Các Nguyệt tinh quân trông nom việc kiến tạo nó; đã đến lúc chất lên tàu ra khơi đi tới Dãy hành tinh mới những người đầu tiên cần phải tiến hóa trên đó trong những thời đại sắp tới. Đức Chủng Bàn Cổ quyết định nội dung của mỗi chuyến tàu và ra lệnh cho nó khởi hành, còn Đức Căn Bàn Cổ phân bố các chuyến tàu khi chúng thành công cặp bến trên bầu hành tinh A của Dãy trái đất.
Ở đây ta có thể phác họa ngắn gọn về Chính phủ Huyền bí của Dãy hành tinh, mặc dù chỉ sơ lược thôi để cho học viên có thể ngộ ra được một điều gì đó về tầm mức vĩ đại của cơ tiến hóa mà mình đang khảo sát.
Đứng đầu là Chủng Bàn Cổ của Dãy hành tinh trước kia tức Đức Chakshushas, ta đã thấy một điều gì đó về công trình vĩ đại của Ngài nơi Dãy Nguyệt tinh. Có nhiều Chức sắc trợ giúp ngài, báo cáo cho Ngài biết các thành viên của bất kỳ phân bộ đặc biệt nào đáp ứng được bao nhiêu với những ảnh hưởng mà Ngài tác động lên họ trong khi họ nhập vào cõi Niết Bàn Liên hành tinh. Cũng giống như kẻ kém tiến hóa nhất trong thời đại được biệt phái để hoàn thành nhiệm vụ cư ngụ trong những hình hài nguyên thủy nhất, còn kẻ tiên tiến hơn nối tiếp sau đó khi hình hài đã tiến hóa tới một mức cao hơn; cũng vậy xuất phát từ bất kỳ phân bộ đặc biệt nào được di tản từ Mặt trăng rồi tích trữ nơi cõi Niết Bàn Liên hành tinh, những kẻ nào tiến bộ chậm nhất do ảnh hưởng của Ngài trong thời gian tị nạn sẽ được biệt phái đi đầu tiên gia nhập vào lớp người chinh phục thế giới mới.
Đức Căn Bàn Cổ của Dãy trái đất là đấng Vaivasvata [2]; Ngài điều khiển toàn bộ thứ tự của cơ tiến hóa và là một Đắng cao cả xuất phát từ Dãy hành tinh thứ tư của hệ thống tiến hóa Kim tinh, hai trong những vị phụ tá của Ngài cũng xuất phát từ Dãy hành tinh ấy, còn vị phụ tá thứ ba là một bậc Cao đồ đã thành chánh quả vào buổi sơ khai của Dãy Nguyệt tinh [3].
Một Đức Căn Bàn Cổ của một Dãy hành tinh trước hết phải thành chánh quả trên dãy hành tinh mà Ngài đã từng làm người và trở thành một trong các tinh quân của nó; sau đó Ngài trở thành Bàn Cổ của một Giống dân rồi trở thành một Độc Giác Phật, rồi trở thành Đấng Chúa Tể thế gian rồi trở thành Căn Bàn Cổ và Chủng Bàn Cổ của một Cuộc tuần hoàn và chỉ lúc bấy giờ Ngài mới trở thành Căn Bàn Cổ của một Dãy hành tinh, Ngài điều khiển các vị Bàn Cổ của Cuộc tuần hoàn vốn phân chia công việc cho các Bàn Cổ của Giống dân. Hơn nữa mỗi Dãy hành tinh cũng cho tốt nghiệp được một số nhân vật đã thành chánh quả tức tinh quân của Dãy hành tinh, một số vị này tận tụy với công việc của Dãy hành tinh mới dưới quyền điều khiển của Đức Căn Bàn Cổ của nó.
Như vậy đối với Dãy hành tinh Trái đất ta thấy có bảy lớp Nguyệt tinh quân làm việc dưới quyền của Đức Căn Bàn Cổ của chúng ta, bảy lớp này tốt nghiệp từ bảy bầu của Dãy Nguyệt tinh; họ tạo thành một trong hai loại hình lớn các Đấng phò trợ từ bên ngoài vốn có liên quan tới việc dẫn dắt cơ tiến hóa tổng quát của Dãy hành tinh Trái đất. Loại hình quan trọng thứ nhì các Đấng Phò trợ từ bên ngoài là các Đấng mà ta gọi là Hỏa Đức tinh quân, các ngài giáng lâm từ Kim tinh, xuống bầu hành tinh thứ tư vào Cuộc tuần hoàn thứ tư, lúc giữa Căn chủng thứ ba để xúc tiến cơ tiến hóa trí tuệ, để thành lập Quần Tiên Hội trên trái đất và tiếp quản chính quyền của quả địa cầu. Chính ảnh hưởng ghê gớm của các Ngài đã làm thúc đẩy nhanh chóng mầm mống sinh hoạt trí tuệ khiến cho chúng bộc phát tăng trưởng tiếp theo sau một đợt ào xuống dữ dội thông qua Chơn thần của cái mà ta gọi là Làn Sóng Sinh hoạt thứ ba, tạo nên thể thượng trí, khiến cho Chơn ngã được khai sinh hoặc giáng lâm đối với những sinh linh nào từ giới động vật ngoi lên giới nhân loại. Sự đáp ứng của hằng hà sa số cư dân trên trái đất đối với biến cố ấy mang tính ngay tức khắc, đến nỗi đôi khi người ta bảo rằng các Ngài đã ‘ban cấp’ hoặc ‘phóng chiếu’ tia lửa trí tuệ; nhưng thật ra tia lửa chỉ được quạt lên thành ngọn lửa chứ không được phóng chiếu; bản chất của tặng phẩm này là việc làm cho phát triển nhanh chóng mầm mống vốn đã có sẵn nơi nhân loại sơ sinh, đó là tác dụng của tia nắng mặt trời đối với một hạt giống chứ không phải là việc cung cấp hạt giống [4].
Nhờ có các Hỏa Đức tinh quân cho nên quyền năng của THƯỢNG ĐẾ mới được tập trung vào các Chơn thần giống như các tia nắng mặt trời có thể được một thấu kính hội tụ lại, và nhờ ảnh hưởng ấy mà tia lửa tức điểm linh quang đáp ứng mới xuất hiện. Các Ngài chính là các Manasaputras chân chính, các Con trí tuệ vì các Ngài xuất phát từ Cuộc tuần hoàn thứ năm tức Cuộc tuần hoàn trí tuệ của Kim tinh cho nên các Ngài được gọi là Con của lửa, Hỏa Đức tinh quân [5].
Đức Căn Bàn Cổ phân phối bảy loại Nguyệt tinh quân ra khắp Dãy hành tinh trái đất, đảm nhiêm các Cuộc tuần hoàn và các bầu hành tinh trong khi các vị Bàn Cổ của các Giống dân đặc biệt chăm lo về cơ tiến hóa của các Gióng dân tức là một Căn chủng.
CUỘC TUẦN HOÀN THỨ NHẤT
Các Nguyệt tinh quân xuất phát từ bầu A, B và C của Dãy Nguyệt tinh là ba lớp người giám sát chứ không tham gia vào việc kiến tạo vật lý của các bầu hành tinh thuộc Dãy trái đất vì các bầu này lần lượt được tạo ra xung quanh Chơn linh của mỗi bầu mà ta đã mô tả trước kia [6]. Dường như họ giám sát công trình chi tiết của các Tinh Quân đến sau. Lớp thấp nhất xuất phát từ bầu G tạo ra các hình tướng nguyên mẫu bản sơ trên bầu A của Dãy trái đất trong Cuộc tuần hoàn thứ nhất rồi hướng dẫn nhóm Tuyến giáng lâm để lấp đầy các hình tướng ấy từ bầu F lại giám sát cơ tiến hóa của hình tướng trong Cuộc tuần hoàn thứ nhì; lớp xuất phát từ bầu E giám sát cơ tiến hóa tương tự trong Cuộc tuần hoàn thứ ba còn lớp xuất phát từ bầu D giám sát cơ tiến hóa tương tự trong Cuộc tuần hoàn thứ tư [7].
Hơn nữa chúng tôi thấy có một số Tinh quân xuất phát từ bầu E cũng hoạt động trên Hỏa tinh trong Cuộc tuần hoàn thứ tư, còn các Tinh quân xuất phát từ bầu D sau này mới hoạt động trên Trái đất.
Khi bắt đầu biệt phái những sinh linh đầu tiên thuộc cõi Niết Bàn Liên hành tinh thì chuyến tàu đầu tiên mang theo nhóm Tuyến cùng với đại đa số những con thú xuất phát từ bầu D của Dãy Nguyệt tinh; mỗi chuyến tàu nối tiếp nhau cách khoảng chừng 100 ngàn năm thế rồi luồng tiếp tế ấy ngưng lại tiếp theo sau là một thời kỳ bao la, trong khi đó những kẻ mới di cư, những kẻ tiên phong xung quanh lên Dãy hành tinh trái đất; theo đuổi cuộc hành trình dài của các Cuộc tuần hoàn thứ nhất và thứ nhì cũng như một phần Cuộc tuần hoàn thứ ba.
Thế giới lúc ấy thật kỳ lạ giống như những cuộn xoáy bị đánh nháo nhào lên, Trái đất vốn là vật rắn chắc nhưng lại nóng bỏng, đầy bùn lầy, dính xềnh xệch và nhiều phần lãnh thổ của nó dường như không bám chặc được vào đâu. Nó cứ sôi sùng sục và thay đổi độ dính kết liên tục; những thảm họa bao la nhận chìm đại đa số sinh linh thỉnh thoảng xảy ra một lần mà vào tình trạng phôi thai thì việc nhận chìm ấy cũng không có kết quả tồi tệ lắm, chỉ gia tăng và nhân bội lên các sinh linh sống dưới những hang động khổng lồ cũng giống như thể chúng sống trên mặt đất.
Cuộc tuần hoàn thứ nhất của Dãy Trái đất có các bầu hành tinh ở cùng mức với Cuộc tuần hoàn thứ bảy của Dãy Nguyệt tinh; Bầu A ở trên cõi thượng trí có một số vật chất hơi được kích hoạt một chút; bầu B ở trên cõi Hạ trí; bầu C trên cõi xúc động, bầu D trên cõi trần, bầu E lại ở trên cõi xúc động, bầu F ở trên cõi hạ trí, bầu G ở trên cõi thượng trí. Trong Cuộc tuần hoàn thứ nhì, toàn thể Dãy hành tinh giáng xuống một mức, có ba bầu ở trên cõi trần: G, D và E, tuy nhiên các sinh linh trên đó đều có hình tướng làm bằng chất dĩ thái giống như cái bao bánh bột, tạm mượn hình dung từ văn vẻ của Bà H.P. Blavatsky. Các bầu C và E mà nay ta gọi là Hỏa tinh và Thủy tinh vào thời ấy có vật chất của cõi trần nhưng ở trạng thái thể khí cháy bỏng.
Cơ thể con người trên Trái đất trong Cuộc tuàn hoàn thứ nhất giống như con a míp, giống như đám mây trôi nổi, hầu như bằng chất dĩ thái cho nên tị nhiệt, chúng sinh sôi nảy nở theo kiểu trực phân. Chúng dường như nối tiếp nhau thành các Giống dân nhưng không có từng kiếp lâm phàm riêng biệt, mỗi hình tướng chỉ kéo dài trong thời khoảng một Giống dân. Không có sự sinh ra và sự chết; chúng thừa hưởng tính bất tử giống như con a míp và được chăm sóc bởi các Nguyệt tinh quân đã đạt quả vị La hán trên bầu G. Có một số vật trôi nổi bằng chất dĩ thái có vẻ muốn ra sức mơ làm loài thực vật nhưng không được thành công lắm.
Loài khoáng vật ít nhiều rắn chắc hơn vì nó từ Mặt trăng, phần lớn là như mưa đá rớt xuống trái đất trong tình trạng chảy lỏng; nhiệt độ có lẽ vào cở 3.500 độ C. Vì đồng ở tình trạng hơi đồng và đồng bốc hơi trong lò điện ở nhiệt độ ấy. Ta thấy rõ có chất Silicon nhưng hầu hết các chất đều là tiền nguyên tố chứ chưa phải nguyên tố và dường như rất hiếm có những sự hòa hợp giống như ngày nay; bao quanh trái đất là những khối hơi khổng lồ chắn nhiệt cho nên trái đất nguội đi rất chậm. Ở vùng cực có loại đất bùn đang sôi sùng sục và nói chung nó cũng bị lắng đọng xuống để rồi sau vài ngàn năm sẽ xuất hiện một lớp váng màu xanh lục vốn là loài thực vật hoặc có lẽ nói cho chính xác hơn thì sau này nó sẽ trở thành loài thực vật.
CUỘC TUẦN HOÀN THỨ NHÌ
Trong Cuộc tuần hoàn thứ nhì thì nhiệt độ trên bầu D đã giảm đi đáng kể, đồng đã nguội đi và trở thành chất lỏng, có nơi trở thành chất đặc. Gần vùng Cực đã có đất liền, nhưng nếu ta đào lỗ thì lửa lại bùng lên giống như một số nơi ở hai bên cạnh của vùng hình nón Vesuvius. Đám tạo vật hình bao bánh bột dường như chẳng đếm xỉa gì tới nhiệt mà thản nhiên trôi bồng bềnh, nhắc ta nhớ tới hình dáng của những thương binh cụt giò và bộ quân phục được cắt may xung quanh thân hình; một cơn gió thổi tạo ra một sự đánh dấu răng cưa, nó từ từ được lấp đầy trở lại giống như thịt của một người bị bệnh thủy thủng; phần trước của tạo vật ấy có một miếng để mút mà nó dùng để lùa thức ăn vào trong mình, nó bám lấy nhau và mút lấy mút để dường như thể mút một cái trứng qua một cái lỗ thủng nối vỏ trứng khiến cho kẻ bị mút bị chảy xệ ra rồi chết; ta lưu ý thấy có một cuộc đấu tranh trong đó mỗi bên cắm chặt miệng mút vào bên kia rồi mút lấy mút để. Chúng có một loại tay chân lả lướt giống như tay chân của một con hải cẩu, chúng biết tạo ra một tiếng động giống như tiếng kèn líu lo nghe vui tai để biểu diễn sự khoái lạc – khoái lạc nói chung là một loại cảm thấy dễ chịu còn đau đớn nói chung là khó chịu chứ không đến nỗi đau buốt, chỉ hơi hơi thích thú và không thích thú. Da chúng đôi khi có hình răng cưa và có nhiều sắc thái. Về sau này chúng tương đối ít vô định hình hơn và mang hình người nhiều hơn, bò lê trên mặt đất giống như những con sâu. Mãi về sau này ở gần vùng Bắc cực trên mỏm đất ở đó, các tạo vật này mới phát triển ra tay và chân, mặc dù vẫn không thể đứng thẳng được và đã thông minh hơn nhiều. Người ta quan sát thấy một Nguyệt tinh quân – một vị La hán đã thành chánh quả trên bầu F của Dãy Nguyệt tinh, ngài từ điển hóa một hòn đảo và chăn dắt một đám tạo vật trên đó, nhắc ta nhớ tới những con hải ngưu hoặc cá heo mặc dù chưa có cái đầu rõ rệt; ngài dạy cho chúng biết gặm cỏ thay vì mút lẫn nhau và khi chúng mút lẫn nhau thì chúng biết chọn bộ phận này để mút hơn bộ phận kia dường như thể đã phát triển dược vị giác. Cái chỗ lõm dùng làm miệng mút đâm sâu hơn thành ra một loại cái phễu và có một cái bao tử bắt đầu phát triển, nó nhanh chóng lộn từ trong ra ngoài nếu có chất lạ nào lọt vào bao tử mà nó không ưa. Các sinh vật này lộn ngược từ trong ra ngoài mà dường như chẳng nảy ra điều gì tồi tệ. Bề mặt trái đất vẫn còn rất bấp bênh, đôi khi chúng cũng bị bỏng hoặc cháy xém một phần; dĩ nhiên chúng chẳng thích như vậy, và nếu tình trạng diễn biến tồi hơn thì chúng cũng bị suy sụp. Bầu khí quyển nặng nề khiến cho phương pháp di chuyển thông dụng của chúng là trôi nổi và thấy vậy chứ còn dễ chịu hơn khi chứng kiến chúng oằn oại trên mặt đất khiến ta nhớ tới những con sâu róm dễ sợ. Việc sinh sôi nảy nở là bằng cách đâm chồi, một khối u xuất hiện tăng trưởng, một lúc sau thì nó bị ngắt rời để sống một kiếp độc lập.
Trí thông minh của chúng y như con nít, người ta thấy có một sinh vật rút mỏ vào con bên cạnh tính mút và khi mút hụt mục tiêu đã mút trúng phần ở bên dưới của chính mình rồi cứ tiếp tục khoái chí mút đi mút lại cho đến lúc có lẽ là đến lúc hết hứng thú thì lại nhả chính mình ra. Có một sinh vật đồng loại lăn bộ phận bên dưới của mình trong bùn rồi nổi lên thẳng đứng thay vì nằm sóng soài và có vẻ rất hảnh diện về bản thân. Dần dần thì cái đầu mút có chứa cái phễu cũng bị thuôn thuôn đi khá nhiều và có một trung tâm nho nhỏ xuất hiện trong đó để rồi trong những thời đại vị lai xa xăm, nó có thể trở thành bộ óc. Có một khối u nhỏ xuất hiện tạo ra thói quen đi chúi về phía trước với khối u chỉa ra dường như mang theo cái miệng khiến cho các tác động thường xuyên ảnh hưởng lên miệng xúc tiến việc phát triển.
Trong thời kỳ này đời sống thực vật cũng phát triển và được trợ giúp bởi bầu khí quyển nặng nề khó thở; rừng rú cũng phát triển nhưng rất giống thảo nguyên cao tới 40 bộ Anh và cũng rậm rạp tương ứng. Chúng mọc ở dưới bùn lầy ấm áp và cực kỳ hưng thịnh.
Vào lúc cuối thời kỳ này thì một số vùng của trái đất đã hoàn toàn rắn chắc và chỉ hơi âm ấm thôi. Có nhiều đường nứt chằng chịt, xét theo biểu kiến là do trái đất bị co rút lại và mỗi ngọn đồi là một núi lửa đang hoạt động.
Hỏa tinh trở nên rắn chác hơn, nguội đi nhanh hơn vì kích thước nó nhỏ hơn nhưng sự sống trên Hỏa tinh rất giống sự sống trênTrái đất.
CUỘC TUẦN HOÀN THỨ BA
Trong Cuộc tuần hoàn thứ ba, Hỏa tinh hoàn toàn rắn chắc và một số con thú bắt đầu phát triển, mặc dù thoạt tiên trông chúng khá giống như những khúc gỗ cồng kềnh, những lọn gỗ đã được cưa xẻ. Chúng nhắc ta nhớ tới những bức phác họa mà trẻ con vẽ ra khi chưa học vẽ; nhưng theo thời gian có những sinh linh rõ rệt là người, mặc dù giống khỉ đột hơn là giống người.
Địa hình lúc bấy giờ khác hẳn địa hình của Hỏa tinh mà ta biết hiện nay. Không có vấn đề nước vì khoảng chừng 3/4 bề mặt là nước và chỉ có1/4 là đất liền. Vì thế cho nên không có kênh đào như ngày nay và tình hình vật lý nói chung rất giống như tình thế hiện nay trên Trái đất.
Những người bắt đầu bằng sự biểu lộ tuyến tính của thể thượng trí vào lúc này đã phát triển được một dạng Rỗ lưới thô sơ mà chúng tôi nhận thấy thô thiển hơn dạng Rỗ lưới đã được phát triển trên Mặt trăng. Khi đã đạt tới giai đoạn này thì nhóm Rỗ lưới trên Mặt trăng bắt đầu tràn vào và những chuyến tàu ấy lại được Đức Chủng Bàn Cổ gửi đi tới Trái đất.
Khi xem xét cõi Niết bàn Liên hành tinh để truy nguyên việc nhóm Rỗ lưới giáng lâm xuống Hỏa tinh, chúng tôi đạt tới một điều thú vị. Những cái kệ để chứa những củ giống ấy rõ ràng làm bằng vật chất cõi Thượng trí; nhưng các củ giống được mang theo trong hào quang của Đức Chủng Bàn Cổ phải được đưa ngang qua cõi tinh thần cho nên Rỗ lưới làm bằng vật chất trí tuệ ở Mặt trăng phải bị tan rã và cần được tái tạo trở lại trước khi các thực thể này bắt đầu đời sinh hoạt trên trái đất. Chúng ắt ngủ im hằng thời đại trên cõi tinh thần để rồi lại khoác lấy Rỗ lưới, làm bằng vật chất trí tuệ tương đương trên trái đất. Giữa các Dãy hành tinh không có sự liên tục về chất trí tuệ. Cố nhiên ta có thể bỏ qua khoảng cách vì Dãy địa cầu chiếm cùng một vị trí trong không gian so với Dãy Nguyệt tinh nhưng, sự không liên tục về vật chất trí tuệ khiến ta cần phải làm phân rã rồi tái tổ hợp những thể thượng trí dạng Rỗ lưới.
Chúng tôi thấy một Đức Bàn Cổ ghé thăm Hỏa tinh với một chuyến tàu gồm nhóm Rỗ lưới nhắc chúng tôi nhớ tới những câu chuyện trong Kinh Puranas của Ấn Độ băng qua đại dương trong một chiếc tàu mang theo hạt giống của một thế giới mới cũng như những câu chuyện ghi chép lại về ông Noah của dân Hebrew, bảo tồn trong chiếc bè tất cã những gì cần thiết để cho Trái đất có trở lại cư dân sau trận lụt. Các huyền thoại được bảo tồn trong các Kinh điển của tôn giáo thường là những câu chuyện bao hàm những điều ghi chép về quá khứ, và Đức Bàn Cổ quả thật có giáng lâm xuống Hỏa tinh để ban một xung lực mới cho cơ tiến hóa. Khi đến Hỏa tinh Ngài lập nên một kiều dân gồm những người thuộc nhóm Rỗ lưới ở nơi ấy.
Khi truy nguyên nhóm người đặc biệt này tức là nhóm đầu tiên thuộc loại Rỗ lưới đến Dãy hành tinh Trái đất, chúng tôi thấy rằng họ xuất phát từ bầu G của Dãy Nguyệt tinh, và đã trở thành nhóm Rỗ lưới ở trên đó. Họ là nhóm kém tiến hóa nhất trong tập thể nhóm Rỗ lưới vì là nhóm cuối cùng đạt tới trình độ này; Đức Bàn Cổ hướng dẫn họ sinh trưởng trong những gia đình đầy triển vọng nhất thuộc Giống dân thứ ba trên Hỏa tinh và khi họ trưởng thành thì ngài dẫn họ đi tới vùng mà họ trở thành kiều dân nơi họ nhanh chóng phát triển thành ra dân số của Giống dân thứ tư. Ở vùng kiều dân này thiên hạ di chuyển theo một ý chí trung tâm giống như những con ong trong một tổ ong, ý chí trung tâm ấy là của Đức Bàn Cổ; ngài phóng ra những thần lực để điều khiển tất cả. Hai nhóm Rỗ lưới khác giống như loài ong dã đến với Hỏa tinh, những nhóm này đạt tới trình độ ấy trên bầu E và F của Dãy Nguyệt tinh; họ đến nơi theo thứ tự ngược lại với thứ tự rời Mặt trăng, những người xuất phát từ bầu F tạo thành Giống dân thứ tư trên Hỏa tinh, còn những người xuất phát từ bầu E tạo thành Giống dân thứ năm. Họ phát triển một số tình cảm và trí thông minh nhờ sự chăm sóc bảo dưỡng của Đức Bàn Cổ; thoạt tiên sống trong hang động, chẳng bao lâu sau họ bắt đầu biết xây nhà và dạy cho thổ dân ở đó xây nhà dưới quyền của mình, ngay cả ở mức tiến hóa này thì nhóm Rỗ lưới đã thành những kẻ chỉ huy.
Những người này vốn thư hùng lưỡng tính, nhưng một giới tính này thường phát triển nhiều hơn giới tính kia và cần có hai cá thể để sinh sôi nảy nở. Các dạng sinh dục khác cũng tồn tại trong loại người thấp kém và có một số người phôi thai thuộc loại hải xà sinh sôi nảy nở bằng cách đâm chồi và những người khác bằng cách rịn mồ hôi ra trong khi một số khác lại có trứng. Nhưng các cách sinh sản này không có trong đám Rỗ lưới.
Trong Giống dân thứ năm, trật tự xã hội đã thay đổi vì người ta phát triển trí thông minh nhiều hơn; hệ thống đàn ông biến mất, nhưng chúng vẫn có chút ít cá tính và đúng hơn di chuyển thành từng bầy đàn do Đức Bàn Cổ chăm sóc. Những Rỗ lưới được đan bện kín mít hơn và biểu diễn điều có thể thực hiện qua sự sống đang phát triển nơi những kẻ chủ yếu là thân lập thân, không được trợ giúp do sự kích thích lớn lao trong Cuộc tuần hoàn thứ tư nhờ vào các Hỏa Đức Tinh quân. Loại người di chuyên theo bầy đàn đa số vẫn còn được đại diện trong đám chúng ta qua những người bám lấy những ý tưởng bảo thủ theo qui ước bởi vì người khác cũng bám lấy chúng và họ hoàn toàn bị bà Grundy khống chế. Đây thường là những người rất tốt, nhưng ngoan ngoãn như bầy cừu và có tính bầy đàn, họ sống đơn điệu dễ sợ. Trong nhóm họ cũng có sự khác nhau nhưng đó là sự khác nhau giữa những người mua trà thơm từng 1/4 cân Anh hoặc theo từng ounce mà chỉ có họ mới nhận ra được.
Ta quan sát thấy có loại Rỗ lưới dữ tợn, không sống trong cộng đồng mà đi lang thang trong rừng rậm thành từng cặp, đầu họ trút lên thành một điểm ở phía đằng sau khớp với cái cằm ở phía đằng trước và đầu họ tận cùng bằng hai điểm trông thật kỳ cục và chẳng hấp dẫn chút nào. Họ chiến đấu bằng cách húc đầu vào nhau như những con dê đỉnh đầu có xương rất cứng. Cũng có một loại còn thấp hơn nữa là loài bò sát kỳ lạ sống trên cây. Chúng to con hơn loại Tuyến nhưng kém thông minh hơn nhiều và khi có cơ hội là ăn thịt nhóm Tuyến.
