Trích nội dung chương
As is ever the case in all white magic, the activity of the solar Angel is the primary factor and the work of the man upon the physical plane is regarded as secondary; Như luôn luôn là trường hợp trong mọi chánh thuật, hoạt động của Thái dương Thiên Thần là yếu tố chính yếu và công việc của con người trên cõi hồng trần được xem là thứ yếu;
122. Continuing now with the text on which this commentary is based—
122. Giờ đây tiếp tục với bản văn làm nền cho phần bình giải này—
As is ever the case in all white magic, the activity of the solar Angel is the primary factor and the work of the man upon the physical plane is regarded as secondary;
Như luôn luôn là trường hợp trong mọi chánh thuật, hoạt động của Thái dương Thiên Thần là yếu tố chính yếu và công việc của con người trên cõi hồng trần được xem là thứ yếu;
123. This thought is recommended to the consideration of egocentric magicians who think of themselves (in the lower sense) as the center of the magical process.
123. Tư tưởng này được khuyến nghị để những nhà huyền thuật tập trung vào bản thân suy ngẫm, những kẻ nghĩ về chính mình (theo nghĩa thấp) như là trung tâm của tiến trình huyền thuật.
his physical body, and the work engendered therein, being frequently referred to as "fuel and its warmth."
thể xác của y, và công việc được phát sinh trong đó, thường được gọi là "nhiên liệu và hơi ấm của nó."
124. We see how peripheral the physical body is to the actual work of magic. The physical body allows the magic to manifest on the physical plane, but it is, in the last analysis, only a final conduit for a process originating on higher planes.
124. Chúng ta thấy thể xác ở vị trí ngoại vi đến mức nào đối với công việc huyền thuật thực sự. Thể xác cho phép huyền thuật biểu hiện trên cõi hồng trần, nhưng rốt cuộc nó chỉ là một ống dẫn cuối cùng cho một tiến trình bắt nguồn trên các cõi cao hơn.
125. We are speaking here of the “latent fires” of the dense physical vehicle.
125. Ở đây chúng ta đang nói về các “ngọn lửa tiềm ẩn” của vận cụ hồng trần đậm đặc.
This needs careful remembering, and will give the clue to the necessity of egoic alignment, and to the problem of the extinction of certain workers in magic, who were "destroyed by their own fire" or energy.
Điều này cần được ghi nhớ cẩn trọng, và sẽ cho manh mối về sự cần thiết của sự chỉnh hợp chân ngã, và về vấn đề của sự dập tắt nơi một số người hoạt động trong huyền thuật, những kẻ đã bị "hủy diệt bởi chính lửa" hay năng lượng của mình.
126. Without the proper egoic alignment, danger lurks for the magician.
126. Nếu không có sự chỉnh hợp chân ngã thích đáng, hiểm nguy rình rập nhà huyền thuật.
127. The word “extinction” is a arresting. It is a rather drastic word and suggests the putting out of a flame (“extinguished”) but even more the elimination of such workers, leaving in doubt their ability to return to the process even in another incarnation. Some, on the left hand path, can never return.
127. Từ “dập tắt” thật gây chú ý. Đó là một từ khá quyết liệt và gợi ý việc làm tắt một ngọn lửa (“bị dập tắt”), nhưng còn hơn thế nữa, nó gợi ý sự loại bỏ những người hoạt động như thế, khiến người ta nghi ngờ khả năng họ có thể quay lại tiến trình ấy ngay cả trong một kiếp khác. Một số kẻ, trên tả đạo, không bao giờ có thể quay lại.
128. The word also suggests that the methods which contributed to their “extinction” were old, form-bound methods, now surpassed by the methods associated with white magic.
128. Từ này cũng gợi ý rằng các phương pháp góp phần vào sự “dập tắt” của họ là những phương pháp cũ, bị ràng buộc vào hình tướng, nay đã bị vượt qua bởi các phương pháp gắn liền với chánh thuật.
129. The section of text seems to suggest that such magicians were destroyed by their own latent fires—the “ancient fires” which are among the most dangerous with which the magician has to deal.
129. Phần bản văn dường như gợi ý rằng những nhà huyền thuật như thế đã bị hủy diệt bởi chính các ngọn lửa tiềm ẩn của họ—những “ngọn lửa cổ xưa” vốn thuộc loại nguy hiểm nhất mà nhà huyền thuật phải đề cập đến.
130. The implication is that this fate would not have befallen them had they been properly aligned with the Ego/Solar Angel.
130. Hàm ý là số phận này đã không giáng xuống họ nếu họ được chỉnh hợp đúng đắn với Chân ngã/Thái dương Thiên Thần.
The discreet magician is one who sees to the readiness of his lowest vehicle to carry the fire wherewith he works, and this he accomplishes through discipline and strict purity.
Nhà huyền thuật thận trọng là người bảo đảm sự sẵn sàng của vận cụ thấp nhất của mình để mang ngọn lửa mà y làm việc cùng, và điều này y hoàn thành bằng kỷ luật và sự thanh khiết nghiêm ngặt.
131. Even that which is not a principle is not ignored by the “discreet magician”. Such a magician is characterized by great caution. His knowledge of all the vehicles is extensive. He is aware of many pitfalls and he avoids them scrupulously.
131. Ngay cả điều không phải là một nguyên khí cũng không bị “nhà huyền thuật thận trọng” bỏ qua. Một nhà huyền thuật như thế được đặc trưng bởi sự dè dặt lớn lao. Kiến thức của y về mọi vận cụ đều rộng lớn. Y ý thức được nhiều cạm bẫy và tránh chúng một cách hết sức cẩn mật.
132. We notice the importance of discipline, and not only of purity, but of strict purity. No point of entry must be given to lower forces which could overcome the magician or force him to lose control of the delicate processes with which he is engaged.
132. Chúng ta lưu ý tầm quan trọng của kỷ luật, và không chỉ của sự thanh khiết, mà còn của sự thanh khiết nghiêm ngặt. Không được để bất kỳ điểm xâm nhập nào cho các mãnh lực thấp có thể áp đảo nhà huyền thuật hoặc buộc y mất quyền kiểm soát các tiến trình tinh tế mà y đang dấn thân vào.
133. We realize that the elemental lives on every level of descent must be controlled and the impurity gives these elementals an opportunity to seize control.
133. Chúng ta nhận ra rằng các sự sống hành khí ở mọi cấp độ giáng xuống đều phải được kiểm soát, và sự ô uế tạo cho các hành khí này cơ hội chiếm quyền kiểm soát.
The magician guards himself from "drowning" or from coming under the influence of the water or astral elementals,
Nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi "chết đuối" hay khỏi việc rơi vào dưới ảnh hưởng của các hành khí của nước hay hành khí cảm dục,
134. This, then, is the occult definition of “drowning”. It means to come under the control of the “water or astral elementals”. Here, apparently, we are not speaking of the Agnisuryans as devas on the evolutionary path but strictly of water elementals.
134. Vậy thì đây là định nghĩa huyền bí học của “chết đuối”. Nó có nghĩa là rơi vào dưới quyền kiểm soát của các “hành khí của nước hay hành khí cảm dục”. Ở đây, hiển nhiên chúng ta không nói về các Agnisuryans như các thiên thần trên con đường thăng thượng tiến hoá mà nói chỉ riêng về các hành khí của nước.
135. In less drastic cases, if a man came increasingly under the control of the water or astral elementals, he would find himself under the constant sway of desires which were contrary to his soul purposes. He would be overcome by feeling and emotion and would not be able to sustain his mental focus.
135. Trong những trường hợp ít nghiêm trọng hơn, nếu một người ngày càng rơi vào dưới quyền kiểm soát của các hành khí của nước hay hành khí cảm dục, y sẽ thấy mình ở dưới sự chi phối liên tục của những ham muốn trái ngược với các mục đích của linh hồn mình. Y sẽ bị cảm giác và cảm xúc lấn át và sẽ không thể duy trì sự tập trung trí tuệ của mình.
136. While the term “Agnisuryans” can be used broadly, perhaps including water elementals, so often, in the books, the term indicates devas on the evolutionary path.
136. Dù thuật ngữ “Agnisuryans” có thể được dùng theo nghĩa rộng, có lẽ bao gồm cả các hành khí của nước, nhưng rất thường trong các sách, thuật ngữ này chỉ các thiên thần trên con đường thăng thượng tiến hoá.
through a knowledge of certain formulas, and until these sounds and mantrams are imparted and known, it is not safe for the man on the physical plane to attempt magical creation.
nhờ tri thức về một số công thức nhất định, và cho đến khi những âm thanh và mantram này được truyền dạy và biết đến, thì con người trên cõi hồng trần vẫn chưa an toàn để thử sáng tạo huyền thuật.
137. This is a point blank statement. There is no way to evade its implications. “Do not attempt magical work until the protective formulas have been imparted and until they are assimilated.” Readers of this book cannot say they have not been warned.
