Trích nội dung chương
23. It becomes apparent that the development of real love negates the appeal of lower desire. Love must replace low desire. The power of the heart center must replace the power of the solar plexus center. 23. Rõ ràng là sự phát triển tình thương đích thực sẽ phủ nhận sức hấp dẫn của ham muốn thấp. Tình thương phải thay thế ham muốn thấp. Quyền năng của trung tâm tim phải thay thế quyền năng của trung tâm tùng thái dương.
b. The sincere love of man
b. Tình thương chân thành đối với con người
c. A steady negation of all lower desire
c. Sự phủ nhận bền bỉ mọi ham muốn thấp
23. It becomes apparent that the development of real love negates the appeal of lower desire. Love must replace low desire. The power of the heart center must replace the power of the solar plexus center.
23. Rõ ràng là sự phát triển tình thương đích thực sẽ phủ nhận sức hấp dẫn của ham muốn thấp. Tình thương phải thay thế ham muốn thấp. Quyền năng của trung tâm tim phải thay thế quyền năng của trung tâm tùng thái dương.
[Danger 3]
[Danger 3]
The third danger which menaces the unwary student of magic lies in the fact that when he tampers with these forces and energies he is dealing with that which is akin to his own lower nature. He, therefore, follows the line of least resistance; he augments these energies, thereby increasing their response to the lower and to the material aspects of his nature. This he does at the expense of his higher nature, retarding its unfoldment and delaying his progress.
Nguy hiểm thứ ba đe dọa đạo sinh huyền thuật thiếu thận trọng nằm ở chỗ khi y can thiệp vào các mãnh lực và năng lượng này y đang đề cập đến điều tương cận với bản chất thấp của chính mình. Vì vậy, y đi theo con đường ít trở ngại nhất; y làm tăng cường các năng lượng này, do đó làm tăng sự đáp ứng của chúng đối với các phương diện thấp và vật chất trong bản chất của y. Y làm điều này với cái giá là bản chất cao hơn của mình, làm chậm sự khai mở của nó và trì hoãn sự tiến bộ của mình.
24. The essence of this danger is the tendency of man to strengthen his lower nature. Rather than participate in the salutary struggle between the higher and lower natures, he reinforces the strength of that which is of the personality and akin to the forces of the personality. Personality gratification becomes ever earlier of accomplishment.
24. Bản chất của nguy hiểm này là khuynh hướng của con người muốn tăng cường bản chất thấp của mình. Thay vì tham dự vào cuộc đấu tranh lành mạnh giữa bản chất cao và thấp, y củng cố sức mạnh của điều gì thuộc về phàm ngã và tương cận với các mãnh lực của phàm ngã. Sự thỏa mãn phàm ngã ngày càng trở nên dễ đạt được hơn.
25. If he follows the line of least resistance, he is strengthening within himself the third aspect of divinity instead of transferring his polarization into the second aspect.
25. Nếu y đi theo con đường ít trở ngại nhất, y đang tăng cường trong chính mình phương diện thứ ba của thiên tính thay vì chuyển dịch sự phân cực của mình vào phương diện thứ hai.
26. It becomes apparent that if the lower nature is strengthened without the cultivation of its response to the higher nature, the grip of the higher nature upon the lower will be weakened and the man’s spiritual process retarded.
26. Rõ ràng là nếu bản chất thấp được tăng cường mà không vun bồi sự đáp ứng của nó đối với bản chất cao hơn, thì sự nắm giữ của bản chất cao hơn trên bản chất thấp sẽ bị suy yếu và tiến trình tinh thần của con người sẽ bị trì hoãn.
Incidentally also, he attracts the attention of those masters of the left hand path
Ngoài ra, y cũng thu hút sự chú ý của những chân sư của tả đạo
27. Again, the term “masters” is used.
27. Một lần nữa, thuật ngữ “chân sư” lại được dùng.
28. This is a type of “attention” which wise aspirants and disciples would be only too glad to relinquish if they but knew its nature.
28. Đây là một loại “sự chú ý” mà những người chí nguyện và đệ tử khôn ngoan hẳn sẽ vô cùng sẵn lòng từ bỏ nếu họ biết bản chất của nó.
who are ever on the lookout for those who can be bent to their purposes, and he becomes (unwittingly at first), an agent on the side of evil.
những kẻ luôn luôn canh chừng những ai có thể bị uốn nắn theo các mục đích của họ, và y trở thành (lúc đầu là vô tình) một tác nhân đứng về phía điều ác.
29. Probably there are few who would wittingly serve the black masters. Their methods, however, are subtle and deceptive and, once an aspiring magician has practiced magic in such a manner as to put him in resonance with such masters, it becomes much easier for these masters to influence his consciousness and actions.
29. Có lẽ rất ít người cố ý phụng sự các hắc chân sư. Tuy nhiên, các phương pháp của họ thì tinh vi và lừa dối, và một khi một nhà huyền thuật chí nguyện đã thực hành huyền thuật theo cách khiến y cộng hưởng với các chân sư như thế, thì các chân sư ấy sẽ dễ dàng hơn nhiều trong việc ảnh hưởng đến tâm thức và hành động của y.
30. We notice that, however subtly, the force of compulsion is used. This is the connotation of the word “bent”.
30. Chúng ta lưu ý rằng, dù tinh vi đến đâu, mãnh lực cưỡng bách vẫn được sử dụng. Đó là hàm ý của từ “uốn nắn”.
31. We notice that there is type of vigilance to be found in the adepts of both lodges. Naturally, we do not wish to fall under the eye of the black masters unless because they consider our work inhibitory of their purposes. While we would not be wise to deliberately cultivate such attention, it will inevitably come if we are successful in serving the Great White Brotherhood.
31. Chúng ta lưu ý rằng có một loại tỉnh thức cảnh giác nơi các chân sư của cả hai đoàn. Đương nhiên, chúng ta không muốn rơi vào tầm mắt của các hắc chân sư trừ phi vì họ xem công việc của chúng ta là cản trở các mục đích của họ. Dù chúng ta không khôn ngoan nếu cố ý vun bồi sự chú ý như thế, nó vẫn sẽ tất yếu đến nếu chúng ta thành công trong việc phụng sự Huynh đệ Đoàn Chánh đạo.
It will be apparent, therefore, that the student has need of the following qualities before he undertakes the arduous task of becoming a conscious Master of Magic:
Vì vậy, rõ ràng là đạo sinh cần có những phẩm tính sau đây trước khi đảm nhận nhiệm vụ gian lao là trở thành một Chân sư Huyền thuật hữu thức:
32. Now Master DK tabulates in a most specific manner summarizing the cautions He has been sharing in the preceding pages.
32. Giờ đây Chân sư DK liệt kê một cách rất cụ thể để tóm lược những lời cảnh báo mà Ngài đã chia sẻ trong các trang trước.
Physical Purity. This is a thing not easily to be acquired, but entailing many lives of strenuous effort.
Sự thanh khiết hồng trần. Đây không phải là điều dễ đạt được, mà đòi hỏi nhiều kiếp sống nỗ lực mãnh liệt.
33. We cannot think that the Tibetan is exaggerating. Anyone who has really tried to conquer his physical nature knows the difficulty of the enterprise.
33. Chúng ta không thể nghĩ rằng Chân sư Tây Tạng đang phóng đại. Bất kỳ ai thực sự đã cố gắng chinh phục bản chất hồng trần của mình đều biết sự khó khăn của công việc ấy.
34. Perhaps there are a number of learned aspirants who think of this type of work as accomplished long ago and requiring of them no further attention. In this they are often mistaken.
34. Có lẽ có một số người chí nguyện uyên bác nghĩ rằng loại công việc này đã được hoàn tất từ lâu và không còn đòi hỏi nơi họ sự chú ý nào nữa. Trong điều này, họ thường lầm lẫn.
Through abstinence, right continence, clean living, vegetarian diet, and rigid self-control, the man gradually raises the vibration of his physical atoms, builds a body of ever greater resistance and strength, and succeeds in "manifesting" forth in a sheath of greater refinement.
Qua sự kiêng cữ, tiết dục đúng đắn, đời sống thanh khiết, chế độ ăn chay, và sự tự chủ nghiêm ngặt, con người dần dần nâng cao rung động của các nguyên tử thể xác của mình, xây dựng một thể ngày càng có sức đề kháng và sức mạnh lớn hơn, và thành công trong việc “biểu lộ” ra ngoài trong một vỏ bọc tinh luyện hơn.
35. The requirements here presented are very strict.
35. Những đòi hỏi được trình bày ở đây rất nghiêm ngặt.
36. From what must a man abstain? From all excess, especially in the use of he creative energies of the body.
36. Con người phải kiêng điều gì? Kiêng mọi sự thái quá, đặc biệt trong việc sử dụng các năng lượng sáng tạo của thể.
37. What is “right continence”? Is it not a conservation of the powers of the body so that they may be used rightly and not inappropriately or prodigally?
37. “Tiết dục đúng đắn” là gì? Chẳng phải đó là sự bảo tồn các năng lực của thể để chúng có thể được sử dụng đúng đắn chứ không phải một cách không thích hợp hay phung phí sao?
38. We note the call to “clean living” and vegetarianism. So much depends upon what the man seeks to accomplish. These requirements do not apply to those who do not seek consciously to tread the Path of Initiation. The true applicant cannot tolerate within his nature that which attracts energies and forces inimical to his spiritual goals.
38. Chúng ta cũng lưu ý đến lời kêu gọi về “đời sống thanh khiết” và ăn chay. Rất nhiều điều tùy thuộc vào điều con người tìm cách thành tựu. Những đòi hỏi này không áp dụng cho những ai không tìm cách một cách hữu thức bước đi trên Con Đường Điểm Đạo. Người thỉnh cầu chân chính không thể dung thứ trong bản chất mình bất cứ điều gì thu hút các năng lượng và mãnh lực đối nghịch với các mục tiêu tinh thần của y.
39. We note also the use of the word “rigid”—a word used not infrequently by the Tibetan. Here it applies to “self-control”. The aspirant to white magic must never allow any of his vehicles to ‘carry him away’. If he does so, he will become guilty of unprincipled behavior!
39. Chúng ta cũng lưu ý đến việc dùng từ “nghiêm ngặt”—một từ không hiếm khi được Chân sư Tây Tạng sử dụng. Ở đây nó áp dụng cho “sự tự chủ”. Người chí nguyện hướng đến Chánh Thuật không bao giờ được để cho bất kỳ vận cụ nào của mình “cuốn y đi”. Nếu làm vậy, y sẽ phạm vào hành vi vô nguyên tắc!
Etheric Freedom.
Tự do dĩ thái.
