Lối đi vào luôn luôn ở một góc của hình vuông, thời xưa cửa ra vào chỉ là một phiến đá khổng lồ, nó được kéo lên theo những cái rãnh nhờ vào các đối trọng giống như các cửa thành bằng sắt hoặc cửa sổ đẩy thời nay. Khi cửa bị đóng lại thì đối trọng có thể dựa trên những cái kệ tách rời ra khiến cho cửa ra vào hầu như vẫn như là một khối bất di bất dịch rõ ràng làm cho kẻ trộm phải nãn chí nếu như có một kẻ nào đó muốn trộm cắp trong cái Nhà nước đã được tổ chức một cách hoàn hảo đến mức đó. Ở nhà của các giai cấp thượng lưu hơn thì phiến đá dùng làm cửa ra vào được khắc chạm công phu và sau này thường được thay thế bằng một phiến kim loại dày. Tuy nhiên phương pháp gia công cửa chẳng thay đổi bao nhiêu mặc dù ta quan sát thấy một vài ví dụ có những cửa bằng kim loại nặng nề xoay trên cái bản lề.
Những căn nhà lớn hơn thoạt tiên cũng được xây dựng theo bản sơ đồ thiết kế ấy,mặt dù được trang trí nội thất nhiều hơn, chẳng những bằng cách khắc chạm các viên đá theo nhiều kiểu mẫu mà còn làm cho bề mặt những viên đá khác nhau qua những dãy kim loại rộng lớn. Ở một khí hậu như thế thì nhà cửa xây dựng qui mô lớn hầu như là vĩnh cữu và đa số nhà có sẵn lúc ấy đang có người ở vào thời kỳ chúng tôi viết ra đều thuộc loại này. Tuy nhiên một số nhà sau này – hiển nhiên được xây dựng vào những thế kỷ mà dân chúng tin chắc rằng hệ thống chính quyền là ổn định và có đủ quyền lực khiến nhân dân phải thượng tôn pháp luật – thì nhà cửa có một tập hợp kép các phòng xung quanh sân vườn giống như bất cứ căn nhà hiện đại nào, một tập hợp quay mặt vào sân vườn (trong trường hợp này là một vườn cây được tỉa tóp rất đẹp mắt) còn một tập hợp phòng khác quay mặt ra bên ngoài hướng vô bối cảnh xung quanh. Chính tập hợp phòng hướng ngoại này mới có những cửa sổ lớn – hoặc nói cho đúng hơn là những cửa trổ ra ngoài, vì mặc dù người ta chế tạo ra được nhiều loại thủy tinh nhưng thủy tinh không được dùng làm cửa sổ - những cửa sổ ấy cũng có thể được đóng lại theo nguyên tắc giống như cửa ra vào.
Thế nhưng ta vẫn thấy rằng phong cách chung của thuật kiến trúc nội thất nơi những căn nhà, dù lớn hay nhỏ đều khá tẻ nhạt và nghiêm trang, mặc dù thích ứng rất tốt với khí hậu. Mái nhà hầu như rất nặng nề và phẳng, lúc nào cũng được làm bằng đá hoặc một phiến kim loại. Một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của thuật xây nhà là hầu như hoàn toàn không có gỗ, người ta tránh dùng gỗ vì nó có thể phát hỏa và do cẩn thận như vậy cho nên xứ Peru thời xưa không hề biết tới nạn hỏa hoạn.
Cách thức xây nhà cũng thật đặc biệt. Người ta không dùng dàn giáo mà khi căn nhà được xây nền thì người ta đổ đầy đất vào sao cho khi bức vách lên tới cao độ cần thiết thì bên trong đã có một bề mặt đất phẳng lặng. Những viên đá dùng làm mái được đặt trên nền đất ấy, thế rồi xi măn nóng chảy được đổ vào chúng như thường lệ. Ngay khi mọi chuyện xong xuôi thì người ta đào bỏ đất đi, lớp mái vẫn được nâng đỡ cái trọng tải khổng lồ của chính mình nhờ vào sức chịu đựng của loại xi măn kỳ diệu cho nên dường như luôn luôn an toàn tuyệt đối. Thật vậy khi đã hoàn tất thì xét về mọi mục đích và ý định, toàn thể kiến trúc mái và vách trở thành một khối rắn chắc dường như thể nó đã được khoét ra từ một khối đá sống động – nhân tiện xin nói đây là một phương pháp thật sự được chọn theo ở một số nơi trên triền núi.
Một vài nhà ở vùng thủ đô có thêm lầu một, nhưng ý tưởng này không được phổ biến lắm trong dân cư và những sự cải tiến táo bạo như thế là cực kỳ hiếm hoi. Quả thật có một điều gì đó giống như tác dụng của một số tầng lầu, tầng này ở trên tầng kia đã được thực hiện một cách kỳ diệu nơi một số tòa nhà mà các tu sĩ thờ Mặt trời ở trong đó, nhưng người ta đã dàn xếp để cho nó không thể được chọn dùng phổ biến trong đô thị đông đảo người. Trước hết người ta làm một cái nền đất rộng mênh mông đại khái là hình vuông mỗi bề một ngàn bộ Anh và có chiều cao từ 15 tới 18 bộ Anh, thế rồi trên đó mỗi bề chỉ 50 bộ Anh thôi, người ta lại dựng nên một cái bệ khổng lồ khác là một hình vuông 900 bộ vuông, trên đó có những cái cạnh được đo tới 800 bộ và trên đó lại có một cái bệ thứ tư đo được 700 bộ và cứ thế chúng nhô lên với kích thước giảm đi dần dần cho tới khi đến tầng 10 thì chỉ còn 100 bộ vuông để rồi ở trung tâm của cái nền cuối cùng ấy người ta xây dựng một đền thờ nhỏ thờ Mặt trời.
Hậu quả của tổng thể giống như một thứ gì đó là một kim tự tháp phẳng rộng lớn vươn lên thành từng bậc rộng và tương đối không cao – một loại Đồi Primrose khắc vào trong những nền đất. Và từ mặt thẳng đứng của mỗi một trong những cái bệ lớn này người ta khoét những căn phòng - có thể nói là những biệt thất mà các tu sĩ và khách đến thăm sống trong đó. Mỗi biệt thất có một phòng trong và một phòng ngoài, phòng trong được chiếu sáng nhờ vào phòng ngoài, phòng ngoài hoàn toàn thông khí ở phía đối diện ra bên ngoài; thật vậy nó chỉ gồm có ba vách và một mái. Cả hai phòng đều được lát gạch và lát nền bằng những phiến đá được trét xi măn để cho rắn chắc theo cách thông dụng. Những nền đất ở phía trước được bố trí thành ra vườn và lối di cho nên các biệt thất là những nơi cư trú rất dễ chịu. Có nhiều trường hợp thì một vùng đất cao tự nhiên được khoét ra thành những nền đất theo kiểu này nhưng hầu hết các kim tự tháp đều được dựng nên nhân tạo. Thường thường người ta nối một đường hầm vào tâm của từng lầu thấp nhất trong một kim tự tháp như thế, rồi xây những phòng dưới đất như thể đưọc dùng làm kho chứa ngũ cốc và những nhu yếu phẩm khác.
Ngoài những kim tự tháp đáng chú ý theo hình dẹt ra, còn có những đền thờ thông thường để thờ Mặt trời, một số có kích thước lớn bao phủ một mảnh đất lớn mặc dù dưới mắt người Âu Tây thì tất cả đều có khuyết điểm chung là quá thấp so với chiều dài. Chung quanh chúng luôn luôn có những vườn cây thoải mái, bên dưới gốc cây người ta giảng đạo khiến cho các đền thờ này rất nổi tiếng.
Nên phía ngoài đền thờ đôi khi không được tôn nghiêm như mong muốn thì dù sao đi nữa phía bên trong đền thờ cũng có ít khuyết điểm khả hữu hơn. Kim loại quí được xài thoải mái để trang trí nội thất là một đặc điểm của sinh hoạt Peru ngay cả hàng ngàn năm sau này khi một dúm người Tây ban nha thành công chinh phục được giống dân tương đối đã thoái hóa vốn thế chỗ cho giống dân mà chúng ta đang cố gắng miêu tả phong tục của họ. Vào lúc chúng tôi đang viết tài liệu này thì cư dân ở đây không quen với thuật mạ vàng của chúng ta, nhưng họ vô cùng khéo léo khi rèn kim loại ra thành những miếng mỏng lớn và các đền thờ lớn thường được dát bằng vàng và bạc theo đúng nghĩa đen. Những miếng kim loại che phủ trên vách thường dày tới 1/4 phân Anh, thế nhưng chúng được định hình thành ra phù điêu tinh vi trên đá dường như thể là một lớp giấy sao cho theo quan điểm thời nay của ta thì một đền thờ như vậy thường là kho chứa vô số tài sản.
Giống dân xây dựng các đền thờ ấy không coi mọi thứ đó là của cải theo nghĩa chúng ta thường hiểu mà chỉ coi là vật trang sức thích hợp thỏa đáng. Ta nên nhớ rằng việc trang sức theo kiểu này tuyệt nhiên không chỉ hạn chế vào các đền thờ, mọi căn nhà có kích thước đáng kể đều lát trên tường một thứ kim loại nào đó cũng giống như hiện nay ta dán giấy lên tường khiến cho đá trần trụi phô ra ở phía bên trong tương đối với họ giống như tường quét vôi trắng đối với chúng ta – hầu như chỉ hạn chế vào những chái nhà phụ hoặc nơi ở của giới nông dân. Nhưng chỉ có cung điện của nhà Vua và các vị Thống đốc chính yếu là được dát bằng vàng ròng giống như các đền thờ; còn đối với thường dân thì người ta dùng đủ thứ hợp kim đẹp đẽ dễ sử dụng và tạo ra những hiệu quả phong phú mà tương đối chẳng tốn kém bao nhiêu.
Khi nghĩ tới thuật kiến trúc của họ ta không được quên chuỗi thành lũy mà đức Vua đã dựng nên quanh biên giới Đế quốc của mình để kiểm soát các bộ tộc man di mọi rợ ở ngoại biên. Ở đây muốn miêu tả chính xác và phê phán cho đáng đồng tiền bát gạo thì chúng tôi cần có sự phục vụ của một chuyên gia; nhưng ngay cả một người bình dân nhất cũng có thể thấy rằng trong hầu hết trường hợp người ta đã chọn lựa tình huống của cái thành lũy này một cách đáng hâm mộ và nếu không có pháo binh thì hầu như không thể xuyên thủng được chúng. Trong một số trường hợp chiều cao và chiều dài của bức tường rất lớn; chúng có đặc điểm quả thật mọi bức tường cao ở xứ này đều có đặc điểm ấy là dần dần được làm thuôn lên từ bề dày nhiều bộ Anh ở dưới đáy tới một kích thước thông thường hơn nhiều ở một độ cao 20 – 30 thước Anh. Có những lô cốt với lỗ châu mai nhìn ra ngoài và những lối đi bí mật dược đào khoét vào trong tận tâm khảm của những bức vách kỳ diệu này; phía trong thành lũy được bố trí và cất đầy đủ quân nhu sao cho lính đồn trú có thể chịu đựng được một cuộc bao vây lâu dài mà không nao núng. Người quan sát đặc biệt choáng váng trước sự bố trí tài tình của một loạt những cánh cổng, cổng này bên trong cổng kia ăn thông với nhau bằng những địa đạo ngoằn ngoèo hẹp, chúng đã được bố trí khiến cho bất cứ lực lượng nào toan tính đột kích vào thành lũy sẽ bị quân phòng vệ hoàn toàn khống chế.
Nhưng các công trình kỳ diệu của giống dân kỳ lạ này chắc chắn là đường sá và cầu cống. Đường sá chạy hàng trăm dặm vắt qua xứ sở (một số đường dài hơn 1000 dặm) ngang nhiên coi thường những khó khăn của thiên nhiên khiến cho những kỹ sư táo bạo nhất thời nay cũng khâm phục. Mọi thứ đều thực hiện trên qui mô khổng lồ và mặc dù trong một số trường hợp số lượng lao động cần thiết hầu như không tính toán nổi, nhưng thành quả của chúng thật là nguy nga và trường tồn. Toàn thể con đường được lát bằng những phiến đá phẳng giống như lề đường trên đường phố Luân Đôn; nhưng ở mỗi bên dọc theo đường đi đều có trồng cây để che bóng mát và những cây con tỏa ngát hương thơm cho bầu không khí; xứ sở được cắt ngang cắt dọc bằng một mạng lưới đại lộ được tráng nền đường rất huy hoàng, các sứ giả của nhà Vua hằng ngày đều đi lại trên những con đường ấy. Những người nàỳ thực ra cũng hành nghề bưu diện vì một phần nhiệm vụ của họ là đưa thư miễn phí cho bất cứ ai muốn gửi thư.
Chỉ khi những người xây dựng đường sá gặp phải một rãnh nước hoặc một dòng sông thì ta mới thấy hết tột đỉnh thiên tài kiên nhẫn và sự kiên trì bất khuất của giống dân này. Như chúng tôi có nói, họ không biết nguyên tắc làm một mái vòm thật sự và họ chỉ có thể bắt chước gần nhất với nó trong khi xây cầu là khiến cho mỗi lớp gạch nhô ra ngoài một chút bên dưới nó cho đến khi bằng cách này hai đê bao cuối cùng hợp long và loại xi măn kỳ diệu của họ làm cho toàn thể kết cấu ấy rắn chắc lại giống như một khối đá. Họ chẳng biết gì về đập tạm và thường dằn nền cho nên họ thường tốn biết bao công phu để tạm thời chuyển dòng một con sông ngõ hầu có thể xây cầu qua đó; hoặc trong những trường hợp khác họ xây dựng một đập ngăn dưới dòng nước cho đến khi họ đạt tới chỗ có đê bao thế rồi khi đê bao đã hoàn tất thì họ lại phá bỏ đập tạm. Vì những khó khắn này cho nên họ thích đắp đê để bắc cầu bất cứ khi nào có thể được; và họ thường đưa một con đường hoặc một cống dẫn nước băng ngang qua một rãnh nước sâu với dòng sông chảy cuồn cuộn, bằng cách đấp một cái đê khổng lồ trong đó có nhiều đường hầm hơn là bằng cách bắc cầu thông thường.
Hệ thống dẫn nước vào ruộng của họ vô cùng hoàn chỉnh và ngay cả giống dân sau này cũng tiến hành điều đó ở qui mô lớn sao cho nhiều nơi trong xứ sở giờ đây lại bị sa mạc hóa sau khi đã được xanh tươi phì nhiêu chỉ vì hệ thống cung cấp nước lọt vào tay những kẻ xâm lược Tây ban nha bất tài hơn nhiều. Có lẽ trên thế giới không có một thành tích kỹ thuật nào vĩ đại hơn việc xây dựng cầu cống ở Peru thời xưa. Và mọi thứ này được thực hiện chẳng phải bằng lao công khổ sai là những kẻ nô lệ hoặc tù binh mà là do nông dân của xứ này làm việc được trả lương chính thức lại được quân đội trợ giúp phần lớn.
Nhà Vua duy trì một số quân đội lớn lao để lúc nào cũng sẵn sàng đối phó với các bộ tộc ở ngoại biên, nhưng vì vũ khí chỉ thô sơ thôi cho nên họ cũng cần tương đối thay bất cứ loại thao luyện nào đó; vì vậy phần lớn thời giờ của họ có thể dùng để phục vụ công ích theo một kiểu nào đó. Toàn bộ trách nhiệm sửa chữa đủ loại công trình công cộng chính được giao phó cho họ và họ cũng phải cung cấp được bưu điện viên thường xuyên mang các phúc trình và công điện cũng như thư riêng đi tới khắp nơi trong Đế quốc. Việc duy tu bất cứ thứ gì đều được giả định là trong phạm vi của quân đội, nhưng khi người ta cần phải làm một con đường mới hoặc cần được trợ giúp để xây dựng một thành lũy mới thì phải nói chung là thuê mướn quân đội.
