← Commentary_S6_574_679_song ngữ

TCF 668 - 679: S6S8

Trích nội dung chương

315. DK has often hinted at a third type of electrical phenomenon, but in those cases it was a type which would neutralize or harmonize the interplay between positive (electric fire) and negative (fire by friction). 315. Chân sư DK thường đã ám chỉ đến một loại hiện tượng điện thứ ba, nhưng trong những trường hợp ấy, đó là một loại có thể trung hòa hoặc điều hòa sự tương tác giữa dương cực (Lửa Điện) và âm cực (Lửa ma sát).


315. DK has often hinted at a third type of electrical phenomenon, but in those cases it was a type which would neutralize or harmonize the interplay between positive (electric fire) and negative (fire by friction).

315. Chân sư DK thường đã ám chỉ đến một loại hiện tượng điện thứ ba, nhưng trong những trường hợp ấy, đó là một loại có thể trung hòa hoặc điều hòa sự tương tác giữa dương cực (Lửa Điện) và âm cực (Lửa ma sát).

316. The first ray potentials of the energy of Libra are suggested. It is the sign of equilibrization and there is much first ray pouring through it via Saturn.

316. Các tiềm năng cung một của năng lượng Thiên Bình được gợi ra. Đây là dấu hiệu của sự quân bình hóa, và có nhiều cung một tuôn đổ qua nó thông qua Sao Thổ.

317. We may gather that the devas outstrip man in their capacity for “constructive vibration” and human beings outstrip the devas in their capacity for “self-consciousness”. This does not mean that men are devoid of constructive vibration or that devas are devoid of self-consciousness. Perhaps they each learn from the other.

317. Chúng ta có thể suy ra rằng các thiên thần vượt con người về năng lực “rung động kiến tạo”, còn con người vượt các thiên thần về năng lực “ngã thức”. Điều này không có nghĩa là con người thiếu rung động kiến tạo hay các thiên thần thiếu ngã thức. Có lẽ mỗi bên đều học hỏi từ bên kia.

318. Because the will aspect emerges last, we may gather that both self-consciousness and constructive vibration are consummated relatively late in the developmental process.

318. Bởi vì phương diện ý chí xuất hiện sau cùng, chúng ta có thể suy ra rằng cả ngã thức lẫn rung động kiến tạo đều được hoàn tất ở giai đoạn tương đối muộn trong tiến trình phát triển.

319. Later in the commentary DK speaks again of the equilibrizing form of electricity, but relates it to the second aspect rather than the first. This type of relation is a better fit with the Law of Correspondences.

319. Về sau trong phần bình luận, Chân sư DK lại nói đến hình thức điện quân bình hóa, nhưng liên hệ nó với phương diện thứ hai thay vì phương diện thứ nhất. Loại tương quan này phù hợp hơn với định luật tương ứng.

In the Heavenly Man these two great aspects of divinity are equally blended, and in the course of the mahamanvantara the imperfect Gods become perfect.

Trong Đấng Thiên Nhân, hai phương diện lớn lao này của thiên tính được hòa trộn đồng đều, và trong tiến trình của Đại giai kỳ sinh hóa, các vị Thượng đế bất toàn trở nên hoàn hảo.

320. DK seems to be calling men and devas “two great aspects of divinity”. We cannot know exactly what He means by “equally blended”. In different great Beings there are different proportions of human to deva Monads. (In our present solar system there are 140 billion deva Monads and 60 human Monads.)

320. Chân sư DK dường như đang gọi con người và các thiên thần là “hai phương diện lớn lao của thiên tính”. Chúng ta không thể biết chính xác Ngài muốn nói gì qua cụm từ “được hòa trộn đồng đều”. Trong những Đấng vĩ đại khác nhau có những tỉ lệ khác nhau giữa các Chân thần người và các Chân thần thiên thần. (Trong hệ mặt trời hiện nay của chúng ta có 140 tỉ Chân thần thiên thần và 60 Chân thần người.)

321. In any case, the imperfect human beings and the imperfect devas at length become perfect as the Heavenly Man evolves and as the Solar Logos also evolves through the long course of the mahamanvantara.

321. Dù sao đi nữa, những con người bất toàn và những thiên thần bất toàn cuối cùng đều trở nên hoàn hảo khi Đấng Thiên Nhân tiến hoá và khi Thái dương Thượng đế cũng tiến hoá qua tiến trình dài lâu của Đại giai kỳ sinh hóa.

322. Usually when the words “aspects of divinity” are used, the first, second and third aspects are indicated. In the foregoing discussing the second and third aspects were discussed in relation to man and the devas respectively. These two aspects are not yet, however, “equally blended”, though in the life of expression of our particular Heavenly Man, the blending of the second and third aspects is a focal undertaking necessary for His fourth minor initiation.

322. Thông thường, khi các từ “các phương diện của thiên tính” được dùng, thì phương diện thứ nhất, thứ hai và thứ ba được chỉ định. Trong phần bàn luận trước đó, phương diện thứ hai và thứ ba đã được bàn đến trong liên hệ với con người và các thiên thần theo thứ tự ấy. Tuy nhiên, hai phương diện này vẫn chưa được “hòa trộn đồng đều”, mặc dù trong đời sống biểu lộ của Đấng Thiên Nhân đặc thù của chúng ta, sự hòa trộn của phương diện thứ hai và thứ ba là một công cuộc trọng điểm cần thiết cho lần điểm đạo phụ thứ tư của Ngài.

323. The fourth initiation involves the buddhic plane and upon the buddhic plane, men and devas harmonize and begin to merge.

323. Lần điểm đạo thứ tư liên quan đến cõi Bồ đề, và trên cõi Bồ đề, những người nam và nữ cùng các thiên thần hòa hợp và bắt đầu dung nhập.

These broad and general distinctions are pointed out as they throw light upon the relationship of Man to the devas.

Những phân biệt rộng lớn và tổng quát này được nêu ra vì chúng soi sáng mối liên hệ của Con Người với các thiên thần.

324. The forgoing series of contrasts between the human and deva kingdoms is of great synthetic value and should be studied closely as it presents the contrasts with great clarity.

324. Chuỗi đối chiếu vừa qua giữa giới nhân loại và giới thiên thần có giá trị tổng hợp rất lớn và cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, vì nó trình bày các tương phản với sự minh bạch lớn lao.

TCF 668 - 679: S6S8

8 - 23 January 2008

8 - 23 January 2008

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Các chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph.

Xin đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn.

The devas of the physical plane, though divided into the three groups A, B, C, are under another grouping spoken of as “the Devas of the Seventh Order.”

Các thiên thần của cõi hồng trần, tuy được chia thành ba nhóm A, B, C, còn thuộc về một cách phân nhóm khác được gọi là “các Thiên thần của Đẳng cấp Thứ Bảy.”

1. This division should be familiar to us. There devas are divided according to subplanes—the devas of Group A are the substance-directing agencies of the first subplane; those of Group Body are focussed on the second, third and fourth subplanes; those of Group C upon the fifth, sixth and seventh subplanes—the dense subplanes.

1. Sự phân chia này hẳn phải quen thuộc với chúng ta. Ở đây các thiên thần được phân chia theo các cõi phụ—các thiên thần của Nhóm A là những tác nhân điều hướng chất liệu của cõi phụ thứ nhất; những vị của Nhóm B tập trung trên các cõi phụ thứ hai, thứ ba và thứ tư; những vị của Nhóm C trên các cõi phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy—các cõi phụ đậm đặc.

The seventh order is peculiarly linked to the devas of the first order on the first plane.

Đẳng cấp thứ bảy có liên hệ đặc biệt với các thiên thần của đẳng cấp thứ nhất trên cõi thứ nhất.

2. This is numerologically fitting.

2. Điều này phù hợp về mặt số học huyền bí.

3. We are speaking of systemic planes and not of systemic subplanes.

3. Chúng ta đang nói về các cõi của hệ thống chứ không phải các cõi phụ của hệ thống.

4. Devas of the seventh order are Agnichaitans. Devas of the first order (who work in relation to the logoic subplane) are linked to the Agnichaitans of the seventh order. In a way, all devas on the cosmic physical plane are Agnichaitans cosmically considered.

4. Các thiên thần của đẳng cấp thứ bảy là các Agnichaitan. Các thiên thần của đẳng cấp thứ nhất (những vị hoạt động trong liên hệ với cõi phụ logoic) được liên kết với các Agnichaitan của đẳng cấp thứ bảy. Theo một cách nào đó, tất cả các thiên thần trên cõi hồng trần vũ trụ đều là Agnichaitan nếu được xét theo quan điểm vũ trụ.

5. The Agnichaitans are particularly linked with Vulcan and so is the logoic subplane of the cosmic physical plane.

5. Các Agnichaitan đặc biệt liên kết với Vulcan, và cõi phụ logoic của cõi hồng trần vũ trụ cũng vậy.

They are the reflectors of the mind of God of which the first order is the expression, and manifest it as it has worked through from the [Page 668] archetypal plane.

Họ là những phản chiếu thể của Trí của Thượng đế mà đẳng cấp thứ nhất là sự biểu lộ, và biểu hiện nó như nó đã vận hành qua từ [Page 668] cõi nguyên mẫu.

6. Devas of the Seventh Order are “reflectors” of the Mind of God. A reflection is more passive than an expression, which can be considered dynamic. The devas of the first order on the logoic plane are the “expression” of the Mind of God.

6. Các thiên thần của Đẳng cấp Thứ Bảy là những “phản chiếu thể” của Trí của Thượng đế. Một sự phản chiếu thụ động hơn một sự biểu lộ, vốn có thể được xem là năng động. Các thiên thần của đẳng cấp thứ nhất trên cõi logoic là “sự biểu lộ” của Trí của Thượng đế.

7. From this perspective, we are to relate the Leo Creative Hierarchy with the Mind of God. Leo does have a relation to the cosmic mental plane from whence the Mind of God, (considering God as the Solar Logos) can be said to emanate.

7. Từ góc nhìn này, chúng ta phải liên hệ Huyền Giai Sáng Tạo Sư Tử với Trí của Thượng đế. Sư Tử quả có một liên hệ với cõi trí vũ trụ, từ đó Trí của Thượng đế, (nếu xem Thượng đế là Thái dương Thượng đế) có thể được nói là phát xạ ra.

8. It has often been debated: which plane is the “archetypal plane”? There are several answers, but in this instance, we find that the first or logoic plane is called the “archetypal plane”.