40. Each of these terms must be studied closely—purity, freedom, stability and poise.
40. Mỗi thuật ngữ này phải được nghiên cứu kỹ lưỡng—thanh khiết, tự do, ổn định và quân bình.
This term does not convey all that [Page 995] I seek to impart, but it suffices for need of a better. The student of magic who can safely undertake the enterprise, will have constructed an etheric body of such a nature that vitality, or pranic force and energy, can circulate unimpeded;
Thuật ngữ này không chuyển tải trọn vẹn điều [Page 995] tôi tìm cách truyền đạt, nhưng tạm đủ khi chưa có từ nào tốt hơn. Đạo sinh huyền thuật nào có thể an toàn đảm nhận công việc này sẽ đã kiến tạo một thể dĩ thái có bản chất sao cho sinh lực, hay prana và năng lượng, có thể lưu thông không bị ngăn trở;
41. DK is speaking of the requirement for unimpeded circulation of prana within the etheric body. Obviously, etheric blockages are responsibility for many diseases in the physical body and a general weakening or overstimulation in that outermost vehicle. Poor circulation of prana creates imbalance and malfunction within the dense physical form.
41. DK đang nói về yêu cầu để prana lưu thông không bị ngăn trở trong thể dĩ thái. Hiển nhiên, các tắc nghẽn dĩ thái là nguyên nhân của nhiều bệnh tật trong thể xác và của sự suy yếu chung hoặc sự kích thích quá mức trong vận cụ ngoài cùng ấy. Sự lưu thông prana kém tạo ra mất quân bình và rối loạn chức năng trong hình tướng hồng trần đậm đặc.
he will have formed an etheric web of such tenuosity that it forms no barrier to consciousness.
y sẽ đã hình thành một màng lưới dĩ thái mỏng mảnh đến mức nó không tạo thành rào cản đối với tâm thức.
42. The implication here is that a thickened etheric web will, indeed, form a barrier to consciousness. The states of consciousness possible on the astral and mental planes (and on planes above) must eventually be accessible within the physical brain. This will not be possible unless a sufficiently tenuous etheric web permits of the transmission of these higher states to the physical brain.
42. Hàm ý ở đây là một màng lưới dĩ thái bị dày đặc hóa quả thật sẽ tạo thành một rào cản đối với tâm thức. Những trạng thái tâm thức có thể có trên cõi cảm dục và cõi trí (và trên các cõi cao hơn) rốt cuộc phải trở nên khả dụng trong bộ não hồng trần. Điều này sẽ không thể xảy ra trừ phi một màng lưới dĩ thái đủ mỏng cho phép truyền các trạng thái cao hơn ấy đến bộ não hồng trần.
This is all that can be said on this subject, owing to the danger involved, but it suffices for the conveyance of information to those who are beginning to know.
Đó là tất cả những gì có thể nói về chủ đề này, do mối nguy hiểm liên hệ, nhưng như thế cũng đủ để truyền đạt thông tin cho những ai đang bắt đầu biết.
43. We see that while the physical body must be strong, it must also be pure: that while the etheric body must protect, it must also be sufficiently tenuous to allow the transmission of that which must reach the physical brain.
43. Chúng ta thấy rằng tuy thể xác phải mạnh, nó cũng phải thanh khiết; rằng tuy thể dĩ thái phải bảo vệ, nó cũng phải đủ mỏng để cho phép sự truyền đạt điều phải đến được bộ não hồng trần.
Astral Stability. The student of magic aims, above all,
Sự ổn định cảm dục. Trên hết, đạo sinh huyền thuật nhắm đến
44. This, it seems, is the most important requirement.
44. Điều này, dường như, là yêu cầu quan trọng nhất.
to purify his desires, and so to transmute his emotions that the lower physical purity and the higher mental responsiveness and transmutative power may equally be available.
việc thanh lọc các ham muốn của mình, và nhờ đó chuyển hoá các cảm xúc của mình để sự thanh khiết hồng trần thấp hơn và khả năng đáp ứng trí tuệ cao hơn cùng quyền năng chuyển hoá đều có thể sẵn dùng như nhau.
45. The implication here is that if the desires are impure, that there will be no “lower physical purity” and that the higher mind will not be accessible. Without the energy of the higher mind, the energy of the spiritual triad will not be made available within the personality and its power of transmutation (eventually etheric substitution) will not work within the personality.
45. Hàm ý ở đây là nếu các ham muốn không thanh khiết thì sẽ không có “sự thanh khiết hồng trần thấp hơn” và thượng trí sẽ không thể tiếp cận được. Không có năng lượng của thượng trí, năng lượng của Tam Nguyên Tinh Thần sẽ không được làm cho khả dụng trong phàm ngã và quyền năng chuyển hoá của nó (rốt cuộc là sự thay thế dĩ thái) sẽ không hoạt động trong phàm ngã.
Every magician has to learn the fact that, in this solar system, during the cycle of humanity, the astral body is the pivotal point of endeavour,
Mọi nhà huyền thuật đều phải học sự kiện rằng, trong hệ mặt trời này, trong chu kỳ của nhân loại, thể cảm dục là điểm then chốt của nỗ lực,
46. So strong is the astral body of our emotionally polarized Solar Logos…
46. Thể cảm dục của Thái dương Thượng đế phân cực cảm xúc của chúng ta mạnh mẽ biết bao…
47. Notice that the existence of humanity has a certain time period or cycle. We may judge that humanity has not always existed in the solar system nor will it.
47. Hãy lưu ý rằng sự hiện hữu của nhân loại có một thời kỳ hay chu kỳ nhất định. Chúng ta có thể phán đoán rằng nhân loại không phải lúc nào cũng hiện hữu trong hệ mặt trời và cũng sẽ không luôn như vậy.
having a reflex effect on both the other sheaths, the physical and the mental.
vì nó có tác động phản chiếu lên cả hai vỏ bọc kia, thể xác và thể trí.
48. What is suggested is that no true use of the etheric-physical body and of the mind (both lower and higher) will be possible unless the astral body is in a correct condition.
48. Điều được gợi ý là sẽ không thể có việc sử dụng đích thực thể dĩ thái-hồng trần và trí tuệ (cả hạ trí lẫn thượng trí) trừ phi thể cảm dục ở trong tình trạng đúng đắn.
He, therefore, aims at transmuting (as has often been said) lower desire into aspiration;
Vì vậy, y nhắm đến việc chuyển hoá (như thường được nói) dục vọng thấp thành khát vọng;
49. Transmutation can be applied to all the vehicles of the personality.
49. Sự chuyển hoá có thể được áp dụng cho mọi vận cụ của phàm ngã.
50. Transmutation always represents an elevation of vibration and quality.
50. Sự chuyển hoá luôn luôn biểu thị một sự nâng cao rung động và phẩm tính.
at changing the lower cruder colors which distinguish the astral body of average man, for the clearer, purer tones of the spiritual man,
nhắm đến việc thay đổi những màu sắc thấp kém, thô trược vốn đặc trưng cho thể cảm dục của con người trung bình, thành những sắc điệu trong sáng hơn, thanh khiết hơn của con người tinh thần,
51. This process entails a refinement of color. Since color is, essentially, a veil, such refinement allows a more thorough transmission of the higher to the lower, and an easier access to the higher by the lower.
51. Tiến trình này bao hàm một sự tinh luyện màu sắc. Vì màu sắc, về bản chất, là một bức màn, nên sự tinh luyện ấy cho phép sự truyền đạt từ cao xuống thấp được trọn vẹn hơn, và sự tiếp cận cái cao hơn của cái thấp hơn được dễ dàng hơn.
52. There is also a process of growing translucency leading to transparency.
52. Cũng có một tiến trình ngày càng trở nên bán trong suốt, dẫn đến trong suốt hoàn toàn.
and of transforming its normal chaotic vibration, and the "stormy sea of life,"
và nhắm đến việc chuyển đổi rung động hỗn loạn thông thường của nó, cùng “biển đời dậy sóng,”
53. DK has spoken of the engulfing effect of the “waves which rise upon the stormy sea of life” in His injunction (in A Treatise on White Magic ) to “control the body of emotion”.
53. DK đã nói về tác động nhấn chìm của “những làn sóng dâng lên trên biển đời dậy sóng” trong lời huấn thị của Ngài (trong Luận về Chánh Thuật) là phải “kiểm soát thể cảm xúc”.
for the steady rhythmic response to that which is highest and the centre of peace.
thành sự đáp ứng nhịp nhàng, vững vàng đối với điều cao nhất và đối với trung tâm bình an.
54. Peacefulness in the astral body is achieved when there is established within the meditating consciousness a steady rhythmic response to the soul and especially to its buddhic quality.
54. Sự an hòa trong thể cảm dục đạt được khi trong tâm thức tham thiền đã thiết lập được một sự đáp ứng nhịp nhàng, vững vàng đối với linh hồn và đặc biệt đối với phẩm tính Bồ đề của nó.
55. While chaos often reigns within the lunar vehicles, the soul expresses the principle of “cosmos”— i.e., of order and beauty.
55. Trong khi hỗn loạn thường ngự trị trong các vận cụ nguyệt tính, linh hồn biểu lộ nguyên khí của “vũ trụ”—tức là của trật tự và vẻ đẹp.
These things he effects by constant watchfulness, unremitting control, and steady meditation.
Y thực hiện những điều này bằng sự tỉnh thức thường xuyên, sự kiểm soát không ngơi nghỉ, và sự tham thiền đều đặn.
56. The requirements are uncompromising.
56. Những đòi hỏi này không chấp nhận sự nhân nhượng.
57. How must a man approach the transmutation of the astral body?
57. Con người phải tiếp cận việc chuyển hoá thể cảm dục như thế nào?
a. Through constant watchfulness. This suggests an ability to focus as the observer within the mind.
a. Qua sự tỉnh thức thường xuyên. Điều này gợi ý khả năng tập trung như người quan sát trong trí tuệ.
b. Through unremitting control. One does not allow the astral body to react.
b. Qua sự kiểm soát không ngơi nghỉ. Người ta không cho phép thể cảm dục phản ứng.
c. Through steady meditation. The influence of the soul and its rhythm steadies the astral body and produces within it a new rhythm conducive to loving response.
c. Qua sự tham thiền đều đặn. Ảnh hưởng của linh hồn và nhịp điệu của nó làm ổn định thể cảm dục và tạo ra trong đó một nhịp điệu mới thuận lợi cho sự đáp ứng bác ái.
Mental Poise. These words are used in the occult sense, wherein the mind (as it is commonly understood) becomes the keen steady instrument of the indwelling thinker, and the point from which he can travel onwards to higher realms of comprehension.
Sự quân bình trí tuệ. Những từ này được dùng theo nghĩa huyền bí, trong đó trí tuệ (như thường được hiểu) trở thành công cụ sắc bén, vững vàng của thức giả ngự bên trong, và là điểm từ đó y có thể tiến onward đến những lĩnh vực thấu hiểu cao hơn.
58. First there must be mental control. Then the use of the mind to enter wider and higher realms of comprehension and understanding.
58. Trước hết phải có sự kiểm soát trí tuệ. Sau đó là việc sử dụng trí tuệ để đi vào những lĩnh vực thấu hiểu và hiểu biết rộng lớn hơn và cao hơn.