137. Đây là một phát biểu thẳng thừng. Không có cách nào né tránh các hàm ý của nó. “Đừng thử công việc huyền thuật cho đến khi các công thức bảo vệ đã được truyền dạy và cho đến khi chúng được đồng hóa.” Những độc giả của cuốn sách này không thể nói rằng họ đã không được cảnh báo.
138. Below are some hints regarding the formulas but naturally, they are not imparted..
138. Dưới đây là một vài gợi ý liên quan đến các công thức ấy, nhưng dĩ nhiên chúng không được truyền dạy..
These formulas are three in number: [Page 1016]
Các công thức này có ba loại: [Page 1016]
First, those which blend the two notes, add a third, and thus call into activity the builders of the astral plane, the Agnisuryans, in some one or other of their grades.
Thứ nhất, những công thức hòa trộn hai nốt, thêm một nốt thứ ba, và nhờ đó gọi vào hoạt động các đấng kiến tạo của cõi cảm dục, các Agnisuryans, trong một cấp độ nào đó của họ.
139. In this section of text the Agnisuryans are indicated as “builders” and thus, most probably, as evolutionary devas. Earlier in the text DK discussed the difference between the dangerous elementals and the devas who are evolutionary builders. Far greater purity of life was needed to contact the latter.
139. Trong phần bản văn này, các Agnisuryans được chỉ ra như những “đấng kiến tạo” và do đó rất có thể là các thiên thần tiến hoá. Trước đó trong bản văn, Chân sư DK đã bàn về sự khác biệt giữa các hành khí nguy hiểm và các thiên thần là những đấng kiến tạo tiến hoá. Cần có sự thanh khiết đời sống lớn lao hơn nhiều để tiếp xúc với loại sau.r.
140. Below we have the nature of the three notes sounded.
140. Dưới đây chúng ta có bản chất của ba nốt được xướng lên.
These are based on the initiatory sound of the Ego,
Những công thức này dựa trên âm thanh điểm đạo của Chân ngã,
141. Given the sequence of notes discussed in the section of text above, this is the first note.
141. Xét theo chuỗi nốt được bàn đến trong phần bản văn trên, đây là nốt thứ nhất.
and distinguish between it and the sound of the note of the builders
và phânbiệt nó với âm thanh của nốt của các đấng kiến tạo
142. This is the third note, calling into activity the Agnisuryans.
142. Đây là nốt thứ ba, gọi các Agnisuryans vào hoạt động.
and lives of the tiny thought form already formed.
và các sự sống của hình tư tưởng nhỏ bé đã được tạo thành rồi.
143. The note emanating from these tiny elemental lives is presumably the second note.
143. Nốt phát ra từ các sự sống hành khí nhỏ bé này hẳn là nốt thứ hai.
The formula is chanted on a basis of these three notes,
Công thức được tụng dựa trên ba nốt này,
144. Though exactly how it is chanted we are not told. We see that the voice is involved and an ability to sing or chant on certain pitches.
144. Dù chính xác nó được tụng như thế nào thì chúng ta không được cho biết. Chúng ta thấy giọng nói có liên quan và có một khả năng hát hay tụng ở những cao độ nhất định.
variation of tone and note, though not of formula, producing the types of forms.
sự biến đổi của âm sắc và nốt, dù không phải của công thức, tạo ra các loại hình tướng.
145. Probably, in this context, “tone” is not the equivalent of “note”. Tone may have more to do with quality of voice and with the pitch of the note. The “note” is probably one of the notes of the scale. As we know, the same note can be intoned in different octaves.
145. Có lẽ, trong ngữ cảnh này, “âm sắc” không tương đương với “nốt”. Âm sắc có thể liên quan nhiều hơn đến phẩm tính của giọng nói và đến cao độ của nốt. “Nốt” có lẽ là một trong các nốt của thang âm. Như chúng ta biết, cùng một nốt có thể được ngân lên ở những quãng tám khác nhau.
146. We see there is much to be learned. Such knowledge must be imparted by One who knows. Can the soul itself impart such detail?
146. Chúng ta thấy còn rất nhiều điều phải học. Tri thức như thế phải được truyền dạy bởi Đấng biết rõ. Chính linh hồn có thể truyền dạy những chi tiết như thế chăng?
147. We might think that such a formula would control any relationship developing between these three factors.
147. Chúng ta có thể nghĩ rằng một công thức như thế sẽ kiểm soát bất kỳ mối quan hệ nào phát triển giữa ba yếu tố này.
148. The formula would remain the same but the notes and their relationship could change. Much would depend upon the vibratory notes of the subplanes upon which magical work was being attempted.
148. Công thức sẽ giữ nguyên, nhưng các nốt và mối liên hệ của chúng có thể thay đổi. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào các nốt rung động của những cõi phụ nơi công việc huyền thuật đang được thử thực hiện.
149. Different kinds of forms would result from the use of different notes, but the formula for chanting would remain the same.
149. Những loại hình tướng khác nhau sẽ phát sinh từ việc sử dụng những nốt khác nhau, nhưng công thức để tụng sẽ vẫn giữ nguyên.
Second, those which are of a purely protective nature, and which, through a knowledge of the laws of sound as they are known in connection with water (or the astral plane), place a vacuum between the magician and the waters, as well as between him and his creation.
Thứ hai, những công thức có bản chất thuần túy bảo vệ, và những công thức ấy, nhờ tri thức về các định luật của âm thanh như chúng được biết trong liên hệ với nước (hay cõi cảm dục), đặt một khoảng chân không ở giữa nhà huyền thuật và các làn nước, cũng như giữa y và sáng tạo phẩm của y.
150. Perhaps the most important thought to be extracted from the second paragraph is that through a knowledge of sound, protective vacuums can be created.
150. Có lẽ tư tưởng quan trọng nhất rút ra từ đoạn thứ hai là nhờ tri thức về âm thanh, các khoảng chân không bảo vệ có thể được tạo ra.
151. A vacuum is a protective barrier preventing the elementals of water from reaching and disrupting the magician.
151. Một khoảng chân không là một hàng rào bảo vệ ngăn các hành khí của nước tiếp cận và phá rối nhà huyền thuật.
152. Why the vacuum between the magician and the thoughtform he is in process of creating? We have read of the need to keep the magician distinct from that which he creates. It is disastrous to the magician for the thoughtform to return and lodge within the aura of the magician or be absorbed by that aura. There it would act as a vampire and obsessing agent. It would seem that the vacuum created is one of the methods to prevent this ‘return to sender’.
152. Tại sao lại có khoảng chân không giữa nhà huyền thuật và hình tư tưởng mà y đang trong tiến trình tạo ra? Chúng ta đã đọc về nhu cầu phải giữ cho nhà huyền thuật tách biệt với điều mà y tạo ra. Sẽ là tai hại cho nhà huyền thuật nếu hình tư tưởng quay trở lại và trú ngụ trong hào quang của nhà huyền thuật hoặc bị hào quang ấy hấp thụ. Ở đó nó sẽ hoạt động như một ma cà rồng và một tác nhân ám nhập. Có vẻ như khoảng chân không được tạo ra là một trong những phương pháp để ngăn chặn sự ‘trả lại người gửi’ này.
This formula is based on the sounds connected with air as well,
Công thức này cũng dựa trên các âm thanh gắn liền với khí,
153. We are learning that there are sounds connected with all the elements.
153. Chúng ta đang học rằng có những âm thanh gắn liền với mọi nguyên tố.
for it is through placing around himself a protecting shell of air atoms, esoterically understood, that the magician guards himself from the approach of the water builders.
vì chính nhờ đặt quanh mình một vỏ bảo vệ bằng các nguyên tử khí, được hiểu theo nghĩa huyền bí, mà nhà huyền thuật tự bảo vệ mình khỏi sự tiếp cận của các đấng kiến tạo của nước.
154. This seems to be a definition of what it means to create a vacuum between the magician and the waters.
154. Điều này dường như là một định nghĩa về ý nghĩa của việc tạo ra một khoảng chân không giữa nhà huyền thuật và các làn nước.
155. Perhaps at this point we should remember that the element of “air” is associated with the buddhic plane. Are buddhic atoms involved in creating this protective shell? We have often been told of the necessity for the astral plane to become responsive to the buddhic plane and of the close interplay between the two planes.
155. Có lẽ tại điểm này chúng ta nên nhớ rằng nguyên tố “khí” gắn liền với cõi Bồ đề. Có phải các nguyên tử Bồ đề tham gia vào việc tạo ra lớp vỏ bảo vệ này không? Chúng ta thường được bảo về sự cần thiết để cõi cảm dục trở nên đáp ứng với cõi Bồ đề và về sự tương tác mật thiết giữa hai cõi này.
156. Here again we find the term “builders”—the “water builders”. We have to determine whether DK is referencing the elementals of water or the Agnisuryans.