Dĩ nhiên đôi khi cũng bùng nổ chiến tranh với những bộ tộc kém văn minh ở ngoại biên, nhưng vào lúc chúng tôi đang viết tài liệu này thì hiếm khi nào có một vụ xáo trộn nghiêm trọng. Các bộ tộc man di mọi rợ dễ dàng bị đánh lùi rồi bị trừng trị; đôi khi nếu chúng có vẻ chịu qui phục nền văn minh cao hơn thì đất đai của chúng được sáp nhập vào Đế quốc và chúng phải tuân theo luật lệ của Đế quốc. Dĩ nhiên là thoạt đầu thì cũng gặp một số khó khăn nào đó với các công dân mới, họ không hiểu phong tục cho nên cũng chẳng hiểu tại sao mình phải tuân theo phong tục; nhưng chỉ sau một thời gian ngắn là hầu hết đều sẵn sàng chấp nhận theo thói quen thường nhật ấy, còn những người không cải tạo được thì bị lưu đày sang các xứ sở khác chưa sáp nhập vào Đế quốc.
Khi chiến tranh xảy ra thì người Peru cũng nhân đạo vì họ hầu như lúc nào cũng chiến thắng đám bộ tộc man di mọi rợ, cho nên đối với họ việc này tương đối dễ thôi. Họ có một châm ngôn: “Bạn không bao giờ được độc ác với kẻ thù bởi vì ngày mai y sẽ trở thành bạn của mình”. Khi chinh phục các bộ tộc xung quanh, họ luôn luôn cố gắng càng ít giết người càng tốt dể cho dân chúng có thể sẵn lòng qui phục Đế quốc, tạo ra mối quan hệ công dân hữu hảo trong tình cảm anh em đối với những người đi chinh phục mình.
Vũ khí chính là giáo, gươm và cung tên, họ cũng dùng khá nhiều bolas là một khí cụ mà người da đỏ Nam mỹ thời nay vẫn còn sử dụng. Nó bao gồm hai cục đá hoặc hai viên kim loại nối liền với nhau bằng một sợi dây thừng để khi quăng nó ra sẽ ngăn cản một người hoặc ngựa, khiến cho y ngã nhào xuống đất. Khi phòng thủ một thành lũy thì họ luôn luôn lăn những viên đá lớn xuống áp đảo kẻ tấn công và thành lũy đá đặc biệt xây dựng nhằm khiến cho quân phòng thủ có thể làm được điều ấy. Người ta dùng một loại gươm ngắn giống như mã tấu và chỉ dùng gươm khi giáo mác đã bị gãy hoặc khi đã bị giải giáp. Họ cũng thường ưa làm xuống tinh thần quân địch bằng việc bắn tên như mưa rào rồi xung phong tấn công bằng giáo mác trước khi quân địch kịp trở tay.
Vũ khí được chế tạo tinh vi vì thiên hạ rất thuần nghề gia công kim loại. Họ dùng sắt nhưng không biết biến nó thành thép cho nên đối với họ không có giá trị bằng đồng và đủ thứ đồng thau, đồng đỏ, vì tất cả những thứ này có thể được làm cho cực kỳ rắn chắc bằng cách hợp kim với một dạng xi măn đáng chú ý, còn sắt không thể hòa hợp hoàn hảo như vậy. Kết quả của qui trình làm rắn chắc này thật đáng kể vì ngay cả đồng nguyên chất mà được hợp kim thì cũng có thể ít ra có lưỡi sắc như là thép tốt nhất của ta, và hầu như chắc chắn là một số hợp kim của họ còn cứng rắn hơn cả bất cứ kim loại nào mà ta chế tạo được thời nay.
Có lẽ đặc điểm kỳ diệu nhất trong việc gia công kim loại của họ là nó cực kỳ tinh vi và tinh xảo. Một số công trình điêu khắc của họ quả thật tuyệt vời hầu như quá tinh vi cho nên mắt trần không thấy được ít ra là cũng theo cặp mắt thời nay của ta. Có lẽ hay hơn hết là loại đồ trang sức tuyệt hảo giống như tơ nhện mà họ đã đạt được đến mức nhất nghệ tinh; chẳng hiểu làm thế nào mà họ chế tạo được như vậy khi không có kính lúp. Nhiều đồ trang sức tinh vi khôn tả đến nỗi nó không thể được làm sạch theo phương thức thông thường. Nếu ta vò nó hoặc phủi bụi cho dù kỹ lưỡng đến đâu thì nó sẽ bị hủy hoại ngay; vì vậy muốn làm sạch nó thì phải cần tới một loại ống thổi.
Có một thuật chế biến khác đạt đến mức chuyên môn khá cao là nghề đồ gốm, bằng cách trộn lẫn một hóa chất nào đó với đất sét, họ biến nó ra thành một màu đỏ thắm như son rất dễ thương thế rồi họ dùng vàng bạc cẩn vào nó theo một cách thức tạo ra những hiệu quả mà chúng tôi chưa từng thấy ở nơi nào khác. Ở đây những đường nét cực kỳ tinh xảo lại là một chuyện làm cho chúng tôi say mê. Người ta cũng có được những màu sắc tinh vi khác và chế biến thêm loại xi măn đá lửa thường dùng khi đem trộn với đất sét đã được nhào nặn thì khiến cho nó trong suốt hầu như chẳng kém gì pha lê trong suốt của ta. Nó cũng có ưu điểm lớn là ít dòn hơn thủy tinh thời nay; thật vậy nhiều đặc điểm của nó khiến ta nghĩ tới cái loại thủy tinh dẻo mà chúng tôi đôi khi đọc thấy trong truyện hoang đường thời trung cổ. Chắc chắn họ có được thuật tạo ra một loại gốm sứ mỏng nào đó có thể uốn cong mà không bị gãy, ta sẽ thấy điều này khi đến lượt bàn về văn chương của họ.
Vì xứ sở này có phong tục rất ít dùng đồ gỗ cho nên đồ kim loại và đồ gốm sứ đã thay thế đồ gỗ phần lớn và người ta thực hiện thành công hơn nhiều so với mức thời nay ta có thể nghĩ ra được chắc chắn là người Peru thời xưa khi thường xuyên khảo cứu về hóa học đã khám phá ra một số qui trình mà các nhà chế tạo thời nay còn chưa biết tới. Nhưng khi thời gian trôi qua thì Giống dân thứ Năm sẽ tái khám phá ra điều ấy, và một khi điều này đã xảy ra thì nhu cầu cạnh tranh khốc liệt thời nay sẽ buộc họ phải thích ứng với mọi loại đồ vật mà người Peru thời xưa chưa hề mơ ước tới.
Thuật hội họa đã được thực hành tới mức đáng kể và bất cứ đứa trẻ nào tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về hội họa đều được khuyến khích trau dồi tài năng tối đa. Tuy nhiên phương pháp chọn theo khác hẳn phương pháp của chúng ta, và bản chất đặc thù của chúng làm cho công việc này thêm phần khó khắn ghê gớm. Người ta không dùng vải vẽ, giấy vẽ hoặc ván vẽ mà thay vào đó dùng một phiến mỏng của một loại vật liệu bằng silic. Ta khó lòng truy nguyên được thành phần cấu tạo chính xác của vật liệu này, nhưng nó có một bề mặt tinh vi bóng láng khá giống với dáng vẻ của loại gốm sứ tinh vi chưa tráng men. Nó không dòn mà có thể uốn cong được nhiều giống như một phiến làm bằng thiếc, bề dày của nó thay đổi tùy theo kích thước từ một tờ giấy viết bền dai cho tới một tờ giấy bìa nặng nề.
Người ta dùng một cọ vẽ do chính thiên nhiên cung cấp để vạch lên chính bề mặt này những màu sắc hết sức thuần khiết và sáng chói. Đó chỉ là một thanh dài cắt ra từ một cọng hình tam giác của một loại cây thông dụng có thớ. Ở đầu mút của cọng cây này người ta đập dẹp một phân Anh cho đến khi chẳng còn gì ngoại trừ lớp xơ mịn như lông tóc mà lại hầu như bền dai như dây kẽm, thế là người ta sử dụng cái cọ vẽ với phần chưa đập dập được dùng làm cán cọ. Dĩ nhiên ta có thể tân trang cái cọ vẽ ấy khi nó mòn đi bằng một qui trình na ná như chuốt bút chì; người họa sĩ chỉ cần cắt bỏ lớp xơ đã phô ra rồi lại đập dập một phân Anh khác trên phần cán cọ. Cái dạng hình tam giác sắc sảo của công cụ này khiến cho người họa sĩ tài hoa có thể dùng nó hoặc là để vẽ một đường mịn hoặc là quẹt một bệt màu rộng; trường hợp muốn vẽ đường nét mịn thì họa sĩ dùng góc cọ, còn trường hợp muốn quẹt một bệt thì dùng cạnh hình tam giác.
Màu vẽ luôn luôn dưới dạng bột và tùy trường hợp cần thiết mà pha trộn với không phải nước cũng chẳng phải với dầu, song pha trộn với một dẫn chất nào đó khô ngay tức khắc khiến cho một khi đã vẽ rồi thì không còn thay đổi được nữa. Họa sĩ không phác họa gì hết mà phải tự rèn luyện mình để vẽ hữu hiệu, chắc chắn bằng những nét vẽ rất nhanh, lĩnh hội được chính xác sắc thái cũng như hình dạng qua một nỗ lực bao quát giống như khi việc vẽ bích họa hoặc trong một tác phẩm Nhật bản nào đó. Màu sắc cực kỳ hữu hiệu và sáng sủa, một số màu có mức thuần khiết và tinh vi vượt xa bất cứ thứ nào mà hiện nay ta đang sử dụng. Có một màu xanh lơ tuyệt vời trong sáng hơn cả màu da trời đẹp đẽ nhất cũng có một màu tím và màu hường không giống bất cứ màu nào thời nay, nhờ đó ta có thể mô phỏng lại sự huy hoàng khôn tả của bầu trời lúc mặt trời lặn gần giống như thật hơn bất cứ lúc nào dường như đạt được vào thời nay. Trong một bức tranh, người ta biểu diễn đồ trang sức bằng vàng, bạc và đồng thau cũng như bằng một kim loại màu đỏ thắm như son mà hiện nay khoa học không biết, người ta diễn tả bằng cách dùng bụi của chính kim loại giống như cách minh họa thời trung cổ, đây là một phương pháp dường như kỳ quặc đối với con mắt thẩm mỹ thời nay, nhưng ta không thể chối bỏ được việc nó tạo ra một ấn tượng dã man, phong phú cực kỳ theo đường lối riêng của nó.
Phép vẽ phối cảnh là chính xác và hoàn toàn phóng khoáng không có sự thô thiển vụng về đặc trưng cho nghệ thuật thời kỳ sau này ở Trung Mỹ và Nam Mỹ. Mặc dù thuật hội họa vẽ phong cảnh rất thịnh hành vào thời đó nhưng vào lúc chúng tôi đang nghiên cứu thì nó không được dùng làm một cứu cánh mà chỉ được dùng làm bối cảnh cho những hình vẽ. Các đám rước tôn giáo thường được chọn làm đề tài hội họa, đôi khi những phong cảnh có Vua hoặc một vị Thống đốc địa phương nào đó đóng vai trò nổi bật.
Khi người ta đã vẽ tranh xong (những họa sĩ chuyên nghiệp vẽ tranh rất nhanh) thì người ta lại tô lên một lớp vẹc ni nào đó, lớp vẹc ni này cũng có tính chất hầu như khô ngay tức khắc. Bức tranh được xử lý như vậy hầu như không thể phai mờ và có phơi ra nắng mưa trong một thời gian dài thì cũng không gây ra được một hậu quả đáng kể nào đối với nó.
Có liên quan mật thiết với nghệ thuật của xứ sở này chính là môn văn chương, vì sách vở được viết ra hoặc nói cho đúng hơn là minh họa trên cùng một vật liệu và dùng cùng một loại màu sắc như các bức tranh. Một quyển sách bao gồm một số tờ giấy mỏng thường thường có kích thước khoảng 18 phân Anh cho sáu tờ, đôi khi được dán lại bằng sáp nhưng thường hơn chỉ được bảo trì trong một cái hộp sâu từ 3 tới 5 phân Anh. Những cái hộp này được làm bằng đủ thứ vật liệu được ít nhiều trang trí phong phú, nhưng thường được làm bằng kim loại giống như bạch kim và trang hoàng bằng cái sừng khắc vào đó; bằng cách nào đó nó đã được dán cứng vào bề mặt kim loại qua một quá trình làm mềm khiến cho nó dính chặt mà không cần dùng tới đinh tán hoặc xi măn.
Theo chỗ chúng tôi thấy thì không hề có một loại bản chất in ấn nào, cách tiếp cận gần nhất với nó là dùng một loại giấy stencil để tạo ra nhiều bản sao của một loại thông tri chính thức nào đó để nhanh chóng phân phối cho các Thống đốc trên khắp Đế quốc. Tuy nhiên chúng tôi chưa quan sát thấy có trường hợp nào toan tính mô phỏng lại một quyển sách theo kiểu này và quả thật hiển nhiên là một cuộc thí nghiệm như thế ắt bị coi là phạm thượng, vì quốc gia nói chung rất tôn kính sách vở và xử lý chúng cũng trân trọng như bất kỳ tu sĩ nào thời trung cổ. Sao chép lại một quyển sách được dứt khoát coi là một công trạng và nhiều quyển sách được viết tay chép lại đẹp đẽ hơn mang tính nghệ thuật hơn.
Phạm vi văn chương của họ khá hạn hẹp. Có một vài bộ khảo luận có thể được xếp loại dứt khoát mang tính tôn giáo hoặc dù sao đi nữa cũng mang tính luân lý, và chúng đi theo những đường lối giống như các bài giảng của tu sĩ thời xưa mà phần tóm tắt đã được trình bày ở chương trước. Hai ba bộ khảo luận này dứt khoát có khuynh hướng thần bí, nhưng chúng ít được đọc và được lưu truyền hơn những bộ khảo luận được trực tiếp coi là mang tính thực tiễn hơn. Sách thần bí thú vị nhất là sách gần giống như Thanh tịnh kinh của Trung quốc và hầu như chắc chắn đó là một phiên bản của nó hơi biến cải đi một chút.
Kho tài liệu văn chương đại khái có thể chia thành hai phần: thông tin khoa học và truyện kể có mục đích. Có những bộ khảo luận hoặc cẩm nang bàn về mọi thuật kinh doanh hoặc thủ công nghiệp hoặc nghệ thuật đang được thực hành trong xứ sở, chúng có bản chất là những quyển sổ tay chính thức thường thường không phải là công trình của bất cứ ai mà đúng hơn là ghi chép lại kiến thức tồn tại về đề tài ấy vào lúc chúng được viết ra. Người ta thường xuyên phát hành những bản phụ lục của những quyển sách này khi có thêm những khám phá mới hoặc sửa đổi những ý kiến cũ và bất cứ ai có một bản sao đều giữ cho nó được thay đổi về mặt tôn giáo và chú thích cập nhật. Vì các vị Thống đốc có trách nhiệm phổ biến thông tin như thế cho nên hầu như họ luôn luôn bảo đảm nó đến tay bất cứ ai quan tâm tới nó; như vậy sách chuyên khảo của Peru về bất cứ đề tài nào là một bản tóm tắt thật sự kiến thức hữu ích về đề tài ấy, cung cấp cho học viên dưới dạng cô đọng kết quả khảo nghiệm của các tiền bối theo một đường lối đặc thù nào đó.
Các chuyện kể hầu như đều thuộc một loại tổng quát và như tôi có nói, rõ rệt là chuyện kể có mục đích. Nhân vật anh hùng bao giờ cũng là vị Vua, Thống đốc hoặc viên chức cấp dưới và chuyện kể cách mà nhân vật ấy thành công đối phó với đủ thứ trường hợp khẩn cấp xảy ra trong quá trình làm việc của mình. Nhiều chuyện kể mang tính cổ điển là những lời gia huấn cho mọi người mà họ thuộc lòng giống như những chuyện kể trong kinh thánh đối với chúng ta, thường xuyên được tham chiếu và trích dẫn nêu gương phải làm gì và không được làm gì. Như vậy trong hầu hết bất cứ tình huống nào có thể xảy ra được mà con người phải giáp mặt thì trong tâm trí y đã có một loại tiền lệ nào đó để dẫn dắt hành động mình. Không chắc gì tất cả những chuyện kể này đều mang tính lịch sử - chỉ biết chúng đều là chuyện kể về những điều thực sự xảy ra hay một số chỉ là hư cấu – nhưng chắc chắn nói chung người ta chấp nhận chúng là sự thật.