59. The mind becomes sharp. The mind becomes steady. The mind becomes progressive, leading into areas greater mental perception.
59. Trí tuệ trở nên sắc bén. Trí tuệ trở nên vững vàng. Trí tuệ trở nên tiến bộ, dẫn vào những lĩnh vực tri giác trí tuệ lớn hơn.
It is the foundation stone whence the higher expansion can be initiated.
Nó là viên đá nền tảng từ đó sự mở rộng cao hơn có thể được khởi sự.
60. Initiation is an achieved and sustained expansion of consciousness.
60. Điểm đạo là một sự mở rộng tâm thức đã đạt được và được duy trì bền vững.
61. A poised mind is required of one who seeks those higher expansions of consciousness we call “initiations”. We see that without proper training there is no real treading of the Path of Initiation.
61. Một trí tuệ quân bình được đòi hỏi nơi người tìm kiếm những sự mở rộng tâm thức cao hơn mà chúng ta gọi là “các điểm đạo”. Chúng ta thấy rằng nếu không có sự huấn luyện thích đáng thì không có việc bước đi thực sự trên Con Đường Điểm Đạo.
Let not the would-be student of magic proceed in his investigations and his experiments until he has attended to these injunctions, and until the whole bent of his thought is towards their manifestation and their demonstration [Page 996] in his every day life.
Đừng để người muốn trở thành đạo sinh huyền thuật tiến hành các khảo cứu và các thử nghiệm của mình cho đến khi y đã lưu tâm đến những huấn lệnh này, và cho đến khi toàn bộ khuynh hướng tư tưởng của y hướng về sự biểu lộ và sự chứng minh của chúng [Page 996] trong đời sống hằng ngày của y.
62. Probably it will be many decades and even centuries before the requisite magical words and formulas are placed in his hands. Nevertheless, there are still many ancient formulas extant which can be used ignorantly, improperly and with wrong motive. Until the true magical formulas are revealed, DK’s warnings may safeguard many.
62. Có lẽ sẽ phải mất nhiều thập niên và thậm chí nhiều thế kỷ trước khi những linh từ và công thức huyền thuật cần thiết được đặt vào tay y. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều công thức cổ xưa hiện tồn có thể bị sử dụng trong vô minh, không thích đáng và với động cơ sai lầm. Cho đến khi các công thức huyền thuật chân chính được mặc khải, những lời cảnh báo của DK có thể bảo vệ được nhiều người.
When he has so worked, ceaselessly and untiringly, and his physical plane life and service bear witness to the inner transmutation, then he can proceed to parallel this life with magical studies and work.
Khi y đã làm việc như thế, không ngừng nghỉ và không mệt mỏi, và đời sống cùng sự phụng sự trên cõi hồng trần của y làm chứng cho sự chuyển hoá bên trong, thì y có thể tiến tới song hành đời sống này với việc học hỏi và công việc huyền thuật.
63. It is clear that the inner transmutation upon which the true student has labored long must be visible and in serviceable expression before it is wise for him to apply himself to magical studies of the practical kind.
63. Rõ ràng là sự chuyển hoá bên trong mà đạo sinh chân chính đã lao động lâu dài phải trở nên hữu hình và được biểu lộ một cách phụng sự trước khi y nên khôn ngoan áp dụng mình vào những nghiên cứu huyền thuật có tính thực hành.
Only the solar Angel can do the work of the white magician, and he effects it through the control of the lunar angels and their complete subjugation.
Chỉ Thái dương Thiên Thần mới có thể làm công việc của nhà huyền thuật chánh đạo, và nó thực hiện điều đó qua việc kiểm soát các thiên thần nguyệt tính và sự khuất phục hoàn toàn họ.
64. This is a potent statement giving pause for reflection. One implication is that, well before the taking of the fourth initiation, the human being can become a white magician.
64. Đây là một phát biểu mạnh mẽ khiến người ta phải dừng lại suy ngẫm. Một hàm ý là, từ rất lâu trước khi trải qua lần điểm đạo thứ tư, con người có thể trở thành một nhà huyền thuật chánh đạo.
65. The Solar Angel is not the white magician and yet it is. When the energy system and consciousness of the magician are a pure and clear conduit for the energies of the Solar Angel (energies which are normally suffused throughout the causal body), then the magician can act as a white magician and not before. Then and only then can the Solar Angel work through the magician—now a white magician.
65. Thái dương Thiên Thần không phải là nhà huyền thuật chánh đạo, nhưng đồng thời nó là. Khi hệ thống năng lượng và tâm thức của nhà huyền thuật là một ống dẫn thanh khiết và trong sáng cho các năng lượng của Thái dương Thiên Thần (những năng lượng vốn thường thấm nhuần khắp thể nguyên nhân), thì khi ấy nhà huyền thuật mới có thể hành động như một nhà huyền thuật chánh đạo chứ không phải trước đó. Khi ấy và chỉ khi ấy Thái dương Thiên Thần mới có thể hoạt động qua nhà huyền thuật—nay là một nhà huyền thuật chánh đạo.
66. The Solar Angel knows the Divine Plan. The true white magician seeks ever to cooperate with this Plan.
66. Thái dương Thiên Thần biết Thiên Cơ. Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính luôn tìm cách hợp tác với Thiên Cơ này.
67. We note that the Solar Angel working through the white magician does not share authority with the lunar angels but seeks to control them completely. The greater Angel (working through the white magician—i.e., through the purified soul-in-incarnation) subjugates the lesser ‘angels’ entirely. When such subjugation is firmly established, white magic can be performed.
67. Chúng ta lưu ý rằng Thái dương Thiên Thần hoạt động qua nhà huyền thuật chánh đạo không chia sẻ quyền lực với các thiên thần nguyệt tính mà tìm cách kiểm soát họ hoàn toàn. Thiên Thần lớn hơn (hoạt động qua nhà huyền thuật chánh đạo—tức là qua linh hồn đang nhập thể đã được thanh lọc) khuất phục hoàn toàn các “thiên thần” nhỏ hơn. Khi sự khuất phục ấy được thiết lập vững chắc, Chánh Thuật mới có thể được thực hiện.
They are arrayed against him, until, through meditation, aspiration, and control, he bends them to his will and they become his servants.
Họ dàn trận chống lại y, cho đến khi, qua tham thiền, khát vọng và kiểm soát, y uốn họ theo ý chí mình và họ trở thành những kẻ phụng sự của y.
68. The magician who can identify with the Solar Angel and transmit its potency becomes (in a sense and for purposes of white magic) the Solar Angel.
68. Nhà huyền thuật nào có thể đồng hoá với Thái dương Thiên Thần và truyền đạt uy lực của nó thì trở thành (theo một nghĩa nào đó và vì các mục đích của Chánh Thuật) chính Thái dương Thiên Thần.
69. We are to make no mistake. The lunar angels are the opponents of the Solar Angel. To be “arrayed against him” is to act as an opposing army.
69. Chúng ta không được lầm lẫn. Các thiên thần nguyệt tính là những đối thủ của Thái dương Thiên Thần. “Dàn trận chống lại y” có nghĩa là hành động như một đạo quân đối nghịch.
70. The white magician does not lose his own identity but identifies so closely with the Solar Angel that it is as if, for purposes of magical work, they are one.
70. Nhà huyền thuật chánh đạo không đánh mất bản sắc riêng của mình, nhưng đồng hoá mật thiết với Thái dương Thiên Thần đến mức dường như, vì các mục đích của công việc huyền thuật, họ là một.
71. The three methods of bending the lunar angels to the united will of the Solar Angel and white magician are meditation, aspiration and control. Unless these three means constitute the approach of the magician to the lunar lords, they will not become his servants and the white magical process cannot proceed.
71. Ba phương pháp để uốn các thiên thần nguyệt tính theo ý chí hợp nhất của Thái dương Thiên Thần và nhà huyền thuật chánh đạo là tham thiền, khát vọng và kiểm soát. Trừ phi ba phương tiện này cấu thành cách tiếp cận của nhà huyền thuật đối với các nguyệt tinh quân, họ sẽ không trở thành những kẻ phụng sự của y và tiến trình huyền thuật chánh đạo không thể tiếp tục.
This thought brings us to the vital and real distinction between the white brother and the brother of darkness, and in this summation we will conclude the present discussion and proceed with the rules.
Tư tưởng này đưa chúng ta đến sự phân biệt thiết yếu và thực sự giữa huynh đệ chánh đạo và huynh đệ bóng tối, và với phần tóm lược này chúng ta sẽ kết thúc cuộc thảo luận hiện tại và tiếp tục với các quy luật.
72. It seems that to draw the basic distinctions between the white and dark brother has been DK’s intention throughout these pages.
72. Dường như việc vạch ra những phân biệt căn bản giữa huynh đệ chánh đạo và huynh đệ bóng tối chính là chủ ý của DK xuyên suốt những trang này.
The worker in white magic utilises ever the energy of the Solar Angel to effect his ends. The dark brother works through the inherent force of the lunar lords, which are allied in nature to all that is objective.
Người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn sử dụng năng lượng của Thái dương Thiên Thần để đạt các mục đích của mình. Huynh đệ bóng tối hoạt động qua mãnh lực cố hữu của các nguyệt tinh quân, vốn đồng minh về bản chất với mọi điều khách quan.
73. The dark brother has no use for the energies of the Solar Angel. He rejects such energies because attunement to such energies and their subsequent expression leads to the victory of the second aspect of divinity and not the third.
73. Huynh đệ bóng tối không dùng đến các năng lượng của Thái dương Thiên Thần. Y khước từ các năng lượng ấy vì sự chỉnh hợp với các năng lượng ấy và sự biểu lộ tiếp theo của chúng dẫn đến chiến thắng của phương diện thứ hai của thiên tính chứ không phải phương diện thứ ba.
74. The final purposes of the dark brother concern objectivity—i.e., all that is within the dense physical body of the Solar Logos and, especially, within the dense physical body of the Planetary Logos.
74. Những mục đích tối hậu của huynh đệ bóng tối liên quan đến tính khách quan—tức là mọi điều nằm trong thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế và đặc biệt trong thể xác đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế.
75. The lunar lords, we remember, are elemental lives and are inherently involutionary. The dark brother works against the etherealization of cosmic dense physical matter. He seeks to remove the dense physical matter of the lower three systemic planes from the possibility of redemption by the higher, principled energies.
75. Chúng ta nhớ rằng các nguyệt tinh quân là các sự sống hành khí và vốn dĩ thuộc giáng hạ tiến hoá. Huynh đệ bóng tối hoạt động chống lại sự dĩ thái hóa vật chất hồng trần đậm đặc vũ trụ. Y tìm cách loại bỏ vật chất hồng trần đậm đặc của ba cõi thấp hệ thống khỏi khả năng được cứu chuộc bởi các năng lượng cao hơn, có nguyên khí.