156. Ở đây một lần nữa chúng ta gặp thuật ngữ “đấng kiến tạo”—các “đấng kiến tạo của nước”. Chúng ta phải xác định liệu Chân sư DK đang nói đến các hành khí của nước hay các Agnisuryans.
157. We know that the magician can be menaced by the elementals of the various elements in which he is working? To what degree is he menaced by the Agnisuryans?
157. Chúng ta biết rằng nhà huyền thuật có thể bị đe dọa bởi các hành khí của những nguyên tố khác nhau mà y đang làm việc trong đó. Y bị các Agnisuryans đe dọa đến mức nào?
Third, those which, when sounded, produce two results: the sending forth of the perfected creation, so that it may take to itself a physical body, and next, the dispersal of the building forces, now that their work is completed.
Thứ ba, những công thức mà khi được xướng lên sẽ tạo ra hai kết quả: sự phóng ra sáng tạo phẩm đã hoàn chỉnh, để nó có thể tự nhận lấy một thể xác, và kế đó là sự phân tán các mãnh lực kiến tạo, nay khi công việc của chúng đã hoàn tất.
158. Let us tabulate the results of this third kind of formula:
158. Hãy lập bảng các kết quả của loại công thức thứ ba này:
a. The sending forth of the perfected creation. It is clear that this creation is etheric in nature. Such an etheric form naturally takes to itself a physical body.
a. Sự phóng ra sáng tạo phẩm đã hoàn chỉnh. Rõ ràng sáng tạo phẩm này có bản chất dĩ thái. Một hình tướng dĩ thái như thế tự nhiên sẽ nhận lấy một thể xác.
b. The dispersal of the building forces. These devas must not be bound once their work is completed. So much in the magical process consists of binding and then releasing. Naturally, there would be both binding and releasing formulas.
b. Sự phân tán các mãnh lực kiến tạo. Những thiên thần này không được bị trói buộc khi công việc của chúng đã hoàn tất. Rất nhiều trong tiến trình huyền thuật bao gồm việc trói buộc rồi giải phóng. Tự nhiên sẽ có cả những công thức trói buộc lẫn giải phóng.
This last set of formulas is of exceeding interest, and were they not so powerful the magician might find himself cumbered with the produce of his thought, and the prey of a vital form, and of certain "devas of the waters" who would never leave him until they had completely drained from him all the "waters of his nature," absorbing it into their own nature, and producing his astral death.
Bộ công thức cuối cùng này cực kỳ đáng quan tâm, và nếu chúng không mạnh mẽ đến thế thì nhà huyền thuật có thể thấy mình bị chất chồng bởi sản phẩm của tư tưởng mình, và trở thành mồi của một hình tướng sinh lực, và của một số "thiên thần của nước" nhất định, những kẻ sẽ không bao giờ rời y cho đến khi chúng đã rút cạn khỏi y toàn bộ "các làn nước của bản chất y," hấp thụ chúng vào bản chất riêng của chúng, và gây ra cái chết cảm dục của y.
159. Here we have a fascinating section. DK tells us how fortunate the magician is that the third type of formula is so powerful.
159. Ở đây chúng ta có một đoạn thật hấp dẫn. Chân sư DK cho chúng ta biết nhà huyền thuật may mắn biết bao vì loại công thức thứ ba mạnh mẽ đến thế.
160. What does this type of formula prevent?
160. Loại công thức này ngăn ngừa điều gì?
a. Becoming the prey of a vital form—presumably, a vital thought form. This, we know, leads often to obsession.
a. Trở thành mồi của một hình tướng sinh lực—hẳn là một hình tư tưởng sinh lực. Điều này, như chúng ta biết, thường dẫn đến ám nhập.
b. Becoming the prey of certain “devas of the waters” who would induce his astral death. Would this mean the magician had become completely incapable of sensitive response or of normal desire? Or would it mean the death of the incarnated personality? The link between the mental body and the etheric-physical body would be broken.
b. Trở thành mồi của một số “thiên thần của nước” nhất định, những kẻ sẽ gây ra cái chết cảm dục của y. Điều này có nghĩa là nhà huyền thuật đã trở nên hoàn toàn bất lực trong đáp ứng nhạy cảm hay trong ham muốn bình thường chăng? Hay nó có nghĩa là cái chết của phàm ngã đang lâm phàm? Mối liên kết giữa thể trí và thể dĩ thái-hồng trần sẽ bị cắt đứt.
161. Regarding these “devas of the waters”, DK is being purposely obscure. Are they elemental forces? If so, why does He use the word “devas”. Are they, then, certain devic forces on the evolutionary path, but still dangerous to the magician if not controlled? One day when we are practical white magicians, a mastery of these technicalities will be ours.
161. Về những “thiên thần của nước” này, Chân sư DK cố ý nói mơ hồ. Chúng có phải là các mãnh lực hành khí không? Nếu vậy, tại sao Ngài lại dùng từ “thiên thần”? Vậy thì chúng có phải là một số mãnh lực thiên thần nào đó trên con đường tiến hoá, nhưng vẫn nguy hiểm đối với nhà huyền thuật nếu không được kiểm soát? Một ngày kia khi chúng ta là những nhà huyền thuật chánh đạo thực hành, sự làm chủ các chi tiết kỹ thuật này sẽ thuộc về chúng ta.
162. Subtle forms of interplay are at work here. Our vehicles are composed of subtle substances, and subtle beings will have their inevitable effect upon such substances. It is our ignorance of these matters which makes us at times, foolhardy.
162. Những hình thức tương tác vi tế đang hoạt động ở đây. Các vận cụ của chúng ta được cấu thành từ những chất liệu vi tế, và những hữu thể vi tế tất sẽ có ảnh hưởng của chúng lên các chất liệu ấy. Chính sự vô minh của chúng ta về những vấn đề này khiến đôi khi chúng ta trở nên liều lĩnh.
The curious phenomenon would then be seen of the Ego or solar Angel
Khi ấy hiện tượng kỳ lạ sẽ được thấy là Chân ngã hay Thái dương Thiên Thần
163. Note here again the equivalence between the term “Ego” and the term “solar Angel”.
163. Ở đây một lần nữa hãy lưu ý sự tương đương giữa thuật ngữ “Chân ngã” và thuật ngữ “Thái dương Thiên Thần”.
being incarnated in the mental sheath, yet separated from the physical body, owing to the occult "drowning" of the magician.
đang nhập thể trong thể trí, nhưng lại tách rời khỏi thể xác, do sự "chết đuối" huyền bí của nhà huyền thuật.
164. “Drowning” we see, in this instance (different from the normal “drowning” of the aspirant), is much more drastic than merely being overcome by the astral devas and compelled by them. It is as if the astral body is completely destroyed. Naturally, the astral permanent atom would remain.
164. Trong trường hợp này, như chúng ta thấy, “chết đuối” (khác với sự “chết đuối” bình thường của người chí nguyện) nghiêm trọng hơn nhiều so với việc chỉ bị các thiên thần cảm dục áp đảo và cưỡng bách. Dường như thể cảm dục bị hủy diệt hoàn toàn. Dĩ nhiên, nguyên tử trường tồn cảm dục vẫn còn.
165. This could create an easily ‘obsessable’ physical vehicle if the vehicle endured for long.
165. Điều này có thể tạo ra một vận cụ hồng trần dễ bị ‘ám nhập’ nếu vận cụ ấy còn tồn tại lâu.
There is nothing left for the Ego to do then but to snap the sutratma [Page 1017] or thread, and sever all connection with the lowest sheath.
Khi ấy Chân ngã không còn gì để làm ngoài việc bẻ gãy sutratma [Page 1017] hay sợi dây, và cắt đứt mọi liên hệ với thể thấp nhất.
166. We should note that this option is well within the capacity of the Ego. It can control the death process.
166. Chúng ta nên lưu ý rằng lựa chọn này hoàn toàn nằm trong khả năng của Chân ngã. Nó có thể kiểm soát tiến trình chết.
167. Apparently, without the astral vehicle the lowest sheath is useless to the Ego. All communication between the lower and the higher would be severed.
167. Hiển nhiên, không có vận cụ cảm dục thì thể thấp nhất là vô dụng đối với Chân ngã. Mọi thông đạt giữa phần thấp và phần cao sẽ bị cắt đứt.
This lowest sheath then may persist for a short time, according to the strength of the animal life,
Khi ấy thể thấp nhất này có thể còn tồn tại trong một thời gian ngắn, tùy theo sức mạnh của sự sống thú tính,
168. The physical vehicle, we realize, has a life of its own. There are many more normal cases in which the vegetative life of the physical vehicle persists but “no one is at home”.