8. Người ta thường tranh luận: cõi nào là “cõi nguyên mẫu”? Có một số câu trả lời, nhưng trong trường hợp này, chúng ta thấy rằng cõi thứ nhất hay cõi logoic được gọi là “cõi nguyên mẫu”.

Upon the mental plane they are sounded by the Lord of the fifth Ray, causing a vibration not only in what we might call “the lower levels” but producing response on the first or archetypal plane and on the cosmic mental plane likewise. (TCF 449-450)

Trên cõi trí, chúng được xướng lên bởi Đấng Chúa Tể Cung năm, gây ra một rung động không chỉ trong điều mà chúng ta có thể gọi là “các cấp độ thấp hơn” mà còn tạo ra sự đáp ứng trên cõi thứ nhất hay cõi nguyên mẫu và đồng thời trên cõi trí vũ trụ. (TCF 449-450)

9. Surely the energy patterns found therein are archetypal in relation to the remainder of the cosmic physical plane—i.e., its lower subplanes.

9. Chắc chắn các mô hình năng lượng được tìm thấy ở đó là nguyên mẫu trong liên hệ với phần còn lại của cõi hồng trần vũ trụ—tức là các cõi phụ thấp hơn của nó.

10. The following is what is said of Shamballa, the heights of which can be reasonably ‘located’ on the systemic logoic plane.

10. Sau đây là điều được nói về Shamballa, mà các đỉnh cao của nó có thể được “định vị” một cách hợp lý trên cõi logoic của hệ thống.

It is a world of pure energy, of light and of directed force; it can be seen as streams and centres of force, all forming a pattern of consummate beauty, all potently invocative of the world of the soul and of the world of phenomena; it therefore constitutes in a very real sense the world of causes and of initiation. (DINA II 293)

Đó là một thế giới của năng lượng thuần túy, của ánh sáng và của mãnh lực được định hướng; nó có thể được thấy như những dòng và những trung tâm mãnh lực, tất cả cùng tạo thành một mô hình của vẻ đẹp viên mãn, tất cả đều có năng lực khẩn cầu mạnh mẽ đối với thế giới của linh hồn và thế giới hiện tượng; vì vậy, theo một ý nghĩa rất thực, nó cấu thành thế giới của các nguyên nhân và của điểm đạo. (DINA II 293)

This seventh order of devas is directly under the influence of the seventh Ray, and the planetary Logos of that Ray works in close co-operation with the Raja-Lord of the seventh plane.

Đẳng cấp thiên thần thứ bảy này trực tiếp dưới ảnh hưởng của cung bảy, và Hành Tinh Thượng Đế của cung ấy hoạt động trong sự hợp tác chặt chẽ với Raja-Lord của cõi thứ bảy.

11. We have a numerological relationship or concatenation: the seventh order of devas, the “seventh Ray”, the Planetary Logos of the “seventh Ray” and the Raja Deva Lord who expresses the “seventh Ray”.

11. Chúng ta có một mối liên hệ hay chuỗi nối kết về mặt số học huyền bí: đẳng cấp thiên thần thứ bảy, “cung bảy”, Hành Tinh Thượng Đế của “cung bảy” và Raja Deva Lord biểu lộ “cung bảy”.

12. We have discussed which of the Planetary Logoi can be considered the Logos of the seventh ray. Obviously Uranus is a prime candidate even though (so it is hypothesized) the seventh ray (for this great Planetary Logos) expresses on the soul level and not on the monadic level.

12. Chúng ta đã bàn đến việc Hành Tinh Thượng Đế nào có thể được xem là Thượng đế của cung bảy. Hiển nhiên Sao Thiên Vương là một ứng viên hàng đầu mặc dù (theo giả thuyết như vậy) cung bảy (đối với Hành Tinh Thượng Đế vĩ đại này) biểu lộ ở cấp độ linh hồn chứ không phải ở cấp độ chân thần.

13. There are no other planets which, according to what DK has given thus far, express the seventh ray. Saturn probably does on some level of its being and Vulcan as well. Jupiter certainly does, but we gather this from inference since Jupiter is the ‘Lord of Ritualistic Worship’.

13. Không có hành tinh nào khác mà, theo những gì Chân sư DK đã đưa ra cho đến nay, biểu lộ cung bảy. Có lẽ Sao Thổ biểu lộ nó ở một cấp độ nào đó của sự tồn tại của nó, và Vulcan cũng vậy. Chắc chắn Sao Mộc cũng biểu lộ, nhưng chúng ta suy ra điều này bằng suy luận vì Sao Mộc là ‘Chúa Tể của Sự Thờ Phượng Nghi Lễ’.

14. We may reasonably assume that the seventh order of devas and the Raja Deva Lord Kshiti, have a close relationships with the planet Uranus. Just as Lord Varuna is an emanation of Neptune, could Lord Kshiti be an emanation of Uranus?

14. Chúng ta có thể giả định một cách hợp lý rằng đẳng cấp thiên thần thứ bảy và Raja Deva Lord Kshiti có mối liên hệ chặt chẽ với hành tinh Sao Thiên Vương. Cũng như Lord Varuna là một phát xạ của Sao Hải Vương, liệu Lord Kshiti có thể là một phát xạ của Sao Thiên Vương chăng?

15. We may also assume that the first order of devas on the logoic plane equally have a close relationship to Uranus (Whose monadic ray is reasonably the first). (cf. EP I 420)

15. Chúng ta cũng có thể giả định rằng các thiên thần của đẳng cấp thứ nhất trên cõi logoic cũng có một mối liên hệ chặt chẽ với Sao Thiên Vương (Đấng mà cung chân thần có thể hợp lý là cung một). (x. EP I 420)

As the goal of evolution for the devas is the inner hearing, it will be apparent why mantric sounds and balanced modulations are the method of contacting them, and of producing varying phenomena.

Vì mục tiêu của tiến hoá đối với các thiên thần là nội nhĩ, nên sẽ hiển nhiên vì sao các âm thanh mantram và các sự điều biến cân bằng là phương pháp để tiếp xúc với họ, và để tạo ra các hiện tượng khác nhau.

16. Hearing is the first sense to appear and is related to the seventh plane (and also to the fifth plane).

16. Thính giác là giác quan đầu tiên xuất hiện và có liên hệ với cõi thứ bảy (và cũng với cõi thứ năm).

17. Hearing is associated with the throat center which, at man’s disciplic stage of evolution is ruled by the seventh ray (and, thus, probably under the influence of magical Uranus).

17. Thính giác gắn liền với trung tâm cổ họng, trung tâm mà ở giai đoạn đệ tử trong tiến hoá của con người được cai quản bởi cung bảy (và do đó, có lẽ dưới ảnh hưởng của Sao Thiên Vương huyền thuật).

18. The words “balanced modulations” are suggestive. From pondering them we may infer that it is not only the forms of sound intoned which are of importance, but the manner in which they are intoned—their volume and quality relative to each other.

18. Các từ “các sự điều biến cân bằng” rất gợi ý. Khi suy ngẫm về chúng, chúng ta có thể suy ra rằng không chỉ các hình thức âm thanh được xướng lên là quan trọng, mà cả cách thức chúng được xướng lên—âm lượng và phẩm tính của chúng trong tương quan với nhau.

19. The purposes of mantra are control and creation. There is no control unless there is a balanced application of energy. The words and sounds intoned have to be kept in correct proportion with each other otherwise the mantram will not keep its integrity.

19. Mục đích của mantra là kiểm soát và sáng tạo. Không có sự kiểm soát nào nếu không có sự vận dụng năng lượng một cách cân bằng. Các từ và âm thanh được xướng lên phải được giữ trong tỉ lệ đúng đắn với nhau, nếu không mantram sẽ không giữ được tính toàn vẹn của nó.

20. Modulation in music is a method by which the musician can more from one key to another during the course of a piece, or even during the playing of a melody. It is possible that it is necessary to move from key to key, from tonic to tonic (musically considered) when attempting to work with the certain devas for certain effects. Different devas have different key-notes. The tonic in the normal diatonic musical scale serves as the keynote.

20. Điều biến trong âm nhạc là một phương pháp nhờ đó nhạc sĩ có thể chuyển từ một giọng sang một giọng khác trong tiến trình của một tác phẩm, hay thậm chí trong khi trình tấu một giai điệu. Có thể cần phải chuyển từ giọng này sang giọng khác, từ âm chủ này sang âm chủ khác (xét về mặt âm nhạc) khi cố gắng làm việc với một số thiên thần nhất định để tạo ra những hiệu quả nhất định. Những thiên thần khác nhau có những chủ âm khác nhau. Âm chủ trong thang âm nhạc trưởng thứ bậc thông thường đóng vai trò là chủ âm.

21. For the modern human mind, the science of mantra is still in its infancy as is the science which reveals the occultism hidden in music.

21. Đối với trí tuệ con người hiện đại, khoa học về mantra vẫn còn ở thời kỳ sơ khai, cũng như khoa học tiết lộ huyền bí học ẩn giấu trong âm nhạc.

This seventh order of devas is the one with which the workers on the left hand path are concerned, working through vampirism and the devitalisation of their victims.

Đẳng cấp thiên thần thứ bảy này là đẳng cấp mà những người hoạt động trên tả đạo quan tâm đến, hoạt động thông qua sự hút sinh lực và sự làm mất sinh lực nơi các nạn nhân của họ.

22. It is fascinating that certain parts of the world most associated with the seventh ray are also associated with vampirism.

22. Thật lý thú khi một số vùng trên thế giới gắn liền nhất với cung bảy cũng đồng thời gắn liền với hiện tượng hút sinh lực.

23. If we think of Transylvania (as part of Hungary) it is associated not only with the seventh ray Master R. but with the so-called Count Dracula—the symbol in the modern mind for vampirism.

23. Nếu chúng ta nghĩ đến Transylvania (như một phần của Hungary), nó không chỉ gắn liền với Chân sư R. của cung bảy mà còn với cái gọi là Bá tước Dracula—biểu tượng trong tâm trí hiện đại cho hiện tượng hút sinh lực.

24. Vampirism is a profound form of spiritual theft. Naturally, it concerns the etheric body directly and the draining of its vitality. The etheric body, we know, is archetypally conditioned by the seventh ray.

24. Sự hút sinh lực là một hình thức trộm cắp tinh thần sâu xa. Tự nhiên, nó liên quan trực tiếp đến thể dĩ thái và việc rút cạn sinh lực của thể này. Như chúng ta biết, thể dĩ thái được cung bảy tác động theo nguyên mẫu.