Trên Hỏa tinh cũng có một số con thú ăn thịt; ta thấy một con thú khổng lồ giống như cá sấu kịch liệt tấn công một người, y cầm cây chùy xông vào nó nhưng đây dường như là một vũ khí không hiệu lực lắm. Song le y vấp vào một tảng đá cho nên rơi tõm vào hàm con thú, thế là sớm đi đời nhà ma.
Cuộc tuần hoàn thứ ba trên Trái đất rất giống ở trên Hỏa tinh, thiên hạ nhỏ con hơn và rắn chắc hơn, nhưng theo quan điểm hiện nay của chúng ta thì loài người vẫn còn khổng lồ và giống như khỉ đột. Đa số nhóm Rỗ lưới xuất phát từ bầu D thuộc Dãy Nguyệt tinh đã đến Trái đất trong Cuộc tuần hoàn này và lãnh đạo cơ tiến hóa của loài người; nhóm Rỗ lưới xuất phát từ Hỏa tinh bị tụt hậu so với nhóm kia và toàn bộ giống như những con khỉ đột khá thông minh. Loài thú có rất nhiều vảy và ngay cả những tạo vật mà ta gọi là chim thì cũng có nhiều vảy hơn là lông vũ; tất cả đều dường như làm bằng một lố những mảnh vụn được ghép vào nhau nửa chim nửa bò sát trông chẳng hấp dẫn chút nào. Thế nhưng trái đất vẫn còn hơi giống một thế giới hơn là các bầu hành tinh trước kia, thật vậy giống hơn bất cứ bầu hành tinh nào mà chúng ta chứng kiến từ khi rời Mặt trăng để rồi kiến tạo những đô thị sau này. Công việc của các Nguyệt tinh quân – trong Cuộc tuần hoàn này, họ là những vị La hán xuất phát từ bầu E – giống như viên huấn luyện những con thú nhiều hơn là viên dẫn dắt loài người tiến hóa. Nhưng ta có thể lưu ý thấy rằng có thể nói là họ hoạt động theo từng tiểu đội với những thể xác khác nhau và những thể tinh vi khác nhau. Cảnh thứ ba của các cõi hồng trần; trung giới và trí tuệ đặc biệt phát triển, còn những loa tuyến của các nguyên tử trên những cảnh này lại được khơi hoạt [8] .
Các phương pháp sinh sôi nảy nở trên trái đất trong Cuộc tuần hoàn thứ ba là những phương pháp hiện nay chỉ hạn chế cho các giới hạ đẳng trong thiên nhiên. Trong các giống dân thứ nhât và thứ nhì vẫn chưa hoàn toàn rắn chắc thì sự trực phân vẫn còn xảy ra, nhưng trong Giống dân thứ ba trở đi thì các phương pháp như sau: nảy mầm ra, giống như loài rắn biển nơi nhóm sinh vật có tổ chức kém cõi hơn; xuất tiết các tế bào từ những cơ quan khác nhau trong cơ thể, nó sinh sản ra những cơ quan tương tự rồi tăng trưởng thành một bản sao tí hon của sinh vật tổ phu; đẻ trứng và con người phôi thai phát triển bên trong đó. Đây là nhóm thư hùng lưỡng tính và dần dần một giới tính chiếm ưu thế, nhưng chẳng bao giờ đủ mạnh để biểu diễn dứt khoát là phái nam hay phái nữ.
Việc làn sóng sinh hoạt di chuyển từ bầu này sang bầu khác vốn từ từ và có sự chồng chéo đáng kể; ta nên nhớ rằng bầu A của Dãy trái đất bắt đầu hình thành khi bầu A của Dãy Nguyệt tinh đang tan rã, việc Chơn linh của bầu xuất ra là dấu hiệu của sự chuyển đổi hoạt động [ [9].].
Như vậy hoạt động sống vốn liên tục mặc dù các chơn ngã có thời gian nghỉ ngơi lâu dài. Một bầu chuyển sang giai đoạn hoại không khi THƯỢNG ĐẾ không còn chú tâm tới nó nữa và do đó Ánh sáng của Ngài được triệt thoái. Nó chuyển sang một loại hôn mê và chỉ còn lại tàn dư của các sinh linh; trong thời kỳ này số lượng các sinh linh ấy dường như không tăng lên. Nhưng khi các Giống dân đã bị diệt vong, các Chơn ngã cư ngụ nơi các giống dân ấy đã chuyển đi hết thì bầu hành tinh trở thành môi trường cho cuộc Nội Tuần hoàn, là nơi chốn mà các chơn ngã trong trạng thái chuyển tiếp có thể được di dời đến đó nhằm làm tăng trưởng nhanh chóng cơ tiến hóa theo kiểu săn sóc đặc biệt. Bầu hành tinh mà Đức THƯỢNG ĐẾ lại chú ý tới bắt đầu sinh hoạt, để rồi tiếp nhận các luồng Chơn ngã sẵn sàng tiến bước trên cuộc hành hương.
Có một điều khác nữa mà ta cần lưu ý là sự hồi qui của các loại hình ở mức tiến hóa cao hơn, trong đó chúng chỉ tạo thành những giai đoạn chuyển tiếp. Cũng giống như sự phát triển phôi thai con người thời nay, có xuất hiện các loại hình cá, bò sát và động vật hữu nhũ hạ đẳng vốn lập lại trong vài tháng sự tiến hóa a tăng kỳ kiếp trong quá khứ; cũng vậy trong mỗi Cuộc tuần hoàn ta thấy rằng có một thời kỳ lập lại xảy ra trước thời kỳ tiến bộ mới thêm. Cuộc tuần hoàn thứ ba triển khai tỉ mỉ và cần mẫn những gì Giống dan thứ ba trong Cuộc tuần hoàn thứ tư sẽ mô phỏng lại một cách tương đôi nhanh chóng, trong khi Giống dân thứ nhì cũng được phản ảnh tương tự nơi Cuộc tuần hoàn thứ nhì, và Giống dân thứ nhất được phản ảnh hai nơi Cuộc tuần hoàn thứ nhất. Một khi ta lĩnh hội được nguyên tắc chung thì việc nghiên cứu trở nên dễ dàng hơn vì bức phác họa đã rõ ràng chỉ cần điền thêm vào những chi tiết thích hợp.
1 Xem phần trước kia trang 65.
2 Ta không được lẫn lộn Đức Căn Bàn Cổ Vaivasvata với Đức Bàn Cổ Vaivasvata của Căn chủng Aryen. Đức Căn Bàn Cổ là một Đấng cao cả hơn nhiều mà ta thừa hiểu theo phát biểu về cơ tiến hóa dài dằng dặc của Ngài ngay trong đoạn này.
3 Ta phải nhớ rằng khi một người đã thành chính quả trên Dãy hành tinh mà mình tiến hóa ở đó thì ngài có thể ở lại trên đó tiếp tục tiến hóa thêm nữa trên cương vị là một Cao đồ, hiện nay trên bầu hành tinh của ta, Ngài có thể đạt tới quả vị cao hơn trong Quần Tiên Hội mà không cần rời bỏ trái đất.
4 Giáo Lý Bí Truyền quyển III trang 560, ấn bản năm 1897, quyển V trang 533 ân bản Adyar.
5 Trong Giáo Lý Bí Truyền các thuật ngữ Manasaputras chẳng những được dùng để chỉ các Đấng này mà còn được dùng để chỉ mọi Chơn ngã đã đủ tiên tiến để kích hoạt mầm mống trí tuệ nơi các sinh linh khác, giống như hiện nay ta có thể kích thích trí khôn của loài vật. Như vậy thuật ngữ này bao gồm một lớp sinh linh lớn lao thuộc đủ mọi trình độ tiến hóa.
6 Xem phần trước trang 65..
7 Mọi lớp này đều được bao hàm bằng tên gọi Barhishad Pitris trong Giáo Lý Bí Truyền.
8 Xem phần trước, trang 32.
9 Xem phần trước, trang 65.
CHƯƠNG VII
NHỮNG GIAI ĐOẠN MỞ ĐẦU CỦA CUỘC TUẦN HOÀN THỨ TƯ
Trích từ CON NGƯỜI: Từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và rồi sẽ Đi về đâu
(MAN: Whence, How and Whither)
Tác giả C. W. Leadbeater - Bản dịch www.thongthienhoc.com
Khi sơ bộ tổng quan về Cuộc tuần hoàn thứ tư, ta thấy hiển nhiên có một sự thay đổi quan trọng mang tầm mức xa rộng đối với môi trường xung quanh mà cơ tiến hóa nhân loại phải diễn ra trong đó. Trong ba Cuộc tuần hoàn trước kia, con người hầu như không đụng chạm gì tới tinh hoa ngũ hành mà chỉ các đấng Thiên thần hoặc chư thiên mới ảnh hưởng tới chúng; chúng tiến hóa do ảnh hưởng của Chư thiên. Con người không đủ tiến hóa để ảnh hưởng tới nó ở bất kỳ qui mô đáng kể nào. Nhưng trong Cuộc tuần hoàn này, ảnh hưởng của con người đóng vai trò rất quan trọng và những tư tưởng qui ngã của y tạo ra những luồng xoáy ốc nơi chất tinh hoa ngũ hành bao xung quanh y. Các tinh linh ngũ hành cũng bắt đầu tỏ ra thù địch với y hơn. Khi y xuất lộ từ trạng thái con thú biến thành con người đi chinh phục, bởi vì theo quan điểm của chúng thì y không còn là một con thú sống trà trộn trong loài thú mà là một thực thể độc lập ưa đi chinh phục, rất có thể là hung hăn gây hấn.
Có một đặc điểm quan trọng khác của Cuộc tuần hoàn thứ tư tức Cuộc tuần hoàn chính giữa bảy cuộc đó là việc cánh cửa biệt lập ngã tính bị khép lại đối với giới động vật và cửa Đạo được mở ra. Cả hai phát biểu này đều là tổng quát; đó đây vẫn có một con thú nhờ sự trợ giúp rất đặc biệt vẫn còn tiến hóa được tới mức khả dĩ đầu thai thành người, nhưng,trong hầu hết mọi trường hợp thì hiện nay ta không tìm ra được thể xác của người nào phát triển đủ thấp để cho nó thể hiện trong đó; cũng vậy một người đã được quả vị La hán hoặc cao hơn nữa trên Dãy Nguyệt tinh còn leo cao hơn nữa, nhưng, tất cả người nào dưới quả vị ấy mà đã hoàn tất được các thể thượng trí đều không gia nhập vào cơ tiến hóa thuộc Dãy hành tinh Trái đất mãi cho tới khi Căn chủng thứ Ba thời kỳ sau và Căn chủng thứ Tư thời sơ khai.
Trên Hỏa tinh trong Cuộc tuần hoàn thứ Tư, ta thấy có một số người dã man chưa đủ tiến bộ để rời bỏ hành tinh ấy đi tới Trái đất khi đa khối Chơn ngã đã tiếp tục trong Cuộc tuần hoàn trước. Trên mỗi bầu hành tinh đều có một số nguòi thất bại không tiếp tục nữa và vẫn lạc hậu khi bầu hành tinh bắt đầu thời kỳ hoại không; và họ trở lại cũng bầu hành tinh này khi nó bắt đầu hoạt động trọn vẹn để tạo thành một lớp người rất lạc hậu; đây là nhóm Rỗ lưới thuộc một loại rất tồi, là những người dã man tàn bạo và độc ác, một số đã biệt lập ngã tính do sự sợ hãi và lòng giận dữ.
Trong Cuộc tuần hoàn thứ Tư, Hỏa tinh cảm thấy bị căng thẳng vì hiếm nước, chính các Nguỵệt tinh quân – các vị La hán thành chánh quả trên bầu E – đã thiết kế ra hệ thống kênh đào, còn nhóm Rỗ lưới thi công hệ thống ấy dưới quyền chỉ huy của các Ngài. Biển cả trên Hỏa tinh không có muối, còn vùng bắc cực quanh năm tuyết phủ thì, khi chúng tan chảy ra ắt cung cấp được nước cần thiét để tưới ruộng, do đó khiến ta có thể cày cấy trồng trọt, vun trồng hoa mầu.
Căn chủng thứ Năm trên Hỏa tinh là dân da trắng đã tiến bộ rất đáng kể và nhóm Rổ lưới phát triển bên trong thành ra một thể thượng trí hoàn chỉnh. Họ tốt bụng, có hảo ý và tử tế, mặc dù không thể có ý tưởng nào vĩ đại, có được xúc cảm phổ biến là luyến ái hoặc có được sự hy sinh bản thân. Ngay ở thời kỳ rất sơ khai thì họ đã bắt đầu phân chia thức ăn thay vì đánh nhau giành thức ăn tức là phát triển ý thức xã hội đến một mức nào đó.
Các Căn chủng thứ Nhất và thứ Nhì trên Trái đất vẫn tiếp tục trước khi Hỏa tinh bị bỏ rơi hoang vắng; một số thực thể có thể tận dụng được tình huống nguyên thủy này (mà Hỏa tinh đang ở giai đoạn sau này) đều quá tiến bộ nên không đồng hóa được và sự chú ý trọn vẹn của THƯỢNG ĐẾ không xoay chuyển sang Trái đất trong những thời sơ khai. Các Nguyệt tinh quân – Chư La hán đã thành chánh quả trên bầu D của Dãy Nguyệt tinh – du nhập vào những Giống dân thời sơ khai này một số thực thể lạc hậu sao cho chúng được dùng làm những cổ xe đặc biệt dành cho đám lạc hậu, nhiều kẻ báo đáp lại sự chăm sóc mà chúng đã từng nhận được để rồi nhập vào Phân chủng thứ Nhất của Căn chủng thứ Ba, thành ra loại hình thấp nhất, chúng: có đầu hình quả trứng, có một con mắt ngay trên đỉnh đầu, trán nhô ra như một miếng dồi xúc xích, cằm nhô ra. Loại có đầu hình trứng tồn tại trong một thời gian rất lâu, nhưng bị biến hóa đi nhiều trong các phân chủng sau này của Căn chủng thứ Ba mà các kiểu mẫu vẫn còn thấy trong các thời sau này của Chân Lemuria. Những người có nước da màu xanh lơ tạo thành phân chủng thứ sáu hùng mạnh, còn những người da trắng tạo thành phân chủng thứ bảy, đó là những loại hình thanh bai hơn nhưng vẫn thuộc về giống dân Lưmuria và có nét đặc trưng là đầu hình trứng do trán bị thụt vào [1].
Trong thời Căn chủng thứ Nhất và thứ Nhì, dân số trái đất rất hạn chế và sự trợ giúp đặc biệt này xuất hiện có vẻ là vì trong bầu hành tinh thứ tư thuộc Dãy hành tinh thứ Tư thì “cánh cửa biệt lập ngã tính đã bị dóng lại”. Vả lại, mọi điều có thể thực hiện nhằm làm thăng tiến cho bất cứ ai có thể thẳng tiến được trước khi các Hỏa đức Tinh quân giáng lâm vào giữa Căn chủng thứ Ba, lại khiến cho vực sâu ngăn cách giữa giới động vật và giới nhân loại hầu như không vượt qua được.
Vào cuối Căn chủng thứ Bảy, Hỏa tinh có một dân số rất hùng hậu để bổ sung cho Trái đất và đám này tràn vào Căn chủng thứ Ba, lãnh đạo Căn chủng này cho đến khi những Chơn ngã tiên tiến hơn xuất phát từ Dãy Nguyệt tinh đến tiếp quản quyền lãnh đạo. Nhóm Rỗ lưới này có thể Thượng trí giờ đây đã hoàn tất, đã tiến bộ đáng kể trên Hỏa tinh và bây giờ chúng dọn đường cho những người tiên tiến hơn chẳng bao lâu nữa sẽ giáng lâm. Chính chúng đã đánh nhau với đám tạo vật bò sát dã man, không có xương sống và thân hình nhớp nháp, đó là “những người dưới nước dễ sợ và tồi tệ trong các câu kinh của Thiền Định Chân Kinh, là di tích đã hiện thân trở lại của các Cuộc tuần hoàn trước kia, vốn là những “người dưới nước” nghĩa là lưỡng thể, những con thú có vẩy, nửa người nửa ngợm trên Hỏa tinh.
Nhiều phương thức sinh sôi nảy nở đặc trưng cho Cuộc tuần hoàn thứ Ba xuất hiện trở lại nơi Căn chủng thứ Ba này và được tiến hành đồng thời ở nhiều nơi khác nhau trên Trái đất. Đại đa số dân chúng trải qua những giai đoạn liên tiếp để trở nên hầu như là noãn sinh, nhưng có đủ thứ hoạt động phụ nho nhỏ trong đó những phương pháp trước kia vẫn tồn tại. Dường như đủ thứ phương pháp sinh sôi nảy nở đều thích hợp cho các Chơn ngã trong những giai đoạn tiến hóa khác nhau và vẫn còn được duy trì cho đám lạc hậu sau khi đại đa số dân chung đã vượt qua được những phương pháp ấy. Phương pháp noãn sinh rất lâu sau này mới bị bỏ hẳn; lớp vỏ càng ngày càng mỏng đi, con người bên trong lớp vỏ phát triển thành ra loại thư hùng lưỡng tính; để rồi trở thành bán thư bán hùng với một giới tính nổi bật rồi trở thành sinh vật đơn tính. Những sự thay đổi này bắt đầu vào khoảng cách đây16 triệu rưỡi năm và trải qua một thời gian từ 5 triệu rưởi tới 6 triệu năm, các thể xác thay đổi rất chậm và quá trình này thường xuyên bị đảo ngược. Hơn nữa con số nguyên thủy rất nhỏ và cần có thời gian để nhân lớn lên. Khi loại hình cuối cùng trở nên hoàn toàn ổn định thì trứng được bão tồn bên trong cơ thể phái nữ và sự sinh dục vẫn còn có dạng tồn tại mãi đến nay.
Tóm lại: Chúng ta có Căn chủng thứ Nhất lập lại Cuộc tuần hoàn thứ Nhất với những đám mây dĩ thái trôi nổi dật dờ trong bầu khí quyển nặng nề nóng bỏng bao quanh một bầu thế giới bị những thảm họa cứ lập đi lập lại làm tan nát; những đám mây dĩ thái này tăng trưởng bằng cách trực phân. Căn chủng thứ Nhì lập lại Cuộc tuần hoàn thứ Nhì thuộc loại bao bánh bột mà ta đã mô tả ở mục Cuộc tuần hoàn thứ Nhì; chúng sinh sôi nãy nở bằng cách đâm chồi. Căn chủng thứ Ba thời sơ khai lập lại Cuộc tuần hoàn thứ Ba có dạng con khỉ đột hình người và sự sinh dục thoạt tiên là bằng cách tiết xuất các tế bào tức hãn sinh (rịn ra như mồ hôi) trong Giáo Lý Bí Truyền. Rồi tới giai đoạn noãn sinh, rồi cuối cùng là đơn tính.
Ta cần xử trí một cách rất đặc biệt đối với một số loại trứng này; chúng được các Nguyệt tinh quân mang đi, từ điển hóa kỹ lưỡng và bảo tồn ở nhiệt độ không thay đổi nhiều cho đến khi hình người ở giai đoạn thư hùng lưỡng tính này bục ra; bấy giờ nó được nuôi dưỡng đặc biệt, được phát triển cẩn thận, và khi đã sẵn sàng thì được một trong các Nguyệt tinh quân chiếm hữu; nhiều vị Nguyệt tinh quân nhập thể để hoạt động được trên cõi trần và họ sử dụng những cơ thể được chuẩn bị kỹ lưỡng này trong một thời gian lâu dài; một số vị Thiên thần cũng chiếm hữu một số cơ thể đã được chuẩn bị. Điều này dường như chỉ xảy ra có vài thế kỷ trước khi phân chia giới tính.
Trong khi những người noãn sinh sau này đang chiếm hữu thì thành phần ưu tú nhất trong nhóm Rỗ lưới giáng lâm trực tiếp từ cõi Niết bàn Liên hành tinh, nhanh chóng nối tiếp sau đó là nhóm người thấp kém nhất trong đám đã có được các thể Thượng trí hoàn chỉnh trên Mặt trăng. Giữa nhóm cao nhất thuộc lớp người thứ nhất với nhóm thấp nhất thuộc lớp người thứ hai cũng chẳng khác nhau là bao. Đoàn thuyền đầu tiên thuộc nhóm thứ hai bao gồm những kẻ chẳng đáp ứng được bao nhiêu với ảnh hưởng của Đức Chủng Bàn Cổ, họ xuất phát từ các bầu G, F và E thuộc Dãy Nguyệt tinh, đa số xuất phát từ bầu G mà kẻ ngu đần nhất trong số đó cũng có được những thể Thượng trí hoàn chỉnh. Đoàn thuyền thứ nhì chở một số lớn người xuất phát từ bầu G, một thành phần (tiểu đội) ít hơn xuất phát từ bầu F và một phân đội còn ít hơn nữa xuất phát từ bầu E. Đoàn thuyền thứ ba tải đi nhóm ưu tú nhất xuất phát từ bầu G cùng với một số nhóm khá ưu việt xuất phát từ bầu F và nhóm khá giỏi xuất phát từ bầu E. Đoàn tàu thứ tư chở nhóm ưu việt xuất phát từ bầu F cùng với tất cả ngoại trừ thành phần ưu tú nhất của bầu E. Đoàn tàu thứ năm chở theo nhóm ưu việt của bầu E cùng với một ít người của bầu D. Những người này đều dường như được lọc lựa theo tuổi tác hơn là theo loại hình và thật vậy, ta thấy có đủ mọi loại hình. Ta lưu ý thấy có một cá thể là tù trưởng trong một bộ tộc dã man trên đất liền, y đã bắt Mars làm tù binh trên Mặt trăng, y đã biệt lập ngã tính do sự sợ hãi. Cả đám này đều hiện thể qua những người noãn sinh vào khoảng vài trăm ngàn người.
Thế rồi cách này, từ 10 tới 11 triệu năm, khi sự phân chia giới tính đã hoàn toàn được xác lập, có một giai đoạn quan trọng khi một số vị Nguyệt tinh quân nhập thể giáng xuống Ngôi sao Bắc cực bảy cánh của Châu Lemuria, tạo ra những hình ảnh dĩ thái của chính mình để rồi được hiện hình trở nên rắn chắc hơn, nhân bội những thứ này lên cho các chơn ngã sắp tới sử dụng; các Nguyệt tinh quân này thuộc các loại khác nhau, “bảy người mỗi người một lô đất”, ban cấp những cơ thể thích hợp cho bảy cung tức bảy loại hình tính khí của nhân loại để tạo ra các hình tướng trên các đỉnh của Ngôi sao.
Ở giai đoạn này có bốn lớp người, hối thúc nhau để đạt được các hình tướng con người tốt hơn. Đó là (1)- tập họp nhóm Rổ lưới tốt nhất nêu trên với năm chuyến thuyền xuất phát từ các bầu G, F và E, có các thể Thượng trí hoàn chỉnh; rồi tới (2)- nhóm Rổ lưới xuất phát từ Hỏa tinh; rồi tới (3)- nhóm Tuyến lúc nào cũng đã từng ở đây; rồi tới (4)- nhóm cuối cùng bao gồm những kẻ chỉ mới bây giờ từ loài thú ngoi lên làm người. Bên dưới loài người là loài thú, cây cỏ và khoáng vật mà chúng ta không cần quan tâm.
Việc nhóm này giáng lâm vào các hình tướng dĩ thái do các Nguyệt tinh quân cung cấp là một điều gì đó mang tính phấn đấu, vì thường có nhiều kẻ cùng đòi hỏi chỉ một hình tuóng và kẻ nào thành công đoạt được hình tướng ấy thì chẳng bao giờ giữ được nó lâu hơn một vài lúc; cảnh tượng này nhắc ta nhớ tới ý tưởng của Hi Lạp cho rằng Chư thần linh tạo ra thế giới giữa những tiếng reo hò cười đùa, vì dứt khoát đó là một yếu tố hài hước khi các Chơn ngã tranh nhau các hình tướng mà không thể điều khiển chúng sau khi đã giành được. Đó là một trong những dịp giáng xuống vật chất, việc cơ thể con người cuối cùng hiện hình ra để hoàn tất sự sa đọa của con người. Dần dần thì họ đâm ra quen thuộc với những lớp áo da mới và đã định cư để sinh sôi nảy nở ra bảy loại hình tính tình lớn. Ở khắp nơi trên thế giới, các phương pháp sinh sản khác tiếp tục trong những thời gian lâu dài; những giai đoạn nối tiếp chồng chéo lên nhau rất nhiều do có sự khác nhau nhiều về tiến hóa và các lớp người giáng lâm từ những Cuộc tuần hoàn khác không có mặt nơi hai Căn chủng buổi ban sơ trên Trái đất; các bộ tộc noi theo những phương pháp ban sơ dần dần trở nên tuyệt chủng, trong khi những người nam và nữ chân chính sinh sôi nảy nở rất nhiều cho tới khi nhân loại theo như ta biết hiện nay dứt khoát được xác lập trên khắp thế giới.
Các hình tướng mà các Nguyệt tinh quân vứt bỏ trông khá đẹp đẽ, nhưng vì làm bằng chất dĩ thái cho nên chúng dễ bị biến đổi và các chơn ngã giáng lâm đã làm chúng méo mó đi rất nhiều; đám trẻ con do chúng sinh ra rõ rệt là xấu xí; có lẽ những người sử dụng chúng đã quen nghĩ tới cái đầu hình trứng và cái trán hình dồi xúc xích vì thế cho nên những thứ này xuất hiện trở lại.
