Trích nội dung chương
33. In other words, if we are to analogize from the four systemic ethers to the four higher subplanes of the astral plane, there should be a one-to-one correspondence and the highest astral subplane should not be left out of the picture. 33. Nói cách khác, nếu chúng ta suy theo phép tương đồng từ bốn dĩ thái hệ thống sang bốn cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục, thì phải có một sự tương ứng một-một, và cõi phụ cảm dục cao nhất không nên bị bỏ ra ngoài bức tranh.
33. In other words, if we are to analogize from the four systemic ethers to the four higher subplanes of the astral plane, there should be a one-to-one correspondence and the highest astral subplane should not be left out of the picture.
33. Nói cách khác, nếu chúng ta suy theo phép tương đồng từ bốn dĩ thái hệ thống sang bốn cõi phụ cao hơn của cõi cảm dục, thì phải có một sự tương ứng một-một, và cõi phụ cảm dục cao nhất không nên bị bỏ ra ngoài bức tranh.
34. When apparent contradictions of this nature seem to appear, we must simply suspend judgment until we know more.
34. Khi những mâu thuẫn bề ngoài thuộc loại này dường như xuất hiện, chúng ta đơn giản phải đình chỉ phán đoán cho đến khi biết nhiều hơn.
Fifth, from the standpoint of the physical plane, as the sumtotal of material activity (even though subjective) which produces that which is tangible and objective.
Thứ năm, từ quan điểm của cõi hồng trần, như tổng số của hoạt động vật chất (dù là chủ quan) tạo ra điều hữu hình và khách quan.
35. DK is telling us that the Agnisuryans (who are subjectively “material” because they are part of the dense physical plane of the Planetary Logos and Solar Logos) are a form of “material activity” which produces that which is tangible and objective on the outer physical plane.
35. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng các Agnisuryan (vốn “vật chất” một cách chủ quan vì chúng là một phần của cõi hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế) là một dạng “hoạt động vật chất” tạo ra điều hữu hình và khách quan trên cõi hồng trần bên ngoài.
36. He justifies this (below) by tracing objectivity to desire (which the Agnisuryans embody).
36. Ngài biện minh cho điều này (ở dưới) bằng cách truy nguyên tính khách quan về dục vọng (điều mà các Agnisuryan thể hiện).
37. Let us remember that from the cosmic perspective of the Solar Logos (and also the Planetary Logos), the activity of the Agnisuryans takes place within the liquid aspect of His dense physical body and is thus “material activity”.
37. Chúng ta hãy nhớ rằng từ quan điểm vũ trụ của Thái dương Thượng đế (và cả Đức Hành Tinh Thượng Đế), hoạt động của các Agnisuryan diễn ra trong phương diện lỏng của thể hồng trần đậm đặc của Ngài và do đó là hoạt động “vật chất”.
38. Note the use of the word “subjective” here. In esotericism the term “subjective” (in contradistinction to its use in modern psychology) is usually used to refer to the soul level, but here it is used in relation to one of the “subtle” bodies. This may be important to consider when we come to defining the nature and ‘location’ of the “subjective Sun”
38. Hãy lưu ý việc dùng từ “chủ quan” ở đây. Trong huyền bí học, thuật ngữ “chủ quan” (đối lập với cách dùng của nó trong tâm lý học hiện đại) thường được dùng để chỉ cấp độ linh hồn, nhưng ở đây nó được dùng liên hệ với một trong các thể “vi tế”. Điều này có thể quan trọng để xem xét khi chúng ta đi đến việc xác định bản chất và “vị trí” của “Mặt Trời chủ quan”
Just as the solar system is a “Son of Necessity,” or of desire, so the physical bodies of all that exist are the product of the desire of some greater or lesser entity within the system.
Cũng như hệ mặt trời là một “Con của Tất Yếu”, hay của dục vọng, thì thể xác của mọi hữu thể hiện hữu đều là sản phẩm của dục vọng của một thực thể lớn hơn hay nhỏ hơn nào đó trong hệ thống.
39. Physical bodies are the product of desire. It is interesting that the sacral center (which produces physical bodies) has six petals—the number six corresponding to the sixth ray and to the form-making activity of the sacral center.
39. Các thể xác là sản phẩm của dục vọng. Điều đáng chú ý là trung tâm xương cùng (vốn tạo ra các thể xác) có sáu cánh hoa—con số sáu tương ứng với cung sáu và với hoạt động tạo hình tướng của trung tâm xương cùng.
40. In some respects, the number six is considered the number of form.
40. Trong một số phương diện, số sáu được xem là con số của hình tướng.
41. We cannot, it seems, divorce physicality from astrality. The planet Mars is powerfully involved in both materiality and the desire which produces material conditions.
41. Dường như chúng ta không thể tách tính hồng trần khỏi tính cảm dục. Hành tinh Sao Hỏa can dự mạnh mẽ vào cả tính vật chất lẫn dục vọng tạo ra các điều kiện vật chất.
It might be apposite here to point out the lines along which energy—whether manasic, pranic, or astral—enters the system and reaches a particular plane, thus finding its way to all units of consciousness, from an atom to a solar Logos.
Ở đây có lẽ thích hợp để chỉ ra những đường lối mà năng lượng—dù là manas, prana hay cảm dục—đi vào hệ thống và đến một cõi nhất định, nhờ đó tìm đường đến mọi đơn vị tâm thức, từ một nguyên tử đến một Thái dương Thượng đế.
42. DK is an expert in tracing lines of energy transmission. Much can be learned from these lines. They can be meditatively and imaginatively utilized to promote enhanced energy flows. In the section on the Techniques of Fusion in EP II, He does just this.
42. Chân sư DK là bậc chuyên gia trong việc truy vết các đường truyền dẫn năng lượng. Có thể học được rất nhiều từ các đường này. Chúng có thể được sử dụng trong tham thiền và bằng sự tưởng tượng để thúc đẩy các dòng năng lượng tăng cường. Trong phần về Kỹ Thuật Dung Hợp trong EP II, Ngài làm đúng như vậy.
The dense physical plane itself is energised via:
Bản thân cõi hồng trần đậm đặc được tiếp năng lượng qua:
a. The planetary etheric body.
a. Thể dĩ thái hành tinh.
b. The mental plane, or the cosmic gaseous subplane.
b. Cõi trí, hay cõi phụ khí vũ trụ.
c. The atmic plane, or the third cosmic ether.
c. Cõi atma, hay dĩ thái vũ trụ thứ ba.
d. The plane of adi, or the first cosmic ether.
d. Cõi adi, hay dĩ thái vũ trụ thứ nhất.
43. Here is the 1—3—5—7 line of energizing. When tracing lines of energy downflow or inflow, numerical resonance is definitely to be considered.
43. Đây là đường tiếp năng lượng 1—3—5—7. Khi truy các đường năng lượng tuôn xuống hay chảy vào, cộng hưởng số học chắc chắn cần được xem xét.
44. We note that in this context DK is putting the systemic planes in a cosmic context. Thus the highest systemic planes of our cosmic physical plane become ethers.
44. Chúng ta lưu ý rằng trong ngữ cảnh này Chân sư DK đang đặt các cõi hệ thống vào một bối cảnh vũ trụ. Vì vậy các cõi hệ thống cao nhất của cõi hồng trần vũ trụ của chúng ta trở thành các dĩ thái.
and inferentially (by means of the logoic permanent atom) a similar flow of force enters from cosmic levels.
và theo suy luận (nhờ nguyên tử trường tồn logoic) một dòng mãnh lực tương tự đi vào từ các cấp độ vũ trụ.
45. This entry from cosmic levels would, presumably, also occur along a hard-line concatenation.
45. Có lẽ sự đi vào này từ các cấp độ vũ trụ cũng sẽ xảy ra dọc theo một chuỗi nối kết tuyến tính chặt chẽ.
46. We can infer that the cosmic mental plane would be involved in this downflow from cosmic planes, and one could attempt to trace still higher cosmic planar sources.
46. Chúng ta có thể suy ra rằng cõi trí vũ trụ sẽ can dự vào dòng tuôn xuống này từ các cõi vũ trụ, và người ta có thể cố gắng truy tìm những nguồn cõi vũ trụ còn cao hơn nữa.
47. When it comes to dealing with the actualities of the cosmic planes, inference is the only tool we have.
47. Khi bàn đến các thực tại của các cõi vũ trụ, suy luận là công cụ duy nhất chúng ta có.
The astral plane is energised via:
Cõi cảm dục được tiếp năng lượng qua:
a. The buddhic plane, the fourth cosmic ether.
a. Cõi Bồ đề, dĩ thái vũ trụ thứ tư.
b. The monadic plane, the second cosmic ether.
b. Cõi chân thần, dĩ thái vũ trụ thứ hai.
c. The cosmic astral plane, and thus to the Heart of all Being.
c. Cõi cảm dục vũ trụ, và do đó đến Trái Tim của mọi Bản Thể.
48. The line of descent is along the 2—4—6 line.
48. Đường giáng hạ đi theo tuyến 2—4—6.
49. DK seems to relate the cosmic astral plane to the “Heart of all Being”. Is that “Heart” to be found ‘there’ or within the causal body of the Solar Logos—the Heart of the Sun.
49. Chân sư DK dường như liên hệ cõi cảm dục vũ trụ với “Trái Tim của mọi Bản Thể”. “Trái Tim” đó được tìm thấy ‘ở đó’ hay trong thể nguyên nhân của Thái dương Thượng đế—Trái Tim của Mặt Trời.
The mental plane is energised via:
Cõi trí được tiếp năng lượng qua:
a. The atmic plane, the third cosmic ether.
a. Cõi atma, dĩ thái vũ trụ thứ ba.
b. The plane adi, the first cosmic ether.
b. Cõi adi, dĩ thái vũ trụ thứ nhất.
c. The cosmic mental plane, beyond which it is unnecessary for us to go.
c. Cõi trí vũ trụ, vượt quá đó thì chúng ta không cần đi xa hơn.
50. Again, the line is determined by numerical resonance.
50. Một lần nữa, đường này được xác định bởi cộng hưởng số học.
51. The connection between the cosmic mental plane and the adic plane is to be remembered. There is much of what we interpret as will descending from the cosmic mental plane, thus to see the plane of adi in line with this descent is reasonable.