In an old book of magic, hidden in the caves of learning
Trong một cuốn sách huyền thuật cổ, ẩn trong những hang động của tri thức
76. Are these “caves” the Master’s inner libraries?
76. Những “hang động” này có phải là các thư viện nội môn của Chân sư không?
guarded by the Masters,
được các Chân sư canh giữ,
77. This knowledge clearly is not available on demand.
77. Hiển nhiên tri thức này không thể có được theo yêu cầu.
are the following conclusive words, which find their place in this Treatise on Fire through their very appropriateness:
có những lời kết luận dứt khoát sau đây, vốn có chỗ đứng trong Luận về Lửa Vũ Trụ này chính vì tính thích đáng của chúng:
78. Here we have in the words of the Old Commentary a definitive distinction between the Brothers of the Sun and of the Moon.
78. Ở đây, trong lời của Cổ Luận, chúng ta có một sự phân biệt dứt khoát giữa các Huynh Đệ của Mặt Trời và của Mặt Trăng.
"The Brothers of the Sun, through the force of solar fire, fanned to a flame in the blazing vault of the second Heaven, put out the lower lunar fires, and render naught that lower 'fire by friction.'
"Các Huynh Đệ của Mặt Trời, nhờ mãnh lực của Lửa Thái dương, được quạt bùng thành ngọn lửa trong vòm sáng rực của tầng Trời thứ hai, dập tắt các lửa nguyệt tính thấp hơn, và làm cho cái ‘Lửa ma sát’ thấp hơn ấy trở thành hư không.
79. How may we interpret the idea of the “second Heaven”? The term “heaven” is used to describe a number of locales upon the subtler planes.
79. Chúng ta có thể diễn giải ý niệm về “tầng Trời thứ hai” như thế nào? Thuật ngữ “trời” được dùng để mô tả một số nơi chốn trên các cõi vi tế hơn.
80. It is reasonable to conclude that each of the subplanes of the higher mental plane is as a “heaven” and that the “second Heaven” represents the second subplane on which the Ego of the advanced individual is polarized.
80. Thật hợp lý khi kết luận rằng mỗi cõi phụ của Cõi thượng trí đều như một “tầng Trời” và “tầng Trời thứ hai” biểu thị cõi phụ thứ hai, nơi chân ngã của cá nhân tiến bộ được phân cực.
81. From another perspective, each of the systemic planes above the systemic physical plane can be considered a kind of “heaven”. From this perspective, the logoic plane is the “seventh Heaven”.
81. Từ một góc nhìn khác, mỗi cõi hệ thống ở trên cõi hồng trần hệ thống đều có thể được xem như một loại “tầng Trời”. Từ góc nhìn này, cõi logoic là “tầng Trời thứ bảy”.
"The Brother of the Moon ignores the sun and solar heat;
"Huynh đệ của Mặt Trăng phớt lờ mặt trời và nhiệt thái dương;
82. “Heat” in this case represents spiritual energy.
82. Trong trường hợp này, “nhiệt” biểu thị năng lượng tinh thần.
That light is clear and cold, but produces the needed "heat," which is a symbolic word used in many of the world Scriptures to express living, spiritual energy. I said "spiritual energy" and not soul force, and herein lies a distinction which you will some day have to grasp. (R&I 32)
Ánh sáng ấy trong sáng và lạnh, nhưng tạo ra “nhiệt” cần thiết, một từ biểu tượng được dùng trong nhiều Thánh Kinh của thế giới để diễn tả năng lượng sống, tinh thần. Tôi đã nói “năng lượng tinh thần” chứ không phải mãnh lực linh hồn, và chính trong đó có một sự phân biệt mà một ngày nào đó bạn sẽ phải nắm bắt. (R&I 32)
borrows his fire from all that triply is,
vay mượn lửa của mình từ mọi điều thuộc bộ ba,
83. He borrows his fire from the three lunar lords, working through their inherent force.
83. Y vay mượn lửa của mình từ ba nguyệt tinh quân, hoạt động qua mãnh lực cố hữu của họ.
and pursues his cycle.
và theo đuổi chu kỳ của mình.
84. It becomes apparent that there is a limited cycle during which a brother of darkness can pursue his low objectives. There will come a time in the development of our solar system when the dense physical body of the Solar Logos will disappear entirely. This would not augur well for such misguided brothers who have confined their objectives to that unprincipled cosmic vehicle.
84. Rõ ràng là có một chu kỳ giới hạn trong đó một huynh đệ bóng tối có thể theo đuổi các mục tiêu thấp kém của y. Sẽ đến một thời điểm trong sự phát triển của hệ mặt trời chúng ta khi thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế sẽ hoàn toàn biến mất. Điều này hẳn không báo trước điều gì tốt đẹp cho những huynh đệ lầm lạc đã giới hạn các mục tiêu của mình vào vận cụ vũ trụ vô nguyên tắc ấy.
The fires of hell await, and lunar fire dies out.
Những lửa địa ngục chờ đợi, và lửa nguyệt tính tắt lịm.
85. Hell has been called the seventh subplane of the astral plane. Is this subplane to be considered the Avitchi?
85. Địa ngục đã được gọi là cõi phụ thứ bảy của cõi cảm dục. Có phải cõi phụ này được xem là Avitchi không?
4. Certain devas who—being of the third order—form the Heaven of the average orthodox Christian or believer of any faith. Another group—being the seventh order—form the Hell for the same class of thinker. (TCF 677)
4. Một số thiên thần nào đó—thuộc bậc thứ ba—tạo thành Thiên Đàng của người Kitô hữu chính thống trung bình hay của tín đồ thuộc bất kỳ đức tin nào. Một nhóm khác—thuộc bậc thứ bảy—tạo thành Địa Ngục cho cùng loại người suy tưởng ấy. (TCF 677)
86. Below it seems that Avitchi must have still broader connotations.
86. Dưới đây dường như Avitchi phải có những hàm nghĩa còn rộng hơn nữa.
35: Avitchi. A state of consciousness, not necessarily after death or between births for it can take place on earth as well. Literally it means "uninterrupted hell." The last of the eight hells we are told where "the culprits die and are reborn without interruption—yet not without hope of final redemption." See S. D., I
35: Avitchi. Một trạng thái tâm thức, không nhất thiết sau khi chết hay giữa các lần sinh, vì nó cũng có thể xảy ra trên trần thế. Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “địa ngục không gián đoạn”. Chúng ta được cho biết đó là địa ngục cuối cùng trong tám địa ngục, nơi “những kẻ có tội chết đi và tái sinh không gián đoạn—nhưng không phải không có hy vọng được cứu chuộc cuối cùng.” Xem S. D., I
87. In the following writings by H.P.B., we are presented with a still fuller description of the “hell” to which the unrepentant dark brother will be confined.
87. Trong những trước tác sau đây của H.P.B., chúng ta được trình bày một mô tả còn đầy đủ hơn về “địa ngục” mà huynh đệ bóng tối không ăn năn sẽ bị giam cầm.
HPB: COLLECTED WRITINGS: The "furnace of Nature" is the eighth sphere. When man fails to mould his soul "in the image and likeness of the great Adam"—we say of—Buddha, Krishna, or Christ (according to our respective creeds)—he is "a failure of nature" and nature has to remould the cast before it can launch it again on the shoreless
HPB: COLLECTED WRITINGS: “Lò luyện của Thiên Nhiên” là khối cầu thứ tám. Khi con người không nắn đúc linh hồn mình “theo hình ảnh và giống như đại Adam”—hay, theo tín điều tương ứng của chúng ta, là của Đức Phật, Krishna, hay Đức Christ—thì y là “một thất bại của thiên nhiên” và thiên nhiên phải đúc lại khuôn đúc ấy trước khi có thể phóng nó trở lại lên bờ của Đại Dương
Ocean of Immortality
Bất Tử
HPB: VEIL OF ISIS.
HPB: VEIL OF ISIS.
This gehenna, termed by the occultists the eighth sphere is merely a planet like our own, attached to the latter and following it in its penumbra; a kind of dust-hole, a "place where all its garbage and filth is consumed," to borrow an expression of the above-mentioned authors, and on which all the dross and scorification of the cosmic matter pertaining to our planet is in a continual state of remodelling.
Gehenna này, được các nhà huyền bí học gọi là khối cầu thứ tám, chỉ đơn thuần là một hành tinh giống như hành tinh của chúng ta, gắn liền với hành tinh sau và đi theo nó trong vùng nửa tối của nó; một loại bãi rác, một “nơi mà mọi rác rưởi và ô uế của nó bị thiêu hủy,” mượn cách diễn đạt của các tác giả nói trên, và trên đó mọi cặn bã và xỉ của vật chất vũ trụ thuộc về hành tinh chúng ta đều ở trong một trạng thái được tái cấu trúc liên tục.
When, through vice, fearful crimes and animal passions, a disembodied spirit has fallen to the eighth sphere — the allegorical Hades, and the gehenna of the Bible — the nearest to our earth — he can, with the help of that glimpse of reason and consciousness left to him, repent; that is to say, he can, by exercising the remnants of his will-power, strive upward, and like a drowning man, struggle once more to the surface. A strong aspiration to retrieve his calamities, a pronounced desire, will draw him once more into the earth’s atmosphere. Here he will wander and suffer more or less in dreary solitude. His instincts will make him seek with avidity contact with living persons.... These spirits are the invisible but too tangible magnetic vampires; the subjective dæmons so well known to mediæval ecstatics, nuns, and monks, to the "witches" made so famous in the Witch-Hammer; and to certain sensitive clairvoyants, according to their own confessions. They are the blood-dæmons of Porphyry, the larvæ and lemures of the ancients; the fiendish instruments which sent so many unfortunate and weak victims to the rack and stake. Origen held all the dæmons which possessed the demoniacs mentioned in the New Testament to be human "spirits." It is because Moses knew so well what they were, and how terrible were the consequences to weak persons who yielded to their influence, that he enacted the cruel, murderous law against such would-be "witches"; but Jesus, full of justice and divine love to humanity, healed instead of killing them. Subsequently our clergy, the pretended exemplars of Christian principles, followed the law of Moses, and quietly ignored the law of Him whom they call their "one living God," by burning dozens of thousands of such pretended "witches."
