← Commentary_S8_925_1078_song ngữ

S8S7 Part I

Trích nội dung chương

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR) (Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)


S8S7 Part I

TCF 1014-1021

TCF 1013-1021

(Most of the Tibetan’s text is put in font 16, to provide better legibility when projected during classes. Footnotes and references from other AAB Books and from other pages of TCF are put in font 14. Commentary appears in font 12. Underlining, Bolding and Highlighting by MDR)

(Phần lớn văn bản của Chân sư Tây Tạng được trình bày bằng cỡ chữ 16, để dễ đọc hơn khi chiếu trong các lớp học. Chú thích cuối trang và các tham chiếu từ những sách khác của AAB và từ các trang khác của TCF được trình bày bằng cỡ chữ 14. Phần bình luận xuất hiện bằng cỡ chữ 12. Gạch dưới, in đậm và tô sáng do MDR thực hiện)

It is suggested that this Commentary be read with the TCF book handy, for the sake of continuity. As analysis of the text is pursued, many paragraphs are divided, and the compact presentation in the book, itself, will convey the overall meaning of the paragraph. So please read an entire paragraph and then study the Commentary

Có đề nghị rằng phần Bình Luận này nên được đọc với quyển TCF ở bên cạnh, để giữ tính liên tục. Khi việc phân tích văn bản được tiếp tục, nhiều đoạn được chia nhỏ, và cách trình bày cô đọng trong chính quyển sách sẽ truyền đạt ý nghĩa tổng quát của đoạn văn. Vì vậy xin hãy đọc trọn một đoạn rồi sau đó nghiên cứu phần Bình Luận

RULE VII. The dual forces on the plane whereon the vital power must be sought, are seen; the two paths face the Solar Angel; the poles vibrate. A choice confronts the one who meditates.

QUY LUẬT VII. Các mãnh lực kép của cõi mà trên đó quyền năng thiết yếu phải được tìm kiếm được nhìn thấy; hai con đường đối diện với Thái Dương Thiên Thần; các cực rung động. Một sự lựa chọn đối mặt với người đang tham thiền.

1. Here we have two figures at work—the Solar Angel and the “one who meditates”.

1. Ở đây chúng ta có hai nhân vật đang hoạt động—Thái dương Thiên Thần và “người hành thiền”.

2. Two paths face the Solar Angel. Choice confronts the one who meditates.

2. Hai con đường đối diện với Thái dương Thiên Thần. Sự lựa chọn đối diện người hành thiền.

3. It would seem that the Solar Angel, facing the two paths (right and left) will always choose the “right”.

3. Dường như Thái dương Thiên Thần, khi đối diện hai con đường (chánh đạo và tả đạo), sẽ luôn chọn con đường “đúng”.

4. The “one who meditates” (i.e., the human soul or disciple) is far less illumined and must wisely deliberate so he chooses aright.

4. “Người hành thiền” (tức linh hồn con người hay đệ tử) được soi sáng ít hơn nhiều và phải cân nhắc một cách khôn ngoan để y chọn đúng.

5. Probably no plane is more dualistic that the astral plane.

5. Có lẽ không cõi nào mang tính nhị nguyên hơn cõi cảm dục.

6. The following is an important excerpt from TWM on the “dual forces”. It is required that we have a clear idea of the meaning of the pairs of opposites. Speaking of the astral plane, DK says:

6. Sau đây là một trích đoạn quan trọng từ Luận về Chánh Thuật về “các mãnh lực kép”. Chúng ta cần phải có một ý niệm rõ ràng về ý nghĩa của các cặp đối cực. Nói về cõi cảm dục, Chân sư DK viết:

It is first of all the plane of dual forces. The first thing the aspirant becomes aware of is duality. The little evolved man is aware of synthesis, but it is the synthesis of his material nature. The highly spiritual man is aware also of synthesis but it is that in his soul, whose consciousness is that of unity. But in between is the wretched aspirant, conscious of duality above all else and pulled hither and thither between the two. His first step has, for its objective, to make him aware of the pairs of opposites and of the necessity to choose between them. Through the light, which he has discovered in himself, he becomes aware of the dark. Through the good which attracts him, he sees the evil which is for him the line of least resistance. Through the activity of pain, he can visualize and become aware of pleasure, and heaven and hell become to him realities. Through the activity of the attractive life of his soul, he realizes the attraction of matter and of form, and is forced to recognize the urge and pull of both of them. He learns to feel himself as "pendant 'twixt the two great forces", and, once the dualities are grasped, it dawns on him slowly and surely that the deciding factor in the struggle is his divine will, in contradistinction to his selfish will. [Page 229] Thus the dual forces play their part until they are seen as two great streams of divine energy, pulling in opposite directions, and he becomes then aware of the two paths, mentioned in our rule. One path leads back into the dreary land of rebirth, and the other leads through the golden gate to the city of free souls. One is therefore involutionary and involves him in deepest matter; the other leads him out of the body nature, and makes him eventually aware of his spiritual body, through which he can function in the kingdom of the soul. One path, later on (when he is a true and pledged chela) is known to him as the left hand path and the other the path of right activity. On one path, he becomes proficient in black magic, which is only the developed powers of the personality, subordinated to the selfish purposes of a man whose motives are those of self interest and worldly ambition. These confine him to the three worlds and shut the door which opens on to life. On the other path, he subordinates his personality and exercises the magic of the White Brotherhood, working always in the light of the soul with the soul in all forms, and laying no emphasis upon the ambitions of the personal self. Clear discrimination of these two paths reveals what is called in some occult books that "narrow razor-edged Path" which lies between the two. This is the "noble middle Path" of the Buddha and marks the fine line of demarcation between the pairs of opposites, and between the two streams which he has learnt to recognize—one going up unto the gates of heaven, and the other passing down into the nethermost hell. (TWM 228-229)

Trước hết, đó là cõi của các mãnh lực kép. Điều đầu tiên mà người chí nguyện nhận biết là nhị nguyên tính. Con người ít tiến hóa nhận biết sự tổng hợp, nhưng đó là sự tổng hợp của bản chất vật chất của y. Con người có tinh thần cao cũng nhận biết sự tổng hợp, nhưng đó là sự tổng hợp trong linh hồn của y, mà tâm thức của linh hồn là tâm thức hợp nhất. Nhưng ở giữa là người chí nguyện khốn khổ, trên hết là hữu thức về nhị nguyên tính và bị kéo qua kéo lại giữa hai bên. Bước đầu tiên của y có mục tiêu là làm cho y nhận biết các cặp đối cực và sự cần thiết phải chọn lựa giữa chúng. Nhờ ánh sáng mà y đã khám phá trong chính mình, y nhận biết bóng tối. Nhờ điều thiện thu hút y, y thấy điều ác vốn đối với y là con đường ít trở ngại nhất. Nhờ hoạt động của đau khổ, y có thể hình dung và nhận biết khoái lạc, và thiên đường cùng địa ngục trở thành những thực tại đối với y. Nhờ hoạt động của sự sống hấp dẫn của linh hồn mình, y nhận ra sức hấp dẫn của vật chất và của hình tướng, và bị buộc phải thừa nhận sự thôi thúc và sức kéo của cả hai. Y học cách cảm thấy mình như “lơ lửng giữa hai mãnh lực lớn”, và một khi các nhị nguyên tính đã được nắm bắt, thì dần dần và chắc chắn y bừng hiểu rằng yếu tố quyết định trong cuộc đấu tranh là ý chí thiêng liêng của y, đối lập với ý chí ích kỷ của y. [Page 229] Như thế các mãnh lực kép đóng vai trò của chúng cho đến khi chúng được thấy như hai dòng năng lượng thiêng liêng lớn, kéo theo hai hướng đối nghịch, và khi ấy y nhận biết hai con đường được nhắc đến trong quy luật của chúng ta. Một con đường dẫn trở lại miền đất tái sinh ảm đạm, và con đường kia dẫn qua cánh cổng vàng đến thành phố của những linh hồn tự do. Vì vậy một con đường là giáng hạ tiến hoá và cuốn y vào vật chất sâu đậm nhất; con đường kia dẫn y ra khỏi bản chất thể xác, và cuối cùng làm cho y nhận biết thể tinh thần của mình, qua đó y có thể hoạt động trong giới của linh hồn. Về sau, một con đường (khi y là một đệ tử chân chính và đã phát nguyện) được y biết là tả đạo và con đường kia là con đường của hoạt động đúng đắn. Trên một con đường, y trở nên thành thạo trong Hắc thuật, vốn chỉ là những quyền năng đã phát triển của phàm ngã, bị đặt dưới các mục đích ích kỷ của một con người có động cơ là tư lợi và tham vọng thế gian. Những điều này giam hãm y trong ba cõi giới và đóng cánh cửa mở vào sự sống. Trên con đường kia, y quy phục phàm ngã của mình và thực hành huyền thuật của Huynh đệ Đoàn Chánh đạo, luôn hoạt động trong ánh sáng của linh hồn với linh hồn trong mọi hình tướng, và không nhấn mạnh đến các tham vọng của phàm ngã cá nhân. Sự phân biện rõ ràng giữa hai con đường này làm lộ ra điều được gọi trong một số sách huyền bí học là “Con Đường hẹp sắc như lưỡi dao cạo” nằm giữa hai con đường ấy. Đây là “Con Đường trung đạo cao quý” của Đức Phật và đánh dấu ranh giới tinh tế giữa các cặp đối cực, và giữa hai dòng mà y đã học cách nhận ra—một dòng đi lên đến các cổng trời, và dòng kia đi xuống địa ngục sâu thẳm nhất. (TWM 228-229)

7. We understand how the power of choice under Libra must be applied to this plane to achieve the necessary balance. We must learn to decide using the spiritual will which is a reflection of the Divine Will.