51. Cần ghi nhớ mối liên hệ giữa cõi trí vũ trụ và cõi adi. Có nhiều điều mà chúng ta diễn giải là ý chí giáng xuống từ cõi trí vũ trụ, vì vậy việc thấy cõi adi nằm trên cùng tuyến với sự giáng xuống này là hợp lý.
52. DK rarely discusses anything beyond the cosmic mental plane. Chart V (TCF 344) takes us (visually and symbolically) beyond the cosmic mental plane, as does a mention of the cosmic buddhic plane and cosmic buddhi (TCF 1162) but the direct references are rare.
52. Chân sư DK hiếm khi bàn đến bất cứ điều gì vượt quá cõi trí vũ trụ. Biểu đồ V (TCF 344) đưa chúng ta (về mặt thị giác và biểu tượng) vượt quá cõi trí vũ trụ, cũng như một chỗ nhắc đến cõi Bồ đề vũ trụ và Bồ đề vũ trụ (TCF 1162), nhưng các dẫn chiếu trực tiếp thì hiếm.
53. We can understand why this must be the case; the great majority of us are not even conscious on the higher levels of the systemic mental plane.
53. Chúng ta có thể hiểu vì sao phải như vậy; đại đa số chúng ta thậm chí còn chưa có ý thức trên các cấp độ cao hơn của cõi trí hệ thống.
It will be noted by the careful student that these planes might be looked at in connection with the three worlds [Page 660] as demonstrating two types of force,
Cần lưu ý rằng đối với đạo sinh cẩn trọng, các cõi này có thể được xem xét trong liên hệ với ba cõi giới [Page 660] như biểu lộ hai loại mãnh lực,
—first, a force which tends to differentiation such as on the mental plane (the plane of inherent separation) and on the physical plane (the plane of actual separation);
—thứ nhất, một mãnh lực có khuynh hướng dẫn đến biến phân như trên cõi trí ( cõi của sự phân ly cố hữu) và trên cõi hồng trần (cõi của sự phân ly thực sự);
54. The force which tends to differentiation obviously involves the odd numbered planes.
54. Mãnh lực có khuynh hướng dẫn đến biến phân rõ ràng liên quan đến các cõi mang số lẻ.
55. The name used for the mental plane is arresting—”the plane of inherent separation”.
55. Tên dùng cho cõi trí thật đáng chú ý—“cõi của sự phân ly cố hữu”.
56. The seeds of separation which are actualized on the physical plane are sown on the mental plane.
56. Những hạt giống của sự phân ly được hiện thực hóa trên cõi hồng trần được gieo trên cõi trí.
secondly, a force which tends to unity, such as on the astral plane, and on the plane of essential harmony, the buddhic plane.
thứ hai, một mãnh lực có khuynh hướng dẫn đến hợp nhất, như trên cõi cảm dục, và trên cõi của sự hài hòa cốt yếu, cõi Bồ đề.
57. Planes on the even line of energy are planes of unity.
57. Các cõi nằm trên tuyến năng lượng chẵn là các cõi của hợp nhất.
58. We are given an excellent name for the buddhic plane: “the plane of essential harmony”. By the time consciousness is focussed on the buddhic plane, conflict (in the ordinary human sense) has been superseded.
58. Chúng ta được cho một tên gọi rất hay cho cõi Bồ đề: “cõi của sự hài hòa cốt yếu”. Đến khi tâm thức được tập trung trên cõi Bồ đề, xung đột (theo nghĩa thông thường của con người) đã bị vượt qua.
59. Harmony is considered the higher aspect of the fourth ray and conflict, the lower.
59. Sự hài hòa được xem là phương diện cao hơn của cung bốn, còn xung đột là phương diện thấp hơn.
It must be remembered that we are considering force as it flows through, or permeates, deva substance.
Cần nhớ rằng chúng ta đang xem xét mãnh lực khi nó chảy qua, hay thấm nhập, chất liệu thiên thần.
60. The Agnisuryans are the substance through which higher energies flow.
60. Các Agnisuryan là chất liệu mà qua đó các năng lượng cao hơn chảy qua.
61. We must bear in mind however that deva substance comes in two grades—one positive and evolutionary and the other negative and involutionary. Not always is the term “deva” differentiated from the term “elemental”, even though there is a very great difference.
61. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhớ rằng chất liệu thiên thần có hai cấp độ—một tích cực và thăng thượng tiến hoá, còn một tiêu cực và giáng hạ tiến hoá. Không phải lúc nào thuật ngữ “thiên thần” cũng được phân biệt với thuật ngữ “hành khí”, dù giữa chúng có một khác biệt rất lớn.
62. How ‘flow-through’ or permeation really occurs is one of the mysteries of occult physics. There is much more to the problem than meets the eye.
62. Việc “chảy xuyên qua” hay sự thấm nhập thực sự diễn ra như thế nào là một trong những huyền nhiệm của vật lý học huyền bí. Vấn đề này còn nhiều hơn những gì mắt thấy.
A hint as to the truth lies in the fact that at present the astral body of man is positive to the physical plane, negative to the mental, and positive to the buddhic plane. As evolution proceeds, the astral body should become positive to the mental, and thus prove incapable of being swayed by thought currents, and the separative processes of that plane, and negative to the buddhic plane, or receptive to the forces from that plane.
Một gợi ý về chân lý nằm ở sự kiện rằng hiện nay thể cảm dục của con người tích cực đối với cõi hồng trần, tiêu cực đối với cõi trí, và tích cực đối với cõi Bồ đề. Khi tiến hoá tiếp diễn, thể cảm dục sẽ phải trở nên tích cực đối với cõi trí, và do đó chứng tỏ không thể bị các dòng tư tưởng làm dao động, cũng như các tiến trình phân ly của cõi đó, và tiêu cực đối với cõi Bồ đề, hay tiếp nhận các mãnh lực từ cõi ấy.
63. When we analyze this section of text we have to define very carefully the words “positive” and “negative”. In this case, “positive” means resistant, repellent of energies which would influence. “Negative” means receptive, capable of being influenced.
63. Khi phân tích đoạn văn này, chúng ta phải xác định thật cẩn thận các từ “tích cực” và “tiêu cực”. Trong trường hợp này, “tích cực” có nghĩa là kháng cự, đẩy lùi các năng lượng có thể gây ảnh hưởng. “Tiêu cực” có nghĩa là tiếp nhận, có khả năng bị ảnh hưởng.
64. We see that the astral body resists the influence of the physical plane (and that is as it should be) but is negative to the mental plane, thus is constantly swayed by thought currents, as water is roiled by the wind.
64. Chúng ta thấy rằng thể cảm dục kháng lại ảnh hưởng của cõi hồng trần (và điều đó là đúng như phải thế) nhưng lại tiêu cực đối với cõi trí, vì vậy nó liên tục bị các dòng tư tưởng làm dao động, như nước bị gió khuấy động.
65. The astral body is positive or presently resistant to the harmonious currents of the buddhic plane. This is especially true when Mars rules the astral body. When Neptune rules the astral body, receptivity to the higher ideals, harmonies and currents of love from the buddhic plane is more possible.
65. Thể cảm dục là tích cực hay hiện đang kháng cự các dòng hài hòa của cõi Bồ đề. Điều này đặc biệt đúng khi Sao Hỏa cai quản thể cảm dục. Khi Sao Hải Vương cai quản thể cảm dục, khả năng tiếp nhận các lý tưởng cao hơn, các hòa điệu và các dòng bác ái từ cõi Bồ đề trở nên khả dĩ hơn.
66. Our goal is to be positive to the mental plane and negative to the buddhic plane. We are to swayed by buddhic love rather than separative thought.
66. Mục tiêu của chúng ta là tích cực đối với cõi trí và tiêu cực đối với cõi Bồ đề. Chúng ta phải được tình thương Bồ đề chi phối hơn là tư tưởng phân ly.
67. It would be advisable for us to ponder these polarities, as a clear understanding of them will help us orient properly to higher and lower energy fields.
67. Chúng ta nên suy ngẫm về các cực tính này, vì sự thấu hiểu rõ ràng về chúng sẽ giúp chúng ta định hướng đúng đắn đối với các trường năng lượng cao hơn và thấp hơn.
68. And, of course, we can and should evaluate the condition of our vehicles—their positivity or negativity to each other, and ponder ways of inducing the type of polarization which DK suggests as desirable.
68. Và, dĩ nhiên, chúng ta có thể và nên đánh giá tình trạng các vận cụ của mình—tính tích cực hay tiêu cực của chúng đối với nhau, và suy ngẫm về những cách tạo ra loại sự phân cực mà Chân sư DK gợi ý là đáng mong muốn.
When it has attained equilibrium, and the forces are evenly balanced, the astral body should become the transmitter from the buddhic plane, the fourth cosmic ether, via the gaseous, to the dense physical plane.
Khi nó đã đạt đến trạng thái quân bình, và các mãnh lực được cân bằng đồng đều, thể cảm dục sẽ trở thành bộ truyền dẫn từ cõi Bồ đề, cõi dĩ thái vũ trụ thứ tư, qua cõi khí, đến cõi hồng trần đậm đặc.
69. Libra is the sign of equilibrium and so we may infer that the influence of Libra is very important in bringing equilibrium to the forces of the astral body. The forces which disrupt the astral body, rendering it turbulent, emanate from Mars (a planet which, interestingly, is weakened in Libra). Through Libra and other planetary influences (Venus, the ruler of Libra among them) the subduing of the Martian forces in the astral body is accomplished.
69. Thiên Bình là dấu hiệu của sự quân bình và vì thế chúng ta có thể suy ra rằng ảnh hưởng của Thiên Bình rất quan trọng trong việc đem lại sự quân bình cho các mãnh lực của thể cảm dục. Những mãnh lực làm xáo trộn thể cảm dục, khiến nó trở nên hỗn loạn, phát ra từ Sao Hỏa (một hành tinh mà, điều thú vị là, bị suy yếu trong Thiên Bình). Qua Thiên Bình và những ảnh hưởng hành tinh khác (trong đó có Sao Kim, chủ tinh của Thiên Bình), việc chế ngự các mãnh lực Hỏa tinh trong thể cảm dục được hoàn thành.
70. We have been given a very interesting statement. It is well known that the astral body is eventually to transmit buddhic energy; the necessary correspondence is present. However, we notice that this transmission is to reach the dense physical plane “via the gaeous”.