25. Certain of these seventh order devas are called “Devas of the Shadows” and are associated with the seventh ray, the color violet and with the Moon (the crescent Moon, we are told, is to be seen upon their foreheads).

25. Một số thiên thần của đẳng cấp thứ bảy này được gọi là “các Thiên thần của Bóng Tối” và gắn liền với cung bảy, màu tím và Mặt Trăng (người ta cho biết hình trăng lưỡi liềm được thấy trên trán của họ).

The devas of the ethers carry on their foreheads a translucent symbol in the form of a crescent moon, and by this they may be distinguished from the astral devas by those able to see clairvoyantly. (TCF 915)

Các thiên thần của các cõi dĩ thái mang trên trán một biểu tượng trong suốt dưới hình thức trăng lưỡi liềm, và nhờ đó họ có thể được phân biệt với các thiên thần cảm dục bởi những ai có thể thấy bằng thông nhãn. (TCF 915)

26. Can these devas be directed for good or for ill?

26. Liệu các thiên thần này có thể được điều khiển cho điều thiện hay điều ác chăng?

They deal with the etheric bodies of their enemies, and by means of sounds affect deva substance, thus producing the desired results.

Họ đề cập đến các thể dĩ thái của kẻ thù mình, và bằng các âm thanh tác động đến chất liệu thiên thần, nhờ đó tạo ra các kết quả mong muốn.

27. So the workers on the left hand path work with the seventh ray, with the etheric bodies of their enemies and utilize sound to achieve their results.

27. Vì vậy, những người hoạt động trên tả đạo làm việc với cung bảy, với các thể dĩ thái của kẻ thù họ, và sử dụng âm thanh để đạt được kết quả của mình.

28. We can understand there are certain sound and words to which one does not wish to be exposed!

28. Chúng ta có thể hiểu rằng có những âm thanh và từ ngữ nhất định mà người ta không muốn bị phơi bày trước chúng!

29. It is apparent that they use certain sounds to drain off the vitality of those they seek to neutralize or overcome.

29. Hiển nhiên là họ dùng một số âm thanh nhất định để rút cạn sinh lực của những người mà họ tìm cách trung hòa hay chế ngự.

30. With the induction of dissonance comes devitalization.

30. Cùng với việc gây ra sự bất hòa là sự mất sinh lực.

31. Perhaps it would be wise to think of the various devitalizing influences ordinary life and see how they might be related to this type of nefarious activity. Much that transpires on the astral plane is also devitalizing.

31. Có lẽ sẽ là khôn ngoan nếu suy nghĩ về những ảnh hưởng làm mất sinh lực khác nhau trong đời sống thường nhật và xem chúng có thể liên hệ thế nào với loại hoạt động hiểm ác này. Nhiều điều diễn ra trên cõi cảm dục cũng làm mất sinh lực.

The white Magician does not work on the physical plane with physical substance. He transfers His activities to a higher level, and hence deals with desires and motives. He works through the devas of the sixth order.

Nhà huyền thuật chánh đạo không làm việc trên cõi hồng trần với chất liệu hồng trần. Ngài chuyển các hoạt động của Ngài lên một cấp độ cao hơn, và do đó đề cập đến các dục vọng và động cơ. Ngài làm việc thông qua các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu.

32. It is interesting to see that the white magician is not working etherically (although it is evident that exceptions will be found). In the field of esoteric healing, the methods for etheric work are suggested and those who thus work are on the side of the Light.

32. Thật thú vị khi thấy rằng nhà huyền thuật chánh đạo không làm việc theo cách dĩ thái (mặc dù hiển nhiên sẽ có những ngoại lệ). Trong lĩnh vực Trị Liệu Huyền Môn, các phương pháp cho công việc dĩ thái đã được gợi ra, và những ai làm việc như thế đều đứng về phía Ánh sáng.

33. When we are told that the white magician does not work on the physical plane with physical substance, we have to discern whether Master DK is discriminating dense physical matter from etheric substance. We can quite readily convince ourselves that the white magician will not work on the very densest systemic subplanes, but it is not entirely convincing to think that he will not work etherically.

33. Khi được cho biết rằng nhà huyền thuật chánh đạo không làm việc trên cõi hồng trần với chất liệu hồng trần, chúng ta phải phân biện xem Chân sư DK có đang phân biệt vật chất hồng trần đậm đặc với chất liệu dĩ thái hay không. Chúng ta có thể khá dễ dàng tự thuyết phục mình rằng nhà huyền thuật chánh đạo sẽ không làm việc trên các cõi phụ đậm đặc nhất của hệ thống, nhưng không hoàn toàn thuyết phục nếu cho rằng y sẽ không làm việc theo cách dĩ thái.

34. If the white magician works with desires and motives, he is working in relation to the astral and mental planes, for these is much of mentality in the determination of motive.

34. Nếu nhà huyền thuật chánh đạo làm việc với các dục vọng và động cơ, y đang làm việc trong liên hệ với cõi cảm dục và cõi trí, vì có rất nhiều yếu tố trí tuệ trong việc xác định động cơ.

The devas of the sixth order are those of the astral plane, and are the devas who have the most to do with the forces which produce the phenomena we call love, sex impulse, instinct, or the driving urge and motive which demonstrates later on the physical plane in activity of some kind.

Các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu là những vị của cõi cảm dục, và là những thiên thần có liên hệ nhiều nhất với các mãnh lực tạo ra những hiện tượng mà chúng ta gọi là tình thương, xung lực tính dục, bản năng, hay sự thôi thúc và động cơ thúc đẩy mà về sau biểu lộ trên cõi hồng trần thành một loại hoạt động nào đó.

35. Devas of the seventh order are systemic Agnichaitans.

35. Các thiên thần của đẳng cấp thứ bảy là các Agnichaitan của hệ thống.

36. The devas of the sixth order are related to the astral plane, and are the Agnisuryans.

36. Các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu có liên hệ với cõi cảm dục, và là các Agnisuryan.

37. Let us tabulate the forces with which they most work:

37. Chúng ta hãy lập bảng các mãnh lực mà họ làm việc nhiều nhất:

a. With the forces which produce the phenomena we call love

a. Với các mãnh lực tạo ra hiện tượng mà chúng ta gọi là tình thương

b. With the forces which produce the sex impulse

b. Với các mãnh lực tạo ra xung lực tính dục

c. With the forces which produce instinct

c. Với các mãnh lực tạo ra bản năng

d. With the forces which result in the driving urge or motive which demonstrates later on the physical plane as activity of some kind.

d. Với các mãnh lực dẫn đến sự thôi thúc hay động cơ thúc đẩy mà về sau biểu lộ trên cõi hồng trần thành một loại hoạt động nào đó.

38. These Agnisuryans are clearly activators. They impulse the creation of form and are the mainspring to activity on the physical plane.

38. Các Agnisuryan này rõ ràng là những vị kích hoạt. Họ thúc đẩy sự sáng tạo hình tướng và là động lực chính của hoạt động trên cõi hồng trần.

The positive vibration set up on the astral plane produces results on the physical and that is why the White Brother, if He works with the devas at all, works only on the astral plane and with the positive aspect.

Rung động dương cực được thiết lập trên cõi cảm dục tạo ra các kết quả trên cõi hồng trần, và đó là lý do vì sao Huynh đệ Chánh đạo, nếu Ngài có làm việc với các thiên thần chút nào đi nữa, thì chỉ làm việc trên cõi cảm dục và với phương diện dương cực.

39. We have the answer to our question. It seems that the Whit Brother does not work with Agnichaitans of any kind, even etheric. Yet we know that in the Department of the Manu much work is done with Agnichaitans. As we do not know the details, we are not in a position to solve the apparent discrepancy.

39. Chúng ta đã có câu trả lời cho câu hỏi của mình. Dường như Huynh đệ Chánh đạo không làm việc với bất kỳ loại Agnichaitan nào, ngay cả loại dĩ thái. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng trong Ban của Đức Manu có rất nhiều công việc được thực hiện với các Agnichaitan. Vì chúng ta không biết các chi tiết, nên chúng ta không ở vào vị thế để giải quyết sự bất nhất bề ngoài này.

40. The White Brother appears to be the Master. The Master is more than the white magician, who may be, perhaps, an initiate of the third degree. May it be possible that while the White Brother does not work with the devas of the ethers, the white magician who is not yet a Master or an Arhat, may do so?

40. Huynh đệ Chánh đạo dường như là Chân sư. Chân sư còn hơn cả nhà huyền thuật chánh đạo, mà có lẽ chỉ là một điểm đạo đồ bậc ba. Liệu có thể chăng rằng trong khi Huynh đệ Chánh đạo không làm việc với các thiên thần của các cõi dĩ thái, thì nhà huyền thuật chánh đạo chưa phải là Chân sư hay một Arhat lại có thể làm như vậy?

41. We are learning here that the White Brother may not work with the lower devas at all.

41. Ở đây chúng ta đang học rằng Huynh đệ Chánh đạo có thể hoàn toàn không làm việc với các thiên thần thấp.

42. The astral plane is positive to the physical plane, which is why the White Brother may work with the Agnisuryans rather than the Agnichaitans (unless, presumably, He is in the department of the Manu—though even there the work may be more with greater devas who then work with the lower Agnichaitans).

42. Cõi cảm dục là dương cực đối với cõi hồng trần, đó là lý do vì sao Huynh đệ Chánh đạo có thể làm việc với các Agnisuryan thay vì các Agnichaitan (trừ phi, có lẽ, Ngài ở trong ban của Đức Manu—mặc dù ngay cả ở đó công việc có thể là nhiều hơn với các thiên thần lớn hơn, rồi các vị này mới làm việc với các Agnichaitan thấp hơn).

43. We remember the connection between the Agnisuryans, the soul and the buddhic plane. It would be such influences that the White Brother would hope to see precipitate on the physical plane. He is not a manipulator of lower matter, per se, unless with purpose and deliberation under circumstances which demand such manipulation.

43. Chúng ta nhớ mối liên hệ giữa các Agnisuryan, linh hồn và cõi Bồ đề. Chính những ảnh hưởng như thế mà Huynh đệ Chánh đạo hy vọng sẽ thấy được ngưng tụ trên cõi hồng trần. Ngài không phải là người thao túng vật chất thấp, chính nó, trừ khi với mục đích và sự chủ ý trong những hoàn cảnh đòi hỏi sự thao túng như thế.