7. Chúng ta hiểu quyền năng của sự lựa chọn dưới Libra phải được áp dụng vào cõi này như thế nào để đạt được sự quân bình cần thiết. Chúng ta phải học cách quyết định bằng ý chí tinh thần, vốn là sự phản chiếu của Ý Chí thiêng liêng.

8. The “vital power” that power which will further vitalize the thoughtform in process of construction and will render it sufficiently vital to descend onto the next plane—the etheric plane while remaining viable.

8. “Quyền năng thiết yếu” là quyền năng sẽ tiếp tục tiếp sinh lực cho hình tư tưởng đang trong tiến trình kiến tạo và sẽ làm cho nó đủ sinh động để đi xuống cõi kế tiếp—cõi dĩ thái—trong khi vẫn còn khả dụng.

9. A much fuller elaboration would be possible by consulting A Treatise on White Magic where these ideas are quite thoroughly explored.

9. Có thể khai triển đầy đủ hơn nhiều bằng cách tham khảo Luận về Chánh Thuật, nơi những ý tưởng này được khảo sát khá thấu đáo.

Upon the astral plane the thought form must now function, and a body must be provided so as to make this possible.

Trên cõi cảm dục, hình tư tưởng giờ đây phải hoạt động, và phải được cung cấp một thể để làm cho điều này trở nên khả hữu.

10. We notice that we still call the descending form a ‘thoughtform’ even though its sphere of functioning has now become the astral plane.

10. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta vẫn gọi hình tướng đang đi xuống là một “hình tư tưởng” mặc dù khối cầu hoạt động của nó giờ đây đã trở thành cõi cảm dục.

11. We note that we retain the idea of thought as the form descends to the dense physical plane. Every form on the physical plane is known occultly as a ‘thoughtform’.

11. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta vẫn giữ ý niệm về tư tưởng khi hình tướng đi xuống cõi hồng trần đậm đặc. Mọi hình tướng trên cõi hồng trần đều được biết một cách huyền bí như một “hình tư tưởng”.

The energy of desire enters it,

Năng lượng của dục vọng đi vào nó,

12. We note that the thoughtform can be penetrated by the energy of desire from the astral plane.

12. Chúng ta lưu ý rằng hình tư tưởng có thể được năng lượng dục vọng từ cõi cảm dục thâm nhập.

13. All the planes, as we know, are interpenetrating and can thus occupy the same ‘space’.

13. Như chúng ta biết, tất cả các cõi đều xuyên thấm lẫn nhau và do đó có thể cùng chiếm một “không gian”.

and "he who meditates" has to energise the form with one of two types of force before it passes into objectivity.

và “người hành thiền” phải tiếp năng lượng cho hình tướng bằng một trong hai loại mãnh lực trước khi nó đi vào tính khách quan.

14. The two types of force are found upon the astral plane—the “dual” forces.

14. Hai loại mãnh lực này được tìm thấy trên cõi cảm dục—các mãnh lực “kép”.

15. One type of force operates under the influence of the personality; the other operates under the influence of the soul. One type of force leads into the world of form and the other into the worlds of soul and Spirit.

15. Một loại mãnh lực hoạt động dưới ảnh hưởng của phàm ngã; loại kia hoạt động dưới ảnh hưởng của linh hồn. Một loại mãnh lực dẫn vào thế giới hình tướng và loại kia dẫn vào các thế giới của linh hồn và tinh thần.

16. We see that the human being, the disciple, the soul-in-incarnation has the responsibility of energizing the thoughtform in a certain manner—according to the choice which has been made.

16. Chúng ta thấy rằng con người, đệ tử, linh hồn đang nhập thể có trách nhiệm tiếp năng lượng cho hình tư tưởng theo một cách nhất định—phù hợp với sự lựa chọn đã được thực hiện.

Upon the action taken depends the construction of the etheric body,

Tùy theo hành động được thực hiện mà việc kiến tạo thể dĩ thái,

17. In this instance, the etheric body of the thoughtform, if the human magician is the one who constructs.

17. Trong trường hợp này là thể dĩ thái của hình tư tưởng, nếu nhà huyền thuật con người là người kiến tạo.

18. Whatever DK says of thoughtform construction can be applied to the creation of that thoughtform we call the incarnated human being.

18. Bất cứ điều gì Chân sư DK nói về việc kiến tạo hình tư tưởng đều có thể được áp dụng vào sự sáng tạo hình tư tưởng mà chúng ta gọi là con người đang lâm phàm.

and the consequent physical manifestation.

và sự biểu hiện hồng trần kéo theo sau đó.

19. Choice upon the astral plane lies behind the type of physical manifestation which will result.

19. Sự lựa chọn trên cõi cảm dục nằm phía sau loại biểu hiện hồng trần sẽ phát sinh.

20. However the etheric body of a thoughtform or of a man is constructed, so will be the resultant dense physical manifestation.

20. Dù thể dĩ thái của một hình tư tưởng hay của một con người được kiến tạo như thế nào, thì biểu hiện hồng trần đậm đặc phát sinh cũng sẽ như thế ấy.

This point is but little realised by the average thinker, but the parallel with his own life experience is exact, as is the correspondence with the cosmic process.

Điểm này ít được nhà tư tưởng trung bình chứng nghiệm, nhưng sự song hành với kinh nghiệm sống của chính y là hoàn toàn chính xác, cũng như sự tương ứng với tiến trình vũ trụ.

21. As always, DK takes us into the realm of analogy, paralleling the microcosmic process with that of the macrocosm.

21. Như thường lệ, Chân sư DK đưa chúng ta vào lĩnh vực của định luật tương đồng, đặt tiến trình tiểu thiên địa song hành với tiến trình của đại thiên địa.

22. Whenever we are faced with choice, we are faced with responsibility.

22. Bất cứ khi nào chúng ta đối diện với sự lựa chọn, chúng ta đối diện với trách nhiệm.

23. We are also faced with the type of will which we shall employ.

23. Chúng ta cũng đối diện với loại ý chí mà chúng ta sẽ sử dụng.

The "nature of the deva" (as it is called), enters in, and upon the quality of its love nature, and the specific type of that which is the object of love will depend the nature of the thought form.

“bản chất của thiên thần” (như cách gọi của nó) đi vào, và tùy theo phẩm tính của bản chất bác ái của nó, và loại đặc thù của điều là đối tượng của tình thương mà bản chất của hình tư tưởng sẽ tùy thuộc vào đó.

24. We are here offered a very occult piece of information. The “nature of the deva”, its quality, will determine the destiny of the thoughtform when that thoughtform precipitates finally upon the physical plane.

24. Ở đây chúng ta được trao cho một mẩu thông tin rất huyền bí học. “Bản chất của thiên thần”, phẩm tính của nó, sẽ quyết định số phận của hình tư tưởng khi hình tư tưởng ấy cuối cùng ngưng tụ trên cõi hồng trần.

25. When we speak above of the “love nature” of the deva we are speaking very much of the quality of desire which it evidences.

25. Khi ở trên chúng ta nói về “bản chất bác ái” của thiên thần, chúng ta đang nói rất nhiều đến phẩm tính của dục vọng mà nó biểu lộ.

26. It also seems clear that the nature of the thoughtform itself will be influential in attracting a deva of a certain quality.

26. Dường như cũng rõ ràng rằng bản chất của chính hình tư tưởng sẽ có ảnh hưởng trong việc thu hút một thiên thần có một phẩm tính nhất định.

If the deva, or solar Angel, is as yet in love with manifestation, and has a desire for objective existence, thus identifying himself voluntarily with substance, there ensues the phenomenon of reincarnated physical life.

Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, vẫn còn yêu thích sự biểu hiện, và có dục vọng đối với sự tồn tại khách quan, do đó tự nguyện đồng hoá với chất liệu, thì hiện tượng đời sống hồng trần tái sinh sẽ xảy ra.

27. Here we have a fascinating idea concerning the desire nature of the astral deva who is to ensoul a thoughtform. And yet, we can hardly consider such a deva as a ‘solar Angel”

27. Ở đây chúng ta có một ý tưởng hấp dẫn liên quan đến bản chất dục vọng của thiên thần cảm dục sẽ phú linh cho một hình tư tưởng. Tuy nhiên, chúng ta khó có thể xem một thiên thần như thế là một “Thái dương Thiên Thần”

28. Has Master DK now changed the focus and is He speaking of the general quality of the Ego of the magician?

28. Phải chăng giờ đây Chân sư DK đã thay đổi trọng tâm và Ngài đang nói về phẩm tính tổng quát của chân ngã của nhà huyền thuật?

29. This section of text is perplexing in as much as the very presence of a Solar Angel associated with a man assures the phenomenon of “reincarnated physical life”. This is so whether there have been few incarnations or many.

29. Phần văn bản này gây bối rối ở chỗ sự hiện diện của một Thái dương Thiên Thần gắn liền với một con người bảo đảm hiện tượng “đời sống hồng trần tái sinh”. Điều này đúng dù đã có ít hay nhiều lần lâm phàm.

30. A Solar Angel who was no longer in love with manifestation would, it seems, be a ‘liberated’ Solar Angel (i.e., one who had been released from its supervisory duties over an evolving human being).