Khi bối cảnh của một câu chuyện như thế xảy ra ở một tỉnh biên cương thì có nhiều chuyện phiêu lưu thường len lỏi vào đó; nhưng may thay (cho các bạn Peru của chúng ta) cái điều ghê tởm chán nản của những người đọc tiểu thuyết thời nay tức là chuyện tình yêu chưa hề xuất hiện trong đó. Nhiều tình huống xuất hiện trong cái chuyện kể đâu phải là không hài hước vì quốc gia này vốn vui nhộn và ham vui; thế nhưng chuyện rõ rệt là tấu hài không hề có chỗ đứng trong khoa văn chương. Còn một chỗ trống đáng tiếc khác là hoàn toàn không có thể như ta biết. Người ta biết rõ và thường trích dẫn một vài câu cách ngôn và thành ngữ gói ghém bằng ngôn từ nhịp nhàng êm tai khá giống như một số câu thơ trong thuật thi ca của chúng ta; tuy nhiên cho dù một số quan niệm ấy thật là thơ mộng thì phong cách của chúng chẳng có gì rõ ràng là nhiều âm điệu. Trong trường hợp đủ thứ câu ngắn gọn thì có những điệp vận để trợ giúp trí nhớ cho trẻ con có thể học thuộc lòng và trong việc phụng trợ tôn giáo thì có vài câu được hát lên dưới dạng âm nhạc; nhưng ngay cả những câu này cũng chỉ thích hợp với việc ngâm lên cũng giống như chúng ta đã thích ứng lời lẽ trong một bài thánh ca với cung bậc Gregoria để hát lên, chứ chúng không được viết ra để thích hợp với một loại âm nhạc nhất định như các bài thánh ca của ta.
Điều này khiến ta phải xét tới môn âm nhạc của người Peru thời xưa. Họ có nhiều loại nhạc cụ trong số đó đáng kể là một ống sáo và một loại hạc cầm để tạo ra được một loại nhạc du dương thoang thoảng, mơ màng, dịu dàng dã man. Nhưng nhạc cụ chính và phổ biến nhất của họ khá giống về bản chất như một loại dương cầm. Âm thanh được tạo ra do một lưỡi kim loại rung động, nhưng luồng hơi được nén vào trong nhạc cụ không phải do tác động của bàn chân mà do một sự bố trí cơ khí tài tình. Thay vì là những phím đàn như của ta, lại có đỉnh của một cụm những cột kim loại nhỏ mà ngón tay của người chơi đàn ấn vào đó sao cho thao tác này dứt khoát khiến ta nhớ tới thao tác của một người đánh máy thời nay. Nhạc cụ này có thể tạo ra khả năng đáng kể để diễn đạt những điều rất đẹp đẽ, nhưng âm giai của người cổ Peru cũng giống như âm giai của người Atlantis và khác hẳn âm giai của chúng ta đến nỗi ta hầu như không thể đánh giá đúng đắn được những tác dụng tạo ra bằng phương tiện này. Theo chỗ chúng tôi thấy thì không có chuyện bất cứ ai cũng tùy ý viết ra hoặc sao chép lại một bản nhạc, mà những người này hình như không biết; mỗi người chơi nhạc đều là ngẫu hứng tự biên tự diễn; tài năng âm nhạc của họ không phải là năng lực thuyết minh công trình của một bậc thầy mà chỉ là ngẫu hứng phong phú.
Thuật điêu khắc cũng là một thuật phát triển mạnh mẽ trong dân chúng, mặc dù có lẽ ta nên đặc trưng phong cách của họ là táo bạo, hữu hiệu và xông xáo chứ không được tuyệt diệu về mặt thành bại. Hầu như mọi pho tượng đều có vẻ kính thước khổng lồ, một số chắc chắn là những tác phẩm nghệ thuật hùng vĩ; nhưng đối với ai quen mắt thưởng ngoạn nghệ thuật Hi lạp, thì trong cái sức mạnh áp đảo ấy của khoa điêu khắc cổ Peru có một hơi hám gì đó thô lỗ. Tuy nhiên mỹ thuật được thực hiện dưới dạng phù điêu và hầu như luôn luôn được che phủ bằng kim loại vì dân tộc này đặc biệt có khuynh hướng thiên tài về công trình kim khí, là một đường lối thường xuyên tạo ra những đồ trang trí nội thất tuyệt diệu nhất.
Xét về sinh hoạt hằng ngày của quốc gia này cùng với phong cách và phong tục của nó thì có một số điều mà chúng tôi ngay tức khắc chú ý là bất thường và thú vị. Chẳng hạn như phong tục kết hôn của họ dứt khoát là đặc thù vì hôn lễ chỉ diễn ra mỗi năm có một ngày. Công luận đều trông mong là mỗi người đều có đôi có lứa, trừ phi y có lý do chính đáng để sống đơn độc, nhưng về vấn đề này thì chẳng điều gì có thể được coi là cưỡng chế. Tệ nạn tảo hôn bị nghiêm cấm nhưng ngay khi thanh niên thiếu nữ đến tuổi cập kê thì họ được toàn quyền chọn lựa người phối ngẫu của mình chẳng khác nào phong tục của chính chúng ta. Tuy nhiên hôn lễ chỉ có thể diễn ra vào một ngày thích hợp khi quan chức chủ trì một thị trấn hoặc một quận huyện chính thức viếng thăm; lúc bấy giờ tất cả thanh niên thiếu nữ đã đến tuổi có thể kết hôn trong một năm trước kia đều được triệu tập tới trước mặt y để được chính thức thông báo là bây giờ họ được tự do đăng ký kết hôn. Một số tỉ lệ thanh niên nam nữ thường quyết định lợi dụng ngay cơ hội ấy; do đó họ bước tới trước mặt vị Thống đốc để nêu thỉnh nguyện và sau khi được phỏng vấn vài câu thì được trải qua một nghi thức đơn giản tuyên hôn cho họ thành vợ chồng. Quan chức cũng ra lệnh sửa lại việc phân phối đất đai cho thích ứng với hoàn cảnh mới vì tân lang và tân giai nhân giờ đây không còn được coi là thành viên trong gia đình cha mẹ ruột của mình mà tự thân đã là các chủ gia đình đủ lông đủ cánh. Vì vậy người có gia đình được cấp đất đai nhiều gấp đôi người độc thân, nhưng ngay cả khi đó thì hiếm khi y thấy công việc cày cấy là quá sức mình.
Ta quan sát thấy một điều đặc biệt liên quan tới thức ăn chính của nước này. Dĩ nhiên dân thời đó cũng ăn đủ thứ thức ăn giống như người thời nay. Chúng tôi chẳng biết thịt thú vật có bị cấm hay chăng nhưng chắc chắn vào thời chúng tôi khảo sát thì không thấy người ta ăn thịt. Người ta trồng khoai tây, khoai mài; chế độ ăn của họ phần lớn là đủ thứ tổ hợp, bắp, lúa gạo và sữa, tuy nhiên họ có một loại thực phẩm nhân tạo rất kỳ diệu có thể coi là lương thực cấp dưỡng cho họ, đối với họ nó có vị trí giông giống như bánh mì đối với chúng ta, vì đó là nền tảng chính của hầu hết bữa ăn. Cơ sở của món này là bột bắp được pha trộn với đủ thứ thành phần hóa học sau đó được nén chặt lại để cho đến cuối dây chuyền sản xuất thì ta có một loại bánh cứng với nồng độ thực phẩm rất cao. Thành phần cấu tạo của nó được bố trí cẩn thận để có thể bao gồm mọi thứ cần thiết cho việc dinh dưỡng hoàn hảo thuận tiện đến mức tối đa; và cho đến lúc đó thì cuộc thử nghiệm ấy đã thành công đến nỗi chỉ cần một lát mỏng cũng đủ cấp dưỡng cho trọn cả một ngày và người ta có thể mang nó theo dùng làm lương thực trong cuộc du hành dài ngày mà chẳng bất tiện chút nào.
Cách dùng đơn giản nhất là mút nó chầm chậm giống như thuốc ngậm nhưng nếu có thời giờ thì ta có thể nấu nướng chiên xào nó, những phương thức chế biến này làm cho nó nở ra gấp bội. Tự thân nó hầu như chẳng có mùi vị gì, nhưng người ta có thói quen ướp mùi vị theo đủ kiểu trong quá trình chế biến và đủ thứ mùi vị này được biểu thị bằng nhiều màu sắc khác nhau. Chẳng hạn như một bánh màu hường có mùi lựu, bánh màu xanh lơ có mùi va ni, bánh màu vàng có mùi vị cam, bánh màu hường sọc trắng có mùi vị ổi v.v… sao cho thích ứng được với đủ mọi khẩu vị của mọi người.
Cái loại kẹo nén kỳ diệu này là thực phẩm chính của xứ sở và đa số người ta hầu như chẳng ăn gì khác cho dù họ có nhiều món ăn khác để chọn lựa. Nó được chế biến với số lượng khổng lồ đến nỗi vô cùng rẻ và mọi người đều dễ dàng mua được cho nên những người bận rộn thấy nó có nhiều ưu điểm hiển nhiên. Người ta trồng nhiều trái cây, ai thích trái cây thì cứ ăn thêm kèm vào loại kẹo ngâm, nhưng mọi món ăn thêm này chỉ là vấn đề khẩu vị chứ không cần thiết.
Toàn thể giống dân này rất thích những con thú cưng đủ loại, trải qua thời gian họ đã chuyên môn phát triển những tạo vật này tới mức phi thường. Những con khỉ nhỏ và mèo con có lẽ là những con thú nói chung được ưa thích nhất và có nhiều loại khỉ mèo được lai giống từ hầu hết mọi loài nguyên thủy cũng giống như những loài biến chất mà chúng ta hiện nay gọi là chó lùn. Xét về loài mèo thì chúng đặc biệt có màu lông rất bất thường vì thậm chí chúng thành công lai giống đến mức có được một số màu lông rõ rệt là không có trong đám thú bốn chân: một màu xanh lơ rực rỡ chắc chắn là đẹp mắt
Nhiều người cũng thích chim nữa, ta có thể trông mong như vậy nơi một lục địa có biết bao nhiêu mẫu chủng loại màu sắc rực rỡ; thật vậy tuyệt nhiên ta không thể không biết ơn họ đã lai giống được một số loài chim lộng lẫy hiện nay vẫn còn ở trong những khu rừng nguyên sinh lưu vực sông Amazon. Một số mệnh phụ quí phái có những chuồng chim khổng lồ làm bằng các dây vàng ở trong sân vườn nhà và dành hết thời giờ rỗi rảnh để cố gắng vun bồi trí khôn và tình thương cho những thú cưng ấy.
Y phục của dân tộc này thật là đơn giản và nghèo nàn: chỉ là một loại quần áo lụng thụng giống như một số quần áo mà thời nay người Đông phương thường mặc, ngoại trừ việc người Peru thời xưa ít mặc quần áo trắng hơn và thường nhuộm màu sắc sặc sỡ hơn người Ấn độ thường dân thời nay. Một đám đông người Peru vào dịp lễ hội là một phong cảnh cực kỳ rực rỡ có lẽ hiện nay chỉ người Miến điện mới bì kịp họ. Theo thông lệ thì quí bà lẽ ra việc ưu ái những chiếc áo dài màu xanh lơ, loại y phục này gần giống như y phục mà các họa sĩ thời trung cổ thường gán cho Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, đây là loại thông dụng nhất vào thời chúng tôi đang viết tài liệu. Vải may quần áo thường làm bằng bông mặc dù đôi khi người ta cũng dùng một loại vải len mềm và mịn của loài lạc đà và loài lạc đà không bướu. Có một loại vải rất bền chắc được làm bằng sợi cây được chế biến bằng hóa chất theo một kiểu nào đó khiến cho chúng thích dụng với việc ấy.
Quốc gia này cũng có đủ phương tiện sử dụng những phương pháp thuần túy cơ học để tính toán nhanh chóng, đó là đặc trưng của giống dân Atlantis. Họ dùng một loại bàn tính gần giống như loại mà người Nhật thời nay sử dụng rất khôn khéo, họ cũng tạo ra một vật thay thế rẻ hơn dùng làm một cái khung có một loại viền gồm sợi dây được thắt nút có lẽ là nguyên bản của quipus mà người Tây ban nha hàng ngàn năm sau đó còn thấy thổ dân sử dụng ở nơi chính xứ sở này.
Khi nghiên cứu một nền văn minh xưa như thế thì có biết bao nhiêu điều thú vị nảy sinh ra – những điểm tương tự hoặc tương phản với sinh hoạt thời nay của ta – khiến cho thật khó lòng quyết định xem nếu muốn tường thuật thì phải bỏ bớt đi cái gì hoặc bao gồm cái gì. Chúng tôi không thể truyền đạt cho bạn đọc cái ý thức về thực tại sống động vốn tác động lên tất cả chúng tôi khi có dịp chứng kiến, nhưng chúng tôi tin rằng ít ra đối với một số bạn đọc thì chúng tôi cũng đâu phải hoàn toàn thất bại trong việc khiến cho quá khứ đã từng chết đi lâu rồi của họ bừng sống trở lại trong những phút giây ngắn ngủi. Và xin các bạn nhớ cho rằng bản thân chúng tôi – nhiều người hiện nay đang sống và làm việc ở Hội Thông Thiên Học – đã sinh ra trong đám dân cổ Peru vào chính cái thời ấy; nhiều người bạn thân mà hiện nay chúng tôi biết rất rõ và rất yêu mến thì vào cái thời xa xưa ấy cũng là thân bằng quyến thuộc của chúng tôi. Điều này khiến cho ký ức về mọi thứ mà chúng tôi cố gắng miêu tả ắt phải nằm sâu yên nghỉ bên trong thể nguyên nhân của nhiều bạn đọc và biết đâu nơi một số bạn đọc cái ký ức ấy có thể dần dần sống lại khi lặng lẽ suy nghĩ về những điều được miêu tả. Nếu có ai thành công như thế, thì họ ắt ngộ ra được thật kỳ diệu và thú vị xiết bao khi xem xét trở lại những kiếp sống đã bị lãng quên từ lâu rồi để xem từ đó đến nay chúng ta đã thu lượm được gì và thất bại chẳng thu hoạch được gì (xem phụ lục IV).
Thoạt tiên thì dường như thể xét về nhiều mặt quan trọng ta đã thoái hóa nhiều hơn là tiến bộ. Từ đó đến nay, sinh hoạt trên cõi trần với mọi môi trường xung quanh theo như chúng tôi biết dứt khoát là đã được quản lý tốt hơn bao giờ hết. Các cơ hội để làm việc vị tha và tận tụy với bổn phận dành cho giai cấp thống trị có lẽ chưa bao giờ đã được thực hiện tốt hơn; thế nhưng ta phải công nhận rằng những giai cấp kém khôn ngoan hơn chẳng cần phải phấn đấu hoặc nỗ lực động não, mặc dù khi họ tỏ ra như vậy thì sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.
Chắc chắn là thời nay, tình hình công luận không được cao trào, mà ý thức bổn phận cũng không được mạnh mẽ như thời xưa. Nhưng thật ra khó mà so sánh một cách công tâm. Cho đến nay chúng ta tương đối vẫn còn là một Dân tộc non trẻ trong khi cái mà ta đang khảo sát là một dòng dõi huy hoàng nhất của một Dân tộc từ lâu rồi đã đạt thời oanh liệt. Bây giờ chúng ta mới đang trải qua một thời kỳ thử thách, bão táp và cảm thông bởi vì chúng ta còn vô minh nhưng khi ra khỏi tình huống ấy rồi thì đến lúc chúng ta phát triển được một chút lương tri, chúng ta sẽ gặt hái được một mùa thành công an nghỉ để khi cờ đến tay theo đúng luật tiến hóa thì chúng ta sẽ phất cờ đạt tới một mức còn cao hơn họ nữa.