44. In general, and using the words in a general sense, we can say that the White Brother is positive and the black brother negative.

44. Nói chung, và dùng các từ theo nghĩa tổng quát, chúng ta có thể nói rằng Huynh đệ Chánh đạo là dương cực còn huynh đệ bóng tối là âm cực.

These devas of the sixth order, as might be expected, are closely linked with those of the second order on the monadic plane, and with the heart centre of the particular Heavenly Man on Whose Ray they may be found.

Các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu này, như có thể được chờ đợi, liên kết chặt chẽ với những vị của đẳng cấp thứ hai trên cõi chân thần, và với trung tâm tim của Đấng Thiên Nhân đặc thù mà trên cung của Ngài họ có thể được tìm thấy.

45. Much is revealed in this section. As regard “orders” of devas, we learn that the orders are related to the seven systemic planes. On the monadic plane (the second systemic plane ) there are devas of the second order, just as there are devas of the first order on the logoic plane and devas of the seventh order on the systemic physical plane.

45. Nhiều điều được tiết lộ trong phần này. Xét về các “đẳng cấp” thiên thần, chúng ta học được rằng các đẳng cấp này liên hệ với bảy cõi của hệ thống. Trên cõi chân thần (cõi thứ hai của hệ thống) có các thiên thần của đẳng cấp thứ hai, cũng như có các thiên thần của đẳng cấp thứ nhất trên cõi logoic và các thiên thần của đẳng cấp thứ bảy trên cõi hồng trần của hệ thống.

46. The link between one and seven, and two and six has been made apparent.

46. Mối liên kết giữa một và bảy, và hai và sáu đã trở nên hiển nhiên.

47. From what is said above, we gather that these devas of the sixth order are to be found on all the rays, which is fitting if they are to be involved in the vehicular expression of all ray-types of human beings.

47. Từ những gì được nói ở trên, chúng ta suy ra rằng các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu này được tìm thấy trên mọi cung, điều này là thích hợp nếu họ phải tham gia vào sự biểu lộ qua vận cụ của mọi loại người thuộc các cung khác nhau.

48. So there are ray-differentiations within the devas of the sixth order. Each of them is found on a particular ray and is, thus, related to a particular Heavenly Man.

48. Vì vậy có những sự biến phân theo cung bên trong các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu. Mỗi vị được tìm thấy trên một cung đặc thù và do đó có liên hệ với một Đấng Thiên Nhân đặc thù.

49. The devas of the sixth order are all linked with the heart centers of various Heavenly Men. Each Heavenly Man (being a “Man”) naturally has a heart center.

49. Các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu đều liên kết với các trung tâm tim của những Đấng Thiên Nhân khác nhau. Mỗi Đấng Thiên Nhân (vì là một “Con Người”) tự nhiên đều có một trung tâm tim.

50. If we think that a particular planetary chain through which a Heavenly Man expresses is His heart center, then we will find these devas of the sixth order linked with a particular planetary chain in one or other of the planetary schemes. A link we a specific globe also, no doubt, exists. We get the sense of a wonderful interlocking of entities and energies.

50. Nếu chúng ta nghĩ rằng một dãy hành tinh đặc thù mà qua đó một Đấng Thiên Nhân biểu lộ là trung tâm tim của Ngài, thì chúng ta sẽ thấy các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu này liên kết với một dãy hành tinh đặc thù trong hệ hành tinh này hay hệ hành tinh khác. Hẳn nhiên cũng có một mối liên kết với một bầu hành tinh đặc thù. Chúng ta có được cảm nhận về một sự đan kết kỳ diệu của các thực thể và các năng lượng.

They are allied too to the deva forces on the buddhic plane and in these three great orders of devas we have a powerful triangle of electrical force,—the three types of electricity which are met with in occult books.

Họ cũng liên minh với các mãnh lực thiên thần trên cõi Bồ đề, và trong ba đẳng cấp thiên thần lớn lao này chúng ta có một tam giác mãnh lực điện mạnh mẽ,—ba loại điện được gặp trong các sách huyền bí.

51. We may infer that devas of the fourth order are to be found expressing on the buddhic plane.

51. Chúng ta có thể suy ra rằng các thiên thần của đẳng cấp thứ tư được tìm thấy đang biểu lộ trên cõi Bồ đề.

52. Thus the devas of the second, fourth and sixth orders are all linked.

52. Như vậy các thiên thần của đẳng cấp thứ hai, thứ tư và thứ sáu đều được liên kết với nhau.

53. We are told of a powerful triangle of electrical force—presumably the electricity of intelligence, of love and of will.

53. Chúng ta được cho biết về một tam giác mãnh lực điện mạnh mẽ—có lẽ là điện của trí tuệ, của bác ái và của ý chí.

54. A little earlier (in the previous Commentary) we learned that the will was allied with the equilibrizing, balancing type of electricity. When we attempt to apportion the three types of devas here discussed, we may wish to remember this. However, DK seems to present a different model or pattern.

54. Sớm hơn một chút (trong phần Bình Luận trước), chúng ta đã học rằng ý chí liên kết với loại điện quân bình hóa, cân bằng. Khi cố gắng phân định ba loại thiên thần được bàn đến ở đây, chúng ta có thể muốn nhớ điều này. Tuy nhiên, Chân sư DK dường như trình bày một mô hình hay khuôn mẫu khác.

55. If we followed the perspective earlier presented when assigning devas to the third aspect and man to the second, then the devas of the sixth order would be related to the electricity of intelligence; the devas of the fourth order would be related to the electricity of love; the devas of the second order would hold the equilibrizing, balancing function between the two, being devas of the will. In a way, this would be reasonable.

55. Nếu chúng ta theo góc nhìn đã được trình bày trước đó khi gán các thiên thần cho phương diện thứ ba và con người cho phương diện thứ hai, thì các thiên thần của đẳng cấp thứ sáu sẽ liên hệ với điện của trí tuệ; các thiên thần của đẳng cấp thứ tư sẽ liên hệ với điện của bác ái; các thiên thần của đẳng cấp thứ hai sẽ giữ chức năng quân bình hóa, cân bằng giữa hai loại kia, vì là các thiên thần của ý chí. Theo một cách nào đó, điều này sẽ là hợp lý.

56. Clearly the division between the three suggests Spirit, soul and body—second order, fourth order and sixth order. But does this sequence accord with the three types of electricity: equilibrizing electricity, positive electricity, and negative electricity—in that order?

56. Rõ ràng sự phân chia giữa ba loại này gợi ra tinh thần, linh hồn và thể—đẳng cấp thứ hai, đẳng cấp thứ tư và đẳng cấp thứ sáu. Nhưng liệu chuỗi này có phù hợp với ba loại điện: điện quân bình hóa, điện dương cực và điện âm cực—theo đúng thứ tự ấy chăng?

57. We have to notice that even the devas associated with the Monad and with will are qualified by the second ray and not the first. In this solar system, the second ray expresses not only the love aspect but the will aspect as well.

57. Chúng ta phải lưu ý rằng ngay cả các thiên thần liên hệ với Chân thần và với ý chí cũng được phẩm định bởi cung hai chứ không phải cung một. Trong hệ mặt trời này, cung hai biểu lộ không chỉ phương diện bác ái mà cả phương diện ý chí nữa.

58. Now, however, the true pattern is revealed.

58. Tuy nhiên, giờ đây mô hình đích thực được tiết lộ.

59. We will now see that the first aspect is no longer to be considered the equilibrizing factor, but (as accords more closely with reason) that the second aspect holds the equilibrizing position.

59. Giờ đây chúng ta sẽ thấy rằng phương diện thứ nhất không còn được xem là yếu tố quân bình nữa, mà (phù hợp với lý trí hơn) chính phương diện thứ hai giữ vị trí quân bình.

It should be borne in mind that the equilibrising [Page 669] type of force (at present an unknown type) flows in from the buddhic plane at this time, and the apex of the triangle is there.

Cần ghi nhớ rằng loại mãnh lực quân bình [Page 669] (hiện nay là một loại chưa được biết đến) vào lúc này tuôn xuống từ cõi Bồ đề, và đỉnh của tam giác ở đó.

60. The apex of the triangle always represents the equilibrizing force. Even though the second order devas of the monadic plane are ‘higher’ (i.e., the usual meaning of “apex”) than the devas of the buddhic plane, the fourth order devas hold the apex positioning the triangle.

60. Đỉnh của tam giác luôn luôn tượng trưng cho mãnh lực quân bình. Dù các thiên thần bậc hai của cõi chân thần “cao hơn” (tức theo nghĩa thông thường của “đỉnh”) các thiên thần của cõi Bồ đề, các thiên thần bậc bốn vẫn giữ vị trí đỉnh của tam giác.

61. DK has told us elsewhere that two types of electricity are presently known—positive and negative, presumably the electricity associated with the nucleus of the atom (the first aspect) and that associated with the flow of electrons (the third aspect).

61. Chân sư DK đã nói với chúng ta ở nơi khác rằng hiện nay đã biết đến hai loại điện—điện dương và điện âm, có lẽ là điện liên hệ với hạt nhân của nguyên tử (phương diện thứ nhất) và điện liên hệ với dòng chảy của các electron (phương diện thứ ba).

62. The electricity of the third aspect has been known for a long time. With the discovery of what we call atomic energy, the electricity of the first aspect has been discovered.

62. Điện của phương diện thứ ba đã được biết đến từ lâu. Với việc khám phá điều chúng ta gọi là năng lượng nguyên tử, điện của phương diện thứ nhất đã được khám phá.

63. In this diagram the apex (which is usually the top of a triangle) is represented to the side, to keep it in line with the position of the buddhic plane relative to the monadic plane and the astral plane.

63. Trong sơ đồ này, đỉnh (vốn thường là phần trên cùng của một tam giác) được đặt sang bên, để giữ cho nó phù hợp với vị trí của cõi Bồ đề tương quan với cõi chân thần và cõi cảm dục.

64. The diagram illustrates the harmonizing power of the buddhic plane relative to monadic energy and astral force. Its position to the side marks buddhi as an equilibrizing energy.

64. Sơ đồ minh họa quyền năng điều hòa của cõi Bồ đề đối với năng lượng chân thần và mãnh lực cảm dục. Vị trí đặt sang bên của nó đánh dấu Bồ đề như một năng lượng quân bình.

65. We can assume that with the fast emerging discovery of the force of the fourth ether (linked as it is to the buddhic plane) the nature of equilibrizing, balancing and presumably, harmonizing electricity will emerge in the consciousness of humanity.