30. Dường như một Thái dương Thiên Thần không còn yêu thích sự biểu hiện nữa sẽ là một Thái dương Thiên Thần “được giải thoát” (tức một vị đã được giải phóng khỏi các nhiệm vụ giám hộ đối với một con người đang tiến hoá).

31. So, strangely, it seems, we are now speaking of a very high type of deva, when originally we were speaking the effect upon a descending thoughtform of an astral deva.

31. Vì vậy, thật lạ lùng, dường như giờ đây chúng ta đang nói về một loại thiên thần rất cao, trong khi ban đầu chúng ta đang nói về ảnh hưởng lên một hình tư tưởng đang đi xuống của một thiên thần cảm dục.

32. Using his analogical mode of thought, DK often switches contexts without informing us.

32. Sử dụng lối tư duy tương đồng của mình, Chân sư DK thường chuyển ngữ cảnh mà không báo cho chúng ta.

33. Solar Angels, we understand, are not astral devas, so their mention in this context will require close interpretive analysis.

33. Như chúng ta hiểu, các Thái dương Thiên Thần không phải là các thiên thần cảm dục, nên việc nhắc đến các vị ấy trong ngữ cảnh này sẽ đòi hỏi sự phân tích diễn giải chặt chẽ.

34. Of course, if the Solar Angel is, in a certain sense, the Ego and if the true Ego is the spiritual triad, then, once the man has absorbed that which the Solar Angel came to give, it might be possible to consider the spiritual triad as the Solar Angel or as the substitute for the qualities of the Solar Angel.

34. Dĩ nhiên, nếu Thái dương Thiên Thần, theo một nghĩa nào đó, là chân ngã và nếu chân ngã đích thực là Tam Nguyên Tinh Thần, thì một khi con người đã hấp thu điều mà Thái dương Thiên Thần đến để ban cho, có lẽ có thể xem Tam Nguyên Tinh Thần như Thái dương Thiên Thần hoặc như sự thay thế cho các phẩm tính của Thái dương Thiên Thần.

35. It is certainly possible to be focused in the spiritual triad (as are the Great Ones) and have no attraction towards physical incarnation. For such a being there need not recur the phenomenon of “reincarnated physical life”.

35. Chắc chắn có thể tập trung trong Tam Nguyên Tinh Thần (như Các Đấng Cao Cả) mà không có sức hút nào đối với sự lâm phàm hồng trần. Đối với một hữu thể như thế, hiện tượng “đời sống hồng trần tái sinh” không nhất thiết phải tái diễn.

If the deva, or solar Angel, is no longer attracted by matter, then there is no identification, and objective life is no longer the law of his existence.

Nếu thiên thần, hay Thái dương Thiên Thần, không còn bị vật chất thu hút nữa, thì không còn sự đồng hoá, và đời sống khách quan không còn là định luật của sự tồn tại của y nữa.

36. Here DK continues to speak of the Solar Angel and its general orientation to physical incarnation.

36. Ở đây Chân sư DK tiếp tục nói về Thái dương Thiên Thần và định hướng tổng quát của vị ấy đối với sự lâm phàm hồng trần.

37. The two processes—that of human physical incarnation and that of creating a manifested thoughtform—are often considered in a parallel manner. Perhaps he is speaking of both types of beings—both astral devas and Solar Angels.

37. Hai tiến trình—tiến trình lâm phàm hồng trần của con người và tiến trình tạo ra một hình tư tưởng biểu hiện—thường được xét theo cách song hành. Có lẽ ông đang nói về cả hai loại hữu thể—cả các thiên thần cảm dục lẫn các Thái dương Thiên Thần.

38. Perhaps the type of astral deva which is likely to ensoul a descending mental thoughtform depends very much on the basic orientation of the Solar Angel which informs the Ego on the higher mental plane.

38. Có lẽ loại thiên thần cảm dục có khả năng phú linh cho một hình tư tưởng trí tuệ đang đi xuống phụ thuộc rất nhiều vào định hướng căn bản của Thái dương Thiên Thần đang thấm nhuần chân ngã trên cõi thượng trí.

39. At a certain point in the process, the orientation of the Ego is not towards experience in physical incarnation but towards service within physical incarnation and for gradual extrication from incarnation.

39. Ở một điểm nào đó trong tiến trình, định hướng của chân ngã không hướng đến kinh nghiệm trong sự lâm phàm hồng trần mà hướng đến sự phụng sự trong khi lâm phàm hồng trần và hướng đến việc dần dần thoát khỏi sự lâm phàm.

40. This more spiritual orientation will affect the choice made by the “one who meditates”, for that one is really the ‘Ego-in-extension’.

40. Định hướng tinh thần hơn này sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn do “người hành thiền” thực hiện, vì người ấy thực sự là ‘chân ngã-trong-sự-mở-rộng’.

He identifies himself then with quality, or energy, and becomes an expression of the divine attributes.

Khi ấy y đồng hoá với phẩm tính, hay năng lượng, và trở thành một biểu hiện của các thuộc tính thiêng liêng.

41. DK seems to be speaking about the level of identification of man as the Ego.

41. Dường như Chân sư DK đang nói về cấp độ đồng hoá của con người như chân ngã.

42. We know that there must come a time when every human being does just as this sentence describes—“identifies himself…with quality, or energy, and becomes an expression of the divine attributes”. Obviously, a true white magician must do so.

42. Chúng ta biết rằng phải đến một lúc nào đó mọi con người đều làm đúng như câu này mô tả—“đồng hoá… với phẩm tính, hay năng lượng, và trở thành một biểu hiện của các thuộc tính thiêng liêng”. Hiển nhiên, một nhà huyền thuật chánh đạo đích thực phải làm như vậy.

43. One could think that an Ego (which the Solar Angel substands) always would do so, but obviously a man (considered as an Ego) is always evolving and has differing orientations towards physical manifestation depending upon his evolutionary progress.

43. Người ta có thể nghĩ rằng một chân ngã (mà Thái dương Thiên Thần nâng đỡ) luôn luôn sẽ làm như thế, nhưng hiển nhiên một con người (được xét như một chân ngã) luôn luôn đang tiến hoá và có những định hướng khác nhau đối với sự biểu hiện hồng trần tùy theo tiến bộ tiến hoá của mình.

44. Let us pause to realize:

44. Hãy dừng lại để nhận ra:

a. There is the Ego as higher man. We might call this ‘transpersonal human consciousness’.

a. Có chân ngã như con người cao hơn. Chúng ta có thể gọi đây là ‘tâm thức con người siêu cá nhân’.

b. There is the Ego as the instrument of the Solar Angel. An aspect of the consciousness of the Solar Angel infuses the egoic nature and guides it.

b. Có chân ngã như công cụ của Thái dương Thiên Thần. Một phương diện của tâm thức của Thái dương Thiên Thần thấm nhuần bản chất chân ngã và hướng dẫn nó.

c. The Ego, per se, is not omniscient. Consciousnesses within causal bodies continue to develop and their orientation to physical plane life evolves over time.

c. Chính chân ngã không phải là toàn tri. Các tâm thức trong các thể nguyên nhân tiếp tục phát triển và định hướng của chúng đối với đời sống cõi hồng trần tiến hoá theo thời gian.

d. The Solar Angel, however, is, with respect to the customary knowledge of man, relatively omniscient and will always be oriented toward the better choice within the lower worlds.

d. Tuy nhiên, Thái dương Thiên Thần là, xét theo tri thức thông thường của con người, tương đối toàn tri và luôn luôn sẽ định hướng về sự lựa chọn tốt hơn trong các cõi thấp.

Objectivity may then ensue as a voluntary offering to the good of the group or planetary existence, but identification with the separated form is no longer the case.

Khi ấy tính khách quan có thể xảy ra như một sự hiến dâng tự nguyện cho thiện ích của sự tồn tại nhóm hay hành tinh, nhưng sự đồng hoá với hình tướng biệt lập không còn là trường hợp nữa.

45. Here we would have entry into incarnation for service purposes. It would be, as stated, a “voluntary offering to the good of the group of planetary existence”.

45. Ở đây chúng ta sẽ có sự đi vào lâm phàm vì mục đích phụng sự. Như đã nói, đó sẽ là một “sự hiến dâng tự nguyện cho thiện ích của sự tồn tại nhóm hay hành tinh”.

46. This can occur even after the Solar Angel, per se, has returned to the Heart of the Sun or the Central Spiritual Sun (the monadic nature of the Solar Logos), for the true Ego is the spiritual triad and there are those who have achieved the fourth degree who voluntarily offer themselves through the process of physical incarnation to serve the good of the group or the planet.

46. Điều này có thể xảy ra ngay cả sau khi chính Thái dương Thiên Thần đã trở về Trái Tim của Mặt Trời hay Mặt trời Tinh thần Trung Ương (bản chất chân thần của Thái dương Thượng đế), vì chân ngã đích thực là Tam Nguyên Tinh Thần và có những vị đã đạt đến cấp độ thứ tư tự nguyện hiến mình qua tiến trình lâm phàm hồng trần để phụng sự thiện ích của nhóm hay hành tinh.

47. We could ponder well the differences and similarities between the Solar Angel and the spiritual triad of man. Most men, as we realize, are ‘apprentice Solar Angels’.

47. Chúng ta có thể suy ngẫm kỹ về những khác biệt và tương đồng giữa Thái dương Thiên Thần và Tam Nguyên Tinh Thần của con người. Như chúng ta nhận ra, phần lớn con người là những ‘Thái dương Thiên Thần tập sự’.

