← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

S8S5 - Part III. 2

Trích nội dung chương

Tất cả những điều trên phải được diễn giải theo nghĩa huyền bí chứ không phải nghĩa ngoại môn của nó. 31. We are not so much dealing with the exoteric expression of events but with conditions within the inner vehicles and principles of a Planetary Logos.


30. These are smaller cycles when compared to a mahamanvantara.

30. Đây là những chu kỳ nhỏ hơn khi so với một Đại giai kỳ sinh hóa.

All the above must be interpreted in its esoteric sense and not its exoteric.

Tất cả những điều trên phải được diễn giải theo nghĩa huyền bí chứ không phải nghĩa ngoại môn của nó.

31. We are not so much dealing with the exoteric expression of events but with conditions within the inner vehicles and principles of a Planetary Logos.

31. Chúng ta không xử lý nhiều với sự biểu lộ ngoại môn của các biến cố cho bằng với các điều kiện bên trong những hiện thể và nguyên khí nội tại của một Hành Tinh Thượng Đế.

Cosmic evil from the standpoint of our planet

Điều ác vũ trụ theo quan điểm của hành tinh chúng ta

32. Let us note this, as it is apparently possible to consider “cosmic evil” from the standpoint of other planets. Our entire solar system is affected by it.

32. Chúng ta hãy lưu ý điều này, vì hiển nhiên có thể xem xét “điều ác vũ trụ” từ quan điểm của các hành tinh khác. Toàn bộ hệ mặt trời của chúng ta đều bị nó tác động.

consists in the relation between that spiritual intelligent Unit or “Rishi of the Superior Constellation” as He is called (who is the informing Life of one of the seven stars of the Great Bear, and our planetary prototype) and one of the forces of the Pleiades.96 [S.D., II 579-581]

bao gồm mối quan hệ giữa Đơn Vị tinh thần thông tuệ hay “Rishi của Chòm Sao Thượng Đẳng” như Ngài được gọi (Đấng là Sự Sống phú linh của một trong bảy ngôi sao của Đại Hùng Tinh, và là nguyên mẫu hành tinh của chúng ta) và một trong các mãnh lực của Thất Nữ Tinh.96 [S.D., II 579-581]

33. We may with reason infer that “spiritual intelligent Unit” is the Logos of Alioth, the third star in the handle of the “Big Dipper”. There is a star in the Pleiades which corresponds to this star. It is probably a star emitting the third ray. Is the name of this star “Maia”?

33. Chúng ta có thể suy ra một cách hợp lý rằng “Đơn Vị tinh thần thông tuệ” là Thượng đế của Alioth, ngôi sao thứ ba trong cán của “Đại Hùng Tinh”. Có một ngôi sao trong Thất Nữ Tinh tương ứng với ngôi sao này. Có lẽ đó là một ngôi sao phát ra cung ba. Tên của ngôi sao này có phải là “Maia” không?

34. Which of the Seven Rishis is “our planetary prototype”? From what is said above, it seems to be the third star, Alioth. The personality ray of our Planetary Logos is the third. Presently, the third ray is the strongest ray on our planet. It this temporary strength sufficient cause for considering the third major star of the Great Bear as our planetary prototype? When the second ray becomes the ray expressing most strongly through our planet will our planetary prototype change to the second star in the Great Bear—Mizar?

34. Vị nào trong Bảy Rishi là “nguyên mẫu hành tinh” của chúng ta? Từ những gì đã nói ở trên, dường như đó là ngôi sao thứ ba, Alioth. cung phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta là cung ba. Hiện nay, cung ba là cung mạnh nhất trên hành tinh chúng ta. Liệu sức mạnh tạm thời này có phải là nguyên nhân đủ để xem ngôi sao lớn thứ ba của Đại Hùng Tinh là nguyên mẫu hành tinh của chúng ta không? Khi cung hai trở thành cung biểu lộ mạnh nhất qua hành tinh chúng ta, liệu nguyên mẫu hành tinh của chúng ta có đổi sang ngôi sao thứ hai trong Đại Hùng Tinh—Mizar—không?

35. Our planetary prototype with the Great Bear obviously has a ray connection with our planet. The question is: is this ray connection based on the personality ray, the soul ray or the monadic ray? Or can the prototype change as our planet, in its evolution, expresses in greatest strength its soul ray and finally its monadic ray?

35. Nguyên mẫu hành tinh của chúng ta với Đại Hùng Tinh hiển nhiên có một liên hệ cung với hành tinh chúng ta. Câu hỏi là: liên hệ cung này dựa trên cung phàm ngã, cung linh hồn hay cung chân thần? Hay nguyên mẫu có thể thay đổi khi hành tinh chúng ta, trong tiến hoá của nó, biểu lộ với sức mạnh lớn nhất cung linh hồn của nó và cuối cùng là cung chân thần của nó?

36. We also should not overlook the Tibetan’s use of the term “forces” in the phrase “one of the forces of the Pleiades”. Why does He use this term “forces” instead of the term “energies”? Does it have to do with the relative sacredness of the star in question?

36. Chúng ta cũng không nên bỏ qua việc Chân sư Tây Tạng dùng thuật ngữ “các mãnh lực” trong cụm từ “một trong các mãnh lực của Pleiades”. Tại sao Ngài dùng thuật ngữ “các mãnh lực” thay vì thuật ngữ “các năng lượng”? Điều này có liên quan đến mức độ thiêng liêng tương đối của ngôi sao đang được nói đến chăng?

Students need here to remember that the “seven sisters” are occultly called the “seven wives” of the Rishis,

Ở đây, các đạo sinh cần nhớ rằng “bảy chị em” được một cách huyền bí gọi là “bảy người vợ” của các Rishi,

37. The term “occultly” is important. Obviously the Rishis and the Sisters are in relationship with each other even though not located in the same area of space.

37. Thuật ngữ “một cách huyền bí” là quan trọng. Hiển nhiên các Rishi và các Chị Em có liên hệ với nhau dù không nằm trong cùng một vùng không gian.

38. We may assume that the relationship is bi-polar, with the Rishis representing the positive pole and the Sisters the negative.

38. Chúng ta có thể giả định rằng mối liên hệ này là lưỡng cực, với các Rishi đại diện cho cực dương và các Chị Em đại diện cho cực âm.

and that the dual forces (resultant from that relationship) converge and play through that one of the planetary Logoi who is the Logos of any particular planet, and is the “reflection” of any specific Rishi.

và rằng các mãnh lực kép (phát sinh từ mối liên hệ đó) hội tụ và vận hành xuyên qua vị Hành Tinh Thượng Đế là Thượng đế của bất kỳ hành tinh riêng biệt nào, và là “phản chiếu” của một Rishi đặc thù nào đó.

39. Earlier we saw the use of the term “prototype”. Each Rishi the Great Bear is a prototype to at least one of the major planets within our solar system. Now we see the use of the term “reflection”.

39. Trước đó chúng ta đã thấy việc dùng thuật ngữ “nguyên mẫu”. Mỗi Rishi của Đại Hùng Tinh là một nguyên mẫu cho ít nhất một trong các hành tinh chính trong hệ mặt trời chúng ta. Giờ đây chúng ta thấy việc dùng thuật ngữ “phản chiếu”.

40. The term “reflection” is useful when considering the ray in fullest expression through a planet at any one time and the Rishi Who is the source of that ray. The term “prototype” seems, somehow, more essential and indicates a more enduring relationship.

40. Thuật ngữ “phản chiếu” hữu ích khi xét đến cung đang biểu lộ đầy đủ nhất qua một hành tinh vào một thời điểm nào đó và vị Rishi là nguồn của cung ấy. Thuật ngữ “nguyên mẫu” dường như, theo một cách nào đó, cốt yếu hơn và chỉ ra một mối liên hệ bền lâu hơn.

41. A “reflection” carries the energy pattern of that which is reflected but not in the same degree or level of intensity.

41. Một “phản chiếu” mang mô hình năng lượng của cái được phản chiếu nhưng không ở cùng mức độ hay cấp độ cường lực.

In this relation, at present lacking perfect adjustment, lies hid the mystery of cosmic evil as it makes itself felt in any particular planetary scheme.

Trong mối liên hệ này, hiện nay còn thiếu sự điều chỉnh hoàn hảo, ẩn giấu bí nhiệm của ác tính vũ trụ khi nó tự làm cho được cảm nhận trong bất kỳ hệ hành tinh riêng biệt nào.

42. Let us take note: the nature and origin of cosmic evil is a “mystery” in relation to any planet through which it may manifest.

42. Chúng ta hãy lưu ý: bản chất và nguồn gốc của ác tính vũ trụ là một “bí nhiệm” trong liên hệ với bất kỳ hành tinh nào mà qua đó nó có thể biểu lộ.

43. Also—imperfection and evil are questions of relationship. When relationships are harmonized and then perfected, imperfection and evil disappear.

43. Ngoài ra—bất toàn và ác là những vấn đề của mối liên hệ. Khi các mối liên hệ được hài hòa rồi được hoàn thiện, bất toàn và ác sẽ biến mất.

44. We may presume that, with respect to certain planets, the relationship involving one of the Rishis and one of the Pleiades is in better adjustment than with respect to others.

44. Chúng ta có thể giả định rằng, đối với một số hành tinh nào đó, mối liên hệ liên quan đến một trong các Rishi và một trong các Pleiades được điều chỉnh tốt hơn so với những hành tinh khác.

45. We might presume that, when compared to the Rishis and the Pleiades, the planetary schemes represent the negative or material aspect of the triangular relationship.

45. Chúng ta có thể giả định rằng, khi so sánh với các Rishi và các Pleiades, các hệ hành tinh đại diện cho phương diện âm hay vật chất của mối liên hệ tam giác.

Again, when the heavenly triangle

Một lần nữa, khi tam giác thiên giới

46. Each of these triangles (involving two stars and a planetary scheme) is a “heavenly” triangle.

46. Mỗi tam giác này (liên quan đến hai ngôi sao và một hệ hành tinh) là một tam giác “thiên giới”.

is duly equilibrated, and the force circulates freely through

được quân bình đúng mức, và mãnh lực lưu chuyển tự do qua

47. DK refers to this process of perfecting relationships as ‘equilibrization of relationships’.

47. Ở đây, Chân sư DK gọi tiến trình hoàn thiện các mối liên hệ này là “sự quân bình hóa các mối liên hệ”.

