← Discipleship in the New Age Vol – Alice A. Bailey

TRÍCH MỘT BẢN TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

TRÍCH MỘT BẢN TUYÊN BỐ CỦA CHÂN SƯ TÂY TẠNG

Suffice it to say, that I am a Tibetan disciple of a certain degree, and this tells you but little, for all are disciples from the humblest aspirant up to, and beyond, the Christ Himself. I live in a physical body like other men, on the borders of Tibet, and at times (from the exoteric standpoint) preside over a large group of Tibetan lamas, when my other duties permit. It is this fact that has caused it to be reported that I am an abbot of this particular lamasery. Those associated with me in the work of the Hierarchy (and all true disciples are associated in this work) know me by still another name and office. A.A.B. knows who I am and recognises me by two of my names.

Chỉ cần nói rằng tôi là một đệ tử người Tây Tạng thuộc một cấp bậc nhất định, và điều này chỉ nói cho các bạn biết rất ít, vì tất cả đều là đệ tử từ người chí nguyện khiêm nhường nhất cho đến, và vượt qua, chính Đức Christ. Tôi sống trong một thể xác hồng trần như những người khác, ở vùng biên viễn của Tây Tạng, và đôi khi (xét theo quan điểm công truyền) tôi chủ trì một nhóm lớn các Lạt-ma Tây Tạng, khi các bổn phận khác của tôi cho phép. Chính sự kiện này đã khiến người ta thuật lại rằng tôi là một viện trưởng của tu viện đặc thù này. Những người cộng tác với tôi trong công việc của Thánh Đoàn (và tất cả các đệ tử chân chính đều cộng tác trong công việc này) biết tôi bằng một tên gọi và một chức trách khác nữa. A.A.B. biết tôi là ai và nhận ra tôi bằng hai trong số các danh xưng của tôi.

I am a brother of yours, who has travelled a little longer upon the Path than has the average student, and has therefore incurred greater responsibilities. I am one who has wrestled and fought his way into a greater measure of light than has the aspirant who will read this article, and I must therefore act as a transmitter of the light, no matter what the cost. I am not an old man, as age counts among the teachers, yet I am not young or inexperienced. My work is to teach and spread the knowledge of the Ageless Wisdom wherever I can find a response, and I have been doing this for many years. I seek also to help the Master M. and the Master K.H. whenever opportunity offers, for I have been long connected with Them and with Their work. In all the above, I have told you much; yet at the same time I have told you nothing which would lead you to offer me that blind obedience and the foolish devotion which the emotional aspirant offers to the Guru and Master Whom he is as yet unable to contact. Nor will he make that desired contact until he has transmuted emotional devotion into unselfish service to humanity-not to the Master.

Tôi là một huynh đệ của các bạn, người đã đi trên Thánh Đạo lâu hơn đôi chút so với học viên trung bình, và do đó đã mang lấy những trách nhiệm lớn hơn. Tôi là người đã vật lộn và chiến đấu để đạt được một mức độ ánh sáng lớn hơn so với người chí nguyện sẽ đọc bài này, vì thế tôi phải đảm trách vai trò một kẻ truyền đạt ánh sáng, bất luận cái giá nào. Tôi không phải là một người già, nếu xét theo tuổi tác giữa các vị Huấn sư, tuy nhiên tôi cũng không trẻ hay thiếu kinh nghiệm. Công việc của tôi là giảng dạy và truyền bá tri thức về Minh Triết Ngàn Đời ở bất cứ nơi đâu tôi tìm được sự đáp ứng, và tôi đã làm điều ấy nhiều năm. Tôi cũng tìm cách trợ giúp Chân sư M. và Chân sư K.H. bất cứ khi nào có cơ hội, vì tôi đã lâu nay liên kết với Các Ngài và với công việc của Các Ngài. Trong tất cả những điều trên, tôi đã nói với các bạn rất nhiều; tuy nhiên đồng thời tôi cũng chưa nói điều gì có thể khiến các bạn dành cho tôi sự phục tùng mù quáng và lòng sùng tín dại dột mà người chí nguyện cảm xúc thường dâng cho vị Guru và Chân sư mà y vẫn chưa thể tiếp xúc. Và y sẽ không đạt được sự tiếp xúc mong muốn ấy cho đến khi y chuyển hóa sùng tín cảm xúc thành phụng sự vô ngã đối với nhân loại—chứ không phải đối với Chân sư.

The books that I have written are sent out with no claim for their acceptance. They may, or may not, be correct, true and useful. It is for you to ascertain their truth by right practice and by the exercise of the intuition. Neither I nor A.A.B. is the least interested in having them acclaimed as inspired writings, or in having anyone speak of them (with bated breath) as being the work of one of the Masters. If they present truth in such a way that it follows sequentially upon that already offered in the world teachings, if the information given raises the aspiration and the will-to-serve from the plane of the emotions to that of the mind (the plane whereon the Masters can be found) then they will have served their purpose. If the teaching conveyed calls forth a response from the illumined mind of the worker in the world, and brings a flashing forth of his intuition, then let that teaching be accepted. But not otherwise. If the statements meet with eventual corroboration, or are deemed true under the test of the Law of Correspondences, then that is well and good. But should this not be so, let not the student accept what is said.

Những quyển sách tôi đã viết được gửi ra mà không kèm bất kỳ đòi hỏi nào về việc phải được chấp nhận. Chúng có thể đúng, có thể không đúng, chân thực hay hữu ích. Việc xác chứng chân lý là ở nơi các bạn—bằng thực hành đúng đắn và bằng vận dụng trực giác. Cả tôi lẫn A.A.B. đều không hề quan tâm đến việc người ta tôn xưng chúng như trước tác được linh hứng, hoặc nói về chúng (với hơi thở nín lặng) như công trình của một trong các Chân sư. Nếu chúng trình bày chân lý theo cách tiếp nối hợp lẽ sau những điều đã được ban ra trong giáo huấn của thế giới, nếu thông tin được đưa ra nâng khát vọng và ý chí phụng sự từ bình diện cảm xúc lên bình diện thể trí (bình diện nơi các Chân sư có thể được tìm thấy) thì như vậy là chúng đã hoàn tất mục đích. Nếu giáo lý truyền đạt khơi dậy đáp ứng từ thể trí được soi sáng của người phụng sự trong thế gian và làm lóe sáng trực giác của y, thì hãy chấp nhận giáo lý ấy. Còn không thì đừng. Nếu các tuyên bố rốt cuộc được minh chứng, hoặc được xét là chân thật khi đem thử bằng Định luật Tương Ứng, thì điều đó thật tốt đẹp. Nhưng nếu không, thì học viên chớ chấp nhận điều đã nói.

August 1934

THÁNG TÁM 1934

ĐẠI KHẤN NGUYỆN

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh Sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin ánh sáng tràn vào trí con người.

Let Light descend on Earth

Cầu xin Ánh Sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình Thương trong Tâm Thượng Đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin tình thương tràn vào tâm con người.

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại Trần gian.

From the centre where the Will of God is known

Từ trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của con người—

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư biết và phụng sự.

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình Thương và Ánh Sáng được thực thi.

And may it seal the door where evil dwells.

Cầu xin Thiên Cơ đóng kín cửa vào kẻ ác.

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth

Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương và Quyền Năng phục hồi Thiên Cơ trên Trần Gian

“The above Invocation or Prayer does not belong to any person or group but to all Humanity. The beauty and the strength of this Invocation lies in its simplicity, and in its expression of certain central truths which all men, innately and normally, accept—the truth of the existence of a basic Intelligence to Whom we vaguely give the name of God; the truth that behind all outer seeming, the motivating power of the universe is Love; the truth that a great Individuality came to earth, called by Christians, the Christ, and embodied that love so that we could understand; the truth that both love and intelligence are effects of what is called the Will of God; and finally the self-evident truth that only through humanity itself can the Divine Plan work out.”

“Lời Khẩn Nguyện hay Cầu Nguyện trên đây không thuộc về bất kỳ cá nhân hay nhóm nào mà thuộc về toàn thể nhân loại. Vẻ đẹp và sức mạnh của lời Khấn Nguyện này nằm ở sự giản dị của nó, và ở cách nó diễn đạt những chân lý trung tâm mà tất cả con người, một cách bẩm sinh và tự nhiên, đều chấp nhận—chân lý về sự tồn tại của một Trí Tuệ Căn Bản mà ta mơ hồ gọi là Thượng Đế; chân lý rằng đằng sau mọi vẻ bề ngoài bên ngoài, quyền năng thúc đẩy vũ trụ là Tình Thương; chân lý rằng có một Vị Vĩ Nhân đã đến trần gian, được các tín đồ Kitô giáo gọi là Đức Christ, và Ngài đã hiện thân Tình Thương ấy để chúng ta có thể hiểu; chân lý rằng cả tình thương lẫn trí tuệ đều là những hiệu quả của cái được gọi là Ý Chí của Thượng Đế; và cuối cùng là chân lý hiển nhiên rằng chỉ thông qua chính nhân loại thì Thiên Cơ mới có thể được hoàn tất.”

Alice A Bailey

ALICE A BAILEY

LỜI NÓI ĐẦU

[ix]

This book is in many ways unique. Nothing like it has before been published, as far as I know. It contains two series of talks by one of the Masters of the Wisdom to some members of His inner group, and also a series of personal instructions, given by Him to a group of His disciples. Many of these people were unknown to me when they were brought to my notice; some of them I have since met; others I have never met; some I knew well and could understand why they had been chosen, knowing that their dedication to the life of the spirit and their love of humanity warranted the choice; one or two were regarded by me as most unsuitable choices but later I altered my point of view and recognised that a wiser mind than mine was responsible for their inclusion in the Ashram. I learnt also that ancient relationships, established in other lives, were also conditioning factors and that some had earned the right to inclusion, even if their spiritual attainments seemed inadequate to the onlooker.

Quyển sách này theo nhiều phương diện là độc nhất. Theo tôi biết, chưa từng có sách nào như thế được xuất bản. Nó gồm hai loạt nói chuyện của một trong các Chân sư Minh Triết cho vài thành viên thuộc nhóm nội môn của Ngài, và cũng gồm một loạt huấn thị cá nhân Ngài ban cho một nhóm đệ tử của Ngài. Nhiều người trong số ấy tôi không hề biết khi họ được đưa vào sự chú ý của tôi; một số người về sau tôi đã gặp; những người khác thì tôi chưa hề gặp; có người tôi biết rõ và có thể hiểu tại sao họ được chọn, biết rằng lòng hiến dâng cho đời sống tinh thần và tình thương nhân loại của họ bảo chứng cho sự chọn lựa ấy; một hai người bị tôi xem là lựa chọn rất không thích đáng, nhưng về sau tôi thay đổi quan điểm và nhận ra rằng có một trí tuệ khôn ngoan hơn trí tôi chịu trách nhiệm về sự thu nhận họ vào Ashram. Tôi cũng học được rằng những mối liên hệ cổ xưa, được thiết lập trong các kiếp khác, cũng là yếu tố chi phối và rằng có người đã giành được quyền được thu nhận, dẫu thành tựu tinh thần của họ dường như chưa tương xứng dưới mắt người quan sát.

A good deal of the teaching given is new in form and some of it is new in fact. One point emerges with clarity and that is: the old rules to which disciples have been subjected down the centuries still hold good, but are susceptible of fresh and often different interpretations. The training to be given during the coming New Age will be fitted to their more advanced development. The evolutionary progress—from century to century—presents a steadily ripening and developing human mind upon which the Master can work. The standard of discipleship is consequently as steadily rising. This, in itself, demands a new approach, a wider presentation of truth and the permitting of a greater freedom of action upon the part of the disciple. The time element is also different. In the old days, the Master gave His disciple a hint or a point upon which to ponder and meditate or He might indicate some need for changed habits of thought. Then the disciple went away—[x] sometimes for years or an entire lifetime—and reflected and thought and attempted to alter his attitudes without any particular sense of pressure. Today, in our speedier times and when the demand of humanity for help is so outstanding, the hint has given place to explanation and the disciple is trusted with information, hitherto withheld. He is regarded as having reached a stage in his unfoldment at which he can make his own decisions and proceed with rapidity, if he so chooses.

Một phần đáng kể giáo huấn được ban là mới về hình thức và có phần mới về thực chất. Một điểm nổi bật hiện ra rõ ràng là: những quy luật cũ mà đệ tử phải tuân theo qua nhiều thế kỷ vẫn còn hiệu lực, nhưng có thể được giải thích mới mẻ và nhiều khi khác trước. Sự huấn luyện sẽ ban trong Thời Đại Mới sắp tới sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với trình độ phát triển cao hơn của họ. Tiến trình tiến hóa—từ thế kỷ này sang thế kỷ khác—trình hiện một thể trí nhân loại chín muồi và phát triển đều đặn hơn, trên đó Chân sư có thể làm việc. Do đó, tiêu chuẩn của Địa vị đệ tử cũng đều đặn tăng lên. Điều này, tự thân nó, đòi hỏi một cách tiếp cận mới, một trình bày rộng rãi hơn về chân lý và cho phép trên phần của đệ tử một tự do hành động lớn hơn. Yếu tố thời gian cũng đã khác. Ngày trước, Chân sư ban cho đệ tử một ám chỉ hay một điểm để suy tư và tham thiền, hoặc Ngài có thể nêu một nhu cầu cần đổi thay những tập quán tư tưởng. Khi ấy đệ tử ra đi—[x] đôi khi nhiều năm, thậm chí trọn đời—để suy gẫm, tư duy và cố gắng cải biến thái độ mà không có cảm giác bị thúc bách nào. Ngày nay, trong thời buổi mau lẹ hơn và khi lời thỉnh cầu cứu trợ của nhân loại nổi bật như thế, ám chỉ đã nhường chỗ cho giải thích, và đệ tử được tín nhiệm trao cho những thông tin vốn trước đây bị giữ kín. Y được xem như đã đến một giai đoạn trong sự khai mở ở đó y có thể tự quyết và tiến nhanh, nếu y chọn như vậy.

Certain definite reasons have prompted me to make these instructions available for aspirants everywhere after requesting permission from those who received them. One is the need to bring to the attention of the general public the fact that the Hierarchy exists, that its Members are interested in human progress and that there is a definitely planned system of training offered by Them which can lead a man out of the human kingdom into the Kingdom of God; that this moving forward upon the Path of Evolution out of the fourth kingdom into the fifth can be brought about consciously, scientifically and with the full consent and cooperation of the aspirant. The day has now come when belief can (and does) give place to knowledge—a knowledge gained through the acceptance of a hypothesis in the first place, a conviction that this hypothesis is backed by adequate testimony and planned experience. The reasoning mind of the disciple can then take the successes and failures he encounters in his training and learn the intended lessons; he finds that progress upon the Path brings a man into closer, conscious touch with Those Who have walked this Way before and that the Way into the Hierarchy is a way of discipline, of increasing enlightenment, of service to his fellowmen and of a growing responsiveness to contacts and to individuals of which the average human being knows nothing.

Có những lý do dứt khoát đã thúc đẩy tôi công bố các huấn thị này cho những người chí nguyện khắp nơi sau khi xin phép những người đã nhận chúng. Một là nhu cầu đưa ra trước công chúng sự kiện rằng Thánh Đoàn tồn tại, rằng Các Thành Viên của Thánh Đoàn quan tâm tới tiến bộ của nhân loại và rằng có một hệ thống huấn luyện được hoạch định rõ ràng do Các Ngài cung hiến, có thể đưa con người ra khỏi giới nhân loại vào Thiên Giới; rằng sự tiến bước trên Thánh Đạo Tiến Hóa, từ giới thứ tư vào giới thứ năm, có thể được thực hiện một cách tự giác, khoa học và với sự ưng thuận đầy đủ cùng hợp tác của người chí nguyện. Ngày nay đã điểm khi niềm tin có thể (và thực sự) nhường chỗ cho tri thức—một tri thức ban đầu có được bằng việc chấp nhận một giả thuyết, rồi xác tín rằng giả thuyết ấy được hậu chứng bằng lời chứng đủ đầy và kinh nghiệm có hoạch định. Trí tuệ lý tính của đệ tử khi ấy có thể đem những thành công và thất bại y gặp trong huấn luyện mà học những bài học được định ý; y nhận ra rằng tiến bộ trên Đạo đưa con người vào tiếp xúc gần gũi hơn, tự giác hơn với Những Đấng đã đi Con Đường này trước, và rằng Đường vào Thánh Đoàn là con đường kỷ luật, giác ngộ tăng tiến, phụng sự đồng loại và một đáp ứng ngày càng lớn với các tiếp xúc và với những cá nhân mà người thường không hề hay biết.

A second reason for publishing this book is the need to change the point of view of the general public as to the nature of these Masters Who take pupils and Who, whilst giving them the training needed to enable them to take initiation (as it is called), reach the mass of men through their means. So much stupidity has been demonstrated in writing and talking about the relationship of Master and disciple that it was felt both by [xi] me and this group of disciples that the sanity, the breadth of vision, the lack of authority, and the understanding evidenced by a Member of the Hierarchy could do nothing but good. We found also that He was quite ready for His instructions to be made public.

Lý do thứ hai để xuất bản sách này là nhu cầu đổi thay quan điểm của công chúng về bản chất của các Chân sư—Những Đấng thu nhận môn sinh và, đồng thời trong khi ban sự huấn luyện cần thiết để họ có thể thọ điểm đạo (như người ta gọi), tiếp cận quần chúng qua trung gian của họ. Đã có quá nhiều điều khờ dại được phơi bày trong những điều viết và nói về mối liên hệ giữa Chân sư và đệ tử đến nỗi cả [xi] tôi và nhóm đệ tử này đều cảm thấy rằng sự sáng suốt, tầm nhìn bao quát, sự vắng bóng uy quyền giáo điều và sự thấu hiểu mà một Thành Viên của Thánh Đoàn cho thấy hẳn chỉ mang lại điều thiện. Chúng tôi cũng thấy rằng Ngài hoàn toàn sẵn lòng để các huấn thị của Ngài được công bố.

A third reason was the desire to make clear a point which is continually emphasised by the Tibetan as it is by all Masters and which is of major importance to every aspirant. Only those who are beginning to come under the influence and the control of their own souls and are, therefore, mentally focussed and attuned, are eligible for the training offered by the Hierarchy. Devotion, emotional reactions and sentiment are not enough. Esoteric training is also an impersonal matter; it is concerned with the development of soul consciousness and with the expansion of that consciousness to include, and not exclude, all forms of life through which pulses the life and love of God. The true disciple is ever inclusive and never exclusive. It is this inclusiveness which is the hallmark of all true esotericists. Where it is lacking you may have an aspirant but you do not have a true disciple. There is far too much exclusiveness extant today among esotericists and in occult schools and too much theological separativeness. It has been felt that this Book of Instructions may do much to offset this evil tendency and may help to open the door still wider into the Kingdom of God.

Lý do thứ ba là mong muốn làm rõ một điểm mà Chân sư Tây Tạng cũng như mọi Chân sư đều liên tục nhấn mạnh, và điều ấy có tầm quan trọng chủ yếu đối với mọi chí nguyện sinh. Chỉ những ai bắt đầu chịu ảnh hưởng và kiểm soát của chính linh hồn mình và, do đó, được tập trung và hòa điệu bằng thể trí, mới đủ tư cách nhận sự huấn luyện do Thánh Đoàn cung hiến. Lòng sùng tín, phản ứng cảm xúc và tình cảm là không đủ. Huấn luyện huyền bí cũng là một việc phi cá nhân; nó liên quan tới sự phát triển tâm thức linh hồn và tới sự mở rộng tâm thức ấy để bao gồm, chứ không loại trừ, mọi hình thức sống mà trong đó sự sống và tình thương của Thượng Đế đang lưu chuyển. Đệ tử chân chính bao giờ cũng mang tính bao gồm, không bao giờ loại trừ. Chính tính bao gồm này là dấu ấn của mọi nhà huyền bí học chân chính. Nơi nào nó thiếu vắng, nơi ấy bạn có thể có một người chí nguyện nhưng không có một đệ tử thật sự. Hiện thời có quá nhiều tính loại trừ đang tồn tại giữa các nhà huyền bí học và trong các trường huyền môn, và quá nhiều chia rẽ thần học. Sách Huấn Thị này được kỳ vọng sẽ góp phần hóa giải khuynh hướng sai lạc đó và giúp mở toang hơn nữa cánh cửa vào Thiên Giới.

Much in this book is new. Much is very old, tried and proved. None of the people chosen for instruction and for inclusion in the Ashram of the Master are saints or perfect. All are, however, true aspirants and will go on to the very end in spite of pain and sorrow, discipline, success, failure, joy and a spiritual recognition of almost unattainable goals. Some have been on this Path of Accepted Discipleship (technically understood) for many lives. Some are venturing for the first time—consciously and with deliberate effort—to tread the Way to God. All are mystics, learning to be occultists. All are normal people, living useful, modern lives in many different countries in the world. Some are orthodox Protestant Christians by profession; others are Roman Catholics; still others are Christian Scientists or belong to one or other of the more mental cults; [xii] some are quite unattached and free from affiliations. None of them regards his particular brand of faith or his particular religious background as essential to salvation; he knows that the only essential is belief in the spiritual realities and in the essential divinity of mankind. This belief necessarily involves a heart full of love, a mind open and illumined by right orientation to truth and a life dedicated to service and to the alleviation of human sufferings. This is the determined goal of all whose instructions are found in this book—a goal which they have not yet attained and a mode of life which they have not yet perfected. They are, nevertheless, unalterably upon their way and that way is the WAY. Christ said “I am the Way, the Truth and the Life”; these aspirants, working under a great Disciple of the Christ, are beginning to grasp some of the significances and implications of that statement which holds true for all time and for all disciples, because “as He is, so are we in this world.”

