← Commentary_S6_574_679_song ngữ

chapter 001 22

Trích nội dung chương

158. We seem to speaking of a number of Agnisuryans who are associated with the astral body of man and not only one. This would necessarily be the case as there are so many different kinds of astrally related energy flows or currents in the human being. 158. Dường như chúng ta đang nói đến một số Agnisuryan liên kết với thể cảm dục của con người chứ không chỉ một. Điều này tất yếu phải như vậy vì trong con người có quá nhiều loại dòng hay luồng năng lượng liên hệ với cảm dục khác nhau.


158. We seem to speaking of a number of Agnisuryans who are associated with the astral body of man and not only one. This would necessarily be the case as there are so many different kinds of astrally related energy flows or currents in the human being.

158. Dường như chúng ta đang nói đến một số Agnisuryan liên kết với thể cảm dục của con người chứ không chỉ một. Điều này tất yếu phải như vậy vì trong con người có quá nhiều loại dòng hay luồng năng lượng liên hệ với cảm dục khác nhau.

159. The higher the order of the evolutionary astral deva, the higher the vibration of the astral body, the higher the desires and instincts, which will be aligned with Good and will not cause spiritual damage upon the physical plane.

159. Cấp bậc của thiên thần cảm dục thăng thượng tiến hoá càng cao thì rung động của thể cảm dục càng cao, dục vọng và bản năng càng cao, sẽ chỉnh hợp với Điều Thiện và sẽ không gây tổn hại tinh thần trên cõi hồng trần.

Nevertheless, if the man is controlled by them, he is as yet under deva influence, and must free himself.

Tuy nhiên, nếu con người bị họ chi phối, thì y vẫn còn ở dưới ảnh hưởng của thiên thần, và phải tự giải thoát.

160. Probably many highly developed, well-intended people are under this influence and do not suspect it. Even if they suspected it, they might see nothing wrong in it.

160. Có lẽ nhiều người phát triển cao, có thiện ý, đang ở dưới ảnh hưởng này mà không ngờ tới. Ngay cả nếu họ nghi ngờ điều đó, họ có thể cũng không thấy có gì sai trong đó.

161. There are, however, higher energies to be expressed and the center controlling the astral body is meant to be, at this stage, the Ego, with which the advanced disciple and initiate has identified himself.

161. Tuy nhiên, có những năng lượng cao hơn cần được biểu lộ và trung tâm kiểm soát thể cảm dục, ở giai đoạn này, được định là chân ngã, với chân ngã ấy đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ đã đồng hoá chính mình.

162. Whether astral promptings are high or low, man must not automatically follow them but, focussed upon the plane of mind (at first lower then higher mind), must learn to control them.

162. Dù các thúc đẩy cảm dục là cao hay thấp, con người không được tự động làm theo chúng mà phải, tập trung trên cõi trí (lúc đầu là hạ trí rồi đến thượng trí), học cách kiểm soát chúng.

If the deva life is of a low order, the man will demonstrate low and vicious instincts, and desires of a vile calibre.

Nếu sự sống thiên thần thuộc cấp thấp, con người sẽ biểu lộ những bản năng thấp hèn và hung ác, cùng những dục vọng có phẩm cấp đê tiện.

163. Most people do not think in these terms. Most do not realize that devas of different orders, when linked to the vehicles of the personality, contribute to different types of behaviour, ranging from low, vicious and vile to elevated and worthy.

163. Đa số người không suy nghĩ theo những thuật ngữ này. Đa số không nhận ra rằng các thiên thần thuộc những cấp bậc khác nhau, khi được liên kết với các vận cụ của phàm ngã, góp phần tạo nên những loại hành vi khác nhau, từ thấp hèn, hung ác và đê tiện cho đến cao thượng và đáng quý.

If these remarks are rightly apprehended, some understanding will come of what is meant when the deva evolution is spoken of as being a “parallel evolution” to that of man.

Nếu những nhận xét này được lĩnh hội đúng đắn, một phần thấu hiểu sẽ đến về điều được hàm ý khi nói rằng sự tiến hoá thiên thần là một “sự tiến hoá song song” với sự tiến hoá của con người.

164. The term “parallel” must be carefully pondered. The term suggests that each of the kingdoms has its own line of development but that these lines influence each other.

164. Thuật ngữ “song song” phải được suy ngẫm cẩn thận. Thuật ngữ này gợi ý rằng mỗi giới đều có đường phát triển riêng của mình nhưng những đường này ảnh hưởng lẫn nhau.

165. It also suggests that for every grade of development in one kingdom there is a corresponding or parallel grade of development in the other.

165. Nó cũng gợi ý rằng với mỗi cấp độ phát triển trong một giới đều có một cấp độ phát triển tương ứng hay song song trong giới kia.

166. We are told that the Raja Deva Lord’s such as Kshiti or Varuna have a stage of consciousness equivalent to that of a Chohan and are on occasion called into the Council Chamber in Shamballa for consultation.

166. Chúng ta được cho biết rằng các Chúa Tể Raja Deva như Kshiti hay Varuna có một giai đoạn tâm thức tương đương với một Chohan và đôi khi được mời vào Phòng Hội Đồng tại Shamballa để tham vấn.

In the three worlds the two lines of evolution parallel each other, and must not be consciously one.

Trong ba cõi thấp, hai đường tiến hoá song song với nhau, và không được có ý thức là một.

167. Mixing and blending are not always occultly desirable. Although there is to be cooperation, the two kingdoms must not be consciously one—in the three worlds. In higher worlds, harmonizing, blending and merging are to be achieved.

167. Sự pha trộn và hòa lẫn không phải lúc nào cũng đáng mong muốn theo huyền bí học. Dù phải có sự hợp tác, hai giới không được có ý thức là một—trong ba cõi thấp. Ở các thế giới cao hơn, sự hài hòa, hòa lẫn và hợp nhất sẽ phải được thành tựu.

168. Of importance at this time is the realization that man must not identify with the devas of the three worlds—i.e., with the devas in the dense physical plane of the Solar Logos or more specifically, the Planetary Logos. That which makes the Black Lodge evil may be precisely this type of identification.

168. Điều quan trọng vào lúc này là sự chứng nghiệm rằng con người không được đồng hoá với các thiên thần của ba cõi thấp—tức là với các thiên thần trong cõi hồng trần đậm đặc của Thái dương Thượng đế hay cụ thể hơn là của Hành Tinh Thượng Đế. Điều làm cho Hắc đoàn trở nên tà ác có thể chính là loại đồng hoá này.

In the planes of the Triad they are known as a unity, producing the Divine Hermaphrodite, or the Heavenly Man,—the self-conscious human units embodying the three aspects of divinity, while the conscious deva units embody the divine attributes.

Trong các cõi của Tam nguyên tinh thần, họ được biết như một hợp nhất, tạo ra Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng, hay Đấng Thiên Nhân,—các đơn vị nhân loại tự ngã thức thể hiện ba phương diện của thiên tính, trong khi các đơn vị thiên thần hữu thức thể hiện các thuộc tính thiêng liêng.

169. Notice the word “in” in the phrase “in the planes of the Triad”. It seems to have a different feel than the preposition “on”.

169. Hãy lưu ý từ “trong” trong cụm từ “trong các cõi của Tam nguyên tinh thần”. Nó dường như mang một sắc thái khác với giới từ “trên”.

170. The Planetary Logos is known as the Divine Hermaphrodite. What entitles Him to this appellation? We learn here that it is the union of human beings and devas (of Hermes and Aphrodite, respectively) which lies at the root of this name.

170. Hành Tinh Thượng Đế được biết đến như Đấng Lưỡng Tính Thiêng Liêng. Điều gì khiến Ngài xứng với danh xưng này? Ở đây chúng ta biết rằng chính sự hợp nhất của con người và thiên thần (lần lượt là của Hermes và Aphrodite) nằm ở gốc rễ của danh xưng ấy.

171. Hermes is Mercury and is associate with human beings. Mercury rules the Fourth or Human Creative Hierarchy. Aphrodite is Venus and is associated with the devas.

171. Hermes là Sao Thủy và được liên kết với con người. Sao Thủy cai quản Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư hay Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại. Aphrodite là Sao Kim và được liên kết với các thiên thần.

172. The Mercury and Venus factors, when taken together, are the divinely hermaphroditic unit in our solar system.

172. Các yếu tố Sao Thủy và Sao Kim, khi được xét cùng nhau, là đơn vị lưỡng tính thiêng liêng trong hệ mặt trời của chúng ta.

173. One of the ways of differentiating devas from human beings is by considering their relationship to the aspects of divinity and to the attributes of divinity.

173. Một trong những cách để phân biệt thiên thần với con người là xét mối liên hệ của họ với các phương diện của thiên tính và với các thuộc tính của thiên tính.

174. Human beings embody the divine aspects of divinity. Devas embody the divine attributes of divinity.

174. Con người thể hiện các phương diện thiêng liêng của thiên tính. Thiên thần thể hiện các thuộc tính thiêng liêng của thiên tính.

175. The relationship is that of the triangle to the square.

175. Mối liên hệ ấy là mối liên hệ của tam giác với hình vuông.

The two, blended together, form the body of manifestation, the centres and substance of the Heavenly Man.

Hai bên, khi được hòa trộn với nhau, tạo thành thể biểu hiện, các trung tâm và chất liệu của Đấng Thiên Nhân.

176. The body of manifestation of the Heavenly Man consists of the energy centers and substance.

176. Thể biểu hiện của Đấng Thiên Nhân gồm các trung tâm năng lượng và chất liệu.

177. As usual, the human being is associated with the centers and the devas with the substance.

177. Như thường lệ, con người được liên kết với các trung tâm và thiên thần với chất liệu.

178. We have already seen, however, on numerous occasions, that deva Monads (like human Monads) also go to the constitution of the centers of a Heavenly Man.

178. Tuy nhiên, chúng ta đã thấy nhiều lần rằng các chân thần thiên thần (cũng như các chân thần nhân loại) cũng góp phần vào cấu tạo của các trung tâm của một Đấng Thiên Nhân.

Great is the mystery, and until man knows his place within the conscious whole, he should reserve his opinion as to the meaning thereof.

Mầu nhiệm này thật lớn lao, và cho đến khi con người biết vị trí của mình trong toàn thể hữu thức, y nên dè dặt trong ý kiến của mình về ý nghĩa của điều đó.

