← Discipleship in the New Age Vol – Alice A. Bailey

PART IV—PHẦN IV

PART IV—PHẦN IV

As these groups of disciples become active in the world and their inner integration and group relationship become securely established, we shall have the germ of those characteristics which will dignify the New Age groups. I would ask you all never to forget that this group work you are attempting to do is in reality pioneer work and hence has all the difficulties which pioneer work inevitably and necessarily has. Thereby strength to grow is gained. As the number of these groups increases and the personnel is gradually supplied, the skeleton framework of a future structure will slowly emerge. How that structure [31] will appear when completed is known only to the inspired vision of the architects. But the foundations must be set sure and deep; the framework must be true and rightly adjusted. These two requirements are all that any of you will see materialise in this present lifetime.

Khi những nhóm đệ tử này trở nên tích cực trên thế giới và sự tích hợp nội tâm và mối quan hệ nhóm của họ được thiết lập một cách chắc chắn, chúng ta sẽ có mầm mống của những phẩm tính làm tôn vinh các nhóm thuộc Kỷ Nguyên Mới. Tôi yêu cầu tất cả các bạn đừng bao giờ quên rằng công việc nhóm mà các bạn đang cố gắng thực hiện trong thực tế là công việc tiên phong, và do đó nó có tất cả những khó khăn mà công việc tiên phong tất yếu phải đối mặt. Nhờ đó, sức mạnh để phát triển được hun đúc. Khi số lượng các nhóm này tăng lên và nhân sự dần dần được đáp ứng, thì bộ khung của một cấu trúc tương lai sẽ từ từ xuất hiện. Cấu trúc đó [31] sẽ xuất hiện như thế nào khi hoàn thành, chỉ có tầm nhìn đầy cảm hứng của các kiến trúc sư mới biết được. Nhưng nền tảng phải được thiết lập vững chắc và sâu sắc; bộ khung phải chuẩn xác và được điều chỉnh hợp lý. Hai yêu cầu này là tất cả những gì mà bất kỳ ai trong số các bạn sẽ thấy thành hiện thực trong kiếp sống hiện tại này.

Have you realised, however, my brothers, what occult progress in the world you have been permitted to see during this present lifetime? Have you glimpsed the magnitude of the present push that is being made by the Masters and have you recognised Their plans taking shape before your eyes? Have you grasped the essentials of what the Great White Lodge has done during the past twenty-five years and the extent of the work in which disciples and aspirants everywhere have been permitted to share? I would like briefly to enlarge somewhat upon this so as to make the picture clearer to your eyes in order that you may cooperate with greater intelligence, for this is above everything else group work.

Tuy nhiên, các huynh đệ đã nhận ra sự tiến bộ huyền bí nào trên thế giới mà các bạn được phép nhìn thấy trong kiếp sống hiện tại này chưa? Các bạn có thoáng thấy mức độ thúc đẩy hiện tại mà các Chân sư đang tạo ra, và các bạn có nhận ra các kế hoạch của các Ngài đang hình thành trước mắt mình không? Các bạn đã nắm được những điều cốt yếu mà Đại Bạch Giai Đoàn đã làm trong suốt 25 năm qua và mức độ công việc mà các điểm đạo đồ và những người chí nguyện ở khắp mọi nơi được phép chia sẻ chưa? Tôi muốn mở rộng thêm một chút về điều này một cách ngắn gọn để làm bức tranh trở nên rõ ràng hơn trước mắt các bạn, nhằm giúp các bạn có thể hợp tác với sự thông tuệ sâu sắc hơn, vì trên hết, đây là công việc nhóm.

Slowly and gradually, as far as you are all concerned, I have gathered together a band of disciples upon the outer plane. As the group thoughtform integrated and disciples responded to my call, found each other and began to work together, it became possible for me to go forward with my chosen work and carry forward the plans which I set myself when I took a certain initiation.

Một cách từ từ và chậm rãi, tôi đã tập hợp một nhóm các đệ tử lại với nhau ở cõi ngoại giới. Khi hình tư tưởng của nhóm được tích hợp và các đệ tử đáp ứng lời kêu gọi của tôi, tìm thấy nhau và bắt đầu làm việc cùng nhau, điều đó cho phép tôi có thể tiếp tục công việc đã chọn và thực hiện các kế hoạch mà tôi đã đặt ra khi tôi nhận một cuộc điểm đạo nhất định.

First of all, the books were published and they came out in ordered sequence and provide a body of teaching and of truth which will serve the needs of the coming generation. It is for my disciples to safeguard this presentation of truth during this century and to see to it that the books are sent forth steadily upon their mission, until they are finally superseded next century by a newer and more adequate teaching.

Trước hết, các cuốn sách đã được xuất bản và được phát hành theo trình tự để cung cấp nền tảng giáo lý và chân lý vốn sẽ phụng sự những nhu cầu của thế hệ sắp tới. Các đệ tử của tôi phải gìn giữ sự trình bày chân lý này trong suốt thế kỷ hiện tại và đảm bảo rằng các cuốn sách được truyền bá liên tục theo sứ mệnh của chúng, cho đến khi chúng được thay thế vào thế kỷ tới bằng một giáo lý mới hơn và đầy đủ hơn.

Next came a happening of vital moment—of more moment than you can perhaps appreciate. An instruction upon the New Group of World Servers was sent out and given wide distribution by means of the pamphlet entitled The Next Three Years. This signalised the anchoring—if so I might call it—of the New Group of World Servers upon the physical plane. They are now in active existence. The group is slowly integrating and slowly making its influence felt in the primary [32] work of educating public opinion—the only potent means of work and of far more potency and ultimate value than any legislation or emphasis upon authority.

Tiếp theo, xuất hiện một việc có tầm quan trọng rất lớn — mà có lẽ các bạn cũng không thể nhận định rõ tầm quan trọng của nó. Một chỉ dẫn về Đoàn người mới Phụng sự Thế gian đã được gửi đi và được phổ biến rộng rãi qua cuốn sách nhỏ có tựa đề Ba năm tới. Điều này báo hiệu sự neo đậu — nếu tôi có thể gọi như vậy — của Đoàn người mới Phụng sự Thế gian trên cõi vật lý. Họ hiện đang hiện diện tích cực. Nhóm này đang dần tích hợp và từ từ tạo ra ảnh hưởng của mình trong công việc [32] chính là giáo dục dư luận quần chúng — phương tiện hoạt động duy nhất có hiệu quả, có giá trị tối hậu và mạnh mẽ hơn nhiều so với bất kỳ luật pháp hay sự nhấn mạnh vào thẩm quyền.

Growing out of the integration of this new group, there is being formed in the world that "bridge of souls and servers" which will make possible the merging of the inner subjective Hierarchy of souls and the outer world of humanity. This will constitute an actual fusion or blending and will mark the initiation of the human family through the achievement of its foremost pioneering members. This is the true "marriage in the Heavens " of which mystical Christianity speaks and the result of this fusion will be the manifestation of the fifth kingdom in nature, the kingdom of God. In the past history of the race, a great event occurred which brought into manifestation the fourth kingdom in nature, the human kingdom. We stand now on the verge of a similar but still more momentous event—the appearance of the fifth kingdom, as a result of the planned activity of the New Group of World Servers, working in collaboration with the Hierarchy of perfected souls, and under the guidance of the Christ Himself. This will usher in the New Age wherein five kingdoms in nature will be recognised as existing side by side upon earth.

Bắt nguồn từ sự tích hợp của đoàn người mới này, trên thế giới đang hình thành "cầu nối của những linh hồn và những phụng sự viên" vốn có thể giúp hợp nhất giữa Thánh đoàn của những linh hồn ẩn tàng bên trong và thế giới bên ngoài của nhân loại. Điều này sẽ tạo thành một sự dung hợp hoặc hòa trộn thực sự và sẽ đánh dấu sự điểm đạo của gia đình nhân loại thông qua thành tựu của các thành viên tiên phong hàng đầu. Đây là "cuộc hôn nhân trên Thiên đàng" thực sự mà Thiên Chúa giáo huyền bí nói, và kết quả của sự hợp nhất này sẽ là sự biểu hiện của giới thứ năm trong tự nhiên, Thiên giới. Trong lịch sử của nhân loại, một sự kiện lớn đã xảy ra làm xuất hiện giới thứ tư trong tự nhiên, giới nhân loại. Bây giờ chúng ta đang đứng trước một sự kiện tương tự sắp xảy ra nhưng quan trọng hơn nhiều — sự xuất hiện của giới thứ năm, là kết quả của hoạt động đã được lên kế hoạch của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian, làm việc với sự cộng tác của Thánh đoàn các linh hồn hoàn thiện, và dưới sự dẫn dắt của chính Đức Christ. Điều này sẽ mở ra Kỷ Nguyên Mới, trong đó năm giới trong tự nhiên sẽ được thừa nhận là tồn tại cùng nhau trên trái đất.

You have, therefore, been permitted to share in and watch the work of the Hierarchy to the extent of your individual spiritual contact and have seen the following spiritual events taking place:

Do đó, các bạn được phép chia sẻ và quan sát công việc của Thánh đoàn trong phạm vi tiếp xúc tinh thần của cá nhân các bạn và thấy các sự kiện tinh thần đang diễn ra sau đây:

1. The sending forth of the teaching for the New Age. This deals with the new psychology and with the control of the personality and with the Mysteries of the Kingdom of God.

1. Việc tuôn đổ giáo lý cho Kỷ Nguyên Mới. Giáo lý này đề cập tới tâm lý học mới với sự kiểm soát phàm ngã và với những Bí nhiệm của Thiên giới.

2. The founding in embryo of those schools of esotericism which will embody the teaching for the new discipleship and make it practical in application. There are several of these schools and the Arcane School is one of the first. They prepare the way for the greater foundations, outlined in my book, Letters on Occult Meditation.

2. Sự thành lập ở dạng phôi thai những trường nội môn vốn sẽ là hiện thân của giáo lý giảng dạy cho con đường đệ tử mới và áp dụng giáo lý ấy trong thực tiễn. Có một số trường như thế, và Trường Arcane là một trong những trường đầu tiên. Các trường này chuẩn bị con đường cho những nền tảng vĩ đại hơn, được nêu trong cuốn sách của tôi, Thư về tham thiền huyền môn.

3. The recognition on a fairly large scale of the New Group of World Servers and their work.

3. Sự công nhận trên quy mô khá lớn của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và công việc của họ.

[33]

[33]

4. The emergence—as yet only in symbolic indication—of the fifth or spiritual kingdom.

4. Sự xuất hiện — hiện vẫn chỉ là dấu hiệu tượng trưng — của giới thứ năm hoặc giới tinh thần.

5. The forming of the skeleton structure of the new groups of disciples, the externalisation in embryo of the inner Ashrams. These in the New Age will multiply and so carry forward the work of integrating the inner and the outer groups and fostering the growth of the Kingdom of God on earth. This will bring to public attention the fact of the restoration of the Mysteries of Initiation.

5. Sự hình thành bộ khung của các nhóm đệ tử mới, sự ngoại hiện phôi thai của các Đạo viện ở nội giới. Những điều này trong Kỷ Nguyên Mới sẽ nhân lên và do đó tiếp tục công việc hợp nhất các nhóm bên trong và bên ngoài và thúc đẩy sự phát triển của Thiên giới trên trái đất. Điều này sẽ thu hút sự chú ý của công chúng về sự khôi phục các Bí nhiệm Điểm đạo.

The production of the outer form on earth, through the medium of books, of esoteric schools and the educating of public opinion has been committed to a group of us who form a part of the inner world government—disciples and initiates—and to this group, I play the part of secretary and of organising contact man—if I may use words which will mean something to your ears, versed as you are in physical plane organisation work; they mean little or nothing to us, versed as we are in the work of producing living organisms. This group to which I refer is composed of two oriental initiates (of whom I am one) and of five occidental initiates.

Việc tạo nên cái hình thức ở ngoài thế gian qua trung gian của sách vở, các trường nội môn và việc giáo dục dư luận quần chúng đã được giao phó cho một nhóm chúng tôi gồm các điểm đạo đồ và đệ tử, vốn là một phần của chính quyền nội giới. Và đối với nhóm này, tôi đóng vai trò thư ký và người tổ chức liên lạc — tôi có thể sử dụng những từ này nếu nó có ý nghĩa gì đó với các bạn — những người đã quen với công việc tổ chức trên cõi vật lý; những từ ngữ này hầu như không có ý nghĩa gì đối với chúng tôi, những người đã quen với công việc tạo ra các sinh vật sống. Nhóm mà tôi đề cập đến này bao gồm hai vị điểm đạo đồ phương Đông (mà tôi là một) và năm vị điểm đạo đồ phương Tây.

We will leave now the consideration of this general picture and return to the subject of the specific work that this particular group of my disciples can do.

Bây giờ chúng ta sẽ tạm gác lại việc xem xét bức tranh tổng quát này và quay trở lại chủ đề của công việc cụ thể mà riêng nhóm đệ tử này của tôi có thể làm.

You must avoid the idea that you are working in a unique way and alone. This is not so. There are many today working intelligently with our plans, often isolated and alone. The main requirement in the group work which I seek at this time to emphasise is the most difficult one of a true impersonality. On two points, disciples in the past have ever been emphatic. They have seen and felt the need for reticence, where there is any inner spiritual experience, and have felt that the relating or the discussion of the spiritual and the higher psychic events in their lives produced a sense of loss and was against the occult law.

Các bạn phải tránh ý nghĩ rằng các bạn đang làm việc theo một cách độc đáo và riêng rẽ. Điều này là không đúng. Ngày nay có nhiều người làm việc một cách thông minh với các kế hoạch của chúng tôi, thường đơn độc và riêng rẽ. Yêu cầu chính trong công việc nhóm mà tôi muốn nhấn mạnh tại thời điểm này, một yêu cầu khó nhất đó là tính vô kỷ thực sự. Có hai điểm mà các đệ tử trong quá khứ đã từng chú trọng. Họ đã nhìn thấy và cảm thấy cần phải thận trọng, khi có bất kỳ trải nghiệm tinh thần nào bên trong, và cảm thấy rằng việc tường thuật hoặc thảo luận về các sự kiện tinh thần và tâm lý cao hơn trong cuộc sống của họ gây cho họ cảm giác mất mát và vi phạm định luật huyền bí.

They have equally demanded reticence about their personality lives, about their mistakes and failings, and have demanded it more loudly than the permission to be silent about their soul life. Their demand has been based on a true recognition that the discussion of a spiritual happening with those who do not understand [34] has in it a great deal of danger—the danger of misinterpretation, of glamour and of illusion. The desire for reticence in the personality life is based usually on pride, on a fear of criticism, on terror of being derided, misunderstood and judged; these are all unworthy motives.

Họ cũng yêu cầu sự kín đáo về đời sống cá nhân của họ, về những sai lầm và thất bại của họ, và yêu cầu điều này còn mạnh mẽ hơn việc được phép im lặng về đời sống linh hồn của họ. Nhu cầu của họ dựa trên sự thừa nhận thực sự rằng cuộc thảo luận về một diễn biến tinh thần với những người không hiểu [34] tiềm ẩn rất nhiều mối nguy hiểm — mối nguy hiểu sai, mối nguy của ảo cảm và ảo tưởng. Mong muốn về sự thận trọng trong đời sống phàm ngã thường dựa trên sự kiêu hãnh, sợ bị chỉ trích, sợ bị chế giễu, hiểu lầm và phán xét; đây đều là những động cơ không đáng có.

Among the disciples of the New Age groups and ever in a Master's inner Ashram, there is no need for this theory of reticence. You are co-disciples and co-workers. If any of you have in the past or may in the future become initiates, it will not affect your relation to your fellow-disciples in these groups. The knowledges of initiation cannot be passed on by word of mouth within the initiate ranks, for they are not communicated in speech or by letters. Only those who possess certain transcendental senses can take initiation and should they try to communicate the secrets and mysteries of initiation in symbol or form, you would fail to react to or to understand their meaning.

Trong số các đệ tử của các nhóm thuộc Kỷ Nguyên Mới và từng ở trong Đạo viện bên trong của Chân sư, không cần nguyên lý về sự thận trọng này. Các bạn là đồng môn và là cộng sự. Nếu bất kỳ ai trong số các bạn trong quá khứ hoặc trong tương lai có thể trở thành điểm đạo đồ, điều đó sẽ không ảnh hưởng đến mối quan hệ của mình với các đồng đạo trong những nhóm này. Những hiểu biết về điểm đạo không thể được truyền miệng trong hàng ngũ những điểm đạo đồ, vì chúng không thể được truyền đạt bằng lời nói hoặc văn tự. Chỉ những người sở hữu một số giác quan siêu việt mới có thể nhận điểm đạo và nếu họ cố gắng truyền đạt những bí mật và huyền nhiệm của sự điểm đạo dưới dạng biểu tượng hoặc hình tướng, người ngoài sẽ không thể hiểu được ý nghĩa của chúng.

So, in this group of my disciples, let there be the recognition of unity of thought. Experience, thought, difficulties and problems can be shared, and the cultivation of a sympathetic understanding and of mutual aid in the spiritual life can be developed. Disciples are people of mature years from the standpoint of the soul, and, therefore, the pettinesses of life and small frictional difficulties will not be shared by you with each other. There should be no temptation to waste each other's time in idle talk. It is the broad and general outline of the plan for the outer work of these groups of disciples which should engage your thoughts and communications with each other.

Vì vậy, trong nhóm đệ tử này, hãy có sự thống nhất về tư tưởng. Kinh nghiệm, tư tưởng, những khó khăn và các vấn đề có thể được chia sẻ, và có thể vun bồi sự cảm thông thấu hiểu và tương trợ lẫn nhau trong đời sống tinh thần. Đệ tử là những người trưởng thành từ quan điểm của linh hồn, và do đó, những vụn vặt trong cuộc sống và những khó khăn xích mích nhỏ không nên được chia sẻ với nhau. Không nên lãng phí thời gian của nhau trong những cuộc nói chuyện vô bổ. Các bạn nên dành thời gian để suy nghĩ và trao đổi với nhau về bản phác thảo rộng lớn và tổng quát của kế hoạch cho công việc phụng sự bên ngoài của các nhóm đệ tử này.

The groups planned will be of many different kinds and their work will be diversified and varied. I have for some time desired to write a little more fully about the groups which are forming in the world today, under direction of the Masters. They will gradually make their appearance in the world and fulfil their destined mission. Four of these groups are already formed or in process of forming and the others will gradually be created to meet advancing need.

Các nhóm được dự định sẽ gồm nhiều loại khác nhau và công việc của họ sẽ đa dạng và phong phú. Đã có lúc tôi muốn viết đầy đủ hơn một chút về các nhóm đang hình thành trên thế giới ngày nay, dưới sự chỉ đạo của các Chân sư. Họ sẽ dần xuất hiện trên thế giới và hoàn thành sứ mệnh đã định của họ. Bốn trong số các nhóm này đã được hình thành hoặc đang trong quá trình hình thành và những nhóm khác sẽ dần dần được tạo ra để đáp ứng nhu cầu phát triển.

It is essential that members of these groups have a wider vision than they now have; their membership in any of the [35] groups constitutes an act of service which they are rendering to the work which I and other members of the Hierarchy are carrying forward under the Plan. The individual disciple must not look upon his work as a marvellous opportunity for his own spiritual advancement. All true disciples are equally distinguished by a determination to make the groups successful and all are longing to get as much out of the group work as possible. All are genuinely animated by a desire to serve but also by a general satisfaction over the interest and opportunity offered by the group work. Along with these most normal and right reactions are to be found much ignorance as to the true significance of the work, a good deal of selfish pleasure and some ambition. This is natural, for no perfection is yet to be expected among disciples. If perfection existed, you would all be found working in a different relation to the Great White Lodge.

Điều cần thiết là các thành viên của các nhóm này phải có tầm nhìn rộng hơn tầm nhìn hiện tại; tư cách thành viên của họ trong bất kỳ [35] nhóm nào tạo thành một hành động phụng sự mà họ đang thực hiện cho công việc mà tôi và các thành viên khác của Thánh đoàn đang thực hiện theo Thiên cơ. Cá nhân người đệ tử không được coi công việc của mình như một cơ hội kỳ diệu của chính mình để thăng tiến tinh thần. Tất cả các đệ tử chân chính đều được nhận diện bởi sự quyết tâm làm cho các nhóm thành công, và tất cả đều khao khát hoàn thành được càng nhiều công việc của nhóm càng tốt. Tất cả không những thực sự nhiệt tâm bởi mong muốn phụng sự mà còn bởi sự hài lòng chung về mối quan tâm và cơ hội mà công việc nhóm mang lại. Cùng với những phản ứng bình thường và đúng đắn nhất này, cũng có nhiều sự thiếu hiểu biết về ý nghĩa thực sự của công việc, còn ưa thích niềm vui sướng ích kỷ và tham vọng. Điều này là tự nhiên, vì chưa thể mong đợi sự hoàn hảo nào trong các đệ tử. Nếu sự hoàn hảo tồn tại, tất cả các bạn sẽ được tìm thấy đang làm việc trong một mối quan hệ khác với Đại Bạch Giai Đoàn.

In order to clarify this group work which the Hierarchy plans and enable you to grasp the intent clearly, I will tell you something of the purpose which lies behind the groups and of the general plan into which it is desired that they fit. In the early stages of any hierarchical experiment, much difficulty is encountered, owing to the material with which the initiating agents (such as myself) have to work. Any new idea, especially if it embodies a purpose which can only materialise later when the Plan is further perfected, fails naturally to meet with full comprehension in the early stages.

Để làm rõ công việc nhóm mà Thánh đoàn lập kế hoạch và cho phép các bạn nắm bắt được mục đích một cách rõ ràng, tôi sẽ cho các bạn biết một vài điều về mục đích vốn nằm đằng sau các nhóm và kế hoạch chung mà họ phù hợp. Trong giai đoạn đầu của bất kỳ thử nghiệm nào của Thánh đoàn, sẽ gặp rất nhiều khó khăn, do chất liệu mà các tác nhân khởi xướng (chẳng hạn như tôi) phải làm việc. Bất kỳ ý tưởng mới nào, đặc biệt nếu nó thể hiện một mục đích chỉ có thể thành hiện thực khi Thiên Cơ được hoàn thiện hơn nữa, đương nhiên sẽ không đạt được sự hiểu biết đầy đủ trong giai đoạn đầu.

I have said that these groups constitute an experiment. This experiment is fourfold in nature and a concise statement about it may prove helpful.

Tôi đã nói rằng những nhóm này hình thành một cuộc thử nghiệm. Thử nghiệm này có bản chất tứ phân và một tuyên bố ngắn gọn về nó có thể hữu ích.