Sau khi nhiều thế hệ con người đã xác lập (giáng xuống từ các hình tướng dĩ thái hiện ra) đã tiến hóa, chư La hán hối thúc những người nào rời bỏ các bầu A, B và C của Dãy Nguyệt tinh – bởi vì họ không thể tiến bộ thêm nữa ở trên đó – là họ nên giáng xuống và nhập thể nơi các cơ thể nay đã sẵn sàng để cho họ ở trong đó. Có ba chuyến thuyền bao gồm những người này: hơn 2 triệu người có hào quang màu da cam từ bầu A, chưa đầy 3 triệu người hào quang màu hoàng kim xuất phát từ bầu B và nhỉnh hơn 3 triệu người hào quang màu hồng xuất phát từ bầu C; vị chi vào khoảng 9 triệu người; họ được hướng dẫn những vùng khác nhau trên bề mặt trái đất để cho họ có thể tạo nên các bộ tộc. Những kẻ hào quang màu da cam khi thấy những cơ thể được dành cho mình từ chối không chịu nhập vào chẳng phải vì độc ác mà vì kiêu hảnh, khinh thường những hình tướng không hấp dẫn và có lẽ cũng vì xưa kia họ ghét giao hợp, nhưng những người có hào quang màu hoàng kim và màu hồng lại ngoan ngoãn dễ bảo và dần dần cải tiến được những cơ thể mình ở trong đó. Họ tạo thành phân chủng thứ tư của Căn chủng Lemuria, phân chủng đầu tiên có ý nghĩa là con người ngoại trừ việc còn mang tính phôi thai; và điều này được ghi dấu ngày tháng qua việc ban cấp hình hài. Thật thú vị khi lưu ý thấy rằng trong Giáo Lý Bí Truyền H. P. Blawatsky nói phân chủng thứ tư này là màu vàng, xét theo biểu kiến bà ghi nhận sự giáng lâm của những người có hào quang màu hoàng kim xuất phát từ bầu B của Dãy Nguyệt tinh; bà hầu như không đề cập tới màu da đã được xác lập của phân chủng thứ tư vì nó màu đen và màu đen tiếp tục ngay cả nơi các lớp hạ đẳng của phân chủng thứ sáu, trong đó các lớp thượng lưu có nước da màu xanh lơ hoàn toàn khả kính. Thế nhưng, ngay cả nơi những người này cũng có một sắc thái căn bản màu đen.
Vậy là vùng được phân phối cho bộ tộc hào quang da cam đã bị bỏ trống, những cơ thể mà lẽ ra họ đã sử dụng bị chiếm hữu bởi đám thực thể vui mừng xuất phát từ giới động vật tức là lớp thấp nhất vừa nêu trước kia, là loại hình người rất tồi tàn; dĩ nhiên những thứ này chẳng cảm thấy sự khác nhau bao nhiêu giữa bản thân và đám thú vật mà mình ngoi lên từ đó, vì thế mới có “tội lỗi của những kẻ chưa có trí”.
Thật thú vị khi lưu ý nghiệp do những người hào quang da cam từ chối cư ngụ thỏa đáng trong công trình cung cấp cư dân cho thế giới. Về sau luật tiến hóa buộc họ cũng phải nhập thể và họ phải chiếm hữu những cơ thể thấp hơn, thô trược hơn, các Nguyệt tinh quân đã lên đường nhận nhiệm vụ khác; do đó họ trở thành một giống dân lạc hậu, quỷ quyệt nhưng xấu bụng và trải qua nhiều kinh nghiệm khó chịu; họ bị giảm dân số do thường xuyên xung đột với cộng đồng bình thường và phần lớn là đau khổ khi chịu cảnh trên đe dưới búa phải hòa lẫn vào đám thứ dân. Một ít người – những kẻ mạnh bạo, không biết ăn năn và vô lương tâm – trở thành các Hắc diện Tinh quân ở Châu Atlantis; ta thấy một số những người khác trong đám người da đỏ ở Bắc Mỹ có khuôn mặt thanh tú nhưng khó đăm đăm; một số ít vẫn còn tồn tại mãi cho tới tận thời nay – những kẻ tán tận lương tâm trong đám các vua tài chính, đám chính khách như Bismak, đám người chinh phục như Napoleon; nhưng họ dần dần biến mất vì đã học được những bài học cay đắng. Những kẻ luôn luôn thấy trong lòng thiếu thốn, lúc nào cũng ưa đánh lộn, luôn luôn chống đối mọi chuyện ở bất cứ nơi đâu thì theo nguyên tắc chung trong địa hạt luật lệ rốt cuộc họ phải bị nện cho nhừ tử; một số rất ít người có thể kết thúc nơi tà thuật, nhưng đa số cứ chịu áp lực rất lớn đều đều. Đây là con đường khó đi mà họ chọn lựa để tiến bước.
SỰ GIÁNG LÂM CỦA CÁC HOẢ ĐỨC TINH QUÂN
Ngôi sao Bắc cực vĩ đại của Châu Lemuria vẫn còn hoàn chỉnh và dãy Lưỡi liềm khổng lồ vẫn còn vắt ngang qua đường xích đạo kể cả đảo Madagascar. Biển cả chiếm chỗ hiện nay là sa mạc Gobi vẫn còn vỗ sóng vào lớp hàng rào núi non thoai thoải ở phía Bắc dãy Hi Mã Lạp Sơn, tất cả đều đang chuẩn bị cho giờ phút ly kỳ nhất trong lịch sử Trái đất: Sự giáng lâm của các Hỏa Đức Tinh Quân.
Các Nguyệt Tinh quân và Đức Bàn Cổ của Căn chủng thứ Ba đã làm tất cả những gì có thể được để đưa con người lên tới mức mà mầm mống trí tuệ có thể được xúc tiến và Chơn ngã có thể giáng xuống. Mọi kẻ lạc hậu đã được thôi thúc; trong hàng ngũ loài thú không còn con nào có thể ngoi lên thành người nữa. Cánh cửa để cho con thú di cư sang giới nhân loại chỉ đóng sập lại khi không còn triển vọng nữa, không còn cá thể đạt tới mức ấy mà không lập lại cái xung lực ghê gớm vốn chỉ được ban ra một lần trong Cơ tiến hóa của một hệ thống tiến hóa vào lúc ngay giữa chừng.
Thời điểm được chọn là một biến cố chiêm tinh vĩ đại khi xảy ra một sự hội tụ rất đặc biệt các hành tinh và tình hình từ điển trên Trái đất thuận lợi tối đa. Thời điểm đó cách nay khoảng 6 triệu rưỡi năm. Chẳng còn điều gì phải làm nữa, ngoại trừ những điều mà chỉ các Ngài mới làm được thôi.
Bấy giờ với tiến độ ồn ào do việc đẩy nhanh xuống từ một độ cao không tính toán nổi, xung quanh là những khối lửa cháy đỏ lấp đầy bầu trời với những lượt lửa bắn tung tóe, chiếc xe chở các Con của Lửa, các Hỏa Đức Tinh Quân xuất phát từ Kim tinh bay vút ngang qua bầu trời; nó dừng lại, bay lượn trên Bạch đảo vốn đang mỉm cười giữa lòng biển Gobi; Bạch đảo vốn xanh mướt rực rỡ với các đám hoa muôn màu muôn sắc khoe hương khi Trái đất đang hiến dâng những điều tốt dẹp nhất của mình để nghênh đón bậc Đế vương sắp giáng lâm. Ngài ở nơi đó là đấng Thanh Xuân mới 16 tuổi, Sanat Kumara, vị “Thanh niên Vĩnh hằng”, bậc cai trị mới mẻ của Trái đất đã giáng lâm xuống cõi giới của mình cùng với các môn đồ là ba vị Kumaras và các đấng phụ tá Ngài. Có 30 Đấng đầy quyền uy, một lực lượng lớn lao hơn mức dự tính của Trái đất, mặc dù được xếp theo phẩm trật và khoác lấy những cơ thể vinh diệu mà các Ngài đã sáng tạo ra bằng Kriyashakti, đây là Quần Tiên Hội ban sơ, các nhánh của cây Đa duy nhất tua tủa nhiều cành, vườn ương các bậc Cao đồ trong tương lai, trung tâm của mọi sinh hoạt huyền bí. Các Ngài đã và đang ngủ nơi vùng Thánh địa bất diệt mà Ngôi sao Chói rạng luôn luôn chiếu xuống đó. Đây là biểu tượng của Đấng Quân vương trên Trái đất, là cái Cực bất biến mà sự sống của Trái đất bao giờ cũng quay vòng quanh đó [2].
Một Vấn đáp giáo lý có nói trong số bảy vị Thiên tôn Kumaras thì có bốn Đấng hi sinh vì tội lỗi của thế gian, giáo huấn cho kẻ vô minh, ở lại cho tới cuối Chu kỳ thành trụ hiện nay… Đó là Đầu, Tim, Hồn và Hạt giống của tri thức bất tử. “H. P. Blavatsky còn nói thêm: “Cao hơn bốn Đấng này chỉ có một ĐẤNG đang trên Trần thế cũng như trên Trời – một Đấng còn bí nhiệm và đơn độc hơn nữa – đó là Phổ Ttịnh Đại Đế. [3]
Cho tới khi các đấng Tinh quân giáng lâm thì những chuyến tàu xuất phát từ cõi Niết bàn Liên hành tinh chỉ cập bến lẻ tẻ; nhưng giờ đây khi có được sự kích thích ghê gớm thì sự sinh sôi nảy nở cũng gia tăng nhanh chóng như mọi thứ khác và người ta cần tới những hạm đội hoàn chỉnh để đưa các Chơn ngã cư ngụ trong các thể xác; các Chơn ngã này tràn vào, còn Chơn ngã thuộc loại thấp hơn chiếm hữu mọi con thú có mầm mống trí tuệ đã biệt lập ngã tính vào lúc Giáng lâm; chỉ trong một lúc các Hỏa Đức Tinh Quân đã tạo ra được cả triệu người mà giờ đây chúng ta dù có chăm sóc lâu dài cũng chỉ tạo ra từng đơn vị.
Thế là bây giờ chư La hán nhập thể giáng lâm từ các bầu A, B và C để trợ giúp cho Đức Bàn Cổ hình thành và khai hóa các phân chủng thứ 5, thứ 6 và thứ 7 của Căn chủng Lemuria. Phân chủng thứ tư vẫn tiếp tục loại người có đầu rất giống hình trứng với vóc dáng từ 24 tới 27 bộ Anh về chiều cao, thân hình lẳng khẳng và cồng kềnh, da màu đen; có một người mà chúng tôi đo được cao tới 25 bộ Anh [4]. Dinh thự của họ tỉ lệ với kích thước của họ với cấu trúc được xây bằng những viên đá khổng lồ.
Chư La hán trở thành các vị Thánh vương của những phân chủng sau này, các Minh vương trong thần thoại còn thật hơn cả lịch sử nữa. Một Minh vương tụ tập một số người xung quanh mình tạo ra một thị tộc để rồi dạy cho thị tộc này một số thuật văn minh, điều khiển và giúp đỡ chúng xây dựng một đô thị. Một đô thị lớn đã được dựng lên theo huấn lệnh ấy ở nơi mà hiện nay là đảo Madagascar, và nhiều đô thị khác cũng được xây dựng tương tự trên vùng đất Lưỡi liềm lớn. Như ta có nêu trên; phong cách của thuật kiến trúc là xây dựng bằng những tảng đá khổng lồ gây ấn tượng mạnh do sự hùng vĩ ấy.
Trong thời kỳ lâu dài có cư dân ở, dáng vẻ thể xác của người Lemuria đã thay đổi. Mắt ở giữa ngay trên đỉnh đầu bị triệt thoái (khi nó không còn hoạt động nữa) từ bề mặt vào phía bên trong đầu tạo ra tuyến Tùng trong khi hai mắt – thoạt tiên mỗi mắt ở một bên đầu – trở nên hoạt động. Huyền thoại Hi Lạp về người khổng lồ một mắt hiển nhiên là một truyền thuyết xuất phát từ thời sơ khai của Châu Lemuria.
Có một số con thú đã được trở thành gia súc; ta thấy một người Lemuria đầu hình trứng dắt đi một con quái vật có vảy, trông hầu như chẳng hấp dẫn gì giống hệt chủ của nó. Người ta ăn sống nuốt tươi cũng đủ loại thú vật - ở một số bộ tộc thì người ta cũng chẳng chê thịt người – và các tạo vật thuộc lớp sên, ốc và giun của chúng ta lớn hơn nhiều so với đám hậu duệ đã thoái hóa của chúng, được coi là món ngon vật lạ đặc sản.
.Trong khi phân chủng thứ sáu đang phát triển thì có một số lớn các Điểm đạo đồ và đệ tử được biệt phái từ cõi Niết bàn Liên hành tinh xuống Trái đất [5] để trợ giúp cho Đức Bàn Cổ của Căn chủng thứ Tư bằng cách nhập thể nơi những cơ thể tốt nhất mà các Ngài đã tiến hóa được cho tới lúc đó.
[1] - Trong khi đoạn này đang được đưa in thì trên báo chí có xuất hiện một bài tường trình về việc phát hiện một số những xương sọ thuộc loại này nhưng chưa sẳn có những đặc điểm chi tiết. Xem Tạp chí nhà Thông Thiên Học số tháng 8 năm 1912 ở mục Trên Tháp canh, trang 631.
[2] Việc sử dụng những biểu tượng huyền bí nào khiến cho các bạn đọc của bộ Giáo Lý Bí Truyền (có lẽ ngay cả tác giả nữa) cũng hiểu lầm rằng “Cực” và “Ngôi Sao” mà phần Bình luận Huyền bí đề cập tới chính là Bắc cực và sao Bắc đẩu trong vật lý học. Tôi cũng mắc phải ý kiến sai lầm này trong tác phẩm Dòng dõi con người của mình (Annie Besant).
[3] Giáo Lý Bí Truyền quyển II, trang 294-295, ấn bản năm 1897; quyển III trang 282-283 ấn bản Adyar.
[4] Có điều thú vị khi người ta tò mò muốn biết chúng tôi đo người khổng lồ bằng cách nào: trước hết bằng cách đứng kế bên y khi chúng tôi lần lượt chỉ thấp hơn một chút hoặc ngang tới đầu gối của y; kế đến chúng tôi đặt y sát vào bao lơn tầng một của Tổng hành dinh, ở đó y có thể đưa cánh tay vươn lên tới tận lan can và đặt cằm vào trên đấy. Sau đó chúng tôi đo chiều cao của lan can. Cái hình tướng khốn khổ ấy chẳng hề được hoan nghênh khi y dựa đầu vào bao lơn; chủ sở hữu của bao lơn thét lên “ Mang hắn đi”, hắn xấu quá chỉ làm cho thiên hạ sợ hãi. Có lẽ hắn là một sinh vật tồi tệ.
[5] Ta có thể lưu ý thấy rằng trong khi qui tắc chung là những kẻ kém tiến hóa sẽ được biệt phái tới Trái đất trước hết, vẫn có những ngoại lệ khi cần tới những sự trợ giúp, chẳng hạn như trường hợp này có chuyến thuyền đặc biệt. Những cơ thể tốt nhất được dành cho những kẻ đã trả hết nghiệp để cho những người cư ngụ trong đó có thể cải tiến được chúng và rút ra được từ đó mọi thứ mà chúng có thể giao nộp. Chư La hán và đệ tử này làm việc dưới quyền các Nguyệt tinh quân và Đức Bàn Cổ của các Giống dân thứ Ba và thứ Tư, phân chủng thứ bảy có nước da màu trắng và hơi xanh xanh, được triển khai do sự trợ giúp của các Ngài cung ứng những người nam nữ thuộc loại tốt hơn để cho Đức Bàn Cổ của Giống dân thứ Tư un đúc thêm nữa.
CHƯƠNG VIII
CĂN CHỦNG THỨ TƯ
Trích từ CON NGƯỜI: Từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và rồi sẽ Đi về đâu
(MAN: Whence, How and Whither)
Tác giả C. W. Leadbeater - Bản dịch www.thongthienhoc.com
CĂN CHỦNG THỨ TƯ
Hầu như ngay sau khi giáng lâm, vị lãnh đạo Quần tiên hội đã sắp xếp để thành lập Căn chủng thứ tư, sử dụng Đức Bàn Cổ tương lai để lượm lặt các loại hình người Lemuria sẵn có nhỏ nhất, rắn chắc nhất và tốt nhất, trong khi việc thành lập và làm tăng trưởng nền văn minh của các vị Minh vương đang tiếp diễn trong đám người Lemuria thì Đức Bàn Cổ của Giống dân sắp tới cần mẫn mưu tìm những chơn ngã nào phù hợp với mục đích của mình để tuyển lựa chúng nhằm có những sự nhập thể thích hợp. Có trường hợp Ngài tụ tập lại cả ngàn người rồi rốt cuộc chỉ tuyển lựa được một người sau khi đã trắc nghiệm trải qua nhiều năm, hiển nhiên là Ngài cũng nếm mùi khó khăn gian khổ mới tìm thấy được những tổ tiên đang mong muốn dành cho giống dân của Ngài. Các bộ tộc được cách ly để cho các thành viên của nó kết hôn lẫn nhau trong những thời kỳ dài và giúp Đức Bàn Cổ chọn ra được những kiểu mẫu đầy triển vọng để rồi lại ghép chúng; Ngài và các đệ tử lại nhập thể nơi đám con cháu những kiểu mẫu này để nâng cao trình độ thể chất của chúng. Ngài tiến hành đủ thứ cuộc thí nghiệm đồng thời ở các đỉnh của Ngôi sao, sử dụng sự khác nhau về khí hậu. Thoạt tiên thì đây có vẻ là một nhiệm vụ tuyệt vọng, dường như thể người da đen và người lai đen trắng kết hôn với nhau để tạo ra giống dân da trắng; nhưng, sau hằng thế hệ tuyển trạch trong nội bộ của một bộ tộc, Ngài cũng lọc lựa ra được một hai người rồi ghép cặp nó với một người khác cũng được tuyển lựa tương tự từ một bộ tộc khác. Đức Bàn Cổ của Giống dân thứ ba đã triển khai ra một loại hình nước da xanh lơ cho phân chủng thứ sáu của Ngài và nước da trắng hơi xanh xanh cho phân chủng thứ bảy, mặc dù đại khối dân Lemuria vẫn là da đen; một số người thuộc phân chủng thứ tư cũng trộn lẫn với giống dân màu xanh lơ và loại hình Lemuria nói chung được cải tiến chậm chạp, rất từ từ. Ta có thể lưu ý thấy rằng khi ở nơi nào khác trên thế giới có xuất hiện một loại hình tốt hơn hoặc nước da màu lợt hơn thì nó bèn được gởi tới cho Đức Bàn Cổ và Ngài cố gắng tìm cho nó một người phối ngẫu (môn đăng hộ đối); chúng tôi quan sát thấy một người đã được gửi như vậy xuất phát từ đô thị ở Madagasca và những người khác cũng đến đó tương tự từ nơi khác.
Sự tiến bộ trở nên nhanh hơn sau khi các Điểm đạo đồ tới nơi mà ta đã đề cập ở cuối chương vừa qua, những cơ thể tốt nhất được người ở trong đó cải tiến bèn được Đức Bàn Cổ tiếp thu để hình thành nên phân chủng thứ nhất của Ngài, như vậy rốt cuộc là Giống dân thứ tư có được một nền tảng ươm trồng rất tinh vi do một số lớn những người tiên tiến lãnh đạo và hối thúc sự việc. Cuối cùng thì Đức Bàn Cổ có thể tiếp thu các cơ thể của phân chủng thứ bảy (được các Điểm đạo đồ cải tiến sau khi sử dụng) dùng làm hạt nhân của phân chủng thứ nhất, giống dân Rmoahal của Căn chủng thứ tư. Tất cả những vị được tiếp thu vào Căn chủng thứ tư đều là Điểm đạo đồ và các đệ tử ở trong những cơ thể ấy và không một ai ở trình độ này lại được tiếp nhận từ những người trước kia đã tiến hóa trên Dãy Địa cầu.
Subba Rao phân biệt dân Lemuria da màu xanh lơ đen, dân Atlant da màu đỏ vàng, còn dân Aryan da màu nâu trắng. Chúng tôi thấy Đức Bàn Cổ của Giống dân thứ tư loại bỏ màu xanh lơ ra khỏi màu da của dân tộc mình, trải qua màu đỏ tía để biến thành màu đỏ của phân chủng Rmoahal, để rồi bằng cách trộn lẫn với màu trắng xanh lơ của phân chủng thứ bảy Căn chủng Lemuria; Ngài thu được phân chủng thứ nhất vốn dường như trọn vẹn là con người mà ta có thể tưởng tượng là còn sống động trà trộn giữa chúng ta. Sau khi loại hình của giống dân đã được xác lập trọn vẹn, vậy là Ngài đã có vật liệu cho màu đỏ nâu rực rỡ của dân Toltec, tức phân chủng thứ ba, phân chủng huy hoàng nhất thuộc vương tộc của giống dân Atlant vốn cai trị thế giới trong cả chục ngàn năm. Sau một thời kỳ dài kiên nhẫn làm việc phải mất vào khoảng một triệu năm chăm sóc và mất công rất nhiều thì Ngài mới đạt được một mức độ giống như loại hình mà Ngài đảm nhiệm việc tạo ra; bấy giờ Ngài mới dứt khoát lập nên Giống dân ấy, bản thân Ngài cũng nhập thể, hiệu triệu các đệ tử cùng nhập thể trong gia đình của chính Ngài. Vậy là đám hậu duệ của Ngài đã tạo thành Giống dân ấy. Theo sát nghĩa đen nhất thì Đức Bàn Cổ của một Giống dân là Thủy tổ của nó vì toàn thể Giống dân ấy nhận Đức Bàn Cổ là tổ tiên về hình dáng của mình.
Tuy nhiên, ngay cả các hậu duệ trực hệ của Đức Bàn Cổ cũng là một đám người chẳng lấy gì hấp dẫn lắm xét theo tiêu chuẩn hiệnnay của ta, mặc dù dân chúng quanh đó đã được cải thiện nhiều. Họ nhỏ con hơn nhưng không có tổ chức thần kinh đáng kể và thể cảm dục của của họ chưa có hình tướng. Thật là phi thường khi Ngài tạo cho chính mình một hình thể, uốn nắn và định hình nó theo thể vía và thể trí của chính mình, biến đổi màu da cho đến khi Ngài biến chế nó thành ra một màu đáng mong muốn dành cho Giống dân của mình.
Sau đó thì nhiều thê hệ trải qua trước khi Giống dân còn non trẻ chiếm hữu lục địa của nó là Châu Atlantis, nhưng từ mức này trở đi thì các chuyến tàu chở các Chơn ngã bắt đầu cập bến xuất phát từ cõi Niết Bàn Liên hành tinh để cư ngụ trong các thể xác của Giống dân thứ tư. Đức Bàn Cổ dàn xếp với Đức Căn Bàn Cổ để gửi tới cho Ngài một số lớn Chơn ngã đã sẵn sàng nhập thể: những người xuất phát từ bầu D của Dãy Nguyệt tinh đã có thể Thượng trí hoàn chỉnh và đã biệt lập ngã tính trong Cuộc tuần hoàn thứ tư và thứ năm của Dãy Nguyệt tinh. Một số người đến nhập vào phân chủng Tlavatli, còn một số đến sau nhập vào phân chủng Toltec, khi nó đã tiến hóa rồi; sau đó Ngài lại nhập thể trong phân chủng Toltec lập nên Kim môn thành, vốn là thành thị đầu tiên trong số nhiều thành thị liên tiếp mang tên đó. Sự thành lập ấy bắt đầu từ một triệu năm trước đây, tức là một trăm năm mươi ngàn năm trước khi đại thảm họa thứ nhất xé toạc Châu Atlantis ra.
Vào lúc đó người Toltec là Giống dân thống trị vì họ rất ưu việt. Đó là một giống dân chinh chiến, đi khắp nơi trên thế giới để chinh phục các cư dân, song những loại người thuần chủng của nó chẳng bao giờ làm giai cấp hạ lưu ở bất cứ nơi đâu. Ngay cả ở Kim môn thành thì chỉ có giai cấp quí tộc và giai cấp trung lưu là người Toltec, còn giai cấp hạ lưu thì mang dòng máu lai, phần lớn bao gồm những người nam nữ bị bắt làm tù binh cùng với những phân chủng khác và bị những kẻ chinh phục đẩy xuống hàng nô tì.
Vào lúc đó có một chuyến tàu cập bến Trái đất chở các Chơn ngã theo một nhóm (hầu hết vẫn còn quây quần bên nhau) mà chúng tôi dặc biệt chú ý vì nó bao gồm nhiều người bạn cũ: Sỉrius, Orion, Leo và những người khác; một số những người này khi đến nơi được Đức Bàn Cổ Vaivasvata (Bàn Cổ của Giống dân thứ năm) dành riêng làm một phần cho vật liệu tương lai của mình. Chính vì thế mà H. P. Blavatsky, bảo rằng việc sáng lập Giống dân thứ năm xảy ra cách đây một triệu năm, mặc dù nó chỉ được dẫn dắt đào thoát khỏi châu Atlantis vào năm 79.997 trước Công nguyên. Sau này thì những người ấy tạo thành một nhóm có khoảng cách trung bình giữa lúc chết và lúc tái sinh từ 1.000 tới 1.200 năm [1].
Vào lúc này thời khoảng giữa lúc chết và lúc tái sinh dĩ nhiên là khá ngắn hơn vì vật liệu thu thập được trong các kiếp nguyên thủy không đủ để tạo ra thời khoảng dài cho dù nó được dàn trải mỏng đi. Người ta chưa có được những xúc cảm sâu sắc mặc dù vẫn đào luyện ra được một thứ gì đó từ sinh hoạt trên cõi trời. Các Chơn ngã này qui tụ lại với nhau trên cõi trời và những thực thể có dạng màng mỏng liên kết với chúng trên cõi trực giác tỏ ra có ái lực mạnh với nhau. Ở các cõi thấp hơn, xét theo biểu kiến thì có một ý thức “thiếu thốn”, mò mẫm một cách tẻ nhạt dường như thể họ cũng lờ mờ cảm thấy sự vắng mặt của những người bạn cũ trong những kiếp trước kia và thời khoảng vẫn còn trong cõi Niết Bàn liên hành tinh vì vẫn còn yên ngủ nơi đó chưa chịu giáng lâm xuống Trái đất trong vòng 400.000 năm. Ở cõi trực giác, những người thuộc nhóm 700 năm này có tiếp xúc với nhóm 1.200 năm, nhưng chỉ khi nhóm 700 năm giáng lâm xuống Trái đất thì mới có một lúc nói chung là hân hoan trong đám các Chơn ngã trên cõi Thượng trí chủ yếu là do có sự giáng lâm của những người được yêu kính sâu sắc nhất tức là các Chơn sư tương lai. Những vị này ngay tức khắc liên lạc với một số người trong nhóm trước kia vẫn còn ở cõi Niết Bàn, mặc dù những người khác đã giáng lâm xuống Trái đất cùng với nhóm 1.200 năm, trong số đó có hai vị Chơn sư tương lai hiện nay mang xác người Anh [2].
Người ta đã phải cầu viện tới việc để cho có nhiều sự tái sinh hơi chậm trễ hoặc hơi sớm hơn một chút để giữ cho nhóm này cùng nhau nhập thể.