65. Chúng ta có thể giả định rằng cùng với sự khám phá đang nhanh chóng xuất hiện về mãnh lực của dĩ thái thứ tư (vốn liên kết với cõi Bồ đề), bản chất của điện quân bình, cân bằng và có lẽ là điều hòa sẽ xuất hiện trong tâm thức của nhân loại.

These three orders are (in this solar system) the most potent, especially in this fourth round.

Ba bậc này là (trong hệ mặt trời này) mạnh mẽ nhất, đặc biệt trong cuộc tuần hoàn thứ tư này.

66. This is the fourth round; the number four is closely related to and resonant with the numbers two and six.

66. Đây là cuộc tuần hoàn thứ tư; số bốn có liên hệ mật thiết và cộng hưởng với các số hai và sáu.

67. Because this is the fourth round we may expect that it is the equilibrizing type of electricity which is to emerge, particularly. Four is the central number in a series of seven numbers, and holding the middlemost point, is naturally the equilibrizer.

67. Bởi vì đây là cuộc tuần hoàn thứ tư, chúng ta có thể mong đợi rằng chính loại điện quân bình sẽ đặc biệt xuất hiện. Bốn là con số trung tâm trong một dãy bảy số, và vì giữ điểm chính giữa nên tự nhiên là yếu tố quân bình.

68. The New Group of World Servers, ruled by the fourth ray, harmonize the past and the present of humanity. They also represent the ajna center of Sanat Kumara, and the ajna center expresses the fourth ray through Mercury, one of its rulers.

68. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, do cung bốn cai quản, điều hòa quá khứ và hiện tại của nhân loại. Họ cũng tượng trưng cho trung tâm ajna của Đức Sanat Kumara, và trung tâm ajna biểu lộ cung bốn qua Sao Thủy, một trong các chủ tinh của nó.

69. With the Externalization of the Hierarchy and the Reappearance of the Christ imminent, this type of electricity will more easily be apprehended by humanity for a great ‘Era of Peace’ (peace as balance and equilibrium) supervene following the ‘Era of the Sword’. Christ will inaugurate the ‘Era of the Sword—of discrimination) and will preside over the ‘Era of Peace’.

69. Với Sự Hiển Lộ của Thánh đoàn và sự Tái Lâm của Đức Christ đang cận kề, loại điện này sẽ dễ được nhân loại lĩnh hội hơn, vì một “Kỷ Nguyên Hòa Bình” lớn lao (hòa bình như sự cân bằng và quân bình) sẽ tiếp nối sau “Kỷ Nguyên của Thanh Gươm”. Đức Christ sẽ khai mở “Kỷ Nguyên của Thanh Gươm—của sự phân biện) và sẽ chủ trì “Kỷ Nguyên Hòa Bình”.

They influence particularly the fourth kingdom of nature, and are the basis of that search for balance, of that aspiration towards harmony, union and yoga which distinguishes man in all grades;

Các vị này đặc biệt ảnh hưởng đến giới thứ tư trong thiên nhiên, và là nền tảng của sự tìm kiếm quân bình, của khát vọng hướng đến hài hòa, hợp nhất và yoga vốn phân biệt con người ở mọi cấp độ;

70. We may have noticed that the Monads of the Fourth Creative Hierarchy find their area of expression on the fourth systemic or buddhic plane.

70. Chúng ta có thể đã nhận thấy rằng các Chân thần của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Tư tìm thấy lĩnh vực biểu lộ của mình trên cõi hệ thống thứ tư hay cõi Bồ đề.

71. It is on this plane that balance, harmony, union and yoga are to be found.

71. Chính trên cõi này mà sự cân bằng, hài hòa, hợp nhất và yoga được tìm thấy.

72. We remember that man (in distinction to the devas) is qualified by the second ray, and he is meant, especially, to express through buddhi and in relation to the fourth systemic plane (a state achieved through the fourth initiation). We can see therefore, why the three orders of devas listed above—of the second, fourth and sixth orders—would influence him particularly.

72. Chúng ta nhớ rằng con người (phân biệt với các thiên thần) được cung hai định tính, và y được dự định, đặc biệt, sẽ biểu lộ qua Bồ đề và trong liên hệ với cõi hệ thống thứ tư (một trạng thái đạt được qua lần điểm đạo thứ tư). Vì vậy chúng ta có thể thấy tại sao ba bậc thiên thần được liệt kê ở trên—thuộc bậc hai, bậc bốn và bậc sáu—lại đặc biệt ảnh hưởng đến y.

it shows in its lower manifestation as the sex instinct as we know it, and in its higher as longing for union with God.

điều đó biểu lộ trong biểu hiện thấp của nó như bản năng tính dục như chúng ta biết, và trong biểu hiện cao của nó như sự khát khao hợp nhất với Thượng đế.

73. Here we seem to be speaking of the astral manifestations of the three devic orders discussed above.

73. Ở đây dường như chúng ta đang nói về các biểu hiện cảm dục của ba bậc thiên thần đã được bàn đến ở trên.

74. The sex instinct arises on the astral plane—presumably, some of the lower levels of the astral plane. The “longing for union with God” is characteristic of the higher levels of the astral plane.

74. Bản năng tính dục phát sinh trên cõi cảm dục—có lẽ ở một số cấp thấp của cõi cảm dục. “Sự khát khao hợp nhất với Thượng đế” là đặc trưng của các cấp cao hơn của cõi cảm dục.

75. True “union with God”, however, is achieved on the buddhic plane.

75. Tuy nhiên, sự “hợp nhất với Thượng đế” đích thực được đạt tới trên cõi Bồ đề.

These devas of the sixth order come under the special influence of the Lord of the sixth Ray of Abstract Idealism, and it is their connection with Him which facilitates the working through of the archetypal idea on to the physical plane.

Các thiên thần bậc sáu này chịu ảnh hưởng đặc biệt của Đấng Chúa Tể cung sáu của Chủ Nghĩa Duy Tâm Trừu Tượng, và chính mối liên hệ của họ với Ngài tạo điều kiện cho sự triển khai ý tưởng nguyên mẫu xuống cõi hồng trần.

76. Who is this Ray Lord? Is He an intra-planetary Ray Lord or a planetary Ray Lord?

76. Đấng Chúa Tể Cung này là ai? Ngài là một Đấng Chúa Tể Cung nội hành tinh hay một Đấng Chúa Tể Cung hành tinh?

77. The proper answer is probably “both”.

77. Câu trả lời thích đáng có lẽ là “cả hai”.

78. The monadic plane (on which, for man, the geometry of sound and light is sourced) is a plane of archetypal ideas. When the Monad descends to express in the lower worlds, the archetypal idea which each Monad represents finds expression on the lowest plane.

78. Cõi chân thần (nơi, đối với con người, hình học của âm thanh và ánh sáng phát nguyên) là một cõi của các ý tưởng nguyên mẫu. Khi chân thần giáng xuống để biểu lộ trong các cõi thấp, ý tưởng nguyên mẫu mà mỗi chân thần đại diện sẽ tìm được sự biểu lộ trên cõi thấp nhất.

79. The idealism commonly found upon the astral plane finds its true source in the monadic idea.

79. Chủ nghĩa duy tâm thường thấy trên cõi cảm dục tìm thấy nguồn gốc đích thực của nó trong ý tưởng chân thần.

80. From a planetary perspective, the Lord of the Sixth Ray of Abstract Idealism is Neptune. Mars, with its powerful sixth ray, and, to some degree, Jupiter, must not be excluded. From a very high perspective, Venus (with its sixth ray Monad—subsidiary to its second ray Monad), also, must be included.

80. Từ góc độ hành tinh, Đấng Chúa Tể Cung sáu của Chủ Nghĩa Duy Tâm Trừu Tượng là Sao Hải Vương. Sao Hỏa, với cung sáu mạnh mẽ của nó, và ở một mức độ nào đó, Sao Mộc, không thể bị loại trừ. Từ một góc nhìn rất cao, Sao Kim (với chân thần cung sáu của nó—phụ thuộc vào chân thần cung hai của nó) cũng phải được kể đến.

The sixth Creative Hierarchy likewise is specially connected with this particular order of devas, and through this dual influence is produced that physical manifestation which is definitely objective,

Huyền Giai Sáng Tạo thứ sáu cũng vậy có liên hệ đặc biệt với bậc thiên thần đặc thù này, và qua ảnh hưởng kép này mà biểu hiện hồng trần rõ rệt khách quan ấy được tạo ra,

81. The Sixth Creative Hierarchy is the Hierarchy of Lunar Lords.

81. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu là Huyền Giai của các nguyệt tinh quân.

82. The Lunar Lords and the devas of the sixth order, together, create a dual influence which is the impulse towards objective, physical manifestation.

82. Các nguyệt tinh quân và các thiên thần bậc sáu, cùng nhau, tạo ra một ảnh hưởng kép là xung lực hướng tới biểu hiện khách quan, hồng trần.

83. The following is an important definition of the “sixth Creative Hierarchy”:

83. Sau đây là một định nghĩa quan trọng về “Huyền Giai Sáng Tạo thứ sáu”:

For purposes of clarification and of generalisation, it might be noted that the seventh Hierarchy is the life or energy found at the heart of every atom, its positive aspect, and the sixth Hierarchy is the life of the forms of all the etheric bodies of every tangible object. (EA 49-50)

Để làm sáng tỏ và khái quát hóa, cần lưu ý rằng Huyền Giai thứ bảy là sự sống hay năng lượng được tìm thấy nơi trung tâm của mọi nguyên tử, phương diện dương của nó, và Huyền Giai thứ sáu là sự sống của các hình tướng của mọi thể dĩ thái của mọi vật thể hữu hình. (EA 49-50)

84. When we are told that the sixth Hierarchy of lunar lords is the “life of the forms of all the etheric bodies of every tangible object”, we must carefully define the meaning of “etheric bodies”.

84. Khi chúng ta được bảo rằng Huyền Giai thứ sáu của các nguyệt tinh quân là “sự sống của các hình tướng của mọi thể dĩ thái của mọi vật thể hữu hình”, chúng ta phải cẩn thận xác định ý nghĩa của “các thể dĩ thái”.

85. On the astral plane, too, there are subplanes which could be called ‘astrally-etheric’ (the higher four subplanes). What is the relation of these subplanes to the general substance of the astral plane and to the astral body of man?