Nhiều điều trong sách này là mới. Nhiều điều rất cũ, đã được thử và minh chứng. Không ai trong những người được chọn để nhận huấn thị và để được thu nhận vào Ashram của Chân sư là thánh nhân hay hoàn hảo. Tuy vậy, tất cả đều là các chí nguyện sinh chân thực và sẽ đi tới cùng bất chấp đau khổ và kỷ luật, thành công, thất bại, hân hoan và một sự nhận thức tinh thần về những mục tiêu gần như bất khả đạt. Có người đã đi trên Con Đường Đệ Tử Chính Thức (hiểu theo nghĩa kỹ thuật) qua nhiều kiếp. Có người lần đầu tiên—một cách tự giác và bằng nỗ lực có chủ ý—đặt chân lên Con Đường Trở Về cùng Thượng Đế. Tất cả đều là các nhà thần bí, đang học để trở thành các nhà huyền bí học. Tất cả đều là những người bình thường, sống đời sống hữu ích, hiện đại ở nhiều quốc gia trên thế giới. Có người theo hệ phái Tin Lành chính thống; người khác là Công Giáo La Mã; lại có người là Tín hữu Khoa học Kitô giáo hoặc thuộc một trong các trào lưu có tính trí tuệ hơn; [xii] có người hoàn toàn không liên kết, tự do khỏi mọi ràng buộc. Không ai trong họ xem nhãn hiệu đức tin riêng hay nền tảng tôn giáo của mình là điều tất yếu để được cứu rỗi; y biết rằng điều tất yếu duy nhất là niềm tin vào các thực tại tinh thần và vào thiên tính cốt yếu của nhân loại. Niềm tin ấy tất yếu bao gồm một con tim đầy tình thương, một thể trí mở rộng và được soi sáng bởi định hướng đúng với chân lý, và một đời sống hiến dâng cho phụng sự và cho việc làm vơi khổ đau của con người. Đây là mục tiêu kiên định của tất cả những người có huấn thị được trình bày trong sách này—mục tiêu mà họ chưa đạt và một cách sống mà họ chưa hoàn thiện. Tuy vậy, họ kiên quyết không đổi trên Đường, và con đường ấy chính là ĐẠO. Đức Christ nói: “Ta là Đường, là Chân Lý và là Sự Sống”; những chí nguyện sinh này, làm việc dưới quyền một Đại Đệ Tử của Đức Christ, đang bắt đầu nắm bắt vài ý nghĩa và hàm ý của lời tuyên cáo ấy—lời chân thật cho muôn thời và cho mọi đệ tử, vì “như Ngài thế nào, chúng ta cũng thế ấy trong thế gian này.”

The work with this particular group began twelve years ago. Each person’s instructions are given in their ordered sequence, year by year, so that a real picture of the person concerned, of his problems and his achievement or lack of achievement, emerges clearly. This book is encouraging in that it offsets the idea that to be a pledged disciple one is, therefore, set apart by perfection of character and isolated by the aspiration which inspires the life. These are people with problems, struggling to solve them; with character limitations which they are endeavouring to overcome; they are true instances of any man or woman who turns his back upon the usual approach to the world of material affairs and takes up his cross in order to find his way back to the Father’s home; they picture for us the man who, having “put his hand to the plough,” turns not back but presses forward “towards the prize of his high calling in Christ.”

Công việc với nhóm đặc thù này bắt đầu mười hai năm trước. Huấn thị của mỗi người được trình bày theo trật tự của chúng, năm nối năm, để hiện ra rõ ràng một bức tranh chân thực về người liên hệ, về các vấn đề của y và thành tựu hay thiếu thành tựu của y. Sách này mang tính khích lệ ở chỗ nó hóa giải quan niệm rằng hễ là một đệ tử đã phát nguyện thì bởi vậy mà được tách riêng do sự toàn hảo của tính cách và bị cô lập bởi khát vọng linh hứng đời sống. Đây là những con người có vấn đề, đang nỗ lực giải quyết; có các giới hạn tính cách mà họ cố gắng vượt qua; họ là những minh họa chân thực cho bất kỳ người nam hay người nữ nào quay lưng với lối tiếp cận thông thường đối với thế giới những sự vụ vật chất và “vác thập giá mình” để tìm đường trở về Nhà của Cha; họ phác họa cho chúng ta hình ảnh người mà, “đã đặt tay lên cày,” thì không ngoảnh lại nhưng “nhắm mục tiêu cao cả trong Đức Christ” mà tiến tới.

Some of these people have worked as students in the Arcane School; others have never done so; still others (when they heard of the school through their affiliation with the Tibetan) worked in it in order to help the students. Their names will not be divulged. The initials at the head of the various instructions and the dates assigned carry no information; the [xiii] instructions were probably not received on the dates given and the initials are none of them correct. No information will be given by any of us who know the relation between the initials and the disciple. Questions as to identity will not be answered at any time. It is the subject matter of the teaching which is of importance and not the name of the disciple for what is said is applicable to all aspirants.

Một số người trong họ đã học tập như đạo sinh của Trường Arcane; những người khác thì chưa từng như vậy; lại có người (khi nghe nói về trường qua mối liên hệ của họ với Chân sư Tây Tạng) đã làm việc trong đó để giúp đỡ các học viên. Tên của họ sẽ không được tiết lộ. Các chữ viết tắt ở đầu các huấn thị và các niên điểm gán vào không mang ý nghĩa thông tin; [xiii] các huấn thị rất có thể không được tiếp nhận vào những ngày đã ghi và các chữ viết tắt đều không đúng. Không ai trong chúng tôi—những người biết mối liên hệ giữa chữ viết tắt và đệ tử—sẽ đưa ra thông tin nào. Mọi câu hỏi về căn tính sẽ không được trả lời bất kỳ lúc nào. Điều quan trọng là nội dung giáo huấn chứ không phải tên tuổi của đệ tử, vì điều được nói đều áp dụng cho mọi chí nguyện sinh.

One other reason might be mentioned here as indicative of the value of this book. In every case, the disciple is told what are the types of energy to which he most easily responds and upon which ray or divine emanation he finds himself. He, therefore, becomes aware of what constitutes his line of least resistance and where the major point of his life conflict is to be found.

Một lý do khác có thể được nêu ở đây như một chỉ dấu về giá trị của sách. Trong mỗi trường hợp, đệ tử được cho biết những loại năng lượng nào mà y đáp ứng dễ dàng nhất và y thuộc cung hay làn bức xạ thiêng liêng nào. Nhờ thế, y nhận biết được điều gì cấu thành “đường ít chống đối nhất” của y và nơi nào tồn tại điểm chính yếu của xung đột đời sống y.

We are taught in the esoteric philosophy that seven great divine Emanations, Aeons or Spirits (in Whom we live and move and have our being) came forth from God at the time of the Creation. The same teaching can also be traced in the Holy Bible. Upon one or other of these seven Rays, the souls of all forms of life are to be found as well as the forms themselves. These seven rays produce the seven major psychological types. These seven rays or emanations are:

Chúng ta được dạy trong triết học huyền bí rằng bảy Đại Làn Bức Xạ, bảy Aeon hay bảy Thánh Linh vĩ đại (trong Các Ngài chúng ta sống, chuyển động và hiện hữu) đã phóng xuất từ Thượng Đế vào thời Sáng Tạo. Cùng một giáo huấn cũng có thể lần dấu trong Kinh Thánh. Trên một trong bảy Cung ấy, linh hồn của mọi hình thức sống đều có mặt, cũng như chính các hình tướng. Bảy cung này tạo ra bảy loại tâm lý chủ yếu. Bảy cung hay bảy làn bức xạ ấy là:

1. The first Ray of Will or Power. Many great world rulers are found on this ray, such as Julius Caesar.

Cung Thứ Nhất của Ý Chí hay Quyền Lực. Nhiều vị đại trị thế của thế giới ở trên cung này, như Julius Caesar.

2. The second Ray of Love-Wisdom. The Christ and the Buddha are to be found on this ray. It is the great teaching ray.

Cung Thứ Hai của Bác Ái-Minh Triết. Đức Christ và Đức Phật ở trên cung này. Đây là cung giảng dạy vĩ đại.

3. The third Ray of Active Intelligence. The mass of intelligent humanity are found on this ray.

Cung Thứ Ba của Hoạt Dụng Trí Tuệ. Quần chúng nhân loại trí năng ở trên cung này.

4. The fourth Ray of Harmony through Conflict. Aspirants. Struggling, well-meaning people. Workers for unity emerge along this line.

Cung Thứ Tư của Hòa Điệu qua Xung Đột. Các chí nguyện sinh. Những người thiện chí đang tranh đấu. Những công nhân vì hiệp nhất xuất hiện theo đường này.

5. The fifth Ray of Concrete Knowledge or Science. Scientists and people who are purely mental and governed only by the mind.

Cung Thứ Năm của Tri Thức Cụ Thể hay Khoa Học. Các nhà khoa học và những người hoàn toàn trí năng, chỉ do thể trí chi phối.

6. The sixth Ray of Devotion or Idealism. Many Christian people. Fanatics. Numbers of earnest Churchmen of all the world religions. [xiv]

Cung Thứ Sáu của Sùng Tín hay Lý Tưởng. Nhiều tín hữu Kitô giáo. Những người cuồng tín. Đông đảo các giáo sĩ nhiệt thành của mọi tôn giáo. [xiv]

7. The seventh Ray of Ceremonial Order or Magic. Masons. Financiers. Great businessmen and organisers of all kinds. Executives are found with these energies in their equipment.

Cung Thứ Bảy của Trật Tự Nghi Lễ hay Huyền Thuật. Các Mason. Các nhà tài chính. Những nhà doanh nghiệp lớn và các nhà tổ chức đủ loại. Các nhà điều hành mang các năng lượng này trong cấu trúc năng lượng của họ.

However, only when a man is highly developed and nearing the Path of Discipleship is it possible for the esoteric student accurately to surmise what his ray may be. People of all kinds and professions are found on all the rays. The conflict in a disciple’s life is found to lie in the fact that the ray of his soul and the ray of his integrated personality are posed against each other. At the same time, his emotional nature, his mental equipment and his physical brain are also controlled by some one or other of the rays and in this fivefold relationship lies hid much of the problem of the evolving human being. The Tibetan tells the members of His group which five rays condition them and students will learn much by a study of what He says. In the cases where I happen to know the disciple concerned personally and something of his problems, it was amazingly interesting to me to note how infallibly right the Tibetan was in His diagnosis of the rays involved. In reading these instructions will you please remember that though the Tibetan usually speaks of the soul, He also uses the word “ego” interchangeably, meaning thereby the spiritual ego and not the personal ego of the psychologists.

Tuy nhiên, chỉ khi một người phát triển cao và gần Địa vị đệ tử thì người nghiên cứu huyền bí mới có thể ước đoán đúng đắn cung của y. Người thuộc mọi hạng và mọi nghề đều được thấy trên tất cả các cung. Xung đột trong đời một đệ tử được thấy là nằm ở chỗ cung của linh hồn y và cung của phàm ngã tích hợp của y xung khắc nhau. Đồng thời, bản chất cảm dục của y, dụng cụ trí năng và bộ não hồng trần của y cũng bị một trong các cung chi phối; trong tương quan ngũ phân này ẩn tàng phần lớn vấn đề của con người đang tiến hóa. Chân sư Tây Tạng chỉ rõ cho các thành viên nhóm của Ngài năm cung chi phối họ, và học viên sẽ học được nhiều điều khi khảo sát điều Ngài nói. Khi tôi tình cờ biết đệ tử liên hệ một cách cá nhân và chút ít vấn đề của y, tôi thấy thật đáng kinh ngạc khi nhận ra Chân sư Tây Tạng luôn đúng không sai lầm trong chẩn đoán về các cung liên can. Khi đọc các huấn thị này, xin các bạn nhớ rằng dù Chân sư Tây Tạng thường nói về “linh hồn”, Ngài cũng dùng từ “chân ngã” thay thế—ý chỉ chân ngã tinh thần, chứ không phải phàm ngã tâm lý theo các nhà tâm lý học.

We have not felt it wise to give the meditations assigned or the breathing exercises, except in a few cases. They were strictly individual and suited to the person and his peculiar problems. In one or two cases, however, after due consideration, we have inserted some of the meditations with slight changes. It was obvious that they could be only helpful.

Chúng tôi xét thấy không khôn ngoan khi đưa ra các bài tham thiền đã được giao hoặc các bài tập điều tức, ngoại trừ trong một vài trường hợp. Chúng vốn tuyệt đối cá nhân và phù hợp với con người cùng những vấn đề đặc thù của y. Tuy nhiên, trong một hai trường hợp, sau khi cân nhắc, chúng tôi có chèn vào một vài bài tham thiền với những sửa đổi nhỏ. Rõ ràng chúng chỉ có thể hữu ích.

At the end of each instruction, we have put a sentence or two which gives information as to the work of the disciple in the Ashram. This will prove particularly enlightening as, for instance, in the cases of P.D.W. and K.E.S. where the Tibetan shows definite prevision and the knowledge that both these men would die a few years later. He is obviously preparing them for that great transition.

Ở cuối mỗi huấn thị, chúng tôi đưa một hai câu cho biết về công việc của đệ tử trong Ashram. Điều này sẽ đặc biệt khai mở, như trong trường hợp của P.D.W. và K.E.S., nơi Chân sư Tây Tạng cho thấy dự tri xác quyết và tri thức rằng cả hai vị này sẽ qua đời vài năm sau đó. Rõ ràng Ngài đang chuẩn bị cho họ bước chuyển vĩ đại ấy.

In closing, I would like to thank all these disciples who have so kindly placed their personal instructions at my disposal [xv] in an effort to be of service to the coming generation of disciples. In many cases, they helped prepare them for the press. I would like also to thank those who helped me to get the text ready for publication, particularly Joseph Lovejoy who gave days of labour to the book; he has for years helped me prepare the Tibetan’s books for publication.

Sau cùng, tôi muốn cảm ơn tất cả các đệ tử đã niềm nở đặt các huấn thị cá nhân của họ vào sự xử dụng của tôi [xv] nhằm nỗ lực phụng sự thế hệ đệ tử đang đến. Trong nhiều trường hợp, họ đã giúp chuẩn bị bản thảo để xuất bản. Tôi cũng muốn cảm ơn những ai đã giúp tôi soạn thảo văn bản để in, đặc biệt là Joseph Lovejoy, người đã dành nhiều ngày lao tác cho quyển sách; từ nhiều năm nay ông đã giúp tôi chuẩn bị các sách của Chân sư Tây Tạng để xuất bản.

I hope all who read this book will receive the inspiration that we who have prepared it have received; I hope also that their confidence in the Hierarchy and in the existence of Christ and His Disciples, the Masters, may receive such an impetus that many more will attempt to tread the Way and join the great number of aspirants in every country who are seeking to tread the Path by becoming the Path Itself.

Tôi hy vọng tất cả những ai đọc sách này sẽ nhận được cảm hứng như chúng tôi—những người đã chuẩn bị nó—đã nhận; tôi cũng hy vọng niềm tin của họ vào Thánh Đoàn và vào sự hiện hữu của Đức Christ cùng Các Đệ Tử của Ngài, các Chân sư, sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ đến mức nhiều người hơn nữa sẽ cố gắng bước lên Đường và nhập vào đông đảo chí nguyện sinh ở mọi quốc gia đang tìm bước trên Đạo bằng cách trở thành chính Đạo.

October 1943

tháng mười 1943

ALICE A. BAILEY

alice a. bailey

THE GREAT INVOCATIONS

CÁC ĐẠI KHẤN NGUYỆN

Let the Forces of Light bring illumination to mankind.

Cầu xin Các Mãnh Lực của Ánh Sáng đem sự soi sáng đến cho nhân loại.

Let the Spirit of Peace be spread abroad.

Cầu xin Tinh Thần Hòa Bình lan tỏa khắp nơi.

May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.

Cầu xin những người thiện chí ở khắp nơi gặp gỡ trong tinh thần hợp tác.

May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.

Cầu xin sự bao dung của hết thảy mọi người là chủ âm của thời kỳ này.

Let power attend the efforts of the Great Ones.

Cầu xin quyền lực trợ lực cho nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.

So let it be, and help us to do our part. — 1935

Xin được như thế, và xin giúp chúng con làm phần việc của mình. — 1935

Let the Lord of Liberation issue forth.

Cầu xin Đấng Giải Thoát xuất hiện.

Let Him bring succour to the sons of men.

Cầu xin Ngài mang sự trợ giúp đến cho các con của nhân loại.

Let the Rider from the Secret Place come forth,

Cầu xin Đấng Kỵ Sĩ từ Nơi Ẩn Mật xuất hiện,

And coming, save.

Và khi xuất hiện, xin cứu độ.

Come forth, O Mighty One.

Xin xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng.

~

Let the souls of men awaken to the Light,

Cầu xin linh hồn của con người thức tỉnh với Ánh Sáng,

And may they stand with massed intent.

Và cầu xin họ đứng vững với ý chí tập trung.

Let the fiat of the Lord go forth:

Cầu xin thánh chỉ của Đức Chúa vang ra:

The end of woe has come!

Tận cùng của khổ lụy đã đến!

Come forth, O Mighty One.

Xin xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng. ~

~

The hour of service of the saving force has now arrived.

Giờ phụng sự của mãnh lực cứu rỗi đã điểm.

Let it be spread abroad, O Mighty One.

Cầu xin nó được lan tỏa, hỡi Đấng Đại Hùng.

Let Light and Love and Power and Death

Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương, Quyền Năng và Cái Chết

Fulfil the purpose of the Coming One.

Hoàn tất mục đích của Đấng Đang Đến.

The WILL to save is here.

Ý CHÍ cứu độ đã hiện hữu.

The LOVE to carry forth the work is widely spread abroad.

TÌNH THƯƠNG để triển khai công cuộc đã được rộng truyền.

The ACTIVE AID of all who know the truth is also here.

SỰ TRỢ GIÚP TÍCH CỰC của tất cả những ai biết chân lý cũng đang có mặt.

Come forth, O Mighty One, and blend these three.

Xin xuất hiện, hỡi Đấng Đại Hùng, và hòa hiệp ba điều này.

Construct a great defending wall.

Xin dựng một bức tường phòng ngự vĩ đại.

The rule of evil now must end. — 1940

Sự thống trị của điều ác nay phải chấm dứt. — 1940

From the point of Light within the Mind of God

Từ điểm Ánh Sáng trong Trí Thượng Đế

Let light stream forth into the minds of men.

Cầu xin ánh sáng tuôn tràn vào trí con người.

Let Light descend on Earth

Cầu xin Ánh Sáng giáng xuống trần gian

From the point of Love within the Heart of God

Từ điểm Tình Thương trong Tâm Thượng Đế

Let love stream forth into the hearts of men.

Cầu xin tình thương tràn vào tâm con người.

May Christ return to Earth.

Cầu xin Đức Christ trở lại Trần gian.

From the centre where the Will of God is known

Từ trung tâm nơi Ý Chí của Thượng Đế được biết

Let purpose guide the little wills of men—

Cầu xin Thiên Ý dẫn dắt ý chí nhỏ bé của con người—

The purpose which the Masters know and serve.

Thiên Ý mà các Chân sư biết và phụng sự.

From the centre which we call the race of men

Từ trung tâm mà chúng ta gọi là loài người

Let the Plan of Love and Light work out.

Cầu xin Thiên Cơ của Tình Thương và Ánh Sáng được thực thi.

And may it seal the door where evil dwells.

Cầu xin Thiên Cơ đóng kín cửa vào kẻ ác.

Let Light and Love and Power restore the Plan on Earth — 1945

Cầu xin Ánh Sáng, Tình Thương và Quyền Năng phục hồi Thiên Cơ trên Trần Gian—1945

ĐƯỜNG ĐẠO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI – QUYỂN I

SECTION ONE

TALKS TO DISCIPLES—NÓI VỚI CÁC ĐỆ TỬ

[3]

PHẦN I

MY BROTHERS:

It is of importance that you realise that today something new is happening. There is the emergence of a new kingdom in nature, the fifth kingdom; this is the Kingdom of God on earth or the kingdom of souls. It is precipitating on earth and will be composed of those who are becoming group-conscious and who can work in group formation. This will be possible, because these people will have achieved a self-initiated perfection (even if relative in nature) and will be identified with certain group expansions of consciousness. It will also be because they have arrived at love of their fellowmen, just as they have loved themselves in the past. Think on this with clarity, my brothers, and grasp, if you can, the full significance of this last sentence.