Khi, do thói xấu, những tội ác ghê sợ và các dục vọng thú tính, một tinh thần không còn thể xác đã sa xuống khối cầu thứ tám — Hades theo nghĩa ngụ ngôn, và gehenna của Kinh Thánh — nơi gần Trái Đất chúng ta nhất — y vẫn có thể, với sự trợ giúp của tia lý trí và tâm thức còn sót lại nơi mình, ăn năn; nghĩa là, bằng cách vận dụng những tàn dư của quyền năng ý chí, y có thể cố gắng vươn lên, và như một người chết đuối, lại vật lộn để nổi lên mặt nước. Một khát vọng mạnh mẽ muốn sửa chữa tai họa của mình, một ước muốn rõ rệt, sẽ kéo y trở lại bầu khí quyển của Trái Đất. Ở đây y sẽ lang thang và đau khổ ít nhiều trong cô quạnh ảm đạm. Các bản năng của y sẽ khiến y háo hức tìm kiếm sự tiếp xúc với những người đang sống.... Những tinh thần này là những ma cà rồng từ tính vô hình nhưng quá hữu hình; những chủ quan dæmons quá quen thuộc với các nhà xuất thần trung cổ, các nữ tu và tu sĩ, với những “phù thủy” được làm cho nổi tiếng trong Witch-Hammer; và với một số nhà thông nhãn nhạy cảm, theo chính lời thú nhận của họ. Chúng là những dæmons hút máu của Porphyry, những larvæ và lemures của người xưa; những công cụ quỷ dữ đã đưa biết bao nạn nhân bất hạnh và yếu đuối lên giá tra tấn và giàn hỏa thiêu. Origen cho rằng tất cả những dæmons ám những người bị quỷ nhập được nhắc đến trong Tân Ước đều là những “tinh thần” con người. Chính vì Moses biết quá rõ chúng là gì, và hậu quả đối với những người yếu đuối khi khuất phục ảnh hưởng của chúng khủng khiếp đến đâu, nên ông đã ban hành luật tàn nhẫn, đẫm máu chống lại những “phù thủy” như thế; nhưng Đức Jesus, đầy công lý và tình thương thiêng liêng đối với nhân loại, đã chữa lành thay vì giết họ. Về sau, hàng giáo sĩ của chúng ta, những kẻ tự xưng là gương mẫu của các nguyên lý Kitô giáo, đã theo luật của Moses, và lặng lẽ phớt lờ luật của Đấng mà họ gọi là “Thượng đế hằng sống duy nhất” của mình, bằng cách thiêu sống hàng chục ngàn những “phù thủy” bị gán ghép như thế.
Then neither sun nor moon avails him,
Khi ấy cả mặt trời lẫn mặt trăng đều không giúp ích gì cho y,
88. At the point when the dark brother enters Avitchi, he can expect no hope (DK says, for the duration of the solar system) from either the Solar Lords or the lunar lords. Both will fail him. He will be, eventually, bereft of both the lunar personality and the solar “soul”.
88. Vào lúc huynh đệ bóng tối đi vào Avitchi, y không thể mong đợi hy vọng nào (DK nói, trong suốt thời gian của hệ mặt trời) từ cả các Thái dương tổ phụ lẫn các nguyệt tinh quân. Cả hai đều sẽ bỏ rơi y. Rốt cuộc y sẽ bị tước mất cả phàm ngã nguyệt tính lẫn “linh hồn” thái dương.
only the highest heaven awaits the spark electric,
chỉ tầng Trời cao nhất chờ đợi tia lửa điện,
89. The “highest heaven” is either the monadic plane or the logoic plane (into which the essential Monad—the “spark electric”—will one day be released).
89. “Tầng Trời cao nhất” hoặc là cõi chân thần hoặc là cõi logoic (mà một ngày nào đó chân thần cốt yếu—“tia lửa điện”—sẽ được giải phóng vào đó).
90. It is as if the Monad awaits the return of the “Prodigal Son”, but the Prodigal Son, completely captured in Avitchi, does not return.
90. Dường như chân thần đang chờ đợi sự trở về của “Đứa Con Hoang Đàng”, nhưng Đứa Con Hoang Đàng, bị giam hãm hoàn toàn trong Avitchi, lại không trở về.
seeking vibration synchronous from that which lies beneath.
tìm kiếm rung động đồng bộ từ điều nằm bên dưới.
91. The Monad seeks to reproduce on ‘earth’ that which is in ‘heaven’—i.e., through its long pilgrimage, to “bring heaven to earth”.
91. Chân thần tìm cách tái tạo trên ‘đất’ điều ở trên ‘trời’—tức là, qua cuộc hành hương dài lâu của nó, “mang trời xuống đất”.
92. The Monad Whose venturing Jiva has come to express itself as a brother of darkness has failed in its pilgrimage. No heavenly vibration arises “from that which lies beneath”.
92. Chân thần mà Jiva phiêu lưu của nó đã đi đến chỗ biểu lộ như một huynh đệ bóng tối đã thất bại trong cuộc hành hương của mình. Không có rung động thiên thượng nào phát sinh “từ điều nằm bên dưới”.
And yet it cometh not."
Và tuy vậy nó vẫn không đến."
93. From that area of experience called Avitchi no such synchronous vibration can arise. The Monad’s pilgrimage will have to be undertaken anew in a succeeding solar system.
93. Từ khu vực kinh nghiệm được gọi là Avitchi ấy, không một rung động đồng bộ nào như thế có thể phát sinh. Cuộc hành hương của chân thần sẽ phải được đảm nhận lại trong một hệ mặt trời kế tiếp.
94. H.P.B. hints at the possibility of redemption following Avitchi, but she does not offer details concerning this redemption as does the Tibetan. According to the Tibetan, redemption comes only in a future solar system.
94. H.P.B. gợi ý về khả năng cứu chuộc sau Avitchi, nhưng bà không đưa ra chi tiết về sự cứu chuộc này như Chân sư Tây Tạng đã làm. Theo Chân sư Tây Tạng, sự cứu chuộc chỉ đến trong một hệ mặt trời tương lai.
95. The selected writings of H.P.B. offered above seem to offer redemption from Avitchi within the aura of the planetary scheme. Perhaps this redemption (occurring still within the solar system in which the great misdeeds were enacted) is available only for those who have somehow managed to free themselves from Avitchi. Obviously, there are some members of the Black Lodge who never succeed in freeing themselves and perhaps do not wish to do so.
95. Những trước tác được chọn của H.P.B. nêu trên dường như đưa ra sự cứu chuộc khỏi Avitchi trong hào quang của hệ hành tinh. Có lẽ sự cứu chuộc này (vẫn xảy ra trong hệ mặt trời nơi những ác nghiệp lớn đã được thực hiện) chỉ dành cho những ai bằng cách nào đó đã tự giải thoát khỏi Avitchi. Hiển nhiên, có một số thành viên của Hắc đoàn không bao giờ thành công trong việc tự giải thoát và có lẽ cũng không muốn làm như vậy.
S8S6 Part I.1
TCF 997-1002
TCF 996-1002
Section VI, Part I.1
Phần VI, Phần I.1
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được đặt ở cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi được chiếu trong các lớp. Các chú thích cuối trang và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được đặt ở cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện ở cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, vì mục đích liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ chuyển tải ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận
3. Fifteen Rules for Magic.
3. Mười lăm Quy Luật về Huyền Thuật.
These rules will necessarily be of an esoteric nature, and the student will need to remember that the terminology is in the nature of a blind, which ever carries [Page 997] revelation to those who have the clue, but tends to perplex and to bewilder the student who as yet is unready for the truth.
Những quy luật này tất yếu sẽ có bản chất huyền bí, và đạo sinh cần nhớ rằng thuật ngữ mang bản chất của một bức màn che, luôn mang theo [Page 997] sự mặc khải cho những ai có chìa khóa, nhưng lại có khuynh hướng làm rối trí và gây hoang mang cho đạo sinh còn chưa sẵn sàng cho chân lý.
1. Here we have a foundational principle. Those who have eyes to see will see. Those who have ears to hear will hear.
1. Ở đây chúng ta có một nguyên lý nền tảng. Những ai có mắt để thấy sẽ thấy. Những ai có tai để nghe sẽ nghe.
2. Through deliberate blinding Master DK will protect the unready from the truth while simultaneously bringing revelation to those who have a sufficient clue and are, thus, ready to receive the truth.
2. Qua sự làm mù có chủ ý, Chân sư DK sẽ bảo vệ những người chưa sẵn sàng khỏi chân lý, đồng thời mang lại sự mặc khải cho những ai có đủ đầu mối và vì thế đã sẵn sàng tiếp nhận chân lý.
I would also remind the student to bear in mind that all that is here imparted concerns "white magic," and is given from the standpoint of the solar Angel, and of solar Fire.
Tôi cũng xin nhắc đạo sinh ghi nhớ rằng tất cả những gì được truyền đạt ở đây đều liên quan đến "Chánh Thuật," và được ban ra từ quan điểm của Thái dương Thiên Thần, và của Lửa Thái dương.
3. Some might begin reading such a book in the hope of acquiring magical methods for selfish purposes. They will find no satisfaction in the Tibetan’s writings.
3. Một số người có thể bắt đầu đọc một quyển sách như thế này với hy vọng đạt được các phương pháp huyền thuật cho những mục đích ích kỷ. Họ sẽ không tìm thấy sự thỏa mãn nào trong các trước tác của Chân sư Tây Tạng.
4. The fire used in white magic is solar fire. The Agent of white magic is the Solar Angel.
4. Ngọn lửa được dùng trong Chánh Thuật là Lửa Thái dương. Tác nhân của Chánh Thuật là Thái dương Thiên Thần.
Bearing these two points in mind the student will find much in these rules to produce eventual internal illumination.
Ghi nhớ hai điểm này, đạo sinh sẽ thấy trong các quy luật này nhiều điều có thể tạo ra sự soi sáng nội tại về sau.
5. DK does not promise immediate illumination but rather “eventual illumination”
5. Chân sư DK không hứa hẹn sự soi sáng tức thời mà đúng hơn là “sự soi sáng về sau”
6. Why does He add the word “internal”? Perhaps, because He is working with the second aspect of divinity rather than the third. He seeks the improvement of the consciousness.
6. Vì sao Ngài thêm từ “nội tại”? Có lẽ vì Ngài đang làm việc với phương diện thứ hai của thiên tính hơn là phương diện thứ ba. Ngài tìm cách cải thiện tâm thức.
We will divide them into three groups of aphorisms or occult phrases;
Chúng ta sẽ chia chúng thành ba nhóm châm ngôn hay cụm từ huyền bí;
7. The personality is threefold.
7. Phàm ngã là tam phân.
of these, the first will concern itself with the work of the magician on the mental plane, with his manipulation of solar energy, and his ability to sweep the Builders into co-operation with his purposes.
trong đó, nhóm thứ nhất sẽ quan tâm đến công việc của nhà huyền thuật trên cõi trí, đến sự vận dụng năng lượng thái dương của y, và khả năng lôi cuốn các đấng kiến tạo vào sự hợp tác với các mục đích của y.
8. Upon the mental plane, the work of the magician is to—
8. Trên cõi trí, công việc của nhà huyền thuật là—
a. Manipulate solar energy
a. Vận dụng năng lượng thái dương
b. To sweep the Builders into cooperation with his purposes.
b. Lôi cuốn các đấng kiến tạo vào sự hợp tác với các mục đích của y.
9. Presumably, the “Builders” are deva lives and not only elemental lives, though the term “builders” is often used in connection with both. The elemental lives, however, are more built than building.