Ta phải nhớ rằng cho dù tôn giáo của họ thật hay ho thì theo chỗ chúng tôi biết nó chẳng có chút gì thực sự có thể được gọi là Huyền bí học; họ chẳng hề lĩnh hội được cái hệ thống tiến hóa lớn lao của vũ trụ mà chúng ta biết được khi có đặc quyền nghiên cứu Thông Thiên Học. Khi Căn chủng thứ Năm của chúng ta đã đạt tới trình độ giống như vậy thì chúng tôi chắc chắn có thể hi vọng rằng việc phối hợp môi trường vật lý xung quanh cũng tốt như họ với giáo huấn hình học chân chính, với sự phát triển tâm linh và trí tuệ cao hơn mức chúng ta có thể đạt được khi chúng ta tham gia vào cái di tích xa xưa oanh liệt của nền văn minh Atlantis cách đây 14.000 năm.
CHƯƠNG XIII
Hai nền văn minh Atlantis
Dân Turanie, Cổ Chaldea năm 19.000 trước Công nguyên.
Hai nền văn minh Atlantis
Dân Turanie, Cổ Chaldea năm 19.000 trước Công nguyên.
Một nền văn minh cổ khác làm chúng tôi chú ý theo cách của riêng nó hàu như cũng chẳng kém gì nền văn minh Peru, đó là nền văn minh phat khởi ở vùng châu Á mà sau này ta gọi là Babylon hay Chaldea. Có một điều kỳ diệu mà 2 Đế quốc lớn này thời xưa lại giống nhau, đó là một trong thời kỳ suy đồi nhiều thập kỷ sau này so với thời oanh liệt lúc mà ta nghiên cứu chúng thuân lợi nhất, mỗi một Đế quốc đều bị chinh phục bởi đám dân thấp hơn mình nhiều về qui mô văn minh; tuy nhiên họ lại ra sức chọn theo càng nhiều càng tốt những phong tục, về mặt dân sự và tôn giáo của giống dân cổ hủ mà họ đã khống chế được. Cúng giống như xứ Peru mà Pizarro khám phá ra được về hầu hết mọi phương diện đều chỉ là một bản sao nhợt nhạt của Peru cổ xưa hơn mà chúng tôi đã cố gắng miêu tả; cũng vậy xứ Babylon mà người nghiên cứu khảo cổ học biết tới thì xét về nhiều phương diện là một loại phản ánh suy đồi của một Đế quốc xưa hơn và lớn hơn.
Xét về nhiều mặt nhưng có lẽ không phải là mọi mặt. Có thể là khi đạt tột đỉnh vinh quang, vương quốc sau này có thể vượt qua tiền bối của mình về sức mạnh quân sự, về qui mô lãnh thổ hoặc về nền thương mại; nhưng xét về việc sống đơn giản, việc nhiệt thành sùng tín đối với những giáo điều của tôn giáo đáng chú ý mà họ theo đuổi và thực sự biết được những sự kiện trong thiên nhiên thì giống dân thời xưa hầu như chắc chắn là ưu việt hơn.
Có lẽ ít có sự tương phản nào lớn lao hơn giữa hai xứ sở mà chúng tôi đang xét là Peru và Babylon. Ở Peru, hệ thống chính quyền rất đáng chú ý là đặc điểm nổi bật, còn tôn giáo tạo thành một bộ phận tương đối nhỏ của sinh hoạt trong nhân dân – thật vậy chức năng trong chính quyền của các tu sĩ là giáo dục, y tế, nhân viên trong hệ thống vĩ đại cấp dưỡng cho người già, đã lồ lộ ra ngay trước mắt của kẻ biết suy nghĩ lấn áp hẳn công việc đôi khi mới có một lần của họ là ca ngợi hoặc rao giảng liên quan tới với việc phụng tự trong đền thờ. Mặt khác, ở Chaldea hệ thống chính quyền tuyệt nhiên không ngoại lệ, tác nhân chính trong đời sống ở đó chủ yếu là tôn giáo, vì không có công trình thuộc bất cứ loại nào được khởi sự mà không đặc biệt đề cập tới nó. Thật vậy tôn giáo của nhân dân thấm nhuần và khống chế sinh hoạt của họ tới mức độ chỉ giai cấp Bà la môn ở Ấn độ mới sánh kịp.
Ta nên nhớ rằng trong đám người Peru thì tục thờ cúng tôn giáo chẳng qua chỉ là một hình thức tôn thờ Mặt trời cực kỳ hay ho hoặc nói cho đúng hơn là tôn thờ Tinh thần Mặt trời; các giáo điều của nó chẳng có bao nhiêu và rõ ràng, còn đặc trưng chủ yếu của nó là tinh thần hoan hỉ thấm nhuần tất cả. Ở Chaldea, đức tin vốn nghiêm túc hơn và thần bí hơn, nghi lễ phức tạp hơn nhiều. Ở đó người ta chẳng những tôn thờ Mặt trời mà còn tôn thờ Đội binh Thiên giới; tôn giáo ở đây quả thật là một hệ thống thờ cúng hết sức cầu kỳ đối với các Tinh quân vĩ đại, bao gồm trong đó có một qui tắc thực hành về đời sống hàng ngày là một hệ thống Chiêm tinh học bao quát và được triển khai kỹ lưỡng.
Hiện nay ta hãy tạm thời trì hoản việc mô tả những đền thờ nguy nga của họ cùng với nghi thức lộng lẫy mà trước hết chỉ xem xét mối quan hệ của tôn giáo kỳ lạ này với sinh hoạt của nhân dân. Muốn hiểu được tác dụng của nó, ta phải cố gắng tìm hiểu quan điểm của họ về Chiêm tinh học; và tôi nghĩ rằng chúng ta ắt thấy nó xét chung là một quan điểm rõ rệt mang tính lương tri – quan điểm có thể được những bậc thầy về nghệ thuật ấy thời nay chọn theo một cách rất có lợi.
Dĩ nhiên bất cứ vị tu sĩ hoặc thầy giáo nào đều chưa bao giờ chủ trương ý tưởng cho rằng bản thân các hành tinh vật lý có ảnh hưởng gì tới những sự việc của con người; thậm chí theo chỗ chúng tôi biết thì ngay cả những người dốt nát nhất trong đám thường dân vào thời kỳ ban sơ mà hiện nay chúng tôi nói tới cũng không nghĩ như vậy. Lý thuyết dành cho các tu sĩ là một thuyết toán học hết sức cầu kỳ, có lẽ được truyền thừa lại cho họ qua một truyền thống liên tục từ các bậc thầy thời sơ khai vốn có kiến thức trực tiếp ngay tức khắc về những sự kiện vĩ đại trong thiên nhiên. Ý tưởng chung về hệ thống của họ cũng không khó hiểu lắm, nhưng dường như trong không gian ba chiều của ta không thể xây dựng được một hình vẽ toán học nào thỏa mãn được những yêu cầu trong giả thuyết của họ về mọi chi tiết – ít ra theo kiến thức mà chúng tôi có được hiện nay.
Thế là toàn thể Thái dương hệ với mọi thứ phức tạp trong đó đều chỉ được coi là một Thực thể vĩ dại, còn các bộ phận của nó là những biểu hiện riêng phần của Ngài. Mỗi thành phần cấu tạo vật lý của nó – mặt trời cùng với vành nhật hoa rực rỡ, mọi hành tinh cùng với các vệ tinh, đại dương, bầu khí quyển và đủ thứ chất ether vây quanh chúng – mọi thứ này xét chung hợp thành thể xác của Ngài tức là biểu hiện của Ngài trên cõi trần. Cũng giống như vậy, tập thể các cõi trung giới (chẳng những là cõi trung giới thuộc về các hành tinh vật lý, mà còn là các bầu hành tinh thuần túy bằng chất trung giới của tất cả hành tinh trong thái dương hệ; (chẳng hạn như các hành tinh B và F trong các dãy hành tinh trái đất) tạo thành thể vía của Ngài; còn tập thể các thế giới trên cõi trí tuệ tạo thành thể trí của Ngài, tức hiện thể mà Ngài dùng để biểu lộ trên cõi đặc thù ấy.
Cho đến đây thì ý tưởng thật là rõ ràng và tương ứng khắng khít với điều mà chính chúng tôi đã được giảng dạy về Đức Thượng Đế vĩ đại của Thái dương hệ chúng ta [1]
Bây giờ ta hãy giả sử rằng trong cơ thể của Ngài ở nhiều mức khác nhau có các lớp hoặc loại hình vật chất khác nhau được phân phối đều trên khắp Thái dương hệ. Các loại hình này tuyệt nhiên không tương ứng với việc ta phân chia một cõi ra thành các cảnh – việc phân chia này được thực hiện theo mức độ trọng trược của vật chất sao cho trên cõi trần chẳng hạn ta có các trạng thái vật chất ở thể đặc, thể lỏng, thể hơi và dạng dĩ thái. Trái lại việc phân chia nêu trên cấu thành một loạt những sự phân chia chéo khác hẳn, mỗi phần phân chia chéo bao gồm vật chất thuộc đủ mọi trạng thái vật chất khác nhau sao cho nếu ta biểu thị đủ thứ loại hình này bằng những con số thì ta ắt có vật chất thể đặc, thể lỏng và thể hơi thuộc loại vật chất thể đặc, thể lỏng, thể hơi thuộc loại hai, cứ thế mà tiếp diễn.
Trường hợp này xảy ra ở mọi mức, nhưng để cho rõ ràng hiện nay ta hãy hạn chế tư tưởng của mình vào chỉ một mức thôi. Có lẽ ta dễ dàng lĩnh hội được ý tưởng nhất khi xét về cõi trung giới. Người ta thường giải thích rằng trong thể vía của một người đều có vật chất thuộc về mỗi một trong các cảnh trung giới và tỉ lệ giữa các loại thô và loại tinh cho thấy thể vía có thể đáp ứng được bao nhiêu với những ham muốn thô trược hoặc thanh bai và như vậy trong một chừng mực nào đó mức độ mà người này tiến hóa được ắt biểu thị như thế. Tương tự như vậy trong mỗi thể vía thì vật chất cũng có những loại phân chia chéo, và trong trường hợp này tỉ lệ giữa những loại phân chia chéo ấy biểu thị bẩm tính của con người liệu y dễ bị kích động hay thanh thản, hâm hở hay điềm đạm kiên nhẫn hay sốt ruột v.v…
Thế mà thuyết của Chaldea cho rằng mỗi một loại hình vật chất trong thể vía của Thái dương Thượng Đế - đặc biệt là khối lượng tinh hoa ngũ hành hoạt động thông qua loại hình ấy đều có những ái lực riêng biệt đối với một hiện thể riêng biệt – hầu như là một thực thể riêng biệt – trong một chừng mực nào đó có thể rung động theo ảnh hưởng mà có lẽ những loại hình khác không đáp ứng. Các loại hình này khác nhau bởi vì vật chất cấu tạo nên chúng nguyên thủy phát xuất qua các trung tâm lực khác nhau của Thái dương Thượng Đế và vật chất thuộc mỗi loại hình này vẫn còn đồng cảm khắng khít với trung tâm lực có dính dáng tới nó sao cho sự biến đổi nhỏ nhất thuộc bất cứ loại nào trong tình huống của trung tâm lực ấy sẽ được phản ứng ngay tức khắc dưới một dạng nào đó qua mọi vật chất thuộc loại hình tương ứng.
Vì mọi người đều có nơi bản thân vật chất thuộc đủ mọi loại hình cho nên rõ rệt là bất cứ sự biến thái nào hoặc tác động nào của bất kỳ trung tâm lực nào cũng đều ảnh hưởng tới mọi sinh linh trong Thái dương hệ ở một mức độ nào đó; và tầm mức mà bất cứ người đặc thù nào chịu ảnh hưởng vốn tỉ lệ với hình vật chất mà y chịu ảnh hưởng vốn có sẵn trong thể vía của y. Điều này có nghĩa là chúng ta có nhiều loại hình người cũng như nhiều loại hình vật chất và bởi vì chúng được cấu tạo để hợp thành thể vía của con người cho nên một số chịu ảnh hưởng thuộc loại này nhiều hơn, còn một số chịu ảnh hưởng loại khác nhiều hơn.
Khi xem xét từ một cõi cao cấp đúng mức thì ta thấy toàn thể Thái dương hệ bao gồm các trung tâm lực lớn này, xung quanh mỗi trung tâm lực là một phạm vi ảnh hưởng bao la, biểu thị giới hạn mà thần lực tuôn đổ qua trung tâm lực đặc biệt tác động trong giới hạn ấy. Mỗi một trung tâm lực này có một loại thay đổi trật tự định kỳ hoặc chuyển động của riêng mình, có lẽ trên một cõi nào đó vô cùng cao thì nó tương ứng với nhịp đập đều đặn của quả tim vật thể của con người. Nhưng bởi vì một số sự thay đổi định kỳ này nhanh hơn hẳn những sự thay đổi khác, cho nên nó tạo ra một loạt những tác dụng kỳ diệu và phức tạp; ta đã quan sát thấy rằng chuyển động của các hành tinh vật lý tương quan với nhau ắt cung ứng được manh mối cho sự bố trí các phạm vi ảnh hưởng này vào bất cứ một thời điểm cho sẵn nào. Ở Chaldea người ta chủ trương rằng khi bầu tinh vân cháy đỏ nguyên thủy dần dần ngưng tụ lại để cho Thái dương hệ hình thành ra từ đó thì vị trí của các hành tinh vật lý được xác lập do sự tạo thành các xoáy lực ở một vài giao điểm của các phạm vi ảnh hưởng này đối với nhau cũng như đối với một cõi cho sẵn.
Các ảnh hưởng này thuộc về những phạm vi ấy khác hẳn nhau về tính chất và đó là cách thức khiến cho sự khác nhau này biểu lộ tác động xuyên qua tinh linh ngũ hành nơi con người cũng như xung quanh con người. Ta nên nhớ rằng ảnh hưởng này được giả định là tác động trên mọi cõi chứ không phải chỉ trên cõi trung giới, mặc dù vừa mới đây thôi để cho được đơn giản. Chúng ta đã hạn chế việc chú ý vào cõi ấy. Ảnh hưởng có thể và ắt hẳn phải có những đường lối tác động khác quan trọng hơn mà hiện nay chúng ta không rõ; nhưng ít ra thì điều này cũng buộc người quan sát phải lưu ý là mỗi phạm vi ảnh hưởng gây tác động đặc biệt lên đủ thứ tinh hoa ngũ hành.
Chẳng hạn như một ảnh hưởng kích thích mạnh mẽ hoạt động và sức sống của các loại tinh hoa ngũ hành vốn đặc biệt thuộc về trung tâm lực mà nó thoát thai từ đó trong khi xét theo biểu kiến lại kiểm soát và khống chế các loại tinh linh ngũ hành khác, ảnh hưởng của một phạm vi khác vốn mạnh mẽ đối với một loại tinh hoa ngũ hành khác thuộc về trung tâm lực ấy, trong khi xét theo biểu kiến lại tuyệt nhiên không ảnh hưởng tới các tinh hoa ngũ hành nêu ở ví dụ trước. Có đủ loại tổ hợp và hoán vị thuộc các ảnh hưởng này, trong một số trường hợp tác động của ảnh hưởng được tăng cường rất nhiều, còn trong những trường hợp khác hầu như lại bị hóa giải cho sự có mặt của một ảnh hưởng khác.
Ở đây tất nhiên ta sẽ thắc mắc chẳng biết các tu sĩ Chaldea có tin vào thuyết số mệnh hay chăng: sau khi đã khám phá ra và tính toán được tác dụng chính xác của những ảnh hưởng này đối với đủ thứ loại người thì chẳng biết họ có tin hay chăng việc những kết quả này là không thể tránh khỏi và ý chí của con người cũng bất lực không chống lại được. Đối với thắc mắc vừa nêu thì lời giải đáp của họ luôn luôn là nhấn mạnh: ảnh hưởng này tuyệt nhiên chắc hẳn là không có khả năng khống chế được ý chí của con người; trong một số trường hợp chúng có thể làm cho dễ dàng hơn hoặc gây khó khăn hơn đối với ý chí đang tác động theo một đường lối nào đó. Vì thể vía và thể trí của con người hầu hết đều bao gồm loại vật chất linh hoạt được cấp sinh lực mà hiện nay ta gọi là tinh hoa ngũ hành, cho nên bất kỳ sự kích động bất thường nào của bất cứ lớp tinh hoa ngũ hành nào hoặc là một sự gia tăng đột ngột hoạt động của nó chắc chẳng phải ảnh hưởng trong một chừng mực nào đó tới xúc động và trí tuệ của y hoặc là cả hai; và cũng hiển nhiên là những ảnh hưởng này phải tác động lên những người khác nhau không giống như nhau bởi vì tinh hoa ngũ hành cấu tạo nên các hạ thể của họ theo những tỉ lệ không giống nhau.