Trong một kiếp trước kia, Corona [3]. – một chiến sĩ rất thiện nghệ - đã từ Kim môn thành tới chinh phục bộ tộc Tlavatli mà các bạn của chúng tôi đã nhập thể ở trong đó. Mặc dù không có ý thức về mối liên hệ giữa những người này, Corona vẫn chịu ảnh hưởng của nó và đối xử tử tế với bộ tộc ấy: thay vì bắt chúng đi làm nô lệ thì y lại du nhập đủ thứ sự cải tiến rồi sáp nhập bộ tộc ấy vào Đế quốc Toltec. Sirius tái sinh nhiều lần trong phân chủng Tlavatli, rồi chuyển sang phân chủng Toltec. Khi liếc nhìn về tương lai thì chúng tôi thấy y đã từng một lần nhập thể trong đám dân Rmoahal để sống chung với Ursa và những người khác, rồi có nhiều kiếp chuyển sang giống dân Tourania, tức là phân chủng thứ tư (giai đoạn người Trung hoa) rồi một số kiếp là dân Akkad, tức phân chủng thứ sáu; người ta còn giám sát thấy y buôn bán trong đám người giống như người Phœnicia sau này. Y không sinh trưởng trong các phân chủng theo một thứ tự đặc biệt nào cho nên hiện nay thật khó mà tổng quát hóa vấn đề ấy.
Các chuyến tàu chở Chơn ngã tiếp tục đến và nguyên nhân chính phân cách nhau dường như là phương pháp biệt lập ngã tính. Các Chơn ngã thuộc đủ mọi Cung tức mọi tính khí có mức phát triển chung giống nhau đều được trộn lẫn lại, nhưng các Chơn ngã có thời khoảng giữa lúc tái sinh khác nhau vẫn không được trộn lẫn. Thậm chí cũng chẳng có sự hòa lẫn nào giữa các giai cấp lớn là Người trên Dãy Nguyệt tinh và Người Thú. Nếu một cá nhân không trải qua cuộc Nội Tuần Hoàn để chịu sự chín dú đặc biệt nhằm chuyển sang lớp người tiến bộ ngay trước mình thì những đường phân giới tổng quát ấy vẫn còn và một lớp người này không tiếp quản lớp người kia. Ngay cả khi nhóm Rỗ lưới đã hoàn chỉnh thể Thượng trí của mình thì ta vẫn còn có thể phân biệt được nguồn gốc Rỗ lưới.
Chuyến tàu đầu tiên chở nhóm 700 năm cập bến Trái đất vào khoảng 600.000 năm trước Công nguyên, tức là chừng 250.000 năm sau khi đại thảm họa thứ nhất đã xé toạc châu Atlantis ra. Chuyến tàu đó đưa tới các Chơn sư tương lai là Mars và Mercury, và những người khác; Mars sinh ra ở mièn Bắc trong Căn chủng Tlavatli có bố mẹ là Surya và Mercury, Herakles cũng thuộc về gia đình này với vai trò là chị cả. Surya là tù trưởng của bộ tộc, còn Mars là con trai cả của Surya, chẳng bao lâu trở thành chiến sĩ tiên tiến của bộ tộc [4]. Khi mới được 15 tuổi, y đã bị bỏ mặc chờ chết nơi chiến trường, nhưng được chị mình đi tìm và kiếm thây, người chị này đã tận tụy hết lòng vì y, nuôi dưỡng y cho đến khi khỏe mạnh trở lại. Y kế vị cha làm thủ lĩnh tù trưởng và đó là kinh nghiệm đầu tiên cai trị trên trần thế.
Có một nhóm nhỏ thôi nhưng thật thú vị, chỉ 105 người giáng lâm cũng vào thời kỳ 600.000 năm trước Công nguyên, nhưng không xuất phát từ Mặt trăng. Đó là một nhóm người đặc biệt dàn xếp bởi vị thủ lĩnh của Quần tiên hội. Và dường như bao gồm một số người khi còn ở Kim tinh đã từng là những con thú cưng của các Hỏa đức Tinh quân đã đặc biệt quyến luyến các Ngài đến mức nếu không có các Ngài thì họ không tiến hóa được. Họ đã biệt lập ngã tính trên Kim tinh và được đưa xuống đây để cho Ngài bố trí tất cả vào Cung một và Cung hai. Có những nhóm nhỏ khác tiến hóa bất bình thường. Chẳng hạn như một nhóm nhỏ thuộc về Cuộc tuần hoàn thứ ba được biệt phái sang Thủy tinh để được huấn luyện đặc biệt chỉ khả hữu trong tình huống của Thủy tinh để rồi lại được đưa trở về đây. Một số được huấn luyện theo kiểu này để chuẩn bị cho Căn chủng thứ năm. Ta có thể lưu ý thấy rằng H. P. Blavatsky có nói một số người từ Thủy tinh giáng lâm xuống Trái đất.
Kiếp sống thứ ba của Herakles trên Trái đất cũng thuộc về bộ tộc ấy nơi mà nhiều thành viên trong nhóm được tái họp với nhau. Họ đã đạt được một mức độ văn minh nào đó nhưng nhà cửa vẫn lụp xụp và quần áo thiếu thốn (thời tiết lại ấm áp). Kiếp này được đánh dấu bởi việc nối lại mối liên hệ bất hảo với Scorpio và do đó có tầm quan trọng nào đó với kẻ hữu quan. Bộ tộc mà Herakles là chiến sĩ bị một bộ tộc rất dã man (Scorpio thuộc về bộ tộc này) tấn công; kế hoạch của bộ tộc Scorpio là đánh úp bộ tộc kia và tàn sát nó để hiến tế cho thần linh, còn nếu thất bại thì sẽ tự tử để nhờ vậy có được quyền năng hành hạ kẻ thù mình từ bên kia cửa tử. Họ cử hành những nghi thức pháp thuật có bản chất giống như Obeah và mặc dù làm lén lút nhưng dường như Herakles cũng biết kế hoạch cuối cùng tự tử vốn cốt yếu cho sự thành công của trọn cả kế hoạch hoạt động bên kia cửa tử, vì lúc bấy giờ những loại bùa quái đản với nhiều “lời nguyền rũa” và “thề thốt” khủng khiếp mới có hiệu lực: xét theo biểu kiến thì kết quả ấy càng khủng bố được kẻ thù bao nhiêu thì càng được họ đánh giá cao bấy nhiêu. Cuộc tấn công thất bại cho nên họ xúc tiến việc thi hành phương án thay thế cho sự chiến thắng tức là tự tử tập thể với những nghi thức dễ sợ. Một phần vì tôn giáo của mình không cho phép tự tử, một phần vì xúc động với những nỗi sợ hãi mê tín dị đoan, một phần vì nghĩ rằng đám người dã man ấy có thể trở thành những kẻ nô lệ vạm vỡ, đắc lực, cho nên Herakles đã can thiệp cứu được một số người bắt làm nô lệ cho mình. Về sau này thì đám người ấy lại âm mưu ám sát Herakles, cho nên y phải đem chúng ra hành huyết; thế là lại bắt đầu một chuỗi dài những sự chống đối nhau của những kẻ thù truyền kiếp lần này diễn ra trên trái đất.
Xét về sự mật thiết trong mối liên hệ giữa các cá nhân kéo dài trong nhiều trăm kiếp, ta có thể lưu ý thấy rằng từ lúc này trở đi, một số người trong nhóm lớn hơn nhóm 1.200 năm và nhóm 700 năm (số người mà ta có thể gọi là “Thị tộc” để phân biệt với nhóm lớn hơn); trong khi đã đi khắp mọi xứ sở trên thế giới thì nói chung vẫn tụ tập với nhau và nhất là Sỉrius thì ta thấy hiếm khi nào chịu kết hôn bên ngoài vòng nhóm nhỏ ấy. Xét tổng quan thì ta lưu ý thấy rằng đôi khi có sự qui tụ của trọn cả Thị tộc ấy chẳng hạn như ở Kim môn thành khi Mars làm vua, ở Peru khi Mars là Hoàng đế, ở vùng lục địa gần Bạch đảo dưới quyền cai trị của Đức Bàn Cổ, trong các phân chủng thứ hai và thứ ba lúc khởi nghiệp và lúc di dân – ta chỉ kể ra vài ví dụ trong số nhiều ví dụ, Herakles té ra là một loại người ưa chinh chiến đeo bám theo Mars; Sirius là loại người hiếu hòa hơn liên tục theo gót Mercury, Alcyone cũng giống như vậy cùng với Mizar. Tuy nhiên có nhiều người thuộc về nhóm lớn hơn mà chúng ta rất quen thuộc trong thời sơ khai thì dường như đã bị rơi rớt dọc đường cho nên chúng tôi không gặp họ trong kiếp này; một số người có thể hiện nay còn đang ở trên cõi trời. Hội Thông Thiên Học là một ví dụ khác về việc qui tụ cũng các Thị tộc này, những người nào đến với nó vào mọi lúc thì đều là bạn cũ. Lại có một số người như Corona mãi tới nay còn đang chờ dịp thuận tiện để được lâm phàm.
Các chuyến tàu tiếp tục cập bến trong một thời gian dài, chỉ ngưng lại khi xảy ra thảm họa năm 75.000 trước Công nguyên; như vậy việc phát biểu đóng cửa không cho loài thú ngoi lên thành người chỉ hiển nhiên áp dụng cho trường hợp chúng chưa phát triển được thể Thượng trí. Những con khỉ có hình người mà H. P. Blavatsky bảo là vẫn còn được phép nhập vào xác người vốn thuộc về giới động vật của Mặt trăng chứ không phải giới động vật của Trái đất; chúng chiếm hữu những cơ thể do loài người “không có trí gây ra tội lỗi”, chúng chính là những con khỉ đột, hắc tinh tinh, đười ươi, khỉ lớn và vượn. Ta có thể tìm thấy chúng ở châu Phi và chúng có thể nhập thể nơi những giống dân thuộc loại Lemuria rất thấp kém hiện nay vẫn còn tồn tại.
Khi trở về tới năm 220.000 trước Công nguyên nơi Kim môn thành thì ta thấy Mars cai trị ở đó trên cương vị là Hoàng đế được kế thừa tước hiệu “Minh Vương” vốn được truyền thừa từ các bậc đại Điểm đạo đồ thời sơ khai đã cai trị trong quá khứ. Mercury là bậc Đạo trưởng đứng đầu Quốc giáo. Thật đáng lưu ý khi ta thấy hai đấng này cùng bên nhau trải qua nhiều thời đại; người luôn luôn là nhà Cai trị, Chiến sĩ, người kia luôn luôn là nhà Giáo dục, Tu sĩ. Có một sự kiện cũng rất đáng lưu ý là chúng tôi chưa bao giờ thấy Mars chiếm một xác nữ trong khi Mercury thỉnh thoảng có mang xác nữ.
Vào lúc đó Thị tộc đã qui tụ được nhiều người. Hoàng thái tử bây giờ là Vajra, còn quan chỉ huy đội Cấm vệ quân là Ulysses, xưa kia đã từng thành công khi trấn đóng nơi biên ải. Đội cấm vệ quân này là một đạo binh được ưu tuyển ngay cả lính thường cũng thuộc giới thượng lưu và có trách nhiệm bảo vệ cung đình; người ta giả định rằng chúng không phải đi xa chinh chiến mà đúng hơn là chỉ nghênh ngang trong những bộ đồng phục lộng lẫy, hộ tống bậc quân vương trong khi có nghi lễ để cho thêm phần huy hoàng. Tuy nhiên sau này khi Ulysses chết đi thì Vajra lại trở thành thủ lĩnh của Cấm vệ quân, y thuyết phục vua cha cho phép mình đem quân đi tuần tiểu và tham gia chiến dịch; vốn luôn luôn là một kẻ hiếu động, ngồi yên một chỗ không được, y không bằng lòng sống cảnh xa hoa phô trương cho nên đám lính dưới quyền y vốn ngưởng mộ y vì lòng can đảm và máu phiêu lưu cũng sẵn lòng đánh đổi những tấm hộ tâm kính bằng vàng lấy những chiếc áo giáp chinh chiến hà khắc hơn. Trong số đó ta thấy có một nhóm người thuộc Thị tộc: Herakles có mặt cùng với Pindar, Beatrix, Gemini, Capella, Lutetia, Bellona. Apis, Arcor, Capricorn, Theodoros, Scotus và Sappho. Herakles có ba tên thị đồng là ba thanh niên Tlavatli bị cha của mình bắt làm tù binh và giao cho y coi sóc là Hygeia, Bootes và Alcmene. Đám lính rõ rệt là rất quậy, buông thả trong những cuộc chè chén hoan lạc, rồi phá phách khắp thành thị, nhưng chúng có công là biết tôn trọng học thức, biết kính trọng các vị tu sĩ và hộ pháp cho những nghi lễ tôn giáo coi đó là một phần trong bổn phận đối với Cung đình. Chúng có một bộ luật danh dự nào đó trong nội bộ và giữ rất nghiêm nhặt, bao gồm cả việc bênh vực người yếu. Nhà chúng cũng thanh nhã theo kiểu thời thượng mặc dù chưa xứng hợp với các ý tưởng thời nay. Cái chết của Ulysses tức thủ lĩnh đội Cấm vệ quân không thể diễn ra mà không ai chú ý, vì nó liên quan tới những sự ràng buộc không thể xóa bỏ được giữa ba nhân vật chính yếu hữu quan. Hoàng đế Mars đã giao phó cho vị thủ lĩnh Cấm vệ quân việc chăm sóc con trai của mình là Vajra, một chàng trai liều mạng và táo bạo; lúc bấy giờ ở Kim môn thành đã chín muồi những âm mưu nguy hiểm và việc bắt cóc được bản thân Hoàng Thái tử ắt là một chiến công hiển hách đối với những kẻ âm mưu. Vì thế cho nên Ulysses không cho phép Hoàng Thái tử đi ra khỏi phạm vi Cung đình, điều mà chàng thanh niên này rất ghét. Có một ngày, vị thủ lĩnh Cấm vệ quân và Hoàng Thái tử đang ngồi cách không xa Cung đình bao nhiêu thì một nhóm kẻ âm mưu rất liều lỉnh bò vào núp đằng sau một số bụi rậm và đột nhiên nhảy bổ vào hai người trên. Hoàng Thái tử bị đánh cho bất tỉnh, nhưng Ulysses đứng giang chân chiến đấu dũng cảm chống lại những kẻ tấn công rồi kêu cứu. Người ta đã nghe thấy tiếng kêu của y cho nên khi y máu me đầm đìa gục xuống trên xác của người chủ còn trẻ tuổi sau khi bị đâm nhiều vết thương thì một số lính trong đám Cấm vệ quân ùa tới và đám âm mưu co giò bỏ chạy. Hai cái xác mê man được để lên cáng khiên vào ngay trước tận Ngai vàng trong Cung điện nơi Hoàng đế đang ngự và đặt dưới chân ngài. Vị thủ lĩnh Cấm vệ quân đang hấp hối nhướng mắt lên nhìn Hoàng đế thều thào: “Tâu bệ hạ, xin tha lỗi cho tôi, thần đã làm hết sức mình”.
Đức Vua cúi xuống, nhúng ngón tay vào máu đang trào ra từ ngực của người thủ lĩnh Cấm vệ quân, ngài dùng ngón tay thấm máu ấy dí vào trán của người đang hấp hối, vào trán của chính mình và bàn chân của mình rồi vang vang thốt lên lời nói sau đây trong im lặng : “Nhờ vào máu đã được chảy ra phục vụ cho ta và con của ta, sự ràng buộc giữa chúng ta sẽ chẳng bao giờ bị cắt đứt. Hỡi kẻ tôi tớ và người bạn trung thành, ngươi hãy an tâm lìa trần”.
Những lời ấy khi lọt đến tai của người hấp hối đã trở thành nghễnh ngãng cũng đủ làm cho Ulysses mỉm cười từ giả cõi đời. Hoàng Thái tử còn trẻ tuổi chỉ bị bất tỉnh cho nên sau đó lại hồi sinh. Và sự ràng buộc ấy đã kéo dài hết thiên niên kỷ này tới thiên niên kỷ khác để trở thành sự ràng buộc giữa Chơn sư và đệ tử, mãi mãi không thể chia lìa được.
Trong một thời kỳ dài thì cuộc đời của Herakles chẳng có gì đáng chú ý. Khi y mang xác đàn ông thì đó là những cuộc đời đầy chinh chiến, còn khi mang xác đàn bà thì cuộc đời ấy sinh đẻ biết bao nhiêu đứa con.
Việc tà thuật lan tràn ở châu Atlantis đã dẫn tới cuộc đại thảm họa thứ nhì vào năm 200.000 trước Công nguyên, chỉ để lại di tích là một hòn đảo khổng lồ Ruta và Daitya của một đại lục đã từng nối liền châu Âu, châu Phi với châu Mỹ. Các hòn đảo này còn tồn tại mãi cho tới tai biến vào năm 75.025 trước Công nguyên, tai biến ấy đã nhận chìm chúng dưới mặt nước của đại dương mà giờ đây ta gọi là Đại tây dương. [5].
Trong vòng 100.000 năm sau thời điểm 200.000 năm trước Công nguyên, châu Atlantis rất thịnh vượng, xây dựng nên một nền văn minh hùng mạnh nhưng rất xa hoa. Trung tâm của nó ở Kim môn thành – tên này vẫn còn được duy trì – nhưng nó đã bành trướng ra khắp thế giới tới cả tận Phi châu lẫn phương Tây. Khốn thay, tiếp theo cùng với sự bành trướng văn minh này cũng có sự phổ biến kiến thức giúp người ta kiểm soát được thiên nhiên mà khi được dùng vào mục đích ích kỷ thì lại trở thành tà thuật.
Các thành viên của Thị tộc cũng ít nhiều giáng lâm trong giống dân này, đôi khi sinh ra trong những gia đình dính mắc sâu vào đó rồi lại ly khai, đôi khi nấn ná cùng với nó để bị ô nhiễm thêm một chút. Ở đây ta có thể ghi chép lại một số kinh nghiệm của Alcyone đã thường làm cho y đau khổ dưới dạng những giấc mơ trong những kiếp sau này [6].
Chúng xảy ra vào một kiếp ở thời điểm khoảng 100.000 năm trước Công nguyên. Lúc bấy giờ Corona là Minh vương ở Kim môn thành; Mars là tướng dưới quyền của Corona, còn Herakles là vợ của Mars. Người ta có âm mưu một cuộc nổi loạn, một người có kiến thức kỳ lạ độc ác – một vị Hắc diện Tinh quân kết bè với đám Tinh linh hắc ám trên Trần thế tạo thành “Vương quốc Pan” gồm những sinh linh nửa người nửa thú vốn là nguyên bản của thần Dê trong thần thoại Hi Lạp – dần dần tụ tập được xung quanh mình một đội quân hùng hậu tôn y lên làm Vua, Vua của Mặt trời Nửa đêm, Vua U minh nổi loạn chống lại Minh vương. Tục thờ cúng mà y lập nên với bản thân y là ngẫu tượng trung tâm – những ảnh tượng lớn của chính y được đặt trong đền thờ vốn đầy tham dục và quậy phá khiến cho người ta tha mãn được những cơn đam mê đầy thú tính. Ngược lại với Hang động Chính đạo để được Điểm đạo nơi Kim môn thành, y lại lập nên Hang động Tối đen để cử hành những bí pháp của Pan, tức là vị thần Trần tục. Tất cả đều diễn ra hướng tới một cuộc đại thảm họa khác.
Cách đây chừng 120 kiếp, Alcyone là con của một người theo những nghi thức quái đản ấy của phái thờ cúng hắc ám, nhưng bản thân Alcyone lại lãnh đạm vì cảm thấy dội lại trước những cuộc hoan lạc đầy thú tính đã ràng buộc đa số những tín đồ. Nhưng tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, y lại rơi vào cái bẫy mồi chài do sắc đẹp của phụ nữ và chuốc lấy một số phận bi thảm. Ta có thể tường thuật lại câu chuyện ấy vì nó soi sáng cho tình huống sau này khi Quần tiên hội đã tuyên cáo một số phận nặng nề cho châu Atlantis.
[1] Các thời khoảng này phải chỉ được xem là lâm thời, thời khoảng giữa lúc chết và lúc tái sinh trong nhóm này và nhóm nêu dưới đây chỉ tương đối vào khoảng những con số ấy.
[2] Các Đấng này đã từng một lần là Ngài Thomas More và Thomas Waughan thuộc phái Philalethe.
[3] Trong lịch sử sau này ta biết đó là Julius Cæsar.
[4] Xem lời nói đầu về các tên gọi này và những tên gọi khác.
[5] Người ta thường cho rằng đó là tai biến xấp xỉ vào năm 80 ngàn trước Công nguyên.
[6] Xem Vén màn Bí mật thời gian, tạp chí nhà Thông Thiên Học số tháng 5 năm 1910.
CHƯƠNG IX
TÀ THUẬT Ở CHÂU ATLANTIS
Trích từ CON NGƯỜI: Từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và rồi sẽ Đi về đâu
(MAN: Whence, How and Whither)
Tác giả C. W. Leadbeater - Bản dịch www.thongthienhoc.com
Trích đoạn 1 hồi đoạn
Alcyone đang nằm lim dim trên một bờ suối cỏ xanh mướt thoai thoải dốc xuống một con suối nhỏ chảy róc rách. Khuôn mặt chàng thẩn thờ thậm chí đăm chiêu phản ánh tâm trí chàng đang rối bời. Chàng là con trai trong một gia đình giàu có và đầy thế lực giai cấp tăng lữ, tu sĩ của dòng “Mặt trời Nửa đêm” đã khấn nguyện phục vụ cho các Thần linh của Thế giới U minh mà các tu sĩ mưu tìm trong bóng đêm tối mịt, trong những hang động tối đen dưới mặt đất mà cửa hang dẫn xuống những hành lang càng ngày càng đi xuống những độ sâu chẳng ai biết là bao nhiêu.
Vào lúc này các quốc gia văn minh nhiều nhất ở Châu Atlantis đã chia thành hai phe đối lập: Một phe qui phục cựu Kim môn thành mà họ coi là Thánh đô, duy trì truyền thống thờ cúng của dân tộc mình tức là thờ cúng Mặt trời – Mặt trời đẹp đẻ trong lúc mọc lên, khoác lấy những màu sắc rực rỡ của buổi bình minh, vây quanh là đám thanh niên thiếu nữ rạng rỡ đi theo tùy tùng, Mặt trời ở thiên đỉnh lộng lẫy với sức mạnh chói lòa khi ở ngay đỉnh đầu giữa trời, tỏa những tia sáng rực rỡ đầy sức sống và sức nóng; Mặt trời ngay khi lặn cũng vẫn tưng bừng chạm vào những đám mây với những màu sắc dịu dàng hiếm có nhất và chia tay bằng lời hứa hẹn rồi sẽ trở lại. Dân chúng thờ cúng Mặt trời bằng những vũ điệu đồng ca, bằng hương hoa, bằng những bài hát vui tươi, bằng những đồ hiến tế vàng và đá quí, bằng nụ cười và những bài đồng dao, bằng những trò chơi và những môn thể thao vui thú. Minh vương cai trị đám con của Mặt trời Chói lọi và vẫn duy trì sự cai trị ấy không bị thách đố trong nhiều thiên niên kỷ dài dằng dặc. Nhưng dần dần các vương quốc ngoại biên do những vị phụ tá minh vương cai trị đã trở nên độc lập và chúng bắt đầu liên kết với nhau thành một liên bang, tụ tập xung quanh một người đã xuất hiện trong đám thần dân, một nhân vật đáng chú ý nhưng đầy ác ý.
Người này tên là Oduarpa có bản chất đầy tham vọng và quỉ quyệt; y đã nhận thức được rằng để cho liên bang được ổn định ngỏ hầu đương đầu với Minh vương thì mình cần phải cầu viện tới tà thuật, giao ước với cư dân của Thế giới U minh và lập nên một tục thờ cúng thu hút thiên hạ bằng những khoái lạc của giác quan và những quyền năng quỉ quái âm u mà nó đặt vào trong tầm tay của các cao đồ tà đạo. Do giao ước ấy, bản thân y có thể kéo dài tuổi thọ tới một thời kỳ bất bình thường và khi lâm chiến y khiến cho gươm đao không đâm thủng được mình bằng cách làm hiện ra một áo khoác kim loại phủ lên trên thân hình, nó gạt phắc những vũ khí đi chẳng khác nào một áo giáp bằng kim loại. Y nhắm tới quyền lực tối cao và đang ngon trớn đạt tới mức ấy, y mơ ước mình sẽ ngồi chễm chệ trên ngai vàng trong Cung điện của Kim môn thành.
Cha của chàng thanh niên mà ta đang nói tới là một trong những người bạn thân cận nhất của Oduarpa, biết được các âm mưu của y và cả hai đều hi vọng rằng chàng thanh niên ấy sẽ hiến mình để xúc tiến tham vọng của cha ông. Nhưng chàng trai lại có những mơ ước hi vọng của riêng mình được âm thầm ấp ủ trong nội tâm; qua linh ảnh vào ban đêm, chàng đã thấy khuôn mặt uy nghi của Mars, một vị tướng dưới quyền của Hoàng đế Corona; Mars nhìn đăm đăm bằng đôi mắt đầy ý khuất phục và sâu sắc khiến cho chàng nghe vọng được từ xa những lời lẽ sau đây: “Alcyone, con thuộc về phe ta, là thần dân của ta và chắc chắn con sẽ đến với ta khi biết con thuộc về phe ta. Đừng cam kết thệ nguyện với những kẻ thù của ta vì con thuộc về phe ta”. Và chàng đã thệ nguyện là thần dân, là chư hầu cho vị chúa tể ấy.
Alcyone đang nghĩ tới điều đó khi chàng nằm mơ màng bên bờ suối thì lại có một ảnh hưởng khác tác động lên chàng, làm cho dòng máu của chàng nóng lên chạy rần rần trong huyết quản. Bất mãn với việc chàng thờ ơ về sự thờ cúng – thậm chí còn dội lại với việc ấy, ngay cả với những nghi thức bề ngoài là hiến tế thú vật và dâng rượu lễ - cha chàng và Oduarpa đã lên kế hoạch lôi kéo chàng vào các bí pháp ấy qua sự quyến rũ của một cô gái tên là Cygnus; cô xinh đẹp và da ngâm ngâm đen như bầu trời nửa đêm rải rác ánh sao, cô yêu chàng say đắm nhưng cho đến nay chưa chinh phục được trái tim của chàng trai trẻ bằng những trò mồi chài của mình. Giữa đôi mắt long lanh đầy tham dục của cô với ánh mắt đã bị si tình hết một nửa của chàng vẫn lượn lờ cái khuôn mặt rực rỡ trong linh ảnh của chàng và chàng lại nghe văng vẳng tiếng thì thào gây xao xuyến: “Con thuộc về phe ta”.