9. Có lẽ “các đấng kiến tạo” là các sự sống thiên thần chứ không chỉ là các sự sống hành khí, dù thuật ngữ “đấng kiến tạo” thường được dùng liên hệ với cả hai. Tuy nhiên, các sự sống hành khí thiên về được xây dựng hơn là xây dựng.
The second group will carry the work on down to the plane of desire, and of vitalisation, and will convey information as to the balancing of the pairs of opposites, and their equilibrising, so that eventual manifestation becomes possible.
Nhóm thứ hai sẽ đưa công việc đi xuống cõi của dục vọng, và của sự tiếp sinh lực, và sẽ truyền đạt thông tin về việc quân bình các cặp đối đãi, và đưa chúng đến thế quân bình, để sự biểu hiện rốt cuộc trở nên khả hữu.
10. Upon the astral plane, the work of the magician is to—
10. Trên cõi cảm dục, công việc của nhà huyền thuật là—
a. Work with the factors of desire and vitalization
a. Làm việc với các yếu tố dục vọng và sự tiếp sinh lực
b. To balance the pairs of opposites
b. Quân bình các cặp đối đãi
c. To equilibrize the pairs of opposites
c. Đưa các cặp đối đãi đến thế quân bình
d. To condition the “waters” so that manifestation eventually becomes possible
d. Tác động lên “các dòng nước” để sự biểu hiện rốt cuộc trở nên khả hữu
11. Do we find it interesting that the astral plane is called the “plane…of vitalisation”? We often hear of being animated by desire. Certainly the factors of desire, vitalization, animation and inspiration are all related. A man is moved or activated by these factors.
11. Chúng ta có thấy thú vị không khi cõi cảm dục được gọi là “cõi… của sự tiếp sinh lực”? Chúng ta thường nghe nói đến việc được dục vọng làm cho sinh động. Chắc chắn các yếu tố dục vọng, sự tiếp sinh lực, sự linh hoạt và cảm hứng đều có liên hệ với nhau. Con người được các yếu tố này thúc đẩy hay hoạt hóa.
The third group of rules will deal with the physical plane, with the transmission of force:
Nhóm quy luật thứ ba sẽ bàn đến cõi hồng trần, với sự truyền dẫn mãnh lực:
a. Through the centres,
a. Qua các trung tâm,
b. Through the brain,
b. Qua bộ não,
c. Through the physical plane itself.
c. Qua chính cõi hồng trần.
12. Upon the physical plane, the work of the magician is to deal with the transmission of force through the magician and into the surrounding physical environment.
12. Trên cõi hồng trần, công việc của nhà huyền thuật là bàn đến sự truyền dẫn mãnh lực qua nhà huyền thuật và đi vào môi trường hồng trần chung quanh.
13. We must not forget that the centers are found on the astral and mental planes as well.
13. Chúng ta không được quên rằng các trung tâm cũng được tìm thấy trên cõi cảm dục và cõi trí.
a. Six Rules for the Mental Plane. Certain of the laws of speech will be given, and the significance of colour and of sound will appear beneath the exoteric form of the phrasing to those whose perception suffices.
a. Sáu Quy Luật cho Cõi Trí. Một số định luật của lời nói sẽ được ban ra, và thâm nghĩa của màu sắc và âm thanh sẽ hiện ra bên dưới hình thức ngoại môn của cách diễn đạt đối với những ai có tri giác đầy đủ.
14. The Tibetan intends to convey certain laws of speech and to inform the perceptive student regarding the significance of color and sound. Obviously, then, the instruction has to be read with the aid of the intuition.
14. Chân sư Tây Tạng có ý định truyền đạt một số định luật của lời nói và cho đạo sinh có tri giác biết về thâm nghĩa của màu sắc và âm thanh. Hiển nhiên, vì thế, giáo huấn này phải được đọc với sự trợ giúp của trực giác.
15. He is asking us to sharpen our perception as we read. Perhaps this suffice to reveal to us more than the words seem to convey.
15. Ngài đang yêu cầu chúng ta làm sắc bén tri giác của mình khi đọc. Có lẽ điều này đủ để mặc khải cho chúng ta nhiều hơn những gì các từ ngữ dường như chuyển tải.
RULE I. The Solar Angel collects himself, scatters not his force, but in meditation deep communicates with his reflection.
QUY LUẬT I. Thái Dương Thiên Thần thu mình lại, không phân tán thần lực của Ngài mà, trong thiền định sâu sắc, giao tiếp với phản ảnh của Ngài.
16. In this case the Solar Angel is a high being working through the egoic lotus of man.
16. Trong trường hợp này, Thái dương Thiên Thần là một hữu thể cao cả đang hoạt động qua hoa sen chân ngã của con người.
17. Before the time when an evolving human being is ready for specific cultivation, the Solar Angel has been involved with many pursuits of its own.
17. Trước thời điểm một con người đang tiến hóa sẵn sàng cho sự tu dưỡng chuyên biệt, Thái dương Thiên Thần đã bận rộn với nhiều theo đuổi riêng của nó.
18. When the time comes that a man is capable of profiting from the Solar Angel’s direct supervision, the Angel collects His forces prior to a renewed focus upon its projection—the soul-in-incarnation.
18. Khi đến lúc một người có khả năng hưởng lợi từ sự giám sát trực tiếp của Thái dương Thiên Thần, Thiên Thần thu nhiếp các mãnh lực của Ngài trước khi tái tập trung vào sự phóng chiếu của mình—linh hồn đang nhập thể.
19. The Solar Angel meditates sending streams of meditatively generated energy towards the soul-in-incarnation.
19. Thái dương Thiên Thần tham thiền, gửi những dòng năng lượng được tạo ra trong tham thiền về phía linh hồn đang nhập thể.
It may be of use to the student if he here remembers that the ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This meditation is cyclic in nature, the pitri involved sending out to his "reflection" rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his "high impulses," his dreams and aspirations. (TWM 61)
Điều này có thể hữu ích cho đạo sinh nếu y ở đây nhớ rằng chân ngã (cũng như Thượng đế) đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần. Sự tham thiền này có tính chu kỳ, vị pitri liên hệ gửi ra cho "phản ảnh" của mình những dòng năng lượng có nhịp điệu, và những dòng này được người liên hệ nhận biết như các "thúc đẩy cao cả", các giấc mơ và khát vọng của mình. (TWM 61)
20. To what extent and how is the soul-in-incarnation (the disciple) the “reflection” of the Solar Angel? May we say that the lower man is threefold (or fourfold) as is the Solar Angel within the egoic lotus? Every aspect of the man in the three lower worlds bears a similarity in quality to an aspect of the higher Ego.
20. Linh hồn đang nhập thể (đệ tử) là “phản ảnh” của Thái dương Thiên Thần đến mức nào và theo cách nào? Chúng ta có thể nói rằng phàm nhân là tam phân (hay tứ phân) cũng như Thái dương Thiên Thần bên trong hoa sen chân ngã chăng? Mọi phương diện của con người trong ba cõi thấp đều mang một sự tương tự về phẩm tính với một phương diện của Chân ngã cao hơn.
21. We may, thus, say that the Solar Angel creates its “shadow” in its own image.
21. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng Thái dương Thiên Thần tạo ra “cái bóng” của mình theo hình ảnh của chính mình.
The significance of this rule is easily to be seen. The white magician is ever one who, through conscious alignment with his Ego, with his "Angel," is receptive to his plans and purposes, and therefore capable of receiving the higher impression.
Thâm nghĩa của quy luật này rất dễ thấy. Nhà huyền thuật chánh đạo luôn luôn là người mà, qua sự chỉnh hợp có ý thức với Chân ngã của mình, với "Thiên Thần" của mình, có khả năng tiếp nhận các kế hoạch và mục đích của y, và do đó có khả năng tiếp nhận ấn tượng cao hơn.
22. We have established that the true white magician is a highly developed human being.
22. Chúng ta đã xác lập rằng nhà huyền thuật chánh đạo chân chính là một con người phát triển cao.
23. Are the “Ego” and the “Angel” identical? Probably the correct answer to this question must be subtle.
23. “Chân ngã” và “Thiên Thần” có đồng nhất không? Có lẽ câu trả lời đúng cho câu hỏi này phải thật tinh tế.
24. The true higher Ego of man is his spiritual triad.
24. Chân ngã cao hơn đích thực của con người là Tam Nguyên Tinh Thần của y.
25. The Solar Angel, per se, was once a human being in a previous mahamanvantara and now is one of a host of “returning nirvanis” from that mahamanvantara.
25. Thái dương Thiên Thần, chính nó, đã từng là một con người trong một Đại giai kỳ sinh hóa trước đây và nay là một trong vô số “nirvani trở về” từ Đại giai kỳ sinh hóa ấy.
26. Yet the Ego of man upon the higher mental plane would not exist if the matter of that plane were not suffused by the presence and consciousness of the Solar Angel.
26. Tuy nhiên, Chân ngã của con người trên cõi thượng trí sẽ không tồn tại nếu vật chất của cõi ấy không được thấm nhuần bởi sự hiện diện và tâm thức của Thái dương Thiên Thần.
27. We might say that the Solar Angel substanding the egoic lotus of the human being is the Ego on the higher mental plane. When the Solar Angel returns to its source, the Ego on the higher mental plane will exist no longer. The consciousness of the Ego will ‘relocate’ itself upon the planes of the spiritual triad. Man will be in full consciousness a higher Ego and the Solar Angel will no longer substand (or participate in) egoic consciousness.
27. Chúng ta có thể nói rằng Thái dương Thiên Thần nâng đỡ từ bên dưới hoa sen chân ngã của con người là Chân ngã trên cõi thượng trí. Khi Thái dương Thiên Thần trở về nguồn của nó, Chân ngã trên cõi thượng trí sẽ không còn tồn tại nữa. Tâm thức của Chân ngã sẽ “tái định vị” trên các cõi của Tam Nguyên Tinh Thần. Con người sẽ là một Chân ngã cao hơn trong đầy đủ tâm thức và Thái dương Thiên Thần sẽ không còn nâng đỡ từ bên dưới (hay tham dự vào) tâm thức chân ngã nữa.
We must remember that [Page 998] white magic works from above downwards, and is the result of solar vibration, and not of the heating impulses emanating from one or other of the lunar Pitris;
Chúng ta phải nhớ rằng [Page 998] Chánh Thuật hoạt động từ trên xuống dưới, và là kết quả của rung động thái dương, chứ không phải của các xung lực nung nóng phát ra từ một hay một nhóm thái âm tổ phụ nào đó;
28. The lunar Pitris are ruled by Mars. At least the lunar lords (when the meaning of “lunar lords” is “lunar Pitris” instead of lunar elementals) are ruled by Mars.
28. Các thái âm tổ phụ được Sao Hỏa cai quản. Ít nhất các nguyệt tinh quân (khi ý nghĩa của “nguyệt tinh quân” là “thái âm tổ phụ” thay vì hành khí thái âm) được Sao Hỏa cai quản.