I. They are an experiment in founding or starting focal points of energy in the human family through which certain energies can flow into the entire race of men

I. Các nhóm là một thí nghiệm trong việc hình thành hoặc bắt đầu các tụ điểm năng lượng trong gia đình nhân loại mà qua đó một số năng lượng nhất định có thể tuôn đổ vào toàn bộ loài người.

II. They are an experiment in inaugurating certain new techniques in work and in modes of communication. I would point out that in these last three words are summed up the whole story. These groups are intended to facilitate interrelation or communication as follows:

II. Các nhóm là một thử nghiệm trong việc khai thác một số kỹ thuật mới nhất định trong công việc và trong các phương thức giao tiếp. Tôi sẽ chỉ ra rằng ba từ sau cùng này đã tóm gọn toàn thể sự việc. Các nhóm này được định hướng là tạo điều kiện thuận lợi cho sự tương tác hoặc giao tiếp như sau:

1. There is a group of what we might call Telepathic Communicators. These people are receptive to impression from the Masters and from each other; they are the [36] custodians of group purpose and, therefore, closely related to all the other types of groups. Their work is largely on the mental plane and they work in and with thought matter and with the reception and direction of thought currents. They are also working at the facilitation of communication between individuals so that the rules and methods whereby speech can be transcended may become known and the new way of intercourse be brought about. Communication will eventually be:

1. Có một nhóm mà chúng ta có thể gọi là Những Nhà Giao Tiếp Viễn cảm. Những người này dễ tiếp thu ấn tượng từ các Chân sư và giữa họ với nhau; họ là [36] người nắm giữ mục đích nhóm và do đó, có quan hệ mật thiết với tất cả các loại nhóm khác. Công việc của họ phần lớn là trên cõi trí tuệ và họ làm việc với các chất liệu tư tưởng, với việc tiếp nhận và định hướng các dòng tư tưởng. Họ cũng đang làm việc để hỗ trợ giao tiếp giữa các cá nhân để các quy luật và phương thức vượt lên trên lời nói có thể được truyền đi và cách thức giao tiếp mới được tạo ra. Cuối cùng giao tiếp sẽ là:

a. Soul to soul on the higher levels of the mental plane. This involves complete alignment, so that soul-mind-brain are completely at-one.

a. Linh hồn đến linh hồn trên các cấp độ cao hơn của cõi trí tuệ. Điều này liên quan đến sự chỉnh hợp hoàn toàn, để linh hồn-thể trí-não bộ hoàn toàn hợp nhất với nhau.

b. Mind to mind on the lower levels of the mental plane. This involves the complete integration of the personality or lower self, so that mind and brain are at-one.

b. Thể trí đến thể trí trên các cấp độ thấp hơn của cõi trí. Điều này liên quan đến sự tích hợp hoàn toàn của phàm ngã hoặc cái tôi thấp hơn, để thể trí và não bộ hợp nhất với nhau.

Disciples must remember these two distinctive contacts and bear in mind also that the greater contact need not necessarily include the lesser. Telepathic communication between the different aspects of the human being is entirely possible at varying stages of unfoldment.

Các đệ tử phải ghi nhớ hai liên hệ đặc biệt này và cũng ghi nhớ rằng liên hệ lớn hơn không nhất thiết phải bao gồm liên hệ nhỏ hơn. Giao tiếp viễn cảm giữa các khía cạnh khác nhau của con người là hoàn toàn có thể xảy ra ở các giai đoạn khai mở khác nhau.

2. Another group is that of the Trained Observers. Their objective is to see clearly through all events, through space and time by means of the cultivation and use of the intuition. They work very largely on the astral plane at the dissipation of glamour, thus bringing in illumination to mankind. Thus another type of energy is brought into play, producing another type of interrelation and communication. This communication is between the plane which is the plane of illumination and pure reason (the buddhic plane) and the plane of illusion and glamour, which is the astral plane. The Trained Observers are asked to remember that their great task is to dispel the world illusion through the pouring in of light. When there are a sufficient number of groups, working along these lines, there will be found—upon the physical plane—certain channels of communication which will act as the mediators between the world of light and the world [37] of illusion. They will be transmitters of that form of energy which will break up the existing glamours and illusions, and so dissipate the ancient deceptive thoughtforms. They will release the light and peace which will illumine the astral plane and dispel the illusory nature of its life.

2. Một nhóm khác là của Những Nhà Quan Sát Lão Luyện. Mục tiêu của họ là nhìn rõ mọi sự kiện, xuyên qua không gian và thời gian bằng cách trau dồi và sử dụng trực giác. Họ hoạt động rộng khắp trên cõi cảm dục để xua tan ảo cảm, do đó mang lại sự khai sáng cho nhân loại. Do đó, một loại năng lượng khác được phát huy tác dụng, tạo ra một loại liên hệ và giao tiếp khác. Sự giao tiếp này là giữa cõi của sự soi sáng và lý trí thuần khiết (cõi bồ đề) và cõi của ảo tưởng và ảo cảm, vốn là cõi cảm dục. Các Nhà Quan Sát Lão Luyện được nhắc phải nhớ rằng nhiệm vụ lớn lao của họ là xua tan ảo tưởng thế gian thông qua việc tuôn chảy ánh sáng. Khi có đủ số lượng nhóm, hoạt động theo những đường lối này, trên cõi vật chất có một số kênh liên lạc nhất định sẽ hoạt động như những người trung gian giữa thế giới ánh sáng và thế giới ảo tưởng [37]. Họ sẽ là những người truyền chuyển dạng năng lượng đó vốn sẽ phá vỡ những ảo cảm và ảo tưởng hiện có, đồng thời xua tan những hình tư tưởng cổ xưa có tính chất lừa phỉnh. Họ sẽ giải phóng ánh sáng và bình an để chiếu sáng cõi cảm dục và xua tan đi bản chất hão huyền trong đời sống của cõi này.

3. The third group is that of the Magnetic Healers. These healers have no relation to the work of the so-called magnetic healers of today. They work intelligently with the vital forces of the etheric body. Much of their work is dealt with in the fourth volume of A Treatise on the Seven Rays. This group of healers must bring about the right healing of the personalities of individuals in all aspects of their nature. The work to be done is that of the intelligent transmission of energy to various parts of the nature—mental, emotional and physical—through the right organisation and circulation of force. Present day healers should endeavour to break loose from the modern and traditional ideas as to healing; they should recognise the stupendous fact that healing must eventually be carried forward by groups which will act as the intermediaries between the plane of spiritual energy (either soul energy, intuitional energy or will energy) and the patient or group of patients. Note this last point. The group idea must always be remembered by the students as they work; they must not work as individuals but as units in a coherent whole. This will distinguish the New Age methods from the past, for the work will be group work and, usually, for a group. Magnetic healers must learn to work as souls and not as individuals. They must learn to communicate healing energy from the reservoir of living force to the patient or patients.

3. Nhóm thứ ba là của Những Nhà Chữa Lành Từ Tính. Những nhà chữa lành này không liên quan đến công việc của những người được gọi là người chữa lành bằng từ tính ngày nay. Họ làm việc một cách thông minh với các sinh lực của thể dĩ thái. Phần lớn công việc của họ được diễn tả trong tập thứ tư của bộ Luận về Bảy Cung. Nhóm những nhà chữa lành này phải mang lại sự chữa lành đúng đắn cho phàm ngã của các cá nhân trong tất cả các khía cạnh thuộc bản chất của họ. Công việc cần làm là truyền năng lượng một cách thông tuệ đến các bộ phận khác nhau trong bản chất của họ — trí tuệ, cảm xúc và thể chất — thông qua việc tổ chức và lưu thông các mãnh lực một cách đúng đắn. Những nhà chữa lành ngày nay nên cố gắng thoát khỏi những ý tưởng hiện đại và truyền thống về chữa lành; họ nên nhìn nhận một sự kiện kỳ diệu là việc chữa lành cuối cùng phải được tiến hành bởi các nhóm sẽ đóng vai trò trung gian giữa cõi năng lượng tinh thần (năng lượng linh hồn, năng lượng trực giác hoặc năng lượng ý chí) và bệnh nhân hoặc nhóm bệnh nhân. Lưu ý điểm cuối cùng này. Ý tưởng nhóm phải luôn được môn sinh ghi nhớ khi làm việc; họ không được làm việc với tư cách cá nhân mà là các đơn vị trong một tổng thể thống nhất. Điều này sẽ phân biệt các phương pháp trong Kỷ Nguyên Mới với trước đây, vì công việc sẽ là công việc nhóm và thông thường là làm cho một nhóm. Những nhà chữa lành bằng từ tính phải học cách làm việc như những linh hồn chứ không phải như một cá nhân. Họ phải học cách truyền năng lượng chữa lành từ nguồn mãnh lực sự sống cho bệnh nhân hoặc các bệnh nhân.

4. The Educators of the New Age will come next. Their service is along the line of culture and they will work to bring in the new type of education. Their emphasis will be upon the building of the antahkarana and upon the use of the mind in meditation. Again—much of this new educational science will be given in the fifth volume of the series. They will act as communicators and [38] transmitters of two aspects of divine energy—knowledge and wisdom. These must be thought of in terms of energy. This fourth group (whose work is concerned with the education of the masses) is a direct intermediary between the higher mind and the lower mind. They are concerned with the building of the antahkarana and their task is that of linking the three points of mental focus—the higher mind, the soul and the lower mind—so that there may be established a group antahkarana between the kingdom of souls and the world of men.

4. Kế tiếp là nhóm Những Nhà Giáo dục Trong Kỷ Nguyên Mới. Họ phụng sự theo đường lối văn hóa và họ sẽ làm việc để mang lại loại hình giáo dục mới. Họ sẽ nhấn mạnh vào việc xây dựng cầu antahkarana và sử dụng thể trí trong tham thiền. Một lần nữa — phần lớn khoa học giáo dục mới này sẽ được đưa ra trong tập thứ năm của bộ sách. Họ sẽ đóng vai trò là người giao tiếp và [38] người truyền tải hai khía cạnh của năng lượng thiêng liêng — kiến thức và minh triết. Những khía cạnh này phải được hiểu theo quan điểm năng lượng. Nhóm thứ tư này (có công việc liên quan đến việc giáo dục quần chúng) là trung gian trực tiếp giữa thượng trí và hạ trí. Họ quan tâm đến việc xây dựng cầu antahkarana, và nhiệm vụ của họ là liên kết ba điểm tập trung trí tuệ — thượng trí, linh hồn và hạ trí — để có thể thành lập một antahkarana nhóm giữa cõi giới linh hồn và thế giới loài người.

5. The fifth group will be that of the Political Organisers and will concern itself with political factors in every nation. They will work in the world of human government, dealing with the problems of civilisation and with the relationships existing between nations. The bringing about of international understanding will be their major objective. This group communicates the "quality of imposition," and an authority that is lacking in the other branches of this divine group activity. This work is largely first ray work. It will embody the method whereby the divine Will works out in the consciousness of races and nations. Members of this group will have much first ray energy in their equipment. Their work is to act as channels of communication between the department of the Manu and the race of men. It is a noble task, my brothers, to be channels for the will of God.

5. Nhóm thứ năm sẽ là nhóm của Những Nhà Tổ chức Chính trị và sẽ quan tâm đến các yếu tố chính trị ở mọi quốc gia. Họ sẽ làm việc trong thế giới của chính quyền nhân loại, giải quyết các vấn đề của nền văn minh và các mối quan hệ hiện có giữa các quốc gia. Mục tiêu chính của họ là thúc đẩy sự hiểu biết quốc tế. Nhóm này truyền đạt "phẩm tính áp đặt" và uy quyền vốn là những gì còn thiếu trong các nhánh khác của hoạt động nhóm thiêng liêng này. Công việc này phần lớn là công việc thuộc cung một. Nó sẽ thể hiện phương pháp mà nhờ đó Ý chí thiêng liêng được biểu lộ trong tâm thức của các chủng tộc và các quốc gia. Các thành viên của nhóm này sẽ có nhiều năng lượng cung một trong vận cụ của họ. Công việc của họ là hoạt động như các kênh liên lạc giữa ngành của Đức Bàn Cổ và loài người. Hỡi các huynh đệ của tôi, làm đường vận hà cho ý chí của Thượng Đế là một nhiệm vụ cao cả.

6. The workers in the Field of Religion form this group. Their work is to formulate the universal platform of the new world religion. It is a work of loving synthesis and it will emphasize the unity and the fellowship of the spirit. This group is, in a pronounced sense, a channel for the activity of the second Ray of Love-Wisdom, that of the World Teacher—an office held at present by the Christ. The platform of the new world religion will be built by the many groups, working under the inspiration of the Christ and the influence of the second ray and these—in their totality—will constitute this sixth group.

6. Những nhà hoạt động trong Lĩnh Vực Tôn giáo hình thành nên nhóm này. Công việc của họ là đặt nền tảng phổ quát cho tôn giáo thế giới mới. Nó là một công việc của sự tổng hợp đầy yêu thương, và nó sẽ nhấn mạnh sự hợp nhất và tình bằng hữu tinh thần. Theo một ý nghĩa rõ ràng, nhóm này là một vận hà cho hoạt động của Cung hai Bác ái-Minh triết của Đức Chưởng Giáo — một chức vụ hiện nay do Đức Christ nắm giữ. Nền tảng của tôn giáo thế giới mới sẽ được xây dựng bởi nhiều nhóm hoạt động dưới sự hướng dẫn của Đức Christ và ảnh hưởng của cung hai và toàn thể các nhóm này nói chung sẽ tạo thành nhóm thứ sáu.

[39]

[39]

7. The seventh group is that of the Scientific Servers. They will reveal the essential spirituality of all scientific work which is motivated by love of humanity and its welfare, which relates science and religion and brings to light the glory of God through the medium of His tangible world and His works. They have a most interesting function but one which will not become evident for a long time—not until the building forces of the universe are better understood. This will be co-incident with the development of etheric vision. This group will act as a channel of communication or intermediary between the energies which constitute the forces which construct the forms and fabricate the outer garment of Deity and the human spirits. You will note here, consequently, the possibility that this group's main initial work will be concerned with the problem of reincarnation. That problem deals with the taking of an outer garment or form under the Law of Rebirth.

7. Nhóm thứ bảy là Những Người Phụng Sự Khoa Học. Họ sẽ tiết lộ tinh thần thiết yếu của tất cả các công việc khoa học được thúc đẩy bởi tình yêu thương nhân loại và phúc lợi của nó, vốn nối liền khoa học và tôn giáo và mang đến ánh sáng vinh quang của Thượng Đế qua phương tiện của thế giới hữu hình và các công trình của Ngài. Họ có một chức năng vô cùng lý thú nhưng nó sẽ không trở nên rõ ràng trong một thời gian dài — cho đến khi các mãnh lực xây dựng của vũ trụ được hiểu rõ hơn. Điều này sẽ xảy ra đồng thời với sự phát triển của tầm nhìn dĩ thái. Nhóm này sẽ hoạt động như một kênh truyền thông hoặc trung gian giữa các năng lượng tạo thành các mãnh lực xây dựng các hình thể và chế tác lớp vỏ biểu lộ ngoại tại của Đấng Cao cả và tinh thần con người. Do đó, các bạn sẽ lưu ý ở đây rằng khả năng công việc ban đầu chính của nhóm này sẽ liên quan đến vấn đề luân hồi. Vấn đề đó liên quan đến việc khoác lấy một lớp vỏ bọc ngoài hay hình tướng theo Luật Tái sinh.

8. The Psychologists will form this next group and they will be concerned with the revelation of the fact of the soul and with the new psychology which will be based upon the seven ray types and the new esoteric astrology. Their major task will be to relate, through approved techniques, the soul and the personality, leading to the revelation of divinity through the medium of humanity. They will act also as transmitters of illumination between groups of thinkers and as illuminators of group thought. They transmit energy from one thought centre to another and, above everything else, they transmit the energy of ideas. The world of ideas is a world of dynamic force centres. Let this not be forgotten. These ideas have to be contacted and noted and their energy has to be assimilated and transmitted.

8. Những Nhà Tâm Lý Học sẽ thành lập nhóm tiếp theo này và họ sẽ quan tâm đến việc tiết lộ sự thật về linh hồn và tâm lý học mới vốn dựa trên bảy loại cung và chiêm tinh bí truyền mới. Thông qua các kỹ thuật đã được chấp thuận, nhiệm vụ chính của họ sẽ liên hệ giữa linh hồn và phàm ngã, dẫn đến sự khai mở về tính chất thiêng liêng của Thượng Đế thông qua trung gian của con người. Họ cũng sẽ hoạt động như những người truyền ánh sáng giữa các nhóm nhà tư tưởng và như những người chiếu sáng tư tưởng nhóm. Họ truyền năng lượng từ trung tâm tư tưởng này sang trung tâm tư tưởng khác, và trên hết, họ truyền năng lượng của các ý tưởng. Thế giới ý tưởng là thế giới của các trung tâm lực năng động. Đừng quên điều này. Những ý tưởng này phải được tiếp xúc và ghi nhận và năng lượng của chúng phải được hấp thụ và truyền đi.

9. This ninth group will be composed of Financiers and Economists. They will work with the energies and forces which express themselves through the interchange and the values of commerce; they will deal with the Law of Supply and Demand and with the great principle of Sharing which ever governs divine purpose. They will [40] be the great psychometrical workers, for a psychometrist is one whose soul is sensitive to the soul in others and in all forms of life. The principle of Sharing which must govern economic relations in the future is a soul quality or energy and hence their work of relating soul with soul. They also evoke the soul of the past, linking it with the present and finding it likewise indicative of the future.

9. Nhóm thứ chín này sẽ bao gồm Những Nhà Tài Chính và Kinh Tế. Họ sẽ làm việc với những năng lượng và mãnh lực thể hiện bản thân thông qua sự trao đổi và các giá trị của thương mại; họ sẽ làm việc với Định luật Cung và Cầu và với nguyên lý Chia Sẻ vĩ đại luôn chi phối mục đích thiêng liêng. Họ [40] sẽ là những nhà trắc tâm vĩ đại, vì một nhà trắc tâm là người có linh hồn nhạy cảm với linh hồn của người khác và của mọi dạng sống. Nguyên tắc Chia sẻ vốn phải chi phối các mối quan hệ kinh tế trong tương lai là một phẩm chất hay năng lượng linh hồn, và do đó công việc của họ là liên hệ giữa các linh hồn với nhau. Họ cũng gợi lên linh hồn của quá khứ, liên kết nó với hiện tại và cũng nhìn thấy nó là dấu hiệu của tương lai.

10. This is the group of Creative Workers. They are communicators between the third aspect of Divinity, the Creative Aspect—as it expresses itself through the creative work and in response to the thought world—and the first aspect, Life. They link and blend life and form creatively. They are closely related to the ninth group because today, unknowingly and without any true understanding, they are bringing about a concretisation of the energy of desire; this in its turn brings about the creation of things. Incidentally, therefore, they are concerned with the concretisation of money. Their work is also largely philosophical and concerned with the task of relating—factually and scientifically—the other nine types of groups so that they may work creatively upon the physical plane and the divine Plan may clearly appear as a result of this synthesis which they bring about.

10. Đây là nhóm của Những Người Hoạt Động Sáng tạo. Họ là những người giao tiếp giữa trạng thái Thiêng Liêng thứ ba, Khía cạnh Sáng tạo — vì khía cạnh này thể hiện bản thân thông qua công việc sáng tạo và phản ứng với thế giới tư tưởng — và trạng thái thứ nhất, tức Sự sống. Họ liên kết và hòa trộn sự sống với hình tướng một cách sáng tạo. Họ có liên hệ mật thiết với nhóm thứ chín bởi vì ngày nay trong sự vô thức và không có hiểu biết đúng đắn nào, họ đang mang lại việc cụ thể hóa năng lượng của ham muốn; đến lượt nó, điều này lại mang đến sự sáng tạo của mọi thứ. Do đó, một cách ngẫu nhiên họ quan tâm đến việc cụ thể hóa tiền bạc. Công việc của họ cũng chủ yếu mang tính triết học và liên quan đến nhiệm vụ liên hệ với chín nhóm kia một cách thực tế và khoa học để họ có thể hoạt động sáng tạo trên cõi vật lý và Thiên Cơ thiêng liêng có thể xuất hiện rõ ràng như là kết quả của sự tổng hợp mà họ mang lại.

III. These groups are also an externalisation of an inner existing condition.

III. Các nhóm này cũng là sự ngoại hiện của một trạng thái tồn tại bên trong.

They are an effect and not a cause. That they themselves may have an initiatory effect (as they work out into manifestation upon the physical plane) is no doubt true; but they are themselves the product of an inner activity and of a subjective aggregation of forces which must perforce become objective. The work of the disciples who find their place in these various groups is to keep in close rapport with ten inner groups which form, nevertheless, one large active group. This group force will then pour through all the various groups just in so far as the disciples in the groups do the following things as a group:

Họ là kết quả chứ không phải nguyên nhân. Bản thân họ có thể có tác động khởi đầu (khi họ hoạt động biểu lộ trên cõi vật lý) là điều không còn nghi ngờ gì nữa; nhưng bản thân họ là sản phẩm của một hoạt động bên trong và của một tập hợp các mãnh lực nội tại buộc phải biểu lộ ra bên ngoài. Công việc của các đệ tử có vị trí trong các nhóm khác nhau này là giữ mối quan hệ chặt chẽ với mười nhóm bên trong, vốn dĩ, tuy vậy,, tạo thành một nhóm lớn hoạt động tích cực. Mãnh lực nhóm này sau đó sẽ tuôn đổ xuyên qua tất cả các nhóm khác khi các đệ tử trong các nhóm làm những việc sau đây như một nhóm:

1. Keep en rapport with the inner source of power.

1. Giữ sự liên lạc với cội nguồn sức mạnh bên trong.

2. Never lose sight of the group objective.

2. Không bao giờ đánh mất mục tiêu của nhóm.

[41]

[41]

3. Cultivate the dual capacity to apply the laws of the soul to the individual life and the laws of the group to group life.

3. Trau dồi năng lực kép để áp dụng các định luật của linh hồn vào đời sống cá nhân và các định luật nhóm vào đời sống nhóm.