48. We are given the hint that when relationships are equilibrated, blockages to the free flow of energy disappear.

48. Chúng ta được gợi ý rằng khi các mối liên hệ được quân bình, các chướng ngại đối với dòng chảy tự do của năng lượng sẽ biến mất.

a. One of the stars of the Great Bear,

a. Một trong các ngôi sao của Đại Hùng Tinh,

b. The Pleiad involved,

b. Pleiad liên hệ,

c. The planetary scheme concerned,

c. Hệ hành tinh được nói đến,

49. This tabulation gives us an important hint regarding the appearance of cosmic evil in every planetary scheme. We see that imperfect adjustment of Great Intelligences with respect to each other is involved in what we, often glibly, call “cosmic evil”.

49. Bảng liệt kê này cho chúng ta một gợi ý quan trọng về sự xuất hiện của ác tính vũ trụ trong mọi hệ hành tinh. Chúng ta thấy rằng sự điều chỉnh bất toàn giữa các Trí Tuệ Vĩ Đại đối với nhau có liên quan đến điều mà chúng ta thường hời hợt gọi là “ác tính vũ trụ”.

then again cosmic evil will be negated, and a relative perfection achieved.

thì một lần nữa ác tính vũ trụ sẽ bị phủ nhận, và một sự tương đối hoàn hảo sẽ đạt được.

50. Much greater adjustments over far greater spans of time are required to negate cosmic evil.

50. Những sự điều chỉnh lớn lao hơn nhiều trong những khoảng thời gian dài hơn nhiều là cần thiết để phủ nhận ác tính vũ trụ.

51. Let us note that, even with its negation, the perfection achieved is only “relative”. The “relative perfection” here mentioned probably concerns conditions upon and within the planetary scheme which is the third point in any such triangle.

51. Chúng ta hãy lưu ý rằng, ngay cả khi nó bị phủ nhận, sự hoàn hảo đạt được cũng chỉ là “tương đối”. “Sự hoàn hảo tương đối” được nói đến ở đây có lẽ liên quan đến các điều kiện trên và trong hệ hành tinh là điểm thứ ba trong bất kỳ tam giác nào như thế.

This will mark the attainment of primary perfection, and the consummation of the greater cycle.

Điều này sẽ đánh dấu việc đạt đến sự hoàn hảo sơ cấp, và sự viên mãn của chu kỳ lớn hơn.

52. What this cycle may be, we cannot ascertain. Perhaps it is the cycle of the solar system. Or it could be a cycle of all the solar systems through which our Solar Logos has incarnated and will be incarnating as He passes through all developmental stages up to His sixth cosmic initiation. By that time, all Planetary Logoi should have been perfected-as planets.

52. Chúng ta không thể xác định chu kỳ này có thể là gì. Có lẽ đó là chu kỳ của hệ mặt trời. Hoặc đó có thể là một chu kỳ của mọi hệ mặt trời mà qua đó Thái dương Thượng đế của chúng ta đã lâm phàm và sẽ còn lâm phàm khi Ngài đi qua mọi giai đoạn phát triển cho đến lần điểm đạo vũ trụ thứ sáu của Ngài. Vào lúc đó, mọi Hành Tinh Thượng Đế hẳn đã được hoàn thiện-với tư cách là các hành tinh.

53. The “relative perfection” to be achieved is considered, nonetheless, a “primary perfection”—probably because it involved two great stars from prototypical constellations and the dissipation of cosmic evil. When, however, planetary evil disappears, we may infer that we are to consider it as an attainment of secondary perfection.

53. “Sự hoàn hảo tương đối” cần đạt được, tuy vậy, vẫn được xem là một “sự hoàn hảo sơ cấp”—có lẽ vì nó liên quan đến hai ngôi sao lớn từ các chòm sao nguyên mẫu và sự làm tiêu tan ác tính vũ trụ. Tuy nhiên, khi ác hành tinh biến mất, chúng ta có thể suy ra rằng phải xem đó là sự đạt đến hoàn hảo thứ cấp.

Cyclic evil, or tertiary evil, lies hid in the relation between the globes in any particular scheme, two of them ever being in opposition until equilibrised by force emanating from a third.

Ác tính chu kỳ, hay ác tính tam cấp, ẩn giấu trong mối liên hệ giữa các bầu hành tinh trong bất kỳ hệ riêng biệt nào, hai trong số đó luôn ở thế đối kháng cho đến khi được quân bình hóa bởi mãnh lực phát ra từ một bầu hành tinh thứ ba.

54. What of the adjustment between two schemes? It seems that one type of adjustment has not been referenced.

54. Còn sự điều chỉnh giữa hai hệ thì sao? Dường như một loại điều chỉnh đã không được nhắc đến.

55. Note—we are told of adjustments between “globes” in a particular “scheme” and not ‘globes in a particular chain’. If referencing a scheme and not a chain, how does one know which globes to choose? There are so many at the scheme level.

55. Lưu ý—chúng ta được nói về các sự điều chỉnh giữa các “bầu hành tinh” trong một “hệ” riêng biệt chứ không phải “các bầu hành tinh trong một dãy riêng biệt”. Nếu đang nói đến một hệ chứ không phải một dãy, làm sao biết phải chọn những bầu hành tinh nào? Có quá nhiều ở cấp độ hệ.

56. We learn that there is always a mediating or equilibrizing energy adjusting the relationship between two centers representing the positive and negative poles. Does Mercury provide an equilibrizing energy between Venus and our Earth (these being polar opposites)?

56. Chúng ta học được rằng luôn có một năng lượng trung gian hay quân bình hóa điều chỉnh mối liên hệ giữa hai trung tâm đại diện cho cực dương và cực âm. Liệu Sao Thủy có cung cấp một năng lượng quân bình hóa giữa Sao Kim và Trái Đất chúng ta không (vì chúng là các cực đối nghịch)?

57. Let us tabulate:

57. Chúng ta hãy lập bảng:

a. Primary Evil or Cosmic Evil concerns adjustments between two ‘Stellar Logoi’ and a Planetary Logos.

a. Ác Sơ Cấp hay Ác Vũ Trụ liên quan đến các sự điều chỉnh giữa hai ‘Thượng đế Tinh Tú’ và một Hành Tinh Thượng Đế.

b. Secondary Evil or Planetary Evil concerns adjustments between two Planetary Logoi and another Planetary Logos. The example given concerns our own Planetary Logos and its relationship to two other Planetary Logoi.

b. Ác Thứ Cấp hay Ác Hành Tinh liên quan đến các sự điều chỉnh giữa hai Hành Tinh Thượng Đế và một Hành Tinh Thượng Đế khác. Thí dụ được đưa ra liên quan đến chính Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta và mối liên hệ của Ngài với hai Hành Tinh Thượng Đế khác.

c. Tertiary Evil (is this evil within a planetary chain?) concerns adjustments between two planetary globes and another globe.

c. Ác Tam Cấp (đây có phải là ác trong một dãy hành tinh không?) liên quan đến các sự điều chỉnh giữa hai bầu hành tinh và một bầu hành tinh khác.

d. We wonder about the omission of adjustments between two planetary chains and another planetary chain.

d. Chúng ta tự hỏi về sự bỏ sót các sự điều chỉnh giữa hai dãy hành tinh và một dãy hành tinh khác.

58. We may begin to assume that the conflict between opposites involved in the expression of evil must always be equilibrated. Equilibrization (perhaps through the second aspect) is required for the negation of evil—whether cyclic, planetary or cosmic.

58. Chúng ta có thể bắt đầu giả định rằng xung đột giữa các cặp đối nghịch liên quan đến sự biểu lộ của ác luôn luôn phải được quân bình hóa. Sự quân bình hóa (có lẽ qua phương diện thứ hai) là điều cần thiết để phủ nhận ác—dù là chu kỳ, hành tinh hay vũ trụ.

Students will only apprehend the significance of this teaching as they study the pairs of opposites in their own cycles, and the equilibrising work of the Ego.

Các đạo sinh sẽ chỉ nắm bắt được thâm nghĩa của giáo huấn này khi họ nghiên cứu các cặp đối nghịch trong những chu kỳ riêng của mình, và công việc quân bình hóa của chân ngã.

59. From this perspective, the “pairs of opposites” within the energy system of a disciple are the Monad and the personality.

59. Từ góc nhìn này, “các cặp đối nghịch” trong hệ thống năng lượng của một đệ tử là Chân thần và phàm ngã.

60. For the human being, then, it can be inferred, that the Ego reconciles the Monad to the personality, and thus, Spirit to matter.

60. Vì vậy, đối với con người, có thể suy ra rằng chân ngã hòa giải Chân thần với phàm ngã, và như thế hòa giải tinh thần với vật chất.

61. If, in general, the equilibrizer represents the second aspect, then it is more problematic to choose Mercury as the equilibrizer between the Earth and Venus.

61. Nếu, nói chung, yếu tố quân bình hóa đại diện cho phương diện thứ hai, thì việc chọn Sao Thủy làm yếu tố quân bình hóa giữa Trái Đất và Sao Kim sẽ có vấn đề hơn.

A fourth type of evil growing out of the above finds [Page 991] its main expression in the sorrows and troubles of the fourth or human kingdom, and will find its solution in two ways: [firstly] by the balancing of the forces of the three kingdoms (the spiritual or fifth kingdom, the human, and the animal),

Một loại ác thứ tư phát sinh từ những điều trên tìm thấy [Page 991] sự biểu lộ chính của nó trong những nỗi buồn và rắc rối của giới thứ tư hay giới nhân loại, và sẽ tìm được giải pháp theo hai cách: [firstly] trước hết là bằng sự quân bình các mãnh lực của ba giới (giới tinh thần hay giới thứ năm, giới nhân loại, và giới động vật),

62. There is a fourth type of evil which applies directly to the fourth kingdom of nature rather than to a planet or globe. Shall we call it ‘Quadrennial Evil’?

62. Có một loại ác thứ tư áp dụng trực tiếp cho giới thứ tư của thiên nhiên hơn là cho một hành tinh hay bầu hành tinh. Chúng ta có nên gọi nó là ‘Ác Tứ Phân’ không?

63. It becomes clear that humanity shall not rid itself of this type of evil until the soul is brought into right relationship with both the human and animal nature.

63. Rõ ràng là nhân loại sẽ không tự giải thoát khỏi loại ác này cho đến khi linh hồn được đưa vào mối liên hệ đúng đắn với cả bản chất người lẫn bản chất thú.

64. In this quadrennial relationship, man (Mercury) is the equilibrizer. Venus represents the fifth or spiritual kingdom and Mars/Earth the animal kingdom. The appropriateness of this lower relationship seems to support the triangle of Mercury, Venus, Earth/Mars as the planets involved in the expression of planetary evil.

