← Con người Từ đầu đến, Khi nào, và đi về đâu

CON NGƯỜI: Từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và Rồi sẽ đi về đâu.

CON NGƯỜI: Từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và Rồi sẽ đi về đâu.

(MAN: Whence, How and Whither)

Tác giả: ANNIE BESANT và C. W. LEADBEATER

Bản dịch:www.thongthienhoc.com

CON NGƯỜI: Từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và Rồi sẽ đi về đâu.

Ghi lại cuộc khảo cứu bằng thần nhãn.

Nhà xuất bản Thông Thiên Học, Adyar, Madras 20, Ấn Độ

Ấn bản lần thứ nhất 1913

In lại năm 1923

- 1954

- 1960

- 1967

In tại Ấn quán Vasanta,

Hội Thông Thiên Học, Adyar, Madras 20

LỜI NÓI ĐẦU

Người ta không còn coi là hoàn toàn điên rồ đối với ý tưởng cho rằng có thể quan sát bằng thần nhãn. Nói chung thì người ta vẫn không chấp nhận và quả thật không chấp nhận tới một mức độ lớn lao nào đó. Tuy nhiên càng ngày càng có thiểu số đang tăng trưởng dần gồm những người rất thông minh, tin rằng thần nhãn là chuyện có thật và coi đó là một quyền năng hoàn toàn tự nhiên mà theo lộ trình tiến hóa thì sẽ trở nên phổ biến khắp thế giới. Họ không coi đó là một năng khiếu mầu nhiệm, cũng không phải là sự phát triển quá độ do có tính linh cao cấp, thông minh xuất chúng hoặc tính tình thanh khiết; bất kỳ đặc tính nào nêu trên hoặc mọi đặc tính ấy đều có thể biểu lộ nơi một người tuyệt nhiên không có năng khiếu thần nhãn. Họ biết rằng đó là một quyền năng tiềm tàng nơi mọi người và bất cứ ai có khả năng cũng như sẵn lòng trả giá thì đều có thể phát triển được nó đi trước thời hạn đối với cơ tiến hóa nói chung.

Việc sử dụng thần nhãn để khảo cứu về quá khứ chẳng có gì là mới lạ. Giáo lý Bí Truyền của H.P.Blavatsky là một ví dụ điển hình của cách sử dụng ấy. Liệu tác phẩm được tạo ra như thế có đáng tin cậy hay chăng, thì đây lại là một vấn đề dành cho các thế hệ tương lai quyết định vì họ có được quyền năng hiện nay đang sử dụng vì mục đích ấy. Chúng tôi biết rằng có một số lớn bạn đọc vốn là môn sinh tin tưởng rằng quyền năng ấy là sự thật và lại biết chúng tôi vốn trung thực, cho nên họ ắt thấy quyển sách này vừa thú vị lại vừa soi sáng. Quyển sách này đã được viết ra dành cho họ. Cũng như số môn sinh càng ngày càng gia tăng thì số bạn đọc ắt cũng gia tăng bấy nhiêu. Chúng tôi không thể hi vọng nhiều hơn mức ấy. Mãi hằng thế kỷ sau này, khi người ta có thể viết ra nhiều quyển sách hay hơn dựa vào những cuộc khảo cứu tương tự thì quyển sách này ắt sẽ được coi là một tác phẩm tiên phong thú vị, xét vì nó đã được viết ra vào thời kỳ ấy.

Hiển nhiên là ta không thể trình bày những bằng chứng về tính chính xác tổng quát của nó, mặc dù đôi khi người ta có thể thực hiện nhiều khám phá xác nhận một phát biểu rải rác đâu đó. Ta không thể chứng minh cho công chúng sự thật về việc khảo cứu bằng thần nhãn cũng giống như ta không thể chứng minh màu sắc cho kẻ mù lòa. Chừng nào còn đọc quyển sách này, thì công chúng còn không hoàn toàn cả tin vào nó; một số người có thể nghĩ rằng đó là một chuyện bịa đặt hay ho; những người khác có thể coi là nó thật tẻ nhạt. Hầu hết ắt coi tác giả hoặc là tự lừa bịp mình hoặc là đi lừa bịp người khác, tùy theo vị thẩm phán vốn có hảo tâm hoặc ác tâm.

Chúng tôi xin nói với các môn sinh: Các bạn hãy chấp nhận nó chừng nào nó giúp các bạn nghiên cứu được và soi sáng cho những gì mà các bạn đã biết. Trong tương lai có thể có sự mở rộng và sửa chữa vì chúng tôi chỉ trình bày một vài mảnh vụn của một lịch sử bao la và nhiệm vụ này rất nặng nề.

Công trình khảo cứu được thực hiện ở Adyar vào mùa hè năm 1910; trong bầu không khí nóng bức của mùa hè, nhiều môn sinh đã vắng mặt và chúng tôi có thể nói là đã nhập thất để không bị làm phiền, mỗi tuần hết năm buổi chiều tối; chúng tôi quan sát và nói chính xác điều mà mình nhìn thấy, có hai hội viên là bà Van Hook và Don Fabrigio Ruspoli đã tử tế chép lại mọi điều chúng tôi nói, đúng hệt từng chữ một, hai bản biên chép này vẫn còn được lưu giữ.

Chúng được thêu dệt thành câu chuyện hiện nay một phần được viết ra trong vòng mùa hè năm 1911, khi chúng tôi dành vài tuần lễ cho mục đích ấy và tác phẩm được hoàn thành vào tháng tư và tháng năm, năm 1912, cũng được dành thời gian cho nó trong nhịp sống hối hả gấp rút. Cái loại công việc này không thể được hoàn thành trong bối cảnh thường xuyên bị gây rối làm phiền và cách duy nhất để hoàn tất nó là có lúc phải trốn đời, mà Ki tô hữu Công giáo La mã gọi là “đi vào tĩnh tâm”.

Chúng tôi đã theo phác họa Thông Thiên Học tổng quát về cơ tiến hóa, và điều này được trình bày trong “phần sơ bộ” ở Chương I. Nó chi phối toàn thể và là kế hoạch nền tảng của tác phẩm này. Suốt quyển sách ta coi như hiển nhiên có sự thật là một Huyền giai đang dẫn dắt và đào luyện cơ tiến hóa, một số thành viên của Huyền giai này tất nhiên có xuất hiện trong suốt câu chuyện. Để đưa bản thân mình trở về những thời kỳ xa xưa nhất, chúng tôi để cho tâm thức của chính mình hiện diện nơi đó và dễ dàng khởi sự từ đó hơn bất kỳ thứ nào nhưng vì người ta không thể nhận ra được những thời kỳ nào khác. Có thể nói chúng đưa chúng tôi tới mức đặt chân lên thời kỳ Dãy hành tinh thứ nhứt và thứ nhì.

Kể từ phần sau này của Dãy hành tinh thứ ba mãi cho tới về sau, chúng tôi truy nguyên lịch sử của nhân loại bằng cách theo dõi một nhóm cá thể, trừ phi nhóm này có bận rộn chuyện gì khác trong bất kỳ giai đoạn tiến hóa quan trọng nào, chẳng hạn như lúc bắt đầu chi chủng thứ ba và thứ tư của Căn chủng thứ Năm; khi xảy ra trường hợp ấy thì chúng tôi lờ đi và dõi theo dòng tiến hóa chính yếu. Trong bản ghi chép này, chúng tôi không thể đưa ra nhiều chi tiết tương đối về các nhân vật vì dòng lịch sử vốn tràn lan rộng lớn. Tuy nhiên nhiều chi tiết trong cuộc đời đã được xuất bản trên Tạp chí Nhà Thông Thiên Học dưới tiêu đề tổng quát là “Hé lộ Bức màn Thời gian” – những sự hé lộ giúp ta có thể thoáng thấy được quá khứ của nhiều cá thể. Chúng tôi hy vọng rằng một ngày kia sẽ xuất bản được một quyển sách thuộc loại này tên là Các tiền kiếp của Alcyone, nó có đính kèm theo nhiều bảng phổ hệ đầy đủ cho thấy mỗi kiếp các nhân vật chính đã được nhận diện ra cho đến nay quan hệ với nhau ra sao. Nếu có người thực hiện thì công trình thuộc loại này có thể tha hồ tiến hành.

Vì ta không thể viết lịch sử mà ta không nêu tên và vì luân hồi là một sự thật – do đó sự thật là cùng một cá thể lại tái xuất luôn qua các thời đại nối tiếp nhau, cá thể ấy đóng nhiều vai trò với nhiều tên gọi khác nhau – cho nên chúng tôi đã gọi tên nhiều cá thể để nhận diện được họ trong suốt những vở tuồng mà họ có thủ vai diễn. Đối với chúng tôi thì Irving cũng là Irving, cũng giống như Macbeth, Richard III, Shyhock, Charles I, Faust, Romeo, Matthias; và trong bất kỳ câu chuyện nào về cuộc đời mình thì y vẫn được gọi là diễn viên Irving, cho dù y đóng vai nào đi chăng nữa. Xuyên suốt câu chuyện ấy y vẫn có được cá tính liên tục. Cũng giống như một người trong câu chuyện dài mà một kiếp sống chỉ coi như một ngày, người ấy đóng cả trăm vai mà suốt đời chỉ vẫn là chính mình cho dù y là đàn ông hay đàn bà, nông dân, ông hoàng hay tu sĩ. Chúng tôi vẫn dành cho y một tên gọi đặc biệt để cho người ta nhận ra y bên dưới mọi chiêu bài mà y khoác lấy để thích hợp với vai diễn mà y đang đóng. Hầu hết các tên gọi ấy mang tên các chòm sao hoặc ngôi sao. Chẳng hạng như chúng tôi đặt tên cho Julius Caesar là Corona, đặt tên cho Plato là Pallas, đặt tên cho Lão tử là Lyra; bằng cách này chúng tôi có thể thấy các đường lối tiến hóa khác nhau ra sao, những kiếp trước nào đã tạo ra một Caesar hoặc một Plato. Nó khiến cho câu chuyện mang tính nhân bản và dạy cho môn sinh sự thật về luân hồi.

Tên gọi của những Đấng thường xuyên xuất hiện trong câu chuyện này thời đó chỉ là những thiện nam tín nữ bình thường, nhưng hiện nay là các vị Chơn sư; thì việc đặt tên ấy khiến cho các Đấng cao cả tỏ ra có thực hơn đối với một số người, các Ngài đã leo lên tới nơi mà các Ngài đang đứng trên nấc thang cuộc đời từ chỗ mà chúng ta hiện nay đang leo lên, các Ngài cũng đã từng biết tới cuộc sống gia đạo bình thường, những niềm vui và những nỗi buồn, những thành công và thất bại vốn là kinh nghiệm của loài người. Các Ngài đâu phải là các vị thần linh đã toàn bích từ biết bao thời đại vô tận, mà chỉ là những thiện nam tín nữ đã phát triển được Thượng Đế trong nội tâm và đã đi theo một con đường gian nan vất vả để đạt tới trình độ siêu phàm nhập thánh. Các Ngài là thành quả đầy hứa hẹn của điều mà chúng ta sẽ thành tựu, là những đóa hoa huy hoàng trên cái cây mà chúng ta mới chỉ là nụ hoa chớm nở.

Thế là chúng tôi đã hạ thủy con tàu xuống biển cả công luận đầy bão tố để cho nó giáp mặt với định mệnh và tìm thấy số phận của mình.

ANNIE BESANT

C. W. LEADBEATER

MỘT SỐ NHÂN VẬT CHÍNH TRONG CÂU CHUYỆN

BỐN ĐẤNG KUMARA: Bốn vị Hỏa đức Tinh quân hiện vẫn còn sống ở Shamballa.

MAHAGURU: Là Đức Bồ Tát vào thời ấy, Ngài đã xuất hiện dưới dạng Vyasa, Thoth tức (Hermes), Zarathushtra, Orpheus, cuối cùng là Phật Thích Ca và trở thành Đức Thế Tôn.

SURYA : Đức Di Lạc Bồ Tát hiện nay, Đại sư tối cao của thế giới.

MANU : Bàn Cổ, người Lãnh đạo một Giống dân chính. Nếu có thêm tiếp đầu ngữ là Bàn Cổ Gốc hoặc Bàn Cổ Mầm Mống thì đó là một chức sắc còn cao cả hơn nữa, chủ trì một chu kỳ tiến hóa lớn hơn tức một Cuộc tuần hoàn hoặc một Dãy hành tinh. Trong sách Ấn Độ người ta dùng biệt hiệu Vaivasvata để chỉ vị Bàn Cổ Gốc của Dãy hành tinh Trái đất cũng như Bàn Cổ của Giống dân chính thứ Năm Aryan .

VIRAJ : Đức Văn minh Đại đế, một chức sắc cao cấp ngang hàng với Đức Bàn Cổ hoặc Đức Bồ tát.

SATURN : Hiện nay là một Chơn sư mà một số sách Thông Thiên Học coi là Chơn sư xứ Venice.

JUPITER : Hiện nay là một Chơn sư cư trú ở vùng đồi Nilgiri.

MARS : Hiện nay là Chơn sư M. trong tác phẩm Thế giới Huyền bí.

MERCURY : Hiện nay là Chơn sư K.H. trong tác phẩm Thê giới Huyền bí.

NEPTUNE : Hiện nay là Chơn sư Hilarion -

OSIRIS : Hiện nay là Chơn sư Serapis -

BRIHASPATI : Hiện nay là Chơn sư Jesus -

VENUS : Hiện nay là Chơn sư Ragozci, (Rakovzky) Chơn sư Hung gia lợi, Bá tước Saint Germain vào thế kỷ 18.

URANUS : Hiện nay là Chơn sư D.K.

VULCAN : Hiện nay là một Chơn sư mà kiếp lâm phàm mới đây nhất của Ngài được gọi là Ngài Thomas More.

ATHENA : Hiện nay là một Chơn sư mà thế giới gọi là Thomas Vaughan, ‘Eugenius Philalethes’.

ALBA ... Ethel Whyte

ALBIREO ... Maria-Luisa Kirby

ALCYONE ... J. Krishnamurti

ALETHEIA ... John van Manen

ALTAIR ... Herbert Whyte

ARCOR ... A. J. Wilson

AURORA ... Count Bubna-Licics

CAPELLA ... S. Maud Sharpe

CORONA ... Julius Caesar

CRUX ... The Hon. Otway Cuffe

DENEB ... Lord Cochrane (Tenth Earl of Dundonald)

EUDOXIA ... Louisa Shaw

FIDES ... G. S. Arundale

GEMINI ... E. Maud Green

HECTOR ... W. H. Kirby

HELIOS ... Marie Russak

HERAKLES ... Annie Besant

LEO ... Fabrizio Ruspoli

LOMIA ... J. I. Wedgwood

LUTETIA ... Charles Bradlaugh

LYRA ... Lao-Tze

MIRA ... Carl Holbrook

MIZAR ... J. Nityananda

MONA ... Piet Meuleman

NORMA ... Margherita Ruspoli

OLYMPIA ... Damodar K. Mavalankar

PALLAS ... Plato

PHOCEA ... W. Q. Judge

PHOENIX ... T. Pascal

POLARIS... B. P. Wadia

PROTEUS... The Teshu Lama

SELENE... C. Jinarajadasa

SIRIUS... C. W. Leadbeater

SIWA... T. Subba Rao

SPICA... Francesca Arundale

TAURUS ... Jerome Anderson

ULYSSES... H. S. Olcott

VAJRA ... H. P. Blavatsky

VESTA ... Minnie C. Holbrook

MỤC LỤC

DẪN NHẬP:

CHƯƠNG

I : Sơ bộ

II : Các Dãy hành tinh thứ Nhất và thứ Nhì.

III : Thời sơ khai trên Dãy Nguyệt tinh.

IV : Cuộc tuần hoàn thứ Sáu trên Dãy Nguyệt tinh.

V : Cuộc tuần hoàn thứ Bảy trên Dãy Nguyệt tinh.

VI : Thời kỳ sơ khai trên Dãy hành tinh Trái đất.

VII : Những giai đoạn đầu của Cuộc tuần hoàn thứ Tư.

VIII : Căn chủng thứ Tư.

IX : Tà thuật ở Châu Atlantis.

X : Nền văn minh Atlantis.

XI : Hai nền văn minh dân Atlante - ở Peru.

XII : Hai nền văn minh dân Atlante - ở Peru.

XIII : Hai nền văn minh dân Atlante – ở Chaldea.

XIV : Mở đầu Căn chủng thứ Năm.

XV : Xây dựng Thành thị Lớn.

XVI : Nền văn minh sơ khởi của dân Aryan và đế quốc Aryan,

XVII : Phân chủng thứ Nhì, người Ả Rập.

XVIII : Phân chủng thứ Ba, người Ba Tư.

XIX : Phân chủng thứ Tư, người Kelte.

XX : Phân chủng thứ Năm, người Teuton

XXI : Dòng dõi của Căn chủng và đám con cháu di cư vào Ấn Độ.

XXII : Linh ảnh của vua A Dục.

XXIII : Khởi đầu Căn chủng thứ Sáu.

XXIV : Tôn giáo và các Đền thờ.

XXV : Giáo dục và Gia đình.

XXVI : Dinh thự và Phong tục tập quán.

XXVII : Kết luận.

Lời kết.

Phụ lục.

DẪN NHẬP .

Vấn đề nguồn gốc của con người, sự tiến hóa và số phận của nó là một đề tài hay ho vô tận. Y từ đâu mà ra, cái sinh linh Thông tuệ huy hoàng này ít ra cũng xuất hiện trên trái đất để trở thành đỉnh cao của loài sinh vật hữu hình? Y đã tiến hóa lên tới được địa vị ngày nay ra sao? Phải chăng y đã đột nhiên từ trên giáng xuống, từ một thiên thần rực rỡ trở thành kẻ tạm thời thuê mướn một căn nhà bằng đất sét; hay là y đã leo lên từ bên dưới trải qua những thời đại dài dằng dặc mờ mịt truy nguyên nguồn gốc tổ tiên tầm thường của mình từ loài đất bùn nguyên thủy, qua tới loài cá, loài bò sát, loài động vật có vú lên mãi tới giới nhân loại? Và đâu là số phận tương lai của y? Phải chăng y cứ tiếp tục tiến hóa lên mãi, càng ngày càng leo lên cao để rồi lại đi xuống cái đường dốc dài dằng dặc suy thoái cho đến khi y rớt vào cái vực thẳm sự chết, bỏ lại đằng sau một hành tinh băng giá, nấm mồ chôn hằng hà sa số các nền văn minh, hay là sự leo lên hiện nay của y chẳng qua chỉ là trường học dạy cho một Quyền năng tâm linh bất tử đến khi nó trưởng thành sẽ có định mệnh chưởng quản cây quyền trượng của thế gian, của một Thái dương hệ, một tập hợp Thái dương hệ, đó là một Đấng Thượng Đế chân chính đang hình thành?

Người ta đã giải đáp nhiều cho những thắc mắc này, một phần hoặc trọn vẹn, trong các Kinh điển của những tôn giáo thời xưa, dưới dạng những truyền thuyết mơ hồ được truyền thừa bởi các cổ nhân uy dũng qua cuộc thám hiểm của những nhà khảo cổ học hiện đại, qua công trình nghiên cứu của các nhà địa chất học, vật lý học, sinh học, thiên văn học thời nay. Kiến thức hiện đại nhất đã minh chứng cho những sử liệu xưa cũ nhất khi gán cho trái đất của ta và cư dân trên đó một thời kỳ tồn tại lâu dài và phức tạp mầu nhiệm; người ta đã sục sạo hằng trăm triệu năm mới rút ra được thời gian cho các quá trình chậm chạp và cần mẫn của thiên nhiên; con người nguyên thủy có nguồn gốc được đẩy lùi mãi cho tới tận khi châu Lemuria, nay là nơi mà Thái bình dương đang gợn sóng; còn Úc châu mới được tái phát hiện gần đây được coi là vùng đất xưa nhất; người ta định vị châu Atlantis là nơi mà hiện nay sóng của Đại tây dương đang vỗ, còn châu Phi được nối liền với châu Mỹ qua một cầu nối bằng đất liền sao cho vòng nguyệt quế của một nhà khám phá đã được nhổ ra từ cọng lông mày của Columbus và người ta coi ông là nối tiếp những thế hệ đã chết từ lâu rồi khi tìm được đường từ Âu châu đi tới lục địa mặt trời lặn. Poseidonis không còn chỉ là chuyện hoang đường mà các lễ sư mê tín dị đoan người Ai Cập kể lại cho một triết gia Hy Lạp; Minos ở đảo Crete được khai quật từ ngôi mộ cổ xưa, là một con người lịch sử chứ không phải thần thoại; Babylon đã từng một thời cổ sơ thì lại được chứng tỏ là kẻ thừa kế hiện đại của một loạt những thành thị rất văn minh được chôn vùi trong hết địa tầng nầy tới địa tầng khác, sáng lấp lánh qua đêm đen thời gian. Truyền thông đang vẫy gọi kẻ thám hiểm hãy khai quật ở vùng Turkestan ở Trung Á và đang thì thào về những di tích người khổng lồ một mắt chỉ chờ đợi nhát xẻng khai quật của họ.

Giữa những sự xung đột ý kiến như thế, sự xung đột về lý thuyết, sự khẳng định và bác bỏ những giả thuyết bao giờ cũng mới thì rất có thể người ta có cơ may đọc tới phần ghi chép của hai người quan sát, hai kẻ thám hiểm bước trên một con đường rất xưa cũ mà rất ít người thời nay bước trên đó khi đã đến lúc ổn định. Khoa học ngày nay đang thám hiểm những phép lạ của cái gọi là ‘trí nội giới’ và tìm thấy nó có những quyền năng kỳ diệu, những điều bất ngờ kỳ lạ, những hồi ức kỳ lạ. Khi lành mạnh và thăng bằng chế ngự được bộ óc thì nó tỏ ra là một thiên tài, khi mất thăng bằng với bộ óc lông bông và hết biết đường mà tính thì nó tỏ ra là điên cuồng. Một ngày nào đó khoa học ắt ngộ ra được rằng cái mà nó gọi là trí nội giới thì Tôn giáo gọi là Linh hồn và sự hiển lộng quyền năng của nó còn tùy thuộc vào những công cụ vật lý và siêu vật lý mà nó điều khiển được. Nếu những công cụ này đã được kiến tạo tinh vi, lành mạnh và linh hoạt hoàn toàn bị nó kiểm soát thì các quyền năng về thị giác, thính giác, ký ức trào dâng cuồn cuộn từ trí nội giới ắt trở thành các quyền năng bình thường và khả dụng của Linh hồn, nếu Linh hồn phấn đấu tiến về Tinh thần – Linh Ngã – bị che giấu trong vật chất của Thái dương hệ thì Chơn ngã thay vì cứ bám lấy thể xác lúc bấy giờ sẽ gia tăng được quyền năng và trí thức; sẽ ở trong tầm tay của nó mà không thể đạt được bằng phương pháp khác.

Các nhà siêu hình học xưa và nay, tuyên bố rằng Quá khứ, Hiện tại và Tương lai bao giờ cũng tồn tại cùng lúc nơi Tâm thức thiêng liêng và chỉ mang tính lần lượt khi chúng bước vào biểu lộ, nghĩa là chịu ảnh hưởng của Thời gian vốn quả thật là sự nối tiếp các trạng thái tâm thức. Ý thức hữu hạn của ta vốn tồn tại nơi Thời gian cho nên tất yếu bị sự lần lượt ấy chi phối; ta chỉ có thể lần lượt suy nghĩ. Nhưng do kinh nghiệm trong các trạng thái giấc mơ, tất cả chúng ta đều biết rằng những sự đo lường qua thời gian biến thiên theo sự thay đổi tâm trạng, mặc dù vẫn còn sự liên tục; chúng ta cũng biết rằng những sự đo lường theo thời gian thậm chí còn biến thiên nhiều hơn nữa trong thế giới tư tưởng, và khi ta kiến tạo những hình tư tưởng thì ta có thể trì hoãn, xúc tiến, lập lại tùy ý để cho các hình tư tưởng nối tiếp nhau mặc dù chúng bao giờ cũng vẫn bị sự nối tiếp ấy chi phối. Nếu theo đuổi đường lối tư duy ấy thì ta cũng chẳng khó khăn gì khi quan niệm ra một tâm trí được nâng lên tới quyền năng siêu việt, tâm trí của NGÔI LỜI – một Đấng như được miêu tả trong Phúc âm của Thánh John, i, 1 - 4 – bao hàm nơi bản thân mọi hình tư tưởng được thể hiện chẳng hạn như trong một Thái dương hệ, những hình tư tưởng ấy được sắp xếp theo thứ tự biểu lộ như được đề nghị, nhưng tất cả đều đã có sẵn ở đó, tất cả đều có thể được duyệt lại cũng giống như chúng ta có thể duyệt lại các hình tư tưởng của chính mình, mặc dù chúng ta chưa hề đạt tới mức quyền năng thiêng liêng; bậc Đạo sư Muhammad đã nêu bật được điểm ấy như sau: “Ngài chỉ nói với nó: ‘Hãy hiện tồn’ và thế là ‘nó hiện tồn’ [1]. Thế nhưng, cũng giống như đứa trẻ trong một ngày bao hàm nơi bản thân các tiềm năng của tổ tiên, cũng vậy chúng ta là con cháu của Thượng Đế, bao hàm nơi bản thân các tiềm năng của Đấng thiêng liêng. Vì thế cho nên khi chúng ta dứt khoát xoay chuyển linh hồn xa rời dục lạc để tập trung chú tâm vào Tinh thần – Tinh thần là thực chất mà Linh hồn chỉ là bóng dáng của nó nơi thế giới vật chất – thì Linh hồn có thể đạt được “Ký ức của Thiên nhiên”, vốn thể hiện các Tư tưởng của NGÔI LỜI trong thế giới vật chất, có thể nói đó là những phản ánh của Tâm trí Ngài. “Ký ức Thiên nhiên” có quá khứ dưới dạng những ký ảnh hằng sống, nó cũng có Tương lai mà Linh hồn mới phát triển nửa chừng, khó lòng đạt được, vì Tương lai ấy chưa biểu lộ, chưa hiện thể, mặc dù hoàn toàn “có thực”. Khi đọc những ký ảnh này, Linh hồn có thể truyền chúng xuống cho thể xác, ghi khắc nó lên bộ óc để rồi ghi chép nó lại bằng ngôn từ và văn tự. Khi Linh hồn hòa lẫn với Tinh thần – như trong trường hợp “những con người đã được toàn bích”, những Đấng đã hoàn tất cơ tiến hóa nhân loại, những Chơn linh đã được “giải thoát” hoặc “cứu độ” [2] thì sự tiếp xúc với Ký ức thiêng liêng ắt là ngay tức khắc, trực tiếp, bao giờ cũng sẵn có và không sai lầm. Trước khi đạt tới mức đó thì sự tiếp xúc ắt bất toàn, phải qua trung gian, phải chịu sự sai lầm về quan sát và truyền dẫn.