179. DK is suggesting that we, “man”, do not yet know our place within the conscious whole. We are learning and have much of great interest to study, but our actual knowledge of our place is rather slight. This is, perhaps, hard to accept.

179. Chân sư DK đang gợi ý rằng chúng ta, “con người”, vẫn chưa biết vị trí của mình trong toàn thể hữu thức. Chúng ta đang học hỏi và có rất nhiều điều vô cùng lý thú để nghiên cứu, nhưng tri thức thực sự của chúng ta về vị trí của mình thì khá ít ỏi. Có lẽ điều này khó chấp nhận.

It will be apparent, therefore, in view of the connection between the astral plane with its unified work, and the buddhic plane with the conscious harmony there experienced, that the astral body of man calls for the closest study and understanding.

Do đó, sẽ thấy rõ rằng, xét theo mối liên hệ giữa cõi cảm dục với công việc hợp nhất của nó, và cõi Bồ đề với sự hài hòa hữu thức được kinhnghiệm tại đó, thể cảm dục của con người đòi hỏi sự nghiên cứu và thấu hiểu sát sao nhất.

180. DK is building a case for the importance of the astral body.

180. Chân sư DK đang xây dựng một luận cứ về tầm quan trọng của thể cảm dục.

181. He points to the “unified work” of the astral plane and the “conscious harmony” experienced on the buddhic plane. The astral vehicle is “unified”, i.e., undivided and thus works with potency.

181. Ngài chỉ ra “công việc hợp nhất” của cõi cảm dục và “sự hài hòa hữu thức” được kinh nghiệm trên cõi Bồ đề. Vận cụ cảm dục là “hợp nhất”, tức là không phân chia và vì thế hoạt động với mãnh lực mạnh mẽ.

182. The alliance between these two vehicles is what makes the more accessible astral body of such great importance.

182. Sự liên minh giữa hai vận cụ này là điều khiến thể cảm dục dễ tiếp cận hơn trở nên quan trọng đến thế.

183. It is interesting, is it not, to think of the buddhic plane as the plane whereon “conscious harmony” is experienced? Perhaps in those moments of life when we have experienced the greatest harmony, there has been for us a touch of the buddhic energy.

183. Thật thú vị, phải không, khi nghĩ về cõi Bồ đề như cõi nơi “sự hài hòa hữu thức” được kinh nghiệm? Có lẽ trong những khoảnh khắc của đời sống khi chúng ta đã kinh nghiệm sự hài hòa lớn lao nhất, đã có nơi chúng ta một sự chạm đến của năng lượng Bồ đề.

A link will be found through its medium with the buddhic plane and harmonious activity on the physical plane will be produced.

Một mối liên kết sẽ được tìm thấy qua trung gian của nó với cõi Bồ đề, và hoạt động hài hòa trên cõi hồng trần sẽ được tạo ra.

184. This is of great practical import. Troubled humanity has often wondered how it is to produce harmony on the physical plane. The necessary alignment to produce this harmony is the buddhic plane—the astral plane—the physical plane. Responsiveness to the fourth systemic ether will be of importance in promoting this alignment.

184. Điều này có tầm quan trọng thực tiễn rất lớn. Nhân loại đầy xáo trộn thường tự hỏi làm thế nào để tạo ra sự hài hòa trên cõi hồng trần. Sự chỉnh hợp cần thiết để tạo ra sự hài hòa này là: cõi Bồ đề—cõi cảm dục—cõi hồng trần. Sự đáp ứng với dĩ thái thứ tư của hệ sẽ có tầm quan trọng trong việc thúc đẩy sự chỉnh hợp này.

185. Creating this alignment is the responsibility of those with much fourth ray in their system: the buddhic plane is the fourth plane and through it the fourth ray expresses powerfully; the astral plane is the plane of the “dual forces”, presently a battle-ground which requires the harmonizing influence of the fourth ray; the physical plane is the fourth plane when considering the four personality divisions—lower mental, astral, etheric and dense physical.

185. Việc tạo ra sự chỉnh hợp này là trách nhiệm của những người có nhiều cung bốn trong hệ thống của mình: cõi Bồ đề là cõi thứ tư và qua đó cung bốn biểu lộ mạnh mẽ; cõi cảm dục là cõi của “các mãnh lực nhị nguyên”, hiện nay là một bãi chiến trường cần đến ảnh hưởng điều hòa của cung bốn; cõi hồng trần là cõi thứ tư khi xét bốn phân bộ của phàm ngã—hạ trí, cảm dục, dĩ thái và hồng trần đậm đặc.

186. It is interesting that within the United Nations (an organization dedicated through its ideals to world peace) there are working a number of fourth ray souls. Fourth ray souls are rarely in incarnation at this particular time in history.

186. Điều đáng chú ý là trong Liên Hiệp Quốc (một tổ chức tận hiến qua các lý tưởng của mình cho hòa bình thế giới) có một số linh hồn cung bốn đang hoạt động. Các linh hồn cung bốn hiếm khi đang lâm phàm vào đúng thời điểm đặc biệt này của lịch sử.

187. We understand, then, that the reconditioning of the astral body will render it more receptive to the harmonizing buddhic energy and a positive feedback loop between these two planes will be created. The resulting harmony on the astral plane will condition the quality of desires there found and the newly harmonized desires will contribute to the harmonization of the physical plane. Thus, peace will come.

187. Như vậy, chúng ta hiểu rằng việc tái điều kiện hóa thể cảm dục sẽ khiến nó dễ tiếp nhận hơn đối với năng lượng Bồ đề điều hòa, và một vòng phản hồi tích cực giữa hai cõi này sẽ được tạo ra. Sự hài hòa phát sinh trên cõi cảm dục sẽ tác động lên phẩm tính của các dục vọng được tìm thấy tại đó, và các dục vọng vừa được điều hòa sẽ góp phần vào sự điều hòa của cõi hồng trần. Như thế, hòa bình sẽ đến.

The student of occultism should study carefully in this connection:

Đạo sinh huyền bí học nên nghiên cứu cẩn thận trong mối liên hệ này:

188. The “this” which is to be studied is the link between the buddhic plane, the astral plane and the physical plane.

188. “Điều này” cần được nghiên cứu là mối liên kết giữa cõi Bồ đề, cõi cảm dục và cõi hồng trần.

[Page 664]

[Page 664]

a. The physical sun, and its relation to prana and the etheric body.

a. Mặt trời vật lý, và mối liên hệ của nó với prana và thể dĩ thái.

189. The physical Sun is of the fourth order (at least this is true of the Solar Logos). When the fourth ether is stimulated by solar prana, the desirable harmonizing effect (resulting from the alliance between the buddhic plane an the astral plane) will more easily reach the dense physical body of the planet. The line of descent will be via the number four.

189. Mặt Trời vật lý thuộc bậc thứ tư (ít nhất điều này đúng đối với Thái dương Thượng đế). Khi dĩ thái thứ tư được kích thích bởi prana mặt trời, hiệu quả điều hòa đáng mong muốn (phát sinh từ sự liên minh giữa cõi Bồ đề và cõi cảm dục) sẽ dễ dàng đến được thể xác đậm đặc của hành tinh hơn. Đường giáng hạ sẽ đi qua số bốn.

b. The subjective sun, and its connection with the astral plane, with the kama-manasic principle, and the astral body.

b. Mặt trời chủ quan, và mối liên hệ của nó với cõi cảm dục, với nguyên khí trí-cảm, và với thể cảm dục.

190. By the “subjective sun”, it is the Heart of the Sun which is most often meant.

190. Với “mặt trời chủ quan”, điều thường được hàm ý nhất là Trái Tim của Mặt Trời.

191. There is the possibility, however, that the Solar Logos’ manifestation through His astral body on the cosmic astral plane can also be called the “subjective sun”.

191. Tuy nhiên, cũng có khả năng rằng sự biểu hiện của Thái dương Thượng đế qua thể cảm dục của Ngài trên cõi cảm dục vũ trụ cũng có thể được gọi là “mặt trời chủ quan”.

192. In this case, the words “subjective sun” could also be translated as ‘subtle sun’.

192. Trong trường hợp này, các từ “mặt trời chủ quan” cũng có thể được dịch là “mặt trời vi tế”.

193. The fact that in this tabulation the Heart of the Sun is listed separately from the “subjective sun” alerts us to the possibility of a difference between the two.

193. Sự kiện rằng trong bảng liệt kê này Trái Tim của Mặt Trời được liệt kê riêng biệt với “mặt trời chủ quan” khiến chúng ta lưu ý đến khả năng có sự khác biệt giữa hai điều ấy.

194. The soul always has an archetypal relation to the astral body, just as the personality to the physical body and the Monad to the mind.

194. Linh hồn luôn có một mối liên hệ nguyên mẫu với thể cảm dục, cũng như phàm ngã với thể xác và chân thần với trí tuệ.

195. The egoic lotus on the higher mental plane is a blend primarily of the second and fifth rays. This is true also for the egoic lotus of the Solar Logos on the cosmic higher mental plane.

195. Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí chủ yếu là một sự pha trộn của cung hai và cung năm. Điều này cũng đúng đối với Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế trên cõi thượng trí vũ trụ.

196. The second ray of the egoic lotus connects it with the astral plane and the astral body and with the “kama” aspect of kama-manas. The fifth ray component of the egoic lotus connects it with the manasic component of kama-manas.

196. Cung hai của Hoa Sen Chân Ngã nối nó với cõi cảm dục và thể cảm dục, cũng như với phương diện “kama” của kama-manas. Thành phần cung năm của Hoa Sen Chân Ngã nối nó với thành phần manas của kama-manas.

197. We can extend the alignment bringing harmonization to the dense physical plane as follows:

197. Chúng ta có thể mở rộng sự chỉnh hợp mang lại sự điều hòa cho thể xác đậm đặc như sau:

a. Buddhic vehicle

a. Vận cụ Bồ đề

b. Egoic lotus on the higher mental plane

b. Hoa Sen Chân Ngã trên Cõi thượng trí

c. Kama-manas

c. Kama-manas

d. Astral body

d. Thể cảm dục

e. The fourth ether

e. Dĩ thái thứ tư

f. The dense physical body—the fourth vehicle or the personality (from one way of counting)

f. Thể xác đậm đặc—vận cụ thứ tư hay phàm ngã (theo một cách đếm)

c. The central spiritual sun, and its relation to the Spirit or atma in man.15 [S[S. D., II, 250, 251.]

c. Mặt trời Tinh thần Trung Ương, và mối liên hệ của nó với Tinh thần hay atma trong con người.15 [S[S. D., II, 250, 251.]