29. Mars is the planet most directly associated with “heat”.
29. Sao Hỏa là hành tinh liên hệ trực tiếp nhất với “nhiệt”.
30. Occult process proceeds from above to below. White magic, as an aspect of occult process, likewise proceeds from above to below.
30. Tiến trình huyền bí diễn ra từ trên xuống dưới. Chánh Thuật, như một phương diện của tiến trình huyền bí, cũng diễn ra từ trên xuống dưới.
31. True “solar vibration” ultimately emanates from the cosmic mental plane and from the far greater Solar Angels there found.
31. “Rung động thái dương” chân chính rốt cuộc phát ra từ cõi trí vũ trụ và từ các Thái dương Thiên Thần còn vĩ đại hơn nhiều được tìm thấy ở đó.
32. It is vitally important to distinguish between fire by friction and solar fire, between the heat of fire by friction and the warmth of solar fire.
32. Điều tối quan trọng là phải phân biệt giữa Lửa ma sát và Lửa Thái dương, giữa nhiệt của Lửa ma sát và sự ấm áp của Lửa Thái dương.
33. The sub-diaphragmatic centers are associated with heat and with fire by friction. The super-diaphragmatic centers are associated with solar fire and fire electric.
33. Các trung tâm dưới cơ hoành liên hệ với nhiệt và với Lửa ma sát. Các trung tâm trên cơ hoành liên hệ với Lửa Thái dương và Lửa Điện.
34. Have we managed in our own consciousness to distinguish between solar vibration and fire by friction? At the present point of our evolution, such a distinction is vital.
34. Trong tâm thức của chính mình, chúng ta đã xoay xở để phân biệt giữa rung động thái dương và Lửa ma sát chưa? Ở điểm tiến hoá hiện nay của chúng ta, một sự phân biệt như thế là tối quan trọng.
the downflow of the impressing energy from the solar Pitri is the result of his internal recollectedness,
sự tuôn xuống của năng lượng gây ấn tượng từ thái dương tổ phụ là kết quả của sự thu nhiếp nội tại của vị ấy,
35. The Solar Angel is, in this context, the same as the “solar Pitri”.
35. Trong ngữ cảnh này, Thái dương Thiên Thần cũng chính là “thái dương tổ phụ”.
36. Is the Solar Pitri a one or a group? Probably both. It is one which emanates as a group while still retaining its oneness.
36. Thái dương tổ phụ là một hay là một nhóm? Có lẽ là cả hai. Đó là một phát xuất như một nhóm mà vẫn giữ được tính nhất thể của mình.
37. To remind ourselves of the exalted nature of a “solar Pitri” and to distinguish it from man’s Ego per se, the following sentence is of importance:
37. Để nhắc mình về bản chất cao cả của một “thái dương tổ phụ” và phân biệt nó với Chân ngã của con người chính nó, câu sau đây rất quan trọng:
Perfected men are in the councils of the planetary Logos of their particular ray; the solar Pitris are in the council of the solar Logos.69 (TCF 843)
Những con người đã hoàn thiện ở trong các hội đồng của Hành Tinh Thượng Đế thuộc cung riêng của họ; các thái dương tổ phụ ở trong hội đồng của Thái dương Thượng đế.69 (TCF 843)
38. We must find a way to avoid confusing the Solar Angel or Solar Pitri with the human Ego or Higher Self, and yet realize that this Ego, as it manifests on the higher mental plane is substanded by the Angel or Pitri, and represents the influence of that Angel or Pitri in man’s constitution.
38. Chúng ta phải tìm ra một cách để tránh nhầm lẫn Thái dương Thiên Thần hay thái dương tổ phụ với Chân ngã con người hay Bản Ngã Cao Siêu, nhưng đồng thời nhận ra rằng Chân ngã này, khi biểu hiện trên cõi thượng trí, được Thiên Thần hay Pitri nâng đỡ từ bên dưới, và biểu trưng ảnh hưởng của Thiên Thần hay Pitri ấy trong cấu tạo của con người.
his indrawing of his forces prior to sending them out concentratedly to his shadow, man, and his steady meditation upon the purpose and the plan.
sự thu rút các mãnh lực của vị ấy trước khi gửi chúng ra một cách tập trung đến cái bóng của vị ấy, con người, và sự tham thiền bền bỉ của vị ấy về Thiên Ý và Thiên Cơ.
39. The Solar Angel can impress His shadow man. Why it his possible?
39. Thái dương Thiên Thần có thể gây ấn tượng lên con người là cái bóng của Ngài. Vì sao điều này có thể xảy ra?
a. Because He has achieved internal recollectedness
a. Vì Ngài đã đạt được sự thu nhiếp nội tại
b. Because He has indrawn His forces
b. Vì Ngài đã thu rút các mãnh lực của Ngài
c. Because He has sent out His indrawn forces in a concentrated manner to his shadow, man.
c. Vì Ngài đã gửi các mãnh lực đã thu rút của Ngài ra một cách tập trung đến cái bóng của Ngài, con người.
d. Because He pursues steady meditation upon the Divine Purpose and Divine Plan, and impresses man with the results of His meditation.
d. Vì Ngài theo đuổi sự tham thiền bền bỉ về Thiên Ý và Thiên Cơ, và gây ấn tượng lên con người bằng các kết quả của sự tham thiền của Ngài.
40. We are being told that knowledge of the Divine Plan and Divine Purpose can be derived from communion with the Solar Angel Who substands our Ego. This provides a strong incentive for occult meditation.
40. Chúng ta đang được cho biết rằng tri thức về Thiên Cơ và Thiên Ý có thể được rút ra từ sự giao cảm với Thái dương Thiên Thần, Đấng nâng đỡ từ bên dưới Chân ngã của chúng ta. Điều này tạo ra một động lực mạnh mẽ cho tham thiền huyền bí học.
It may be of use to the student if he here remembers that the Ego (as well as the Logos) is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation.
Điều này có thể hữu ích cho đạo sinh nếu y ở đây nhớ rằng Chân ngã (cũng như Thượng đế) đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần.
41. This is another way of saying that each of us, in our higher nature, is in deep meditation during the whole cycle of physical incarnation. This suggests the reality of simultaneous multi-dimensional consciousness.
41. Đây là một cách khác để nói rằng mỗi chúng ta, trong bản chất cao hơn của mình, đều đang ở trong tham thiền sâu suốt toàn bộ chu kỳ lâm phàm hồng trần. Điều này gợi ý thực tại của tâm thức đa chiều đồng thời.
42. Our requirement is to synchronize our meditation ‘below’ (within the lower nature) with our meditation ‘above’.
42. Điều chúng ta cần là đồng bộ hóa sự tham thiền của mình “ở dưới” (trong bản chất thấp hơn) với sự tham thiền của mình “ở trên”.
43. White it may be the case that the Ego is in deep meditation throughout the cycle of physical incarnation (especially as the personality becomes more advanced—so one would think), the personality of man is not at all times in its developmental cycle in a position to receive and profit by the results of the Ego’s meditation.
43. Dù có thể đúng là Chân ngã ở trong tham thiền sâu suốt chu kỳ lâm phàm hồng trần (đặc biệt khi phàm ngã trở nên tiến bộ hơn—người ta hẳn sẽ nghĩ như vậy), phàm ngã của con người không phải lúc nào trong chu kỳ phát triển của nó cũng ở vào vị thế có thể tiếp nhận và hưởng lợi từ các kết quả của sự tham thiền của Chân ngã.
44. The cycle of physical incarnation is a much larger process than the cycle of a single physical incarnation and in early incarnational days, the personality simply has no notion of the existence of the Ego.
44. Chu kỳ lâm phàm hồng trần là một tiến trình lớn hơn nhiều so với chu kỳ của một lần lâm phàm hồng trần đơn lẻ, và trong những ngày đầu của các lần nhập thể, phàm ngã đơn giản là không có khái niệm nào về sự hiện hữu của Chân ngã.
45. Even later and during a cycle when the personality is relatively advanced, it may fail to sustain a continuity of awareness of the Ego. Rhythmic occult meditation is one of the methods of sustaining continuity of awareness.
45. Ngay cả về sau, trong một chu kỳ khi phàm ngã tương đối tiến bộ, nó vẫn có thể không duy trì được tính liên tục của sự nhận biết về Chân ngã. Tham thiền huyền bí học có nhịp điệu là một trong những phương pháp để duy trì tính liên tục của sự nhận biết.
This solar meditation is cyclic in nature, the Pitri involved sending out to his "reflection" rhythmic streams of energy, which streams are recognised by the man concerned as his "higher impulses," his dreams and aspirations.
Sự tham thiền thái dương này có tính chu kỳ, vị Pitri liên hệ gửi ra cho "phản ảnh" của mình những dòng năng lượng có nhịp điệu, và những dòng này được nhận biết bởi người liên hệ như các "thúc đẩy cao cả", các giấc mơ và khát vọng của mình.
46. This is one of the most important statements regarding the relationship between the Solar Pitri and the human being.
46. Đây là một trong những phát biểu quan trọng nhất liên quan đến mối quan hệ giữa thái dương tổ phụ và con người.
47. Perhaps meditation at sunrise is particularly propitious for receiving the streams of energy send forth by the Solar Pitri.
47. Có lẽ việc tham thiền vào lúc mặt trời mọc đặc biệt thuận lợi cho việc tiếp nhận các dòng năng lượng do thái dương tổ phụ phát ra.
48. It would be of value for every disciple to determine the rhythm or cycle of these rhythmic streams of energy.
48. Sẽ có giá trị đối với mọi đệ tử nếu xác định được nhịp điệu hay chu kỳ của các dòng năng lượng có nhịp điệu này.
49. When we have received higher impulses; when our dreams have been stimulated and aspirations have arisen, have we thought of their source as the Solar Angel or Solar Pitri?
49. Khi chúng ta đã tiếp nhận các thúc đẩy cao hơn; khi các giấc mơ của chúng ta đã được kích thích và khát vọng đã khởi lên, chúng ta có nghĩ đến nguồn gốc của chúng như là Thái dương Thiên Thần hay thái dương tổ phụ không?
Therefore, it will be apparent why workers in white magic are ever advanced, and spiritual men, for the "reflection" is seldom responsive to the Ego or the solar Angel until many cycles of incarnation have transpired.
Vì vậy, sẽ rõ vì sao những người hoạt động trong Chánh Thuật luôn luôn là những người tiến bộ và những người tinh thần, vì "phản ảnh" hiếm khi đáp ứng với Chân ngã hay Thái dương Thiên Thần cho đến khi nhiều chu kỳ nhập thể đã trôi qua.
50. It would seem useless to begin the study of white magic until the first initiation had been passed.
50. Dường như sẽ vô ích nếu bắt đầu nghiên cứu Chánh Thuật trước khi lần điểm đạo thứ nhất đã được vượt qua.
51. In this case the term “advanced” must mean more than the term “advanced man” (when designating an intelligent though not necessarily spiritual human being).