Những người viết ra quyển sách này đã được dạy phương pháp tiếp xúc ấy, nhưng vì gặp nhiều khó khăn liên quan tới trình độ tiến hóa chưa hoàn chỉnh cho nên chỉ làm hết sức mình để quan sát và truyền dẫn, mặc dù thừa biết rằng có nhiều khiếm khuyết khiến cho công trình của mình bị hạn chế. Thỉnh thoảng các bậc Huynh trưởng cũng giúp sức cho các tác giả đó đây dưới dạng những phác họa tổng quát cũng như ngày tháng khi cần thiết. Cũng giống như trường hợp các tác phẩm hữu quan vốn có trước tác phẩm này trong phong trào Thông Thiên Học, đây là “kho tàng cất giấu trong những nồi đất” và trong khi thành thật biết ơn sự trợ giúp đã được ban cho đầy hảo ý, các tác giả xin nhận trách nhiệm là mọi sai lầm là hoàn toàn thuộc về bản thân mình.

CHƯƠNG I

SƠ BỘ

Con người từ đâu tới và y sẽ đi về đâu? Để trả lời một cách trọn vẹn nhất thì chúng ta chỉ có thể nói rằng: Trên cương vị là một Thực thể tâm linh, Con người từ Thượng Đế mà ra và sẽ trở về với Thượng Đế; nhưng nguồn gốc và cứu cánh mà chúng ta đang bàn tới ở đây biểu thị một qui mô khiêm tốn hơn nhiều. Đó chỉ là một trang trong câu chuyện đời được sao chép lại ở đây nói về việc những Đứa con Nhân loại một số được sinh ra vào vật chất thô trược; còn điều gì nằm bên ngoài sự sinh ra ấy, Hỡi Đêm đen còn chưa ai xuyên thấu được? – và theo dõi những sự tăng trưởng của những đứa con nhân loại ấy từ thế giới này sang thế giới kia tới một mức trong tương lai gần nhưng còn cách hiện nay tới vài thế kỷ - còn điều gì nằm ngoài cái đám mây ló dạng trong buổi bình minh ấy; Hỡi Ban ngày còn chưa lộ ra?

Thế nhưng tựa đề không hoàn toàn sai, vì kẻ từ Thượng Đế mà ra và trở về với Thượng Đế không chính xác là ‘Con người’. Cái Tia của Ánh rực rỡ thiêng liêng vốn xuất phát từ Đấng thiêng liêng vào lúc bắt đầu một sự biểu lộ, cái “mảnh vụn Chơn ngã của chính ta, bị biến đổi nơi thế giới sự sống thành ra một Tinh thần bất tử” [3], vốn hơn hẳn Con người. Con người chẳng qua chỉ là một giai đoạn phát triển của nó; khoáng vật, thực vật, động vật, chẳng qua chỉ là những giai đoạn sinh hoạt phôi thai của nó trong lòng Thiên nhiên trước khi nó được sinh ra làm Người. Con người là giai đoạn trong đó Tinh thần và Vật chất phấn đấu để thống trị và khi cuộc đấu tranh đã qua rồi thì Tinh thần đã trở thành Chúa tể của Vật chất, làm Chủ được sự sống và sự chết; lúc bấy giờ Tinh thần bước vào cơ tiến hóa Siêu nhân, không còn là Con người nữa, mà nói cho đúng hơn là một bậc Siêu nhân.

Vậy thì ở đây ta chỉ bàn tới y trên cương vị là Con người; Con người trong giai đoạn phôi thai nơi các giới khoáng vật, thực vật và động vật; Con người khi phát triển trong giới nhân loại; Con người và các thế giới của mình, Chủ thể tư duy và môi trường tiến hóa của y.

Để dễ theo dõi câu chuyện được tường trình trong quyển sách này, bạn đọc cần dừng lại một vài phút để xem xét quan niệm tổng quát về một Thái dương hệ mà kho tài liệu Thông Thiên Học đã phác họa [4] và dựa vào những nguyên lý tổng quát của cơ tiến hóa được triển khai trong Thái dương hệ. Việc này cũng chẳng khó khăn gì hơn theo dõi kho thuật ngữ chuyên môn của mọi ngành khoa học hoặc những điều miêu tả về vũ trụ, chẳng hạn như trong khoa thiên văn học và người ta chỉ cần chú ý một chút thì cũng có thể dễ dàng quán triệt được nó. Trong mọi việc nghiên cứu có nội dung sâu sắc thì bao giờ ta cũng quán triệt được những điều sơ bộ khô khan. Bạn đọc vô ý vô tứ ắt thấy chúng tẻ nhạt bèn bỏ qua chúng, thế là trong suốt thời gian đọc sau đó, y ít nhiều ở trong tâm trạng hoang mang bối rối; y đang xây dựng căn nhà mà không có nền móng và phải liên tục chống đỡ nó. Bạn đọc kỹ lưỡng giáp mặt với những khó khăn này một cách dũng cảm quán triệt nó một lần cho dứt khoát, thế là những kiến thức thu được giúp y dễ dàng tiến bước và những chi tiết mà y gặp phải sau này sẽ dễ dàng được xếp vào đúng chỗ. Những người nào thích cái kiểu vô ý vô tứ tốt hơn nên bỏ qua Chương hiện nay và tiếp tục nhảy sang Chương II, còn những bạn đọc khôn ngoan thì nên dành ra một tiếng đồng hồ để quán triệt những điều sau đây.

Nhà đại Hiền triết Plato, một trong những bậc thầy về trí tuệ trên thế giới với những ý tưởng cao siêu chế ngự được nền tư tưởng Âu Tây, có đưa ra phát biểu súc tích sau đây: “Thượng Đế hình học hóa”. Chúng ta càng biết nhiều về Thiên nhiên thì càng ngộ ra được sự thật này, Những chiếc lá càng được xếp đặt theo thứ tự nhất định liên tiếp,1/2, 1/3, 1/5, 3/8, 5/13 v.v… Những rung động tạo thành các nốt nhạc lần lượt của một âm giai có thể được phác họa tương ứng theo một chuỗi đều đặn. Một số bệnh tuân theo một chu kỳ nhất định về ngày tháng; năm thứ 7, thứ 14, thứ 21, đánh dấu những cuộc khủng hoảng có kết quả là tiếp tục sống trên cõi trần hoặc là chết. Thật là hoài công mà tiếp tục nhân lên những ví dụ như thế.

Vậy thì chẳng có điều gì đáng ngạc nhiên qua sự kiện mà ta tìm thấy trong thứ tự thuộc Thái dương hệ của ta, con số Bảy được cứ lập đi lập lại mãi. Chính vì vậy mà nó được coi là ‘con số linh thiêng’ và một hình dung từ hay hơn đó là: một ‘con số có ý nghĩa’. Sinh hoạt của mặt trăng tự nhiên được chia ra thành hai lần bảy ngày trưởng và một con số tương tự ngày tiêu; còn các tuần trăng cho ta các tuần lễ gồm bảy ngày. Và ta thấy số bảy này là số gốc của Thái dương hệ, phân chia các bộ môn của nó ra thành bảy và những bộ môn này lại chia ra thành bảy bộ môn phụ, các bộ môn phụ này lại chia thành bảy bộ môn phụ khác v.v… Học viên tôn giáo ắt nghĩ tới bảy Đấng Ameshaspentas của Bái Hỏa giáo, bảy Chơn linh trước ngay Thượng Đế của Kitô giáo; các nhà Thông Thiên Học nghĩ tới NGÔI LỜI tam phân tối cao của Thái dương hệ với các Thừa tác viên là các “Đấng Chưởng quản bảy Dãy hành tinh” [5] vây quanh Ngài, mỗi Đấng chủ trì một bộ môn riêng trong Thái dương hệ giống như một vị Phó vương đối với Hoàng đế. Ở đây chúng ta chỉ quan tâm chi tiết tới một bộ môn. Thái dương hệ bao gồm mười bộ môn, bởi vì trong khi có gốc rễ là bảy, nó lại phát triển mười bộ môn; do đó các Thần bí gia gọi số bảy là ‘con số toàn bích’. Ông A.P. Sinnett đã gọi tên những bộ môn này rất hay là các Hệ thống Tiến hóa và nhân loại đang tiến hóa và sẽ tiến hóa bên trong nội bộ mỗi Hệ thống này. Bây giờ chúng ta chỉ hạn chế vào Hệ thống của chúng ta thôi, mặc dù ta không được quên rằng các Hệ thống khác vẫn đang tồn tại và các Đấng Thông tuệ tiến hóa rất cao có thể chuyển từ Hệ thống này sang Hệ thống khác. Thật vậy, các đấng thỉnh giảng ấy đã đến với trái đất chúng ta vào một giai đoạn trong cơ tiến hóa của nó để dẫn dắt và trợ giúp cho nhân loại mới sinh ra.

Một Hệ thống Tiến hóa phải trải qua bảy giai đoạn tiến hóa lớn; mỗi giai đoạn gọi là một Dãy hành tinh. Tên gọi này bắt nguồn từ sự thật một Dãy hành tinh bao gồm bảy Bầu hành tinh có tương quan lẫn nhau; đó là một dây xích gồm bảy mắt xích, mỗi mắt xích là một bầu hành tinh. Trong Sơ đồ I có trình bày bảy Hệ thống Tiến hóa xung quanh mặt trời trung ương; vào bất cứ thời kỳ nào thì cũng chỉ có một vành thuộc mỗi Hệ thống là hoạt động; mỗi vành thuộc mỗi một trong bảy Hệ thống Tiến hóa bao gồm bảy bầu hành tinh; ta không được hình dung bảy bầu hành tinh này riêng rẽ mà ở đây ta vẽ nó thành ra một vành giống như chiếc nhẫn để tiết kiệm chỗ. Còn các bầu hành tinh thuộc một vành ấy được trình bày trong Sơ đồ II kế tiếp.

Trong Sơ đồ II ta chỉ có một Hệ thống Tiến hóa được hình dung thành bảy giai đoạn tiến hóa nghĩa là bảy Dãy hành tinh liên tiếp, bây giờ ta trình bày nó liên quan tới năm trong bảy cõi tức là các loại vật chất tồn tại trong Thái dương hệ; vật chất thuộc mỗi loại bao gồm các nguyên tử thuộc một loại nhất định; mọi chất rắn, chất lỏng, chất hơi và chất dĩ thái của một loại hình vật chất đều là các khối tập hợp những nguyên tử thuộc cùng một loại [6], vật chất này được gọi tên theo tâm trạng tương ứng với nó: trên cõi trần, xúc động, trí tuệ, trực giác, tinh thần [7].

Trong Dãy hành tinh thứ nhất, ta thấy có sắp xếp bảy bầu thế giới A, B, C, D, E, F, G: [8]. A và G là thế giới gốc rễ và thế giới mầm mống vốn ở trên cõi tinh thần, vì tất cả đều giáng từ trên cao xuống thấp, từ cõi tinh vi tới cõi thô trược rồi lại leo lên tới cõi cao hơn được phong phú thêm nhờ thành quả của cuộc viễn du, những thành quả này được dùng làm mầm mống cho Dãy hành tinh kế tiếp; B và F ở trên cõi trực giác, một bầu thu lượm còn bầu kia đồng hóa; C và E ở trên cõi thượng trí với mối quan hệ tương tự; D là bước ngoặc; điểm thăng bằng giữa vòng cung đi lên và vòng cung đi xuống, nó ở trên cõi hạ trí. Các cặp bầu hành tinh này trong mỗi Dãy hành tinh có liên hệ mật thiết với nhau, nhưng một đằng là bức phác họa thô thiển, còn một đằng là bức tranh hoàn chĩnh. Trong Dãy hành tinh thứ nhì, các bầu hành tinh đều giáng thêm một bậc xuống thấp hơn tới vật chất và bầu D ở trên cõi xúc động.Trong Dãy hành tinh thứ ba chúng lại giáng xuống thêm một giai đoạn nữa và bầu D đạt tới cõi trần. Trong Dãy hành tinh thứ tư và chỉ trong Dãy hành tinh thứ tư thôi tức Dãy ở ngay chính giữa bảy Dãy hành tinh, Dãy dính mắc sâu nhất vào vật chất thô trược nhất, bước ngoặc của Dãy này là bầu hành tinh D và ta có ba bầu hành tinh C, D và E ở trên cõi trần. Có thể nói là trong cuộc du hành trở về thì việc thăng lên giống như việc giáng xuống: Dãy hành tinh thứ năm cũng giống như Dãy hành tinh thứ ba, chỉ có một bầu hành tinh trên cõi trần; Dãy hành tinh thứ sáu giống như Dãy hành tinh thứ nhì có bầu hành tinh D trên cõi xúc động; Dãy hành tinh thứ bảy giống như Dãy hành tinh thứ nhất có bầu hành tinh D trên cõi trí tuệ. Khi kết thúc Dãy hành tinh thứ bảy thì Hệ thống tiến hóa đã được triển khai hết và gặt hái được thành quả.

CÁC LÀN SÓNG SINH HOẠT LIÊN TIẾP

BẢY DÃY HÀNH TINH

CÁC GIỚI

- ĐỘNG VẬT

- THỰC VẬT

- KHOÁNG VẬT

– TINH HOA NGŨ HÀNH III

– TINH HOA NGŨ HÀNH II

– TINH HOA NGŨ HÀNH I

SƠ ĐỒ IV

Để cho thuận tiện thì chúng ta có thể đặt tên bảy Hệ thống Tiến hóa trong Thái dương hệ theo tên bầu hành tinh D của mỗi hệ thống, đây là bầu hành tinh mà ta biết rõ hơn hết; đó là Hỏa vương tinh, Kim tinh, Trái đất, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh, Hải vương tinh (Xem Sơ đồ I). Trong Hệ thống Tiến hóa có bầu Trái đất của ta, Dãy hành tinh có trước Dãy hành tinh địa cầu là Dãy hành tinh thứ ba trong một loạt và bầu hành tinh trên cõi trần của nó tức bầu D, chính là cái hiện nay là Mặt trăng của ta, vì Dãy hành tinh thứ ba được gọi là Dãy Nguyệt tinh, còn Dãy hành tinh thứ nhì và thứ nhất chỉ được gọi bằng số; Dãy hành tinh Địa cầu tức Dãy hành tinh Trái đất là Dãy thứ tư trong một loạt liên tiếp, do đó ba trong số bảy bầu hành tinh của nó biểu lộ trên cõi trần, bầu hành tinh C tức hành tinh thứ ba được gọi là Hỏa tinh, còn bầu hành tinh thứ năm tức bầu E được gọi là Thủy tinh. Hệ thống Tiến hóa Hải vương tinh với Hải vương tinh là bầu hành tinh D, cũng có ba bầu hành tinh thuộc Dãy hành tinh đang biểu lộ trên cõi trần – C và E là hai hành tinh trên cõi trần liên quan tới nó, trong kho tài liệu Thông Thiên Học đã có nhắc tới sự tồn tại của chúng trước khi Khoa học nhận ra chúng – vì thế cho nên Hệ thống Tiến hóa Hải vương tinh đã đạt tới Dãy hành tinh thứ tư trong một loạt Dãy hành tinh. Hệ thống Tiến hóa Kim tinh đang đạt tới cuối Dãy hành tinh thứ năm và do đó Kim tinh đã mất đi Vệ tinh của mình tức là bầu D của Dãy hành tinh trước nó [9] . Có thể là Herschil đã thấy Hỏa Vương tinh, nhưng nghe đâu hiện nay nó đã biến mất vì nó đang ở vào Dãy hành tinh thứ sáu, nhưng về vấn đề này chúng tôi không có thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp. Mộc tinh chưa có người ở nhưng các vệ tinh của Mộc tinh thì có, vì chúng là các thiên thể thô trược trên cõi trần.

Các Sơ đồ III và IV biểu diễn mối quan hệ giữa bảy Dãy hành tinh trong nội bộ một Hệ thống Tiến hóa, cho ta thấy diễn trình tiến hóa chuyển từ Dãy hành tinh này sang Dãy hành tinh khác. Ta nên nghiên cứu Sơ đồ III trước, vì đó chỉ là phần đơn giản hóa Sơ đồ IV, Sơ đồ IV là bản sao của một Sơ đồ do một Chơn sư vẽ ra; mặc dù mới thoạt nhìn thì Sơ đồ này trông khá rối rắm, nhưng khi ta hiểu ra được thì nó minh họa nhiều điều.

Sơ đồ III xếp bảy Dãy hành tinh thuộc một Hệ thống Tiến hóa thành ra các cột ngay sát cạnh nhau để cho Làn sóng Sinh hoạt của đấng thiêng liêng được biểu diễn bằng những mũi tên có thể được vẽ ra đi từ giới này sang giới kia trong khi tiến lên. Mỗi tiết diện trong một cột biểu diễn một trong bảy giới của Thiên nhiên: ba giới tinh hoa ngũ hành, giới khoáng vật, giới thực vật, giới động vật, giới nhân loại [10]. Tiếp theo sau Làn sóng Sinh hoạt bảy ta thấy đó là làn sóng duy nhất đi xuyên suốt qua bảy giới trong nội bộ Hệ thống Tiến hóa; nó nhận vào Dãy hành tinh thứ nhất nơi Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhất, rồi phát triển ở đó trong suốt chu kỳ sinh hoat của Dãy hành tinh; nó chuyển sang Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhì, nơi Dãy hành tinh thứ nhì và phát triển ở đó trong suốt chu kỳ sinh hoạt ấy; nó xuất hiện nơi Giới Tinh hoa ngũ hành thứ ba trên Dãy hành tinh thứ ba rồi nhập vào Giới Khoáng vật trên Dãy hành tinh thứ tư; thế rồi nó lần lượt phát triển qua các Giới Thực vật và Động vật trên các Dãy hành tinh thứ năm và thứ sáu để rồi đạt tới Giới Nhân loại trên Dãy hành tinh thứ bảy. Như vậy toàn thể Hệ thống Tiến hóa này cung cấp một môi trường tiến hóa cho một Làn sóng Sinh hoạt thiêng liêng từ khi nó làm linh hoạt vật chất mãi cho tới khi nó tiến lên tới mức thành người [11]. Các làn sóng sinh hoạt khác hoặc là bắt đầu trong một Hệ thống Tiến hóa khác rồi nhập vào hệ thống tiến hóa này ở trình độ tiến hóa đủ đạt được ở hệ thống trước kia hoặc là nhập vào hệ thống này quá trễ cho nên chưa đạt tới giới nhân loại trong hệ thống này.

Ta phải bắt đầu nghiên cứu Sơ đồ IV bằng cách ngộ được rằng các vòng tròn được tô màu không phải là bảy Dãy hành tinh gồm các bầu hành tinh (theo như ta mong đợi) mà là bảy Giới trong Thiên nhiên thuộc mỗi Dãy hành tinh liên tiếp, do đó tương ứng với các tiết diện trong các cõi của Sơ đồ III. Ở đây ta có trọn cả một Hệ thống Tiến hóa có biểu thị vị trí của mỗi Giới thiên nhiên trong mỗi Dãy hành tinh. Học viên nên chọn ra một đường tiến hóa thuộc bất kỳ màu sắc nào của vòng tròn thứ nhất rồi truy nguyên nó cẩn thận tiến lên.

Ta hãy xét vòng tròn màu xanh lơ ở phía tột đỉnh bên tay trái được vạch ra bằng một mũi tên, nó biểu diễn Giới Tinh hóa ngũ hành thứ nhất trên Dãy hành tinh thứ nhất. Khi rời Dãy hành tinh thứ nhất để chuyển sang Dãy hành tinh thứ nhì. – vành kế tiếp gồm các vòng tròn có tô màu – dòng màu xanh lơ này chia chẻ ra khi đi tới đó; bộ phận chậm tiến nhất của nó không sẵn lòng tiếp tục đi lên Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhì, bèn bứt ra khỏi dòng tiến hóa chính, quay ngược trở lại nhập vào Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhất thuộc Dãy hành tinh thứ nhì để gia nhập vào dòng sinh hoạt mới (được tô màu vàng và đánh dấu bằng một mũi tên) nhập vào cơ tiến hóa trên Dãy hành tinh ấy để rồi hòa lẫn luôn vào đó. Còn dòng tiến hóa chính màu xanh lơ lại tiếp tục đi lên tới Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhì thuộc Dãy hành tinh thứ nhì, tiếp nhận một số kẻ lạc hậu thuộc Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhì của Dãy hành tinh thứ nhất, đồng hóa hết đám đó rồi mang đám đó đi theo mình, ta ắt lưu ý rằng chỉ có một luồng màu xanh lơ rời khỏi Giới này vì các phần tử ngoại lai đã bị đồng hóa hết. Luồng màu xanh lơ lại chảy lên tới Dãy hành tinh thứ ba lại chia chẻ, bỏ đám lạc hậu rơi rớt lại tiếp tục tiến hóa qua Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhì thuộc Dãy hành tinh thứ ba, trong khi đại khối màu xanh lơ tiếp tục tạo thành Giới Tinh hoa ngũ hành thứ ba của Dãy hành tinh thứ ba; nó lại tiếp nhận một số phần tử lạc hậu của Giới Tinh hoa ngũ hành thứ ba, thuộc Dãy hành tinh thứ hai, đồng hóa hết chúng, mang chúng theo thành ra một dòng màu xanh lơ không bị pha loãng nhập vào Giới Khoáng vật thuộc Dãy hành tinh thứ tư; cũng giống như trước, nó bỏ lại một số phần tử lạc hậu bị rơi rớt để tiến hóa trong Giới Tinh hoa ngũ hành thứ ba thuộc Dãy hành tinh thứ tư và nó lại tiếp nhận một số phần tử lạc hậu thuộc Giới Khoáng vật của Dãy hành tinh thứ ba, lại đồng hóa chúng giống như trước. Giờ đây nó đã đạt tới mức tiến hóa thô trược nhất tức Giới Khoáng vật. Khi rời bỏ mức này ta vẫn còn theo dõi đường tiến hóa màu xanh lơ – nó leo lên Giới Thực vật của Dãy hành tinh thứ năm, bỏ lại một số phần tử lạc hậu rơi rớt vào Giới Khoáng vật của Dãy hành tinh này và tiếp theo một số phần tử lạc hậu thuộc Giới Thực vật của Dãy hành tinh thứ tư. Nó lại tiếp tục leo lên, bây giờ lên tới Giới Động vật thuộc Dãy hành tinh thứ sáu, bỏ lại một số phần tử thực vật chậm tiến rơi rớt lại nhằm hoàn tất trình độ tiến hóa trong Giới Thực vật của Dãy hành tinh thứ sáu và tiếp thu một số động vật chậm tiến của Dãy hành tinh thứ năm rơi rớt trở lại Giới Động vật đang tiến lên. Cuối cùng nó hoàn tất cơ tiến hóa dài dằng dặc bằng cách nhập vào Giới Nhân loại thuộc Dãy hành tinh thứ bảy bỏ lại những con động vật quá chậm tiến rơi rớt trở lại Giới Động vật thuộc Dãy hành tinh thứ bảy và tiếp thu một số nhân loại chậm tiến của Giới Nhân loại thuộc Dãy hành tinh thứ sáu, mang chúng theo cho đến khi cuối cùng ca khúc khải hoàn khi cơ tiến hóa nhân loại đã toàn bích để bắt đầu cơ tiến hóa siêu nhân đi theo một trong bảy đường tiến hóa được biểu thị bằng chiếc lông vũ màu xanh lơ ở cuối cùng. Trong Hệ thống Tiến hóa khác, những phần tử mà ta bỏ lại là những phần tử chậm tiến thuộc Giới Động vật của Dãy hành tinh thứ bảy sẽ tái xuất hiện trong Giới Nhân loại trong Dãy hành tinh thứ nhất của Hệ thống Tiến hóa mới mẻ này để rồi sẽ đạt mức hoàn hảo thành người trong Hệ thống Tiến hóa ấy. Chúng sẽ ở trong vòng tròn tương ứng với vòng tròn màu xám nâu, với chiếc lông vũ thuộc về Dãy hành tinh thứ nhất của Sơ đồ này.