4. Use all the forces which may flow into the group in service; they must learn, therefore, to register those forces and use them correctly. The hints given below as to the centres which these ten groups will use must be studied. The right use of these centres will take place only when there is a greater group unity established among the members of the individual groups and among the groups as a whole. You ask why is this so, my brothers? Because the force flowing in might prove too strong for the individual disciple to handle alone, but the force is shared by the group if there is complete group at-one-ment. In this way, each disciple can serve the group and his objective eventually becomes:

4. Sử dụng tất cả các mãnh lực có thể tuôn đổ vào nhóm đang phụng sự; do đó, họ phải học cách tiếp nhận các mãnh lực đó và sử dụng chúng đúng cách. Các gợi ý dưới đây về các trung tâm mà mười nhóm này sẽ sử dụng phải được nghiên cứu. Việc sử dụng đúng các trung tâm này sẽ chỉ diễn ra khi có sự hợp nhất nhóm lớn lao hơn được thiết lập giữa các thành viên của các nhóm riêng lẻ và giữa các nhóm như một tổng thể. Các huynh đệ có thể hỏi tại sao lại như vậy? Bởi vì mãnh lực truyền vào có thể chứng tỏ là quá mạnh để từng đệ tử có thể xử lý một mình, nhưng lực được chia sẻ bởi cả nhóm nếu có sự hợp nhất tập thể hoàn toàn. Bằng cách này, mỗi đệ tử có thể phụng sự nhóm và mục tiêu của y cuối cùng trở thành:

a. At-one-ment with his group brothers.

a. Hợp nhất với các huynh đệ trong nhóm của mình.

b. Alignment with his soul and with the inner group which is the subjective cause of the outer groups.

b. Chỉnh hợp với linh hồn y và với nhóm bên trong vốn là nguyên nhân chủ quan của những nhóm bên ngoài.

c. The expression of the particular technique which his group should eventually embody.

c. Biểu lộ kỹ thuật cụ thể mà nhóm của y cuối cùng nên thực hiện.

The groups will use the following centres in their work:

Các nhóm sẽ sử dụng các trung tâm sau trong công việc của họ:

Group 1.—The head, heart and throat centres

Nhóm 1. — Trung tâm đầu, tim và cổ họng.

Group 2.—The head, heart and solar plexus centres.

Nhóm 2. — Trung tâm đầu, tim và tùng thái dương.

Group 3.—The head, heart and ajna centres.

Nhóm 3. — Trung tâm đầu, tim và ajna.

Group 4.—The head, ajna and throat centres.

Nhóm 4. — Trung tâm đầu, ajna và cổ họng.

Group 5.—The head and heart centres and the centre at the base of the spine.

Nhóm 5. — Trung tâm đầu và tim và trung tâm ở đáy cột sống.

Group 6.—The head, heart and solar plexus centres. This is necessarily thesame as in Group 2.

Nhóm 6. — Trung tâm đầu, tim và tùng thái dương. Điều này nhất thiết phải giống như trong Nhóm 2.

Group 7.—The head, throat and sacral centres

Nhóm 7. — Trung tâm đầu, cổ họng và xương cùng.

Group 8.—The head, heart, solar plexus and throat centres. This group of disciples will be the first to use four centres in their work as they are in a curious sense, the mediators of thought between the other groups. They are peculiarly a linking group.

Nhóm 8. — Trung tâm đầu, tim, tùng thái dương và cổ họng. Nhóm đệ tử này sẽ là những người đầu tiên sử dụng bốn trung tâm trong công việc của họ vì họ là những người trung gian tư tưởng giữa các nhóm khác. Họ là một nhóm liên kết đặc biệt.

[42]

[42]

Group 9.—The head, heart, throat and sacral centres.

Nhóm 9. — Trung tâm đầu, tim, cổ họng và xương cùng.

Group 10.—The head, heart, sacral centres and the centre at the base of the spine.

Nhóm 10. — Trung tâm đầu, tim, xương cùng và trung tâm ở đáy cột sống.

I wonder, my brothers, if the following sequence of statements will convey anything to your minds? It is a statement of fact and is not the least symbolic in its terminology—except in so far as all words are inadequate symbols of inner truths.

Tôi tự hỏi, các huynh đệ của tôi, các tuyên bố tuần tự sau đây có truyền tải điều gì vào trong trí của các bạn không? Nó là một tuyên bố về sự việc thực tế chứ không có ý nghĩa ẩn dụ bóng bẩy — trừ phi cho rằng tất cả các từ ngữ đều là những biểu tượng thiếu sót để diễn đạt đầy đủ các chân lý nội tại.

1. Each group has its inner counterpart.

1. Mỗi nhóm đều có một phản ảnh nội tại tương ứng.

2. This inner counterpart is a completed whole. The outer results are still only partial.

2. Phản ảnh nội tại này là một chỉnh thể đã hoàn thành. Kết quả bên ngoài vẫn chỉ là một phần.

3. These ten inner groups, forming one group, are related to the Ashrams of the Masters and are each of them expressive of or governed by ten laws, embodying the controlling factors in group work. A law is an expression or manifestation of force applied, under the power of thought, by a thinker or group of thinkers.

3. Mười nhóm bên trong này hợp thành một nhóm, có liên quan đến Đạo viện của các Chân sư, và mỗi nhóm biểu hiện hoặc được cai quản bởi mười định luật, vốn thể hiện các yếu tố kiểm soát trong công tác tập thể. Một định luật là một sự thể hiện hoặc biểu lộ của mãnh lực được áp dụng dưới quyền năng của tư tưởng bởi một nhà tư tưởng hoặc một nhóm các nhà tư tưởng.

4. These ten inner groups, embodying ten types of force and working synthetically to express ten laws, are an effort to bring in new and different conditions, and hence produce a new and better civilisation. The Aquarian Age will see consummation.

4. Mười nhóm bên trong này, hiện thân của mười loại mãnh lực và hoạt động tổng hợp để thể hiện mười định luật, là nỗ lực mang lại những tình trạng mới mẻ và khác biệt, và do đó sản sinh ra một nền văn minh mới và tốt hơn. Thời đại Bảo Bình sẽ thấy sự viên mãn.

5. The outer groups are a tentative and experimental effort to see how far humanity is ready for such an endeavour.

5. Các nhóm bên ngoài là một nỗ lực thăm dò và thử nghiệm để xem nhân loại đã sẵn sàng đến mức nào cho sự cố gắng như vậy.

IV. These groups are also an experiment which has for its objective the manifestation of certain types of energy which will, when effectively functioning, produce cohesion or at-one-ment upon earth. The present distraught condition in the world, the international cataclysm and apparent impasse, the religious dissatisfaction, the economic and social upheaval and the appalling effects of war are all the results of energies that are so potent—owing to their immense momentum—that they can only be brought into rhythmic activity by the imposition of stronger and more definitely directed energies.

IV. Các nhóm này cũng là một thí nghiệm mà mục tiêu của nó là biểu hiện một số loại năng lượng nhất định, khi hoạt động hiệu quả sẽ tạo ra sự gắn kết hoặc hợp nhất trên thế gian. Tình trạng hỗn loạn hiện nay trên thế giới, thảm họa quốc tế và sự bế tắc rõ ràng, sự bất mãn về tôn giáo, biến động kinh tế và xã hội và những tác động tàn khốc của chiến tranh, tất cả đều là kết quả của những nguồn năng lượng mạnh mẽ — do động lực lớn của chúng — mà chúng chỉ có thể được đưa vào hoạt động có nhịp điệu bằng cách áp đặt các năng lượng mạnh mẽ hơn và có định hướng rõ ràng hơn.

The groups are intended to work together eventually just as the various departments of a great organisation work effectively together as a unit. They must function smoothly and intelligently within themselves and also in their inter-relation with [43] each other. This will become possible when the individual members in the groups and the individual groups of disciples lose sight of their own identities in an effort to make this hierarchical work possible. In this type of group work, the feelings, reactions, wishes and successes of the individual most emphatically do not count. Only that is regarded as of importance which will further group effort and enrich the group consciousness.

Các nhóm được dự định làm việc cùng nhau cuối cùng cũng giống như các bộ phận khác nhau của một tổ chức lớn làm việc hiệu quả với nhau như một đơn vị. Họ phải hoạt động trơn tru và thông tuệ bên trong chính nhóm của họ và cả trong mối quan hệ với các nhóm khác [43]. Điều này sẽ trở nên khả thi khi từng thành viên đơn lẻ trong các nhóm và từng nhóm đệ tử riêng lẻ quên đi bản sắc riêng của chính họ để nỗ lực làm cho công việc Thánh đoàn trở nên khả thi. Trong loại hình làm việc nhóm này, cảm xúc, phản ứng, mong muốn và thành công của cá nhân tuyệt đối không đáng kể. Chỉ có nỗ lực trợ giúp nhóm và làm phong phú thêm tâm thức nhóm mới là quan trọng.

PART V—PHẦN V

The Hierarchy sanctioned the starting of these groups in the year 1931. The members of these groups have been slowly chosen since then and are endeavouring, since their inclusion in this ashramic work, to work together in complete unity of purpose and of relationship. It may be of interest to you to know a little of how we approached the subject.

Thánh đoàn đã cho phép bắt đầu các nhóm này vào năm 1931. Các thành viên của các nhóm này đã được lựa chọn dần kể từ đó, và kể từ khi tham gia vào công việc của Đạo viện, họ đang nỗ lực để làm việc cùng nhau trong sự thống nhất hoàn toàn về mục đích và tình bằng hữu. Các bạn có thể thích thú khi biết một chút về cách chúng tôi tiếp cận chủ đề này.

As you all know, I am a second ray disciple, an initiate of a certain standing—the grade of which in no way concerns you, though many of you have personally and interiorly ascertained who I am. If the teaching which I have given you and the books which I have given to the world do not suffice to win your confidence and your attention, then knowing that I am an initiate of the third degree, or a Master, or a Boddhisattva or one of the Buddhas close to the Throne of God will in no way aid your comprehension and will only hinder your development. For many lives I have been close to the Master K.H.; in discussion with Him, we have often wondered how we should aid in the inauguration upon earth of those newer types of work which will be distinctive of the New Age and yet would be close enough to the comprehension of the advanced aspirants and the world disciples so that their cooperation would be evoked and their intelligent help forthcoming. What were the requirements for which we should look and what should be the technique to be applied in the New Age for the raising of the consciousness of men? We decided that four things must, first of all, distinguish the group work which should be done and should characterise the disciples to be chosen for training. These were: Sensitivity, Impersonality, Psychic Gifts, Mental Polarisation. I do not make mention of aspiration, of selflessness [44] or of the desire to serve. They are fundamentals and basic essentials and, where they do not exist, there is no use in proffering the type of assistance which we are seeking to give.

Như tất cả các bạn đều biết, tôi là một đệ tử thuộc cung hai, một điểm đạo đồ ở một đẳng cấp nhất định — cấp đẳng này không liên quan gì đến các bạn cả, mặc dù nhiều người trong số các bạn đã tự trong thâm tâm và do sự tiếp xúc cá nhân mà biết tôi là ai. Nếu giáo lý mà tôi đã truyền cho các bạn và những cuốn sách tôi đã truyền cho thế giới không đủ để giành được sự tin tưởng và chú ý của các bạn, thì dù có biết rằng tôi là điểm đạo đồ bậc ba, hoặc một Chân sư, hoặc một vị Bồ tát hoặc một trong những vị Phật gần với Ngôi Thượng Đế cũng không giúp ích gì cho sự hiểu biết mà chỉ cản trở sự phát triển của các bạn. Trong nhiều kiếp tôi có liên hệ mật thiết với Chân sư K.H; trong các cuộc thảo luận với Ngài, chúng tôi thường tự hỏi chúng tôi nên trợ giúp như thế nào trong việc hình thành trên thế gian những loại công tác mới hơn vốn đặc trưng cho Kỷ Nguyên Mới nhưng sẽ đủ gần với sự hiểu biết của những người chí nguyện tiên tiến và các đệ tử thế giới, để khơi dậy sự hợp tác và sự trợ giúp sáng suốt thông minh của họ. Những yêu cầu mà chúng tôi nên xem xét và kỹ thuật nên được áp dụng trong Kỷ Nguyên Mới để nâng cao tâm thức của con người là gì? Chúng tôi quyết định rằng trên tất cả, bốn điều mà công việc nhóm nên làm và nên đặc trưng cho các đệ tử được chọn để huấn luyện là: Sự Nhạy Cảm, Sự Vô Tư, Các Khả Năng Thông Linh, Sự Phân Cực Trí Tuệ. Tôi không đề cập đến khát vọng, vô kỷ [44] hay mong muốn phụng sự. Chúng là những nền tảng và những yếu tố cần thiết cơ bản mà nếu chúng không tồn tại thì thật vô ích khi đề xuất sự giúp đỡ mà chúng tôi đang cố gắng cung cấp.

You will note that, as you look back over the spiritual history of the race of men during the past two thousand years (which is far enough for our purpose), that the following methods have been consecutively used to reach men's minds spiritually:

Các bạn sẽ lưu ý rằng, khi nhìn lại lịch sử phát triển tinh thần của nhân loại trong suốt hai nghìn năm qua (đủ xa đối với mục đích của chúng ta), rằng các phương pháp sau đây đã được sử dụng liên tục để tiếp cận trí tuệ của con người theo một cách tinh thần:

1. The method of raising the consciousness of an individual so that he became a Knower. Individual salvation and the emergence of outstanding individuals with spiritual sense, vision and achievement to their credit has characterised the mystical history of the past. Some of these people emerged along the way of the heart, the mystical way; such were Shri Krishna, St. Francis of Assisi, and all those Knowers whose way was the Way of Love. To these can be added Milarepa of Tibet and Lao Tze of China. Such also have been many of the saints of the church in the West. The Bhagavad Gita has been the book which has embodied this way superlatively.

1. Phương pháp nâng cao tâm thức của một cá nhân để y trở thành một Người Hiểu Biết. Sự cứu rỗi cá nhân và sự xuất hiện của những nhân vật xuất chúng với giác quan tinh thần, tầm nhìn và thành tựu của họ đã đặc trưng cho lịch sử thần bí của quá khứ. Một số người trong số này nổi lên theo đường lối của trái tim, con đường thần bí; đó là Đức Shri Krishna, Thánh Francis of Assisi, và tất cả những Người Hiểu Biết mà con đường của họ là Con Đường Tình Thương. Trong số này có thể kể đến Đức Milarepa của Tây Tạng và Đức Lão Tử của Trung Quốc. Cũng có nhiều vị thánh của giáo hội ở phương Tây. Chí Tôn Ca (Bhagavad Gita) là cuốn sách đã trình bày đường lối này một cách tột bậc.

Others emerged along the way of the mind and were the intellectual Knowers. Theirs is the more strictly occult way and it has become increasingly the way of our present day aspirants. The reason for this is that the polarisation of the race is shifting ever more steadily on to the mental plane. Some of the individuals on this way of the mind were Sankaracharya, the Apostle Paul, and Meister Eckhart. Today, many are coming out along this way under the name of science. There were also those outstanding individuals, such as the Christ and the Buddha, Who combined both ways in their perfection and Who towered above Their fellowmen from the heights of Their achievement. They swayed hemispheres and centuries, whereas the lesser sons of God swayed countries, specific types of mind and lesser periods of time.

Những người khác nổi lên theo con đường của trí tuệ và là những Người Hiểu Biết thông tuệ. Họ theo con đường huyền bí nghiêm ngặt hơn, và nó ngày càng trở thành con đường của những người chí nguyện ngày nay của chúng ta. Lý do cho điều này là sự phân cực của loài người đang dần dần chuyển sang cõi trí. Một số cá nhân đi theo con đường trí tuệ là Đức Sankaracharya, Thánh Paul và Meister Eckhart. Ngày nay, nhiều người xuất hiện trên con đường này dưới danh nghĩa của khoa học. Ngoài ra còn có những cá nhân xuất chúng, chẳng hạn như Đức Christ và Đức Phật đã kết hợp cả hai con đường một cách hoàn hảo và vượt lên trên nhân loại rất xa. Các Ngài gây ảnh hưởng khắp cả các bán cầu và qua nhiều thế kỷ, trong khi những người con khác của Thượng Đế có địa vị thấp hơn gây ảnh hưởng đến các quốc gia, các loại tâm trí cụ thể và trong khoảng thời gian ngắn hơn.

2. The second method employed for raising the consciousness of the race was through groups, gathered around a [45] teacher who (to a greater or less degree) was a focal point of energy either

2. Phương pháp thứ hai được sử dụng để nâng cao tâm thức của nhân loại là thông qua các nhóm, tập hợp xung quanh một [45] huấn sư (ở mức độ cao hoặc thấp) là một điểm tập trung năng lượng:

a. By the power of his soul contact or

a. Bằng quyền năng liên hệ với linh hồn của vị huấn sư hoặc

b. By that contact and being also a channel through which some member of the Hierarchy could work.

b. Bằng cách liên hệ đó và cũng là một vận hà mà thông qua đó một số thành viên của Thánh đoàn có thể hoạt động.

Through the example of these teachers, through their teaching, through their successes and their failures, those whom they gathered to them could be taught, their vibration could be increased, their consciousness expanded and the group could become a magnetised centre of force, of purpose and of spiritual light—the degree of this being dependent upon the purity of the note sounded and the selflessness of the lives shown. The mental calibre of the group also had its effect, for the average vibration and polarisation established the note for the group as a whole.

Thông qua tấm gương của những vị Huấn sư, thông qua giáo lý của họ, thông qua những thành công và thất bại của họ, những người mà họ tập hợp lại có thể được chỉ dạy, rung động của môn sinh có thể được nâng lên, tâm thức của họ được mở rộng và nhóm có thể trở thành một trung tâm từ tính của mãnh lực, của mục đích và của ánh sáng tinh thần — mức độ ảnh hưởng của trung tâm này phụ thuộc vào sự thuần khiết của tần số phát ra và đời sống vị tha vô kỷ của các môn sinh trong nhóm. Phẩm chất trí tuệ của nhóm cũng có ảnh hưởng vì tần số rung động bình quân và sự phân cực sẽ tạo nên âm điệu cho toàn bộ nhóm.

An experiment is now being made to shift the focus of the groups inwards and yet, at the same time, to increase their potency by permitting no individual leader to be found at the group centre upon the outer plane. All in the group are to be gathered together as free souls. Together, they will learn; together, they will stand with impersonality; together, they will render service to the world. You must remember, however, that any person who takes the position that the work to be done is only upon the inner planes and that he is working solely from mental or spiritual levels of consciousness is not right in his conception of the process. Inner work which does not work out into objective activity upon the physical plane is wrongly oriented and inspired.

Một thử nghiệm hiện đang được thực hiện để chuyển trọng tâm của các nhóm vào bên trong và đồng thời tăng cường sức mạnh của họ bằng cách không để cho cá nhân lãnh đạo nào xuất hiện ở trung tâm nhóm trên cõi giới bên ngoài. Tất cả thành viên trong nhóm sẽ tập hợp lại với nhau như những linh hồn tự do. Họ sẽ cùng nhau học hỏi; đứng cùng nhau trong sự vô kỷ; cùng nhau phụng sự thế giới. Tuy nhiên, các bạn phải nhớ rằng bất kỳ người nào cho rằng công việc phải hoàn thành chỉ dựa trên các cõi bên trong và rằng y đang làm việc chỉ từ các cấp độ trí tuệ hoặc tinh thần của tâm thức thì người ấy có quan niệm không đúng. Công việc bên trong mà không thể hiện ra thành hoạt động khách quan trên cõi vật lý là công việc được định hướng và cảm hứng sai lầm.

These new types of groups will work together under the conscious guidance and suggestion of a member of the Great White Lodge. Note the word "suggestion," my brothers. If these groups were subjected to the authority of such a member, then the objective of all the work undertaken would fail to materialize. An occult law would have been broken. Free, intelligent assistance is what we are asking from all our disciples today, and we leave them free to render it or not as they like and in the manner which may seem best to them. I am your teacher. I make suggestion. I offer instruction. I indicate [46] the way to the goal and to the field of service. I point out to you what we, the Teachers upon the inner side, seek to see accomplished. Temporarily and of your own free will, you have indicated your willingness to serve and to cooperate in my plans. Beyond thus indicating the way and the service, I will not go. It is for all of you, my disciples, to work out in joint collaboration and in the closest understanding the way that my suggestions and my hints should be utilised. I do not interfere.

Những nhóm mới này sẽ hoạt động cùng nhau dưới sự hướng dẫn và gợi ý có ý thức của một thành viên trong Đại Bạch Giai Đoàn. Hãy lưu ý từ "gợi ý", các huynh đệ của tôi. Nếu các nhóm này chịu sự áp đặt dưới uy quyền của một thành viên nói trên, thì mục tiêu của tất cả các công việc dự tính sẽ không thành hiện thực vì điều ấy vi phạm một định luật Huyền Môn. Ngày nay sự trợ giúp một cách thông tuệ và tự do là những gì chúng tôi đang yêu cầu từ tất cả các đệ tử, và chúng tôi để cho họ được tự do hợp tác hay không tùy ý muốn và bằng cách nào mà họ cho là tốt nhất. Tôi là huấn sư của các bạn. Tôi đưa ra lời gợi ý. Tôi đưa ra hướng dẫn. Tôi chỉ ra [46] con đường đưa đến mục tiêu và lĩnh vực phụng sự. Tôi chỉ ra cho các bạn những gì mà chúng tôi, những người Thầy ở nội giới, tìm cách hoàn thành. Tạm thời và theo ý chí tự do của mình, các bạn đã thể hiện sự sẵn lòng phụng sự và hợp tác với các kế hoạch của tôi. Tất cả các bạn hãy cố gắng trong sự thấu hiểu gần gũi nhất và hợp tác chung để tự mình tìm ra phương pháp sử dụng những sự gợi ý của tôi. Tôi không can thiệp vào việc đó.

First of all, I call for a deeper love and comprehension between the members of the group. This is necessary in order that the internal structure of the group may be more firmly and closely integrated.

Trước hết, tôi kêu gọi tình yêu thương và sự thấu hiểu sâu sắc hơn giữa các thành viên trong nhóm. Điều này là cần thiết để cơ cấu nội bộ của nhóm có thể được tích hợp vững chắc và chặt chẽ hơn.

Next, you must learn to work on the levels of meditation with greater clarity and power. So much of your meditation work is selfish. Do you realise that? Is not your attitude very often to be expressed in the following terms: When I am meditating, what will the Tibetan give me at this time? Will he give me something which will make me a better disciple? Will the meditation which he may give me interest me more than the one I am now doing? Will a change in meditation bring me better results (probably of a phenomenal kind!) or a new revelation or fresh enlightenment and enable me to achieve my goal? Few of you in this particular group in my Ashram as yet really work in meditation upon those levels where creative work is done. May I point out that until you can begin to do this, the work which I seek to do through all of you is largely at a standstill. The object of any meditation which I may assign to you is to enable you to have power in meditation so that you will no longer be pre-occupied with yourselves and your own problems but you will become unified with your group for group work and eventually for still wider group purposes—my purposes, as your teacher and a world worker and server.