CÁC HUYNH ĐỆ CỦA TÔI

Điều quan trọng là các bạn nhận ra rằng giờ đây có một thứ gì mới đang diễn ra. Đó là sự xuất hiện của một giới mới trong tự nhiên, giới thứ năm, là Thiên Giới trên trái đất, hay giới linh hồn. Nó đang hình thành trên trái đất và sẽ gồm những ai đang chuyển sang tâm thức nhóm và có thể có khả năng làm việc theo hình thức nhóm. Điều này có thể thực hiện được bởi vì những người này sẽ đạt đến trạng thái hoàn thiện nhờ sự tự điểm đạo (dù rằng về bản chất chỉ mang tính tương đối) và sẽ được đồng nhất hoá với sự mở rộng tâm thức nhóm nhất định. Đó cũng là vì họ đã mở rộng tình yêu thương đối với đồng loại, như họ đã từng yêu chính mình trong quá khứ. Các huynh đệ hãy suy ngẫm rõ ràng về điều này, và nếu có thể hãy thấu suốt trọn vẹn ý nghĩa câu cuối này.

Their work will largely be to summarise and make effective the work of those two great Sons of God, the Buddha and the Christ. As you know, One of Them brought illumination to the world and embodied the principle of wisdom, and the Other brought love to the world and embodied in Himself a great cosmic principle—the principle of love. How can the effectiveness of Their work be brought about? The process will follow three lines:

1. Individual effort, made by the individual disciple, using the technique of detachment, of dispassion and of discrimination which the Buddha taught.

2. Group initiation, made possible by the self-initiated effort of individual disciples, following out the injunctions of the Christ and leading to a complete subordination of the personality and of the unit to group interest and group good.

[4]

3. Group endeavour, carried forward as a group, to love all beings and to apprehend and understand the true significance of the Aquarian technique of group love and work.

Công việc của họ chủ yếu sẽ là đúc kết và làm cho công việc của hai Người Con của Thượng Đế, Đức Phật và Đức Christ có hiệu quả. Như các bạn đã biết, một trong hai Đấng ấy đã mang ánh sáng giác ngộ đến thế gian và đã là hiện thân cho nguyên lý Minh Triết, còn Đấng thứ hai mang tình thương đến thế gian và thể hiện nơi Ngài một nguyên lý vũ trụ vĩ đại – nguyên lý của tình thương.

Làm thế nào để công trình mà các Ngài mang lại trở nên hữu hiệu? Quá trình này sẽ diễn ra theo ba đường lối sau:

1. Nỗ lực cá nhân của từng đệ tử, sử dụng kỹ thuật buông xả, hạnh vô dục và tính phân biện mà Đức Phật đã dạy.

2. Điểm đạo theo nhóm, được thực hiện bởi nỗ lực tự điểm đạo của từng đệ tử tuân theo những lời răn của Đức Christ và đưa đến việc đặt phàm ngã và đơn vị cá nhân hoàn toàn lệ thuộc vào việc công ích và lợi ích tập thể. [4]

3. Sự cố gắng tập thể, thực hiện theo từng nhóm, nhằm ban rải tình thương cho tất cả chúng sinh, nắm bắt và hiểu được ý nghĩa đích thực của kỹ thuật thời đại Bảo Bình về tình thương và công việc nhóm.

I have felt that a linking up of your minds in connection with the work of the Buddha and of the Christ might serve a useful purpose and give you all a glimpse and an indication of Their two systems of unfoldment—one preparatory to accepted discipleship and the other to initiation—which would be sequential and inter-related. The synthesis of Their work is easily seen by us who work with a fuller vision and a less impeded outlook than is as yet possible to you.

Tôi cảm thấy rằng việc kết nối tâm trí của các bạn liên quan đến công việc của Đức Phật và của Đức Christ có thể phục vụ một mục đích hữu ích và đem đến cho tất cả các bạn một ý niệm và sự chỉ dẫn về hai phương pháp khai sáng của các Ngài — một để chuẩn bị cho việc trở thành đệ tử chính thức và một để bước vào cửa điểm đạo — cả hai có liên hệ tương hỗ và nối tiếp theo nhau. Chúng tôi có thể dễ dàng nhận thấy sự tổng hợp trong công việc của các Ngài bởi vì chúng tôi có một tầm nhãn quang bao quát hơn và ít hạn hẹp hơn so với khả năng của các bạn.

I am, therefore, dividing my disciples into groups so that they may work on different aspects of the Plan, and also laying the ground for group work which will greatly help the individual but which will also—above everything else—forward the work of the New Age.

Do đó, tôi chia các đệ tử của mình thành các nhóm để họ có thể làm việc trên các khía cạnh khác nhau của Thiên Cơ, và tạo nền tảng cho công việc nhóm sẽ giúp ích rất nhiều cho cá nhân nhưng trên tất cả cũng sẽ thúc đẩy công việc trong Kỷ Nguyên Mới.

It is, therefore, my intention to write a little in detail in connection with these groups. My time is very limited and I shall have to put a great deal of information into these talks and into any individual instructions which I may be led to give (probably at widely separated intervals) to my disciples. I am not basically writing for any of you at all but in order to lay the foundation for the group work to be done in the world during the coming years. What I say should be read with care, for the written word may contain several meanings and these can be sensed, according to the intuition—awakened or otherwise—of the aspirant.

Do đó, ý định của tôi là viết một chút chi tiết liên quan đến các nhóm này.

Thời gian của tôi rất hạn chế và tôi sẽ phải đưa một lượng lớn thông tin vào những huấn thị này và bất kỳ hướng dẫn cá nhân nào mà tôi có thể được cho phép để đưa ra (có thể là ở từng khoảng thời gian cách xa nhau) cho các đệ tử của mình. Về cơ bản tôi không viết riêng cho bất kỳ ai trong số các bạn mà là để đặt nền tảng cho công tác nhóm sẽ được thực hiện trên thế giới trong những năm tới. Những gì tôi nói cần được đọc cẩn thận, vì chữ viết có thể chứa đựng nhiều ý nghĩa và chúng có thể được cảm nhận bằng trực giác — đã được đánh thức hoặc chưa — của người chí nguyện.

I, your Tibetan Brother, am supposing upon the part of each of my disciples, one basic essential at least and that is a persevering earnestness which nothing will deter. Each of you starts upon this work with certain fundamental characteristics; each of you is beginning this definite enterprise of training for initiation with certain defects which act as deterrents and as handicaps; each of you has been recognised by his light and for his potentialities and with these we must perforce do the best we can. Note, therefore, the difficult problem confronting Those Who are guiding world evolution and looking for those who can aid in Their work. [5]

Tôi, người huynh trưởng Tây Tạng của các bạn, giả định rằng trong mỗi đệ tử của tôi phải có ít nhất một đức tính căn bản là lòng nhiệt thành kiên cố không gì lay chuyển. Mỗi người trong số các bạn bắt đầu công việc này với những tính cách cơ bản nhất định; mỗi người trong số các bạn đang bắt đầu công việc huấn luyện nhất định để bước vào cửa điểm đạo này với ít nhiều khiếm khuyết vốn đóng vai trò như những yếu tố kìm hãm và trở ngại; mỗi người trong số các bạn đã được công nhận bởi ánh sáng và những tiềm năng của mình và với những điều này, chúng ta phải cố gắng nỗ lực hết sức có thể. Do đó, hãy lưu ý vấn đề khó khăn phải đối mặt của những Đấng Cao Cả đang dìu dắt sự tiến hóa của nhân loại và tìm kiếm những người có thể trợ giúp trong công việc của các Ngài. [5]

I will teach you. Whether or not you profit by the teaching is entirely your own affair; that is something that the disciples of the New Age need to learn. There is no such thing as occult obedience as usually taught by the current occult schools. In the olden days in the East, the Master exacted from His disciple that implicit obedience which actually made the Master responsible and placed upon His shoulders the destiny or the karma of the disciple. That condition no longer holds good. The intellectual principle in the individual is now too much developed to warrant this type of expectancy. Therefore, this condition no longer holds good. In the coming New Age, the Master is responsible for the offering of opportunity and for the right enunciation of the truth but for no more than that. In these more enlightened days, no such position is assumed by the teacher as in the past, and I do not assume it. I shall with frankness speak. I know my disciples, for no disciple is admitted into an Ashram without deep consideration on the part of the teacher. I shall convey by hint and symbol that which should be apprehended and it will be noted and understood by those among my disciples who have the opened, inner ear and true humility of heart. If it is not recognised, time will pursue its onward course and revelation will ultimately come. I exact, therefore, no blind obedience. But, however, if advice and suggestion are accepted and you choose—of your own free will—to follow my instructions, those instructions must be followed accurately. Also, there must be none of that constant looking for results and for phenomena which has deterred the course and the progress of many would-be disciples.

Tôi sẽ chỉ dẫn cho các bạn. Bạn có thu được lợi ích từ giáo huấn này hay không hoàn toàn là việc của riêng bạn; đó là điều mà các đệ tử của Kỷ Nguyên Mới cần học hỏi. Không có cái gọi là sự vâng lời huyền bí như thường được dạy bởi các trường huyền bí hiện nay. Vào thời cổ ở phương Đông, Chân sư đã đòi hỏi đệ tử của Ngài phải có sự vâng lời tuyệt đối, điều này khiến cho Chân sư phải chịu trách nhiệm thực sự và đặt lên vai Ngài vận mệnh hay nghiệp quả của người đệ tử. Ngày nay điều đó không còn đúng nữa. Ngày nay nguyên khí trí tuệ trong mỗi cá nhân đã quá phát triển đến mức đảm bảo cho những triển vọng như vậy. Do đó, tình trạng này không còn phù hợp nữa. Trong Kỷ Nguyên Mới sắp tới, Chân sư không chịu trách nhiệm gì hơn ngoài việc mang lại cơ hội và truyền giảng chân lý một cách chính xác. Trong thời đại được khai sáng hơn này, vị huấn sư không còn giữ vị trí như thời xưa và tôi cũng vậy. Tôi sẽ nói thẳng. Tôi biết rõ các đệ tử của mình, vì không một đệ tử nào được nhận vào một Đạo viện mà không có sự xem xét kỹ lưỡng từ phía người huấn sư. Tôi sẽ truyền đạt bằng ẩn dụ và biểu tượng những gì cần được lĩnh hội và những đệ tử nào có nội nhĩ khai mở với trái tim thật sự khiêm tốn sẽ ghi nhận được và hiểu rõ. Nếu họ chưa hiểu được ngay thì thời gian sẽ tác động một cách âm thầm, và rốt cuộc sự giác ngộ cũng sẽ đến. Do đó, tôi không yêu cầu sự vâng lời mù quáng. Tuy nhiên, nếu lời khuyên và gợi ý được chấp nhận và các bạn chọn — bằng tự do ý chí của riêng các bạn — để làm theo hướng dẫn của tôi, thì những hướng dẫn đó phải được tuân theo một cách chính xác. Ngoài ra, không được lúc nào cũng trông đợi các kết quả và hiện tượng, là điều đã cản trở tiến trình và tiến bộ của nhiều đệ tử có triển vọng.

This is also for me an experiment, for those of us who are members of some degree of the Hierarchy are necessarily changing the old ways and adapting the old methods to the newer circumstances and to the advance of evolution. Many tried disciples and aspirants (should I have said "tired," brother of mine, for I surmise that both words are true?) are to be subjected to experiments which will involve the application of the ancient rules in a modern way. Disciples in the olden days were the product of more peaceful times. The "chitta" (or mind-stuff as Patanjali calls it in his famous Book of Rules) was neither so highly developed nor was it tinctured by so [6] much thought or potentially so illumined. Today, knowledge is widespread and many, many people are already thinking for themselves. The material for discipleship with which the Masters have to deal and the type of person which has to be developed and led on towards illumination is of a higher quality and grade, if I may employ so inadequate a term. The experiment of changing methods and of implementing the new technique of group work has to be carried out, likewise, in the midst of the stress and strain of Western civilisation. This imposes on all chosen to participate in this work an undue effort, but if continuance is found possible and success ensues, it tempers the material to a finer degree of power. As has been said, the jungles of the Occident are of a different kind to those within the Eastern zone. They call for peace in turmoil; for power in fatigue; for persistence in spite of bad health; for understanding in spite of the clamour of Western life. Progress is, therefore, made in spite of, and not because of, existing conditions. For disciples, such as those I am now going to attempt to teach, there is no retiring from the world. There is no condition of physical peace and of quiet wherein the soul may be invoked and in which work—potent in results—may be achieved in the calm of silence and the rest of what the Hindu calls samadhi—complete detachment from the calls of the body and the emotions. The work has to go forward in clamour. The point of peace must be found in the midst of riot. Wisdom must be attained in the very midst of intellectual turmoil and the work of cooperation with the Hierarchy on the inner side of life must proceed amidst the devastating racket of modern life in the great cities. Such is your problem and such is my problem as I seek to aid you.

Đối với tôi, đây cũng là một thử nghiệm, bởi vì chúng tôi, những thành viên có cấp đẳng của Thánh Đoàn, nhất thiết phải thay đổi những cách thức cũ và tùy nghi áp dụng phương pháp xưa vào những hoàn cảnh mới và vào sự tiến bộ của quá trình thăng thượng tiến hóa. Nhiều đệ tử và những người chí nguyện đã cố gắng (lẽ ra tôi phải dùng từ "mệt mỏi", huynh đệ của tôi, vì tôi phỏng đoán rằng cả hai từ đều đúng?) và đang phải trải qua những thử nghiệm liên quan đến việc áp dụng các quy luật cổ xưa theo phương pháp hiện đại. Những đệ tử trong thời xa xưa vốn là sản phẩm của thời đại thanh bình hơn. "Chitta" (hay trí tuệ chất như Patanjali gọi nó trong Cuốn sách về các Quy luật nổi tiếng của ông) chưa được phát triển quá cao và cũng như chưa bị nhuốm màu bởi quá [6] nhiều tư tưởng hay tiềm năng được soi sáng như hiện nay. Ngày nay, kiến thức được phổ biến rộng rãi, và rất nhiều người bắt đầu tư duy một cách độc lập. Các đối tượng để các Chân sư hướng dẫn trên con đường đệ tử và loại người cần được phát triển để đưa tới sự khai sáng ngày nay có phẩm chất và trình độ cao hơn, nếu tôi có thể sử dụng một thuật ngữ không phù hợp như vậy. Tương tự như vậy, thử nghiệm thay đổi phương pháp và thực hành kỹ thuật làm việc nhóm mới phải được thực hành trong bối cảnh căng thẳng và áp lực của nền văn minh phương Tây. Điều này đòi hỏi tất cả những người được chọn tham gia vào công việc này phải nỗ lực vượt bậc, nhưng nếu họ có thể tiếp tục và đi đến thành công, thì họ sẽ được trui rèn đến một trình độ khả năng tinh vi hơn. Như tôi đã nói, những chốn phồn hoa náo động ở Phương Tây chính là những vùng rừng sâu núi thẳm phương Đông. Đó là bối cảnh để đạt sự bình yên giữa nơi náo động; sở đắc sức mạnh trong cơn mệt mỏi; trung kiên bền bỉ bất chấp thể chất suy nhược; thấu hiểu giữa sự ồn ào của cuộc sống phương Tây. Do đó, sự tiến bộ được thực hiện dù trong những hoàn cảnh trái ngang. Đối với các đệ tử, chẳng hạn như những người mà tôi đang cố gắng giảng dạy, không có việc phải rút lui khỏi cuộc đời thế tục. Không cần phải có điều kiện bình an và yên tĩnh nào của thể chất để linh hồn có thể được khơi dậy và hoạt động—có kết quả mạnh mẽ— có thể đạt được trong sự tĩnh mịch vô thanh và sự nghỉ ngơi của cái mà Ấn giáo gọi là nhập định (samadhi) — hoàn toàn tách rời khỏi tiếng gọi của thân thể và cảm xúc. Công việc phải diễn tiến trong cơn náo động. Điểm bình yên phải được tìm thấy giữa sự hỗn loạn. Minh triết phải đạt được ngay giữa lúc tâm trí rối bời và công việc hợp tác với Thánh đoàn ở cõi nội giới phải được tiến hành giữa cảnh huyên náo ầm ĩ của cuộc sống hiện đại ở các thành phố lớn. Đó là vấn đề của các bạn và cũng là vấn đề của tôi khi tôi tìm cách trợ giúp các bạn.

For me, there is also the problem of excessive expenditure of force as I attempt to reach each of you and to study each of you at certain intervals. There is the work, at long range, of reading your minds, of seeing your light, and of vitalising your auras. This has not hitherto been the problem of the Eastern Teachers, except in very rare cases. Those who are now working in the modern world under the Masters of the Wisdom have undergone a preliminary tuning-up process and a training in receptivity during an earlier incarnation or incarnations. [7] Forget not, therefore, that I also have a problem which I am willing to undertake for the sake of a needy world and as my contribution to hastening the coming in of the new and more fruitful era. Let us, therefore, facilitate each others' efforts.

Đối với tôi, cũng còn vấn đề là sử dụng sức lực quá mức khi cố gắng tiếp cận và nghiên cứu từng bạn trong những khoảng thời gian nhất định. Về lâu dài, tôi còn có công việc đọc tư tưởng, xem xét mức độ ánh sáng của các bạn và tăng cường sinh khí cho hào quang của các bạn. Cho đến nay, điều này không phải là việc của các vị Huấn sư phương Đông, ngoại trừ một số trường hợp rất hiếm. Những người hiện đang làm việc trong thế giới hiện đại dưới sự dẫn dắt của các Chân sư Minh triết đã trải qua một quá trình điều chỉnh sơ bộ và một sự huấn luyện về khả năng tiếp nhận trong một hoặc nhiều lần hóa thân trước đó. [7] Vì vậy, đừng quên rằng tôi cũng có một vấn đề khó khăn mà tôi sẵn sàng thực hiện vì nhu cầu của thế gian và để góp phần vào việc kiến tạo nên một kỷ nguyên mới có nhiều triển vọng hơn. Bởi vậy, chúng ta hãy trợ giúp nhau để cho những cố gắng của chúng ta được thực hiện dễ dàng.

I promise no quick results. I undertake to provide no spectacular unfoldments. The results rest entirely with you. They depend upon your patience, your exactness in detail, the discipline which you are willing to impose upon your lives and your self-forgetfulness. May I beg of you to leave results alone and to work without attachment for you know not with exactitude what are my goals for you; may I beg you to desist from that constant self-analysis which is such an outstanding characteristic of the introspective, yet ambitious Occidental mystic.... What, therefore, is the position I take? That I, one of a great group of disciples who—from the humblest aspirant up to the highest Member of the Hierarchy link humanity with the spiritual kingdom—can teach you the ancient rules and give suggestions to you so that you may travel more rapidly along the Path and arrive at greater usefulness to your fellowmen. There is not the slightest suggestion of authoritative pronouncement by a member of the Hierarchy who must be obeyed and whose word is infallible. Let this be remembered, otherwise work will not be possible, elements of danger may enter in and the present effort come to naught. My anonymity has always been preserved and will continue to be so though members of this group of disciples know me for who I am. You know me as a teacher, as a Tibetan disciple and as an initiate of a certain degree—what degree being of no importance to you at all. It is the teaching that I shall give you which will matter. I am an initiate into the mysteries of being. That statement in itself conveys information to those who know. You know also that I am in a human body, and am a resident of northern India. Let that suffice and let not curiosity blind you to the teaching.

Tôi không hứa hẹn là sẽ đem lại những kết quả nhanh chóng. Tôi không cam kết mang lại bất kỳ sự khai mở ngoạn mục nào. Kết quả hoàn toàn nằm ở các bạn. Chúng phụ thuộc vào sự kiên nhẫn của các bạn, tính chính xác đến từng chi tiết của các bạn, tính kỷ luật mà các bạn sẵn sàng áp đặt cho cuộc sống của mình và sự quên mình của các bạn. Tôi yêu cầu các bạn đừng để ý đến kết quả và hãy làm việc mà không mong cầu, bởi vì các bạn không thể biết chính xác mục tiêu của tôi đặt cho các bạn là gì; Tôi cũng yêu cầu các bạn hãy gác bỏ việc tự kiểm thường xuyên, liên tục, nó vẫn là đặc tính hướng nội thông thường của nhà Huyền học Tây Phương có nhiều tham vọng.... Vậy vị trí mà tôi đảm nhận là gì? Rằng tôi, một thành viên trong những nhóm lớn các đệ tử — từ người chí nguyện khiêm tốn nhất cho đến Đấng cao cả nhất của Thánh đoàn liên kết nhân loại với cõi giới của tinh thần — có thể dạy các bạn các quy luật cổ xưa và đưa ra gợi ý cho các bạn để các bạn có thể tiến nhanh hơn trên đường Đạo và trở nên hữu ích hơn nhiều cho đồng loại của mình. Không hề có mảy may ngụ ý nào ám chỉ lời tuyên bố uy quyền của một Đấng nào trong Thánh đoàn, người mà phải tuân theo và lời người là không thể sai lầm. Điều này cần được nhớ rõ, nếu không thì không thể thực hiện được điều gì, những nguy cơ có thể xen vào và sự cố gắng hiện tại sẽ thành vô bổ. Sự ẩn danh của tôi luôn được giữ gìn và sẽ tiếp tục như vậy mặc dù các thành viên của nhóm đệ tử này biết tôi là ai. Các bạn biết tôi với tư cách là một vị huấn sư, một đệ tử Tây Tạng và một điểm đạo đồ ở một mức độ nào đó — mức độ nào đối với các bạn chẳng có gì là quan trọng. Điều quan trọng là giáo lý tôi muốn truyền dạy cho các bạn. Tôi là một vị điểm đạo đồ đi sâu vào những bí nhiệm của sự hiện tồn. Lời tuyên bố này tự nó có hàm xúc ý nghĩa đối với người biết chuyện. Bạn cũng biết rằng tôi là một người mang xác phàm và trú ngụ tại Miền Bắc Ấn Độ. Bấy nhiêu cũng đủ và không nên để cho sự tò mò làm cho các bạn bị mù quáng đối với các giáo lý.