64. Trong mối liên hệ tứ phân này, con người (Sao Thủy) là yếu tố quân bình hóa. Sao Kim đại diện cho giới thứ năm hay giới tinh thần, còn Sao Hỏa/Trái Đất đại diện cho giới động vật. Tính thích hợp của mối liên hệ thấp hơn này dường như hỗ trợ tam giác Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất/Sao Hỏa như là các hành tinh liên quan đến sự biểu lộ của ác hành tinh.

and secondly, by the negation of the attractive power of the three lower kingdoms (the mineral, the vegetable, and the animal, who thus form one unit), by the spiritual kingdom, utilising the fourth or human kingdom.

và thứ hai, bằng sự phủ nhận quyền năng hấp dẫn của ba giới thấp (giới kim thạch, giới thực vật, và giới động vật, do đó hợp thành một đơn vị), bởi giới tinh thần, sử dụng giới thứ tư hay giới nhân loại.

65. In one respect, the three lower kingdoms are collectively the Moon (veiling the energies of Vulcan, Neptune and Uranus), and are associated with the lunar lords. The fifth kingdom under Venus must negate the attraction of the Moon.

65. Xét theo một phương diện, ba giới thấp tập thể là Mặt Trăng (che giấu các năng lượng của Vulcan, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương), và được liên kết với các nguyệt tinh quân. Giới thứ năm dưới Sao Kim phải phủ nhận sức hút của Mặt Trăng.

66. We can see and understand the meaning of difficult aspects between Venus and the Moon (from one perspective) and between Venus and Mars from another.

66. Chúng ta có thể thấy và thấu hiểu ý nghĩa của các góc hợp khó giữa Sao Kim và Mặt Trăng (theo một góc nhìn) và giữa Sao Kim và Sao Hỏa theo một góc nhìn khác.

In all these cases, triangles of force are formed which, when balanced, procure the desired end.

Trong tất cả các trường hợp này, các tam giác mãnh lực được hình thành, và khi được quân bình, sẽ mang lại kết quả mong muốn.

67. We are speaking of the equilibrizing of triangles in order to produce perfected adjustment and consequent full and ideal energy-flow.

67. Chúng ta đang nói về sự quân bình hóa các tam giác để tạo ra sự điều chỉnh hoàn hảo và do đó là dòng năng lượng đầy đủ và lý tưởng.

68. Along with this equilibrization comes the elimination of evil incident to maladjustments between the three factors constituting any particular triangle.

68. Cùng với sự quân bình hóa này là sự loại bỏ ác phát sinh từ các sự điều chỉnh sai lệch giữa ba yếu tố cấu thành bất kỳ tam giác riêng biệt nào.

Black magic is spoken of as making its appearance upon our planet during the fourth root race.97 [S.D., I, 451, 452; II, 221, 234, 519]

Hắc thuật được nói là đã xuất hiện trên hành tinh chúng ta trong giống dân gốc thứ tư.97 [S.D., I, 451, 452; II, 221, 234, 519]

69. Whatever may have been the abuses in Lemuria, they were, apparently, not the result of the specific focus of the Black Lodge upon humanity.

69. Dù những sự lạm dụng ở Lemuria có thể là gì đi nữa, rõ ràng chúng không phải là kết quả của sự tập chú đặc thù của Hắc đoàn lên nhân loại.

70. This is not to say that evil beings who were initiates in the first solar system were not present in Lemuria. There is every indication that they were present, just as the “nomads” who wandered into the Earth-scheme of the second solar system were present even before individualization occurred in the middle of the third root race of fourth round of the Earth-chain of the Earth-scheme.

70. Điều này không có nghĩa là các thực thể ác vốn là các điểm đạo đồ trong hệ mặt trời thứ nhất đã không hiện diện ở Lemuria. Có mọi dấu hiệu cho thấy họ đã hiện diện, cũng như các “kẻ du mục” lang thang vào hệ Địa Cầu của hệ mặt trời thứ hai đã hiện diện ngay cả trước khi biệt ngã hóa xảy ra vào giữa giống dân gốc thứ ba của cuộc tuần hoàn thứ tư của Dãy Địa Cầu thuộc hệ Địa Cầu.

71. It would seem that Black Lodge initiates originating within the solar system immediately antedating ours may have been present on the Moon-chain (as, apparently, an eruption of cosmic evil occurred there, too) as well as within both the Lemurian rootrace and the Atlantean rootrace. Their influence in the fifth rootrace was demonstrably present in the first and second world wars.

71. Dường như các điểm đạo đồ của Hắc đoàn có nguồn gốc trong hệ mặt trời ngay trước hệ của chúng ta có thể đã hiện diện trên Dãy Mặt Trăng (vì rõ ràng ở đó cũng đã xảy ra một sự bùng phát của ác tính vũ trụ) cũng như trong cả giống dân gốc Lemuria lẫn giống dân gốc Atlantis. Ảnh hưởng của họ trong giống dân gốc thứ năm đã hiện diện một cách rõ rệt trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai.

…a part of the mystery of evil is to be found in the readiness of certain of these cosmic entities (particularly our planetary Logos in the moon chain) to remain polarised in the physical etheric body after having supposedly dominated the material aspect, or gained the control of the third Fire in an earlier system. A hint lies here for the wise student anent present evil on this planet. (TCF 721)

…một phần của bí nhiệm về ác có thể được tìm thấy trong sự sẵn sàng của một số thực thể vũ trụ này (đặc biệt là Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta trong Dãy Mặt Trăng) tiếp tục phân cực trong thể dĩ thái hồng trần sau khi được cho là đã chế ngự phương diện vật chất, hay đã giành được quyền kiểm soát ngọn Lửa thứ ba trong một hệ trước đó. Ở đây có một gợi ý cho đạo sinh minh triết liên quan đến ác hiện nay trên hành tinh này. (TCF 721)

It should be borne in mind here that this means strictly in connection with the fourth kingdom and its conscious use by wrongly developed men.

Cần ghi nhớ rằng điều này có nghĩa một cách nghiêm ngặt là liên hệ với giới thứ tư và việc sử dụng có ý thức của nó bởi những người nam và nữ phát triển sai lệch.

72. Master DK is speaking in a rather specific manner and in connection with the Earth-chain of the Earth-scheme within the second solar system.

72. Chân sư DK đang nói theo một cách khá đặc thù và trong liên hệ với Dãy Địa Cầu của hệ Địa Cầu trong hệ mặt trời thứ hai.

73. DK is also not speaking of unconsciously expressed magic of a lower kind. He is speaking of the deliberate, conscious use of that which we call black magic and which characterizes the approach of the Black Lodge associated with the Earth-scheme.

73. Chân sư DK cũng không nói về loại huyền thuật thấp hơn được biểu lộ một cách vô thức. Ngài đang nói về việc sử dụng có chủ ý, có ý thức điều mà chúng ta gọi là hắc thuật và điều này đặc trưng cho phương thức của Hắc đoàn liên kết với hệ Địa Cầu.

The forces of evil of the planetary and cosmic kind have been present since manifestation [the manifestation of our Planetary Logos] set in, being latent in the karma of the planetary Logos,

Các mãnh lực của ác thuộc loại hành tinh và vũ trụ đã hiện diện từ khi sự biểu hiện [sự biểu hiện của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta] bắt đầu, tiềm ẩn trong nghiệp quả của Hành Tinh Thượng Đế,

74. Here He explains the distinction between the presence on Earth of the representatives of the Black Lodge and the conscious use of black magic by “wrongly developed men”.

74. Ở đây Ngài giải thích sự phân biệt giữa sự hiện diện trên Trái Đất của các đại diện của Hắc đoàn và việc sử dụng có ý thức hắc thuật bởi “những người nam và nữ phát triển sai lệch”.

but human beings began consciously to work with these forces and to use them for specified selfish ends in this round during the fourth root race.

nhưng con người bắt đầu làm việc một cách có ý thức với các mãnh lực này và sử dụng chúng cho những mục đích ích kỷ xác định trong cuộc tuần hoàn này vào giống dân gốc thứ tư.

75. Perhaps the mental development of Lemurians was not sufficient to enable them to work consciously with black magic. Also, the relatively intelligent (and relatively selfish) Egos from the Moon-chain had not yet entered the Earth-chain during Lemurian times.

75. Có lẽ sự phát triển trí tuệ của người Lemuria chưa đủ để giúp họ làm việc một cách có ý thức với hắc thuật. Ngoài ra, các Chân ngã tương đối thông minh (và tương đối ích kỷ) từ Dãy Mặt Trăng vẫn chưa đi vào Dãy Địa Cầu trong thời Lemuria.

76. So we are speaking not only of evil on a large scale but of humanity’s conscious, deliberate indulgence in black magic for strictly selfish ends. This indulgence did not arise until the fourth root-race, and even then probably not until the third or fourth subraces of that root-race.

76. Vì vậy, chúng ta đang nói không chỉ về ác trên quy mô lớn mà còn về sự buông mình có ý thức, có chủ ý của nhân loại vào hắc thuật vì những mục đích hoàn toàn ích kỷ. Sự buông mình này không xuất hiện cho đến giống dân gốc thứ tư, và ngay cả khi đó có lẽ cũng chưa xảy ra cho đến các giống dân phụ thứ ba hay thứ tư của giống dân gốc ấy.

Black magicians work under certain great Entities, six in number,

Các nhà hắc thuật hoạt động dưới quyền một số Thực Thể lớn, gồm sáu vị,

77. Let us note that these Entities are greater than the twelve present leaders of the Black Lodge on Earth—six of them in the East and six of them in the West. The number six, however, is significant in the expression conscious, deliberate evil.

77. Chúng ta hãy lưu ý rằng các Thực Thể này lớn hơn mười hai nhà lãnh đạo hiện nay của Hắc đoàn trên Trái Đất—sáu vị ở phương Đông và sáu vị ở phương Tây. Tuy nhiên, con số sáu có ý nghĩa trong sự biểu lộ của ác có ý thức, có chủ ý.

The dark forces are ruled on the physical plane by a group of six oriental leaders and six occidental leaders; of these the oriental are the most powerful because they are the oldest racially and therefore the most experienced. (EP II 577-578)

Các mãnh lực tối tăm được cai quản trên cõi hồng trần bởi một nhóm sáu nhà lãnh đạo phương Đông và sáu nhà lãnh đạo phương Tây; trong số này, các vị phương Đông mạnh hơn vì các vị ấy cổ xưa hơn về mặt chủng tộc và do đó giàu kinh nghiệm hơn. (EP II 577-578)

who are spoken of, for instance, in the Christian Bible as having the number 666.98 [Bible. Rev. 13:18]

những vị được nói đến, chẳng hạn, trong Kinh Thánh Cơ Đốc giáo như mang con số 666.98 [Bible. Rev. 13:18]

78. We must determine whether all these Entities collectively are characterized by the number 666 or whether each such Entity is thus characterized.