Tiếp theo, các bạn phải học cách làm việc trên các cấp độ tham thiền với quyền năng và sự thuần khiết lớn lao hơn. Công việc tham thiền của các bạn hãy còn nhiều tính chất ích kỷ. Các bạn có nhận ra điều đó không? Phải chăng thái độ của các bạn thường được thể hiện bằng những lời lẽ đại khái như: Khi tôi tham thiền lần này, Chân sư Tây Tạng sẽ ban cho tôi những gì? Liệu Ngài có cho tôi thứ gì đó để khiến tôi trở thành một đệ tử tốt hơn? Liệu phương pháp tham thiền mà Ngài đưa ra cho tôi có làm tôi thích thú hơn điều mà tôi đang làm chăng? Việc thay đổi cách tham thiền có mang lại cho tôi kết quả tốt hơn chăng (có thể là một loại hiện tượng!) hay một sự mặc khải mới hoặc sự giác ngộ mới có thể giúp tôi đạt được mục đích của mình? Trong nhóm đệ tử ở Đạo Viện của tôi, ít có người đã thực sự tham thiền trên các mức độ mà công việc sáng tạo được hoàn thành. Liệu tôi có thể chỉ ra rằng, trừ khi các bạn bắt đầu tham thiền như thế, công việc mà tôi tìm cách thực hiện thông qua tất cả các bạn phần lớn đang bị bế tắc. Mục tiêu của bất kỳ bài tham thiền nào mà tôi chỉ dẫn cho các bạn là cho phép các bạn có sức mạnh trong tham thiền để các bạn không còn bận rộn nghĩ đến mình và các vấn đề của riêng mình, mà các bạn sẽ trở nên hợp nhất với nhóm của mình cho công việc nhóm, và cuối cùng cho các mục đích nhóm được rộng mở hơn nữa — đó cũng là các mục đích của tôi, với tư cách là huấn sư của các bạn và là một người phụng sự thế gian.

With what kind of instrument, therefore, can I now work? Every true teacher asks himself this question as he studies the grouping of souls with which he has associated himself and which he seeks to serve and aid. As integration of the group takes place, the pre-dispositions and the basic tendencies of the massed group qualities emerge and can be studied; weaknesses can then be offset and right indications fostered....

Do đó, bây giờ tôi có thể làm việc với loại khí cụ nào? Mỗi vị huấn sư chân chính đều tự hỏi mình câu hỏi này khi nghiên cứu nhóm các linh hồn mà Ngài liên kết và tìm cách đáp ứng và trợ giúp. Khi sự tích hợp của nhóm diễn ra, các khuynh hướng và đặc điểm cơ bản của các phẩm chất của nhóm đã được tập trung sẽ xuất hiện và có thể được nghiên cứu; những điểm yếu sau đó có thể được sửa đổi và những ưu điểm được bồi dưỡng....

[47]

[47]

I have earlier pointed out to you that the basic qualities for which we look are sensitivity, impersonality, psychic capacity and mental polarisation. Upon these I would like very briefly to enlarge and then I will lay before you (for your understanding interest and possible collaboration) the plans for future group activity. These plans can materialise if you can make the necessary adjustments and submit yourselves to the discipline and the training which will make greatly increased usefulness possible.

Trước đó tôi đã chỉ ra cho các bạn những phẩm chất cơ bản mà chúng tôi tìm kiếm là sự nhạy cảm, tính vô kỉ, khả năng thông linh và phân cực về mặt trí tuệ. Sau đây, tôi muốn nói thêm vắn tắt và trình bày với các bạn các kế hoạch cho hoạt động nhóm trong tương lai để có được sự quan tâm hiểu biết và khả năng cộng tác của các bạn. Những kế hoạch này có thể thành hiện thực nếu các bạn có thể thực hiện những điều chỉnh cần thiết và tự mình tuân theo kỷ luật và sự huấn luyện vốn khả dĩ sẽ làm cho các bạn hữu dụng hơn đáng kể.

I have stated that the first requirement is sensitivity. What exactly is this? It does not mean primarily that you are a "sensitive soul"—the connotation of which usually means that you are thin-skinned, self-centred and always on the defensive! Rather do I refer to the capacity whereby you are enabled to expand your consciousness so that you become aware of ever- widening ranges of contact. I refer to the ability to be alive, alert, keen to recognise relationships, quick to react to need, mentally, emotionally and physically attentive to life and rapidly developing the power to observe upon all three planes in the three worlds simultaneously. I am not interested in your personal relations where they concern your wrong personality sensitivity to depression, to self-pity, your defenses, your so-called sensitivity to slights, to misunderstandings, your dislike of your environing conditions, your hurt pride and qualities of this kind. These all cause you bewilderment and let loose in you the floodgates of compassion for yourself. But you do not need me to deal with them; of them you are well aware and can handle them if you choose. These faults are interesting only in so far as they affect the life of your group; they must be handled by you with care and with the open eye that senses danger from afar and seeks to avoid it. The sensitivity which I want to see developed is alertness to soul contact, impressionability to the "voice of the Teacher," an aliveness to the impact of new ideas and to the delicacy of intuitional responsiveness. These are ever the hallmark of the true disciple. It is spiritual sensitivity which must be cultivated; this is only truly possible when you learn to work through the centres above the diaphragm and to transmute solar plexus activity (which is so [48] dominant in the average person), turning it into heart activity and the service of your fellowmen.

Tôi đã nói rằng yêu cầu đầu tiên là sự nhạy cảm. Điều này chính xác là gì? Chủ yếu nó không có nghĩa là các bạn là một "linh hồn nhạy cảm" với sự hàm nghĩa thông thường là người hay tự ái, tự cho mình là trung tâm và luôn đề phòng! Đúng hơn là tôi đề cập đến khả năng mà nhờ đó các bạn có thể mở rộng tâm thức của mình để nhận thức được phạm vi tiếp xúc ngày càng mở rộng. Tôi đề cập đến khả năng sống động, tỉnh táo, nhạy bén trong việc nhận biết các mối quan hệ, phản ứng nhanh với nhu cầu, chú ý đến đời sống trên các cấp độ trí tuệ, cảm xúc và thể chất, và phát triển nhanh chóng khả năng quan sát đồng thời cả ba cõi trong tam giới. Tôi không quan tâm đến các mối quan hệ cá nhân của các bạn khi chúng liên quan đến sự nhạy cảm sai lầm của phàm ngã như trầm cảm, tự thương hại, bảo vệ bản thân, cái gọi là nhạy cảm của các bạn với sự coi thường, hiểu lầm, sự bất mãn với hoàn cảnh, sự tự tôn bị tổn thương và những tính chất đại loại như vậy. Tất cả những điều này đều khiến các bạn hoang mang và khiến các bạn rơi vào tình trạng ngập tràn sự tự thương xót cho bản thân. Nhưng các bạn không cần tôi giải quyết chúng; các bạn biết rõ và có thể xử lý chúng nếu các bạn muốn. Những lỗi này chỉ đáng quan tâm khi chúng ảnh hưởng đến đời sống nhóm của các bạn; chúng phải được các bạn xử lý cẩn thận với đôi mắt rộng mở để cảm nhận nguy hiểm từ xa và tìm cách tránh nó. Sự nhạy cảm mà tôi muốn thấy được phát triển là sự thức tỉnh khi tiếp xúc với linh hồn, thụ cảm bén nhạy với "tiếng nói của vị Huấn sư", sự sống động trước tác động của những ý tưởng mới và sự tinh tế của khả năng phản ứng trực giác. Đây luôn là dấu hiệu của người đệ tử chân chính. Đó là sự nhạy cảm tinh thần cần phải được trau dồi; điều này chỉ thực sự có thể thực hiện được khi các bạn học cách làm việc thông qua các luân xa phía trên cơ hoành và chuyển đổi hoạt động của luân xa tùng thái dương (vốn [48] chiếm ưu thế ở người bình thường), biến nó thành hoạt động của luân xa tim và phụng sự đồng loại của mình.

Impersonality, particularly for high grade integrated people, is peculiarly difficult to achieve. There is a close relation between impersonality and detachment. Study this. Many cherished ideas, many hard won qualities, many carefully nurtured righteousnesses and many powerfully formulated beliefs militate against impersonality. It is hard for the disciple—during the process of his early training—to hold earnestly to his own ideals and to pursue forcefully his own spiritual integration, and yet remain impersonally oriented towards other people. He seeks recognition of his struggle and achievement; he longs to have the light which he has kindled draw forth a reaction from others; he wants to be known as a disciple; he aches to show his power and his highly developed love nature so that he may evoke admiration or, at least, challenge. But nothing happens. He is looked upon as no better than all the rest of his brothers. Life, therefore, proves dissatisfying.

Tính vô ngã, đặc biệt đối với những người đã tích hợp cấp cao, là phẩm chất rất khó đạt được. Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa tính vô ngã và sự tách rời. Hãy nghiên cứu điều này. Nhiều ý tưởng ôm ấp trong lòng, nhiều đức tính đạt được một cách khó khăn, nhiều điều ngay chính được hàm dưỡng cẩn thận, và nhiều sự tin tưởng được hình thành một cách mạnh mẽ, đều chống lại sự vô ngã. Thật khó cho người đệ tử — trong suốt quá trình huấn luyện ban đầu — để giữ vững lý tưởng của mình một cách nghiêm túc và theo đuổi một cách mạnh mẽ sự chỉnh hợp tinh thần của chính mình, nhưng vẫn hướng về người khác một cách vô ngã. Y muốn những tranh đấu và những thành công của mình được thừa nhận. Y mong muốn ánh sáng y đã thắp sẽ thu hút phản ứng từ người khác. Y muốn được người khác biết rằng y là một đệ tử. Y mong mỏi thi thố quyền năng và biểu lộ tình thương đã mở rộng của mình để được tán thưởng, ngợi khen, hay ít nhất để gây sự thách thức nơi kẻ khác. Nhưng không có gì xảy ra cả. Y được coi là không giỏi hơn tất cả những người huynh đệ còn lại của mình. Do đó, đời sống là một điều bất mãn.

These truths of self-analysis are seldom definitely faced or formulated by any of you and, therefore (because I seek to help you) I formulate them for you and face you with them. It is hard for intelligent men and women to see others closely associated with them dealing with life and problems from a totally different angle to their own—handling them in a weak or stupid way (from the angle of the disciple) and making apparently serious errors in judgment or technique. Yet, brother of old, why are you so sure that you are right and that your point of view is necessarily correct? It may be that your slant on life and your interpretation of a situation needs readjustment and that your motives and attitudes could be more elevated or purer. And even if they are—for you—the highest and the best that you can achieve at any given time, then pursue your way and leave your brother to pursue his. "Better a man's own dharma, than the dharma of another." Thus does the Bhagavad Gita express this truth, telling the disciple to mind his own business.

Những sự thật này ít khi được các bạn đối mặt hay nêu ra để tự phân tích chính mình. Bởi vậy, trên tinh thần giúp đỡ, tôi xin nêu chúng ra cho các bạn đối mặt. Những người thông minh, dù nam hay nữ, không thể nào chịu được khi thấy những người liên hệ mật thiết với mình xử lý các vấn đề trong cuộc sống theo một góc độ hoàn toàn khác với họ. Theo quan điểm của người đệ tử, cách xử lý đó có vẻ thiếu sót hay ngu xuẩn và dường như có những lỗi lầm nặng nề về óc xét đoán hay về kỹ thuật. Tuy nhiên, hỡi các huynh đệ, tại sao các bạn dám chắc rằng mình nghĩ đúng và quan điểm của mình nhất thiết phải chính xác. Có thể rằng quan niệm sống và cách nhận định tình thế của bạn cần được điều chỉnh lại, và những động cơ cùng những thái độ của các bạn có thể cần được nâng cao hoặc trong sáng hơn. Ngay cả khi đối với các bạn đó là những điều cao nhất và tốt nhất mà các bạn đạt được tại thời điểm cụ thể nào đó, thì hãy đi con đường của mình và để cho người khác đi theo con đường của họ. Kinh Bhagavad Gita há chẳng nói lên sự thật này để dạy người đệ tử hãy lo việc mình: “Thà làm đúng thiên trách của mình hơn là làm thiên trách của người khác”.

This attitude of non-interference and the refusal to criticise, in no way prevents service to each other or constructive group relations. It does not negate the expression of love or happy [49] group cooperation. There is ever much opportunity for the practice of impersonality in all group relations. In every group there is usually one group member (and perhaps several) who constitute a problem to themselves and to their group brothers. Perhaps you yourself are such an one and know it not. Perhaps you know who, among your co-servers, provides a testing for his fellows. Perhaps you can see clearly what is the group weakness and who it is that is keeping the group back from finer activity. That is well and good, provided that you continue to love and serve and to refrain from criticism. It is a wrong attitude to seek assiduously to straighten out your brother, to chide him or seek to impose your will on him or your point of view, though it is always legitimate to express ideas and make suggestion. Groups of disciples are groups of free and independent souls who submerge their personal interests in service and who seek that inner linking which will fuse the group into an instrument for the service of humanity and of the Hierarchy. Continue with your own soul discipline and leave your brothers to continue theirs.

Thái độ không can thiệp và từ chối chỉ trích này không ngăn cản việc phụng sự lẫn nhau hoặc những quan hệ nhóm mang tính xây dựng. Nó không phủ nhận việc thể hiện tình yêu thương hay sự hợp tác nhóm [49] một cách vui vẻ. Luôn luôn có nhiều cơ hội cho việc thực hành tính vô ngã trong tất cả các mối quan hệ nhóm. Trong mỗi nhóm thường có một người (và cũng có thể là một số) gây ra vấn đề cho chính họ và cho những người huynh đệ khác trong nhóm của họ. Có lẽ bản thân bạn là một người như vậy mà không hề biết điều đó. Có lẽ bạn biết một người, trong số những người đồng môn phụng sự của bạn, là một thử thách kiểm tra cho các bạn đồng đạo của mình. Có lẽ bạn có thể thấy rõ ràng điểm yếu của nhóm là gì và ai là người đã ngăn trở nhóm hoạt động tốt hơn. Điều đó thì hay và tốt, với điều kiện là bạn tiếp tục yêu thương, phụng sự và không chỉ trích. Thái độ muốn sửa sai huynh đệ của mình một cách kiên trì và ráo riết là sai lầm, mặc dù việc bày tỏ ý kiến và đưa ra đề xuất luôn là điều chính đáng. Các nhóm đệ tử là những nhóm gồm những linh hồn tự do và độc lập, họ nhấn chìm lợi ích cá nhân của mình trong công việc phụng sự và tìm kiếm mối liên kết bên trong để hợp nhất toàn thể nhóm thành một công cụ phụng sự nhân loại và Thánh đoàn. Hãy tiếp tục với kỷ luật linh hồn của mình và để huynh đệ của mình làm phần việc của riêng họ.

The question of psychic powers is not so easy to explain. I do not refer to the lower psychic powers which may or may not develop as time goes on and the need for them arises. I refer to the following capacities, inherent in the soul, which must be developed in all of you if you are to do your share in meeting world need, and work for the Hierarchy in the field of world service. Let us briefly enumerate them:

Vấn đề về những quyền năng thông linh không dễ giải thích. Tôi không ám chỉ đến những quyền năng thông linh bậc thấp có thể hoặc không thể phát triển theo thời gian và tôi cũng không ám chỉ về nhu cầu để cho chúng phát sinh. Tôi muốn nói đến những năng lực sau đây vốn dĩ có sẵn trong linh hồn, những năng lực phải được phát triển ở tất cả các bạn nếu các bạn muốn thực hiện vai trò của mình trong việc đáp ứng nhu cầu của thế giới và làm việc cho Thánh đoàn trong công việc phụng sự thế giới. Chúng ta hãy liệt kê ngắn gọn chúng:

1. Intuitional response to ideas.

1. Phản ứng mang tính trực giác đối với các ý tưởng.

2. Sensitiveness to the impression which some member of the Hierarchy may seek to make upon the mind of the disciple. It is for this reason that I am training you to utilise the Full Moon contact.

2. Sự nhạy cảm đối với ấn tượng mà một số thành viên của Thánh đoàn cố gắng tạo ra trong tâm trí của người đệ tử. Chính vì lý do này mà tôi đang huấn luyện các bạn sử dụng sự tiếp xúc vào kỳ Trăng tròn.

3. Quick response to real need. You had not regarded this as one of the psychic powers, my brother, had you? I refer not here to a solar plexus reaction but to heart knowledge. Ponder on this distinction.

3. Đáp ứng nhanh chóng với nhu cầu thực tế. Các bạn đã không coi đây là một trong những quyền năng thông linh, phải không huynh đệ của tôi? Ở đây tôi không đề cập đến phản ứng của luân xa tùng thái dương mà là tri thức đến từ luân xa tim. Hãy suy ngẫm về sự khác biệt này.

4. Right observation of reality upon the soul plane. This leads to right mental perception, to freedom from illusion and glamour and to the illumination of the brain.

4. Quan sát đúng thực tại trên cõi linh hồn. Điều này dẫn đến nhận thức tinh thần đúng đắn, đến sự tự do khỏi ảo tưởng và ảo cảm và đến sự soi sáng cho não bộ.

[50]

[50]

5. Correct manipulation of force, involving, therefore, an understanding of the types and qualities of force and their right creative weaving into service upon the outer plane.

5. Cách sử dụng đúng đắn mãnh lực, do đó, liên quan đến sự hiểu biết về các loại và phẩm chất của mãnh lực và sự ứng dụng một cách sáng tạo và đúng đắn của chúng được trong việc phụng sự trên cõi bên ngoài.

6. A true comprehension of the time element, with its cyclic ebb and flow and the right seasons for action—a most difficult psychic power to master, my brothers, but one which can be mastered through the use of patient waiting and the elimination of hurry.

6. Một sự hiểu biết thực sự về yếu tố thời gian, với sự lên xuống theo chu kỳ của nó và các mùa thích hợp để hành động — một quyền năng thông linh khó làm chủ nhất, tuy nhiên các huynh đệ của tôi ơi, nó là một sức mạnh có thể được làm chủ thông qua sự kiên nhẫn chờ đợi và loại bỏ sự hấp tấp.

All these powers, the disciple must eventually develop, but the process is necessarily slow.

Cuối cùng người đệ tử phải phát huy tất cả những quyền năng này, nhưng quá trình này nhất thiết phải chậm rãi.

Next comes the quality of mental polarisation. What exactly is this power or quality? For you (at this time) it must express itself in two ways:

Tiếp theo là phẩm tính phân cực trí tuệ. Chính xác thì quyền năng hoặc phẩm tính này là gì? Đối với các bạn (tại thời điểm này), nó phải thể hiện theo hai cách:

1. Through the life of meditation.

1. Thông qua đời sống tham thiền.

2. Through the control of the astral body.

2. Thông qua việc kiểm soát thể cảm dục.

Increasingly must your inner life be lived upon the mental plane. Steadily and without descent must the attitude of meditation be held—not for a few minutes each morning or at specific moments throughout the day, but constantly, all day long. It infers a constant orientation to life and the handling of life from the angle of the soul. This does not refer to what is so often referred to as "turning one's back upon the world." The disciple faces the world but he faces it from the level of the soul, looking clear-eyed upon the world of human affairs. "In the world, yet not of the world" is the right attitude—expressed for us by the Christ. Increasingly must the normal and powerful life of the emotional, astral, desire and glamorous nature be controlled and rendered quiescent by the life of the soul, functioning through the mind. The emotions which are normally self-centred and personal must be transmuted into the realisations of universality and impersonality; the astral body must become the organ through which the love of the soul can pour; desire must give place to aspiration and that, in its turn, must be merged in the group life and the group good; glamour must give place to reality, and the pure light of the mind must pour into all the dark places of the lower nature. [51] These are the results of mental polarisation and are brought about by definite meditation and the cultivation of the meditative attitude. This is not new information for you, but it is something which as yet remains unexpressed practically. If you will ask yourselves the following questions and courageously and truthfully make reply before the bar of your own soul, you will learn much and greatly aid your development:

Đời sống nội tâm của các bạn ngày càng phải được sống trên cõi trí tuệ. Thái độ tham thiền phải được duy trì một cách ổn định và không suy giảm — không phải trong vài phút mỗi sáng hoặc vào những thời điểm cụ thể trong ngày, mà liên tục, suốt cả ngày. Nó tạo ra một định hướng liên tục cho cuộc sống và cách điều khiển cuộc sống từ góc độ của linh hồn. Điều này không ám chỉ đến điều thường được hiểu là "quay lưng lại cả với thế giới." Người đệ tử đối mặt với thế giới nhưng y đối mặt với nó từ cấp độ của linh hồn, nhìn thế giới sự vụ của con người với nhãn quang sáng suốt. Đức Christ cho chúng ta thấy rằng quan điểm "Ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian" là đúng đắn. Càng ngày đời sống mãnh liệt thông thường của bản chất tình cảm, cảm dục, ham muốn và ảo cảm càng phải được kiểm soát và làm cho tĩnh lặng bởi đời sống của linh hồn, hoạt động thông qua thể trí. Các cảm xúc mang tính ích kỷ và cá nhân phải được chuyển hóa thành những nhận thức về tính phổ quát và tính vô kỷ; thể cảm dục phải trở thành cơ quan mà qua đó tình yêu của linh hồn có thể tuôn đổ; tham vọng phải nhường chỗ cho khát vọng và đến lượt nó, khát vọng phải được hòa nhập trong đời sống nhóm và lợi ích nhóm; ảo cảm phải nhường chỗ cho thực tại, và ánh sáng thuần khiết của thể trí phải tuôn đổ vào tất cả những nơi tăm tối của bản chất thấp hơn. [51] Đây là kết quả của sự phân cực trí tuệ và được mang lại bằng sự tham thiền rõ ràng và việc trau dồi thái độ thiền định. Đây không phải là điều mới đối với các bạn, nhưng nó là một cái gì đó vẫn còn chưa được thể hiện một cách thực tế. Nếu các bạn tự hỏi mình những câu hỏi sau đây và trả lời một cách can đảm và trung thực trước phiên toà của chính linh hồn mình, các bạn sẽ học được nhiều điều và hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển của bản thân:

1. What do you understand by spiritual sensitivity?

1. Bạn hiểu tính nhạy cảm tinh thần là gì?

a. Have you ever truthfully felt my vibration?

a. Bạn đã bao giờ thành thật cảm nhận được sự rung động của tôi chưa?

b. Do you respond more rapidly to the quality of a brother's faults than to his divine characteristics?

b. Có phải bạn phản ứng nhanh hơn đối với các lỗi lầm của một người huynh đệ hơn là những đặc tính thiêng liêng của y không?

c. In what way does criticism interfere with true spiritual sensitivity?

c. Sự chỉ trích can thiệp vào sự nhạy cảm tinh thần thực sự bằng cách nào?

d. What do you feel personally hinders your development of this required sensitivity?

d. Cá nhân bạn cảm thấy điều gì cản trở sự phát triển tính nhạy cảm cần thiết này của mình?