Nhưng ta có thể đoán chắc rằng trong bất kỳ trường hợp nào thì con người cũng không thể bị chúng lôi cuốn vào bất cứ đường lối hoạt động nào nếu ý chí của y không phê chuẩn, mặc dù rõ ràng y có thể bị chúng ngăn cản hoặc được chúng trợ giúp trong bất cứ nỗ lực nào mà y có cơ hội thành đạt. Các tu sĩ dạy rằng những người thật sự dũng mãnh hầu như chẳng quan tâm bao nhiêu tới ảnh hưởng xảy ra cho mình đối với cung mệnh, nhưng đối với người thường thì tốt hơn nên biết lúc nào thì lực này hay lực nọ có thể được ứng dụng thuận lợi nhất.
Họ giải thích cặn kẽ rằng giống như bất kỳ lực nào khác trong thiên nhiên (mà hiện nay ta có thể nói tới, chẳng hạn như điện hoặc bất cứ lực thiên nhiên nào khác), tự thân những ảnh hưởng ấy chẳng tốt mà cũng chẳng xấu, chúng có thể trợ giúp hoặc gây hại tùy theo cách sử dụng của con người đối với chúng. Cũng giống như chúng ta có thể nói rõ khi bầu không khí được tích đầy điện thì một vài cuộc thí ngiệm dễ thành công hơn, còn cũng trong tình huống ấy một vài thí nghiệm khác có lẽ sẽ thất bại; cũng vậy các tu sĩ bảo rằng một nỗ lực cần phải vận dụng tới các lực thuộc bản chất trí tuệ hoặc xúc động của ta ắt ít nhiều dễ dàng thành tựu được mục tiêu tùy theo ảnh hưởng đang khống chế vào lúc nỗ lực ấy.
Vì vậy ta nên hiểu rằng các yếu tố này có thể được một con người với quyết tâm sắt đá hoặc một người nghiên cứu Huyền bí học thực sự dẹp qua một bên coi là không đáng kể; tuy nhiên bởi vì đại đa số loài người vẫn còn chấp nhận thân phận bèo dạt mây trôi theo những sức mạnh của ham muốn chứ chưa chịu phát triển bất cứ điều gì đáng gọi là ý chí của riêng mình, cho nên cũng đúng thôi khi sự yếu đuối của họ khiến cho các các ảnh hưởng này đóng một vai trò quan trọng đến nỗi tự thân họ không tự quyết được.
Sự kiện một ảnh hưởng đặc biệt vào vốn đang tác động không bao giờ khiến cho một biến cố tất nhiên phải xảy ra, nhưng nó khiến cho biến cố ấy có nhiều khả năng xảy ra. Chẳng hạn như nhờ vào cái mà Chiêm tinh học hiện đại gọi là ảnh hưởng của Hỏa tinh thì một số rung động trong tinh hoa ngũ hành của thể vía bèn được xác lập với khuynh hướng điều động sự đam mê. Như vậy ta có thể an toàn tiên đoán rằng một người bản chất có khuynh hướng đam mê và dâm dục, đến khi ảnh hưởng ấy khống chế rõ rệt tác động của y thì rất có thể y sẽ phạm phải một tội ác nào đó liên quan tới sự đam mê hoặc dâm dục; tuyệt nhiên không phải là y bắt buộc phải gây ra tội ác ấy, nhưng có điều là một tình huống đã xuất hiện khiến cho y khó lòng duy trì được sự thăng bằng của mình. Đó là vì tác động này ảnh hưởng tới y theo cả hai mặt nội công ngoại kích.Chẳng những tinh hoa ngũ hành bên trong thể vía của y bị kích động hoạt động mạnh mẽ hơn mà loại vật chất tương ứng ở nơi cõi trung giới bên ngoài cũng gia tăng hoạt động nhanh hơn để rồi phản tác động lên y.
Người ta thường nêu ra một ví dụ là có một loại ảnh hưởng nào đó đôi khi gây ra tình huống sự việc trong đó mọi dạng kích động thần kinh đều được tăng cường ghê gớm, hậu quả nói chung là gây ra một ý thức nhốn nháo lan tràn. Trong tình huống ấy, những cuộc cãi cọ bùng nỗ dễ dàng hơn lúc bình thường, ngay cả với những cái cớ lặt vặt nhất và đại đa số mọi người luôn luôn hầu như mất bình tĩnh không còn tự chủ nổi nữa ngay cả đối với một sự khiêu khích kém bình thường.
Đôi khi nghe đâu có xảy ra những ảnh hưởng như thế tác động lên mối bất mãn âm ỉ với sự ganh tị ngấm ngầm, có thể được thổi bùng cháy lên thành một cơn điên dại của quần chúng rồi từ đó lan tràn ra như dịch bệnh. Hiển nhiên là lời cảnh báo đưa ra cách đấy hàng ngàn năm cho đến nay vẫn còn được nghiệm đúng; chính theo kiểu đó mà dân Paris năm 1870 đã bị kích động tràn ra đường phố hò hét “Bá linh!” và cũng chính vì thế mà biết bao nhiêu lần những tiếng gào thét ma quỉ “Din! din!” đã dễ dàng kích động được sự cuồng tín điên dại của đám đông người Hồi giáo kém văn minh.
Vì vậy khoa Chiêm tinh học của các tu sĩ Chaldea chủ yếu tập trung vào sự tính toán vị trí và tác động của các phạm vi ảnh hưởng sao cho chức năng chính của nó chủ yếu là tạo thành một qui tắc sinh hoạt chứ không phải để tiên đoán tương lai hoặc ít ra nếu có tiên đoán thì chỉ nói khuynh hướng chứ không nhắc tới những diễn biến đặc biệt; trong khi đó khoa Chiêm tinh học thời nay dường như chủ yếu đi theo đường lối tiên tri các diễn biến đặc biệt.
Tuy nhiên người Chaldea chắc chắn là đúng khi khẳng định rằng quyền năng của ý chí con người thay đổi số phận của mình được thể hiện qua nghiệp của y. Nghiệp có thể đưa y vào một môi trường xung quanh nào đó hoặc khiến y chịu một ảnh hưởng nào đó, nhưng nó không bao giờ có thể buộc y phạm phải một tội ác nào đó, mặc dù nó có thể thử thách y đến nỗi y cần phải quyết tâm sắt đá mới tránh được tội ác ấy. Vì vậy chúng tôi thấy dường như có khi khoa Chiêm tinh học có thể cảnh báo được con người vì những tình huống mà vào một lúc nào đó y nên tìm cách an trú nơi ấy, nhưng bất cứ lời tiên tri nào về hành động của y trong tình huống ấy thì xét về mặt lý thuyết chỉ mang tính xác suất thôi cho dù chúng tôi thừa biết rằng xác suất ấy hầu như là chắc chắn trong trường hợp kẻ phàm phu lang thang trên đường phố.
Những tính toán của các tu sĩ thời xưa này giúp cho họ mỗi năm có thể lập ra được một loại niên lịch chính thức nào đó khiến cho nói chung chi phối được trọn cả sinh hoạt của dân chúng. Họ quyết định lúc nào là thời điểm tối ưu để mọi việc nhà nông có thể được tiến hành an toàn nhất, họ tuyên bố lúc nào thích hợp để dàn xếp phải chọn giống cho thú vật và cây cối. Họ là thầy thuốc cũng như thầy giáo đối với nhân dân và họ biết chính xác đủ thứ loại thuốc men của họ có thể được uống hữu hiệu nhất trong những bối cảnh ảnh hưởng nào.
Họ chia tín đồ ra thành từng lớp, gán cho mỗi tín đồ cái mà nay ta gọi là tinh quân của y để rồi trong niên lịch có đầy những lời cảnh báo đối với những lớp người khác nhau chẳng hạn như: “Vào ngày thứ bảy thì những người nào thờ Hỏa tinh nên đặc biệt cảnh giác coi chừng sẽ cáu kỉnh vô cớ”; hoặc là: “Từ ngày thứ 12 tới 15 có nguy cơ bất bình thường liều lĩnh về vấn đề liên quan tới tình ái, nhất là những kẻ thờ Kim tinh” v.v… Chúng tôi không thể nghi ngờ việc những lời cảnh báo này có ích lợi rất nhiều cho đại khối quần chúng, mặc dù đối với một số người trong chúng ta thời nay thì sự phòng ngừa đối với những trường hợp bất ngờ lặt vặt như thế quả là một hệ thống cầu kỳ lạ lùng.
Do việc phân chia người ta đặc biệt như thế ra thành các loại hình tùy theo hành tinh được chỉ định là chiếm vị trí trung tâm ảnh hưởng mà họ dễ chịu ảnh hưởng nhất, đã nảy sinh ra một sự bố trí cũng kỳ lạ không kém đối với cả việc phụng tự ở các đền thờ công cộng lẫn sự sùng tín riêng tư của các tín đồ - một vài giờ trong ngày dùng để cầu nguyện, được điều chỉnh theo chuyển động biểu kiến của mặt trời, thì ai ai cũng phải tuân theo; lúc mặt trời mọc, giữa trưa và mặt trời lặn thì các tu sĩ ở đền thờ hát những bài thánh ca hoặc thánh thi, còn những người sùng đạo nhiều hơn trong đám quần chúng thì có mặt đều đặn trong những buổi phụng tự ngắn; trong khi đó những kẻ nào không tiện tham dự vào các nghi lễ ấy có thể tùy ý tuân theo điều đó vào mỗi một trong những giờ này bằng cách chỉ niệm một vài câu mộ đạo ngắn ngủi gồm lời cầu nguyện và tán tụng.
Nhưng ngoài những diều tuân thủ này ra vốn dường như chung cho mọi người, mỗi người lại có những câu cầu nguyện đặc biệt riêng tư để dâng lên Đấng thiêng liêng đặc thù mà mình đã gắn bó từ lúc ra đời; và thời gian thích hợp cho chúng thường xuyên biến thiên theo chuyển động của hành tinh. Lúc nó băng ngang qua đường kinh tuyến dường như được coi là lúc thích hợp nhất, kế đó là lúc một vài phút ngay sau khi nó mọc trên đường chân trời hoặc trước khi nó lặn dưới đường chân trời. Tuy nhiên người ta có thể cầu khấn tới nó và bất cứ lúc nào ở trên đường chân trời; và ngay cả khi ở dưới đường chân trời thì vị Tinh quân của hành tinh cũng không hoàn toàn ngoài tầm với, mặc dù trong trường hợp này người ta chỉ ngỏ lời với Ngài trong trường hợp hết sức khẩn cấp nào đó và trọn cả nghi thức được sử dụng là khác hẳn.
Những lịch riêng biệt mà các tu sĩ soạn ra để cho những người tôn thờ mỗi một trong các Tinh quân hành tinh này có nhiều chi tiết đặc biệt về giờ thích hợp để cầu nguyện và những câu thơ thích hợp để được ngâm tụng vào mỗi giờ. Điều ta có thể miêu tả là một loại kinh cầu nguyện định kỳ đều được phát hành dành cho mỗi hành tinh và tất cả những ai gắn liền với hành tinh ấy đều cẩn thận tự trang bị những bản sao của kinh ấy. Thật ra những lịch này là một điều gì đó còn hơn cả mức chỉ nhắc nhở tới giờ cầu nguyện. Chúng được soạn ra trong những tình huống tinh tú đặc biệt (mỗi tình huống chịu ảnh hưởng của Đấng Tinh quân riêng) và người ta giả sử, chúng có đủ mọi tính chất bùa ngải sao cho người nhiệt thành với bất kỳ hành tinh đặc biệt nào luôn luôn mang theo mình quyển lịch mới nhất.
Do đó suy ra rằng người mộ đạo thời cổ Chaldea không có giờ cầu nguyện hoặc giờ cúng đều đặn lúc nào cũng vào giờ ấy, hết ngày này sang ngày khác giống như trường hợp hiện nay; nhưng thay vì vậy, thời giờ tham thiền và phụng tự tôn giáo của y lại linh động, ba hồi xảy ra vào buổi sáng, ba hồi vào buổi trưa, ba hồi vào chiều tối hoặc ngay cả vào lúc nửa đêm. Nhưng khi đến giờ thì y không được bỏ sót, cho dù giờ giấc này có thể bất tiện cho công việc kinh doanh, vui chơi hoặc sự ngơi nghỉ của y thì y cũng phải coi đó là một sự khiếm khuyết nghiêm trọng về bổn phận nếu y lờ đi không lợi dụng cơ hội ấy. Theo như chúng tôi biết thì không có tư tưởng nào trong tâm trí y mà Tinh linh hành tinh lại không cảm thấy bực bội nếu y lơ là giờ cầu nguyện hoặc quả thật Tinh linh hành tinh cỏ thể cảm thấy giận dữ; nói cho đúng hơn thì vào lúc ấy Tinh quân đang tuôn đổ ra một sự ban phước và chẳng những là điên rồ mà còn là bội bạc nếu ta bỏ lở cơ hội được hiến ra một cách tử tế như thế.
Tuy nhiên những điều này chỉ là những sự sùng bái riêng tư của nhân dân; họ còn có những nghi lễ công khai lớn lao và tưng bừng nữa. Mỗi một hành tinh đều gán cho mình ít nhất hai lễ hội lớn trong năm, còn Mặt trời và Mặt trăng có nhiều lễ hội hơn hẳn. Mỗi Tinh quân hành tinh đều có các đền thờ ở khắp nơi trong xứ sở và có những dịp bình thường thì các tín đồ chỉ cần thường xuyên tới thăm nơi gần nhất; nhưng vào những lễ hội lớn mà chúng ta đang đề cập tới thì các đám đông khổng lồ tụ tập ở vùng bình nguyên sông lớn lân cận thủ đô nơi có một nhóm đền thờ lộng lẫy hoàn toàn độc nhất vô nhị.
Bản thân những dinh thự này cũng đáng chú ý được coi là những ví dụ điển hình của một phong cảnh kiến trúc tiền sử; nhưng điều thú vị nhất lại ở nơi sự kiện, sự bố trí chúng rõ rệt được dự tính để biểu diễn sự bài trí của Thái dương hệ; và khi người ta hiểu rõ nguyên tắc bày trí này thì nó chắc chắn cho thấy những người thiết kế hiểu biết đáng kể về đề tài này, cho đến nay đền thờ lớn nhất và rực rỡ nhất trong tất cả là đền thờ Mặt trời khổng lồ mà bây giờ ta cần miêu tả khá chi tiết hơn. Những đền thờ khác được dựng nên ở những khoảng cách càng ngày càng xa dần chỗ ấy, thoạt nhìn dường như được xây dựng chỉ theo sự thuận tiện chứ không theo trật tự kế hoạch nào.
Tuy nhiên việc xét kỹ cho ta thấy rằng có một kế hoạch và là một kế hoạch đáng chú ý – chẳng những khoảng cách tăng dần của những đền thờ nhỏ này so với đền thờ chính có một tỉ lệ nhất định và một ý nghĩ nhất định mà ngay cả kích thước tương đối của một vài bộ phận quan trọng trong đền thờ đều không phải là ngẫu nhiên vì chúng lần lượt tiêu biểu cho kích thước của các hành tinh và khoảng cách từ chúng tới mặt trời. Thế mà đối với bất cứ ai biết chút ít điều gì về thiên văn học cũng đều thấy rõ rằng việc toan tính xây dựng một mô hình Thái dương hệ theo thang bậc đó trong các đền thờ ắt bị tiền định là thất bại – nghĩa là nếu các đền thờ phải được dùng để cho việc thờ cúng bình thường. Sự khác nhau về kích thước giữa Mặt trời và các thành viên nhỏ hơn trong gia đình thật là bao la và khoảng cách giữa chúng cũng thật là vĩ đại cho đến nỗi nếu các dinh thự không được làm theo kiểu chỉ là nhà búp bê thì ta thấy không một xứ sở nào đủ diện tích để bao gồm toàn Thái dương hệ.