198. We have to discriminate here. Should the Spirit in man be called “atma” or the “Atman”. There are good reasons to think the latter. In this case, “atma” would refer to the highest of man’s principles.

198. Ở đây chúng ta phải phân biện. Tinh thần trong con người nên được gọi là “atma” hay “Atman”? Có những lý do xác đáng để nghĩ là cách sau. Trong trường hợp này, “atma” sẽ chỉ nguyên khí cao nhất của con người.

199. We can expect that the Central Spiritual Sun (considering it as the Monad of the Solar Logos) would have a line of connection to the Monad in man and, thence, to his atmic principle.

199. Chúng ta có thể mong đợi rằng Mặt trời Tinh thần Trung Ương (xét nó như chân thần của Thái dương Thượng đế) sẽ có một đường nối với chân thần trong con người và từ đó đến nguyên khí atma của y.

200. Again Chart VIII, TCF 817, shows this connection.

200. Một lần nữa, Biểu đồ VIII, TCF 817, cho thấy mối liên hệ này.

d. The heart of the sun, and its relation to the lower and higher mental bodies, producing that peculiar manifestation we call the causal body.

d. Trái tim của mặt trời, và mối liên hệ của nó với các thể trí thấp và cao, tạo ra sự biểu hiện đặc thù mà chúng ta gọi là thể nguyên nhân.

201. We notice here that the “heart of the sun” is differentiated from the “subjective sun” and that the differentiation is evident in this very tabulation.

201. Ở đây chúng ta nhận thấy rằng “trái tim của mặt trời” được phân biệt với “mặt trời chủ quan” và sự phân biệt ấy hiển nhiên ngay trong chính bảng liệt kê này.

202. As earlier suggested: we are certain that the Heart of the Sun relates to the egoic lotus of the Solar Logos. May it be that the “subjective sun” relates to the astral expression of the Solar Logos?

202. Như đã gợi ý trước đây: chúng ta chắc chắn rằng Trái Tim của Mặt Trời liên hệ với Hoa Sen Chân Ngã của Thái dương Thượng đế. Có thể chăng “mặt trời chủ quan” liên hệ với biểu hiện cảm dục của Thái dương Thượng đế?

203. Why should the Heart of the Sun be related to the lower mental body? We remember that the Hierarchy of Agnishvattas is related not only the higher mind but to the lower mind as well, for it is a dual Hierarchy.

203. Tại sao Trái Tim của Mặt Trời lại phải liên hệ với thể trí thấp? Chúng ta nhớ rằng Huyền Giai của các Agnishvatta không chỉ liên hệ với thượng trí mà còn với cả hạ trí nữa, vì đó là một Huyền Giai kép.

204. As the Agnishvattas emanate from the Heart of the Sun, a connection is created between the Heart of the Sun, the Agnishvattas and both the higher and lower mental bodies.

204. Vì các Agnishvatta phát xạ từ Trái Tim của Mặt Trời, một mối liên hệ được tạo ra giữa Trái Tim của Mặt Trời, các Agnishvatta và cả hai thể trí cao lẫn thấp.

In this connection it must be remembered that the force which flows from the heart of the sun, works through a triangle formed by the Venusian scheme, the Earth and the sun.

Trong mối liên hệ này cần nhớ rằng mãnh lực tuôn chảy từ trái tim của mặt trời hoạt động qua một tam giác được tạo thành bởi hệ hành tinh Kim Tinh, Trái Đất và mặt trời.

205. A major solar triangle is offered four our consideration: the Sun, the Venus-scheme and the Earth.

205. Một tam giác mặt trời lớn được đưa ra để chúng ta xem xét: Mặt Trời, hệ Kim Tinh và Trái Đất.

206. The Heart of the Sun works through these three. The sun is, in this instance, the vehicle of the Heart of the Sun.

206. Trái Tim của Mặt Trời hoạt động qua ba yếu tố này. Trong trường hợp này, mặt trời là vận cụ của Trái Tim của Mặt Trời.

207. Each of the members of the triangle is distinguished by a powerful second ray: the soul and personality of the Solar Logos are both on the second ray; Venus is hypothesized as having a second ray personality and a second ray Monad; the Earth (or, really, the Planetary Logos of the Earth) has a second ray soul.

207. Mỗi thành viên của tam giác đều được phân biệt bởi một cung hai mạnh mẽ: linh hồn và phàm ngã của Thái dương Thượng đế đều thuộc cung hai; Sao Kim được giả định là có phàm ngã cung hai và chân thần cung hai; Trái Đất (hay đúng hơn là Đức Hành Tinh Thượng Đế của Trái Đất) có linh hồn cung hai.

208. When we think of the ‘descent’ of the Solar Angels, this triangle is involved. The Solar Angels (having emanated from Sirius, cf. TCF 844), are gathered into the Heart of the Sun, journey thence to Venus and, then, through descent into several spheres, reach the dense physical globe of Earth.

208. Khi chúng ta nghĩ đến “sự giáng hạ” của các Thái dương Thiên Thần, tam giác này có liên quan. Các Thái dương Thiên Thần (đã phát xạ từ Sirius, xem TCF 844), được tập hợp vào Trái Tim của Mặt Trời, từ đó du hành đến Sao Kim, rồi qua sự giáng hạ vào một số khối cầu, đến được bầu hành tinh hồng trần đậm đặc của Trái Đất.

209. DK is now about share some hints about the formation of triangles.

209. Giờ đây Chân sư DK sắp chia sẻ vài gợi ý về sự hình thành các tam giác.

That another triangle was also formed involving two planets was to be expected under the law, and the triangles vary according to the scheme involved.

Việc một tam giác khác cũng được hình thành liên quan đến hai hành tinh là điều có thể được mong đợi theo định luật, và các tam giác thay đổi tùy theo hệ hành tinh liên quan.

210. Apparently (because He used the word “also”) the triangle here mentioned is not Sun, Venus, Earth. Yet this additional triangle also probably involves the Sun.

210. Rõ ràng (vì Ngài dùng từ “cũng”) tam giác được nhắc đến ở đây không phải là Mặt Trời, Sao Kim, Trái Đất. Tuy vậy, tam giác bổ sung này có lẽ cũng liên quan đến Mặt Trời.

211. We have been speaking principally of the relationship between the buddhic and the astral planes. Mercury is closely related to the buddhic plane and Mars to the astral.

211. Chúng ta chủ yếu đã bàn đến mối liên hệ giữa cõi Bồ đề và cõi cảm dục. Sao Thủy liên hệ chặt chẽ với cõi Bồ đề và Sao Hỏa với cõi cảm dục.

212. It is possible that the triangle Sun/Mercury/Mars was also formed. In various Theosophical charts and tabulations Mercury and Mars are closely related.

212. Có thể tam giác Mặt Trời/Sao Thủy/Sao Hỏa cũng đã được hình thành. Trong nhiều biểu đồ và bảng liệt kê của Thông Thiên Học, Sao Thủy và Sao Hỏa có liên hệ chặt chẽ với nhau.

213. Under law, when one triangle is formed, must another also be formed?

213. Theo định luật, khi một tam giác được hình thành, có phải một tam giác khác cũng phải được hình thành không?

214. It seems that there must always be a relation between a planetary scheme and the Sun. DK seems to be suggesting that according to the nature of a particular planet related to the Sun, an additional planet (related to the first planet) will be involved.

214. Dường như luôn phải có một mối liên hệ giữa một hệ hành tinh và Mặt Trời. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng tùy theo bản chất của một hành tinh đặc biệt liên hệ với Mặt Trời, một hành tinh bổ sung (liên hệ với hành tinh thứ nhất) sẽ được lôi cuốn vào.

215. We do not yet know enough to explore this hypothesis.

215. Chúng ta vẫn chưa biết đủ để khảo sát giả thuyết này.

Cosmically there is a very interesting series of triangles which will be found by the student of esoteric astronomy and of occult cycles.

Về mặt vũ trụ có một chuỗi tam giác rất lý thú mà sẽ được tìm ra bởi đạo sinh thiên văn học huyền bí và các chu kỳ huyền môn.

216. By “esoteric astronomy” may be meant the study of the relative positions and cycles of stars and constellations as these positions and cycles reveal subjective energies and qualities. When they are esoterically considered, the positions and cycles will be shown to reveal the interrelated purposes of great Lives.

216. Với “thiên văn học huyền bí” có thể được hiểu là việc nghiên cứu các vị trí tương đối và các chu kỳ của các ngôi sao và chòm sao khi những vị trí và chu kỳ ấy biểu lộ các năng lượng và phẩm tính chủ quan. Khi được xem xét một cách huyền bí, các vị trí và chu kỳ ấy sẽ cho thấy các mục đích tương liên của những Sự sống vĩ đại.

They originate in the central sun of our particular group of solar systems.

Chúng bắt nguồn từ mặt trời trung tâm của nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta.

217. Our particular group of solar systems may be considered the “Seven Solar Systems of Which Ours is One”, if the term “solar system” means what it usually means—a system of planets with one or perhaps two central stars around which the planets revolve.

217. Nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta có thể được xem là “Bảy Hệ Mặt Trời mà Hệ của Chúng Ta là Một”, nếu thuật ngữ “hệ mặt trời” mang nghĩa mà nó thường mang—một hệ các hành tinh với một hay có lẽ hai ngôi sao trung tâm mà quanh đó các hành tinh quay vòng.

218. Of the seven major stars in our particular grouping, one of them may, perhaps, be considered the “central sun”. It is hypothesized, relative to our particular group of solar systems, that Sirius is that central Sun.

218. Trong bảy ngôi sao lớn của nhóm đặc thù của chúng ta, có lẽ một ngôi có thể được xem là “mặt trời trung tâm”. Có giả thuyết cho rằng, đối với nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, Sirius là Mặt Trời trung tâm ấy.

219. In some enumerations of our group of solar systems, some stars larger and more radiant than Sirius are included, such, for instance, as Vega. Given that our particular solar system is moving towards Vega, this motion might contain a hint about Vega and the central sun of our group of seven solar systems.