2. Define impersonality.

2. Định nghĩa tính vô ngã

a. Do you know the distinction between the impersonality of the first ray type and true spiritual impersonality?

a. Bạn có biết sự phân biệt giữa tính vô ngã của người cung một và tính vô ngã tinh thần thực sự không?

b. When somebody disagrees with you or you do not like a person's attitude, ideas or proposals, what is the first thing you do? Do you love him? Do you keep silent? Do you discuss him with others? Do you endeavour to put him right? How do you try to do this?

b. Khi ai đó không đồng ý với bạn hoặc bạn không thích thái độ, ý tưởng hoặc đề xuất của người đó, điều đầu tiên bạn làm là gì? Bạn có yêu thương y? Bạn có giữ im lặng? Bạn có thảo luận về y với những người khác? Bạn có nỗ lực để giúp y sửa sai không? Làm thế nào để bạn cố gắng làm điều này?

c. If you are impersonal is it the result of training or is it natural to you? Is it simple self-defense? or is it the easiest way to attain peace? or is it a spiritual attainment?

c. Nếu bạn vô ngã, đó là kết quả của quá trình rèn luyện hay là do bạn tự nhiên như thế? Đó có phải chỉ là cách tự vệ? hay đó là cách dễ dàng nhất để đạt được bình an? hay nó là một thành tựu tinh thần?

3. I have defined for you the psychic powers. I listed six of them. Please study them and then make a clear, concise statement to yourself as to your own capacity:

3. Tôi đã định nghĩa cho các bạn các quyền năng thông linh. Tôi đã liệt kê sáu trong số chúng. Vui lòng nghiên cứu chúng và sau đó nêu ra một cách rõ ràng, ngắn gọn cho chính các bạn về năng lực của bản thân:

a. To demonstrate them.

a. Để minh chứng chúng.

b. To develop them, outlining your method of so doing.

b. Để phát triển chúng, hãy vạch ra phương pháp làm việc đó của các bạn.

4. Just how do you feel that you succeed in keeping a mental grip on life?

4. Các bạn cảm thấy sự thành công của mình trong việc làm chủ đời sống tinh thần như thế nào?

[52]

[52]

a. In an emotional stress do you transmute the condition through love?

a. Trong một cảm xúc căng thẳng, các bạn có chuyển hóa tình trạng này thông qua tình thương không?

b. Do you inhibit the display of emotion and why?

b. Các bạn có kiềm chế việc thể hiện cảm xúc không và tại sao?

c. Do you call in the mind and handle your problems from the mental level?

c. Các bạn có kêu gọi thể trí và xử lý các vấn đề của các bạn từ cấp độ trí tuệ không?

d. Do you know what glamour is and can you recognise it when it displays itself to you?

d. Các bạn có biết ảo cảm là gì và các bạn có thể nhận ra nó khi nó tự lộ diện với các bạn không?

These questions have a twofold purpose. They will, if you answer them truthfully and face them clearly, lead you to deal with yourself as a group member and so ascertain the measure of your contribution to the group need and to our need of workers. If you will write down and answer these questions and share the replies with your co-disciples, it will give them an opportunity to know each other better.

Những câu hỏi này có mục đích nhị phân. Nếu các bạn trả lời chúng một cách trung thực và đối mặt với chúng một cách rõ ràng, chúng sẽ dẫn các bạn đến việc tự làm việc với bản thân với tư cách là một thành viên trong nhóm, và do đó xác định được mức độ đóng góp của các bạn đối với nhu cầu của nhóm và nhu cầu nhân lực của chúng ta. Việc các bạn viết ra và trả lời những câu hỏi này và chia sẻ câu trả lời với các đồng môn của mình sẽ giúp họ có cơ hội hiểu biết nhau nhiều hơn.

There is an occult process which reaches its culmination in one of the higher initiations—with which initiation you have as yet no concern. It is called "a bringing forth into the light." An accepted disciple is one who is in process of preparation for initiation and that is one of the tasks with which I am engaged at this time. I have, therefore, to begin to lay the foundation for this esoteric "unearthing" or "revelation of that which is hidden." I am consequently proffering to you, through these questions, the opportunity to practise early in your training this "distressing revelation" which will later take place in a higher state of consciousness.

Có một quá trình huyền bí đạt đến đỉnh điểm của nó ở một trong những cuộc điểm đạo cao hơn — cuộc điểm đạo mà các bạn vẫn chưa cần biết bây giờ. Nó được gọi là "sự đưa ra ánh sáng." Một đệ tử được chấp nhận là một người đang trong quá trình chuẩn bị điểm đạo và đó là một trong những nhiệm vụ mà tôi đang thực hiện vào lúc này. Do đó, tôi phải bắt đầu đặt nền tảng cho việc "khai quật" hay "sự tiết lộ về điều bị che giấu" bí truyền này. Do đó, thông qua những câu hỏi này, tôi mang đến cho các bạn cơ hội thực hành sớm trong quá trình huấn luyện của bạn “sự tiết lộ khốn khổ” mà sau này sẽ diễn ra trong một trạng thái tâm thức cao hơn.

What is it that I and Those Who are working on the inner side are seeking to do with these groups? What is the larger objective? The groups have not been formed to train individuals. They have been formed (each of them) as seed groups for a definite and specific end. They are organised to provide channels in the world for the distribution of certain peculiar types of force which will work out into manifestation in specific ways. Energy has always been manipulated by the Hierarchy and distributed in the world of men. I refer to the energies used in relation to the awakening of the human consciousness, to the integration of the world of souls with the world of men; I refer to the activities whereby the human kingdom can become a great station of light and a powerhouse [53] of spiritual force, distributing it to the other kingdoms in nature.

Điều mà tôi và những Đấng đang hoạt động từ nội giới đang tìm cách tác động lên những nhóm này là gì? Mục tiêu lớn hơn là gì? Các nhóm không được thành lập để huấn luyện các cá nhân. Các nhóm đã được hình thành (mỗi nhóm trong số chúng) như các nhóm hạt giống cho một mục đích xác định và cụ thể. Chúng được tổ chức để cung cấp các kênh dẫn trên thế giới cho mục đích phân phối các loại mãnh lực đặc biệt nhất định, những mãnh lực này sẽ biểu hiện theo những cách cụ thể. Năng lượng luôn được điều khiển bởi Thánh đoàn và phân phối trong thế giới của con người. Tôi đề cập đến những năng lượng được sử dụng liên quan đến sự thức tỉnh của tâm thức con người, đến sự tích hợp của thế giới linh hồn với thế giới của con người; Tôi đề cập đến các hoạt động mà nhờ đó giới nhân loại có thể trở thành một trạm ánh sáng vĩ đại và trạm năng lượng của [53] mãnh lực tinh thần, phân phối nó cho các giới khác trong tự nhiên.

The statement is of vital importance; it expresses our immediate objectives and the nature of the field of service in which you—as a group and not as individuals—can function. This manipulation of energies has (for centuries) been carried forward by us but its effects have only been registered unconsciously by man. We have (speaking symbolically) rayed forth the light and distributed the water of life in a wide and general distribution with here and there (and rarely) some one isolated individual, responding actively and consciously. He thus became a tiny focal point of spiritual energy and light. Now it has seemed to us possible to focus the light and knowledge much more definitely and to form groups on earth—composed of the isolated, responding individuals—so that more light and more knowledge can be spread abroad. This we decided to do in two ways:

Tuyên bố này có tầm quan trọng sống còn; nó thể hiện các mục tiêu trước mắt của chúng ta và bản chất của lĩnh vực phụng sự mà các bạn có thể thể hiện vai trò của mình với tư cách là một nhóm chứ không phải với tư cách cá nhân. Việc sử dụng năng lượng đã (trong nhiều thế kỷ) được chúng ta thực hiện nhưng tác dụng của nó chỉ được con người ghi nhận một cách vô thức. Chúng ta đã (nói một cách tượng trưng) chiếu rọi ánh sáng và phân phối nước của sự sống trong một sự phân bố mang tính rộng rãi, và rải rác đó đây (và hiếm khi) một cá nhân biệt lập nào đó phản ứng một cách chủ động và có ý thức. Do đó, y trở thành một tiêu điểm nhỏ của năng lượng và ánh sáng tinh thần. Giờ đây đối với chúng ta, dường như chúng ta có thể tập trung ánh sáng và kiến thức một cách chắc chắn hơn nhiều và hình thành các nhóm trên trái đất — bao gồm các những cá nhân biệt lập và đang ứng đáp — để có nhiều ánh sáng và kiến thức hơn có thể được lan truyền rộng rãi. Điều này chúng ta quyết định thực hiện theo hai cách:

1. Through the collaboration of all the Masters of the Great White Lodge, working through Their Own disciples.

1. Thông qua sự cộng tác của tất cả các Chân sư của Đại Bạch Giai, làm việc thông qua các đệ tử của Chính các Ngài.

2. Through the specifically focussed activity of the Masters Morya and Koot Hoomi and myself, Their servant and disciple.

2. Thông qua hoạt động tập trung đặc biệt của các Chân sư Morya, Chân sư Koot Hoomi và tôi, người phụng sự và đệ tử của các Ngài.

Through the first method, the New Group of World Servers came into being and the disciples and aspirants of the world, working on all the rays and under the guidance—consciously or unconsciously recognised—of the Masters Who are specifically pledged to help humanity. Thus a vast powerhouse and station of light has been formed. It is a diffused and widespread light and its channels are to be found all over the world, in every country and in every major city. This you know and with this branch of the work (to which I am personally pledged) you are actively cooperating and should cooperate.

Thông qua phương pháp thứ nhất, Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đã ra đời và các đệ tử cũng như những người chí nguyện của thế giới, làm việc dựa trên tất cả các cung và dưới sự hướng dẫn — được ghi nhận một cách hữu thức hoặc vô thức — của các Chân sư vốn đặc biệt thệ nguyện giúp đỡ nhân loại. Vì vậy, một trạm năng lượng khổng lồ và trạm ánh sáng rộng lớn đã được hình thành. Đó là ánh sáng khuếch tán và rộng khắp, và các kênh truyền dẫn của nó sẽ được tìm thấy trên khắp thế giới, ở mọi quốc gia và ở mọi thành phố lớn. Điều này các bạn biết, và với nhánh công việc này (mà cá nhân tôi đã thệ nguyện thực hiện), các bạn đang tích cực hợp tác và nên hợp tác.

But it was felt that it should also be possible to focus the light still more intensively through smaller and more carefully chosen and selected groups. Through these much smaller groups of disciples, the phenomenal appearance of certain types of energy could be expressed; certain powers could be unfolded and a more specialised experiment be possible. Peculiar powers [54] could be studied and focussed, intensified light and power could be so clearly demonstrated that the sons of men would come to recognise the influence and to give proof of the supernormal which is the heritage of future centuries.

Nhưng việc tập trung ánh sáng một cách mạnh mẽ hơn thông qua các nhóm nhỏ, được chọn lựa và sàng lọc kỹ càng, được cảm thấy là khả dĩ. Thông qua những nhóm đệ tử nhỏ hơn nhiều này, sự xuất hiện phi thường của một số loại năng lượng nhất định; một số sức mạnh có thể được khai mở và một sự thử nghiệm chuyên biệt hơn có thể được thực hiện. Những quyền năng đặc biệt [54] có thể được nghiên cứu và tập trung, ánh sáng và sức mạnh được tăng cường có thể được chứng minh một cách rõ ràng đến mức những người con của nhân loại sẽ nhận ra ảnh hưởng của chúng và đưa ra bằng chứng về sự siêu thường vốn là di sản của các thế kỷ tương lai.

To this particular branch of hierarchical work, I pledged myself; it would provide the nucleus for the coming types of civilisation and the characteristics and activities which could be unfolded under the incoming new major influences. These have always interested me and I have specialised in them. Naturally, I looked around among those whose lives I have been watching — sometimes for several incarnations. Among these were those of you who are now working with me. These groups constitute the germ of a great experiment. If successful, they will, in the course of the next 275 years:

Đối với nhánh công việc cụ thể của Thánh đoàn này, tôi đã tự thệ nguyện; nó sẽ cung cấp hạt nhân cho các nền văn minh sắp tới cũng như các đặc điểm và hoạt động có thể được bộc lộ dưới những ảnh hưởng lớn lao mới mẻ đang tới. Những điều này luôn khiến tôi quan tâm và tôi đã nghiên cứu chuyên sâu về chúng. Đương nhiên, tôi nhìn xung quanh những người mà tôi đã và đang quan sát cuộc sống của họ — đôi khi là một số kiếp sống. Trong số này có những người trong số các bạn hiện đang làm việc với tôi. Những nhóm này tạo thành hạt giống của một thí nghiệm vĩ đại. Nếu thành công thì trong suốt 275 năm tới, họ sẽ:

1. Anchor on earth certain types of the higher forces which the race needs and which are not yet active.

1. Neo xuống trái đất một số loại mãnh lực cao hơn mà giống dân này cần và vẫn chưa kích hoạt.

2. Develop the six supernormal powers to which I have referred above.

2. Phát triển sáu quyền năng mà tôi đã giới thiệu ở trên.

3. Train the group members in that synthetic relation which characterises the Hierarchy and so prepare them for initiation.

3. Huấn luyện các thành viên trong nhóm về mối liên hệ tổng hợp vốn đặc trưng cho Thánh đoàn và do đó chuẩn bị cho họ bước vào cửa điểm đạo.

Out of these groups will be picked those who can be definitely prepared for certain expansions of consciousness and who can be trusted to contact aspects of the Plan, hitherto not revealed. As you make progress in this work and as you seek to understand the group implications, it will become ever more clear to you what the Plan really is. It is as difficult for me to explain the underlying purpose of this group work to you as it would be to explain decimal fractions to a seven year old child, no matter how brilliant he might be. But if you have the needed patience, the willingness to work impersonally and proceed with love, if you will submerge your personalities in the group life, you will know, you will perceive and the light will break in; the power to work will come to you. We shall then have radiant focal points or light bearers and channels for the planned distribution of force—a thing which has never yet been, upon the scale which we now contemplate.

Trong số các nhóm này, sẽ chọn được những đệ tử vốn chắc chắn có thể được chuẩn bị cho sự mở rộng tâm thức nhất định và những người có thể tin cậy để tiếp xúc với các khía cạnh của Thiên cơ mà cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Khi các bạn đạt được tiến bộ trong công việc này và khi các bạn tìm cách hiểu các tác động của nhóm, các bạn sẽ càng thấy rõ Thiên cơ thực sự là gì. Thật khó để tôi giải thích mục đích cơ bản của công việc nhóm này cho các bạn cũng như việc giải thích các phân số thập phân cho một đứa trẻ bảy tuổi, bất kể nó có xuất chúng đến đâu. Nhưng nếu các bạn có sự kiên nhẫn cần thiết, sự sẵn sàng làm việc vô kỷ và tiến tới với tình yêu thương, nếu các bạn nhấn chìm phàm ngã của mình trong đời sống nhóm, các bạn sẽ biết, các bạn sẽ nhận thức và ánh sáng sẽ len vào; sức mạnh để làm việc sẽ đến với các bạn. Sau đó, chúng ta sẽ có các tâm điểm phát xạ hay người mang ánh sáng và các kênh truyền dẫn để phân phối mãnh lực theo kế hoạch—một điều chưa từng có, theo quy mô mà chúng ta đang hình dung.

[55]

[55]

PART VI—PHẦN VI

I do not intend to continue giving you only reiterated advice upon the treading of the Path of Discipleship. You are adult men and women and know the Way. The practical application of the ancient Rules is your personal responsibility. What you do is your own affair. You have reached maturity and should be ready for the next step. That step will be taken when you have transmuted knowledge and theory into wisdom, practice and expression.

Tôi không có ý định tiếp tục cho các bạn những lời khuyên đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi bước vào Con Đường Đệ Tử. Các bạn là những người nam và nữ trưởng thành và các bạn biết Con Đường. Việc áp dụng mang tính thực tiễn các Quy luật cổ xưa là trách nhiệm cá nhân của các bạn. Các bạn làm gì là chuyện của riêng các bạn. Các bạn đã đạt đến độ già dặn và nên sẵn sàng cho bước tiếp theo. Bước đó sẽ được thực hiện khi các bạn đã chuyển hóa kiến thức và lý thuyết thành minh triết, thực hành và sự biểu lộ.

It is only in a spirit of real detachment that the best work of a disciple is done. The disciple comes to realise that because of this detachment he is (for the remainder of his life) simply a worker—one of a great army of hierarchical workers—with supposedly no personality inclinations, objectives, or wishes. There is for him nothing but constant work and constant association with other people. He may be a naturally isolated person, with a deep craving for solitude but that matters not. It is the penalty he must pay for the opportunity to meet the need of the hour. The hardest organised push of the Hierarchy is now taking place and its objective is to offset the tendency of the race to crystallise into separativeness, for separation is the line of least resistance to people and nations at this time. Hence the formation of these working groups of disciples, giving an expression of group work and group cohesion and of non-separativeness.

Người đệ tử chỉ làm được những việc hữu hiệu nhất trong tinh thần thực sự không bám chấp. Người đệ tử nhận ra rằng vì sự không bám chấp này mà y (trong phần còn lại của kiếp sống) chỉ đơn giản là một nhân sự — một phần tử trong đội quân lớn của những nhân sự Thánh Đoàn — vốn không có bất kỳ khuynh hướng, mục tiêu hay nguyện vọng nào thuộc về phàm ngã. Đối với y, không có gì khác hơn là liên tục làm việc và liên tục kết hợp với những người khác. Y có thể là một người có bản chất cô độc, với khao khát sâu sắc cho sự tách biệt này nhưng điều đó không quan trọng. Đó là cái giá mà y phải trả cho cái cơ hội đáp ứng nhu cầu thời đại. Sự thúc đẩy có tổ chức mạnh mẽ nhất từ Thánh Đoàn hiện đang diễn ra và mục tiêu của nó là để hoá giải xu hướng của chủng tộc đang kết tinh thành sự chia rẽ, vì sự chia rẽ là đường lối ít đối kháng nhất đối với con người và các quốc gia tại thời điểm này. Do đó, những nhóm đệ tử làm việc này mới được hình thành, tiêu biểu cho công việc nhóm, sự gắn kết nhóm và sự không chia rẽ.

A few—relatively a very few—of the disciples and intuitivesof the world today are standing together in a twofold activity: one activity is to sense and touch with greater accuracy the steadily unfolding subjective plan; the other is to speak and teach with greater clarity and to choose with wiser exactitude the right words (written and spoken) by which to express the truth. The presentation of the sensed realities will then lead the thinking people of the world to arrest their present trend of thought and to cooperate more fully and freely in the enlightenment of the world. I use the word "enlightenment" in its occult sense. The full measure of what can be done depends (as far as the individual disciple is concerned) upon his inner power to live [56] each day as a soul—free from fear, free from self-consciousness and free from those reactions which stir the astral or emotional body into organised activity, based on ancient habits. For the disciple and for the success of his work, an astral body of stillness and of acquiescence, sensitive to impressions from the soul and from the Master, and reflecting the vision with as much purity of outline as may be possible, is the goal. It should be remembered that when the disciple is fully occupied in living the life of service on all three planes, there is little that can be said or should be said to him. But a thought may be of aid.

Một số ít — tương đối rất ít — các đệ tử và một số người có trực giác trên thế giới ngày nay đang sát cánh cùng nhau trong một hoạt động gồm hai phần: một hoạt động là cảm nhận và tiếp xúc với độ chính xác cao hơn với thiên cơ nội tại đang dần khai mở; hai là thuyết giảng một cách rõ ràng hơn và lựa chọn những từ ngữ (viết và nói) khôn khéo hơn để diễn đạt sự thật. Việc trình bày các thực tại được cảm nhận sẽ dẫn dắt những người có tư duy trên thế giới ngưng lại khuynh hướng tư tưởng hiện tại của họ và hợp tác một cách đầy đủ và tự do hơn trong công cuộc khai sáng thế giới. Tôi sử dụng từ "khai sáng" theo nghĩa huyền bí của nó. Thước đo đầy đủ về những gì có thể làm được phụ thuộc (tùy theo mức độ liên quan của từng người đệ tử) vào sức mạnh bên trong của y để sống [56] mỗi ngày như một linh hồn — không sợ hãi, vô ngã, và không có những phản ứng khuấy động thể cảm dục hay thể tình cảm đi vào hoạt động có tổ chức, dựa trên các thói quen cổ xưa. Đối với người đệ tử và để thành công trong công việc của y, mục tiêu cần đạt là một thể cảm dục an tĩnh và phục tùng, nhạy cảm với những ấn tượng từ linh hồn và từ Chân sư, và phản chiếu tầm nhìn rõ ràng với đường nét thuần khiết nhất có thể. Nên nhớ rằng khi người đệ tử hoàn toàn yên tâm sống đời sống phụng sự trên cả ba cõi, thì sẽ có rất ít điều có thể nói hoặc nên nói với y. Nhưng một tư tưởng có thể hữu ích.

Let him seek, in the strenuousness of his life, to preserve the synthesis of the personality and the integration of all parts of his equipment. Often in the stress of activity in one body or another and on one plane or another, the emphasis may be temporarily so strong in some one direction that he may lose sight for a moment of the synthetic point of view of both the Plan and the group. Physically, he is working under great pressure; emotionally, he may be learning the difficult lesson of detachment and may consequently be full of a temporary rebellion. Yet on the mental plane, he is aware of a mental clarity and of a power to think which keeps him incessantly and constructively active. The following three terms, therefore, express quite frequently the disciple's situation where his lower nature is concerned: excessive fatigue, emotional rebellion and mental lucidity. How must he deal with this problem? Physical fatigue need not necessarily impair in any way his usefulness. With many people, physical conditions impair their work for their attention becomes focussed on the undesirable physical situation; disciples, however, often have a curious capacity to continue with their work no matter what may be happening to them physically. The physical brain can be so much the reflector of the mental life that he will remain essentially unaffected by any outer conditions. The disciple learns to live with his physical liabilities under adverse conditions and his work maintains its usual high level.