We stand together in spiritual enterprise. All of you have voluntarily and without pressure stated your willingness to go forward into a more intensive spiritual life. This you must do in the freedom of your own souls and through the power of [8] your own intellects. You will follow such instructions as seem to you reasonable and right but—when you do choose to follow them—you will attempt to fulfil the requirements with exactitude. You will analyse and question the requirements which from time to time come from me and you will accept no belief in their verbal inspiration. Language ever handicaps and limits. You will also be guided in your work by health and circumstance, and you will ever remember that Masters are made through the achieving of mastery and not through obedience to any person. You will bear in mind that I, your teacher, am not constantly aware of your physical condition or daily doings. I concern not myself with the affairs of the personality and those misguided aspirants who claim that the Masters are forever telling them what to do and are guiding them in their personal affairs are still far from the grade of accepted discipleship. You will remember that the light will shine into a mind that is self-controlled and free from the mental dominance of another mind. With these provisos clearly understood, let us pass on to the enunciation of certain principles and to a consideration of what it may be possible to do.

Chúng ta sát cánh cùng nhau trong sự nghiệp tinh thần. Tất cả các bạn đều tự nguyện và không bị buộc phải thể hiện sự sẵn sàng của mình để tiếp tục bước vào một đời sống tinh thần sâu sắc hơn. Điều này các bạn phải làm trong sự tự do của linh hồn và thông qua sức mạnh [8] trí tuệ của chính mình. Các bạn sẽ làm theo những hướng dẫn tự mình thấy hợp lý và đúng đắn nhưng — khi đã quyết định tuân theo những hướng dẫn đó — các bạn phải làm tròn những lời yêu cầu một cách đúng đắn. Các bạn sẽ phân tích và đặt câu hỏi về các yêu cầu mà thỉnh thoảng tôi đưa ra và rồi các bạn sẽ không chấp nhận bất cứ niềm tin nào chỉ bằng nguồn cảm hứng bởi ngôn từ. Ngôn ngữ bao giờ cũng bị khiếm khuyết và giới hạn. Công việc của các bạn cũng sẽ được hướng dẫn tùy theo sức khỏe và hoàn cảnh, và luôn nhớ rằng các Chân sư thành tựu thông qua việc đạt được sự thành thạo chứ không phải bằng cách vâng lời bất cứ người nào. Nên biết rằng tôi, huấn sư của các bạn, không thường xuyên quan tâm tới tình trạng thể chất hoặc những việc làm hàng ngày của bạn. Bản thân tôi không quan tâm đến vấn đề của phàm ngã và những người chí nguyện lầm tưởng rằng các vị Chân sư luôn luôn chỉ bảo họ phải làm gì và đang dìu dắt họ trong công việc cá nhân thì hãy còn cách rất xa trình độ của người đệ tử chính thức. Hãy nhớ rằng ánh sáng sẽ chiếu vào cái trí biết tự chủ và thoát khỏi sự chi phối về mặt trí tuệ của người khác. Khi những điều kiện này đã được hiểu rõ, chúng ta hãy bước qua việc nêu lên những nguyên lý và cứu xét xem những gì ta có thể làm.

First: Let it be constantly remembered that the new discipleship is primarily an experiment in group work and that its main objective is not the perfecting of the individual disciple in the group. I regard this statement as basic and essential. The individuals are intended to supplement each other and complement each other and in the aggregate of their qualities should eventually provide a group capable of useful, spiritual expression and one through which spiritual energy can flow for the helping of humanity. The work to be done is on the mental plane. The spheres of service of individual disciples remain the same as before but to their differing fields of individual endeavour there will be added a group activity and life which will become more clear as time elapses. The first objective is, therefore, to weld and unify the group so that each person in it can work in close mental rapport and spiritual cooperation with the others. This inevitably takes time and the success of this new effort on the part of the Hierarchy will depend upon a non-critical attitude and the outpouring of a spirit of love on the part of each member of the group. This [9] will be fairly easy for some disciples to achieve but very difficult for others. So many high-grade people today have an over-development of the analytical mind. As time goes on, however, and if real effort is made, the welding process will make much progress. This, therefore, is our first effort, as it is the first effort of the group of every Master and the achievement of the Hierarchy itself—group unity.

Thứ nhất: Hãy luôn luôn ghi nhớ rằng con đường đệ tử mới mẻ này chủ yếu là một thử nghiệm trong công việc nhóm và mục tiêu chính của nó không phải là sự hoàn thiện cá nhân của từng đệ tử trong nhóm. Tôi coi tuyên bố này là điều căn bản và cần thiết. Các cá nhân đều có tác dụng bổ sung và bồi đắp cho nhau. Và trong tổng thể các phẩm chất của họ cuối cùng sẽ tạo nên một nhóm có khả năng biểu lộ tinh thần, hữu ích và nhóm mà thông qua đó năng lượng tinh thần có thể tuôn chảy để giúp đỡ nhân loại. Công việc phải làm là trên cõi trí tuệ. Các lĩnh vực phụng sự của từng đệ tử vẫn giống như trước đây nhưng bên cạnh các lĩnh vực nỗ lực cá nhân khác nhau sẽ có thêm những sinh hoạt và đời sống của nhóm vốn sẽ trở nên rõ ràng hơn theo thời gian. Do đó, mục tiêu đầu tiên là gắn kết và hợp nhất nhóm để mỗi người trong nhóm có thể làm việc trong mối hoà hợp trí tuệ và hợp tác tinh thần chặt chẽ với những người khác. Điều này chắc chắn cần có thời gian và sự thành công của nỗ lực mới này của Thánh đoàn sẽ phụ thuộc vào thái độ không chỉ trích và sự lan tỏa tinh thần yêu thương của mỗi thành viên trong nhóm. Điều này [9] sẽ khá dễ dàng đối với một số đệ tử nhưng lại rất khó đối với những người khác. Vì nhiều người tiến hoá cao ngày nay có trí phân tích phát triển quá mức. Tuy nhiên, theo thời gian cùng với nỗ lực thực sự, quá trình gắn kết sẽ có nhiều tiến bộ. Do đó, đây là nỗ lực đầu tiên của chúng ta, vì nó là nỗ lực đầu tiên của nhóm đệ tử của mỗi Chân sư và là thành tựu của chính Thánh Đoàn — sự hợp nhất nhóm.

Every disciple has to learn to subordinate his own ideas of personal growth to the group requirements, for—in order to have a coordinated group, functioning as a serviceable unit—some disciples will have to hasten their progress in certain directions and others will have to slow down theirs temporarily to the pace of the majority. This will happen automatically, if the group identity is the dominant factor in the thoughts of each disciple, and desire for personal growth and for spiritual satisfaction is relegated to a secondary place. The groups within each Ashram are intended to work together eventually just as the various departments of some great organisation work together effectively as a unit. They must function smoothly and intelligently. This will be possible when the individual members in the groups and the individual groups lose sight of their own identities in an effort to make this experiment of the Hierarchy successful. The feelings, reactions, wishes and successes of the individual most emphatically do not count. Only that is regarded as of moment which will further group effort and enrich the group consciousness. Only that, for instance, attracts my attention which brings more spiritual power to my group of disciples or which increases its light or dims its radiance. You need to remember that I look at my groups of disciples always subjectively and as a group. It is the total radiance which I see; it is the united rhythm which I note and the united tone and colour; it is the sound they collectively emit which I hear. May I reiterate that in one sense your individualities are of no interest or moment to me, except in so far as you raise or lower the group vibration. As personalities, you matter not to us, the teachers on the inner side. As souls you are of vital moment. Each disciple in the group of any Master may have many weaknesses and limitations. These act as hindrances to others in the group. But, as souls, such disciples [10] are somewhat awakened and alive and have achieved a certain measure of alignment. So it is with all of you in my group. As souls, I cherish you and seek to aid and lift, to expand and enlighten.

Mỗi đệ tử phải học cách đặt những ý tưởng phát triển cá nhân của riêng mình tuỳ thuộc theo các yêu cầu của nhóm, vì — để có một nhóm phối hợp, hoạt động như một đơn vị phụng sự hữu ích — một số đệ tử sẽ phải đẩy nhanh tiến độ của họ theo những hướng nhất định và những người khác sẽ phải tạm thời làm chậm tốc độ của họ theo tốc độ của đa số. Điều này sẽ diễn ra một cách đương nhiên, nếu sự hợp nhất nhóm là yếu tố hàng đầu trong tư tưởng của mỗi đệ tử, và mong muốn phát triển cá nhân và sự thỏa mãn tinh thần được đặt xuống hàng thứ yếu. Cuối cùng, những nhóm đệ tử trong mỗi Đạo viện sẽ làm việc cùng nhau, cũng giống như các bộ phận khác nhau của một tổ chức lớn hoạt động ăn khớp với nhau một cách hữu hiệu như một đơn vị thống nhất. Họ phải hoạt động một cách điều hòa, êm ái và thông minh. Điều này sẽ có thể thực hiện được khi từng thành viên trong nhóm và các nhóm riêng lẻ quên đi cá tính biệt lập của mình để cố gắng làm cho thử nghiệm này của Thánh đoàn thành công. Những xúc cảm, những phản ứng, ước vọng và thành công của cá nhân đều tuyệt đối không đáng kể. Chỉ những gì thúc đẩy nỗ lực nhóm và bồi đắp thêm tâm thức nhóm mới được coi là quan trọng. Thí dụ chỉ có những gì giúp tăng thêm sức mạnh tinh thần cho nhóm đệ tử của tôi hoặc làm tăng hay giảm ánh sáng của hào quang nhóm mới làm cho tôi phải chú ý. Các bạn cần nhớ rằng tôi luôn nhìn các nhóm đệ tử của mình với tầm nhãn quang nội tàng và như là một nhóm. Đó là toàn bộ ánh hào quang mà tôi nhìn thấy; tôi chỉ ghi nhận cái tiết điệu thống nhất, cái âm thanh và mầu sắc tổng hợp; tôi chỉ nghe cái âm thanh hợp tấu mà họ cùng đồng loạt thốt ra. Tôi có thể nhắc lại rằng theo một nghĩa nào đó, cá nhân các bạn không có lợi ích hay tầm quan trọng nào đối với tôi, trừ khi các bạn nâng cao hay hạ thấp rung động của cả nhóm. Với tư cách là những phàm ngã, các bạn không quan trọng đối với chúng tôi, những vị huấn sư ở cõi nội giới. Với tư cách là những linh hồn, các bạn có tầm quan trọng lớn lao. Mỗi đệ tử trong nhóm của bất kỳ vị Chân sư nào cũng có thể có nhiều điểm yếu và hạn chế. Những thứ này tác động như những trở ngại đối với những đệ tử khác trong nhóm. Nhưng, với tư cách là những linh hồn, những đệ tử như vậy [10] đã có phần thức tỉnh và sống động, đã đạt được sự chỉnh hợp nhất định. Tất cả các đệ tử trong nhóm của tôi cũng như vậy. Tôi trân trọng các bạn như là những linh hồn mà tôi tìm cách để hỗ trợ và nâng đỡ, để phát triển và khai sáng.

I would like here to emphasise one point as we consider the individual in the group and his group relations. Watch with care your thoughts anent each other, and kill out at once all suspicion, all criticism and seek to hold each other unwaveringly in the light of love. You have no idea of the potency of such an effort or of its power to release each other's bonds and to lift the group to an exceedingly high place. By the pure light of love for each other, you can draw nearer to me and to the teachers on the subjective side of life and arrive more rapidly at that Gate which opens on the lighted Way. You have the opportunity to demonstrate to each other the scientific value and power of love, regarded as a force in nature. Make this demonstration your endeavour. You will thus release for each other all that is needed to bring about potent and vital changes in the life patterns and purpose of the group members. Love is not a sentiment or an emotion nor is it desire or a selfish motive for right action in daily life. Love is the wielding of the force which guides the worlds and which leads to the integration, unity and inclusiveness which impels Deity itself to action. Love is a hard thing to cultivate—such is the inherent selfishness of human nature; it is a difficult thing to apply to all conditions of life and its expression will demand of you the utmost you have to give and the stamping out of your selfish personal activities.

Đến đây, tôi muốn nhấn mạnh về một điểm khi chúng ta xem xét mỗi cá nhân trong nhóm và mối tương quan của y trong tập thể. Hãy cẩn thận kiểm soát tư tưởng của mình đối với bạn đồng môn, lập tức diệt trừ tất cả mọi sự nghi ngờ, chỉ trích và tìm cách đoàn kết chặt chẽ với nhau trong ánh sáng của tình thương. Bạn không biết rằng một nỗ lực như vậy vốn có khả năng hoặc sức mạnh trong việc giải phóng sự ràng buộc giữa các bạn với nhau và nâng toàn nhóm lên một vị thế cao tột. Bằng ánh sáng tinh khiết của tình thương dành cho nhau, các bạn có thể đến gần tôi và gần với các vị huấn sư trên phương diện nội tại của cuộc sống và tiến nhanh hơn đến Cánh cổng mở ra Con đường được soi sáng. Các bạn có cơ hội chứng minh cho nhau thấy giá trị khoa học và sức mạnh của tình thương, vốn được coi như một mãnh lực của tự nhiên. Hãy cố gắng chứng minh điều ấy. Do đó, các bạn sẽ giải phóng cho nhau tất cả những gì cần thiết để mang lại những thay đổi mạnh mẽ và quan trọng trong cách sống và mục đích của các thành viên trong nhóm. Tình thương không phải là một tình cảm hay một cảm xúc, cũng không phải là một ham muốn hay một động cơ ích kỷ để làm điều đúng đắn trong cuộc sống hàng ngày. Tình thương là việc sử dụng mãnh lực dẫn dắt các thế giới và dẫn đến sự hợp nhất, thống nhất và bao gồm, chính là điều thúc đẩy bản thân Thượng đế hành động. Tình thương là một thứ khó để vun đắp — vì bản chất cố hữu của con người là ích kỷ; nó là một điều khó áp dụng vào mọi trạng thái của cuộc sống và sự biểu lộ của tình thương sẽ đòi hỏi các bạn phải cống hiến hết sức và loại bỏ những hoạt động cá nhân ích kỷ của mình.

Disciples in the group of a Master have to love each other with intelligence and an abiding strength and thus release that light and power which will eventually make the group of effective value in the world. As I work with you in the future, I shall not wait to wrap up the truths I have to say to each of you in such a way that they cannot hurt. I shall not in the future consider your personality feelings and reactions because I count upon the sincerity of your purpose.

Các đệ tử trong nhóm của một Chân sư phải yêu thương nhau với sự thông tuệ và sức mạnh bền bỉ, do đó việc giải phóng ánh sáng và quyền năng đó cuối cùng sẽ làm cho nhóm có giá trị hữu hiệu trên thế giới. Khi tôi làm việc với các bạn trong tương lai, tôi sẽ không mất thời gian che đậy những sự thật mà tôi phải nói với từng người trong số các bạn theo cách không gây tổn thương. Trong tương lai, tôi sẽ không quan tâm đến cảm xúc và phản ứng phàm ngã của các bạn bởi vì tôi tin tưởng vào sự chân thành trong mục đích của bạn.

It is perhaps wise to remember here that, as a general rule, no one believes what others may tell him—no matter how apparent [11] the truth or how much the person may protest that he accepts that truth. Only those truths which are wrought out individually in the crucible of experience really penetrate into the living consciousness and bear fruit. But in this group effort which we are undertaking, the fact that all in the group are made aware of what is said to the individual may prove most useful and produce much more rapid adjustments than could otherwise be the case—provided that, unitedly and in love, they will then help their fellow disciple to change the undesirable condition. I count on one thing only, my brothers, and that is your deep sincerity. It is not a negative thing (as some claim) to point out a fault or error. As the clear light of the soul pours in, it reveals the personality for what it is. If true dispassion is practised, this group of disciples can see things as they are and remain untouched by the revelation of the desirable or the undesirable qualities. If you are depressed or irritated or hurt by such revelation, it indicates a basic lack of dispassion and proves attachment to the personality and to the opinions of others.

Ở đây có lẽ là khôn ngoan khi nhớ rằng, theo nguyên lý chung, không ai tin những gì người khác nói với mình — bất kể là sự thật [11] rõ ràng đến đâu hoặc người đó có thể quả quyết chấp nhận sự thật đó đến mức nào. Chỉ những chân lý được mỗi người đúc kết bởi thử thách trong kinh nghiệm mới thực sự thâm nhập vào tâm thức sống động và đơm hoa kết trái. Nhưng trong nỗ lực nhóm mà chúng ta đang thực hiện này, việc tất cả những người trong nhóm đều biết được những gì được nói riêng với từng cá nhân sẽ rất hữu ích và sẽ điều chỉnh mọi sự lệch lạc một cách mau chóng hơn nhiều, miễn là trong sự hợp nhất và trong tình thương, sau đó họ sẽ giúp người đệ tử ấy thay đổi cái khía cạnh không tốt đó. Hỡi các huynh đệ của tôi, tôi tin tưởng vào một điều duy nhất, đó là sự chân thành sâu sắc của các bạn. Việc vạch ra một khuyết điểm hay lỗi lầm không phải là một việc làm tiêu cực (như một số người tuyên bố). Khi ánh sáng trong trẻo của linh hồn tuôn đổ xuống, nó sẽ tiết lộ bộ mặt thật của phàm ngã. Nếu thực sự thực hành hạnh vô dục, nhóm các đệ tử này có thể nhìn mọi thứ như chính nó và vẫn không bị ảnh hưởng bởi sự tiết lộ của những phẩm chất tốt đẹp hay xấu xa. Nếu các bạn bị chán nản hoặc bị kích thích và tổn thương bởi sự tiết lộ đó, điều đó cho thấy sự thiếu hạnh vô dục và chứng tỏ sự dính mắc với phàm ngã và với ý kiến của người khác.

Secondly, it is essential that all disciples in an Ashram should be contemplatives, but contemplatives in the occult sense and not the mystical. In any meditation work which you are doing or may in the future do, your aim should be to achieve as rapidly as possible the highest point in the meditation process, passing quickly through the stages of concentration, alignment and meditation to contemplation. Having achieved that high point, you should strive to preserve it and should learn thus to function as a soul in its own world, contemplating the world of energies in which all initiates work and in which you each must some day—in this life or another—take your place. This status (if I may call it by such a name) must be carefully striven for, accurately observed when in any way attained, and an exact record of impressions kept. You should, therefore, constitute a group of active contemplatives, and the result

will be facilitated if you will ponder upon and struggle for the first condition of your group existence—group unity.

[12]

Thứ hai, điều thiết yếu là tất cả các đệ tử trong Đạo viện phải thiền định, hiểu theo ý nghĩa huyền bí chứ không phải thần bí. Trong bất kỳ công việc tham thiền nào bạn đang làm hoặc có thể làm trong tương lai, mục đích của bạn phải là đạt được điểm cao nhất trong quá trình tham thiền càng nhanh càng tốt, nhanh chóng vượt qua các giai đoạn tập trung, chỉnh hợp và tham thiền tới giai đoạn chiêm ngưỡng hay nhập định. Sau khi đạt tới điểm cao đó, bạn nên cố gắng giữ gìn nó và nên học cách hoạt động như một linh hồn trong thế giới riêng của nó, chiêm ngưỡng thế giới năng lượng mà ở đó tất cả các vị điểm đạo đồ hoạt động và là nơi mà mỗi người trong các bạn — trong kiếp sống này hay kiếp sống khác — sẽ đạt được. Trạng thái này (nếu tôi có thể gọi nó bằng cái tên như vậy) phải đạt được một cách cẩn thận, và dù nó đạt được theo bất kỳ cách nào thì cũng cần được quan sát một cách đúng đắn, và lưu giữ một ghi nhận chính xác về các ấn tượng. Do đó, các bạn phải hợp thành một nhóm gồm những người tích cực thiền định, và kết quả sẽ dễ dàng nếu bạn chịu suy ngẫm và nỗ lực cho điều kiện đầu tiên của sự tồn tại nhóm của các bạn — ấy là sự hợp nhất nhóm. [12]

Third: This group unity which will have its roots in united group meditation or in the contemplative life (wherein the soul knows itself to be one with all souls) must work out in some form of group activity. This should demonstrate at once in the group itself and later on—when the unification is more complete—in the world at large. It is in this way that the Masters' Ashrams will be externalised on earth and the Hierarchy function openly on the physical plane and not behind the scenes as hitherto. Then will come the restoration of the Mysteries.

Thứ ba: Sự hợp nhất nhóm này bắt nguồn từ công việc tham thiền hợp nhất nhóm hoặc trong đời sống thiền định (trong đó linh hồn biết mình là một với tất cả những linh hồn khác), phải được thể hiện trong một số hình thức hoạt động nhóm. Điều này phải được thể hiện ngay trong chính nhóm và sau này — khi sự hợp nhất đã được hoàn thiện hơn — nó phải được biểu lộ ra ngoài thế gian. Chính bằng cách này, các Đạo viện của các Chân sư sẽ được ngoại hiện trên trái đất và Thánh Đoàn sẽ hoạt động một cách công khai trên cõi vật lý chứ không phải ở phía sau hậu trường như trước đến nay. Và rồi việc khôi phục các Bí nhiệm sẽ được thực hiện.

