Trích nội dung chương
hidden in the subconscious nature, and are used unwittingly by the man who is feeling strongly enough. được ẩn giấu trong bản chất tiềmthức, và được con người sử dụng một cách vô tình khi y cảm thấy đủ mạnh.
These are, at times,
Đôi khi, những điều này
60. But, perhaps, not at all times…
60. Nhưng, có lẽ, không phải vào mọi lúc…
hidden in the subconscious nature, and are used unwittingly by the man who is feeling strongly enough.
được ẩn giấu trong bản chất tiềmthức, và được con người sử dụng một cách vô tình khi y cảm thấy đủ mạnh.
61. Here is a powerful occult hint: intensity of feeling evokes hidden memories.
61. Đây là một gợi ý huyền bí học đầy uy lực: cường độ cảm xúc gợi lên những ký ức ẩn giấu.
62. The man may not know what he is doing but manages to recapture that which he once knew consciously.
62. Con người có thể không biết mình đang làm gì nhưng vẫn xoay xở để thu hồi lại điều mà trước đây y đã từng biết một cách hữu thức.
63. The idea that Scorpio (a sign often conveying intensity of feeling) is linked to the factor of memory should be contemplated.
63. Ý tưởng cho rằng Hổ Cáp (một dấu hiệu thường chuyển tải cường độ cảm xúc) có liên hệ với yếu tố ký ức nên được chiêm ngưỡng.
Second. Through the thoughts and ideas of the man fitting in with the plans and purposes of those who do know, either on the path of white or black magic. Then they utilise the form with its inherent force and galvanise it into activity, and a temporary separate identity, thus sending it forth to accomplish its purpose.
Thứ hai. Qua các tư tưởng và ý tưởng của con người phù hợp với các kế hoạch và mục đích của những kẻ quả thực biết, hoặc trên con đường của các nhà huyền thuật chánh đạo hay hắc thuật. Khi đó họ sử dụng hình tướng với mãnh lực cố hữu của nó và kích hoạt nó vào hoạt động, cùng một bản sắc tách biệt tạm thời, nhờ đó phóng nó ra để hoàn thành mục đích của nó.
64. In other words, the magician is sufficiently attuned with certain magical knowers to evoke their unsuspected aid.
64. Nói cách khác, nhà huyền thuật được chỉnh hợp đầy đủ với một số thức giả huyền thuật nào đó để gợi lên sự trợ giúp mà y không ngờ tới.
65. The magician has built the thoughtform and the thoughtform is seen by magical knowers (white or black) to be useful to their purposes. They, therefore, apply their knowledge to the created thoughtform and assist (through definite knowledge) with the sending of the thoughtform upon its mission and the maintenance of its coherence.
65. Nhà huyền thuật đã xây dựng hình tư tưởng và hình tư tưởng ấy được các thức giả huyền thuật (chánh đạo hay hắc đạo) thấy là hữu ích cho các mục đích của họ. Vì vậy, họ áp dụng tri thức của mình vào hình tư tưởng đã được tạo ra và trợ giúp (qua tri thức xác định) trong việc phóng hình tư tưởng vào sứ mệnh của nó và duy trì sự cố kết của nó.
66. From the white magical perspective, we can see the value to creating constructive thoughtforms in line with the Divine Plan. Higher Agencies know how to utilize such forms, animating them and sending them forth upon a mission in accordance with the nature of the thoughtforms.
66. Từ quan điểm huyền thuật chánh đạo, chúng ta có thể thấy giá trị của việc tạo ra những hình tư tưởng có tính xây dựng phù hợp với Thiên Cơ. Các Tác Nhân Cao Cả biết cách sử dụng những hình tướng như thế, tiếp sinh lực cho chúng và phóng chúng ra thực hiện một sứ mệnh phù hợp với bản chất của các hình tư tưởng.
67. Thus, even if we are far from fully accomplished in the magical arts, our engagement in meditative, creative thoughtform-building can be a service and can bring about magical results in the world through the aid and assistance of our superiors.
67. Do đó, ngay cả khi chúng ta còn xa mới hoàn toàn thành tựu trong các nghệ thuật huyền thuật, sự dấn thân của chúng ta vào việc xây dựng hình tư tưởng sáng tạo trong tham thiền vẫn có thể là một sự phụng sự và có thể đem lại những kết quả huyền thuật trong thế giới nhờ sự trợ giúp và hỗ trợ của các bậc cao hơn chúng ta.
This accounts for many of the apparently phenomenal results achieved by selfish or by incompetent (though good) thinkers. [Page 1004]
Điều này giải thích nhiều kết quả phi thường đạt được bởi những người suy tư ích kỷ hoặc bất tài (dù tốt lành). [Page 1004]
68. These good people (who are incompetent because they are not fully proficient in the magical arts) have provided the needed thought material by means of which significant results can be achieved.
68. Những người tốt này (bất tài vì họ chưa hoàn toàn tinh thông các nghệ thuật huyền thuật) đã cung cấp chất liệu tư tưởng cần thiết nhờ đó những kết quả quan trọng có thể đạt được.
69. Even if, by human standards, some of us may be “good thinkers”, we are still, with respect to the performance of magic, “incompetent”.
69. Ngay cả nếu, theo tiêu chuẩn nhân loại, một số chúng ta có thể là những “người suy tư giỏi”, thì xét về việc thực hành huyền thuật, chúng ta vẫn là những kẻ “bất tài”.
70. We may infer that the dark brothers aid the powerful selfish thinkers, often rendering their thoughtforms phenomenally effective. One cannot help but think of Hitler in this regard.
70. Chúng ta có thể suy ra rằng các huynh đệ bóng tối trợ giúp những người suy tư ích kỷ đầy quyền lực, thường khiến các hình tư tưởng của họ trở nên hữu hiệu một cách phi thường. Trong phương diện này, người ta không thể không nghĩ đến Hitler.
The magical words are only communicated under the seal of secrecy, to men working under the Brotherhood of Light, to initiates, and to pledged chelas, owing to the great danger involved.
Các linh từ huyền thuật chỉ được truyền đạt dưới ấn tín bí mật, cho những người nam đang hoạt động dưới Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, cho các điểm đạo đồ, và cho các đệ tử đã tuyên thệ, do mối nguy hiểm lớn lao liên hệ đến điều đó.
71. Notice that we are now speaking of “words” and not merely of “sounds”. One wonders of utterances which move relatively higher forces must be “words” possessing meaning whereas utterances which move elemental forces can merely be concatenations of “sounds” without meaning. The future will make this clear.
71. Hãy lưu ý rằng giờ đây chúng ta đang nói đến “các linh từ” chứ không chỉ đơn thuần là “các âm thanh”. Người ta tự hỏi liệu những phát ngôn làm chuyển động các mãnh lực tương đối cao hơn hẳn phải là những “linh từ” mang ý nghĩa, trong khi những phát ngôn làm chuyển động các mãnh lực hành khí có thể chỉ đơn thuần là những chuỗi “âm thanh” không có ý nghĩa. Tương lai sẽ làm sáng tỏ điều này.
72. Presumably the pledged chelas are at least treading the earlier phases of the Path of Initiation.
72. Có lẽ các đệ tử đã tuyên thệ ít nhất cũng đang bước đi trên những giai đoạn đầu của Con Đường Điểm Đạo.
73. We see that this type of communication is a most solemn affair. Recipients of such communication must have proved themselves and be deemed trustworthy.
73. Chúng ta thấy rằng loại truyền đạt này là một việc hết sức trang nghiêm. Những người tiếp nhận sự truyền đạt như thế hẳn phải tự chứng tỏ mình và được xem là đáng tin cậy.
74. Interestingly, until a disciple stands at least midway between the second and third initiations and has passed the “Temptations in the Desert” he is deemed untrustworthy and a hazard.
74. Điều đáng chú ý là, cho đến khi một đệ tử đứng ít nhất ở khoảng giữa lần điểm đạo thứ hai và lần điểm đạo thứ ba và đã vượt qua các “Cám dỗ trong Sa mạc”, y vẫn bị xem là không đáng tin cậy và là một mối nguy.
Occasionally, too, they are ascertained by men and women who have brought about a condition of alignment with the Ego, and are, therefore, in touch with the inner centre of all knowledge within themselves.
Đôi khi nữa, chúng cũng được khám phá bởi những người nam và nữ đã tạo ra một tình trạng chỉnh hợp với chân ngã, và vì thế, tiếp xúc với trung tâm bên trong của mọi tri thức ở ngay trong chính họ.
75. Short of their purposeful conferral by one of the Great Ones, this is, perhaps, the most reliable method of reception.
75. Ngoài việc được một trong Các Đấng Cao Cả truyền ban có chủ đích, đây có lẽ là phương pháp tiếp nhận đáng tin cậy nhất.
76. It becomes clear that all knowledge resides within us. This is not a fanciful assertion but is the basis of the omniscience which is possible to the Spirit.
76. Điều trở nên rõ ràng là mọi tri thức đều cư ngụ bên trong chúng ta. Đây không phải là một khẳng định viển vông mà là nền tảng của toàn tri vốn có thể có đối với tinh thần.
When this is so, the knowledge is safe, for the Ego ever works on the side of law and righteousness,
Khi điều này là như thế, tri thức được an toàn, vì chân ngã luôn luôn hoạt động về phía quy luật và chính trực,
77. The moral position of the Ego is established. There can be no evil or injustice in it. It may have deficiencies but no corruption.
77. Vị thế đạo đức của chân ngã đã được xác lập. Trong nó không thể có điều ác hay bất công. Nó có thể có những thiếu sót nhưng không có sự bại hoại.
and the words being emanated by the Ego are "lost in His sound" (as it is occultly termed)
và các linh từ do chân ngã phát ra sẽ “mất đi trong âm thanh của Ngài” (như được gọi một cách huyền bí)
78. This is a fascinating proposition. It reminds one of the phrase from Rule III for Disciples and Initiates—“When the demand the response are lost in one great Sound…”
78. Đây là một mệnh đề đầy hấp dẫn. Nó gợi nhớ đến cụm từ trong Quy luật III dành cho Đệ tử và Điểm đạo đồ—“Khi sự đòi hỏi và sự đáp ứng mất đi trong một Âm Thanh Vĩ Đại…”
and will not be remembered by the physical brain when not under the influence of the solar Angel.
và sẽ không được bộ não hồng trần ghi nhớ khi không ở dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần.