Bằng cách đó, ta có thể theo dõi mỗi đường tiến hóa từ Giới này tiến lên Giới kia qua các Dãy hành tinh liên tiếp nhau. Vì vậy sự sống trong vòng tròn thứ hai màu cam biểu diễn Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhì, thuộc Dãy hành tinh thứ nhất – có một giai đoạn sinh hoạt thuộc một Dãy hành tinh đến sau nó, nói cách khác, nó đã nhập vào dòng tiến hóa dưới dạng Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhất thuộc Dãy hành tinh thứ bảy của một Hệ thống Tiến hóa trước kia (xem vòng tròn tột đỉnh bên tay trái có mũi tên thuộc Dãy hành tinh thứ bảy trong Sơ đồ của ta – nó đạt tới Giới Nhân loại thuộc Dãy hành tinh thứ sáu, rồi sẽ tiếp tục tiến lên. Sự sống trong vòng tròn thứ ba màu đỏ tía có hai Giới tiến hóa sau nó trong một Hệ thống Tiến hóa trước kia, ắt đạt tới Giới Nhân loại thuộc Dãy hành tinh thứ năm để rồi tiếp tục tiến lên. Cuộc sống trong Giới thứ tư tức Giới Khoáng vật đạt tới Giới Nhân loại của Dãy hành tinh thứ tư để rồi tiếp tục tiến lên. Sự sống trong Giới Thực vật đạt mức Giới Nhân loại thuộc Dãy hành tinh thứ ba để rồi tiếp tục tiến lên; sự sống trong Giới Động vật đạt tới Giới Nhân loại thuộc Dãy hành tinh thứ nhì, sự sống trong giới Nhân loại đạt mức Giới Nhân loại trong Dãy hành tinh thứ nhất.

Học viên nào hoàn toàn quán triệt được sơ đồ này ắt thấy mình làm chủ được một thiên cơ mà y có thể nhét bất kỳ chi tiết nào vào trong những ô ấy mà không quên mất những nguyên tắc chung của cơ tiến hóa a tăng kỳ kiếp với những sự phức tạp rối rắm.

Có hai vấn đề còn lại: giới tiến hóa đằng sau giới tinh hoa ngũ hành và giới tiến hóa siêu nhân loại. Làn sóng Tiến hóa xuất phát từ THƯỢNG ĐẾ làm linh hoạt vật chất trước nhất nơi Giới Tinh hoa ngũ hành thấp nhất tức giới thứ nhất; vì thế cho nên khi cũng luồng ấy từ Dãy hành tinh nhập vào Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhì thuộc Dãy hành tinh thứ nhì thì vật chất vốn thuộc về Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhất thuộc Dãy hành tinh thứ nhì phải được làm linh hoạt bằng một Làn sóng Sinh hoạt mới xuất phát từ THƯỢNG ĐẾ và tiếp tục như thế đối với mỗi giới thuộc các Dãy hành tinh khác. [12]

Khi người ta đã vượt qua Giới Nhân loại và con người đứng nơi ngưỡng cửa cuộc sống siêu nhân loại để trở thành một Tinh thần đã được giải thoát thì bảy con đường mở ra trước mắt Ngài cho Ngài chọn: Ngài có thể nhập vào Niết Bàn với sự toàn tri và toàn năng cực lạc, với những hoạt động vượt xa mức hiểu biết của chúng ta để rồi biết đâu trong một thế giới tương lai nào đó Ngài trở thành một Đấng Hóa thân thiêng liêng; điểu này đôi khi được gọi là ‘nhập Pháp thân’ (Dharmakaya). Ngài có thể nhập vào ‘Chu kỳ Tâm linh’, cụm từ này bao hàm nhiều ý nghĩa ta chưa biết được trong số đó có lẽ là ‘Báo thân’ (Sambhogakaya). Ngài cũng có thể trở thành một bộ phận của kho chứa thần lực tâm linh mà các Tác nhân của THƯỢNG ĐẾ rút ra trong khi làm việc nghĩa là nhập ‘Ứng thân’ (Nirmanakaya). Ngài có thể vẫn còn là một thành viên của Huyền giai cai quản và giám sát thế giới mà Ngài đã đạt được mức toàn bích trong đó. Ngài có thể chuyển sang Dãy hành tinh kế tiếp, giúp vào việc kiến tạo các hình tướng của nó. Ngài có thể nhập vào đường tiến hóa rực rỡ của các Thiên thần; Ngài có thể hiến mình để trực tiếp phụng sự đấng THƯỢNG ĐẾ, được Thượng Đế sử dụng làm Thừa tác viên và Thiên sứ của mình trong bất kỳ bộ phận nào của Thái dương hệ, Ngài chỉ sống để thi hành ý chí của Thượng Đế và thực thi công trình của Thượng Đế trên khắp Thái dương hệ mà Thượng Đế cai trị. Cũng giống như một vị Tướng có Ban Tham mưu mà nhân viên tham mưu mang các thông điệp của vị tướng đi tới bất cứ nơi nào trên chiến trường, cũng vậy những nhân viên Tham mưu này của đấng chỉ huy tất cả, “những Thừa tác viên làm đẹp lòng Ngài” [13], điều này dường như được coi là một Con đường rất khó đi, có lẽ đó là sự hi sinh lớn nhất dành cho vị Cao đồ và vì vậy nó được coi là bao hàm sự phân biệt lớn lao. Một thành viên của Ban Tổng Tham mưu không có thể xác mà tự tạo ra thể xác bằng Kriyashakti tức là ‘quyền năng tạo tác’, sử dụng vật chất của bầu hành tinh mà mình được biệt phái tới. Ban Tham mưu bao gồm các Đấng ở nhiều mức khác hẳn nhau, từ quả vị La hán trở lên [14]. Có một số đấng đã hiến mình cho công tác này khi đạt quả vị La hán trên Dãy Nguyệt tinh; một số đấng khác là Chơn sư [15]; còn một số đấng khác đã vượt qua trình độ này trong cơ tiến hóa nhân loại.

Ngoài nhiều lý do khác mà chúng ta không biết được, nhu cầu cung ứng một Ban Tham mưu thì có lẽ bắt nguồn từ sự thật là trong những giai đoạn sơ khởi trong cơ tiến hóa một Dãy hành tinh – nhất là trên vòng cung đi xuống – hoặc ngay cả của một bầu hành tinh thì người ta cần nhiều sự trợ giúp từ bên ngoài hơn là giai đoạn sau này. Chẳng hạn như trên Dãy hành tinh thứ nhất thuộc Hệ thống Tiến hóa địa cầu, mức thành tựu được qui định là đạt được cuộc Điểm đạo Lớn thứ nhất và những ai trong nhân loại dạo đó đạt tới quả vị Chơn sư, thế mà quả vị này cũng chưa gần tới quả vị Phật, vì vậy cần phải cung ứng các chức sắc cao cấp từ bên ngoài. Lại nữa, các Dãy hành tính sau này cũng được trợ giúp, và Trái đất cũng phải cung cấp các Chức sắc cao cấp cho các Dãy hành tinh thời sơ khai của các Hệ thống Tiến hóa khác, cũng như cung cấp bình thường các chức sắc cho những bầu hành tinh và Cuộc tuần hoàn sau này trong Dãy hành tinh của chúng ta. Theo chỗ chúng tôi biết thì chính trong Huyền giai của chúng ta cũng có hai thành viên rời khỏi Trái đất, hoặc là gia nhập Bộ Tổng tham mưu, hoặc là được đấng Chưởng quản Huyền giai chúng ta cho vị Chưởng quản Huyền giai của một bầu hành tinh nào khác bên ngoài Hệ thống Tiến hóa của ta mượn đỡ.

Trong bất kỳ Dãy hành tinh nào mà những người không đạt vào một thời kỳ nào đó mức qui định dành cho Nhân loại thuộc Dãy hành tinh ấy thì đều bị ‘thất bại’; thất bại có thể là do còn trẻ tuổi nên thiếu thời gian hoặc thiếu nỗ lực đúng mức v.v…, nhưng cho dù bất cứ lý do nào thì những người thất bại cũng không thể đạt được mức mà họ tiến bộ đủ trong chu kỳ sinh hoạt còn lại của một Dãy hành tinh để đạt tới mức cần thiết khi nó kết liễu; họ đã bị rơi rớt khỏi cơ tiến hóa của nó trước khi cơ tiến hóa ấy đã hoàn tất và họ bắt buộc phải nhập vào Dãy hành tinh kế tiếp ở một mức được xác định bởi trình độ mà họ đã đạt được sao cho họ có thể hoàn tất được khóa học làm người của mình. Có những người khác thành công khi trải qua mức quyết định này tức là “Ngày phán xét” dành cho một Dãy hành tinh, nhưng họ chưa tiến bộ đủ nhanh để đạt tới mức trước mắt họ mở ra bảy Con đường. Những người này mặc dù không ‘thất bại’ nhưng cũng chưa hoàn toàn thành công, do đó họ chuyển sang Dãy hành tinh kế tiếp và dẫn đầu loài người ở trên đó khi nhân loại ấy đã đạt được trình độ mà các cơ thể ấy đã đủ tiến hóa để dùng làm hiện thể cho họ tiến bộ thêm nữa. Trong khi nghiên cứu chúng ta sẽ thấy đủ thứ lớp người này và đây chỉ là một tổng quan về lớp người ấy, chi tiết sẽ được trình bày rõ ràng hơn. Chúng ta lưu ý thấy rằng chỉ trong Dãy hành tinh thứ nhất thì mới không có đám người thất bại bị rơi rớt ra khỏi cơ tiến hóa. Cũng có một số người không thành công, nhưng nếu Dãy hành tinh ấy mà có Ngày Phán xét thì chúng tôi đã không quan sát được.

Trong chỉ một Dãy hành tinh, làn sóng tiến hóa quét từ bầu A sang bầu G, lần lượt sử dụng mỗi bầu hành tinh làm môi trường tăng trưởng; sự xoay vòng xung quanh Dãy hành tinh này được gọi rất đúng là một Cuộc tuần hoàn và làn sóng tiến hóa quét qua bảy Cuộc tuần hoàn trước khi chấm dứt chu kỳ sinh hoạt của Dãy hành tinh và công trình của nó đã hoàn tất. Thế rồi người ta thu thập các kết quả và tất cả tạo thành mầm mống cho Dãy hành tinh kế tiếp, ngoại trừ những Dãy đã hoàn tất khóa học làm người, trở thành các bậc Siêu nhân, tự nguyện phụng sự theo những cách khác hơn việc hướng dẫn Dãy hành tinh sắp tới đi theo dường lối của nó và các Ngài đã nhập vào một trong bảy Con đường khác.

Để kết thúc những điều sơ bộ này chúng tôi xin nói trên Cõi Chơn thần tức là cõi siêu tinh thần có tồn tại các Phân thân của Đấng thiêng liêng; các Con của Thượng Đế vốn phải nhập thế và trở thành Con của Nhân loại trong thế giới sắp tới. Họ bao giờ cũng diện kiến Dung nhan của Cha và là các Đối thể Thiên thần của con người. Ở trên thế giới của riêng mình, Con của Đấng thiêng liêng này được gọi bằng thuật ngữ chuyên môn là ‘Chơn thần’, Nhất nguyên. Ngài là đấng mà ở trang 3 có nói là Ngài được “biến hóa thành ra Chơn thần bất tử trong thế giới sự sống”. Tinh thần này là Chơn thần khoác lấy vật chất do đó có ba ngôi là Ý chí, Minh triết và Hoạt động; tinh thần ấy ắt chính là Chơn thần sau khi đã chiếm hữu các nguyên tử vật chất của các cõi tinh thần, trực giác và trí tuệ, và các cơ thể tương lai của Ngài xây dựng xung quanh các nguyên tử ấy. Nơi Chơn thần có trào dâng một suối nguồn sự sống không thể cạn kiệt; Tinh thần tức Chơn thần khoác lấy vật chất chính là biểu lộ của Ngài trong một thế giới. Khi Ngài làm chủ được vật chất nơi cõi thấp thì Ngài càng ngày càng kiểm soát được công trình tiến hóa, và mọi sự chọn lựa lớn lao vốn quyết định số phận của con người đều được Ngài thực hiện bằng Ý chí, đều được Minh triết của Ngài dẫn dắt và thành tựu qua Hoạt động của Ngài.

[1] Kinh Al Quran, xi. 17.

[2] Các thuật ngữ này được người Ấn giáo và Ki Tô giáo lần lượt dùng để biểu thị việc chấm dứt cơ tiến hóa thuần túy nhân loại.

[3] Chí tôn Ca, XV. 7.

[4] Môn sinh có thể tìm thấy điều này trong tác phẩm Giáo Lý Bí Truyền của H.P. Blavatsky; Phật giáo Bí truyền của A.P. Sinnett và Sự tăng trưởng của Linh hồn cũng của tác giả Sinnett, Minh Triết Cổ truyền của Annie Besant v.v. . . Có những điều khác nhau thứ yếu – chẳng hạn như việc H.P. Blavatsky và A.P. Sinnett gọi tên các bầu hành tinh thuộc dãy hành tinh trái đất khác nhau - nhưng các sự kiện chính yếu đều giống nhau.

[5] Các Đấng này được gọi là Hành tinh Thượng Đế, nhưng danh xưng này thường gây lẫn lộn cho nên ở đây ta bỏ không dùng nó.

[6] Xem Hóa học Huyền bí của Annie Besant và C.W. Leadbeater.

[7] Vật chất trên cõi trần là vật chất mà ta hằng ngày đụng chạm tới trong sinh hoạt lúc tỉnh thức. Vật chất xúc động là loại vật chất rung động theo các ham muốn và xúc động của ta; trong những quyển sách cũ hơn ta gọi nó là chất trung giới, một tên gọi vẫn còn được giữ lại trong một chừng mực nào đó. Cũng như vật chất trí tuệ đáp với các tư tưởng, vật chất trực giác (tiếng Bắc phạn là buddhi) được dùng làm môi trường để truyền dẫn trực giác cao siêu và tình thương bao trùm vạn vật. Vật chất tinh thần (atma) là loại vật chất tác động của ý chí sáng tạo.

[8] Bầu hành tinh ở tột đỉnh phía bên tay trái là bầu A, bầu kế tiếp thấp hơn là bầu B, cứ tiếp tục như vậy cho tới bầu G là bầu hành tinh tột cùng phía bên tay phải.

[9] Ta có thể nhớ rằng Herschil đã nhìn thấy Vệ tinh của Kim tinh.

[10] Giới ‘tinh hoa ngũ hành’ là ba giai đoạn sinh hoạt khi giáng xuống thâm nhập vào vật chất – giáng hạ tiến hóa - và ta có thể hình dung bảy giới thiên nhiên tiến vòng cung đi xuống và vòng cung đi lên cũng giống như các Dãy hành tinh và bầu hành tinh:

Tinh hoa ngũ hành 1 Nhân loại.

Tinh hoa ngũ hành 2 Động v ật

Tinh hoa ngũ hành thứ 3 Thực vật

Khoáng vật

[11] Bảy Làn sóng Sinh hoạt này cùng với sáu sự lưu nhập bổ sung dành cho Giới Tinh hoa ngũ hành thấp nhất nơi sáu Dãy hành tinh khác, vị chi là 13 Làn sóng Sinh hoạt, chính là những xung lực liên tiếp; mà đối với Hệ thống Tiến hóa này các nhà Thông Thiên Học cho rằng chúng tập hợp thành Làn sóng Sinh hoạt của Ngôi Hai, nghĩa là dòng Sự Sống làm cho hình tướng tiến hóa xuất phát từ Thượng Đế Ngôi Hai tức là Ngôi Vishnu của Ấn Độ và Ngôi Con trong Tam vị nhất thể của Ki Tô giáo.

[12] “Cha ta đã làm cho đến nay và Ta tiếp tục làm”, trích từ Phúc âm theo Thánh John 17. Xem chương v miêu tả vấn đề này diễn ra trên Trái đất khi Chơn linh của Mặt trăng nhập thế trên đó.

[13] Thánh Vịnh, ciii, 21.

[14] La hán là những đấng đã trải qua cuộc Điểm đạo Lớn thứ tư.

[15] Các đấng đã trải qua cuộc Điểm đạo Lớn thứ năm.

Chương II

CÁC DÃY HÀNH TINH THỨ NHẤT VÀ THỨ NHÌ

Chúng ta phải giáp mặt với điều hầu như là khó khăn lớn duy nhất trong công trình khảo cứu của mình ngay từ đầu – đó là các chu kỳ tiến hóa thuộc Dãy hành tinh thứ nhất và thứ nhì trong Hệ thống Tiến hóa của ta. Một Chơn sư có mỉm cười nói về điều này như sau: “Được thôi, con có thể nhìn thấy nó nhưng chưa chắc gì con có thể miêu tả được nó bằng ngôn ngữ mà ai cũng hiểu được”. Tình hình khác hẳn mọi thứ mà ta biết ở dưới này: các hình tướng tế nhị, tinh vi, biến dịch nhiều đến nỗi vật chất giống như “loại vật liệu tạo nên các giấc mơ”, chính điều này cho thấy thật khó lòng miêu tả được những sự vật mà ta đã chứng kiến. Thế nhưng, cho dù việc mô tả là bất toàn, song ta vẫn cứ phải cố gắng miêu tả để cho sự tăng trưởng và phát triển sau này có thể hiểu được; cho dù việc mô tả thật tồi tệ nhưng có còn hơn không.

Ta không thể tìm ra được ‘sự khởi đầu’ đích thực trong sợi dây xích vô tận gồm những sự vật sống động thì ta có thể nghiên cứu một mắt xích hầu như tự nó là hoàn chỉnh. Thế nhưng, kim loại tạo ra mắt xích đã ngủ yên đâu đó trong lòng trái đất rồi được đào xới lên từ mỏ nào đó, được nung chảy trong một lò nung nào đó, được gia công trong một phân xưởng nào đó, được một nhân công nào đó định hình trước khi nó xuất hiện thành một mắt xích trong một dây xích. Đối với Hệ thống Tiến hóa của ta thì cũng vậy. Nếu không có những Hệ thống Tiến hóa trước kia thì nó làm sao mà tồn tại được vì các cư dân cao cấp của nó đâu có bắt đầu tiến hóa ở Hệ thống này. Chỉ cần nói rằng một số Điểm linh quang của Thượng Đế, các Tinh thần vĩnh hằng, đã trải qua vòng cung đi xuống ở đâu đó nơi khác – dấn mình vào vật chất càng ngày càng thô trược trải qua các Giới Tinh hoa ngũ hành để đạt tới mức thấp nhất – trước khi leo lên Giới Khoáng vật của Dãy hành tinh thứ nhất, đó là sự phát triển lâu dài của họ nơi vật chất đang tiến hóa; và chúng ta – nhân loại ở trái đất hiện nay đã học những bài học tiến hóa đầu tiên của mình trong Giới Khoáng vật nơi Dãy hành tinh thứ nhất ấy. Chúng tôi đề nghị hãy truy nguyên tâm thức bắt đầu từ sự sống nơi Khoáng vật thuộc Dãy hành tinh thứ nhất tới tận sự sống nơi con người trên Dãy hành tinh thứ tư. Bản thân chúng ta là một bộ phận của loài người trên trái đất cho nên ta dễ truy nguyên tâm thức này hơn so với việc truy nguyên một điều gì đó hoàn toàn xa lạ với chính chúng ta. Đó là vì muốn làm như vậy, chúng ta chỉ cần khơi dậy trong Ký ức Vĩnh hằng những cảnh tượng mà chính chúng ta đóng vai trò trong đó, chúng ta liên kết mật thiết với nó, do đó dễ dàng đạt tới nó hơn.

Ta thấy có bảy trung tâm tạo thành Dãy hành tinh thứ nhất; như ta đã nói trung tâm thứ nhất và thứ bảy ở trên cõi Tinh thần [1] ; trung tâm thứ nhì và thứ sáu ở trên cõi trực giác [2]; trung tâm thứ ba và thứ năm ở trên cõi Thượng trí; trung tâm thứ tư ở trên cõi Hạ trí. Chúng ta gọi chúng theo kiểu các bầu hành tinh sau này là các trung tâm A và G, B và F, C và E rồi tới trung tâm D là bước ngoặc của chu kỳ. Trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất của Dãy hành tinh thứ tư – ở một chừng mực nào đó, đây là bản sao thô thiển của Dãy hành tinh thứ nhất. Phần Bình luận Huyền bí mà Giáo Lý Bí Truyền có trích dẫn nói rằng Trái đất là một “bào thai trong vật chất của Không gian” khiến ta lại chợt nhớ tới dụ ngôn này. Dãy hành tinh là các thế giới tương lai trong khuôn viên của tư tưởng, sau này các thế giới ấy được sinh ra trong vật chất thô trược hơn. Chúng ta khó lòng gọi các trung tâm này là ‘bầu hành tinh’, chúng giống như các trung tâm ánh sáng trong một biển ánh sáng, đó là cái tụ điểm ánh sáng mà ánh sáng cuồn cuộn chảy qua đó, chúng được tạo ra từ chính chất liệu ánh sáng và chỉ có ánh sáng thôi; thế nhưng, bị biến đổi bởi cơn lũ ánh sáng cuồn cuộn chảy qua chúng; chúng là các vành xoáy cuộn, thế nhưng các vành ấy cũng chỉ là ánh sáng chỉ phân biệt được qua sự chảy xoáy qua sự khác nhau về chuyển động giống như các xoáy nước phân biệt với nước giữa biển nước, còn đây là các xoáy ánh sáng giữa biển ánh sáng. Các trung tâm thứ nhất và thứ bảy đều là những biến thái của vật chất tinh thần, trung tâm thứ bảy triển khai toàn bích được những nét phác họa tổng quát mà ta thấy được nơi trung tâm thứ nhất, đấng Họa sĩ thiêng liêng đã hoàn tất được bức tranh từ bản phác họa thô thiển. Ở đó có một nhân loại, một loài người rất vinh quang là sản phẩm của một cơ tiến hóa nào đó trước kia và hoàn tất khóa học làm người ở đây trên Dãy hành tinh này (xem vòng tròn ở trên cùng bên tay phải thuộc Dãy hành tinh thứ nhất của Sơ đồ IV). Ở đây mỗi thực thể đều thu đạt được cơ thể thấp nhất của mình – trong bầu hành tinh thứ tư của mỗi Cuộc tuần hoàn – Dãy hành tinh chỉ cung cấp được cơ thể thô trược nhất là cơ thể bằng vật chất trí tuệ. Mức thành tựu qui định cho Dãy hành tinh này – việc không thành tựu hàm ý là cần phải tái sinh trên Dãy hành tinh kế tiếp – là cuộc Điểm đạo lớn thứ nhất tức điều tương ứng với nó ở đây. Theo chỗ chúng tôi quan sát thì trên Dãy hành tinh thứ nhất này không có ai bị rơi rớt thất bại và có một số - dường như trong các Dãy hành tinh sau này cũng luôn luôn xảy ra trường hợp ấy – vượt xa mức qui định; trong Cuộc tuần hoàn thứ bảy thì các thành viên của nhân loại vốn đã trở thành Điểm đạo đồ ắt nhập vào một trong bảy Con đường nêu trên.

Trên Dãy hành tinh này dường như có mặt đủ mọi trình độ ngã thức nhưng việc thiếu vắng các mức vật chất thấp mà chúng ta đã quen thuộc khiến cho phương pháp tiến hóa ở đây làm nổi bật lên một sự khác nhau đáng kể đối với người quan sát: mọi thứ chẳng những khởi sự mà còn tiến bộ ở ‘bên trên’, không có bên dưới và không ‘hình tướng’ theo nghĩa thông thường của từ ngữ này mà chỉ có các trung tâm sinh hoạt vốn không có hình tướng ổn định; không có các cõi hồng trần và cõi xúc động – nơi cả ba bầu đầu tiên thậm chí còn không có cả cõi hạ trí – từ đó các xung lực có thể trồi lên, nhấn chìm những thứ cao siêu đáp ứng với việc làm linh hoạt và sử dụng hình tướng đã tồn tại sẵn trên các cõi thấp. Cách tiếp cận gần gũi nhất với tác động ấy diễn ra trên bầu D khi các hình tư tưởng giống như loài thú vươn lên thu hút sự chú ý của các trung tâm tinh vi trôi nổi bên trong chúng; thế rồi sự sống của Tinh thần càng tuôn trào mạch động vào các trung tâm, chúng bám trụ vào các hình tư tưởng làm linh hoạt các hình tư tưởng khiến cho các hình tư tưởng trở thành người.