PART II—PHẦN II

The question might here be asked: How can this work out practically in a group of disciples—all of them individuals but all sincerely anxious to cooperate and aid in this work? Let me try and give a clear reply.

Đến đây một câu hỏi có thể được đặt ra: Trên thực tế làm thế nào để điều này có thể được thực hiện trong một nhóm các đệ tử – tất cả đều là những cá nhân riêng biệt, nhưng đều chân thành mong muốn hợp tác và hỗ trợ trong công việc này? Tôi sẽ cố gắng đưa ra một câu trả lời rõ ràng.

You have undertaken voluntarily to work together when proffered the opportunity by me. You are aiming towards a group solidarity which will be based upon the fact of your being souls. This should eventually manifest itself subjectively and essentially in the form of a group telepathic inter-communication, as group understanding also of each other's problems and difficulties and, therefore, as a group opportunity to aid and help one another. This helping should not and must not come through personality effort or contact, or through the stating of problems related to circumstance and character, or through the tendering of advice and suggestion. We deal not with personalities in connection with each other in a Master's group. At the same time, it should be possible for each of you to learn to strengthen and aid each other, avoiding always any intrusion of the personality. You can each learn to transmit your soul ray quality to a fellow disciple, stimulating him to greater courage, to finer purity of motive and to deeper love, yet avoiding the vitalisation of his personality characteristics. You should learn always to think of each other as souls and not as limited human beings. [13]

Các bạn đã tự nguyện đảm nhận công việc hợp tác cùng nhau khi tôi đưa ra cơ hội này. Các bạn đang hướng tới một sự đoàn kết tập thể dựa trên thực tế rằng các bạn là những linh hồn. Điều này rốt cuộc phải được biểu lộ một cách chủ quan bên trong và chủ yếu thông qua hình thức viễn cảm nhóm, cũng như sự thấu hiểu nhóm về các vấn đề và khó khăn của nhau, và do đó là cơ hội của nhóm để hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Việc giúp đỡ này không nên và không được xuất phát từ nỗ lực hay tiếp xúc của phàm ngã, hoặc thông qua việc nêu ra các vấn đề liên quan đến hoàn cảnh và phẩm hạnh, hoặc thông qua việc đưa ra lời khuyên và trợ giúp. Chúng ta không giải quyết các vấn đề liên quan đến phàm ngã của nhau trong nhóm của một Chân Sư. Đồng thời, mỗi người trong các bạn nên học cách củng cố và hỗ trợ lẫn nhau, luôn tránh việc để phàm ngã xen vào. Các bạn có thể học cách truyền tải phẩm tính cung linh hồn của mình đến đồng môn, khích lệ để họ có thêm lòng can đảm, động cơ trong sáng, và tình yêu thương sâu sắc hơn, đồng thời tránh làm tăng cường các đặc tính của phàm ngã. Các bạn hãy học cách nhìn nhận lẫn nhau như những linh hồn, chứ không phải như những con người bị giới hạn. [13]

We have, therefore, the following three objectives before us:

Do đó, chúng ta có ba mục tiêu chính trước mắt:

1. Group unity... through thought, exoteric knowledge of each other and a constant sending forth of love.

1. Hợp nhất nhóm... thông qua tư tưởng, sự hiểu biết công khai về nhau và việc không ngừng gửi đi tình thương yêu.

2. Group meditation... as a group of contemplatives, thus rooting this group within the kingdom of the soul and strengthening all the individuals involved.

2. Thiền nhóm... như một nhóm những người chiêm nghiệm, nhờ đó gắn kết nhóm này vào cõi giới linh hồn và hỗ trợ tất cả các cá nhân tham gia.

3. Group activity... resulting in the aiding of each other in specific problems of character but not of circumstance. Ponder on this distinction, my brothers.

3. Hoạt động nhóm... kết quả là sự trợ giúp lẫn nhau trong các vấn đề cụ thể về phẩm hạnh chứ không phải hoàn cảnh. Hãy suy ngẫm về sự khác biệt này, các huynh đệ của tôi.

Later, when the group is really established, it should begin to function outwardly and its life should begin to make its presence felt. It should steadily tend to increase the spiritual potency of all groups with which the group members are related and with which they may be associated. I refer to all groups which belong to the New Age and are working along spiritual lines. The eventual effect will be along the line of healing the various ills of mankind—physical, mental, psychological and emotional.

Sau này, khi nhóm thực sự được thiết lập, nó nên bắt đầu hoạt động ra bên ngoài và đời sống của nhóm nên bắt đầu tạo được ảnh hưởng. Nó phải luôn hướng về việc gia tăng năng lượng tinh thần của tất cả các nhóm mà các thành viên của nhóm có liên hệ hoặc hợp tác. Tôi đang đề cập đến tất cả các nhóm thuộc Kỷ nguyên Mới và hoạt động theo các đường hướng tinh thần. Hiệu quả cuối cùng sẽ theo hướng chữa lành các căn bệnh khác nhau của nhân loại — về thể chất, tinh thần, tâm lý và cảm xúc.

There are certain simple but definite rules which should govern the interior spiritual life of neophytes in training for the various stages of discipleship. Let me here outline to you my suggestions for this simple and immediate work.

Có những quy luật đơn giản nhưng tất yếu chi phối đời sống tinh thần nội tại của các môn sinh sơ cơ trong quá trình huấn luyện cho các giai đoạn đệ tử khác nhau. Tôi sẽ phác họa cho các bạn những gợi ý của tôi cho công việc đơn giản và cấp bách này.

First of all, all disciples practise regular and daily meditation. These meditations are each individually suited to the disciple concerned and vary according to ray, point in evolution and the stage of discipleship which is the immediate objective. These cannot be given here. These meditations will be given to you as suggestions for your use and acceptance. Endeavour at some stage in your meditation to link up with me but let this linking up take place after you have worked at and brought about an alignment with your soul. The reason that it is essential that you link up after alignment is that you can then avoid the glamours and the illusions of the astral plane whereon thoughtforms and masquerading entities personalise the teachers and the Masters and do so in their myriads. Add also to your meditation a short period wherein you will try and link up with your co-disciples, sending them love, soul force, and help. [14]

Trước hết, tất cả các đệ tử thực hành tham thiền đều đặn hàng ngày. Các bài thiền này được thiết kế riêng cho từng đệ tử liên quan và thay đổi tùy thuộc vào cung, trình độ tiến hóa và giai đoạn đệ tử vốn đang là mục tiêu ngay trước mắt. Những bài thiền này không thể được trình bày ở đây. Chúng sẽ được đưa ra dưới dạng các gợi ý để các bạn sử dụng và chấp nhận. Trong một giai đoạn nào đó của việc tham thiền, hãy cố gắng kết nối với tôi, nhưng để việc kết nối này xảy ra sau khi các bạn đã làm việc và thiết lập được sự chỉnh hợp với linh hồn của mình. Lý do cần thiết phải chỉnh hợp trước khi kết nối là để các bạn có thể tránh được những ảo cảm và ảo tưởng của cõi cảm dục, nơi mà các hình tư tưởng và các thực thể giả danh các huấn sư hoặc Chân Sư xuất hiện vô số. Cũng nên thêm vào bài tham thiền của các bạn một khoảng thời gian ngắn để cố gắng liên hệ với các đệ tử đồng môn của mình, gửi cho họ tình yêu thương, sức mạnh của linh hồn và sự hỗ trợ. [14]

You would find it useful to keep what might be called a spiritual diary. This does not involve the daily entering of the day's events and has no relation to the happenings which may concern the personality. Note this. In this diary you should record the following:

Các bạn sẽ thấy hữu ích khi duy trì nhật ký tâm linh. Nó không yêu cầu các bạn phải ghi chép các sự kiện hàng ngày hoặc bất kỳ điều gì liên quan đến các biến cố thuộc về phàm ngã. Hãy lưu ý điều này. Trong nhật ký này, các bạn nên ghi lại những điều sau:

1. Any spiritual experience which may come to you, such as contact with some Presence, either that of your own soul, the angel of the Presence, contact with some disciple and eventually—when your life and work and discipline warrant it—contact with one of the Masters. Record this in an impartial way, preserving the scientific attitude and seeking ever a practical explanation before accepting a mystical one. A spirit of agnosticism (not of atheism) is of real value to the beginner and preserves him from the snares of the world illusion and of lower psychism.

1. Bất kỳ trải nghiệm tinh thần nào đến với các bạn, chẳng hạn như sự tiếp xúc với Sự Hiện Diện nào đó — có thể là linh hồn của chính các bạn, đấng Thiên thần Hiện Diện, sự tiếp xúc với một đệ tử nào đó, và cuối cùng — khi đời sống, công việc và sự tuân hành kỷ luật của các bạn cho phép — sự tiếp xúc với một trong các vị Chân Sư. Hãy ghi lại điều này một cách vô tư, giữ thái độ khoa học, và luôn tìm kiếm một lời giải thích thực tế trước khi chấp nhận một lý giải huyền bí. Một tinh thần bất khả tri (không phải vô thần) thực sự có giá trị đối với người mới bắt đầu, giúp họ tránh khỏi những cạm bẫy của ảo tưởng thế gian và của thông linh bậc thấp.

2. Any illumination which may come to you, throwing a flood of light upon a problem and revealing the way that you or the group should go. Any intuition which—corroborated by the reason—carries one forward into knowledge and evokes the wisdom of the soul and its registration by the brain, via the mind.

2. Bất kỳ sự soi sáng nào đến với các bạn, làm sáng tỏ sâu sắc một vấn đề và hé lộ con đường mà các bạn hoặc nhóm của các bạn nên đi. Bất kỳ trực giác nào—được lý trí chứng thực—đưa các bạn tiến xa hơn trong tri thức và khơi dậy minh triết của linh hồn, để trí não ghi nhận qua thể trí.

3. Any telepathic happenings between you and your fellow disciples. This telepathic interplay should be cultivated but it must be most carefully checked and counterchecked and the strictest accuracy preserved. Thus we shall have the fostering of the spirit of Truth, which is the governing principle of all true telepathic communication. An Ashram functions telepathically when fully and rightly organised.

3. Bất kỳ hiện tượng viễn cảm nào xảy ra giữa các bạn và các đệ tử đồng môn. Sự tương tác viễn cảm này nên được trau dồi, nhưng cần được kiểm tra và đối chiếu thật cẩn thận, và cần được duy trì với độ chính xác nghiêm ngặt. Nhờ vậy, tinh thần Chân Lý sẽ được nuôi dưỡng, vì đó là nguyên tắc chủ đạo của mọi giao tiếp viễn cảm chân chính. Một Đạo viện hoạt động bằng phương pháp viễn cảm khi nó được tổ chức hoàn chỉnh và đúng đắn.

4. Any phenomena of a mystical and spiritual kind should also be noted. The seeing of the light in the head comes under this category. Its brilliance should be noted, its growth and dimming; the hearing of the Voice of the Silence which is the voice of the soul but not of the subconscious; the registering of messages from the soul or from other disciples and world Servers; expansions of consciousness which initiate you into the conscious life of [15] God, as it manifests through any forms and the hearing of the note of all beings. A close study of the third part of The Light of the Soul (the Yoga Sutras of Patanjali) will indicate the type of henomena which should find its place in this diary.

4. Bất kỳ hiện tượng thần bí và tinh thần nào cũng cần được ghi lại. Việc nhìn thấy ánh sáng trong đầu được xếp vào loại này. Hãy ghi lại độ chói rạng của ánh sáng, sự tăng trưởng hay lu mờ của nó; nghe được “Tiếng Nói Vô Thinh,” vốn là tiếng nói của linh hồn chứ không phải của tiềm thức; ghi nhận các thông điệp từ linh hồn hoặc từ các đệ tử và những Người Phụng Sự Thế Gian; những sự mở rộng tâm thức vốn đưa các bạn bước vào đời sống hữu thức của [15] Thượng Đế, như Ngài biểu hiện qua mọi hình tướng, và nghe được âm điệu của mọi chúng sinh. Việc nghiên cứu kỹ quyển ba cuốn Ánh sáng của Linh hồn (Yoga Sutras của Patanjali) sẽ chỉ dẫn loại hiện tượng nào nên được ghi chép vào nhật ký này.

5. Any experiences of a psychic kind which do not come under any of the above headings. Those mentioned above come under the heading of the higher psychism and concern the higher psychic faculties, spiritual perception, intuitive knowledge, mental telepathy (and not the telepathy which is based upon the solar plexus activity). The lower psychic experiences can also be noted—whether pleasant or unpleasant. Once noted, however, they should be forgotten for they are of no moment.

5. Bất kỳ trải nghiệm thông linh nào không thuộc các mục trên. Những trải nghiệm được đề cập trên thuộc loại thông linh bậc cao và có liên quan đến các năng lực thông linh cao hơn, nhận thức tinh thần, tri thức trực giác, và viễn cảm trí tuệ (không phải viễn cảm dựa trên hoạt động của luân xa tùng thái dương). Các trải nghiệm thông linh thấp hơn cũng có thể được ghi lại—dù dễ chịu hay khó chịu. Tuy nhiên, khi đã ghi nhận xong loại này thì hãy bỏ qua vì chúng không có gì đáng kể.

Days may go by and weeks with no record. Let this in no way disconcert you. The sensitivity of the mechanism of the soul to spiritual vibration has to be cultivated and existing sensitivity to lower psychic impressions has to be tuned out; so many voices clamour for attention, so many impressions—emanating from the physical and astral forms around us—register upon our consciousness, that the vibrations and sounds coming from the subjective and spiritual world are lost and not registered and recorded. You will find it interesting to note, at the end of a few years, the difference in the data recorded and the development of sensitivity to the right kind of impression. This can only be realised after much time has elapsed and much spurious material has been eliminated, after being recognised for what it is: astralism, spurious claims and thoughtforms.

Nhiều ngày tháng có thể trôi qua, và thậm chí là cả nhiều tuần lễ mà không có ghi nhận nào. Đừng để điều này làm các bạn bối rối. Sự nhạy bén của vận cụ của linh hồn đối với rung động tinh thần cần được nuôi dưỡng, trong khi sự nhạy cảm hiện tại đối với những ấn tượng thông linh thấp hơn cần được loại trừ. Có quá nhiều âm thanh đang kêu gọi sự chú ý, quá nhiều ấn tượng—xuất phát từ các hình thể vật lý và cảm dục xung quanh—được ghi nhận vào tâm thức của chúng ta, khiến các rung động và âm thanh đến từ thế giới tinh thần nội tại bị mất đi, không được tiếp thu và ghi nhận. Sau một vài năm, các bạn sẽ thấy thích thú khi nhận thấy sự khác biệt giữa những điều đã ghi vào nhật ký và sự phát triển khả năng nhạy bén đối với những ấn tượng đúng đắn. Điều này chỉ có thể được nhận ra sau một thời gian khá lâu, và sau khi loại bỏ được nhiều yếu tố giả mạo, khi chúng được nhận diện đúng bản chất như: những hiện tượng cảm dục, những tuyên bố sai lệch và các hình tư tưởng.

Another question might here be asked: What should disciples in a Master's group look for as evidence of successful group work? First and foremost, as you well know, group integrity and cohesion. Nothing can be done without this. The subjective linking of the disciples with each other in their own group, and the linking of the group with other groups occupied with special work within the Ashram and the emergence (as a result of this) of a group and an ashramic consciousness are vital objectives. It is hoped that this will also [16] eventuate in a telepathic interplay which will bring potent results and successful outer work. From these activities will emerge a group circulation of energy which will be of service in world salvage. Each of you should remember that purity of body, control of the emotions and stability of mind are fundamental necessities and should be daily the attempted achievement. Again and again, I come back to these prime character requirements and—tiresome as the reiteration may be—I urge upon you the cultivation of these qualities. I would like to remind you also that you are adult and mature men and women who need not specific statements as to faults and characteristics. I seek only to make suggestion as to trends of thought. Note here the word suggestion, for that is all I seek to give. The disciple must be left free to follow a suggestion or a hint as seems wise to him. This entire work might be termed an experiment in esoteric commonsense and in willingness to accept suggestion. It is a trial of the intuition and a test in discrimination. This work to which I have called you is also an experiment in impersonality, in willingness to work and learn, in freedom to choose or reject, in observation and in techniques. All have their value.

Một câu hỏi khác có thể được đặt ra: Các đệ tử trong một nhóm của Chân sư nên tìm kiếm điều gì làm bằng chứng cho sự thành công của công việc nhóm? Trước tiên và quan trọng nhất, như huynh đệ đã biết, là sự toàn vẹn và cố kết của nhóm. Nếu thiếu yếu tố này thì không thể thực hiện được điều gì khác. Sự liên kết nội tại giữa các đệ tử trong nhóm, và sự liên kết của nhóm với các nhóm khác đang đảm nhận công việc đặc biệt trong Đạo viện, cùng với sự xuất hiện (như là kết quả) của một tâm thức nhóm và tâm thức đạo viện, là những mục tiêu thiết yếu. Hy vọng rằng điều này cũng sẽ [16] dẫn đến một sự giao tiếp viễn cảm vốn sẽ mang lại những kết quả mạnh mẽ và công việc bên ngoài thành công. Từ những hoạt động này, sẽ xuất hiện một dòng lưu chuyển năng lượng nhóm góp phần phục vụ cho việc cứu rỗi thế gian. Mỗi người trong các bạn cần nhớ rằng: sự thanh khiết của thể xác, việc kiểm soát cảm xúc, và sự ổn định của tâm trí là những yêu cầu cơ bản và cần được thực hành mỗi ngày. Lần này qua lần khác, tôi nhấn mạnh trở lại những đức tính căn bản này—dù sự lặp lại có thể gây nhàm chán—tôi vẫn thúc giục các bạn trau dồi những phẩm chất này. Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng: các bạn là những người trưởng thành và chín chắn, không cần những chỉ dẫn cụ thể về lỗi lầm và đặc điểm của mình. Tôi chỉ tìm cách đưa ra những gợi ý về hướng suy nghĩ. Hãy chú ý đến từ gợi ý, vì đó là tất cả những gì tôi muốn đưa ra. Người đệ tử phải được tự do theo hoặc không theo một gợi ý hay một đề nghị kín đáo nếu y cho là phù hợp. Toàn bộ công việc này có thể được gọi là một thử nghiệm về sự phán đoán sáng suốt theo nội môn và sự sẵn sàng chấp nhận gợi ý. Đây là một cuộc thử nghiệm trực giác và một phép thử về tính phân biện. Công việc này mà tôi đã kêu gọi các bạn tham gia cũng là một thử nghiệm về tính vô ngã, về sự sẵn lòng làm việc và học hỏi, về tự do để lựa chọn hoặc từ chối, về sự quan sát và về các kỹ thuật. Tất cả đều có giá trị của chúng.

This is an experiment likewise for me. I have worked hitherto with only three occidental chelas, of whom A.A.B. is one. The other two are totally unknown to any of you. I ask for your aid and cooperation during these early stages of the work as far as the reaching of conclusions is concerned. I ask you to stand together—no matter what eventuates or what forces may seek to separate you. I ask my disciples to love each other in spite of character and ray differences and to work loyally together for group coherence and integrity—no matter what diverse opinions you may hold or what may occur as time elapses. If you can hold together down the years and throughout this life cycle, then the group can carry forward into the future and work together on other planes, thus conserving energy. Can you persist and carry on? Can such a telepathic interplay be set up that the barrier of death will eventually prove no barrier at all and continuity of communication persist? [17]

Đây cũng là một thử nghiệm đối với tôi. Cho đến nay, tôi chỉ làm việc với ba đệ tử phương Tây mà A.A.B. là một. Hai người kia hoàn toàn xa lạ với các bạn. Tôi yêu cầu sự hỗ trợ và hợp tác của các bạn trong giai đoạn đầu tiên này, đặc biệt là trong việc đưa ra các kết luận. Hãy luôn đứng sát cánh bên nhau—bất kể điều gì xảy ra hoặc bất luận mãnh lực nào có thể cố gắng chia rẽ các bạn. Các đệ tử hãy yêu thương lẫn nhau, bất kể sự khác biệt về tính cách và cung năng lượng, và làm việc trung thành với nhau để duy trì sự gắn kết và toàn vẹn của nhóm—dù cho các bạn có quan điểm khác nhau hay bất kể điều gì có thể xảy ra trong thời gian tới. Nếu các bạn có thể giữ vững sự đoàn kết qua nhiều năm và trong suốt kiếp sống này, nhóm sẽ có thể tiếp tục tiến lên trong tương lai và làm việc cùng nhau trên các cõi giới khác, qua đó bảo toàn năng lượng. Các bạn có thể kiên trì và tiếp tục công việc như thế chăng? Liệu các bạn có thể thiết lập một sự giao tiếp viễn cảm đến mức rào cản của cái chết cuối cùng sẽ không còn là trở ngại, và sự liên tục trong giao tiếp vẫn được duy trì? [17]

Many such questions arise and time alone will give the answer. If there is persistence in effort, if there is the loyal link of love, if there is adherence to the group ideal and if there is mutual forbearance and understanding and patience, it may be possible that this group can be welded into a unit which will indeed be a living atom in the hierarchical body. You are all on the Path of Discipleship at some stage or another; in this lies opportunity.