168. Chúng ta nhận ra rằng vận cụ hồng trần có một sự sống riêng của nó. Có nhiều trường hợp bình thường hơn trong đó sự sống thực vật của vận cụ hồng trần vẫn tiếp diễn nhưng “không có ai ở nhà”.
but more probably death would immediately ensue.4 Several magicians have perished thus.
nhưng có lẽ nhiều hơn là cái chết sẽ xảy ra ngay lập tức.4 Một số nhà huyền thuật đã chết như thế.
169. Master DK has access to the records.
169. Chân sư DK có quyền tiếp cận các hồ sơ.
170. How would such a death appear to the onlooker? As a heart attack? As a stroke?
170. Một cái chết như thế sẽ hiện ra thế nào đối với người quan sát? Như một cơn đau tim? Như một cơn đột quỵ?
171. Below are some footnotes from The Secret Doctrine telling of what may result following the separation of the Ego from the physical body. We must note carefully—when are we speaking of a temporary separation (if the footnotes deal with this at all) and when of a permanent separation.
171. Dưới đây là một số cước chú từ Giáo Lý Bí Nhiệm kể về điều có thể xảy ra sau khi Chân ngã tách khỏi thể xác. Chúng ta phải lưu ý cẩn thận—khi nào chúng ta đang nói về một sự tách rời tạm thời (nếu các cước chú có bàn đến điều này) và khi nào là một sự tách rời vĩnh viễn.
Footnote 4:
Cước chú 4:
The courses open to the Divine Ego after separation are two.—S. D., III, 524.
Có hai con đường mở ra cho Chân ngã thiêng liêng sau khi tách rời.—S. D., III, 524.
a. It can start a fresh series of incarnations.
a. Nó có thể bắt đầu một chuỗi lâm phàm mới.
172. We note that a “series” may begin. It may be that such a series would be characterized by a ‘corrective theme’—some trend or pursuit which would not lead the magician into the same fatal predicament again.
172. Chúng ta lưu ý rằng một “chuỗi” có thể bắt đầu. Có thể chuỗi ấy sẽ được đặc trưng bởi một ‘chủ đề hiệu chỉnh’—một xu hướng hay sự theo đuổi nào đó sẽ không dẫn nhà huyền thuật vào cùng hoàn cảnh chí tử ấy lần nữa.
173. To start such a series would be the normal course of action and would not suggest the Ego’s retreat due to the moral turpitude of its personality.
173. Bắt đầu một chuỗi như thế sẽ là tiến trình hành động bình thường và sẽ không gợi ý sự rút lui của Chân ngã do sự bại hoại đạo đức của phàm ngã nó.
174. The separation which preceded this “fresh series” was obviously not permanent.
174. Sự tách rời đi trước “chuỗi mới” này rõ ràng không phải là vĩnh viễn.
b. It can return to the 'bosom of the Father' and be gathered back to the Monad.
b. Nó có thể trở về “lòng Cha” và được thu hồi về chân thần.
175. Why would this occur? And if it did occur, would it not interrupt the overall evolution of the Ego from individualization to initiation?
175. Tại sao điều này lại xảy ra? Và nếu nó thực sự xảy ra, chẳng phải nó sẽ làm gián đoạn toàn bộ tiến hoá của Chân ngã từ biệt ngã hóa đến điểm đạo sao?
176. However, is DK hinting that periodically the Ego is gathered back to the “bosom of the Father”?
176. Tuy nhiên, có phải Chân sư DK đang gợi ý rằng theo chu kỳ, Chân ngã được thu hồi về “lòng Cha” chăng?
177. If this should occur on any periodic basis according to egoic cycles, would it not mean the premature destruction of the causal body? Factors mysterious to us seem to be involved.
177. Nếu điều này xảy ra trên một cơ sở chu kỳ nào đó theo các chu kỳ chân ngã, chẳng phải nó sẽ có nghĩa là sự hủy diệt sớm của thể nguyên nhân sao? Dường như có những yếu tố huyền nhiệm đối với chúng ta đang can dự vào đây.
178. Before considering these footnotes, we seemed to have been speaking of a calamity which could befall an unwise magician. Yet, in this context, we seem most likely to be speaking of those who have chosen the left hand path, as a result of which the Ego has given up its association with the evil-tending personality.
178. Trước khi xem xét các cước chú này, dường như chúng ta đã nói về một tai họa có thể giáng xuống một nhà huyền thuật thiếu khôn ngoan. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh này, dường như rất có thể chúng ta đang nói về những kẻ đã chọn tả đạo, kết quả là Chân ngã đã từ bỏ sự liên kết của nó với phàm ngã có xu hướng ác.
179. These do not seem to be the same subjects. The appended footnote, then, (at least in point b.) is interesting but not directly explanatory of calamity encountered through the faulty execution of the magical process.
179. Dường như đây không phải là cùng một đối tượng. Vậy thì cước chú được thêm vào này (ít nhất ở điểm b.) thật thú vị nhưng không trực tiếp giải thích tai họa gặp phải do việc thực hiện sai lầm tiến trình huyền thuật.
Two courses are open to the lower discarded self.—S. D., III, 525, 527.
Có hai con đường mở ra cho phàm ngã bị loại bỏ.—S. D., III, 525, 527.
180. Here we are speaking of the second course of action and not of the self which is given the opportunity of a fresh series of incarnations.
180. Ở đây chúng ta đang nói về tiến trình hành động thứ hai chứ không phải về cái ngã được trao cơ hội cho một chuỗi lâm phàm mới.
a. If with a physical body it becomes a soulless man. In this case there is hope.
a. Nếu có thể xác, nó trở thành một con người vô hồn. Trong trường hợp này vẫn còn hy vọng.
181. How long can a discarded self survive? How long can the physical body of a discarded self survive? Can a discarded self reincarnate? It would seem not as this would require the soul. Does a discarded self, once death ensures, persist upon the astral plane? This is possible.
181. Một cái ngã bị loại bỏ có thể sống sót bao lâu? Thể xác của một cái ngã bị loại bỏ có thể sống sót bao lâu? Một cái ngã bị loại bỏ có thể tái sinh không? Có vẻ là không, vì điều này sẽ đòi hỏi linh hồn. Một cái ngã bị loại bỏ, một khi cái chết xảy ra, có còn tồn tại trên cõi cảm dục không? Điều này là có thể.
182. The instances in this footnote seem to suggest the survival of the personality once the sutratma has been snapped. Or, in the case here discussed, has the sutratma actually been snapped. Perhaps not. Perhaps there is still a sutratma, otherwise the physical body would immediately die and the other vehicles in short order. Perhaps in the case here discussed, the soul has merely turned away for a time. Perhaps discarding does mean the fatal snapping of the sutratma, otherwise how could there be the kind of case discussed above—i.e., “with a physical body”.
182. Những trường hợp trong cước chú này dường như gợi ý sự tồn tại của phàm ngã sau khi sutratma đã bị bẻ gãy. Hoặc, trong trường hợp đang được bàn ở đây, liệu sutratma có thực sự đã bị bẻ gãy không. Có lẽ là không. Có lẽ vẫn còn một sutratma, nếu không thì thể xác sẽ chết ngay lập tức và các thể khác cũng sẽ nhanh chóng như vậy. Có lẽ trong trường hợp đang được bàn ở đây, linh hồn chỉ mới quay đi trong một thời gian. Có lẽ việc loại bỏ quả thực có nghĩa là sự bẻ gãy chí tử của sutratma, nếu không thì làm sao có thể có loại trường hợp được bàn ở trên—tức là, “có thể xác”.
183. The term “discarded self” needs examination. Before taking up the footnote, DK was speaking of a discarded physical body, probably followed by a fresh series of incarnations. But when H.P.B. speaks of a “discarded self” she could be speaking of the Ego’s dissociation from the atomic triangle and, thus, its dissociation from the remaining personality. This would produce, then, in the words of the footnote, the “soulless man”.
183. Thuật ngữ “cái ngã bị loại bỏ” cần được khảo sát. Trước khi đề cập cước chú, Chân sư DK đang nói về một thể xác bị loại bỏ, có lẽ tiếp theo là một chuỗi lâm phàm mới. Nhưng khi H.P.B. nói về một “cái ngã bị loại bỏ”, bà có thể đang nói về sự tách rời của Chân ngã khỏi tam giác nguyên tử và như vậy, sự tách rời của nó khỏi phàm ngã còn lại. Khi ấy điều này sẽ tạo ra, theo lời cước chú, “con người vô hồn”.
b. If without a physical body it becomes a spook, or one form of the Dweller on the Threshold.
b. Nếu không có thể xác, nó trở thành một bóng ma, hay một dạng của Kẻ Chận Ngõ.
184. A “soulless man” has a physical body. A “spook” does not. We still need to solve the problem of the condition of the sutratma in the soulless man.
184. Một “con người vô hồn” có thể xác. Một “bóng ma” thì không. Chúng ta vẫn cần giải quyết vấn đề về tình trạng của sutratma trong con người vô hồn.
