of man? This could be one explanation. Yet, kama-manas is not a principle for animalistic man. His manas is too undeveloped.

22. Dường như chúng ta có một mâu thuẫn. Khi Chân sư DK viết về “mọi con người”, Ngài có tìm cách phân biệt hữu thể nhân loại với kiểu người thú tính hơn chăng? Đây có thể là một cách giải thích. Tuy nhiên, kama-manas không phải là một nguyên khí đối với người còn thú tính. Manas của y còn quá kém phát triển.

23. In any case, it is clear, from some references at least, that some human beings have a majority of fifth subplane astral substance in their astral bodies.

23. Dù sao đi nữa, từ ít nhất một số trích dẫn, rõ ràng là một số con người có đa số chất liệu cảm dục cõi phụ thứ năm trong các thể cảm dục của họ.

24. Interestingly, on the astral plane, the fourth through first subplanes constitute what we can call the ‘astral ethers’. All systemic planes have a portion of their subplane structure which corresponds to the etheric subplanes of the etheric-physical plane. On such subplanes of the various systemic planes, the chakras of those systemic planes are found. (CF Chart VII, TCF, 817)

24. Điều đáng chú ý là trên cõi cảm dục, các cõi phụ từ thứ tư đến thứ nhất cấu thành điều mà chúng ta có thể gọi là các “dĩ thái cảm dục”. Mọi cõi hệ thống đều có một phần trong cấu trúc cõi phụ của chúng tương ứng với các cõi phụ dĩ thái của cõi dĩ thái-hồng trần. Trên các cõi phụ như thế của những cõi hệ thống khác nhau, các luân xa của những cõi hệ thống ấy được tìm thấy. (CF Chart VII, TCF, 817)

25. An initiate of the fourth degree has an astral body composed mostly or even entirely of atomic matter. Why, then, is the first subplane of the astral plane eliminated when describing the astral bodies of human beings? Is it because once a person has one hundred percent astral atomic subplane matter in his astral vehicle, he is no longer to be considered a human being? This is most unlikely, as even an Master of the Wisdom is considered a human being.

25. Một điểm đạo đồ cấp bốn có thể cảm dục được cấu tạo phần lớn hoặc thậm chí hoàn toàn bằng vật chất nguyên tử. Vậy thì tại sao cõi phụ thứ nhất của cõi cảm dục lại bị loại ra khi mô tả các thể cảm dục của con người? Có phải vì một khi một người có một trăm phần trăm vật chất cõi phụ nguyên tử cảm dục trong vận cụ cảm dục của y, thì y không còn được xem là một hữu thể nhân loại nữa chăng? Điều này rất khó có thể đúng, vì ngay cả một Chân sư Minh triết cũng được xem là một con người.

26. Sometimes, given what we know and our present interpretations of what is written, it is impossible to resolve the contradictions we think we perceive.

26. Đôi khi, với những gì chúng ta biết và với các diễn giải hiện nay của chúng ta về điều đã được viết ra, không thể giải quyết được những mâu thuẫn mà chúng ta nghĩ là mình nhận thấy.

This is a point which should be closely considered, and the analogy between the etheric body, the vehicle of prana vitalising the dense physical, and [Page 659] man's astral body, and the method of its vitalisation will be found illuminating.

Đây là một điểm cần được xem xét kỹ lưỡng, và sự tương đồng giữa thể dĩ thái, vận cụ của prana tiếp sinh lực cho thể xác đậm đặc, và [Page 659] thể cảm dục của con người, cùng phương pháp tiếp sinh lực cho nó, sẽ được thấy là soi sáng.

27. If the higher four planes of the etheric-physical plane vitalize the lower three, “dense” subplanes, can we say that the higher four ‘etheric’ subplanes of the systemic astral plane vitalize the lower three (which then would be considered astrally ‘dense’? It is certainly true that the higher three mental subplanes vitalize the lower four. The fourth mental subplane is in an ambiguous position.

27. Nếu bốn cõi cao hơn của cõi dĩ thái-hồng trần tiếp sinh lực cho ba cõi phụ “đậm đặc” thấp hơn, thì chúng ta có thể nói rằng bốn cõi phụ “dĩ thái” cao hơn của cõi cảm dục hệ thống tiếp sinh lực cho ba cõi thấp hơn (khi đó sẽ được xem là “đậm đặc” về cảm dục) chăng? Chắc chắn là đúng khi ba cõi phụ trí tuệ cao hơn tiếp sinh lực cho bốn cõi thấp hơn. Cõi phụ trí tuệ thứ tư ở vào một vị trí mơ hồ.

28. Are the higher four subplanes of any systemic plane the most pranically sensitive of the seven subplanes of any systemic plane.

28. Liệu bốn cõi phụ cao hơn của bất kỳ cõi hệ thống nào có phải là những cõi nhạy cảm prana nhất trong bảy cõi phụ của bất kỳ cõi hệ thống nào không.

29. We can look for parallels between the etheric nature and the astral nature, especially if we focus on the higher three or four subplanes of the astral plane.

29. Chúng ta có thể tìm những điểm song hành giữa bản chất dĩ thái và bản chất cảm dục, đặc biệt nếu tập trung vào ba hoặc bốn cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục.

30. In both cases however, it is difficult to find any good reason why the atomic astral plane (etheric or astral) should be excluded from our consideration.

30. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, thật khó tìm được bất kỳ lý do xác đáng nào giải thích vì sao cõi nguyên tử cảm dục (dĩ thái hay cảm dục) lại bị loại khỏi sự xem xét của chúng ta.

31. For one thing the head center of all human beings is located in the atomic etheric solar plexus. This should be analogically true of the astral head center.

31. Trước hết, trung tâm đầu của mọi con người nằm trong tùng thái dương dĩ thái nguyên tử. Điều này theo phép tương đồng cũng phải đúng đối với trung tâm đầu cảm dục.

32. As well, a translucent lavender is given as the color of those devas of the shadows who inhabit the etheric atomic subplane. So man definitely uses all four systemic ethers. Why not all four of the higher astral subplanes of the systemic astral plane?

32. Ngoài ra, màu oải hương trong suốt được nêu là màu của những thiên thần của bóng tối cư ngụ trên cõi phụ nguyên tử dĩ thái. Vì vậy con người chắc chắn sử dụng cả bốn dĩ thái hệ thống. Vậy tại sao không phải cả bốn cõi phụ cảm dục cao hơn của cõi cảm dục hệ thống?