79. A safeguard is, thus, established. The influence of the Solar Angel (which, after all, does reach all the way to the physical brain) induces the necessary memory in the physical brain consciousness.
79. Do đó, một sự bảo vệ được thiết lập. Ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần (vốn rốt cuộc quả thực vươn tới tận bộ não hồng trần) tạo ra ký ức cần thiết trong tâm thức của bộ não hồng trần.
80. We can see the importance of true communion with the Ego/Solar Angel if true white magic is to be performed.
80. Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của sự hiệp thông chân chính với chân ngã/Thái dương Thiên Thần nếu Chánh Thuật đích thực được thực hiện.
81. Again, by the way, the Ego and Solar Angel seem to be given equivalence though, as always, we must remember that there is more to the Solar Angel than the Ego.
81. Nhân tiện, một lần nữa, chân ngã và Thái dương Thiên Thần dường như được xem là tương đương, dù như mọi khi, chúng ta phải nhớ rằng Thái dương Thiên Thần còn nhiều hơn chân ngã.
82. We live in a veritable cacophony of words and other sounds. The truly essential words and sounds are thereby veiled. We must learn to neutralize the endless babble within us and around us if we are to arrive at true knowledge of the creative words and sounds.
82. Chúng ta sống trong một thứ hỗn âm thực sự của các linh từ và những âm thanh khác. Vì thế, những linh từ và âm thanh thật sự cốt yếu bị che khuất. Chúng ta phải học cách trung hòa sự huyên thuyên bất tận bên trong và quanh mình nếu muốn đạt đến tri thức chân thật về các linh từ và âm thanh sáng tạo.
83. Let us summarize a few of the ways in which the magician’s thoughtforms may be rendered effective (even though he does not know the sounds and words) the magician of the present day may come into the possession of these sounds and words:
83. Hãy tóm lược một vài cách mà các hình tư tưởng của nhà huyền thuật có thể được làm cho hữu hiệu (dù y không biết các âm thanh và linh từ), và nhà huyền thuật thời nay có thể đi đến chỗ sở hữu các âm thanh và linh từ ấy:
a. Through intensity of feeling he remembers the sounds or words
a. Qua cường độ cảm xúc, y nhớ lại các âm thanh hoặc các linh từ
b. Through the aid of those who do know, his thoughts are released and send upon their mission
b. Qua sự trợ giúp của những người thực sự biết, các tư tưởng của y được giải phóng và được phóng đi thực hiện sứ mệnh của chúng
c. The necessary words are conveyed by one of the Great Ones, or one of the evil ones
c. Các linh từ cần thiết được truyền đạt bởi một trong Các Đấng Cao Cả, hoặc một trong những kẻ ác
d. The Ego conveys the words to the magician
d. Chân ngã truyền các linh từ cho nhà huyền thuật
The six rules for the mental plane are necessarily brief, owing to the fact that the plane of mind is as yet an unknown land to the majority,—unknown in so far as its conscious control is concerned.
Sáu quy luật dành cho cõi trí nhất thiết phải ngắn gọn, do sự kiện rằng cõi trí vẫn còn là một miền đất chưa biết đối với đa số,—chưa biết xét theo phương diện sự kiểm soát hữu thức đối với nó.
84. From the very first, following individualization, some presence of mind is acknowledged (however primitive).
84. Ngay từ đầu, sau biệt ngã hóa, một mức độ hiện diện của trí tuệ nào đó đã được thừa nhận (dù rất sơ khai).
85. Through the discipline of Raja Yoga the conscious control of the mind is established.
85. Qua kỷ luật của Raja Yoga, sự kiểm soát hữu thức đối với trí tuệ được thiết lập.
These two remaining rules concern, in the first case, the brother engaged in white magic, and in the second the thought form he is constructing.
Hai quy luật còn lại này, trong trường hợp thứ nhất, liên quan đến huynh đệ đang dấn thân vào Chánh Thuật, và trong trường hợp thứ hai, liên quan đến hình tư tưởng mà y đang kiến tạo.
86. The rules become increasingly practical and concern the welfare of the creator and the viability of his creation.
86. Các quy luật ngày càng trở nên thực tiễn hơn và liên quan đến phúc lợi của người sáng tạo cùng tính khả thi của sự sáng tạo của y.
RULE V. Three things engage the solar Angel before the sheath created passes downward:
QUY LUẬT V. Ba điều thu hút Thái Dương Thiên Thần trước khi cái vỏ được tạo ra đi xuống;
87. We are speaking not only of the Solar Angel as it expresses itself through a “fragment’ of its presence on the higher mental plane, but of the human consciousness as it is identified as the Ego and thus knows itself to be immersed within the consciousness of the Solar Angel.
87. Chúng ta đang nói không chỉ về Thái dương Thiên Thần khi nó biểu lộ chính mình qua một “mảnh” hiện diện của nó trên cõi thượng trí, mà còn về tâm thức con người khi nó đồng hoá với chân ngã và nhờ đó biết chính mình đang được chìm đắm trong tâm thức của Thái dương Thiên Thần.
the condition of the waters,
tình trạng của các dòng nước,
88. Here is a reference to the condition of the astral plane through which the thoughtform, in process of creation, must descend.
88. Đây là một quy chiếu đến tình trạng của cõi cảm dục mà hình tư tưởng, trong tiến trình được tạo ra, phải đi xuống xuyên qua.
the safety of the one who thus creates,
sự an toàn của người tạo ra hình tư tưởng như vậy,
89. It is not commonly realize that the would-be magician can be damaged or destroyed in the process of attempting to create.
89. Người ta thường không nhận ra rằng nhà huyền thuật tương lai có thể bị tổn hại hoặc bị hủy diệt trong tiến trình cố gắng sáng tạo.
and steady contemplation.
và sự chiêm ngưỡng đều đặn.
90. Only the soul can contemplate. Perhaps, it is better to say that only the human consciousness identified as a soul or Ego, can contemplate.
90. Chỉ linh hồn mới có thể chiêm ngưỡng. Có lẽ, nói đúng hơn, chỉ tâm thức con người được đồng hoá như một linh hồn hay chân ngã mới có thể chiêm ngưỡng.
Thus are the heart, the throat, and the eye, allied for triple service.
Như vậy, tim, cổ họng và mắt, được liên kết cho sự phụng sự tam phân.
91. Here we have three major organs which are externalizations of three of the four higher or major energy centers.
91. Ở đây chúng ta có ba cơ quan chính là những ngoại hiện của ba trong bốn trung tâm năng lượng cao hơn hay chính yếu.
92. Which of these organs will fulfill the function of the will?
92. Cơ quan nào trong số này sẽ hoàn thành chức năng của ý chí?
The focal point of energy that the man, the magician, has now created upon the mental plane, has reached a vibratory activity which makes it certain that response will be called forth from the matter required for the providing of the next, and denser sheath.
Điểm hội tụ của năng lượng mà con người, nhà huyền thuật, nay đã tạo ra trên cõi trí, đã đạt đến một hoạt động rung động khiến cho chắc chắn rằng sự đáp ứng sẽ được gợi lên từ vật chất cần thiết để cung cấp lớp vỏ kế tiếp và đậm đặc hơn.
93. DK seems to suggest that unless the “vibratory activity” of the created focal point of energy is sufficient, response will not be called forth from astral matter—i.e., from that of which the “next and denser sheath” must be created.
93. Chân sư DK dường như gợi ý rằng trừ phi “hoạt động rung động” của điểm hội tụ năng lượng đã được tạo ra là đủ mạnh, sự đáp ứng sẽ không được gợi lên từ vật chất cảm dục—tức là từ thứ mà “lớp vỏ kế tiếp và đậm đặc hơn” phải được tạo thành.
This vibration will result in an aggregation of a different type of divine life-substance around the central nucleus.
Sự rung động này sẽ dẫn đến sự tập hợp của một loại chất liệu sự sống thiêng liêng khác quanh hạt nhân trung tâm.
94. We may pause to reflect that although the astral plane is said to be an illusion, the substance of which it is composed is as real as the substance of any of the other solar planes. This is a thought worth pondering.
94. Chúng ta có thể dừng lại để suy ngẫm rằng mặc dù cõi cảm dục được nói là một ảo tưởng, chất liệu cấu thành nó vẫn thực như chất liệu của bất kỳ cõi thái dương nào khác. Đây là một tư tưởng đáng để suy ngẫm.
The form, occultly, is made to be sent forth, to descend, to [Page 1005] fly as a bird forth upon its mission, and a critical moment is near for the magician.
Hình tướng, một cách huyềnbí, được làm cho được phóng ra, đi xuống, [Page 1005]bay đi như một con chim trên sứ mệnh của nó, và một thời điểm trọng yếu đang đến gần đối với nhà huyền thuật.
95. Created thoughtforms are not be retained but sent forth for specific purposes.
95. Các hình tư tưởng được tạo ra không phải để giữ lại mà để được phóng ra vì những mục đích xác định.
96. A “bird”, however well trained, has some degree of independence. To what extent does a created thoughtform sent forth have any degree of independence?
96. Tuy nhiên, một “con chim”, dù được huấn luyện tốt đến đâu, cũng có một mức độ độc lập nào đó. Một hình tư tưởng được tạo ra và phóng đi có mức độ độc lập nào không, và đến mức nào?
One of the things the magician has to see to is that this form which he has constructed, and which he holds linked to him by a fine thread of animated substance (a correspondence on a minute scale of the sutratmic thread whereby the Monad or the Ego holds in connection its "form of manifestation")
Một trong những điều mà nhà huyền thuật phải lưu tâm là hình tướng này mà y đã kiến tạo, và mà y giữ cho liên kết với mình bằng một sợi dây mảnh của chất liệu được tiếp sinh lực (một tương ứng ở quy mô cực nhỏ của sợi dây sutratma nhờ đó chân thần hay chân ngã giữ cho “hình tướng biểu hiện” của nó được nối kết)
97. Here we have a most important revelation: the created thoughtform is definitely linked to the creator.
97. Ở đây chúng ta có một mặc khải hết sức quan trọng: hình tư tưởng được tạo ra được nối kết rõ rệt với người sáng tạo.
98. We can presume that the linking “thread” is not only made of “animated substance” but is an energy flow responsible for animating the thoughtform.