Tuy nhiên, về lâu về dài thì cho đến nay cô cũng đã chinh phục được chàng – cô đã bị mẹ của mình, quả thật là một mụ phù thủy, thuyết phục về nhiệm vụ ấy khi bảo cô rằng chỉ mỗi một mình cô mới có thể chiếm trọn được tình yêu của chàng trai ấy – bằng cách khiến chàng hứa hẹn là phải đi theo cô xuống các hang động dưới đất trong đó người ta cử hành các nghi thức pháp thuật thu hút đám cư dân ở cõi U minh xuất đầu lộ diện để thu thập được kiến thức bị cấm đoán biến hình người thành ra hình thú, như vậy tạo cơ hội để cho buông thả những cơn đam mê đầy thú tính tiềm ẩn nơi con người, những nỗi đam mê dâm dục và sát sinh. Cygnus đã tác động lên tâm hồn chàng với tài khéo mà chính nỗi đam mê của cô nghĩ ra đã quạt lửa cho sự lãnh đạm của chàng, quả thật nó chẳng được bền lâu nhưng cũng đủ ấm theo kiểu lửa rơm trong khi đang tồn tại. Và cho đến nay thì cơn đam mê ấy đang bùng cháy nơi chàng và khả năng cám dỗ của cô đã lôi cuốn được chàng. Đó là vì cô vừa mới chia tay với chàng sau khi dụ dỗ chàng hứa hẹn sau khi mặt trời lặn sẽ đến gặp cô gần hang động nơi cử hành các bí pháp; và chàng đang trăn trở giữa nỗi ao ước đi theo cô và sự dội lại trước những quang cảnh mà chàng phỏng đoán là người ta trông mong chàng sẽ tham gia vào. Mặt trời đã lặn dưới đường chân trời và bầu trời đã tối đen trong khi Alcyone vẫn còn nằm mơ màng; chàng nhún vai bắt đầu lê chân nhưng giờ đây chàng đã quyết định và quay gót hướng về nơi hò hẹn.
Chàng rất đổi sửng sốt khi thấy một đám đông đáng kể đã tụ tập ở địa điểm ấy; cha chàng đã ở đó cùng với các tu sĩ bằng hữu, còn Cygnus trên đầu có một vầng trăng lưỡi liềm là biểu hiệu của cô dâu và một đoàn phù dâu vây quanh, tất cả đều mặc xiêm y mỏng bằng the có đính các ngôi sao mà người ta có thể nhìn thấy xuyên qua đó đôi tay chân mềm mại màu ngâm ngâm sáng bóng lên; một đoàn thanh niên bằng tuổi chàng trong số đó chàng nhận ra có những người bạn thân thiết nhất của mình cũng đang chờ đợi, mặc quần áo bằng da thú có lốm đốm, dùng những cái chủm chọe bạc vỗ vào nhau khi họ nhảy múa xung quanh chàng giống như đám thần đồng quê.
Họ reo vang: “Hoan hô Alcyone, con cưng của Mặt Trời Tối Đen, con cháu của Đêm đen! Xem này, Mặt trăng và các Ngôi sao đang chờ đợi mi. Nhưng trước hết mi phải đoạt được nàng từ tay chúng ta là những người đang bảo vệ nàng”.
Thình lình nàng vuột ra khỏi tầm tay của đám vũ sinh rồi chui tọt vào trong bóng tối âm u của cái hang động đang há hốc miệng ra trước mặt; còn Alcyone bị người ta túm lấy, lột hết quần áo rồi quẳng cho chàng một lớp quần áo bằng da giống như những người khác; đê mê, điên dại, chàng ù té chạy đuổi theo nàng giữa tiếng cười la và tiếng reo hò: “Hay quá, chàng thợ săn trẻ tuổi hãy nhanh chân lên kẻo những con chó săn sẽ quật ngã con nai của chàng”.
Sau vài phút, Alcyone cùng với đám đông hò reo bám theo chàng sát gót đã chạy ùa ra những hang động phía ngoài để đi tới một sảnh đường rộng lớn chói lòa ánh sáng đỏ như son. Giữa sảnh đường nhô lên một cái tán khổng lồ màu đỏ lốm đốm những vết lớn phản xạ ánh sáng giống như những tia máu lửa lóe lên; bên dưới cái tán ấy là một ngai bằng đồng có cẩn vàng, phía trước đó là một vực sâu há hoác miệng ra từ đó lóe lên những lưỡi lửa nhợt nhạt gầm gừ. Những đám khói nhang kỳ quặc nặng nề lấp đầy bầu không khí làm đê mê điên dại.
Đám đông đẩy chàng tới trước và chàng lọt vào một cơn lốc các vũ công đang say sưa cuồng loạn hò reo, quẳng vào bầu không khí những tiếng lượn lờ xung quanh cái ngai có che tán và kêu rống lên: “Oduarpa! Oduarpa! Xin hãy xuất hiện, chúng tôi đang ngóng trông ngài!”.
Một tiếng sấm nho nhỏ bắt đầu gầm lên trong hang động rồi càng ngày càng lớn lên và chấm dứt bằng một tiếng sấm dễ sợ ngay trên đỉnh đầu; những ngọn lửa bốc lên và ngay giữa những ngọn lửa ấy hiện ra hình dáng uy nghi của Oduarpa với pháp y màu xám như thép, oai vệ, nghiêm trang với khuôn mặt long trọng, thậm chí ủ rủ như gương mặt của một vị Tổng thiên thần sa đọa nhưng đầy uy dũng với lòng kiêu hảnh bất khuất và sự quả quyết cứng như sắt thép. Oduarpa ngồi chễm chệ trên ngai trong suốt diễn trình sau đó, im lặng và ủ rủ không tham gia vào đám náo nhiệt; y vẫy tay và thế là cơn hoan lạc cuồng dại bắt đầu, những vũ công man dại nhất tắm mình trong ngọn lửa đang táp qua bờ vực thẳm tung họ lên cao trên không trung. Alcyone đã nhác thấy Cygnus giữa đám thanh niên và thiếu nữ, chàng điên cuồng kích động chạy ùa về hướng của nàng; nàng lẫn trốn, đám hộ tống nàng cản trở chàng khiến cho chàng chỉ mới chạm vào nàng thì nàng đã lách người vuột khỏi tay chàng. Cuối cùng thì vừa thở hổn hển vừa nổi cơn hoang dại, chàng tuyệt vọng lao vào nàng, còn đám đông hộ tống chạy cười như nắc nẻ; mỗi chàng trai ôm lấy một cô gái, chàng nhảy bổ vào Cygnus ôm gọn nàng trong vòng tay mình.
Cơn hoan lạc càng ngày càng trở nên man dại, đám nô lệ xuất hiện mang theo những vại khổng lồ chứa rượu mạnh cùng với một đám khác mang theo những chiếc ly uống rượu. Đã say vì men rượu lại thêm hóa dại vì chạy lồng lên cho nên người ta bị ánh sáng nhợt nhạt nhận chìm vào trong cơn nhá nhem của dục vọng cháy rực. Tốt hơn là ta không nên kể tiếp cảnh hoan lạc ấy nữa.
Nhưng xem này, từ cái hành lang mà Oduarpa xuất hiện lại có một đám rước man rợ; những con vật hai chân lông lá xồm xoàm, tay dài nhưng chân có móng vuốt, đầu thú nhưng tóc lại lòa xòa xỏa xuống vai ghê tởm, gây khiếp hãi, không phải là người thế nhưng làm cho con người phải rùng mình. Chúng cầm trong bàn tay có móng vuốt của mình những ve thuốc và những hộp dầu xoa; và khi hòa lẫn vào đám vũ công man dại nhất chúng chìa những thứ ấy ra cho đám khách mua vui đang nổi cơn lên vì đã uống nhiều rượu và thỏa cơn dâm dục. Những người này thoa dầu xoa trong hộp lên tay chân của mình, uống nước trong ve và xem này họ nằm lăn ra bất tỉnh ngổn ngang trên mặt đất; nhưng từ mỗi đống người ngổn ngang ấy bốc lên một hình thú vật, gầm gừ như đang vồ mồi, bay vút ra khỏi hang động biến dạng vào đêm đen của bầu trời bên ngoài.
Những vị Thần linh chánh đạo giúp cho người đi bộ du lịch gặp gỡ những sự hiện hình của trung giới này y như ma quỉ, dữ tợn và vô lương tâm như loài thú, độc ác và quỉ quyệt như loài người! Nhưng những vị Thần linh chánh đạo đang yên ngủ cho nên chỉ có đám chư hầu của Mặt Trời Nửa Đêm, loài ma quái, yêu tinh và đủ thứ tà vạy khác là được xổng chuồng. Khi đám tạo vật ấy quay lại thì mép của chúng nhỏ những giọt máu, da của chúng lấm lem những vết dơ; trước khi buổi bình minh ló dạng thì chúng lại phủ phục lên những hình người đang nằm ngổn ngang trên sàn của hang động, chìm vào trong đó rồi biến mất.
Thỉnh thoảng Oduarpa lại tổ chức những cuộc truy hoan như thế và dùng chúng để gia tăng sự thống trị của mình đối với thần dân; y lập nên những nghi thức tương tự ở nhiều nơi, ở đâu bản thân y cũng là nhân vật trung tâm, trở thành một đối tượng thật sự được sùng bái và dần dần qui tụ lại thần dân trung thành với mình cho đến khi được thừa nhận là Vua. Y quan hệ với các cư dân của thế giới U minh – như ta có nói trước kia – thời ấy nó được gọi là ‘Vương quốc Pan’ khiến cho y có thêm nhiều quyền lực, y có những người phụ tá đáng tin cậy - gắn bó với y vì cùng chung sự hiểu biết và có tham gia vào những điều ghê tởm ma quái của cõi ấy – họ sẵn sàng nhanh chóng thi hành mệnh lệnh của y.
Cuối cùng thì y cũng thành công, tụ tập được một đạo quân hùng mạnh và bắt đầu một cuộc trường chinh chống lại Minh vương, tiến công về phía Kim môn thành. Y hi vọng sẽ chinh phục và làm người ta khiếp sợ chẳng những bởi các cuộc tấn công dữ dội với những vũ khí mà còn bởi sự khủng khiếp gieo rắc qua đám đồng minh ác ôn cùng với việc đám phù thủy tà đạo biến hình như ma quỉ thành ra dạng thú vật. Bản thân y có một đội vệ binh là những con thú pháp thuật vây quanh mình, là những hình tư tưởng dục vọng đầy quyền năng làm hiện hình ra thể xác, canh gác y và nuốt chửng bất cứ ai đến gần y với ý đồ thù nghịch. Khi chiến cuộc đang hồi bất phân thắng bại thì Oduarpa đột nhiên tháo củi xổ lồng cho đám đồng minh ma quỉ này tấn công kẻ thù mình, chúng sẽ ùa ra nhe nanh giương vuốt gieo rắc sự hoảng loạn trong đám đối thủ đang bị sửng sốt như trời trồng. Khi quân thù bỏ chạy thì y phái những loài ma quỉ nhanh chân này đuổi theo và đội quân phù thủy cũng biến thành những hình dạng thú ngấu nghiến xác người chết.
Thế là y cứ thẳng đường tiến bước lên chinh phục miền bắc cho đến khi y tới gần Kim môn thành nơi đồn trú cuối cùng của đạo quân Minh vương. Alcyone chiến đấu trong quân đội như một người lính, một phần là do bùa mê thuốc lú, thế nhưng vẫn tỉnh táo để đau nhói trong lòng trước những cảnh xung quanh; còn Cygnus với những người phụ nữ khác cũng đi theo đám binh lính để hỗ trợ. Khi đến ngày chiến đấu quyết định đã ló dạng thì đạo quân triều đình do chính Minh vương Corona dẫn đầu, và cánh quân bên tay phải dưới quyền chỉ huy của vị tướng thân tín nhất của Minh vương là Mars. Đêm hôm trước, một lần nữa Alcyone lại thấy linh ảnh và nghe thấy tiếng nói thân thương: “Alcyone, con đang chiến đấu chống lại vị chúa tể thật của mình, ngày mai con sẽ gặp ta, mặt đối mặt. Bấy giờ con hãy bẻ gãy thanh gươm phản loạn của mình rồi qui phục theo ta; con sẽ chết bên cạnh ta và như vậy lại tốt hơn”.
Và điều ấy quả thật đã xảy ra. Đó là vì trong trận chiến khốc liệt, khi quân đội của triều đình phải qui hàng, Minh vương bị giết chết thì Alcyone nhìn thấy tướng Mars (khuôn mặt hiện ra trong linh ảnh của mình) dũng cảm chiến đấu nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ. Chàng kêu thét lên, bẻ gãy thanh gươm của mình, chụp lấy một ngọn giáo lao mình vào phía sau lưng Mars, hung tợn thọc ngay ngọn giáo xuyên qua một tên lính đang đánh tập hậu Mars. Vào lúc đó Oduarpa giận điên lên bèn đột kích Mars từ sau lưng và bằng một tiếng kêu vang vọng qua suốt chiến trường, y triệu tập Cygnus, dùng bùa mê nhanh chóng biến nàng thành một con thú dữ tợn, nhe nanh xông vào Alcyone đang bất tỉnh vì mất máu. Nhưng ngay khi hành động như vậy tình yêu suốt đời nàng đã lộ ra từ trong linh hồn Cygnus để cứu nàng vì tình yêu dào dạt ấy đã biến hình dạng một con thú thù ghét vồ mồi trở lại thành một phụ nữ đang yêu say đắm và với nụ hôn tiều tụy sắp lâm chung trên khuôn mặt hấp hối của Alcyone nàng trút hơi thở cuối cùng.
Herakles (vợ của Mars) bị Oduarpa bắt làm tù binh trong trận tấn công Kim môn thành để hoàn tất chiến công; nàng đã công phẩn đẩy lùi sự tiến bước của y và chụp lấy một con dao găm dùng hết sức bình sinh đâm vào y. Con dao găm trượt qua cái áo giáp kim loại của y khiến y cười khanh khách, quật nàng xuống đất làm nhục nàng trong khi nàng đang nằm bất tỉnh: khi nàng hồi tỉnh thì y triệu tập những con thú khủng khiếp và chúng xé toạc nàng ra từng mảnh rồi nuốt nàng ngấu nghiến.
Oduarpa đăng quang trên một đống xác chết, vây quanh là đám vệ binh thú vật và nửa người nửa thú, y lên ngôi hoàng đế ở Kim môn thành, tiếm đoạt tước hiệu Minh vương đã bị ô uế. Nhưng chiến thắng của y chẳng được bao lâu vì Đức Bàn Cổ Vaivasvata đã tổ chức một đạo quân hùng hậu mở cuộc trường chinh chống lại y; chỉ nội sự có mặt của Ngài cũng khiến cho đám công dân của vương quốc Pan phải co giò bỏ chạy, trong khi Ngài hủy diệt những hình tư tưởng nhân tạo do tà thuật tạo ra. Một cuộc chiến thắng áp đảo đã làm tan tác đạo quân của hoàng đế Oduarpa, bản thân y bị nhốt trong một cái tháp mà y đã trốn vào đó trong cuộc tháo chạy tán loạn. Tòa tháp bị nổi lửa đốt, y chết khốn khổ, theo sát nghĩa là y bị đun nóng tới chết bên trong chiếc áo giáp bằng kim loại mà y đã làm hiện hình ra.
Đức Bàn Cổ Vaivasvata tẩy trược cho Kim môn thành, tái lập quyền cai trị cho Minh vương ở đó, giao chức vụ này cho một người đáng tin cậy để phục vụ Quần Tiên Hội. Mọi chuyện cũng chỉ tốt đẹp được một thời gian rồi dần dần phe tà lại chiếm được quyền lực và trung tâm phía nam một lần nữa lại mạnh lên cho đến khi cuối cùng thì cũng chính vị Hắc diện tinh quân tái sinh một lần nữa, lại chiến đấu chống vị Minh vương đương thời rồi tiếm vị ngai vàng. Thế là vị Thủ lĩnh của Quần Tiên Hội phải phán truyền lệnh tận diệt và phần Bình Luận Huyền Bí có tường thuật như sau: “Bậc Đại vương có Khuôn Mặt Sáng Ngời” – Minh vương – gửi thông điệp cho các vị thủ lĩnh anh em: “Hãy chuẩn bị, các Con của Chánh pháp, hãy đứng lên băng ngang qua đất liền khi nó vẫn còn khô ráo”. “Thần trượng của bốn Đấng Thiên tôn” đã được giơ lên. “Đã đến giờ, đêm đen đã sẵn sàng”. “Những đấng phục vụ cho bốn vị Thiên tôn” cảnh báo dân chúng của mình và nhiều người đã trốn thoát. “Các vị vua đến với thần dân trong những chiếc Vimanas [4] và chở họ tới xứ sở của lửa và kim loại (ở phía đông và phía bắc)” [5]. Những đợt hơi nổ, lụt lội và động đất đã hủy diệt Ruta và Daitya tức là những hòn đảo lớn của Châu Atlantis vốn là di tích của đại thảm họa năm 200.000 trước Công nguyên, chỉ có đảo Poseidonis là còn sống sót, đó là di tích cuối cùng của một lục địa đã từng một thời khổng lồ tức Châu Atlantis. Hai đảo Ruta và Daitya bị hủy diệt năm 75.025 trước Công nguyên khi nó cuối cùng bị chôn vùi trong lòng đại dương.
CHƯƠNG X
NỀN VĂN MINH ATLANTIS [1]
Trích từ CON NGƯỜI: Từ đâu tới, Sinh hoạt ra sao và rồi sẽ Đi về đâu
(MAN: Whence, How and Whither)
Tác giả C. W. Leadbeater
www.thongthienhoc.com
Các phân chủng của dân ATLANTIS cư trú ở nhiều xứ và đã xây dựng được nhiều nền văn minh rực rỡ. Ai Cập, Mesopotania, Ấn Độ, Bắc và Nam Mỹ, đều biết tới dân Atlantis; cáic Đế quốc mà họ dựng nên trường tồn rất lâu và đạt tới một trình độ huy hoàng mà dân Aryan chưa từng đạt tới. Các Chương từ XI tới XIII viết về Peru và xứ Chaldea trong tác phẩm này trình bày di tích của nền văn minh rực rỡ ấy và có thể thêm vào một số chi tiết bổ sung.
Ông Scott Elliot miêu tả Kim môn thành lừng danh như sau:
“ Vây quanh thành thị là một lâm viên quốc gia đẹp vô cùng. Rải rác trên một vùng rộng lớn có những biệt thự của lớp người giàu có. Ở phía Tây là một rặng núi nơi người ta lấy ra nước cung cấp cho thành thị. Bản thân thành thị được xây dựng trên dốc của một ngọn đồi vươn cao hơn vùng bình nguyên khoảng chừng 500 bộ Anh. Trên đỉnh đồi là cung điện của Minh vương cùng với những khu vườn ở giữa có một suối nước không bao giờ cạn phun lên, trước hết là cung cấp cho cung điện và các vòi nước trong vườn, rồi từ đó chảy theo bốn hướng rớt xuống những cái thác chảy vào một con kênh hoặc một hào nước xung quanh đất đai của cung điện, do đó ngăn cách đất đai với thành thị nằm ở phía bên dưới về mọi hướng. Từ con kênh lớn này có bốn con kênh nhỏ dẫn nước quanh bốn khu phố của thành thị, đến lượt chúng lại chảy xuống thác cung cấp nước cho một kênh dẫn khác chảy vòng quanh ở một độ cao thấp hơn. Có ba kênh dẫn như thế tạo thành các vòng tròn đồng tâm, kênh ngoài cùng và thấp nhất vẫn còn ở cao độ so với vùng bình nguyên. Con kênh thứ tư ở độ cao thấp nhất nhưng ở trên một bình nguyên hình chữ nhật tiếp nhận nước thường xuyên chảy xuống và đến lượt nó lại xả nước ra biển. Thành thị trải rộng trên một phần của bình nguyên, mãi cho tới bờ mép của hào nước lớn phía ngoài cùng, hào nước này chạy xung quanh nó và bảo vệ nó bằng một đường dẫn nước chảy dài khoảng 12 dặm trên diện tích 10 dặm vuông.
Như vậy, ta ắt thấy rằng thành thị được chia làm ba vành đai lớn, mỗi vành đai có những con kênh viền xung quanh. Đặc trưng của vành đai trên (vốn nằm ngay bên dưới mặt đất của cung điện) là một đường vòng tròn để chạy đua và các công viên rộng lớn. Hầu hết nhà cửa của các quan chức thuộc triều đình cũng nằm trên vành đai này, và ở đây ta cũng có một định chế mà thời nay không có điều gì tương ứng. Thuật ngữ “Nhà của người lạ’ gợi ý cho ta thấy dáng vẻ tồi tàn và môi trường xung quanh dơ dáy, nhưng đây lại là một dinh thự mà mọi khách xa lạ đến thăm thành thị có thể cư trú tùy ý bao lâu cũng được – lúc nào cũng được tiếp đải như là thượng khách của Chính quyền. Biệt thự của cư dân và các đền thờ khác rải rác khắp thành thị ở trên hai vành đai khác. Vào thời dân Toltec rất thịnh vượng thì dường như thật ra không có người nghèo khó – ngay cả bầu đàn thê tử của dân nô lệ phục vụ cho hầu hết gia đình cũng đều được cơm no áo ấm – nhưng có một số nhà tương đối nghèo ở vành đai thấp nhất về hướng Bắc cũng như phía bên ngoài của con kênh ngoài cùng hướng ra biển. Cư dân ở vùng này hầu hết là làm nghề liên quan tới tàu bè, nhà cửa của họ mặc dù riêng rẽ nhưng được xây dựng gần kề nhau hơn so với những vùng khác.
Có những thị trấn lớn khác được xây dựng trên vùng bình nguyên được bảo vệ bằng những con đê đất khổng lồ thoai thoải hướng về thị trấn và đôi khi được đắp thành nền trong khi ở mặt bên ngoài thì chúng đối diện với những phiến kim loại dài kẹp vào nhau. Những phiến này được nâng trên các đà gỗ lớn mà cột thẳng đứng xuyên sâu vào trong lòng đất, khi đã định vị được những thứ này, liên kết nó với những xà ngang nặng nề thì người ta gắn vào đó những phiến kim loại lợp chồng lên nhau giống như lớp vảy, thế rồi khoảng trống giữa công trình bằng đất và hàng rào được đổ đầy đất rồi đầm nén chặt. Toàn thể tạo thành một hàng rào hầu như không xuyên thủng được đối với gươm giáo, cung tên vốn là những vũ khí thông dụng thời đó. Nhưng một thành thị như thế tất nhiên chỉ chịu sự tấn công từ bên trên và dân Atlante tiến hành việc chế tạo ra các phi thuyền – ngày nay ta gọi là máy bay – đạt mức đỉnh cao tuyệt diệu; và nếu một đô thị như vậy bị tấn công thì người ta phóng những con chim sắt này lên bay lượn trên không, thả bom xuống thành thị, nó bung ra giữa không trung, phun ra một trận mưa hơi độc nặng nề hủy diệt sự sống của con người. Người ta có nói bóng gió tới những thứ này trong các cuộc xung đột được tường thuật lại nơi các anh hùng thi vĩ đại và kinh Puranas của người Ấn độ. Họ cũng có những vũ khí phóng ra những chùm tên đầu bốc lửa, rải rác đó đây khi chúng bay vèo vèo qua không trung giống như các hỏa tiển gây sát thương và nhiều vũ khí khác thuộc loại tương tự, tất cả đều được kiến tạo bởi những con người am tường về các ngành tri thức khoa học, cao cấp. Nhiều thứ vũ khí được miêu tả trong những quyển sách rất cổ nêu trên và người ta bảo rằng một số các Đấng cao cả đã ban cấp chúng. Kiến thức cần thiết để kiến tạo vũ khí chẳng bao giờ được công khai.
Chế độ điền địa của người Toltec sẽ được miêu tả ở các chương viết về Peru và việc không có đói nghèo, dân chúng nói chung an cư lạc nghiệp chủ yếu là do được cung cấp bởi một nền giáo dục sơ cấp phổ cập. Toàn thể hệ thống chính quyền đều được đấng Minh triết hoạch định vì lợi ích của tổng thể chứ không do các giai cấp đặc biệt vun vén cho lợi ích của riêng mình. Vì thế cho nên phúc lợi nói chung vô cùng cao hơn các nền văn minh hiện đại.
Khoa học đã tiến xa, vì việc sử dụng thần nhãn là chuyện bình thường, các quá trình trong thiên nhiên mà hiện nay hầu hết mọi người không thấy được thì thời đó dễ dàng quan sát. Việc ứng dụng vào nghệ thuật và tiểu thủ công nghiệp cũng thật là phong phú và hữu dụng. Các tia nắng đi xuyên qua kính màu được dùng để kích thích sự tăng trưởng của thực vật và động vật; việc trồng trọt theo khoa học được tiến hành cẩn thận để cải thiện các giống đầy triển vọng; người ta có làm thí nghiệm về việc lai giống; nghĩa là cho lúa mì lai giống với đủ thứ loại cỏ để tạo ra các loại mễ cốc khác nhau; còn việc toan tính tạo ra loài ong tò vò từ ong thường; và kiến trằng từ kiến thường tỏ ra không được như ý muốn [2] .
Quả chuối không có hột được tiến hóa ra từ loài tổ phụ giống như dưa gang cũng có rất nhiều hột chẳng khác nào dưa gang. Khoa học thời đó đã biết tới các lực mà hiện nay kiến thức về chúng đã thất truyền; một trong các lực ấy được dùng đẻ đẩy cả phi thuyền lẫn tàu thủy; một lực khác được dùng để biến đổi mối quan hệ của các vật thể nặng với trái đất sao cho trái đất sẽ đẩy chúng chứ không hút chúng, nhờ vậy khiến cho việc nâng những tảng đá khổng lồ lên một độ cao chót vót là chuyện dễ như trở bàn tay. Các lực tinh vi hơn những lực này không được ứng dụng theo kiểu máy móc mà được kiểm soát bằng quyền năng ý chí và sử dụng cơ chế đã được phát triển và hiểu biết đầy đủ về cơ thể con người vốn là “một cái đàn vina có cả ngàn dây”.