Nhiều câu hỏi tương tự như vậy nảy sinh, và chỉ thời gian mới có thể đưa ra câu trả lời. Nếu có sự kiên trì trong nỗ lực, nếu có sự kết nối bền bỉ bằng tình yêu thương, nếu có sự trung thành với lý tưởng của nhóm, và nếu có sự bao dung, hiểu biết và kiên nhẫn với nhau, có thể nhóm này sẽ được gắn kết thành một đơn vị thống nhất, thật sự trở thành một nguyên tử sống động trong cơ thể của Thánh đoàn. Tất cả các bạn đều đang ở vào một giai đoạn này hay giai đoạn khác trên Con Đường Đệ Tử; và cơ hội vốn nằm sẵn trong tầm tay.

This is a body (small indeed) of disciples who—through devotion to truth, through their attempt to do their duty, and their mutual karmic relation both to each other and to me—have been chosen (in spite of limitations and faulty development) to work together towards the specific end of forming a nucleus of spiritual power and energy for the helping of humanity. But above all else, it is a group formed to inaugurate the methods of the New Age as regards group work, and the training of disciples and their preparation for initiation, along with other groups all over the world who have caught the new vision and are working under the inspiration and the impression of the Masters. The foundation of these schools of the Mysteries which will later be restored to the world and to which I referred in Letters on Occult Meditation may be possible if all of you measure up to opportunity. This should be borne in mind. The experiment may fail. Whether it does or not, real profit will in any case eventuate.... That you may one and all measure up to the opportunity and carry the work forward in the three worlds and in the kingdom where the light of the soul streams forth is my earnest wish and desire.

Đây là một nhóm (dù nhỏ bé) các đệ tử—thông qua sự tận tâm với chân lý, thông qua nỗ lực thực hiện bổn phận, và thông qua mối quan hệ nghiệp quả tương hỗ giữa các thành viên với nhau và với tôi—đã được chọn (bất kể những hạn chế và sự phát triển chưa hoàn thiện) để cùng làm việc hướng tới mục tiêu cụ thể là hình thành một hạt nhân của quyền năng và năng lượng tinh thần để giúp đỡ nhân loại. Nhưng trên tất cả, đây là một nhóm được hình thành để khởi xướng các phương pháp của Kỷ Nguyên Mới trong công việc nhóm, trong việc huấn luyện đệ tử và chuẩn bị cho họ được điểm đạo, cùng với các nhóm khác trên khắp thế giới, những người đã nắm bắt được tầm nhìn mới và đang làm việc dưới cảm hứng và ấn tượng của các Chân Sư. Nền tảng của các trường Huyền Bí Học, mà sau này sẽ được khôi phục cho thế giới và được tôi đề cập trong Thư Về Tham Thiền Huyền Môn, có thể trở thành hiện thực nếu tất cả các bạn tận dụng được cơ hội. Điều này cần được ghi nhớ. Thử nghiệm này có thể thất bại. Dù vậy, chắc chắn sẽ có lợi ích thực sự trong mọi trường hợp. Mong ước rằng tất cả các bạn sẽ tận dụng cơ hội này và tiến hành công việc trong ba cõi hạ giới và trong vương quốc nơi ánh sáng của linh hồn tỏa rạng—đó là ước nguyện và mong muốn chân thành của tôi.

PART III—PHẦN III

As you face this opportunity in a world which is passing through a major crisis, I would like to state that it is necessary for all working brothers and disciples to have three things in mind if they are to work efficiently and as desired.

Khi các bạn đồi diện cơ hội này trong một thế giới đang trải qua một cơn khủng hoảng lớn, tôi muốn nói rằng tất cả những huynh đệ và đệ tử đang phụng sự cần lưu tâm ba điều để có thể phụng sự một cách hiệu quả và như ý muốn.

First: Disciples should know that the Masters have three grades of workers. here are those doing the difficult work in the outer world. They materialise the forms through which the Hierarchy can express its intentions and they make the [18] human contacts. There are many such disciples and they are doing this work from their own free choice and because they have realised the immediate and coming need of humanity and have pledged themselves to serve. There are, secondly, those who act as links between the Elder Brothers of the race, the Masters of the Wisdom Who embody the divine plan and the workers mentioned above. I do not say that they act as links between the disciple and his Master for that is a direct relationship which none may touch, particularly in the more advanced stages. This second group of working disciples, however, act as intermediaries in the working out of the plan in the world and they hold themselves in readiness to go anywhere when requested, thus aiding with their wisdom and experience and supplementing the capacities of the field workers, conferring with them. There are several such that are being sent expressly into the field at this time to hasten the work whenever possible and to increase the magnetic attraction of those centres through which the spiritual force of the New Age can flow.

Thứ nhất: Các đệ tử nên biết rằng các Chân Sư có ba cấp độ phụng sự viên. Có những người đang làm công việc khó khăn ở ngoài đời. Họ hiện thực hóa các hình tướng qua đó Thánh đoàn có thể biểu lộ ý muốn của mình, và họ thiết lập [18] các mối liên hệ với nhân loại. Có rất nhiều đệ tử như vậy, và họ đang thực hiện công việc này từ sự tự do lựa chọn của mình vì họ đã nhận thức được nhu cầu cấp thiết hiện tại và sắp tới của nhân loại, và đã tự thệ nguyện phụng sự. Thứ hai là những người đóng vai trò liên kết giữa những người Anh Cả của nhân loại — các Chân Sư Minh Triết, những Người hiện thân cho Thiên Cơ — và các phụng sự viên được nhắc đến ở trên. Tôi không nói rằng họ đóng vai trò liên lạc giữa một đệ tử và Chân Sư của y, vì đó là một mối quan hệ trực tiếp mà không ai được phép can thiệp, đặc biệt ở các giai đoạn cao hơn. Tuy nhiên, nhóm đệ tử phụng sự thứ hai này hoạt động như những người trung gian trong việc thực hiện Thiên Cơ trên thế giới, và họ luôn sẵn sàng đi bất cứ đâu khi được yêu cầu, hỗ trợ bằng sự minh triết và kinh nghiệm của mình, bổ sung khả năng và hội ý với các phụng sự viên ở ngoài đời. Hiện tại, có một số người như vậy đang được đặc biệt cử đi công tác ở ngoài đời để đẩy nhanh công việc bất cứ khi nào có thể và tăng cường sức hút từ tính tại các trung tâm lực mà mãnh lực tinh thần của Kỷ Nguyên Mới có thể tuôn đổ.

This is all being done preparatory to a supreme effort which the Hierarchy of Masters plans to make. Should all of you in the field at this time work with complete surrender and devotion—giving of all your time and interest to the cause—it may be possible to prepare the ground in such a manner that the coming effort of the Masters may prove adequate to the emergency.

Tất cả điều này đang được thực hiện nhằm chuẩn bị cho một nỗ lực tối thượng mà Thánh đoàn các Chân Sư dự định thực hiện. Nếu tất cả các bạn, những người đang phụng sự ở ngoài đời lúc này, có thể làm việc với sự quy phục và tận tụy hoàn toàn — dành toàn bộ thời gian và sự quan tâm cho sự nghiệp này — thì có thể dọn đường theo cách mà nỗ lực sắp tới của các Chân Sư sẽ đủ đáp ứng cho tình huống khẩn cấp.

The third group is that of the Masters Themselves and Their cooperating initiates. They work primarily upon the inner side. Their activities are confined largely to the mental plane and to the scientific use of thought. Thus They guide Their workers and helpers and influence and direct Their working disciples and the world disciples.

Nhóm thứ ba là nhóm của chính các Chân Sư và các điểm đạo đồ cộng sự của các Ngài. Các Ngài làm việc chủ yếu ở cõi nội giới. Những hoạt động của các Ngài phần lớn tập trung trên cõi trí và vào việc sử dụng tư tưởng một cách khoa học. Qua đó, các Ngài hướng dẫn các phụng sự viên và người trợ giúp của mình, tạo ảnh hưởng và chỉ dẫn cho các đệ tử đang hoạt động của các Ngài cũng như các đệ tử thế giới.

There is at this time an inner intention of blending the occidental and the oriental approaches to the ancient wisdom and to the Hierarchy. Cooperation and the mutual interchange of wisdom and of knowledge are essential if this is to be perfected. The objectives of both methods—the mystic and the occult—are the same. [19]

Hiện tại, có một ý định nội tại nhằm kết hợp cách tiếp cận phương Tây và phương Đông đối với minh triết ngàn đời và Thánh đoàn. Sự hợp tác và trao đổi với nhau về minh triết và tri thức là thiết yếu nếu muốn hoàn thiện điều này. Các mục tiêu của cả hai phương pháp — thần bí và huyền bí — là như nhau. [19]

Second: It is necessary for working disciples at this time to appreciate the immediate emergency. There is a crisis in the affairs of men. This crisis must be viewed in terms of opportunity and not in terms of cataclysm or catastrophe. Just as in the life of an aspirant to discipleship, there comes a life or a series of lives wherein there is direct conflict between the soul and the lower nature, so there is now an analogous crisis upon our planet. The object in both cases is that the soul may assume an increasing control over the form aspect.

Thứ hai: Các đệ tử đang làm việc vào thời điểm này cần nhận thức rõ tình thế khẩn cấp hiện tại. Đang có một cuộc khủng hoảng trong các vấn đề của nhân loại. Cuộc khủng hoảng này cần được nhìn nhận dưới góc độ cơ hội, chứ không phải như một biến động hay thảm họa. Giống như trong cuộc đời của một người chí nguyện trên Con đường Đệ Tử, có một hoặc nhiều kiếp sống trong đó xảy ra xung đột trực tiếp giữa linh hồn và bản chất thấp hơn, thì giờ đây một cuộc khủng hoảng tương tự đang xảy ra trên hành tinh chúng ta. Mục đích trong cả hai trường hợp này là để linh hồn ngày càng đảm nhận quyền kiểm soát lớn hơn đối với khía cạnh hình tướng.

Looking at it from another angle, this planetary soul—functioning as a Hierarchy of Masters —is in direct conflict with the forces of evil. It should, however, be borne in mind that those forces also constitute a hierarchy of entities, constituting the material forms and, therefore, in their place, true and correct. It is a question, in reality, of what is the objective in any particular time cycle. The present objective is that the human family should now, as a whole, do three things and anything which militates against this is evil.

Nhìn từ một góc độ khác, linh hồn hành tinh — hoạt động dưới hình thức Thánh đoàn các Chân Sư — đang trong cuộc xung đột trực tiếp với các mãnh lực tà ác. Tuy nhiên, cần nhớ rằng những lực lượng này cũng cấu thành một huyền giai các thực thể, chúng tạo nên các hình tướng vật chất, và do đó, là đúng đắn và phù hợp trong cương vị của chúng. Đây thực chất là vấn đề về mục tiêu của mỗi chu kỳ thời gian cụ thể. Mục tiêu hiện tại là gia đình nhân loại, như là một tổng thể, cần thực hiện ba điều, và bất cứ điều gì đi ngược lại những điều này đều là tà ác.

1. Manifest the nature of the soul, through the integrated personality. The nature of the soul is love and the will-to-good.

1. Biểu lộ bản chất của linh hồn thông qua phàm ngã tích hợp. Bản chất của linh hồn là tình thương và ý chí-hướng thiện.

2. Transfer the energy, now turned to the vitalising of the physical body and physical creation, to the nurturing of the creative faculty upon the mental plane; thus the entire human family will be transmuted into a dynamic, self-conscious, creative agency.

2. Chuyển di năng lượng, hiện đang tập trung vào việc tăng cường sinh khí cho thể vật lý và duy trì giống nòi, sang việc nuôi dưỡng khả năng sáng tạo trên cõi trí; từ đó, toàn thể gia đình nhân loại sẽ được chuyển hóa thành một cơ quan năng động, tự nhận thức và sáng tạo.

3. Usher in a period of spiritual unfoldment in every kingdom in nature. At the close of this period, the door into the animal kingdom will again be opened and opportunity offered to waiting embryonic souls. Many also, at this time, can take initiation and hence the balancing of forces at either end of the human line of unfoldment. This is to be brought about by the renewed cyclic activity of the Great White Lodge and will be carried forward through the medium of those energies which are ushering in the New Age. This crisis is upon us almost prematurely, owing to the exceedingly rapid advance made by humanity since 1850. Through the driving [20] urge of men themselves, a new realm and a new dimension has been contacted. Humanity has loosed energies hitherto unknown and the effects are of a dual kind, producing both bad as well as good results.

3. Mở ra một thời kỳ phát triển tinh thần trong mọi giới của tự nhiên. Khi giai đoạn này kết thúc, cánh cửa sẽ lại được mở ra cho giới động vật và cơ hội sẽ được trao cho các linh hồn phôi thai đang chờ đợi. Nhiều người vào thời điểm này cũng có thể nhận điểm đạo, và do đó tạo sự cân bằng lực ở hai đầu của dòng tiến hóa nhân loại. Điều này sẽ được thực hiện nhờ hoạt động chu kỳ mới của Bạch Giai Đoàn và sẽ được thực hiện thông qua những năng lượng vốn đang khai mở Kỷ Nguyên Mới. Cuộc khủng hoảng này đến với chúng ta gần như sớm hơn dự kiến, do sự tiến bộ cực kỳ nhanh chóng của nhân loại kể từ năm 1850. Với sự thôi thúc mãnh liệt [20] của chính họ, con người đã tiếp cận được một cõi giới và một chiều kích mới. Nhân loại đã giải phóng những năng lượng chưa từng được biết đến, và những tác động của chúng mang tính hai mặt, tạo ra kết quả tốt cũng như xấu.

Third: Disciples must now organise for a steady united effort. This must take the form of a closer cooperation between all groups and a standing together in a closer relationship, thus strengthening each others' hands and, where possible, pooling resources. It should result also in a united push forward of all spiritual and occult agencies and the carrying of the truth along all possible lines, down among the masses of men. Just as in Atlantean days, spiritual forces were subordinated to the selfish desires of men, so today, they are being subordinated to the minds and the ambitions of men and the results will be profoundly evil. The world situation today demonstrates this. For though material benefit and physical prosperity might eventually emerge from certain countries where great experiments are being undertaken, they will only exemplify the triumph of the form and will finally come to naught. Just as every human being struggles through in some one life to personality achievement so it is among the nations. Yet at the heart of every nation lies latent the mystical soul and eventually—after dire struggle and distress—all will be well. Tendencies towards materialism and towards personality achievement must, under the larger plan and the will-to-good, be offset by a counter move of spiritual living and this must be the objective of all working disciples.

Thứ ba: Các đệ tử giờ đây phải tổ chức để thực hiện một nỗ lực hợp nhất và kiên định. Nỗ lực này cần được biểu lộ dưới hình thức hợp tác chặt chẽ hơn giữa các nhóm và đứng vững cùng nhau trong một mối quan hệ gắn kết hơn, từ đó củng cố sức mạnh cho nhau và đóng góp chung các nguồn lực khi có thể. Điều này cần dẫn đến một bước tiến đồng bộ của tất cả các cơ quan tinh thần và huyền môn, đồng thời mang chân lý đi sâu vào quần chúng, dọc theo mọi đường tuyến khả dĩ. Giống như trong thời đại Atlantis, các lực lượng tinh thần đã bị khuất phục trước những dục vọng ích kỷ của con người, ngày nay họ lại đang bị khuất phục bởi tâm trí và tham vọng của con người, và hậu quả sẽ vô cùng tai hại. Tình hình thế giới hiện tại chứng minh điều này. Dù lợi ích hữu hình và sự thịnh vượng vật chất có thể cuối cùng sẽ xuất hiện từ một số quốc gia nơi những thử nghiệm lớn đang được thực hiện, chúng chỉ minh chứng cho sự chiến thắng của hình tướng và cuối cùng sẽ chẳng mang lại gì. Giống như mỗi con người phải đấu tranh trong một kiếp sống nào đó để đạt thành tựu về phàm ngã, các quốc gia cũng vậy. Tuy nhiên, ở trung tâm của mỗi quốc gia đều ẩn chứa linh hồn bí nhiệm, và cuối cùng — sau những cuộc đấu tranh và thử thách khắc nghiệt — mọi thứ sẽ ổn thỏa. Xu hướng thiên về chủ nghĩa duy vật và thành tựu của phàm ngã phải được cân bằng lại bởi động lực đối kháng của đời sống tinh thần dưới ánh sáng của Thiên Cơ lớn lao và thiện chí, và đó phải là mục tiêu của tất cả các đệ tử đang phụng sự.

Let such working disciples see to it, therefore, that their love for all beings deepens and that the growth of their love comes through their tapping the group love which lies back of all world happenings. My brothers, when will the time come when the world will realise that the love aspect of the Logos—as it affects the human kingdom—is focussed through the inner subjective group of workers? That love is now in the stage of anchoring itself physically through the new groups (such as this group) which are in process of forming all over the world. These new groups are centres (or should be) of divine love, magnetic, constructive and pure. See to it, therefore, that your conformity to the requirement is met in the measure of your [21] physical strength, bearing ever in mind that you are equal to more effort and to greater strain than ever before. stophere

Hãy để những đệ tử đang phụng sự đảm bảo rằng tình thương của họ dành cho mọi chúng sinh ngày càng sâu sắc và rằng sự phát triển của tình thương này xuất phát từ việc khai mở tình thương tập thể vốn ẩn sau mọi diễn biến trên thế giới. Hỡi các huynh đệ của tôi, khi nào thế giới mới nhận ra rằng khía cạnh tình thương của Thượng Đế — như cách nó ảnh hưởng đến giới nhân loại — được tập trung thông qua nhóm người làm việc ở cõi nội giới? Tình thương ấy hiện đang trong giai đoạn neo đậu vào cõi vật lý thông qua các nhóm mới (như nhóm này) vốn đang được hình thành trên khắp thế giới. Những nhóm mới này là (hoặc nên là) các trung tâm lực của tình thương thiêng liêng, từ tính, mang tính kiến tạo và thuần khiết. Vì vậy, hãy đảm bảo rằng các bạn đáp ứng yêu cầu này trong giới hạn sức mạnh thể chất của mình [21], luôn ghi nhớ rằng các bạn có khả năng chịu đựng nhiều hơn và nỗ lực lớn hơn bao giờ hết.

This experiment which I have instituted and to which you have voluntarily and willingly submitted yourselves is one undertaken for group purposes. The Hierarchy seeks to discover how sensitive groups are, as a whole, to subjective guidance and instruction, and how free the channels of communication are between the various individuals in the group and the Master, and between the various groups within the Ashram of a Master. A Master's group of disciples, upon the inner side of life, forms an integrated organism, characterised by mutual life, love and interplay. The relationships in such a group are entirely on mental and astral levels and hence the limitations of the etheric force body and of the physical brain are not astral felt. Needless to say the fundamental relation is on soul levels. The fact that the etheric body and the physical brain lie outside these basic relations where the Ashram is concerned leads to greater facility in understanding and to reciprocal interplay. It is wise to remember, however, that the astral potency is far more strongly felt on the physical plane than elsewhere and hence the major emphasis laid upon emotional-desire control in all treatises on discipleship or on preparation for that state. It is not easy for the average beginner on the Path of Discipleship to grasp this or to see the necessity for the rules and suggestions made. For some people to conform to rule and discipline is not easy unless it is entirely self-initiated. The suggestions which I make to you, my brothers, are only suggestions but it is surely the part of wisdom to follow them as long as you have voluntarily put yourselves under my tuition. Your working under me has been entirely of your own free will and choice. You are subjected to no compulsion. Other types of disciples evince willingness to follow instructions but their real difficulty consists in bringing the life into conformity with the desired rhythms. The narrow path, which all disciples have to tread, requires obedience to the ancient rules for disciples. This is given willingly and with eyes open, though no rigid adherence to such rules is ever expected. The disciple grows through intelligently adapting his life to these requirements as far as is reasonably possible and not by adapting the requirements [22] to his life. Flexibility within certain limits is always needed but that flexibility must not be set in motion by any personality inertia or mental questioning.