70. Chúng ta đã được trao cho một phát biểu rất thú vị. Điều ai cũng biết là thể cảm dục rốt cuộc sẽ truyền dẫn năng lượng Bồ đề; sự tương ứng cần thiết hiện diện ở đó. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng sự truyền dẫn này sẽ đến được vận cụ hồng trần đậm đặc “qua cõi khí”.
71. We have to pause to interpret this and the correct interpretation will not be long in coming. We must question the word “gaseous” as relating only to the systemic, physical plane.
71. Chúng ta phải dừng lại để giải thích điều này, và cách giải thích đúng sẽ không chậm xuất hiện. Chúng ta phải đặt vấn đề về từ “khí” khi liên hệ chỉ với cõi hồng trần của hệ thống.
72. The Tibetan may not entirely bypass the mental plane (especially, the higher mental or soul plane which is, through its second ray conditioning—the Venusian influence) resonant with the astral plane. We have long been told that just as the personality expresses through the physical body, and the Monad through the mental body, so the soul expresses through the astral body.
72. Chân sư Tây Tạng có thể không hoàn toàn bỏ qua cõi trí (đặc biệt là cõi thượng trí hay cõi linh hồn, vốn—qua sự tác động của cung hai, tức ảnh hưởng Kim tinh—cộng hưởng với cõi cảm dục). Từ lâu chúng ta đã được dạy rằng cũng như phàm ngã biểu lộ qua thể xác, và chân thần qua thể trí, thì linh hồn biểu lộ qua thể cảm dục.
73. If DK were discussing in a cosmic context, the mental plane would be considered as cosmic “gaseous” plane.
73. Nếu Chân sư DK đang bàn trong một bối cảnh vũ trụ, thì cõi trí sẽ được xem là cõi “khí” vũ trụ.
74. We should also bring into this discussion the fact that in occultism, the buddhic plane is considered the plane of “air”; this is the element (of the four elements) which rules this fourth level of the cosmic physical plane.
74. Chúng ta cũng nên đưa vào cuộc bàn luận này sự kiện rằng trong huyền bí học, cõi Bồ đề được xem là cõi của “khí”; đây là nguyên tố (trong bốn nguyên tố) cai quản cấp độ thứ tư này của cõi hồng trần vũ trụ.
75. Naturally buddhic rulership by “air” relates it to the cosmic gaseous plane and, very likely, to the systemic gaseous plane, for “air” is a “gas”.
75. Một cách tự nhiên, việc cõi Bồ đề được “khí” cai quản liên hệ nó với cõi khí vũ trụ và, rất có thể, với cõi khí của hệ thống, vì “khí” là một “chất khí”.
76. But it is not primarily the cosmic gaeous plane upon which DK is focusing (even though at a point of achieved mental polarization it can easily be seen as part of the transmission).
76. Nhưng Chân sư DK không chủ yếu tập trung vào cõi khí vũ trụ (dù rằng tại một điểm đã đạt được sự phân cực trí tuệ, nó có thể dễ dàng được thấy như một phần của sự truyền dẫn).
77. The word “via” suggests that buddhic energy is transmitted to the astral body and to the dense physical plane “via” the gaeous subplane of the system physical plane.
77. Từ “qua” gợi ý rằng năng lượng Bồ đề được truyền đến thể cảm dục và đến cõi hồng trần đậm đặc “qua” cõi phụ khí của cõi hồng trần hệ thống.
78. Notice how DK keeps us questioning. He does not follow the word “gaseous” with a noun, thus rendering “gaseous” an adjectival noun. It is for us to determine the meaning of “gaseous”—whether cosmic or systemic.
78. Hãy lưu ý cách Chân sư DK luôn khiến chúng ta phải đặt câu hỏi. Ngài không theo sau từ “khí” bằng một danh từ, do đó khiến “khí” trở thành một danh từ tính từ. Việc xác định ý nghĩa của “khí”—là vũ trụ hay hệ thống—là phần việc của chúng ta.
79. We have determined that in this context, it is the systemic gaseous.
79. Chúng ta đã xác định rằng trong ngữ cảnh này, đó là cõi khí của hệ thống.
This thought should be studied in connection with the burning of the etheric web of the planet, thus illumination may come.
Tư tưởng này nên được nghiên cứu trong liên hệ với việc đốt cháy màng lưới dĩ thái của hành tinh; nhờ đó sự soi sáng có thể đến.
80. We have been given conditions under which we may expect progress in the burning of the etheric web. The alignment suggested above provides those conditions. It may be that the application of buddhic energy to the ethers (‘from the other side’ as it were) facilitates this burning.
80. Chúng ta đã được cho biết những điều kiện trong đó có thể mong đợi sự tiến bộ trong việc đốt cháy màng lưới dĩ thái. Sự chỉnh hợp được gợi ý ở trên cung cấp những điều kiện ấy. Có thể việc áp dụng năng lượng Bồ đề vào các cõi dĩ thái (“từ phía bên kia”, có thể nói như vậy) tạo thuận lợi cho sự đốt cháy này.
81. When the etheric web is burned, the energies of the astral plane (and other higher planes) can reach the dense physical vehicle. They are not blocked by the etheric web.
81. Khi màng lưới dĩ thái bị đốt cháy, các năng lượng của cõi cảm dục (và các cõi cao hơn khác) có thể đến được vận cụ hồng trần đậm đặc. Chúng không còn bị màng lưới dĩ thái ngăn chặn.
82. In this burning process the systemic gaseous plane is involved. Certain breathing exercises (summoning the fire) promote the burning of the etheric web. There is one breathing exercise called the “Breath of Fire”.
82. Trong tiến trình đốt cháy này, cõi khí của hệ thống có liên quan. Một số bài tập hô hấp nhất định (triệu gọi lửa) thúc đẩy việc đốt cháy màng lưới dĩ thái. Có một bài tập hô hấp được gọi là “Hơi Thở của Lửa”.
83. In one respect, when the etheric web of the planet is burned, illumination will surely come, because forces obstructive to illumination will be eliminated. But DK is speaking of the illumination which may come to our mind if we ponder his points.
83. Ở một phương diện, khi màng lưới dĩ thái của hành tinh bị đốt cháy, sự soi sáng chắc chắn sẽ đến, vì các mãnh lực cản trở sự soi sáng sẽ bị loại bỏ. Nhưng Chân sư DK đang nói về sự soi sáng có thể đến với trí tuệ của chúng ta nếu chúng ta suy ngẫm về các điểm Ngài nêu ra.
84. It seems we should extend the alignment until it looks something like this:
84. Có vẻ như chúng ta nên mở rộng sự chỉnh hợp cho đến khi nó trông gần như thế này:
a. Buddhic plane
a. Cõi Bồ đề
b. Higher mental plane (cosmic gaseous)
b. Cõi thượng trí (cõi khí vũ trụ)
c. Mental plane (still cosmic gaseous)
c. Cõi trí (vẫn là cõi khí vũ trụ)
d. Astral plane
d. Cõi cảm dục
e. Etheric subplanes
e. Các cõi phụ dĩ thái
f. Systemic gaeous plane
f. Cõi khí của hệ thống
g. Dense physical plane
g. Cõi hồng trần đậm đặc
85. The occult properties of the systemic gaeous plane (the forty-seventh or third subplane) and its role in the enfiring of the ethers has much to be studied.
85. Các đặc tính huyền bí của cõi khí của hệ thống (cõi phụ thứ bốn mươi bảy hay cõi phụ thứ ba) và vai trò của nó trong việc làm bốc lửa các cõi dĩ thái còn rất nhiều điều phải nghiên cứu.
86. The etheric web is burned through aspiration and also through the evocation of soul and triadal energy. Once the antahkarana is built, the process of burning will be hastened, as contact with the fiery will aspect is facilitated.
86. Màng lưới dĩ thái bị đốt cháy nhờ khát vọng và cũng nhờ sự gợi lên năng lượng linh hồn và năng lượng Tam nguyên tinh thần. Một khi antahkarana được xây dựng, tiến trình đốt cháy sẽ được đẩy nhanh, vì sự tiếp xúc với phương diện ý chí đầy lửa được tạo điều kiện thuận lợi.
87. As well, how is the “breath” related to the acquisition of buddhic energy? There must be a connection between the systemic gaseous subplane and the systemic plane of air, the buddhic plane. Certain rhythms of breathing may facilitate access to the intuition.
87. Ngoài ra, “hơi thở” liên hệ thế nào với việc đạt được năng lượng Bồ đề? Hẳn phải có một mối liên hệ giữa cõi phụ khí của hệ thống và cõi khí của hệ thống, tức cõi Bồ đề. Một số nhịp điệu hô hấp nhất định có thể tạo thuận lợi cho việc tiếp cận trực giác.
Literally, there is no such division on the astral plane as we find on the mental or on the physical planes.
Theo nghĩa đen, trên cõi cảm dục không có sự phân chia như chúng ta thấy trên cõi trí hay trên các cõi hồng trần.
88. If we study the various charts carefully, Chart VIII of TCF, 817, for instance, we will see this to be the case. A separating dotted line appears on both the systemic mental and systemic physical planes.
88. Nếu chúng ta nghiên cứu cẩn thận các biểu đồ khác nhau, chẳng hạn Biểu đồ VIII của Luận về Lửa Vũ Trụ, 817, chúng ta sẽ thấy đúng là như vậy. Một đường chấm phân cách xuất hiện trên cả cõi trí hệ thống lẫn cõi hồng trần hệ thống.
On both those planes, we have a division into two: the mental plane being divided into higher and lower, rupa and arupa, concrete and abstract, and the physical plane into the etheric levels and the dense subplanes.
Trên cả hai cõi ấy, chúng ta có một sự phân chia thành hai: cõi trí được chia thành cao và thấp, rupa và arupa, cụ thể và trừu tượng, còn cõi hồng trần được chia thành các cấp dĩ thái và các cõi phụ đậm đặc.
89. VSK suggests, “This relationship of astral to buddhi may be hinted at in the meditation work prescribed in LOM on colour; by bringing yellow into the astral”.
89. VSK gợi ý, “Mối liên hệ này giữa cảm dục và Bồ đề có thể được ám chỉ trong công việc tham thiền được quy định trong LOM về màu sắc; bằng cách đưa màu vàng vào thể cảm dục”.
There is, therefore, a correspondence between these two.
Vì vậy, có một sự tương ứng giữa hai cõi này.
90. The correspondence is obvious—the abstract mind corresponds to the etheric subplanes, and the concrete mind to the dense physical subplanes. But the correspondence is not numerically correct, for the ratio is three to four and four to three.