Người ta sử dụng nhiều kim loại và rèn đúc chúng được rất đáng hâm mộ; vàng bạc và hợp kim vàng đồng là những thứ được dùng nhiều nhất để trang sức và làm đồ gia dụng. Người ta thường chế tạo ra chúng bằng khoa luyện kim đan thay vì tìm kiếm trong vỏ trái đất; người ta cũng rất thường dùng nghệ thuật du nhập chúng vào các hệ thống trang trí nội thất để cho thêm phần phong phú, tiến hành với những màu sắc rực rỡ. Người ta dùng chúng để cẩn vào các áo giáp đủ thứ màu sặc sỡ; quần áo được diện trong những bộ đồ vía mặc đi đám rước hoặc trong những nghi lễ thường làm bằng kim loại quí, vào dịp đó người ta đội mũ bằng vàng, mặc áo giáp che ngực và bộ giáp che chân lên trên những chiếc áo thụng và những đôi vớ có màu sắc rực rỡ nhất – màu đỏ thắm, màu cam và một màu đỏ tía rất đẹp.
Thức ăn khác nhau đối với những giai cấp khác nhau. Đại khối quần chúng ăn thịt, cá và ăn cả loài bò sát – có lẽ người ta không nên nói ngay cả loài bò sát khi nhớ tới con rùa của các vị tổ phụ trong Thành thị. Xác của một con thú với bộ đồ lòng được xẻ ra ở vùng ngực và vùng bụng rồi treo lủng lẳng trên một đám lửa lớn; khi người ta đã nướng chín nó thì nó được lấy ra khỏi lửa, moi bộ đồ lòng ra đặt trên đĩa cho đám người tương đối thanh nhã hơn, còn đám dân hạ tiện hơn thì tụ tập xung quanh đám xương xẩu còn lại; thọc tay vào trong chọn lựa những món ngon – kiểu làm ăn này đôi khi xảy ra cãi nhau; phần còn lại được vứt đi hoặc quẳng cho gia súc, thịt thú được coi là đồ cúng tế. Các giai cấp cao hơn cũng ăn uống tương tự như vậy, nhưng đám trực tiếp thuộc về Triều đình thì chè chén bí mật hơn. Vị Minh vương và những người thân cận với Ngài dĩ nhiên chỉ ăn thực phẩm gồm có mễ cốc nấu theo đủ kiểu, rau, quả và sữa; người ta uống sữa dưới dạng chất lỏng hoặc chế biến thành nhiều thứ kẹo. Người ta cũng dùng nước trái cây phần lớn là làm đồ uống. Chúng tôi quan sát thấy một số vị cận thần và chức sắc trong triều đình, nơi chốn công khai cũng tham gia ăn uống đạm bạc như vậy, nhưng rồi lại lén lút lặng lẽ chuồn vào phòng riêng thưởng thức những món ăn ngon hơn, trong số đó có cá cũng ngon miệng không kém gì thời nay, đóng vai trò nổi bật.
Chính quyền vốn chuyên chính và vào thời oanh liệt của nền văn minh Toltec dưới triều Minh vương thì không có một hệ thống nào hay hơn đối với dân chúng; nhưng khi quyền năng không bị kiểm soát mà các Ngài vận dụng được trao vào tay những linh hồn non trẻ hơn thì bắt đầu có sự lạm dụng và nhiều chuyện rắc rối xảy ra, bởi vì ở đây cũng như bất cứ nơi nào khác dột từ trên nóc dột xuống, thượng bất chính hạ tắc loạn. Hệ thống này gồm những vị Thống đốc chịu trách nhiệm về phúc lợi và hạnh phúc cho tỉnh của mình, nếu có tội ác hoặc nạn đói xảy ra thì coi như là do họ sơ xuất hoặc bất lực. Họ được tuyển dụng chủ yếu từ giai cấp thượng lưu, nhưng những đứa trẻ đặc biệt có triển vọng được nhà nước biệt phái đi học các trường cao cấp để được huấn luyện phục vụ Quốc gia, bất cứ khi nào chúng được phát hiện ra. Bất kỳ chức vụ nào trong nhà nước cũng không phân biệt giới tính như hiện nay [3].Sự giàu có và xa xỉ gia tăng tột bực dần dần đã làm phương hại cho nền văn minh rực rỡ nhất mà thế giới đã từng chứng kiến. Tri thức bị bại hoại để phục vụ cho lợi ích cá nhân và việc kiểm soát những quyền năng thiên nhiên thay vì để phục vụ cho con người thì té ra lại dùng để áp bức con người. Vì thế cho nên Châu Atlantis mới bị sa đọa mặc dù những thành tựu của nó thật là huy hoàng và những Đế quốc của nó thật là hùng mạnh. Thế là việc lãnh đạo thế giới lại được trao cho Giống dân sinh sau đẻ muộn của nó là dân Aryan; mặc dù trong quá khứ giống dân này có uy tín đã đạt được nhiều thành tựu hoành tráng nhưng nó vẫn chưa đạt tới tột đỉnh vinh quang và quyền lực cho nên trong vòng vài thế kỷ sắp tới, nó sẽ vươn lên cao hơn cả Châu Atlantis lúc đạt được thời oanh liệt.
Chúng tôi đã chọn hai nền văn minh sinh sau đẻ muộn: cách xa trung tâm chính yếu của Căn chủng thứ tư – một là hậu duệ của phân chủng thứ ba Toltec, còn một là phân chủng thứ tư Turania – để trình bày một bức tranh tỉ mỉ và sinh động hơn về mức thành tựu của dân Atlante. Những nền văn minh này không phải là một phần trong cuộc khảo cứu thực hiện vào mùa hè năm 1910 rồi ghi thành biên niên sử trong quyển sách này; chúng được thực hiện vào thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ 19 do sự hợp tác của những tác giẩ quyển sách này với một số hội viên khác nữa Hội Thông Thiên Học mà chúng tôi xin được phép giấu tên. Một trong những tác giả quyển sách này trình bày chúng dưới dạng các bài báo trên Tạp chí Thông Thiên Học và ở đây là in lại những bài báo này vào đúng chỗ coi như một phần của một tác phẩm bao quát hơn.
[1] Ta có thể đọc thấy phần tường trình rất hay về đề tài này trong Câu chuyện Atlantis của W. Scott Elliot. Các tác giả của quyển sách ta đang đọc cũng thuộc nhóm người hợp tác với W. Scott Elliot để thu thập tài liệu trong đó đã được sắp xếp và trình bày rất hay; vì vậy chúng tôi rất quen thuộc với vùng đất này.
[2] Lúa mì, ong và kiến được các Hỏa đức Tinh quân mang từ Kim tinh sang, và việc lai giống các giống này với các giống đã tồn tại trên trái đất tao ra những kết quả nêu trên. Tình hình thiên nhiên phụ trách về một số bộ môn tiến hóa trong giới động vật và thực vật cũng tự thân toan tính bắt chước với những tài nguyên thuần túy trên trái đất trong tầm tay của mình mô phỏng theo những thứ được nhập khẩu từ một hành tinh khác. Nỗ lực của chúng chỉ thành công có một phần và chịu trách nhiệm về một số kết quả không thỏa đáng nêu trên.
[3] Ta nên nhớ rằng việc loại phụ nữ ra khỏi quyền lực chính trị ở nước Anh chỉ bắt đầu khi nền dân chủ tăng trưởng do hệ quả của ý niệm nền tảng của chình quyền nên ở nơi sức mạnh thể chất chứ không phải là trí thông minh hoặc tính tình. Đây là điểm thấp nhất trong sinh hoạt chính trị cũng như hệ thống huyền bí là điểm cao nhất
CHƯƠNG XI
HAI NỀN VĂN MINH ATLANTE [1].
Nền văn minh Toltec ở Peru thời xưa năm 12.000 trước Công nguyên.
Nền văn minh của Peru vào thiên niên kỷ thứ 13 trước Công nguyên vốn gần giống với nền văn minh của Đế quốc Toltec lúc cực thịnh đến nỗi mà sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng thời kỳ ấy thì ở đây chúng tôi sử dụng nó làm thí dụ điển hình cho nền văn minh Atlante. Vào thời châu Atlantis thì Ai cập và Ấn độ cũng là những ví dụ khác, nhưng nói chung là các đặc điểm chính yếu của Đế quốc Toltec được mô phỏng chính xác nhất ở Peru mà ta miêu tả nơi đây. Chính quyền vốn chuyên chế - vào thời đó không thể có chính quyền nào khác.
Muốn chứng minh tại sao như vậy, ta phải hồi tưởng lại một thời kỳ xa xưa hơn nữa tới lúc bắt đầu phân ly Căn chủng lớn thứ tư. Rõ rệt là khi Đức Bàn Cổ và các vị phụ tá của Ngài - các bậc Cao đồ xuất phát từ một cơ tiến hóa cao hơn hẳn – nhập thể trong đám Dân non trẻ mà các Ngài vất vả lắm mới phát triển được, thì đối với đám Dân ấy các Ngài hoàn toàn là chư Thần linh về tri thức và quyền năng, bởi vì các Ngài tiến hóa hơn họ về mọi mặt có thể nghĩ ra được. Trong tình huống như thế thì không thể có một dạng Chính quyền nào khác ngoài dạng chuyên chính, vì đấng Cai trị là người duy nhất thật sự biết mọi chuyện cho nên Ngài phải kiểm soát mọi chuyện. Vì vậy các Đấng Cao cả trở thành những nhà cai trị và dẫn dắt tự nhiên của đám nhân loại còn ấu trĩ, sẵn lòng nghe lời các Ngài, vì người ta công nhận minh triết mang lại quyền lực và đối với kẻ vô minh thì sự trợ giúp lớn lao nhất chính là việc dẫn dắt và huấn luyện họ. Vì thế cho nên mọi trật tự trong xã hội mới đến từ bên trên đi xuống chứ không thể từ dưới đi lên, đó âu cũng là mọi sự trật tự chân chính; khi Giống dân mới lan tràn thì nguyên tắc này vẫn trường tồn và dựa trên cơ sở ấy các vương quyền hùng mạnh của thời xa xưa nhất đã được tạo dựng, trong hầu hết trường hợp – bắt đầu dưới quyền các vị đại Thánh vương với quyền năng và sự minh triết dẫn dắt các Nhà nước còn ấu trĩ trải qua mọi khó khăn khởi đầu.
Thế rồi ngay khi các Đấng Cai trị Thánh vương nguyên thủy đã nhường ngôi cho đệ tử thì vẫn có chuyện xảy ra là người ta vẫn còn hiểu nguyên lý cai trị chân chính cho nên khi một Vương quốc mới được thành lập thì trong hoàn cảnh mới người ta vẫn luôn luôn bắt chước càng giống càng tốt, những định chế huy hoàng mà Minh triết Thiêng liêng đã ban ra cho thế giới. Chỉ khi lòng ích kỷ dâng lên nơi cả đám dân chúng lẫn nhà cai trị thì dần dần trật tự cũ mới thay đổi và những chỗ cho những cuộc thí nghiệm chẳng lấy gì làm Minh triết, các Chính quyền được gợi hứng bằng lòng tham và sự tham vọng thay vì được linh hứng bằng sự chu toàn bổn phận.
Vào thời kỳ này chúng ta phải bàn tới (12.000 năm trước Công nguyên), các Kim môn thành trước kia đã chìm xuống dưới đáy biển từ nhiều ngàn năm rồi, và mặc dù thủ lĩnh của các vị Vua thuộc Hòn đảo Poseidonis vẫn còn tiếm đoạt cho bản thân cái tước hiệu đẹp đẽ thuộc về họ, nhưng ông không còn giả vờ bắt chước theo các phương pháp Cai trị cho đến nay đã bảo đảm cho họ có sự ổn định vượt ngoài mức số phận thông thường trong phạm vi an bài của con người. Tuy nhiên trước đó vài thế kỷ thì đã có một toán lính làm sống lại – mặc dù dĩ nhiên là trên một qui mô nhỏ hơn nhiều – sinh hoạt của cái hệ thống cổ truyền mà các Vương triều của xứ sở sau này gọi là xứ Peru, và vào lúc mà chúng ta đang nói tới thì sự hồi sinh này đang ngon trớn, có lẽ đã đạt tới tột đỉnh vinh quang mặc dù nó còn duy trì được sự hữu hiệu ấy trong nhiều thế kỷ sau này. Do đó bây giờ ta đang quan tâm tới sự hồi sinh ấy của xứ Peru.
Ta hơi khó lòng trình bày một ý niệm về dáng vẻ bên ngoài của giống dân cư ngụ nơi xứ này, vì không một giống dân nào hiện nay còn tồn tại trên trái đất giống nó đến mức chỉ để gợi ý so sánh mà không khiến cho bạn đọc bị lạc theo hướng này hoặc hướng kia. Ta vẫn còn thấy các đại diện của phân chủng vĩ đại thứ ba thuộc Căn chủng Atlante sinh hoạt trên trần thế nhưng nó bị thoái hóa và lạc hậu so với Giống dân ấy thời oanh liệt. Dân Peru có xương gò má (lưỡng quyền) cao, dáng vẻ chung của khuôn mặt có liên quan tới loại hình cao nhất của dân da đỏ, thế nhưng y đã biến đổi đường nét ấy khiến cho mình hầu như tương tự dân Aryan hơn là dân Atlante; dáng vẻ của y căn bản là khác với hầu hết những người da đỏ thời nay vì y nói năng thành thực, vui vẻ và hòa nhã, còn giai cấp thượng lưu thường tỏ ra nhanh trí và rất tốt bụng. Y có nước da màu đồng thau đo đỏ, nói chung là sáng hơn trong đám giai cấp thượng lưu và sẫm màu hơn trong giai cấp hạ lưu, mặc dù sự lẫn lộn giữa các giai cấp này khiến cho ta khó lòng có thể phân biệt được đến mức ấy.
Bẩm tính của dân Peru nói chung là thoải mái, an phận và hiền hòa. Luật lệ không có bao nhiêu, rất thích nghi và được quản trị khéo léo cho nên dân chúng tự nhiên là tuân thủ pháp luật; khí hậu ở hầu hết đa số mọi nơi đều dễ chịu khiến cho họ có thể không tốn nhiều sức lực cho công việc cày cấy đất đai mà vẫn có được một vụ mùa bội thu khi chỉ cần ra sức vừa phải – khí hậu này khiến cho dân tộc ấy lúc nào cũng vừa lòng và có bẩm tính tận dụng được hết sinh hoạt của mùa. Rõ rệt là một tâm trạng như thế trong đám thần dân khiến cho những vị cai trị xứ sở này được thuận lợi rất nhiều khi bắt đầu công việc.
Như ta có nhận xét, Vương quyền là tuyệt đối, thế nhưng nó khác hẳn bất cứ thứ gì hiện nay tồn tại cho đến nỗi chỉ nói khơi khơi như vậy không giúp ta hình dung được sự thật ra sao. Mấu chốt của toàn bộ hệ thống này là tinh thần, trách nhiệm. Vừa chắc chắn là có quyền lực tuyệt đối, nhưng cũng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi chuyện; ngay từ những khi mới bắt đầu lên ngôi, Vua đã được rèn luyện để hiểu ra rằng bất cứ nơi đâu trong Đế quốc rộng lớn của mình nếu có xảy ra một loại điều ác nào đó không tránh được – nếu người ta sẵn lòng làm việc mà không kiếm được loại việc nào thích hợp với mình, thậm chí nếu một đứa con nít bị đau mà không được chăm sóc đúng mức – thì nền cai trị của minh bị mất thể diện, sự trị vì của mình mang một vết nhơ và danh dự cá nhân của mình bị hoen ố.
Vua có một giai cấp thống trị lớn phụ giúp mình trong công trình vất vả ấy và chia nhỏ quốc gia khổng lồ ra thành một hệ thống tinh xảo nhất để cai trị cho dễ. Trước hết, Đế quốc được chia thành các tỉnh dưới quyền cai trị của một loại Phó vương, dưới quyền Phó vương lại có cái mà ta có thể gọi là các lãnh chúa ở các quận rồi dưới quyền họ lại có các Thống đốc ở các thành thị hoặc các huyện nhỏ hơn. Mỗi một trong các quan chức này đều chịu trách nhiệm trực tiếp với thượng cấp ngay trên mình về phúc lợi của mọi người dân thuộc quyền cai trị của mình. Sự tế phân trách nhiệm này tiếp diễn mãi cho đến khi tới một loại Bách nhân đội trưởng; một quan chức chăm lo 100 hộ dân và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Đây là thành viên thấp nhất trong giai cấp thống trị; nhưng về phần mình y cũng thường kiếm người phụ ta bằng cách bổ nhiệm, cứ 10 hộ lại có một người tự nguyện phụ giúp y, cung cấp cho y tin tức sốt dẽo về bất cứ thứ gì cần thiết hoặc bất cứ thứ gì sai trái.[2]
Nếu bất cứ ai trong cái mạng lưới tinh vi ấy của các quan chức mà lơ là bất cứ phần việc nào thì chỉ cần tố cáo với cấp trên trực tiếp của y là tức khắc sẽ bị điều tra vì danh dự của chính cấp trên ấy cũng dính líu tới sự hài lòng và phúc lợi hoàn hảo của mọi người trong phạm vi quản hạt của mình. Thế mà cái sự cảnh giác ngày quên ăn đêm quên ngủ ấy để chu toàn bổn phận công, không hề bị áp đặt bởi luật pháp nhiều (mặc dù dĩ nhiên phải có luật pháp) mà chủ yếu là do ý thức cộng đồng của giai cấp thống trị - một ý thức gần giống như danh dự của một nhà quí tộc quân tử, một sức mạnh lớn lao hơn mệnh lệnh của bất cứ luật lệ bên ngoài nào từng đạt tới được, bởi vì thật ra đó là sự triển khai của một luật lệ cao siêu hơn trong nội bộ - đây là mệnh lệnh của chơn ngã đã thức tỉnh đối với phàm ngã về một đề tài nào đó mà mình thừa biết.
Ta ắt thấy rằng như vậy là ta được giới thiệu về một hệ thống xét theo mọi mặt hoàn toàn trái ngược với mọi ý tưởng đã được tiếm đoạt nhân danh cái gọi là sự tiến bộ hiện đại. Yếu tố khiến cho một chính quyền dựa trên cơ sở ấy hoạt động hữu hiệu chắc là sự tồn tại một công luận sáng suốt trong mọi giai cấp của cộng đồng – công luận này mạnh mẽ và dứt khoát thâm căn cố đế đến nỗi khiến cho bất cứ ai hầu như cũng không thể lơ là bổn phận của mình với Nhà nước. Bất cứ kẻ nào lơ là bổn phận sẽ bị coi là kẻ thiếu văn minh, không xứng đáng với đặc quyền đặc lợi làm công dân trong đại “Đế quốc” những Đứa Con của Mặt trời mà dân Peru bước sơ khai đã tự xưng như vậy; người ta sẽ coi y là một thứ gì đó cũng dễ sợ và đáng thương như một kẻ bị rút phép thông công ở Âu Châu thời trung cổ.
Do tình trạng sự việc này – vốn xa lạ với bất cứ thứ gì hiện nay đang tồn tại đến nỗi ta khó lòng mà quan niệm nổi – mới nảy ra một sự kiện khác mà hầu như ta cũng khó lòng ngộ ra được. Ở xứ Peru thời xưa hầu như không có luật lệ, do đó cũng không có nhà tù; thật vậy hệ thông trừng phạt và chế tài của ta dường như hoàn toàn vô lý đối với quốc gia mà ta đang nghĩ tới. Dưới mắt các công dân của Đế quốc thì cuộc sống ở đây là cuộc sống duy nhất đáng sống; nhưng ta phải hoàn toàn hiểu rõ rằng mọi người giữ địa vị trong cộng đồng này chỉ với điều kiện là y hoàn thành bổn phận đối với nó. Nếu một người không chu toàn bổn phận về bất cứ phương diện nào (một diễn biến hầu như ít nghe nói tới vì áp lực của công luận mà ta đã miêu tả như trên), quan chức phụ trách về địa phương ấy sẽ phải giải trình theo như mong đợi, và nếu khi được khảo sát mà người ấy tỏ ra đáng trách thì quan chức ấy sẽ chê trách người đó. Bất cứ điều gì giống như việc triền miên lơ là bổn phận ắt được xếp vào hàng những điều vi phạm quỉ quái chẳng hạn như giết người hoặc trộm cắp; và đối với tất cả những điều ấy thì chỉ có sự trừng phạt duy nhứt là lưu đày.
Thuyết mà sự qui định này dựa vào đó vốn cực kỳ đơn giản. Người Peru chủ trương rằng dân văn minh khác dân dã man chủ yếu ở chỗ y thừa hiểu và chu toàn một cách thông minh các bổn phận của mình đối với Nhà nước mà y tạo thành một đơn vị; nếu một người không chu toàn bổn phận thì y tức khắc trở thành một nguy cơ đối với Nhà nước, y tỏ ra là mình không xứng đáng tham gia vào phúc lợi của nó, do đó y bị trục xuất khỏi xứ ấy để bị bỏ mặc sống trong những bộ lạc dã man bên rìa Đế quốc. Thật vậy, có lẽ đặc trưng cho thái độ của dân Peru về vấn đề này chính là lời lẽ mà ngôn ngữ của họ biểu thị các bộ lạc ấy khi ta dịch theo nghĩa đen là “đám sống ngoài vòng pháp luật”.
Tuy nhiên chỉ hiếm khi mới cần phải cầu viện tới biện pháp cực đoan là lưu đày, trong hầu hết trường hợp thì các quan chức đều được kính yêu cho nên chỉ một quan chức nói gần nói xa, nói bóng nói gió cũng đủ khiến cho kẻ có đầu óc nổi loạn ấy trở về với đường ngay lẽ phải. Ngay cả một số ít bị lưu đày cũng không có nghĩa là vĩnh viễn bị trục xuất ra khỏi quê hương, sau một thời kỳ nào đó, họ lại được phép trở về tập sự ở địa vị lẫn lộn trong đám người văn minh và một lần nữa được hưởng mọi quyền công dân ngay khi đã tỏ ra là xứng đáng.
Trong số nhiều chức năng của các quan chức (họ được gọi là cha) có bao gồm cả chức năng thẩm phán, mặc dù hầu như không có luật lệ theo nghĩa mà ta thường gán cho từ ngữ này; có lẽ họ tương ứng gần gũi hơn với ý niệm của ta về trọng tài. Mọi sự tranh cãi nảy sinh giữa người và người đều được di lý lên họ; và trong trường hợp này cũng như mọi trường hợp khác, bất cứ ai cảm thấy bất mãn với một quyết định đều có thể kháng án lên viên chức cấp cao hơn, sao cho trong phạm vi có thể được thì một vấn đề gút mắc có thể được đệ trình lên chính đức Vua.
Người ta làm hết sức mình để cho dân chúng có thể dễ dàng tiếp cận với các quan chức cao cấp và một phần kế hoạch được an bài cho một mục đích này côt ở việc tạo ra một hệ thống kinh lý tinh xảo. Cứ mỗi 7 năm một lần thì chính đức Vua lại vi hành trên khắp Đế quốc mình vì mục đích ấy; cũng như vậy Thống đốc của một tỉnh phải tuần du trên địa bàn tỉnh mỗi năm, và đến lượt các thuộc cấp phải thường xuyên tận mắt xem xét tất cả những gì diễn tiến tốt đẹp đối với những người thuộc thẩm quyền của mình và tạo mọi cơ hội cho bất cứ ai muốn tham khảo ý kiến hoặc kháng án với mình. Đủ thứ sự tiến bộ của các quan chức và triều đình được thực hiện một cách đáng kể và luôn luôn là dịp để cho thần dân hết sức vui mừng.
Ít ra thì hệ thống này của Chính quyền cũng khá giống như hệ thống thời nay bằng cách chọn theo một hệ thống hoàn chỉnh tỉ mỉ đăng ký bao gồm khai sinh, hôn thú và khai tử được xếp thành mục lục một cách chính xác cẩn trọng với những thống kê biên tập thời đó hoàn toàn theo kiểu thời nay. Mỗi bách nhân đội trưởng có bản ghi chép chi tiết tên của tất cả những người do mình phụ trách, mỗi người có kèm theo một biển nho nhỏ trên đó ghi lại những diễn biến chính trong cuộc đời lúc mới xảy ra. Đến lượt y báo cáo cho cấp trên không phải là tên tuổi mà là con số - bao nhiêu người bệnh, bao nhiêu người khỏe mạnh, bao nhiêu người sinh ra, bao nhiêu người chết đi v.v … - và những báo cáo nhỏ này dần dần tích tụ lại, được tổng kết khi chúng được chuyển càng ngày càng lên cao theo cái tôn ti trật tự viên chức ấy mãi cho tới khi bảng tóm lược tất cả cứ định kỳ được dâng lên hết cho nhà vua; như vậy vua là một người thường xuyên kiểm kê Đế quốc của mình lúc nào cũng sẵn có trong tầm tay.
Còn một điểm tương tự nữa giữa hệ thống thời xưa và hệ thống thời nay; đó là việc đất đai được đo đạc, phân chia và nhất là phân tích một cách cực kỳ cẩn thận – mục đích chính yếu của mọi sự điều tra này là khám phá thành phần cấu tạo chính yếu của đất đai ở mọi nơi trong xứ sở để cho ta có thể trồng trọt loại hoa màu thích hợp nhất và nói chung tận dụng được đất đai nhiều nhất. Thật vậy ta có thể nói rằng hầu như việc nghiên cứu đó gắn liền một cách quan trọng hơn với cái mà nay ta gọi là nền nông nghiệp hợp khoa học hơn hẳn bất cứ đường lối công tác nào khác.
Điều này đưa ta trực tiếp tới việc xét có lẽ là định chế đáng chú ý nhất trong mọi định chế của giống dân cổ xưa này, đó là hệ thông đất đai của nó. Những sự an bài độc nhất vô nhị này thích hợp tuyệt vời với xứ sở đến nỗi giống dân thấp hơn nhiều mà hàng ngàn năm sau này đi chinh phục và bắt làm nô lệ đám hậu duệ bị thoái hóa của dân Peru, cũng cố gắng tiến hành nó càng nhiều càng tốt và đám người xâm lược Tây ban nha cũng bị kích động thán phục trước những di tích của nó vẫn còn hoạt động hữu hiệu vào lúc họ tới xứ sở này. Cho dù ta có thể hoài nghi việc một hệ thống như thế có thể được tiến hành thành công ở những xứ sở đông dân hơn hẳn và đất đai kém phì nhiêu, nhưng dù sau đi nữa nó vẫn hoạt động chủ yếu vào cái thời và cái nơi mà ta thấy nó đang tác động. Bây giờ chúng tôi phải cố gắng giải thích hệ thống này; để cho được rõ ràng, trước hết chúng tôi chỉ bàn tới những nét đại cương của nó thôi và dành nhiều điều có tầm quan trọng sinh tử sẽ được bàn tới trong những đề mục khác.