98. Chúng ta có thể giả định rằng “sợi dây” liên kết ấy không chỉ được làm bằng “chất liệu được tiếp sinh lực” mà còn là một dòng năng lượng chịu trách nhiệm tiếp sinh lực cho hình tư tưởng.
99. Here we have an explanation for the ‘karmic return’ of that which we create. It is as if no creator can be entirely free of that which he creates, especially if he creates under the spell of ahamkara (the principle of limited “I-ness”).
99. Ở đây chúng ta có một giải thích cho “sự trở lại theo nghiệp quả” của điều mà chúng ta tạo ra. Dường như không người sáng tạo nào có thể hoàn toàn tự do khỏi điều mình tạo ra, đặc biệt nếu y sáng tạo dưới bùa lực của ahamkara (nguyên khí của “tính tôi” giới hạn).
100. We note that the sutratma extends from both the Monad and the Ego. Both of these higher centers are centers of vitalization.
100. Chúng ta lưu ý rằng sutratma kéo dài từ cả chân thần lẫn chân ngã. Cả hai trung tâm cao hơn này đều là những trung tâm tiếp sinh lực.
101. The vitality of the Ego must necessarily depend upon the sutratma extending from the Monad.
101. Sinh lực của chân ngã nhất thiết phải tùy thuộc vào sutratma kéo dài từ chân thần.
shall neither die for lack of vital sustenance nor return to him with its mission unfulfilled.
sẽ không chết vì thiếu sự nuôi dưỡng sinh lực cũng không trở về với y khi sứ mệnh của nó chưa hoàn thành.
102. Here are described two conditions which must definitely be avoided by the successful magician.
102. Ở đây mô tả hai điều kiện mà nhà huyền thuật thành công nhất định phải tránh.
103. That which is created must be sustained or it will die. An infant in womb must be fed by the umbilical cord or it will die. An infant newly born must also be sustained by its mother through its childhood years.. Only much later can the child truly fend for itself in the acquisition its sustenance.
103. Điều gì được tạo ra thì phải được duy trì, nếu không nó sẽ chết. Một hài nhi trong bụng mẹ phải được nuôi bằng dây rốn, nếu không nó sẽ chết. Một hài nhi mới sinh cũng phải được mẹ nuôi dưỡng trong những năm thơ ấu.. Chỉ về sau rất lâu đứa trẻ mới thực sự có thể tự lo liệu việc kiếm lấy sự nuôi dưỡng cho mình.
104. Likewise, thoughtforms under construction are wholly dependent upon their creator for continued sustenance. Later, when finally released upon the physical plane, other methods of sustenance may suffice. Certain great thoughtforms have been kept ‘alive’ by the devotion of those who admire the thoughtform long after their creator has died.
104. Tương tự như vậy, các hình tư tưởng đang trong quá trình kiến tạo hoàn toàn lệ thuộc vào người sáng tạo của chúng để được nuôi dưỡng liên tục. Về sau, khi cuối cùng được giải phóng trên cõi hồng trần, những phương pháp nuôi dưỡng khác có thể là đủ. Một số hình tư tưởng lớn lao đã được giữ cho “sống” nhờ lòng sùng mộ của những người ngưỡng mộ hình tư tưởng ấy rất lâu sau khi người sáng tạo của chúng đã qua đời.
When this latter catastrophe is the case, the thought form becomes a menace to the magician, and he becomes the prey of that which he has created.
Khi thảm họa sau này xảy ra, hình tư tưởng trở thành một mối đe dọa đối với nhà huyền thuật, và y trở thành con mồi của chính điều mình đã tạo ra.
105. He cannot disengage from his creation.
105. Y không thể tách rời khỏi sự sáng tạo của mình.
106. We see a human analogy in the case of overly-dependent adult children who never “make it into the world” and who either never leave home or retreat to home creating a toxic atmosphere (generated by a realized sense of failure) both for themselves and their parents.
106. Chúng ta thấy một tương tự nơi con người trong trường hợp những đứa con trưởng thành lệ thuộc quá mức, không bao giờ “bước được vào đời”, hoặc không bao giờ rời nhà, hoặc lại quay về nhà, tạo nên một bầu khí độc hại (được phát sinh bởi cảm giác thất bại đã được chứng nghiệm) cho cả chính họ lẫn cha mẹ họ.
107. There are unfulfilled human beings who never succeed “on their own” and there are unfulfilled thoughtforms.
107. Có những con người không được hoàn thành, không bao giờ thành công “bằng chính mình”, và cũng có những hình tư tưởng không được hoàn thành.
108. We have, perhaps, met those who are “haunted by a sense of failure”. There is much practical occultism concealed in this phrase and, especially, in the word “haunted”.
108. Có lẽ chúng ta đã gặp những người “bị ám bởi một cảm giác thất bại”. Có rất nhiều huyền bí học thực tiễn được che giấu trong cụm từ này và đặc biệt trong từ “bị ám”.
The devas who form the body of the idea which has failed in its purpose form a drain upon his vital force.
Các thiên thần tạo thành thể của ý tưởng đã thất bại trong mục đích của nó tạo nên một sự rút cạn đối với quyền năng thiết yếu của y.
109. Here DK seems to be speaking of devic life rather than of elemental life.
109. Ở đây Chân sư DK dường như đang nói về sự sống thiên thần hơn là về sự sống hành khí.
110. Notice that we first speak of an “idea”. The thoughtform is the “body of the idea”.
110. Hãy lưu ý rằng trước tiên chúng ta nói đến một “ý tưởng”. Hình tư tưởng là “thể của ý tưởng”.
111. As all living things seek sustenance, and as a thoughtform is akin to a living thing, it is natural that thoughtforms which have not “broken free”, or have not broken free successfully, having returned to their creator, will seek their sustenance within the aura of that creator.
111. Vì mọi sinh vật đều tìm kiếm sự nuôi dưỡng, và vì một hình tư tưởng tương tự như một sinh vật, nên thật tự nhiên khi những hình tư tưởng chưa “bứt ra tự do”, hoặc chưa bứt ra thành công, sau khi trở về với người sáng tạo của chúng, sẽ tìm sự nuôi dưỡng trong hào quang của người sáng tạo ấy.
112. We often hear of those who are “consumed by their own thoughts”, having little energy for productive expression.
112. Chúng ta thường nghe nói đến những người “bị chính tư tưởng của mình thiêu đốt”, hầu như không còn năng lượng cho sự biểu lộ có tính sản xuất.
He, therefore, sees to it that the motive or desire lying back of the "idea," now clothed with its first sheath, retains its pristine purity;
Vì vậy, y bảo đảm rằng động cơ hay dục vọng nằm phía sau “ý tưởng”, nay đã được khoác lớp vỏ đầu tiên của nó, vẫn giữ được sự tinh tuyền nguyên thủy của nó;
113. The implication here is that a thoughtform created as the result of impure motive or desire will return to its creator and work destructively within his aura.
113. Hàm ý ở đây là một hình tư tưởng được tạo ra do động cơ hay dục vọng bất tịnh sẽ trở về với người sáng tạo của nó và hoạt động một cách phá hoại trong hào quang của y.
114. Selfish people are self-centered. That which they create centers around themselves and will return to the egoistic center which the selfish creator conceives or bears in mind as he creates. We find here the dynamic of “nemesis”.
114. Những người ích kỷ là những người tập trung vào bản thân. Điều họ tạo ra xoay quanh chính họ và sẽ trở về trung tâm vị ngã mà người sáng tạo ích kỷ hình dung hay ghi nhớ trong trí khi y sáng tạo. Ở đây chúng ta thấy động lực của “nghiệp báo”.
that no trace of selfish intent, no perversion of the initial purpose of the solar Angel has been permitted to bring in an unworthy vibration.
để không một dấu vết nào của ý định ích kỷ, không một sự xuyên tạc nào đối với mục đích ban đầu của Thái dương Thiên Thần được cho phép mang vào một rung động không xứng đáng.
115. The Solar Angel is, in a way, the true Creator and the magician is to be so merged within the consciousness of the Solar Angel that solar angelic intent is not refracted—bent, distorted, minimized.
115. Thái dương Thiên Thần, theo một nghĩa nào đó, là Đấng Sáng Tạo đích thực và nhà huyền thuật phải được hòa nhập đến mức như thế trong tâm thức của Thái dương Thiên Thần để ý định của thái dương thiên thần không bị khúc xạ—uốn cong, bóp méo, làm giảm thiểu.
116. We are studying the necessity for purity in the creative process. The true white magician realizes that he, per se, is not the creator in the white magical process. He is but the medium for a higher magical Agency which creates. Remember that the whole process begins with an initiative of the Solar Angel.
116. Chúng ta đang nghiên cứu sự cần thiết của sự tinh tuyền trong tiến trình sáng tạo. Nhà huyền thuật chánh đạo chân chính nhận ra rằng y, chính y, không phải là người sáng tạo trong tiến trình huyền thuật chánh đạo. Y chỉ là trung gian cho một Tác Nhân huyền thuật cao hơn đang sáng tạo. Hãy nhớ rằng toàn bộ tiến trình bắt đầu bằng một sáng kiến của Thái dương Thiên Thần.
This is what is meant by attending to the "condition of the waters."
Đó là điều được hàm ý khi nói đến việc lưu tâm đến “tình trạng của các nước”.
117. That which we call motive arises on the astral plane.
117. Điều mà chúng ta gọi là động cơ phát sinh trên cõi cảm dục.
118. The condition of the “waters” will be correct (i.e., pure) when motive and desire are pure (i.e., faithful to solar angelic intend rather than distortive or deflective of that intent).
118. Tình trạng của “các nước” sẽ đúng đắn (tức là tinh tuyền) khi động cơ và dục vọng là tinh tuyền (tức là trung thành với ý định của thái dương thiên thần thay vì bóp méo hay làm chệch hướng ý định ấy).
119. A healthy creation, a health thoughtform, cannot be bathed in turbid, tainted “waters”. ‘Infection’ will result.
119. Một sự sáng tạo lành mạnh, một hình tư tưởng lành mạnh, không thể được tắm trong những “dòng nước” đục ngầu, ô nhiễm. Sự “nhiễm độc” sẽ xảy ra.