51. Trong trường hợp này, thuật ngữ “tiến bộ” hẳn phải có nghĩa nhiều hơn thuật ngữ “người tiến bộ” (khi chỉ một con người thông minh dù không nhất thiết là tinh thần).
52. It may be thought that, in some manner, the human personality reflects the structure of the Solar Angel and not just the structure of the egoic lotus.
52. Có thể nghĩ rằng, theo một cách nào đó, phàm ngã con người phản ánh cấu trúc của Thái dương Thiên Thần chứ không chỉ cấu trúc của hoa sen chân ngã.
53. The Solar Angel is as being which, like man, has a chakric system. In fact, is there any living thing which does not have a correspondence to a chakric system?
53. Thái dương Thiên Thần là một hữu thể mà, cũng như con người, có một hệ thống luân xa. Thật vậy, có sinh thể nào lại không có một tương ứng với một hệ thống luân xa chăng?
The solar Pitri communicates with his "shadow" or reflection by means of the sutratma, which passes down through the bodies to a point of entrance in the physical brain.
Thái dương tổ phụ truyền thông với "cái bóng" hay phản ảnh của mình bằng phương tiện sutratma, sợi này đi xuống qua các thể đến một điểm đi vào trong bộ não hồng trần.
54. The sutratma is usually considered a channel for the impartation of vital energy, per se, and not for the communication of consciousness. Yet we understand that the streams of energy coming forth from the Solar Angel also relate to high ideals and impulses and, thus, to consciousness.
54. Sutratma thường được xem là một kênh để truyền đạt sinh lực, chính nó, chứ không phải để truyền thông tâm thức. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng các dòng năng lượng phát ra từ Thái dương Thiên Thần cũng liên hệ đến các lý tưởng và thúc đẩy cao cả, và vì thế liên hệ đến tâm thức.
55. The very physical point of communication is to be noted. In one way then, the influence of the Solar Angel reaches into the very lowest aspect of man---his dense physical aspect.
55. Chính điểm truyền thông hồng trần này cần được lưu ý. Theo một cách như thế, ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần vươn tới tận phương diện thấp nhất của con người---phương diện hồng trần đậm đặc của y.
RULE II. When the shadow hath responded, in meditation deep the work proceedeth.
QUY LUẬT II. Khi cái bóng đã đáp ứng, trong thiền định sâu thẳm, công việc tiến triển.
56. This response, as we have learned, arises only in the case of advanced or spiritually inclined human beings.
56. Như chúng ta đã học, sự đáp ứng này chỉ phát sinh trong trường hợp những con người tiến bộ hay có khuynh hướng tinh thần.
57. After the response of the shadow, the proceeding meditative work is dual. The Ego/Solar Angel continues its meditation which is now joined by the rhythmic meditation of the shadow—the disciple, the soul-in-incarnation.
57. Sau sự đáp ứng của cái bóng, công việc tham thiền tiếp theo là nhị phân. Chân ngã/Thái dương Thiên Thần tiếp tục sự tham thiền của nó, và nay được kết hợp bởi sự tham thiền có nhịp điệu của cái bóng—đệ tử, linh hồn đang nhập thể.
58. The personality elementals, per se, do not meditate.
58. Các hành khí phàm ngã, chính chúng, không tham thiền.
The lower light is thrown upward;
Ánh sáng thấp được ném lên trên;
59. This is the light arising within the energy system of the shadow and specifically in two of its vehicles.
59. Đây là ánh sáng phát sinh bên trong hệ thống năng lượng của cái bóng và đặc biệt trong hai vận cụ của nó.
the greater light illuminates the three,
ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba,
60. The three are the three personality aspects and the greater light is the light of the Ego or soul.
60. Bộ ba là ba phương diện của phàm ngã và ánh sáng lớn hơn là ánh sáng của Chân ngã hay linh hồn.
and the work of the four proceedeth.
và công việc của bốn tiến triển.
61. The Ego/Solar Angel is the fourth when the three aspects of the disciple are considered.
61. Chân ngã/Thái dương Thiên Thần là yếu tố thứ tư khi ba phương diện của đệ tử được xét đến.
62. There is also a chakric significance to the four as we will see below.
62. Cũng có một thâm nghĩa luân xa đối với bộ bốn này như chúng ta sẽ thấy dưới đây.
63. There is more to this phrase “the lower light is thrown upward”. In two other references in TWM, DK gives some more specific understanding of its meaning:
63. Cụm từ “ánh sáng thấp hơn được ném lên trên” còn có nhiều ý nghĩa hơn nữa. Trong hai chỗ dẫn khác trong TWM, Chân sư DK đưa ra một sự thấu hiểu cụ thể hơn về ý nghĩa của nó:
The significance of the words, "the lower light is thrown upward." These deal with the centers and the Kundalini Fire. (TWM 766)
Thâm nghĩa của những lời, "ánh sáng thấp hơn được ném lên trên." Những lời này liên quan đến các trung tâm và Hỏa Kundalini. (TWM 766)
64. The next quotation is very long, but gives a much fuller interpretation of its meaning.
64. Đoạn trích tiếp theo rất dài, nhưng đưa ra một cách giải thích đầy đủ hơn nhiều về ý nghĩa của nó.
Let us now consider the words at the end of the previous rule: "The lower light is thrown upward and the greater light illuminates the three; the work of the four proceedeth."
Bây giờ chúng ta hãy xét những lời ở cuối quy luật trước: "Ánh sáng thấp hơn được ném lên trên và ánh sáng lớn hơn soi sáng bộ ba; công việc của bộ bốn tiếp diễn."
What of this lower light? The student should remember that for the present purposes he has three bodies of light to consider:
Ánh sáng thấp hơn này là gì? Đạo sinh nên nhớ rằng đối với các mục đích hiện tại, y có ba thể ánh sáng cần xem xét:
There is the radiant body of the soul itself, found on its own plane, and called, frequently, the Karana Sarira or the causal body.
Có thể rạng ngời của chính linh hồn, được tìm thấy trên cõi riêng của nó, và thường được gọi là Karana Sarira hay thể nguyên nhân.
There is the vital or etheric body, the vehicle of prana which is the body of golden light, or rather the flame coloured vehicle.
Có thể sinh lực hay thể dĩ thái, vận cụ của prana, là thể ánh sáng vàng kim, hay đúng hơn là vận cụ màu ngọn lửa.
There is the body of "dark light", which is the occult way of referring to the hidden light of the physical body, and to the light latent in the atom itself.
Có thể của "ánh sáng tối", là cách nói huyền bí để chỉ ánh sáng ẩn tàng của thể xác, và ánh sáng tiềm ẩn trong chính nguyên tử.
These three types of energy are referred to in the Old Commentary under the following symbolic terms:
Ba loại năng lượng này được nói đến trong Cổ Luận dưới các thuật ngữ biểu tượng sau đây:
"When the radiant light of the Solar Angel is fused with the golden light of the cosmic intermediary, it awakens from darkness the rush light of anu, the speck."
"Khi ánh sáng rạng ngời của Thái dương Thiên Thần được dung hợp với ánh sáng vàng kim của đấng trung gian vũ trụ, nó đánh thức khỏi bóng tối ánh sáng bấc đèn của anu, điểm nhỏ."
The "cosmic intermediary" is the term given to the etheric body, which is part and parcel of the universal ether. It is through the etheric body that all the energies flow, whether emanating from the soul, or from the sun, or from a planet. Along those living lines of fiery essence pass all the contacts that do not emanate specifically from the tangible world.
“Đấng trung gian vũ trụ” là thuật ngữ được dùng cho thể dĩ thái, vốn là một phần không thể tách rời của dĩ thái vũ trụ. Chính qua thể dĩ thái mà mọi năng lượng tuôn chảy, dù phát ra từ linh hồn, hay từ mặt trời, hay từ một hành tinh. Dọc theo những đường sống của tinh chất rực lửa ấy đi qua mọi tiếp xúc không phát ra một cách chuyên biệt từ thế giới hữu hình.
The dark light of the tiny atoms of which the physical vehicle is constructed is responsive to the stimulation passing down from the soul into its vehicle, and, when the man is under control of the soul, there eventuates the shining forth of the light throughout the body. This [shows as the radiance emanating from the bodies of adepts and saints, giving the effect of bright and shining light.
Ánh sáng tối của những nguyên tử nhỏ bé cấu thành vận cụ hồng trần đáp ứng với sự kích thích đi xuống từ linh hồn vào vận cụ của nó, và khi con người ở dưới sự kiểm soát của linh hồn, thì ánh sáng bừng tỏa khắp thể sẽ xảy ra. Điều này [biểu lộ như sự rạng sáng phát ra từ các thể của các chân sư và các thánh nhân, tạo nên hiệu quả của ánh sáng sáng chói và rực rỡ.
When the radiant light of the soul is blended with the magnetic light of the vital body, it stimulates the atoms of the physical body to such an extent that each atom becomes in turn a tiny radiant centre. This only becomes possible when the head, heart, the solar plexus and the centre at the base of the spine are connected in a peculiar fashion, which is one of the secrets of the first initiation. When these four are in close cooperation the "floor of the triangle" as it is symbolically called, is prepared for the magical work. In other words—these can be enumerated as follows:
Khi ánh sáng rạng ngời của linh hồn được hòa trộn với ánh sáng từ tính của thể sinh lực, nó kích thích các nguyên tử của thể xác đến mức mỗi nguyên tử lần lượt trở thành một trung tâm rạng ngời nhỏ bé. Điều này chỉ trở nên khả hữu khi đầu, tim, tùng thái dương và trung tâm ở đáy cột sống được nối kết theo một cách đặc biệt, vốn là một trong những bí mật của lần điểm đạo thứ nhất. Khi bốn trung tâm này ở trong sự hợp tác chặt chẽ thì "đáy của tam giác", như nó được gọi một cách biểu tượng, được chuẩn bị cho công việc huyền thuật. Nói cách khác—chúng có thể được liệt kê như sau:
a. The physical material form with its centre at the base of the spine.
a. Hình tướng vật chất hồng trần với trung tâm của nó ở đáy cột sống.
b. The vital body working through the heart centre where the life principle has its seat. The activities of the body which are due to this stimulation are carried through the circulation of the blood.
b. Thể sinh lực hoạt động qua trung tâm tim, nơi nguyên khí sự sống có chỗ ngự. Các hoạt động của thể do sự kích thích này được thực hiện qua sự tuần hoàn của máu.
c. The emotional body, working through the solar plexus centre.
c. Thể cảm xúc, hoạt động qua trung tâm tùng thái dương.
d. The head centre, the direct agent of the soul and its interpreter, the mind. These four are in complete accord and alignment. (TWM 105-106)
d. Trung tâm đầu, tác nhân trực tiếp của linh hồn và là thông dịch viên của nó, trí tuệ. Bốn yếu tố này ở trong sự hòa hợp và chỉnh hợp hoàn toàn. (TWM 105-106)