Vậy là mọi thị trấn hoặc làng mạc đều được qui định sẽ được cày cấy một số lượng nào đó đất đai canh tác được ở địa phận xung quanh số lượng này tỉ lệ chính xác với số dân. Trong đám dân số thì bất cứ trường hợp nào cũng có một số lớn người làm việc được chỉ định để cày cấy đất đai, quả thực đó là cái mà ta có thể gọi là giai cấp nông dân; chẳng phải mọi người khác đều không biết cày bừa, nhưng những người này được dành riêng cho cái loại công việc đặc biệt ấy. Sau này ta sẽ giải thích cách tuyển dụng giai cấp nông dân; bây giờ ta chỉ cần nói rằng mọi thành viên đều là những người trong độ tuổi còn sung sức từ 25 tới 40 tuổi, không có người già hoặc con nít, người đau ốm trong hàng ngũ những người ấy.
Đất dai được dành cho canh tác đối với bất kỳ làng mạc cho sẵn nào trước hết được chia thành hai nửa mà chúng ta có thể gọi là tư điền và công điền. Cả hai nửa này đều phải được giới nông dân canh tác, tư điền vì lợi ích cá nhân chính họ, còn công điền vì lợi ích cộng đồng. Điều này có nghĩa là việc canh tác công điền có thể được coi như thay thế cho việc đóng thuế và nộp tô trong Nhà nước hiện đại. Dĩ nhiên người ta ngay tức khắc nảy ra ý tưởng cho rằng thuế gì mà tương đương với một nửa lợi tức của con người hoặc chiếm dụng một nửa thời gian hoặc năng lượng của y (trong trường hợp này thì đằng nào cũng thế); thật đúng là sưu cao thuế nặng một hệ thống bất công nhất. Xin bạn đọc hãy chờ cho đến khi mình biết được thuế thu được dùng để làm gì và nó đóng vai trò thế nào trong sinh hoạt quốc gia trước khi y kết án nó là một sự áp đặt đầy áp bức. Y cũng nên nhận thức được rằng kết quả thực tế của qui tắc ấy tuyệt nhiên không hề khắc khe; việc canh tác cả công điền lẫn tư điền không có nghĩa là làm việc quần quật nhiều hơn nhà nông ở nước Anh; đó là vì trong khi ít nhất hai lần mỗi năm nó đòi hỏi phải có một số tuần làm việc đều đặn từ sáng bảnh mắt cho tới nửa đêm thì cũng có những thời khoảng dài khi mọi điều cần thiết có thể dễ dàng được thực hiện bằng cách mỗi ngày chỉ làm việc hai tiếng đồng hồ.
Tư điền mà chúng ta bàn tới trước hết được chia cho cư dân một cách công bằng nghiêm ngặt nhất. Mỗi năm sau khi đã gặt hái xong, một số lượng đất đai nhất định được phân bổ cho người lớn bất kể là nam hay nữ, mặc dù mọi việc trồng trọt đều do đàn ông thực hiện. Vậy là một người đàn ông đã kết hôn nhưng không có con ắt có được hai lần nhiều hơn người đàn ông độc thân; một góa phụ cũng với chẳng hạn như hai cô con gái đã lớn chưa gả chồng ắt được gấp ba lần người đàn ông còn độc thân; nhưng khi một trong các cô con gái được gả chồng thì phần của cô cũng được vu qui theo cô, nghĩa là nó được lấy đi của cha cô để chuyển sang cho chồng cô. Đối với mỗi đứa trẻ sinh ra từ một cặp vợ chồng thì người ta dành cho chúng thêm một phần nhỏ bổ sung, số lượng này tăng dần khi đứa trẻ lớn lên – ý định của lộ trình này là mỗi gia đình luôn luôn có được số đất đai cần thiết để tự túc được.
Một người có thể làm bất cứ thứ gì mình chọn với miếng đất của mình ngoại trừ trường hợp bỏ hoang đất. Y phải bắt nó sinh ra một loại hoa màu nào đấy, nhưng chừng nào y còn mưu sinh được từ đất đai thì mọi chuyện khác là chuyện riêng của y. Đồng thời lời khuyên ân cần nhất của giới chuyên gia luôn luôn phục vụ cho y khi cần thiết để cho y không thể biện bạch là mình dốt nát nếu việc chọn giống của y tỏ ra không thích hợp. Một người không thuộc về giai cấp nông dân chuyên nghiệp – nghĩa là người này không mưu sinh bằng cách trồng trọt mà mưu sinh bằng cách khác – có thể hoặc là canh tác mảnh đất của mình vào lúc rảnh rổi hoặc dùng một thành viên của giai cấp nông dân làm phụ với mình để canh tác đất đai; nhưng trong trường hợp mướn người làm ruộng thì hoa màu không thuộc về người được cấp đất nguyên thủy mà thuộc về người thực sự canh tác. Sự kiện qua việc này một người nông dân thường xuyên tự nguyện làm việc gấp đôi, là một bằng chứng nữa cho thấy số lượng lao động qui định thực ra là một nhiệm vụ rất nhẹ nhàng.
Thật là thú vị khi ta có thể ghi chép lại nhiều cảm xúc tốt đẹp và phúc lợi luôn luôn biểu hiện qua công trình nông nghiệp này. Người nào gia đình đông con do đó có một mảnh đất khác thường ắt luôn luôn trông cậy được vào sự trợ giúp tử tế của những người láng diềng ngay khi họ đã hoàn thành nhiệm vụ nhẹ nhàng hơn của chính mình, và bất cứ ai có lý do xin nghỉ phép đều chẳng bao giờ thiếu một người bạn thế chỗ cho mình trong khi vắng mặt. Ta không đề cập tới việc đau ốm vì những lý do sẽ xuất hiện ngay đây thôi.
Còn về phần xử lý nông sản thì chẳng có khó khăn gì cả. Hầu hết mọi người chọn việc trồng ngũ cốc, rau quả mà bản thân họ có thể dùng làm thực phẩm; số còn dư họ sẵn lòng bán hoặc đổi chác lấy quần áo hoặc những hàng hóa khác; cùng lắm thì chính quyền luôn luôn sẵn sàng mua bất cứ số lượng ngũ cốc nào được rao bán, theo giá cố định, hơi thấp hơn giá thị trường một chút, để trử nó trong những kho lúa khổng lồ luôn luôn thóc đầy bồ trong trường hợp đối phó với nạn đói hoặc trong trường hợp khẩn cấp.
Nhưng bây giờ ta hãy xét tới cách xử dụng nông sản của nửa kia đất trồng trọt mà chúng ta đã gọi là công điền. Bản thân công điền lại được chia thành hai phần bằng nhau (do đó mỗi phần biểu diễn 1/4 lượng đất đai canh tác được trong xứ sở) một phần được gọi là đất của Vua, một phần được gọi là đất của Mặt trời. Và theo luật thì đất của Mặt trời phải được cày cấy trước nhiên hậu người ta mới được rẩy cỏ trong tư điền của mình; khi cày cấy đất Mặt trời xong thì người ta được trông mong canh tác trên mãnh đất riêng của mình và chỉ sau khi mọi chuyện còn lại đã được thực hiện an toàn thì y mới bị yêu cầu đóng góp phần canh tác đất của Vua. Điều này để cho nếu thời tiết xấu bất ngờ làm trì trệ vụ mùa thì phần thiệt hại trước hết là Vua lãnh hết trừ phi có một vụ mùa cực kỳ bất lợi đôi khi cũng ảnh hưởng tới phần đất riêng của người ta; trong khi đó đất của Mặt trời được bảo đảm an toàn nhất trong hầu hết mọi tình huống khả dĩ có thể bị thiếu hụt trong vụ gặt.
Đối với vấn đề tưới tiêu nước (luôn luôn là một vấn đề quan trọng ở xứ này vì một phần lớn đất đai rất khô cằn) người ta cũng luôn luôn tuân thủ thứ tự nêu trên nếu đất của Mặt trời chưa được cấp nước đầy đủ thì không một giọt chất lỏng quí báu nào được dẫn sang bất cứ nơi khác, nếu tư điền của mọi người chưa có đủ lượng nước cần thiết thì đất của Vua sẽ không có nước. Sau này ta sẽ hiểu rõ lý do tại sao lại an bài như thế, khi ta biết được nông sản của đủ thứ cách phân chia này được sử dụng ra sao.
Như vậy ta ắt thấy rằng nhà vua thu tóm một phần tư toàn thể tài sản của xứ sở (bởi vì trong trường hợp tiền bạc bắt nguồn từ chế biến công nghiệp hoặc chế biến hầm mỏ thì việc ăn chia cũng như thẻ; trước hết là 1/4 dành cho Mặt trời rồi tới 1/2 dành cho công nhân rồi tới 1/4 còn lại dành cho Vua. Thế thì Vua làm gì với cái lợi tức khổng lồ ấy?
Một là Vua duy trì toàn bộ guồng máy Chính quyền mà ta đã đề cập tới. Vua trả lương cho toàn bộ giai cấp quan chức – từ những vị Phó vương oai vệ ở các tỉnh lớn xuống mãi tới các Bách nhân đội trưởng tương đối hèn mọn – chẳng những trả lương mà còn bao cấp luôn cho đủ thứ cuộc kinh lý và vi hành.
Hai là từ mớ lợi tức ấy Vua thực thi mọi công trình công chánh của Đế quốc mà di tích của một số công trình này mãi 14.000 năm sau vẫn còn làm cho chúng ta hiện nay phải trầm trồ ca ngợi. Những con đường tuyệt vời nối liền thành thị này với thành thị khác, nối liền thị trấn này với thị trấn khác xuyên suốt Đế quốc, được đào xuyên qua núi đá hoa cương, có cả những chiếc cầu khổng lồ bắc ngang qua những rảnh nước hầu như không thực hiện nổi, hàng loạt những cống dẫn nước nguy nga – những chiến công về sự khéo léo kỹ thuật này tuyệt nhiên không thấp hơn trình độ thời nay, chúng khiến cho người ta có thể đưa dòng nước mang lại sự sống lan tràn tới tận những ngóc ngách xa xôi nhất ở một xứ sở thường xuyên bị hạn hán – tất cả những công trình ấy đều được kiến tạo và duy tu bằng những lợi tức do đất đai của nhà Vua đóng góp.
Ba là Vua xây dựng rồi luôn luôn giữ cho thóc đầy bồ với hàng loạt kho thóc khổng lồ được lập nên ở những thời khoảng thường xuyên khắp nơi trong Đế quốc. Đó là vì đôi khi có xảy ra trường hợp không được mưa thuận gió hòa khiến cho nạn đói đe dọa đám nhà nông bất hạnh; do đó có qui tắc là phải luôn luôn tích trữ hai năm lương thực cho toàn quốc – một sự tích trữ lương thực có lẽ chẳng một dân tộc nào khác trên thế giới đã từng toan tính thực hiện. Thế nhưng cho dù nhiệm vụ này thật vĩ đại thì nó vẫn được trung kiên thực hiện bất chấp mọi khó khăn; có lẽ mặc dù ngay cả quyền lực hùng mạnh của Vua Peru cũng không thể thành tựu được điều ấy, nhưng có một phương pháp để cô đặc thực phẩm vốn là một trong những khám phá của các nhà hóa học đương thời – một phương pháp mà sau này ta sẽ nói tới.
Bốn là từ phần chia ấy Vua dùng để nuôi quân, bởi vì Vua có một quân đội rất thiện chiến mặc dù Vua xoay sở sử dụng quân vì nhiều mục đích khác hơn là việc chỉ chinh chiến mà thật ra có đánh chác gì mấy đâu, vì các bộ tộc kém văn minh hơn xung quanh Đế quốc đều học biết và kính trọng quyền uy của Vua.
Tốt hơn bây giờ ta không nên dừng lại để miêu tả công việc đặc biệt của quân đội mà thay vào đó trong phần còn lại của bản phác họa chính thể Nhà nước cổ xưa này ta cần nêu ra địa vị của Giáo đoàn khổng lồ các tu sĩ Mặt trời, xét về khía cạnh dân sự của công trình giáo sĩ ấy. Đoàn thể này sử dụng mớ lợi tức lớn lao tương đương với số lượng của Vua khi đạt tới mức cao nhất và chắc chắn hơn Vua vì lúc đói kém hoặc trường hợp khan hiếm thì cũng không bị giảm mà đoàn thể này dùng nó làm việc gì?
Quả thật Vua đã tạo được nhiều công đức và phân chia tài sản quốc gia của mình, nhưng thành tựu của Vua chẳng thấm vào đâu so với công lao của các tu sĩ. Một là họ duy trì những đền thờ Mặt trời lộng lẫy trên khắp xứ sở, duy trì chúng ở qui mô sao cho nhiều làng nhỏ cũng có đền thờ với đồ trang sức và trang trí nội thất bằng vàng hiện nay tương đương với nhiều ngàn cân Anh, trong khi những nhà thờ chính ở các thành thị lớn hơn chói lòa vẻ hào nhoáng mà bất cứ nơi đâu trên trái đất cũng chưa bao giờ bì kịp.
Hai là giới giáo sĩ giáo dục miễn phí cho toàn thể tuổi trẻ trong Đế quốc, dù là nam hay nữ - chẳng những là giáo dục sơ cấp mà còn là huấn luyện kỹ thuật chuyên môn khiến cho chúng đều đặn trải qua năm tháng được ứng dụng gắt gao mãi cho tới tuổi đôi mươi và đôi khi còn vượt qua mức đó rất nhiều nữa. Sau này ta sẽ trình bày chi tiết về giáo dục.
Ba là (và đối với các bạn đọc điều này có lẽ dường như chức năng phi thường nhất của giới giáo sĩ) họ chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi người đau ốm. Điều này không có nghĩa là họ chỉ là y sĩ vào thời ấy (mặc dù họ cũng chính là giới người ấy) mà còn có nghĩa là bất cứ lúc nào một người nam nữ hoặc trẻ con bị đau ốm theo bất cứ kiểu gì, thì ngay tức khắc các tu sĩ sẽ chịu trách nhiệm hoặc cách diễn tả dễ thương hơn thì người ấy trở thành khách quí của Mặt trời. Bệnh nhân ngay tức khắc được hoàn toàn miễn khỏi mọi bổn phận đối với Nhà nước; cho đến khi được hồi phục thì chẳng những thuốc men cần thiết mà ngay cả thực phẩm cũng được qui cấp miễn phí cho y từ đền thờ Mặt trời gần nhất, còn trong trường hợp bệnh nặng thì y thường được nhận vào đền thờ giống như nhập viện để được chăm sóc cẩn thận hơn. Nếu bệnh nhân là cột tru chính của gia đình về sinh kế thì vợ con y cũng trở thành khách quí của Mặt trời cho đến khi y hồi phục. Thời nay mà có sự an bài nào thậm chí chỉ hơi hơi giống như thế ắt hẳn sẽ dẫn tới sự dối trá và giả vờ ốm; nhưng đó là vì cho đến nay các quốc gia hiện đại còn thiếu cái loại công luận sáng suốt và phổ biến khắp nơi khiến cho mọi thứ ấy không thể có được ở xứ Peru thời xưa.
Bốn là – có lẽ phát biểu này được coi là còn gây sửng sốt hơn phát biểu nêu trên – toàn thể dân chúng trên 45 tuổi (ngoại trừ giới quan chức) cũng là khách quí của Mặt trời. Ta nên biết rằng một người đã làm việc 25 năm, từ khi tròn tuổi đôi mwoi – khi lần đầu tiên người ta trông mong y bắt đầu đóng góp vào gánh nặng của Nhà nước – có quyền được nghỉ ngơi thoải mái cho đến hết cuộc đời, cho dù ra sao đi chăng nữa. Do đó khi đã đến tuổi 45, nếu muốn mọi người đều có thể gắn bó với một trong các đền thờ, sống đời tu học hoặc nếu muốn vẫn cứ ở lại với thân nhân như trước kia và tùy ý sử dụng thời giờ nhàn rỗi của mình. Nhưng trong bất cứ trường hợp nào thì y cũng được miễn mọi việc phục vụ cho Nhà nước mà vẫn được giới giáo sĩ Mặt trời cấp dưỡng. Dĩ nhiên người ta tuyệt nhiên không cấm y tiếp tục làm việc bằng bất cứ cách nào như y muốn và thực tế là hầu hết mọi nguời đều thích làm việc theo một cách nào đó cho dù đấy chỉ là trò tiêu khiển. Thật vậy nhiều công trình khám phá và phát minh có giá trị nhất đều được thực hiện bởi những kẻ được miễn mọi nhu cầu thường xuyên canh tác, tha hồ theo đuổi ý tưởng của mình, thực nghiệm vào giờ nhàn rỗi theo cách mà không một người bận rộn nào có thể làm được.
Tuy nhiên các thành viên của giai cấp quan chức không được nghỉ hưu ở tuổi 45, ngoại trừ trường hợp bị đau ốm; bản thân các tu sĩ cũng không được nghỉ hưu. Ở hai giai cấp này người ta cảm thấy rằng việc có thêm minh triết và kinh nghiệm lão luyện khi tuổi đời chồng chất thật là quá quí báu cho nên không dùng thì uổng; vì vậy trong hầu hết trường hợp thì các tu sĩ và quan chức đều từ trần khi còn đương chức.
Giờ đây ta ắt thấy rõ rằng tại sao công việc của giới tu sĩ lại được coi là quan trọng nhất và tại sao thiếu đến đâu thì thiếu, phần đóng góp vào kho bạc của Mặt trời không được thiếu hụt vì chẳng những tôn giáo của đân chúng mà công trình giáo dục giới trẻ, việc chăm sóc người đau ốm và già nua cũng đều trông cậy vào đó.
Thế thì hệ thống kỳ diệu này đã có từ lâu rồi thành tựu được như sau: Bảo đảm cho mỗi người nam và nữ được giáo dục rốt ráo, có đủ mọi cơ hội để phát triển đến bất cứ tài năng đặc biệt nào mà mình vốn có, rồi sau đó là 25 năm làm việc – quả thật là đều đặn nhưng chẳng bao giờ có tính cách không phù hợp hoặc làm việc quần quật quá sức – sau đó lại sống một đời được bảo đảm về tiện nghi và thời giờ rảnh rổi, trong đó con người hoàn toàn khỏi phải lo âu hoặc băn khoăn bất cứ điều gì. Cố nhiên là một số người nghèo hơn những người khác, nhưng không có chuyện nghèo khổ như hiện nay ta biết và càng không thể thiếu thốn, hơn nữa tội ác hầu như không có. Có điều kỳ diệu nho nhỏ là việc lưu đày khỏi xứ này bị coi là hình phạt tồi tệ nhất trên trần thế đến nỗi những bộ tộc dã man ở ngoại biên đều muốn sáp nhập vào Đế quốc ngay khi chúng có thể hiểu ra được cái hệ thống kỳ diệu ấy.
Thật thú vị khi ta khảo sát những ý tưởng tôn giáo của người thời xưa. Nếu ta bắt buộc phải xếp loại tín ngưỡng của họ trong số những tín ngưỡng mà giờ đây ta quen thuộc, thì ta ắt phải gọi nó là một loại thờ cúng Mặt trời, mặc dù dĩ nhiên họ chưa bao giờ nghĩ tới việc tôn thờ mặt trời hồng trần. Song le họ coi đó không hẳn chỉ là một biểu tượng; nếu ta cố gắng diễn tả xúc cảm của họ theo thuật ngữ của Thông Thiên Học thì có lẽ ta diễn tả gần đúng nhất khi bảo rằng họ coi mặt trời là thể xác của THƯỢNG ĐẾ; mặc dù điều đó khiến cho họ bị gán cho ý tưởng chính xác mà có lẽ bị coi là bất kính. Họ ắt bảo một người điều tra là họ tôn thờ Tinh thần của Mặt trời mà mọi thứ đều bắt nguồn từ đấy rồi lại trở về đấy – đây tuyệt nhiên trình bày không thỏa đáng được một sự thật vĩ đại.
Dường như họ cũng chẳng có ý niệm rõ rệt nào về thuyết luan hồi. Họ hoàn toàn tin chắc rằng con người vốn bất tử và họ chủ trương rằng số phận cuối cùng của y là đi tới tinh thần Mặt trời – có lẽ để hiệp nhất với Ngài, mặc dù trong giáo huấn của họ không nêu rõ như vậy. Họ biết rằng trước khi đạt được thành tựu tối hậu ấy thì phải có nhiều thời kỳ tồn tại dài dằng dặc nữa, nhưng chúng tôi không thể tìm ra chứng cớ họ nhận thức chắc chắn được rằng bất cứ bộ phận nào của kiếp sống tương lai cũng đều phải được diễn ra trên trần thế trở lại.
Đặc trưng nổi bất nhất của tôn giáo này là tính hoan lạc của nó. Sự phiền não hoặc đau buồn thuộc bất cứ loại nào cũng bị coi là hoàn toàn độc ác và vô ơn, vì người ta dạy nó rằng Đấng thiêng liêng muốn các con của mình được hạnh phúc và Ngài ắt hẳn rất buồn nếu thấy chúng phiền não. Sự chết được coi không phải là dịp khóc lóc mà đúng hơn là một loạt niềm vui và kính cẩn vì Tinh thần Vĩ đại đã chấp nhận một đứa con khác của mình xứng đáng tiến gần hơn tới mình. Mặt khác cũng theo đuổi ý tưởng ấy, tự tử được coi là cực kỳ khủng khiếp, là một hành vi tự đắc thô bỉ nhất; kẻ nào tự tử đã lao mình vào các cõi cao siêu mà chẳng ai mời gọi và đấng có thẩm quyền duy nhất vì có đủ kiến thức để quyết định vấn đề này xét thấy y chưa xứng đáng với các cõi đó. Nhưng thật ra vào lúc chúng tôi đang viết thì tự tử hầu như chẳng ai biết đến vì dân tộc này xét chung là một giống dân mãn nguyện nhất.
Việc phụng tự công khai của họ có tính cách đơn giản nhất. Hằng ngày người ta tán dương Tinh thần Mặt trời nhưng chẳng bao giờ cầu nguyện, vì họ được dạy cho biết rằng Đấng thiêng liêng biết nhiều hơn hẳn họ về những điều mà họ cần cho phúc lợi của mình – đây là giáo lý mà người ta muốn thấy thiên hạ ngày nay hẳn trọn vẹn hơn nữa. Người ta dâng hoa quả trong các đền thờ, không phải với ý cho rằng Thần Thái dương muốn được phụng tự như thế, mà chỉ là dấu hiệu cho thấy mình chịu ơn tất cả nơi Ngài; đó là vì một trong những thuyết nổi bật nhất thuộc tín ngưỡng của họ làm mọi ánh sáng, sự sống và quyền năng đều xuất phát từ Mặt trời – một thuyết mà những khám phá của khoa học hiện đại đã chứng minh đầy đủ. Vào những dịp đại lễ thì người ta tổ chức những đám rước hoành tráng, các tu sĩ đặc biệt khích lệ và giáo huấn dân chúng; nhưng ngay cả trong những bài giảng này thì đặc điểm chính yếu vẫn là tính đơn giản, giáo huấn được trình bày dưới dạng hình vẽ và dụ ngôn.
Trong quá trình khảo cứu về cuộc đời của một nhân vật đặc biệt, chúng tôi có dịp một lần đi theo y tới một trong những nơi hội họp này, cùng nghe với y một bài giảng mà một vị tu sĩ già tóc bạc phơ thuyết pháp nhân dịp ấy. Bấy giờ người ta thốt ra một vài lời đơn giản có lẽ giúp ta có được ý niệm rõ ràng hơn về cái thần trong cốt cách tôn giáo thời xưa này so với bất kỳ sự miêu tả nào mà chúng tôi có thể đưa ra. Nhà thuyết pháp mặc một loại áo tu sĩ màu hoàng kim vốn là biểu tượng cho chức vụ của mình đứng trên những bực thềm của đền thờ nhìn ra xung quanh đám thính giả. Thế rồi ông bắt đầu nói chuyện với họ bằng một giọng ôn tồn nhưng rổn rảng nói hoàn toàn thân mật giống như cha kể chuyện cho con hơn là một người đăng đàn thuyết pháp.
Ông nói với họ về Đấng Thái dương, kêu gọi họ hãy nhớ mọi thứ mà họ cần dùng cho sự thoải mái của cuộc sống trên cõi trần đều do Ngài cung cấp; nếu không có ánh sáng và sức nóng huy hoàng của Ngài thì thế gian ắt lạnh lẽo và chết cóng rồi, không thể có được mọi sinh linh, tác động của Ngài giúp cho sự tăng trưỡng của hoa trái và ngũ cốc tạo thành thực phẩm chủ lực của họ, ngay cả nước tưới mát vốn là tài nguyên quí báu nhất và cần thiết cho mọi người. Kế đó ông giải thích cho họ biết những người minh triết thời xưa đã dạy rằng đằng sau tác động mà mọi người có thể thấy, có một tác động khác luôn luôn vĩ đại hơn nhưng vô hình, chỉ có thể cảm nhận được bởi những người sống hài hòa theo ý Chúa; Mặt trời xét về một phương diện đã mang lại sự sống cho thể xác thì xét về phương diện khác lại còn hoàn thành một chức năng kỳ diệu hơn nữa đối với sự sống của linh hồn. Ông nêu rõ rằng cả hai tác động này đều hoàn toàn liên tục – mặc dù Mặt trời đôi khi khuất bóng đối với các con của mình trên trần thế, song le nguyên nhân của sự mờ tối đi tạm thời ấy là do tình hình trên trái đất chớ không phải do Mặt trời bởi vì người ta chỉ cần leo lên cao tới đỉnh núi để vượt qua những đám mây che khuất thì lại thấy Ngài bao giờ cũng chói sáng rực rỡ, hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của bức màn che dường như dày đặc xiết bao khi ta ngước lên nhìn từ bên dưới.