As we well know, water stands for matter,
Như chúng ta đều biết rõ, nước tượng trưng cho vật chất,
120. This is a standard equivalence in occultism.
120. Đây là một tương đương tiêu chuẩn trong huyền bí học.
and the substances of the astral plane which are now under consideration are of prime importance in all form-building.
và các chất liệu của cõi cảm dục hiện đang được xét đến có tầm quan trọng hàng đầu trong mọi sự kiến tạo hình tướng.
121. DK views astral matter as composed not just of one substance but of a number of substances. We realize that, when considering seven subplanes and seven sub-subplanes within each subplane, there must necessarily be a variety of substances
121. Chân sư DK xem vật chất cảm dục không chỉ được cấu thành từ một chất liệu mà từ một số chất liệu. Chúng ta nhận ra rằng, khi xét đến bảy cõi phụ và bảy cõi phụ-phụ trong mỗi cõi phụ, nhất thiết phải có nhiều loại chất liệu
122. We are studying the form-building process and must remember that the forces of the astral plane are correlated with the second aspect of divinity—the form-building aspect.
122. Chúng ta đang nghiên cứu tiến trình kiến tạo hình tướng và phải nhớ rằng các mãnh lực của cõi cảm dục có tương quan với phương diện thứ hai của thiên tính—phương diện kiến tạo hình tướng.
According to the substance used and the nature of the Builders
Tùy theo chất liệu được dùng và bản chất của các Đấng kiến tạo
123. Here DK (or the editor) capitalizes the word “Builders”, but as may have been noticed in the foregoing pages, often He does not.
123. Ở đây Chân sư DK (hoặc biên tập viên) viết hoa từ “Đấng kiến tạo”, nhưng như có thể đã được nhận thấy trong các trang trước, thường thì Ngài không làm vậy.
124. Substance and Builders may be considered distinct.
124. Chất liệu và các Đấng kiến tạo có thể được xem là khác biệt.
who respond to the note of the form in mental matter,
những vị đáp ứng với âm điệu của hình tướng trong vật chất trí tuệ,
125. We remember the “secondary note”…
125.Chúng ta nhớ đến “âm điệu thứ yếu”…
126. This note began with the magician on the physical plane and ascended to the mental plane.
126.Âm điệu này bắt đầu với nhà huyền thuật trên cõi hồng trần và đi lên cõi trí.
will the purpose be accomplished.
thì mục đích mới được hoàn thành.
127. Different classes of Builders are correlated with different grades of substance. In fact, different classes of Builders are, in a way, different grades of energy-substance. Devas are energy and energy is substance.
127.Các loại Đấng kiến tạo khác nhau tương quan với các cấp độ chất liệu khác nhau. Thực ra, các loại Đấng kiến tạo khác nhau, theo một nghĩa nào đó, là những cấp độ khác nhau của chất liệu-năng lượng. Các thiên thần là năng lượng và năng lượng là chất liệu.
128. We have, nevertheless, to distinguish between the elemental substance of any particular subplane or sub-subplane and the deva Builders associated with those substances.
128.Tuy nhiên, chúng ta phải phân biệt giữa chất liệu hành khí của bất kỳ cõi phụ hay cõi phụ-phụ nào với các thiên thần kiến tạo gắn liền với những chất liệu ấy.
129. We can see that if the form is sending forth ‘mixed signals’, the grade of Builder suited to the fulfillment of the thoughtform’s essential purpose (i.e., the egoic intent which sought manifestation) may not be attracted.
129.Chúng ta có thể thấy rằng nếu hình tướng đang phát ra những “tín hiệu pha tạp”, thì cấp độ Đấng kiến tạo thích hợp cho việc hoàn thành mục đích cốt yếu của hình tư tưởng (tức là ý định chân ngã đã tìm cách biểu hiện) có thể không được thu hút.
This is the most important stage in many ways, for the astral body of any form conditions:
Đây là giai đoạn quan trọng nhất theo nhiều phương diện, vì thể cảm dục của bất kỳ hình tướng nào cũng tác động lên:
a. The nature of the physical vehicle.
a. Bản chất của vận cụ hồng trần.
130. The importance of water within the physical vehicle gives some hint regarding the manner in which the astral body conditions the physical vehicle.
130.Tầm quan trọng của nước trong vận cụ hồng trần cho thấy phần nào cách thức mà thể cảm dục tác động lên vận cụ hồng trần.
b. The transmission of force from the next highest plane.
b. Sự truyền dẫn mãnh lực từ cõi cao hơn kế tiếp.
131. In this case, the “next highest plane” is the mental plane. We all realize the extent to which that which exists upon the mental plane can be distorted as it ‘moves down and through’ the astral plane.
131.Trong trường hợp này, “cõi cao hơn kế tiếp” là cõi trí. Tất cả chúng ta đều nhận ra mức độ mà điều tồn tại trên cõi trí có thể bị bóp méo khi nó “đi xuống và xuyên qua” cõi cảm dục.
Provided the man on the physical plane can hold the purpose steady, and refuse to permit its distortion by the influences and vibrations emanating from the lower man, then the "devas of kama" can carry on their work. [Page 1006]
Miễn là con người trên cõi hồng trần có thể giữ cho mục đích được vững bền, và từ chối cho phép nó bị bóp méo bởi các ảnh hưởng và rung động phát ra từ phàm nhân, thì các “thiên thần của kama” có thể tiếp tục công việc. [Page 1006]
132. The ‘lower man’, in this case, seems to implicate the physical-instinctual nature. Desires, as they are centered in the sacral center, must not become influential.
132.Trong trường hợp này, “phàm nhân” dường như hàm ý bản chất bản năng-hồng trần. Những dục vọng, khi được tập trung trong trung tâm xương cùng, không được phép trở nên có ảnh hưởng.
133. To “hold the purpose steady” is a mental act, for within the personality, the will functions through the mind.
133.“Giữ cho mục đích được vững bền” là một hành động trí tuệ, vì trong phàm ngã, ý chí hoạt động qua trí tuệ.
134. It would seem that the “devas of kama
134.Dường như các “thiên thần của kama
135. ” must remain undisturbed by lower influences.
135.” phải không bị quấy nhiễu bởi các ảnh hưởng thấp hơn.
136. Influences of the lower astral plane must also be negated in all true white magical work.
136.Các ảnh hưởng của cõi cảm dục thấp hơn cũng phải bị phủ nhận trong mọi công việc huyền thuật chánh đạo chân chính.k.
I would remind students at this juncture that any thought form necessarily finds its way into greater streams of force or energy, emanating from advanced thinkers of every grade, from the planetary Logos downward, and according to its nature and motive so the work of evolution is assisted or retarded.
Tại điểm này, tôi muốn nhắc các đạo sinh rằng bất kỳ hình tư tưởng nào nhất thiết cũng tìm đường đi vào những dòng mãnh lực hay năng lượng lớn hơn, phát ra từ các nhà tư tưởng tiến hóa ở mọi cấp độ, từ Hành Tinh Thượng Đế đi xuống, và tùy theo bản chất cùng động cơ của nó mà công việc tiến hoá được trợ giúp hay bị trì hoãn.
137. This section of text reminds us of our creative responsibility, for it is possible for us to promote or retard the evolutionary work of greater thinkers and even such Thinkers as the Planetary Logos.
137. Phần văn bản này nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm sáng tạo của mình, vì chúng ta có thể thúc đẩy hoặc làm chậm lại công việc tiến hoá của các thức giả vĩ đại hơn, và ngay cả của những Đấng Tư Tưởng như Hành Tinh Thượng Đế.
138. Our thoughtforms necessarily swell the strength of various kinds of energy-streams (whether positive or negative). No generated thoughtform remains forever unaffiliated with other thoughtforms, nor does it remain uninfluenced by the quality of other thoughtforms with which it has qualitative resonance.
138. Các hình tư tưởng của chúng ta tất yếu làm tăng sức mạnh của nhiều loại dòng năng lượng khác nhau (dù tích cực hay tiêu cực). Không một hình tư tưởng nào được tạo ra lại mãi mãi không liên kết với các hình tư tưởng khác, cũng không đứng ngoài ảnh hưởng của phẩm tính nơi những hình tư tưởng khác mà nó có sự cộng hưởng về phẩm tính.
139. By thinking and speaking we cannot help but create, and the resultant thoughtforms will necessarily have a certain quality. It is our responsibility to ensure that our creations have the highest quality which we can manage.
139. Bằng tư tưởng và lời nói, chúng ta không thể không sáng tạo, và các hình tư tưởng được tạo thành tất yếu sẽ có một phẩm tính nhất định. Trách nhiệm của chúng ta là bảo đảm rằng các sáng tạo của mình có phẩm tính cao nhất mà chúng ta có thể đạt được.
It is in this connection that the Nirmanakayas work, manipulating streams of thought energy, vitalising the forms created by men, and thus carrying on the work of construction or destruction. They have to use that which exists; hence the necessity for clear thinking.
Chính trong mối liên hệ này mà các Nirmanakaya hoạt động, điều khiển các dòng năng lượng tư tưởng, tiếp sinh lực cho các hình tướng do con người tạo ra, và như thế tiếp tục công việc kiến tạo hoặc hủy diệt. Các Ngài phải sử dụng những gì đang hiện có; do đó mới cần đến tư tưởng minh xác.
140. Here we have quite an extraordinary thought. Thoughtforms created by human beings fall under the province of the Nirmanakayas—the Divine Contemplatives.
140. Ở đây chúng ta có một ý tưởng thật phi thường. Những hình tư tưởng do con người tạo ra thuộc phạm vi hoạt động của các Nirmanakaya—các Đấng Chiêm Ngưỡng Thiêng Liêng.
141. Let us tabulate that which the Nirmanakayas do:
141. Chúng ta hãy liệt kê điều mà các Nirmanakaya thực hiện:
a. They manipulate streams of thought energy
a. Các Ngài điều khiển các dòng năng lượng tư tưởng
b. They vitalize the thoughtforms created by man
b. Các Ngài tiếp sinh lực cho các hình tư tưởng do con người tạo ra
c. In relation to the thoughtforms created by men, the Nirmanakayas carry on the work of construction and destruction.
c. Liên quan đến các hình tư tưởng do con người tạo ra, các Nirmanakaya tiếp tục công việc kiến tạo và hủy diệt.
142. DK is suggesting that it is our responsibility to present the Nirmanakayas with suitable ‘thought material’ with which to work. Probably, this is an angle of responsibility which is prone to escape us.