Thật khó mà nêu rõ các Cuộc tuần hoàn liên tiếp sau này; chúng dường như cái này mờ nhạt đi chìm vào cái kia giống như cảnh tượng tan biến [3] và chỉ được đánh dấu qua việc tăng hoặc giảm chút ít về ánh sáng. Sự tiến bộ rất chậm chạp khiến người ta nhớ lại Chu kỳ Satya Yuga của kinh điển Ấn Độ trong đó một kiếp sống kéo dài nhiều ngàn năm mà chẳng thay đổi được bao nhiêu [4] .

Các thực thể phát triển rất chậm khi các tia sáng đã được từ hóa tác động lên họ; điều này giống như sự thụ thai, giống như sự tăng trưởng trong nội bộ một quả trứng hoặc nụ hoa tăng trưởng bên trong đài hoa. Điều thú vị chính yếu của Dãy hành tinh này là sự tiến hóa của các Đấng Quang Huy (các Thiên thần) vốn quen cư ngụ trên các cõi cao; trong khi các cơ tiến hóa hạ đẳng dường như đóng vai trò thứ yếu. Nhân loại bị ảnh hưởng nhiều bởi các đấng này, hầu hết chỉ do các ngài hiện diện và do bầu hào quang mà các ngài tạo ra đôi khi ta có thể thấy một Đấng Quang Huy khoác lấy một hình hài người, coi đó như một trò chơi hoặc một con thú cưng. Dòng tiến hóa thiên thần vĩ đại trợ giúp cho loài người qua chính sự tồn tại của nó; những rung động mà các Chơn linh huy hoàng này dựng nên tác động lên các loại người hạ đẳng, củng cố và làm linh hoạt họ. Khi xét Dãy hành tinh này nói chung thì ta thấy chủ yếu đó là môi trường tiến hóa của Giới Thiên thần, còn giới nhân loại chỉ có môi trường tiến hóa thứ yếu; nhưng biết đâu đó có thể là vậy chỉ vì chúng ta là người cho nên chúng ta xem xét thế giới theo quan điểm đặc biệt của mình.

Trên bầu hành tinh thứ tư thỉnh thoảng ta thấy có một Đấng Quang Huy cố tình trợ giúp cho một con người, chuyển dời vật chất từ cơ thể chính mình sang cơ thể con người, như vậy là làm gia tăng tính đáp ứng và sự thương cảm của con người. Những đấng phò trợ ấy thuộc về lớp Rupa Devas tức là Sắc giới Thiên thần họ thường sống nơi cõi hạ trí.

Khi trở lại giới khoáng vật, ta thấy chúng ta chính là một số khoáng vật vốn sẽ trở thành người trên Dãy Nguyệt tinh và một số trở thành người trên Dãy Địa cầu. Tâm thức thiu thiu ngủ nơi các khoáng vật này phải được khơi hoạt dần dần và phát triển qua những giai đoạn dài dằng dặc để trở thành tâm thức con người.

Giới thực vật hơi tỉnh táo hơn một chút, nhưng vẫn còn rất trì độn và ngáy ngủ; sự tiến hóa bình thường ở đây sẽ đưa tâm thức làm linh hoạt tiến lên giới động vật trên Dãy hành tinh thứ nhì và tiến lên giới nhân loại, trên Dãy hành tinh thứ ba.

Hiện nay, trong khi chúng ta cần nói tới các giới này là khoáng vật và thực vật thì thật ra chúng chỉ là bao gồm các tư tưởng – tư tưởng của khoáng vật, tư tưởng của thực vật với các Chơn thần có thể nói là đang mơ mộng trong đó, đang trôi nổi bên trên đó, phóng xuống những đợt sự sống xao xuyến nhập vào các hình tướng thanh mảnh như không khí, dường như các Chơn thần này thỉnh thoảng bắt buộc phải chú ý tới chúng, cảm xúc thông qua chúng, cảm giác thông qua chúng khi có một sự tiếp xúc nào đó với ngoại giới bắt buộc kẻ đang ngáy ngủ phải tỉnh lại. Các hình tư tưởng này giống như các mô hình trong Tâm trí của đấng Chưỡng quản bảy Dãy hành tinh, sinh hoạt bên trong nội bộ Ngài, là sản phẩm của công phu thiền định của Ngài, đó là một thế giới của tư tưởng và ý tưởng, chúng ta thấy rằng các Chơn thần nào đã có được các nguyên tử trường tồn trong một hệ thống tiến hóa trước kia và đang trôi nổi bên trên những hình tư tưởng ấy, đều gắn bó với chúng và trở nên mơ hồ có ý thức bên trong và thông qua chúng. Mặc dù ý thức này chỉ mơ hồ thôi nhưng vẫn có những sự khác nhau, ta khó lòng có thể gọi mức thấp nhất là ý thức khi sự sống trong các hình tư tưởng thuộc loại ấy giống như cái mà ngày nay ta gọi là đất đá. Ta khó lòng có thể nói các Chơn thần nào tiếp xúc với chúng mà lại biết được điều gì xung quanh chúng ngoại trừ áp lực được rút ra từ chúng qua một sự khơi động sinh hoạt tẻ nhạt, biểu lộ thành sức đề kháng đối với áp lực, như vậy khác hẳn sự sống còn tẻ nhạt hơn nữa trong các phần tử hóa chất chưa gắn liền với các Chơn thần và chưa cảm thấy áp lực nào. Trong cấp độ kế tiếp nơi các hình tư tưởng giống như cái mà ngày nay người ta gọi là kim loại, ý thức về áp lực vốn mạnh mẽ hơn và sức đề kháng với áp lực lại xác định hơn một chút; hầu như có một nỗ lực bung ra bên ngoài chống lại áp lực, một phản ứng gây ra sự bành trướng. Khi cái phản ứng theo tiềm thức này tỏa ra theo nhiều hướng thì nó hình thành cái mô hình tư tưởng của một tinh thể. Chúng tôi nhận thấy rằng khi tâm thức của chính mình ở trong khoáng vật ấy thì chúng tôi chỉ cảm thấy phản ứng theo tiềm thức, nhưng khi chuyển ra ngoài và cố gắng cảm thấy phản ứng từ bên ngoài thì nó thể hiện nơi tâm thức chúng tôi thành ra sự mơ hồ bất mãn với áp lực ấy và một nỗ lực tẻ nhạt phấn kích nhằm chống lại và đẩy lùi áp lực. Một trong số chúng tôi nhận xét rằng: “Tôi cảm thấy mình là một loại khoáng vật bất mãn. Có lẽ sự sống Chơn thần khi tìm cách biểu lộ ra đã mơ hồ cảm thấy sự thiếu khoái lạc và bất đắc chí; chúng tôi cũng cảm thấy điều này khi thoát ra bên ngoài khoáng vật, cảm thấy điều đó nơi bản thân giống như cảm thấy điều đó nơi cái bộ phận tâm thức vốn ở bên ngoài hình tướng cứng rắn vào lúc ấy. Nếu chúng tôi liếc nhìn nhanh về tương lai thì chúng tôi có thể thấy rằng các Chơn thần gắn liền với các tinh thể ấy không nhập vào Dãy hành tinh kế tiếp dưới dạng sự sống thực vật thấp nhất mà chỉ dưới dạng sự sống thực vật cao cấp, rồi khi trải qua giai đoạn này bèn nhập vào Dãy Nguyệt tinh ở mức trung gian dưới dạng những con thú có vú để rồi biệt lập ngã tính nơi đó, sinh ra làm người vào Cuộc tuần hoàn thứ năm.

Một trong những sự kiện gây bối rối nhất cho các quan sát viên đó là “những tư tưởng về khoáng vật” này, không cố định mà lại lưu động; một ngọn đồi mà người ta trông mong là bền vững sẽ xoay chuyển hoặc nổi lềnh bềnh hoặc biến đổi hình dạng; không có đất đá rắn chắc mà chỉ có một hoạt cảnh biến động. Chẳng cần đức tin cũng di chuyển được các núi non này vì chúng tự di chuyển.

Vào cuối Dãy hành tinh thứ nhất thì mọi sinh linh đạt tới mức qui định - như ta đã nói trước kia, mức này tương ứng với cuộc Điểm đạo thứ nhất – nhập vào một trong bảy Thánh đạo mà một trong bảy con đường ấy dẫn tới công trình trên Dãy hành tinh thứ nhì với vai trò là những đấng kiến tạo hình tướng cho loài người, đóng vai trò đối với Dãy hành tinh thứ nhì cũng giống như vai trò mà các Nguyệt tinh quân thủ diễn sau này trên trái đất [5]. Bà H.P Blavatsky gọi họ là Asuras nghĩa là các Đấng linh động; về sau thuật ngữ này được hạn chế dùng để chỉ các sinh linh mà chỉ có trí năng phát triển chứ xúc dộng chưa phát triển [6]. Những người nào không thành công khi đạt tới mức ấy, ắt nhập vào Dãy hành tinh thứ nhì vào lúc giữa chừng để tự mình tiến hóa thêm và dẫn đầu nhân loại đến lúc kết thúc Dãy hành tinh ấy bèn được giải thoát thuộc về một trong các Tinh quân; đến lượt một số Tinh quân này làm việc trên Dãy hành tinh thứ ba để kiến tạo hình tướng loài người [7].

Nhân loại sơ khai của Dãy hành tinh thứ nhì được rút ra từ giới động vật của Dãy hành tinh thứ nhất; giới động vật của Dãy hành tinh thứ nhì được trích ra từ giới thực vật của Dãy hành tinh thứ nhất; trong khi giới thực vật của Dãy hành tinh thứ nhì xuất phát từ giới khoáng vật của Dãy hành tinh thứ nhất. Ba giới tinh hoa ngũ hành trên vòng cung đi xuống thuộc Dãy hành tinh thứ nhất cũng chuyển sang Dãy hành tinh thứ nhì lấp đầy giới khoáng vật và hai giới tinh hoa ngũ hành, còn giới tinh hoa ngũ hành thứ nhất của Dãy hành tinh thứ nhì được tạo ra từ một xung lực sinh hoạt mới mẻ của THƯỢNG ĐẾ.

Trong Dãy hành tinh thứ nhì, việc giáng thêm nữa xuống vật chất khiến cho ta có một bầu hành tinh trên cõi xúc động, một bầu hành tinh bằng chất trung giới và vật liệu thô trược hơn khiến cho sự vật cố kết hơn một chút và dễ hiểu hơn. Bây giờ ta có A và G trên cõi trực giác, B và F trên cõi thượng trí, C và E trên cõi hạ trí và D trên cõi xúc động. Trên bầu hành tinh thấp nhất thì các sự vật hơi giống hơn so với những sự vật mà ta thường quen thuộc mặc dù vẫn còn rất kỳ lạ và quái đản. Vậy là những sự vật với dáng vẻ nói chung thuộc loài thực vật tự do di chuyển như loài động vật, mặc dù xét theo biểu kiến có rất ít (nếu có) cảm tính. Chúng không bám trụ vào vật chất trên cõi trần cho nên rất linh động. Nhân loại còn non trẻ ở đây sinh hoạt tiếp xúc mật thiết với các Đấng Quang Huy, các ngài vẫn khống chế môi trường tiến hóa; các Sắc giới Thiên thần và Dục giới Thiên thần (Rupa Devas và Kama Devas) ảnh hưởng mạnh mẻ, (nhưng phần lớn là vô ý thức) tới cơ tiến hóa của loài người. Sự đam mê biểu lộ nơi nhiều người giờ đây đã có các thể xúc động trên bầu D và mầm mống của nó đã rõ rệt trên các loài thú. Những sự khác nhau trở nên đáng kể qua năng lực đáp ứng với những rung động mà Đấng Quang Huy phóng ra một cách hữu thức và vô thức, nhưng sự thay đổi rất từ từ và sự tiến bộ chỉ chậm chạp thôi. Về sau khi tâm thức trực giác đã khai mở thì có sự liên lạc giữa Hệ thống tiến hóa này với Hệ thống tiến hóa bao gồm Kim tinh hiện nay là bầu hành tinh trên cõi trần của nó; Hệ thống tiến hóa ấy là một Dãy hành tinh tiên tiến hơn chúng ta, một số đấng từ đó đã giáng xuống Dãy hành tinh thứ nhì của ta; nhưng chúng tôi cũng chẳng biết liệu họ thuộc về nhân loại trên Hệ thống Kim tinh hay là thành viên của bộ “Tổng tham mưu.”

Trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất có một đặc điểm đáng chú ý trên bầu D là có lộ ra những đám mây vật chất lớn màu sắc rực rỡ; trong Cuộc tuần hoàn kế tiếp, chúng trở nên thô trược hơn, có màu sắc lộng lẫy hơn, đáp ứng nhiều hơn với những rung động cung cấp hình hài cho chúng mà ta cũng khó lòng nói chắc được đó là loài thực vật hay động vật. Nhiều công trình diễn ra trên các cõi cao cấp sinh lực cho vật chất tinh vi để sử dụng trong tương lai lại tỏ ra có ít tác dụng đối với những hình tướng hạ đẳng. Cũng giống như hiện nay, người ta dùng tinh hoa ngũ hành để xây dựng các thể xúc động và thể trí tuệ; cũng vậy vào lúc ấy các Sắc giới Thiên thần và Dục giới Thiên thần tìm cách phân biệt với nhau rốt ráo hơn bằng cách sử dụng các đám mây vật chất và sinh hoạt trong đó. Họ giáng xuống từng cảnh một, thâm nhập vào vật chất thô trược hơn nhưng không sử dụng giới nhân loại bằng cách này. Ngay cả hiện nay thì một vị Thiên thần cũng có thể làm linh hoạt trọn cả một vùng quê, còn lúc bấy giờ thì tác động như vậy rất chung chung; vật chất xúc động và vật chất hạ trí tạo thành cơ thể của các Thiên thần này vốn biến đổi và hòa lẫn vào nhau; nhân tiện xin nói các nguyên tử trường tồn của giới thực vật, giới khoáng vật và ngay cả giới động vật đều có gốc rễ nơi cơ thể của những Thiên thần ấy, chúng đều tăng trưởng và tiến hóa. Các Thiên thần dường như không đặc biệt chú ý tới các nguyên tử trường tồn cũng giống như bản thân chúng ta không quan tâm tới sự tiến hóa của các con vi trùng bên trong cơ thể ta, song le thỉnh thoảng thì Thiên thần cũng có chú ý tới một con thú và trong tình huống đó thì năng lực đáp ứng của nó gia tăng nhanh chóng.

Khi nghiên cứu tâm thức loài thực vật trong Dãy hành tinh thứ nhì – trong Dãy hành tinh ấy chúng ta hiện nay là người thì thời đó còn sinh hoạt trong thế giới thực vật – ta thấy có ý thức mơ hồ về các lực tác động lên nó và có một ý thức thôi thúc nào đó hướng về sự tăng trưởng. Nơi một số người có cảm giác muốn tăng trưởng, ham muốn tăng trưởng, một trong những nhà khảo cứu nhận xét như sau: “Tôi đang cố gắng để đơm hoa kết trái”. Nơi một số người khác thì lại có chút ít sự chống đối với đường lối tăng trưởng bị áp đặt và có một sự mò mẫm mơ hồ đi theo một phương hướng khác do chính mình lựa chọn. Một số người dường như cố gắng sử dụng bất cứ lực nào tiếp xúc với mình và trong ý thức phôi thai ấy thì họ cho rằng tất cả xung quanh đều tồn tại để phục vụ cho bản thân. Một số cố gắng bung ra theo một hướng thu hút mình, bị bất đắc chí và mơ hồ cảm thấy phấn kích; có một người tạo một bộ phận của một Thiên thần theo quan sát thấy đã bị cản trở như thế vì Thiên thần dĩ nhiên là sắp xếp mọi chuyện để thích ứng với bản thân chứ không thích ứng với bất kỳ bộ phận cấu thành nào của cơ thể của mình. Mặt khác, theo quan điểm mù mờ của giới thực vật thì hành trang của Thiên thần ắt là không thể hiểu nổi cũng giống như hiện nay chúng ta chẳng hiểu nổi thời tiết và thường thấy là thời tiết gây rắc rối. Vào khoảng lúc kết thúc Dãy hành tinh thì các loài thực vật tiến hóa cao hơn tỏ ra có chút ít trí tuệ, quả thật là trí khôn của một trẻ sơ sinh, nhận ra được sự tồn tại của những con thú ở bên ngoài, thích một số con thú ở gần cận mình và co cụm lại đối với những con thú khác. Có một sự khao khát để được cố kết nhiều hơn, đây hiển nhiên là kết quả của việc sự sống giáng xuống vật chất thêm nữa để có được sự thô trược nhiều hơn, Ý chí hoạt động trong Thiên nhiên để giáng xuống những mức độ thô trược hơn. Nếu không bám trụ được vào vật chất trên cõi trần thì các hình tướng trên cõi xúc động rất bất ổn và có khuynh hướng trôi nổi vật vờ thiếu mục đích.

Trong Cuộc tuần hoàn thứ bảy của Dãy hành tinh này, có một số khá lớn nhân loại bị rơi rớt thất bại vì đã tụt hậu quá xa nên không tìm được những hình tướng thích hợp; sau này họ sẽ tiếp tục trên hành tinh thứ ba, Dãy Nguyệt tinh dưới dạng con người. Những người khác đạt tới mức mà hiện nay được qui định bởi cuộc Điểm đạo thứ ba (mức được qui định là thành công của Dãy hành tinh thứ nhì) và nhập vào một trong bảy Con đường; cũng như trước kia có một Con dường dẫn tới công trình trên Dãy hành tinh kế tiếp. Những người nào không thất bại nhưng cũng chẳng thành công hoàn toàn thì tiếp tục chuyển sang Dãy hành tinh thứ ba nhập vào nó ở một Cuộc tuần hoàn thích hợp khi có trình độ mà mình đã đạt được trước kia. Đám tiên tiến nhất trong giới động vật biệt lập ngã tính trên Dãy hành tinh thứ nhì và bắt đầu cơ tiến hóa làm người trên Dãy Nguyệt tinh, lướt qua các giới hạ đẳng rất nhanh rồi trở thành người; bấy giờ họ dẫn dắt cơ tiến hóa trên Dãy hành tinh ấy cho đến khi những lớp người đã nêu trên – trước hết là những kẻ thất bại, rồi tới những kẻ không thành công hoàn toàn – ghé vô từ Dãy hành tinh thứ nhì để lần lượt sau đó trở thành nhóm lãnh đạo. Đám tiên tiến nhất trong Giới Thực vật thuộc Dãy hành tinh thứ nhì nhập vào Giới Động vật thuộc Dãy Nguyệt tinh vào Cuộc tuần hoàn thứ tư với vai trò là loài động vật có vú chứ không đi băng qua loài trích trùng và loài động vật hạ đẳng, như cá và bò sát; trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất thì đám còn lại của giới thực vật thuộc Dãy hành tinh thứ nhì giáng lâm dưới dạng những con thú hạ đẳng. Tâm thức của Giới Khoáng vật thuộc Dãy hành tinh thứ nhì chuyển sang Giới thực vật thuộc Dãy Nguyệt tinh, còn Giới Khoáng vật của Dãy Nguyệt tinh được lấp đầy bằng Giới Tinh hoa ngũ hành cao nhất thuộc Dãy hành tinh thứ nhì. Cũng như trước kia, Giới tinh hoa ngũ hành thấp nhất của Dãy hành tinh thứ ba được lấp đầy bằng một làn sóng sinh hoạt mới của THƯỢNG ĐẾ.

Ở đây ta có thể nhắc tới một nguyên tắc quan trọng: mỗi một trong bảy cảnh tạo thành một cõi lại được chia nhỏ ra thành bảy; vì thế cho nên một cơ thể trong khi thành phần cấu tạo chưa đủ vật chất thuộc mọi cảnh, lại chỉ bộc lộ hoạt động qua sự tế phân tương ứng với con số của Dãy hành tinh hoặc Cuộc tuần hoàn mà nó đã trải nghiệm rồi hoặc đang trong quá trình trải nghiệm. Một người hoạt động trong Cuộc tuần hoàn thứ nhì của Dãy hành tinh thứ nhì ắt chỉ có thể vận dụng các tế phân thứ nhất và thứ nhì thuộc mỗi cảnh của vật chất trung giới và vật chất trí tuệ chứa trong thể xúc động và thể trí tuệ của mình; trong Cuộc tuần hoàn thứ ba, y ắt có thể vận dụng các tế phân thứ nhất, thứ nhì, và thứ ba mặc dù đối với tế phân thứ ba thì chưa hoàn chỉnh như khi sinh hoạt trong Cuộc tuần hoàn thứ ba, thuộc Dãy hành tinh thứ ba và v.v… Như vậy mãi về sau này, trong Dãy hành tinh Trái đất, con người thuộc Cuộc tuần hoàn thứ nhì đã hoạt động xuyên qua các tế phân thứ nhất và thứ nhì của mỗi một cảnh cũng như hoạt động chút ít trong tế phân thứ ba và thứ tư vì y đang sinh hoạt trong Dãy hành tinh thứ tư; vì thế cho nên trong khi bản thân y có đủ vật chất của mọi cảnh nhưng chỉ hai tế phân thấp nhất thuộc hai phân cảnh thấp nhất là hoạt động trọn vẹn và tâm thức của y chỉ hoạt động trọn vẹn thông qua hai tế phân này. Mãi cho tới Giống dân thứ bảy thuộc Cuộc tuần hoàn thứ bảy thì con người mới có được một cơ thể rực rỡ trong đó mọi hạt vật chất đều rộn ràng đáp ứng với bản thân y và ngay cả lúc đó sự đáp ứng vẫn chưa được toàn bích như trong các Dãy hành tinh sau này.

[1] Cõi Niết Bàn.

[2] Cõi Bồ Đề

[3] Ta có thể nhớ rằng các Giống dân thứ Nhất và thứ Nhì trong thế giới hiện nay cũng chứng tỏ một điều gì đó mang đặc tính ấy, mặc dù ở một mức độ thấp hơn hẳn.

[4] Người Ấn Độ chia thời gian ra thành các chu kỳ bao gồm bốn Yuga tức Thời đại, nối tiếp nhau; Satya Yuga, thời đại đầu tiên trong loạt ấy là chu kỳ dài nhất và mang tính tâm linh nhất. Khi thời đại thứ tư kết liễu thì một chu kỳ mới lại khai trương bắt đầu bằng một thời đại Satya.

[5] Các Barhishad Pitris trong Giáo lý Bí truyền.

[6] Các Asuras đóng vai trò Barhishad Pitris trên Dãy hành tinh thứ nhì đóng vai trò Agnishvatta Pitris trên Dãy hành tinh thứ ba và tạo thành một trong các lớp cao cấp nhất của nhóm Manusaputras siêu nhân giáng lâm trên trái đất theo Giáo lý Bí truyền. Phải nhớ rằng những giai đoạn này đều là siêu nhân; xét theo biên kiến nó biểu thị những giai đoạn siêu nhân của con đường thứ năm trong số bảy Con đường được liệt kê ở trang 14. Trong Giáo lý Bí truyền có gây ra một điều khó khăn cũng dùng danh xưng Asuras này để chỉ những người đã rời bỏ Dãy Nguyệt tinh ngay từ bầu hành tinh đầu tiên của Cuộc tuần hoàn thứ bảy và gây rối trên trái đât bằng cách từ chối không sáng tạo. Bạn nào đã đọc quyển Phổ hệ con người ắt phải dùng điều này để chỉnh đốn lại sự kiện ấy dựa theo những chi tiết được trình bày sau này, vì chính tôi cũng bị nhầm lẫn do việc dùng từ Asuras theo hai nghĩa khác nhau trong Giáo lý Bí truyền. Con người chưa bao giờ có thể tồn tại như vậy nhiều hơn mức hai Dãy hành tinh liên tiếp. Muốn xuất hiện như vậy thì họ ắt trở thành siêu nhân – Annie Besant.

[7] Trong thuật ngữ của Giáo lý Bí truyền, thì họ trở thành các Barhishad Pitris.

Chương III

THỜI SƠ KHAI TRÊN DÃY NGUYỆT TINH

Trích từ CON NGƯỜI\TỪ ĐÂU TỚI,

(MAN:Whence, How and Whither)

Bản dịch: www.thongthienhoc.com

THỜI SƠ KHAI TRÊN DÃY NGUYỆT TINH

Trên Dãy Nguyệt tinh – dãy thứ ba trong một loạt liên tiếp – ta có sự chìm sâu hơn vào vật chất và bầu hành tinh trung gian ở trên cõi trần; A và G trên cõi thượng trí, B và F trên cõi hạ trí, C và E trên cõi xúc động, còn D trên cõi hồng trần. Bầu trung gian này là hoạt cảnh náo nhiệt nhất trong Dãy hành tinh vẫn còn sống sót dưới dạng Mặt trăng, nhưng Mặt trăng chỉ là di tích của nó sau khi đã mất mát nhiều vật liệu, có thể nói là cái lõi bên trong của nó, sau khi lớp vỏ đã tan rã, là một bầu thiên thể có kích thước nhỏ bé hơn nhiều đang trên đường hoàn toàn bị tiêu diệt – thật vậy đó là một xác chết.