The human vehicle then created is as much a thought form in this case as any other particularised idea,

Vận cụ con người được tạo ra khi ấy cũng là một hình tư tưởng trong trường hợp này chẳng khác gì bất kỳ ý tưởng cá biệt hoá nào khác,

48. Yes, Master DK has been working analogically: the orientation of the Solar Angel/Ego and its effect upon the production of a manifested human being has been compared to the tendency of an astral deva (of a specific quality) to ensoul a thoughtform and thus determine the physical plane destiny of that thoughtform.

48. Đúng vậy, Chân sư DK đã làm việc theo lối tương đồng: định hướng của Thái dương Thiên Thần/chân ngã và ảnh hưởng của nó lên việc tạo ra một con người biểu hiện đã được so sánh với khuynh hướng của một thiên thần cảm dục (có phẩm tính đặc thù) phú linh cho một hình tư tưởng và do đó quyết định số phận trên cõi hồng trần của hình tư tưởng ấy.

and [Page 1014] the greatest act of conscious magic is to be seen. All other magical creations are subsidiary to this.

và [Page 1014] hành vi huyền thuật hữu thức vĩ đại nhất được thấy nơi đây. Mọi sáng tạo huyền thuật khác đều phụ thuộc vào điều này.

49. Here we have an idea of real importance. The process of human incarnation is the “greatest act of conscious magic”. The creation of thoughtforms by human beings reflect this greater process and is definitely subsidiary to it.

49. Ở đây chúng ta có một ý tưởng thật sự quan trọng. Tiến trình nhập thể của con người là “hành vi huyền thuật hữu thức vĩ đại nhất”. Việc con người tạo ra các Hình tư tưởng phản ánh tiến trình lớn lao hơn này và rõ ràng là phụ thuộc vào nó.

Through manipulation of negative and positive energy, thus bringing them to the point of equilibrium before informing them, the perfected body of the Adept is formed.

Thông qua việc vận dụng năng lượng âm và dương, nhờ đó đưa chúng đến điểm quân bình trước khi phú linh cho chúng, thể hoànhảo của chân sư được hình thành.

50. If an “Adept” is a Master, is DK here speaking technically of the method of creating a mayavirupa?

50. Nếu một “chân sư” là một Chân sư, thì ở đây DK có đang nói theo nghĩa kỹ thuật về phương pháp tạo ra một mayavirupa không?

51. One can also become an Adept while still in a body which has been created by normal generative means. Master DK appears to have done this. Perhaps while in such a normal body, negative and positive energies can be manipulated until a state of equilibrium is achieved.

51. Người ta cũng có thể trở thành một chân sư trong khi vẫn còn ở trong một thể được tạo ra bằng phương tiện sinh sản thông thường. Dường như Chân sư DK đã làm điều này. Có lẽ khi ở trong một thể bình thường như vậy, các năng lượng âm và dương có thể được vận dụng cho đến khi đạt được một trạng thái quân bình.

52. Later in this text, DK will focus on the contrast between desire and will. Probably it is these two energies which the adept must manipulate. In one way, Kriyashakti, as it found on the sixth or monadic plane, is has a close relation to the energy of desire.

52. Về sau trong bản văn này, DK sẽ tập trung vào sự tương phản giữa dục vọng và ý chí. Có lẽ chính hai năng lượng này là những gì chân sư phải vận dụng. Theo một phương diện, Kriyashakti, như được tìm thấy trên cõi thứ sáu hay cõi chân thần, có liên hệ mật thiết với năng lượng của dục vọng.

53. However, the manner in which this sentence is worded seems to suggest that such a body is prepared before being informed. This would strongly suggest the creation of a mayavirupa.

53. Tuy nhiên, cách diễn đạt của câu này dường như gợi ý rằng một thể như thế được chuẩn bị trước khi được phú linh. Điều này gợi ý rất mạnh đến việc tạo ra một mayavirupa.

54. The mayavirupa, as well, is a thoughtform.

54. Mayavirupa cũng là một Hình tư tưởng.

55. It is often the way of Master DK to seem to be speaking of one thing while speaking of several, giving a variety of hints all the time.

55. Thường đó là cách của Chân sư DK: dường như nói về một điều trong khi thực ra đang nói về nhiều điều, luôn luôn đưa ra nhiều gợi ý khác nhau.

All magical work on the astral plane has to be along the line of equilibrising activity,

Mọi công việc huyền thuật trên cõi cảm dục đều phải đi theo đường lối của hoạt động quân bình hóa,

56. The importance of Libra (a sign through which the third ray is conveyed) is emphasized. Along with this, fifth ray Venus and seventh Ray Uranus will be important. Saturn as the strongest ruler in Libra will be a dominant equilibrizing force.

56. Tầm quan trọng của Thiên Bình (một dấu hiệu hoàng đạo qua đó cung ba được truyền dẫn) được nhấn mạnh. Cùng với điều này, Sao Kim cung năm và Sao Thiên Vương cung bảy sẽ là những yếu tố quan trọng. Sao Thổ, với tư cách là chủ tinh mạnh nhất trong Thiên Bình, sẽ là một mãnh lực quân bình hóa chi phối.

57. The skillful magician, we realize, is a controlled and controlling individual, and Saturn is the planet of control. We often hear of the “magical controls” which the magician must master.

57. Chúng ta nhận ra rằng nhà huyền thuật thiện xảo là một cá nhân được kiểm soát và biết kiểm soát, và Sao Thổ là hành tinh của sự kiểm soát. Chúng ta thường nghe nói đến những “kiểm soát huyền thuật” mà nhà huyền thuật phải làm chủ.

and the distinctive nature of this type of work on the three planes in the three worlds might be summed up as follows:

và bản chất đặc thù của loại công việc này trên ba cõi trong ba cõi giới có thể được tóm lược như sau:

58. In the three examples below we seem, again, to be speaking of the task of creating a human physical manifestation, with the Solar Angel standing in the role of the magician. The other interpretation, however, is always possible, with the Solar Angel strongly influencing all that the magician carries out in the process of creative thoughtform building.

58. Trong ba thí dụ dưới đây, dường như một lần nữa chúng ta đang nói về nhiệm vụ tạo ra một biểu hiện hồng trần của con người, với Thái dương Thiên Thần đứng trong vai trò nhà huyền thuật. Tuy nhiên, cách giải thích khác vẫn luôn có thể có, theo đó Thái dương Thiên Thần ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi điều mà nhà huyền thuật thực hiện trong tiến trình xây dựng Hình tư tưởng sáng tạo.

On the mental plane, the positive force of the solar Angel drives the substance needed into the correct form.

Trên cõi trí, mãnh lực dương của Thái dương Thiên Thần đẩy chất liệu cần thiết vào đúng hình tướng.

59. Are we speaking of creating the mental body of the incarnated man? If so, the Solar Angel is working through the mental unit.

59. Có phải chúng ta đang nói về việc tạo ra thể trí của con người nhập thể không? Nếu vậy, Thái dương Thiên Thần đang hoạt động thông qua đơn vị hạ trí.

60. If we are speaking of man as magician, then under the influence of the Solar Angel, the substance to be utilized in created a mental thoughtform is driven into the correct form.

60. Nếu chúng ta đang nói về con người như nhà huyền thuật, thì dưới ảnh hưởng của Thái dương Thiên Thần, chất liệu được sử dụng để tạo ra một Hình tư tưởng trí tuệ được đẩy vào đúng hình tướng.

61. The Solar Angel, we realize, is still influential in the creative process of the human magician. Actually, the Solar Angel instigates even the process which creates thoughtforms in line with its own purposes, so, in a way, is present and active in the creative process of the white magician.

61. Chúng ta nhận ra rằng Thái dương Thiên Thần vẫn còn có ảnh hưởng trong tiến trình sáng tạo của nhà huyền thuật con người. Thực ra, Thái dương Thiên Thần còn khởi xướng cả tiến trình tạo ra các Hình tư tưởng phù hợp với các mục đích riêng của nó, nên theo một nghĩa nào đó, nó hiện diện và hoạt động trong tiến trình sáng tạo của nhà huyền thuật chánh đạo.

On the astral plane, the equilibrising force of the solar Angel gathers the needed material and energy from all directions and builds it into the necessary astral sheath.

Trên cõi cảm dục, mãnh lực quân bình hóa của Thái dương Thiên Thần tập hợp chất liệu và năng lượng cần thiết từ mọi phương hướng và xây dựng chúng thành lớp vỏ cảm dục cần thiết.

62. Yes, it is clear that we are speaking principally of the creation of the human astral body.

62. Đúng vậy, rõ ràng là chúng ta đang nói chủ yếu về việc tạo ra thể cảm dục của con người.

63. The Solar Angel, in this instance, is definitely the magician and must work through the atomic triangle. The work, in this case, is magnetic, and comes under the second aspect.

63. Trong trường hợp này, Thái dương Thiên Thần rõ ràng là nhà huyền thuật và phải hoạt động thông qua tam giác nguyên tử. Công việc, trong trường hợp này, là từ tính, và thuộc về phương diện thứ hai.

64. We must remember that the members of the atomic triangle are within the causal body and thus the Solar Angel has immediate access to them. We can say that the Angel can work through them without ever ‘leaving’ the causal body.