Vậy thì làm thế nào mà các vị Thánh triết Chaldea vốn thiết kế nhóm đền thờ kỳ diệu này lại phấn đấu để khắc phục những khó khắn ấy? Chính xác cũng như những nhà minh họa trong các sách hiện nay về Thiên văn học – bằng cách dùng hai thang đo khác hẳn nhau nhưng giữ cho tỉ lệ tương đối ăn khớp với nét phác họa của mỗi bên. Trong tòa nhà kỳ diệu này không có điều gì với những tài khéo thời xưa chứng tỏ cho ta biết rằng người thiết kế biết được kích thước tuyệt đối và khoảng cách của các hành tinh, mặc dù dĩ nhiên y có thể làm như vậy; điều này là chắc chắn vì y hoàn toàn quen thuộc với những kích thước và khoảng cách tương đối của chúng. Y hoặc là được dạy, hoặc là tự mình khám phá ra Định luật Bode, làm thế nào mà kiến thức của y về những dinh thự ấy càng ngày càng được bổ sung thì chúng ta chỉ biết phỏng đoán, ngoại trừ việc y chắc chắn phải có một thông tin nào đó về biên độ của các hành tinh, mặc dù tính toán của y về những điều này khác với điều nay được chấp nhận ở một số phương diện nào đó.
Những bàn thờ dành cho các hành tinh nội giới tạo thành một loại cụm dinh thự không đều vốn dường như rất gần bên dưới những bức vách của Đền thờ Mặt trời vĩ đại trong khi đền thờ của các thành viên khổng lồ nơi ngoại vi thuộc gia đình Thái dương hệ lại rải rác cách quãng càng ngày càng lớn ở vùng bình nguyên cho đến khi đại biểu của Hải vương tinh xa tít mù hầu như khuất dạng ở xa xa. Những dinh thự này khác nhau về mặt thiết kế và ta hầu như chắc chắn rằng mọi sự biến thiên đều có ý nghĩa đặc biệt cho dầu trong nhiều trường hợp chúng tôi không thể phân biệt được. Tuy nhiên có một đặc điểm mà tất cả đều chia xẻ; mỗi đền thờ đều có một mái vòm trung ương hình bán cầu mà hiển nhiên được dự định để có một quan hệ đặc biệt với tinh cầu mà nó tiêu biểu.
Mọi bán cầu này đều được sơn phết rực rỡ, mỗi bán cầu có màu sắc mà truyền thống Chaldea gắn liền với hành tinh đặc biệt của nó. Chúng tôi không rõ lắm với nguyên tắc chọn lựa màu sắc này, nhưng sau này chúng tôi sẽ trở lại vấn đề ấy khi chúng tôi khảo sát việc phụng tự trong những lễ hội lớn. Các mái vòm này tuyệt nhiên không có cùng tỉ lệ với kích thước của các đền thờ riêng biệt, nhưng khi so sánh với nhau thì chúng tỏ ra tương ứng mật thiệt với kích thước của những hành tinh mà chúng tiêu biểu. Đối với Thủy tinh, Kim tinh, Mặt trăng và Hỏa tinh thì số đo của người Chaldea về kích thước tương đối của chúng tương ứng chính xác với số đo của ta; nhưng Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên vương tinh và Hải vương tinh mặc dù vô cùng lớn hơn nhóm bên trong song dứt khoát nhỏ hơn kích thước mặc định nếu chúng được kiến tạo theo cùng một thang đo mà chúng ta đã tính toán theo đó.
Điều này có thể là do người ta dùng một tiêu chuẩn khác đối với các bầu hành tinh khổng lồ, nhưng chúng tôi thấy rất có thể là tỉ lệ của người Chaldea lại chính xác, còn tỉ lệ trong khoa thiên văn học hiện đại đã đánh giá quá lớn kích thước của các hành tinh ngoài rìa mãi đến nay thì người ta mới xác lập được sự việc bề mặt mà người ta thấy trong trường hợp Thổ tinh hoặc Mộc tinh vốn là bề mặt của một lớp vỏ mây sâu và dày đặc chứ tuyệt nhiên không phải là cơ thể của hành tinh; nếu quả thật như vậy thì phép biểu diễn của người Chaldea về những bầu hành tinh này cũng chính xác như những thứ khác trong hệ thống ấy. Một điều khác nữa ủng hộ cho điều gợi ý như thế nếu ta chấp nhận nó, đó là việc các thiên văn gia thường gán cho các hành tinh ngoài rìa tỉ trọng vô cùng thấp. Điều này ắt khiến cho chúng gần như ăn khớp với tỉ trọng của những thế giới khác trong tầm hiểu biết của chúng ta.
Có một số chi tiết kỳ lạ phối hợp lại cho ta thấy rằng người thiết kế ra những bàn thờ đẹp đẽ này ắt phải hiểu biết rốt ráo về Thái dương hệ. Người ta đã biểu diễn thích đáng Hỏa vương tinh là hành tinh gần Mặt trời hơn Thủy tinh; còn vị trí trong hệ thống mà trái đất lẽ ra phải chiếm thì lại có đền thờ Mặt trăng; một đền thờ lớn mặc dù bán cầu che mái vòm cho nó dường như nhỏ, không đúng theo tỉ lệ nhưng được kiến tạo chính xác với cùng bậc thang đó như những thứ kia. Kế cận đền thờ Mặt trăng này lại nổi lên một mái vòm đơn độc làm bằng đá hoa cương màu đen do những cột trụ chống đỡ, kích thước của nó rõ rệt là được dự tính để tiêu biểu cho trái đất, nhưng không có điện thờ nào thuộc loại gắn liền với nó.
Trong khoảng trống (được tính toán hoàn toàn chính xác) ở giữa Hỏa tinh và Mộc tinh không thấy có đền thờ nào; nhưng số cột, mỗi cột tận cùng bằng một mái vòm nho nhỏ có dạng bán cầu thông thường; chúng tôi giả định rằng những mái vòm này được dự tính để biểu diễn các tiểu hành tinh. Mọi hành tinh có vệ tinh đều được biểu thị kỹ lưỡng bằng những mái vòm phụ có kích thước đúng mức bố trí xung quanh mái vòm sơ cấp và các vành đai của Thổ tinh cũng được biểu thị rõ rệt.
Vào ngày lễ hội chính yếu của bất kỳ hành tinh nào thì mọi kẻ tôn thờ Tinh quân tương ứng (hiện nay ta bảo là những người ấy sinh ra dưới hành tinh đó) mang ở trên bộ quần áo mặc thường ngày của mình một áo khoác hoặc một đạo bào có màu sắc được coi là linh thiêng đối với hành tinh ấy. Những màu này đều cực kỳ chói sáng và vải mặc là một loại sa tanh bóng láng sao cho tác dụng của nó thường nổi bật nhất là nhiều màu sắc đều có một sắc thái khác ẩn bên dưới giống như cái mà ta gọi là lụa có sắc thái lốm đốm. Mặc dù danh sách của những màu sắc này ắt là thú vị như ta đã nhận xét trước kia, song lý do khiến họ chọn như vậy đâu phải lúc nào cũng rõ ràng.
Y phục mà những kẻ thờ Mặt trời khoác lấy là những loại vải lụa tế nhị rất đẹp. Tất cả đều dệt bằng chỉ màu hoàng kim sao cho nó có vẻ quả thật là một tấm vải bằng vàng. Nhưng ta biết hiện nay vải bằng vàng có kết cấu thô dày không uốn cong được, còn vải này linh hoạt đến nỗi nó có thể gấp lại như muslin.
Sác thái của Hỏa vương tinh là màu lửa, nổi bật, sặc sỡ và cá biệt, có thể tiêu biểu cho việc Hỏa vương tinh rất gần Mặt trời và ở đó ta phải có tình huống vật lý bốc lửa.
Thủy tinh được tiêu biểu bằng một sắc cam óng ánh đệm thêm màu vàng chanh – sắc thái này thường được thấy trong hào quang của các tín đồ cũng như y phục của họ; mặc dù trong một số trường hợp màu sắc nổi bật trong hào quang dường như có thể giải thích được những sự chọn lựa này, song có những trường hợp khác ta khó lòng áp dụng được như vậy.
Những người thờ Kim tinh xuất hiện với bộ đồ màu xanh da trời thuần khiết dễ thương được thêu bằng chỉ ẩn bên dưới màu xanh lá cây lợt, điều này khiến cho toàn bộ có vẻ óng ánh ngũ sắc khi người mặc quần áo ấy di chuyển.
Y phục của Mặt trời dĩ nhiên là vải trắng, nhưng được dệt thêm những sợi chỉ màu bạc cho nên thực tế ta có thể gọi đó là vải bằng bạc cũng như vải Mặt trời là vải bằng vàng.Tuy nhiên khi có mặt vải loại ánh sáng thì bộ y phục Mặt trăng này phô ra những sắc thái đẹp đẽ màu tím lợt vốn làm tăng cường tác dụng của nó thêm nhiều.
Hỏa tinh khiến cho tín đồ phải mặc quần áo thích đáng màu đỏ thẩm rực rỡ lộng lẫy nhưng ẩn bên dưới là sắc thái đỏ như son và sắc thái này hầu như thay thế cho nó khi ta nhìn theo một vài góc độ nào đó. Màu này hoàn toàn không thể nhầm lẫn được và khác hẳn màu của Hỏa vương tinh hoặc Thủy tinh. Nó có thể gợi ta nhớ tới dáng vẻ của hào quang hoặc sắc thái đỏ hung hung của bầu hành tinh vật lý.
Mộc tinh khoác lấy cho các con của mình một loại vải kỳ diệu óng ánh màu xanh da trời và màu tím, lốm đốm ở mọi chỗ là những vết nho nhỏ màu bạc không dễ gì gán cho điều này bất cứ lý do nào ngoại trừ việc quả thật nó lại có thể do sự liên tưởng tới hào quang.
Những người thờ Thổ tinh mặc quần áo màu xanh lá cây trong trẻo như lúc Mặt trời lặn, ẩn bên dưới có sắc thái màu xám như ngọc trai. Còn những người sinh dưới Thiên vương tinh mặc quần áo màu xanh da trời sẫm huy hoàng, đó là một màu không thể tưởng tượng được ở miền nam Đại tây dương, mà ai chưa từng thấy thì không thể biết được. Quần áo dành cho Hải vương tinh ít đáng chú ý hơn hết vì nó là màu chàm sẫm trông cũng thường thường, mặc dù dưới ánh sáng rực rỡ thì nó cũng phô ra một sự phong phú, bất ngờ.
Vào mỗi kỳ lễ hội chính của bất kỳ hành tinh nào thì các tín đồ đều xiêm y lộng lẫy diễn hành thành từng đám rước tới tận đền thờ được trang điểm bằng những vòng hoa, mang theo cờ xí và gậy gộc dát vàng hát vang lừng bầu không khí. Những sự phô trương lực lượng hào hùng nhất là vào một trong các đại lễ của thần Mặt trời khi dân chúng tụ tập lại, mỗi người mặc quần áo diêm dúa theo vị Tinh quân giám hộ của mình, đám đông rồng rồng rắn rắn đi diễn long trọng quanh đền thờ Mặt trời. Vào dịp như thế thì những người thờ Mặt trời tràn ngập dinh thự lớn trong khi sát tường là băng nhóm Hỏa vương tinh đang diễn hành, kế tiếp bên ngoài họ là nhóm Thủy tinh rồi tới những người thờ Kim tinh v.v… Mỗi hành tinh được đại diện theo thứ tự vị trí của nó đối với Mặt trời. Toàn khối dân chúng ấy xếp hàng thành những vòng tròn đồng tâm màu sắc chớp lóe xoay chầm chậm đều đều vòng tròn giống như một bánh xe sống động khổng lồ và dưới ánh sáng sống động tràn ngập tuôn ra từ Mặt trời vùng nhiệt đới, có lẽ họ tạo thành một phong cảnh rực rỡ mà thế gian đã từng chứng kiến.
Để cho ta có thể tường thuật những nghi thức còn thú vị hơn nữa xảy ra vào những dịp ấy bên trong đền thờ lớn của Mặt trời, ta cần thử toan tính miêu tả dáng vẻ và sự bày trí của nó – bình diện chính có hình chữ thập với một khoảng trống rộng hình tròn (được che phủ bằng mái vòm hình bán cầu) nơi các cánh tay đòn của hình chữ thập giao nhau. Ta sẽ có được một hình ảnh chính xác hơn nếu thay vì nghĩ tới nhà thờ hình chữ thập thông thường với gian giữa, cánh nhà thờ phía đông và cánh ngang nhà thờ thì ta lại hình dung ra một phòng lớn hình tròn có mái vòm giống như phòng đọc sách ở bảo tàng viện nước Anh để rồi hình dung ra bốn gian giữa khổng lồ mở ra bốn hướng, trên la bàn vì mọi cánh tay đòn của chữ thập đều dài bằng nhau. Sau khi đã ổn định bộ phận ấy trong bức tranh thì ta phải thêm vào bốn lối ra lớn giữa các cánh tay đòn của chữ thập dẫn vào những sảnh đường rộng lớn có các bức vách uốn cong và gặp nhau ở tận điểm mút, sao cho sàn của chúng có hình dạng một chiếc lá khổng lồ hoặc cánh của một đóa hoa. Thật vậy, mặt đất bình diện của đền thờ có thể được miêu tả là một chữ thập có tay đòn bằng nhau cẩn trên một đóa hoa đơn giản có bốn cánh sao cho các cánh tay đòn nằm bên giữa các đóa hoa.
Vì vậy một người đứng ở trung tâm bên dưới mái vòm ắt thấy được những viễn cảnh trải dài từ phía mình ra mọi hướng. Toàn thể cấu trúc này được định hướng cẩn thận sao cho các cánh tay đòn của chữ thập nhằm chính xác vào các phương chính. Đầu mút ở phía nam vẫn được mở rộng tạo thành lối vào chính đối diện với bàn thờ lớn đặt ngay đầu mút của cánh tay đòn phía bắc. Các cánh tay đòn phía đông và phía tây cũng có bàn thờ với kích thước khổng lồ theo quan điểm của chúng ta mặc dù nhỏ hơn nhiều so với kết cấu chính ở đầu mút phía bắc.
Những bàn thờ ở phía đông và phía tây này dường như hoàn thành một mục đích giống như các bàn thờ được hiến cho Đức Mẹ Đồng trinh và thánh Joseph trong nhà thờ chính Công giáo, vì một bàn thờ để dành cho Mặt trời, còn bàn thờ kia dành cho Mặt trăng và một số việc phụng tự hằng ngày có liên quan tới hai tinh cầu này được cử hành ở những bàn thờ ấy; tuy nhiên bàn thờ lớn ở phía bắc là chỗ mà mọi đám đông lớn nhất tụ tập lại, nơi cử hành những nghi thức lớn nhất, sự bài trí đồ đạc của nó thật là kỳ lạ và thú vị.
Trên bức vách đằng sau nó ở chỗ có “cửa sổ phía đông” trong nhà thờ thông thường – ngoại trừ nhà thờ ở phương bắc – có treo một tấm gương lõm khổng lồ lớn hơn hẳn so với bất cứ thứ gì chúng tôi đã tìm thấy trước đó. Nó làm bằng kim loại, rất có thể là bằng bạc và được đánh bóng tới mức tối đa. Quả thật người ta nhận xét rằng việc chăm sóc nó, giữ cho nó được sáng bóng không vướng một chút bụi nào, việc này được coi là một bổn phận tôn giáo có tính cách bắt buộc nhất. Cái mỏ vịt khổng lồ ấy được cắt ra hoàn hảo như thế nào, làm thế nào mà trọng lượng khổng lồ của chính nó lại không làm nó méo mó, đây là những vấn đề nghiêm trọng đối với các nghệ nhân thời nay của chúng ta, nhưng cổ nhân đã giải quyết thành công những vấn đề ấy từ lâu rồi.