Cuộc thử nghiệm này mà tôi đã khởi xướng và các bạn đã tự nguyện và sẵn lòng tham gia, là một nỗ lực nhằm phục vụ các mục đích nhóm. Thánh đoàn muốn khám phá xem các nhóm nói chung nhạy cảm đến mức nào đối với sự hướng dẫn và chỉ dạy nội giới và các kênh liên lạc được thông suốt đến độ nào giữa các cá nhân trong nhóm với Chân Sư, và giữa các nhóm khác nhau trong Đạo viện của một Chân Sư. Về mặt đời sống nội giới, một nhóm đệ tử của Chân Sư tạo thành một cơ quan tích hợp, được đặc trưng bởi sự sống tương hỗ, tình yêu và sự tương tác lẫn nhau. Các mối quan hệ trong một nhóm như vậy hoàn toàn diễn ra trên các mức độ trí tuệ và cảm dục, và do đó, các giới hạn của thể dĩ thái và não bộ vật lý khiến cho chúng không gây ảnh hưởng hay cản trở đến sự tương tác trên các cấp độ này. Tưởng không cần nói rằng, mối quan hệ cơ bản nhất là ở các cấp độ linh hồn. Trong bối cảnh Đạo viện, việc thể dĩ thái và não bộ vật lý nằm ngoài các mối quan hệ cơ bản này, đưa đến một sự cảm thông dễ dàng hơn và một sự liên giao mật thiết hơn. Tuy nhiên, cần nhớ rằng tiềm lực cảm dục được cảm nhận mạnh mẽ hơn nhiều trên cõi trần so với những nơi khác; do đó, trong tất cả các giáo lý về con đường đệ tử hoặc cho sự chuẩn bị trạng thái này đều nhấn mạnh chủ yếu vào việc kiểm soát cảm xúc-dục vọng. Người sơ cơ mới bước trên Con Đường Đệ Tử không dễ nhận ra điều này hoặc thấy được sự cần thiết của các quy luật và gợi ý được đưa ra. Đối với một số người, việc tuân thủ các quy luật và kỷ luật không hề dễ dàng trừ khi đó là sự khởi xướng hoàn toàn từ chính bản thân họ. Hỡi các huynh đệ của tôi, những gợi ý mà tôi đưa ra cho các các bạn, chỉ đơn thuần là các gợi ý, nhưng chắc chắn rằng sẽ khôn ngoan khi làm theo chúng miễn là các bạn tự nguyện đặt mình dưới sự chỉ dẫn của tôi. Việc các bạn làm việc dưới sự hướng dẫn của tôi hoàn toàn dựa trên ý chí tự do và sự lựa chọn của các bạn. Các bạn không bị áp đặt dưới bất kỳ một sự ép buộc nào. Những hạng đệ tử khác thường thể hiện sự sẵn sàng tuân theo các chỉ dẫn, nhưng khó khăn thực sự của họ nằm ở việc điều chỉnh cuộc sống sao cho phù hợp với các nhịp điệu mong muốn. Con đường nhỏ hẹp mà tất cả đệ tử phải dấn bước đòi hỏi sự tuân thủ các quy luật cổ xưa dành cho các đệ tử. Điều này được thực hiện một cách tự nguyện và sáng suốt chứ không phải tuân thủ một cách cứng nhắc với các quy luật đó. Đệ tử phát triển thông qua việc điều chỉnh cuộc sống của mình một cách thông minh để phù hợp với các yêu cầu này ở mức độ hợp lý, thay vì điều chỉnh các yêu cầu [22] để phù hợp với cuộc sống của họ. Sự linh hoạt trong giới hạn nhất định luôn cần thiết, nhưng không nên để bất kỳ sự trì trệ cá nhân hay sự nghi vấn trí tuệ nào làm động lực cho sự linh hoạt đó.

A change in this relationship between disciples is now being made. An attempt is being set on foot to see if a group activity and interplay can now be set up upon the physical plane, involving consequently the use of the etheric body and the brain. The difficulties confronting you are, therefore, great and I am anxious that you should realise this. Will you realise, for instance, that any differences of opinion which may occur in the relations of this group of disciples will be caused by astral-brain reactions and, therefore, must not be considered of any importance whatsoever? They must be immediately eliminated and wiped from the slate of the mind and of the memory and classed as entirely personality limitations and unworthy of hindering group integrity. This experiment, being attempted by a group within my Ashram, is one in mental relations and in soul contact, with the emphasis and attention placed basically there. The astral- physical brain reactions should be regarded as non-existent and as illusion and should be allowed to lapse below the threshold of the group consciousness—there to die for lack of attention. This type of group work is a new venture and unless something definitely new emerges as a result of this experiment, the time and effort are not warranted. You must not imagine that the particular line of work on which you may be engaged is the factor of main interest. It is not primarily the unfoldment of the intuition, or of the power to heal, or of telepathic efficiency which is of importance. That which counts with the Hierarchy as the Ashrams function is the establishing subjectively of such a potent group interplay and group relation that an emerging world unity can be seen in embryo. A joint power to be telepathic or a group capacity to intuit truth is of value and somewhat novel. It is the functioning of groups who have the ability to work as a unity, whose ideals are one, whose personalities are merged into one forward swing, whose rhythm is one and whose unity is so firmly established that naught can produce in the group the purely human characteristics of separation, of personal isolation and [23] selfish seeking, that is new. Unselfish people are not rare. Unselfish groups are very rare. Pure detached devotion in a human being is not rare but to find it in a group is rare indeed. The submergence of personal interests in the good of the family or in that of another person is often to be found, for the beauty of the human heart has manifested itself down the ages. To find such an attitude in a group of people and to see such a point of view maintained with an unbroken rhythm and demonstrating spontaneously and naturally—this will be the glory of the New Age.

Ngày nay mối quan hệ này giữa các đệ tử đã có một sự thay đổi. Một nỗ lực đang được khởi xướng để xem liệu có thể thiết lập một hoạt động nhóm và sự tương tác trên cõi vật lý, bao gồm cả việc sử dụng thể dĩ thái và bộ não. Vì vậy, những khó khăn mà các bạn đang phải đối mặt là rất lớn, và tôi mong các bạn nhận ra điều này. Ví dụ, các bạn có nhận ra rằng bất kỳ bất đồng ý kiến nào có thể xảy ra trong mối quan hệ của nhóm đệ tử này là do các phản ứng não bộ-cảm dục và do đó, không nên coi là quan trọng chút nào? Chúng phải được loại bỏ ngay tức khắc khỏi thể trí và ký ức, và phải xem đó hoàn toàn là những hạn chế cá nhân và không đáng để cản trở sự toàn vẹn của nhóm. Cuộc thử nghiệm này đang được thực hiện bởi một nhóm trong Đạo viện của tôi, là một cuộc thử nghiệm trong mối quan hệ về mặt trí tuệ và sự tiếp xúc linh hồn, với trọng tâm và sự chú ý được đặt cơ bản ở hai cấp độ đó. Các phản ứng não bộ vật lý-cảm dục nên được xem như không tồn tại và là ảo tưởng, và nên để chúng rơi xuống dưới ngưỡng tâm thức của nhóm – tại đó chúng sẽ tiêu tan vì thiếu đi sự chú ý. Công việc nhóm kiểu này là một nỗ lực mới, và trừ khi một điều gì đó thực sự mới mẻ xuất hiện từ thử nghiệm này, thì thời gian và công sức bỏ ra là không xứng đáng. các bạn không nên nghĩ rằng công việc cụ thể mà các bạn có thể đang tham gia là yếu tố đáng kể nhất. Không phải là sự phát triển của trực giác, khả năng chữa lành, hay hiệu quả về viễn cảm là điều quan trọng. Điều quan trọng với Thánh Đoàn khi các Đạo viện hoạt động là sự thiết lập một cách nội tại một tương tác nhóm mạnh mẽ và một mối liên hệ nhóm đến mức sự hợp nhất thế giới có thể được nhìn thấy trong giai đoạn phôi thai. Một quyền năng chung về viễn cảm hoặc một khả năng nhóm để thấu cảm chân lý là có giá trị và khá mới mẻ. Nhưng điều quan trọng hơn là các nhóm có khả năng hoạt động như một thể thống nhất, các lý tưởng của họ là một, các phàm ngã trong nhóm hòa nhập vào một sự chuyển động tiến lên, nhịp điệu của họ là một và sự thống nhất của họ được thiết lập vững chắc đến mức không gì có thể tạo ra trong nhóm những đặc tính của con người thuần túy như sự chia rẽ, sự cô lập cá nhân và [23] sự tìm kiếm ích kỷ, chính đó là điều thật mới mẻ. Những người vị tha vô kỷ thì không hiếm. Nhưng những nhóm vị tha vô kỷ thì rất hiếm. Sự tận tâm buông xả thuần khiết ở một con người không phải là hiếm, nhưng tìm thấy điều này trong một nhóm thì quả thật rất hiếm. Việc đặt lợi ích cá nhân dưới lợi ích của gia đình hoặc của người khác là thường thấy, vì vẻ đẹp của trái tim con người vẫn từng biểu lộ qua các thời đại. Nhưng để tìm thấy thái độ như vậy trong một nhóm người, và thấy quan điểm đó được duy trì với một nhịp điệu không gián đoạn, bộc lộ một cách tự nhiên và tự phát—đây sẽ là vinh quang của Kỷ Nguyên Mới.

To see the link of pure love and of soul relation, realised and utilised in group form and work is indeed new and the attainment of this is the ideal which I set before this group of my disciples. If this group measures up to the vision as it exists in my mind, there will be established upon the physical plane focal points of specialised force through which the Hierarchy can work with greater surety than heretofore. There will (through this and analogous groups) be set in motion on earth a network of spiritual energies which will facilitate the regeneration of the world. The influence of these groups—when permanently established and potently working—will have a wider objective than just the elevation of humanity.

Để nhìn thấy mối liên kết của tình thương thuần khiết và mối liên hệ linh hồn, được nhận thức và sử dụng trong hình thức và công việc nhóm, đó thực là điều mới mẻ và đạt được điều này là lý tưởng mà tôi đặt ra trước nhóm đệ tử của mình. Nếu nhóm này đạt tới tầm nhìn được phác họa trong tâm trí tôi, thì trên cõi vật lý sẽ thiết lập được các điểm tập trung của năng lượng đặc biệt mà qua đó Thánh Đoàn có thể làm việc một cách chắc chắn hơn so với trước đây. Qua nhóm này và các nhóm tương tự, sẽ khởi động trên trái đất một mạng lưới các năng lượng tinh thần nhằm phục hưng thế giới. Ảnh hưởng của những nhóm này—khi được thiết lập vĩnh viễn và hoạt động mạnh mẽ—sẽ có một mục tiêu rộng hơn là việc chỉ nâng cao nhân loại.

The potent rhythm which animates the inner Brotherhood of the Lodge of Masters will make itself felt everywhere on earth and these groups, if successful, may be regarded as the first step toward the emergence into manifestation of the Great White Lodge. But remember this: the keynote of the Lodge is not attainment or degree. It is stable relationship, unity of thought, plus diversity of method, of effort and of function and its quality is friendship in its purest sense. The Brotherhood is a community of souls who are swept by the desire to serve, urged by a spontaneous impulse to love, illumined by one pure Light, devotedly fused and blended into groups of serving Minds, and energised by one Life. Its Members are organised to further the Plan which They consciously contact and with which They deliberately cooperate.

Nhịp điệu mạnh mẽ làm sống động Huynh Đệ Đoàn Của Các Chân Sư ở nội giới sẽ lan tỏa khắp nơi trên trái đất và các nhóm này, nếu thành công, có thể được coi là bước đầu tiên hướng tới sự hiển lộ của Bạch Giai Đoàn. Nhưng hãy nhớ điều này: chủ âm của Huynh Đệ Đoàn không phải là thành quả hay đẳng cấp. Đó là mối liên hệ ổn định, sự thống nhất trong tư duy, cộng thêm sự đa dạng về phương pháp, của nỗ lực và của hành động, và phẩm chất của nó là tình bằng hữu trong ý nghĩa thuần khiết nhất. Huynh Đệ Đoàn là một cộng đồng của những linh hồn cùng chung một nguyện vọng phụng sự, được thúc đẩy bởi một động lực yêu thương, được soi sáng bởi một Ánh Sáng thuần khiết, tận tụy dung hợp và hòa trộn vào các nhóm của những Tâm Trí phụng sự, và được truyền sinh lực bởi một Sự Sống duy nhất. Các Thành viên của nó được tổ chức để thúc đẩy Thiên Cơ mà các Ngài tiếp xúc một cách hữu thức và tích cực hợp tác.

It will be apparent to you, therefore, that the purpose of these groups is to unfold in time the three major powers of all illumined minds: [24]

Vì vậy, các các bạn sẽ thấy rõ ràng mục đích của các nhóm này là dần dần khai mở ba năng lực chính của tất cả những tâm trí giác ngộ: [24]

First: the power to work in and with all thought substance. The Hierarchy of Illumined Minds is a group Whose telepathic powers enable Them to be sensitive to the mind currents and to register the thoughts of Those Who personify the Mind of God, the Universal Mind, and to register the thoughtforms of Those Who are as far beyond the Hierarchy of Masters as They, in Their turn, are beyond the disciples of the world.

Thứ nhất: năng lực làm việc trong và với mọi chất liệu tư tưởng. Thánh Đoàn của Những Trí Tuệ Giác Ngộ là một nhóm mà khả năng viễn cảm cho phép Họ nhạy cảm với các dòng tâm trí và tiếp nhận các tư tưởng của Những Đấng hiện thân cho Đại Trí tuệ của Thượng Đế, Đại Trí Tuệ Vũ Trụ và tiếp nhận các hình tư tưởng của Những Đấng vượt xa Thánh Đoàn các Chân Sư, cũng như các Chân Sư tới lượt của mình vượt xa các đệ tử thế gian.

Those Lives Who carry out the ideas of the Divine Mind, exist in Their graded orders, and with the detail of Their groupings we are not concerned, except with the fact that the planetary Brotherhood is in telepathic rapport with Those Who are responsible for the planetary conditions in the solar system, with the Great Council, therefore, at Shamballa. They are also in immediate telepathic rapport with each other. The slowly manifesting powers of the radio and the sensitive workings of the perfecting radio mechanisms and of television are but the response in physical matter of the perfected telepathic powers and television of the minds of the Masters of the Wisdom. Forget not, that such powers are inherent in all men.

Những Sự Sống thực thi ý tưởng của Trí Tuệ Thiêng Liêng tồn tại trên các cấp đẳng khác nhau, và chúng ta không cần quan tâm đến chi tiết về các nhóm của Họ, ngoại trừ thực tế rằng Hội Huynh Đệ Hành Tinh có mối quan hệ viễn cảm với Những Đấng chịu trách nhiệm về các điều kiện hành tinh trong thái dương hệ, tức là với Hội Đồng Vĩ Đại tại Shamballa. Họ cũng có mối liên kết viễn cảm tức thời với nhau. Các sức mạnh đang dần biểu hiện của sóng vô tuyến và sự nhạy cảm của các cơ chế vô tuyến cùng công nghệ truyền hình ngày càng hoàn thiện chỉ là sự phản hồi trong vật chất vật lý đối với các năng lực viễn cảm hoàn thiện và khả năng 'truyền hình' của các thể trí các Chân Sư Minh Triết. Đừng quên rằng những năng lực này vốn có trong tất cả mọi người.

The inner group of Masters with Whom I am associated work telepathically also with Their disciples and the disciples with each other in lesser degree. The power to "see" the Master —which has been the misguided impulse of the devotees of the world who substitute this desire for aspiration towards soul contact—is but their response to the "television" of Those Who seek to guide them into the light of their own souls. They are only reacting to one of the demonstrated divine powers of the Master but not to soul action.

Nhóm nội tại các Chân Sư mà tôi liên kết cũng làm việc bằng viễn cảm với các đệ tử của các Ngài, và các đệ tử thì làm điều đó với nhau ở mức độ thấp hơn. Năng lực “thấy” Chân Sư—điều mà đã trở thành động lực bị hiểu sai của những tín đồ trên thế giới khi họ thay thế mong muốn này cho sự khao khát kết nối với linh hồn—chỉ là phản ứng của họ đối với “sự truyền hình” của Những Đấng tìm cách hướng dẫn họ đến ánh sáng của chính linh hồn họ. Họ chỉ đang phản ứng với một trong các quyền năng thiêng liêng của Chân Sư được thể hiện, chứ không phản ứng với hành động của linh hồn.

Your response to such stimulation as I can give you and an earnest endeavour on your part to love with unselfishness will gradually perfect in you a similar relation to other workers. This will work out in three directions:

Phản ứng của các bạn đối với sự kích thích mà tôi có thể mang lại và sự nỗ lực chân thành từ phía các bạn để yêu thương một cách vô ngã sẽ dần dần hoàn thiện trong các bạn một mối quan hệ tương tự với những người cộng sự khác. Điều này sẽ thể hiện qua ba hướng sau đây:

1. In a demonstrated ability to be in telepathic rapport with me and with Those with Whom I am associated.

1. Khả năng được chứng minh để có mối liên kết viễn cảm với tôi và với Những Đấng mà tôi liên kết.

2. In power to communicate with each other at any time.

2. Năng lực để giao tiếp với nhau bất kỳ lúc nào.

3. In sensitivity to the thoughts of humanity as a whole.

3. Sự nhạy cảm với tư tưởng của toàn thể nhân loại.

Can you not see, therefore, how a miniature replica of the Brotherhood can be established on earth and how in decades [25] to come the working disciples of the world, the isolated initiates in the many world organisations and the personnel of the New Group of World Servers will automatically respond to the telepathic sensitivity of such groups as will be found working in the many Ashrams of the Masters? The result of this success will not be the recognition of any particular group but it will lead to the recognition of a universal power and the state of mind of disciples of all degrees. This will establish in time and without controversy the unity of all beings. The revelation of unity through the power of thought is the glorious consummation of the work of the Brotherhood and to this you do, as do all disciples, respond in your highest moments. It can, in a smaller way and according to the measure of your consecration, be your glory and your goal also if you hold the thought of oneness, of service and above all else of love.

Các bạn không nhận thấy rằng, qua đó, một mô hình thu nhỏ của Huynh Đệ Đoàn có thể được thiết lập trên trái đất, và trong những thập kỷ sắp tới [25], các đệ tử thế giới đang làm việc, những điểm đạo đồ cô lập trong nhiều tổ chức thế giới, và các thành viên của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian sẽ tự động đáp ứng với sự nhạy cảm viễn cảm của những nhóm như vậy, vốn sẽ được tìm thấy làm việc trong nhiều Đạo viện của các Chân Sư? Kết quả của thành công này sẽ không phải là sự công nhận một nhóm cụ thể nào, mà sẽ dẫn đến sự công nhận một quyền năng phổ quát và trạng thái tâm trí của các đệ tử ở mọi cấp độ. Điều này sẽ dần dần thiết lập sự thống nhất của tất cả chúng sinh không cần bàn cãi. Việc tiết lộ sự thống nhất thông qua quyền năng của tư tưởng là sự thánh tựu vinh quang của công việc của Huynh Đệ Đoàn, và điều này các bạn cũng như mọi đệ tử đều đáp ứng trong những khoảnh khắc cao quý nhất của mình. Trên một phương diện nhỏ bé hơn và tùy theo mức độ cống hiến của các bạn, nó có thể là vinh quang và cũng là mục tiêu của các bạn, nếu các bạn giữ tư tưởng về tính nhất thể, sự phụng sự và trên hết là tình yêu thương.

Second: the power of the intuition, which is the goal of much of the work which disciples must do, requires the unfoldment of another faculty in man. The intuition is a function of the mind also and, when rightly used, it enables man to grasp reality with clarity and to see that reality free from glamour and the illusions of the three worlds. When the intuition functions in any human being, he is enabled to take direct and correct action for he is in touch with the Plan, with pure and unadulterated fact and undistorted ideas—free from illusion and coming direct from the divine or universal Mind. The unfoldment of this faculty will bring about a world recognition of the Plan and this is the greatest achievement of the intuition in this present world cycle. When that Plan is sensed, there comes the realisation of the unity of all beings, of the synthesis of world evolution and of the unity of the divine objective. All life and all forms are seen then in their true perspective; a right sense of values and of time then eventuates. When the Plan is truly intuited and at first hand, then constructive effort becomes inevitable and there is no lost motion. It is the partial realisation of the Plan and its interpretation at second or third hand by the ignorant which is responsible for the wasted effort and the foolish impulses which characterise the present occult and world organisations. [26]

Thứ hai: quyền năng trực giác, mục tiêu của phần lớn công việc mà các đệ tử phải thực hiện, cần đến sự khai mở của một năng lực khác trong con người. Trực giác cũng là một chức năng của thể trí, và khi được sử dụng đúng cách, nó cho phép con người nắm bắt được thực tại một cách rõ ràng và thấy được thực tại không bị che lấp bởi ảo cảm và các ảo tưởng của ba cõi thấp. Khi trực giác hoạt động trong bất kỳ con người nào, người đó có thể hành động trực tiếp và đúng đắn, vì y đang kết nối với Thiên Cơ, với sự thật thuần túy và không pha tạp, với những ý tưởng không bị bóp méo—thoát khỏi ảo tưởng và đến trực tiếp từ Trí Tuệ Thiêng Liêng hoặc Vũ Trụ. Việc phát triển năng lực này sẽ mang lại sự công nhận toàn cầu về Thiên Cơ, và đây là thành tựu lớn nhất của trực giác trong chu kỳ thế giới hiện tại. Khi Thiên Cơ được cảm nhận, sẽ có sự nhận thức về sự thống nhất của tất cả các thực thể, về sự tổng hợp của cơ tiến hóa thế giới và về sự thống nhất của mục tiêu thiêng liêng. Tất cả sự sống và mọi hình thể sẽ được nhìn nhận trong viễn cảnh thực sự của chúng; một ý thức đúng đắn về giá trị và thời gian sẽ xuất hiện. Khi Thiên Cơ được trực giác một cách thực sự và trực tiếp, thì những nỗ lực mang tính xây dựng trở nên tất yếu và không có sự lãng phí năng lượng. Chính sự nhận thức thiếu sót về Thiên Cơ và sự diễn giải gián tiếp qua trung gian thứ hai hay thứ ba bởi những người thiếu hiểu biết, là nguyên nhân gây ra những nỗ lực lãng phí và các xung động dại dột vốn đặc trưng cho các tổ chức huyền bí trên thế giới hiện nay. [26]

The various groups in a Master's Ashram can fulfil certain functions and provide laboratories for specified work. Some can provide a demonstration laboratory of the trained observers of the world and can handle world glamour and illusion. Other groups can focus on the development of the telepathic faculty and become trained communicators. The objective before the Hierarchy at this time is to break and dissipate the world glamour. This has to happen on a world scale just as it happens in the life of every disciple. Just as a man shifts his focus of consciousness (when on the Path of Discipleship) on to the mental plane and learns to smash the glamour which has hitherto held him on the astral plane, so the problem before the Hierarchy today is to bring about a similar happening in the life of humanity as a whole, for humanity is at the crossroads and its consciousness is being rapidly focussed on the mental plane. A death blow must be struck at the world illusion for it holds the sons of men in thrall. By learning to break through the glamour in their own lives and to live in the light of the intuition, disciples can strengthen the hands of Those Whose task it is to awaken the intuition in man. There are many and different kinds of glamour and disciples are frequently surprised when they learn what is regarded as glamour by the Masters. I will enumerate a few of the more general glamours for you, leaving you to make any needed application and expansion of the idea from the individual to humanity as a whole. Here are the names of some of these glamours:

Các nhóm khác nhau trong Đạo viện của Chân sư có thể thực hiện một số chức năng nhất định và cung cấp môi trường thí nghiệm cho công tác đặc biệt. Một số có thể cung cấp môi trường thí nghiệm thực nghiệm cho các nhà quan sát lão luyện thế giới và có thể xử lý ảo cảm và ảo tưởng thế giới. Các nhóm khác có thể tập trung vào sự phát triển trong lĩnh vực viễn cảm và trở thành những nhà viễn cảm lão luyện. Mục tiêu trước mắt của Thánh đoàn lúc này là phá vỡ và xua tan ảo cảm thế giới. Điều này phải xảy ra trên quy mô toàn thế giới giống như xảy ra trong đời sống của mỗi đệ tử. Cũng giống như một người chuyển trọng tâm tâm thức của mình (khi ở trên Con đường Đệ tử) sang cõi trí và học cách làm tan rã ảo cảm mà cho đến nay đã giữ y trên cõi cảm dục, vì vậy vấn đề trước tiên của Thánh đoàn ngày nay là khiến cho một điều tương tự xảy ra trong cuộc sống của toàn thể nhân loại nói chung, vì nhân loại đang ở ngã ba đường và tâm thức của nó đang được tập trung nhanh chóng vào cõi trí. Một đòn chí mạng phải được giáng vào ảo tưởng thế giới vì nó giữ những người con của nhân loại trong trạng thái nô lệ. Bằng cách vượt qua ảo cảm trong cuộc sống của chính mình và sống trong ánh sáng của trực giác, các đệ tử có thể tăng cường hỗ trợ các Đấng mà nhiệm vụ của các Ngài là đánh thức trực giác của con người. Có rất nhiều loại ảo cảm khác nhau và các đệ tử thường ngạc nhiên khi họ học hỏi từ các vị Chân sư những gì được coi là ảo cảm. Tôi sẽ liệt kê một số ảo cảm chung để các bạn thực hiện bất kỳ áp dụng cần thiết nào và mở rộng ý tưởng từ cá nhân đến toàn thể nhân loại. Dưới đây là một trong số các ảo cảm đó:

1. The glamour of destiny. This is a glamour which indicates to the one whom it controls that he has important work to do and that he must speak and work as destined. This feeds a pride which has no foundation in fact.