64. Chúng ta phải nhớ rằng các thành viên của tam giác nguyên tử nằm trong thể nguyên nhân và vì thế Thái dương Thiên Thần có thể tiếp cận trực tiếp với chúng. Chúng ta có thể nói rằng Thiên Thần có thể hoạt động thông qua chúng mà không hề ‘rời khỏi’ thể nguyên nhân.

On the physical plane the negative force of the solar Angel is all that is needed to gather the desired etheric substance. By this I mean the form has now achieved a vitality and distinction of its own, so that no aggressive action emanating from the egoic centre is required to continue the work. The note and vibration of the form itself suffices.

Trên cõi hồng trần mãnh lực âm của Thái dương Thiên Thần là tất cả những gì cần thiết để tập hợp chất liệu dĩ thái mong muốn. Qua điều này tôi muốn nói rằng hình tướng nay đã đạt được một sinh lực và một tính phân biệt riêng của nó, đến mức không cần hành động mạnh bạo nào phát ra từ trung tâm chân ngã để tiếp tục công việc. Chính âm điệu và rung động của bản thân hình tướng là đủ.

65. We see we have three types of force expressed by the Solar Angel through the sheaths: positive (in relation to the mental body), equilibrizing (in relation to the astral body) and negative (in relation to the physical body).

65. Chúng ta thấy có ba loại mãnh lực được Thái dương Thiên Thần biểu lộ qua các lớp vỏ: dương (liên hệ với thể trí), quân bình hóa (liên hệ với thể cảm dục) và âm (liên hệ với thể xác).

66. On the astral and physical planes, the Solar Angel “gathers”, using its magnetism. On the mental plane, the Solar Angel “drives” substance into correct form rather than gathering it.

66. Trên cõi cảm dục và cõi hồng trần, Thái dương Thiên Thần “tập hợp”, sử dụng từ điện của nó. Trên cõi trí, Thái dương Thiên Thần “đẩy” chất liệu vào đúng hình tướng thay vì tập hợp nó.

67. We note that the Solar Angel does not have to work aggressively in order to create the dense physical form. This implies that the action on the two higher planes is more “aggressive”. Apparently, the negative force of the Solar Angel is the least aggressive of the three types of forces used to create the vehicles. We would expect the driving method on the mental plane to be the most aggressive.

67. Chúng ta lưu ý rằng Thái dương Thiên Thần không phải hoạt động mạnh bạo để tạo ra hình tướng hồng trần đậm đặc. Điều này hàm ý rằng hành động trên hai cõi cao hơn thì “mạnh bạo” hơn. Rõ ràng, mãnh lực âm của Thái dương Thiên Thần là loại ít mạnh bạo nhất trong ba loại mãnh lực được dùng để tạo ra các vận cụ. Chúng ta có thể mong đợi phương pháp đẩy trên cõi trí là mạnh bạo nhất.

68. From what is here said it is as if the “distinction” of the thoughtform is created largely on the mental plane and its “vitality” (considering that word in its non-etheric meaning—shall we call it ‘attractive vibrancy’) is generated on the astral plane.

68. Từ những gì được nói ở đây, dường như “tính phân biệt” của Hình tư tưởng phần lớn được tạo ra trên cõi trí, còn “sinh lực” của nó (xét từ này theo nghĩa phi-dĩ-thái—chúng ta có nên gọi là ‘sự rung động hấp dẫn’ chăng) được phát sinh trên cõi cảm dục.

69. We are given a hint regarding the creation of a dense physical form. Such a form is created by a “note” and by a “vibration”. It is as if the Solar Angel is minimally involved in this process.

69. Chúng ta được cho một gợi ý liên quan đến việc tạo ra một hình tướng hồng trần đậm đặc. Một hình tướng như vậy được tạo ra bằng một “âm điệu” và bằng một “rung động”. Dường như Thái dương Thiên Thần chỉ tham dự tối thiểu vào tiến trình này.

RULE VIII. The Agnisuryans respond to the sound. The waters ebb and flow.

QUY LUẬT VIII. Các Agnisuryans đáp ứng với âm thanh. Các vùng nước lên xuống và chảy.

70. Always we will have dual motion on this plane—in this case, contracting and expanding.

70. Trên cõi này, chúng ta sẽ luôn có chuyển động nhị nguyên—trong trường hợp này là co lại và giãn ra.

Let the magician guard himself from drowning at the point where land and water meet. The midway spot which is neither dry nor wet must provide the standing place whereon his feet are set. When water, land and air meet there is the place for magic to be wrought.

Hãy để nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi chết đắm tại điểm nơi đất và nước gặp nhau. Nơi ở giữa, không khô cũng không ướt, phải cung cấp vị trí đứng mà trên đó y phải đặt bàn chân. Khi nước, đất và không khí gặp nhau, đó là nơi để huyền thuật được thực hiện.

71. Here, in relation to the Agnisuryans, we must discover whether DK is indicating the devas of the astral plane or the elemental lives. Sometimes they are considered together under the term “Agnisuryans” and sometimes differentiated.

71. Ở đây, liên quan đến các Agnisuryan, chúng ta phải khám phá xem DK đang chỉ đến các thiên thần của cõi cảm dục hay các sự sống hành khí. Đôi khi chúng được xét chung dưới thuật ngữ “Agnisuryans”, và đôi khi được phân biệt.

72. Upon the astral plane we will always find dual forces, ebbs and flows.

72. Trên cõi cảm dục, chúng ta sẽ luôn luôn thấy các mãnh lực nhị nguyên, những đợt lên xuống.

73. We must determine the occult significance of “drowning”. References below indicate its nature.

73. Chúng ta phải xác định ý nghĩa huyền bí của việc “chết đuối”. Những dẫn chiếu bên dưới cho thấy bản chất của nó.

74. As well it will be necessary to determine the occult meaning of the “midway spot”. One suspects that the dense physical plane is “dry” and the astral plane is “wet”, but as we are not yet dealing with the Rules of Magic for the etheric subplanes, there may be other and more specific meanings.

74. Cũng sẽ cần phải xác định ý nghĩa huyền bí của “nơi ở giữa”. Người ta ngờ rằng cõi hồng trần đậm đặc là “khô” còn cõi cảm dục là “ướt”, nhưng vì chúng ta chưa bàn đến các Quy Luật Huyền Thuật cho các cõi phụ dĩ thái, nên có thể còn có những ý nghĩa khác và chuyên biệt hơn.

75. In fact, if we do not consult A Treatise on White Magic we will be in no position fully to understand “the midway spot”, so this we shall do below.

75. Thật vậy, nếu chúng ta không tham khảo Luận về Chánh Thuật thì chúng ta sẽ không thể hoàn toàn hiểu được “nơi ở giữa”, vì vậy dưới đây chúng ta sẽ làm điều đó.

76. In A Treatise on White Magic the Tibetan gives a very full analysis of this rule. The pertinent sections of A Treatise on Cosmic Fire and A Treatise on White Magic must be read carefully in conjunction with each other.

76. Trong Luận về Chánh Thuật, Chân sư Tây Tạng đưa ra một phân tích rất đầy đủ về quy luật này. Những phần thích đáng trong Luận về Lửa Vũ Trụ và Luận về Chánh Thuật phải được đọc cẩn thận kết hợp với nhau.

It will be noted that in this rule, no mention is made of the fourth element, fire. The reason for this is that the magician has to accomplish the stupendous task of generating the needed fire at this triple "meeting place."

Cần lưu ý rằng trong quy luật này, không hề nhắc đến nguyên tố thứ tư, lửa. Lý do là vì nhà huyền thuật phải hoàn thành nhiệm vụ phi thường là phát sinh ngọn lửa cần thiết tại “điểm gặp gỡ” tam phân này.

77. The occultism is deep.

77. Tính huyền bí học ở đây thật sâu.

78. What is the meaning of “fire” in this context? What will such fire accomplish? We gather the implication that fire will make the magical work effective. We may also gather that the production of magic is a fiery act.

78. “Lửa” trong ngữ cảnh này có nghĩa là gì? Ngọn lửa ấy sẽ hoàn thành điều gì? Chúng ta rút ra hàm ý rằng lửa sẽ làm cho công việc huyền thuật trở nên hữu hiệu. Chúng ta cũng có thể rút ra rằng việc tạo ra huyền thuật là một hành vi rực lửa.

79. We may infer that the magician must generate the needed “fire” from within himself. This, will be substantiated by stanzas from the Old Commentary below.

79. Chúng ta có thể suy ra rằng nhà huyền thuật phải phát sinh “lửa” cần thiết từ bên trong chính mình. Điều này sẽ được xác chứng bằng các bài kệ từ Cổ Luận ở bên dưới.

This is one of the most occult and most puzzling of the [Page 1015] rules.

Đây là một trong những quy luậ[Page 1015]ts huyền bí nhất và khó hiểu nhất.

80. Surely, on first reading, many of us thought the same.

80. Chắc chắn, khi đọc lần đầu, nhiều người trong chúng ta cũng đã nghĩ như vậy.

Some light is thrown on it by the following three sentences from the old Commentary:

Một ít ánh sáng được soi rọi lên điều này qua ba câu sau đây từ Cổ Luận:

81. The following three excerpts deal with the origins of the fire to be used in the magical creative process.

81. Ba trích đoạn sau đây bàn về nguồn gốc của ngọn lửa sẽ được dùng trong tiến trình sáng tạo huyền thuật.

82. Perhaps, if we extend the analogy, fire must be drawn upon the Ego when it creates its personal reflection—the incarnated human being.

82. Có lẽ, nếu chúng ta mở rộng phép tương đồng, lửa phải được rút ra từ chân ngã khi nó tạo ra phản ảnh cá nhân của mình—con người nhập thể.