185. We see that it is possible for the Ego/Solar Angel either to ‘snap the cord’ or dissociated itself when the lower center of consciousness is focussed upon the astral plane and there is no physical body.
185. Chúng ta thấy rằng Chân ngã/Thái dương Thiên Thần có thể hoặc ‘bẻ gãy sợi dây’ hoặc tự tách rời khi trung tâm tâm thức thấp được tập trung trên cõi cảm dục và không có thể xác.
186. Reviewing, then, two types of disaster seem to have been discussed above:
186. Vậy thì khi điểm lại, dường như hai loại tai họa đã được bàn ở trên:
a. The ‘drowning’ of the magician and the subsequent “astral death”, followed by a deliberate snapping of the sutratma by the Ego. This process does not necessarily imply moral wickedness—perhaps only foolishness on the part of the magician.
a. Sự ‘chết đuối’ của nhà huyền thuật và “cái chết cảm dục” tiếp theo, rồi sau đó là sự bẻ gãy sutratma một cách có chủ ý bởi Chân ngã. Tiến trình này không nhất thiết hàm ý sự xấu ác về đạo đức—có lẽ chỉ là sự ngu xuẩn nơi nhà huyền thuật.
b. The discarding by the Ego of the personality (whether focussed in a physical body or upon the astral plane) for reasons other than failed magic. Such reasons usually involve focus on the left hand path and wickedness. In the first place we have only a temporary discarding of the personality, perhaps only for an incarnational period. In the second case, we seem to have a more permanent dissociation, perhaps for many lives, or even for a monadic cycle.
b. Sự loại bỏ phàm ngã bởi Chân ngã (dù được tập trung trong một thể xác hay trên cõi cảm dục) vì những lý do khác hơn huyền thuật thất bại. Những lý do ấy thường liên quan đến sự tập trung vào tả đạo và sự gian ác. Trong trường hợp thứ nhất, chúng ta chỉ có một sự loại bỏ tạm thời phàm ngã, có lẽ chỉ trong một thời kỳ lâm phàm. Trong trường hợp thứ hai, dường như chúng ta có một sự phân ly bền lâu hơn, có lẽ trong nhiều kiếp sống, hoặc thậm chí trong một chu kỳ chân thầne.
c. That to which the second footnote and its elaborations refer are, therefore, much more serious cases.
c. Vì vậy, điều mà cước chú thứ hai và những phần khai triển của nó đề cập đến là những trường hợp nghiêm trọng hơn nhiều.
d. Perhaps this discarding of the lower self, especially when permanent or of lengthy duration, is the real occult meaning of “excommunication”.
d. Có lẽ sự loại bỏ phàm ngã này, nhất là khi mang tính thường trực hoặc kéo dài lâu, chính là ý nghĩa huyền bí thực sự của “sự tuyệt thông”.
RULE IX. Condensation next ensues. The fire and waters meet, the form swells and grows. Let the magician set his form upon the proper path.
QUY LUẬT IX. Sự ngưng tụ tiếp theo xảy ra. Lửa và nước gặp nhau, hình tướng phồng lên và tăng trưởng. Hãy để nhà huyền thuật đặt hình tướng của mình trên con đường thích hợp.
187. It is clear that we are in the midst of an alchemical process.
187. Rõ ràng là chúng ta đang ở giữa một tiến trình thuật luyện kim.
188. In the meeting of fire and water lies much difficulty for the average aspirant. We will see its result in relation to the magical process.
188. Trong sự gặp gỡ của lửa và nước có nhiều khó khăn đối với người chí nguyện trung bình. Chúng ta sẽ thấy kết quả của nó trong liên hệ với tiến trình huyền thuật.
This rule is very briefly summed up in the injunction: Let desire and mind be so pure and so equally apportioned and the created form so justly balanced that it cannot be attracted towards the destructive or "left-hand" path.
Quy luật này được tóm lược rất ngắn gọn trong mệnh lệnh sau: Hãy để dục vọng và trí tuệ tinh khiết đến mức như nhau và được phân phối đồng đều đến mức như nhau, và hình tướng được tạo ra được quân bình công chính đến mức nó không thể bị lôi cuốn về phía con đường hủy diệt hay “tả đạo”.
189. Here we have one of the shortest synopses.
189. Ở đây chúng ta có một trong những bản tóm lược ngắn nhất.
190. There is a very important indication—imbalance within the created form may attract it to the left hand path.
190. Ở đây có một chỉ dẫn rất quan trọng—sự mất quân bình bên trong hình tướng được tạo ra có thể lôi kéo nó vào tả đạo.
191. We may also say that imbalance within the thoughtform which is man may attract him to the left hand path.
191. Chúng ta cũng có thể nói rằng sự mất quân bình bên trong hình tư tưởng là con người có thể lôi kéo y vào tả đạo.
192. As well we see that the left hand path is the “destructive” path.
192. Chúng ta cũng thấy rằng tả đạo là con đường “hủy diệt”.
RULE X. As the waters bathe the form created, they are absorbed and used.
QUY LUẬT X. Khi các vùng nước tắm rửa hình tướng được tạo ra, chúng được hấp thụ và sử dụng.
193. This bathing seems a gentle act and not disruptive to the welfare of the thoughtform.
193. Sự tắm gội này dường như là một hành động nhẹ nhàng và không gây xáo trộn cho phúc lợi của hình tư tưởng.
The form increases in its strength; let the magician thus continue until the work suffices.
Hình tướng tăng lên về sức mạnh của nó; hãy để nhà huyền thuật tiếp tục cho đến khi công việc đã đủ.
194. We have a slow and balanced process. The factor of balance has been much emphasized in the discussion of magical work upon the astral plane.
194. Chúng ta có một tiến trình chậm rãi và quân bình. Yếu tố quân bình đã được nhấn mạnh rất nhiều trong cuộc bàn luận về công việc huyền thuật trên cõi cảm dục.
195. Upon the astral plane the thoughtform is gradually increasing in strength.
195. Trên cõi cảm dục, hình tư tưởng đang dần dần gia tăng sức mạnh.
Let the outer builders cease their labors then, and let the inner workers enter on their cycle.
Khi đó, hãy để các đấng kiến tạo bên ngoài ngừng các công việc của họ, và hãy để các công nhân bên trong bước vào chu kỳ của họ.
196. Here is a quotation from A Treatise on White Magic which clarifies the meaning of “the outer builders”
196. Đây là một trích dẫn từ Luận về Chánh Thuật làm sáng tỏ ý nghĩa của “các đấng kiến tạo bên ngoài”
There is first the group of forces which concerns purely the form side, that are the work of the outer Builders, and which are the predominant factors right up to the stage of the Probationary Path. These are the forces inherent in matter itself; they deal with the body nature…(TWM 281)
Trước hết có nhóm các mãnh lực chỉ liên quan thuần túy đến phương diện hình tướng, là công việc của các Đấng Kiến Tạo bên ngoài, và là những yếu tố chi phối chủ yếu cho đến tận giai đoạn của Con Đường Dự Bị. Đây là những mãnh lực vốn có trong chính vật chất; chúng đề cập đến bản chất thể…(TWM 281)
197. These “outer builders” concern both the physical and etheric forces.
197. Những “đấng kiến tạo bên ngoài” này liên quan đến cả các mãnh lực hồng trần lẫn dĩ thái.
198. The section immediately following tells us how outer and inner builders are directed:
198. Phần ngay sau đó cho chúng ta biết các đấng kiến tạo bên ngoài và bên trong được chỉ đạo như thế nào:
Let him withdraw the builders of the outer form, and let the inner builders of dynamic force push it forth into manifestation. Through the eye of the creator are these inner builders brought to functioning, directed action. Through the word of the creator were the outer builders guided. (TWM 279)
Hãy để y rút các đấng kiến tạo của hình tướng bên ngoài lại, và hãy để các đấng kiến tạo bên trong của mãnh lực năng động đẩy nó ra biểu hiện. Chính nhờ con mắt của đấng sáng tạo mà các đấng kiến tạo bên trong này được đưa vào hoạt động, vào hành động có định hướng. Chính nhờ lời của đấng sáng tạo mà các đấng kiến tạo bên ngoài được hướng dẫn. (TWM 279)
199. There comes a time for every evolving Son of God when he must learn to build from within rather than only labor on the periphery manually moving and arranging the most material building forces.
199. Sẽ đến một lúc đối với mọi Con của Thượng đế đang tiến hoá khi y phải học cách kiến tạo từ bên trong thay vì chỉ lao tác ở chu vi, bằng tay di chuyển và sắp xếp những mãnh lực kiến tạo vật chất nhất.
One of the fundamental concepts which is grasped by all magical workers, is that both will and desire are force emanations.
Một trong những khái niệm căn bản được mọi người hoạt động huyền thuật nắm bắt là cả ý chí lẫn dục vọng đều là những sự phát xạ mãnh lựcs.