78. Chúng ta phải xác định liệu tất cả các Thực Thể này với tính cách tập thể được đặc trưng bởi con số 666 hay mỗi Thực Thể như vậy đều được đặc trưng như thế.

79. The planet (a non-sacred planet) most correlated with the number 666 is Mars, and it would not be surprising to find that these six Entities have a close relation, within our solar system, to Mars.

79. Hành tinh (một hành tinh không thiêng liêng) tương quan nhiều nhất với con số 666 là Sao Hỏa, và sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu thấy rằng sáu Thực Thể này có một liên hệ mật thiết, trong hệ mặt trời chúng ta, với Sao Hỏa.

They came in (being cosmic, not systemic) on that stream of force emanating from cosmic mental levels which produced the three worlds of human endeavour.

Các vị ấy đi vào (vì có tính vũ trụ, không phải có tính hệ thống) trên dòng mãnh lực phát ra từ các cấp độ trí tuệ vũ trụ đã tạo ra ba cõi giới của nỗ lực nhân loại.

80. Black magicians work under cosmic Entities.

80. Các nhà hắc thuật hoạt động dưới quyền các Thực Thể vũ trụ.

81. The coming in of these Entities is probably the coming into our solar system.

81. Sự đi vào của các Thực Thể này có lẽ là sự đi vào hệ mặt trời chúng ta.

82. It is probable that the planet Mars (a distributor of the sixth ray) is related to these cosmic Entities.

82. Có thể là hành tinh Sao Hỏa (một đấng phân phối cung sáu) có liên hệ với các Thực Thể vũ trụ này.

83. Just as the soul on the higher mental plane produces within the lower three worlds the three elemental vehicles of the human being, so a cosmic type of soul (the type of soul possessed by our Planetary Logos and Solar Logos) produces three cosmic personality vehicles for cosmic elemental expression within the three lower cosmic worlds (and especially within the lower two and a half cosmic worlds or planes).

83. Cũng như linh hồn trên Cõi thượng trí tạo ra trong ba cõi thấp ba hiện thể hành khí của con người, thì một loại linh hồn vũ trụ (loại linh hồn mà Hành Tinh Thượng Đế và Thái dương Thượng đế của chúng ta sở hữu) tạo ra ba hiện thể phàm ngã vũ trụ cho sự biểu lộ hành khí vũ trụ trong ba cõi vũ trụ thấp hơn (và đặc biệt trong hai cõi rưỡi vũ trụ thấp hơn).

84. The Solar Angel expressing through the higher mental plane arranges the creation of the lower vehicles of the human being. The greater energy stream which animates the work of the Solar Angels on the higher mental plane emanates from the cosmic mental plane.

84. Thái dương Thiên Thần biểu lộ qua Cõi thượng trí sắp xếp việc tạo ra các hiện thể thấp của con người. Dòng năng lượng lớn hơn làm sinh động công việc của các Thái dương Thiên Thần trên Cõi thượng trí phát ra từ cõi trí vũ trụ.

85. It is evident that these six Entities are related to the personality expression of our Planetary Logos and perhaps to the personality expression of our Solar Logos. Similarly and on a lower level, the lesser members of the Black Lodge work with forces drawn from the personality vehicles of man

85. Rõ ràng là sáu Thực Thể này có liên hệ với sự biểu lộ phàm ngã của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta và có lẽ với sự biểu lộ phàm ngã của Thái dương Thượng đế chúng ta. Tương tự như vậy và ở một cấp độ thấp hơn, các thành viên nhỏ hơn của Hắc đoàn làm việc với các mãnh lực được rút ra từ các hiện thể phàm ngã của con người

Students should remember here the fact that the three lower planes of our solar system are not considered as embodying a cosmic principle,

Ở đây, các đạo sinh nên nhớ sự kiện rằng ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta không được xem là hiện thân của một nguyên khí vũ trụ,

86. Though a number of the human principles find expression upon and through the three lower planes of our solar system…

86. Dù một số nguyên khí của con người tìm thấy sự biểu lộ trên và qua ba cõi thấp của hệ mặt trời chúng ta…

87. We note the use of the word “cosmic” to describe the type of principle under discussion. We are speaking of principles as they apply to the Solar Logos and our Planetary Logos and not of the principles of a human being.

87. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “vũ trụ” để mô tả loại nguyên khí đang được bàn đến. Chúng ta đang nói về các nguyên khí khi chúng áp dụng cho Thái dương Thượng đế và Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta chứ không phải các nguyên khí của một con người.

for they form the dense physical body of the Logos, and the dense physical body is not considered a principle.

vì chúng tạo thành thể xác đậm đặc của Thượng đế, và thể xác đậm đặc không được xem là một nguyên khí.

88. Even the systemic higher mental plane is considered part of the dense physical body of the Solar Logos, though not necessarily a part or the dense physical body of our Planetary Logos.

88. Ngay cả Cõi thượng trí hệ thống cũng được xem là một phần của thể xác đậm đặc của Thái dương Thượng đế, dù không nhất thiết là một phần của thể xác đậm đặc của Hành Tinh Thượng Đế chúng ta.

There is an occult significance in the expression “unprincipled.”

Có một ý nghĩa huyền bí trong từ ngữ “không có nguyên khí”.

89. We can think of two meanings:

89. Chúng ta có thể nghĩ đến hai nghĩa:

a. Not animated by one of the principles of the Logos; this is the cosmic meaning.

a. Không được làm sinh động bởi một trong các nguyên khí của Thượng đế; đây là nghĩa vũ trụ.

b. Inferior in moral expression, i.e., not abiding by or conforming to expected standards.

b. Thấp kém về biểu lộ đạo đức, tức là không tuân theo hay không phù hợp với các tiêu chuẩn được mong đợi.

90. The two meanings are obviously related.

90. Hai nghĩa này hiển nhiên có liên hệ với nhau.

These entities

Các thực thể này

91. Six Entities…

91. Sáu Thực Thể…

are the sumtotal of the substance of the three lower subplanes of the cosmic physical plane (our three lower systemic [Page 992] planes), and it is under them that the black magicians are swept into activity, often unconsciously, but rising to power as they work consciously.99

là tổng thể chất liệu của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần vũ trụ (ba cõi [Page 992] hệ thống thấp của chúng ta), và chính dưới quyền các vị ấy mà các nhà hắc thuật bị cuốn vào hoạt động, thường là vô thức, nhưng vươn lên quyền lực khi họ hoạt động một cách có ý thức.99

92. We must wonder about the polarity of these Entities. Since there are six of them representing three lower systemic planes, it would seem that they come in bi-polar pairs.

92. Chúng ta phải tự hỏi về cực tính của các Thực Thể này. Vì có sáu vị đại diện cho ba cõi hệ thống thấp, dường như các vị ấy đi thành những cặp lưỡng cực.

93. We must also wonder about the relationship between these six Entities and the Raja Deva Lords of the lower three systemic planes. The Raja Deva Lords are definitely evolutionary and are equivalent (some of them at least) to a human initiate of the seventh degree. Are the six great Entities involutionary in nature?

93. Chúng ta cũng phải tự hỏi về mối liên hệ giữa sáu Thực Thể này và các Chúa Tể Raja Deva của ba cõi hệ thống thấp. Các Chúa Tể Raja Deva rõ ràng thuộc tiến hoá thăng thượng và tương đương (ít nhất một số vị) với một điểm đạo đồ nhân loại bậc bảy. Liệu sáu Thực Thể lớn này có bản chất giáng hạ tiến hoá không?

94. We note that the six Entities provide a certain power which sweeps the black magicians into power, often unconsciously to themselves.

94. Chúng ta lưu ý rằng sáu Thực Thể này cung cấp một quyền năng nào đó cuốn các nhà hắc thuật vào quyền lực, thường là vô thức đối với chính họ.

95. It is curious to realize that black magicians, for all their intelligence, are completely or largely unconscious of the greater maleficent powers which impel them.

95. Thật kỳ lạ khi nhận ra rằng các nhà hắc thuật, dù thông minh đến đâu, vẫn hoàn toàn hoặc phần lớn không ý thức về các quyền năng ác độc lớn hơn đang thúc đẩy họ.

96. As black magicians pursue their goals with increasing consciousness, they increase in power.

96. Khi các nhà hắc thuật theo đuổi các mục tiêu của họ với tâm thức ngày càng tăng, họ cũng gia tăng quyền lực.

Footnote 99:

Chú thích 99:

It might here be asked what, if any, relation there may be in this connection with the inner round?

Ở đây có thể đặt câu hỏi rằng, nếu có, thì trong mối liên hệ này có thể có quan hệ gì với cuộc tuần hoàn nội tại?

97. The question inquires whether the rise in power of black magicians has anything to do with the inner round.

97. Câu hỏi này thăm dò xem sự gia tăng quyền lực của các nhà hắc thuật có liên quan gì đến cuộc tuần hoàn nội tại hay không.

The inner round has many meanings some impossible to give, but two things may here be said: That it concerns itself with the effect of the triangular balancing of forces towards the close of the cycle,

Cuộc tuần hoàn nội tại có nhiều nghĩa một số không thể nêu ra, nhưng ở đây có thể nói hai điều: rằng nó liên quan đến tác động của sự quân bình tam giác của các mãnh lực hướng tới sự kết thúc của chu kỳ,

98. Does this cycle concern our solar system or is it a much larger cycle concerning the “One About Whom Naught May Be Said”?

98. Chu kỳ này có liên quan đến hệ mặt trời chúng ta hay là một chu kỳ lớn hơn nhiều liên quan đến “Đấng Bất Khả Tư Nghị”?

99. Three types of electrical force must be reconciled towards the close of any cycle (incidentally eliminating evil). We can imagine the constellation Libra (whose symbol is the triangle), or similar equilibrizing energies, involved in this balancing.

99. Ba loại mãnh lực điện phải được hòa giải vào lúc gần kết thúc của bất kỳ chu kỳ nào (đồng thời làm tiêu tan ác). Chúng ta có thể hình dung chòm sao Thiên Bình (biểu tượng là tam giác), hay các năng lượng quân bình hóa tương tự, có liên quan đến sự quân bình này.

when the force or energy involved is circulating unimpeded, even if slowly, through:

khi mãnh lực hay năng lượng liên quan đang lưu chuyển không bị cản trở, dù chậm, qua:

1. Two constellations of the solar system,

1. Hai chòm sao của hệ mặt trời,

100. This is a peculiar statement, as constellations usually consist of more than one solar system and are not (according to standard definition) contained within a solar system.

100. Đây là một phát biểu kỳ lạ, vì các chòm sao thường gồm nhiều hơn một hệ mặt trời và không phải (theo định nghĩa tiêu chuẩn) nằm trong một hệ mặt trời.