142. Chân sư DK đang gợi ý rằng trách nhiệm của chúng ta là cung cấp cho các Nirmanakaya “chất liệu tư tưởng” thích hợp để các Ngài làm việc. Có lẽ đây là một góc độ trách nhiệm rất dễ thoát khỏi sự chú ý của chúng ta.
Having "purified" the waters, or safeguarded his desires,
Sau khi đã “thanh lọc” các dòng nước, hay gìn giữ các ham muốn của mình,
143. The two processes are equivalent. To purify is to safeguard.
143. Hai tiến trình này là tương đương. Thanh lọc tức là gìn giữ.
the thinker next proceeds (through the use of certain words which are imparted to him by the solar Angel)
thức giả kế đó tiến hành (thông qua việc sử dụng một số lời được thái dương Thiên Thần truyền cho y)
144. There are words to control the elementals and there are also words of protection—protective mantrams.
144. Có những lời để kiểm soát các hành khí, và cũng có những lời bảo vệ—những mantram bảo hộ.
145. Again, clear egoic contact is required if these words are to be consciously realized.
145. Một lần nữa, sự tiếp xúc chân ngã minh xác là điều cần thiết nếu những lời này được chứng nghiệm một cách hữu thức.
to protect himself from the devas of elemental nature with which he is purposing to work.
để tự bảo vệ mình khỏi các thiên thần có bản chất hành khí mà y dự định làm việc.
146. Is Master DK speaking of devas or of elementals, per se?
146. Chân sư DK đang nói về các thiên thần hay về chính các hành khí?
147. Usually there is a distinction between the two types of B/builders, devas being evolutionary and elementals, involutionary.
147. Thông thường có một sự phân biệt giữa hai loại đấng kiến tạo này, thiên thần thì thuộc thăng thượng tiến hoá, còn hành khí thì thuộc giáng hạ tiến hoá.
148. Some of the lower types of devas (perhaps manipulatory devas of the lower classes) might be reasonably called, "devas of elemental nature”.
148. Một số loại thiên thần thấp hơn (có lẽ là các thiên thần thao tác thuộc những cấp thấp) có thể được gọi một cách hợp lý là “các thiên thần có bản chất hành khí”.
149. Since DK’s use of terminology seems not to be entirely consistent in all instances, caution is needed. Sometimes He clearly distinguishes devas from elementals, but not always.
149. Vì cách dùng thuật ngữ của Chân sư DK dường như không hoàn toàn nhất quán trong mọi trường hợp, nên cần thận trọng. Đôi khi Ngài phân biệt rõ thiên thần với hành khí, nhưng không phải lúc nào cũng vậy.
On the mental plane, the nature and vibration of the solar Angel proved sufficient protection,
Trên cõi trí, bản chất và rung động của thái dương Thiên Thần tỏ ra là sự bảo vệ đầy đủ,
150. The influence of the Solar Angels is powerful upon the mental plane. It would seem that devas of the lower mental plane are more easily influenced by the Solar Angels than are devas of the still lower systemic planes. The lower mental plane is simply ‘closer’ to the domain of the soul/Ego/Solar Angel.
150. Ảnh hưởng của các Thái dương Thiên Thần rất mạnh trên cõi trí. Có vẻ như các thiên thần của cõi hạ trí dễ chịu ảnh hưởng của các Thái dương Thiên Thần hơn là các thiên thần của những cõi hệ thống còn thấp hơn nữa. Cõi hạ trí đơn giản là “gần” hơn với lãnh vực của linh hồn/chân ngã/thái dương Thiên Thần.
but he is now proposing to work with the most dangerous elementals and existences in the three worlds.2
nhưng giờ đây y đang đề nghị làm việc với những hành khí và thực thể nguy hiểm nhất trong ba cõi giới.2
151. This is a bold statement. DK is telling us that the astral elementals are the most dangerous “elementals and existences in the three worlds”.
151. Đây là một phát biểu táo bạo. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng các hành khí cảm dục là những “hành khí và thực thể nguy hiểm nhất trong ba cõi giới”.
152. We should, perhaps, pause and realize the effect of emotion in the expression of the human family.
152. Có lẽ chúng ta nên dừng lại và nhận ra ảnh hưởng của cảm xúc trong sự biểu lộ của gia đình nhân loại.
Footnote 2:
Chú thích 2:
H. P. B. has said that the elementals of the air are the most wicked and dangerous. He
H. P. B. đã nói rằng các hành khí của khí là độc ác và nguy hiểm nhất. Ông
153. We note the use of the word “He” when describing H.P.B. We can consider H.P.B. a masculine soul on the first ray. There may be other reasons for using the masculine personal pronoun as well. How many Great Ones used the vehicle of H.P.B. (who was a medium) to bring about the necessary presentation of aspects of the Teaching?
153. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “Ông” khi mô tả H.P.B. Chúng ta có thể xem H.P.B. là một linh hồn nam tính thuộc cung một. Cũng có thể còn những lý do khác để dùng đại từ nhân xưng giống đực. Có bao nhiêu Đấng Cao Cả đã sử dụng vận cụ của H.P.B. (vốn là một đồng tử) để đem lại sự trình bày cần thiết về các phương diện của Giáo Huấn?
refers there to the physical plane, and to dangers menacing the physical body.
đề cập ở đó đến cõi hồng trần, và đến những hiểm nguy đe dọa thể xác.
154. We must remember that this was written at a time when air travel was nothing like what it is today. Is the Tibetan referring to the arising of great and destructive winds which whip both fire and water into irresistible forces?
154. Chúng ta phải nhớ rằng điều này được viết vào thời mà việc di chuyển bằng đường không hoàn toàn không giống như ngày nay. Chân sư Tây Tạng có đang nói đến sự nổi lên của những cơn gió lớn và tàn phá, quất cả lửa lẫn nước thành những mãnh lực không thể cưỡng lại chăng?
They are the most dangerous where the physical plane is concerned, but in the case we are considering, we are dealing with man, the unity in the three worlds.
Chúng là nguy hiểm nhất khi liên quan đến cõi hồng trần, nhưng trong trường hợp chúng ta đang xét, chúng ta đang bàn đến con người, đơn vị trong ba cõi giới.
155. Man, as a unity, is menaced more by the astral devas than by any other. It must be that these devas threaten his psychological balance and his fate in all three vehicles.
155. Con người, như một đơn vị, bị các thiên thần cảm dục đe dọa nhiều hơn bất cứ loại nào khác. Hẳn là các thiên thần này đe dọa sự quân bình tâm lý của y và số phận của y trong cả ba hiện thể.
These protective formulas are sounded forth by the thinker, in conjunction with the solar Angel,
Những công thức bảo hộ này được thức giả xướng lên, kết hợp với thái dương Thiên Thần,
156. Let us be clear in differentiating the “thinker” from the Solar Angel, Who is also, at times, called the “Thinker”. Certainly the Ego is called the “Thinker”.
156. Chúng ta hãy phân biệt rõ “thức giả” với Thái dương Thiên Thần, Đấng đôi khi cũng được gọi là “Thức Giả”. Chắc chắn chân ngã được gọi là “Thức Giả”.
157. The “thinker” can be thought of as the soul-in-incarnation acting as the magician and focussed on the lower mental plane but highly influenced and infused by the Solar Angel.
157. “Thức giả” có thể được hiểu là linh hồn đang nhập thể hành động như nhà huyền thuật và tập trung trên cõi hạ trí nhưng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và được Thái dương Thiên Thần thấm nhuần.
158. We are gathering the thought that, unless the protective formulas are imparted to us by one of the Initiates or Masters, fusion with the consciousness of the Solar Angel is required to receive (and retain) them.
158. Chúng ta đang thu nhận ý tưởng rằng, trừ phi các công thức bảo hộ được một trong các điểm đạo đồ hay các Chân sư truyền cho chúng ta, thì cần có sự dung hợp với tâm thức của Thái dương Thiên Thần để tiếp nhận (và giữ lại) chúng.
at the moment the thought form is ready to receive its astral sheath.
vào lúc hình tư tưởng sẵn sàng tiếp nhận thể vỏ cảm dục của nó.
159. It would seem that it is precisely at this moment that the protective formulas are needed. We can see why the adage “fools rush in where angels fear to tread” is peculiarly related to the work of magical creation.
159. Có vẻ như chính vào lúc này mà các công thức bảo hộ là cần thiết. Chúng ta có thể hiểu vì sao câu ngạn ngữ “kẻ ngu lao vào nơi thiên thần còn ngại bước” lại đặc biệt liên hệ với công việc sáng tạo huyền thuật.
The mantram deals with the forces which impel activity in the Agnisuryans,
Mantram này xử lý các mãnh lực thúc đẩy hoạt động trong các Agnisuryan,
160. We are definitely dealing (whether the elementals are involved or not) with the devas of the astral plane known as the Agnisuryans.
160. Chúng ta rõ ràng đang bàn đến (dù có liên quan đến các hành khí hay không) các thiên thần của cõi cảm dục được gọi là các Agnisuryan.
161. One definition of the Agnisuryans revealing their deva rather than elemental nature is as follows: They are…
161. Một định nghĩa về các Agnisuryan cho thấy bản chất thiên thần hơn là hành khí của họ như sau: Họ là…
the animating lives of that involutionary matter of the astral plane which we call the elemental essence, and as the vitality energising the desire elementals of all that is sentient.(TCF 658)
các sự sống hoạt hóa của loại vật chất giáng hạ tiến hoá nơi cõi cảm dục mà chúng ta gọi là tinh chất hành khí, và là sinh lực tiếp năng lượng cho các hành khí ham muốn của mọi loài hữu cảm.(TCF 658)
162. One can imagine that if such forces are excessive, the magician will find himself in serious difficulty if not danger.
162. Người ta có thể hình dung rằng nếu những mãnh lực như thế quá mức, nhà huyền thuật sẽ lâm vào khó khăn nghiêm trọng, nếu không muốn nói là nguy hiểm.
and starts a stream of protective energy from one of the heart petals of the Egoic lotus.
và khởi động một dòng năng lượng bảo hộ từ một trong các cánh hoa tim của Hoa Sen Chân Ngã.
163. Is the Tibetan suggesting that only one of these heart petals is involved always, or that one or the other of them can be involved depending on the degree of development of the magician?
163. Chân sư Tây Tạng có đang gợi ý rằng chỉ một trong các cánh hoa tim này luôn luôn tham dự, hay là cánh này hoặc cánh kia có thể tham dự tùy theo mức độ phát triển của nhà huyền thuật?