90. Sự tương ứng là hiển nhiên—trí trừu tượng tương ứng với các cõi phụ dĩ thái, còn trí cụ thể tương ứng với các cõi phụ hồng trần đậm đặc. Nhưng sự tương ứng này không đúng về mặt số lượng, vì tỉ lệ là ba với bốn và bốn với ba.
The reason for this apparent division (considering the question apart from the states of consciousness of a human being) is due to the stage of development of the great devas who embody the plane, who ensoul it, and who manifest through it as a man manifests through his body.
Lý do của sự phân chia biểu kiến này (xét vấn đề tách khỏi các trạng thái tâm thức của con người) là do giai đoạn phát triển của các đại thiên thần hiện thân cho cõi ấy, phú linh cho nó, và biểu hiện qua nó như con người biểu hiện qua thể của mình.
91. Usually we explain the divided systemic mental and physical planes in terms of the microcosm.
91. Thông thường chúng ta giải thích các cõi trí và hồng trần hệ thống bị phân chia theo tiểu thiên địa.
92. Here we are offered a far more profound reason. The Raja Deva Lords Who ensoul the various systemic planes are at various stages of development.
92. Ở đây chúng ta được đưa ra một lý do sâu xa hơn nhiều. Các Chúa Tể Raja Deva phú linh cho các cõi hệ thống khác nhau đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau.
Varuna, the Lord of the astral plane, has achieved a more unified conscious control than His brothers of [Page 661] the mental and physical planes.
Varuna, Chúa Tể của cõi cảm dục, đã đạt được sự kiểm soát hữu thức thống nhất hơn so với các huynh đệ của Ngài trên [Page 661] các cõi trí và hồng trần.
93. Since Varuna has “more unified conscious control” than Lord Kshiti or the lesser Lord Agni, He has managed to integrate the substance of the astral body of the Planetary Logos. The other two Raja Deva Lords have not yet managed this, though integration is now in process.
93. Vì Varuna có “sự kiểm soát hữu thức thống nhất hơn” so với Chúa Tể Kshiti hay Chúa Tể Agni thấp hơn, Ngài đã xoay xở để tích hợp chất liệu của thể cảm dục của Hành Tinh Thượng Đế. Hai Chúa Tể Raja Deva kia vẫn chưa làm được điều này, dù sự tích hợp hiện đang diễn ra.
94. We must pause to realize that sometimes Lord Varuna is considered the Raja Deva Lord Who ensouls the astral body of our Planetary Logos and sometimes He is given dominion over the entire systemic astral plane, as in the following quotation:
94. Chúng ta phải dừng lại để nhận ra rằng đôi khi Chúa Tể Varuna được xem là Chúa Tể Raja Deva phú linh cho thể cảm dục của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, và đôi khi Ngài được trao quyền cai quản toàn bộ cõi cảm dục hệ thống, như trong trích dẫn sau đây:
We should therefore bear in mind that the Deva Lords, Agni, Varuna, Kshiti,4 represent in the exoteric teaching the substance aspect of the dense body of the Logos whilst the force aspect as flowing through the etheric body of the Logos is considered under various names, such as Shiva, Surya, Brahma. (TCF 625-626)
Do đó chúng ta nên ghi nhớ rằng các Chúa Tể Deva, Agni, Varuna, Kshiti,4 trong giáo huấn ngoại môn đại diện cho phương diện chất liệu của thể đậm đặc của Thượng đế, trong khi phương diện mãnh lực khi tuôn chảy qua thể dĩ thái của Thượng đế thì được xét dưới nhiều danh xưng khác nhau, như Shiva, Surya, Brahma. (TCF 625-626)
95. Here the opposite is given:
95. Ở đây điều ngược lại được nêu ra:
Agnisuryan.......6th subplane......Astral..............Liquid..........Varuna
Agnisuryan.......6th subplane......Astral..............Liquid..........Varuna
cosmic physical (TCF 633)
cosmic physical (TCF 633)
The Raja-Lord of the Plane, the great deva Varuna, Who is the central Life of the substance of the astral plane of our planetary scheme. (TCF 676)
Chúa Tể Raja của Cõi, đại thiên thần Varuna, Đấng là Sự sống trung tâm của chất liệu của cõi cảm dục của hệ hành tinh chúng ta. (TCF 676)
The Raja Lord of the astral plane, Varuna [Page 913] and his brother Kshiti, have been called to the council chamber of the Hierarchy for specific consultation, and just as the Masters are endeavouring to prepare humanity for service when the World Teacher comes, so these Raja Lords are working along similar lines in connection with the devas. They are arduous in Their work, intense in Their zeal, but much obstructed by man. (TCF 912-913)
Chúa Tể Raja của cõi cảm dục, Varuna [Page 913] và huynh đệ của Ngài là Kshiti, đã được triệu đến phòng hội đồng của Thánh đoàn để tham vấn đặc biệt, và cũng như các Chân sư đang nỗ lực chuẩn bị nhân loại cho sự phụng sự khi Đức Chưởng Giáo đến, thì các Chúa Tể Raja này cũng đang làm việc theo những đường hướng tương tự liên hệ với các thiên thần. Các Ngài chuyên cần trong công việc, mãnh liệt trong nhiệt tâm, nhưng bị con người cản trở rất nhiều. (TCF 912-913)
96. Perhaps there are greater and lesser Varunas.
96. Có lẽ có những Varuna lớn hơn và nhỏ hơn.
97. In this section He is considered mostly in relation to our Planetary Logos and the systemic astral body of that Planetary Logos.
97. Trong phần này, Ngài được xét chủ yếu trong liên hệ với Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và thể cảm dục hệ thống của Hành Tinh Thượng Đế ấy.
He comes into manifestation in connection with one of the Heavenly Men, Who is the Lord of a major Ray.
Ngài đi vào biểu hiện trong mối liên hệ với một trong các Đấng Thiên Nhân, Đấng là Chúa Tể của một Cung chính.
98. We are given a potent occult hint. From the excerpt below, we understand that Lord Varuna is an emanation of the planet Neptune.
98. Chúng ta được trao cho một gợi ý huyền bí đầy mãnh lực. Từ đoạn trích dưới đây, chúng ta hiểu rằng Chúa Tể Varuna là một Xuất lộ/phát xạ của hành tinh Sao Hải Vương.
One of the most occult of the planets, Neptune, presides over the “devas of the waters”; their presiding deva Lord, Varuna, the Raja of the astral plane, being an emanation from that planet. (TCF 897)
Một trong những hành tinh huyền bí nhất, Sao Hải Vương, chủ trì “các thiên thần của nước”; Chúa Tể deva chủ trì của họ, Varuna, Raja của cõi cảm dục, là một phát xạ từ hành tinh ấy. (TCF 897)
99. Usually, however, Neptune is considered to be the Lord of a minor Ray, unless there is a very thorough search of the qualities of Neptune.
99. Tuy nhiên, thông thường Sao Hải Vương được xem là Chúa Tể của một Cung phụ, trừ phi có một sự khảo cứu rất thấu đáo về các phẩm tính của Sao Hải Vương.
100. In EP I, 420, we find that the “esoteric ray” (i.e., the monadic ray) of Neptune is actually the second Ray of Love-Wisdom.
100. Trong EP I, 420, chúng ta thấy rằng “cung huyền bí” (tức cung chân thần) của Sao Hải Vương thực ra là cung hai của Bác Ái – Minh Triết.
101. Not only is the second ray a “major ray”, but it is, for our solar system, the “major Ray”.
101. Cung hai không chỉ là một “Cung chính”, mà đối với hệ mặt trời của chúng ta, nó còn là “Cung chính”.
102. The fact that Varuna emanates from Neptune suggests that Kshiti may emanate from Saturn and Agni from Uranus.
102. Sự kiện Varuna phát ra từ Sao Hải Vương gợi ý rằng Kshiti có thể phát ra từ Sao Thổ và Agni từ Sao Thiên Vương.
103. Something about the (perhaps unsuspected) strength of Neptune is also suggested. Because Varuna is further advanced than His Brothers, perhaps Neptune (the source of Varuna) is, in some way, also further advanced than the two Lords of Saturn and Uranus. Saturn, however, seems to be older.
103. Một điều gì đó về sức mạnh (có lẽ không được ngờ tới) của Sao Hải Vương cũng được gợi ra. Bởi vì Varuna tiến bộ hơn các Huynh đệ của Ngài, có lẽ Sao Hải Vương (nguồn của Varuna) cũng, theo một cách nào đó, tiến bộ hơn hai Chúa Tể của Sao Thổ và Sao Thiên Vương. Tuy nhiên, Sao Thổ dường như cổ xưa hơn.
104. Even if it is not the case that Neptune is more advanced than Saturn and Uranus, it may well be that Neptune is to considered the major planet in our solar system—a second ray solar system.
104. Ngay cả nếu không phải trường hợp Sao Hải Vương tiến bộ hơn Sao Thổ và Sao Thiên Vương, thì rất có thể Sao Hải Vương phải được xem là hành tinh chính trong hệ mặt trời của chúng ta—một hệ mặt trời cung hai.
105. Yet, from another perspective, Neptune is said not to belong to our solar system at all. This may be an oblique way of saying that it belongs more to the cosmic astral plane than to the cosmic physical plane—the plane whereon the solar system can be found.
105. Tuy vậy, từ một góc nhìn khác, Sao Hải Vương được nói là hoàn toàn không thuộc hệ mặt trời của chúng ta. Đây có thể là một cách nói gián tiếp rằng nó thuộc về cõi cảm dục vũ trụ nhiều hơn là cõi hồng trần vũ trụ—cõi mà trên đó có thể tìm thấy hệ mặt trời.
The other two are linked up with the Lords of a minor Ray. There is a suggestive hint for students in this information.
Hai vị kia được nối kết với các Chúa Tể của một Cung phụ. Trong thông tin này có một gợi ý đáng suy ngẫm cho các đạo sinh.
106. We are here told that Kshiti and lesser Agni are linked with Lords of minor Rays. (This does not mean that They could not also be linked with the other two synthesizing planets.)
106. Ở đây chúng ta được cho biết rằng Kshiti và Agni thấp hơn được nối kết với các Chúa Tể của các Cung phụ. (Điều này không có nghĩa là Các Ngài không thể cũng được nối kết với hai hành tinh tổng hợp kia.)