101. It would make more sense if the statement were “two constellations and the solar system”.

101. Sẽ hợp lý hơn nếu phát biểu là “hai chòm sao và hệ mặt trời”.

102. Of course the term “solar system” might not mean a system consisting of one star and a number of planets, but rather a larger structure consisting of a number of constellations. From this perspective the system of the “One About Whom Naught May Be Said” might be considered a “solar system”

102. Dĩ nhiên, thuật ngữ “hệ mặt trời” có thể không có nghĩa là một hệ gồm một ngôi sao và một số hành tinh, mà đúng hơn là một cấu trúc lớn hơn gồm một số chòm sao. Từ góc nhìn này, hệ của “Đấng Bất Khả Tư Nghị” có thể được xem là một “hệ mặt trời”

2. The planetary schemes

2. Các hệ hành tinh

103. We might presume that these are the planetary schemes of our solar system, but, if we are speaking of a cycle larger than a solar systemic cycle, a number the planetary schemes of a number of solar systems might be indicated.

103. Chúng ta có thể giả định rằng đây là các hệ hành tinh của hệ mặt trời chúng ta, nhưng nếu đang nói về một chu kỳ lớn hơn chu kỳ hệ mặt trời, thì có thể đang chỉ đến một số hệ hành tinh của một số hệ mặt trời.

3. Three globes in the scheme.

3. Ba bầu hành tinh trong hệ.

104. We presume the higher globes of a grouping of seven or ten globes to be included.

104. Chúng ta giả định rằng các bầu hành tinh cao hơn của một nhóm bảy hay mười bầu hành tinh được bao gồm ở đây.

105. The information given in this footnote is obscure and seems to be occultly blinded.

105. Thông tin được đưa ra trong chú thích này mơ hồ và dường như đã bị che giấu một cách huyền bí.

It should be remembered that all these three are interdependent. The force begins thus to flow when any cycle is two thirds run.

Cần nhớ rằng cả ba điều này đều phụ thuộc lẫn nhau. Mãnh lực bắt đầu lưu chuyển như thế khi bất kỳ chu kỳ nào đã đi được hai phần ba.

106. We seem to be speaking of the forces which flow through the “inner round”.

106. Dường như chúng ta đang nói về các mãnh lực lưu chuyển qua “cuộc tuần hoàn nội tại”.

107. As a general principle, we might say that equilibrizing forces begin to flow when any cycle of two third run.

107. Như một nguyên lý tổng quát, chúng ta có thể nói rằng các mãnh lực quân bình hóa bắt đầu lưu chuyển khi bất kỳ chu kỳ nào đã đi được hai phần ba.

108. We might also infer that it is useless to attempt to eliminate evil until two thirds of a cycle has run its course.

108. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng cố gắng loại bỏ ác trước khi hai phần ba chu kỳ đã trôi qua là vô ích.

109. It is interesting that after two thirds of the incarnation of a human being have passed, that human being will choose a vocation in line with soul quality.

109. Điều thú vị là sau khi hai phần ba kiếp lâm phàm của một con người đã trôi qua, con người ấy sẽ chọn một thiên chức phù hợp với phẩm tính linh hồn.

It deals with the greater Initiations, and is the correspondence on the higher planes to the occult short cut to wisdom and knowledge which we call the Path of Initiation.

Nó liên quan đến các điểm đạo lớn hơn, và là sự tương ứng trên các cõi cao hơn với lối tắt huyền bí dẫn đến minh triết và tri thức mà chúng ta gọi là Con Đường Điểm Đạo.

110. DK is giving us an analogy between the inner round and the Path of Initiation.

110. Ở đây, Chân sư DK đang cho chúng ta một phép tương đồng giữa cuộc tuần hoàn nội tại và Con Đường Điểm Đạo.

111. It would seem that, via the inner round, higher initiations can be taken. The inner round, apparently, represents the possibility for accelerated progress. Connected with it, we have been told, are rare opportunities and certain dangers.

111. Dường như qua cuộc tuần hoàn nội tại, các điểm đạo cao hơn có thể được tiếp nhận. Cuộc tuần hoàn nội tại, rõ ràng, biểu thị khả năng tiến bộ gia tốc. Liên hệ với nó, như chúng ta đã được cho biết, là những cơ hội hiếm có và một số nguy hiểm.

In the early stages of human unfoldment all men are unconscious black magicians, but are not occultly “damned” thereby.

Trong các giai đoạn đầu của sự khai mở nhân loại mọi người đều là những nhà hắc thuật vô thức, nhưng vì thế mà không bị huyền bí học xem là “đọa phạt”.

112. This means that, due to ignorance, all undeveloped men use their powers selfishly. They are, however, largely unaware that they are doing so.

112. Điều này có nghĩa là, do vô minh, tất cả những người chưa phát triển đều sử dụng các quyền năng của mình một cách ích kỷ. Tuy nhiên, phần lớn họ không nhận biết rằng mình đang làm như vậy.

113. Occult damnation occurs through the deliberate, willful and prolonged prostitution of human powers to selfish ends.

113. Sự đọa lạc huyền bí xảy ra qua việc cố ý, có chủ tâm và kéo dài đem các quyền năng của con người phụng sự cho những mục đích ích kỷ.

As evolution proceeds they [most human beings who have been laboring in the Hall of Ignorance] come under the force of the second aspect, and the majority respond to it,

Khi tiến hoá tiếp diễn, họ [đa số nhân loại đã lao động trong Phòng Vô Minh] chịu dưới mãnh lực của phương diện thứ hai, và đa số đáp ứng với nó,

114. DK hints at the idea that black magic occurs under the influence of the third aspect of divinity.

114. Chân sư DK gợi ý về tư tưởng rằng hắc thuật xảy ra dưới ảnh hưởng của phương diện thứ ba của thiên tính.

escaping from the meshes of the black magicians, and coming under the force of a different number.

thoát khỏi những mắt lưới của các nhà hắc thuật, và đi vào dưới mãnh lực của một con số khác.

115. The majority escapes from its response to the number three and begins to respond to the number two.

115. Đa số thoát khỏi sự đáp ứng của mình đối với số ba và bắt đầu đáp ứng với số hai.

116. When the word “meshes” is used it suggest the idea of the “web”—a symbol for the third ray under which black magicians principally work.

116. Khi từ “mắt lưới” được dùng, nó gợi ra ý niệm về “mạng lưới”—một biểu tượng của cung ba, dưới đó các nhà hắc thuật chủ yếu hoạt động.

117. We see that the Christ Force offers a way of escape for all those who are overly-influenced by the third aspect of divinity.

117. Chúng ta thấy rằng Mãnh Lực Christ cống hiến một lối thoát cho tất cả những ai bị phương diện thứ ba của thiên tính ảnh hưởng quá mức.

The few who do not do so in this manvantara are the “failures” who have to continue the struggle at a later date.

Số ít không làm như vậy trong giai kỳ sinh hóa này là những “kẻ thất bại”, những người phải tiếp tục cuộc đấu tranh vào một thời điểm sau này.

118. Here we are speaking of ‘manvantaric failure’ but not of ‘mahamanvantaric failure’. If manvantaric failure continues, however, it may end in mahamanvantaric failure.

118. Ở đây chúng ta đang nói về sự thất bại ‘trong một giai kỳ sinh hóa’ chứ không phải sự thất bại ‘trong một Đại giai kỳ sinh hóa’. Tuy nhiên, nếu sự thất bại trong một giai kỳ sinh hóa tiếp diễn, nó có thể kết thúc trong sự thất bại trong một Đại giai kỳ sinh hóa.

119. There are also some forms of failure which are more natural and relate to the ‘date’ (within the developmental process of a solar system) on which certain groups of Monads began their evolutionary journey. Commencement of this journey (if too far into the cycle of the solar system) may result in the impossibility of achieving liberation within that solar system.

119. Cũng có những hình thức thất bại tự nhiên hơn và liên hệ đến “thời điểm” (trong tiến trình phát triển của một hệ mặt trời) mà vào đó một số nhóm chân thần bắt đầu cuộc hành trình tiến hoá của mình. Việc khởi đầu cuộc hành trình này (nếu quá muộn trong chu kỳ của hệ mặt trời) có thể dẫn đến sự bất khả đạt được giải thoát trong hệ mặt trời đó.

120. This, our second solar system, will have its mahamanvantaric “failures” even as the previous solar system had its failures (those who were compelled to continue their development in this, our present, solar system instead of completing it in the preceding system). Such failures will result either from ‘late commencement’ or from prolonged inadequate response to the major energy expressed in the system. An initial inadequate response may be rectified within the mahamanvantara and would thus simply result in “manvantaric failure”.

120. Hệ mặt trời thứ hai này của chúng ta sẽ có những “kẻ thất bại” trong một Đại giai kỳ sinh hóa cũng như hệ mặt trời trước đã có những kẻ thất bại của nó (những người bị buộc phải tiếp tục sự phát triển của mình trong hệ mặt trời hiện tại này của chúng ta thay vì hoàn tất nó trong hệ thống trước đó). Những thất bại như thế sẽ phát sinh hoặc từ “sự khởi đầu muộn” hoặc từ sự đáp ứng không đầy đủ kéo dài đối với năng lượng chủ yếu được biểu lộ trong hệ thống. Một sự đáp ứng không đầy đủ ban đầu có thể được sửa chữa trong Đại giai kỳ sinh hóa và như thế chỉ dẫn đến “sự thất bại trong một giai kỳ sinh hóa”.

121. For instance, if certain units in our solar system of Love-Wisdom do not respond adequately to Love-Wisdom, and continue that inadequate response in subsequent manvantaras, they will have to continue their development of Love-Wisdom in the next or Will solar system.

121. Thí dụ, nếu một số đơn vị trong hệ mặt trời Bác Ái – Minh Triết của chúng ta không đáp ứng đầy đủ với Bác Ái – Minh Triết, và tiếp tục sự đáp ứng không đầy đủ đó trong các giai kỳ sinh hóa kế tiếp, họ sẽ phải tiếp tục sự phát triển Bác Ái – Minh Triết của mình trong hệ mặt trời kế tiếp, tức hệ mặt trời Ý Chí.

A tiny percentage wilfully refuse to “pass on,” and they become the true “black magicians.”

Một tỉ lệ phần trăm cực nhỏ cố ý từ chối “tiến lên”, và họ trở thành những “nhà hắc thuật” đích thực.

122. The type of failure indicated here is not what the Tibetan means by failure within a manvantara nor even failure (through ignorance) within a mahamanvantara. It is much more serious and its consequences far more dire.