"When the fire is drawn from the inmost point within the heart the waters suffice not to subdue it. Like a stream of flame it issues forth, and traverses the waters, which disappear before it. Thus the goal is found."

"Khi lửa được rút ra từ điểm sâu kín nhất bên trong tim thì nước không đủ sức dập tắt nó. Như một dòng lửa, nó tuôn ra và băng qua nước, và nước biến mất trước nó. Như thế mục tiêu được tìm thấy."

83. In this context, the “heart” may have more than one meaning. One occult meaning would be the soul or egoic lotus. In this case, the “inmost point within the heart” would be the Jewel in the Lotus. If so, the fire drawn forth would have its point of origin in the Monad.

83. Trong ngữ cảnh này, “tim” có thể có hơn một ý nghĩa. Một ý nghĩa huyền bí là linh hồn hay Hoa Sen Chân Ngã. Trong trường hợp này, “điểm sâu kín nhất bên trong tim” sẽ là Bảo Châu trong Hoa Sen. Nếu vậy, ngọn lửa được rút ra sẽ có điểm xuất phát trong chân thần.

84. Should the waters “subdue” the fire, drowning would ensue.

84. Nếu nước “dập tắt” được lửa, thì sự chết đuối sẽ xảy ra.

85. In reading this section of text, one is reminded of the first words from Formula I from DINA II—“A line of fire between two blazing points.” The “blazing points” can be interpreted as the Monad and the Jewel in the Lotus

85. Khi đọc phần văn bản này, người ta nhớ đến những lời đầu tiên của Công Thức I trong DINA II—“Một đường lửa giữa hai điểm rực cháy.” “Hai điểm rực cháy” có thể được diễn giải là chân thần và Bảo Châu trong Hoa Sen

86. The fire issuing forth from the heart has the effect of negating any harm which might be perpetrated by the water devas—whether harm to the thoughtform or harm to the magician.

86. Ngọn lửa phát ra từ tim có tác dụng phủ nhận bất kỳ tổn hại nào mà các thiên thần nước có thể gây ra—dù là tổn hại cho Hình tư tưởng hay tổn hại cho nhà huyền thuật.

87. The “inmost point within the heart” might also have a more anatomical meaning related to the heart center of the creator. Surely, however, it suggests the presence of the energy of the first aspect. The heart, let us remember, is the seat for both the second aspect of divinity and the first as well.

87. “Điểm sâu kín nhất bên trong tim” cũng có thể có một ý nghĩa giải phẫu hơn, liên hệ với trung tâm tim của đấng sáng tạo. Tuy nhiên, chắc chắn nó gợi ý sự hiện diện của năng lượng thuộc phương diện thứ nhất. Xin nhớ rằng tim là chỗ ngự của cả phương diện thứ hai của thiên tính lẫn phương diện thứ nhất.

88. If we are to relate the “inmost point within the heart” to the etheric heart center, that point should probably be considered the jewel within that heart center.

88. Nếu chúng ta liên hệ “điểm sâu kín nhất bên trong tim” với trung tâm tim dĩ thái, thì điểm đó có lẽ nên được xem là bảo châu bên trong trung tâm tim ấy.

89. Uniting the two perspectives, we could say that the jewel in the heart center is definitely connected to the Jewel in the Lotus. Further, every jewel in every chakra is ultimately connected to the Monad.

89. Kết hợp hai góc nhìn, chúng ta có thể nói rằng bảo châu trong trung tâm tim chắc chắn có liên hệ với Bảo Châu trong Hoa Sen. Hơn nữa, mọi bảo châu trong mọi luân xa rốt cuộc đều liên hệ với chân thần.

"When the fire descends from the One Who watches above, the wind suffices not to blow it out.

"Khi lửa giáng xuống từ Đấng quan sát ở bên trên, thì gió không đủ sức thổi tắt nó.

90. It is becoming clear that the fire is to be drawn from the higher Ego on the higher mental plane. The Solar Angel/Ego is the “One who watches from above”.

90. Ngày càng rõ rằng lửa phải được rút ra từ chân ngã cao hơn trên Cõi thượng trí. Thái dương Thiên Thần/chân ngã là “Đấng quan sát từ bên trên”.

91. While the lower mental plane is rightfully associated with fire, mental currents can also be associated with air and, thus, with wind.

91. Trong khi cõi hạ trí được liên kết đúng đắn với lửa, các dòng trí tuệ cũng có thể được liên kết với khí và do đó với gió.

92. In this sentence, then, we can see a relation between the higher mental plane and the lower four mental subplanes. The fire originates on the higher mental plane and the wind can be understood as forces upon the lower mental plane which could blow out the higher fire or some how blow out the descending idea emanating from the higher mental plane.

92. Vậy thì trong câu này, chúng ta có thể thấy một mối liên hệ giữa Cõi thượng trí và bốn cõi phụ trí tuệ thấp. Lửa phát sinh trên Cõi thượng trí, còn gió có thể được hiểu là các mãnh lực trên cõi hạ trí, những mãnh lực có thể thổi tắt ngọn lửa cao hơn hoặc bằng cách nào đó thổi tắt ý tưởng giáng xuống phát ra từ Cõi thượng trí.

The very winds protect, shield and aid the work, guiding the falling fire unto the point of entrance."

Chính những luồng gió bảo vệ, che chở và trợ giúp công việc, hướng dẫn ngọn lửa đang rơi xuống đến điểm đi vào."

93. This is a very occult passage and there is no way we can be certain as we attempt to interpret it.

93. Đây là một đoạn rất huyền bí và không có cách nào để chúng ta có thể chắc chắn khi cố gắng diễn giải nó.

94. We could say that the fire from the higher mental plane has such an effect upon the lower mental plane that the mental currents guard rather than disrupt the thoughtform in process of creation.

94. Chúng ta có thể nói rằng ngọn lửa từ Cõi thượng trí có một tác động như thế lên cõi hạ trí đến nỗi các dòng trí tuệ bảo vệ thay vì làm gián đoạn Hình tư tưởng đang trong tiến trình được tạo ra.

95. What might be the “point of entrance”? Are we speaking of the point of entrance onto the astral plane? If so, then the thought currents of the lower mental plane assist the passage of fire from the higher mental plane as it enters and descends through the lower planes towards the magician on the physical plane.

95. “Điểm đi vào” có thể là gì? Có phải chúng ta đang nói về điểm đi vào cõi cảm dục không? Nếu vậy, thì các dòng tư tưởng của cõi hạ trí hỗ trợ sự chuyển vận của lửa từ Cõi thượng trí khi nó đi vào và giáng xuống qua các cõi thấp hướng về nhà huyền thuật trên cõi hồng trần.

96. Since in this chapter we are dealing with the Rules of Magic for the astral plane, the “point of entrance” might be considered more physical. The guarding of the thought form by the winds would occur then on the astral plane and the “point of entrance” would lead into etheric-physical manifestation.

96. Vì trong chương này chúng ta đang bàn đến các Quy Luật Huyền Thuật cho cõi cảm dục, nên “điểm đi vào” có thể được xem là mang tính hồng trần hơn. Khi ấy, việc các luồng gió bảo vệ Hình tư tưởng sẽ xảy ra trên cõi cảm dục, và “điểm đi vào” sẽ dẫn đến biểu hiện dĩ thái-hồng trần.

"When the fire emanates from the mouth of the one who thinks and sees,

"Khi lửa phát ra từ miệng của kẻ suy tưởng và thấy,

97. We may gather that “the one who thinks and sees” is the magician upon the physical plane.

97. Chúng ta có thể suy ra rằng “kẻ suy tưởng và thấy” là nhà huyền thuật trên cõi hồng trần.

98. The fire has been drawn from occult sources: either from the Jewel in the Lotus (fed by the fire of the Monad) or, we suggest, the jewel at the center of the heart chakra—or both.

98. Ngọn lửa đã được rút ra từ các nguồn huyền bí: hoặc từ Bảo Châu trong Hoa Sen (được nuôi dưỡng bởi lửa của chân thần), hoặc như chúng tôi gợi ý, từ bảo châu ở trung tâm luân xa tim—hoặc cả hai.

99. It makes its way towards the throat center of the magician as is released in magical words and creative mantrams.

99. Nó tiến về trung tâm cổ họng của nhà huyền thuật và được giải phóng trong những lời huyền thuật và các mantram sáng tạo.

then the earth sufficeth not to hide or kill the flame.

thì đất không đủ sức che giấu hay giết chết ngọn lửa.

100. The forces of the dense physical plane could suffocate or bury the flame, halting the further progress of the magical process.

100. Các mãnh lực của cõi hồng trần đậm đặc có thể làm ngạt hoặc chôn vùi ngọn lửa, ngăn chặn sự tiến triển thêm của tiến trình huyền thuật.

101. Since the physical plane includes both an etheric and dense physical aspect, we could consider the etheric energies to be those of “earth”. This may make sense in the context of the next sentence.

101. Vì cõi hồng trần bao gồm cả phương diện dĩ thái lẫn phương diện hồng trần đậm đặc, chúng ta có thể xem các năng lượng dĩ thái là những năng lượng của “đất”. Điều này có thể hợp lý trong ngữ cảnh của câu tiếp theo.

102. We have seen so far, when speaking of the fire which has issued forth, that wind could not blow it out, water could not drown it and earth could not kill or suffocate it.