Dọc theo trung tâm của mái vòm che phủ tay đòn khổng lồ phía bắc của thập tự giá có một khe hẹp mở ra trên bầu trời sao cho ánh sáng của bất kỳ ngôi sao nào tình cờ chính xác ngay trên đường kinh tuyến sẽ rọi thẳng vào trong đền thờ và rớt xuống cái gương lớn. Gương lõm có một tính chất mà ai cũng biết là nó tạo thành ở tiêu điểm trong không khí phía trước mặt nó một ảnh của bất cứ điều gì được phản chiếu trong nó; các vị tu sĩ đã khéo dùng nguyên tắc này (có lẽ họ đã sử dụng nó) để thu thập và ứng dụng ảnh hưởng của mỗi hành tinh vào lúc nó đạt quyền năng lớn nhất. Một cái bệ đỡ một lò than hồng được gắn vào dưới nền nhà bên dưới tiêu điểm của cái gương, và ngay khi một hành tinh đi ngang qua kinh tuyến (nghĩa là ở trên đỉnh đầu) và do đó rọi xuống qua cái khe ở trên mái thì người ta ném vào than hồng một lượng hương trầm tỏa ngát hương thơm. Một cột trụ ánh sáng gồm có khói màu xám lợt ngay tức khắc bốc lên và ở giữa đó lóe lên hình ảnh sống động của ngôi sao. Thế rồi những kẻ thờ cúng cúi đầu. Còn tiếng hát hân hoan của các tu sĩ vang lên; thật vậy nghi lễ này nhắc ta nhớ tới khá nhiều việc dâng bánh thánh trong nhà thờ công giáo.
Khi cần thiết thì người ta lại đưa một bộ phận máy móc đi vào hoạt động tức là một cái gương tròn phẳng có thể được hạ thấp xuống từ trên mái theo những đường sao cho nó chiếm chính xác vị trí tiêu điểm của cái gương lớn. Gương này bắt được hình ảnh phản chiếu của hành tinh và khi ta cho nó nghiêng đi thì ánh sáng tập trung mà ta nhận được từ gương lõm có thể được tuôn xuống một vài điểm trên sàn của đền thờ. Ở trên những điểm này người ta đặt sẵn những người đau ốm mà xét ra ảnh hưởng đặc biệt ấy có lợi trong khi người tu sĩ cầu nguyện Chơn linh hành tinh tuôn đổ sự chữa trị và sức mạnh xuống cho bệnh nhân; chắc chắn là những sự chữa trị thường tưởng thưởng cho nỗ lực của họ mặc dù đức tin có thể đóng một vai trò lớn trong việc đạt được kết quả ấy.
Việc thắp sáng một vài loại lửa thiêng khi chính Mặt trời băng ngang qua kinh tuyến cũng được thành tựu nhờ vào cơ cấu ấy mặc dù một trong những nghi thức thú vị nhất có bản chất này luôn luôn được cử hành ở bàn thờ phía tây. Trên bàn thờ này luôn luôn bốc cháy cái gọi là lửa thiêng của Mặt trăng và lửa này chỉ được phép tắt ngúm mỗi năm một lần vào đêm trước kỳ Xuân phân. Sáng hôm sau, các tia nắng Mặt trời khi đi qua lỗ hở bên trên bàn thờ phía đông sẽ rớt thẳng xuống lỗ hở ở đầu mút phía tây và nhờ vào một bầu thủy tinh chứa đầy nước treo lủng lẳng trên đường đi và đóng vai trò một thấu kính, chính Mặt trời sẽ thắp sáng trở lại cho lửa thiêng của Mặt trăng; bây giờ nó được canh chừng cẩn thận và giữ cho cháy mãi một năm nữa.
Bề mặt phía trong của mái vòm lớn được sơn vẽ để biểu diễn bầu trời ban đêm và nhờ vào một cơ cấu phức tạp nào đó người ta khiến cho các chòm sao chính di chuyển bên trên nó đúng hệt như những ngôi sao có thực đang di chuyển ra phía ngoài, sao cho vào bất cứ lúc nào trong ngày, hoặc vào một đêm trời phủ mây, một người thờ cúng luôn luôn có thể nói vị trí chính xác trong đền thờ của bất kỳ cung hoàng đạo nào cùng với đủ thứ hành tinh liên quan tới chúng. Các tinh cầu được dùng để biểu diễn các hành tinh và vào thời ban sơ của tôn giáo này cũng đúng như vào thời ban sơ của các Bí pháp, các tinh cầu này là những thứ hiện hình thật sự mà các vị Đạo sư Cao đồ khiến cho tồn tại và di chuyển thoải mái trên không trung, nhưng trong cả hai trường hợp vào thời buổi sau này khi những người kém tiến hóa hơn đã thế chỗ cho các Đấng cao cả ấy thì thật là khó lòng hoặc không thể nào tiến hành việc hiện hình đúng mức, do đó vị trí của chúng được lấp đầy bằng những khí cụ cơ giới tinh xảo – một loại hành tinh hệ giả tạo ở qui mô khổng lồ. Phía ngoài của mái vòm khổng lồ này có dát vàng mỏng và thật đáng chú ý là trên bề mặt đó có một tác dụng lốm đốm kỳ lạ hiển nhiên được dự tính để biểu diễn cái gọi là những “lá liểu” hoặc “hạt thóc” (đốm đen trên Mặt trời).
Có một đặc điểm thú vị nữa trong đền thờ này là một phòng dưới đất hoặc hầm kín vốn được dành cho các tu sĩ độc quyền sử dụng, hiển nhiên là để tham thiền và tu dưỡng. Ánh sáng duy nhất chấp nhận được phải đi qua những lớp dày một chất giống như pha lê có đủ màu sắc khác nhau vốn được để cho đi vào nền nhà trong nhà thờ, nhưng chúng được bố trí để phản chiếu các tia sáng mặt trời qua môi trường ấy khi cần thiết, vị tu sĩ đang thực hành tham thiền để cho ánh sáng phản chiếu rớt xuống đủ thứ trung tâm lực trong cơ thể - đôi khi rớt vào giữa hai mắt, đôi khi rớt vào chót xương sống v.v… Điều này rõ ràng tự giúp cho sự phát triển quyền năng bói toán, thần nhãn và trực giác; hiển nhiên việc sử dụng một màu ánh sáng đặc thù nào đó tùy thuộc chẳng những vào mục đích mà người ta mưu cầu, mà còn tùy thuộc vào hành tinh hoặc loại hình của vị tu sĩ nữa. Ta cũng lưu ý thấy rằng ở đây có sử dụng cây thyrsus tức là thần trượng trống rỗng có tích đầy lửa điện hoặc lửa sinh động giống như lửa trong các Bí pháp Hi lạp.
Một bộ phận thú vị của việc nghiên cứu tôn giáo nơi thế giới xưa cũ này là nỗ lực tìm hiểu chính xác các vị đạo sư ngụ ý muốn nói gì khi nhắc tới Tinh quân tức là Chơn linh của một ngôi sao. Chỉ cần khảo cứu kỹ lưỡng một chút thì cũng chứng tỏ rằng các thuật ngữ này mặc dù đôi khi đồng nghĩa với nhau nhưng không luôn luôn như thế vì chúng dường như bao gồm ít ra là ba quan niệm khác hẳn nhau bên dưới cùng một tiêu ngữ “Chơn linh của hành tinh”.
Một là họ tin tưởng vào sự tồn tại của một thực thể kém phát triển bán thông tuệ, thế nhưng cực kỳ hùng mạnh liên quan tới mỗi hành tinh mà theo thuật ngữ Thông Thiên Học của ta thì có lẽ diễn tả tốt nhất là tinh hoa ngũ hành tập thể của hành tinh ấy, được coi như một tạo vật khổng lồ. Trong trường hợp con người, ta biết rằng tinh hoa ngũ hành cấu tạo thành thể vía của y thực ra đã trở thành một thực thể riêng biệt đôi khi được gọi là tinh linh dục vọng. Nhóm loại hình và lớp khác nhau tổ hợp thành một đơn vị tạm thời có thể hành động dứt khoát để tự vệ chẳng hạn như chống lại quá trình tan rã bắt đầu sau khi thể xác chết. Nếu cũng giống như thế, chúng ta có thể quan niệm ra toàn thế giới tinh hoa ngũ hành trong một hành tinh đặc biệt đang cấp năng lượng nói chung, thì ta sẽ lĩnh hội được chính xác thuyết mà người Chaldea thời xưa chủ trương đối với biến thái đầu tiên của Chơn linh hành tinh này mà nếu ta gọi là “tinh linh hành tinh” thì ắt thỏa đáng hơn nhiều. Họ cố gắng tập trung ảnh hưởng (hoặc có lẽ là từ khí) của tinh linh hành tinh này lên trên những người bị mắc một bệnh nào đó, hoặc là nhốt ảnh hưởng ấy vào trong một lá bùa để dùng trong tương lai.
Các tu sĩ chủ trương rằng các hành tinh vật lý mà ta thấy được dùng để biểu thị vị trí hoặc tình huống của các trung tâm lực lớn trong cơ thể chính THƯỢNG ĐẾ; thông qua mỗi một trong những trung tâm lực lớn này có trào dâng ra một trong mười loại tinh hoa ngũ hành, nhờ đó vạn vật mới được xây dựng bằng tinh hoa ấy. Mỗi một trong các loại tinh hoa này khi xét tự thân nó cũng được đồng nhất hóa với một hành tinh và điều này cũng thường được gọi là Chơn linh hành tinh, như vậy khiến cho thuật ngữ ấy có một nghĩa khác hẳn, theo ý nghĩa này thì người ta bảo Chơn linh của mỗi hành tinh vốn hiện diện khắp nơi trong Thái dương hệ, hoạt động bên trong của mỗi con người và biểu lộ qua những hành động của họ, biểu lộ qua một vài loại cây cỏ hoặc khoáng vật ban cho chúng những đặc tính riêng biệt nào đó. Dĩ nhiên là ta có thể tác động lên Chơn linh hành tinh này bên trong con người dựa vào tình huống của trung tâm lực lớn có liên quan tới nó và chính mọi lời cảnh báo chiêm tinh học đều được đưa ra liên quan tới Chơn linh này.
Tuy nhiên khi người Chaldea cầu khấn sự ban phước của Chơn linh hành tinh tức là nhờ vào tham thiền tha thiết và kính cẩn cố gắng vươn lên hướng về phía Ngài thì họ lại dùng thành ngữ ấy theo nghĩa khác nữa. Họ nghĩ rằng mỗi một trong các trung tâm lực lớn này khai sinh ra và hoạt động thông qua trọn cả một huyền giai các đại Chơn linh, đứng đầu mỗi một trong các huyền giai này là một Đấng cao cả chủ yếu được gọi là Chơn linh hành tinh hoặc thường được gọi là Tinh quân. Những người đặc biệt sinh ra dưới ảnh hưởng của Ngài thường mưu cầu sự ban phước của Ngài và họ coi Ngài giống như các vị Tổng thiên thần vĩ đại giống như một Kitô hữu thuần thành sùng bái “bảy Chơn linh trước ngai Thượng đế” - đó là một thừa tác viên hùng mạnh nắm giữ quyền năng thiêng liêng của THƯỢNG ĐẾ, một kinh dẫn mà sự rực rỡ không nguôi biểu lộ thông qua đó. Người ta xì xào bàn tán rằng khi lễ hội của một hành tinh đặc biệt nào đó được cử hành trong đền thờ lớn, khi đến đúng lúc lúc quyết định hình ảnh của ngôi sao chói sáng giữa đám mây hương trầm thì những kẻ nào nhiệt thành sùng tín đến nỗi mắt thần mở ra đôi khi thấy được hình tướng uy nghi của tinh quân lượn lờ bên dưới bầu tinh cầu cháy rực sao cho nó chói sáng lên trán y giống như khi ngài nhìn xuống ban phước cho những kẻ sùng bái có liên quan mật thiết với Ngài trong cơ tiến hóa.
Một trong những giáo điều của tín ngưỡng thời xưa cho rằng trong những trường hợp hiếm có, những người tiến hóa cao vốn đầy lòng sùng tín với Tinh quân có thể nhìn vào sự căng thẳng trong lúc tham thiền kéo dài liên tục mà nâng mình lên vượt ra khỏi thế giới phàm tục nhập vào thế giới của Ngài; nghĩa là thay đổi toàn bộ lộ trình tiến hóa của mình để cho kiếp tới không tái sinh trên hành tinh này nữa mà tái sinh trên hành tinh của Ngài; tài liệu ghi chép trên đền thờ có ghi nhận trường hợp những tu sĩ làm như thế và chuyển qua mức vượt tầm hiểu biết của con người. Người ta chủ trương rằng trong lịch sử đã từng xảy ra một hai lần liên quan tới cấp độ còn cao hơn nữa là các Đấng thiêng liêng Thái dương vốn được coi là thuộc về những định tinh xa tít mù ngoài tầm Thái dương hệ hoàn toàn. Nhưng người ta coi những điều ấy là những chuyến bay mạo hiểm vào vùng chẳng ai biết và ngay cả những tu sĩ cao cấp vĩ đại nhất cũng lặng thinh không dám khuyên người khác làm như vậy.
Mặc dù hiện nay ta thấy các phương pháp này dường như kỳ lạ vì khác hẳn bất cứ thứ gì được dạy dỗ cho ta trong khi nghiên cứu Thông Thiên Học, ta cũng thật dại khờ khi chỉ trích họ hoặc nghi ngờ điều đó vì xét về những điều hấp dẫn họ thì chúng cũng có thể hữu hiệu như đối với những điều hấp dẫn chính chúng ta. Ta biết rằng trong Quần tiên hôi có nhiều Chơn sư và mặc dù những phẩm tính cần thiết cho mỗi bước trên Thánh đạo đều giống nhau đối với mọi ứng viên, thế nhưng mỗi bậc đại đạo sư đều chọn cho học trò của mình phương pháp dọn mình nào mà ngài thấy là thích hợp với họ nhất; và bởi vì mọi con đường ấy đều dẫn lên đỉnh núi giống như nhau, cho nên ta không thể nói được đâu là con đường ngắn nhất hoặc tốt nhất cho người lân cận của mình. Đối với mỗi người đều có một con đường ngắn nhất, nhưng con đường nào thì còn tùy thuộc vào vị trí mà y khởi hành từ đó. Trông mong rằng mọi người đều tụ tập tới xuất phát điểm của ta rồi sử dụng con đường của ta, ắt rớt vào ảo tưởng nảy sinh từ lòng kiêu mạn, và vô minh vốn làm mờ mắt của người mộ đạo ngu tín. Chúng ta không được dạy dỗ để tôn thờ các đại Tinh quân hoặc đặt ra trước mắt ta mục tiêu có thể gia nhập đường tiến hóa Thiên thần vào một giai đoạn tương đối sơ khai; nhưng chúng ta nên luôn luôn nhớ rằng có những đường lối khác về Huyền bí học vượt ngoài hình thức đặc biệt mà Thông Thiên Học đã giới thiệu với chúng ta và ta biết rằng ngay cả trong đường lối của chính mình thì ta cũng chẳng biết được bao nhiêu.
Có lẽ ta nên tránh dùng từ ngữ “sùng bái” khi miêu tả xúc cảm của người Chaldea đối với Tinh quân, vì ở phương Tây từ ngữ này luôn luôn gây ra hiểu lầm; nói cho đúng hơn thì đó là lòng quyến luyến sâu sắc sự kính ngưỡng và trung kiên mà chúng ta cảm thấy đối với các Chơn sư Minh triết.
Tôn giáo Chaldea này rất gần gũi với tấm lòng của người dân và chắc chắn trong trường hợp đa số mọi người nó đã sản sinh ra những sinh hoạt tốt đẹp và ngay thẳng. Các tu sĩ là những người rất có học thức theo kiểu của riêng mình về một vài đường lối nào đó, cho nghiên cứu rất sâu về lịch sử và thiên văn học, tự nhiên là họ gộp cả hai khoa học này lại với nhau, luôn luôn xếp loại các diễn biến trong lịch sử theo mối quan hệ giả định của chúng với đủ thứ chu kỳ thiên văn học. Họ cũng rất tinh thông hóa học và sử dụng một số tác dụng của nó trong nghi lễ. Chúng tôi lưu ý thấy trường hợp một tu sĩ đứng trên mái phẳng của một trong các đền thờ, cầu khẩn với lòng sùng tín riêng tư một trong các Chơn linh hành tinh. [2]
Ông cầm trên tay một cây gậy dài, đầu mút có một chất nào đó trông giống như nhựa đường, ông bắt đầu cầu khẩn bằng cách dùng cây gậy vẽ những ký hiệu chiêm tinh học của hành tinh ấy trên lớp lát đá ở phía trước mặt mình, chất này để lại một dấu sáng chói theo kiểu lân quang bên trên tảng đá hoặc bề mặt thạch cao.