Hãy để y tìm kiếm, trong sự vất vả của cuộc sống, để giữ gìn sự toàn vẹn của phàm ngã và sự tích hợp của tất cả các bộ phận trong trang bị của y. Thông thường, khi hoạt động căng thẳng trong thể này hay thể khác và trên cõi này hay cõi khác, sự nhấn mạnh có thể tạm thời quá mạnh theo một hướng nào đó đến mức y có thể mất đi tầm nhìn trong giây lát về quan điểm tổng hợp của cả Thiên Cơ và nhóm. Về mặt thể chất, y đang phải làm việc dưới áp lực rất lớn; về mặt tình cảm, y có thể đang học bài học khó khăn về sự buông xả và do đó có thể đang đầy ắp sự phản kháng tạm thời. Tuy nhiên, trên cõi trí, y nhận thức được trí tuệ minh mẫn và sức mạnh suy nghĩ giúp y hoạt động không ngừng và mang tính xây dựng. Do đó, ba thuật ngữ sau đây diễn tả khá thường xuyên tình trạng của người đệ tử mà bản chất thấp hơn của y có liên quan: mệt mỏi quá mức, cảm xúc nổi loạn và trí tuệ minh mẫn. Y phải giải quyết vấn đề này như thế nào? Sự mệt mỏi về thể chất không nhất thiết phải làm suy giảm tính hữu ích của y theo bất kỳ cách nào. Với nhiều người, tình trạng thể chất làm giảm khả năng làm việc của họ vì họ trở nên tập trung vào tình trạng thể chất không mong muốn; tuy nhiên, các đệ tử thường có một năng lực kỳ lạ là vẫn tiếp tục công việc của mình bất kể điều gì có thể đang xảy ra với họ về mặt thể chất. Bộ não vật lý có thể là phản ánh của đời sống trí tuệ đến mức về cơ bản y sẽ không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ tình trạng bên ngoài nào. Người đệ tử học cách sống chung với các giới hạn thể chất trong những hoàn cảnh bất lợi mà công việc của y vẫn duy trì ở mức độ cao như thường lệ.

The emotional problem may be the hardest. But only the disciple can handle his own self-pity and free himself from the inner emotional storm in which he finds himself living. He [57] must recognise that his integration is weak, for he is working in two phases or sections:

Vấn đề cảm xúc có thể là khó khăn nhất. Nhưng chỉ có người đệ tử mới có thể tự xử lý sự tự thương hại của mình và giải thoát mình khỏi cơn bão cảm xúc nội tâm mà y thấy mình đang sống trong đó. Y [57] phải nhận ra rằng khả năng tích hợp của y còn yếu, vì y đang làm việc trong hai giai đoạn hay hai khúc:

Physical...... emotional.

Thể chất...... cảm xúc.

and

và

Mental........... soul.

Trí tuệ........... linh hồn.

He is sometimes one and sometimes the other and usually very thoroughly in either case. This duality must be brought into a closer relation and this is the point to which he must attend as he seeks to establish and preserve the needed synthesis and personality-soul integration. When will disciples learn that the attitude which involves a certain "don't care" reaction and a form of indifference is one of the quickest ways by which to release the Self from personality claims? This is not the "don't care" spirit which will affect the disciple's attitude to other people. It is the attitude of the integrated thinking personality of the disciple towards the astral or emotional body. It leads him to assume the position that not one single thing which produces any reaction of pain or distress in the emotional body matters in the very least. These reactions are simply recognised, lived through, tolerated and not permitted to produce any limitation. All disciples would do well to ponder what I have just said. The whole process is based on a deep-seated belief in the persistence of the immortal Being within the forms of soul and personality.

Khi thì y ở trong giai đoạn này, khi ở giai đoạn kia, và thường rất hay nghiêng hẳn về một bên dù ở giai đoạn nào. Tính nhị nguyên này phải được đưa vào một mối quan hệ chặt chẽ hơn và đây là điểm mà y phải tham dự khi y tìm cách thiết lập và giữ gìn sự tổng hợp cần thiết và sự tích hợp phàm ngã-linh hồn. Khi nào các đệ tử sẽ biết được rằng thái độ liên quan đến phản ứng "không quan tâm" nhất định và một hình thức điềm nhiên là một trong những cách nhanh nhất để giải phóng Chân Ngã khỏi những đòi hỏi của phàm ngã? Đây không phải là tinh thần "không quan tâm" sẽ ảnh hưởng đến thái độ của đệ tử đối với người khác. Đó là thái độ của phàm ngã có tư duy đã được tích hợp nơi người đệ tử đối với thể cảm dục hay thể tình cảm. Điều này dẫn y đến chỗ đảm nhận một lập trường rằng không một sự việc nào gây ra phản ứng đau đớn hay phiền não trong thể cảm dục là đáng kể. Những phản ứng này đơn giản chỉ được nhận biết, kinh qua, chịu đựng và không được phép gây ra bất kỳ sự giới hạn nào. Tất cả các đệ tử sẽ làm tốt nếu suy ngẫm kỹ về điều mà tôi vừa nói. Toàn bộ tiến trình này được đặt nền tảng trên một sự tin tưởng vững chắc vào sự trường tồn của Sinh Mệnh bất tử bên trong các hình hài linh hồn và phàm ngã.

This inner realisation grows with the development of power in meditation whether it is individual meditation or group work. Meditation is essential for establishing a freer inner spiritual interplay—again whether as a soul in relation to the personality or a group of disciples in relation to their Master or each other. You might here well ask: Why is this sensitive interplay between the disciples in a Master's group regarded as necessary? Is not life complicated enough without too much awareness of the conditions, the personalities and the soul contacts of those with whom we are associated and with whom we seek to walk as fellow disciples? I would like here to remind you that, as disciples, you are in preparation for initiation and that impending condition of consciousness implies three things:

Sự nhận biết nội tâm này tăng trưởng cùng với sự phát triển của sức mạnh trong tham thiền cho dù đó là tham thiền cá nhân hay công việc nhóm. Tham thiền là điều cần thiết để thiết lập một mối tương tác tinh thần bên trong tự do hơn — một lần nữa cho dù với tư cách là một linh hồn trong mối quan hệ với phàm ngã hay một nhóm đệ tử trong mối quan hệ với Chân sư của họ hoặc với nhau. Đến đây các bạn có thể hỏi: Tại sao sự tương hỗ nhạy cảm này giữa các đệ tử trong nhóm của Chân sư lại được coi là cần thiết? Lẽ nào cuộc sống chưa đủ phức tạp hay sao để rồi lại phải có quá nhiều sự chú ý đến các điều kiện, các phàm ngã và các tiếp xúc linh hồn của những người mà chúng ta có liên hệ và cùng đồng hành như những người đệ tử đồng môn? Ở đây tôi muốn nhắc các bạn rằng, với tư cách là đệ tử, các bạn đang chuẩn bị cho việc điểm đạo, và tình trạng sắp xảy ra của tâm thức bao hàm ba điều:

[58]

[58]

1. Increased awareness and sensitivity to experience and to life in all forms.

1. Tăng cường nhận thức và tính nhạy cảm với kinh nghiệm và với sự sống dưới mọi hình thức.

2. The power to do for others what I have attempted to do for you, at present on a lesser scale and later, in other lives, as I now do it.

2. Sức mạnh để làm cho người khác những gì tôi đã cố gắng làm cho các bạn, hiện tại ở quy mô nhỏ hơn, và về sau trong những kiếp sống khác, như tôi đang làm hiện nay.

3. The courage and the strength to know all, to realise all and to love with patient wisdom and unchanging sincerity.

3. Sự can đảm và sức mạnh để biết tất cả, để nhận ra tất cả và yêu thương với minh triết kiên nhẫn và sự chân thành không dời đổi.

This must surely be apparent to you. In the group work in which disciples are now called to participate, you have an opportunity offered which can aid in the inducing of all the qualities which are needed by you as candidates for initiation, at no such very distant date, as we view time on the inner side.

Điều này hẳn phải rõ ràng đối với các bạn. Trong công việc nhóm mà các đệ tử hiện nay được kêu gọi tham gia, các bạn được trao cho một cơ hội vốn có thể trợ giúp trong việc khơi dậy tất cả những phẩm tính cần thiết nơi các bạn với tư cách là những ứng viên điểm đạo, vào một thời điểm không quá xa, nếu xét theo quan điểm thời gian từ cõi nội giới.

The teaching has always been given that the disciple or the initiate must adapt himself to, and learn from, the conditions in which he finds himself and from the setting and environment with which his physical plane life puts him in daily touch. This is one of the initial platitudes of the Path. It was, however, at one time as new a concept to the aspirant and the disciple under training as is the teaching which I seek to give this group of my disciples and the opportunity which I would have you seize. The training, hitherto carried forward upon the inner planes, and unrealised oft in the waking consciousness of the accepted disciple, has now to be grasped, used and mastered in his waking consciousness and physical brain. The disciple in the past sought to establish harmonious relations with his environment—harmony being one of the liberating forces which must precede the release of energy for use after initiation. He practised patience and forbearance and helpfulness and rendered service and this was worked out through the process of right external conduct based upon right inner orientation and attitude. But under the new system (made necessary by achieved racial progress) this process of right external adjustments must be paralleled in the New Age by right inner relations, consciously established and consciously held and recognised for what they are by the conscious mind and brain of the disciple. This, therefore, involves true knowledge of the disciple's inner group relation, spiritual penetration to the inner life of a brother disciple and the consequent fusion in the heart-mind-brain [59] of the disciple, simultaneously, of all that is known on both the outer and the inner planes. This has not hitherto been the case. It is one of the major reasons for the forming of these groups as far as the individual group members are concerned. It will be brought about gradually and safely by the daily use of the group meditations which I may assign you, by a renewed interest in the subject of telepathic work and by a closer and deeper love, cultivated by all of you.

Giáo lý từ trước đến nay luôn dạy rằng người đệ tử hay điểm đạo đồ phải thích nghi với các hoàn cảnh mà y thấy mình đang ở trong đó, và học hỏi từ chính những hoàn cảnh ấy cùng với bối cảnh và môi trường mà đời sống nơi cõi trần của y đưa y tiếp xúc mỗi ngày. Đó là một trong những điều sơ đẳng trên đường đạo. Tuy nhiên, đã từng có thời điểm, điều đó cũng là một khái niệm mới mẻ đối với người chí nguyện và người đệ tử đang được huấn luyện, y như giáo lý mà tôi đang cố gắng truyền trao cho nhóm đệ tử này của mình, cùng với cơ hội mà tôi mong các bạn nắm bắt. Việc huấn luyện, vốn từ trước đến nay được tiến hành trên các cõi nội giới và thường không được ý thức trong trạng thái tỉnh thức của người đệ tử được chấp nhận, giờ đây phải được lĩnh hội, sử dụng và làm chủ trong chính tâm thức tỉnh thức và não bộ vật lý của y. Người đệ tử trong quá khứ đã tìm cách thiết lập mối quan hệ hài hòa với môi trường của mình — sự hài hoà là một trong những mãnh lực giải thoát cần phải có trước khi phóng thích năng lượng để sử dụng sau khi điểm đạo. Y đã rèn luyện tính kiên nhẫn và tính nhẫn nại, sự giúp đỡ và phụng sự, và điều này được thực hiện thông qua quá trình ứng xử bên ngoài đúng đắn dựa trên định hướng và thái độ bên trong đúng đắn. Nhưng theo hệ thống mới (trở nên cần thiết bởi sự tiến bộ đã đạt được của nhân loại), tiến trình điều chỉnh đúng đắn các mối quan hệ bên ngoài này trong Kỷ Nguyên Mới phải được song hành bởi các mối liên hệ nội tại đúng đắn, được thiết lập một cách có ý thức, được duy trì một cách có ý thức và được thể trí tỉnh thức cùng não bộ nơi người đệ tử nhận biết đúng với bản chất thật sự của chúng. Do đó, điều này hàm ý một sự hiểu biết chân thật về mối liên hệ nhóm nội tại của người đệ tử, một sự thâm nhập tinh thần vào đời sống nội tâm của người đệ tử huynh đệ, và hệ quả là một sự hợp nhất đồng thời trong tâm–trí–não [59] của người đệ tử đối với tất cả những gì đã được nhận biết trên cả hai cõi—ngoại giới và nội giới. Trước đây, điều này chưa từng xảy ra. Đây là một trong những lý do chính yếu cho việc hình thành những nhóm này, xét từ khía cạnh của từng thành viên trong nhóm. Việc ấy sẽ được thực hiện một cách từ từ và an toàn thông qua việc sử dụng hằng ngày các bài tham thiền nhóm mà tôi có thể giao cho các bạn, thông qua một sự quan tâm được đổi mới đối với đề tài công tác viễn cảm, và thông qua một tình thương sâu sắc và gần gũi hơn được tất cả các bạn vun bồi.

Three things are of great importance and constitute your individual responsibility:

Ba điều sau đây có tầm quan trọng lớn lao và cấu thành trách nhiệm cá nhân của các bạn:

1. Facility of rapport. As a member of my group, it is essential that you cultivate two aspects of the "art of rapport" which is based, eternally, on loving attraction.

1. Khả năng thiết lập mối giao cảm. Là một thành viên trong nhóm của tôi, điều thiết yếu là các bạn phải rèn luyện hai khía cạnh của “nghệ thuật giao cảm,” vốn được đặt nền tảng vĩnh viễn trên lực hút đầy tình thương:

a. Rapport or contact with the soul through a cultivated alignment and correct meditation.

a. Giao cảm hay tiếp xúc với linh hồn thông qua một sự chỉnh hợp được rèn luyện và sự tham thiền đúng đắn.

b. Rapport or contact with your group brothers; this lays the foundation for constructive, united work.

b. Giao cảm hay tiếp xúc với các huynh đệ trong nhóm; điều này đặt nền móng cho công việc xây dựng và hợp nhất.

2. Impersonality. Is there aught more that I can say on this theme? You must learn to view what is said or suggested by any group brother with a complete and carefully developed "divine indifference." Note the use of the word "divine," for it holds the clue to the needed attitude. It is a different thing to the indifference of not caring, or the indifference of a psychologically developed "way of escape" from that which is not pleasant; nor is it the indifference of superiority. It is the indifference which accepts all that is offered, uses what is serviceable, learns what can be learnt but is not held back by personality reactions. It is the normal attitude of the soul or self to the not-self. It is the negation of prejudice, of all narrow preconceived ideas, of all personality tradition, influence or background. It is the process of detachment from "the world, the flesh and the devil" of which The New Testament speaks.

2. Tính vô ngã. Có điều gì nữa mà tôi có thể nói thêm về chủ đề này chăng? Các bạn phải học cách nhìn nhận mọi điều được nói ra hay gợi ý bởi bất kỳ huynh đệ nào trong nhóm với sự “điềm nhiên thiêng liêng” hoàn toàn và được rèn luyện kỹ lưỡng. Hãy lưu ý việc sử dụng từ “thiêng liêng,” vì nó hàm chứa manh mối cho thái độ cần thiết. Đây là một điều rất khác với sự điềm nhiên của sự dửng dưng, hay sự điềm nhiên của một “lối thoát” đã được phát triển về mặt tâm lý khỏi những gì không dễ chịu; nó cũng không phải là sự điềm nhiên của sự tự cao. Đó là sự điềm nhiên đón nhận mọi điều được trao tặng, sử dụng những gì có ích, học hỏi những gì có thể học, nhưng không bị trì kéo bởi các phản ứng của phàm ngã. Đó là thái độ bình thường của linh hồn hay chân ngã đối với phi-ngã. Đó là sự phủ nhận đối với thành kiến và mọi định kiến hẹp hòi có sẵn, cũng như mọi ảnh hưởng, truyền thống hay bối cảnh cá nhân. Đó là tiến trình buông xả khỏi “thế gian, xác thịt và ma quỷ” như Kinh Tân Ước đã nói đến.

3. Love. Love is that inclusive, non-critical, magnetic comprehension and attitude which (in group work) preserves the group integrity, fosters the group rhythm and permits no secondary personality happenings or attitudes to mar the group work.

3. Tình thương. Tình thương là sự thấu hiểu và thái độ bao gồm, không chỉ trích, đầy từ tính, vốn (trong công việc nhóm) duy trì sự toàn vẹn của nhóm, nuôi dưỡng tiết điệu nhóm và không cho phép bất kỳ biến cố hay thái độ nào thuộc về phàm ngã chen vào gây tổn hại đến công việc của nhóm.

[60]

[60]

Contact, impersonality and love—these three constitute the individual objectives which I set before each and all of you.

Giao cảm, vô ngã và tình thương—ba điều này cấu thành các mục tiêu cá nhân mà tôi đặt ra trước mỗi người và tất cả các bạn.

The group requirements which must be met and preserved by the group, as a group, are as follows:

Những yêu cầu của nhóm mà nhóm, với tư cách là một chỉnh thể, phải đáp ứng và duy trì như sau:

1. Group integrity. This grows out of right integration and refers to the delicate balance which must be preserved amongst the members of the group. This is of such a nature that there emerges eventually a group steadiness and a group freedom from "oscillation" which will permit of uninterrupted group work and interplay. It will come if each of the group members will simply mind his own business and permit his group brothers to mind theirs; it will come if you keep your personality affairs, your private concerns and troubles out of the group life; it will come if you refrain from discussion of each other and of each other's affairs and attitudes. This is of supreme importance at this stage of the group work; it will mean—if you can achieve success in this—that you will be able to keep your minds clear of all lesser things which concern the personality life. This means that your minds will be free, therefore, for group work.

1. Sự toàn vẹn của nhóm. Điều này phát sinh từ sự hợp nhất đúng đắn và liên quan đến sự quân bình tinh tế cần phải được duy trì giữa các thành viên trong nhóm. Đây là một điều kiện mang tính chất sao cho cuối cùng sẽ xuất hiện một sự ổn định nhóm và một sự tự do khỏi “dao động” nơi nhóm, điều này sẽ cho phép công việc nhóm và sự tương tác nhóm diễn ra một cách không bị gián đoạn. Điều này sẽ thành hiện thực nếu mỗi thành viên trong nhóm đơn giản là lo phần việc của mình và cho phép các huynh đệ trong nhóm lo phần việc của họ; điều đó sẽ xảy đến nếu các bạn giữ cho những việc phàm ngã, những mối bận tâm cá nhân và những nỗi khó khăn của mình không ảnh hưởng đến đời sống nhóm; điều đó sẽ xảy đến nếu các bạn kiêng kỵ việc bàn tán về nhau, cũng như về các công việc và thái độ của nhau. Điều này có tầm quan trọng tối thượng trong giai đoạn hiện tại của công việc nhóm; nếu các bạn đạt được thành công trong điều này, thì điều đó có nghĩa là các bạn sẽ có thể giữ cho thể trí của mình được trong sáng, không vướng bận bởi những điều nhỏ nhặt liên quan đến đời sống phàm ngã. Điều này có nghĩa là thể trí của các bạn sẽ được tự do, và như thế, sẵn sàng cho công việc nhóm.

2. Fusion. By this I mean the ability of the group to work as a unit. This is dependent upon the achieving of right individual attitudes and (when working) the attainment of the capacity to lose sight of everything except the work to be done and a deeply sensed love of your brothers.

2. Hợp nhất. Ý tôi muốn nói đến ở đây là năng lực của nhóm trong việc hoạt động như một đơn vị duy nhất. Điều này phụ thuộc vào việc đạt được những thái độ cá nhân đúng đắn và (khi đang làm việc) khả năng quên đi mọi thứ ngoại trừ công việc cần được hoàn tất và một tình thương sâu sắc được cảm nhận đối với các huynh đệ của mình.

3. Understanding. I use this word in reference to your comprehension of the work to be undertaken. I do not use the word in reference to your attitude to yourself or to your group brothers. It means that each group works wisely and understandingly at its own appointed task, knowing that it contributes to a whole which exists in the mind of the Master.

3. Sự thấu hiểu. Tôi dùng từ này với ý nói đến sự lĩnh hội của các bạn đối với công việc sẽ được đảm trách. Tôi không dùng từ này để chỉ thái độ của các bạn đối với chính mình hay với các huynh đệ trong nhóm. Nó có nghĩa là mỗi nhóm làm việc một cách khôn ngoan và thấu đáo với nhiệm vụ đã được chỉ định, biết rằng nhóm của mình đang đóng góp vào một tổng thể vốn hiện hữu trong thể trí của Chân sư.

Integrity, fusion and understanding—this is the order of the work and the sequence of development. All groups, working in the outer world in relation to the Ashrams of the Masters, will follow certain initial and final stages in their work and [61] these will be uniform for all the groups, no matter what their specific and individual group work may be. Thus there will be brought about an inter-group relation and a consequent strengthening of the individual groups. The third stage of the work to be done will be special and particular, differing for each group and to be followed by the group with meticulous care. I would ask all the various groups which may be working under my direction to attend to their own individual group business and not to speculate as to the nature of the work being done by the other groups.

Toàn vẹn, hợp nhất và thấu hiểu —đây là trật tự của công việc và là chuỗi phát triển cần theo. Tất cả các nhóm làm việc nơi ngoại giới trong mối liên hệ với các Đạo viện của các Chân sư sẽ tuân theo những giai đoạn khởi đầu và kết thúc nhất định trong công việc của họ và [61] những điều này sẽ đồng nhất cho mọi nhóm, bất kể công việc đặc thù và riêng biệt của từng nhóm là gì. Bằng cách đó, mối liên hệ giữa các nhóm sẽ được thiết lập và hệ quả là sự củng cố các nhóm cá nhân. Giai đoạn thứ ba của công việc sẽ mang tính đặc biệt và riêng biệt, khác nhau đối với mỗi nhóm, và cần được nhóm đó tuân theo với sự cẩn trọng tỉ mỉ. Tôi mong tất cả các nhóm khác nhau đang làm việc dưới sự hướng dẫn của tôi hãy chú tâm vào công việc riêng của nhóm mình, và đừng suy đoán về bản chất công việc mà các nhóm khác đang đảm trách.

Let me outline for you the stages to be followed:

Hãy để tôi phác thảo cho các bạn các giai đoạn cần được tuân theo:

STAGE ONE. Alignment. Soul contact. Spiritual poise. Poise is the steady holding of the achieved soul contact.

GIAI ĐOẠN MỘT. Chỉnh hợp. Tiếp xúc với linh hồn. Tự tại tinh thần. Tự tại là sự duy trì vững chắc mối tiếp xúc đã đạt được với linh hồn.

a. Then, the conscious relinquishing of personality reactions.

a. Sau đó, là sự từ bỏ một cách có ý thức các phản ứng của phàm ngã.

b. Next, the recognition of the fact of love as an expression of that soul contact—expressed through the medium of the personality.

b. Kế đến, là sự nhận biết thực tế tình thương như một biểu lộ của mối tiếp xúc với linh hồn—được thể hiện qua trung gian của phàm ngã.

c. Finally, the imaginative fusion of the egoic and personality rays.

c. Sau cùng, là sự hợp nhất bằng tưởng tượng giữa cung của linh hồn và cung của phàm ngã.

This constitutes the vertical stage.

Điều này tạo thành giai đoạn theo chiều dọc.

