Trích nội dung chương
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) (Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
S8S6 Part II
TCF 1008--1013
TCF 1008--1013
Section VI, Part II
Phần VI, Phần II
(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)
(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình giải được trình bày bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)
It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary
Xin đề nghị rằng phần Bình Giải này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn văn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính cuốn sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn văn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Giải
b. Five Rules for the Astral Plane. Before we take up the consideration of the second set of "Rules for Magic,"
b. Năm Quy Luật cho Cõi Cảm Dụce. Trước khi chúng ta bắt đầu xem xét bộ thứ hai của “Các Quy Luật về Huyền Thuật,”
1. Within the Fifteen Rules for Magic there are three sets of rules corresponding to the three planes of the lower worlds and the three vehicles which correspond to these planes.
1. Trong Mười Lăm Quy Luật về Huyền Thuật có ba bộ quy luật tương ứng với ba cõi của các thế giới thấp và ba vận cụ tương ứng với các cõi ấy.
I would like to make a few remarks anent the "eye of the Magician," to which reference has been earlier made.
Tôi muốn đưa ra vài nhận xét liên quan đến “con mắt của Nhà Huyền Thuật”, điều đã được nhắc đến trước đây.
2. Let us see if by the “eye of the Magician” the Tibetan means the third eye.
2. Hãy xem liệu qua “con mắt của Nhà Huyền Thuật”, Chân sư Tây Tạng có muốn nói đến con mắt thứ ba hay không.
One of the fundamental rules back of all magical processes is that no man is a magician or worker in white magic until the third eye is opened,
Một trong những quy luật căn bản đứng sau mọi tiến trình huyền thuật là không ai là nhà huyền thuật hay người hoạt động trong Chánh Thuật cho đến khi con mắt thứ ba được mở ra,
3. Indeed, He does mean the third eye.
3. Quả thật, Ngài quả có ý nói đến con mắt thứ ba.
or in process of opening,
hoặc đang trong tiến trình mở ra,
4. To what extent must it be open? We recall that from the time the sacrifice petals are unfolding the third eye is slowly in the process of opening.
4. Nó phải mở đến mức nào? Chúng ta nhớ rằng từ lúc các cánh hoa hi sinh bắt đầu khai mở thì con mắt thứ ba chậm rãi ở trong tiến trình mở ra.
5. The opening or these petals occurs from the time that a man is nearing or undergoing the first initiation.
5. Sự mở ra của các cánh hoa này xảy ra từ lúc một người đang tiến gần đến hoặc đang trải qua lần điểm đạo thứ nhất.
6. Can a man really be called a “white magician” when his consciousness is focussed at the level of the first degree? It seems unlikely. Yet he can create in a benevolent and useful manner and thus, to a degree, precipitate upon the physical plane those patterns which are in line with the Divine Plan.
6. Liệu một người thật sự có thể được gọi là “nhà huyền thuật chánh đạo” khi tâm thức của y tập trung ở cấp độ của bậc thứ nhất không? Điều đó dường như khó có thể xảy ra. Tuy nhiên, y có thể sáng tạo theo cách thiện lành và hữu ích, và như thế, ở một mức độ nào đó, ngưng tụ trên cõi hồng trần những mô hình phù hợp với Thiên Cơ.
for it is by means of that eye that the thought form is energised,
vì chính nhờ con mắt ấy mà hình tư tưởng được tiếp sinh lực,
7. We remember when studying the rules for the mental plane that contemplation is that which energizes the thoughtform. True contemplation takes place only when the third eye is opening.
7. Chúng ta nhớ khi nghiên cứu các quy luật cho cõi trí rằng chiêm ngưỡng là điều tiếp sinh lực cho hình tư tưởng. Sự chiêm ngưỡng chân chính chỉ diễn ra khi con mắt thứ ba đang mở ra.
directed and controlled and the lesser builders or forces are swept into any particular line of activity.
được hướng dẫn và kiểm soát, và các vị tiểu kiến tạo hay các mãnh lực bị cuốn vào một đường hoạt động đặc thù nào.
8. Here we have the actions for which the third eye is responsible in relation to the work of the magician.
8. Ở đây chúng ta có những tác động mà con mắt thứ ba chịu trách nhiệm trong liên hệ với công việc của nhà huyền thuật.
a. It energizes the thoughtform under construction
a. Nó tiếp sinh lực cho hình tư tưởng đang được xây dựng
b. It directs that thoughtform
b. Nó hướng dẫn hình tư tưởng ấy
c. It controls that thoughtform
c. Nó kiểm soát hình tư tưởng ấy
d. It sweeps the lesser builders into a particular line of activity
d. Nó cuốn các vị tiểu kiến tạo vào một đường hoạt động đặc thù
Among the coming discoveries, and among the next revelations of materialistic science will be one which will concern itself with the force-directing faculty of the human eye, alone or collectively, and this will indicate one of the first stages towards the rediscovery of the third eye, or the "Eye of Shiva."
Trong số những khám phá sắp đến, và trong số những mặc khải kế tiếp của khoa học duy vật sẽ có một khám phá liên quan đến năng lực định hướng mãnh lực của mắt người, riêng lẻ hoặc tập thể, và điều này sẽ chỉ ra một trong những giai đoạn đầu tiên hướng tới việc tái khám phá con mắt thứ ba, hay “Mắt của Shiva”.
9. DK is informing us that the third eye will not be rediscovered over night. First will come confirmable discoveries concerning the eyes of which we are already aware—the “human eye”.
9. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng con mắt thứ ba sẽ không được tái khám phá chỉ trong một đêm. Trước hết sẽ đến những khám phá có thể kiểm chứng được liên quan đến đôi mắt mà chúng ta đã biết—“mắt người”.
10. It is important that we realize that the eye does not only ‘see’; it also directs. This can already be felt as true in relation to the gaze of certain powerful individuals.
10. Điều quan trọng là chúng ta nhận ra rằng mắt không chỉ ‘nhìn thấy’; nó còn định hướng nữa. Điều này đã có thể được cảm nhận là đúng trong liên hệ với ánh nhìn của một số cá nhân đầy quyền lực.
11. We see, however, that we are not only dealing with individuals but with groups. We must research the power of the ‘collective gaze’.
11. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng mình không chỉ đang đề cập đến các cá nhân mà còn đến các nhóm. Chúng ta phải nghiên cứu quyền năng của ‘ánh nhìn tập thể’.
12. Can we think of the force-directing faculty of public opinion based upon the vision or shared perspective of many?
12. Chúng ta có thể nghĩ đến năng lực định hướng mãnh lực của dư luận quần chúng dựa trên linh thị hay quan điểm chung của nhiều người không?
Shiva is, as we know, one of the names for the first great logoic aspect, and under that name is hidden much of esoteric moment.
Shiva, như chúng ta biết, là một trong những danh xưng của phương diện logoic vĩ đại thứ nhất, và dưới danh xưng ấy ẩn giấu nhiều điều có tầm quan trọng huyền bít.
13. Perhaps we will need to know the language and the tradition associated with Shiva to discover that which is hidden and of esoteric moment.
13. Có lẽ chúng ta sẽ cần biết ngôn ngữ và truyền thống gắn liền với Shiva để khám phá điều đang bị che giấu và có tầm quan trọng huyền bí.
14. The fact that the third eye is called the “Eye of Shiva” alerts us to its power, its directing potential.
14. Việc con mắt thứ ba được gọi là “Mắt của Shiva” báo cho chúng ta biết về quyền năng của nó, tiềm năng định hướng của nó.
Shiva stands for:
Shiva tượng trưng cho:
a. The Will aspect,
a. Phương diện Ý Chí,
b. The Spirit aspect,
b. Phương diện Tinh thần,
c. The Father in Heaven,
c. Đức Cha trên Trời,
d. The directing purpose,
d. mục đích định hướng,
e. Conscious energy,
e. năng lượng hữu thức,
f. Dynamic intent, [Page 1009]
f. ý định năng động, [Page 1009]
15. All of these are considered to be roughly synonymous.
15. Tất cả những điều này được xem là gần như đồng nghĩa với nhau.
16. Shiva represents occultism which is the Science of Energy and of energy direction.
16. Shiva tượng trưng cho huyền bí học, vốn là Khoa Học về Năng Lượng và về sự định hướng năng lượng.
17. The "Eye of Shiva" is considered blue. Sometimes the first ray is assigned the color blue. We read of the “eye that sees not red” and yet red is the color of the first ray. Blue and red must be studied in connection with the "Eye of Shiva".
17. “Mắt của Shiva” được xem là màu xanh lam. Đôi khi cung một được gán màu xanh lam. Chúng ta đọc về “con mắt không thấy màu đỏ”, thế nhưng đỏ lại là màu của cung một. Xanh lam và đỏ phải được nghiên cứu trong liên hệ với “Mắt của Shiva”.
and in the consideration of these phrases the innate faculties of the third eye will become apparent.
và khi xem xét những cụm từ này, các năng lực bẩm sinh của con mắt thứ ba sẽ trở nên hiển nhiên.
18. Here then, is a hint. What are the innate faculties which will become apparent as we consider this list of words? What may we infer?
18. Vậy thì đây là một gợi ý. Những năng lực bẩm sinh nào sẽ trở nên hiển nhiên khi chúng ta xem xét danh sách từ ngữ này? Chúng ta có thể suy ra điều gì?
a. The third eye conveys the Will.
a. Con mắt thứ ba truyền đạt Ý Chí.
b. The third eye reveals the World of Spirit.
b. Con mắt thứ ba mặc khải Thế giới của Tinh thần.
c. The third eye is connected with the Monad or “Father in Heaven”.
c. Con mắt thứ ba được nối kết với chân thần hay “Đức Cha trên Trời”.
The Monad is to the planetary Logos what the third eye is to man, esoterically understood. (DINA II 310)
Chân thần đối với Hành Tinh Thượng Đế cũng như con mắt thứ ba đối với con người, nếu được hiểu theo nghĩa huyền bí. (DINA II 310)
d. Via the third eye, Divine Purpose can direct the life in the lower three worlds.
d. Qua con mắt thứ ba, Thiên Ý có thể định hướng đời sống trong ba cõi thấp.
e. When the third eye opens, one becomes consciously aware of energy and where and how it may be directed.
e. Khi con mắt thứ ba mở ra, người ta trở nên hữu thức về năng lượng và về nơi chốn cũng như cách thức mà nó có thể được định hướng.
f. The power of the third eye renders intent dynamic.
f. Quyền năng của con mắt thứ ba làm cho ý định trở nên năng động.