85. Trên cõi cảm dục cũng có những cõi phụ có thể được gọi là “dĩ thái-cảm dục” (bốn cõi phụ cao hơn). Quan hệ của các cõi phụ này với chất liệu tổng quát của cõi cảm dục và với thể cảm dục của con người là gì?

86. Do lunar lords (since they are ruled by astral ‘planets’ such as the Moon and Mars) not have a close connection with astral life? Are they connected only with etheric life (as the term “etheric” is usually defined)? If so, the Creative Hierarchy of Lunar Lords has nothing to do with man’s astral body (which does not seem reasonable).

86. Phải chăng các nguyệt tinh quân (vì họ được cai quản bởi các “hành tinh” cảm dục như Mặt Trăng và Sao Hỏa) không có một liên hệ mật thiết với sự sống cảm dục? Phải chăng họ chỉ liên hệ với sự sống dĩ thái (theo cách thuật ngữ “dĩ thái” thường được định nghĩa)? Nếu vậy, Huyền Giai Sáng Tạo của các nguyệt tinh quân không liên quan gì đến thể cảm dục của con người (điều này dường như không hợp lý).

—one type of force working through the etheric manifestation, and the other through the dense physical.

—một loại mãnh lực hoạt động qua biểu hiện dĩ thái, và loại kia qua hồng trần đậm đặc.

87. This is a very important and revelatory statement though it is uncertain whether it can be completely clarified. Later, DK tells us we cannot.

87. Đây là một phát biểu rất quan trọng và đầy mặc khải, dù không chắc có thể được làm sáng tỏ hoàn toàn. Về sau, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng chúng ta không thể.

88. The devas of the sixth order are not the Creative Hierarchy or Lunar Lords (though later in the text, the Lunar Lords are called evolutionary devas).

88. Các thiên thần bậc sáu không phải là Huyền Giai Sáng Tạo hay các nguyệt tinh quân (mặc dù về sau trong bản văn, các nguyệt tinh quân được gọi là các thiên thần thăng thượng tiến hoá).

89. While DK does not indicate the truth of the matter with certainty, we may infer that the Lunar Lords (the Lunar Elementals) work in relation to the etheric levels “as they are the life of the forms of all the etheric bodies”, and the devas of the sixth order (although Agnisuryans) in relation to the dense physical manifestation impulsing through desire manifestation upon that densest level. (One would imagine, however, that the impulse from the Agnisuryans would have to pass also through the etheric levels.)

89. Dù Chân sư DK không chỉ ra chân lý của vấn đề này một cách chắc chắn, chúng ta có thể suy ra rằng các nguyệt tinh quân (các hành khí thái âm) hoạt động liên hệ với các cấp dĩ thái “vì họ là sự sống của các hình tướng của mọi thể dĩ thái”, còn các thiên thần bậc sáu (dù là Agnisuryans) thì liên hệ với biểu hiện hồng trần đậm đặc, thúc đẩy qua biểu hiện dục vọng trên cấp đậm đặc nhất ấy. (Tuy nhiên, người ta có thể hình dung rằng xung lực từ các Agnisuryans cũng phải đi qua các cấp dĩ thái.)

90. We can ponder which way the assignment should occur.

90. Chúng ta có thể suy ngẫm xem sự phân định ấy nên diễn ra theo cách nào.

91. Note in the following that Lunar Pitris are evolutionary devas:

91. Hãy lưu ý trong đoạn sau rằng các thái âm tổ phụ là các thiên thần thăng thượng tiến hoá:

We have been considering somewhat the devas of evolutionary tendency who are grouped roughly together as the lunar Pitris.20 (TCF 681)

Chúng ta đã phần nào xem xét các thiên thần có khuynh hướng thăng thượng tiến hoá, được nhóm lại một cách đại khái thành các thái âm tổ phụ.20 (TCF 681)

92. But note also that “lunar Pitris” are equivalent to Lunar Lords:

92. Nhưng cũng hãy lưu ý rằng “các thái âm tổ phụ” tương đương với các nguyệt tinh quân:

It affects the lunar bodies, and therefore relates to the lunar Lords or Pitris, causing a weakening of their hold upon the lesser builders, bringing them more under the force streams from the solar Angels, and leading to a situation which will eventually result in a return of the lunar Pitris of all degrees to the central point for force substance. (TCF 886)

Nó ảnh hưởng đến các thể thái âm, và do đó liên hệ đến các nguyệt tinh quân hay các thái âm tổ phụ, làm suy yếu sự nắm giữ của họ đối với các vị tiểu kiến tạo, đặt các vị này nhiều hơn dưới các dòng mãnh lực từ các Thái dương Thiên Thần, và dẫn đến một tình trạng mà cuối cùng sẽ đưa đến sự trở về của các thái âm tổ phụ ở mọi cấp độ về điểm trung tâm của chất liệu mãnh lực. (TCF 886)

93. The Sixth Creative Hierarchy are called “Lunar Lords”.

93. Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu được gọi là “các nguyệt tinh quân”.

6. The Planetary Ruler of a Hierarchy.—In this particular case, this planet is Mars, ruling the sixth Creative Hierarchy, the lunar Lords (the elementals of the threefold personality) who have to be brought under the control of the solar Lord. (EA 186)

6. Chủ Tinh Hành Tinh của một Huyền Giai.—Trong trường hợp đặc biệt này, hành tinh ấy là Sao Hỏa, cai quản Huyền Giai Sáng Tạo thứ sáu, các nguyệt tinh quân (các hành khí của phàm ngã tam phân) là những vị phải được đặt dưới sự kiểm soát của nhật tinh quân. (EA 186)

94. We may now judge, according to some definitions that:

94. Giờ đây chúng ta có thể phán đoán, theo một số định nghĩa, rằng:

a. Lunar Pitris are evolutionary (though sometimes they are associated with deva essence which is involutionary

a. Các thái âm tổ phụ là thăng thượng tiến hoá (dù đôi khi họ được liên kết với tinh chất thiên thần vốn là giáng hạ tiến hoá

b. Lunar Lords are Lunar Pitris and are, therefore, evolutionary

b. Các nguyệt tinh quân là các thái âm tổ phụ và do đó là thăng thượng tiến hoá

c. Devas of the sixth order are evolutionary

c. Các thiên thần bậc sáu là thăng thượng tiến hoá

We must ever keep clearly in mind that we are dealing in this section with the evolutionary devas who are the positive Life animating involutionary matter or deva substance. (TCF 672)

Chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rõ rằng trong phần này chúng ta đang đề cập đến các thiên thần thăng thượng tiến hoá là Sự sống dương linh hoạt hóa vật chất giáng hạ tiến hoá hay chất liệu thiên thần. (TCF 672)

95. All the devas we have been dealing with are of evolutionary tendency (as we see from TCF 844, Tabulation).

95. Tất cả các thiên thần mà chúng ta đã bàn đến đều có khuynh hướng thăng thượng tiến hoá (như chúng ta thấy từ TCF 844, Bảng tổng hợp).

96. DK has distinguished the members of the Sixth Creative Hierarchy from the devas of the sixth order, and although the terminology used can be confusing at times, we must keep this basic distinction in mind.

96. Chân sư DK đã phân biệt các thành viên của Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu với các thiên thần bậc sáu, và mặc dù thuật ngữ được dùng đôi khi có thể gây nhầm lẫn, chúng ta phải ghi nhớ sự phân biệt căn bản này.

97. Other than the elemental substance or essence, all the devas we have been considering are of evolutionary tendency, and the term Lunar Pitris is sometimes used to indicate them, roughly.

97. Ngoài chất liệu hành khí hay tinh chất hành khí ra, tất cả các thiên thần mà chúng ta đã xem xét đều có khuynh hướng thăng thượng tiến hoá, và thuật ngữ các thái âm tổ phụ đôi khi được dùng để chỉ họ một cách đại khái.

98. But DK is clear that the Sixth Creative Hierarchy or Lunar Lords or Lunar Pitris are not the Agnisuryans, per se (the Agnisuryans with their many enumerate functions).

98. Nhưng Chân sư DK nói rõ rằng Huyền Giai Sáng Tạo thứ Sáu hay các nguyệt tinh quân hay các thái âm tổ phụ không phải chính là các Agnisuryans, chính chúng (các Agnisuryans với nhiều chức năng được liệt kê của chúng).

99. Perhaps if we keep this simple distinction clear, we will not be misled by the similar terminology sometimes applied to these different groups.

99. Có lẽ nếu chúng ta giữ rõ sự phân biệt đơn giản này, chúng ta sẽ không bị dẫn lạc bởi thuật ngữ tương tự đôi khi được áp dụng cho các nhóm khác nhau này.

This will as yet prove an insoluble mystery to the student, but in the significance of numbers much can be discovered.

Điều này hiện vẫn sẽ là một huyền nhiệm không thể giải được đối với đạo sinh, nhưng trong thâm nghĩa của các con số có thể khám phá được nhiều điều.

100. We have been assured that the matter is insoluble to us but we may speculate.

100. Chúng ta đã được bảo đảm rằng vấn đề này là không thể giải được đối với chúng ta, nhưng chúng ta có thể suy đoán.

101. The number six is very important in this entire matter. Six is the number of the Creative Hierarchy of Lunar Lords and six is the number of the order of devas with which we are concerning ourselves.

101. Con số sáu rất quan trọng trong toàn bộ vấn đề này. Sáu là con số của Huyền Giai Sáng Tạo của các nguyệt tinh quân và sáu là con số của bậc thiên thần mà chúng ta đang quan tâm.

This angle of the matter should be studied in order to bring out the true meaning of this sixth order of devas, whose symbol is the six-pointed Star set at a particular angle and in full manifestation.

Góc độ này của vấn đề nên được nghiên cứu để làm nổi bật ý nghĩa đích thực của bậc thiên thần thứ sáu này, mà biểu tượng của nó là Ngôi Sao sáu cánh được đặt ở một góc độ đặc biệt và trong sự biểu hiện trọn vẹn.

102. Another amazing piece of occult information. The six-pointed star is a symbol used to describe many types of occult relationship—from the most exalted, involving great Constellational Lords to the relatively lowly—the one here described.

102. Lại thêm một mẩu thông tin huyền bí đáng kinh ngạc. Ngôi sao sáu cánh là một biểu tượng được dùng để mô tả nhiều loại quan hệ huyền bí—từ cao siêu nhất, liên quan đến các Đấng Chúa Tể Chòm Sao vĩ đại, cho đến tương đối thấp hơn—là loại được mô tả ở đây.