122. Loại thất bại được chỉ ra ở đây không phải là điều mà Chân sư Tây Tạng muốn nói khi nói về thất bại trong một giai kỳ sinh hóa, thậm chí cũng không phải thất bại (do vô minh) trong một Đại giai kỳ sinh hóa. Nó nghiêm trọng hơn nhiều và hậu quả của nó cũng khốc liệt hơn rất nhiều.

123. The failures, due to initial or prolonged inadequate response or to late commencement in the evolutionary process, are either unfortunate or predictable, but willful refusal to “pass on” is quite another matter. It is this misapplication of the will which makes of a man a true black magician and, thus, a member or the Black Lodge (responsive to cosmic evil).

123. Những thất bại do sự đáp ứng không đầy đủ ban đầu hay kéo dài, hoặc do khởi đầu muộn trong tiến trình tiến hoá, thì hoặc là đáng tiếc hoặc là có thể dự đoán được; nhưng sự từ chối có chủ ý không chịu “tiến lên” lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Chính sự áp dụng sai lạc ý chí này biến một người thành một nhà hắc thuật đích thực và do đó thành một thành viên của Hắc đoàn (đáp ứng với điều ác vũ trụ).

124. We see how small a percentage of all human beings willfully refuse to move forward into responsiveness to the second aspect of divinity. Such beings willfully refuse to love.

124. Chúng ta thấy tỉ lệ những người cố ý từ chối tiến lên để đáp ứng với phương diện thứ hai của thiên tính nhỏ đến mức nào trong toàn thể nhân loại. Những hữu thể như thế cố ý từ chối yêu thương.

For them the end is ever the same, first, severance of the Ego from the Monad, entailing a wait for many aeons until another solar system has its being.

Đối với họ, kết cuộc luôn luôn như nhau, thứ nhất, sự cắt đứt Chân ngã khỏi chân thần, kéo theo một sự chờ đợi qua nhiều đại kiếp cho đến khi một hệ mặt trời khác xuất hiện.

125. This is the greatest disaster which can befall the human unit.

125. Đây là tai họa lớn nhất có thể giáng xuống đơn vị nhân loại.

126. We note that the term “aeon”, as here used, must necessarily be less than that of a solar system. The use of this term is, more often than not, indefinite.

126. Chúng ta lưu ý rằng thuật ngữ “đại kiếp”, như được dùng ở đây, tất yếu phải ngắn hơn một hệ mặt trời. Việc dùng thuật ngữ này thường là không xác định.

127. When the term “Ego” is used, we do not initially know whether the spiritual triad is indicated or the Ego (in the egoic body) on the higher mental plane. Probably, it is the latter, for the following reason:

127. Khi thuật ngữ “Chân ngã” được dùng, ban đầu chúng ta không biết liệu Tam Nguyên Tinh Thần được chỉ định hay Chân ngã (trong thể chân ngã) trên Cõi thượng trí được chỉ định. Có lẽ là trường hợp sau, vì lý do sau đây:

It is the rejection of the Triadal Lives by units in the fourth Hierarchy, that of the human Monads, which precipitates a man eventually into the eighth sphere. He refuses to become a Christ, a Saviour and remains self-centred. (TCF 1199)

Chính sự khước từ các Sự sống Tam nguyên bởi các đơn vị trong Huyền Giai thứ tư, tức các chân thần nhân loại, đã đẩy một người cuối cùng vào khối cầu thứ tám. Y từ chối trở thành một Đức Christ, một Đấng Cứu Rỗi, và vẫn tập trung vào bản thân. (TCF 1199)

128. To remain focussed as a lower ego, uninfluenced by the Ego on the higher mental plane, is a form of self-centeredness. It is also possible to remain focussed in the Ego on the higher mental plane (uninspired by the Triadal Lives). This would eventuate in a higher form of self-centeredness.

128. Vẫn tập trung như một phàm ngã thấp, không chịu ảnh hưởng của Chân ngã trên Cõi thượng trí, là một hình thức tập trung vào bản thân. Cũng có thể vẫn tập trung trong Chân ngã trên Cõi thượng trí (không được các Sự sống Tam nguyên truyền cảm hứng). Điều này sẽ dẫn đến một hình thức tập trung vào bản thân cao hơn.

129. For the remainder of the present solar system, one whose Ego has been severed from the Monad will express through decaying identity and without hope of Spirit-redemption.

129. Trong phần còn lại của hệ mặt trời hiện tại, kẻ có Chân ngã đã bị cắt đứt khỏi chân thần sẽ biểu lộ qua một bản sắc đang suy tàn và không có hy vọng được tinh thần cứu chuộc.

In the case of the “failures”

Trong trường hợp của những “kẻ thất bại”

130. This is a category which incurs far less karmic punishment than the category of black magicians.

130. Đây là một loại chịu sự trừng phạt nghiệp quả ít hơn rất nhiều so với loại các nhà hắc thuật.

the Ego severed itself from the personality or lower self, entailing a setback for a lesser period, but still having opportunity within the system.

Chân ngã tự cắt đứt khỏi phàm ngã hay phàm ngã thấp, kéo theo một sự thụt lùi trong một thời kỳ ngắn hơn, nhưng vẫn còn cơ hội trong hệ thống.

131. In the category of those who have not become true members of the Black Lodge, there appear to be failures within the solar system and failures at the termination of the solar system (condemned to pursue continued development in the next solar system).

131. Trong loại những người chưa trở thành thành viên đích thực của Hắc đoàn, dường như có những thất bại trong hệ mặt trời và những thất bại vào lúc chấm dứt hệ mặt trời (bị buộc phải theo đuổi sự phát triển tiếp tục trong hệ mặt trời kế tiếp).

132. The one who is not a member of the Black Lodge and who fails at the termination of the solar system still enters the succeeding solar system as an individualized Ego. The black magician enters the next solar system as one who must again undertake the entire monadic pilgrimage through all the lower kingdoms. So we see that the loss incurred by a black magician is vastly more severe.

132. Người không phải là thành viên của Hắc đoàn nhưng thất bại vào lúc chấm dứt hệ mặt trời vẫn đi vào hệ mặt trời kế tiếp như một Chân ngã đã được biệt ngã hóa. Nhà hắc thuật đi vào hệ mặt trời kế tiếp như kẻ phải một lần nữa đảm nhận toàn bộ cuộc hành hương chân thần qua tất cả các giới thấp. Vì vậy chúng ta thấy rằng sự mất mát mà một nhà hắc thuật phải gánh chịu nghiêm trọng hơn vô cùng.

133. Severance from the Ego seems equivalent to severance from a supervisory Solar Angel. The one thus severed can be considered, from a certain technical perspective, “soulless”, He still has an individualized identity but it is uninspired by a higher Ego, i.e., by a Solar Angel. Perhaps re-association with another Solar Angel or with some other form of supervisory force is possible within the same solar system.

133. Sự cắt đứt khỏi Chân ngã dường như tương đương với sự cắt đứt khỏi một Thái dương Thiên Thần giám sát. Kẻ bị cắt đứt như thế có thể được xem, từ một góc độ kỹ thuật nào đó, là “vô hồn”. Y vẫn có một bản sắc biệt ngã hóa nhưng bản sắc ấy không được một Chân ngã cao hơn truyền cảm hứng, tức không được một Thái dương Thiên Thần truyền cảm hứng. Có lẽ sự tái liên kết với một Thái dương Thiên Thần khác hoặc với một dạng mãnh lực giám sát nào khác là điều có thể trong cùng hệ mặt trời này.

134. Along this line, we understand that there are a number of human beings (of different kinds) who are not associated with Solar Angels. The most undeveloped human beings are not. As well, those who individualized on the Moon-chain and achieved on the Moon-chain were not. The “failures” of which we are speaking, however, are advanced types who, it appears, are deprived of the privilege of continued supervision by a solar “Guide”. At least, such guidance is interrupted.

134. Theo hướng này, chúng ta hiểu rằng có một số người thuộc nhân loại (thuộc những loại khác nhau) không liên kết với các Thái dương Thiên Thần. Những người kém phát triển nhất thì không. Cũng vậy, những người đã biệt ngã hóa trên Dãy Mặt Trăng và đã đạt được trên Dãy Mặt Trăng thì cũng không. Tuy nhiên, những “kẻ thất bại” mà chúng ta đang nói đến là những loại tiến bộ, dường như bị tước mất đặc quyền được tiếp tục chịu sự giám sát của một “Đấng Hướng Đạo” thái dương. Ít nhất, sự hướng dẫn như thế bị gián đoạn.

135. When the personality is severed from the Ego how long is the severance? Can it be that the Ego or Solar Angel still ‘hovers above’ the severed personality for some time awaiting a condition of contrition before re-associating itself with that particular human being? Can it be that the severed personality spends many cycles upon the astral plane before such a re-association becomes possible? We can see that much remains to be explored regarding the fate of those who have been severed from the higher Ego.

135. Khi phàm ngã bị cắt đứt khỏi Chân ngã, sự cắt đứt ấy kéo dài bao lâu? Có thể nào Chân ngã hay Thái dương Thiên Thần vẫn còn ‘lơ lửng phía trên’ phàm ngã bị cắt đứt trong một thời gian, chờ đợi một trạng thái ăn năn trước khi tái liên kết với chính con người ấy? Có thể nào phàm ngã bị cắt đứt phải trải qua nhiều chu kỳ trên cõi cảm dục trước khi sự tái liên kết như thế trở nên khả hữu? Chúng ta có thể thấy rằng còn rất nhiều điều cần được khảo cứu liên quan đến số phận của những ai đã bị cắt đứt khỏi Chân ngã cao hơn.

136. As for those who experience the severance of the Ego from the Monad, their fate is far more obscure.

136. Còn đối với những ai trải qua sự cắt đứt Chân ngã khỏi chân thần, số phận của họ còn mờ mịt hơn nhiều.

Second,

Thứ hai,

137. DK continues speaking of black magicians who are member of the Black Lodge, and not of the ordinary “failures” (whether ‘manvantaric failures’ or ‘mahamanvantaric failures’—the latter existing for two main reasons).

137. Chân sư DK tiếp tục nói về các nhà hắc thuật là thành viên của Hắc đoàn, chứ không phải những “kẻ thất bại” thông thường (dù là những ‘thất bại trong một giai kỳ sinh hóa’ hay ‘thất bại trong một Đại giai kỳ sinh hóa’—loại sau tồn tại vì hai lý do chính).

a cycle of existence, spent in unlimited evil, and dependent upon the vitality of the severed egoic body and its innate persistence.

một chu kỳ hiện hữu, được sống trong điều ác vô hạn độ, và tùy thuộc vào sinh lực của thể chân ngã đã bị cắt đứt và sự bền bỉ cố hữu của nó.