19. These are some of the various factors which will manifest in the life as the third eye is opening.
19. Đây là một số yếu tố khác nhau sẽ biểu hiện trong đời sống khi con mắt thứ ba đang mở ra.
20. We can see that the third eye, contemplation and Shiva must be studied together.
20. Chúng ta có thể thấy rằng con mắt thứ ba, sự chiêm ngưỡng và Shiva phải được nghiên cứu cùng nhau.
The "Eye of Shiva" in the human being has its position, as is already known, in the centre of the forehead between the two physical eyes.3 [S.D., I, 77; II, 297, 309, 316]
“Mắt của Shiva” trong con người có vị trí của nó, như đã được biết, ở trung tâm trán giữa hai mắt hồng trần.3 [S.D., I, 77; II, 297, 309, 316]
21. This positioning of the "Eye of Shiva" is a conventional positioning. The actual "Eye of Shiva" may be more properly located more towards the center of the head and surrounding the pineal gland.
21. Vị trí này của “Mắt của Shiva” là một vị trí quy ước. “Mắt của Shiva” thực sự có lẽ đúng hơn nên được đặt về phía trung tâm đầu hơn và bao quanh tuyến tùng.
22. We are also learning that the "Eye of Shiva" exists in beings other than human beings.
22. Chúng ta cũng đang học rằng “Mắt của Shiva” hiện hữu trong những hữu thể khác ngoài con người.
It is not to be confounded with the pineal gland, which is distinctly a physical centre or gland.
Không nên nhầm lẫn nó với tuyến tùng, vốn rõ ràng là một trung tâm hay tuyến hồng trần.
23. But, in fact, its location surrounds the pineal gland. We can say that the pineal gland is the physical organ through which the "Eye of Shiva" works.
23. Nhưng trên thực tế, vị trí của nó bao quanh tuyến tùng. Chúng ta có thể nói rằng tuyến tùng là cơ quan hồng trần mà qua đó “Mắt của Shiva” hoạt động.
The third eye, not the pineal gland but its etheric correspondence. This is the responsive mechanism to the directing eye of the soul. (DINA II 290)
Con mắt thứ ba, không phải tuyến tùng mà là đối phần dĩ thái của nó. Đây là bộ máy đáp ứng đối với con mắt của linh hồn đang định hướng. (DINA II 290)
; related to this third eye as it awakens and comes into functioning activity is what we call “the eye of the soul”; this is a point within the highest head centre. This eye of the soul can and does transmit energy to the ajna centre and is itself the agent (before the fourth initiation) of the energy of the Spiritual Triad. (EH 571)
; liên hệ với con mắt thứ ba này khi nó thức tỉnh và đi vào hoạt động là điều chúng ta gọi là “con mắt của linh hồn”; đây là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Con mắt của linh hồn này có thể và quả thật truyền năng lượng đến trung tâm ajna và chính nó là tác nhân (trước lần điểm đạo thứ tư) của năng lượng Tam Nguyên Tinh Thần. (EH 571)
The third eye exists in etheric matter, and is an etheric centre of force,
Con mắt thứ ba hiện hữu trong vật chất dĩ thái, và là một trung tâm lực dĩ thái,
24. Thus, in a way, the "Eye of Shiva" is a kind of chakra.
24. Như vậy, theo một nghĩa nào đó, “Mắt của Shiva” là một loại luân xa.
25. This must be remembered when we enumerate the chakras to be found in and around the head.
25. Điều này phải được ghi nhớ khi chúng ta liệt kê các luân xa được tìm thấy trong và quanh đầu.
being made of the substance of the ethers, whereas the pineal gland is formed of matter of the three lower subplanes of the physical plane.
được tạo thành từ chất liệu của các dĩ thái, trong khi tuyến tùng được tạo thành từ vật chất của ba cõi phụ thấp của cõi hồng trần.
26. The pineal gland is a strictly physical organ, not etheric.
26. Tuyến tùng là một cơ quan hoàn toàn hồng trần, không phải dĩ thái.
The latter, nevertheless, has to be functioning more or less before the "Eye of Shiva" becomes in any degree active, and it is this fact that has led writers of occult books in the past purposely to confound the two, in order to protect the knowledge.
Tuy nhiên, cơ quan sau đó, phải hoạt động ít nhiều trước khi “Mắt của Shiva” trở nên hoạt động ở bất kỳ mức độ nào, và chính sự kiện này đã khiến các tác giả sách huyền bí trong quá khứ cố ý đánh đồng hai điều ấy, để bảo vệ tri thức.
27. We are given a hint showing a particular method of occult blinding—substituting something physical for its etheric correspondence, or, in general, something lower for something closely related but higher.
27. Chúng ta được cho một gợi ý cho thấy một phương pháp làm mù huyền bí đặc thù—thay thế một điều hồng trần bằng đối phần dĩ thái của nó, hay nói chung, thay thế một điều thấp bằng một điều cao hơn có liên hệ mật thiết với nó.
28. We are being told of an occult blind which has existed for many centuries so that knowledge of the etheric nature of the "Eye of Shiva" could be protected.
28. Chúng ta đang được cho biết về một sự che giấu huyền bí đã tồn tại trong nhiều thế kỷ để tri thức về bản chất dĩ thái của “Mắt của Shiva” có thể được bảo vệ.
29. We do see that a certain degree of functioning of physical organs may be necessary before more subtle organs or centers connected with them can manifest their powers on the physical plane.
29. Chúng ta quả thật thấy rằng một mức độ hoạt động nào đó của các cơ quan hồng trần có thể là cần thiết trước khi những cơ quan hay trung tâm tinh tế hơn liên hệ với chúng có thể biểu lộ quyền năng của mình trên cõi hồng trần.
30. If we wish for the pineal gland to come into power, we must follow the ancient rules concerning purification and continence.
30. Nếu chúng ta muốn tuyến tùng đi vào quyền năng, chúng ta phải tuân theo những quy luật cổ xưa liên quan đến sự thanh lọc và tiết dục.
The third eye is formed through the activity of three factors:
Con mắt thứ ba được hình thành qua hoạt động của ba yếu tố:
31. Here is the occult explanation. We can see that much more is being revealed in this text than has previously been revealed.
31. Đây là lời giải thích huyền bí. Chúng ta có thể thấy rằng trong bản văn này đang được tiết lộ nhiều hơn rất nhiều so với những gì trước đây từng được tiết lộ.
First, through the direct impulse of the Ego on its own plane. During the greater part of evolution the Ego makes its contact with its reflection, physical plane man, through the centre at the top of the head.
Thứ nhất, qua xung lực trực tiếp của Chân ngã trên chính cõi của nó. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, Chân ngã tiếp xúc với phản ánh của nó, con người trên cõi hồng trần, qua trung tâm ở đỉnh đầu.
32. The essence of this point is that the activation of the third eye is based at least partially upon egoic impulse—an impulse released from the higher mental plane.
32. Cốt lõi của điểm này là sự hoạt hóa con mắt thứ ba ít nhất một phần dựa trên xung lực chân ngã—một xung lực được giải phóng từ cõi thượng trí.
33. Egoic stimulation at the top of the head is a partial stimulation. There is a further stage of egoic impression and control possible.
33. Sự kích thích chân ngã ở đỉnh đầu là một sự kích thích từng phần. Còn có một giai đoạn xa hơn của sự gây ấn tượng và kiểm soát của chân ngã có thể xảy ra.
When man is more highly evolved, and is nearing or treading the Path, the indwelling Self takes a more complete grasp of its lower vehicle, and descends to a point in the head or brain which is found approximately in the centre of the forehead. This is its lowest contact.
Khi con người tiến hoá cao hơn, và đang tiến gần hoặc đang bước trên Con Đường, Bản Ngã Cao Siêu nội tại nắm giữ hoàn bị hơn công cụ thấp của nó, và hạ xuống một điểm trong đầu hay bộ não được tìm thấy xấp xỉ ở trung tâm trán. Đây là điểm tiếp xúc thấp nhất của nó.
34. Here we have a most valuable piece of occult information. The Ego is taking an ever-firmer grip upon its instrument. Its stimulation of the center at the top of the head is important but not ultimate.
34. Ở đây chúng ta có một mẩu thông tin huyền bí vô cùng quý giá. Chân ngã đang nắm giữ công cụ của nó ngày càng vững chắc hơn. Sự kích thích của nó đối với trung tâm ở đỉnh đầu là quan trọng nhưng chưa phải tối hậu.
35. The point within the brain which is the Ego’s lowest point of descent has sometimes been called the “cave”.
35. Điểm trong bộ não là điểm hạ xuống thấp nhất của Chân ngã đôi khi đã được gọi là “hang động”.
36. The word “grasp” is important as it indicates the power of the planet Vulcan which can reasonably be inferred as the ruler of the seven major head centers. Vulcan is also the planet directly associated with the pineal gland. As well, Vulcan is said to rule the head center of the disciple or initiate.
36. Từ “nắm giữ” rất quan trọng vì nó chỉ ra quyền năng của hành tinh Vulcan, vốn có thể được suy ra một cách hợp lý là chủ tinh của bảy trung tâm đầu chính. Vulcan cũng là hành tinh liên hệ trực tiếp với tuyến tùng. Ngoài ra, Vulcan được nói là cai quản trung tâm đầu của đệ tử hay điểm đạo đồ.
37. Through the power of Vulcan the Ego takes a firmer grip upon its instrument through the third eye—a chakra in the center of the head found approximately at the level of the forehead.
37. Qua quyền năng của Vulcan, Chân ngã nắm giữ công cụ của nó vững chắc hơn qua con mắt thứ ba—một luân xa ở trung tâm đầu được tìm thấy xấp xỉ ngang mức trán.