103. When DK uses the phrase “the angle of the matter” He is giving an occult hint.

103. Khi Chân sư DK dùng cụm từ “góc độ của vấn đề”, Ngài đang đưa ra một gợi ý huyền bí.

104. It is fascinating to realize that the six-pointed star can be set at different angles. If set at sixty degrees there will no difference in the appearance of the star (unless the points of the star are distinctly differentiated from each other).

104. Thật hấp dẫn khi nhận ra rằng ngôi sao sáu cánh có thể được đặt ở những góc độ khác nhau. Nếu được đặt ở sáu mươi độ thì sẽ không có khác biệt nào trong hình dạng của ngôi sao (trừ phi các đỉnh của ngôi sao được phân biệt rõ rệt với nhau).

105. Only by setting the star as angles which do not coincide with sixty degrees will a difference in the star be noticed.

105. Chỉ khi đặt ngôi sao ở những góc độ không trùng với sáu mươi độ thì mới nhận thấy sự khác biệt nơi ngôi sao.

106. One wonders whether the axial inclination of the Earth has anything to do with this setting.

106. Người ta tự hỏi liệu độ nghiêng trục của Trái Đất có liên quan gì đến cách đặt này hay không.

107. The symbol of the sixth order of devas is also the six-pointed star “in full manifestation”. The star can also symbolize certain energy relationships which, thus far, cannot possibly be in full manifestation.

107. Biểu tượng của bậc thiên thần thứ sáu cũng là ngôi sao sáu cánh “trong sự biểu hiện trọn vẹn”. Ngôi sao này cũng có thể tượng trưng cho một số quan hệ năng lượng mà cho đến nay không thể nào ở trong sự biểu hiện trọn vẹn được.

The six-pointed star is the sign that a “Son of Necessity” [Page 670] (no matter whether God or man) has sought physical incarnation.

Ngôi sao sáu cánh là dấu hiệu cho thấy một “Con của Tất Yếu” [Page 670] (dù là Thượng đế hay con người) đã tìm kiếm sự lâm phàm hồng trần.

108. We see that there are a number of B/beings to whom the six-pointed star can be related.

108. Chúng ta thấy rằng có một số H/hữu thể mà ngôi sao sáu cánh có thể liên hệ đến.

109. The seeking of physical incarnation is one thing; it suggests the desire to incarnate. The act of seeking is definitely connected with the sixth ray and the number six.

109. Sự tìm kiếm lâm phàm hồng trần là một điều; nó gợi ý dục vọng nhập thể. Hành vi tìm kiếm rõ ràng liên hệ với cung sáu và số sáu.

110. The taking of incarnation is another and necessitates the cooperation of the lower order of devas associated with the etheric-physical plane.

110. Sự đón lấy nhập thể là một điều khác và đòi hỏi sự hợp tác của bậc thiên thần thấp hơn liên hệ với cõi dĩ thái-hồng trần.

The devas of the sixth order, the Agnisuryans, are a prime factor in bringing this about.

Các thiên thần bậc sáu, các Agnisuryans, là một yếu tố chủ yếu trong việc làm phát sinh điều này.

111. We must relate the Agnisuryans, the number six, and the sign Cancer to the taking of physical incarnation. Cancer is related to the ‘ocean’ of the astral plane wherein the Agnisuryans are found and, since it transmits the third and seventh rays, also to the dense physical plane wherein incarnation occurs.

111. Chúng ta phải liên hệ các Agnisuryans, số sáu, và dấu hiệu hoàng đạo Cự Giải với việc đón lấy sự lâm phàm hồng trần. Cự Giải liên hệ với “đại dương” của cõi cảm dục nơi các Agnisuryans được tìm thấy và, vì nó truyền dẫn cung ba và cung bảy, cũng liên hệ với cõi hồng trần đậm đặc nơi sự nhập thể xảy ra.

In the sixth round these devas will begin to make their presence felt more and more potently, but the strength of their vibration will be very gradually turned upwards, and not downwards into the physical plane.

Trong cuộc tuần hoàn thứ sáu, các thiên thần này sẽ bắt đầu làm cho sự hiện diện của mình được cảm nhận ngày càng mạnh mẽ hơn, nhưng sức mạnh rung động của họ sẽ rất dần dần được chuyển hướng lên trên, chứ không hướng xuống cõi hồng trần.

112. The correspondences continue to hold good. Many lines of relationship can be discovered simply by ‘following the numbers’.

112. Các tương ứng vẫn tiếp tục đúng đắn. Có thể khám phá nhiều đường liên hệ chỉ bằng cách “lần theo các con số”.

113. When we read that the strength of vibration of the Agnisuryans will gradually be turned upwards, we are speaking of the process of etherializing the dense physical plane, and, in general, the dense physical body of the Planetary Logos.

113. Khi chúng ta đọc rằng sức mạnh rung động của các Agnisuryans sẽ dần dần được chuyển hướng lên trên, chúng ta đang nói đến tiến trình dĩ thái hóa cõi hồng trần đậm đặc, và nói chung là thể hồng trần đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế.

114. We must remember the relationship of the Agnisuryans to the sacral center and to the taking of dense form. There will come a time (probably very much under the influence of the number six) when the sacral center (the sixth major center, counting from above) will (for a number of human beings) wane in its power and when the tendency to incarnate will be much reduced.

114. Chúng ta phải nhớ mối liên hệ của các Agnisuryans với trung tâm xương cùng và với việc đón lấy hình tướng đậm đặc. Sẽ đến một thời điểm (có lẽ rất nhiều dưới ảnh hưởng của số sáu) khi trung tâm xương cùng (trung tâm lớn thứ sáu, tính từ trên xuống) sẽ suy giảm quyền năng của nó và khi khuynh hướng nhập thể sẽ giảm đi rất nhiều đối với một số người.

115. We have been told that the waning influence of the sacral center will not occur until two thirds of humanity is “on the Path” (and this may not be until the next round), but the directions in which the Agnisuryans focus will have a determining effect on the strength of that center and on its tendency to produce human ‘Sons of Necessity’—physical incarnations of human beings.

115. Chúng ta đã được cho biết rằng ảnh hưởng suy giảm của trung tâm xương cùng sẽ không xảy ra cho đến khi hai phần ba nhân loại “ở trên Con Đường”, (và điều này có thể phải đến cuộc tuần hoàn kế tiếp), nhưng những hướng mà các Agnisuryans tập trung vào sẽ có một tác động quyết định lên sức mạnh của trung tâm ấy và lên khuynh hướng của nó trong việc tạo ra các “Con của Tất Yếu” của nhân loại—các sự lâm phàm hồng trần của con người.

The Sacral Centre. This centre is located in the lower part of the lumbar area and is a very powerful centre, controlling as it does the sex life. One of the interesting things about this centre is that it must always remain a powerful centre until two-thirds of mankind have taken initiation, for the generative processes must go on and remain active in order to provide bodies for incoming souls. (EH 176)

Trung Tâm Xương Cùng. Trung tâm này nằm ở phần dưới của vùng thắt lưng và là một trung tâm rất mạnh, vì nó kiểm soát đời sống tính dục. Một trong những điều thú vị về trung tâm này là nó luôn luôn phải còn là một trung tâm mạnh cho đến khi hai phần ba nhân loại đã được điểm đạo, vì các tiến trình sinh sản phải tiếp tục và duy trì hoạt động để cung cấp các thể cho những linh hồn đang đi vào. (EH 176)

This will involve the transmutation of desire into aspiration, and will produce eventually the liberation of the planetary Logos,

Điều này sẽ bao hàm sự chuyển hoá dục vọng thành khát vọng, và cuối cùng sẽ tạo ra sự giải thoát của Hành Tinh Thượng Đế,

116. The Planetary Logos will be liberated from the dense physical plane and eventually from His entire dense physical vehicle which includes the lower eighteen systemic subplanes.

116. Đức Hành Tinh Thượng Đế sẽ được giải thoát khỏi cõi hồng trần đậm đặc và cuối cùng khỏi toàn bộ vận cụ hồng trần đậm đặc của Ngài, vốn bao gồm mười tám cõi phụ hệ thống thấp hơn.

117. We have learned, then, that the Agnisuryans are very much involved not only in holding the Planetary Logos in dense physical incarnation (as is presently the case) but in eventually contributing to His liberation.

117. Như vậy, chúng ta đã học được rằng các Agnisuryans can dự rất nhiều không chỉ trong việc giữ Đức Hành Tinh Thượng Đế trong sự lâm phàm hồng trần đậm đặc (như hiện nay đang là trường hợp), mà còn cuối cùng góp phần vào sự giải thoát của Ngài.

118. We also remember that the Lunar Pitris (assuming that we differentiate them from the Agnisuryans) also have a very powerful hold on the lunar elementals—a hold which loosens as the energy of the Solar Angels and of the Monad becomes more influential in the life of the personality.

118. Chúng ta cũng nhớ rằng các thái âm tổ phụ (giả sử chúng ta phân biệt họ với các Agnisuryans) cũng có một sự nắm giữ rất mạnh đối với các hành khí thái âm—một sự nắm giữ được nới lỏng khi năng lượng của các Thái dương Thiên Thần và của chân thần trở nên có ảnh hưởng hơn trong đời sống của phàm ngã.

and bring a manvantara (or His cycle of physical incarnation) to a close.

và đưa một Giai kỳ sinh hóa (hay chu kỳ lâm phàm hồng trần của Ngài) đến chỗ kết thúc.

119. In the Teaching there are a number of meanings given for the term “manvantara”. Sometimes it is a chain round. It could probably mean a scheme round as well. Here it is related to the “cycle of physical incarnation” of a Planetary Logos.

119. Trong Giáo Huấn có một số ý nghĩa được gán cho thuật ngữ “Giai kỳ sinh hóa”. Đôi khi đó là một cuộc tuần hoàn của một dãy. Có lẽ nó cũng có thể có nghĩa là một cuộc tuần hoàn của một hệ hành tinh. Ở đây nó được liên hệ với “chu kỳ lâm phàm hồng trần” của một Hành Tinh Thượng Đế.

120. Does this bring the lowest chain and lowest globe of a planetary scheme to a close? So much depends on how we define the cycle of physical incarnation for a Planetary Logos.

120. Điều này có đưa dãy thấp nhất và bầu hành tinh thấp nhất của một hệ hành tinh đến chỗ kết thúc không? Rất nhiều điều tùy thuộc vào cách chúng ta định nghĩa chu kỳ lâm phàm hồng trần của một Hành Tinh Thượng Đế.