219. Trong một số cách liệt kê nhóm hệ mặt trời của chúng ta, có những ngôi sao lớn hơn và rực sáng hơn Sirius được bao gồm, chẳng hạn như Vega. Xét việc hệ mặt trời đặc thù của chúng ta đang chuyển động về phía Vega, chuyển động này có thể hàm chứa một gợi ý về Vega và mặt trời trung tâm của nhóm bảy hệ mặt trời của chúng ta.

220. The central sun of our particular group may or may, however, not be tangible. It may, for instance, be considered to be a Cosmic Logos as a whole, expressing through seven stars.

220. Tuy nhiên, mặt trời trung tâm của nhóm đặc thù của chúng ta có thể có hoặc không có tính hữu hình. Chẳng hạn, nó có thể được xem là một Thượng đế Vũ Trụ như một toàn thể, biểu lộ qua bảy ngôi sao.

221. On the other hand, Alcyone is often considered to be a kind of “central sun” (the Central Spiritual Sun to be exact) and may be central to our particular group of solar systems, if by “solar systems” is meant groupings of seven major stars.

221. Mặt khác, Alcyone thường được xem là một loại “mặt trời trung tâm” (chính xác là Mặt trời Tinh thần Trung Ương) và có thể là trung tâm của nhóm hệ mặt trời đặc thù của chúng ta, nếu “hệ mặt trời” được hiểu là những nhóm gồm bảy ngôi sao lớn.

This series involves the Pleiades.

Chuỗi này liên quan đến Pleiades.

222. Just as the series of systemic triangles always includes the Sun (Sun/Venus/Earth, or, proposed, Sun/Mercury/Mars), so the Pleiades as a whole (perhaps in their entirety—more than eight hundred stars) would, on a higher turn of the spiral, act as the Sun. The real local cosmic Central Spiritual Sun would be the Pleiades in their entirety and especially the Super-Constellational Logos expressing through them—namely, the “One About Whom Naught May Be Said”.

222. Cũng như chuỗi các tam giác hệ thống luôn bao gồm Mặt Trời (Mặt Trời/Sao Kim/Trái Đất, hay như được đề xuất, Mặt Trời/Sao Thủy/Sao Hỏa), thì toàn thể Pleiades (có lẽ trong toàn bộ của chúng—hơn tám trăm ngôi sao) ở một vòng xoắn cao hơn sẽ hoạt động như Mặt Trời. Mặt trời Tinh thần Trung Ương cục bộ vũ trụ thực sự sẽ là toàn thể Pleiades, và đặc biệt là Thượng đế Siêu Chòm Sao biểu lộ qua chúng—tức là, Đấng Bất Khả Tư Nghị.

223. The correspondences to the planets, lesser than the “Sun”, would be Cosmic Logoi and Their systems—the Logoi of certain of the great constellations in our local cosmos such as the Great Bear, Little Bear, Orion, Draco, etc.

223. Những tương ứng với các hành tinh, nhỏ hơn “Mặt Trời”, sẽ là các Thượng đế Vũ Trụ và các hệ của Các Ngài—các Thượng đế của một số chòm sao lớn trong vũ trụ cục bộ của chúng ta như Đại Hùng Tinh, Tiểu Hùng Tinh, Orion, Draco, v.v.

The fact that this is so will not be known until the last decade of the present century,

Sự kiện này sẽ không được biết cho đến thập niên cuối của thế kỷ hiện tại,

224. We might ask, “Known by whom”? This discovery will not come from contemporary science. In fact the last decade of the twentieth century has come and gone and this piece of knowledge has not emerged in the scientific community.

224. Chúng ta có thể hỏi, “Được biết bởi ai?” Khám phá này sẽ không đến từ khoa học đương đại. Thật vậy, thập niên cuối của thế kỷ hai mươi đã đến rồi qua đi, và mảnh tri thức này vẫn chưa xuất hiện trong cộng đồng khoa học.

225. Perhaps it is among esotericists and students of occult astronomy and cosmic cycles that the indicated hypotheses must be put forth. Certainly, at our stage of development, we have hypothesis and not confirmed knowledge.

225. Có lẽ chính trong giới các nhà bí truyền học và những người nghiên cứu thiên văn học huyền môn cùng các chu kỳ vũ trụ mà các giả thuyết được chỉ ra này phải được đưa ra. Chắc chắn, ở giai đoạn phát triển của chúng ta, chúng ta có giả thuyết chứ chưa có tri thức được xác nhận.

and will not be recognised by science till that time when certain lines of knowledge and discovery will bring scientists to a realisation that there is a third type of electricity, which ever balances and forms the apex of the triangle. But the time is not yet.

và sẽ không được khoa học côngnhận cho đến thời điểm khi một số đường hướng tri thức và khám phá sẽ đưa các nhà khoa học đến chỗ chứng nghiệm rằng có một loại điện thứ ba, luôn luôn quân bình và tạo thành đỉnh của tam giác. Nhưng thời điểm ấy vẫn chưa đến.

226. As far as we known, equilibrizing electricity has not been discovered.

226. Theo như chúng ta biết, điện năng quân bình hóa vẫn chưa được khám phá.

227. From one perspective, we would expect to find at the apex of the triangle that which balances Spirit and matter, positive and negative.

227. Từ một góc nhìn, chúng ta sẽ mong tìm thấy ở đỉnh của tam giác điều quân bình tinh thần và vật chất, dương và âm.

228. In the triangle Sun/Venus/Earth, does Venus play this role? If there were a triangle, Sun/Mercury/Mars, would Mercury play this role?

228. Trong tam giác Mặt Trời/Sao Kim/Trái Đất, có phải Sao Kim đóng vai trò này không? Nếu có một tam giác Mặt Trời/Sao Thủy/Sao Hỏa, có phải Sao Thủy sẽ đóng vai trò này không?

All that is here said is expressed in terms of deva groups and deva forces, which form (in their aggregate) substance responsive to analogous vibration.

Tất cả những gì được nói ở đây đều được diễn đạt theo các nhóm thiên thần và các mãnh lực thiên thần, những yếu tố tạo thành (trong tổng thể của chúng) chất liệu đáp ứng với rung động tương tự.

229. Forces which interplay harmoniously do so because they share “analogous vibration”.

229. Các mãnh lực tương tác hài hòa với nhau làm như vậy vì chúng chia sẻ “rung động tương tự”.

230. In the triangle Sun/Venus/Earth, groups related by analogous vibration are to be found and hence the transmission.

230. Trong tam giác Mặt Trời/Sao Kim/Trái Đất, có thể tìm thấy các nhóm liên hệ bởi rung động tương tự, và do đó có sự truyền dẫn.

This is occultly expressed under certain definite names.

Điều này được diễn đạt một cách huyền bí dưới những danh xưng xác định nào đó.

231. We can question whether these names are for exoteric consumption. From the scrupulous blinding process use, apparently they are not.

231. Chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu những danh xưng này có dành cho sự tiếp nhận ngoại môn hay không. Từ tiến trình làm mù che cẩn mật được sử dụng, rõ ràng là không.

It is possible, therefore, to transmit safely information of a character incomprehensible to the profane

Do đó, có thể truyền đạt một cách an toàn thông tin có tính chất không thể hiểu được đối với kẻ phàm tục

232. DK uses the old terminology. Occultly, “the profane” are those who stand outside the entry, gate or perimeter of the Temple.

232. Chân sư DK dùng thuật ngữ cổ. Theo huyền môn, “kẻ phàm tục” là những người đứng bên ngoài lối vào, cổng hay chu vi của Đền Thờ.

in such a phrase, for instance, as: “The triangle of...of...and of Group...of the Agnisuryans formed itself, and in the turning of the Wheel produced the third.”

trong một cụm từ, chẳng hạn như: “Tam giác của...của...và của Nhóm...của các Agnisuryan đã tự hình thành, và trong sự quay của Bánh Xe đã tạo ra thứ ba.”

233. The real information is hidden in number. To give the number of a particular group of Agnisuryans is not to reveal the nature and function of that group, except to those who are knowers.

233. Thông tin thực sự được ẩn trong con số. Việc nêu ra con số của một nhóm Agnisuryan đặc biệt không phải là tiết lộ bản chất và chức năng của nhóm ấy, ngoại trừ đối với những thức giả.

234. If to “the profane” it is said that the “turning of the Wheel produced the third”, immediately the questions arise, “What Wheel?” “The third what?”

234. Nếu với “kẻ phàm tục” mà nói rằng “sự quay của Bánh Xe đã tạo ra thứ ba”, thì lập tức các câu hỏi nảy sinh: “Bánh Xe nào?” “Thứ ba là gì?”

This conveys to the mind of the occultist the knowledge [Page 665] that in the flow of force from a particular constellation, outside our system altogether, through a particular planetary scheme, and thus through the astral body of a planetary Logos, a condition was brought about which produced the appearance of the third kingdom in nature, the sentient conscious animal kingdom.

Điều này truyền đạt cho trí tuệ của nhà huyền bí học tri thức [Page 665] rằng trong dòng chảy của mãnh lực từ một chòm sao đặc biệt, hoàn toàn ở ngoài hệ của chúng ta, qua một hệ hành tinh đặc biệt, và như thế qua thể cảm dục của một Hành Tinh Thượng Đế, một điều kiện đã được tạo ra, điều kiện ấy đã tạo nên sự xuất hiện của giới thứ ba trong thiên nhiên, giới động vật hữu cảm hữu thức.

235. DK seems to be using this description only as an example, but perhaps He is conveying something more?

235. Chân sư DK dường như chỉ dùng mô tả này như một ví dụ, nhưng có lẽ Ngài đang truyền đạt điều gì đó hơn nữa chăng?

236. Could it be (hypothetically) that from the constellation—let us say— Scorpius (outside our solar system altogether) and through the planetary scheme of Mars and thus through the astral body of our Planetary Logos (involving the ‘x’ group of Agnisuryans), the third kingdom in nature (the animal kingdom), ruled by Mars, was made to appear.

236. Có thể chăng (theo giả thuyết) rằng từ chòm sao—chúng ta hãy nói là—Hổ Cáp (hoàn toàn ở ngoài hệ mặt trời của chúng ta) và qua hệ hành tinh Sao Hỏa, rồi như thế qua thể cảm dục của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta (liên quan đến nhóm Agnisuryan ‘x’), giới thứ ba trong thiên nhiên (giới động vật), do Sao Hỏa cai quản, đã được làm cho xuất hiện.