38. Vulcan, we must realize, is the esoteric and hierarchical ruler of Taurus, the zodiacal sign particularly associated with the third eye. Through Vulcan comes the intense luminosity which is an aspect of the “Greatest Light”. presumably the third eye is needed to perceive this “Greatest Light”
38. Chúng ta phải nhận ra rằng Vulcan là chủ tinh nội môn và chủ tinh huyền giai của Kim Ngưu, dấu hiệu hoàng đạo đặc biệt liên hệ với con mắt thứ ba. Qua Vulcan đến ánh sáng chói lọi mãnh liệt, là một phương diện của “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất”. Có lẽ con mắt thứ ba là cần thiết để tri giác “Ánh Sáng Vĩ Đại Nhất” này.
It is interesting here to note the correspondence with the evolution of the senses. The three major senses and the three first to demonstrate in order are, hearing, touch, sight. For the greater part of evolution, hearing is the guiding impulse of human life through egoic contact with the top of the head.
Ở đây thật thú vị khi lưu ý đến sự tương ứng với sự tiến hoá của các giác quan. Ba giác quan chính và cũng là ba giác quan đầu tiên biểu hiện theo thứ tự là thính giác, xúc giác, thị giác. Trong phần lớn tiến trình tiến hoá, thính giác là xung lực hướng dẫn của đời sống con người qua sự tiếp xúc chân ngã với đỉnh đầu.
39. This statement is of fascinating importance. The third aspect of divinity rules the human being for the greater part of his evolutionary journey. Similarly, we are told, the sense of hearing is the guiding impulse of human life for the greater part of evolution.
39. Phát biểu này có tầm quan trọng đầy hấp dẫn. Phương diện thứ ba của thiên tính cai quản con người trong phần lớn hành trình tiến hoá của y. Tương tự như vậy, chúng ta được cho biết, giác quan thính giác là xung lực hướng dẫn của đời sống con người trong phần lớn tiến trình tiến hoán.
40. DK is associating the sense of hearing with initial egoic stimulation at the top of the head. For this reason, we will have to connect the third ray—the ray associated with the sense of hearing—with stimulation at the top of the head.
40. Chân sư DK đang liên hệ giác quan thính giác với sự kích thích chân ngã ban đầu ở đỉnh đầu. Vì lý do này, chúng ta sẽ phải nối kết cung ba—cung liên hệ với giác quan thính giác—với sự kích thích ở đỉnh đầu.
41. Usually, the center at the top of the head is given to the first ray and is considered the most important of the head centers. In fact, it is so, in its entirety, but DK is alerting us to a kind of stimulation of the head which precedes stimulations caused by the second and first aspects as these emanate from the Ego.
41. Thông thường, trung tâm ở đỉnh đầu được gán cho cung một và được xem là quan trọng nhất trong các trung tâm đầu. Thực ra, điều đó đúng như vậy, trong tính toàn thể của nó, nhưng Chân sư DK đang báo cho chúng ta biết về một loại kích thích của đầu đi trước những kích thích do phương diện thứ hai và thứ nhất gây ra khi chúng phát xạ từ Chân ngã.
Later, when the Ego descends a little lower, the etheric centre which is active in connection with the pituitary body, is added, and man becomes responsive [Page 1010] to subtler and higher vibrations; the occult correspondence to the physical sense of touch awakens.
Về sau, khi Chân ngã hạ xuống thấp hơn một chút, trung tâm dĩ thái hoạt động liên hệ với tuyến yên được thêm vào, và con người trở nên đáp ứng [Page 1010] với những rung động tinh tế và cao hơn; đối phần huyền bí của giác quan hồng trần là xúc giác thức tỉnh.
42. Here we have a definite correlation of the pituitary body with the sense of touch and, thus, with the second ray and the second aspect.
42. Ở đây chúng ta có một sự tương quan rõ rệt giữa tuyến yên với giác quan xúc giác và như thế, với cung hai và phương diện thứ hai.
43. Anatomically, however, we will find that the pituitary is located still more deeply in the head than the pineal gland though not as deeply recessed in the head.
43. Tuy nhiên, về mặt giải phẫu, chúng ta sẽ thấy rằng tuyến yên nằm còn sâu hơn trong đầu so với tuyến tùng, dù không lùi sâu vào đầu bằng.
44. Pituitary stimulation is correlated with subtler and higher vibrations than can be registered following the preliminary stimulation of the top of the head.
44. Sự kích thích tuyến yên tương quan với những rung động tinh tế và cao hơn những gì có thể được ghi nhận sau sự kích thích sơ bộ ở đỉnh đầu.
Finally, the third eye opens and the pineal gland simultaneously begins to function.
Cuối cùng, con mắt thứ ba mở ra và tuyến tùng đồng thời bắt đầu hoạt động.
45. It is difficult to know the order of the process as we have just been told that the pineal gland must be somewhat functioning if the third eye is to function.
45. Thật khó biết được thứ tự của tiến trình vì chúng ta vừa được cho biết rằng tuyến tùng phải hoạt động phần nào nếu con mắt thứ ba muốn hoạt động.
46. We may assume that at approximately the time of the third initiation, the two centers—one densely physical and the other etheric—begin to function together powerfully and effectively in relation to the consciousness of the disciple/initiate upon the physical plane.
46. Chúng ta có thể giả định rằng vào khoảng thời gian của lần điểm đạo thứ ba, hai trung tâm—một đậm đặc hồng trần và một dĩ thái—bắt đầu cùng hoạt động một cách mạnh mẽ và hữu hiệu trong liên hệ với tâm thức của đệ tử/điểm đạo đồ trên cõi hồng trần.
At first, the sight is dim, and the gland is only partially responsive to vibration,
Lúc đầu, thị giác còn mờ nhạt, và tuyến chỉ đáp ứng một phần với rung động,
47. DK, naturally, speaks as one who has undergone the unfoldment of the power of this subtle organ of spiritual sight. We cannot expect that the inner sight will open suddenly and completely. At first the quality of spiritual sight is as if “through a glass darkly” (in the words of St. Paul).
47. Dĩ nhiên, Chân sư DK nói như một vị đã trải qua sự khai mở quyền năng của cơ quan tinh tế của linh thị tinh thần này. Chúng ta không thể mong đợi rằng nội nhĩ sẽ mở ra đột ngột và hoàn toàn. Lúc đầu phẩm tính của thị giác tinh thần giống như “nhìn qua một tấm kính mờ tối” (theo lời Thánh Paul).
but gradually the eye opens fully,
nhưng dần dần con mắt mở ra hoàn toàn,
48. We realize that the period of its opening is long because the complete unfoldment of the sacrifice petals spans quite a number of lives.
48. Chúng ta nhận ra rằng thời kỳ mở ra của nó kéo dài vì sự khai mở trọn vẹn của các cánh hoa hi sinh trải qua khá nhiều kiếp sống.
the gland is fully active, and we have the "fully awakened" man.
tuyến trở nên hoàn toàn hoạt động, và chúng ta có con người “hoàn toàn thức tỉnh”.
49. When this full awakening has occurred, we have the “Enlightenment”, the “Illumination”, “Satori”, “Realization”—minimally the third initiation.
49. Khi sự thức tỉnh trọn vẹn này đã xảy ra, chúng ta có “Giác Ngộ”, “Soi Sáng”, “Satori”, “Chứng nghiệm”—ít nhất là lần điểm đạo thứ ba.
50. In order that this state of consciousness supervene, it is required that both the pineal gland and third eye be significantly active. With respect to the gland, DK tells us that it becomes “fully active”.
50. Để trạng thái tâm thức này xuất hiện, đòi hỏi rằng cả tuyến tùng lẫn con mắt thứ ba đều phải hoạt động đáng kể. Đối với tuyến, Chân sư DK cho chúng ta biết rằng nó trở nên “hoàn toàn hoạt động”.
51. We think of the Buddha (identified so completely with Taurus) as the “Supremely Awakened One”. Obviously His stage of awakening was far beyond that which is here discussed.
51. Chúng ta nghĩ đến Đức Phật (được đồng nhất trọn vẹn đến thế với Kim Ngưu) như “Đấng Tối Thượng Giác Ngộ”. Hiển nhiên giai đoạn thức tỉnh của Ngài vượt xa điều đang được bàn đến ở đây.
When this is the case, the alta major centre vibrates and then the three physical head centres are functioning.
Khi điều này xảy ra, trung tâm alta major rung động và khi ấy ba trung tâm đầu hồng trần đều hoạt động.
52. We seem to be told that the alta major center awakens fully only during the very latest stages of the process. It seems that a fully awakened third eye requires a fully awakened alta major center.
52. Dường như chúng ta được cho biết rằng trung tâm alta major chỉ thức tỉnh hoàn toàn trong những giai đoạn rất muộn của tiến trình. Có vẻ như một con mắt thứ ba hoàn toàn thức tỉnh đòi hỏi một trung tâm alta major hoàn toàn thức tỉnh.
53. The alta major center is sometimes called a physical head center, but the lowest and truly physical head center is the carotid gland (or glands).
53. Trung tâm alta major đôi khi được gọi là một trung tâm đầu hồng trần, nhưng trung tâm đầu thấp nhất và thật sự hồng trần là tuyến cảnh mạch (hay các tuyến cảnh mạch).
54. We continue now with our discussion of the formation of the third eye.
54. Giờ đây chúng ta tiếp tục cuộc thảo luận về sự hình thành của con mắt thứ ba.
55. The first factor involved was egoic impulse.
55. Yếu tố thứ nhất liên hệ là xung lực chân ngã.
Second, through the co-ordinated activity of the major head centre, the many petalled lotus above the top of the head.
Thứ hai, qua hoạt động phối hợp của trung tâm đầu chính, hoa sen nhiều cánh phía trên đỉnh đầu.
56. Obviously there can be activity within the major head center long before there is coordinated activity between its many aspects.
56. Hiển nhiên có thể có hoạt động bên trong trung tâm đầu chính rất lâu trước khi có hoạt động phối hợp giữa nhiều phương diện của nó.
This centre directly affects the pineal gland,
Trung tâm này tác động trực tiếp lên tuyến tùng,
57. We are discriminating between the initial stimulation by the Ego registered at the top of the head and the actual coordinated activity of the highest head center, directly affecting as it does the pineal gland.