Khi theo dõi tâm thức tiến hóa mà ta đã thấy là giới khoáng vật trên Dãy hành tinh thứ nhất là giới thực vật trên Dãy hành tinh thứ nhì, ta thấy đỉnh cao của làn sóng tiến bộ mang ta bên trong nó nhập vào Dãy hành tinh thứ ba lúc giữa kỳ, xuất hiện trên bầu D, tức Mặt trăng vào Cuộc tuần hoàn thứ tư dưới dạng loài động vật có vú. Những động vật có vú này là các tạo vật kỳ diệu, nhỏ bé nhưng cực kỳ linh động, loài tiên tiến nhất có hình dáng giống như khỉ và nhảy được rất xa. Theo thông lệ thì các tạo vật thuộc Cuộc tuần hoàn thứ tư thoạt tiên có lớp da giống như vảy và sau này có lớp da giống như da nhái; thế rồi loại tiên tiến hơn phát triển các lông xù tạo ra một lớp lông thô trược và rất cứng rắn. Không khí hoàn toàn khác với bầu khí quyển hiện nay của ta, nặng nề và ngạt thở, nhắc ta nhớ tới khí nghẹt ở vùng ẩm ướt nhưng nó rõ rệt là thích ứng với cư dân trên Mặt trăng. 56Những tâm thức mà chúng tôi đang theo dõi mang xác những con động vật có vú nhỏ, thân hình thuôn thuôn, chân ngắn, là một sự hỗn hợp của loài chồn, loài cầy và loài chó hoang, với cái đuôi ngắn cũn cỡn khẳng khiu hoàn toàn vụng về và chưa toàn mỹ; mắt chúng màu đỏ và trong đêm tối cũng có thể thấy được hang động của mình, khi đi ra ngoài hang thì chúng nhấc người lên trên hai chân sau, dùng cái đuôi ngắn ngủn mạnh mẽ tạo thành cái vạc ba chân, ngoái đầu qua bên này bên kia để đánh hơi. Những con thú này rất thông minh và ít ra ở vùng đó thì mối quan hệ giữa loài thú và loài người trên mặt trăng dường như thân thiện hơn mối quan hệ giữa loài người và loài thú hoang trên trái đất; các tạo vật này không phải là gia súc nhưng khi thấy loài người xuất hiện thì chúng chẳng hề bỏ chạy tán loạn. Ở những nơi khác, khi loài người chỉ là những kẻ dã man, ăn thịt kẻ thù khi bắt được chúng và ăn thịt thú vật khi thiếu thịt người, thì loài tạo vật hoang dã nhút nhát hơn co giò bỏ chạy khi loài người tới gần.

Sau giai đoạn đầu tiên của sinh hoạt động vật này là tới lượt các tạo vật sống nhiều trên cây, tay chân có khớp kép, bàn chân dãn ra, bàn chân đã biến đổi rất kỳ diệu, có một chỗ nhô ra giống như ngón chân cái, vuông góc với cẳng chân, giống như cựa của con gà trống có trang bị một móng vuốt khum khum. Loài thú này chạy nhanh dọc theo tán lá bên dưới cành cây nên dùng nó để bám trụ khiến cho phần còn lại của bàn chân trở nên vô dụng, nhưng khi di chuyển trên mặt đất thì nó vẫn bước trên cái bàn chân dãn ra và cái cựa thoài về phía sau cao hơn mặt đất cho nên không cản trở sự vận chuyển.

Có những con thú khác phát triển cao hơn những con này và thông minh hơn nhiều, có hình dạng giống như khỉ, quen sống nơi loài người định cư, gắn bó quyến luyến với loài người thời ấy, phục vụ loài người dưới nhiều dạng khác nhau. Những con này biệt lập ngã tính trên bầu D của Cuộc tuần hoàn thứ tư, khi chuyển sang bầu E, F và G chúng phát triển được thể xúc động và thể trí tuệ của con người; còn thể thượng trí mặc dù đã được tái lập trọn vẹn nhưng chưa tăng trưởng được bao nhiêu. Như ta thấy, những con này sẽ rời Dãy Nguyệt tinh vào giữa Cuộc tuần hoàn thứ bảy, thế là nó đã trải qua ba Cuộc tuần hoàn phát triển làm người trên Dãy Nguyệt tinh. Trong đám này ta thấy biệt lập ngã tính trong một cộng đồng nhỏ sống ở vùng quê có các Chơn sư hiện diện, quan sát được là Mars và Mercury, hiện nay các ngài lãnh đạo Hội THÔNG THIÊN HỌC và sẽ trở thành Đức Bàn Cổ và Bồ Tát [1] của Căn chủng thứ sáu trên trái đất trong Cuộc tuần hoàn thứ tư hiện nay của Dãy hành tinh trái đất.

Sau khi các con thú chết đi, các cơ thể cuối cùng trên bầu hành tinh D thì tâm thức của những con thú mà chúng tôi đang theo dõi hầu như yên ngủ trải qua phần còn lại của Cuộc tuần hoàn thứ tư và ba bầu đầu tiên của Cuộc tuần hoàn thứ năm, vì mất thể xúc động và thể trí tuệ sơ khai chỉ một thời gian ngắn sau khi thể xác đã chết và lại chưa có thể thượng trí cho nên chúng vẫn yên ngủ trong một loại thiên đường với những giấc mơ êm đềm, không tiếp xúc với thế giới đang biểu lộ, vực sâu ngăn cách chúng với những thế giới này không có gì bắc cầu nối liền lại. Trên bầu D thuộc Cuộc tuần hoàn thứ năm, chúng lại được nhập thể xuất hiện dưới dạng những tạo vật lớn giống như khỉ, nhảy chồm tới được 40 bộ Anh và dường như có thể nhảy vút lên trên không rất cao. Vào thời giống dân thứ tư trên bầu hành tinh D chúng trở thành gia súc, đóng vai trò canh gác tài sản của chủ, chơi với trẻ con trong nhà cũng giống như con chó canh nhà trung thành hiện nay, cõng trẻ con trên lưng hay ẳm chúng trong vòng tay và phát triển lòng luyến ái mạnh mẻ đối với các chủ nhân ông là loài người; đám trẻ con thường thích thú nằm gọn lỏn trong lớp lông dày cộm mềm mại của chúng, vui hưởng những cú chồm tới của đám vệ sĩ trung thành. Sau đây là một hoạt cảnh có thể đóng vai trò kiểu mẫu cho sự biệt lập ngã tính của những tạo vật ấy.

Có một người trên mặt trăng cùng với vợ và con cư ngụ trong một túp lều; sau này ta biết những người ấy với tên gọi là Mars và Mercury, Mahaguru và Surya [2]. Một số tạo vật giống như khỉ này sinh hoạt xung quanh túp lều, tận trung với những chủ nhân ông như những con chó trung thành, trong số đó chúng tôi lưu ý thấy những con trong tương lai là Sirius, Herakles, Alcyone, và Mizar – chúng tôi trình bày tên trong tương lai của chúng với mục đích để nhận diện mặc dù chúng vẫn còn chưa phải là người. Thể vía và thể trí của chúng đã phát triển do tác động trí thông minh con người của các chủ nhân ông, giống như thể vía và thể trí của loài gia súc hiện nay phát triển theo trí thông minh của chính chúng ta; Sirius chủ yếu là tận tụy với Mercury, Herakles tận tụy với Mars; Alcyone và Mizar là những con phục vụ gắn bó đam mê với Mahaguru và Surya.

Có một đêm xảy ra chuyện báo động; túp lều bị vây quanh bởi những kẻ dã man được hỗ trợ bằng đám gia súc hung hăng và dữ tợn giống như những con thằn lằn và cá sấu có lông, những con thú canh trung thành nhảy xổ ra xung quanh túp lều của chủ, chiến đấu tuyệt vọng để bảo vệ nó; Mars xông ra đẩy lùi những kẻ tấn công vì biết dùng một số vũ khí mà chúng không có, nhưng trong khi Mars đẩy lùi được chúng thì một tạo vật giống như thằn lằn lao vút đằng sau lưng Mars xâm nhập vào túp lều, tóm được đứa trẻ Surya rồi bắt đầu đánh cướp nó đi. Sirius xông vào nó, vật nó xuống, quẳng đứa trẻ cho Alcyone, Alcyone ẳm đứa trẻ vào lều trong khi Sirius đánh xáp lá cà với con thằn lằn; sau một cuộc chiến đấu tuyệt vọng, Sirius giết được địch thủ rồi ngã lăn ra hôn mê bất tỉnh, thân thể te tua. Trong khi đó một kẻ dã man lẻn vào phía sau lưng Mars đâm lụi vào lưng Mars, nhưng Herakles nhảy xổ ra lao mình vào giữa chủ nhân ông với vũ khí đâm lén, hứng trọn cú đâm vào ngực rồi lăn ra hấp hối. Những kẻ dã man giờ đây chạy trốn theo mọi hướng, Mars cảm thấy một tạo vật nào đó đang gục xuống lưng mình bèn lảo đảo hoàn hồn quay lại. Mars nhận ra con thú trung thành bảo vệ mình đang phủ phục trên kẻ phục vụ mình hấp hối rồi áp đầu vào lòng của mình.

Con khỉ tội nghiệp ngước mắt lên với lòng sùng tín mạnh mẽ nhìn thẳng vào mặt chủ và khi đã thực hiện hành vi phụng sự ấy với mong muốn nhiệt thành cứu chủ, đã hiệu triệu được một luồng đáp ứng từ ngôi Ý chí của Chơn thần qua một đợt quyền năng cháy bỏng dâng lên và chính trong lúc hấp hối ấy con khỉ biệt lập ngã tính, thế là nó chết khi vừa mới trở thành người.

Con khỉ bị thương nặng là Sirius vì bị kẻ thù là con thằn lằn cắn cho nát người ra nhưng vẫn còn sống, nó được mang vào trong túp lều; nó còn sống được một thời gian đáng kể, thân tàn ma dại và chỉ cà lếch được một cách khó nhọc. Thật là xúc động khi thấy lòng trung thành câm nín của nó đối với bà chủ; đôi mắt nó dõi theo bà khi bà đi tới bất cứ nơi đâu, đứa trẻ Surya nựng nịu nó âu yếm, còn những con khỉ đồng loại của nó là Alcyone và Mizar bu lấy quanh nó; dần dần thì trí thông minh của nó được tình thương nuôi dưỡng phát triển mạnh hơn, cho đến khi hạ trí vút lên cao thu hút sự đáp ứng của thượng trí từ trên hạ xuống khiến cho thể thượng trí lóe lên hiện hữu chẳng bao lâu trước khi nó chết. Alcyone và Mizar còn sống sót sau khi nó chết được một thời gian, nhất tâm tận tụy với Mahaguru và Surya với những đặc trưng nổi bật nhất cho đến khi thể xúc động với bản năng là một lửa thuần khiết cũng hiệu triệu được một sự đáp ứng từ cõi trực giác và chúng cũng biệt lập ngã tính rồi qua đời.

Những trường hợp này là ví dụ điển hình của ba loại phương pháp lớn về biệt lập ngã tính [3] trong đó sự sống trên cao tuôn xuống thông qua một ngôi trong Tinh thần Ba ngôi: thông qua Ý chí, thông qua Minh triết và thông qua Trí năng hoạt động. Hành động vươn lên và hiệu triệu được Ý chí; Tình thương vươn lên và hiệu triệu được Minh triết; Trí tuệ vươn lên và hiệu triệu được Trí huệ. Đây là “ba Phương thức Đứng đắn” để biệt lập ngã tính. Có những phương thức khác mà chốc nữa chúng tôi sẽ đề cập tới vốn là phản ảnh của ba phương thức này nơi vật chất thô trược hơn, nhưng đó là “các Phương thức Sai lạc” và gây ra nhiều đau khổ.

Từ đây trở đi, các tâm thức mà chúng ta đặc biệt đang theo dõi đã dứt khoát là con người và có cùng một thể thượng trí vẫn còn được sử dụng; chúng cư ngụ ở bầu E với tư cách là con người, nhưng không đóng vai trò xác định nào trong sinh hoạt bình thường. Chúng trôi nổi trong bầu khí quyển giống như cá lội trong nước, nhưng chúng chưa đủ tiến bộ để chia xẻ những hoạt động bình thường của nó. Thể xúc động mới được tạo ra trên bầu E do một loại khối u nhú ra xung quanh nguyên tử trường tồn của thể vía; những kẻ mới biệt lập ngã tính không sinh ra thành trẻ con của các cư dân mà có thể nói là nhân tiện nó không có dáng vẻ cố hữu, ta không thể nói chúng thật sự tiến bộ thành con người chừng nào chúng chưa bắt đầu đổ bộ trở lại trên bầu D vào Cuộc tuần hoàn thứ sáu. Chắc chắn có một sự củng cố và cải thiện nào đó nơi thể xúc động trôi nổi trong bầu khí quyển của bầu E, nơi thể hạ trí cũng trôi nổi trong bầu khí quyển của bầu F và nơi thể thượng trí cũng trôi nổi trong bầu khí quyển của bầu G. Sự cải thiện này được biểu lộ qua sự giáng xuống các bầu khí quyển thuộc các bầu A, B và C trong Cuộc tuần hoàn thứ sáu, trong đó vật chất được thu hút vào mỗi thể thuộc loại tốt hơn và cố kết hơn. Nhưng ta đã nói rằng sự tiến bộ thật sự chỉ diễn ra trên bầu D khi người ta một lần nữa khoác lấy vật chất trên cõi trần.

Trong số những con thú tiên tiến thuộc Cuộc tuần hoàn thứ năm này vốn sống tiếp xúc với những người nguyên thủy, có một số con thú đáng chú ý vì sau này chúng túm tụm lại thành ra một loại hình dựa trên việc sử dụng một phương pháp biệt lập ngã tính giống nhau. Như ta có nói, chúng biệt lập ngã tính theo một trong những phương thức “Sai trái”. Chúng cố gắng bắt chước con người mà chúng trà trộn vào đó để lấy uy tín là mình cao siêu hơn các con thú đồng loại, chúng nghênh ngang, đầy tự đắc và thường tỏ ra khoe mẻ. Chúng là những tạo vật giống như khỉ, rất giống những con thú đã được quan sát trước kia, nhưng rõ rệt là khéo léo hơn, có nhiều óc tưởng tượng hơn, hoặc ít ra thì có khả năng bắt chước và chúng đóng vai con người cũng giống như là trẻ con đóng vai người lớn. Chúng biệt lập ngã tính qua lòng tự đắc tột độ ấy, nó kích thích năng lực bắt chước tới một mức độ bất bình thường và gây ra xúc cảm chia rẽ tột độ, chú trọng tới “bản ngã” vừa mới chơm nở của con thú cho đến khi nỗ lực phân biệt với những con khác hiệu triệu một sự đáp ứng từ những cảnh cao và bản ngã được hình thành. Nhưng nỗ lực vươn lên trên đồng loại mà không ngưỡng mộ hoặc yêu thương bất cứ sinh linh nào cao hơn mình, chỉ vươn lên ngỏ hầu có thể mục hạ vô nhân, chẳng làm gì để biến đổi sự đam mê đầy thú tính thành ra các xúc động của con người và không đặt nền tảng nào cho sự phát triển hài hòa trong tương lai về bản chất xúc động và trí tuệ. Chúng vốn độc lập, duy ngã, tự túc, mỗi con chỉ biết nghĩ về chính mình, không màng tới sự hợp tác hoặc kết hợp vì một mục đích chung. Khi chúng chết đi sau khi đã biệt lập ngã tính trong thời khoảng giữa lúc chết và lúc tái sinh trên bầu D vào Cuộc tuần hoàn thứ 6, chúng cũng mơ mộng nhiều giống như những con thú khác đã biệt lập ngã tính, nhưng có một sự khác biệt – một sự khác biệt có tầm quan trọng lớn lao đối với các đường lối tăng trưởng – đó là trong những trường hợp trước kia, con người mới sinh ra tập trung tâm trí đầy yêu thương lên chủ nhân ông mà mình tôn thờ ở bầu D, do đó xúc động của họ được củng cố và cải tiến; còn những con thú biệt lập ngã tính do tự đắc thì chỉ tập trung tâm trí lên bản thân và sự ưu việt của chính mình cho nên xúc động không tăng trưởng thành tình thương.

Có một loại thú vật khác biệt lập ngã tính vì ngưỡng mộ những người mà chúng tiếp xúc và chúng cũng tìm cách bắt chước họ, không phải vì chúng muốn chơi trội với đồng loại mà vì chúng coi con người cao cấp hơn mình và muốn giống như con người. Chúng không yêu thương con người nhiều lắm mà cũng chẳng muốn phục vụ con người, nhưng chúng rất muốn được loài người dạy dỗ và rất sẵn lòng vâng lệnh, bắt nguồn từ việc cảm thấy ngưỡng mộ loài người là loài cao cấp hơn. Chúng được chủ huấn luyện trước hết để thực hiên một vài mánh khóe thế rồi để phục vụ lặt vặt và bằng cách này chúng tăng trưởng theo một ý nghĩa nào đó nhằm hợp tác với chủ nhân ông; chúng cố gắng lấy lòng chủ để cho chủ ủng hộ mình, không phải vì chúng đặc biệt quan tâm tới chủ mà vì sự hợp tác được phép ấy bắt nguồn từ sự ủng hộ của chủ giúp cho chúng tiến gần hơn tới những đấng cao cả mà chúng muốn làm việc với các ngài. Khi chúng biệt lập ngã tính do sự tăng trưởng trí thông minh thì trí năng đã sẵn sàng tuân phục kỷ luật, hợp tác, hiểu được những lợi ích của nỗ lực kết hợp và sự cần thiết của việc vâng lời. Trong khi tồn tại giai đoạn trung gian chúng mang theo ý thức về công trình kết hợp, việc sẵn lòng vâng lệnh rất có ích cho chúng trong tương lại.

Một loại khác phát triển theo đường lối bất hạnh nhất khi tâm trí trở nên sắc sảo và đầy cảnh giác do sợ hãi. Những con thú săn mồi hoặc bị loại người dã man chiếm hữu và thường bị đối xử độc ác, có thể đạt được biệt lập ngã tính bằng cách cố gắng tránh né sự độc ác, bằng cách hoạch định phương thức trốn thoát khi bị săn đuổi; chúng phát triển sự quỉ quyệt đầy mánh khóe và những năng lực tương tự, chúng tỏ ra có một tài khéo méo mó được trưởng dưỡng qua sự sợ hãi với nhiều lần đa nghi, thiếu tin cậy và ưa thù oán. Khi tâm trí đã được củng cố như vậy, đến một mức nào đó qua việc tiếp xúc với loài người, mặc dù theo những đường lối bất hảo nhất thì kết quả vẫn là biệt lập ngã tính; có trường hợp chúng tôi quan sát thấy một bạn tình của tạo vật bị giết chết gây ra một đợt trào dâng lòng hận thù và lòng báo oán miệt mài khiến cho nó biệt lập ngã tính; có trường hợp chúng tôi lại thấy một con thú giống như mèo rừng biệt lập ngã tính do lòng nồng nhiệt mong muốn gây đau khổ để thị uy đối với những con vật khác; nhưng ở đâu đó lại là một sự kích thích bắt chước theo ảnh hưởng đầy ác ý của con người. Trong những trường hợp này, thời khoảng dài dằng dặc giữa lúc biệt lập ngã tính và tái sinh đầy ắp những cơn mơ mộng về việc trốn thoát thành công về những vụ trả thù phản bội và những trò độc ác gây ra cho những kẻ đã bạc đãi chúng trong kiếp làm thú cuối cùng. Hậu quả bất hạnh này trút trách nhiệm lên kẻ nào đã gây ra nó và tạo ra một mối nhân duyên trong những kiếp tương lai; có lẽ cũng chẳng phải là vô lý khi coi mọi sự biệt lập ngã tính ấy là quá sớm sủa – “khoác lấy hình dạng người quá sớm”. Chúng ta sẽ lại thấy các loại hình này trong Cuộc tuần hoàn thứ sáu, triển khai tính người mới mẻ của mình theo những đường lối đã xác định qua phương thức biệt lập ngã tính độc đáo của riêng mình. Dường như thể chỉ có ba loại biệt lập ngã tính do luồng thần lực từ trên cao giáng xuống là hợp theo Thiên cơ, còn sự biệt lập ngã tính do cưỡng chế từ bên dưới đi lên là hành vi sai trái của con người.

Trước khi theo dõi cả những con thú này lẫn các bạn của chúng tôi thuộc loại hình khác bước vào sinh hoạt trên bầu D trong Cuộc tuần hoàn thứ sáu, chúng ta có thể liếc nhìn nền văn minh cao cấp của những đô thị thuộc Dãy Nguyệt tinh trong Cuộc tuần hoàn thứ năm rải rác trên bầu D có nhiều cộng đồng người sống những kiếp rõ rệt là sơ khai, một số người giống những người ở trong túp lều vừa nêu trên vốn tử tế, mặc dù kém phát triển và vẫn dũng mãnh chiến đấu khi bị tấn công. Còn những người khác lại dã man ưa cãi cọ và gây chiến liên tục, xét theo biểu kiến chỉ vì lòng khát máu và độc ác. Ngoài đủ thứ cộng đồng này ra, một số thì lớn, một số thì nhỏ, một số sống đời du mục, một số sống nơi đồng cỏ, còn những người văn minh hơn sống ở thành thị, buôn bán và chịu sự cai trị của chính quyền an cư lạc nghiệp, chưa có nhiều người sống theo kiểu mà ta gọi là một quốc gia; chỉ có một thành thị và một vùng rộng lớn – đôi khi rất bao la xung quanh nó với làng mạc rải rác tạo thành một Nhà nước riêng biệt; cái Nhà nước này tiến hành thỏa hiệp lung tung với nhau để giao thương hoặc phòng thủ hỗ tương.

Ta có thể dùng một mẫu để làm điều minh họa. Ở gần điều tương ứng với xích đạo có một thành thị lớn – nhưng nó giống như nghĩa địa nhiều hơn – xung quanh có đất để trồng trọt. Thành thị này được xây dựng thành ra các khu phố riêng biệt, tùy theo lớp cư dân. Người nghèo ban ngày sống ngoài đường, còn đêm đến hoặc khi trời mưa thì bò trườn bên dưới những mái nhà phẳng khiến ta nhớ tới những mộ thạch dẫn vào những hang động thuôn thuôn hoặc những căn buồng đục sâu vào trong vách đá. Chúng giống như những rảnh bên dưới mặt đất chạy dài và ăn thông với nhau, đó là một mê lộ chính qui mà cửa vào được làm bằng một phiến đá khổng lồ tựa trên những hòn đá thẳng đứng nhỏ hơn được dùng làm cột trụ. Những căn phòng này tụ tập lại với nhau – hàng ngàn phòng – chạy dọc theo hai bên một đường phố tròn dài dằng dặc tạo ra vành đai của bên ngoài thành thị.

Giai cấp thượng lưu sống trong những nhà có mái vòm bên trong vòng đai được xây dựng ở mức cao hơn, phía trước có sân thượng rộng rãi tạo ra một vành đai thẳng đứng vòng tròn giống như đường phố bên dưới, các mái vòm được chống đỡ tựa lên những cột trụ mảnh mai nhưng kiên cố, khắp cột trụ đều được chạm trỗ chứng tỏ đây là một nền văn minh rất tiên tiến. Vô số mái vòm này nối liền với nhau ở mép dưới tạo ra một loại thành thị cộng đồng, một vành đai và lại có một sân thượng vòng tròn bên trên núp trong trung tâm của thành thị là điểm cao nhất, ở đó nhà cửa cao hơn có ba mái vòm, mái này vượt trên mái kia, mái trên nhỏ hơn mái dưới. Các mái vòm phía trên có những nấc thang bên trong một cột trụ bắc từ sàn dưới đất lên cuốn xung quanh cột trụ ở trung tâm. Dường như thể những thứ này đã được đẽo ra từ đỉnh của một hòn đá sống động. Ở những mái vòm trên cao dường như không có đục lỗ cho ánh sáng và không khí tràn vào. Mái vòm cao nhất có một loại võng treo từ trung tâm rũ xuống và đây là phòng cầu nguyện; dường như bất cứ ai lúc đang cầu nguyện đều không được tiếp đất.

Đây hiển nhiên là loài người cao cấp nhất trên mặt trăng về sau họ thành các Nguyệt tinh quân đạt tới quả vị La hán là mục tiêu qui định cho cơ tiến hóa của Dãy Nguyệt tinh. Họ đã văn minh rồi và trong một phòng chúng tôi thấy một đứa trẻ đang viết chữ bằng loại chữ viết mà chúng tôi hoàn toàn không hiểu được.