138. Close consideration of this statement confirms that it is the egoic body that is severed from the Monad and not the spiritual triad. A severed egoic body will persist for a long time—perhaps for the duration of the dense physical body of our Planetary Logos.

138. Sự xem xét kỹ lưỡng phát biểu này xác nhận rằng chính thể chân ngã bị cắt đứt khỏi chân thần chứ không phải Tam Nguyên Tinh Thần. Một thể chân ngã bị cắt đứt sẽ tồn tại rất lâu—có lẽ trong suốt thời gian tồn tại của thể xác đậm đặc của Đức Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta.

These are the ordinary “lost souls” spoken of in the Secret Doctrine.1

Đây là những “linh hồn lạc mất” thông thường được nói đến trong Giáo Lý Bí Nhiệm.1

139. DK clarifies that the “lost souls” are black magicians whose egoic bodies have been severed from their Monads.

139. Chân sư DK làm rõ rằng những “linh hồn lạc mất” là các nhà hắc thuật có thể chân ngã đã bị cắt đứt khỏi chân thần của họ.

140. The following tabulation explains why there are so few “lost souls”

140. Bảng liệt kê sau đây giải thích vì sao có quá ít “linh hồn lạc mất”

Footnote 1:

Chú thích 1:

No soul can be lost where—

Không linh hồn nào có thể bị lạc mất khi—

a. One good aspiration is present.

a. có hiện diện một khát vọng thiện lành.

b. One unselfish deed is done.

b. thực hiện một hành động vô kỷ.

c. The life is strong in virtue.

c. Sự sống mạnh mẽ trong đức hạnh.

d. The life is righteous.

d. Sự sống là chính trực.

e. The life is a naturally pure life.— Unveiled, II, 368.

e. Sự sống là một đời sống tự nhiên thanh khiết.— Unveiled, II, 368.

-- Read S. D., III, 528, 529.

-- Đọc S. D., III, 528, 529.

141. The last three stipulations indicate those who are high souls and who, consequently, cannot ever be considered “lost souls”.

141. Ba điều kiện cuối cùng chỉ ra những linh hồn cao cả, và do đó, không bao giờ có thể bị xem là “linh hồn lạc mất”.

142. The first two stipulations indicate those who are nearly spiritually impoverished (spiritually spent) but are prevented from becoming “lost souls” by the presence of the tiniest bit of good still resident within their nature.

142. Hai điều kiện đầu chỉ ra những người gần như kiệt quệ về tinh thần (hao mòn về tinh thần) nhưng được ngăn không trở thành “linh hồn lạc mất” nhờ sự hiện diện của chút thiện nhỏ nhoi nhất vẫn còn cư ngụ trong bản chất của họ.

143. If (following the behest of at least one good aspiration) one unselfish deed is done, a path of recovery from evil has begun.

143. Nếu (theo sự thôi thúc của ít nhất một khát vọng thiện lành) một hành động vô kỷ được thực hiện, thì một con đường phục hồi khỏi điều ác đã bắt đầu.

If students will study these conditions, and will extend the same concept to an earlier and more matured solar system, they will get [Page 993] some light upon the problem of the origin of evil in this solar system.

Nếu các đạo sinh nghiên cứu những điều kiện này, và mở rộng cùng một khái niệm ấy sang một hệ mặt trời sớm hơn và trưởng thành hơn, họ sẽ nhận được [Page 993] một ít ánh sáng về vấn đề nguồn gốc của điều ác trong hệ mặt trời này.

144. Basically the origin of evil in this solar system stems from an immediately preceding solar system—the immediately former incarnation of our Solar Logos.

144. Về căn bản, nguồn gốc của điều ác trong hệ mặt trời này bắt nguồn từ hệ mặt trời ngay trước đó—lần lâm phàm ngay trước của Thái dương Thượng đế của chúng ta.

145. There are also, as we have been discussing, extra-systemic origins of the evil which affects our solar system.

145. Cũng có, như chúng ta đã bàn đến, những nguồn gốc ngoài hệ thống của điều ác đang tác động đến hệ mặt trời của chúng ta.

146. We might gather that the previous solar system was not brought to an abrupt end as was the Moon-chain of our Earth-scheme, but that it reached its full maturity. We presently live in a solar system which is only approximately midway through its complete development.

146. Chúng ta có thể suy ra rằng hệ mặt trời trước không bị chấm dứt đột ngột như Dãy Mặt Trăng của hệ hành tinh Địa Cầu của chúng ta, mà đã đạt đến sự trưởng thành trọn vẹn. Hiện nay chúng ta đang sống trong một hệ mặt trời mới chỉ xấp xỉ ở điểm giữa của sự phát triển hoàn chỉnh của nó.

147. We might wonder why, in preparation for a discussion on white magic, so much attention should be paid to black magic and its origin. Perhaps the dangers of a misguided approach to the magical process are very great. Much of human civilization was already destroyed during the Atlantean era precisely for this reason. It is necessary for aspirants to the magical art to be forewarned in the strongest terms.

147. Chúng ta có thể tự hỏi vì sao, để chuẩn bị cho một cuộc bàn luận về Chánh Thuật, lại phải dành quá nhiều chú ý cho Hắc thuật và nguồn gốc của nó. Có lẽ những nguy hiểm của một cách tiếp cận sai lạc đối với tiến trình huyền thuật là rất lớn. Phần lớn nền văn minh nhân loại đã từng bị hủy diệt trong thời Atlantis chính vì lý do này. Điều cần thiết là những người chí nguyện đối với nghệ thuật huyền thuật phải được cảnh báo trước bằng những lời lẽ mạnh mẽ nhất.

S8S5 - Part III. 2

TCF 994 - 996

TCF 994 - 996

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích và tham chiếu từ các sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF đặt sẵn bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

c. Conditions for White Magic. In considering the factors requiring adjustment prior to undertaking the work of magic, we are dealing with that which is of eminently practical value.

c. Những điều kiện cho Chánh Thuật. Khi xem xét các yếu tố cần được điều chỉnh trước khi đảm nhận công việc huyền thuật, chúng ta đang đề cập đến điều có giá trị thực tiễn nổi bật.

1. Perhaps we have noticed that we have entered a very practical section of the Treatise. What is more ‘practical’ than the magical art, the very purpose of which is correct manifestation?

1. Có lẽ chúng ta đã nhận thấy rằng mình đã bước vào một phần rất thực tiễn của bộ Luận. Còn gì “thực tiễn” hơn nghệ thuật huyền thuật, mà chính mục đích của nó là sự biểu hiện đúng đắn?

Unless students of magic enter upon this pursuit fortified by pure motive, clean bodies, and high aspiration, they are foredoomed to disappointment and even to disaster.

Trừ phi các đạo sinh huyền thuật bước vào sự theo đuổi này với sự phòng hộ của động cơ thanh khiết, các thể thanh sạch, và khát vọng cao cả, họ đã được định trước là sẽ gặp thất vọng và thậm chí tai họa.

2. Let us tabulate for emphasis the requirements placed upon those who would enter seriously upon the pursuit of magic:

2. Để nhấn mạnh, chúng ta hãy liệt kê các yêu cầu đặt ra cho những ai muốn nghiêm túc bước vào việc theo đuổi huyền thuật:

a. Pure motive

a. Động cơ thanh khiết

b. Clean bodies (all of the personality vehicles, presumably)

b. Các thể thanh sạch (hẳn là tất cả các vận cụ của phàm ngã)

c. High aspiration

c. Khát vọng cao cả

3. DK promises no real achievement unless these requirements are completely fulfilled. The use of the word “foredoomed” is certainly serious.

3. Chân sư DK không hứa hẹn một thành tựu thực sự nào trừ phi các yêu cầu này được hoàn thành trọn vẹn. Việc dùng từ “được định trước” quả thật rất nghiêm trọng.

All those who seek to work consciously with the forces of manifestation, and who endeavour to control the Energies of all that is seen, need the strong protection of purity.

Tất cả những ai tìm cách hoạt động một cách hữu thức với các mãnh lực của sự biểu hiện, và nỗ lực kiểm soát các Năng Lượng của mọi điều được thấy, đều cần sự bảo vệ mạnh mẽ của tính thanh khiết.

4. If they do not have this purity, they may be tempted towards misuse of the energies they seek to control. Impurity induces various types of magnetism which run counter to the magician’s higher purposes and motives.

4. Nếu họ không có sự thanh khiết này, họ có thể bị cám dỗ đi đến việc lạm dụng các năng lượng mà họ tìm cách kiểm soát. Sự ô uế gây ra nhiều loại từ điện khác nhau đi ngược lại các mục đích và động cơ cao hơn của nhà huyền thuật.

5. We know that physical impurity may lead to infection and death. The same is true on the subtler levels. There must be nothing within the magician which can respond to lower, disintegrative tendencies.

5. Chúng ta biết rằng sự ô uế hồng trần có thể dẫn đến nhiễm trùng và tử vong. Điều ấy cũng đúng trên các cấp độ vi tế hơn. Không được có bất cứ điều gì bên trong nhà huyền thuật có thể đáp ứng với các khuynh hướng thấp kém, phân rãs.

This is a point which cannot be too strongly emphasised and urged, and hence the constant injunctions to self control, comprehension of the nature of man, and devotion to the cause of humanity.

Đây là một điểm không thể được nhấn mạnh và thúc giục quá mức, và do đó mới có những lời huấn thị liên tục về tự chủ, thấu hiểu bản chất của con người, và hiến dâng cho chính nghĩa của nhân loại.

6. The following three factors will insure purity:

6. Ba yếu tố sau đây sẽ bảo đảm sự thanh khiết:

a. “Self-control”. This will prevent the magician from being swept from his presumably high purpose by lower currents.

a. “Tự chủ”. Điều này sẽ ngăn nhà huyền thuật bị các dòng chảy thấp hơn cuốn khỏi mục đích vốn được giả định là cao cả của mình.

b. “Comprehension of the nature of man”. This will prevent the magician from being blinded by the lure of the lower powers. He will acknowledge the existence of the higher aspects of his nature and will understand the desirability of developing the higher powers associated with these higher aspects.

b. “Thấu hiểu bản chất của con người”. Điều này sẽ ngăn nhà huyền thuật bị làm mù quáng bởi sức quyến rũ của các quyền năng thấp. Y sẽ thừa nhận sự hiện hữu của các phương diện cao hơn trong bản chất mình và sẽ hiểu tính đáng mong muốn của việc phát triển các quyền năng cao hơn gắn liền với các phương diện cao hơn ấy.

c. “Devotion to the cause of humanity”. This will promote in the magician a willingness to commit all his powers to humanity’s greatest good.

c. “Hiến dâng cho chính nghĩa của nhân loại”. Điều này sẽ thúc đẩy nơi nhà huyền thuật sự sẵn lòng hiến dâng mọi quyền năng của mình cho thiện ích lớn lao nhất của nhân loại.