57. Chúng ta đang phân biện giữa sự kích thích ban đầu bởi Chân ngã được ghi nhận ở đỉnh đầu và hoạt động phối hợp thực sự của trung tâm đầu cao nhất, vốn trực tiếp tác động lên tuyến tùng.
and the interplay of force behind the two (the correspondence, on a tiny scale, of the pairs of opposites, spirit and matter), produces the great organ of consciousness, the "Eye of Shiva."
và sự tương tác của mãnh lực phía sau cả hai (đối phần, trên một quy mô rất nhỏ, của các cặp đối cực, tinh thần và vật chất), tạo ra cơ quan lớn của tâm thức, “Mắt của Shiva.”
58. Here we have a very direct statement about the manner in which the "Eye of Shiva" or third eye is produced. It appears that the energy of the highest head center and its interplay with the pineal gland produces the "Eye of Shiva".
58. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất trực tiếp về cách thức mà “Mắt của Shiva” hay con mắt thứ ba được tạo ra. Có vẻ như năng lượng của trung tâm đầu cao nhất và sự tương tác của nó với tuyến tùng tạo ra “Mắt của Shiva”.
59. We are also learning that this is not the entire story as it can be presumed that the pituitary/ajna and alta major/carotid are also involved, just as is the Ego in a fundamental way.
59. Chúng ta cũng đang học rằng đây không phải là toàn bộ câu chuyện, vì có thể giả định rằng tuyến yên/ajna và alta major/cảnh mạch cũng có liên quan, cũng như chân ngã theo một cách thức căn bản.
60. As with all major occult processes occurring within the human being, a number of lesser processes contribute to the fulfillment of the greater process.
60. Cũng như với mọi tiến trình huyền bí học lớn diễn ra bên trong con người, một số tiến trình nhỏ hơn góp phần vào sự hoàn tất của tiến trình lớn hơn.
It is the instrument of wisdom,
Đó là khí cụ của minh triết,
61. It is a subtle and not a dense instrument.
61. Đó là một khí cụ vi tế chứ không phải một khí cụ đậm đặc.
62. The third eye is sometimes called the “wisdom eye”.
62. Con mắt thứ ba đôi khi được gọi là “con mắt minh triết”.
and in these three centres of energy we have the correspondence of the three aspects within the head of man.
và trong ba trung tâm năng lượng này chúng ta có sự tương ứng của ba phương diện bên trong đầu của con người.
63. Master DK is exploring our subject from a number of angles and in this process a variety of correspondences appears.
63. Chân sư DK đang khảo sát chủ đề của chúng ta từ nhiều góc độ, và trong tiến trình này nhiều sự tương ứng xuất hiện.
64. We are to consider the "Eye of Shiva" or the third eye as the “instrument of wisdom”. From this perspective, true wisdom does not express itself through the human consciousness until the third initiation, bringing with it a very full stimulation of the etheric centers in and around the head and their dense physical counterparts in the head.
64. Chúng ta phải xem “Con Mắt của Shiva” hay con mắt thứ ba như là “khí cụ của minh triết”. Từ góc nhìn này, minh triết chân chính không biểu lộ qua tâm thức con người cho đến lần điểm đạo thứ ba, mang theo cùng nó một sự kích thích rất đầy đủ đối với các trung tâm dĩ thái trong và quanh đầu cùng các đối phần hồng trần đậm đặc của chúng trong đầu.
1. Major head centre Will Aspect Spirit Father in Heaven
1. Trung tâm đầu chính Phương diện Ý chí Tinh thần Cha trên Trời
65. We continue to discriminate between this major center and the etheric area at the top of the head which was stimulated by the Ego in its initial grasp upon the human being.
65. Chúng ta tiếp tục phân biện giữa trung tâm chính yếu này và vùng dĩ thái ở đỉnh đầu, vốn đã được chân ngã kích thích trong sự nắm bắt ban đầu của nó đối với con người.
2. Pineal gland Love-Wisdom aspect Consciousness Son
2. Tuyến tùng quả phương diện Bác Ái – Minh Triết Tâm thức Con
66. Usually considered a material expression of the major head center above the top of the head, in this set of correspondences the pineal gland is associated with the second aspect. Yet the pineal gland is more material than the third eye which it is etheric counterpart.
66. Thường được xem là một biểu hiện vật chất của trung tâm đầu chính yếu ở phía trên đỉnh đầu, trong tập hợp các sự tương ứng này, tuyến tùng quả được liên kết với phương diện thứ hai. Tuy nhiên tuyến tùng quả lại vật chất hơn con mắt thứ ba, vốn là đối phần dĩ thái của nó.
67. From this perspective, it is the organ of the soul and especially of the light of the soul.
67. Từ góc nhìn này, nó là cơ quan của linh hồn và đặc biệt là của ánh sáng linh hồn.
3. Third eye. Activity aspect Matter... Mother
3. Con mắt thứ ba. Phương diện hoạt động Vật chất... Mẹ
68. The correspondences here are definitely unusual. In much of the foregoing text, the third eye has been considered correlated with the first aspect of divinity, but now it is assigned to the third or matter aspect, even when it is more closely related to consciousness than is its physical expression, the pineal gland.
68. Các sự tương ứng ở đây quả thật khác thường. Trong phần lớn đoạn văn đi trước, con mắt thứ ba đã được xem là tương quan với phương diện thứ nhất của thiên tính, nhưng giờ đây nó lại được gán cho phương diện thứ ba hay phương diện vật chất, dù nó liên hệ chặt chẽ với tâm thức hơn là biểu hiện hồng trần của nó, tức tuyến tùng quả.
69. From another point of view, the third eye is closely related to the “Eye of the Soul” and is the expression in matter of soul vision. Thus, perhaps, its relation to the third aspect of divinity.
69. Từ một quan điểm khác, con mắt thứ ba liên hệ mật thiết với “Con Mắt của Linh Hồn” và là biểu hiện trong vật chất của linh thị linh hồn. Vì thế, có lẽ, là mối liên hệ của nó với phương diện thứ ba của thiên tính.
70. In this particular correspondence, we have yet to solve why the third eye (which is etheric) should be assigned to the third aspect of divinity whereas the pineal gland (which is material) is assigned to the second aspect. One factor may be the dynamic, manipulative aspect of the third eye.
70. Trong sự tương ứng đặc biệt này, chúng ta vẫn chưa giải quyết được vì sao con mắt thứ ba (vốn là dĩ thái) lại được gán cho phương diện thứ ba của thiên tính, trong khi tuyến tùng quả (vốn vật chất) lại được gán cho phương diện thứ hai. Một yếu tố có thể là phương diện năng động, thao tác của con mắt thứ ba.
71. Here is an excerpt which presents a picture of nature and functions of the various “eyes” to be found in the head:
71. Đây là một đoạn trích trình bày một bức tranh về bản chất và chức năng của các “con mắt” khác nhau được tìm thấy trong đầu:
In between these two directing eyes is to be found the ajna centre, which is like a third eye or directing agent for the blended and fused energies of the personality; related to this third eye as it awakens and comes into functioning activity is what we call “the eye of the soul”; this is a point within the highest head centre. This eye of the soul can and does transmit energy to the ajna centre and is itself the agent (before the fourth initiation) of the energy of the Spiritual Triad. This esoteric relationship is only set up when the soul is dominating its instrument, the personality, and is bringing all the lower activities upon the physical plane under soul direction.
Ở giữa hai con mắt chỉ đạo này có thể tìm thấy trung tâm ajna, vốn giống như một con mắt thứ ba hay tác nhân chỉ đạo cho các năng lượng đã được hòa trộn và dung hợp của phàm ngã; liên hệ với con mắt thứ ba này khi nó thức tỉnh và đi vào hoạt động chức năng là điều mà chúng ta gọi là “con mắt của linh hồn”; đây là một điểm bên trong trung tâm đầu cao nhất. Con mắt của linh hồn này có thể và thực sự truyền năng lượng đến trung tâm ajna, và chính nó là tác nhân (trước lần điểm đạo thứ tư) của năng lượng Tam Nguyên Tinh Thần. Mối liên hệ huyền bí này chỉ được thiết lập khi linh hồn đang chi phối khí cụ của nó là phàm ngã, và đang đưa mọi hoạt động thấp trên cõi hồng trần vào dưới sự chỉ đạo của linh hồn.
In the perfected man, there is to be found, therefore, the following distributors or distributing agents of energy:
Trong con người hoàn thiện, vì vậy, có thể tìm thấy các bộ phân phối hay tác nhân phân phối năng lượng sau đây:
1. The eye of the soul agent of the Spiritual Triad Will.
1. Con mắt của linh hồn tác nhân của Tam Nguyên Tinh Thần Ý chí.
2. The third eye agent of the soul Love.
2. Con mắt thứ ba tác nhân của linh hồn Bác ái.
3. The right eye distributor of buddhic energy.
3. Mắt phải bộ phân phối năng lượng Bồ đề.
4. The left eye conveyor of pure manasic energy.
4. Mắt trái bộ chuyển tải năng lượng manas thuần túy.
5. The ajna centre focussing and directing point for all these energies. (EH 571)
5. Trung tâm ajna điểm tập trung và chỉ đạo cho tất cả các năng lượng này. (EH 571)
72. Returning to text…
72. Trở lại bản văn…
The third eye is the director of energy or force, and thus an instrument of the will or Spirit;
Con mắt thứ ba là đấng chỉ đạo năng lượng hay mãnh lực, và do đó là một khí cụ của ý chí hay tinh thần;
73. This is the more usual correspondence. The Ego is also an instrument of the will or Spirit, but an instrument generically on the second ray.
73. Đây là sự tương ứng thông thường hơn. Chân ngã cũng là một khí cụ của ý chí hay tinh thần, nhưng là một khí cụ nói chung thuộc cung hai.
74. The third eye can be considered an expression of the activity of Spirit.
74. Con mắt thứ ba có thể được xem là một biểu hiện của hoạt động của tinh thần.
it is responsive only to that will as controlled by the Son-aspect,
nó chỉ đáp ứng với ý chí như sự kiểm soát được điều khiển bởi phương diện Con,
75. This is important as the Monad/Spirit does not have initial control of the third eye. Rather, it is initially a mediated control via the Ego or “Son-aspect”.