164. The fifth petal is, for many ones, the one most closely associated with the Solar Angel.
164. Đối với nhiều người, cánh hoa thứ năm là cánh hoa gắn bó mật thiết nhất với Thái dương Thiên Thần.
165. We see, again, that the petals are not passive repositories of quality but can be drawn upon to influence process in the lower three worlds. They are as much dynamic energy centers as are the chakras per se.
165. Một lần nữa, chúng ta thấy rằng các cánh hoa không phải là những kho chứa phẩm tính thụ động mà có thể được rút dùng để ảnh hưởng đến tiến trình trong ba cõi thấp. Chúng năng động như những trung tâm năng lượng chẳng kém gì chính các luân xa.
This circulates through the throat centre of the man,
Dòng này lưu chuyển qua trung tâm cổ họng của con người,
166. The second and third aspects of divinity are both involved, the heart love petals representing the second aspect and the throat center the third.
166. Cả phương diện thứ hai và thứ ba của thiên tính đều tham dự, các cánh hoa bác ái của tim tượng trưng cho phương diện thứ hai và trung tâm cổ họng tượng trưng cho phương diện thứ ba.
167. Because we are dealing with protective words and sounds, the throat center is naturally involved.
167. Vì chúng ta đang bàn đến những lời và âm thanh bảo hộ, nên trung tâm cổ họng đương nhiên có liên quan.
and sets up a circulatory stream of energy around him
và thiết lập một dòng năng lượng tuần hoàn quanh y
168. Is the rotary motion characteristic of the third aspect of divinity involved?
168. Phải chăng chuyển động quay, đặc trưng của phương diện thứ ba của thiên tính, có liên quan ở đây?
which automatically repulses the devas who might (through their blind unintelligent work) menace his peace.
tự động đẩy lùi các thiên thần có thể (qua công việc mù quáng vô trí của họ) đe dọa sự bình an của y.
169. If repulsion is involved in the process, so is the first ray.
169. Nếu sự đẩy lùi có liên quan trong tiến trình này, thì cung một cũng có liên quan.
170. The word “peace” should not be overlooked. A condition of equilibrium must be created within the astral body. This fact might point to the possibility that the central petal of the nine petals (the second love petal) is the petal from which the protective stream of energy is sent.
170. Không nên bỏ qua từ “bình an”. Một trạng thái quân bình phải được tạo ra trong thể cảm dục. Sự kiện này có thể gợi đến khả năng rằng cánh hoa trung tâm trong chín cánh hoa (cánh hoa bác ái thứ hai) là cánh hoa từ đó dòng năng lượng bảo hộ được phát ra.
171. We remember that the devas of the lower three worlds are not self-conscious and are, therefore, “blind”.
171. Chúng ta nhớ rằng các thiên thần của ba cõi thấp không có ngã thức và vì thế là “mù quáng”.
172. When, however, DK speaks of “blind unintelligent work” He seems to be speaking more in terms of elementals.
172. Tuy nhiên, khi Chân sư DK nói đến “công việc mù quáng vô trí”, Ngài dường như đang nói nhiều hơn theo nghĩa các hành khí.
These two matters attended to
Hai vấn đề này đã được xử lý xong
173. May we say, the purification of the waters and the utilization of protective formulas?
173. Chúng ta có thể nói là sự thanh lọc các dòng nước và việc sử dụng các công thức bảo hộ chăng?
—desire adjusted and the identity guarded
—ham muốn được điều chỉnh và bản sắc được bảo vệ
174. The purification of desire and motive is the “adjustment” of desire and motive.
174. Sự thanh lọc ham muốn và động cơ chính là sự “điều chỉnh” ham muốn và động cơ.
175. The thought that protective formulas guard identity is most interesting. It is within the power of certain members of the deva kingdom to sweep a man away so that he forgets who he is. He is overcome by driving forces which compel him to forget his own center—his center of identity.
175. Ý tưởng rằng các công thức bảo hộ bảo vệ bản sắc thật rất đáng chú ý. Một số thành viên của giới thiên thần có khả năng cuốn phăng một người đi đến mức y quên mất mình là ai. Y bị áp đảo bởi những mãnh lực thúc bách khiến y quên mất trung tâm của chính mình—trung tâm bản sắc của y.
176. It may be supposed that the impulse of the deva kingdom is to lead away from center, whereas man is always seeking to centralize.
176. Có thể giả định rằng xung lực của giới thiên thần là dẫn ra xa khỏi trung tâm, trong khi con người luôn tìm cách tập trung hóa.
177. We can also infer that the activity of certain devas can become so intense that a man becomes completely distracted and, similarly, forgets who he is. He becomes entirely preoccupied with disruptive forces.
177. Chúng ta cũng có thể suy ra rằng hoạt động của một số thiên thần có thể trở nên mãnh liệt đến mức một người trở nên hoàn toàn phân tâm và tương tự như vậy, quên mất mình là ai. Y trở nên hoàn toàn bận tâm với những mãnh lực gây xáo trộn.
—both the solar Angel and the worker in magic maintain an attitude of contemplation, [Page 1007] or that profound condition which succeeds that called meditation.
—cả thái dương Thiên Thần lẫn người hoạt động trong huyền thuật đều duy trì một thái độ chiêm ngưỡng, [Page 1007] hay trạng thái thâm sâu nối tiếp điều được gọi là tham thiền.
178. Two precautionary measure have been taken. These are succeeded by a dual contemplation—the contemplation of the Solar Angel and the contemplation of the man merging within the contemplation of the Solar Angel.
178. Hai biện pháp phòng ngừa đã được thực hiện. Tiếp theo đó là một sự chiêm ngưỡng kép—sự chiêm ngưỡng của thái dương Thiên Thần và sự chiêm ngưỡng của con người hòa nhập vào trong sự chiêm ngưỡng của thái dương Thiên Thần.
179. We are alerted to the thought that contemplation succeeds what we normally call “meditation”.
179. Chúng ta được cảnh báo về ý tưởng rằng chiêm ngưỡng nối tiếp điều mà chúng ta thường gọi là “tham thiền”.
180. Again we remember that only the soul contemplates, so the man who has found his way into contemplation is focusing within the higher mind where the soul ‘resides’.
180. Một lần nữa, chúng ta nhớ rằng chỉ linh hồn mới chiêm ngưỡng, vì thế con người đã tìm được đường vào trạng thái chiêm ngưỡng là đang tập trung trong thượng trí, nơi linh hồn “cư ngụ”.
181. Libra, the sign associated with the necessary equilibrium we have been discussing, is also the sign associated with contemplation. Some degree of “peace” is required if contemplation is to ensue.
181. Thiên Bình, dấu hiệu gắn liền với sự quân bình cần thiết mà chúng ta đã bàn đến, cũng là dấu hiệu gắn liền với sự chiêm ngưỡng. Một mức độ “bình an” nào đó là cần thiết nếu sự chiêm ngưỡng muốn tiếp diễn.
In contemplation, the inner eye is fixed upon the object of contemplation,
Trong sự chiêm ngưỡng, nội nhĩ được cố định vào đối tượng chiêm ngưỡng,
182. At first this “inner eye” may be considered the imagination. Later it is the third eye, per se.
182. Thoạt đầu, “con mắt bên trong” này có thể được xem là sự tưởng tượng. Về sau, chính nó là con mắt thứ ba.
183. Let us note the fixity involved in the act of contemplation.
183. Chúng ta hãy lưu ý tính cố định có liên quan trong hành vi chiêm ngưỡng.
184. There is always an “object of contemplation”, but during the act of contemplation the contemplator merges with the object.
184. Luôn luôn có một “đối tượng chiêm ngưỡng”, nhưng trong hành vi chiêm ngưỡng, người chiêm ngưỡng hòa nhập với đối tượng.
and this produces (unconsciously in most cases)
và điều này tạo ra (một cách vô thức trong đa số trường hợp)
185. If all goes as it should…
185. Nếu mọi sự diễn ra đúng như cần phải vậy…
a steady stream of energy which is focussed upon the objective, producing vitalisation and activity.
một dòng năng lượng ổn định được tập trung vào mục tiêu, tạo ra sự tiếp sinh lực và hoạt động.
186. The stage of contemplation here discussed precedes any possible merging of subject and object. Through this stage of contemplation, vitalization ensues and additional activity. It is a way of conveying added livingness to the object of contemplation.
186. Giai đoạn chiêm ngưỡng được bàn đến ở đây đi trước bất kỳ sự hòa nhập nào có thể có giữa chủ thể và đối tượng. Qua giai đoạn chiêm ngưỡng này, sự tiếp sinh lực và hoạt động gia tăng sẽ xảy ra. Đây là một cách truyền thêm sinh động tính cho đối tượng chiêm ngưỡng.
It is the basis of the "work of transmutation," for instance, when the human substance is transmuted into solar substance.
Đó là nền tảng của “công việc chuyển hoá”, chẳng hạn khi chất liệu nhân loại được chuyển hoá thành chất liệu thái dương.
187. This is a rather unique definition of transmutation. One type of substance can become another. Really, all substances are one. The changing of one substance to a higher or lower is really a change of quality which is essentially a change in vibratory frequency.
187. Đây là một định nghĩa khá độc đáo về sự chuyển hoá. Một loại chất liệu có thể trở thành một loại khác. Thật ra, mọi chất liệu đều là một. Việc biến đổi một chất liệu thành cao hơn hay thấp hơn thực ra là một sự thay đổi phẩm tính, mà về bản chất là một sự thay đổi về tần số rung động.
188. By “human substance” is presumably meant, “lunar substance”—the substance of the lunar vehicles.
188. Bởi “chất liệu nhân loại” có lẽ được hàm ý là “chất liệu nguyệt tính”—chất liệu của các hiện thể nguyệt tính.
The Ego contemplates his lunar bodies, and gradually the work is accomplished.
Chân ngã chiêm ngưỡng các thể nguyệt tính của y, và dần dần công việc được hoàn tất.
189. How interesting that via contemplation, transmutation is effected.
189. Thật thú vị biết bao khi qua sự chiêm ngưỡng, sự chuyển hoá được thực hiện.
190. We must realize contemplation as a dynamic, transmutative act. The “eye” brings about change simply by the act of gazing in a certain way.