200. As occultists we are workers within fields of energy. We have to realize that energy goes forth from energy centers. Will and desire are different types of emanations and their impact will be different. The first is impressive. The second is attractive.
200. Là những nhà huyền bí học, chúng ta là những người hoạt động trong các trường năng lượng. Chúng ta phải nhận ra rằng năng lượng phát ra từ các trung tâm năng lượng. Ý chí và dục vọng là những loại phát xạ khác nhau và tác động của chúng sẽ khác nhau. Loại thứ nhất có tính gây ấn tượng. Loại thứ hai có tính hấp dẫn.
They differ in quality and vibration, but are essentially currents of energy, one forming an initial vortex or centre of activity, being centrifugal, and the other being centripetal, and the main factor in the accretion of matter into a form around the central vortex.
Chúng khác nhau về phẩm tính và rung động, nhưng về bản chất đều là những dòng năng lượng, một dòng tạo thành một xoáy ban đầu hay trung tâm hoạt động, mang tính lytâm, và dòng kia mang tính hướng tâm, là yếu tố chính trong sự bồi tụ vật chất thành một hình tướng quanh xoáy trung tâm.
201. DK is speaking of centrifugal and centripetal force. In this context, we can think of desire as related to Mars and centrifugal. Will emphasizes the center and gathers to the center.
201. Chân sư DK đang nói về mãnh lực ly tâm và hướng tâm. Trong ngữ cảnh này, chúng ta có thể nghĩ dục vọng liên hệ với Sao Hỏa và tính ly tâm. Ý chí nhấn mạnh trung tâm và thu gom về trung tâm.
202. Desire rushes outwards. Will “holds the center”.
202. Dục vọng lao vọt ra ngoài. Ý chí thì “giữ vững trung tâm”.
203. However we find ourselves interpreting these statements, we find will emphasizing the center and desire, the periphery.
203. Dù chúng ta diễn giải những phát biểu này theo cách nào, chúng ta vẫn thấy ý chí nhấn mạnh trung tâm còn dục vọng nhấn mạnh chu vi.
204. The will is involved in a number of motions. When a line of energy leaves the center and imposes itself upon the surroundings, will can be seen as the propelling factor. Also, when the center is emphasized and ‘held’, sustaining coherently all related circumstantial factors, again it is the will.
204. Ý chí tham dự vào một số chuyển động. Khi một đường năng lượng rời trung tâm và áp đặt chính nó lên môi trường xung quanh, ý chí có thể được thấy như yếu tố thúc đẩy. Cũng vậy, khi trung tâm được nhấn mạnh và được ‘giữ vững’, duy trì một cách cố kết mọi yếu tố hoàn cảnh có liên hệ, thì một lần nữa đó là ý chí.
This can be seen demonstrating in an interesting way in the case of the egoic lotus, where we have the will aspect forming the "jewel in the lotus," or the inner [Page 1018] centre of electrical energy, and the desire or love aspect forming the egoic lotus itself, or the form which hides the centre.
Điều này có thể được thấy biểu lộ một cách thú vị trong trường hợp của Hoa Sen Chân Ngã, nơi chúng ta có phương diện ý chí tạo thành “ngọc trong hoa sen,” hay trung tâm bên trong [Page 1018] của năng lượng điện, và phương diện dục vọng hay bác ái tạo thành chính Hoa Sen Chân Ngã, hay hình tướng che giấu trung tâm.
205. Desire/love is always structurally peripheral--external to the will.
205. Dục vọng/bác ái luôn luôn ở chu vi về mặt cấu trúc—bên ngoài ý chí.
206. We have a planetary contrast here between Vulcan and Mars—two planets often in contention in the life of the disciple. Vulcan represents the will and the Jewel in the Lotus and Mars represents the factor of desire and all that is peripheral to will.
206. Ở đây chúng ta có một sự tương phản hành tinh giữa Vulcan và Sao Hỏa—hai hành tinh thường xung khắc trong đời sống của đệ tử. Vulcan tượng trưng cho ý chí và Ngọc trong Hoa Sen, còn Sao Hỏa tượng trưng cho yếu tố dục vọng và mọi điều thuộc chu vi đối với ý chí.
207. As well they emphasize the difference between centralization (Vulcan) and outgoing (Mars).
207. Chúng cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa sự tập trung vào trung tâm (Vulcan) và sự hướng ngoại (Sao Hỏa).
The analogy in all form building holds good for gods, men and atoms. The solar system is (from the higher cosmic planes), seen as a vast blue lotus, and so on down the scale;
Sự tương đồng trong mọi công việc kiến tạo hình tướng đều đúng đối với các vị thần, những người nam và nữ, và các nguyên tử. Hệ mặt trời được nhìn thấy (từ các cõi vũ trụ cao hơn) như một hoa sen xanh bao la, và cứ thế đi xuống theo thang bậc;
208. We are presented with a beautiful and powerful image. We note that this perception requires a vantage point on higher cosmic planes. How high? From the cosmic mental plane? The solar system is seen as a chakra—a heart chakra, presumably? From what vantage point are the human chakras clearly seen? Is a correspondence to the "Eye of the Soul" involved?
208. Chúng ta được trao cho một hình ảnh đẹp đẽ và đầy mãnh lực. Chúng ta lưu ý rằng nhận thức này đòi hỏi một điểm quan sát trên các cõi vũ trụ cao hơn. Cao đến mức nào? Từ cõi trí vũ trụ chăng? Hệ mặt trời được nhìn như một luân xa—có lẽ là một luân xa tim? Từ điểm quan sát nào mà các luân xa của con người được thấy rõ ràng? Có phải một sự tương ứng với “Con Mắt của Linh Hồn” có liên hệ ở đây không?
209. Are we also to think that every being, grand or minute, can be perceived, from a certain vantage point, as a “lotus”? The implication seems to be here.
209. Chúng ta cũng có nên nghĩ rằng mọi hữu thể, lớn lao hay nhỏ bé, đều có thể được nhận biết, từ một điểm quan sát nào đó, như một “hoa sen” chăng? Hàm ý dường như là như vậy.
even the tiny atom of substance can be so considered.
ngay cả nguyên tử nhỏ bé của chất liệu cũng có thể được xem như vậy.
210. These visions will open up to properly trained psychics. When it comes to observation of the “tiny atom of substance”, perhaps Master H., Who seeks to relate science and psychism, will play an important role.
210. Những linh ảnh này sẽ mở ra cho các nhà thông linh được huấn luyện đúng đắn. Khi nói đến việc quan sát “nguyên tử nhỏ bé của chất liệu”, có lẽ Chân sư H., Đấng tìm cách liên kết khoa học và thông linh, sẽ đóng một vai trò quan trọng.
The distinction between these various lotuses exists in the number and arrangement of the petals. The solar system is literally a twelve-petalled lotus, each petal being formed of forty-nine lesser petals.
Sự phân biệt giữa các hoa sen khác nhau này nằm ở số lượng và sự sắp xếp của các cánh hoa. Hệ mặt trời theo nghĩa đen là một hoa sen mười hai cánh, mỗi cánh được tạo thành bởi bốn mươi chín cánh hoa nhỏ hơn.
211. Here we have a very important statement.
211. Ở đây chúng ta có một phát biểu rất quan trọng.
212. If all beings can be conceived, from a certain vantage point, as lotuses, the number of petals in each lotus and their arrangement will be of the greatest interest when determining the nature and function of the being. This matter obviously touches on the deeper secrets of occultism.
212. Nếu mọi hữu thể đều có thể được quan niệm, từ một điểm quan sát nào đó, như những hoa sen, thì số lượng cánh hoa trong mỗi hoa sen và sự sắp xếp của chúng sẽ là điều cực kỳ đáng quan tâm khi xác định bản chất và chức năng của hữu thể ấy. Vấn đề này hiển nhiên chạm đến những bí mật sâu xa hơn của huyền bí học.
213. We note the use of the word “literally” telling us that we are not here dealing with symbolism but with fact.
213. Chúng ta lưu ý việc dùng từ “theo nghĩa đen”, cho biết rằng ở đây chúng ta không bàn đến biểu tượng mà là sự kiện.
214. From what is here said we may imagine that there are or will be twelve major planets (one connected with each sign of the zodiac), each one of them considered as a major petal. Each of these planets or petals will be understood as forty-nine-fold. The forty nine lesser petals would indicate the globes within planetary schemes.
214. Từ điều được nói ở đây, chúng ta có thể hình dung rằng có hoặc sẽ có mười hai hành tinh chính (mỗi hành tinh liên kết với một dấu hiệu hoàng đạo), mỗi hành tinh trong số đó được xem như một cánh hoa chính. Mỗi hành tinh hay cánh hoa này sẽ được hiểu là có cấu trúc bốn mươi chín phân. Bốn mươi chín cánh hoa nhỏ hơn sẽ chỉ các bầu hành tinh trong các hệ hành tinh.