Những người thuộc nhân loại Nguyệt tinh nhập lưu vào Thánh đạo trong Cuộc tuần hoàn này ắt tiếp xúc với một đoàn thể các Đấng cao cả hơn là Huyền giai vào thời đó, các ngài đã từ Dãy hành tinh thứ nhì giáng lâm để trợ giúp cho cơ tiến hóa của Dãy hành tinh thứ ba. Các Ngài sống ở vùng núi cao hầu như không ai bén mãng đến được; nhưng những người đã nhập lưu vào Thánh đạo đều nhận ra được sự hiện diện của các Ngài và nhân loại thông minh vào thời đó nói chung cũng chấp nhận đây là một sự thật. Đệ tử của các Ngài đến với các Ngài khi xuất hồn và đôi khi một trong các Ngài giáng xuống vùng bình nguyên trà trộn một thời gian giữa nhân quần. Những người ở trong căn nhà trung tâm của thành thị mà ta vừa miêu tả có tiếp xúc với các Ngài và chịu ảnh hưởng của các Ngài về những vấn đề có tầm quan trọng nghiêm chỉnh.

[1] Tước hiệu chính thức của các vị Lãnh đạo một Căn chủng trên cương vị là Vua và Lễ sư, nhà Cai trị và Đạo sư.

[2] Xem ‘Vén màn Bí mật Thời gian’ trong Tạp chí Nhà Thông Thiên Học năm 1910 – 1912. Mahaguru là Đức Phật Thích Ca, Surya là Đức Di Lặc. Tại sao những con thú ấy lại có liên hệ mật thiết với những đấng là chủ nhân của chúng ở trên trái đất lúc bấy giờ còn xa vời vợi? Phải chăng chúng là loài cây cỏ được các ngài chăm sóc giống như chúng ta uốn nắn cây cỏ hiện nay trong những trường hợp cao cấp hơn – vì Đức Phật Thích Ca và Đức Di Lặc đã là người trên Dãy hành tinh thứ nhì – hoặc trong những trường hợp thấp kém hơn là loài thú vật và loài cây cỏ vốn có ái lực với nhau.

[3] Về vấn đề này xem ‘Các Phương thức biệt lập Ngã tính’ của C.W. Leadbeater trong tác phẩm Sự sống Nội giới quyển II tiết 6.

Chương IV

CUỘC TUẦN HOÀN THỨ SÁU TRÊN DÃY NGUYỆT TINH

Ta lại xét đến bầu D, nhưng bây giờ là Cuộc tuần hoàn thứ sáu, và những con thú đã biệt lập ngã tính sinh ra trên đó thành loại người chất phác và nguyên thủy, nhưng không dã man và thô bạo. Họ không đẹp trai theo ý thức thẩm mỹ hiện nay của ta – tóc bù xù, môi dày, mũi tẹt. Họ sống trên một hòn đảo và hiếm thức ăn đến nỗi trong kiếp đầu tiên trọn vẹn làm người, Herakles xuất hiện trên diễn trường dấn thân vào một cuộc chiến đấu dữ dội với một kẻ dã man khác để tranh giành xác chết của một con thú trông rõ rệt là chẳng có gì đáng ham. Việc đấu tranh giữa những người sống trên đảo dường như là bất bình thường và chỉ xảy ra khi thực phẩm khan hiếm, nhưng thỉnh thoảng có nhiều cuộc đấu tranh để đẩy lùi sự xâm lược của người ở đất liền nơi những kẻ dã man đặc biệt ăn thịt người tàn bạo, độc ác, quỉ quái khiến cho đồng loại hiền lành hơn rất khiếp sợ. Những kẻ láng diềng khó thương này vượt qua eo biển trên những chiếc bè trông rất thô sơ, tràn lên đảo, đi đến đâu là gieo rắc sự hủy hoại đến đó. Dân trên đảo coi chúng là quỉ, tuy nhiên họ vẫn chiến đấu ngoan cường để tự vệ. Dân trên đảo cũng giết những người bị bắt làm tù binh, nhưng không hành hạ tù binh còn sống hoặc ăn thịt tù binh đã chết như đám người dã man trên đất liền.

Những người dã man trên đất liền là những kẻ đã biệt lập ngã tính do lòng sợ hãi trong Cuộc tuần hoàn thứ năm, trong đám đó ta có thể nhận ra Scorpio; lòng thù ghét của y đối với Herakles vốn nổi bật xiết bao trong những kiếp tương lai có thể bắt nguồn từ đây vì ngay cả ở mức nhân loại rất nguyên thủy này, đôi bên đã thuộc về các bộ tộc chống đối nhau dữ dội. Trong kiếp thứ nhì của Herakles sống nơi cộng đồng này, Scorpio cầm đầu một đạo quân tấn công vào một bộ tộc trên đảo mà nay ta đang đề cập tới, còn Herakles thuộc về phe đi cứu viện, tấn công đám người dã man khi chúng rút lui và thành công khi đè bẹp chúng, cứu được một tù binh bị thương thuộc loại tiến hóa cao hơn nhiều và đang bị cầm giữ để hành hạ.

Trong đám người sống trên đảo vào dạo ấy, chúng tôi thấy có Sirius cũng như Alcyone và Mizar, dường như không có bất cứ mối quan hệ đặc biệt nào – sinh hoạt mang tính cộng đồng và người ta sống lẫn lộn với nhau – vượt quá mức được hình thành qua sự thu hút cá nhân trong bất kỳ kiếp nào. Thời khoảng giữa lúc chết và lúc tái sinh rất ngắn, cùng lắm cũng chỉ vài năm và người dã man tái sinh cũng trong cộng đồng ấy. Kiếp thứ nhì tỏ ra tiến bộ hơn nhờ sự trợ giúp từ bên ngoài làm cho sự tiến hóa nhanh hơn.

Có một người lạ mặt đổ bộ lên hòn đảo, một người thuộc loại cao cấp hơn với nước da sáng sủa hơn – da màu xanh lơ tươi sáng – so với dân trên đảo da màu nâu sẫm như bùn, dân trên đảo bu quanh lấy y vừa tò mò vừa ngưỡng mộ. Người này đến để khai hóa cho dân trên đảo, họ vốn ngoan ngoãn và dễ bảo, việc khai hóa ấy nhằm hội nhập dân trên đảo vào Đế quốc mà người này đã được biệt phái đi từ thủ đô đế quốc. Y bắt đầu bằng cách làm cho dân trên đảo phải sửng sốt. Y đổ nước vào một cái bát làm bằng vỏ trái cây, móc từ trong túi ra một quả banh nhỏ trông giống như một hạt giống rồi bỏ vào trong nước; nó bắt lửa và y đốt lên một số lá khô thế là bây giờ ta có một ngọn lửa cháy bừng; đám người dã man lần đầu tiên nhìn thấy lửa bèn nhanh chóng ù té chạy leo lên cây, trố đôi mắt hãi hùng ra nhìn đăm đăm xuống cái tạo vật kỳ lạ chói sáng đang cháy bập bùng ấy. Người này từ từ dụ dỗ họ xuống và họ rụt rè tới gần khi khám phá ra rằng chẳng có gì đáng sợ và ban đêm thì lửa thật dễ chịu, họ chẳng chút e dè quyết định rằng y là Thần linh và tiến hành tôn thờ y cũng như tôn thờ lửa. Thế là y đã xác lập được ảnh hưởng và y còn dạy họ thêm việc cày cấy đất đai để cho họ trồng một loài thực vật giống như một loại cây xương rồng nhưng lá màu đỏ; nó tạo ra loài củ ở dưới đất khá giống như củ khoai mài; y cắt cụt những cuốn cây mập mạp và lá cây, phơi nắng rồi chỉ cho họ cách dùng những thứ ấy chế ra một loại canh đặc. Ruột bên trong của cây hơi giống như rễ xương rồng, còn nước cốt khi nặn ra cho ta một loại đường ngọt. Herakles và Sirius là bạn thân nên qua cách hiểu biết vụng về dốt nát của mình đã bàn luận về những phương thức của người lạ mặt này và cả hai đều cảm thấy bị người ấy thu hút rất nhiều.

Trong khi đó một đám người dã man từ đất liền đã tấn công một bộ tộc sống rất xa nơi định cư của bộ tộc mà ta đang xét; họ giết hầu hết đàn ông, bắt đi một số đàn ông làm tù binh cùng với mọi người phụ nữ ở tuổi kết hôn được và trẻ con, rồi giết hết những người phụ nữ già nua; trẻ con bị bắt đi giống như loài súc vật – chỉ được coi là những thực phẩm ngon đặc biệt. Một người bị thương trốn thoát đến được ngôi làng để báo tin và khẩn cầu đám chiến sĩ trong làng hãy cứu giúp những tù binh bất hạnh; Herakles và đội quân xuất chinh không sợ hỗn chiến và lăn xả vào đám người dã man khi chúng đang ăn uống no say, thành công khi giết sạch trọn băng cướp bóc ấy ngoại trừ Scorpio vốn đang vắng mặt. Trong một túp lều họ tìm thấy một người bị thương mà xét theo màu da thì hiển nhiên thuộc cùng một giống dân với người lạ mặt đã đổ bộ lên đảo; người bị thương bị giam cầm nhằm tra tấn rồi sau đó sẽ được dùng làm đại lễ. Y được nhấc bổng lên trên cái nắp làm bằng những ngọn giáo bắt chéo vào nhau, (tạm coi những chiếc cọc vót nhọn và dài như vậy) và y được mang về đảo cùng với hai ba người tù binh được cứu thoát và những phụ nữ còn sống. Mặc dù đang bị thương đau đớn, y vẫn reo mừng khi nhận ra người lạ mặt là một người bạn thân thương xuất xứ từ một thành thị với mình và được tiếp nhận vào túp lều của người lạ mặt. Y cư ngụ ở đó cho đến khi khỏe mạnh trở lại và thuật lại cách thức mà y được biệt phái đi tiêu diệt bộ tộc dã man sống ở bờ biển của đất liền, đội quân của y đã bị bao vây và thay vì tiêu diệt y thì đám người dã man đã bắt sống bản thân y và một số sĩ quan tùy tùng. Họ bị giết chết bằng những cuộc tra tấn khủng khiếp nhưng y được dung dưỡng trong một thời gian để phục hồi sức khỏe vì quá yếu nên hứa hẹn sẽ mua vui cho thiên hạ qua việc đề kháng dai dẳng với sự tra tấn và thế là y đã được cứu cho thoát chết. Herakles phụng dưỡng y theo một kiểu thô thiển giống như con chó trung thành, ngồi hằng giờ lắng nghe những người bạn – Mars và Mercury – nói chuyện với nhau bằng một thứ tiếng mà y chẳng biết gì. Mercury đại khái có biết về y thuật cho nên bạn của y nhanh chóng phục hồi khi được y chăm sóc, các vết thương lành lặn trở lại và hồi sức dễ dàng.

Dân trên đảo trở nên văn minh hơn một chút, do ảnh hưởng của Mercury cho nên khi Mars hồi sức và quyết định trở về thành thị thì Mercury quyết tâm ở lại một thời gian với bộ tộc thuần thành mà mình đang giáo dục. Người ta biệt phái một đoàn quân đi hộ tống Mars vượt qua vành đai nguy hiểm nơi có đám dã man ăn thịt người, một đoàn tùy tùng nhỏ đi theo Mars tới tận thành thị, Herakles khăng khăng phục vụ cho Mars và nhất định không chịu rời bỏ y. Thành thị rất vui mừng chào đón Mars trở về vì dân chúng tưởng đâu y đã chết rồi, tin đồn là đạo quân của Mars đã bị tiêu diệt còn bản thân y đã may mắn thoát chết trong đường tơ kẻ tóc đã gây ra sự kích động tột độ và người ta ngay tức khắc chuẩn bị cho một đoàn quân viễn chinh mới.

Thành thị rõ rệt là văn minh, ở những khu phố sang trọng có những tòa nhà đẹp đẽ và rộng lớn cùng với vô số cửa hàng. Có nhiều loài gia súc, một số dùng để kéo xe và để cưỡi đi. Người ta tiến hành giao thương với các thành thị khác và có một hệ thống kênh đào nối liền thành thị với nhiều đô thị khác ở cách xa. Bản thân thành thị được chia thành nhiều khu phố, với nhiều lớp người khác nhau cư ngụ ở những khu phố khác nhau; trung tâm thành thị là những lớp người đặc biệt cao cấp với nước da màu xanh lơ, bậc trị vì và những nhà quí phái cao cấp nhất có tiếp xúc với một nhóm người sống ẩn dật ở một vùng nào đó hầu như chẳng ai bén mãng tới được. Bản thân những người này – sau này ta biết một số người là Nguyệt tinh quân – là học trò của những Đấng còn cao cả hơn nữa, các đấng này từ một bầu khác giáng lâm xuống đó, một số nhân loại trên Mặt trăng đã thành công vượt mức quả vị La hán và thượng cấp của họ hiển nhiên xuất phát từ một loài người đã đạt tới trình độ còn cao siêu hơn nữa.

Chính những vị này đã ra lệnh cho đấng Cai trị thành thị - vốn là thủ đô của một Đế quốc rộng lớn - phải tiêu diệt những người dã man ở vùng bờ biển thuộc đất liền; cuộc viễn chinh này do Viraj lãnh đạo – y trông giống một người da đỏ ở Bắc Mỹ - và Mars là thuộc hạ của Viraj với một lực lượng hùng hậu. Đám người dã man vô kỷ luật và vũ trang tồi tàn không thể có cơ may chống lại một đội binh tinh nhuệ như thế, cho nên bị tiêu diệt hoàn toàn; một lần nữa Scorpio là thủ lãnh của một băng đảng, y và đám tùy tùng chiến đấu tuyệt vọng cho đến phút cuối cùng. Herakles đi theo Mars để phục vụ cho y và chiến đấu dưới quyền y; khi chiến trận đã qua rồi thì người ta quyết định di cư đám người dã man dễ bảo từ đảo lên đất liền để hội nhập chúng thành một thuộc địa của Đế quốc. Sirius và Herakles tái ngộ với nhau và vui mừng khôn xiết với năng lực nhỏ bé của mình góp vui với Mars và Mercury ở một mức cao cấp hơn. Mercury dẫn dân chúng lên đất liền rồi cho họ định cư ở đó để cày cấy đất đai rồi quay về thành thị cùng với Mars; Herakles thuyết phục Sirius – vốn đã sẵn lòng – đi theo họ. Thế là cả hai trở thành cư dân ở thành thị rồi sống ở đó cho tới già, dứt khoát gắn bó với chủ nhân ông của riêng mình mà mình đã coi là bậc Thần linh, thuộc về một giống dân thần thánh và toàn năng.

Sự tận diệt những người dã man – mặc dù được thực hiện một cách ngoan ngoãn theo mệnh lệnh mà chẳng ai dám chống đối – được đám binh sĩ và ngay cả hầu hết các sĩ quan coi như chỉ là một bộ phận của một kế hoạch chính trị nhằm chinh phục với mục đích để mở mang bờ cõi của Đế quốc; những bộ tộc này kỳ đà cản mũi cho nên phải bị quét sạch. Theo một quan điểm cao siêu hơn thì cơ tiến hóa đã đạt tới một giai đoạn mà những người dã man này không thể vượt qua được mức đó để tiếp tục tiến bộ trên Dãy Nguyệt tinh, những cơ thể chỉ thích hợp với trình độ tiến hóa thấp kém không thể sẵn có được nữa. Vì thế cho nên khi đám người dã man chết đi hoặc bị tiêu diệt thì chúng không tái sinh mà chuyển sang một tình trạng yên ngủ; nhiều cơ thể thuộc loại thấp kém tương tự cũng bị tiêu diệt do những thảm họa về động đất khiến cho trọn cả vùng ấy trở nên hoang tàn, dân số của bầu hành tinh giảm sút rất nhiều. Đó là “Ngày Phán xét” của Dãy Nguyệt tinh tách rời những kẻ có thể và những kẻ không thể tiến bộ thêm nữa trên Dãy hành tinh ấy, từ lúc đó trở đi, mọi chuyện đều được xúc tiến theo hướng đẩy nhanh cơ hội càng nhanh càng tốt cho những kẻ còn lại; đó là việc chuẩn bị cho đám cư dân còn lại tiến hóa trên một Dãy hành tinh khác.

Vào lúc này, ta có thể lưu ý rằng năm thì đại khái cũng có kỳ gian giống như hiện nay, mối quan hệ của bầu hành tinh với mặt trời cũng tương tự, nhưng lại xét về các chòm sao.

Toàn thể bộ tộc được Mercury khai hóa một phần thoát khỏi việc bị rơi rớt trong khi ở lại thành thị; Herakles và Sỉrius cùng với đám gia nhân và tùy tùng của Mars và Mercury.[1]

Cũng vừa mới lướt qua được đường phân giới nhờ gắn bó với các thủ lãnh của riêng mình; họ kết hôn – tạm dùng từ này để chỉ những mối liên hệ lỏng lẻo vào thời đó – đối với đám cư dân thuộc giai cấp hạ lưu ở thành thị, hết kiếp này sang kiếp khác ở trong giai cấp hạ lưu của một dân tộc văn minh hơn vào thời ấy mà chẳng tiến bộ được bao nhiêu, trí thông minh rất kém và phát triển rất chậm. Người ta quan sát thấy có một kiếp Sỉrius là một tiểu thương mà cửa hiệu chỉ vẻn vẹn là một cái lỗ rộng mỗi bề 10 bộ Anh, trong đó y bán đủ thứ hàng hóa, Mãi mười hai kiếp sau đó người ta còn thấy Herakles là một phụ nữ làm ruộng khá tốt đủ để nấu nướng những con chuột và những món ăn khác thay vì ăn sống, sống chung với một đám anh chị em mà cũng là chồng của mình – Capella, Pindar, Beatrix, Lutetia. Dạo đó phụ nữ rất hiếm cho nên tục đa phu rất phổ biến.

Mãi rất nhiều kiếp sau này, người ta mới thấy rõ sự cải tiến những thành viên của các nhóm nêu trên không còn là người nguyên thủy nữa và đã có những lớp người khác thấp kém hơn họ, nhưng họ cũng chỉ là những người chủ thuê mướn rất ít lao động, các chủ tiệm và nông gia, họ không vượt nhiều qua được các mức ấy ở trên Dãy Nguyệt tinh. Có một kiếp khiến chúng tôi đặc biệt chú ý là phương thức canh nông kỳ quặc khi Sirius là vợ của một tiểu nông có sử dụng các nông nô. Mùa gặt khá giống như một cơn ác mộng. Nhiều loài thực vật thuộc về cái mà hiện nay ta gọi là họ nấm nhưng rất khổng lồ và quái dị. Có những cái cây chỉ mỗi một năm đã mọc cao vút với tính cách bán động vật. Cành cây bị cắt ra oằn oại giống như những con rắn quấn tròn xung quanh những người cầm rìu và co rút lại khi chết đi. Nhựa đỏ như máu phọt ra khi có những nhát rìu chặt vào và kết cấu của cây giống như là thịt, cây này ăn thịt và trong khi nó tăng trưởng thì nó bắt giữ bất kỳ con thú nào chạm vào nó, quấn những cành cây xung quanh con thú giống như vòi bạch tuộc và hút cốt tủy con thú cho đến chết khô. Mùa gặt loại cây này được cho là rất nguy hiểm, chỉ những người rất khỏe mạnh và tài khéo mới tham gia việc gặt hái. Khi cây bị đốn ngã và cành bị tỉa đi thì chúng bị bỏ cho chết khô; bấy giờ lúc mọi cử động đã ngưng bặt thì người ta mới bóc lớp vỏ để làm thành một loại da, còn thịt cây được nấu lên để ăn.

Nhiều loại sinh linh mà chúng ta phải gọi là cây cối có tính cách bán động vật và bán thực vật; có một thứ có cái tán trông giống như một cái dù lớn, với một khe ở giữa khiến cho hai nửa tán được trang bị các răng nhọn có thể tách ra; nó thò những cái nanh vuốt ấy há hốc miệng ra treo lơ lửng trên mặt đất và bất kỳ con thú nào chui đầu vào đó ắt bị tóm gọn, hai nửa khép chặt lại; thế rồi cuộn cây thẳng đứng ra, hai nửa đang khép kín lại tạo thành bề mặt của cái dù che trong khi con thú bên trong cái tán ấy dần dần bị hút cho khô kiệt. Những cành này có thể bị cắt đứt khi những hàm răng ấy ở phía bên trên và khép lại, tài khéo chính là ở chỗ nhảy vút ra khỏi tầm chụp của nó khi cái tán cây vồ xuống chụp lấy kẻ tấn công mình.

Đời sống của loài côn trùng cũng thật là đông đảo và lớn lao, chúng chủ yếu được dùng làm thực phẩm cho loài cây ăn thịt. Một số côn trùng dài tới 2 bộ Anh với những dáng vẻ rất dễ sợ và cư dân cũng rất sợ chúng. Nhà cửa được xây theo hình chữ nhật bao quanh những sân vườn rất rộng lớn; nhà cửa được che phủ bằng hệ thống mắt lưới vững chắc và vào mùa mà những côn trùng lớn đi lởn vởn xung quanh thì trẻ con không được phép đi ra ngoài hàng rào mắt lưới ấy.

Những người biệt lập ngã tính trong Cuộc tuần hoàn thứ năm do lòng tự đắc phần lớn sinh ra làm dân thành thị; hết kiếp này sang kiếp khác, họ có khuynh hướng níu kéo nhau do có cùng thị hiếu và cùng óc khinh miệt người khác, cho dù cái tính đặc dị chiếm ưu thế là tự đắc gây ra nhiều chuyện cãi cọ và thường là dẫn đến chia tay trong đám họ. Sự chia rẽ càng ngày càng được tăng cường, thể trí được củng cố một cách bất hảo và càng ngày càng là một lớp vỏ khép kín với những lớp vỏ khác. Vì họ ức chế những đam mê đầy thú tính cho nên thể xúc động không được mạnh mẽ, những cơn đam mê đầy thú tính bị bỏ đói do sự tu khổ hạnh lạnh lùng và hà khắc thay vì được chuyển hóa thành ra các xúc động của con người; chẳng hạn như sự đam mê tình dục bị hủy diệt thay vì đổi thành tình thương. Hậu quả là hết kiếp này sang kiếp khác, họ càng ngày càng ít xúc cảm và xét về thể chất có khuynh hướng vô giới tính, trong khi đó họ phát triển chủ nghĩa cá nhân tới cao độ, chính sự phát triển này gây ra việc thường xuyên cãi nhau và quậy phá. Họ tạo thành các cộng đồng nhưng các cộng đồng ấy cứ bị tan vỡ hoài vì chẳng ai chịu nghe lời ai, ai cũng muốn mình là kẻ cai trị. Về phần những người tiến hóa hơn nếu có thử toan tính giúp đỡ hoặc dẫn dắt họ thì chỉ làm bùng phát lòng ghen tỵ và sự bất mãn vì bị coi là âm mưu muốn xỏ mũi họ hoặc coi thường họ. Lòng kiêu ngạo càng ngày càng gia tăng, họ trở nên lạnh lùng và tính toán, không biết thương xót và cũng chẳng biết ăn năn. Khi đợt sóng triều sinh hoạt chảy tràn sang bầu thứ 5 – làm bằng vật chất xúc động – thì họ vẫn còn hoạt động một thời gian ngắn, thể xúc động bị nhỏ bớt đi cho đến khi nó teo tóp lại; và trên bầu hành tinh thứ 6, thể trí bị cứng rắn lại mất đi tính mềm dẽo gây ra một tác dụng bị còi cọc kỳ cục tuyệt nhiên là chẳng hấp dẫn chút nào – thật vậy nó nhắc người ta nhớ tới hình ảnh kỳ lạ của một người đã bị mất hết cẳng chân từ đầu gối trở xuống và cái quần tây được khâu lên tuốt phía trên cẳng chân.

Cái loại hình trong Cuộc tuần hoàn trước kia biệt lập ngã tính qua lòng hâm mộ vốn ngoan ngoãn dễ bảo cũng có khuynh hướng hầu hết sinh ra làm dân thành thị và thoạt đầu tạo thành lớp người lao động cao cấp, vươn lên vượt qua giai cấp trung lưu lên tới giai cấp thượng lưu và phát triển được trí thông minh tới một mức rất đáng kể. Họ không quá kiêu ngạo như loại trước – lòng kiêu ngạo làm cho hào quang của những người này thấm đượm màu da cam – cho nên có hào quang màu hoàng kim trong sáng. Họ không thiếu lòng xúc động nhưng trong khi lòng xúc động ấy khiến cho họ hợp tác và vâng lời những người khôn ngoan hơn bản thân mình thì chúng lại mang tính ích kỷ hơn là yêu thương. Họ thấy rõ rằng sự hợp tác mang lại những kết quả tốt đẹp hơn sự tranh đấu cho nên họ hợp tác vì ích lợi của chính mình hơn là vì muốn gieo rắc hạnh phúc cho những người khác. Họ thông minh hơn nhiều so với những người mà chúng ta đặc biệt theo dõi, tính trật tự và kỷ luật giúp cho họ tiến hóa được nhanh, nhưng họ gây cho ta ấn tượng là đã phát triển thể trí (do thấy rõ những điều có ích lợi nhiều nhất cho bản thân) những phẩm chất lẽ ra bắt nguồn nơi thể xúc động vì đặt nền tảng trên và được nuôi dưỡng bởi tình thương và lòng sùng tín. Vì thế cho nên thể xúc động của họ phát triển không đúng mức mặc dù không đến nỗi teo tóp như trong loại hình mà ta đã đề cập tới trước kia. Nhưng khi tạm trú trên bầu E họ cũng lợi dụng được tình hình chút ít và cải thiện được thể trí của mình rất nhiều trên bầu F.