75. Điều này quan trọng, vì Chân thần/Tinh thần không có sự kiểm soát ban đầu đối với con mắt thứ ba. Đúng hơn, lúc đầu đó là sự kiểm soát được trung giới thông qua chân ngã hay “phương diện Con”.
the revealer of the love-wisdom nature of gods and man, and it is therefore the sign of the white magician.
đấng mặc khải bản chất bác ái-minh triết của các vị thần và con người, và vì thế nó là dấu hiệu của nhà huyền thuật chánh đạo.
76. We are considering the third eye in relation to the stage of soul development and expression.
76. Chúng ta đang xem xét con mắt thứ ba trong liên hệ với giai đoạn phát triển và biểu lộ của linh hồn.
77. The third eye is the “sign of the white magician”.
77. Con mắt thứ ba là “dấu hiệu của nhà huyền thuật chánh đạo”.
78. Given our present stage of evolution, the third eye is to be considered the instrument of the second aspect of divinity (not yet fully the direct instrument of the first aspect).
78. Với giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta, con mắt thứ ba phải được xem là khí cụ của phương diện thứ hai của thiên tính (chưa hoàn toàn là khí cụ trực tiếp của phương diện thứ nhất).
79. The accomplished white magician is one who expresses fully the second aspect of divinity, the egoic or soul aspect. For practical purposes, the third eye is his instrument of expression.
79. Nhà huyền thuật chánh đạo thành tựu là người biểu lộ trọn vẹn phương diện thứ hai của thiên tính, phương diện chân ngã hay linh hồn. Xét về mặt thực tiễn, con mắt thứ ba là khí cụ biểu lộ của y.
80. Later when the egoic lotus is destroyed and the man is directed from the triadal and even monadic levels, the third eye will be a direct expression of the spirit (even though it manifests itself within and through a mayavirupa).
80. Về sau, khi hoa sen chân ngã bị hủy diệt và con người được chỉ đạo từ các cấp độ tam nguyên tinh thần và thậm chí chân thần, con mắt thứ ba sẽ là một biểu hiện trực tiếp của tinh thần (dù nó tự biểu lộ bên trong và thông qua một mayavirupa).
Third, the reflex action of the pineal gland itself.
Thứ ba, phản ứng phản xạ của chính tuyến tùng quả.
81. We continue in discussing the three means by which the third eye is generated.
81. Chúng ta tiếp tục bàn đến ba phương tiện nhờ đó con mắt thứ ba được tạo ra.
82. We have discussed the originating impulse of the Ego and also the coordinated activity of the many petalled lotus (the major head center). Now we also consider a strictly physical response—the reflex action of the pineal gland itself.
82. Chúng ta đã bàn đến xung lực khởi nguyên của chân ngã và cả hoạt động phối hợp của hoa sen nhiều cánh (trung tâm đầu chính yếu). Giờ đây chúng ta cũng xét đến một đáp ứng thuần túy hồng trần—phản ứng phản xạ của chính tuyến tùng quả.
83. We have already discussed how indispensable is the full functioning of the pineal gland to the full activation of the third eye.
83. Chúng ta đã bàn đến việc sự vận hành trọn vẹn của tuyến tùng quả là thiết yếu đến mức nào đối với sự hoạt hóa trọn vẹn của con mắt thứ ba.
As these three types of energy, or the vibration of these three centres, begin to contact each other, a definite interplay is set up.
Khi ba loại năng lượng này, hay rung động của ba trung tâm này, bắt đầu tiếp xúc với nhau, một sự tương tác xác định được thiết lập.
84. The third eye is definitely the result of triangular interplay.
84. Con mắt thứ ba rõ ràng là kết quả của sự tương tác tam giác.
85. Here we are being told that it is the interplay between the Ego, the crown center and the pineal gland that produces the emergence of the third eye.
85. Ở đây chúng ta được cho biết rằng chính sự tương tác giữa chân ngã, trung tâm đỉnh đầu và tuyến tùng quả tạo ra sự xuất hiện của con mắt thứ ba.
86. In other sections of text, we are told that the interplay between the crown center, the ajna center and the alta major center produce the emergence of that etheric organ we call the third eye. In all, five factors seem to be involved in its generation.
86. Trong những phần khác của bản văn, chúng ta được cho biết rằng sự tương tác giữa trung tâm đỉnh đầu, trung tâm ajna và trung tâm alta major tạo ra sự xuất hiện của cơ quan dĩ thái mà chúng ta gọi là con mắt thứ ba. Tính chung lại, dường như có năm yếu tố liên quan đến sự phát sinh của nó.
This triple interplay forms in time a vortex or centre of force, which finds its place in the centre of the forehead,
Sự tương tác tam phân này theo thời gian hình thành một xoáy hay trung tâm mãnh lực, tìm thấy vị trí của nó ở trung tâm trán,
87. Yet, as we have studied—yet still within the head, i.e., within the etheric brain.
87. Tuy nhiên, như chúng ta đã nghiên cứu—nhưng vẫn còn bên trong đầu, tức là bên trong bộ não dĩ thái.
and takes eventually the semblance of an eye looking out between the other two.
và cuối cùng mang dáng vẻ của một con mắt nhìn ra giữa hai con mắt kia.
[Page 1011]
[Page 1011]
88. Again, this is one of the standard descriptions of the third eye—an eye which looks out between the other two eyes.
88. Một lần nữa, đây là một trong những mô tả tiêu chuẩn về con mắt thứ ba—một con mắt nhìn ra giữa hai con mắt kia.
89. We seem to have a discrepancy between the standard placement of the third eye and the position of the pineal gland within the head (given that the third eye in some sense said to be an etheric center or organ which is the etheric correspondence to the pineal gland and located in such a way as to surround that gland.
89. Dường như có một sự sai biệt giữa vị trí tiêu chuẩn của con mắt thứ ba và vị trí của tuyến tùng quả bên trong đầu (nếu quả thật con mắt thứ ba theo một nghĩa nào đó được nói là một trung tâm hay cơ quan dĩ thái, là sự tương ứng dĩ thái với tuyến tùng quả và được định vị theo cách bao quanh tuyến ấy.
90. From another perspective, the soul is the “eye” which looks out between the two.
90. Từ một góc nhìn khác, linh hồn là “con mắt” nhìn ra giữa hai mắt.
91. Rule XII for Applicants deals with this “eye”.
91. Quy luật XII dành cho người thỉnh cầu bàn đến “con mắt” này.
“Let the disciple learn the use of the hands in service. Let him seek the mark of the messenger in his feet. And let him learn to see with the eye which looks out between the two”.
“Hãy để người đệ tử học cách sử dụng đôi tay trong phụng sự. Hãy để y tìm dấu hiệu của sứ giả nơi đôi bàn chân. Và hãy để y học cách nhìn bằng con mắt nhìn ra giữa hai con mắt”.
92. In the discussion of Rule XII, we are told that it is definitely the soul which is to be considered as the “eye which looks out between the two”. ( IHS 206)
92. Trong phần bàn về Quy luật XII, chúng ta được cho biết rằng chính linh hồn phải được xem là “con mắt nhìn ra giữa hai con mắt”. ( IHS 206)
It is the eye of the inner vision, and he who has opened it can direct and control the energy of matter,
Đó là con mắt của linh thị bên trong, và người đã mở được nó có thể chỉ đạo và kiểm soát năng lượng của vật chất,
93. Thus, the connection with the third aspect of divinity and with the first (the aspect of the director).
93. Như vậy, có mối liên hệ với phương diện thứ ba của thiên tính và với phương diện thứ nhất (phương diện của đấng chỉ đạo).
94. Perhaps it is the pure receptivity of the pineal gland which justified the correspondence relating it to the second aspect of divinity.
94. Có lẽ chính tính tiếp nhận thuần túy của tuyến tùng quả đã biện minh cho sự tương ứng liên hệ nó với phương diện thứ hai của thiên tính.
see all things in the Eternal Now,
thấy mọi sự trong Hiện Tại Vĩnh Cửu,
95. This ability represents the overcoming of time and space. Under the second and first rays the polar opposites are unified. Influences from both the buddhic and atmic planes are involved in this process.
95. Khả năng này biểu thị sự vượt thắng thời gian và không gian. Dưới cung hai và cung một, các cực đối lập được hợp nhất. Các ảnh hưởng từ cả cõi Bồ đề lẫn cõi atma đều liên quan đến tiến trình này.
96. One wonders about the relation of Uranus to the third eye. Uranus is the planet of simultaneity, and its energy promotes the overcoming of the illusion of time (and space) and the ability to perceive the reality of the Eternal Now.
96. Người ta tự hỏi về mối liên hệ của Sao Thiên Vương với con mắt thứ ba. Sao Thiên Vương là hành tinh của tính đồng thời, và năng lượng của nó thúc đẩy sự vượt thắng ảo tưởng về thời gian (và không gian) cùng khả năng tri nhận thực tại của Hiện Tại Vĩnh Cửu.
and therefore be in touch with causes more than with effects,
và vì thế tiếp xúc với các nguyên nhân nhiều hơn là với các kết quả,
97. Uranus is also the planet of causes rather than effects (Saturn).
97. Sao Thiên Vương cũng là hành tinh của các nguyên nhân hơn là các kết quả (Sao Thổ).
98. The Ego which initially stimulates the emerging of the third eye is focussed through the causal body. From this perspective, the higher mental plane is a world of causes.
98. Chân ngã, vốn ban đầu kích thích sự xuất hiện của con mắt thứ ba, được tập trung qua thể nguyên nhân. Từ góc nhìn này, cõi thượng trí là một thế giới của các nguyên nhân.
read the akashic records, and see clairvoyantly. Therefore, its possessor can control the builders of low degree.
đọc các hồ sơ akasha, và thấy bằng thông nhãn. Vì vậy, người sở hữu nó có thể kiểm soát các đấng kiến tạo cấp thấp.