237. In this connection we may also wish to consider the relation of the constellation Orion (the Hunter) to the animal kingdom.

237. Trong mối liên hệ này, chúng ta cũng có thể muốn xem xét mối liên hệ của chòm sao Orion (Thợ Săn) với giới động vật.

3. The animal kingdom—The Moon and Mars (EP I 245)

3. Giới động vật—Mặt Trăng và Sao Hỏa (EP I 245)

Some such similar phrase embodies also the deva connection with man's individualisation, but it profits not to pass it on;

Một cụm từ tương tự nào đó cũng hàm chứa mối liên hệ thiên thần với sự biệt ngã hóa của con người, nhưng không ích gì khi truyền lại nó;

238. Could it be (hypothetically) that from the constellation Sirius (considering Sirius as a constellation and not just a star) and through the planetary scheme of Venus, and thus through the mental body of our Planetary Logos (involving the ‘x’ group of Agnishvattas), the fourth kingdom of nature (the human kingdom), ruled by Venus, was made to appear.

238. Có thể chăng (theo giả thuyết) rằng từ chòm sao Sirius (xét Sirius như một chòm sao chứ không chỉ là một ngôi sao) và qua hệ hành tinh Sao Kim, rồi như thế qua thể trí của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta (liên quan đến nhóm Agnishvatta ‘x’), giới thứ tư trong thiên nhiên (giới nhân loại), do Sao Kim cai quản, đã được làm cho xuất hiện.

239. Humanity as a Creative Hierarchy is ruled by Mercury but as the individualized human kingdom, by Venus (ruling the Solar Angels who provided the causal body).

239. Nhân loại như một Huyền Giai Sáng Tạo được Sao Thủy cai quản, nhưng như giới nhân loại đã được biệt ngã hóa thì do Sao Kim cai quản (cai quản các Thái dương Thiên Thần, những Đấng đã cung cấp thể nguyên nhân).

the above is only quoted in order to do three things:

điều trên đây chỉ được trích dẫn nhằm làm ba việc:

1. Demonstrate somewhat the nature and extent of the forces flowing through our system.

1. Chứng minh phần nào bản chất và phạm vi của các mãnh lực chảy qua hệ của chúng ta.

240. We see that these forces flow through B/beings of widely varying vibratory level, scope and quality. A Constellational Logos is far greater than a Planetary Logos Who is far greater than the Raja Deva Lord of a plane, Who is far greater than the evolutionary devas who guide the response of vehicles composed of elemental substance within the plane ruled by the Raja Deva Lord.

240. Chúng ta thấy rằng các mãnh lực này chảy qua những Hữu thể có cấp độ rung động, tầm mức và phẩm tính rất khác nhau. Một Thượng đế Chòm Sao vĩ đại hơn rất nhiều so với một Hành Tinh Thượng Đế, Đấng lại vĩ đại hơn rất nhiều so với Chúa Tể Raja Deva của một cõi, Đấng lại vĩ đại hơn rất nhiều so với các thiên thần thăng thượng tiến hoá hướng dẫn sự đáp ứng của các vận cụ được cấu thành từ chất liệu hành khí trong cõi do Chúa Tể Raja Deva cai quản.

241. DK, we see, is not revealing exact information, but is offering sufficient hints to indicate the nature of that which He may be concealing.

241. Như chúng ta thấy, Chân sư DK không tiết lộ thông tin chính xác, nhưng đưa ra đủ những gợi ý để chỉ ra bản chất của điều mà Ngài có thể đang che giấu.

2. Show the close connection we have with the deva evolution.

2. Cho thấy mối liên hệ mật thiết của chúng ta với tiến hoá thiên thần.

242. Humanity would not have been created (at least on our chain) without the involvement of the deva kingdom.

242. Nhân loại đã không thể được tạo ra (ít nhất là trên dãy của chúng ta) nếu không có sự tham dự của giới thiên thần.

243. In fact we can think of humanity as ‘deva substance plus a god’.

243. Thật vậy, chúng ta có thể nghĩ về nhân loại như là “chất liệu thiên thần cộng với một vị thần”.

244. From what DK say, the animal kingdom, as well, necessitated the involvement of the Agnisuryans.

244. Từ điều Chân sư DK nói, giới động vật cũng đòi hỏi sự tham dự của các Agnisuryan.

245. We remember reading of the close connection between Varuna and the Entity ensouling the animal kingdom.

245. Chúng ta nhớ đã đọc về mối liên hệ mật thiết giữa Varuna và Thực Thể phú linh cho giới động vật.

3. Emphasise the triangular nature and interrelation of all that eventuates.

3. Nhấn mạnh bản chất tam giác và sự tương liên của mọi điều được tạo thành.

246. It seems that if some new factor in manifestation is to emerge, that emergence depends upon a triangular interplay of energies.

246. Dường như nếu một yếu tố mới nào đó trong biểu hiện sắp xuất hiện, thì sự xuất hiện ấy tùy thuộc vào một sự tương tác tam giác của các năng lượng.

247. Think how the Eye of Shiva does not emerge until there is a triangular interplay between the crown center, the ajna center and the alta major center.

247. Hãy nghĩ xem Mắt của Shiva không xuất hiện cho đến khi có sự tương tác tam giác giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major.

It might be advisable here to bring out a point in connection with the devas of the lower planes (those with whom man is peculiarly connected).

Ở đây có lẽ nên nêu ra một điểm liên quan đến các thiên thần của các cõi thấp (những vị mà con người có liên hệ đặc biệt).

248. Though it is not safe for average man to consciously attempt to manipulate or control these devas, he cannot avoid interacting with them.

248. Dù con người trung bình không an toàn khi cố ý thức thao túng hay kiểm soát các thiên thần này, y không thể tránh khỏi việc tương tác với họ.

They can be divided into certain groups, indicating their place in the scale of consciousness.

Họ có thể được chia thành một số nhóm nhất định, cho thấy vị trí của họ trên thang tâm thức.

249. There are scales of form and scales of consciousness. In modern occultism, we are particularly concerned with scales of consciousness.

249. Có những thang hình tướng và những thang tâm thức. Trong huyền bí học hiện đại, chúng ta đặc biệt quan tâm đến những thang tâm thức.

Perhaps the question may here be asked why we are dealing only with those deva groups which are to be found in the three worlds. Occultly understood, these devas (of the type we are considering) are only found in the dense physical body of the Logos,—being the substance of the lower three subplanes of the cosmic physical.

Có lẽ ở đây có thể đặt câu hỏi vì sao chúng ta chỉ bàn đến những nhóm thiên thần được tìm thấy trong ba cõi giới. Theo nghĩa huyền bí, các thiên thần này (thuộc loại chúng ta đang xem xét) chỉ được tìm thấy trong thể xác đậm đặc của Thượng đế, — là chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ.

250. While, until the third initiation is passed, we are advised not to attempt conscious interplay with such devas, they are the unavoidable participants in the life of man in the three lower worlds.

250. Trong khi, cho đến khi vượt qua lần điểm đạo thứ ba, chúng ta được khuyên không nên cố gắng tương tác có ý thức với các thiên thần như thế, họ vẫn là những thành phần tham dự không thể tránh khỏi trong đời sống của con người trong ba cõi thấp.

The old Commentary says as follows:

Cổ Luận nói như sau:

“The spheres of fire seek location upon the lower three. They originate by medium of the fifth, yet merge upon the planes of yoga. When the fiery essences permeate all, then there is no more the fifth nor sixth, nor seventh, but only the three shining by medium of the fourth.”

“Các khối cầu lửa tìm chỗ định vị trên ba cõi thấp. Chúng phát nguyên qua trung gian của cõi thứ năm, nhưng hợp nhất trên các cõi yoga. Khi các tinh chất lửa thấm nhập mọi sự, thì không còn cõi thứ năm, thứ sáu hay thứ bảy nữa, mà chỉ còn ba cõi chiếu sáng qua trung gian của cõi thứ tư.”

251. DK is using the same method of ‘numerical blinding’ which He discussed above. The various groups are numbered, but no explicit information is given concerning exactly which groups are meant.

251. Chân sư DK đang dùng cùng một phương pháp “làm mù bằng số” mà Ngài đã bàn ở trên. Các nhóm khác nhau được đánh số, nhưng không có thông tin minh nhiên nào được đưa ra về chính xác những nhóm nào được hàm ý.

252. We can attempt a rather microcosmic interpretation—one which has it deficiencies. As we learn below, there is an interpretation which concerns more than man.

252. Chúng ta có thể thử một cách giải thích khá vi mô — một cách có những thiếu sót của nó. Như chúng ta sẽ thấy ở dưới, có một cách giải thích liên quan đến nhiều hơn là con người.

253. The Monads may be the spheres of fire. When they go forth on their Pilgrimage, “they seek location upon the lower three”. In other words, they seek to demonstrate within the lower three worlds.

253. Các Chân thần có thể là những khối cầu lửa. Khi các Ngài lên đường trong cuộc Hành Hương của mình, “các Ngài tìm chỗ định vị trên ba cõi thấp”. Nói cách khác, các Ngài tìm cách biểu lộ trong ba cõi thấp.

254. Following this line (which may or may not be correct), the spheres of fire emerge onto the lower three through the medium (“by medium”) of the Fifth Creative Hierarchy, the Agnishvattas, who make this emergence, as man, possible.

254. Theo đường lối này (có thể đúng mà cũng có thể không), các khối cầu lửa xuất hiện trên ba cõi thấp qua trung gian (“by medium”) của Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm, các Agnishvatta, những vị làm cho sự xuất hiện này, như con người, trở nên khả hữu.

255. From a much higher perspective, emergence “by medium of the fifth” may reference the cosmic mental plane.

255. Từ một viễn tượng cao hơn nhiều, sự xuất hiện “qua trung gian của cõi thứ năm” có thể quy chiếu đến cõi trí vũ trụ.

256. The “planes of yoga” are particularly the higher two planes of the spiritual triad and especially the buddhic plane.

256. “Các cõi yoga” đặc biệt là hai cõi cao của Tam nguyên tinh thần và nhất là cõi Bồ đề.

257. The causal bodies of humanity are related to each other on the mental plane but their essence merges on the buddhic plane, presumably after the fourth initiation is experienced.