107. I call the Agni who rules the systemic mental body of our Planetary Logos “lesser” because the Great Lord Agni expresses through the entire personality of the Solar Logos!
107. Tôi gọi Agni cai quản thể trí hệ thống của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta là “thấp hơn” vì Chúa Tể Agni Vĩ Đại biểu lộ qua toàn bộ phàm ngã của Thái dương Thượng đế!
108. Uranus (although the monadic Lord of the First Ray) is, from another perspective, Lord of the Seventh Ray, and, thus, has a Kshiti connection.
108. Sao Thiên Vương (dù là Chúa Tể chân thần của Cung một) từ một góc nhìn khác lại là Chúa Tể của cung bảy, và do đó có một mối liên hệ với Kshiti.
109. He is known as the Lord of the Seventh Ray (a minor Ray), yet since He is Lord of the First Ray (monadically) He can be related directly to Agni (who always seems to connect with first ray expressions).
109. Ngài được biết đến là Chúa Tể của cung bảy (một Cung phụ), thế nhưng vì Ngài là Chúa Tể của Cung một (về mặt chân thần) nên Ngài có thể được liên hệ trực tiếp với Agni (Đấng dường như luôn nối kết với các biểu hiện cung một).
110. Saturn, however, cannot easily be linked with a minor ray and is, definitely, connected with the systemic physical plane and with the cosmic physical plane as well.
110. Tuy nhiên, Sao Thổ không thể dễ dàng được liên hệ với một cung phụ và chắc chắn được nối kết với cõi hồng trần hệ thống cũng như với cõi hồng trần vũ trụ.
111. Neptune, Uranus and Saturn stand together and are not easily separated.
111. Sao Hải Vương, Sao Thiên Vương và Sao Thổ đứng cùng nhau và không dễ tách rời.
112. We cannot ascertain exactly which planets DK is hinting when mentioning that the Lord of the planetary physical plane and the Lord of the planetary mental plane are related to Lords of minor rays.
112. Chúng ta không thể xác định chính xác Chân sư DK đang ám chỉ những hành tinh nào khi nói rằng Chúa Tể của cõi hồng trần hành tinh và Chúa Tể của cõi trí hành tinh có liên hệ với các Chúa Tể của các Cung phụ.
113. Kshiti could be directly related to Earth which, from one perspective, is a Lord of a minor or non-sacred planet—though its personality ray is the third—a major ray..
113. Kshiti có thể liên hệ trực tiếp với Trái Đất, vốn từ một góc nhìn là Chúa Tể của một hành tinh phụ hay không thiêng liêng—dù cung phàm ngã của nó là cung ba, một Cung chính..
114. Agni fits with few if any planets other than Uranus, who, in one respect is a Lord of a minor Ray (as the seventh ray conditions the soul of Uranus). Uranus also has much of the fifth ray which fits with the fact that lesser Agni conditions the mental body of the Planetary Logos.
114. Agni hầu như không phù hợp với hành tinh nào khác ngoài Sao Thiên Vương, vốn ở một phương diện là một Chúa Tể của Cung phụ (vì cung bảy tác động lên linh hồn của Sao Thiên Vương). Sao Thiên Vương cũng có nhiều cung năm, điều này phù hợp với sự kiện Agni thấp hơn tác động lên thể trí của Hành Tinh Thượng Đế.
115. We will leave this subject having offered some speculations which can be pondered.
115. Chúng ta sẽ rời chủ đề này sau khi đã đưa ra một số suy đoán có thể được suy ngẫm.
116. One thing to consider—whereas we are told that Varuna is an “emanation” of Neptune, we are told merely that the other two Brother are “linked up” with “the Lords of minor Ray”. To be “linked up” may not be the same as to be an emanation.
116. Có một điều cần cân nhắc—trong khi chúng ta được bảo rằng Varuna là một “phát xạ” của Sao Hải Vương, thì về hai Huynh đệ kia chúng ta chỉ được nói rằng Các Ngài “được nối kết” với “các Chúa Tể của Cung phụ”. “Được nối kết” có thể không giống như là một phát xạ.
117. In other words, Kshiti could be an emanation of Saturn and Agni an emanation of Uranus, and yet these two Raja Deva Lords could still be “linked up” with other Ray Lords of minor Rays.
117. Nói cách khác, Kshiti có thể là một phát xạ của Sao Thổ và Agni là một phát xạ của Sao Thiên Vương, nhưng hai Chúa Tể Raja Deva này vẫn có thể “được nối kết” với các Chúa Tể Cung khác của các Cung phụ.
We may justly ask why, if this is so, it should apparently manifest so disastrously in connection with man?
Chúng ta có thể chính đáng đặt câu hỏi tại sao, nếu đúng như vậy, điều này lại dường như biểu hiện một cách tai hại đến thế trong liên hệ với con người?
118. The question is, if Lord Varuna, Who presides over the lesser Deva Lords of the planetary astral plane and over the Agnisuryans of our planet in general is linked up with a planetary Lord Who expresses a major Ray, why does the astral plane manifest so disastrously in the life of man and the planet at this time?
118. Câu hỏi là, nếu Chúa Tể Varuna, Đấng chủ trì các Chúa Tể Deva thấp hơn của cõi cảm dục hành tinh và các Agnisuryan của hành tinh chúng ta nói chung, được nối kết với một Chúa Tể hành tinh biểu lộ một Cung chính, thì tại sao cõi cảm dục lại biểu hiện tai hại đến thế trong đời sống con người và hành tinh vào lúc này?
There are several reasons for this, one being that the force flowing through the vehicle of the great deva, the plane,
Có nhiều lý do cho điều này, một trong số đó là mãnh lực tuôn chảy qua vận cụ của đại thiên thần, tức cõi ấy,
119. Is “the plane” to be considered “the force flowing through the vehicle of the great deva”?
119. Có phải “cõi ấy” được xem là “mãnh lực tuôn chảy qua vận cụ của đại thiên thần” không?
is consequently stronger than in the other two cases,
do đó mạnh hơn trong hai trường hợp kia,
and this is owing to His more advanced stage of development and also to the fact that the Logos Himself is polarised in His astral body.
và điều này là do giai đoạn phát triển cao hơn của Ngài và cũng do chính Thượng đế phân cực trong thể cảm dục của Ngài.
120. The disastrous effect of the astral plane, we are told, has to do with the excessive potency pouring through it because of the great potency of Lord Varuna (as well as the astral polarization of the Solar Logos)
120. Chúng ta được bảo rằng tác động tai hại của cõi cảm dục có liên quan đến năng lực quá mức tuôn qua nó vì năng lực lớn lao của Chúa Tể Varuna (cũng như sự phân cực cảm dục của Thái dương Thượng đế)
121. In occultism, overstimulation is often a greater danger and threat than under-stimulation.
121. Trong huyền bí học, sự kích thích quá mức thường là một nguy hiểm và đe dọa lớn hơn sự kích thích không đủ.
122. Man, our Planetary Logos and our Solar Logos are all wrestling with potent astral bodies. We can say that man’s problem arises because of the astral polarization of the Planetary Logos, and the Planetary Logos’ problem arises because of the astral polarization of the Solar Logos, but is there another Being (a Cosmic Logos) Who is also astrally polarized and Whose astral polarization greatly stimulates the astral polarization of the Solar Logos?
122. Con người, Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và Thái dương Thượng đế của chúng ta đều đang vật lộn với những thể cảm dục đầy mãnh lực. Chúng ta có thể nói rằng vấn đề của con người phát sinh vì sự phân cực cảm xúc của Hành Tinh Thượng Đế, và vấn đề của Hành Tinh Thượng Đế phát sinh vì sự phân cực cảm xúc của Thái dương Thượng đế, nhưng liệu có một Đấng nào khác (một Thượng đế Vũ trụ) cũng phân cực cảm dục và sự phân cực cảm dục của Đấng ấy kích thích mạnh mẽ sự phân cực cảm dục của Thái dương Thượng đế hay không?
123. There is reason for thinking this may be the case, for our Solar Logos may be a member of a Cosmic Logos Who expresses the solar plexus center in the “One About Whom Naught May Be Said”.
123. Có lý do để nghĩ rằng điều này có thể đúng, vì Thái dương Thượng đế của chúng ta có thể là một thành viên của một Thượng đế Vũ trụ biểu lộ trung tâm tùng thái dương trong “Đấng Bất Khả Tư Nghị”.
124. In any case, when judging the strength and relative ungovernability of the astral plane on our pt, we have been told that the greater development of Lord Varuna and the astral polarization of the Solar Logos account for this condition.
124. Dù sao đi nữa, khi đánh giá sức mạnh và tính tương đối khó kiểm soát của cõi cảm dục trên hành tinh chúng ta, chúng ta đã được bảo rằng sự phát triển lớn hơn của Chúa Tể Varuna và sự phân cực cảm dục của Thái dương Thượng đế giải thích cho tình trạng này.
125. Another reason is now given.
125. Giờ đây một lý do khác được đưa ra.
Another reason is that he has a peculiar link with the Ruler of the animal kingdom, and as the human being has not yet dissociated himself from, nor learnt to control, his animal nature, he too comes under the influence of this tremendous force.
Một lý do khác là Ngài có một mối liên hệ đặc biệt với Chúa Tể cai quản giới động vật, và vì con người vẫn chưa tách mình ra khỏi, cũng chưa học được cách kiểm soát, bản chất động vật của mình, nên y cũng chịu ảnh hưởng của mãnh lực to lớn này.
126. The animal kingdom (in its upper brackets at least) is a kamic kingdom. The principle of desire is paramount.
126. Giới động vật (ít nhất trong các cấp cao của nó) là một giới kama. Nguyên khí dục vọng là tối thượng.
127. The explanations above grow only more occult. It would seem that the Lord of the Animal Kingdom is a great and turbulent Being with Whom Lord Varuna is associated, just as man is associated with his animal nature.
127. Những giải thích trên chỉ càng trở nên huyền bí hơn. Có vẻ như Chúa Tể của Giới Động Vật là một Đấng vĩ đại và đầy xáo động mà Chúa Tể Varuna có liên hệ, cũng như con người có liên hệ với bản chất động vật của mình.