STAGE TWO. The above is followed by group integration and group fusion, carried forward consciously:

GIAI ĐOẠN HAI. Giai đoạn trên được tiếp nối bằng sự tích hợp nhóm và sự dung hợp nhóm, được tiến hành một cách có ý thức:

a. By bringing each group member into conscious rapport through naming and loving.

a. Bằng cách đưa mỗi thành viên trong nhóm vào mối giao cảm có ý thức thông qua việc gọi tên và phát khởi tình thương.

b. By seeing all the group members as a circle of living points of light along with yourself in the circle, but not at the centre of the circle.

b. Bằng cách quán tưởng tất cả các thành viên trong nhóm như một vòng tròn của những điểm sáng sống động, trong đó có cả chính bạn, nhưng không phải ở trung tâm của vòng tròn.

c. By imagining all these points of light as fusing and blending to make a radiant sun, with rays of light going out towards the four corners of the earth.

c. Bằng cách hình dung tất cả những điểm sáng ấy đang dung hợp và hoà quyện để tạo thành một vầng thái dương rực rỡ, với những tia sáng tuôn rải đến bốn phương của trái đất.

This constitutes the horizontal stage.

Điều này tạo thành giai đoạn theo chiều ngang.

STAGE THREE. There follows next a careful consideration of group purpose and technique. This technique will be different for each group; by a dynamic, unremitting [62] following of the particular, indicated technique will the results be achieved. This technique must not be changed by anyone except myself.

GIAI ĐOẠN BA. Kế tiếp là sự cứu xét cẩn trọng về mục đích nhóm và kỹ thuật nhóm. Kỹ thuật này sẽ khác nhau đối với mỗi nhóm; chỉ bằng cách chuyên tâm theo đuổi một cách mãnh liệt và không ngừng nghỉ [62] kỹ thuật đặc thù đã được chỉ định thì kết quả mới có thể đạt được. Kỹ thuật này không được phép thay đổi bởi bất kỳ ai ngoại trừ chính tôi.

Stages I and II should be rapidly effective and almost instantaneous in their results, after three months' careful work has been done. I request that you give careful, patient attention to them so that they develop eventually into stable habits and so give you no trouble and further difficulty. The initial stages in this type of work are of paramount importance.

Giai đoạn I và II nên cho hiệu quả nhanh chóng và gần như tức thời sau ba tháng làm việc cẩn trọng. Tôi yêu cầu các bạn dành sự chú tâm kiên nhẫn và cẩn thận cho chúng, để chúng dần dần trở thành những thói quen ổn định, và do đó không còn gây trở ngại hay khó khăn về sau. Những giai đoạn khởi đầu trong loại công việc này có tầm quan trọng hàng đầu.

STAGE FOUR. Having finished the special group work under Stage III, the members of the group will then endeavour to link up with the other groups in the same manner in which they linked up with the members of their own group. In this case, however, disciples will not concern themselves with the personnel of any of the groups, including their own, but only—as a group—link their group with the other groups. Thus the concepts of illusion and of separateness, and the realisation of fusion, will assume correct proportions in your minds.

GIAI ĐOẠN BỐN. Sau khi đã hoàn tất công việc đặc thù của nhóm trong Giai đoạn III, các thành viên trong nhóm sẽ cố gắng liên kết với các nhóm khác theo cùng một phương thức mà họ đã dùng để liên kết với các thành viên trong nhóm của chính họ. Tuy nhiên, trong trường hợp này, các đệ tử sẽ không quan tâm đến nhân sự của bất kỳ nhóm nào, kể cả nhóm của chính mình, mà chỉ—với tư cách là một nhóm—liên kết nhóm của mình với các nhóm khác. Nhờ đó, các khái niệm về ảo tưởng và phân cách, cũng như sự nhận thức về sự dung hợp, sẽ được thể hiện với đúng tầm vóc trong thể trí của các bạn.

a. Next, as a group, say the Great Invocation three times:

a. Kế đến, với tư cách là một nhóm, hãy đọc Đại Khấn Nguyện ba lần:

"Let the Forces of Light bring illumination to mankind.

“Nguyện các Lực lượng của Ánh sáng mang sự khai sáng đến nhân loại.

Let the Spirit of Peace be spread abroad.

Nguyện Tinh Thần Bình An được lan tỏa khắp nơi.

May Men of Goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.

Nguyện cho những Người thiện chí khắp nơi gặp nhau trong tinh thần hợp tác.

Let Power attend the efforts of the Great Ones."

Nguyện Quyền năng hỗ trợ những nỗ lực của Các Đấng Vĩ Đại.”

b. Then sound the Sacred Word, the O.M. three times.

b. Sau đó xướng Linh từ O.M. ba lần.

c. Close with the prayer of the personality to the soul:

c. Kết thúc bằng lời cầu nguyện của phàm ngã hướng lên linh hồn:

"May the words of my mouth and the meditation of my heart be always acceptable in thy sight, Oh Soul, my Lord and my Redeemer."

“Nguyện cho lời nói từ miệng tôi và sự tham thiền trong lòng tôi luôn luôn được chấp nhận trong ánh sáng của Ngài, Ôi Linh hồn, Đấng Chúa Tể và Đấng Cứu Rỗi của tôi.”

[63]

[63]

PART VII—PHẦN VII

The need for telepathic sensitivity in every group, composed of disciples, is based upon three necessities; I would like you to understand this more clearly.

Nhu cầu về sự nhạy cảm viễn cảm trong mọi nhóm, gồm những đệ tử, dựa trên ba tất yếu; tôi muốn các bạn thấu hiểu điều này rõ hơn.

1. The cultivation of an inter-relation of a telepathic nature upon the mental plane is essential. This has always been an established fact or condition in the case of a Master and His disciple and between the senior disciples in any group of accepted disciples. The time has now come when this group quality must—for the sake of a needy world—be developed by disciples of lesser attainment in the group.

1. Việc bồi dưỡng một mối liên hệ có tính viễn cảm trên cõi trí là điều thiết yếu. Điều này xưa nay vẫn là một sự kiện hay tình trạng đã được thiết lập trong trường hợp một Chân sư và Đệ tử của Ngài, và giữa các đệ tử thâm niên trong bất kỳ nhóm đệ tử được chấp nhận nào. Giờ đây đã đến lúc phẩm tính nhóm này—vì lợi ích của một thế giới đang thiếu thốn—phải được các đệ tử có thành tựu khiêm tốn hơn trong nhóm phát triển.

2. This telepathic unfoldment will lead to a greater sensitivity to others. This is the secret of a Master’s work and the factor which enables Him to work through His disciples, using them as outposts of His consciousness. To do this with exactitude, He must be able to know their condition (mental, psychical and physical) when He chooses so to know. He can thus discover whether they are available or not for any specific service, whether they can be safely used or not and whether their sensitivity is such and their interpretation of what they sense is of sufficient accuracy so that they will respond intelligently to the need. Have I not had to study all of you this way? Think this out and ponder upon the implications.

2. Sự triển nở viễn cảm này sẽ dẫn đến mức nhạy cảm lớn hơn đối với người khác. Đây là bí quyết công việc của một Chân sư và là yếu tố khiến Ngài có thể làm việc qua các đệ tử của Ngài, dùng họ như những tiền đồn của tâm thức Ngài. Để làm việc ấy một cách chuẩn xác, Ngài phải có khả năng biết tình trạng của họ (trí tuệ, tâm linh và thể xác) khi Ngài chọn biết như vậy. Nhờ đó, Ngài có thể khám phá xem họ có sẵn sàng hay không cho bất kỳ phụng sự cụ thể nào, liệu họ có thể được sử dụng một cách an toàn hay không, và liệu tính nhạy cảm của họ ra sao và sự diễn dịch những gì họ cảm tri có đủ chính xác để họ sẽ đáp ứng cách thông tuệ trước nhu cầu hay không. Chẳng phải tôi đã phải khảo sát tất cả các bạn theo cách này sao? Hãy suy nghĩ kỹ điều này và chiêm nghiệm các hàm ý của nó.

3. This telepathic sensitivity will also lead to the new science of inter-communication which, in the New Age, will reach general use and comprehension. Of this condition, the radio is the outer physical symbol.

3. Sự nhạy cảm viễn cảm này cũng sẽ dẫn đến khoa học mới về liên-giao tiếp vốn, trong Kỷ Nguyên Mới, sẽ đạt đến mức sử dụng và lĩnh hội phổ quát. Tình trạng này có biểu tượng hồng trần bên ngoài là máy vô tuyến.

Certain questions now arise and it might be well to formulate the answers to some of them. It could be wisely asked if anyone has the right to work telepathically upon the mind of any person? The answer is that you are doing it all the time, consciously or unconsciously, and without skill or purpose or—if there is a purpose—it is usually a personality purpose. It is through telepathy that ideas have been disseminated in the world by the process of mentally impressing the mind of some [64] disciple or sensitive person. It is then their task to find and direct the mind and activities of those individuals whose task is not only to be responsive to this impression but to bring it out into the consciousness of the world thinkers. Have you ever asked yourselves what are the aspects of the work, in connection with telepathy, which raise questions in your mind? Is it not distrust of personality intention or point of view and a questioning also as to your own sincerity or motives? Unless this work is carried forward selflessly and with complete freedom from personal prejudice and personal choices—political or religious—there can be no safe work along this line. That is why I emphasise to you the need of doing this work at the highest united point of meditation and with complete obedience to my decisions in the matter.

Một vài câu hỏi nhất định giờ đây khởi lên và có lẽ tốt hơn là nên hình thành câu trả lời cho một vài điều trong số đó. Có thể khôn ngoan khi hỏi liệu bất kỳ ai có quyền làm việc viễn cảm lên thể trí của bất kỳ người nào không? Câu trả lời là các bạn vẫn đang làm điều đó mọi lúc, có ý thức hay vô ý thức, và không có kỹ xảo hoặc mục đích, hoặc—nếu có mục đích—thì thường đó là mục đích của phàm ngã. Chính qua viễn cảm mà các ý tưởng đã được truyền bá trong thế giới bằng tiến trình ấn tượng một cách trí tuệ lên thể trí của một đệ tử hay người nhạy cảm nào đó. Khi ấy, đó là nhiệm vụ của họ để tìm và dẫn dắt thể trí và các hoạt động của những cá nhân có nhiệm vụ không chỉ đáp ứng với ấn tượng này mà còn đưa nó vào tâm thức của những nhà tư tưởng trên thế giới. Các bạn đã từng hỏi chính mình đâu là những phương diện của công việc, có liên hệ với viễn cảm, vốn nêu lên thắc mắc trong trí các bạn? Chẳng phải đó là sự bất tín đối với ý định hay quan điểm của phàm ngã và cũng là sự hoài nghi về sự thành thực hay động cơ của chính các bạn sao? Trừ khi công việc này được tiến hành một cách vị tha và hoàn toàn thoát ly khỏi thành kiến cá nhân và những chọn lựa cá nhân—chính trị hay tôn giáo—thì không thể có công việc an toàn theo hướng này. Đó là lý do vì sao tôi nhấn mạnh với các bạn nhu cầu thực hiện công việc này tại điểm hợp nhất cao nhất của tham thiền và với sự vâng phục hoàn toàn các quyết định của tôi trong vấn đề này.

Another question could well be: What is the difference between this work which I am suggesting to you and the work of the Lodge of the Lords of Form? None whatsoever, except in motive and the point from which you must endeavour to work. The Lords of Form work entirely on and from the lower levels of the mental plane and with the energy of knowledge. The love aspect of the soul itself is inactive and, therefore, from the angle and vision of the Great White Lodge, motives are wrong and the objectives are selfish ones. This is true both of individuals and groups. Forget not that these Lords of Form are souls of great age and unique blindness. But that later, in some far distant cycle, and when karma has worked upon them and the Great Law has exacted full payment for all wrong done, that they too will begin to develop the love aspect and to transmute their motives. You too must work from mental levels but knowledge and love must be called into play together, producing only those results which are harmoniously and intelligently in line with the Plan. Disciples are not permitted to call into play and functioning activity the Will aspect of the soul, unless they are initiates of the third degree. Prior to that, they seldom realise the distinction between the imposition of the will and the directed impression of ideas. There is too much desire (which is embryonic will) in their equipment for them to be trusted as yet with this higher aspect of mental activity. I would ask you to get clearly in your minds in connection [65] with any telepathic work which these groups (working under me) should do, that it is the impression of ideas and not imposed direction which is the group ideal—a very different thing, my brother.

Một câu hỏi khác cũng nên được nêu: Sự khác biệt giữa công việc mà tôi đang gợi ý cho các bạn và công việc của Hội của các Chúa Tể Hình tướng là gì? Không có gì cả, ngoại trừ ở động cơ và điểm mà từ đó các bạn phải nỗ lực làm việc. Các Chúa Tể Hình tướng làm việc hoàn toàn trên và từ các cõi thấp của cõi trí và với năng lượng của tri thức. Phương diện bác ái của chính linh hồn bất hoạt và, vì vậy, từ góc độ và tầm nhìn của Thánh đoàn, động cơ là sai và các mục tiêu là ích kỷ. Điều này đúng với cả cá nhân lẫn nhóm. Chớ quên rằng các Chúa Tể Hình tướng này là những linh hồn cao niên và mù lòa dị biệt. Nhưng về sau, trong một chu kỳ xa xôi nào đó, và khi nghiệp quả đã tác động lên họ và Đại Định Luật đã đòi hỏi sự hoàn trả đầy đủ cho mọi điều sai trái, thì chính họ cũng sẽ bắt đầu phát triển phương diện bác ái và chuyển hoá các động cơ của mình. Các bạn cũng phải làm việc từ các cấp độ trí tuệ, nhưng tri thức và bác ái phải được đồng thời vận dụng, tạo ra chỉ những kết quả nào hòa hợp và thông minh, đi thẳng hàng với Thiên Cơ. Các đệ tử không được phép đưa vào hoạt động và chức năng phương diện Ý chí của linh hồn, trừ khi họ là các điểm đạo đồ của lần điểm đạo thứ ba. Trước đó, họ hiếm khi nhận ra sự phân biệt giữa áp đặt ý chí và ấn tượng có điều hướng của các ý tưởng. Có quá nhiều dục vọng (vốn là ý chí phôi thai) trong cơ cấu của họ để họ chưa thể được tin cậy với phương diện cao hơn này của hoạt động trí tuệ. Tôi muốn các bạn nắm thật rõ trong thể trí mình, liên hệ [65] với bất kỳ công việc viễn cảm nào mà các nhóm này (đang làm việc dưới quyền tôi) nên thực hiện, rằng đó là ấn tượng của các ý tưởng chứ không phải chỉ đạo áp đặt mới là lý tưởng của nhóm—một điều rất khác, huynh đệ của tôi.

You might also ask: How can this collective impressing go on and yet leave a man free? Because it will be kept clear of all directed will-force; all that workers and disciples in my groups will seek to do is to impress certain minds with the outlines or suggestions as to the Plan; these ideas will deal particularly with the concept that separation is a thing of the past and that unity is the goal of the immediate future; that hatred is retro-active and undesirable and that goodwill is the touchstone which will transform the world.

Các bạn cũng có thể hỏi: Làm sao sự ấn tượng tập thể này có thể tiếp diễn mà vẫn để con người tự do? Bởi vì nó sẽ được giữ cho tách biệt khỏi mọi lực ý chí có chủ đích; tất cả những gì các công nhân và đệ tử trong các nhóm của tôi sẽ tìm cách làm là ấn tượng một số thể trí với những phác thảo hay gợi ý về Thiên Cơ; các ý tưởng này sẽ đặc biệt đề cập đến quan niệm rằng chia rẽ là chuyện của quá khứ và hợp nhất là mục tiêu của tương lai gần; rằng hận thù là phản tác dụng và bất đáng, và rằng thiện chí là hòn đá thử vàng sẽ chuyển hoá thế giới.

How then can you keep your minds free from your own desires and from your own interpretations? By achieving that poised and positive negativity on the part of the two lower aspects of the personality—the astral body and the brain as well as the etheric brain; these determine the reactions of the lower centres, particularly of the solar plexus centre. The mind will then be left free to fulfil three functions:

Vậy làm thế nào để các bạn giữ cho thể trí mình thoát ly khỏi các dục vọng và khỏi những diễn dịch riêng? Bằng cách đạt đến sự quân bình và tính thụ động tích cực nơi hai phương diện thấp của phàm ngã—thể cảm dục và bộ não cũng như bộ não dĩ thái; những thứ này quyết định các phản ứng của các luân xa thấp, nhất là luân xa tùng thái dương. Khi ấy, thể trí sẽ được để tự do để hoàn tất ba chức năng:

1. That of soul contact; this will result in illumination and a working knowledge of the immediate aspects of the Plan.

1. Chức năng tiếp xúc linh hồn; điều này sẽ đưa đến soi sáng và một kiến thức thực hành về các phương diện tức thời của Thiên Cơ.

2. That of thought formulation and thoughtform creation. Then a clear thoughtform can be constructed with definiteness, and it can be positively directed.

2. Chức năng hình thành tư tưởng và tạo Hình tư tưởng. Khi đó, một Hình tư tưởng rõ ràng có thể được kiến tạo một cách minh định, và nó có thể được điều hướng một cách quả quyết.

3. That of working on mental levels with your group brothers so that your thoughtform is a part of their thoughtform and you can, therefore, unitedly produce a living, embodied form which can be directed as I may determine.

3. Chức năng làm việc trên các cấp trí tuệ với các huynh đệ nhóm của các bạn để Hình tư tưởng của các bạn là một phần của Hình tư tưởng của họ và, do đó, các bạn có thể hợp nhất tạo ra một hình tướng sống động, được hiện thân, vốn có thể được điều hướng theo như tôi quyết định.

Another question might here arise: Are there any specific and brief rules which should be obeyed? The following might be given, but I would remind you that it is what you are that counts in this work more powerfully than anything else. The controlling factor is harmlessness in thought and word; the practice of this, with proper observation, will greatly help all of you. Next comes a refusal to think unkindly or with criticism; [66] this is essential in connection with those whose minds you seek to impress. Silence, complete and unbroken as to what you are doing, is also a vital factor; the utterance of words in connection with this most subtle and confidential work (or even discussion of the work with a fellow disciple) can shatter the delicate thoughtform which you are attempting to build. It can render the work of weeks abortive. A balanced attitude in relation to those in power throughout the world must also be cultivated; they need above all else the inspiration which can be brought to them from the Hierarchy.

Một câu hỏi khác có thể nảy sinh ở đây: Có những quy luật ngắn gọn, cụ thể nào cần phải tuân giữ không? Có thể nêu như sau, nhưng tôi muốn nhắc các bạn rằng điều quyết định là các bạn là gì trong công việc này, mạnh mẽ hơn bất cứ điều gì khác. Nhân tố chi phối là tính vô tổn hại trong tư tưởng và ngôn từ; thực hành điều này, với sự quan sát đúng đắn, sẽ giúp tất cả các bạn rất nhiều. Kế đó là một sự từ chối nghĩ bất thiện hay với thái độ phê phán; [66] điều này là thiết yếu đối với những ai mà thể trí của họ các bạn tìm cách ấn tượng. Im lặng, hoàn toàn và không gián đoạn về những gì các bạn đang làm, cũng là một yếu tố sinh tử; việc thốt ra lời nói có liên quan đến công việc cực kỳ vi tế và cơ mật này (hoặc thậm chí thảo luận công việc với một đồng đệ tử) có thể làm tan vỡ Hình tư tưởng mong manh mà các bạn đang cố gắng xây dựng. Nó có thể khiến công việc của nhiều tuần trở nên vô hiệu. Một thái độ quân bình đối với những người cầm quyền trên khắp thế giới cũng phải được bồi dưỡng; trên hết thảy, họ cần cảm hứng có thể được mang đến cho họ từ Thánh Đoàn.

I would ask you, therefore, to practise purging the content of your minds of all critical and unkind thoughts so that you can achieve an attitude of divine indifference to the ephemeral and fleeting personalities and to the chaos everywhere to be seen and so endeavour to tune in on the attitude of the Hierarchy. This involves the emphasis of the consciousness-aspect and the careful observation of all that goes on beneath the surface—awakening, arousing and stimulating to a pronounced mental activity, the hitherto unconscious masses. The events which are happening in every country are bringing this about with much rapidity; humanity is coming alive and its consciousness is awakening to the subjective values. The Hierarchy is sore beset to meet humanity’s emerging need of guidance. The sensitivity of the human race (as the result of economic insufficiency, of war, anxiety and pain) is becoming so acute that we who work on the inner side must hasten to impress sensitive, awakening psychics with the right impression. Hence our effort to create these groups, and to use people like yourselves who are (theoretically) harmless but actually full of prejudice and hasty judgments. We have to use the material which lies to hand and are greatly handicapped at all times.

Vì vậy, tôi muốn các bạn tập luyện tẩy sạch nội dung thể trí khỏi mọi ý nghĩ phê phán và bất thiện để các bạn có thể đạt đến một thái độ Điềm nhiên thiêng liêng đối với các phàm ngã phù du và thoáng qua và đối với cảnh hỗn loạn thấy ở khắp nơi, và như thế nỗ lực hòa điệu với thái độ của Thánh Đoàn. Điều này hàm ý nhấn mạnh phương diện tâm thức và quan sát cẩn thận mọi điều đang diễn ra dưới bề mặt—đánh thức, khơi dậy và kích thích đến một hoạt động trí tuệ nổi bật, quần chúng vốn bị vô thức cho đến nay. Những sự kiện đang xảy ra tại mọi quốc gia đang đưa điều này đến với tốc độ lớn; nhân loại đang hồi sinh và tâm thức của nó đang thức dậy với các giá trị chủ quan. Thánh Đoàn đang bị bức bách để đáp ứng nhu cầu đang trỗi dậy của nhân loại về sự dẫn dắt. Tính nhạy cảm của nhân loại (hậu quả của thiếu thốn kinh tế, chiến tranh, lo âu và đau khổ) đang trở nên quá cấp bách đến nỗi chúng tôi, những người làm việc ở cõi bên trong, phải khẩn trương ấn tượng những nhà thông linh đang thức tỉnh với ấn tượng đúng đắn. Do đó nỗ lực của chúng tôi nhằm tạo dựng những nhóm này, và sử dụng những người như các bạn—những người (về lý thuyết) vô tổn hại nhưng trên thực tế đầy thành kiến và các phán đoán vội vã. Chúng tôi phải sử dụng chất liệu sẵn có trong tay và luôn luôn bị giới hạn rất nhiều.