257. Các thể nguyên nhân của nhân loại có liên hệ với nhau trên cõi trí nhưng tinh túy của chúng hợp nhất trên cõi Bồ đề, có lẽ sau khi lần điểm đạo thứ tư được kinh nghiệm.

258. The fiery essences, permeating all, can indicate a stage of complete soul infusion of the lower three worlds (inspired by the Solar Angels). The energies provided by the Fifth Creative Hierarchy would have flowed into the spheres of the lower devic lives, infusing and redeeming those spheres.

258. Các tinh chất lửa, thấm nhập mọi sự, có thể chỉ ra một giai đoạn linh hồn thấm nhuần hoàn toàn ba cõi thấp (được các Thái dương Thiên Thần truyền cảm hứng). Những năng lượng do Huyền Giai Sáng Tạo thứ năm cung cấp hẳn đã tuôn vào các khối cầu của các sự sống thiên thần thấp, thấm nhuần và cứu chuộc các khối cầu ấy.

259. Then there would be no need for vehicles in the dense physical plane of the Planetary Logos, and thus the fifth, sixth and seventh groups of devas (the lower Agnishvattas, the astral Agnisuryans and the Agnichaitans) would disappear as would the planes which represent the non-principled substance of the Planetary Logos. Then only, the spiritual triad (the three) would shine forth through the medium of the Fourth Creative Hierarchy (the human Creative Hierarchy). The life of the Planetary Logos would then be completely centered in His etheric body (cosmically considered).

259. Khi đó sẽ không còn cần đến các vận cụ trong cõi hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế, và như thế các nhóm thiên thần thứ năm, thứ sáu và thứ bảy (các Agnishvatta thấp, các Agnisuryan cảm dục và các Agnichaitan) sẽ biến mất, cũng như các cõi vốn tượng trưng cho chất liệu không nguyên khí của Đức Hành Tinh Thượng Đế. Chỉ khi ấy, Tam Nguyên Tinh Thần (ba) mới chiếu sáng qua trung gian của Huyền Giai Sáng Tạo thứ tư (Huyền Giai Sáng Tạo nhân loại). Khi đó sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ hoàn toàn tập trung trong thể dĩ thái của Ngài (xét theo nghĩa vũ trụ).

260. Even if this interpretation is incorrect in part or entirely, it give a sense of the different groupings which can be signified by numbers. Numbers remain what they are, but the B/beings which they reference change constantly.

260. Ngay cả nếu cách giải thích này sai một phần hay hoàn toàn, nó vẫn đem lại một cảm nhận về những nhóm khác nhau có thể được biểu thị bằng các con số. Các con số vẫn là chính chúng, nhưng các B/bản thể mà chúng quy chiếu đến thì thay đổi không ngừng.

261. Only those who are very well versed in the occult lore can be sure of their interpretation.

261. Chỉ những ai rất tinh thông tri thức huyền bí mới có thể chắc chắn về cách giải thích của mình.

Therefore, for the purposes of our present study, the devas are only to be found in the three worlds.

Vì vậy, cho mục đích của cuộc nghiên cứu hiện tại của chúng ta, các thiên thần chỉ được tìm thấy trong ba cõi giới.

262. We have not yet reached the point of planetary development when the three are shining forth through the medium of the fourth. Thus, we study that which lies immediately before us—the devas which are to be found in the three worlds.’

262. Chúng ta chưa đạt đến điểm phát triển hành tinh khi ba cõi đang chiếu sáng qua trung gian của cõi thứ tư. Vì thế, chúng ta nghiên cứu điều nằm ngay trước mắt mình — các thiên thần được tìm thấy trong ba cõi giới.’

263. I do not think that DK means to suggest that all members of the deva kingdom are to be found only in the three lower worlds.

263. Tôi không nghĩ rằng Chân sư DK muốn gợi ý rằng mọi thành viên của giới thiên thần chỉ được tìm thấy duy nhất trong ba cõi thấp.

Beyond those three planes we have the three aspects of [Page 666] the major three manifesting through the fourth; we have consequently the spheres of the planetary Logoi upon the plane of buddhi.

Vượt lên trên ba cõi ấy, chúng ta có ba phương diện của [Page 666] ba đấng đại biểu hiện qua đấng thứ tư; do đó chúng ta có các khối cầu của các Hành Tinh Thượng Đế trên cõi Bồ đề.

264. DK seems to be offering more hints concerning the meaning of the paragraph interpreted above.

264. Chân sư DK dường như đang đưa ra thêm những gợi ý về ý nghĩa của đoạn văn đã được giải thích ở trên.

265. These hints point to the potentially macrocosmic nature of the interpreted paragraph. DK seems to be speaking in terms of Planetary Logoi.

265. Những gợi ý này chỉ đến bản chất có thể là đại thiên địa của đoạn văn được giải thích. Chân sư DK dường như đang nói theo thuật ngữ của các Hành Tinh Thượng Đế.

266. We are perhaps presented with a picture of three major Logoi focussed on the higher three cosmic ethers and manifesting through those Planetary Logoi connected especially with the fourth cosmic ether.

266. Có lẽ chúng ta được trình bày một bức tranh về ba Thượng đế lớn tập trung trên ba dĩ thái vũ trụ cao và biểu hiện qua những Hành Tinh Thượng Đế đặc biệt liên hệ với dĩ thái vũ trụ thứ tư.

267. If we review the Chart VIII (TCF,817) and examine the etheric microcosmic structure (and then extrapolate to the possible planetary significance of this structure) we shall find ourselves contemplating a triangle of centers hovering above a fourth dimension or plane where a number of other centers are expressing. The Chart shows three hovering above four.

267. Nếu chúng ta xem lại Biểu đồ VIII (TCF,817) và khảo sát cấu trúc vi mô dĩ thái (rồi ngoại suy sang ý nghĩa hành tinh khả dĩ của cấu trúc này), chúng ta sẽ thấy mình đang chiêm ngưỡng một tam giác các trung tâm lơ lửng phía trên một chiều kích hay cõi thứ tư, nơi một số trung tâm khác đang biểu lộ. Biểu đồ cho thấy ba ở phía trên bốn.

268. What DK said earlier about Aspects and Attributes may also be referenced when we attempt to interpret the paragraph. It seems that all Attributes but one are disappearing, the fourth Attribute synthesizing the lower three. The three Aspects express through this synthesizing fourth Attribute.

268. Điều Chân sư DK đã nói trước đó về Các Cung Trạng Thái và Các Cung Thuộc Tính cũng có thể được quy chiếu đến khi chúng ta cố gắng giải thích đoạn văn này. Dường như mọi Thuộc Tính trừ một đều đang biến mất, Thuộc Tính thứ tư tổng hợp ba thuộc tính thấp. Ba Trạng Thái biểu lộ qua Thuộc Tính thứ tư có tính tổng hợp này.

269. We must remember that the buddhic plane serves as a concrete vehicle for the higher three cosmic etheric planes.

269. Chúng ta phải nhớ rằng cõi Bồ đề phục vụ như một vận cụ cụ thể cho ba cõi dĩ thái vũ trụ cao hơn.

270. In a general sense, DK may also be describing progressive relationships between the seven systemic planes and thus between seven Raja Deva Lords.

270. Theo một nghĩa tổng quát, Chân sư DK cũng có thể đang mô tả những mối liên hệ tiến triển giữa bảy cõi hệ thống và do đó giữa bảy Raja Deva Lords.

271. It seems there will come a time with the three lower systemic planes will be abstracted and the higher three will manifest through the fourth.

271. Dường như sẽ đến một thời điểm khi ba cõi hệ thống thấp được rút trừu tượng ra và ba cõi cao sẽ biểu hiện qua cõi thứ tư.

272. From another perspective, Kshiti, Varuna and lower Agni will be abstracted, withdrawn or absorbed into synthetic Indra, and the Raja Deva Lords Who correlated with Shiva, Vishnu and Brahma will manifest through synthetic Indra.

272. Từ một viễn tượng khác, Kshiti, Varuna và Agni thấp sẽ được rút ra, thu hồi hay hấp thu vào Indra tổng hợp, và các Raja Deva Lords tương ứng với Shiva, Vishnu và Brahma sẽ biểu hiện qua Indra tổng hợp.

273. In any case, we have to get used to interpreting obscure occult paragraphs (which offer us only numbers) to designate various orders of B/beings and their interrelationships. It is not easy, but with practice (and many mistakes—as I am sure exist in the interpretations above) we shall know what is really meant by the blinded communications.

273. Dù sao đi nữa, chúng ta phải làm quen với việc giải thích những đoạn huyền bí tối nghĩa (chỉ cho chúng ta các con số) để chỉ định những cấp bậc B/bản thể khác nhau và các tương liên của chúng. Điều này không dễ, nhưng với thực hành (và nhiều sai lầm — như tôi chắc chắn có trong các cách giải thích trên) chúng ta sẽ biết điều gì thực sự được hàm ý bởi những truyền đạt đã bị làm mù.

They synthesise all that has been developing through the denser manifestation.

Chúng tổng hợp tất cả những gì đã phát triển qua biểu hiện đậm đặc hơn.

274. DK continues to speak of Planetary Logoi, and, it would seem, of the three synthesizing planets.

274. Chân sư DK tiếp tục nói về các Hành Tinh Thượng Đế, và dường như là về ba hành tinh tổng hợp.

From the standpoint of the esoteric philosophy, the cosmic physical plane on which our entire solar system has its place must be studied in a dual manner:

Từ quan điểm của triết học huyền bí, cõi hồng trần vũ trụ, trên đó toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta có vị trí của nó, phải được nghiên cứu theo hai cách:

275. We remember that the solar system is only the etheric-physical body of our Solar Logos. He has other vehicles which, technically, are not part of His solar system.

275. Chúng ta nhớ rằng hệ mặt trời chỉ là thể hồng trần-dĩ thái của Thái dương Thượng đế của chúng ta. Ngài có những vận cụ khác mà, về mặt kỹ thuật, không thuộc về hệ mặt trời của Ngài.

1. From the point of view of the Heavenly Men, covering the evolutions of the four higher planes, or the etheric levels. Of these we can know practically nothing until after initiation,

1. Từ quan điểm của các Đấng Thiên Nhân, bao trùm các tiến hoá của bốn cõi cao hơn, hay các cấp dĩ thái. Về những điều này, trên thực tế chúng ta hầu như không thể biết gì cho đến sau điểm đạo,

276. Namely the third initiation.

276. Cụ thể là lần điểm đạo thứ ba.

277. An analogy stands forth. Human beings develop within the dense physical body of the Solar Logos. Heavenly Men serve and express within the etheric body of the Solar Logos and, of course, through the medium of their own etheric bodies—at least three of the four cosmic ethers.