Các bầu E, F và G có ích nhiều nhất cho nhóm chân ngã đã biệt lập ngã tính theo một trong ba ‘Phương thức Đúng đắn’ và vì thế cho nên phát triển một cách viên mãn thay vì phiến diện như trong trường hợp những kẻ biệt lập ngã tính theo ‘Phương thức Sai lạc’ xét về trí thông minh, nhưng xét cho cùng thì sau này các chơn ngã ấy cũng phải phát triển xúc động mà vào thời kỳ đầu mình đã lơ là hoặc làm cho nó thui chột. Về lâu về dài, thì mọi quyền năng đều phải phát triển viên mãn và khi ta chăm chú dõi theo cơ tiến hóa cuồn cuộn quét từ tình trạng vô tri cho tới mức toàn tri thì sự tiến bộ hoặc những phương thức vào bất kỳ giai đoạn đặc thù nào đều mất đi tầm quan trọng bao la mà ta thấy chúng có vẻ lù lù hiện ra qua màn sương mù vô minh và đoán mò của chúng ta.

Khi ba bầu hành tinh trên vòng cung tiến hóa đi lên của Cuộc tuần hoàn thứ sáu lần lượt bước vào hoạt động thì các chơn ngã tiên tiến hơn đã tiến bộ được rất nhiều về xúc động và trí tuệ. Vì chỉ những kẻ nào đã trải qua thời kỳ quyết định tức “Ngày Phán xét” trên Dãy Nguyệt tinh thì mới hiện thân trên ba hành tinh này, cho nên không có những kẻ lạc hậu đáng tuyệt vọng gây chướng ngại cho cơ tiến hóa; sự tăng trưởng là đều đều và nhanh hơn trước kia. Khi Cuộc tuần hoàn đã qua rồi thì người ta bắt đầu chuẩn bị cho tình huống ngoại lệ của Cuộc tuần hoàn thứ bảy cuối cùng, trong đó tất cả các cư dân và hầu hết chất liệu của Dãy Nguyệt tinh đều được chuyển di sang kẻ thừa kế của mình mà trong Dãy hành tinh Trái đất thì quả đất là bầu hành tinh trung tâm thứ tư.

[1] Đám gia nhân của Mars là: Herakles, Siwa, Corona, Vajra, Capella Pindar, Beatrix, Lutetia, Theodoros, Ulysses, Aurora. Đám gia nhân của Mercury là: Sirius, Alcyone, Mizar, Orion, Achilles, Hector, Albireo, Olympia, Aldebaran, Leo, Castor, Rhea.

Chương V

CUỘC TUẦN HOÀN THỨ 7 TRÊN DÃY NGUYỆT TINH

Cuộc tuần hoàn thứ 7 của một Dãy hành tinh khác với các cuộc tuần hoàn trước kia ở chỗ lần lượt từ bầu hành tinh 1 chuyển sang trạng thái tịch lặng trên đường tiến tới mức tan rã khi cư dân rời bỏ chúng lần cuối cùng. Khi đã đến lúc cuối cùng phải rời bỏ mỗi bầu hành tinh này thì việc đó khiến cho các cư dân có thể tiến hóa thêm nữa giống như trong các cuộc tuần hoàn trước kia chuyển sang bầu hành tinh kế tiếp còn những cuộc tuần hoàn khác vì điều kiện trên các bầu hành tinh sau này không thích hợp cho nên rời bỏ Dãy hành tinh hoàn toàn khi phải rời bỏ bầu hành tinh để rồi ở trong một tình trạng mà sau đây ta sẽ miêu tả việc chờ đợi tái hiện thân trên Dãy hành tinh tiếp theo. Như vậy dòng xuất phát từ mỗi bầu hành tinh trên cuộc tuần hoàn này chỉ để lại bất kỳ người nào đã đạt tới quả vị La hán - chia ra làm đôi: một số tiếp tục như thông lệ chuyển sang bầu hành tinh kế tiếp, còn một số dong tàu ra khơi trên biển cả mà bến bờ tiếp theo là Dãy hành tinh kế tiếp.

Thông thường thì một người được tự do rời khỏi dãy hành tinh – trừ phi bị rơi rớt lại do tạm thời là thuộc dạng tuyệt vọng – chỉ khi nào đã đạt tới quả vị được qui định cho nhân loại tiến hóa trên Dãy hành tinh ấy. Như ta đã biết, quả vị trên Dãy Nguyệt tinh tương đương với quả vị mà hiện nay ta gọi là cuộc Điểm đạo thứ tư La hán. Nhưng chúng tôi cũng rất kinh ngạc khi thấy rằng vào cuộc tuần hoàn thứ 7 có các nhóm di dân xuất phát từ các bầu A, B và C, trong khi đại đa số dân cư trên bầu D cuối cùng rời bỏ Dãy Nguyệt tinh khi làn sóng sinh hoạt rời khỏi bầu hành tinh này để chuyển sang bầu E. Chỉ còn lại một số tương đối nhỏ vẫn nấn ná để tiếp tục tiến hóa trên 3 bầu hành tinh còn lại (E, F và G) và có một số cuối cùng rời bỏ Dãy hành tinh khi mỗi bầu E, F và G rơi vào tình trạng bất động.

Dường như là trong cuộc tuần hoàn thứ 7, Đấng cao cả mà ta phong tước hiệu là Bàn Cổ Mầm mống của một Dãy hành tinh, chịu trách nhiệm về nhân loại và các dạng sinh linh thấp kém hơn đã tiến hóa trên Dãy hành tinh ấy. Một Đấng Bàn Cổ Mầm mống của Dãy hành tinh thu thập vào trong hào quang dũng mãnh vươn xa ra khắp nơi của mình mọi thành quả tiến hóa trên Dãy hành tinh, chuyển vận chúng vào trong cõi Liên Hành tinh tức là cõi Niết bàn dành cho cư dân của Dãy hành tinh đang hấp hối, nuôi dưỡng chúng bên trong bản thân mình để rồi cuối cùng đến lúc đã định chuyển giao chúng cho vị Bàn Cổ Gốc rễ của Dãy hành tinh kế tiếp; chiếu theo kế hoạch của vị Bàn Cổ Mầm mống, Bàn Cổ Gốc rễ của Dãy hành tinh kế tiếp ấn định thời gian và nơi chốn để du nhập chúng vào trong quyền quản hạt của mình.

Bàn Cổ Mầm mống của Dãy Nguyệt tinh dường như có một kế hoạch bao la, theo đó Ngài tụ tập các tạo vật trên Dãy Nguyệt tinh sau khi chúng chết lần cuối cùng, phân chia chúng ra thành từng lớp, phân lớp và vi tế lớp một cách hoàn toàn xác định, xét theo biểu kiến là bằng một loại từ điển hóa nào đó; điều này lập nên những tốc độ rung động đặc thù và những cư dân nào có thể làm việc tốt nhất ở tốc độ rung động ấy được kết nhóm lại với nhau, những cư dân khác làm việc hữu hiệu nhất ở một tốc độ rung động khác cũng được kết nhóm tương tự v. v … khi Ngài phải xử trí hằng hà sa số sinh linh trên bầu D. Các nhóm này dường như tự động được thành lập trên cõi trời của bầu D, giống như những con số trên một cái đĩa rung động được lập nên do tác động của một nốt nhạc; nhưng ở 3 bầu hành tinh trước kia thì những đường phân giới rõ rệt xuất hiện dễ dàng hơn và người ta được một Đấng cao cả biệt phái đi hiển nhiên là hoạt động theo một kế hoạch xác định. Nhiệm vụ vĩ đại này của Đấng Bàn Cổ Mầm mống được trợ giúp bởi nhiều Đấng cao cả thi hành mệnh lệnh của Ngài và toàn thể kế hoạch qui mô rộng lớn ấy được thực thi một cách trật tự mang tính tất yếu hùng vĩ khôn tả. Ngoài ra Ngài dường như được chọn lựa các Chức sắc của Dãy hành tinh kế tiếp, trong cơ tiến hóa dài dằng dặc ấy các chức sắc này sẽ vượt qua đồng loại để trở thành Chơn Sư, Bàn Cổ, Bồ Tát trong nhiều Cuộc tuần hoàn và nhiều Giống dân khác nhau. Hiển nhiên là Ngài tuyển lựa nhiều hơn mức cần thiết cũng như một người làm vườn chọn lựa nhiều cây cối để đặc biệt trồng trọt và sau này lại tuyển lựa thêm nữa. Hầu hết (nếu không phải là tất cả) việc chọn lựa này được thực hiện trên bầu D và chúng ta sẽ trở lại vấn đề ấy khi ta xét tới bầu D. Trong khi chờ đợi chúng ta hãy xét tới các bầu A, B và C.

Trên bầu A của Dãy Nguyệt tinh, ta thấy có một bộ phận nhân loại không được tuyển sang bầu B mà bị bắt buộc phải rời bỏ Dãy hành tinh bởi vì không thể tiến bộ thêm nữa trên Dãy hành tinh này. Đấng Cao cả chịu trách nhiệm về bầu hành tinh không thể giúp cho một số người tiến hóa theo như Ngài mong muốn – thật vậy Ngài thấy một số vật liệu con người quá cứng nhắc nên không thể tiến hóa thêm được nữa, thế là Ngài tống nó lên tàu ra khơi khi chu kỳ sinh hoạt của bầu A đã kết liễu. Ta gọi đám người được tống lên thuyền này (bởi vì số lượng không lớn lắm) bao gồm đám bạn bè có hào quang màu da cam, họ đã khiến cho thể trí đạt tới mức không thể phát triển thêm được nữa trên Dãy Nguyệt tinh nếu không có ác ý; họ đã khép kín bên trong lớp vỏ thể trí của mình và đã bỏ đói mầm mống của thể xúc động đến nỗi họ không thể an toàn hạ mình thêm được nữa vả lại họ quá kiêu ngạo nên đâu có muốn hạ mình. Thể thượng trí là một lớp vỏ cứng ngắc chứ không phải là một hình tướng linh hoạt đang bành trướng cho nên để họ chuyển sang bầu B ắt chỉ gây ra sự cứng rắn chết người cho hạ trí. Họ rất khôn lõi nhưng hoàn toàn ích kỷ và đã cắt đứt khỏi sự tiến bộ thêm nữa trong lúc này ngoại trừ sự tiến bộ mà gây hại. Đấng Cao cả chịu trách nhiệm rõ ràng là bất mãn với đám người màu da cam này cho nên làm hết sức mình để tống họ lên tàu ra khơi; khi thoáng nhìn vô tương lai chúng tôi thấy mình sẽ gặp lại một số những người này ở Châu Atlantis dưới dạng các Hắc diện Tinh quân, các tu sĩ Tà đạo, các thủ lãnh nổi loạn chống lại Minh vương v.v…Trong khi chờ đợi, họ cứ yên nghỉ trên cõi Liên Hành tinh và cứ qui ngã lấy mình làm cái rốn của vũ trụ.

Nhóm người mà ta có nêu trước kia với hào quang có màu hoàng kim, trí năng có kỷ luật, cùng với các cư dân còn lại của Dãy hành tinh được chuyển sang bầu B, bao gồm một số người đã đạt quả vị La Hán trên bầu A và trở thành Chơn Sư trên bầu B. Nhóm có hào quang màu hoàng kim cũng được tống lên tàu ra khơi rời bỏ bầu B vì họ cũng không nuôi dưỡng được khía cạnh xúc động đúng mức để tạo ra được một thể xúc động phát triển tốt đẹp khả hữu tiến hóa trên bầu C. Việc họ sẳn lòng vâng lời khiến cho họ có một tương lai sáng sủa hơn nhóm người có hào quang màu da cam và chúng ta sẽ gặp họ trở lại ở Châu Atlantis dưới dạng các tu sĩ của đền thờ chánh đạo và dần dần tạo ra được các thể xúc động thuộc loại tốt. Cả hai nhóm người được tống tiển lên tàu ra khơi sẽ nhập vào cơ tiến hóa của trái đất trong Cuộc tuần hoàn thứ tư, vì họ quá tiến hóa cho nên không thể tham gia vào các giai đoạn tiến hóa trước kia của Dãy trái đất. Dường như là mỗi bầu hành tinh cần phải phát triển được những phẩm chất cần thiết cho chúng biểu hiện trọn vẹn được một cơ thể bằng vật liệu của bầu hành tinh kế tiếp; vì vậy những người có hào quang màu vàng không thể tiến thêm nữa mà phải được tống lên tàu đi sang cõi Liên Hành tinh.

Từ bầu C lại có một nhóm nhỏ người đã đạt quả vị La Hán rời bỏ đi; các Ngài đã phát triển được trí tuệ và xúc động đến mức cao độ, cho nên không cần tiến hóa thêm nữa trên Dãy Nguyệt tinh vì vậy các Ngài rời bỏ Dãy Nguyệt tinh theo một trong bảy Con đường như thông lệ. Một nhóm các đấng này đặc biệt liên quan tới chúng ta, vì các Ngài là thành phần của một phân bộ “Nguyệt Tinh quân” – nhóm mà Giáo Lý Bí Truyền gọi là Barhishad Pitris – vốn giám sát cơ tiến hóa hình tướng trên Dãy Trái đất. Khi rời bỏ bầu C, các ngài đi tới vùng không gian đang xây dựng Dãy Trái đất để rồi sau này có một số đấng khác gia nhập vốn cũng hiến thân cho công trình này. Bầu A của Dãy Trái đất bắt đầu được hình thành khi làn sóng sinh hoạt rời bầu A của Dãy Nguyệt tinh. Khi kiếp sống của một bầu hành tinh đã kết liểu thì chơn linh của một hành tinh lại có một kiếp lâm phàm mới, có thể nói là di chuyển sự sống cùng với bản thân mình sang bầu tương ứng của Dãy hành tinh kế tiếp. Sau khi rời bỏ Dãy hành tinh trước, các cư dân không phải chờ đợi lâu trước khi ngôi nhà mới của mình đã sẳn sàng; song sự chuẩn bị ngôi nhà ấy đã bắt đầu khi chơn linh của bầu thứ nhất rời bỏ nó khiến nó trở thành một thiên thể chết trong khi ngài nhập vào một chu kỳ sinh hoạt mới và một bầu hành tinh mới bắt đầu hình thành xung quanh ngài. Các phần tử được kiến tạo theo lệnh của các Thiên thần còn loài người tuyệt nhiên chẳng dính dáng gì vào đó. Chơn linh của một bầu hành tinh có lẽ tiến hóa theo đường lối của lớp Thiên thần này cho nên các thành viên của lớp thiên thần ấy thực thi nhiệm vụ kiến tạo các bầu hành tinh xuyên suốt Thái dương hệ. Một làn sóng sinh hoạt lớn xuất phát từ Thượng Đế kiến tạo nên một nguyên tử trong Thái dương hệ qua trung gian của một Thiên thần giống như thế rồi tới các phần tử được kiến tạo, rồi tới các tế bào v.v… Các sinh vật cũng giống như các loài ký sinh trên bề mặt của chơn linh trái đất, có lẽ ngài cũng chẳng màng tới chúng và bình thường ra thì chẳng ý thức gì về sự tồn tại của chúng, mặc dù có thể hơi hơi cảm thấy chúng khi chúng đào những mỏ rất sâu xuống đất. Khi rời bỏ bầu C của Dãy Nguyệt tinh, các vị La Hán chọn con đường dẫn tới Dãy Trái đất (như ta có nói) chuyển sang vùng mà bầu A của Dãy Trái đất đang được hình thành, nó bắt đầu bằng Giới Tinh hoa ngũ hành thứ nhất vốn trào dâng từ giữa lòng bầu hành tinh – Cơ xưởng của Thượng Đế Ngôi Ba – giống như nước phún lên từ một giếng phun khi ta khoan giếng, rồi chảy tràn ra mọi phía. Nó xuất phát từ tâm của Hoa sen, giống như nhựa cây tràn lên chiếc lá. Các Nguyệt Tinh quân không đóng vai trò tích cực trong giai đoạn này mà dường như chỉ giám sát sự kiến tạo một thế giới đang hình thành. Mãi biết bao nhiêu thời kỳ sau này thì gia nhập lực lượng ấy mới có một số Nguyệt Tinh quân xuất phát từ bầu G của Dãy Nguyệt tinh; những vị này tạo ra hình tướng nguyên thủy trên bầu A – Giáo Lý Bí Truyền diễn tả là cung cấp Bào ảnh của mình để tạo ra hình tướng nguyên thủy – để rồi sau đó các Sinh linh giáng lâm chiếm lấy các hình tướng. Các bầu B và C cũng được kiến tạo tương tự xung quanh các chơn linh của riêng mình khi các chơn linh này rời bỏ các bầu B và C của Dãy Nguyệt tinh. Trái đất vật lý của ta được hình thành khi cư dân rời bỏ bầu D của Dãy Nguyệt tinh; Chơn linh của bầu này rời bỏ Dãy Nguyệt tinh, thế là Mặt trăng bắt đầu tan rã, một phần lớn chất liệu của nó được chuyển sang để xây dựng Trái đất. Khi các cư dân rốt cuộc bắt đầu rời bỏ Mặt trăng thì các bầu A, B và C của Dãy Trái đất đã được hình thành rồi, nhưng bầu D tức Quả đất không thể được tạo lập tới mức cao độ cho tới khi bầu thân thích của nó là bầu D của Dãy Nguyệt tinh tức Mặt trăng trước kia đã chết đi.

Các nhóm – như ta có nói chỉ có số lượng ít thôi – rời bỏ Dãy hành tinh từ bầu A và bầu B, thì ta ắt thấy rằng họ đã tiến bộ vượt bực về trí năng nhưng lại biệt lập ngã tính trong cuộc tuần hoàn thứ 5. Chư vị La hán rời bỏ bầu C đã biệt lập ngã tính trong Cuộc tuần hoàn thứ tư trong đám dân chúng ở thành thị, do đó các ngài đã được khai hóa trở nên văn minh khi áp lực thúc đẩy cho các ngài tiến hóa nhanh, khi ở xung quanh gồm những người tiến hóa cao thì các ngài lại được kích thích cho tiến hóa nhanh hơn nữa. Để sẵn sàng lợi dụng được tình huống ấy thì hiển nhiên là khi các ngài còn phát triển dưới dạng những con thú trong Dãy hành tinh trước thì các ngài ắt đã đạt được trình độ cao hơn mức những kẻ biệt lập ngã tính cũng trên Dãy hành tinh ấy nhưng ở các vùng quê chất phác. Dường như thể nhân loại thuộc một Dãy hành tinh chỉ có thể tiến bộ và nhập vào Thánh đạọ khi sự biệt lập ngã tính của các con thú trên Dãy hành tinh ấy hầu như đã chấm dứt và khi trong tương lai chỉ có những trường hợp biệt lập ngã tính theo ngoại lệ. Khi cánh cửa dẫn vào giới nhân loại bị đóng sập đối với những con thú thì cánh cửa dẫn vào Thánh đạo mở ra cho loài người.

Như ta có nói, các nhóm rời bỏ Dãy hành tinh từ các bầu A, B và C chỉ có số lượng nhỏ thôi, đó là khối dân số trên mỗi bầu chuyển sang bầu kế tiếp theo thông lệ. Nhưng trên bầu D sự việc lại khác hẳn; ở đó, khi đã gần tới lúc bầu hành tinh bị tiêu diệt thì đại đa số dân chúng sau khi bỏ xác lần cuối cùng đều không sẵn sàng chuyển sang bầu E mà lại được tống lên tàu ra khơi đi tới cõi Liên Hành tinh tức cõi Niết Bàn của Dãy Nguyệt tinh để chờ đợi được chuyển dời sang Dãy hành tinh mới đang chuẩn bị sẵn cho mình. Nếu so sánh với nhóm khác được chất lên thuyền ra khơi trên đại dương không gian thì giờ đây ta có một hạm đội khổng lồ được hạ thủy cũng nơi đại dương không gian ấy. Hạm đội này nói chung rời bỏ Mặt trăng; chỉ còn lại một ít dân chúng được dành riêng ra vì những lý do mà hiện nay ta sẽ thấy xuất hiện và đám dân chúng này rời bỏ bầu E, F và G, theo từng nhóm nhỏ, chỉ đủ chất lên thuyền thôi nếu ta vẫn tiếp tục dùng dụ ngôn ấy.

Nhóm chơn ngã mà chúng tôi đang theo dõi coi là kiểu mẫu của nhân loại hạ đẳng trên Mặt trăng, có những dấu hiệu cải thiện rõ rệt trên bầu D: thể thượng trí đã nổi bật, trí thông minh phát triển nhiều hơn, lòng quyến luyến đối với thượng cấp trở nên sâu sắc và được củng cố; thay vì là một cơn đam mê thì giờ đây nó trở thành một xúc động ổn định và là đặc trưng nổi bật nhất của họ. Ta có thể gọi nhóm này là những Phụng sự viên – bởi vì mặc dù bản năng này vẫn còn mù quáng và bán ý thức, thế nhưng giờ đây động cơ thúc đẩy chính yếu trong cuộc đời họ là phục vụ và làm đẹp lòng giới thượng cấp mà họ đang tận tụy; khi nhìn về tương lai thì ta thấy rằng đây vẫn còn là đặc trưng của họ trải qua hàng loạt kiếp sống dài dằng dặc diễn ra trên trần thế, và trong tương lai họ đã thực hiện được công trình tiên phong thô thiển. Họ yêu mến cấp trên và sẵn lòng vâng lời cấp trên “không cằn nhằn mà cũng chẳng trì hoãn”. Trong Cuộc tuần hoàn này có một sự thay đổi rõ rệt đã xảy ra với thể xác của họ; thể xác giờ đây màu xanh lơ nhạt thay vì màu nâu sẫm như bùn trước kia. Trong kiếp vừa qua trên Mặt trăng họ đã được tụ tập lại về mặt thể chất và có nhiều sự dàn xếp đang tiếp diễn trong một thời kỳ đáng kể trước lúc đó: việc tăng cường các mối quan hệ giữa các nhóm chơn ngã được tạo ra do việc dẫn dắt chúng tái sanh nơi các cộng đồng và quả thật là hầu hết một số rất lớn những nhân vật chính trong tác phẩm Vén màn Bí mật Thời gian đều xuất hiện nơi đây. Dường như rất có thể là nếu chúng ta nhận diện được thì những người còn lại cũng ở trong đám bạn bè sau này, vì tất cả đều là những người Phụng sự, sẵn sàng làm bất cứ điều gì được dạy bảo và đi tới bất cứ nơi đâu được biệt phái. Họ nổi bật lên do sự sống cao cả hơi tuôn đổ xuống một chút khiến cho một sợi dây (bằng vật chất trực giác nối liền nguyên tử trường tồn trực giác và nguyên tử trường tồn thượng trí) hơi nở lớn ra một chút; phía trên của nó nở lớn hơn phía dưới một chút giống như một cái phểu nhỏ; một số lớn những người thông minh hơn họ lại không hề có dấu hiệu này vì nó có liên quan tới mầm mống của lòng mong muốn phụng sự, vốn vắng mặt nơi những người tiên tiến hơn về phương diện khác. Nhóm này bao gồm nhiều loại hình và không hề bao gồm những người thuộc cùng một Cung hoặc một tính khí như ta mong đợi; có những người biệt lập ngã tính theo một trong ba Phương pháp Đúng đắn, thông qua các ngôi Ý chí, Minh triết và Trí tuệ hoạt động [1], mỗi ngôi đều được kích hoạt do sự tận tụy với một thượng cấp. Phương pháp biệt lập ngã tính chỉ xuất hiện do nguyên nhân là có sự tế phân trong nội bộ một nhóm và ảnh hưởng tới thời khoảng kéo dài giữa lúc chết và lúc tái sinh, chứ không ảnh hưởng tới đặc trưng mong muốn phụng sự. Nó ảnh hưởng tới tốc độ rung động của thể thượng trí mà trong nhiều trường hợp được hình thành do một nỗ lực phụng sự: (1) – qua hành vi tận tụy; (2) – qua sự bùng nổ lòng sùng tín thuần túy; (3) – qua lòng sùng tín gây ra sự cố gắng tìm hiểu và thẩm định vấn đề. Việc thực sự tạo nên thể thượng trí luôn luôn đột ngột; nó bước vào tồn tại giống như một tia chớp lóe; nhưng tình huống trước kia đều khác nhau cho nên ảnh hưởng tới tốc độ rung động của cơ thể được hình thành. Một hành vi hi sinh nơi thể xác hiệu triệu được Ý chí và có một sự manh động nơi vật chất – tinh thần; lòng sùng tín hoạt động qua thể xúc động [2] hiệu triệu được Minh triết và có sự mạch động nơi vật chất trực giác; hoạt động nơi hạ trí hiệu triệu được Trí tuệ hoạt động và có một sự mạch động nơi vật chất thượng trí. Bây giờ ta ắt thấy nhóm người Phụng sự của chúng ta được chia nhỏ ra làm hai qua những sự khác khau này: Hai nhóm đầu tạo thành một nhóm phụ với thời khoảng trung bình 700 năm giữa hai kiếp tái sinh, còn nhóm thứ ba tạo thành một nhóm phụ nữa với thời khoảng trung bình 1.200 năm giữa hai lần tái sinh. Sự khác nhau này ắt xuất hiện trên Dãy Địa cầu ở một giai đoạn tiến hóa cao hơn và hai phân nhóm nêu trên đạt tới Trái đất trong cuộc tuần hoàn thứ tư với một thời khoảng cách nhau 400 ngàn năm, xét theo biểu kiến đã được dự trù để cho chúng cùng nhau sinh ra vào một thời kỳ nào đó khi cần tới những công trình phụng sự hợp tác của họ; Thiên cơ Vĩ đại chi ly đến mức như vậy. Sự phân chia này không ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa các Chơn Sư và đệ tử, vì trong cả hai phân nhóm đều có đệ tử của mỗi một trong hai Chơn Sư vốn là Bàn cổ và Bồ tát của Căn chủng thứ 6. Như vậy dấu hiệu đặc trưng của trọn cả nhóm này là mầm mống muốn phụng sự đã được các Đấng cao cả có thẩm quyền nhận thức, còn sự khác nhau về biệt lập ngã tính ảnh hưởng tới thời khoảng giữa lúc chết và tái sinh lại chia nhỏ nhóm ra thành hai phân nhóm [3].