190. Chúng ta phải nhận ra sự chiêm ngưỡng như một hành vi năng động, có tính chuyển hoá. “Con mắt” tạo ra sự thay đổi chỉ bằng chính hành vi nhìn theo một cách nhất định.
191. Consciousness is, in a sense, the “eye” and when an elevated state of consciousness is turned upon or fixed upon an object which must be raised in quality, that raising occurs.
191. Tâm thức theo một nghĩa nào đó, là “con mắt”, và khi một trạng thái tâm thức cao được hướng vào hay cố định vào một đối tượng cần được nâng cao về phẩm tính, thì sự nâng cao ấy xảy ra.
192. For this reason we must be careful of the manner in which we regard others and various objects. Our gaze is having an effect whether good or ill.
192. Vì lý do này, chúng ta phải cẩn trọng về cách mình nhìn người khác và nhiều đối tượng khác nhau. Ánh nhìn của chúng ta đang tạo ra ảnh hưởng, dù tốt hay xấu.
When his reflection, man, has reached a point in evolution where he can meditate and contemplate,
Khi phản ánh của Ngài là con người đã đạt đến một điểm tiến hoá mà y có thể tham thiền và chiêm ngưỡng,
193. Because he is merging into the consciousness of the Ego/Solar Angel…
193. Bởi vì y đang hòa nhập vào tâm thức của chân ngã/thái dương Thiên Thần…
the work is more rapidly accelerated,
công việc được tăng tốc nhanh hơn,
194. The resistance which unconsciousness inevitably offers is overcome.
194. Sự kháng cự mà vô thức tất yếu tạo ra được vượt qua.
195. A dual contemplative transmutation is then possible.
195. Khi ấy, một sự chuyển hoá chiêm ngưỡng kép trở nên khả hữu.
and transmutation proceeds with rapidity, particularly on the physical plane.
và sự chuyển hoá tiến hành nhanh chóng, đặc biệt trên cõi hồng trần.
196. This is the first arena of transmutation. The first initiation concerns the etheric and physical vehicles, the patterns of which must first be regulated before astral purification becomes possible.
196. Đây là đấu trường đầu tiên của sự chuyển hoá. Lần điểm đạo thứ nhất liên quan đến các hiện thể dĩ thái và hồng trần, mà các mô hình của chúng trước hết phải được điều hòa thì sự thanh lọc cảm dục mới trở nên khả hữu.
In the work of thought-form building, the man, in contemplation, pursues the work of energising and vitalising.
Trong công việc xây dựng hình tư tưởng, con người, trong sự chiêm ngưỡng, theo đuổi công việc tiếp năng lượng và tiếp sinh lực.
197. We have the Ego/Solar Angel contemplating man and thus raising his quality. We also have man in advanced meditation contemplating the thoughtform he is creating and intending to manifest. This contemplation vitalizes and energizes the thoughtform contributing to its endurance and viability.
197. Chúng ta có chân ngã/thái dương Thiên Thần chiêm ngưỡng con người và nhờ đó nâng cao phẩm tính của y. Chúng ta cũng có con người trong tham thiền cao cấp chiêm ngưỡng hình tư tưởng mà y đang tạo ra và dự định biểu hiện. Sự chiêm ngưỡng này tiếp sinh lực và tiếp năng lượng cho hình tư tưởng, góp phần vào sức bền và khả năng tồn tại của nó.
It might here be said that the eye is the great directing agency.
Ở đây có thể nói rằng con mắt là cơ quan chỉ đạo vĩ đại.
198. The eye can express itself under the influence of all three major aspects of divinity. As the “great directing agency” the eye is expressive of the first ray.
198. Con mắt có thể biểu lộ dưới ảnh hưởng của cả ba phương diện chính của thiên tính. Với tư cách là “cơ quan chỉ đạo vĩ đại”, con mắt là biểu hiện của cung một.
When the third eye is used, which is the case in contemplation,
Khi con mắt thứ ba được sử dụng, như trong trường hợp chiêm ngưỡng,
199. I.e., in the case of all true contemplation…Stages preliminary to contemplation are imaginative and do not employ the fully unfolded third eye.
199. Tức là, trong trường hợp của mọi sự chiêm ngưỡng đích thực… Những giai đoạn sơ khởi trước chiêm ngưỡng mang tính tưởng tượng và không sử dụng con mắt thứ ba đã khai mở hoàn toàn.
it is the synthesiser and director of triple energy;
nó là đấng tổng hợp và chỉ đạo năng lượng tam phân;
200. The energy of the first three, i.e., major rays.
200. Năng lượng của ba cung đầu tiên, tức là các cung chính.
hence the powerful work performed by those in whom it is functioning.
do đó có công việc đầy quyền năng được thực hiện bởi những ai nơi họ nó đang hoạt động.
201. This is the powerful work of an initiate of the third degree.
201. Đây là công việc đầy quyền năng của một điểm đạo đồ cấp ba.
202. Thus far, we are informed that the eye is an organ of synthesis and also an organ of direction.
202. Cho đến nay, chúng ta được cho biết rằng con mắt là một cơ quan của sự tổng hợp và cũng là một cơ quan của sự chỉ đạo.
The third eye only begins to function when the third circle of egoic petals is beginning slowly to unfold.
Con mắt thứ ba chỉ bắt đầu hoạt động khi vòng cánh hoa chân ngã thứ ba bắt đầu chậm rãi khai mở.
203. A most important hint is here given. The third eye does not open suddenly. There is a long period of preparation. Perhaps it takes twenty or thirty lives to unfold the final tier of petals—the sacrifice petals. All during this time it can be said that the third eye is in process of unfoldment.
203. Ở đây một gợi ý vô cùng quan trọng được đưa ra. Con mắt thứ ba không mở ra đột ngột. Có một thời kỳ chuẩn bị dài lâu. Có lẽ phải mất hai mươi hay ba mươi kiếp sống để khai mở tầng cánh hoa cuối cùng—các cánh hoa hi sinh. Trong suốt thời gian này, có thể nói rằng con mắt thứ ba đang trong tiến trình khai mở.
204. Since these are the sacrifice petals for the mental plane, it can be said that the third eye slowly opens only when the man is becoming mentally focussed and is subjecting his life to sacrifice.
204. Vì đây là các cánh hoa hi sinh dành cho cõi trí, nên có thể nói rằng con mắt thứ ba chỉ chậm rãi mở ra khi con người đang trở nên tập trung trí tuệ và đang đặt đời sống mình dưới sự hi sinh.
205. When normal desire relents (based as it is on the rejection of sacrifice) the third eye can be stimulated due to the redirection of energy liberated as desire becomes aspiration.
205. Khi ham muốn thông thường dịu xuống (vốn dựa trên sự khước từ hi sinh), con mắt thứ ba có thể được kích thích do sự tái định hướng của năng lượng được giải phóng khi ham muốn trở thành khát vọng.
206. The relation between the faculty of imagination and the opening of the third eye must be explored.
206. Mối liên hệ giữa năng lực tưởng tượng và sự mở ra của con mắt thứ ba phải được khảo cứu.
If students will study the effect of the human eye on the physical plane, and then extend the concept to the work of the interior Thinker, as he utilises the third eye, they will get an interesting light upon the subject of thought control.
Nếu các đạo sinh nghiên cứu ảnh hưởng của mắt người trên cõi hồng trần, rồi mở rộng khái niệm ấy đến công việc của Thức Giả bên trong, khi y sử dụng con mắt thứ ba, họ sẽ có được một ánh sáng thú vị về chủ đề kiểm soát tư tưởng.
207. A project is hereby proposed. The human eye is part of a dualistic system. The “interior Thinker” sees with the eye of unity which is the contemplative eye.
207. Một dự án được đề nghị ở đây. Mắt người là một phần của một hệ thống nhị nguyên. “Thức Giả bên trong” nhìn bằng con mắt của hợp nhất, tức là con mắt chiêm ngưỡng.
208. DK seems to be suggesting that certain external energy and force demonstrations can be regulated by the human eye. Likewise, many interior energy and force demonstrations can be regulated by the third eye.
208. Chân sư DK dường như đang gợi ý rằng một số biểu hiện năng lượng và mãnh lực bên ngoài có thể được điều chỉnh bởi mắt người. Tương tự, nhiều biểu hiện năng lượng và mãnh lực bên trong có thể được điều chỉnh bởi con mắt thứ ba.
209. The subjects of “light” and of “thought control” are to be simultaneously studied.
209. Hai chủ đề “ánh sáng” và “kiểm soát tư tưởng” cần được nghiên cứu đồng thời.
210. We are left with the impression that the eye controls and directs thought.
210. Chúng ta còn lại với ấn tượng rằng con mắt kiểm soát và chỉ đạo tư tưởng.
The old Commentary says:
Cổ Luận nói:
"When the eye is blind, the forms created revolve in circles and fulfill not the law.
"Khi con mắt mù, các hình tướng được tạo ra quay vòng tròn và không hoàn thành quy luật.
211. It is the third eye which is “blind” at the stage of evolution discussed.
211. Chính con mắt thứ ba là cái “mù” ở giai đoạn tiến hoá đang được bàn đến.
212. If forms revolve in circles they are subject to rotary motion (the motion of the third aspect) and are not responding to the transmutative, spiral-cyclic motion characteristic of the second aspect.
212. Nếu các hình tướng quay vòng tròn thì chúng chịu chuyển động quay (chuyển động của phương diện thứ ba) và không đáp ứng với chuyển động xoắn ốc-chu kỳ có tính chuyển hoá, vốn là đặc trưng của phương diện thứ hai.
213. The third aspect of divinity evades the law through the exercise of undisciplined motion.
213. Phương diện thứ ba của thiên tính né tránh quy luật qua việc vận dụng chuyển động vô kỷ luật.
When the eye is open, force streams forth, direction is assured, fulfillment is certain, and the plans proceed under law;
Khi con mắt mở ra, mãnh lực tuôn ra, sự chỉ đạo được bảo đảm, sự hoàn thành là chắc chắn, và các kế hoạch tiến hành theo quy luật;
214. The third eye is obviously associated with the directing will.
214. Con mắt thứ ba rõ ràng gắn liền với ý chí chỉ đạo.
215. The third eye sees the vision to be achieved under soul direction. The third eye also reveals the ways to avoid being lured off the track by the devas of the three lower worlds.