277. Một sự tương đồng hiện ra rõ rệt. Con người phát triển trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế. Các Đấng Thiên Nhân phụng sự và biểu lộ trong thể dĩ thái của Thái dương Thượng đế và, dĩ nhiên, qua trung gian các thể dĩ thái riêng của Các Ngài — ít nhất là ba trong bốn dĩ thái vũ trụ.

at which time the consciousness of the human being is transferred gradually on to the cosmic etheric planes.

vào lúc mà tâm thức của con người được chuyển dịch dần sang các cõi dĩ thái vũ trụ.

278. We are under no illusions regarding the focus of consciousness of the majority of us; it is still within the dense physical body of the Solar Logos and not even focused within the highest level of that dense physical body.

278. Chúng ta không có ảo tưởng nào về tiêu điểm tâm thức của đa số chúng ta; nó vẫn còn ở trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và thậm chí còn chưa tập trung trong cấp độ cao nhất của thể xác đậm đặc ấy.

2. From the standpoint of the human being in the three worlds. Man is the consummating evolution in the three worlds, just as the Heavenly Men are in the higher four.

2. Từ quan điểm của con người trong ba cõi giới. Con người là tiến hoá hoàn tất trong ba cõi giới, cũng như Đấng Thiên Nhân là như vậy trong bốn cõi cao hơn.

279. This is an excellent comparison. However, the analogy must be closely studied. Whereas man can undertake his evolution up to the third initiation within the dense physical body of the Solar Logos, the Heavenly Man cannot undertake His evolution up to the third initiation or even the second if His consciousness remains focussed only within the cosmic ethers.

279. Đây là một sự so sánh rất hay. Tuy nhiên, sự tương đồng này phải được nghiên cứu kỹ. Trong khi con người có thể đảm nhận tiến hoá của mình cho đến lần điểm đạo thứ ba trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, thì Đấng Thiên Nhân không thể đảm nhận tiến hoá của Ngài cho đến lần điểm đạo thứ ba hay thậm chí lần thứ hai nếu tâm thức của Ngài chỉ còn tập trung trong các dĩ thái vũ trụ.

In the three worlds, we have the parallel evolutions—deva and human in their many varying grades—the human naturally concerning us the most intimately, though the two evolve through interaction with each other.

Trong ba cõi giới, chúng ta có những tiến hoá song hành — thiên thần và nhân loại trong nhiều cấp bậc khác nhau của họ — dĩ nhiên nhân loại liên hệ với chúng ta mật thiết nhất, mặc dù cả hai tiến hoá qua sự tương tác với nhau.

280. It has been said by Alexander Pope that “the proper study of mankind is man”. As interested as we may be in the deva kingdom (and as students of occultism, we must be interested), we must realize that because we are human beings the study of the human kingdom concerns us most intimately. Of course, that study necessarily involves the study of certain particular devas.

280. Alexander Pope đã nói rằng “đối tượng nghiên cứu thích đáng của nhân loại là con người”. Dù chúng ta có thể quan tâm đến giới thiên thần đến đâu (và với tư cách đạo sinh huyền bí học, chúng ta phải quan tâm), chúng ta phải nhận ra rằng vì chúng ta là con người nên việc nghiên cứu giới nhân loại liên hệ với chúng ta mật thiết nhất. Dĩ nhiên, việc nghiên cứu ấy tất yếu bao hàm việc nghiên cứu một số thiên thần đặc thù.

281. We understand the neither man nor deva can evolve without interaction with the other. Though these two kingdoms are parallel, they are, mutually dependent.

281. Chúng ta hiểu rằng cả con người lẫn thiên thần đều không thể tiến hoá nếu không có sự tương tác với bên kia. Dù hai giới này là song hành, chúng vẫn phụ thuộc lẫn nhau.

In the higher four worlds, we have this duality viewed as a unity, and the aspect of the synthetic evolution of the Heavenly Men is the one considered.

Trong bốn cõi cao hơn, chúng ta thấy nhị nguyên tính này được nhìn như một hợp nhất, và phương diện của tiến hoá tổng hợp của các Đấng Thiên Nhân là điều được xem xét.

282. The duality meant is the duality formed by the relationship of humans and devas.

282. Nhị nguyên tính được nói đến là nhị nguyên tính được hình thành bởi mối liên hệ giữa con người và thiên thần.

283. There are number of quotations which tell us that on the higher planes (the buddhic plane and the monadic plane) the two kingdoms approximate each other, begin to blend and finally merge.

283. Có nhiều trích dẫn cho chúng ta biết rằng trên các cõi cao (cõi Bồ đề và cõi chân thần), hai giới này xích lại gần nhau, bắt đầu hòa trộn và cuối cùng hợp nhất.

284. The higher planes (the cosmic ethers) are planes of synthesis. They concern the life of the Planetary Logos and on those planes the ancient enmity between man and deva is dissolved and one phase of the “battle of the sexes” is resolved.

284. Các cõi cao (các dĩ thái vũ trụ) là những cõi tổng hợp. Chúng liên hệ đến sự sống của Đức Hành Tinh Thượng Đế và trên những cõi ấy, mối thù nghịch cổ xưa giữa con người và thiên thần được giải tan, và một phương diện của “cuộc chiến giữa hai giới tính” được giải quyết.

It would interest us much could we but understand a little of the point of view of those great devas Who co-operate intelligently in the plan of evolution.

Điều đó sẽ khiến chúng ta rất quan tâm nếu chúng ta có thể hiểu được đôi chút quan điểm của những thiên thần vĩ đại đang cộng tác một cách thông tuệ trong kế hoạch tiến hoá.

285. Here we are speaking of the Raja Deva Lords of the systemic planes.

285. Ở đây chúng ta đang nói về các Raja Deva Lords của các cõi hệ thống.

They have Their own method of expressing these ideas, the medium being colour which can be heard, and sound which can be seen. Man reverses the process and sees colors and hears sounds.

Các Ngài có phương pháp riêng để biểu đạt những ý tưởng này, với môi giới là màu sắc có thể được nghe thấy, và âm thanh có thể được nhìn thấy. Con người đảo ngược tiến trình ấy và thấy màu sắc, nghe âm thanh.

286. DK is suggesting that the abstruse matters He is discussing are also expressed by the highly evolved devas although in a manner quite the opposite of the manner used by humanity.

286. Chân sư DK đang gợi ý rằng những vấn đề thâm áo mà Ngài đang bàn đến cũng được các thiên thần tiến hoá cao biểu đạt, tuy theo một cách hoàn toàn đối nghịch với cách mà nhân loại sử dụng.

287. These high devas also need to impart what they know. They too have accessed ideas which they need to convey to those they instruct.

287. Những thiên thần cao này cũng cần truyền đạt điều họ biết. Họ cũng đã tiếp cận những ý tưởng mà họ cần chuyển đạt cho những người họ huấn luyện.

288. There are some human beings equipped with special abilities which resemble what DK is here discussing: they can see sound and hear color. The experience has been called “synthesia”.

288. Có một số con người được trang bị những khả năng đặc biệt tương tự điều Chân sư DK đang bàn ở đây: họ có thể thấy âm thanh và nghe màu sắc. Kinh nghiệm này được gọi là “synthesia”.

289. Color and sound are distinguished by different vibratory frequencies. According to human knowledge, color is the result of frequencies far higher than those heard as sound, but we cannot take man’s very relative point of view and think that it expresses the complete truth. It is reasonable to think that there are colors expressing at very low frequencies and sounds, at very high.

289. Màu sắc và âm thanh được phân biệt bởi những tần số rung động khác nhau. Theo tri thức của con người, màu sắc là kết quả của những tần số cao hơn rất nhiều so với những gì được nghe như âm thanh, nhưng chúng ta không thể lấy quan điểm rất tương đối của con người mà nghĩ rằng nó biểu đạt toàn bộ chân lý. Thật hợp lý khi nghĩ rằng có những màu sắc biểu lộ ở tần số rất thấp và những âm thanh ở tần số rất cao.

290. Perhaps a simple approach would be to think that that which the human being experiences as color, the deva experiences as sound, and that which the human being experiences a sound, the deva experiences as color.

290. Có lẽ một cách tiếp cận đơn giản là nghĩ rằng điều con người kinh nghiệm như màu sắc thì thiên thần kinh nghiệm như âm thanh, và điều con người kinh nghiệm như âm thanh thì thiên thần kinh nghiệm như màu sắc.

291. Subjectively (as representations in consciousness) sound is sound and color is color. We are given to understand that sound and color are experienced by both human beings and devas. But the same range of frequencies (we are led to believe) will produce contrasting subjective effects in man and deva—color in one, sound in the other.

291. Về mặt chủ quan (như những biểu tượng trong tâm thức), âm thanh là âm thanh và màu sắc là màu sắc. Chúng ta được cho hiểu rằng cả âm thanh lẫn màu sắc đều được kinh nghiệm bởi cả con người lẫn thiên thần. Nhưng cùng một dải tần số (như chúng ta được dẫn đến để tin) sẽ tạo ra những hiệu quả chủ quan tương phản nơi con người và thiên thần — màu sắc ở bên này, âm thanh ở bên kia.

A hint lies here as to the necessity for symbols, for they are signs which convey cosmic truths, and instruction, and can be comprehended alike by the evolved of both evolutions.

Ở đây có một gợi ý về sự cần thiết của các biểu tượng, vì chúng là những dấu hiệu chuyển tải các chân lý vũ trụ, sự huấn thị, và có thể được những thực thể tiến hoá của cả hai tiến hoá thấu hiểu như nhau.

292. Those systems of spiritual education which employ symbols extensively in the instruction they offer, have the possibility of communicating more readily with the deva kingdom. One thinks of Masonry in this regard.

292. Những hệ thống giáo dục tinh thần sử dụng biểu tượng một cách rộng rãi trong sự huấn luyện mà chúng cung cấp có khả năng giao tiếp dễ dàng hơn với giới thiên thần. Người ta nghĩ đến Hội Tam Điểm về phương diện này.