128. The lunar lords are closely associated with the astral plane and ruled by the planet Mars, a sixth ray planet, just as the astral plane is the sixth plane. (cf. EA 35)
128. Các nguyệt tinh quân có liên hệ chặt chẽ với cõi cảm dục và được hành tinh Sao Hỏa cai quản, một hành tinh cung sáu, cũng như cõi cảm dục là cõi thứ sáu. (x. EA 35)
129. Eventually, Neptune/Varuna are to subdue the passion of Mars, but this is not yet the case. The Martian element of the astral plane is still strongly in control, and thus presents a problem to the higher Neptune influence (just as the Being Who informs the Animal Kingdom presents a problem of rebellion to Lord Varuna). There are wild horses on the astral plane!
129. Rốt cuộc, Sao Hải Vương/Varuna sẽ chế ngự đam mê của Sao Hỏa, nhưng điều này chưa xảy ra. Yếu tố Hỏa tinh của cõi cảm dục vẫn còn kiểm soát rất mạnh, và do đó gây ra một vấn đề cho ảnh hưởng cao hơn của Sao Hải Vương (cũng như Đấng thấm nhuần Giới Động Vật gây ra một vấn đề phản nghịch cho Chúa Tể Varuna). Có những con ngựa hoang trên cõi cảm dục!
130. Just as the astral body of our Planetary Logos has to come under the sway of Neptune rather than Mars, what, do we suppose, is the great Constellational Lord under Whom the astral body of the Solar Logos must re-conditioned? The analogies ascend.
130. Cũng như thể cảm dục của Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta phải chịu dưới sự chi phối của Sao Hải Vương thay vì Sao Hỏa, vậy theo chúng ta, Đấng Chúa Tể Chòm Sao vĩ đại nào là Đấng mà dưới quyền Ngài thể cảm dục của Thái dương Thượng đế phải được tác động lại? Các phép tương đồng cứ thế đi lên.
There are other reasons hidden in the karma of our Heavenly Man, but the above reasons suffice.
Có những lý do khác ẩn trong nghiệp quả của Đấng Thiên Nhân của chúng ta, nhưng các lý do trên là đủ.
131. Some such reasons may be found in the Moon-chain disaster.
131. Một vài lý do như thế có thể được tìm thấy trong thảm họa của Dãy Mặt Trăng.
132. Other reasons relate to the karma of personality to which our Planetary Logos is subject.
132. Những lý do khác liên hệ với nghiệp quả của phàm ngã mà Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta phải chịu.
1. The Function of the Agnisuryans. The devas of the astral plane are those with whom man is very specially connected at this time owing to his astral polarisation,, and to the place desire and feeling play in his development.
1. Chức năng của các Agnisuryan. Các thiên thần của cõi cảm dục là những vị mà con người hiện nay có liên hệ đặc biệt mật thiết do sự phân cực cảm dục của mình, và do vị trí mà dục vọng và cảm xúc giữ trong sự phát triển của y.
133. An understanding of the Agnisuryans is, therefore, at this time in human development crucial.
133. Vì vậy, vào lúc này trong sự phát triển của nhân loại, việc thấu hiểu các Agnisuryan là điều cốt yếu.
134. The majority of human being are still astrally polarized and, thus, Atlantean in their consciousness.
134. Đa số con người vẫn còn phân cực cảm dục và do đó, trong tâm thức của họ, vẫn là Atlantis.
Consciousness expands through contact, through intelligent appreciation of that which is contacted, and through realisation of that which is to be gained through a specific contact.
Tâmthức mở rộng qua tiếp xúc, qua sự đánh giá thông tuệ về điều được tiếp xúc, và qua sự chứng nghiệm thực sự về điều sẽ đạt được nhờ một tiếpxúc đặc thù.
135. This is a valuable section of text. We often speak of the expansion of consciousness. Here we are given the manner in which consciousness expands:
135. Đây là một đoạn văn có giá trị. Chúng ta thường nói về sự mở rộng của tâm thức. Ở đây, chúng ta được cho biết cách thức tâm thức mở rộng:
a. Consciousness expand through contact. That which is contacted has something additional to that which contacts it. That which it (i.e., that which is contacted) has is absorbed by that which contacts.
a. Tâm thức mở rộng qua tiếp xúc. Điều được tiếp xúc có một cái gì đó bổ sung cho điều đang tiếp xúc với nó. Điều mà nó (tức điều được tiếp xúc) có sẽ được hấp thụ bởi điều đang tiếp xúc.
b. Consciousness expands through intelligent appreciation of that which is contacted. This is another way of say that the planet Venus is integral to the expansion of consciousness since Venus is uniquely the planet of “intelligent appreciation”.
b. Tâm thức mở rộng qua sự đánh giá thông tuệ về điều được tiếp xúc. Đây là một cách khác để nói rằng hành tinh Sao Kim là yếu tố thiết yếu đối với sự mở rộng của tâm thức vì Sao Kim là hành tinh độc đáo của “sự đánh giá thông tuệ”.
c. Consciousness expands through realization of that which is to be gained through a specific contact. This requires the activation of foresight and the sense of purpose. Thus, forethought expands the consciousness.
c. Tâm thức mở rộng qua sự chứng nghiệm về điều sẽ đạt được nhờ một tiếp xúc đặc thù. Điều này đòi hỏi sự hoạt hóa của viễn kiến và ý thức về mục đích. Do đó, sự tiên liệu làm mở rộng tâm thức.
That which is contacted depends upon reciprocal vibration,
Điều được tiếp xúc tùy thuộc vào sự rung động tương hỗ,
136. If there is going to be intelligent appreciation of that which is contacted, and a realization of that which is to be gained through contact, then reciprocal vibration (a feedback process, an interplay between that which contacts and that which is contacted) is necessary.
136. Nếu phải có sự đánh giá thông tuệ về điều được tiếp xúc, và một sự chứng nghiệm về điều sẽ đạt được nhờ tiếp xúc, thì sự rung động tương hỗ (một tiến trình phản hồi, một sự tương tác giữa điều đang tiếp xúc và điều được tiếp xúc) là điều cần thiết.
and the place therefore of desire (which is the going out after sensation) and of feeling (which is the reflex of that desire) is of real importance; they put man constantly in touch—even though he realises it not—with deva substance of some kind or another.
và vì thế vị trí của dục vọng (là sự vươn ra để tìm cảm giác) và của cảm xúc (là phản xạ của dục vọng ấy) có tầm quan trọng thực sự; chúng đặt con người vào sự tiếp xúc liên tục—dù y không nhận ra điều đó—với chất liệu thiên thần thuộc loại này hay loại khác.
113. Important definitions are given here:
113. Ở đây có những định nghĩa quan trọng:
a. Desire is the going out after sensation. Desire is always for the sake of contact. Desired contact is made in the anticipation of fulfillment.
a. Dục vọng là sự vươn ra để tìm cảm giác. Dục vọng luôn luôn là vì mục đích tiếp xúc. Sự tiếp xúc được mong muốn được tạo ra trong sự mong đợi được thỏa mãn.
b. Feeling is the reflex of that desire. Feeling arises through mutual impression between that which contacts and that which is contacted.
b. Cảm xúc là phản xạ của dục vọng ấy. Cảm xúc phát sinh qua sự gây ấn tượng lẫn nhau giữa điều đang tiếp xúc và điều được tiếp xúc.
114. Both desire and feeling put a man constantly in touch with deva substance of some kind.
114. Cả dục vọng lẫn cảm xúc đều đặt con người vào sự tiếp xúc liên tục với một loại chất liệu thiên thần nào đó.
115. One cannot live within the three worlds without be constantly in touch with deva substance of some kind. We live in a veritable ocean of devic substance.
115. Không ai có thể sống trong ba cõi thấp mà không liên tục tiếp xúc với một loại chất liệu thiên thần nào đó. Chúng ta sống trong một đại dương đích thực của chất liệu thiên thần.
Even when man has reached a relatively high stage of evolution, the demonstration of that point of attainment is seen in the type of not-self which he contacts;
Ngay cả khi con người đã đạt đến một giai đoạn tiến hoá tương đối cao, sự biểu lộ của điểm thành tựu ấy được thấy trong loại phi-ngã mà y tiếp xúc;
116. It is interesting to realize that there is a vast multiplicity of types of “not-self”. According to the nature of one’s desires, such is the nature of that toward which desire will extend itself and will, therefore, be contacted.
116. Thật thú vị khi nhận ra rằng có một sự đa tạp vô cùng lớn của các loại “phi-ngã”. Tùy theo bản chất của dục vọng của một người, bản chất của điều mà dục vọng sẽ vươn tới và do đó sẽ được tiếp xúc cũng như vậy.
117. The Law of Attraction is intimately involved in the process of what we may call the ‘direction of desire’. We are dealing with the attraction between substances of various qualities.
117. Định luật Hấp Dẫn có liên hệ mật thiết với tiến trình mà chúng ta có thể gọi là “sự định hướng của dục vọng”. Chúng ta đang bàn đến sự hấp dẫn giữa các chất liệu có những phẩm tính khác nhau.
118. A simple way of looking at this is to say that our contacts reveal our point of spiritual attainment.
118. Một cách đơn giản để nhìn vấn đề này là nói rằng những tiếp xúc của chúng ta bộc lộ điểm thành tựu tinh thần của chúng ta.
it is only when he is an initiate that [Page 662] he begins to approximate, and to know the meaning of the essential unity which lies at the heart of Being, and to comprehend the oneness of the Universal Soul, and the Unity of that subjective Life which secretes itself behind form of every kind.
chỉ khi y là một điểm đạo đồ thì [Page 662] y mới bắt đầu tiệm cận, và biết ý nghĩa của sự hợp nhất cốt yếu nằm ở trung tâm của Bản Thể, và thấu hiểu tính duy nhất của Đại Hồn Vũ Trụ, và sự hợp nhất của Sự sống chủ quan đang ẩn mình sau mọi loại hình tướng.
119. This is a beautiful description of the consciousness of the initiate.
119. Đây là một mô tả đẹp đẽ về tâm thức của điểm đạo đồ.
120. Great ideas expressing the realization of the initiate are suggested:
120. Những ý tưởng lớn diễn tả sự chứng nghiệm của điểm đạo đồ được gợi ra:
a. Essential Unity
a. Sự Hợp Nhất Cốt Yếu
b. The Heart of Being
b. Trái Tim của Bản Thể
c. The Oneness of the Universal Soul
c. Tính Duy Nhất của Đại Hồn Vũ Trụ
d. The Unity of the subjective Life. It is a hidden unity, secreting itself behind forms of every kind.
d. Sự Hợp Nhất của Sự Sống chủ quan. Đó là một sự hợp nhất ẩn kín, đang ẩn mình sau mọi loại hình tướng.