Do điều này ta mới dễ dàng chuyển sang đề tài sự ngã lòng hoặc nghi ngờ về tâm linh đôi khi dường như làm ta khép kín với những ảnh hưởng cao siêu của linh hồn; và vị thuyết pháp nhấn mạnh niềm tin nhiệt thành của mình chắc chắn rằng mặc dù bề ngoài có trái ngược lại thì ở đây dụ ngôn vẫn có ý nghĩa; các đám mây luôn luôn do chính con người gây ra và y chỉ cần nâng cao mình lên đủ đến mức ngộ ra rằng Ngài không thay đổi thì sức mạnh và sự thánh thiện tâm linh lúc nào cũng vẫn đều đều tuôn đổ xuống như thông lệ. Do đó sự ngã lòng và nghi ngờ phải bị vứt bỏ đi coi là sản phẩm của sự vô minh và phi lý, phải bị qui trách là tỏ ra bội bạc đối với Đấng ban cấp mọi điều tốt đẹp.
Phần thứ nhì của bài giảng cũng rất thực tế. Vị tu sĩ tiếp tục nói rằng chỉ những người nào bản thân hoàn toàn khỏe mạnh thì mới có thể trải nghiệm được trọn vẹn lợi ích trong tác động của Mặt trời. Thế mà dấu hiệu hoàn toàn khỏe mạnh trên mọi mức độ chính là việc con người giống như đấng Thái dương. Người nào hưởng được sức khỏe thể chất trọn vẹn thì bản thân y là một loại mặt trời nho nhỏ tuôn đổ sức mạnh và sức sống cho mọi người xung quanh mình sao cho nhờ có sự hiện diện của y, người yếu đuối được mạnh hơn còn kẻ ốm đau được hổ trợ. Người thuyết pháp khăng khăng cho rằng cũng giống hệt như vậy, người nào có sức mạnh đạo đức hoàn toàn cũng là một mặt trời tâm linh tỏa ra tình thương, sự thuần khiết và sự thánh thiện cho mọi người đủ hân hạnh để tiếp xúc với y. Người thuyết pháp bảo rằng đây là bổn phận của con người: tỏ ra biết ơn đối với những tặng phẩm tốt đẹp của Đấng Mặt trời, trước hết bằng cách dọn mình tiếp nhận trọn vẹn ân huệ ấy, kế đó truyền chúng cho các đồng loại mà không bị hao tổn đi. Và cả hai mục đích này đều cùng nhau đạt được một đường lối chung duy nhất bằng cách thường xuyên bắt chước sự ban ân huệ của Tinh thần Mặt trời vốn chỉ có nó mới thu hút con mình càng ngày càng tiến gần tới mình.
Đó là bài giảng cách đây 14.000 năm và cho dù nó có thể đơn giản thì chúng ta cũng có thể công nhận rằng giáo huấn của nó chủ yếu là mang tính Minh triết thiêng liêng, nó vạch ra một sự hiểu biết lớn lao hơn về những sự kiện trong cuộc sống so với nhiều bài diễn thuyết hùng hồn hơn mà người ta trình bày thời nay. Đó đây chúng tôi nhận thấy có những điều nho nhỏ đặc biệt có ý nghĩa; chẳng hạn như việc biết chính xác bức xạ sinh lực dư thừa từ một người khỏe mạnh dường như cho thấy tổ tiên của họ có năng khiếu thần nhãn mà truyền thuyết được truyền thừa từ đó.
Ta nên nhớ rằng ngoài việc có thể gọi là công tác tôn giáo thuần túy thì các vị tu sĩ Mặt trời còn hoàn toàn chịu trách nhiệm về nền giáo dục trong xứ sở này. Mọi sự giáo dục đều hoàn toàn miễn phí và các giai đoạn sơ cấp giống hệt như nhau đối với mọi lớp và dành cho cả hai giới tính. Trẻ con đi học những lớp sơ cấp ngay từ lúc còn ấu thơ và ở những lớp này thì con trai con gái học chung với nhau. Có một điều nào đấy tương ứng với cái mà ta nay gọi là giáo dục Tiểu học, được trình bày ở các lớp này mặc dù các môn học khác đáng kể. Người ta dạy đọc, viết và quả thật một loại số học nào đó và mọi đứa trẻ phải nhuần nhuyễn được về những môn học này; nhưng hệ thống ấy còn bao gồm nhiều hơn mức mà ta khó lòng xếp loại; đó là một loại kiến thức thô thiển nhưng đã sẵn có bao gồm những qui tắc chung chung mang tính lợi ích chung trong sinh hoạt, sao cho không một đứa trẻ nam nữ nào khi lên 10 hoặc 11 tuổi mà lại không biết cách tìm được những điều nhu yếu thông thường trong cuộc sống hoặc cách làm bất cứ việc thông thường nào. Quan hệ của thầy và trò nổi bât lên vì hoàn toàn tử tế và quyến luyến nhau, tuyệt nhiên không có gì tương ứng với hệ thống điên rồ áp đặt và trừng phạt vốn chiếm một địa vị nổi bật và độc hại xiết bao trong sinh hoạt nhà trường thời nay.
Giờ đi học cũng kéo dài nhưng các môn học thay đổi nhiều đến mức chúng tôi không nghĩ đó là việc đi học vì trẻ con chẳng bao giờ cảm thấy mệt mỏi quá sức. Chẳng hạn như mọi đứa trẻ đều được dạy cách chuẩn bị và nấu nướng một vài món ăn đơn giản, cách phân biệt trái cây độc hại với trái cây lành mạnh, cách tìm kiếm thực phẩm và chỗ trú nếu bị lạc trong rừng, cách xử dụng những dụng cụ đơn giản và cần thiết cho nghề mộc, nghề nề và nông nghiệp, cách đi đứng từ nơi này sang nơi khác dựa theo vị trí của mặt trời và các ngôi sao, cách lái ca nô cũng như bơi, leo trèo và nhảy cao một cách vô cùng khéo léo. Người ta cũng dạy chúng cách xử trí các vết thương hoặc khi gặp tai nạn và giải thích cho chúng công dụng của một vài loại thảo dược. Đủ thứ chương trình học đáng chú ý này không chỉ là vấn đề lý thuyết đối với chúng; người ta thường xuyên yêu cầu chúng phải đem toàn bộ vấn đề đó ra thực hành sao cho chúng trước khi tốt nghiệp trường tiểu học thì chúng đã trở thành những công dân nho nhỏ rất cực kỳ tháo vát, có thể tự mình ứng phó đến một chừng mực nào đó trong hầu hết mọi trường hợp khẩn cấp có thể đột nhiên xuất hiện.
Người ta cũng dạy kỹ càng cho chúng về hiến pháp của xứ sở, giải thích cho chúng đủ thứ qui định và phong tục. Mặt khác chúng lại dốt đặc cán mai về lý do của nhiều điều mà trẻ con Âu Tây được học; chúng không quen biết bất kỳ ngôn ngữ nào khác ngôn ngữ bản địa của mình; mặc dù người ta nhấn mạnh tới việc nói chính xác và đơn thuần nhưng việc nói dễ dàng chủ yếu là do thường xuyên thực tập hơn là do tuân theo những qui tắc ngữ pháp. Chúng chẳng biết gì về đại số, hình học hoặc lịch sử, cũng chẳng biết gì về địa lý bên ngoài lãnh thổ của tổ quốc mình. Khi tốt nghiệp trường học đầu đời này, chúng có thể xây dựng cho bạn một căn nhà đầy đủ tiện nghi nhưng không thể vẽ cho bạn được một sơ đồ kiến trúc; chúng chẳng biết gì về hóa học nhưng lại được giáo dục kỹ lưỡng về những nguyên tắc chung về vệ sinh thực hành.
Trước khi trẻ con tốt nghiệp trường tiểu học thì chúng phải đạt được một tiêu chuẩn nhất định nào đó về đủ mọi loại điều kiện để trở thành công dân tốt. Hầu hết dễ dàng đạt được mức này khi chúng đạt được vào khoảng 12 tuổi; một ít đứa trẻ kém thông minh hơn phải cần nhiều năm hơn nữa. Các vị thấy giáo chủ nhiệm lớp của những trường tiểu học này có trách nhiệm nặng nề là xác định nghề nghiệp tương lai cho học trò, hoặc có lẽ nói cho dúng hơn là cố vấn cho nó về điều ấy, vì người ta chẳng bao giờ ép buộc đứa trẻ phải dồn sức làm việc mà nó không thích. Tuy nhiên nó phải chọn một nghề nghiệp tương lai xác định nào đó và khi nó đã quyết định rồi thì nó được tuyển vào một loại trường trung cấp dạy nghề đặc biệt dự tính chuẩn bị nó cho đường lối sinh hoạt mà nó đã chọn lựa. Ở đây nó trải qua 9 – 10 năm còn lại ngồi trên ghế nhà trường, chủ yếu lo thực tập thuộc các loại mà nó dồn hết năng lượng vào đó. Đặc trưng này xuyên suốt cả hệ thóng giáo huấn; tương đối có ít việc dạy lý thuyết; nhưng sau khi được chỉ cho thấy một sự việc vài lần thì đứa trẻ trai hoặc gái luôn luôn bắt đầu tự mình làm việc ấy, cứ làm đi làm lại mãi cho đến khi năng khiếu ấy nhuần nhuyễn.
Có rất nhiều sự linh động đối với mọi sự an bài này; chẳng hạn như một đứa trẻ sau khi được trắc nghiệm thỏa đáng, thấy mình không hợp với công việc đặc biệt mà mình đã đảm nhiệm, thì nhờ vào sự tư vấn của các thầy cô có thể chọn một nghề khác và được chuyển sang một trường khác thích hợp với mình. Tuy nhiên những sự chuyển trường này dường như hiếm có vì trong hầu hết trường hợp thì trước khi đứa trẻ tốt nghiệp trường tiểu học nó đã tỏ ra có năng khiếu nhất định về một đường lối sinh hoạt nào đó mở ra trước mắt mình. Cho dù khi sinh ra thuộc giai cấp nào thì mọi đứa trẻ cũng đều có cơ hội được huấn luyện để gia nhập giai cấp trị vì xứ sở nếu nó muốn và nếu thầy cô giáo tán thành. Tuy nhiên việc huấn luyện để có được vinh dự này là cực kỳ khắc khe và tiêu chuẩn cần thiết rất cao đến nỗi số ứng viên chẳng bao giờ lớn quá.Thật ra thầy cô giáo luôn luôn theo dõi những đứa trẻ có năng khiếu phi thường đó cho chúng có thể cố gắng thích hợp với địa vị vinh hạnh nhưng gian lao này nếu chúng sẵn lòng đảm nhiệm.
Ngoài giai cấp cai trị và giai cấp tu sĩ thì đứa trẻ có thể chọn đủ thứ nghề nghiệp. Có nhiều loại xưởng chế biến – một số xưởng cũng khá lớn đang phát triển năng khiếu nghệ thuật theo đủ mọi phương hướng, có những dây chuyền sản xuất khác để gia công kim loại, chế tạo máy và cải tiến máy móc hoặc công trình kiến trúc thuộc đủ loại. Nhưng có lẽ nghề nghiệp chính của xứ sở này là nông nghiệp theo khoa học. Phúc lợi của quốc gia tùy thuộc phần lớn vào ngành mà do đó người ta luôn luôn quan tâm nhiều tới nó. Nhờ một chiều dài những cuộc thí nghiệm được tỉ mỉ và kiên nhẫn thực hiện xuyên suốt nhiều thế hệ, người ta đã hoàn toàn nhận biết được khả năng của đủ loại đất đai trong xứ sở sao cho vào lúc mà chúng tôi đang bàn luận ở đây, đã có một truyền thuyết rộng lớn về đề tài này. Những bản tường trình chi tiết về mọi cuộc thí nghiệm được lưu trử ở cái mà ta gọi là Thư khố của Bộ Nông nghiệp, nhưng kết quả nói chung được tổng kết để cho nhân dân xử dụng qua hàng loạt những câu ngạn ngữ ngắn gọn, được bố trí để cho học sinh dễ thuộc lòng.
Tuy nhiên những kẻ nào đã chọn nghề là nông nghiệp thì tuyệt nhiên người ta cũng chuyên trông mong chúng hoàn toàn lệ thuộc vào ý kiến của cha ông. Trái lại, người ta khuyến khích mọi sự thí nghiệm mới mẻ, và bất cứ ai thành công khi phát minh ra một loại phân bón mới mẻ hữu dụng, hoặc một loại máy móc tiết kiệm lao động thì đều được Chính quyền tưởng thưởng và long trọng tôn vinh. Rải rác khắp xứ có một số lớn Nông trại Quốc doanh nơi người ta đào tạo kỹ lưỡng đám thanh niên; ở đây cũng giống như ở trường tiểu học, việc huấn luyện cũng lại nặng về thực hành hơn là lý thuyết, mỗi học viên đều học rốt ráo cách tự mình làm hết mọi việc mà sau đó mình phải giám sát.
Chính nơi những nông trại huấn luyện này mà người ta tiến hành thử nghiệm những cuộc thử nghiệm mới do chính quyền đài thọ chi phí. Nhà phát minh chẳng phải bận tâm kiếm người tài trợ để trải nghiệm khám phá của mình, đây thường là một trở ngại chí tử cho thành công của việc phát minh thời nay, y chỉ cần đệ trình sáng kiến của mình lên vị Quận trưởng, khi cần thiết thì có một hội đồng chuyên gia phụ tá cho Quận trưởng, và nếu họ không thể vạch ra được một khuyết điểm rành rành nào đó trong lý luận của y, thì kế hoạch của y sẽ được thử nghiệm hoặc máy móc của y sẽ được chế tạo thử do chính y giám sát mà bản thân chẳng hề mất công bỏ tiền ra! Nếu thí nghiệm chứng tỏ rằng phát minh xưa y có một điều gì đó dùng được thì nó sẽ tức khắc được Chính quyền chọn dùng và sử dụng ở bất cứ nơi đâu có thể dùng được.
Nông dân đã vắt óc nghĩ ra những thuyết để cho đủ thứ phân bón thích ứng với đủ thứ đất đai. Chẳng những họ sử dụng loại vật liệu mà hiện nay chúng ta nhập khẩu từ chính xứ sở ấy để bón phân mà còn thử nghiệm hết đủ loại hóa hợp mà một số loại thành công đáng kể. Họ có một hệ thống tài tình mặc dù cồng kềnh để sử dụng nước thái; tuy nhiên hệ thống này cũng hoàn toàn hữu hiệu như bất cứ loại nào khác mà ta có hiện nay.
Họ cũng đã tiến bộ đáng kể về xây dựng và sử dụng máy móc, mặc dù hầu hết máy móc đều thô sơ hơn máy móc của chúng ta. Và họ chẳng hề có nền cơ khí cực kỳ chính xác nhằm ghép lại những bộ phận nhỏ xíu vốn là đặc trưng nổi bật của nên cơ khí hiện đaị. Mặt khác, mặc dù máy móc của họ thường to lớn và cồng kềnh nhưng nó vẫn hữu hiệu và xét theo bề ngoài thì tuyệt nhiên không hề bị trục trặc. Có một ví dụ mà chúng tôi lưu ý, đó là một loại máy kỳ diệu để gieo hạt, bộ phận chính của nó trông giống như thể phỏng theo mô hình bộ phận định vị trí của một loài côn trùng nào đó. Ấy là một thứ gì đó có hình dạng một cái xe kéo thấp chủng nhưng rộng bè bè; khi người ta kéo nó băng ngang qua cánh đồng thì nó tự động đào 10 hàng lỗ cách quãng đều đặn, thả một hạt giống vào trong mỗi lỗ, tưới nước rồi cào đất xung quanh cho bằng phẳng trở lại.
Hiển nhiên là họ cũng hiểu biết về môn thủy lực vì nhiều máy móc của họ dò áp lực nước gây chuyển động – nhất là máy được dùng trong hệ thống tinh xảo để tưới nước vốn hoàn hảo và tinh xảo phi thường. Có nhiều đất đai ở trên đồi và ở trạng thái tự nhiên ấy thì việc trồng trọt chẳng có lợi bao nhiêu; nhưng dân thời xưa đã cần cù đầm nó ra thành những lớp đất rất giống như ở vùng đồi núi tại Tích lan ngày nay. Bất cứ ai có dịp du lịch bằng xe lửa từ Rambukkana tới Peradeniya đều không thể không chú ý tới nhiều ví dụ thuộc loại công trình này. Ở Peru thời xưa, mọi khoảnh đất gần trung tâm đô thị lớn có nhiều dân cư đều được tận dụng.
Họ có nhiều kiến thức khoa học nhưng khoa học của họ đều thuần là khoa học thực dụng. Họ không có cái kiểu nghiên cứu khoa học trừu tượng như trong đám chúng ta thời nay. Chẳng hạn như họ nghiên cứu tỉ mỉ về thực vật học nhưng tuyệt nhiên không theo quan điểm của chúng ta. Họ chẳng biết mà cũng chẳng buồn quan tâm tới việc phân loại thực vật thành ra hiển hoa và ẩn hoa, cũng chẳng biết gì về số nhụy trong một đóa hoa hoặc cách sắp xếp lá trên một cành cây; chọ chỉ muốn biết về cái cây đó là nó có những tính chất gì, có công dụng ra sao để làm thuốc, làm thực phẩm hay để làm phẩm nhuộm. Chuyện này thì họ biết rành rọt lắm.
Về hóa học thì cũng vậy; họ chẳng biết gì về số nguyên tử và cách sắp xếp các nguyên tử trong một hợp chất Carbon; thật ra họ có nghĩ gì tới về nguyên tử và phân tử đâu theo như chúng ta hiểu. Họ chỉ quan tâm tới các hóa chất xem chúng có công dụng ra sao: hóa chất này có thể được hòa hợp thành ra loại phân bón có giá trị hoặc loại thực phẩm nguồn gốc thực vật, hóa chất này có thể sử dụng trong đủ thứ chế biến để sản xuất ra một chất nhuộm rất đẹp hoặc một axit hữu dụng. Mọi việc nghiên cứu khoa học đều được thực hiện theo một quan niệm thực dụng nào đó. Bao giờ họ cũng cố gắng tìm ra một điều gì đó nhưng luôn luôn với một mục đích xác định liên quan tới nhân sinh chứ không bao giờ vì lợi ích của việc nghiên cứu điều trừu tượng.
Có lẽ khảo hướng gần gủi nhất của họ đối với khoa học trừu tượng là nghiên cứu về thiên văn học; nhưng môn học này đúng ra được coi là thuộc về tôn giáo hơn là chỉ thuần về kiến thức trần tục. Nó khác với những môn học kia ở chỗ nó thuần túy là theo truyền thống và người ta chẳng hề nỗ lực thêm thắt vào kho thông tin ấy theo chiều hướng đó. Kho thông tin không lớn mặc dù đủ chính xác đến mức cần thiết. Họ hiểu rằng các hành tinh không giống như các ngôi sao và bảo các hành tinh là chị em của trái đất – vì họ công nhận rằng trái đất là một trong các hành tinh – hoặc đôi khi là những đứa con cả của Mặt trời. Họ biết rằng trái đất có hình cầu, sở dĩ có ngày đêm là vì trái đất quay xung quanh trục của mình và sở dĩ có bốn mùa là vì trái đất hằng năm quay vòng quanh mặt trời. Họ cũng biết rằng các định tinh bên ngoài Thái dương hệ và họ coi các sao chổi là sứ giả của các Đấng cao cả khác đến với Đấng Mặt trời; nhưng ta cũng hoài nghi chẳng biết họ có quan niệm thỏa đáng hay chăng về kích thước thật sự của bất kỳ thiên thể nào liên quan.
Họ cũng có thể tiên đoán được cả nhật thực lẫn nguyệt thực một cách hoàn toàn chính xác, nhưng điều này không phải là do quan sát mà là do sử dụng một công thức theo truyền thống; họ hiểu được bản chất của chúng và dường như không gán cho chúng nhiều tầm quan trọng lắm. Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng những đấng mà họ được kế thừa truyền thống ắt phải là hoặc có thể tiến hành quan sát khoa học trực tiếp hoặc là có năng khiếu thần nhãn khiến cho không cần phải quan sát khoa học; nhưng những người Peru vào thời kỳ mà chúng tôi khảo sát đều không có được những ưu điểm ấy. Ta thấy toan tính duy nhất khiến cho họ thực hiện một điều gì đó giống như là việc quan sát cá nhân, đó là việc họ tìm ra giờ khắc chính xác của buổi giữa trưa bằng cách cẩn thận đo lường bóng râm của một cây cột cao vút dưới mặt đất của đền thờ; một tập hợp những cái chốt nhỏ được di chuyển dọc theo những đường rãnh trên đá để đánh dấu chính xác giờ chính ngọ. Dụng cụ thô sơ ấy cũng được dùng để tìm ra ngày tháng hạ chí và đông chí vì họ có những nghi thức tôn giáo đặc biệt liên quan tới những thời kỳ này.
[1] Những trang mở đầu của phần miêu tả về Peru thời xưa vốn được trình bay trong Tạp chí Thông Thiên Học sẽ xuất hiện ở Phụ lục III cùng với một phát biểu ngắn gọn về hoàn cảnh mà thoạt tiên người ta đã viết ra nó.
[2] Bạn đọc kho tài liệu văn chương cổ Ấn độ ắt nhận ra ngay hệ thống này giống như hệ thống thịnh hành trong đám dân Aryan vào thời sơ khai. Điều này cũng tự nhiên thôi vì các đấng Bàn Cổ nối tiếp nhau đều là thành viên của Quần Tiên hội và dấn thân vào cùng một công việc.
CHƯƠNG XII
HAI NẾN VĂN MINH ATLANTIS
Toltec ở cổ Peru năm 12.000 trước Công nguyên (tiếp theo)
HAI NẾN VĂN MINH ATLANTIS
Thuật kiến trúc của giống dân cổ sơ này có nhiều mặt khác với bất kỳ nền kiến trúc nào khác mà chúng tôi đã từng quen thuộc và việc nghiên cứu nó ắt vô cùng thú vị đối với bất cứ nhà thần nhãn nào có hiểu biết chuyên môn về đề tài này. Vì bản thân chúng tôi không được hiểu biết nhiều về thuật ấy cho nên chúng tôi khó mà mô tả được các chi tiết một cách chính xác, mặc dù có lẽ chúng tôi cũng hi vọng truyền đạt được một điều gì đó với cảm tưởng chung khi ta thoạt nhiên quan sát nó ở trình độ thế kỷ thời nay.
Khoa kiến trúc ấy thật đồ sộ nhưng không khoa trương, trong nhiều trường hợp, nó minh chứng cho những năm tháng kiên trì lao động, nhưng rõ rệt là được thiết kế để sử dụng chứ không phải để khoe mã. Nhiều tòa nhà rất mênh mông nhưng dưới con mắt người thời nay thì dường như khá lệch lạc về tỉ lệ, trần nhà hầu như luôn luôn quá thấp so với kích thước của căn phòng. Chẳng hạn như trong nhà của một viên Thống đốc ta thường thấy có nhiều tòa nhà bằng kích thước của sảnh đường Westminster thế nhưng không có tòa nhà nào cao hơn 12 bộ tính từ sàn nhà lên tới trần nhà. Ta chẳng thấy có các cột trụ vốn rất ít được sử dụng và cái mà ta gọi là một hàng cột thanh nhã thì ở cổ Peru thường là một bức vách với những lỗ rỗng khoét trong đó. Những cột trụ như thế thật là nguy nga và thường là kết thành một khối duy nhất.
Xét theo biểu kiến thì họ không biết tới mái vòm với đá tảng mặc dù tuyệt nhiên chẳng hiếm gì những cửa sổ hoặc những cửa ra vào mà mái hình bán nguyệt. Trong những kiểu mẫu rộng lớn hơn thì ta thấy có một cửa hình bán nguyệt nặng nề bằng kim loại đôi khi được chế tạo ra gắn vào bên cạnh chỗ bị khoét rỗng, nhưng người ta thường hoàn toàn trông cậy vào loại chất kết dính rất có hiệu quả để sử dụng thay cho vữa. Chúng tôi không biết chính xác bản chất của vật liệu này nhưng chắc chắn là nó hữu hiệu. Họ cắt những khối đá khổng lồ ra một cách rất chính xác ăn khớp với nhau sao cho ta khó lòng nhận thấy được những chỗ nối; thế rồi họ dùng đất sét trát bên ngoài các chỗ nối và đổ vữa của mình vào đó dưới tình trạng đang nóng chảy lỏng. Cho dù những vết nứt giữa hai khối đá nhỏ đến đâu đi nữa thì chất lỏng ấy cũng mò vào được chất đầy vết nứt. Đến khi nguội lại nó đông cứng như đá lửa và quả thật nhìn bề ngoài rất giống đá lửa. Bấy giờ người ta cạo bỏ lớp đất sét bên ngoài thì bức tường đã hoàn chỉnh, và sau khi hàng thế kỷ trôi qua nếu có một vết nứt trong công trình thợ nề này xuất hiện thì chắc chắn vết nứt ấy không phải ở chỗ nối, vì chỗ nối còn kiên cố hơn chính tảng đá nữa.
Đa số nhà ở nông thôn được xây bằng cái mà ta phải gọi bằng gạch bởi vì nó được chế tạo bằng đất sét, nhưng gạch là những khối vuông lớn mỗi bề có lẽ đo được tới một thước Anh; đất sét không được nung lên mà được trộn lẫn với một số hóa chất nào đó rồi phơi ngoài trời trong vài tháng cho rắn chắc lại, khiến cho xét về sự cố kết và hình dáng bên ngoài thì chúng trông giống như những khối xi măn hơn là gạch xây. Nhà xây bằng gạch hiếm khi nào kém chất lượng hơn nhà xây bằng đá về bất cứ phương diện nào.
Mọi căn nhà cho dù nhỏ nhất đều được xây trên bình diện cổ điển và về hướng đông của sân vườn trung tâm, tất cả đều có những bức vách mà giờ đây ta xét thấy là có bề dày rất lớn. Túp lều đơn giản nhất và nghèo nàn nhất chỉ có được bốn phòng, mỗi phòng ở một bên cửa sân vườn nhỏ xíu đâu mặt vào nhau, vì cái phòng này thường không có cửa sổ nhìn ra ngoài cho nên từ ngoài nhìn vào, dáng vẻ của những căn nhà ấy trông thật tẻ nhạt trần trụi. Người ta rất ít toan tính trang trí ngoại thất nơi những bộ phận nghèo nàn của thành thị hoặc thôn quê, có một loại đường viền theo kiểu mẫu rất đơn giản thường là tất cả những gì phá vỡ sự tẻ nhạt của những bức vách trơ trơ ra đó của cái túp lều.