1. Ảo cảm về định mệnh. Đây là ảo cảm làm cho một người nghĩ rằng y có sứ mạng quan trọng phải làm và y phải nói và hành động như định mệnh sắp đặt. Điều này nuôi dưỡng một tính kiêu căng mà nó vốn vô căn cứ.

2. The glamour of aspiration. Those thus conditioned are completely satisfied and pre-occupied with their aspiration towards the light and rest back upon the fact that they are aspirants. Such people need to move onward on to the Path of Discipleship and cease their preoccupation and satisfaction with their spiritual ambitions and goals.

2. Ảo cảm về khát vọng. Những người có tình trạng như này hoàn toàn hài lòng và tập trung vào khát vọng của họ hướng tới ánh sáng và yên lòng trên thực tế rằng họ là những người chí nguyện. Những người như vậy cần phải tiếp tục Con đường Đệ tử, và ngừng bận tâm cũng như ngừng thỏa mãn với những tham vọng và mục tiêu tinh thần của mình.

3. The glamour of self-assurance or of what might be called the astral principles of the disciple. This is the belief, [27] in plain language, that the disciple regards that his point of view is entirely right. This again feeds pride and tends to make the disciple believe himself to be an authority and infallible. It is the background of the theologian.

3. Ảo cảm về sự tự tín hay cái mà có thể được gọi là những nguyên khí cảm dục của người đệ tử. Nói một cách dễ hiểu, đây là niềm tin [27] mà người đệ tử cho rằng quan điểm của mình là hoàn toàn đúng. Điều này một lần nữa nuôi dưỡng lòng kiêu căng và có xu hướng khiến đệ tử tin rằng mình là một người có thẩm quyền và không thể sai lầm. Đó là tật cố hữu của nhà thần học.

4. The glamour of duty. This leads to an over-emphasis of the sense of responsibility, producing lost motion and the emphasis of the non-essential.

4. Ảo cảm về bổn phận. Ảo cảm này dẫn đến việc chú trọng quá mức đến ý thức trách nhiệm, tạo ra hành động vô ích và chú trọng đến những điều không cần thiết.

5. The glamour of environing conditions, leading frequently to a sense of frustration, or of futility or of importance.

5. Ảo cảm về hoàn cảnh, thường dẫn đến ý thức về sự bất mãn, hoặc về sự vô vọng, hoặc về tầm quan trọng.

6. The glamour of the mind and of its efficiency and its capacity to deal with any or every problem. This leads inevitably to isolation and loneliness.

6. Ảo cảm về trí tuệ và làm cho người đệ tử tưởng rằng hiệu quả và khả năng của cái trí có thể đối phó với bất kỳ hoặc mọi vấn đề. Điều này chắc chắn dẫn đến sự cô lập và cô đơn.

7. The glamour of devotion, leading to an undue stimulation of the astral body. The man or woman thus glamoured sees only one idea, one person, one authority and one aspect of truth. It feeds fanaticism and spiritual pride.

7. Ảo cảm về sự sùng tín, dẫn đến sự kích thích quá mức của thể cảm dục. Vì vậy, người nam hay nữ bị ảo cảm này chỉ nhìn thấy một ý tưởng, một con người, một uy quyền và một khía cạnh của chân lý. Nó nuôi dưỡng sự cuồng tín và ngã mạn tinh thần.

8. The glamour of desire with its reflex action upon the physical body. This leads to a constant condition of fighting and of turmoil. It negates all peace and fruitful work and must some day be brought to an end.

8. Ảo cảm về ham muốn với tác động phản xạ của nó trên thể xác. Điều này dẫn đến tình trạng chiến đấu liên tục và hỗn loạn. Nó làm mất sự bình an và khả năng làm việc hiệu quả. Ảo cảm này ngày nào đó phải được chấm dứt.

9. The glamour of personal ambition.

9. Ảo cảm về tham vọng cá nhân.

There are many other glamours, both individual and world-wide, but these will serve to indicate a general tendency.

Có nhiều ảo cảm khác nữa, cả ở mức độ cá nhân và trên toàn thế giới, nhưng những điều trên đủ để chỉ ra một xu hướng chung.

Those who are in preparation for initiation must learn to work consciously with glamour; they must work effectively with the presented truth, ignoring any pain or suffering or mental questioning which is incident to personality rebellion and limitation; they must cultivate that "divine indifference" to personal considerations which is the outstanding hallmark of the trained initiate.

Những người chuẩn bị điểm đạo phải học cách làm việc có ý thức với ảo cảm; họ phải làm việc hiệu quả với chân lý được trình bày, bỏ qua bất kỳ nỗi đau, đau khổ hoặc nghi vấn của tâm trí vốn là nguyên nhân dẫn đến sự nổi loạn và giới hạn của phàm ngã; họ phải trau dồi “sự điềm nhiên thiêng liêng” đối với những vấn đề cá nhân, đó là dấu hiệu nổi bật của vị điểm đạo đồ lão luyện.

I shall not deal further with the subject of glamour as it affects or might affect this particular group of disciples in my Ashram. The times are urgent and the need of humanity so great that there is no "space in consciousness" (to use an ancient occult phrase) for the reiteration of the known ideal, or to tell you again what needs to be done.

Tôi sẽ không nói thêm về chủ đề của ảo cảm vì nó ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng đến nhóm đệ tử cụ thể trong Đạo viện của tôi. Thời gian cấp bách và nhu cầu của nhân loại lớn đến mức không còn "khoảng trống trong tâm thức" (dùng một cụm từ huyền bí cổ xưa) để nhắc lại lý tưởng đã biết, hoặc để nói lại cho các bạn biết những gì cần phải làm.

[28] I would have you realise that there is no haste in the work which a Master carries on in connection with His disciples. There is no hurry in the work which I am proposing that we do together, but neither should there be any waste time or lost motion. It will become apparent to you that much that I seek to accomplish is related to thought control and to the activity of the creative imagination. The Hierarchy produces its effects upon the plane of appearances through the potency of its unified, conscious thinking. The establishing of such a condition of unified thinking within the New Group of World Servers is part of my major effort at this time; we can achieve little until that has been brought about.

[28] Tôi mong các bạn sẽ nhận thức rằng không có gì phải vội vàng trong công việc mà một Chân sư thực hiện cùng với các đệ tử của Ngài. Không có gì phải vội vàng trong công việc mà tôi đang đề xuất chúng ta làm cùng nhau, nhưng cũng không nên lãng phí thời gian hoặc hành động không hiệu quả. các bạn sẽ thấy rõ rằng nhiều điều mà tôi cố gắng hoàn thành có liên quan đến việc kiểm soát tư tưởng và đến hoạt động của trí tưởng tượng sáng tạo. Thánh đoàn tạo ra những ảnh hưởng của mình trên cõi biểu hiện thông qua khả năng của tư duy hữu thức và hợp nhất. Việc thiết lập một tình trạng tư duy hợp nhất như vậy trong Đoàn người mới Phụng sự Thế gian là một phần trong nỗ lực chính của tôi tại thời điểm này; chúng ta sẽ không làm được gì nhiều trước khi điều đó được thực hiện.

So I summon you to a new phase of intense, inner living and dynamic thinking, but this time with a group objective—the objective of group fusion, group united thinking and group relation.... It is the inner life of reflection, the cultivated recognition of the soul and the reflective alignment of soul and personality which will determine the success of this work.

Vì vậy, tôi kêu gọi các bạn bước đến một giai đoạn mới của cuộc sống nội tâm mãnh liệt và tư duy năng động, nhưng lần này với mục tiêu nhóm — mục tiêu của sự hợp nhất nhóm, tư duy nhóm thống nhất và mối quan hệ nhóm.... Chính đời sống phản tỉnh nội tại, sự nhận biết được trau dồi về linh hồn và sự chỉnh hợp giữa linh hồn và phàm ngã sẽ quyết định sự thành công của công việc này.

Third: There is another great mind power which has to be unfolded. It is one which characterises all liberated souls, no matter what their ray. This is the power to heal. This work is as yet in embryo and the group consciousness is as yet so young and unpolarised that it is needless for me to enlarge upon the possibilities ahead. When men can be trained to be unselfishly and divinely magnetic and radio-active, then there will be poured out upon the world certain divine forces which will vivify and reconstruct, which will eliminate the evil and heal the sick. Hitherto the attempts of men in the field of medicine, of healing and of the various forms of therapy have been the result of impulses to respond to these hovering forces, but that is all as yet.

Thứ ba: Có một quyền năng trí tuệ lớn khác phải được mở ra. Đó là một trong những đặc điểm của tất cả các linh hồn giải thoát, bất kể cung của họ là gì. Đó là quyền năng chữa lành. Công việc này vẫn còn phôi thai và tâm thức nhóm vẫn còn rất non trẻ và chưa phân cực nên tôi không cần thiết phải bàn rộng hơn về những tiềm năng ở phía trước. Khi con người có thể được huấn luyện để có tính chất phát xạ và từ tính một cách thiêng liêng và vô kỷ, thì sẽ được tuôn đổ xuống thế gian những mãnh lực thiêng liêng sinh động và kiến tạo, sẽ loại bỏ cái ác và chữa lành bệnh tật. Cho đến nay những nỗ lực của con người trong lĩnh vực y học, chữa lành và các hình thức trị liệu khác nhau đều là kết quả của các thôi thúc để đáp ứng lại những mãnh lực đang lơ lửng này, nhưng tất cả chỉ mới được như vậy.

These are the three major faculties which the spiritual man can unfold; other faculties and developing capacities are only expansions of these three—telepathic thought, receiving and transmitting; intuitive recognition of truth and its formulation into concepts by the mind, plus the later process of materialising that which has been intuited, the highest form of creative work; healing, with its understanding of energy and forces which will lead later to the rebirth of humanity.

Đây là ba khía cạnh chính mà con người tinh thần có thể khai mở; các khả năng khác và năng lực đang phát triển chỉ là sự mở rộng của ba khía cạnh này—tư tưởng viễn cảm, trong cả hai chiều thu nhận và truyền đi; sự thừa nhận chân lý bằng trực giác và sự hình thành các quan niệm bằng tâm trí, cộng với quá trình vật chất hóa những gì đã cảm nhận được bằng trực giác, đây là hình thức cao nhất của công việc sáng tạo; chữa lành, với sự hiểu biết về năng lượng và các mãnh lực sẽ dẫn đến sự phục sinh của nhân loại sau này.

[29] Little by little, the picture of the possibilities and of the Plan will unfold before you as your minds increase in sensitivity and your brains become more responsive to mental impulses. Little by little, the disciples of the world will work at the reproduction—on the physical plane—of that which exists subjectively. Little by little, there will appear all over the earth, groups of illumined souls who can cooperate with the Masters with perfect freedom of intercourse because their responsiveness has been scientifically trained and developed. Their power to work in tune with or in unison with the Hierarchy, to cooperate with the group life of many other groups of disciples and to communicate light and revelation to the world of men will later be an accomplished fact and is already much more actively present and potent than you think. A little vision, brother of mine, makes the way of the disciple easier and hence I have enlarged somewhat upon the possibilities which we, with our prevision, regard as already facts in manifestation. Nothing can stop the eventual success of the Plan; it is simply a question of time.

[29] Từng chút một, bức tranh về các khả năng và về Thiên Cơ sẽ mở ra trước mắt các bạn khi thể trí của các bạn gia tăng độ nhạy cảm và não bộ của các bạn trở nên đáp ứng hơn với các xung lực trí tuệ. Từng chút một, những đệ tử của thế giới sẽ nỗ lực tái tạo — trên cõi vật lý — cái vốn tồn tại trong trạng thái nội tại. Từng chút một, sẽ xuất hiện khắp nơi trên thế giới, những nhóm linh hồn được soi sáng có thể hợp tác với các Chân sư với sự tiếp xúc tự do hoàn hảo bởi vì khả năng đáp ứng của họ đã được huấn luyện và phát triển một cách khoa học. Quyền năng của họ trong việc hòa hợp hoặc đồng nhất với Thánh Đoàn, hợp tác trong đời sống nhóm với nhiều nhóm đệ tử khác và truyền đạt ánh sáng và sự khai mở cho thế giới loài người sau này sẽ là một sự kiện thực tế hoàn thiện và đã diễn ra tích cực và mạnh mẽ hơn các bạn nghĩ. Hỡi huynh đệ của tôi, một chút tầm nhìn có thể làm cho con đường của người đệ tử trở nên dễ dàng hơn và do đó tôi mở rộng phần nào những triển vọng mà chúng tôi tiên liệu trước là những sự kiện thực tế sẽ biểu lộ. Không gì có thể ngăn cản thành công cuối cùng của Thiên Cơ; nó chỉ là vấn đề thời gian.

One of the steps in training which lies ahead of you is the establishing of a closer contact with me, your Tibetan Teacher. This you must attempt with no formulated ideas as to what the results will be—if any are to be objectively realised. The results may be sensed by me alone on my side, or they may work out in certain specific realisations and even phenomena on your side. I indicate not the results of such an activity for the power of suggestion and the response of the creative imagination is a fruitful source of glamour.

Một trong những bước huấn luyện trước mắt các bạn là thiết lập mối liên hệ chặt chẽ hơn với tôi, Huấn sư Tây Tạng của các bạn. Điều này các bạn phải cố gắng mà không có ý tưởng cứng nhắc nào về kết quả sẽ ra sao — nếu có thì phải được nhận thức một cách khách quan. Các kết quả có thể được cảm nhận bởi một mình tôi, hoặc chúng có thể đến dưới những hình thức nhận biết đặc biệt cụ thể và thậm chí cả những hiện tượng nhiệm màu đối với các bạn. Tôi không chỉ ra các kết quả của kiểu hoạt động như vậy vì sức mạnh của sự ám thị và phản ứng của trí tưởng tượng sáng tạo chính là cội nguồn phong phú của ảo cảm.

I would, therefore, ask all of you who are my disciples to endeavour to make a contact with me at the time of the Full Moon each month. Make sacrifice in order to establish this monthly relation as I will make my adjustments to contact you. May I emphasise the necessity for holding the thought of that contact for three whole days prior to the Full Moon itself, with aspiration and with confidence and then for three days afterwards with expectancy. May I point out the prime importance of making this a group activity and not a personal contact. Enter upon the work with the realisation of your group relation with your fellow disciples and with me, for only in so far as [30] you seek to contact me as a disciple in my group will the measure of your success be rated. This contact is not of the same nature as that direct and individual contact between a chela and his Master. Many of you are linked with your ownMaster, though temporarily working in my Ashram; your contact with me is intended to be a group contact and, as a group, you will seek to strengthen the tie between us. This, therefore, is an act of group service to be rendered selflessly and with no personal expectancy. Owing to the pressure of time and of urgency in service, I am one of several teachers who have pledged themselves for the next few years to keep the twelve hours prior to the Full Moon of each month open for contacts with their disciples, so that at any time during that twelve hours, the world servers and disciples can make an attempt to reach us. This will somewhat facilitate your work for you need not, therefore, keep the exact hour of the Full Moon, unless this is easily possible. Service in the world these days requires constant pressure and attention and the work is strenuous. It may not always be possible for you to make your approach at the exact hour of the Full Moon, though you can at that hour always—silently and interiorly—lift up your heart and eyes to the Eternal. But at some hour during the preceding twelve hours, you can make your approach. When you do so rightly, you will find me waiting. Go to your work with clear vision, a loving heart and an understanding love. Much can then be accomplished.

Do đó, tôi yêu cầu tất cả các bạn là đệ tử của tôi cố gắng liên lạc với tôi vào thời điểm Trăng Tròn mỗi tháng. Hãy chịu khó hy sinh để thiết lập mối liên hệ hàng tháng này vì tôi sẽ tự điều chỉnh để liên lạc với các bạn. Tôi có thể nhấn mạnh sự cần thiết của việc giữ tư tưởng về cuộc tiếp xúc đó trong ba ngày trước khi diễn ra Trăng Tròn với khát vọng và sự tin tưởng và ba ngày sau đó với sự mong chờ. Tôi có thể chỉ ra tầm quan trọng hàng đầu của việc biến nó thành một hoạt động nhóm chứ không phải là một liên hệ cá nhân. Hãy bắt tay vào công việc với việc nhận ra mối quan hệ nhóm với các huynh đệ đồng môn của các bạn và với tôi, chỉ trong chừng mực [30] các bạn tìm cách tiếp xúc với tôi với tư cách là một đệ tử trong nhóm của tôi thì mức độ thành công của các bạn mới đáng kể. Sự tiếp xúc này không cùng bản chất với sự tiếp xúc trực tiếp và cá nhân giữa một đệ tử và Chân sư. Nhiều người trong số các bạn được liên kết với Chân sư của mình, mặc dù tạm thời làm việc trong Đạo viện của tôi; mối liên hệ của các bạn với tôi có mục đích là liên hệ nhóm, và với tư cách là một nhóm các bạn sẽ tìm cách củng cố mối quan hệ giữa chúng ta. Do đó, đây là một hành động phụng sự nhóm được thực hiện một cách vô kỷ và không có kỳ vọng cá nhân. Do áp lực về thời gian và sự cấp bách trong công việc phụng sự, tôi là một trong số những vị huấn sư đã cam kết trong vài năm tới sẽ dành mười hai giờ trước Trăng Tròn mỗi tháng mở ra để liên lạc với các đệ tử của các Chân sư, để bất cứ lúc nào trong mười hai giờ đó, các phụng sự viên thế giới và các đệ tử có thể cố gắng liên lạc với chúng tôi. Do đó, điều này sẽ phần nào sẽ làm cho công việc của các bạn thuận lợi hơn vì các bạn không cần thiết phải giữ chính xác giờ Trăng Tròn, trừ khi các bạn thực hiện được nó một cách dễ dàng. Công tác phụng sự trên thế gian những ngày này đòi hỏi áp lực, sự chú ý liên tục và công việc rất vất vả. Không phải lúc nào các bạn cũng có thể tham thiền tiếp cận được vào đúng giờ Trăng Tròn, tuy rằng các bạn luôn có thể vào giờ đó—một cách âm thầm và nội tâm—nâng cao trái tim và tầm mắt của các bạn về phía Đấng Vĩnh Hằng. Nhưng bất cứ lúc nào trong mười hai giờ trước đó, các bạn đều có thể tham thiền tiếp cận. Khi các bạn làm đúng như vậy, các bạn sẽ thấy tôi đang chờ. Hãy thực hiện công việc của các bạn với tầm nhìn rõ ràng, trái tim yêu thương và một tình yêu thấu hiểu. Chừng đó nhiều điều sẽ được hoàn thành.