It should never be forgotten that the matter aspect is found on all planes;
Không bao giờ nên quên rằng phương diện vật chất được tìm thấy trên mọi cõi;
121. Does this apply to cosmic planes as well? Certain plans are designated as “prakritic” planes. Such are the seven systemic planes of the cosmic physical plane. We have to question whether and in what way such planes as the cosmic astral plane or the cosmic mental plane may be “prakritic”. From the super-cosmic perspective, they certainly must be.
121. Điều này có áp dụng cho cả các cõi vũ trụ không? Một số cõi được gọi là các cõi “prakritic”. Đó là bảy cõi hệ thống của cõi hồng trần vũ trụ. Chúng ta phải đặt câu hỏi liệu và theo cách nào những cõi như cõi cảm dục vũ trụ hay cõi trí vũ trụ có thể là “prakritic”. Từ quan điểm siêu vũ trụ, chắc chắn chúng phải như vậy.
122. Can there be form without matter (or “prakriti”)? This question has profound implications.
122. Có thể có hình tướng mà không có vật chất (hay “prakriti”) không? Câu hỏi này có những hàm ý sâu xa.
123. Another related question: “Is all matter particulate?”
123. Một câu hỏi liên hệ khác: “Mọi vật chất đều có tính hạt chăng?”
also that forms are ever to be found, until the solar ring-pass-not is transcended and the Logos escapes from His present limitation.
và cũng rằng hình tướng luôn luôn được tìm thấy, cho đến khi vòng-giới-hạn mặt trời được vượt qua và Thượng đế thoát khỏi giới hạn hiện tại của Ngài.
124. Form exists on all levels of the cosmic physical plane (even the so-called “formless” levels, the arupa planes). If such form is to exist until the Logos’ fourth initiation (the initiation at which He escapes from His present limitation and the solar system manifesting on the cosmic physical plane ceases to exist) the factor of desire which impels the creation of form will remain potent in the solar system until that time. This says something about the perpetuation of solar logoic sacral center energy and also solar logoic throat center energy.
124. Hình tướng tồn tại trên mọi cấp độ của cõi hồng trần vũ trụ (ngay cả những cấp độ được gọi là “vô tướng”, các cõi arupa). Nếu hình tướng như thế sẽ tồn tại cho đến lần điểm đạo thứ tư của Thượng đế (lần điểm đạo mà tại đó Ngài thoát khỏi giới hạn hiện tại của Ngài và hệ mặt trời biểu hiện trên cõi hồng trần vũ trụ chấm dứt tồn tại), thì yếu tố dục vọng thúc đẩy sự tạo thành hình tướng sẽ vẫn còn mạnh mẽ trong hệ mặt trời cho đến lúc ấy. Điều này nói lên điều gì đó về sự duy trì năng lượng trung tâm xương cùng của Thái dương Thượng đế và cả năng lượng trung tâm cổ họng của Thái dương Thượng đế.
125. In this context, DK seems to be pointing especially to the forms which are found on the systemic physical plane. These, too, will exist until the Solar Logos escapes from His present limitation for physical incarnation is a necessity until the fourth initiation is reached.
125. Trong bối cảnh này, Chân sư DK dường như đặc biệt chỉ đến những hình tướng được tìm thấy trên cõi hồng trần hệ thống. Những hình tướng này cũng sẽ tồn tại cho đến khi Thái dương Thượng đế thoát khỏi giới hạn hiện tại của Ngài vì sự lâm phàm hồng trần là một điều tất yếu cho đến khi đạt đến lần điểm đạo thứ tư.
Owing to this the devas of the astral plane assume a very important place in the three worlds.
Do điều này mà các thiên thần của cõi cảm dục giữ một vị trí rất quan trọng trong ba cõi thấp.
126. Why should this be the case? It is the devas of the astral plane which are the material activity (material within the dense physical body of the Solar Logos) which is responsible for the appearance of form. The impulse form creation.
126. Tại sao lại như vậy? Chính các thiên thần của cõi cảm dục là hoạt động vật chất (vật chất bên trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế) chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của hình tướng. Xung lực tạo hình tướng.
127. In other worlds, without the form-impulsing activities of the Agnisuryans, the solar system cannot remain in manifestation until the Day of Liberation—which it must.
127. Nói cách khác, nếu không có các hoạt động thúc đẩy hình tướng của các Agnisuryan, hệ mặt trời không thể tiếp tục ở trong biểu hiện cho đến Ngày Giải Thoát—mà nó phải như vậy.
Previously, we considered them in a fivefold aspect, dividing them into five groups. At this point we will limit our consideration to the relationship of self-conscious units such as Man and the planetary Logos to this deva substance.
Trước đây, chúng ta đã xét họ trong một phương diện ngũ phân, chia họ thành năm nhóm. Tại điểm này chúng ta sẽ giới hạn sự khảoxét của mình vào mối liên hệ của các đơn vị tự ngã thức như Con Người và Hành Tinh Thượng Đế với chất liệu thiên thần này.
128. The subject can be studied by differentiating and categorizing the various groups of Agnisuryans and other devas. We can also discuss the relationship of Man and the Planetary Logos to the Agnisuryans. This seems to be the method we will now pursue.
128. Chủ đề này có thể được nghiên cứu bằng cách biến phân và phân loại các nhóm Agnisuryan khác nhau và các thiên thần khác. Chúng ta cũng có thể bàn đến mối liên hệ của Con Người và Hành Tinh Thượng Đế với các Agnisuryan. Đây dường như là phương pháp mà giờ đây chúng ta sẽ theo đuổi.
A great distinction exists between man and his prototype, a Heavenly Man.
Có một sự khác biệt lớn giữa con người và nguyên mẫu của y, một Đấng Thiên Nhân.
129. There are compelling analogies between the two, but the Planetary Logos is a Dragon of Wisdom, having developed much of the love nature, whereas a human being is simply working on the development of manas which the Planetary Logos developed mahakalpas ago.
129. Có những tương đồng đầy sức thuyết phục giữa hai bên, nhưng Hành Tinh Thượng Đế là một Rồng Minh Triết, đã phát triển nhiều bản chất bác ái, trong khi một con người chỉ đơn giản đang nỗ lực phát triển manas, điều mà Hành Tinh Thượng Đế đã phát triển từ nhiều đại kiếp trước.
The astral plane plays a very real part in the evolution of man, having a close connection with one of his principles.
Cõi cảm dục đóng một vai trò rất thực trong sự tiến hoá của con người, vì có liên hệ chặt chẽ với một trong các nguyên khí của y.
130. We can assume this principle to be kama. The astral plane is also related to the principle called kama-manas (at least kama-manas is, in some enumerations, considered a principle). (cf. TCF 261, 264, 265)
130. Chúng ta có thể giả định nguyên khí này là kama. Cõi cảm dục cũng liên hệ với nguyên khí được gọi là trí-cảm (ít nhất trí-cảm, trong một số cách liệt kê, được xem là một nguyên khí). (xem TCF 261, 264, 265)
131. But principle of buddhi is also closely connected to the astral plane.
131. Nhưng nguyên khí Bồ đề cũng có liên hệ chặt chẽ với cõi cảm dục.
Astral matter and vibration is one of the controlling factors in the lives of the great majority of people.
Vật chất và rung động cảm dục là một trong những yếu tố kiểm soát trong đời sống của đại đa số con người.
132. Perhaps this is the case for eighty to eighty-five percent of the people and, at this time, for the majority of Earth-chain humanity, and some of Moon-chain humanity.
132. Có lẽ điều này đúng với tám mươi đến tám mươi lăm phần trăm nhân loại và, vào lúc này, với đa số nhân loại Dãy Địa Cầu, và một phần nhân loại Dãy Mặt Trăng.
To the Heavenly Man, astral matter corresponds to the liquid portion in the physical body of man, and is for Him therefore no principle.
Đối với Đấng Thiên Nhân, vật chất cảm dục tương ứng với phần lỏng trong thể xác của con người, và vì thế đối với Ngài nó không phải là một nguyên khí.
133. This is clear. For the human being the liquid portion of his physical body is not a principle, and thus it is for the Planetary Logos in relation to the systemic astral plane.
133. Điều này thật rõ ràng. Đối với con người, phần lỏng trong thể xác của y không phải là một nguyên khí, và vì vậy cũng thế đối với Hành Tinh Thượng Đế trong liên hệ với cõi cảm dục hệ thống.
The astral plane is man's principal battle-ground and the area of his most intense field of sensation,—mental sensation (esoterically understood) is for him as yet only a possibility.
Cõi cảm dục là chiến trường chính yếu của con người và là khu vực của trường cảm giác mãnh liệt nhất của y,—cảm giác trí tuệ (được hiểu theo nghĩa huyền bí) hiện vẫn chỉ là một khả năng đối với y.
134. Sensation is the registration of contact—sentiency. It means more than the sentiency which arises from strictly physical contact.
134. Cảm giác là sự ghi nhận tiếp xúc—tính cảm tri. Nó có nghĩa nhiều hơn thứ cảm tri phát sinh từ tiếp xúc thuần túy hồng trần.
135. There is, of course, sensation on the physical and mental planes, but the degree of its impact is presently far less than on the highly energized astral plane.
135. Dĩ nhiên có cảm giác trên cõi hồng trần và cõi trí, nhưng mức độ tác động của nó hiện nay nhỏ hơn rất nhiều so với trên cõi cảm dục được nạp năng lượng mạnh mẽ.
136. We might say that as man developed to his present stage, he has transcended to a great extent the impact of sensation arising in relation to the stimuli of the physical plane. He is not yet sufficiently unfolded to register sensation of upon the mental plane with any degree of intensity, but this kind of “sensation” does, we are told, exist.
136. Chúng ta có thể nói rằng khi con người phát triển đến giai đoạn hiện tại, y đã vượt qua ở mức độ lớn tác động của cảm giác phát sinh liên hệ với các kích thích của cõi hồng trần. Y vẫn chưa đủ khai mở để ghi nhận cảm giác trên cõi trí với bất kỳ mức độ mãnh liệt nào, nhưng loại “cảm giác” này, như chúng ta được cho biết, quả thực có tồn tại.
137. On the astral plane there are the greatest number of contending forces, vigorously engaged. It is for most a battlefield.