Theo thông lệ thì mỗi tu sĩ đều tiến hành nghiên cứu đặc biệt qua đường lối mà mình đặc biệt chuyên tâm. Một nhóm rất tinh thông về y học thường xuyên nghiên cứu tính chất của đủ thứ dược thảo và thuốc men khi được điều chế qua sự tổ hợp của các ảnh hưởng tinh tú; một nhóm khác đặc biệt chú ý tới nông nghiệp quyết định xem loại đất nào thích hợp nhất với loại hoa màu nào, làm sao cải tiến được điều ấy – họ cũng làm việc để trồng trọt đủ loại cây có ích, tạo ra những loại mới, trắc nghiệm tính nhanh chóng và sức mạnh của sự tăng trưởng của chúng bên dưới những lồng kính có màu sắc khác nhau v.v… Ý tưởng dùng ánh sáng màu để khuyến khích sự tăng trưởng vốn chung cho nhiều giống dân Atlantis thời xưa và là một phần của giáo huấn thoạt tiên được rao giảng ở chính châu Atlantis. Một bộ môn khác tự tổ chức thành một loại văn phòng thời tiết và dự báo vô cùng chính xác cả những thay đổi thời tiết thông thường lẫn bất kỳ sự xáo trộn đặc biệt nào như bão, gió lốc hoặc mây bị tan biến. Về sau thì bộ môn này trở thành một loại bộ trong chính phủ và các tu sĩ dự báo thời tiết không chính xác đều bị bãi nhiệm vì thiếu khả năng.
Người ta coi là rất quan trọng đối với những ảnh hưởng trước khi sinh ra, một sản phụ được lệnh phải sống ẩn dật theo một loại giống như một nửa tu viện trong một vài tháng trước và sau khi sinh. Giống như ở Peru việc bố trí giáo dục của quốc gia không trực tiếp nằm trong tay giới tu sĩ, mặc dù chính họ tính toán – hiển nhiên trong một số trường hợp nhờ vào thần nhãn – quyết định xem đứa trẻ thuộc về hành tinh nào. Những đứa trẻ gắn liền với một hành tinh dặc thù phải theo học ở trường của hành tinh đó, thụ giáo với những thầy giáo thuộc loại giống như mình sao cho những đứa trẻ Thổ tinh tuyệt nhiên không được phép đi học ở một trường Mộc tinh hoặc những đứa trẻ Kim tinh lại được dạy dỗ bởi một người sùng bái Thủy tinh. Việc huấn luyện cho đủ loại hình này khác nhau rất nhiều, trong mỗi trường hợp thì mục đích là để phát triển những đức tính cũng như đối trị với các khuyết điểm mà kinh nghiệm lâu dài đã chuẩn bị sẵn cho các thầy cô mong đợi là loại trẻ trai trẻ gái đặc biệt ấy sẽ bộc lộ ra.
Mục tiêu giáo dục đối với họ hầu như hoàn toàn là đức dục; trí dục hoàn toàn chiếm vị trí thứ yếu. Mọi đứa trẻ đều được dạy dỗ loại chữ tượng hình kỳ lạ của xứ mình, toán học đơn giản sơ cấp và ngoài những thứ ấy ra thì chúng tôi nhận thấy chẳng còn môn học nào khác ở nhà trường. Nhiều giáo điều hoặc nói cho đúng hơn huấn điều luân lý phải học thuộc lòng, tất cả đều nêu rõ cách ứng xử người ta trông mong nơi “một đứa con của Hỏa tinh”, hành tinh – hoặc tùy trường hợp có thể là Kim tinh hoặc Mộc tinh – vốn có thể được khơi dậy trong đủ thứ tình huống khác nhau; người ta chỉ học văn học dưới dạng một phần bình luận đồ sộ vô tận về những tình huống này, đầy dẫy những câu chuyện vô tận về các cuộc phiêu lưu và tình huống mà vị anh hùng phải ứng phó đôi khi khôn ngoan, đôi khi dại khờ. Người ta dạy cho đám trẻ phải biết phê bình, dạy hết lý do tại sao mình có ý kiến như thế và miêu tả mình sẽ hành động theo kiểu nào khác với cách ứng xử của vị anh hùng trong những tình huống giống như thế.
Mặc dù lũ trẻ phải đi học nhiều năm, nhưng trọn cả thời gian của chúng đều mất công làm quen với (chẳng những về mặt lý thuyết mà còn có thể là về mặt thực tiễn nữa) các giáo huấn của điều có thể gọi là Quyển sách Bổn phận cồng kềnh này. Để gây ấn tượng của các bài học ấy minh tâm khắc cốt nơi đứa trẻ, người ta trông mong chúng sẽ đóng vai đủ thứ nhân vật chính trong các câu chuyện này và diễn tưồng như thể trên sân khấu. Bất cứ thiếu niên nào tỏ ra có năng khiếu về lịch sử, toán học, nông học, hóa học hoặc y học thì khi tốt nghiệp có thể xin học việc với bất cứ tu sĩ nào là chuyên viên thuộc một trong các đề tài ấy; nhưng chương trình học không bao gồm bất cứ chuyên ngành nào cũng không chuẩn bị cho chúng nghiên cứu vượt quá mức chuẩn bị tổng quát mà giả định rằng mọi người đều thích ứng với bất cứ điều gì có thể xảy ra.
Nền văn học của dân tộc này không phát triển lắm. Tàng thư chính thức được giữ kỹ, việc chuyển nhượng đất đai được đăng ký trước bạ. Những sắc lệnh và tuyên cáo của nhà Vua luôn luôn được lập hồ sơ để tham chiếu; nhưng mặc dù các tài liệu này cung cấp được cho sử gia tư liệu tuyệt vời cho dân khá khô khan thì vẫn không có một vết tích nào cho thấy người ta đã từng viết ra bất kỳ lịch sử mạch lạc nào. Lịch sử được truyền khẩu theo truyền thuyết và một vài giai đoạn lịch sử được lập thành bảng biểu liên quan tới những chu kỳ thiên văn nhưng các sử liệu này chỉ là các bảng niên đại học chứ không phải là lịch sử theo đúng nghĩa mà ta dùng.
Thi ca được biểu diễn bởi một loạt các thánh thư vốn tường trình rất biểu tượng và bóng gió về nguồn gốc của các thế giới và loài người, cũng như một số thơ trữ tình và chuyện anh hùng biểu dương nghĩa cử của các anh hùng thần thoại. Tuy nhiên những truyện thơ này không được viết ra mà chỉ được trao truyền từ người kể chuyện này sang người kể chuyện kia. Người dân cũng giống như nhiều dân tộc Đông phương khác rất thích nghe và ứng khẩu sáng tác những chuyện này cũng như nhiều đề tài truyền thống thuộc loại này đã được lưu truyền qua các thế kỷ từ điều hiển nhiên là một thời kỳ xa xăm của nền văn minh thô thiển hơn nhiều.
Từ một số huyền thoại thời sơ khai, ta có thể xây dựng lại phần phác họa thô sơ về lịch sử thời xưa của loài người. Đại đa số quốc gia này rõ ràng là thuộc dòng dõi dân Turania thuộc về giống dân phụ thứ tư của Căn chủng Atlante. Xét theo biểu kiến, họ có nguồn gốc là một số bộ tộc nhỏ nhoi luôn luôn thù địch với nhau, sống bằng nông nghiệp thuộc loại sơ khai nhất và chẳng biết bao nhiêu về bất cứ loại kiến trúc văn hóa nào. [3]
Trong tình huống bán dã man này vào năm 30.000 trước Công nguyên, có một lãnh tụ lớn từ phương Đông là Theodoros, một người thuộc giống dân khác sau khi dân Aryen chinh phục Ba tư và vùng Mesopotania cũng như Đức Bàn Cổ đã xác lập quyền cai trị đối với các vùng này thì ngài gửi tới đâyTheodoros giữ chức Thống đốc, dưới quyền Corona là cháu của Ngài vốn nối nghiệp ngài để cai trị xứ Ba tư [4].
Theodoros là thủy tổ của dòng dõi hoàng gia xứ cổ Chaldea, một dòng dõi khác nhiều với các thần dân về dáng vẻ bên ngoài: khuôn mặt cương nghị, nước da màu đồng thau, đôi mắt lóng lánh lõm sâu vào. Thuật điêu khắc của Babylon mãi sau này mà chúng ta thường biết tới ắt giúp ta có được một ý niệm chính xác về loại hình hoàng gia này, mặc dù vào thời điểm đó, dòng máu Aryen đã thấm nhuần gần hết giống dân này trong khi vào thời mà ta đang nói tới thì nó hầu như chỉ thấm đượm chút ít.
Sau một thời kỳ dài vinh quang và phồn thịnh thì đế quốc Chaldea hùng mạnh này dần dần bị suy tàn và thoái hóa cho đến khi cuối cùng nó bị hoàn toàn tiêu diệt do sự xâm nhập của đội quân những kẻ dã man cuồng tín; những kẻ này có một tín ngưỡng thô thiển hơn và rất ghét mọi bằng chứng của một xúc cảm tôn giáo cao thượng và đẹp đẽ hơn chính mình với sự hăm hở quả thật mang tính thanh trừng cho nên họ tiêu diệt mọi dấu vết của những đền thờ vinh quang đã được dựng nên ân cần chăm sóc nhằm thờ phụng các đấng Tinh quân mà chúng ta đã ra sức miêu tả. Đến lượt những kẻ phá hoại này lại bị người Akkads đẩy lui ra khỏi xứ sở nhiều đồi núi tại phía Bắc – người Akkad vẫn còn là dân Atlante nhưng thuộc giống dân phụ thứ 6, và những người này dần dần trộn lẫn với đám tàn dư của giống dân cổ xưa cùng với các bộ tộc khác thuộc loại hình Turania để tạo nên quốc gia Sumiro Akkad mà Đế quốc Babylon sau này phát triển từ đó. Tuy nhiên khi nó lớn lên thì nó càng ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của sự pha trộn dòng máu Aryen, trước hết từ dân Ả rập (người Semite) rồi tới các giống dân phụ Ba tư cho đến khi ta đạt tới cái thường được gọi là thời kỳ hữu sử thì hầu như chẳng còn vết tích nào của người Turania thời xưa lưu lại trên những khuôn mặt được khắc họa cho ta nơi các công trình điêu khắc và đồ khảm của dân Assyria.
Ít ra thì ngay từ đầu, giống dân mới sau này đã có một truyền thống mạnh mẽ của bậc tiền nhân oanh liệt cho nên nó luôn luôn cố gắng làm sống lại những tình huống và tục thờ cúng trong quá khứ. Các nỗ lực của nó chỉ thành công có một phần do thấm đượm một đức tin ngoại lai bị cản trở vì những hồi ức về một truyền thống khác mới gần đây hơn khi phải tổ hợp với một đối tác đang chiếm ưu thế thì nó chỉ tạo ra được một bản sao mờ nhạt và méo mó về tục thờ cúng nguy nga hoành tráng các Đấng Tinh quân vốn đã từng thịnh hành trong thời đại hoàng kim mà chúng ta vừa thử ra sức miêu tả.
Những bức tranh vẽ quá khứ này ắt phải là không giống thật và chỉ mờ nhạt thôi trừ phi người ta tận mắt chứng kiến, thế nhưng việc nghiên cứu chúng chẳng những có ích lợi sâu sắc cho người nghiên cứu huyền bí học mà còn có ích lợi lớn lao cho y. Nó giúp cho y mở rộng được tầm nhìn, thỉnh thoảng nó cho y thoáng nhìn thấy sự vận hành của một tổng thể lớn lao trong đó mọi điều ta có thể tưởng tượng là tiến bộ và tiến hóa thì chẳng qua chỉ giống như một bánh xe nhỏ xíu trong một cổ máy khổng lồ, giống như một đại đội nhỏ bé trong một quân đoàn lớn lao của nhà Vua. Đó cũng là một điều khích lệ cho y khi biết được một chút xíu về sự vinh quang và hùng vĩ vốn đã từng ngự trị trên vùng đất cổ xưa này của chúng ta và biết rằng đó chẳng qua chỉ là một điều dự báo mờ nhạt về sự vinh quang và mỹ lệ của điều vị lại.
Nhưng ta không được để cho cái bảng phác họa sơ sài này về hai bức hình trang trí trong thời Hoàng kim quá khứ được du nhập vào thành một phó bản trong bức tranh khổng lồ về lịch sử thế giới mà lại không đề cập tới một tư tưởng tất yếu phải nảy sinh ra đối với kẻ nào nghiên cứu chúng. Chúng ta vốn yêu thương nhân loại – chúng ta đang cố gắng trợ giúp nó trên con đường gian lao, cho dù sự trợ giúp này thật là yếu ớt – liệu ta có thể đọc biết về tình huống như ở Chaldea thời xưa và có lẽ còn nhiều hơn nữa ở Peru thời xưa, những tình huống mà trong cả một quốc gia sống cuộc đời hạnh phúc thấm đượm vị đạo, không hề bị tật sa đọa vô độ, cũng không có cảnh khủng khiếp nghèo rớt mồng tơi, liệu chúng ta có thể nào đọc biết về những tình huống ấy mà lại không có một nỗi nghi ngờ ngấm ngầm, không thắc mắc: “Liệu loài người có thể thực sự tiến hóa được như vậy chăng? Liệu loài người đã đạt tới một nền văn minh tốt đẹp như thế mà lại có thể nào bị sụp dổ tan tành không để lại dấu vết gì rồi sau đó chúng ta lại trở lại đạt đến tình trạng ấy?”.
Có chứ, bởi vì chúng ta biết rằng luật tiến hóa là luật thay đổi tuần hoàn, và theo luật tuần hoàn thì các phàm ngã, giống dân, đế quốc và các thế giới đều qua đi không trở lại nữa dưới dạng ấy vì mọi hình tướng đều phải bị tiêu diệt cho dù nó đẹp đẽ đến đâu đi nữa thì sự sống bên trong mới có thể tăng trưởng và phát triển được. Thế mà ta biết rằng định luật ấy lại là biểu hiện của Ý chí: Ý chí thiêng liêng của chính Đức THƯỢNG ĐẾ; do đó nó phải hoạt động đến mức tối đa vì ích lợi của loài người mà chúng ta yêu thương. Có ai đã từng yêu thương con người như Ngài chăng: Ngài đã xả thân để cho con người có thể tồn tại được, Ngài biết trọn cả cơ tiến hóa từ đầu chí cuối và Ngài đã mãn nguyện. Số phận con người nằm trong tay Ngài: bàn tay đang ban phước cho con người; liệu có tâm hồn nào trong đám chúng ta lại bỏ mặc số phận ấy, không bằng lòng với cốt lõi sâu xa nhất của nó khi nghe Ngài phán bảo như một bậc đại Đạo sư đã từng có lần dạy môn đồ: “Điều ta làm thì các con hiện nay không biết được đâu mà đến kiếp sau các con mới biết được”?
[1] Thật vậy chúng tôi có thể nói ngay rằng thuyết của Chaldea về những đề tài này hầu như cũng là thuyết mà nhiều nhà Thông Thiên Học thời nay chủ trương. Trong tác phẩm Sách giáo khoa về Thông Thiên Học và Khía cạnh ẩn tàng của mọi Sinh vật; do kết quả nghiên cứu của chính mình, Ông C.W. Leadbeater đã đưa ra một phát biểu về ảnh hưởng của các hành tinh với mọi ý định và mục đích giống hết như niềm tin mà hàng ngàn năm trước đây – do kết quả của những việc khảo cứu tương tự - Các tu sĩ ở Chaldea cũng chủ trương như thế.
tự - Các tu sĩ ở Chaldea cũng chủ trương như thế.[2] Erato là một trong các hội viên Thông Thiên Học, một vài tiền kiếp của ông được trình bày trong loạt bài “Vén màn bí mật Thời gian” đang trên Tạp chí Nhà Thông Thiên Học.
[3] Đây là tình trạng của họ vào khoảng năm 75.000 trước Công nguyên khi Bàn Cổ Vaivasvata dẫn đầu đoàn lữ hành nhỏ đi ngang qua đó.
[4] Xem chương 18.