293. The members of the deva kingdom (the higher ones) communicate in symbol. We can wonder about the crop circle phenomenon. Something intelligent (even wise), so it appears, is definitely being communicated and the medium of communication is symbol. Are great devas behind this form of communication—a communication ostensibly intended to reach the understanding of man.

293. Các thành viên của giới thiên thần (những vị cao hơn) giao tiếp bằng biểu tượng. Chúng ta có thể tự hỏi về hiện tượng vòng tròn trên đồng ruộng. Một điều gì đó có trí tuệ (thậm chí minh triết), dường như vậy, chắc chắn đang được truyền đạt và môi giới truyền đạt là biểu tượng. Có phải những thiên thần vĩ đại đứng sau hình thức truyền đạt này — một sự truyền đạt bề ngoài nhằm đạt đến sự thấu hiểu của con người chăng.

294. It is constantly to be borne in mind that in the Aquarius there will be an increasing necessity for conscious communication to occur between the human and deva kingdoms. What is here said about the fact that the evolved in both groups can comprehend the meaning of symbols is a most important hint concerning how this future communication may proceed.

294. Cần luôn ghi nhớ rằng trong Bảo Bình sẽ ngày càng có nhu cầu để sự giao tiếp có ý thức diễn ra giữa giới nhân loại và giới thiên thần. Điều được nói ở đây về sự kiện rằng những thực thể tiến hoá trong cả hai nhóm đều có thể thấu hiểu ý nghĩa của các biểu tượng là một gợi ý rất quan trọng về cách sự giao tiếp tương lai này có thể tiến hành.

It should be borne in mind, as earlier pointed out, that:

Cần ghi nhớ, như đã được chỉ ra trước đây, rằng:

295. We are reviewing in summary that which has been presented.

295. Chúng ta đang điểm lại một cách tóm tắt điều đã được trình bày.

[Page 667]

[Page 667]

a. Man is demonstrating the aspects of divinity. The devas are demonstrating the attributes of divinity.

a. Con người đang biểu lộ các phương diện của thiên tính. Các thiên thần đang biểu lộ các thuộc tính của thiên tính.

296. The relationship is of the three to the four. Man is the triangle and the devas the quaternary.

296. Mối liên hệ là của ba với bốn. Con người là tam giác và các thiên thần là bộ bốn.

297. Might we also say that man is the pyramid and the devas the tetrahedron? This involves a different number for man.

297. Chúng ta cũng có thể nói rằng con người là kim tự tháp và các thiên thần là tứ diện chăng? Điều này bao hàm một con số khác cho con người.

b. Man is evolving the inner vision and must learn to see.

b. Con người đang tiến hoá linh thị bên trong và phải học cách thấy.

298. Man is evolving the eye of synthetic comprehension. It is the eye which allows man to abstract himself from identification with the part and enter into identification as the Whole.

298. Con người đang tiến hoá con mắt của sự thấu hiểu tổng hợp. Chính con mắt này cho phép con người rút mình ra khỏi sự đồng hoá với bộ phận và đi vào sự đồng hoá như Toàn Thể.

The devas are evolving the inner hearing and must learn to hear.

Các thiên thần đang tiến hoá thính giác bên trong và phải học cách nghe.

299. The devas are evolving the ‘ear of obedience’. They hear and they obey the dictates of their superiors. They are auditorily responsive to the will.

299. Các thiên thần đang tiến hoá “tai của sự tuân phục”. Họ nghe và tuân theo những mệnh lệnh của các đấng bề trên. Họ đáp ứng bằng thính giác đối với ý chí.

c. Both are as yet imperfect, and an imperfect world is the result.

c. Cả hai hiện vẫn chưa hoàn hảo, và kết quả là một thế giới bất toàn.

300. In philosophy the question is often asked: “Is God imperfect?” Depending upon the definition of “God”, occultism says “Yes”. This does not deny the ABSOLUTE PERFECTION of the ABSOLUTE DEITY.

300. Trong triết học, câu hỏi thường được đặt ra: “Thượng đế có bất toàn không?” Tùy theo định nghĩa về “Thượng đế”, huyền bí học trả lời “Có”. Điều này không phủ nhận SỰ TOÀN HẢO TUYỆT ĐỐI của THƯỢNG ĐẾ TUYỆT ĐỐI.

301. We can see that as the adjustment between man and deva is harmonized and beautified, a far more perfect world will result.

301. Chúng ta có thể thấy rằng khi sự điều chỉnh giữa con người và thiên thần được hài hòa và làm cho đẹp đẽ, một thế giới hoàn hảo hơn rất nhiều sẽ là kết quả.

d. Man is evolving by means of contact and experience. He expands.

d. Con người tiến hoá bằng phương tiện tiếp xúc và kinh nghiệm. Y mở rộng.

302. This is a Jupiterian dynamic and Uranian to a degree. There is the expansion of the ring-pass-not (Jupiter) and its final breaking (Uranus).

302. Đây là một động lực của Sao Mộc và ở một mức độ nào đó của Sao Thiên Vương. Có sự mở rộng của vòng-giới-hạn (Sao Mộc) và sự phá vỡ cuối cùng của nó (Sao Thiên Vương).

The devas evolve by means of the lessening of contact. Limitation is the law for them.

Các thiên thần tiến hoá bằng phương tiện làm giảm bớt tiếp xúc. Giới hạn là định luật đối với họ.

303. This is a Saturnian dynamic and Vulcanian to a degree. We can think of how a nebula becomes a solar system.

303. Đây là một động lực của Sao Thổ và ở một mức độ nào đó của Vulcan. Chúng ta có thể nghĩ đến cách một tinh vân trở thành một hệ mặt trời.

304. We see that the devas are ruled by a dominating third ray and man by the second ray.

304. Chúng ta thấy rằng các thiên thần được cai quản bởi một cung ba chi phối, còn con người bởi cung hai.

305. Yet, from another perspective, the devas are a feminine kingdom (ruled by the acquiescent second ray) and man is a masculine kingdom (ruled by the dominating first ray)

305. Tuy nhiên, từ một viễn tượng khác, các thiên thần là một giới nữ tính (được cai quản bởi cung hai thuận phục) còn con người là một giới nam tính (được cai quản bởi cung một chi phối)

306. Once earlier in these commentaries (place yet to be discovered) I offered a tabulation suggesting the ray natures of men and devas.

306. Trước đây một lần trong những phần bình luận này (chỗ ấy còn phải tìm lại), tôi đã đưa ra một bảng gợi ý về bản chất cung của con người và thiên thần.

Rays

Men

Devas

Ray 1

Ray 1

Ray 2

Ray 2

Ray 2

Ray 3

Ray 3

307. What is evident from this little tabulation is that men and devas share the second ray in common. No wonder their most successful communication begins on the buddhic plane and is consummated on the monadic plane.

307. Điều hiển nhiên từ bảng nhỏ này là con người và thiên thần cùng chia sẻ cung hai. Không lạ gì sự giao tiếp thành công nhất của họ bắt đầu trên cõi Bồ đề và được hoàn tất trên cõi chân thần.

308. Ray Two is the Ray of the Divine Pattern, hence the possibility of communication through symbols which are meaningful patterns.

308. Cung Hai là Cung của Mô Hình Thiêng Liêng, do đó có khả năng giao tiếp qua các biểu tượng là những mô hình đầy ý nghĩa.

e. Man aims at self-control.

e. Con người nhắm đến sự tự kiểm soát.

309. The human being, whether male or female in a particular incarnation, must become (at length) self-determining.

309. Con người, dù là nam hay nữ trong một lần lâm phàm cụ thể, cuối cùng phải trở nên tự quyết định.

Devas must develop by being controlled.

Các thiên thần phải phát triển bằng cách được kiểm soát.

310. Devas are acquiescent and suppliant. They cannot help but obey. It is for man to help the devas which he can influence to align which the best sources to obey.

310. Các thiên thần thuận phục và cầu khẩn. Họ không thể không tuân theo. Bổn phận của con người là giúp những thiên thần mà y có thể ảnh hưởng chỉnh hợp với những nguồn tốt nhất để tuân theo.

f. Man is innately Love,—the Force which produces coherency. The devas are innately intelligence,—the force which produces activity.

f. Con người bẩm sinh là Tình thương,—Mãnh lực tạo ra sự cố kết. Các thiên thần bẩm sinh là trí tuệ,—mãnh lực tạo ra hoạt động.

311. This dichotomy relates to the tabulation. While man is “innately love”, he may be essentially will. while the devas may be “innately intelligence”, they may be essentially love.

311. Sự phân đôi này liên hệ đến bảng trên. Trong khi con người “bẩm sinh là tình thương”, y có thể cốt yếu là ý chí. Trong khi các thiên thần có thể “bẩm sinh là trí tuệ”, họ có thể cốt yếu là tình thương.

312. That which is “innate” is found deep within the nature, but the essence is nuclear.

312. Điều gì là “bẩm sinh” thì được tìm thấy sâu trong bản chất, nhưng tinh túy thì có tính hạt nhân.

313. We cannot forget that man evolves through destruction of ring-pass-nots and devas through holding them coherent, upholding limitation.

313. Chúng ta không thể quên rằng con người tiến hoá bằng cách phá vỡ các vòng-giới-hạn còn các thiên thần thì bằng cách giữ cho chúng cố kết, duy trì giới hạn.

f. The third type of force, that of Will, the balancing equilibrium of electrical phenomena, has to play equally upon and through both evolutions, but in the one it demonstrates as self-consciousness, and in the other as constructive vibration.

f. Loại mãnh lực thứ ba, tức mãnh lực của Ý chí, sự quân bình cân bằng của các hiện tượng điện, phải tác động như nhau lên và xuyên qua cả hai tiến hoá, nhưng trong một bên nó biểu lộ như ngã thức, và trong bên kia như rung động kiến tạo.

314. This is an amazing statement. Usually the force of love is considered to be the equilibrizing, balancing force. Perhaps determination of the equilibrizing force depend much upon which two factors (of three) in a triangle are being related. The one which is not related may become the equilibrizer.

314. Đây là một phát biểu đáng kinh ngạc. Thông thường mãnh lực của tình thương được xem là mãnh lực quân bình, cân bằng. Có lẽ việc xác định mãnh lực quân bình phụ thuộc nhiều vào việc hai yếu tố nào (trong ba yếu tố) của một tam giác đang được liên hệ. Yếu tố không được liên hệ có thể trở thành yếu tố quân bình.