Đứng đầu nhóm này có nhiều đấng mà nay ta biết đã là Chơn sư; cao hơn các ngài là nhiều đấng lúc bấy giờ đã chứng quả La Hán, các đấng này truyền đạt cho hạ cấp các mệnh lệnh nhận được từ các Đấng Cao cả hơn nữa. Đức Bàn Cổ của giống dân – Giống dân thứ 7 trên bầu hành tinh – đang chịu trách nhiệm, Ngài tuân theo mệnh lệnh và thi hành kế hoạch của đấng Bàn Cổ Mầm mống (Chủng Bàn Cổ) đấng này điều động mọi sự chuẩn bị để di dời đám dân số khổng lồ. Một số người tiên tiến mơ hồ biết được rằng sắp có những sự thay đổi lớn, nhưng mặc dù có tầm mức xa rộng những sự thay đổi này quá chậm chạp cho nên không thu hút nhiều sự chú ý; một số người hợp tác vô ý thức nhưng hữu hiệu trong khi lại nghĩ rằng mình đang thực hiện những kế hoạch lớn của chính mình. Chẳng hạn như có một người có một ý tưởng là xây dựng một cộng đồng lý tưởng và tụ tập một số người lại để hình thành cộng đồng ấy; y ra sức làm vừa lòng một Chơn sư vốn là bậc La hán trên Mặt trăng, y thu hút được người ta tụ tập xung quanh mình, tạo thành một nhóm nhất định với một mục tiêu chung, vậy là vô hình trung cũng phục vụ cho Thiên cơ Vĩ đại. Ở trình độ thấp kém thì chúng ta ngước lên nhìn các vị La hán cùng với những vị cao cả hơn, coi các ngài là những vị Thần linh và theo hình thức khiêm tốn của mình cố gắng tuân theo bất cứ chỉ thị nào hợp lý của các ngài mà chúng ta có thể lĩnh hội được.

Khi các thành viên của nó chết đi lần cuối cùng thì nhóm Phụng sự viên này đã đạt tới mức cần thiết trên bầu D; nhóm này được tụ tập lại trên cõi trí tuệ, cõi trời; các thành viên của nó vẫn ở lại đó trong một thời gian rất lâu trước mắt họ luôn luôn có hình ảnh của những người mà họ yêu thương nhất là những Chơn ngã tiên tiến hơn mà họ đặc biệt tận tụy phục vụ. Chính lòng sùng tín ngây ngất này đã giúp cho họ phát triển rất nhiều, triển khai được những phẩm chất cao thượng của họ khiến cho sau này họ dễ tiếp thu hơn những ảnh hưởng tác động lên họ trong cõi Liên Hành tinh. Họ được bao gồm trong nhóm Chơn ngã nói chung mà H. P. Blavatsky gọi là ‘Pitris Thái dương’còn A. P. Sinnett gọi là ‘Các Pitris cấp 1’. Cũng có vô số những nhóm khác đạt tới cõi trí tuệ - không ai tái sinh khi đã đạt được một mức theo qui định dường như là có được một thể thượng trí đã được hình thành trọn vẹn – và họ được chia thành những nhóm lớn chịu tác động của lực từ điện mạnh mẽ nêu trên do Đức Chủng Bàn Cổ xạ xuống cho họ. Cũng giống như các sợi dây đàn được căng với những lực khác nhau đáp ứng với những nốt nhạc khác nhau, cũng vậy, các thể thượng trí của người ta – như ta vừa nêu ở đây không có ai, mà lại chẳng có thể thượng trí đã được hình thành trọn vẹn – đáp ứng với hợp âm mà Ngài trổi lên, thế là họ được phân chia ra những người nào trình diện qua cùng một vị Tinh quân Hành tinh được bổ nhiệm vào các nhóm khác nhau, những người bạn vẫn chia thành nhiều nhóm khác nhau, dường như không một mối quan hệ bình thường nào được đếm xỉa tới. Các Chơn ngã tự động được lọc lựa và phải chầu chực ở chỗ của riêng mình giống như một đám đông trong các xứ sở trên đất liền được lọc lựa xếp vào những phòng chờ đợi riêng để chờ đoàn tàu đặc nhiệm của mình đến đón – trong trường hợp này là chờ con tàu riêng của mình nếu ta vẫn dùng phép dụ ngôn trước kia.

Chúng tôi đặc biệt chú ý đến hai đoàn tàu vì bản thân chúng tôi cũng là thành viên của đoàn tàu ấy, một đoàn bao gồm Đức Bàn Cổ và Bồ Tát vị lai mà hiện nay đang là các Đế quân và Chơn sư cùng với nhiều người Phụng sự hiện nay đang ở cấp đệ tử hoặc gần tới mức làm đệ tử. Xét theo biểu kiến thì tất cả đều thuộc về phân nhóm với thời khoảng trung bình giữa hai kiếp sống trên trần thế là 700 năm. Một đoàn tàu khác bao gồm nhiều người hiện nay cũng là Chơn sư và đệ tử với có lẽ là một nửa số nhân vật được nhắc tới trong tác phẩm Vén màn Bí mật Thời gian, tất cả đều thuộc về phân nhóm với thời khoảng trung bình giữa hai kiếp là 1200 năm. Hai đoàn tàu này bao gồm đa số (nếu không là tất cả) những vị vốn sẽ tạo thành Thiên đế để rồi được phân chia ra thành hai phân nhóm ta thấy Đức Bàn Cổ Vaivasvata và Đức Bồ Tát hiện nay cùng nhau xuất hiện trên bầu D, nhưng các ngài lại chuyển sang các bầu cao hơn của Dãy Nguyệt tinh.

Đại khối quần chúng bao gồm: (1) – Những người Phụng sự nêu trên, một đám ô hợp gồm nhiều cấp chỉ được kết hợp lại qua một đặc trưng chủng duy nhát. (2) – Rồi tới có nhóm lớn những Chơn ngã cao cấp đang tiến gần tới Thánh Đạo – trên đường Phụng sự, song le, quá xa so với nhóm vừa nêu cho nên không thể xếp vào nhóm ấy – nhưng họ vẫn chưa đủ gần Thánh đạo để đạt tới đó trong vòng sinh hoạt còn lại của Dãy hành tinh. (3) – Rồi tới một nhóm lớn những người rất tốt, nhưng lại không muốn Phụng sự, do đó họ chưa chịu hướng về Thánh đạo và tạo thành đại khối dân số châu Atlantis trong thời kỳ thịnh vượng. (4) – Một nhóm nhỏ Chơn ngã nổi bật kết họp với nhau do đặc trưng chung là có trí năng phát triển rất cao vốn là các thiên tài trong tương lai nhưng tính tình và đạo đức thì tạp loạn, nhóm này rõ rệt có số phận lãnh đạo trong tương lai, nhưng không tận hiến để Phụng sự mà cũng chẳng đoái hoài gì tới Thánh đạo. Rồi tới ba nhóm rất lớn: (5) – những người tốt bụng và thường là mộ đạo - các thương gia, quân nhân v.v… rất khéo léo, duy ngã, chủ yếu chỉ nghĩ tới sự phát triển và thăng tiến của cá nhân mình, chẳng biết gì về Thánh đạo do đó cũng chẳng muốn nhập lưu;(6)- nhóm tiểu tư sản yếu đuối sống cuộc sống bình bình, một nhóm người rất đông đảo mà chỉ nội tên gọi cũng đủ miêu tả được rồi; (7) - đám dân gian thất học, có hảo ý nhưng chậm tiến, lớp người thấp nhất có được thể thượng trí hình thành trọn vẹn.

Tất cả những người này đều ở trên cõi trời của Mặt trăng chờ đợi được biệt phái tới cõi Liên hành tinh. Khi những cơn địa chấn bắt đầu xé toạc Mặt trăng ra chuẩn bị cho lớp vỏ của nó bị đổ sụp thì có những loại hình khác cũng chuyển vào cõi trời; một số rất lớn các Pitris Thái dương, tức Pitris cấp 1- họ có thể tiến bộ thêm nữa nơi các bầu còn lại của Dãy Nguyệt tinh và ta sẽ còn gặp họ trở lại – cũng gia nhập cõi trời để chờ đến đúng lúc được chuyển dời sang bầu E.

Dưới nhóm Pitris cấp 1 này có một nhóm Chơn ngã đông đảo chưa hình thành trọn vẹn được thể thượng trí mà ông Sinnett gọi là Pitris cấp 2, có một mạng lưới đã được hình thành nối liền Chơn ngã với hạ trí, do dáng vẻ của mạng lưới ấy người ta gọi nhóm này là nhóm ‘Rổ lưới’. Khi Mặt trăng bắt đầu sắp sửa tan rã thì đại đa số nhóm này bỏ xác lần cuối cùng trên Dãy Nguyệt tinh rồi tụ tập lại trên cõi xúc động. Chúng ngủ yên ở đó vì không thể hoạt động trong đó được; khi cõi xúc động của Mặt trăng không còn cư dân nữa thì chúng mất thể xúc động, nhưng vẫn hướng nội, giống như các củ thực vật đang chờ chuyến tàu chuyên chở sang một xứ khác; sớm muộn gì chúng cũng được chất lên tàu chở tới cõi Liên hành tinh, ngủ yên ở đó trải qua bao thời đại cho đến khi Cuộc tuần hoàn thứ 3 của Dãy Địa cầu cung ứng một môi trường thích hợp cho chúng tăng trưỡng. Tuy nhiên cũng có một số trong nhóm Rổ lưới tỏ ra có năng lực tiến hóa thêm nữa trên Dãy Nguyệt tinh, chúng sẽ chuyển sang các bầu cao hơn khi các bầu này bước vào hoạt động, rồi hình thành ở đó thể thượng trí, tăng cường lực lượng cho nhóm Pitris Thái dương tức Pitris cấp 1.

Lớp cuối cùng ở bên trên loài thú là loài người Thú mà bà Blavatsky gọi là Pitris Thái âm cấp 1 còn ông Sinnett gọi là Pitris cấp 3. Ta phân biệt được những người này qua những tuyến vật chất mảnh mai nối liền Chơn ngã còn phôi thai với hạ trí đang chớm nở. Cũng giống như nhóm Rổ lưới. Chúng tụ tập trên cõi xúc động khi bỏ xác lần cuối cùng trên Mặt trăng và vẫn vô ý thức trên cõi trí tuệ, sớm muộn gì chúng cũng được chất lên tàu chở đi và ngủ thiếp hàng bao nhiêu thời đại cho đến lúc cuối cùng đạt tới Dãy Địa cầu, bắt đầu công trình dài dằng dặc kiến tạo trên bầu A, hoạt động qua mọi giới lên mãi tới giới nhân loại để rồi vẫn còn là người trải qua những bầu tiếp theo trong Cuộc tuần hoàn ấy, cũng như qua các Cuộc tuần hoàn sau này. Một số những người thuộc nhóm tuyến này (ta tạm gọi họ như vậy để phân biệt) cũng được giữ lại khi đại đa số được chất lên tàu chở đi. Họ được biệt phái tới bầu E để tiến hóa thêm, rồi trở thành nhóm Rổ lưới như vậy gia nhập vào lớp người trên mình.

Cho dến nay chúng ta đã theo dõi số phận của đủ lớp Nhân loại Nguyệt tinh. Một bộ phận của nó bị rơi rớt (nhóm thất bại) trong Cuộc tuần hoàn thứ 6 và bị ngưng đọng mãi cho tơi khi Dãy hành tinh kế tiếp cung cấp môi trường thuận lợi cho chúng tiến hóa thêm nữa. Một số có hào quang màu da cam rời bỏ bầu A trong Cuộc tuần hoàn thứ 7. Một số có hào quang màu hoàng kim rời bỏ bầu B. Một số vị La hán rời bỏ các bầu A, B, và C, còn một số La hán chuyển từ bầu C biệt phái sang để hình thành Dãy Hành tinh Trái đất. Thế rồi ta lại có các lớp người rời bỏ bầu D; những người có thể thượng trí đã hình thành trọn vẹn, những người thuộc nhóm Rổ lưới, những người thuộc nhóm tuyến. Những người còn lại chuyển sang các bầu E, F và G, một số rời bỏ mỗi bầu này khi đã thực hiện được mọi sự tiến bộ khả hữu, vậy là có những người thuộc nhóm Rổ lưới, nhóm Pitris cấp cao và nhóm La hán xuất phát từ mỗi bầu. Hầu hết những con thú đều đi tới cõi Niết Bàn Liên Hành tinh tức là cái Bè chính qui của Noah, một ít con thú có thể trở thành người thú được đón sang các bầu hành tinh tiếp theo.

Nguyên nhân quyết định các thể thượng trí khác nhau vốn ở nơi trình độ lúc xảy ra biệt lập ngã tính. Nơi bộ phận hạ đẳng của giới động vật có rất nhiều con thú gắn bó với một hồn khóm duy nhất khi chúng leo lên tiến về loài người thì số con thú giảm đi cho đến khi nơi loài thú cao cấp thì chỉ có từ 10 tới 20 con gắn bó với một hồn khóm. Việc tiếp xúc với con người có thể tạo ra sự biệt lập ngã tính ở một trình độ tương đối thấp; nếu con thú (chẳng hạn như con chó) đã tiếp xúc lâu dài với con người và thuộc về một nhóm nhỏ gồm 10 hoặc 20 con chó thì khi biệt lập ngã tính nó hình thành được một thể thượng trí hoàn chỉnh. Nếu có chừng 100 con chó trong nhóm ấy – giai đoạn chó bầy đàn – thì nó hình thành được thể thượng trí Rổ lưới; nếu có nhiều trăm con chó – giai đoạn chó thứ dân chẳng hạn như ở Constantinople hoặc Ấn Độ - thì ta thấy có biểu hiện thể thượng trí với những tuyến nối liền.

Cái trình độ này nhắc ta nhớ tới những sự khác nhau khá giống như vậy trong giới thực vật; các thành viên tiên tiến hơn của giới thực vật chuyển thẳng sang loài động vật có vú của giới động vật. Con thú tử tế hiền lành không trở thành một kẻ dã man tàn bạo và độc ác mà chỉ trở thành một người nguyên thủy chất phác. Các giới trong thiên nhiên chồng chéo lên nhau và những con thú thực sự dễ thương có thể là một người bạn đồng hành dễ chịu hơn một số con người.

Một thực thể có thể dừng chân trong một thời gian ngắn ở giai đoạn làm thú rồi chuyển sang một giai đoạn dài hơn trong lúc làm người hoặc ngược lại. Điều này dường như không thật sự quan trọng bởi vì rốt cuộc thì nó cũng tới đỉnh. Cũng như việc cư trú dài hay ngắn trên cõi trời vẫn tạo ra cùng một trình độ tiến hóa cho loài người. Có lẽ chỉ có con người mới điên rồ khi cảm thấy rằng vào lúc này thì mang xác người là tốt nhất lẽ ra thì là một cây đa hoặc một cây sồi có khi lại hay hơn là loài muỗi vo ve, là một con chó giữ nhà trung thành có khi lại hay hơn là một kẻ dã man ăn thịt người hoặc ăn lông ở lỗ.

Ta hãy trở lại các bầu E, F và G dường như được dùng làm một loại kho chín dú dành cho một số loài đặc biệt, khiến cho một số đạt tới Thành đạo hoặc quả vị La hán mà không thể thành tựu được trên bầu D, mặc dù nói cho công tâm thì có phương hướng đạt được; nó cũng khiến cho một số người gần đạt được trình độ cao hơn gia nhập vào hàng ngũ ấy. Đó là các trung tâm lực nhiều hơn là các bầu hành tinh. Dân số ở đó nhỏ thôi vì đại đa số loài người và loài thú đã được chất lên tàu ra khỏi bầu D, rồi lại giảm thêm nữa khi lần lượt mỗi bầu hành tinh lại chất lên một con thuyền chở bớt đi trước nó chuyển sang tình trạng hoại không. Con thuyền xuát phát từ bầu E bao gồm một số người đã nhập lưu và đã trở thành La hán trên bầu E, một số nhóm thuộc loại Rổ lưới đã hoàn chĩnh được thể thượng trí, một số người thuộc loại tuyến đã trở thành nhóm Rổ lưới. Khi những người này rời bỏ bầu E thì dân cư còn lại bao gồm những người dưới quả vị La hán không thể chịu nổi sự căng thẳng của việc chín dú thêm nữa cho nên được chuyển sang bầu F. Những người rời bầu E được chuyển sang cõi Niết bàn Liên hành tinh và ở đó được lọc lựa ra thành từng lớp quả vị đã đạt được, giống như những bức thư trễ hẹn có dán thêm tem được lọc lựa ra thành từng đống phù hợp với loại hình của chúng.

Một tiến trình tương tự cũng tiếp diễn trên bầu F và thật là thú vị sâu sắc khi ta nhận thấy rằng Đức Phật Thích Ca và Đức Di lặc có trong nhóm người được chuyển tiếp, cả hai đều tốt nghiêp từ bầu E và bầu F để đạt được cuộc Điểm đạo lớn thứ nhất trên bầu G. Các ngài đã bị rơi rớt trong Cuộc tuần hoàn thứ 7 của Dãy hành tinh thứ nhì vì không chịu nổi quá trình chín dú trên các bầu E, F và G của Dãy hành tinh ấy, tình huống trên đã quá căng thẳng và chỉ thích hợp cho những vị nào có thể đạt được quả vị qui định cho Dãy hành tinh ấy, hoặc có thể chuyển từ lớp người đương thời sang lớp cao hơn. Các ngài nhập vào bầu D của Dãy Nguyệt tinh trong Cuộc tuần hoàn thứ tư dưới dạng những người nguyên thủy đồng hành với những con thú của Dãy hành tinh thứ nhì vốn hầu như đã sẳn sàng biệt lập ngã tính.

Trên bầu hành tinh F các ngài cùng nhau phát nguyện thành Phật, nhưng cách bố trí trên đó không giống như trên trái đất. Trên cõi trời – cõi Tịnh độ, Tây phương cực lạc của Phật giáo – lúc đó có một loại Hội đồng Thiên giới và Đấng cao cả nhận lời thệ nguyện của các ngài thọ ký cho các ngài thành Phật trên cương vị Đức Phật hiện hành thời kỳ ấy là Đấng mà kinh sách gọi là Nhiên đăng Phật (Dipankara). Các ngài đạt được quả vị La hán trên bầu G trước khi rời bỏ Dãy hành tinh này.

Đức Phật Nhiên đăng giáng lâm từ Dãy hành tinh thứ tư của hệ thống tiến hóa Kim tinh; bầu vật lý của Dãy hành tinh ấy là Vệ tinh của Kim tinh mà Herschel đã nhìn thấy, nhưng từ đó trở đi đã biến mất. Ngài là thành viên của Bộ Tổng Tham mưu mà ta đã từng nói tới ở trang 14 vốn có thể được biệt phái tới bất cứ Dãy Hành tinh nào đang cần được trợ giúp. Đức Nhiên đăng Phật được nối tiếp chức vị Phật do các Đức Phật thuộc Dãy hành tinh Trái đất; chẳng hạn như ta biết Đức Ca diếp Kashyapa là Bồ tát của Căn chủng thứ 3 đã đắc quả vị Phật trong Căn chủng thứ tư; còn chính Đức Thích Ca là Bồ Tát của Căn chủng thứ tư đã đắc quả vị Phật trong Căn chủng thứ 5. Kế vị Ngài là Đức Di lặc Bồ tát của Căn chủng thứ 5 sẽ đắc quả vị Phật trong Căn chủng thứ 6. Kế vị Ngài sẽ là Đức Bồ tát vị lai của Căn chủng thứ 6 – hiện nay ta biết đó là Chơn sư KH - , ngài sẽ đắc quả Phật trong Căn chủng thứ 7.

Phải nhớ rằng một Đức Phật là một chức sắc giám sát nhiều hơn mức loài người; Ngài là Thiên nhân chi Đại sư (thầy dạy đạo của cả loài người lẫn chư thiên) cho nên sự thật là việc một loài người sẵn có ở một trình độ tiến hóa rất thấp cũng không loại bỏ được nhu cầu phải có một chức vụ cao cấp như thế.

Chúng tôi cũng lưu ý thấy Chơn sư Jupiter trong nhóm người nhập lưu trên bầu hành tinh G.

CÕI NIẾT BÀN LIÊN HÀNH TINH

Tâm trí con người choáng váng trước những thời kỳ bao la liên quan tới cơ tiến hóa cho nên người ta mới né tránh vào cái ý tưởng xưa và nay, theo đó thời gian không tồn tại cố định mà dài hay ngắn tùy theo hoạt động của tâm thức thuộc chúng sinh hữu quan [4].

Trong cõi Niết bàn Liên hành tinh thì các tâm thức đang thật sự hoạt động là tâm thức của Chủng Bàn Cổ (Bàn Cổ Mầm mống) của Dãy Nguyệt tinh và Căn Bàn Cổ (Bàn Cổ gốc rễ) của Dãy Trái đất. Ai dám bảo thời gian có thể ra sao đối với tâm thức của các Ngài?

Trong tâm trí của Đức Chủng Bàn Cổ có một Kế hoạch Lớn, Đức Căn Bàn Cổ tiếp nhận kế hoạch này từ Ngài rồi triển khai nó ra trong Dãy hành tinh mới mà mình chủ trì. Thành quả tiến hóa trong Dãy hành tinh mà cuộc sống vừa trôi qua được tụ tập lại bên trong hào quang của Đức Chủng Bàn Cổ để rồi được bố trí xếp thành bảng biểu, xếp thành hồ sơ (tạm dùng những thuật ngữ rút ra từ đời sống bình thường) theo trật tự hoàn hảo. Ngài tuôn đổ các luồng liên tục từ khí kích thích của mình lên trên những sinh linh thông tuệ thuộc đủ mọi cấp đang hướng nội, sống một cuộc đời nội giới chậm chạp và kỳ diệu, không có ý niệm về thời gian. Một luồng liên tục ắt chia chúng ra thành từng mảnh nhỏ để tác động lên chúng rồi dừng lại; chúng ngủ thiếp đi có lẽ một triệu năm từ từ đồng hóa luồng ấy, để rồi một luồng khác lại tác động lên chúng, và cứ thế mãi hết cả triệu năm này tới cả triệu năm khác. Khi chúng ta quan sát cái phong cảnh kỳ lạ ấy thì nhiều điểm tương tự nổi bật lên trong tâm trí chúng ta: những củ được xếp cẩn thận trong những ngăn, thỉnh thoảng lại được một người làm vườn xem xét; những cái nôi trong một bệnh viện hằng ngày có một bác sĩ khám bệnh. Càng ngày càng tới gần lúc mà người làm vườn vĩ đại phải giao nộp những củ ấy để mang trồng trọt và đất trồng trọt là Dãy hành tinh Trái đất còn các củ là những linh hồn sống động.

[1] Atma, Buddhi, Manas.

[2] Hiện thể của dục vọng tức Kama

[3] Cố nhiên ta phải hiểu rằng thời khoảng 700 năm và 1200 năm chỉ là ‘trung bình’ và thời khoảng ‘chính xác’ của mỗi trường hợp đều tùy thuộc vào tuổi thọ và tình huống của kiếp trươc. Giữa các phân nhóm có sự khác nhau đáng kể này dường như thể các thành viên của phân nhóm này sinh hoạt trên cõi trời mãnh liệt hơn nhóm kia, do đó tạo ra về mặt số lượng cũng tương đương nhưng trong một thời gian ngắn hơn.

[4] Xem tập sách nhỏ đầy gợi ý, Hai Thế giới Mới của tác giả E. E. Fournier d’Albe.

CHƯƠNG VI

THỜI KỲ SƠ KHAI TRÊN DÃY HÀNH TINH TRÁI ĐẤT

Trong khi đó Dãy trái đất dần dần được hình thành, như ta biết [1].