215. One would wonder (when considering the forty-nine), whether seven petals, more prominent than any of the forty-nine and representing planetary chains would not also be seen. The chain is a significant structure in the planetary scheme and one can hardly emphasize the globe-level without emphasizing the chain-level which is superordinate to the globe level.
215. Người ta sẽ tự hỏi (khi xét đến con số bốn mươi chín), liệu có phải cũng sẽ thấy bảy cánh hoa nổi bật hơn bất kỳ cánh nào trong số bốn mươi chín cánh ấy và tượng trưng cho các dãy hành tinh hay không. Dãy là một cấu trúc quan trọng trong hệ hành tinh, và khó có thể nhấn mạnh cấp độ bầu hành tinh mà không nhấn mạnh cấp độ dãy, vốn cao hơn cấp độ bầu hành tinh.
The planetary lotuses differ in each scheme,
Các hoa sen hành tinh khác nhau trong mỗi hệ hành tinh,
216. Much will depend upon the chakric function of each planet within the solar system. Would we be justified in relating the number of petals in a human chakra to the number of petals in a solar systemic chakra—i.e., in a planet?
216. Nhiều điều sẽ tùy thuộc vào chức năng luân xa của mỗi hành tinh trong hệ mặt trời. Liệu chúng ta có chính đáng không nếu liên hệ số cánh hoa trong một luân xa của con người với số cánh hoa trong một luân xa của hệ mặt trời—tức là trong một hành tinh?
and one of the secrets of initiation is revealed when the number of the petals of
và một trong những bí mật của điểm đạo được mặc khải khi số cánh hoa của
a. Our earth planet,
a. hành tinh Trái Đất của chúng ta,
b. Our planetary polar opposite,
b. đối cực phân cực hành tinh của chúng ta,
217. This is probably Venus.
217. Đây có lẽ là Sao Kim.
c. Our complementary or equilibrising planet,
c. hành tinh bổ sung hay quân bình hóa của chúng ta,
218. This is probably Mars.
218. Đây có lẽ là Sao Hỏa.
is committed to the initiate.
được trao cho điểm đạo đồ.
219. If we consider Earth as a base of the spine center, Mars as related to the sacral and Venus as the solar plexus center of our Solar Logos, and if we further relate to these planetary centers the numbers of petals in the human energy system, we have 4 + 6 + 10 = 20. The human base of the spine center has four petals; the human sacral center has six petals; the human solar plexus has ten petals.
219. Nếu chúng ta xem Trái Đất như một trung tâm đáy cột sống, Sao Hỏa như liên hệ với xương cùng và Sao Kim như trung tâm tùng thái dương của Thái dương Thượng đế của chúng ta, và nếu chúng ta còn liên hệ với các trung tâm hành tinh này các số cánh hoa trong hệ năng lượng con người, thì chúng ta có 4 + 6 + 10 = 20. Trung tâm đáy cột sống của con người có bốn cánh hoa; trung tâm xương cùng của con người có sáu cánh hoa; tùng thái dương của con người có mười cánh hoa.
220. It is interesting that the numbers associated with the base of the spine center and the sacral center sum to the number associated with the solar plexus center.
220. Điều thú vị là các con số gắn với trung tâm đáy cột sống và trung tâm xương cùng cộng lại thành con số gắn với trung tâm tùng thái dương.
221. While we so not know whether it would be legitimate to reckon using the numbers of petals in the human chakras when dealing with planetary chakras, the total number of petals (taking Earth, Mars and Venus as chakras) would be most significant. Even more fundamentally, the number of petals associated with each of these planets (considering them as chakras within the system of the Solar Logos) would be of great importance.
221. Dù chúng ta không biết liệu có chính đáng hay không khi tính toán bằng các số cánh hoa trong các luân xa con người khi bàn đến các luân xa hành tinh, tổng số cánh hoa (nếu lấy Trái Đất, Sao Hỏa và Sao Kim như các luân xa) sẽ mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Còn căn bản hơn nữa, số cánh hoa gắn với mỗi hành tinh này (khi xem chúng như các luân xa trong hệ thống của Thái dương Thượng đế) sẽ có tầm quan trọng lớn lao.
222. At the moment we can only attempt to understand the function of these planets within the solar system, and speculate upon the number of petals based on that function.
222. Hiện nay chúng ta chỉ có thể cố gắng thấu hiểu chức năng của các hành tinh này trong hệ mặt trời, và suy đoán về số cánh hoa dựa trên chức năng ấy.
223. If Venus represents a heart rather than a solar plexus, the number would more likely be twelve than ten and the total would be the master number 22. Six is a number always associated with Mars (“Mars was called the six-faced planet.” SD I. 399.), and the number four is easily associated with Earth (the fourth major planet from the Sun, counting Vulcan) and a planet the symbol of which includes and emphasizes the cross.
223. Nếu Sao Kim tượng trưng cho một trung tâm tim thay vì một tùng thái dương, thì con số có lẽ sẽ là mười hai hơn là mười, và tổng số sẽ là con số chủ 22. Sáu là một con số luôn gắn với Sao Hỏa (“Sao Hỏa được gọi là hành tinh sáu mặt.” SD I. 399.), và số bốn dễ dàng gắn với Trái Đất (hành tinh chính thứ tư tính từ Mặt Trời, kể cả Vulcan) và với một hành tinh mà biểu tượng của nó bao hàm và nhấn mạnh thập giá.
Armed with this knowledge, he can then work out certain formulas of magic which enable him to create in the three spheres.
Được trang bị bằng tri thức này, khi ấy y có thể khai triển một số công thức huyền thuật giúp y sáng tạo trong ba khối cầu.
224. Here we have an amazing thought. Knowledge of planetary function and of petal numbers and petal arrangement will equip the magician with creative powers within and upon those planets to which the numbers and arrangement pertain.
224. Ở đây chúng ta có một tư tưởng đáng kinh ngạc. Tri thức về chức năng hành tinh, về số cánh hoa và sự sắp xếp cánh hoa sẽ trang bị cho nhà huyền thuật những quyền năng sáng tạo bên trong và trên những hành tinh mà các con số và sự sắp xếp ấy liên hệ đến.
225. We can begin with the Earth and relate magical, creative possibilities on our planet to the factors under discussion.
225. Chúng ta có thể bắt đầu với Trái Đất và liên hệ những khả năng huyền thuật, sáng tạo trên hành tinh của chúng ta với các yếu tố đang được bàn đến.
226. When dealing with magic upon the Earth, the function of the base of the spine center has certainly to be considered, but the Earth can also be understood in relation to the sacral center and the spleen.
226. Khi bàn đến huyền thuật trên Trái Đất, chức năng của trung tâm đáy cột sống chắc chắn phải được xét đến, nhưng Trái Đất cũng có thể được hiểu trong liên hệ với trung tâm xương cùng và luân xa lá lách.
227. What seems to be suggested is that a knowledge of number, and of rhythm based on number, will be very important in the magical creative process.
227. Điều dường như được gợi ý là tri thức về số lượng, và về nhịp điệu dựa trên số lượng, sẽ rất quan trọng trong tiến trình sáng tạo huyền thuật.
228. Each chakra will as well have it note and its color and these will be important factors in the devising or discovery of magical formulas. Each chakra will also have a rhythm of pulsation and this will be important to know when using the energy of that chakra for purposes of magic.
228. Mỗi luân xa cũng sẽ có âm điệu và màu sắc của nó, và đây sẽ là những yếu tố quan trọng trong việc thiết lập hay khám phá các công thức huyền thuật. Mỗi luân xa cũng sẽ có một nhịp điệu rung động, và điều này sẽ quan trọng cần biết khi sử dụng năng lượng của luân xa ấy cho các mục đích huyền thuật.
It is the same basic concept which governs thought form building, and which enables a magician of white magic to produce objective phenomena on the physical plane.
Đó cũng là cùng một khái niệm căn bản chi phối việc kiến tạo hình tư tưởng, và giúp một nhà huyền thuật chánh đạo tạo ra những hiện tượng khách quan trên cõi hồng trần.
229. There is surely a hint here. Can we penetrate it? That is another matter.
229. Chắc chắn ở đây có một gợi ý. Chúng ta có thể xuyên thấu nó chăng? Đó lại là chuyện khác.
230. Certain mantric rhythms, notes and colors will probably be involved in working with the creative process on certain planes. Upon each plane, the use of a different chakra may be necessitated. The nature of the chakra will give hints concerning the mantrams, rhythms, colors and notes to be used. The matter is complex but will be rendered into scientific technique as the centuries unfold.
230. Một số nhịp điệu mantram, âm điệu và màu sắc có lẽ sẽ liên quan đến việc làm việc với tiến trình sáng tạo trên những cõi nhất định. Trên mỗi cõi, việc sử dụng một luân xa khác nhau có thể là điều cần thiết. Bản chất của luân xa sẽ cho những gợi ý liên quan đến các mantram, nhịp điệu, màu sắc và âm điệu cần được sử dụng. Vấn đề này phức tạp nhưng sẽ được chuyển thành kỹ thuật khoa học khi các thế kỷ dần mở ra.