99. It seems important for us to tabulate that which the possession of a functioning third eye confers upon its possessor:
99. Dường như điều quan trọng là chúng ta phải lập bảng những gì mà việc sở hữu một con mắt thứ ba đang hoạt động đem lại cho người sở hữu nó:
a. Directing and controlling the energy of matter
a. Chỉ đạo và kiểm soát năng lượng của vật chất
b. Seeing all things in the “Eternal Now”
b. Thấy mọi sự trong “Hiện Tại Vĩnh Cửu”
c. Being in touch with causes more than effects
c. Tiếp xúc với các nguyên nhân nhiều hơn là các kết quả
d. Reading the akashic records
d. Đọc các hồ sơ akasha
e. Seeing clairvoyantly
e. Thấy bằng thông nhãn
f. Controlling the builders of low degree. By these builders we probably mean elemental forces or “devas of elemental nature” (TCF 1006).
f. Kiểm soát các đấng kiến tạo cấp thấp. Bởi các đấng kiến tạo này, có lẽ chúng ta muốn nói đến các mãnh lực hành khí hay “các thiên thần có bản chất hành khí” (TCF 1006).
The "Eye of Shiva," when perfected, is blue in colour, and as our solar Logos is the "Blue Logos" so do His children occultly resemble Him; but this colour must be interpreted esoterically.
“Con Mắt của Shiva”, khi được hoàn thiện, thì có màu xanh lam, và cũng như Thái dương Thượng đế của chúng ta là “Blue Logos”, thì con cái của Ngài về mặt huyền bí cũng giống Ngài; nhưng màu sắc này phải được giải thích một cách huyền bí.
100. We are dealing, therefore, with an esoteric blue.
100. Vì vậy, chúng ta đang bàn đến một màu xanh lam huyền bí.
101. When the “Blue Eye” is developed one is in the process of taking the first of the truly solar initiations. We realize that the initiations of the threshold (i.e., the first two initiations) are strictly planetary initiations.
101. Khi “Con Mắt Xanh” được phát triển, người ta đang trong tiến trình nhận lấy lần điểm đạo đầu tiên trong các điểm đạo thực sự thái dương. Chúng ta nhận ra rằng các điểm đạo của ngưỡng cửa (tức hai lần điểm đạo đầu tiên) hoàn toàn là các điểm đạo hành tinh.
102. VSK alerts us to the thought that “this refers to the blue as the indicator of the second ray, the synthesizing ray for this solar system.”
102. VSK lưu ý chúng ta đến ý tưởng rằng “điều này ám chỉ màu xanh lam như dấu chỉ của cung hai, cung tổng hợp của hệ mặt trời này.”
103. Since the color indigo is specifically the color of synthesis, we may be justified in considering indigo the esoteric blue.
103. Vì màu chàm đặc biệt là màu của sự tổng hợp, nên có lẽ chúng ta có cơ sở để xem màu chàm là màu xanh lam huyền bí.
It must be remembered also that prior to the final two Initiations (the sixth and seventh),
Cũng phải nhớ rằng trước hai lần Điểm đạo cuối cùng (lần thứ sáu và thứ bảy),
104. We see that the eighth and ninth are not included as they are rarely taken within the confines of our planet.
104. Chúng ta thấy rằng lần thứ tám và thứ chín không được kể đến vì chúng hiếm khi được nhận trong phạm vi hành tinh của chúng ta.
the eye of the white magician, when developed, will be coloured according to the man's ray—again esoterically understood.
con mắt của nhà huyền thuật chánh đạo, khi được phát triển, sẽ được nhuốm màu theo cung của con người—một lần nữa được hiểu một cách huyền bí.
105. The term “esoteric” (in this context) means monadic, as by the time the sixth and seventh initiations are being taken, man is truly the Monad.
105. Thuật ngữ “huyền bí” (trong ngữ cảnh này) có nghĩa là chân thần, vì vào lúc lần điểm đạo thứ sáu và thứ bảy được nhận, con người thực sự là Chân thần.
106. It is important to realize that the term “esoteric” is, in certain significant contexts, used to indicate the Spirit aspect or Monad. This is true, for instance, when discussing the esoteric rays of Saturn, Neptune and Uranus (c.f. EP I 420)
106. Điều quan trọng là phải nhận ra rằng thuật ngữ “huyền bí”, trong một số ngữ cảnh quan trọng, được dùng để chỉ phương diện Tinh thần hay Chân thần. Điều này đúng, chẳng hạn, khi bàn về các cung huyền bí của Sao Thổ, Sao Hải Vương và Sao Thiên Vương (xem EP I 420)
107. We must ask, however, whether, at this high point of evolution, the third eye is no longer blue? Or does it remain blue and also display one of the sub-shades of blue according to a man’s monadic ray?
107. Tuy nhiên, chúng ta phải hỏi liệu ở điểm tiến hoá cao này, con mắt thứ ba có còn không còn xanh lam nữa chăng? Hay nó vẫn giữ màu xanh lam và đồng thời cũng biểu lộ một trong những sắc độ phụ của xanh lam tùy theo cung chân thần của một người?
More anent this question of colour may not be communicated. According to the colour, so will be the type of energy manipulated,
Không thể truyền đạt thêm gì nữa về vấn đề màu sắc này. Theo màu sắc, loại năng lượng được thao tác cũng sẽ như vậy,
108. Knowledge of color is important in the process of manipulating certain builders which are keyed to certain colors.
108. Kiến thức về màu sắc là điều quan trọng trong tiến trình thao tác một số đấng kiến tạo nào đó vốn được điều chỉnh theo những màu sắc nhất định.
109. Is DK telling us that according to the color of a man’s monadic ray, so will be the type of energy he customarily manipulates?
109. Phải chăng Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng tùy theo màu sắc của cung chân thần của một người, loại năng lượng mà y thường thao tác cũng sẽ tương ứng như vậy?
but here it must be borne in mind that all magicians work with three types of energy:
nhưng ở đây phải ghi nhớ rằng mọi nhà huyền thuật đều làm việc với ba loại năng lượng:
110. A white magician can do many things. DK does not want us to narrow our vision of the possibilities.
110. Một nhà huyền thuật chánh đạo có thể làm được nhiều điều. Chân sư DK không muốn chúng ta thu hẹp tầm nhìn về các khả năng.
a. That which is the same as their own Ray,
a. Loại giống với cung riêng của họ,
111. Shall we consider this “Ray” the egoic ray, the monadic ray or both (used at different points in the unfoldment of the magician)?
111. Chúng ta có nên xem “Cung” này là cung chân ngã, cung chân thần hay cả hai (được dùng ở những điểm khác nhau trong sự khai mở của nhà huyền thuật) không?
112. The magician manipulates energy which correlates directly with his own ray. Depending upon his level of evolution, it will be either the soul ray or monadic ray.
112. Nhà huyền thuật thao tác năng lượng tương quan trực tiếp với cung riêng của y. Tùy theo cấp độ tiến hoá của y, đó sẽ là cung linh hồn hoặc cung chân thần.
b. That which is complementary to their own type of force,
b. Loại bổ sung cho kiểu mãnh lực riêng của họ,
113. Are we dealing here with the complementary color or with the color of a ray energy which is complementary to the original ray (which is the magician’s own ray)? They are two different things.
113. Ở đây chúng ta đang bàn đến màu bổ sung hay màu của một năng lượng cung bổ sung cho cung nguyên thủy (là cung riêng của nhà huyền thuật)? Đó là hai điều khác nhau.
c. Their polar opposite,
c. Cực đối lập của họ,
114. The color of the polar opposite of a given ray, may be a represented by the complementary color to the color of the ray of the magician. But it also possible to think simply of an energy which is the polar opposite of the major ray energy of the magician.
114. Màu của cực đối lập của một cung nhất định có thể được biểu thị bằng màu bổ sung đối với màu của cung của nhà huyền thuật. Nhưng cũng có thể đơn giản nghĩ đến một năng lượng là cực đối lập của năng lượng cung chính của nhà huyền thuật.
115. Complementary rays and complementary colors have to be differentiated.
115. Các cung bổ sung và các màu sắc bổ sung phải được phân biệt.
and they work, therefore, either along the line of least resistance, or through attraction, and repulsion.
và vì thế họ làm việc hoặc theo con đường ít trở ngại nhất, hoặc thông qua hấp dẫn và đẩy lùi.
116. VSK suggests: This would be correlated then to:
116. VSK gợi ý: Khi ấy điều này sẽ tương quan với:
a. One’s own ray is the line of least resistance
a. Cung riêng của một người là con đường ít trở ngại nhất
b. The complementary ray is that which is attractive
b. Cung bổ sung là điều có tính hấp dẫn
c. And the polar opposite is that which is repulsed
c. Và cực đối lập là điều bị đẩy lùi
117. VSK suggests: There may be an example as follows:
117. VSK gợi ý: Có thể có một ví dụ như sau:
a. The blue ray works with the blue ray, there is no resistance, no difference.
a. Cung xanh lam làm việc với cung xanh lam, không có kháng lực, không có khác biệt.
b. The blue ray works with its complement (which is not the opposite, but harmonious). MDR suggests that if we consider that the rays four and six are harmonious or complementary to ray two, then the worker on the blue ray can also work with the colors representing rays four and six. Blue is a color correlated to both rays six and two. Yellow, while not the complementary color (of blue) strictly speaking, is the color of a ray complementary to the blue ray. From the angle of harmony, the colors blue and yellow work well together.
b. Cung xanh lam làm việc với phần bổ sung của nó (không phải đối lập, mà là hài hòa). MDR gợi ý rằng nếu chúng ta xem cung bốn và cung sáu là hài hòa hay bổ sung cho cung hai, thì người hoạt động trên cung xanh lam cũng có thể làm việc với các màu sắc biểu thị cung bốn và cung sáu. Xanh lam là một màu tương quan với cả cung sáu lẫn cung hai. Vàng, tuy không phải là màu bổ sung (của xanh lam) theo nghĩa chặt chẽ, lại là màu của một cung bổ sung cho cung xanh lam. Từ góc độ hòa điệu, các màu xanh lam và vàng phối hợp tốt với nhau.
c. VSK suggests: The polar opposite of the blue ray, the second ray, may well be considered to be the first ray, or red. While blue and red are not opposites exoterically, esoterically we may well consider them as such—at least in the context of this discussion.
c. VSK gợi ý: Cực đối lập của cung xanh lam, tức cung hai, rất có thể được xem là cung một, hay màu đỏ. Dù xanh lam và đỏ không đối lập theo nghĩa ngoại môn, nhưng về mặt huyền bí chúng ta hoàn toàn có thể xem chúng như vậy—ít nhất là trong ngữ cảnh của cuộc bàn luận này.