215. Con mắt thứ ba thấy linh ảnh cần đạt được dưới sự chỉ đạo của linh hồn. Con mắt thứ ba cũng bày ra những cách để tránh bị các thiên thần của ba cõi thấp dụ lệch khỏi đường đi.
216. We might think about the influence of the major star in the constellation Leo (i.e., Regulus) and its connection to the third eye as director and regulator.
216. Chúng ta có thể suy nghĩ về ảnh hưởng của ngôi sao chính trong chòm Sư Tử (tức Regulus) và mối liên hệ của nó với con mắt thứ ba như là đấng chỉ đạo và điều hòa.
the eye which is blue in color, and the eye which sees not red, when open, produce that which is intended with great facility."
con mắt có màu xanh lam, và con mắt không thấy màu đỏ ấy, khi mở ra, tạo ra điều được dự định với sự dễ dàng lớn lao."
217. The eye is “blue in color” because it opens in connection with the energizing of the egoic lotus on the higher mental plane. We may think of the higher mental plane as associated with “blue” which is the complement of orange (a color also rightfully associated with the higher mental plane).
217. Con mắt “có màu xanh lam” vì nó mở ra cùng với sự tiếp năng lượng cho Hoa Sen Chân Ngã trên cõi thượng trí. Chúng ta có thể nghĩ đến cõi thượng trí như gắn liền với “xanh lam”, là màu bổ sung của cam (một màu cũng gắn liền một cách chính đáng với cõi thượng trí).
218. We live within the “Blue Logos” and the developed soul ‘sees’ within the unified energy of Love-Wisdom (the color of which is dark blue or indigo—the dark blue of the second ray).
218. Chúng ta sống trong “Logos Xanh Lam” và linh hồn đã phát triển “thấy” trong năng lượng hợp nhất của Bác Ái – Minh Triết (màu của nó là xanh lam đậm hay chàm—màu xanh lam đậm của cung hai).
219. The third eye does not see “red” in this case, as red is the color of desire (based on duality). As the third eye opens, desire for life in the dualistic world is fast fading.
219. Trong trường hợp này, con mắt thứ ba không thấy “đỏ”, vì đỏ là màu của ham muốn (dựa trên nhị nguyên tính). Khi con mắt thứ ba mở ra, ham muốn sống trong thế giới nhị nguyên đang nhanh chóng phai tàn.
220. From an astrological perspective, we have the third eye as the “Eye of Jupiter”, overcoming through unity and inclusiveness the dualistic vision of Mercury and Venus (in their lower forms of expression)—this lower perception being driven by the energy of ruddy Mars which produces the “Desire for Duality”.
220. Từ góc nhìn chiêm tinh học, chúng ta có con mắt thứ ba như “Con Mắt của Sao Mộc”, vượt thắng bằng sự hợp nhất và tính bao gồm đối với linh thị nhị nguyên của Sao Thủy và Sao Kim (trong những hình thức biểu lộ thấp của chúng)—sự tri giác thấp này bị thúc đẩy bởi năng lượng của Sao Hỏa đỏ rực, vốn tạo ra “Ham Muốn đối với Nhị Nguyên Tính”.
221. The third eye or "Eye of Shiva" is often considered blue in color. It truly does not see the lower red of desire. But DK may, perhaps, be speaking of two centers of vision—one of them the third eye and also the eye(s) of the human thinker which finally arrive at a condition which is focussed on blue and impervious to the influence of red.
221. Con mắt thứ ba hay “Mắt của Shiva” thường được xem là có màu xanh lam. Quả thật, nó không nhìn thấy màu đỏ thấp của dục vọng. Nhưng có lẽ Chân sư DK đang nói đến hai trung tâm thị giác—một là con mắt thứ ba và cũng là mắt của nhà tư tưởng con người, cuối cùng đạt đến một trạng thái tập trung vào màu xanh lam và không thấm ảnh hưởng của màu đỏ.
The final rule is contained in the words: [Page 1008]
Quy luật cuối cùng được chứa trong những lời sau: [Page 1008]
RULE VI. The devas of the lower four feel the force when the eye opens;
QUY LUẬT VI. Các thiên thần của bốn cõi thấp cảm nhận được mãnh lực khi con mắt mở ra;
222. We are speaking of the force of the opening third eye.
222. Chúng ta đang nói về mãnh lực của con mắt thứ ba đang mở ra.
223. The lower four are the four force fields included within the human personality.
223. Bốn thấp là bốn trường lực được bao gồm trong phàm ngã con người.
they are driven forth and lose their master.
họ bị xua đuổi và đánh mất chủ nhân của mình.
224. The following reference from A Treatise on White Magic reveals to us how we may consider the term “master” in this context:
224. Đoạn trích sau đây từ Luận về Chánh Thuật cho chúng ta thấy có thể hiểu từ “chủ nhân” trong ngữ cảnh này như thế nào:
Here is an enigmatic phrase. Who, then, is the master of the “devas of the lower four”? Bringing these concepts down to practical expression in relation to the Rule under consideration, it can be noted that all these three activities are dealt with in this Rule. The third eye opens as the result of conscious development, right alignment and the inflow of soul life. Then its magnetic controlling force makes itself felt, controlling the lives of the lower bodies, driving forth the lower four elementals (of earth, water, fire, air) and forcing the lunar lords to abdicate. The personality, which has hitherto been the master, no longer can control, and the soul comes into full domination in the three worlds.
Đây là một cụm từ bí ẩn. Vậy thì ai là chủ nhân của “các thiên thần của bốn thấp”? Khi đưa các khái niệm này xuống mức biểu hiện thực tiễn liên hệ với Quy luật đang được xem xét, cần lưu ý rằng cả ba hoạt động này đều được bàn đến trong Quy luật này. Con mắt thứ ba mở ra như kết quả của sự phát triển hữu thức, sự chỉnh hợp đúng đắn và dòng tuôn đổ của sự sống linh hồn. Khi đó, mãnh lực kiểm soát từ tính của nó được cảm nhận, kiểm soát các sự sống của các thể thấp, xua ra ngoài bốn hành khí thấp (của đất, nước, lửa, khí) và buộc các nguyệt tinh quân phải thoái vị. Phàm ngã, vốn từ trước đến nay là chủ nhân, không còn có thể kiểm soát nữa, và linh hồn đi đến chỗ hoàn toàn thống trị trong ba cõi giới.
The elemental of earth, who is the sum total of the many lives which form the physical body, is controlled and feels the eye of the Master (the one Master in the head) upon it. The gross elements constituting that body are "driven forth" and better and more adequate atoms or lives are built in. Or should we think of the “master” as the personality—the inclusive elemental life. (TWM 214)
Hành khí của đất, là tổng thể của nhiều sự sống tạo thành thể xác, bị kiểm soát và cảm nhận con mắt của Chân sư (một Chân sư trong đầu) chiếu lên nó. Các nguyên tố thô cấu thành thể ấy bị “xua ra ngoài” và những nguyên tử hay sự sống tốt hơn, thích hợp hơn được xây dựng vào. Hay chúng ta nên nghĩ “chủ nhân” là phàm ngã—sự sống hành khí bao gồm? (TWM 214)
The egoic energy, transmitted via the physical brain, is directed now to the work of sending forth the form, so that it may clothe itself in astral matter.
Năng lượng chân ngã, được truyền qua bộ não hồng trần, nay được hướng vào công việc phóng xuất hình tướng, để nó có thể khoác lấy vật chất cảm dục.
225. There are several ‘sendings forth’; this is the first. Each time there is such a sending forth, the thoughtform descends into a plane of greater density.
225. Có một số lần “phóng xuất”; đây là lần thứ nhất. Mỗi khi có một lần phóng xuất như thế, hình tư tưởng lại đi xuống một cõi có mật độ lớn hơn.
226. We remember that the magician is working as a conscious human being upon the physical plane and utilizing the physical brain.
226. Chúng ta nhớ rằng nhà huyền thuật đang hoạt động như một con người hữu thức trên cõi hồng trần và sử dụng bộ não hồng trần.
227. There is a link between soul—mind—brain—and again, mind.
227. Có một liên kết giữa linh hồn—trí tuệ—bộ não—và một lần nữa, trí tuệ.
228. Man is not directing the process from the mental plane alone. He is utilizing the physical brain as well.
228. Con người không chỉ điều khiển tiến trình từ cõi trí. Y cũng sử dụng bộ não hồng trần nữa.
The eye of the Thinker opens, and repulsing vitality streams forth.
Con mắt của Nhà Tư Tưởng mở ra, và sinh lực đẩy lùi tuôn ra ngoài.
229. The magician is identified as the Ego and strongly under the influence of the Solar Angel.
229. Nhà huyền thuật được đồng hoá với Chân ngã và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Thái dương Thiên Thần.
230. The third eye is functioning in its first ray mode and drives the thoughtform towards the astral plane.
230. Con mắt thứ ba đang hoạt động trong phương thức cung một của nó và đẩy hình tư tưởng về phía cõi cảm dục.
231. Let us ponder the words “repulsing vitality”. We know that vitality repulses the agents of disease. Here it overcomes the bonds which would keep the thoughtform upon the mental plane.
231. Chúng ta hãy suy ngẫm về những lời “sinh lực đẩy lùi”. Chúng ta biết rằng sinh lực đẩy lùi các tác nhân gây bệnh. Ở đây nó vượt thắng những ràng buộc vốn sẽ giữ hình tư tưởng lại trên cõi trí.
More need not be said here, for until the eye is functioning, it is not possible for men to comprehend the nature of the energy which they will then wield or direct.
Không cần nói thêm ở đây, vì cho đến khi con mắt hoạt động, con người không thể hiểu được bản chất của năng lượng mà khi ấy họ sẽ vận dụng hay điều khiển.
232. Our task, then, is to ensure that the third eye opens. How we manage our desire life (under Taurus) and the energies of the physical elemental (again associated with Taurus) has much to do with when and with what strength the third eye opens (again, under Taurus).
232. Vậy thì nhiệm vụ của chúng ta là bảo đảm rằng con mắt thứ ba mở ra. Chúng ta quản trị đời sống dục vọng của mình như thế nào (dưới Kim Ngưu) và các năng lượng của hành khí thể xác (cũng lại liên hệ với Kim Ngưu) có liên quan rất nhiều đến thời điểm và sức mạnh mà con mắt thứ ba mở ra (một lần nữa, dưới Kim Ngưu).