7. DK enters into greater detail concerning the dangers which await those who pursue magical investigation.

7. Chân sư DK đi vào chi tiết hơn về những nguy hiểm đang chờ đợi những ai theo đuổi việc khảo cứu huyền thuật.

The pursuit of magical investigation is dangerous in three ways.

Việc theo đuổi sự khảo cứu huyền thuật nguy hiểm theo ba cách.

If a man's bodies are not sufficiently purified and their atomic vibration is not sufficiently high, he is in danger of over-stimulation when brought in contact with the forces of nature, and this inevitably entails the destruction and disintegration of one or other of his bodies.

Nếu các thể của một người không được thanh lọc đầy đủ và rung động nguyên tử của chúng không đủ cao, y sẽ có nguy cơ bị kích thích quá mức khi tiếp xúc với các mãnh lực của thiên nhiên, và điều này tất yếu kéo theo sự hủy diệt và phân rã của một hay một thể khác trong các thể của y.

8. The relatively high energy of the forces contacted proves too much for the atoms of lower vibration contained within his vehicles. Atoms of high vibration can receive these forces and still maintain their integrity. The integrity of atoms of relatively lower vibration is threatened by the application of forces more potent than those to which they have become habituated.

8. Năng lượng tương đối cao của các mãnh lực được tiếp xúc tỏ ra quá sức đối với các nguyên tử có rung động thấp hơn chứa trong các vận cụ của y. Các nguyên tử có rung động cao có thể tiếp nhận các mãnh lực này mà vẫn duy trì được tính toàn vẹn của chúng. Tính toàn vẹn của các nguyên tử có rung động tương đối thấp hơn bị đe dọa bởi việc áp dụng những mãnh lực mạnh hơn những mãnh lực mà chúng đã quen chịu đựng.

9. The principle is simple: ensure purification before invoking and receiving potencies higher than the potencies to which one is normally exposed.

9. Nguyên lý thì đơn giản: hãy bảo đảm sự thanh lọc trước khi khẩn cầu và tiếp nhận những tiềm lực cao hơn các tiềm lực mà người ta thường xuyên tiếp xúc.

10. In the section above, DK speaks of the possible destruction of one or other of the magician’s bodies.

10. Trong phần trên, Chân sư DK nói về khả năng hủy diệt một hay một thể khác của nhà huyền thuật.

At times it may entail the destruction of two or more, and when this is the case,

Đôi khi điều đó có thể kéo theo sự hủy diệt của hai hay nhiều thể hơn, và khi trường hợp ấy xảy ra,

11. Even two of the magician’s bodies may be disintegrated and destroyed. Is it possible that he may suffer the same fate in all three of the personality’s vehicles?

11. Ngay cả hai thể của nhà huyền thuật cũng có thể bị phân rã và hủy diệt. Có thể nào y phải chịu cùng số phận ấy trong cả ba vận cụ của phàm ngã không?

it involves a definite setback to egoic unfoldment, for it requires, in such cases, a much longer interval between incarnations, owing to the difficulty of assembling the needed materials in the sheaths.

điều đó bao hàm một sự thụt lùi rõ rệt đối với sự khai mở chân ngã, vì trong những trường hợp như thế, nó đòi hỏi một khoảng cách giữa các lần lâm phàm dài hơn nhiều, do khó khăn trong việc tập hợp các chất liệu cần thiết trong các thể vỏ bọc.

12. We have here a very interesting occult hint. The effect of the disintegration and destruction of the magician’s vehicles through overstimulation shows itself in relation to the building processes between incarnations. During this interval, materials for the future sheaths must be assembled and built into form, and if there has been disintegration and destruction of the vehicles during the previous incarnation, the period of time necessary to assemble and build-in the material necessary for the sheaths of the forthcoming incarnation is much longer. This stands to reason.

12. Ở đây chúng ta có một gợi ý huyền bí rất thú vị. Tác động của sự phân rã và hủy diệt các vận cụ của nhà huyền thuật do bị kích thích quá mức biểu lộ trong mối liên hệ với các tiến trình kiến tạo giữa các lần lâm phàm. Trong khoảng thời gian này, các chất liệu cho những thể vỏ bọc tương lai phải được tập hợp và xây dựng thành hình tướng, và nếu đã có sự phân rã và hủy diệt các vận cụ trong lần lâm phàm trước, thì thời gian cần thiết để tập hợp và xây dựng chất liệu cần cho các thể vỏ bọc của lần lâm phàm sắp tới sẽ dài hơn nhiều. Điều này là hợp lý.

13. Apparently, while delay may be expected if but one of the personality vehicles has been compromised, it is a delay of much shorter duration than if two vehicles have been compromised through unwise exposure to energies too potent to be rightly assimilated.

13. Rõ ràng, tuy có thể chờ đợi sự trì hoãn nếu chỉ một trong các vận cụ của phàm ngã bị tổn hại, nhưng sự trì hoãn ấy ngắn hơn nhiều so với khi hai vận cụ bị tổn hại do phơi mình thiếu khôn ngoan trước những năng lượng quá mạnh để có thể đồng hoá đúng đắn.

[Danger 2]

[Danger 2]

Further, unless a man is strengthened in his endeavour by right motive, he is liable to be led astray by the acquisition of power.

Hơn nữa, trừ phi một người được củng cố trong nỗ lực của mình bằng động cơ đúng đắn, y rất dễ bị dẫn lạc bởi việc đạt được quyền năng.

14. This, we can understand, happens quite frequently. There is a certain “glamor of magical powers” which can be most intoxicating and which leads many astray.

14. Điều này, chúng ta có thể hiểu, xảy ra khá thường xuyên. Có một thứ “ảo cảm về các quyền năng huyền thuật” có thể cực kỳ say mê và dẫn nhiều người đi lạc.

Knowledge of the laws of magic puts into the hands of the student powers which enable him to create, to acquire, and to control.

Sự hiểu biết các quy luật của huyền thuật đặt vào tay đạo sinh những quyền năng giúp y sáng tạo, đạt được và kiểm soát.

15. Creation, acquisition and control—the student/practitioner of magic can fulfill his desires with far greater ease than can the normal person. If his desires are not pure, his creations and acquisitions and, additionally, his ability to control the forces and the lives of others will only lead to his further imprisonment.

15. Sáng tạo, đạt được và kiểm soát—đạo sinh/người thực hành huyền thuật có thể hoàn thành các ham muốn của mình dễ dàng hơn rất nhiều so với người bình thường. Nếu các ham muốn của y không thanh khiết, thì những sáng tạo và sự đạt được của y, và thêm vào đó, khả năng kiểm soát các mãnh lực và các sự sống của người khác, sẽ chỉ dẫn y đến sự giam hãm sâu hơn nữa.

Such powers [Page 994] are fraught with menace to the unprepared and unready, for the student can, in this case, turn them to selfish ends, use them for his own temporal material advancement, and acquire in this way that which will feed the desires of the lower nature.

Những quyền năng như thế [Page 994] đầy hiểm họa đối với người chưa chuẩn bị và chưa sẵn sàng, vì trong trường hợp này đạo sinh có thể quay chúng về những mục đích ích kỷ, dùng chúng cho sự thăng tiến vật chất tạm thời của riêng mình, và bằng cách ấy đạt được điều sẽ nuôi dưỡng các ham muốn của bản chất thấp.

16. If the desire nature grows in potency without being transmuted into aspiration, then the tendency to bondage is only increased.

16. Nếu bản chất ham muốn tăng trưởng về tiềm lực mà không được chuyển hoá thành khát vọng, thì khuynh hướng đi vào trói buộc chỉ càng gia tăng.

17. The liberated man is free from such desires and, thus, can safely use the magical powers. These powers, especially the ones operative within the three lower worlds, only strengthen the relationship to those lower worlds and hold back the misguided and selfish magician from liberation.

17. Con người được giải thoát thì tự do khỏi những ham muốn như thế và do đó có thể sử dụng các quyền năng huyền thuật một cách an toàn. Những quyền năng này, đặc biệt là những quyền năng hoạt động trong ba cõi thấp, chỉ làm mạnh thêm mối liên hệ với các cõi thấp ấy và giữ nhà huyền thuật lầm lạc và ích kỷ lại khỏi sự giải thoát.

He takes, therefore, the first step towards the left hand path,

Vì vậy, y bước bước đầu tiên trên tả đạo,

18. He does this by strengthening within his energy system the power of lower desire and augmenting the strength of energy patterns which encumber his soul.

18. Y làm điều này bằng cách tăng cường trong hệ thống năng lượng của mình quyền lực của ham muốn thấp và gia tăng sức mạnh của các mô hình năng lượng đang trói buộc linh hồn y.

and each life may see him progressing towards it with greater readiness,

và mỗi kiếp sống có thể thấy y tiến gần về phía đó với sự sẵn sàng lớn hơn,

19. A habitual pattern of action has been established. Progressively he will find within himself less and less resistance to its fulfillment.

19. Một mô hình hành động theo thói quen đã được thiết lập. Dần dần y sẽ thấy trong chính mình ngày càng ít sự kháng cự đối với việc hoàn thành nó.

until (almost unconsciously) he will find himself in the ranks of the black masters.

cho đến khi (gần như vô thức) y sẽ thấy mình ở trong hàng ngũ các hắc chân sư.

20. We notice the term “masters” It would appear that it is possible for a black magician to achieve a condition of power and status equivalent in its own way to the rank of Master of the Great White Lodge

20. Chúng ta lưu ý thuật ngữ “chân sư”. Dường như một nhà hắc thuật có thể đạt đến một trạng thái quyền lực và địa vị tương đương theo cách riêng của nó với cấp bậc Chân sư của Thánh đoàn

Such a state of affairs can only be offset through the cultivation of altruism, sincere love of man, and a steady negation of all lower desire.

Một tình trạng như thế chỉ có thể được hóa giải bằng việc vun bồi lòng vị tha, tình thương chân thành đối với con người, và sự phủ nhận bền bỉ mọi ham muốn thấp.

21. Love and desire are not equivalent.

21. Tình thương và ham muốn không tương đương.

22. For the sake of emphasis, let us tabulate those practices and attitude which can offset any tendency to tread the left hand path.

22. Để nhấn mạnh, chúng ta hãy liệt kê những thực hành và thái độ có thể hóa giải bất kỳ khuynh hướng nào muốn bước trên tả đạo.

a. The cultivation of altruism.

a. Sự vun bồi lòng vị tha.