It is through the medium of this "all-seeing eye" that the Adept can at any moment put Himself in touch with His disciples anywhere;
Chính thông qua trung gian của “con mắt thấy tất cả” này mà chân sư có thể vào bất cứ lúc nào đặt Chính Ngài vào sự tiếp xúc với các đệ tử của Ngài ở bất cứ nơi đâu;
118. We see that well after the causal body has been destroyed, Adept has the use of the “all-seeing-eye”.
118. Chúng ta thấy rằng rất lâu sau khi thể nguyên nhân đã bị hủy diệt, chân sư vẫn sử dụng “con mắt thấy tất cả”.
119. There are a number of "All-Seeing Eyes". The Tibetan is speaking of the “all-seeing-eye” which works within the etheric head of the magician (even if, later, that head is part of a mayavirupa).
119. Có một số “Con Mắt Thấy Tất Cả”. Chân sư Tây Tạng đang nói về “con mắt thấy tất cả” hoạt động bên trong đầu dĩ thái của nhà huyền thuật (dù về sau cái đầu ấy là một phần của mayavirupa).
120. If we wish to know how it is that the Master can contact His disciples, it is here explained. As disciples, we are always ‘under the Eye of the Master’, if and when He chooses to exercise this capacity.
120. Nếu chúng ta muốn biết bằng cách nào Chân sư có thể tiếp xúc với các đệ tử của Ngài, thì điều đó được giải thích ở đây. Là các đệ tử, chúng ta luôn ‘ở dưới Con Mắt của Chân sư’, nếu và khi Ngài chọn vận dụng năng lực này.
that He can communicate with His compeers on the planet, on the polar opposite of our planet, and on the third planet which, with ours, forms a triangle;
rằng Ngài có thể giao tiếp với các đồng đẳng của Ngài trên hành tinh, trên cực đối lập của hành tinh chúng ta, và trên hành tinh thứ ba, hành tinh cùng với hành tinh chúng ta tạo thành một tam giác;
121. Many are the capacities of the Master’s all-seeing-eye.
121. Nhiều thay là các năng lực của con mắt thấy tất cả của Chân sư.
122. He observes His disciples; He communicates with other Masters; He communicates with Masters on the polar opposite of our planet, presumably, Venus; He communicates with Masters presumably on Mars (considering Mars as the planet complementary to our planet but not its polar opposite).
122. Ngài quan sát các đệ tử của Ngài; Ngài giao tiếp với các Chân sư khác; Ngài giao tiếp với các Chân sư trên cực đối lập của hành tinh chúng ta, có lẽ là Sao Kim; Ngài giao tiếp với các Chân sư có lẽ trên Sao Hỏa (nếu xem Sao Hỏa là hành tinh bổ sung cho hành tinh chúng ta nhưng không phải cực đối lập của nó).
123. It is also likely that Mercury forms a triangle with Earth and Venus.
123. Cũng có khả năng Sao Thủy tạo thành một tam giác với Trái Đất và Sao Kim.
that He can, through the energy directed from it, control and direct the builders, and hold any thought form He may have created within His sphere of influence, and upon its intended path of service; and that through his eye by means of directed energy currents He can help and stimulate His disciples or groups of men in any place at any time.
rằng Ngài có thể, thông qua năng lượng được chỉ đạo từ đó, kiểm soát và chỉ đạo các đấng kiến tạo, và giữ bất kỳ hình tư tưởng nào mà Ngài có thể đã tạo ra trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài, và trên con đường phụng sự đã được định cho nó; và rằng thông qua con mắt của Ngài, bằng các dòng năng lượng được chỉ đạo, Ngài có thể giúp đỡ và kích thích các đệ tử của Ngài hoặc các nhóm người nam và nữ ở bất cứ nơi nào vào bất cứ lúc nào.
124. Let us continue tabulating the Master’s or Adept’s use of the third eye:
124. Chúng ta hãy tiếp tục lập bảng các cách sử dụng con mắt thứ ba của Chân sư hay chân sư:
a. From the third eye the Adept directs and controls the lesser builders.
a. Từ con mắt thứ ba, chân sư chỉ đạo và kiểm soát các vị tiểu kiến tạo.
b. The Adept holds any thoughtform He has created within His sphere of influence.
b. Chân sư giữ bất kỳ hình tư tưởng nào mà Ngài đã tạo ra trong phạm vi ảnh hưởng của Ngài.
c. The Adept sends that thoughtform upon its mission of service.
c. Chân sư gửi hình tư tưởng ấy lên sứ mệnh phụng sự của nó.
d. Through the third eye the Master or Adept stimulates His disciples or any groups of men He may wish to stimulate.
d. Thông qua con mắt thứ ba, Chân sư hay chân sư kích thích các đệ tử của Ngài hoặc bất kỳ nhóm người nam và nữ nào mà Ngài muốn kích thích.
125. Perhaps we can see how the use of the faculty of imagination can, in lesser way, allow the disciples to stimulate individuals and groups related to him.
125. Có lẽ chúng ta có thể thấy cách việc sử dụng năng lực sự tưởng tượng, theo một cách nhỏ hơn, có thể cho phép các đệ tử kích thích những cá nhân và nhóm có liên hệ với y.
126. Immediately below we deal with two lines of stimulation which stimulate the pineal gland. We have to take them very seriously as much of the success of this stimulation lies in our hands.
126. Ngay bên dưới, chúng ta bàn đến hai tuyến kích thích tác động lên tuyến tùng quả. Chúng ta phải xem chúng thật nghiêm túc vì phần lớn thành công của sự kích thích này nằm trong tay chúng ta.
The pineal gland is subject to two lines of stimulation: First, that which emanates from the Ego itself via the etheric force centres.
Tuyến tùng quả chịu hai tuyến kích thích: Thứ nhất, tuyến phát ra từ chính chân ngã thông qua các trung tâm mãnh lực dĩ thái.
127. This stimulation comes via the center at the top of the head and also via the special etheric center which we are naming the third eye.
127. Sự kích thích này đến qua trung tâm ở đỉnh đầu và cũng qua trung tâm dĩ thái đặc biệt mà chúng ta đang gọi là con mắt thứ ba.
128. It would seem that the centers in the head are especially involved in the stimulation of the pineal gland, yet other centers may also be involved.
128. Dường như các trung tâm trong đầu đặc biệt liên quan đến sự kích thích tuyến tùng quả, tuy nhiên các trung tâm khác cũng có thể liên quan.
This downflow of egoic energy (the result of the awakening of the centres through meditation and spirituality of life),
Dòng tuôn xuống của năng lượng chân ngã này (kết quả của sự thức tỉnh các trung tâm thông qua tham thiền và đời sống tinh thần),
129. The more the etheric centers are awakened through meditation and spirituality of life, the greater the stimulation which can reach the pineal gland via those centers and, of course, via the Ego.
129. Các trung tâm dĩ thái càng được thức tỉnh qua tham thiền và đời sống tinh thần bao nhiêu, thì sự kích thích có thể đến tuyến tùng quả qua các trung tâm ấy và dĩ nhiên qua chân ngã càng lớn bấy nhiêu.
130. DK also seems to be saying that the awakening of the centers evokes the downflow of egoic energy.
130. Chân sư DK dường như cũng đang nói rằng sự thức tỉnh các trung tâm gợi lên dòng tuôn xuống của năng lượng chân ngã.
impinges upon the gland and in the course of years gradually increases its secretion, enlarges its form, and starts it into a new cycle of activity.
tác động lên tuyến ấy và trong tiến trình nhiều năm dần dần làm tăng sự tiết dịch của nó, làm lớn hình thể của nó, và khởi động nó vào một chu kỳ hoạt động mới.
131. DK is informing us that it is precisely egoic energy which stimulates and activates the pineal gland and increases its secretions.
131. Chân sư DK đang cho chúng ta biết rằng chính năng lượng chân ngã kích thích và hoạt hóa tuyến tùng quả, đồng thời làm tăng các chất tiết của nó.
132. Thus, we may conclude, that without the proper kind of meditation, there will be no such stimulation of that gland. Here DK is dealing with the physiological effects of occult meditation.
132. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng nếu không có loại tham thiền thích hợp, sẽ không có sự kích thích như thế đối với tuyến ấy. Ở đây Chân sư DK đang bàn đến các tác động sinh lý của tham thiền huyền bí học.
133. The new cycle of activity of the pineal gland follows upon a long period of relative atrophy which began in Atlantean days.
133. Chu kỳ hoạt động mới của tuyến tùng quả tiếp theo sau một thời kỳ dài tương đối teo thoái đã bắt đầu từ thời Atlantis.
The second line of stimulation affecting the pineal gland is that which is the consequence of the discipline of the physical body, and its subjugation to the laws of spiritual unfoldment.
Đường kích thích thứ hai tác động lên tuyến tùng là điều phát sinh từ sự kỷ luật của thể xác, và sự quy phục của nó trước các định luật của sự khai mở tinh thần.
134. The disciple-magician must not only work ‘from above’ but ‘from below’.
134. Đệ tử-nhà huyền thuật không chỉ phải hoạt động “từ trên xuống” mà còn “từ dưới lên”.
135. Not only occult meditation but physical discipline is required. What we do with the energies of our physical-etheric body are thus crucial to the development of the third eye.
135. Không chỉ cần tham thiền huyền bí học mà còn cần cả kỷ luật hồng trần. Điều chúng ta làm với các năng lượng của thể hồng trần-dĩ thái của mình vì thế có tính quyết định đối với sự phát triển của con mắt thứ ba.