102. Cho đến nay, khi nói về ngọn lửa đã phát ra, chúng ta thấy rằng gió không thể thổi tắt nó, nước không thể làm nó chết đuối, và đất không thể giết hay làm ngạt nó.

103. The normal antagonism of the elements is moderated and, instead, they are made to become supportive of the descending fire.

103. Sự đối kháng thông thường của các nguyên tố được điều hòa, và thay vào đó, chúng được làm cho trở thành những yếu tố hỗ trợ ngọn lửa đang giáng xuống.

It feeds the flame, causing a growth and magnitude of fire which reaches to the narrow door of entrance."

Nó nuôi ngọn lửa, làm cho lửa tăng trưởng và lớn mạnh cho đến khi chạm tới cánh cửa hẹp của sự đi vào."

104. What feeds the flame? It would seem that “earth” can be made to feed the flame. If this is the case, then “earth” will have a closer connection to the ethers of the systemic physical plane than to the densest aspects of that plane.

104. Điều gì nuôi ngọn lửa? Dường như “đất” có thể được làm cho nuôi ngọn lửa. Nếu đúng như vậy, thì “đất” sẽ có liên hệ gần gũi hơn với các dĩ thái của cõi hồng trần hệ thống hơn là với những phương diện đậm đặc nhất của cõi ấy.

105. One can rather easily envision the ethers feeding the flame and augmenting the intensity of fire. The ethers are connected with “air” just as it the buddhic plane. “Air” feeds “fire”.

105. Người ta có thể khá dễ dàng hình dung các dĩ thái nuôi ngọn lửa và tăng cường cường độ của lửa. Các dĩ thái liên hệ với “khí” cũng như cõi Bồ đề vậy. “Khí” nuôi “lửa”.

106. As for the “narrow door of entrance” it can be conceived as entrance upon the dense physical plane which final manifestation must occur. This, ultimately, is probably the best interpretation.

106. Còn về “cánh cửa hẹp của sự đi vào”, nó có thể được quan niệm là sự đi vào cõi hồng trần đậm đặc, nơi biểu hiện cuối cùng phải xảy ra. Rốt cuộc, đây có lẽ là cách diễn giải tốt nhất.

107. As well we have the suggestion of the birth canal through which all human beings find entrance into incarnated life.

107. Ngoài ra, chúng ta còn có gợi ý về ống sinh, qua đó mọi con người đi vào đời sống nhập thể.

Under this symbology much is hidden anent the life-giving energy, the centres symbolised to focalise it, and to drive it forth, and the place the various types of receptive matter play in the magical work.

Dưới biểu tượng học này, nhiều điều được che giấu liên quan đến năng lượng ban sự sống, các trung tâm được biểu tượng hóa để hội tụ nó và phóng nó ra, cùng vai trò mà các loại vật chất tiếp nhận khác nhau đảm nhiệm trong công việc huyền thuật.

108. In discussing what is hidden in the arcane symbology, DK offers us hints.

108. Khi bàn về những gì được che giấu trong biểu tượng học bí truyền này, DK đưa cho chúng ta những gợi ý.

109. We are definitely speaking of certain centers or chakras. As well, the energy of the fire is to be associated with life and, thus, with the first aspect.

109. Rõ ràng chúng ta đang nói về một số trung tâm hay luân xa nhất định. Đồng thời, năng lượng của lửa phải được liên kết với sự sống và do đó với phương diện thứ nhất.

110. The chakras, and especially the jewels within the chakras, act as focal points for the descending life energy. Centers focalize and drive forth this energy. These functions are most significant to the magician engaged in the creative process.

110. Các luân xa, và đặc biệt là các bảo châu bên trong các luân xa, hoạt động như những điểm hội tụ cho năng lượng sự sống đang giáng xuống. Các trung tâm hội tụ và phóng ra năng lượng này. Những chức năng này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nhà huyền thuật đang tham gia vào tiến trình sáng tạo.

111. The elements discussed—the wind, the waters, the earth—are all in the category of “receptive matter”. This receptive matter is to be used by the descending fire and is not to present a hindrance to that fire as might usually be the case.

111. Các nguyên tố được bàn đến—gió, nước, đất—đều thuộc loại “vật chất tiếp nhận”. Vật chất tiếp nhận này sẽ được ngọn lửa đang giáng xuống sử dụng và không được gây cản trở cho ngọn lửa ấy như thường có thể xảy ra.

112. Certain secret formulas prevent the elemental matter through which the descending idea must pass from overwhelming the thoughtform which represents that idea.

112. Một số công thức bí mật ngăn không cho vật chất hành khí mà ý tưởng đang giáng xuống phải đi qua áp đảo Hình tư tưởng đại diện cho ý tưởng ấy.

113. Now let us look at an excerpt from A Treatise on White Magic to better understand the meaning of the “midway spot”.

113. Bây giờ chúng ta hãy xem một trích đoạn từ Luận về Chánh Thuật để hiểu rõ hơn ý nghĩa của “nơi ở giữa”.

114. At each of the following categories of “midway spot” different types of students find their point of focus and their labor.

114. Trong mỗi loại “nơi ở giữa” sau đây, những loại đạo sinh khác nhau tìm thấy điểm tập trung và công việc của mình.

Most true aspirants are now at the midway spot, and can either drown (and so make no further progress this life), stand and so hold the ground gained, or become true practicing magicians, efficient in white magic, which is based on love, animated by wisdom and intelligently applied to forms. (TWM 235-236)

Hầu hết những người chí nguyện chân chính hiện nay đều ở nơi ở giữa, và có thể hoặc chết đuối (và như thế không tiến bộ thêm trong kiếp này), hoặc đứng vững và nhờ đó giữ được phần đất đã giành được, hoặc trở thành những nhà huyền thuật chân chính đang thực hành, hữu hiệu trong Chánh Thuật, vốn đặt nền trên bác ái, được minh triết làm sinh động, và được áp dụng một cách trí tuệ vào các hình tướng. (TWM 235-236)

115. DK’s use of the word “drown” in relation to aspirants is a much milder use than its meaning in connection with certain errant magicians.

115. Việc DK dùng từ “chết đuối” liên hệ đến những người chí nguyện mang ý nghĩa nhẹ hơn nhiều so với ý nghĩa của nó khi liên hệ đến một số nhà huyền thuật lầm lạc.

You ask for a clearer definition of the "midway" spot.

Bạn hỏi về một định nghĩa rõ ràng hơn của “nơi ở giữa”.

For the probationer it is the emotional plane, the Kurukshetra, or the plane of illusion, where land (physical nature) and water (emotional nature) meet.

Đối với người dự bị, đó là cõi cảm xúc, Kurukshetra, hay cõi ảo tưởng, nơi đất (bản chất hồng trần) và nước (bản chất cảm xúc) gặp nhau.

For the disciple it is the mental plane where form and soul make contact and the great transition becomes possible. For the advanced disciple and the initiate, the midway spot is the causal body, the karana sarira, the spiritual body of the soul, standing as the intermediary between Spirit and matter, Life and form, the monad and the personality.

Đối với đệ tử, đó là cõi trí nơi hình tướng và linh hồn tiếp xúc, và cuộc Chuyển tiếp lớn trở nên khả hữu. Đối với đệ tử tiến bộ và điểm đạo đồ, nơi ở giữa là thể nguyên nhân, karana sarira, thể tinh thần của linh hồn, đứng như trung gian giữa Tinh thần và vật chất, Sự sống và hình tướng, chân thần và phàm ngã.

This can also be discussed and understood in terms of the centres.

Điều này cũng có thể được bàn đến và thấu hiểu theo các trung tâm.

As every student knows, there are two centres in the head. One centre is between the eyebrows and has the pituitary body as its objective manifestation. The other is in the region at the top of the head and has the pineal gland as its concrete aspect. The pure mystic has his consciousness centred in the top of the head, almost entirely in the etheric body. The advanced worldly man is centred in the pituitary region. When, through occult unfoldment and esoteric knowledge, the relation between the personality and the soul is established there is a midway spot in the centre of the head in the magnetic field which is called the "light in the head", and it is here that the aspirant takes his stand. This is the spot of vital import. It is neither land or physical, nor water or emotional. It might be regarded as the vital or etheric body which has become the field of conscious service, of directed control, and of force utilisation towards specific ends.

Như mọi đạo sinh đều biết, có hai trung tâm trong đầu. Một trung tâm nằm giữa hai chân mày và có tuyến yên là biểu hiện khách quan của nó. Trung tâm kia ở vùng đỉnh đầu và có tuyến tùng quả là phương diện cụ thể của nó. Nhà thần bí thuần túy có tâm thức tập trung ở đỉnh đầu, gần như hoàn toàn trong thể dĩ thái. Người thế tục tiến bộ thì tập trung ở vùng tuyến yên. Khi, thông qua sự khai mở huyền bí và tri thức nội môn, mối liên hệ giữa phàm ngã và linh hồn được thiết lập thì có một nơi ở giữa trong trung tâm đầu, trong từ trường được gọi là “ánh sáng trong đầu”, và chính tại đây người chí nguyện đứng vững. Đây là điểm có tầm quan trọng sinh tử. Nó không phải đất hay hồng trần, cũng không phải nước hay cảm xúc. Nó có thể được xem là thể sinh lực hay thể dĩ thái đã trở thành lĩnh vực của sự phụng sự hữu thức, của sự kiểm soát có định hướng, và của việc sử dụng mãnh lực hướng đến những mục đích chuyên biệt.