He works with the two types of energy, will and desire, and their equilibrising is what leads to the balancing of the pairs of opposites, and the subsequent release of energy-substance in the formation of the physical plane structure.
Y làm việc với hai loại năng lượng, ý chí và dục vọng, và sự quân bình hóa của chúng là điều dẫn đến sự quân bình của các cặp đối lập, và sự giải phóng tiếp theo của năng lượng-chất liệu trong sự hình thành cấu trúc cõi hồng trần.
231. DK is emphasizing the importance of will and desire as fundamental energies in the magical process.
231. Chân sư DK đang nhấn mạnh tầm quan trọng của ý chí và dục vọng như những năng lượng căn bản trong tiến trình huyền thuật.
232. If we consider the three planets discussed above, perhaps the Earth (with its base of the spine associations) can be considered a source of will; Mars always relates to desire. Is Venus, then, the equilibrizing, balancing force? Its relation to the equilibrizing sign, Libra, makes this a reasonable thought.
232. Nếu chúng ta xét ba hành tinh đã bàn ở trên, có lẽ Trái Đất (với những liên hệ đến đáy cột sống) có thể được xem như một nguồn ý chí; Sao Hỏa luôn liên hệ với dục vọng. Vậy thì Sao Kim có phải là mãnh lực quân bình hóa, cân bằng không? Liên hệ của nó với dấu hiệu quân bình hóa, Thiên Bình, khiến đây là một ý nghĩ hợp lý.
233. When we think of the egoic lotus, and of Vulcan/Mars, and of will/desire, perhaps the creation for which the Ego is responsible (i.e., the incarnated human being) requires an equilibrizing between the forces of the Jewel in the Lotus (Vulcan) and the forces of the petals (related to desire).
233. Khi chúng ta nghĩ đến Hoa Sen Chân Ngã, đến Vulcan/Sao Hỏa, và đến ý chí/dục vọng, thì có lẽ sự sáng tạo mà Chân ngã chịu trách nhiệm (tức con người nhập thể) đòi hỏi một sự quân bình hóa giữa các mãnh lực của Ngọc trong Hoa Sen (Vulcan) và các mãnh lực của các cánh hoa (liên hệ với dục vọng).
234. What is interesting here is the idea that the appearance of physical plane structure is dependent upon the equilibrization of forces.
234. Điều thú vị ở đây là ý tưởng cho rằng sự xuất hiện của cấu trúc cõi hồng trần tùy thuộc vào sự quân bình hóa của các mãnh lực.
235. There is also suggested a kind of ‘etheric release’ (the “release of energy substance”) which, arising from the equilibrization of will and desire, results in the production of dense physical form.
235. Ở đây cũng gợi ý một loại ‘giải phóng dĩ thái’ (sự “giải phóng năng lượng-chất liệu”) mà, phát sinh từ sự quân bình hóa của ý chí và dục vọng, dẫn đến việc tạo ra hình tướng hồng trần đậm đặc.
The magician has to know the following facts:
Nhà huyền thuật phải biết các sự kiện sau đây:
The formulas for the two aspects of logoic energy, will and desire.
Các công thức cho hai phương diện của năng lượng logoic, ý chí và dục vọng.
236. This is the magician as he works with solar and planetary energy. The term “logoic” refers to the Solar Logos.
236. Đây là nhà huyền thuật khi y làm việc với năng lượng thái dương và hành tinh. Thuật ngữ “logoic” chỉ Thái dương Thượng đế.
237. DK seems to hint that the magician must understand these energies and be able to wield them if he is to work effectively upon a certain planet.
237. Chân sư DK dường như gợi ý rằng nhà huyền thuật phải hiểu các năng lượng này và có thể vận dụng chúng nếu y muốn làm việc hữu hiệu trên một hành tinh nhất định.
238. Each of these aspects (both will and desire) interestingly, has a formula associated with it.
238. Điều thú vị là mỗi phương diện này (cả ý chí lẫn dục vọng) đều có một công thức gắn liền với nó.
This is literally apprehension of the note and formula of the Brahma or substance aspect, and the note and formula of the Vishnu, or building aspect.
Đây theo nghĩa đen là sự lĩnh hội âm điệu và công thức của phương diện Brahma hay chất liệu, và âm điệu và công thức của phương diện Vishnu, hay phương diện kiến tạo.
239. This may come as a surprise. One can understand desire as related to Brahma but the real source of will—the Shiva aspect—is not included. Vishnu takes His place.
239. Điều này có thể gây ngạc nhiên. Người ta có thể hiểu dục vọng là liên hệ với Brahma, nhưng nguồn thực sự của ý chí—phương diện Shiva—lại không được bao gồm. Vishnu thay vào vị trí của Ngài.
240. It seems that the magician is using the constructive aspect of will as it expresses through the Vishnu aspect. The energy of Vulcan, though strongly upon the first ray, also has its constructive aspect and can be related to the Heart of the Sun, over which Vishnu rules.
240. Dường như nhà huyền thuật đang sử dụng phương diện xây dựng của ý chí khi nó biểu lộ qua phương diện Vishnu. Năng lượng của Vulcan, dù mạnh mẽ trên cung một, cũng có phương diện xây dựng của nó và có thể được liên hệ với Trái Tim của Mặt Trời, mà Vishnu cai quản.
2. Vulcan.—The one who reveals that which is deeply hidden and brings it up into the light. Esoterically—the heart of the Sun. (EA 393)
2. Vulcan.—Đấng mặc khải điều được che giấu sâu kín và đưa nó ra ánh sáng. Về mặt huyền bí—trái tim của Mặt Trời. (EA 393)
One he ascertains because he has mastered matter; the other is revealed to him when he has achieved group consciousness. [Page 1019]
Một công thức y xác định được vì y đã làm chủ vật chất; công thức kia được mặc khải cho y khi y đã đạt được tâm thức nhóm. [Page 1019]
241. The formula for the energy of desire comes to the magician through the mastery of matter, i.e., of the third aspect.
241. Công thức cho năng lượng của dục vọng đến với nhà huyền thuật qua sự làm chủ vật chất, tức phương diện thứ ba.
242. The formula for the energy of will (as will is expressed in this process) comes to the magician through soul consciousness which is here called “group consciousness”. We note that we have related Vulcan to “group consciousness” and to the soul.
242. Công thức cho năng lượng của ý chí (khi ý chí được biểu lộ trong tiến trình này) đến với nhà huyền thuật qua tâm thức linh hồn, ở đây được gọi là “tâm thức nhóm”. Chúng ta lưu ý rằng chúng ta đã liên hệ Vulcan với “tâm thức nhóm” và với linh hồn.
243. It is apparent that every formula is closely associated with a “note”. This is a hint. If the formula is a form of words or sounds, the note on which it is chanted or intoned will be required if the formula is to be effective.
243. Rõ ràng là mọi công thức đều gắn chặt với một “âm điệu”. Đây là một gợi ý. Nếu công thức là một dạng ngôn từ hay âm thanh, thì âm điệu mà trên đó nó được tụng hay xướng sẽ là điều cần thiết nếu công thức muốn có hiệu lực.
244. Of course, there are formulas which are not used through the throat center but through the ajna center through the process of visualization. We have seen this in relation to some of the formulas presented in DINA II.
244. Dĩ nhiên, có những công thức không được dùng qua trung tâm cổ họng mà qua trung tâm ajna bằng tiến trình sự hình dung. Chúng ta đã thấy điều này trong liên hệ với một số công thức được trình bày trong DINA II.
245. We see that these formulas are not lightly conferred and come into the possession of the magician only which certain types of masteries or achievements are his.
245. Chúng ta thấy rằng những công thức này không được ban truyền một cách dễ dãi và chỉ đi vào quyền sở hữu của nhà huyền thuật khi một số loại làm chủ hay thành tựu nhất định đã là của y.
246. Note—we are dealing with ascertainment (a more mental process) and revelation (which the soul confers).
246. Lưu ý—chúng ta đang bàn đến sự xác định (một tiến trình trí tuệ hơn) và sự mặc khải (điều mà linh hồn ban cho).
The formula for the particular type of energy substance which he is seeking to employ.
Công thức cho loại năng lượng-chất liệu đặc thù mà y đang tìm cách sử dụng.
247. This appears to be a different type of formula than the formula for will or for desire. Rather, it depends upon the type of energy-substance in which the magician is working and which he seeks to utilize.
247. Đây dường như là một loại công thức khác với công thức cho ý chí hay cho dục vọng. Đúng hơn, nó tùy thuộc vào loại năng lượng-chất liệu mà nhà huyền thuật đang làm việc trong đó và y tìm cách sử dụng.