As the disciple lives a regulated life,
Khi đệ tử sống một đời sống điều độ,
136. Presumably coming under the influence or the star “Regulus”…
136. Có lẽ đang chịu ảnh hưởng của ngôi sao “Regulus”…
avoids meat, nicotine and alcohol, and practises continence, the pineal gland becomes no longer atrophied, but resumes its earlier activity.
tránh thịt, nicotine và rượu, và thực hành tiết dục, thì tuyến tùng không còn bị teo nữa, mà phục hồi hoạt động trước kia của nó.
137. There are many arguments for and against vegetarianism, for and against continence for and against the consumption of alcoholic beverages. (The drinking of wine is a well-established part of the Christian tradition, for instance.) Its ceremonial use is found in other religions as well.
137. Có nhiều lập luận ủng hộ và phản đối việc ăn chay, ủng hộ và phản đối sự tiết dục, ủng hộ và phản đối việc dùng đồ uống có cồn. (Chẳng hạn, việc uống rượu vang là một phần đã được xác lập vững chắc trong truyền thống Cơ Đốc giáo.) Việc sử dụng có tính nghi lễ của nó cũng được thấy trong các tôn giáo khác.
138. Some even think that smoking offers no obstacle to the unfoldment of the higher spiritual powers. This little paragraph, however, says something quite different in no uncertain terms.
138. Một số người thậm chí còn nghĩ rằng hút thuốc không tạo ra chướng ngại nào cho sự khai mở các quyền năng tinh thần cao hơn. Tuy nhiên, đoạn ngắn này lại nói một điều hoàn toàn khác, bằng những lời lẽ hết sức dứt khoát.
More cannot here be given but enough has been indicated to give the student food for thought.
Ở đây không thể nói thêm nữa, nhưng đã chỉ ra đủ để cho đạo sinh nhiều điều đáng suy ngẫm.
139. Indeed the question of developing the pineal gland concerns food and its consumption to no small extent.
139. Thật vậy, vấn đề phát triển tuyến tùng liên quan đến thực phẩm và việc tiêu thụ thực phẩm ở một mức độ không nhỏ.
140. Hour by hour, day by day, practices are followed which either develop the pineal gland or contribute to its abiding atrophy. It is well to have these processes well in mind as we live our normal life. Fewer mistakes (with retarding consequences) will be made.
140. Từng giờ, từng ngày, người ta theo đuổi những thực hành hoặc phát triển tuyến tùng hoặc góp phần vào tình trạng teo tóp kéo dài của nó. Thật tốt khi ghi nhớ rõ những tiến trình này trong tâm trí khi chúng ta sống đời sống bình thường của mình. Khi ấy sẽ phạm ít sai lầm hơn (với những hậu quả làm chậm trễ).
In meditation, by the sounding of the word,
Trong tham thiền, bằng việc xướng linh từ,
141. In this case, the Sacred Word.
141. Trong trường hợp này, là Linh từ Thiêng Liêng.
the student awakens response in the major head centre,
đạo sinh đánh thức sự đáp ứng trong trung tâm đầu chính yếu,
142. The thousand-petalled lotus…
142. Hoa sen ngàn cánh…
causes reciprocal vibration between it and the physical head centre,
gây ra rung động hỗ tương giữa nó và trung tâm đầu hồng trần,
143. In this context the pineal gland.
143. Trong ngữ cảnh này là tuyến tùng.
and gradually co-ordinates the forces in the head.
và dần dần phốihợp các mãnh lực trong đầu.
144. These will be all forces—etheric and physical.
144. Đó sẽ là tất cả các mãnh lực—dĩ thái và hồng trần.
145. Let us register the importance of the sounding of the Sacred Word in the development of the pineal gland.
145. Hãy ghi nhận tầm quan trọng của việc xướng Linh từ Thiêng Liêng trong sự phát triển của tuyến tùng.
Through the practice of the power of visualisation, the third eye is developed.
Thông qua việc thực hành năng lực sự hình dung, con mắt thứ ba được phát triển.
146. Here is one of the most practical pieces of advice.
146. Đây là một trong những lời khuyên thực tiễn nhất.
147. Through occult meditation (promoting contact with the Ego on its own plane) and visualization, the pineal gland is lifted from its state of atrophy.
147. Thông qua tham thiền huyền bí học (thúc đẩy sự tiếp xúc với chân ngã trên cõi riêng của nó) và sự hình dung, tuyến tùng được nâng lên khỏi trạng thái teo tóp của nó.
The forms visualised, and the ideas and abstractions which are, in the process, mentally clothed and vehicled, are pictured a few inches from the third eye.
Các hình tướng được hình dung, và các ý tưởng cùng các trừu tượng vốn, trong tiến trình ấy, được khoác lấy hình thức trí tuệ và được mang chuyên chở, được hình dung cách con mắt thứ ba vài inch.
148. Knowledge of this position is of real value to the meditator who is intent on results.
148. Sự hiểu biết về vị trí này có giá trị thực sự đối với người hành thiền đang nhắm đến kết quả.
149. The third eye, we realize, is rather recessed within the head. This point of visualization is place forward from the third eye’s actual location, surrounding the pineal gland, more towards the front of the head.
149. Chúng ta nhận ra rằng con mắt thứ ba nằm khá sâu bên trong đầu. Điểm hình dung này được đặt về phía trước vị trí thực sự của con mắt thứ ba, bao quanh tuyến tùng, hướng nhiều hơn về phía trước đầu.
It is the knowledge of this which causes the Eastern yogi to speak of "concentration upon the tip of the nose." Behind this misleading phrase a great truth is veiled.
Chính sự hiểu biết điều này khiến yogi phương Đông nói về “sự tập trung vào chóp mũi”. Đằng sau cụm từ gây hiểu lầm này có che giấu một chân lý lớn lao.
150. We see how occult blinds work and how difficult they are to penetrate. Their true meaning is so obvious—once explained!
150. Chúng ta thấy các bức màn che huyền bí học vận hành như thế nào và việc xuyên thủng chúng khó khăn ra sao. Ý nghĩa thật của chúng trở nên quá hiển nhiên—một khi đã được giải thích!
In proceeding with the "Rules for Magic," we will take up those concerned with the second set, which deal with the form-building impulses, and those attractive tendencies which are the basis of physical plane manifestation.
Khi tiếp tục với “Các Quy Luật về Huyền Thuật”, chúng ta sẽ xét đến những quy luật thuộc bộ thứ hai, bàn đến những xung lực kiến tạo hình tướng, và những khuynh hướng hấp dẫn vốn là nền tảng của sự biểu hiện trên cõi hồng trần.
151. DK is informing us that the attractive tendencies of the astral body are the basis of physical plane manifestation. Desire is a great materializing force. When desires are strong enough, physical forms necessarily arise.
151. Chân sư DK cho chúng ta biết rằng các khuynh hướng hấp dẫn của thể cảm dục là nền tảng của sự biểu hiện trên cõi hồng trần. Dục vọng là một mãnh lực hiện hình lớn lao. Khi các dục vọng đủ mạnh, các hình tướng hồng trần tất yếu phát sinh.
152. Upon the astral plane, as well, powerful form-building impulses originate. Imagination serves desire as one ‘out-pictures’ the objects of desire.
152. Trên cõi cảm dục cũng vậy, những xung lực kiến tạo hình tướng mạnh mẽ phát sinh. Sự tưởng tượng phục vụ dục vọng khi người ta “vẽ ra bên ngoài” các đối tượng của dục vọng.
We have considered certain rules which deal with the work of the solar Angel, who (in all true magical work of any kind), is the active agent.
Chúng ta đã xét đến một số quy luật bàn đến công việc của Thái dương Thiên Thần, Đấng mà (trong mọi công việc huyền thuật chân chính thuộc bất kỳ loại nào), là tác nhân hoạt động.
153. This must never be forgotten. White magic does not originate within the human personality or with the magician in the lower three worlds. The magician and his personality are only the conduit through which it can be brought into expression.
153. Điều này không bao giờ được quên. Chánh Thuật không khởi nguồn trong phàm ngã con người hay nơi nhà huyền thuật trong ba cõi thấp. Nhà huyền thuật và phàm ngã của y chỉ là ống dẫn qua đó nó có thể được đưa vào biểu hiện.
We have [Page 1013] considered the rules whereby He constructs a thought form upon the mental plane, or that germ body which will (through accretion and vibratory sound), take to itself other forms.
Chúng ta đã [Page 1013] xét đến các quy luật nhờ đó Ngài kiến tạo một Hình tư tưởng trên cõi trí, hay thể mầm đó, thể sẽ (thông qua sự bồi đắp và âm thanh rung động) thu hút về cho chính nó những hình tướng khác.
154. Notice from the capitalization of the word, “He”, we are speaking of the Solar Angel as the true Magician.
154. Hãy lưu ý từ việc viết hoa chữ “Ngài” rằng chúng ta đang nói về Thái dương Thiên Thần như Nhà Huyền Thuật đích thực.
155. The process of actual construction begins upon the lower mental plane even though the impulse to construct originates from the higher mental plane.
155. Tiến trình kiến tạo thực sự bắt đầu trên cõi hạ trí mặc dù xung lực kiến tạo bắt nguồn từ Cõi thượng trí.
156. The thoughtform which must grow and eventually precipitate may, when it is on the lower mental plane, be considered a “germ body”.
156. Hình tư tưởng phải tăng trưởng và cuối cùng ngưng tụ có thể, khi ở trên cõi hạ trí, được xem như một “thể mầm”.
157. The thoughtform gathers matter to itself (mental, astral, etheric and eventually dense physical matter).
157. Hình tư tưởng thu hút vật chất về cho chính nó (vật chất trí tuệ, cảm dục, dĩ thái và cuối cùng là vật chất hồng trần đậm đặc).
158. But it also grows and is enhanced by the application of vibratory sound. When we seek to augment the efficacy of any thoughtform we may create, we must understand the role which applied vibration plays in this process.
158. Nhưng nó cũng tăng trưởng và được tăng cường nhờ việc áp dụng âm thanh rung động. Khi chúng ta tìm cách gia tăng hiệu lực của bất kỳ hình tư tưởng nào mình có thể tạo ra, chúng ta phải hiểu vai trò mà rung động được áp dụng giữ trong tiến trình này.