137. Trên cõi cảm dục có số lượng lớn nhất những mãnh lực tranh chấp, đang hoạt động mạnh mẽ. Đối với đa số, đó là một chiến trường.
138. Sentiency is possible on all of the systemic planes. It arises from ‘touch’ (the primary sense in our astral-buddhic solar system) and the interplay between that which ‘touches’ and that which is ‘touched’.
138. Tính cảm tri có thể có trên mọi cõi hệ thống. Nó phát sinh từ “sự chạm” (giác quan sơ khởi trong hệ mặt trời cảm dục-Bồ đề của chúng ta) và sự tương tác giữa điều “chạm” và điều được “chạm”.
139. We notice, however, that when DK speaks of “mental sensation” He qualifies the term by telling us it must be “esoterically understood”. If the dynamics of sentiency are to be clearly understood we must know a great deal about the physics of the planes in which that sentiency is taking place.
139. Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng khi Chân sư DK nói về “cảm giác trí tuệ”, Ngài xác định thêm thuật ngữ này bằng cách cho chúng ta biết rằng nó phải được “hiểu theo nghĩa huyền bí”. Nếu động lực học của tính cảm tri phải được hiểu rõ, chúng ta phải biết rất nhiều về vật lý học của các cõi nơi tính cảm tri ấy đang diễn ra.
The astral body is the seat of man's most violent vibration, and these vibrations are a potent cause of his physical plane activities.
Thể cảm dục là trụ sở của những rung động dữ dội nhất của con người, và những rung động này là một nguyên nhân mạnh mẽ của các hoạt động của y trên cõi hồng trần.
140. The potent influence of the non-sacred planet Mars is suggested.
140. Ảnh hưởng mạnh mẽ của hành tinh không thiêng liêng Sao Hỏa được gợi ra.
141. Violent vibrations on the astral plane lead to violent activities on the physical plane.
141. Những rung động dữ dội trên cõi cảm dục dẫn đến những hoạt động dữ dội trên cõi hồng trần.
142. By what are most men swayed? By what are they impelled to act? By the impelling energy of desire originating on the astral plane. For most human beings, the physical plane is negative to the astral body whereas it should be negative to the mental body as that mental body should be negative to the buddhic vehicle as should the astral body.
142. Đa số người ta bị chi phối bởi điều gì? Họ bị thúc đẩy hành động bởi điều gì? Bởi năng lượng thúc đẩy của dục vọng phát sinh trên cõi cảm dục. Đối với đa số con người, cõi hồng trần là âm đối với thể cảm dục, trong khi lẽ ra nó phải âm đối với thể trí, cũng như thể trí ấy phải âm đối với vận cụ Bồ đề, và thể cảm dục cũng phải như vậy.
If man only realised it, the devas of the astral plane at present very largely control what he does and says, and his goal of evolution (his immediate goal) is to liberate himself from their control in order that he, the real Ego or thinker, may be the dominating influence.
Nếu con người chỉ nhận ra điều đó, thì các thiên thần của cõi cảm dục hiện nay phần lớn kiểm soát điều y làm và nói, và mục tiêu tiến hoá của y (mục tiêu trước mắt của y) là giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của họ để y, chân ngã hay thức giả thực sự, có thể là ảnh hưởng chi phối.
143. DK tells us how very much we are controlled by the devas of the astral plane and how little we realize that we are.
143. Chân sư DK cho chúng ta biết chúng ta bị các thiên thần của cõi cảm dục kiểm soát nhiều đến mức nào và chúng ta ít nhận ra điều đó đến mức nào.
144. The human being is predominantly emotional and from this emotional control he must liberate himself. Man has many goals, but liberation from his emotions is his first priority. When we examine the chaotic condition of human interaction in today’s world, we can only affirm DK’s evaluation.
144. Con người chủ yếu là cảm xúc và khỏi sự kiểm soát cảm xúc này y phải tự giải thoát. Con người có nhiều mục tiêu, nhưng giải thoát khỏi cảm xúc của mình là ưu tiên hàng đầu của y. Khi chúng ta khảo sát tình trạng hỗn loạn của sự tương tác nhân loại trong thế giới ngày nay, chúng ta chỉ có thể khẳng định sự đánh giá của Chân sư DK.
145. Man en masse is far from being dominated by the Ego or the soul. Man en masse is not yet either the thinker or the Thinker.
145. Con người nói chung còn rất xa mới được chân ngã hay linh hồn chi phối. Con người nói chung chưa phải là thức giả cũng chưa phải là Đấng Tư Tưởng.
146. Until a human being has liberated himself from the control of the astral devas he remains (in his astral nature) positive and resistant to the influence of solar fire on the higher mental plane. The “waves that rise upon the stormy sea of life” indeed “engulf the swimmer, shut out the sun and render all plans futile”. (Counsels to the Wise, TWM, 473)
146. Cho đến khi một con người tự giải thoát khỏi sự kiểm soát của các thiên thần cảm dục, y vẫn còn (trong bản chất cảm dục của mình) là dương và kháng cự ảnh hưởng của Lửa Thái dương trên Cõi thượng trí. Quả thật, “những làn sóng dâng lên trên biển đời giông tố” “nhấn chìm người bơi, che khuất mặt trời và làm cho mọi kế hoạch trở nên vô ích”. (Counsels to the Wise, TWM, 473)
147. As the Hierarchy and the Christ approach, this vulnerable, rather thoughtless and insufficiently spiritual state of being will gradually be superseded. Emotion is not love. Humanity as a whole does not yet realize this, but the Reappearance of the Christ will promote this realization.
147. Khi Thánh đoàn và Đức Christ đến gần, trạng thái hiện hữu dễ tổn thương, khá thiếu suy nghĩ và chưa đủ tinh thần này sẽ dần dần được thay thế. Cảm xúc không phải là bác ái. Nhân loại nói chung chưa nhận ra điều này, nhưng Sự Tái Lâm của Đức Christ sẽ thúc đẩy sự nhận biết ấy.
To be explicit, and thus to illustrate this point: the little elemental lives which form the body of the emotions, and the positive [Page 663] life of any evolutionary deva who (through similarity of vibration) is linked to any particular man and who gives to him an astral body of a coherent and positive power, are as yet practically in control of the majority.
Nói rõ ra, và nhờ đó minh họa điểm này: những sự sống hành khí nhỏ bé tạo thành thể cảm xúc, và sự sống [Page 663]dương của bất kỳ thiên thần thăng thượng tiến hoá nào mà (qua sự tương đồng rung động) được liên kết với một con người cụ thể và ban cho y một thể cảm dục có năng lực cố kết và dương tính, hiện vẫn thực tế kiểm soát đa số.
148. DK again differentiates between the elemental lives and the lives known as evolutionary devas who are linked to a particular human being.
148. Chân sư DK một lần nữa phân biệt giữa các sự sống hành khí và các sự sống được biết như những thiên thần thăng thượng tiến hoá vốn được liên kết với một con người cụ thể.
149. The elemental lives “form the body of the emotions”.
149. Các sự sống hành khí “tạo thành thể cảm xúc”.
150. Evolutionary devas (and it seems that in the astral body of the human being there are many) make of his astral body “a coherent and positive power”. It does not seem that DK is speaking only of one evolutionary deva per human astral body, even though He uses the singular form, “deva”.
150. Các thiên thần thăng thượng tiến hoá (và dường như trong thể cảm dục của con người có nhiều vị) làm cho thể cảm dục của y thành “một năng lực cố kết và dương tính”. Dường như Chân sư DK không chỉ nói về một thiên thần thăng thượng tiến hoá cho mỗi thể cảm dục của con người, dù Ngài dùng hình thức số ít là “thiên thần”.
151. There is probably a hierarchy of evolutionary astral devas associated with the astral body of man, including one which is paramount.
151. Có lẽ có một Huyền Giai các thiên thần cảm dục thăng thượng tiến hoá liên kết với thể cảm dục của con người, trong đó có một vị giữ địa vị tối thượng.
152. Certain astral devas are drawn to a particular man through “similarity of vibration”. We may say that according to the vibratory quality of a man’s elemental substance (really according to the vibratory condition of his astral permanent atom), so devas of a certain vibration or quality will be linked to him.
152. Một số thiên thần cảm dục bị hút đến với một con người cụ thể qua “sự tương đồng rung động”. Chúng ta có thể nói rằng tùy theo phẩm tính rung động của chất liệu hành khí của một người (thực ra là tùy theo tình trạng rung động của nguyên tử trường tồn cảm dục của y), các thiên thần có một rung động hay phẩm tính nhất định sẽ được liên kết với y.
153. Perhaps some of these devas have a long association with him and are not drawn in anew with every incarnation. The regathering by the incarnating human unit of previously conditioned personality substance is proposed by DK.
153. Có lẽ một số thiên thần này đã có sự liên kết lâu dài với y và không bị thu hút lại mới trong mỗi lần lâm phàm. Chân sư DK đã nêu ra việc đơn vị nhân loại đang lâm phàm thu hồi lại chất liệu phàm ngã đã được tác động từ trước.
154. The point is that these elementals and their controlling devas control the majority of human beings.
154. Điểm chính là các hành khí này và các thiên thần kiểm soát của chúng kiểm soát đa số nhân loại.
Man usually does as his desires and instincts prompt him.
Con người thường làm theo điều mà dục vọng và bản năng của y thúc đẩy.
155. This is the simple meaning of the control of man by the devas of the astral plane.
155. Đây là ý nghĩa đơn giản của sự kiểm soát con người bởi các thiên thần của cõi cảm dục.
156. The more advanced man will think, “I want to, however…”, and the desires are held in check by thought and purpose.
156. Con người tiến bộ hơn sẽ nghĩ: “Tôi muốn, tuy nhiên…”, và các dục vọng được giữ trong vòng kiểm soát bởi tư tưởng và mục đích.
If this evolutionary deva is of a high order (as will be the case in a highly developed man) the vibration will be high, and the desires and instincts will be good and exoterically right.
Nếu thiên thần thăng thượng tiến hoá này thuộc một cấp bậc cao (như sẽ là trường hợp nơi một con người phát triển cao) thì rung động sẽ cao, và các dục vọng cùng bản năng sẽ tốt đẹp và đúng đắn theo nghĩa ngoại môn.
157. First DK uses the singular, “deva”, and then (in the next section) a plural, “them”.
157. Trước hết Chân sư DK dùng số ít, “thiên thần”, rồi sau đó (trong phần kế tiếp) dùng số nhiều, “họ”.