Here the magician takes his stand and through the [Page 248] medium of his force or energy body performs the magical creative work. (TWM 247-248)

Tại đây nhà huyền thuật đứng vững và thông qua [Page 248] trung gian của thể mãnh lực hay thể năng lượng của mình mà thực hiện công việc sáng tạo huyền thuật. (TWM 247-248)

116. Master DK’s words from TWM are self-explanatory. We are dealing with the occultism of the head.

116. Những lời của Chân sư DK từ TWM tự chúng đã giải thích rõ. Chúng ta đang bàn đến huyền bí học của đầu.

117. It is clear that it is not sufficient to work exclusively from either the top of the head (as does the mystic) or from the area of the pituitary body (as does the worldly man). A point ‘midway’ between the two is needed and at the point the magician takes his stand.

117. Rõ ràng là không đủ nếu chỉ hoạt động riêng từ đỉnh đầu (như nhà thần bí làm) hoặc từ vùng tuyến yên (như người thế tục làm). Cần có một điểm “ở giữa” giữa hai nơi ấy, và tại điểm đó nhà huyền thuật đứng vững.

118. We will learn later that from a point of soul focus the advanced magician can influence the process undertaken at the “midway spot”.

118. Về sau chúng ta sẽ học rằng từ một điểm tập trung của linh hồn, nhà huyền thuật tiến bộ có thể ảnh hưởng đến tiến trình được thực hiện tại “nơi ở giữa”.

119. The occultist, then, focuses within that magnetic field called the light in the head and from this ‘place’ performs his work.

119. Vậy thì nhà huyền bí học tập trung trong từ trường được gọi là ánh sáng trong đầu, và từ “nơi chốn” này thực hiện công việc của mình.

120. Here also from TWM is a useful summary of the work covered to this point:

120. Ở đây cũng từ TWM có một bản tóm lược hữu ích về công việc đã được đề cập cho đến điểm này:

The situation might be stated in the following terse statements. The rules already studied convey the truth anent the magician.

Tình huống có thể được phát biểu trong những mệnh đề vắn tắt sau đây. Những quy luật đã được nghiên cứu rồi truyền đạt chân lý liên quan đến nhà huyền thuật.

1. The soul has communicated with his instrument in the three worlds.

1. Linh hồn đã truyền thông với khí cụ của mình trong ba cõi giới.

2. The man on the physical plane recognises the contact, and the light in the head shines forth, sometimes recognised and sometimes unrecognised by the aspirant.

2. Con người trên cõi hồng trần nhận ra sự tiếp xúc ấy, và ánh sáng trong đầu bừng chiếu, đôi khi được người chí nguyện nhận biết và đôi khi không được nhận biết.

3. The soul sounds forth its note. A thought-form is created in consonance with the united meditation of the soul and the man, his instrument.

3. Linh hồn xướng lên âm điệu của nó. Một Hình tư tưởng được tạo ra phù hợp với sự tham thiền hợp nhất của linh hồn và con người, khí cụ của linh hồn.

4. This thought-form, embodying the will of the ego or soul, cooperating with the personality, takes to itself a triple form, constituted of the matter of all three planes, and vitalized through the activity and by the emanations from the heart, throat and [Page 237] ajna centres of the white magician—the soul in conjunction with its instrument.

4. Hình tư tưởng này, hiện thân cho ý chí của chân ngã hay linh hồn, hợp tác với phàm ngã, khoác lấy cho mình một hình thức tam phân, được cấu thành từ vật chất của cả ba cõi, và được tiếp sinh lực thông qua hoạt động và các phát xạ từ các trung tâm tim, cổ họng và [Page 237] ajna của nhà huyền thuật chánh đạo—linh hồn kết hợp với khí cụ của mình.

5. The personality sheaths, each with its own individual life, feel they are losing their power and the battle between the forces of matter and the force of the soul is violently renewed.

5. Các lớp vỏ phàm ngã, mỗi lớp với sự sống cá biệt riêng của nó, cảm thấy rằng chúng đang mất quyền lực, và trận chiến giữa các mãnh lực của vật chất và mãnh lực của linh hồn lại được tái diễn một cách dữ dội.

6. This battle must be fought out on the astral plane and will decide three things:

6. Trận chiến này phải được chiến đấu trên cõi cảm dục và sẽ quyết định ba điều:

a. Whether the soul will, in any one life (for some life holds the critical stage), be the dominant factor and the personality from henceforth be the servant of the soul.

a. Liệu linh hồn có, trong một kiếp sống nào đó (vì có những kiếp giữ giai đoạn quyết định), trở thành yếu tố chi phối và từ đó về sau phàm ngã trở thành người phụng sự của linh hồn hay không.

b. Whether the astral plane is no longer the plane of illusion, but can become the field of service.

b. Liệu cõi cảm dục không còn là cõi ảo tưởng nữa, mà có thể trở thành lĩnh vực phụng sự hay không.

c. Whether the man can become an active co-operator with the Hierarchy, able to create and to wield mental matter, and so work out the purposes of the Universal Mind, which are prompted by boundless and infinite love, and are the expression of the One Life. (TWM 236-237)

c. Liệu con người có thể trở thành một cộng tác viên tích cực với Thánh Đoàn, có khả năng tạo ra và vận dụng vật chất trí tuệ, và như thế thực hiện các mục đích của Vũ Trụ Trí, những mục đích được thúc đẩy bởi tình thương vô biên vô tận, và là biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất hay không. (TWM 236-237)

121. Let us include another paragraph which deals with the nature of “air” and the relation between the soul and the midway point. It becomes increasingly clear that this section of A Treatise on Cosmic Fire cannot be fully understood without recourse to the Tibetan’s explanations found in A Treatise on White Magic.

121. Hãy đưa vào thêm một đoạn bàn về bản chất của “khí” và mối liên hệ giữa linh hồn với điểm ở giữa. Ngày càng rõ rằng phần này của Luận về Lửa Vũ Trụ không thể được thấu hiểu trọn vẹn nếu không viện đến những giải thích của Chân sư Tây Tạng trong Luận về Chánh Thuật.

One point is rather abstrusely dealt with in this rule, but it clarifies, if the words are studied with care. At the close of the rule we are told that when "water, land and air meet" there is the place for the working of magic. Curiously in these phrases the idea of location is omitted and only the time equation considered.

Có một điểm được bàn đến khá khó hiểu trong quy luật này, nhưng nó làm sáng tỏ vấn đề nếu các lời được nghiên cứu cẩn trọng. Ở cuối quy luật, chúng ta được bảo rằng khi "nước, đất và khí gặp nhau" thì đó là nơi để huyền thuật hoạt động. Điều lạ là trong các cụm từ này, ý niệm về vị trí bị lược bỏ và chỉ xét đến phương trình thời gian.

Air is the symbol of the buddhic vehicle, of the plane of spiritual love, and when the three above enumerated (in their energy aspects) meet, it is indicative of a focussing in the soul consciousness and a centralisation of the man in the spiritual body. From that point of power, outside of form, from the central sphere of unification and from the focussed point within that circle of consciousness, the spiritual man projects his consciousness into the midway spot within the brain cavity where the magical work must, in relation to the physical plane, be carried out. This ability to project the consciousness from the plane of soul realisation into that of creative magical work on the etheric subplanes is gradually made possible as the student in his meditation work develops facility in focussing his attention in one or other of the centres in the body. This is accomplished through the medium of the force centres in the etheric body. He gradually gains that plasticity and that fluidity of the self-directed consciousness which will enable him to play on the centres, as a musician utilises the seven notes of music. When this has been achieved he can begin to train himself in wider and more extended focussings and must learn to withdraw his consciousness, not only to the brain, but to the soul on its own plane and thence re-direct his energies in the performance of the magical work of the soul. (TWM 248)

Khí là biểu tượng của vận cụ Bồ đề, của cõi bác ái tinh thần, và khi ba điều đã liệt kê ở trên (trong các phương diện năng lượng của chúng) gặp nhau, điều đó cho thấy có một sự tập trung trong tâm thức linh hồn và một sự tập trung hóa con người trong thể tinh thần. Từ điểm quyền năng ấy, ở ngoài hình tướng, từ khối cầu trung tâm của sự hợp nhất và từ điểm tập trung bên trong vòng tròn tâm thức đó, con người tinh thần phóng chiếu tâm thức của mình vào nơi ở giữa trong khoang não, nơi công việc huyền thuật phải được thực hiện liên hệ với cõi hồng trần. Khả năng phóng chiếu tâm thức từ cõi chứng nghiệm linh hồn vào cõi của công việc huyền thuật sáng tạo trên các cõi phụ dĩ thái dần dần trở nên khả hữu khi đạo sinh, trong công việc tham thiền của y, phát triển sự thành thạo trong việc tập trung sự chú ý của mình vào trung tâm này hay trung tâm khác trong thể. Điều này được hoàn thành thông qua các trung tâm lực trong thể dĩ thái. Y dần dần đạt được tính uyển chuyển và tính lưu chất của tâm thức tự định hướng, điều sẽ giúp y có thể vận dụng các trung tâm như một nhạc sĩ sử dụng bảy nốt nhạc. Khi điều này đã đạt được, y có thể bắt đầu tự huấn luyện mình trong những sự tập trung rộng hơn và bao quát hơn, và phải học cách rút tâm thức của mình không chỉ về bộ não mà còn về linh hồn trên cõi riêng của nó, rồi từ đó tái định hướng các năng lượng của mình trong việc thực hiện công việc huyền thuật của linh hồn. (TWM 248)