121. Are we speaking only of incarnation upon the systemic dense physical plane or upon the cosmic dense physical plane? There are a number of chains (for instance in our Earth-scheme) which have globes which have vehicles included in the dense physical plane of the Planetary Logos—our systemic physical, etheric, astral and lower mental planes.

121. Phải chăng chúng ta chỉ đang nói về sự nhập thể trên cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống hay trên cõi hồng trần đậm đặc vũ trụ? Có một số dãy (thí dụ trong hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta) có những bầu hành tinh với các vận cụ được bao gồm trong cõi hồng trần đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế—các cõi hồng trần hệ thống, dĩ thái, cảm dục và hạ trí của chúng ta.

122. So, either the cycle which sees the Planetary Logos incarnating within the systemic dense physical plane comes to a close or the larger cycle which sees Him incarnating on the lower eighteen systemic subplanes comes to a close. Either cycle could be called a “manvantara”. It is a very versatile term and its duration is not precisely given for the various Planetary Logoi and for the various manvantaric cycles within the process of manifestation.

122. Vì vậy, hoặc chu kỳ chứng kiến Đức Hành Tinh Thượng Đế nhập thể trong cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống đi đến chỗ kết thúc, hoặc chu kỳ lớn hơn chứng kiến Ngài nhập thể trên mười tám cõi phụ hệ thống thấp hơn đi đến chỗ kết thúc. Cả hai chu kỳ đều có thể được gọi là một “Giai kỳ sinh hóa”. Đây là một thuật ngữ rất linh hoạt và thời lượng của nó không được nêu chính xác đối với các Hành Tinh Thượng Đế khác nhau và đối với các chu kỳ giai kỳ sinh hóa khác nhau trong tiến trình biểu hiện.

Withdrawal of the force of desire results likewise in the cessation of man's physical existence.

Sự rút lui của mãnh lực dục vọng cũng dẫn đến sự chấm dứt sự tồn tại hồng trần của con người.

123. DK is drawing the analogy between the death of a human being and the death of a Heavenly Man.

123. Chân sư DK đang nêu ra phép loại suy giữa cái chết của một con người và cái chết của một Đấng Thiên Nhân.

124. In a way, man’s physical existence is not only the cycle of his expression through a physical vehicle on the systemic dense physical plane. His entire personality life (through the four vehicles of the lower quaternary) is also a form of physical existence, distinct from his subjective existence as a soul on the higher mental plane.

124. Theo một cách nào đó, sự tồn tại hồng trần của con người không chỉ là chu kỳ biểu lộ của y qua một vận cụ hồng trần trên cõi hồng trần đậm đặc của hệ thống. Toàn bộ đời sống phàm ngã của y (qua bốn vận cụ của bộ tứ thấp) cũng là một hình thức tồn tại hồng trần, phân biệt với sự tồn tại chủ quan của y như một linh hồn trên Cõi thượng trí.

125. When it comes to considering the human being, however, physical existence is generally regarded as incarnational existence within a dense physical body and this is the way we will consider it.

125. Tuy nhiên, khi xét đến con người, sự tồn tại hồng trần thường được xem là sự tồn tại nhập thể trong một thể xác đậm đặc, và đó là cách chúng ta sẽ xem xét nó.

The old Commentary expresses this truth in the following words:

Cổ Luận diễn tả chân lý này bằng những lời sau đây:

“The Sixth retire within themselves; they turn towards the Fifth, leaving the Seventh alone.”

“Thứ Sáu rút lui vào bên trong chính mình; họ quay về phía Thứ Năm, để lại Thứ Bảy đơn độc.”

126. This is a fascinating way of considering death—whether of a human being or a Planetary Logos.

126. Đây là một cách thật hấp dẫn để xem xét cái chết—dù là của một con người hay của một Hành Tinh Thượng Đế.

127. Which way shall desire turn—downwards towards physical incarnation or upwards towards the devas of the fifth order on the mental plane (whether systemic mental or cosmic mental).

127. Dục vọng sẽ quay theo hướng nào—hướng xuống sự lâm phàm hồng trần hay hướng lên các thiên thần bậc năm trên cõi trí (dù là cõi trí hệ thống hay cõi trí vũ trụ).

128. When the seventh are left alone, disintegration sets in due to the loss of the desire which brings etheric-physical plane coherence.

128. Khi loại thứ bảy bị để riêng một mình, sự tan rã bắt đầu do mất đi dục vọng vốn đem lại sự cố kết của cõi dĩ thái-hồng trần.

In continuing our consideration of these deva orders, it should be pointed out that these three lower deva orders—the lower fifth, the sixth and the seventh—have a close connection with the moon.

Tiếp tục việc xem xét các cấp thiên thần này, cần chỉ ra rằng ba cấp thiên thần thấp này—thứ năm thấp, thứ sáu và thứ bảy—có liên hệ mật thiết với Mặt Trăng.

129. The entire dense physical body of the Planetary Logos have a close connection with the Moon. This lowest of the planetary vehicles is composed of unredeemed substance inherited from the first solar system and qualified by the vibration of the Moon-chain.

129. Toàn bộ thể xác đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế có liên hệ mật thiết với Mặt Trăng. Hiện thể hành tinh thấp nhất này được cấu thành từ chất liệu chưa được cứu chuộc, thừa hưởng từ hệ mặt trời thứ nhất và được phẩm định bởi rung động của Dãy Mặt Trăng.

130. Note that the entirety of the fifth order of devas is not included, but only the “lower fifth”—distinct from what the Agnishvattas (as we usually consider them).

130. Xin lưu ý rằng không phải toàn bộ cấp thiên thần thứ năm đều được bao gồm, mà chỉ có “thứ năm thấp”—phân biệt với các Agnishvatta (theo cách chúng ta thường quan niệm về họ).

131. These are the devas utilized in lunar magic—the kind employed by the dark brothers.

131. Đây là các thiên thần được sử dụng trong ma thuật nguyệt tính—loại được các huynh đệ bóng tối sử dụng.

132. The term Lunar Pitris can be used in a general sense, to refer to the various types of evolutionary devas we have been discussing and not only in a specific sense related to the devas which hold a man’s lunar vehicles in coherence.

132. Thuật ngữ thái âm tổ phụ có thể được dùng theo nghĩa tổng quát, để chỉ các loại thiên thần tiến hoá khác nhau mà chúng ta đang bàn đến, chứ không chỉ theo nghĩa chuyên biệt liên hệ đến các thiên thần giữ cho các hiện thể nguyệt tính của con người được cố kết.

They are the building agents which (working on the involutionary matter of the three worlds) construct the lower three bodies of incarnating man.

Họ là các tác nhân kiến tạo, những vị (hoạt động trên chất liệu giáng hạ tiến hoá của ba cõi giới) xây dựng ba thể thấp của con người đang lâm phàm.

133. These devas of the seventh, sixth and fifth order are not the involutionary matter of the three worlds. They are not elemental life, but rather work upon it constructing the vehicles of man.

133. Các thiên thần thuộc cấp thứ bảy, thứ sáu và thứ năm này không phải là chất liệu giáng hạ tiến hoá của ba cõi giới. Họ không phải là sự sống hành khí, mà đúng hơn là hoạt động trên nó để kiến tạo các hiện thể của con người.

134. It must be remembered, therefore, that these devas are evolutionary devas.

134. Vì vậy, phải nhớ rằng các thiên thần này là các thiên thần tiến hoá.

They are a branch of the lunar Pitris,

Họ là một nhánh của các thái âm tổ phụ,

135. We are reminded that the terms “lunar Pitris” is a rather generic term and covers a variety of devas with different functions.

135. Chúng ta được nhắc rằng thuật ngữ “thái âm tổ phụ” là một thuật ngữ khá tổng quát và bao trùm nhiều loại thiên thần với các chức năng khác nhau.

but the fact should be remembered that this particular branch of pitris are those functioning in our particular scheme, and are closely allied to our planetary Logos.

nhưng cần nhớ rằng nhánh tổ phụ đặc biệt này là những vị đang hoạt động trong hệ hành tinh đặc thù của chúng ta, và có liên hệ rất mật thiết với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

136. This is an important statement. Earlier we seemed to be differentiating between the devas of the sixth order and the Lunar Lords.

136. Đây là một phát biểu quan trọng. Trước đó dường như chúng ta đã phân biệt giữa các thiên thần thuộc cấp thứ sáu và các nguyệt tinh quân.

137. The Lunar Lords are Lunar Pitris, but, apparently, they are not the only Lunar Pitris.

137. Các nguyệt tinh quân là các thái âm tổ phụ, nhưng rõ ràng họ không phải là những thái âm tổ phụ duy nhất.

138. We come to the conclusion that all the evolutionary devas under discussion are linked to the Moon and are, in that sense, Lunar Pitris, but not all of them are the Lunar Lords who are the lives controlling man’s vehicles of elemental essence.

138. Chúng ta đi đến kết luận rằng tất cả các thiên thần tiến hoá đang được bàn đến đều liên kết với Mặt Trăng và, theo nghĩa đó, đều là thái âm tổ phụ; nhưng không phải tất cả họ đều là các nguyệt tinh quân, tức những sự sống kiểm soát các hiện thể của con người bằng tinh chất hành khí.

139. DK is informing us that there are a number of types of lunar Pitris. The kind here discussed (the branch here discussed) work in our scheme and are closely linked to our Planetary Logos.

139. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng có nhiều loại thái âm tổ phụ. Loại đang được bàn ở đây (nhánh đang được bàn ở đây) hoạt động trong hệ hành tinh của chúng ta và có liên hệ mật thiết với Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

140. Presumably, there are elsewhere in our solar system other varieties of lunar Pitris linked with other Planetary Logos. Why they should be called “lunar” when some of these other Planetary Logoi do not have moons attached to Their expression, can be debated.

140. Có lẽ ở những nơi khác trong hệ mặt trời của chúng ta còn có những loại thái âm tổ phụ khác liên kết với các Đức Hành Tinh Thượng Đế khác. Vì sao chúng lại được gọi là “nguyệt tính” khi một số Đức Hành Tinh Thượng Đế khác này không có mặt trăng gắn với biểu hiện của Các Ngài, điều đó có thể còn được bàn luận.

Groups of these Pitris are found wherever man is in incarnation in all the schemes,

Các nhóm tổ phụ này được tìm thấy ở bất cứ nơi nào con người đang lâm phàm trong mọi hệ hành tinh,