After you have worked consciously at the purification of the mind and after you have attempted to free yourselves from prejudice, from preconceived ideas and hasty judgments and determinations (based upon your own background, tradition, social and racial status), you will then brood consciously on the process of thoughtform making; you will remember that—for group purposes and for simplicity—the following three stages are of importance: [67]

Sau khi các bạn đã làm việc một cách có ý thức trong việc thanh lọc thể trí và sau khi đã nỗ lực giải phóng mình khỏi thành kiến, khỏi những ý niệm định sẵn và các phán đoán, quyết định vội vàng (dựa trên bối cảnh, truyền thống, địa vị xã hội và sắc dân của chính các bạn), các bạn sẽ rồi trầm tư một cách có ý thức về tiến trình tạo Hình tư tưởng; các bạn sẽ ghi nhớ rằng—vì mục đích nhóm và để đơn giản—ba giai đoạn sau đây là quan trọng: [67]

1. The stage of pondering over the idea which is to be impressed upon the mind of some individual. This pondering and carefully directed thinking produces construction; it is a creative activity and is the first real stage in our work. I do not want you to endeavour to build thoughtforms. I want you to think clearly along lines which I may indicate. Then the desired thoughtform will automatically take shape and all of you will have contributed something to it.

1. Giai đoạn chiêm niệm về ý tưởng sẽ được ấn tượng lên thể trí của một cá nhân nào đó. Sự chiêm niệm và tư duy được điều hướng cẩn trọng này tạo ra kiến tạo; đó là một hoạt động sáng tạo và là giai đoạn thật sự đầu tiên trong công việc của chúng ta. Tôi không muốn các bạn cố gắng xây dựng Hình tư tưởng. Tôi muốn các bạn tư duy minh bạch theo các đường hướng mà tôi có thể nêu ra. Bấy giờ Hình tư tưởng mong muốn sẽ tự động thành hình và tất cả các bạn sẽ đóng góp điều gì đó cho nó.

2. When the thoughtform is thus built in your mind, there will follow a period wherein it comes alive. It slowly becomes the living embodiment of the desired idea—vibrant, active and ready for service.

2. Khi Hình tư tưởng được xây dựng như thế trong thể trí các bạn, sẽ theo sau một giai đoạn trong đó nó trở nên sống động. Nó chậm rãi trở thành sự hiện thân sống động của ý tưởng mong muốn—rung hoạt, linh lợi và sẵn sàng để phụng sự.

3. When this stage is reached, you can then—as a group—proceed with the stage of direction. Having carefully in mind the person to be impressed and the fact of your group as the impressing agency (thus providing the two poles between which interplay is desired), you will try to see the living embodied idea, playing back and forth between the two poles. You will send it out on the wings of love, impelled by the wise desire to serve and in obedience to my directions. Time and again, it may return to you for revivifying and enrichment before its task is satisfactorily accomplished.

3. Khi đạt đến giai đoạn này, các bạn có thể—như một nhóm—tiến hành giai đoạn điều hướng. Luôn ghi nhớ người cần được ấn tượng và thực tại nhóm của các bạn như cơ quan ấn tượng (như vậy cung cấp hai cực giữa đó sự giao tác là điều mong muốn), các bạn sẽ cố gắng thấy ý tưởng đã được hiện thân sống động, qua lại giữa hai cực. Các bạn sẽ gửi nó đi trên đôi cánh của Tình thương, được thúc đẩy bởi ước nguyện khôn ngoan để phụng sự và vâng theo các chỉ dẫn của tôi. Hết lần này đến lần khác, nó có thể trở về với các bạn để được tiếp sinh khí và phong phú thêm trước khi nhiệm vụ của nó được hoàn thành một cách thỏa đáng.

The externalised groups of disciples are all of them intended to be expressions of a type of group relation which will be better known and understood when the world has entered into the next cycle and era of peace. Certain types of force are, as you know, to be later utilised by the groups for specific group ends and for world service. The motive for all such service must not be forgotten by you, as you study and work in a Master’s group. The objective is not your individual assistance and unfoldment but your training in certain group alignments and activities which will enable these groups of disciples to work in a definite and specific manner. The fact, however, that one group will work with one type of force and another group of disciples will employ a different kind must not in any sense be deemed to indicate separate activity or separative interests. All [68] will be working towards one objective or goal and all will work with the same divine energy, differentiated into varying forces for the purposes of service in one department of life or another. I would ask you to ponder deeply upon the various aspects of the outlined plan or system of group work which I have brought to you, for it is a tentative endeavour to externalise upon earth, certain phases of hierarchical endeavour.

Các nhóm đệ tử được ngoại hiện đều được định hướng để biểu hiện một kiểu liên hệ nhóm vốn sẽ được biết rõ và thấu hiểu hơn khi thế giới bước vào chu kỳ kế tiếp và thời kỳ hòa bình. Như các bạn biết, một số loại lực nhất định sẽ, về sau, được các nhóm sử dụng cho những mục đích nhóm đặc định và cho phụng sự thế giới. Động cơ cho mọi phụng sự như thế không được các bạn quên, khi các bạn học tập và làm việc trong nhóm của một Chân sư. Mục tiêu không phải là sự trợ giúp và khai mở cá nhân của các bạn, mà là huấn luyện các bạn trong những chỉnh hợp và hoạt động nhóm nhất định sẽ khiến những nhóm đệ tử này có thể làm việc theo một cách thức minh định và đặc thù. Tuy nhiên, thực tế một nhóm sẽ làm việc với một loại lực và một nhóm đệ tử khác sẽ dùng một loại khác không được, theo bất kỳ nghĩa nào, xem như ám chỉ hoạt động tách rời hay mối quan tâm phân ly. Tất cả [68] sẽ làm việc hướng về một mục tiêu hay cứu cánh duy nhất và tất cả sẽ làm việc với cùng một năng lượng thiêng liêng, được biệt hóa thành các lực sai khác nhằm mục đích phụng sự trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác của đời sống. Tôi muốn các bạn chiêm nghiệm sâu xa về các phương diện khác nhau của kế hoạch hay hệ thống công việc nhóm đã phác thảo mà tôi đã mang đến cho các bạn, vì đó là một nỗ lực thăm dò nhằm ngoại hiện trên địa cầu một vài giai đoạn của nỗ lực thuộc Thánh Đoàn.

The energy used in the telepathic work is the “chitta” (as the Hindus call it) or the mind-stuff which underlies and is the very substance of manifestation itself. God, the planetary Life or Logos, however, works with the higher correspondence of this mind-stuff and the forces of the mental plane are the reflection or rather the densification of this higher mental substance. These forces, this mind-stuff, is constantly in flux and in motion. This produces that thoughtform-making activity of the mental world which is set in motion by minds—working either individually or in group formation. In true telepathic work (carried forward without error and correctly and from a poised point of action) the currents of this mind-stuff are set in motion between certain points by the will and the carefully expressed and formulated idea in the mind of the thinker. A certain portion of this mind-stuff (already in motion) is built into form and then travels along the current, as set up between the two points. The telepathic worker, such as, for instance, myself, works from the angle of the mind of the transmitter and that of the recipient, establishing first of all a current of rapport (which you sometimes call “sensing the Tibetan’s vibration”); along that current, I send the impression, the idea or the thoughtform which I seek to see impinging first of all upon your minds and then—if you are capable of such alignment—upon your brains. This process can be either rapid or slow. Where the alignment is good, there can be an almost immediate response to my thought; where it is not good, it may take days and even weeks for the impression to be finally realised and consciously registered on the disciple’s mind and brain.

Năng lượng được dùng trong công việc viễn cảm là “chitta” (như người Ấn giáo gọi) hay tâm-chất, tức chất liệu của thể trí, vốn tiềm ẩn và là chính chất liệu của sự biểu lộ. Thượng đế, Sự sống hành tinh hay Hành Tinh Thượng đế, tuy nhiên, làm việc với tương ứng cao hơn của tâm-chất này và các lực của cõi trí là phản ảnh—đúng hơn là sự làm đậm đặc—của chất trí cao ấy. Các lực này, tâm-chất này, luôn trong tình trạng biến lưu và chuyển động. Điều này tạo ra hoạt động tạo Hình tư tưởng của thế giới trí tuệ, vốn được khởi động bởi các thể trí—làm việc hoặc cá nhân hoặc theo hình thức nhóm. Trong công việc viễn cảm đích thực (được tiến hành không sai lầm, cho đúng và từ một điểm hành động quân bình), các dòng chảy của tâm-chất này được khởi động giữa những điểm nhất định bởi ý chí và ý tưởng được diễn tả và hình thành cẩn trọng trong thể trí của người tư tưởng. Một phần nào của tâm-chất này (vốn đã ở trong chuyển động) được kết tạo thành hình và rồi di chuyển dọc theo dòng chảy như được thiết lập giữa hai điểm. Người công tác viễn cảm, như, chẳng hạn, chính tôi, làm việc từ góc độ thể trí của người truyền đạt và của người thụ nhận, trước hết thiết lập một dòng giao cảm (mà đôi khi các bạn gọi là “cảm nhận rung động của Chân sư Tây Tạng”); dọc theo dòng chảy đó, tôi gửi ấn tượng, ý tưởng hay Hình tư tưởng mà tôi muốn thấy trước nhất va đập lên thể trí của các bạn, rồi—nếu các bạn có khả năng chỉnh hợp như thế—lên bộ não của các bạn. Tiến trình này có thể nhanh hoặc chậm. Nơi nào chỉnh hợp tốt, có thể có sự đáp ứng gần như tức thời với tư tưởng của tôi; nơi nào không tốt, có thể mất ngày và thậm chí hàng tuần để ấn tượng cuối cùng được nhận ra và ghi nhận có ý thức trên thể trí và bộ não của đệ tử.

There are other groups which are consciously working with the energy which can dispel glamour and illusion. This is the energy of the highest level of the astral plane. This level is [69] susceptible to reaction or response to that type of energy which we call the energy of the intuition or of buddhi, if you like the oriental terminology. It is the energy of wisdom. This wisdom energy is the only type of force which is adequate to dispel the miasmas, the fogs and the mists of the world of glamour. Those disciples who are working in these groups have to learn to use this energy, to work wisely, to think with wisdom and to realise that wisdom itself is a force. It is this realisation which makes a person seek out another person with wisdom when he is in trouble and difficulty and is anxious to see with clarity the way that he should go. It is this realisation which drives the members of the human family to the Masters of the Wisdom.

Có các nhóm khác đang làm việc một cách có ý thức với năng lượng có thể xua tan ảo cảm và ảo tưởng. Đây là năng lượng của cõi cao nhất của cõi cảm dục. Cõi này [69] mẫn cảm với phản ứng hay đáp ứng đối với loại năng lượng mà chúng ta gọi là năng lượng của trực giác hay của Bồ đề, nếu các bạn thích thuật ngữ Đông phương. Đó là năng lượng của Minh triết. Chính năng lượng Minh triết này là loại lực duy nhất đủ sức xua tan những mù chướng, sương mù và làn khói của thế giới ảo cảm. Những đệ tử đang làm việc trong các nhóm này phải học cách sử dụng năng lượng này, làm việc một cách khôn ngoan, tư duy với Minh triết và nhận ra rằng bản thân Minh triết là một lực. Chính nhận thức này khiến một người tìm đến một người khác có Minh triết khi y gặp khó khăn, khốn đốn và nóng lòng muốn thấy rõ con đường y nên đi. Chính nhận thức này thúc đẩy các thành viên của gia đình nhân loại tìm đến các Chân sư của Minh triết.

In Atlantean days (I am here telling you something of interest and something which should evoke a sense of responsibility), the major task of the Masters of the Wisdom was with the great world illusion or rather, glamour. They worked then primarily upon the astral plane and had They not done so, human life and conditions would not be so good as they are—for they are in reality full of beauty, the beauty of potentiality, hovering upon the verge of immediacy of expression.

Vào thời Atlantis (ở đây tôi nói với các bạn điều gì đó lý thú và điều gì đó nên khơi dậy ý thức trách nhiệm), nhiệm vụ chủ yếu của các Chân sư Minh triết là với đại ảo tưởng của thế gian, đúng hơn là ảo cảm. Khi ấy, Các Ngài làm việc chủ yếu trên cõi cảm dục và nếu Các Ngài đã không làm như vậy, thì đời sống và các điều kiện của con người sẽ không tốt đẹp như hiện nay—bởi vì thực ra chúng đầy vẻ đẹp, vẻ đẹp của tiềm năng, đang lơ lửng ở ngưỡng cửa của sự biểu lộ tức thời.

Today, They are working primarily upon the mental plane, dealing with ideas and with their impression upon the minds of Their disciples and advanced humanity; it is the problem of humanity itself, as a whole, to work in the world glamour; it is the responsibility of the aspirants of the world to guide humanity out of the valley of glamour. Men must learn to understand it and eventually—aided by the senior disciples of the world, trained by the Masters of the Wisdom—to transmute and dispel it.

Ngày nay, Các Ngài đang làm việc chủ yếu trên cõi trí, đề cập đến các ý tưởng và đến việc ấn tượng các ý tưởng đó lên thể trí của các đệ tử của Các Ngài và của nhân loại tiến bộ; đối với ảo cảm thế gian, đó là vấn đề của chính nhân loại như một toàn thể; đó là trách nhiệm của những người chí nguyện trên thế giới dẫn nhân loại ra khỏi thung lũng ảo cảm. Con người phải học cách thấu hiểu nó và rốt cuộc—được các đệ tử thâm niên của thế giới, những người được các Chân sư Minh triết đào luyện, trợ giúp—để chuyển hoá và xua tan nó.

You should, therefore, bear in mind that the task before the modern disciple is to carry forward into the New Age the idea of the bringing of glamour and of the great illusion into the light. In the light, it will disappear. In this age, we have mastered, too well perhaps, the forces of nature and have brought out for our own benefit the material resources of the physical plane. We have conquered them and bent them to our will and use, often selfishly, yet sometimes with good and pure intent. In the New Age, a paralleling control will take place [70] over the world of astral phenomena and over the forces of glamour and illusion. We seek to control them today mentally and theoretically. But only the energy of wisdom will suffice to dispel the forces of the world glamour and the world illusion. Practise wisdom, my brothers, and thus aid humanity and shorten its astral struggle.

Vì vậy, các bạn nên ghi nhớ rằng nhiệm vụ trước mặt đệ tử hiện đại là đem vào Kỷ Nguyên Mới ý niệm đưa ảo cảm và đại ảo tưởng ra dưới ánh sáng. Trong ánh sáng, nó sẽ biến mất. Trong thời đại này, chúng ta đã chế ngự, có lẽ quá thành công, các lực thiên nhiên và đã khai thác vì lợi ích riêng các tài nguyên vật chất của cõi hồng trần. Chúng ta đã chinh phục chúng và bẻ cong chúng theo ý chí và lợi dụng của mình, thường là ích kỷ, song đôi khi với ý hướng tốt đẹp và trong sáng. Trong Kỷ Nguyên Mới, sẽ có một kiểm soát song hành diễn ra [70] trên thế giới hiện tượng cảm dục và trên các lực của ảo cảm và ảo tưởng. Chúng ta tìm cách kiểm soát chúng ngày nay một cách trí tuệ và lý thuyết. Nhưng chỉ năng lượng của Minh triết mới đủ để xua tan các lực của ảo cảm thế gian và ảo tưởng thế gian. Hãy thực hành Minh triết, các huynh đệ của tôi, và như thế trợ giúp nhân loại và rút ngắn cuộc vật lộn cảm dục của nó.

Other groups have the task of working with the energy which is the well known and much discussed prana or life energy—the energy of vitality. The right use of the pranic energies (and they are seven in number) will most assuredly dissipate disease and bodily ills and will cure the pains of the human physical vehicle. But in connection with this, two things are essential and these are seldom found together:

Các nhóm khác có nhiệm vụ làm việc với năng lượng vốn được biết đến nhiều và được bàn luận nhiều là prana hay sinh lực—năng lượng sinh khí. Việc sử dụng đúng các năng lượng prana (và chúng có con số bảy) ắt hẳn sẽ làm tiêu tan bệnh tật và tật chứng của thể xác, và sẽ chữa lành các đau đớn của vận cụ hồng trần của con người. Nhưng liên hệ với điều này, có hai điều là thiết yếu và hai điều ấy hiếm khi đi đôi với nhau:

1. The energy of the soul—like the energy of the universal mind and the energy of buddhi, or the intuition—has to be set in action upon the physical plane by the one to be healed and by the healer. Both have to work in cooperation.

1. Năng lượng của linh hồn—như năng lượng của Vũ Trụ Trí và năng lượng của Bồ đề, hay trực giác—phải được khởi động trên cõi hồng trần bởi người được chữa lành và bởi người chữa lành. Cả hai phải làm việc trong hợp tác.

2. There must be right understanding of the disease and its cause, plus the karmic status of the patient and the condition of his centres, his alignment and his point in evolution.

2. Phải có sự thấu hiểu đúng về bệnh và nguyên nhân của nó, cộng với tình trạng nghiệp quả của bệnh nhân và tình trạng các luân xa của người ấy, sự chỉnh hợp của y và điểm tiến hoá của y.

As yet we are only dealing with the a.b.c. of these relatively new sciences and much of our initial work must be of a clarifying nature because there is so much distorted sensing of these occult systems of energy utilisation and so much misuse of these powers.

Hiện giờ, chúng ta chỉ đang xử lý những mẫu tự vỡ lòng của các khoa học tương đối mới mẻ này và nhiều công việc khởi đầu của chúng ta phải mang tính làm sáng tỏ vì có quá nhiều cảm tri sai lệch về những hệ thống huyền môn của sự sử dụng năng lượng, và quá nhiều lạm dụng các quyền năng này.

Other groups are associated in a peculiar manner with the number four, and they are occupied with the bridging work carried forward between the personality and the Monad (the triple lower man and the Spiritual Triad) and also between the lower mind, the soul and the higher mind—thus linking that relatively lower triplicity with the unity, the Spiritual Triad. The fourth kingdom in nature is, in its turn, a bridging kingdom between the three superhuman kingdoms and the three subhuman. Again, the fourth plane (which must be reached by the bridge of light, the antahkarana) is the link between the three higher worlds of spiritual being and the three lower [71] worlds of human endeavour and experience. The energy with which the group of disciples along this line of activity has to work is the Light of the soul, remembering ever that light is substance; their effort is to create—as individuals and also as a group of disciples—a great pathway of light between the personality and the Spiritual Triad (atma-buddhi-manas or spiritual will, intuitive understanding and the higher mind).

Các nhóm khác liên hệ theo một cách đặc biệt với con số bốn, và họ đang bận rộn với công trình bắc cầu được tiến hành giữa phàm ngã và chân thần (phàm ngã tam phân và Tam Nguyên Tinh Thần) và cũng giữa hạ trí, linh hồn và thượng trí—qua đó liên kết bộ ba tương đối thấp đó với nhất thể, tức Tam Nguyên Tinh Thần. Giới thứ tư trong thiên nhiên, đến lượt mình, là một giới bắc cầu giữa ba giới siêu nhân và ba giới hạ nhân. Lại nữa, cõi thứ tư (mà phải được đạt đến bằng chiếc cầu ánh sáng, antahkarana) là mắt xích giữa ba thế giới cao của hiện hữu tinh thần và ba [71] thế giới thấp của nỗ lực và kinh nghiệm nhân loại. Năng lượng mà nhóm đệ tử theo tuyến hoạt động này phải làm việc là Ánh sáng của linh hồn, hãy luôn nhớ rằng ánh sáng là chất liệu; nỗ lực của họ là tạo dựng—như các cá nhân và cũng như một nhóm đệ tử—một đại lộ ánh sáng giữa phàm ngã và Tam Nguyên Tinh Thần (atma–buddhi–manas, tức ý chí tinh thần, sự thấu hiểu trực giác và thượng trí).

I have not dealt with some of the activities of these groups of disciples in the New Age or pointed out the energies with which they must work in order to emphasise again to you the plans for my own groups of disciples. These groups with which I am engaged as part of the activity of my Ashram are essentially Seed Groups. They are intended to be outposts of the hierarchical consciousness as it focusses itself through me in the same sense as an individual accepted disciple is an outpost of his Master’s consciousness in the world. That is the connection which I seek to emphasise—the externalisation of the inner work of the planetary Hierarchy for the first time in history and a precipitation (if you like that term) of an inner and ready condition. The New Age is upon us and the integration of humanity in the three worlds warrants definite changes in technique though not in the basic plans.

Tôi không đề cập đến vài hoạt động của những nhóm đệ tử trong Kỷ Nguyên Mới hay chỉ ra các năng lượng mà họ phải làm việc để lại một lần nữa nhấn mạnh với các bạn các kế hoạch dành cho chính những nhóm đệ tử của tôi. Những nhóm mà tôi đang gắn bó như là một phần hoạt động của Đạo viện của tôi về bản chất là các Nhóm hạt giống. Chúng được định là những tiền đồn của tâm thức Thánh Đoàn khi nó tập trung qua tôi, tương tự như một đệ tử được chấp nhận là tiền đồn của tâm thức Vị Thầy của y trong thế giới. Đó là mối liên hệ mà tôi tìm cách nhấn mạnh—sự ngoại hiện của công việc nội tại của Thánh Đoàn hành tinh lần đầu tiên trong lịch sử và một sự ngưng tụ (nếu các bạn thích thuật ngữ ấy) của một tình trạng nội tại và sẵn sàng. Kỷ Nguyên Mới đã đến với chúng ta và sự tích hợp của nhân loại trong ba cõi giới biện minh cho những thay đổi dứt khoát về kỹ thuật cho dù không thay đổi về các kế hoạch nền tảng.

All this is, however, an experiment and I would remind you that it is an experiment which I and several other initiates are carrying forward as members of a great spiritual organisation. If it is successful and if the spiritual momentum set up by all of you is adequate to the effort made and if you can carry on with persistence and with untiring effort and interest, it may be possible to bring the experimental stage to an end; the Hierarchy can then recognise (as effectively established upon earth) certain focal points of energy which can constitute magnetic centres or rallying points for the new religion, the new medicine, the new psychology and education and the new politics. The potentialities are great. The difficulties are not insuperable, otherwise I would not have been permitted to make this great experiment. We enter into no activities which are obviously fore-ordained to failure. Many experiments are being carried forward today in the world by the various Members of the Hierarchy in Their differing grades and with Their [72] special groups. This effort can prove successful only in so far as the disciples of the world desire it, make the needed sacrifices and think the various objectives into being.

Tất cả điều này, tuy thế, là một cuộc thí nghiệm và tôi muốn nhắc các bạn rằng đó là một thí nghiệm mà tôi và vài vị điểm đạo khác đang tiến hành như những thành viên của một tổ chức tinh thần vĩ đại. Nếu nó thành công và nếu đà tinh thần được tất cả các bạn khởi phát đủ tương xứng với nỗ lực đã thực hiện và nếu các bạn có thể kiên trì tiếp tục với nỗ lực và quan tâm bền bỉ không mệt mỏi, có thể chấm dứt giai đoạn thí nghiệm; bấy giờ, Thánh Đoàn có thể công nhận (như được thiết lập hữu hiệu trên địa cầu) một số điểm hội tụ năng lượng có thể cấu thành các trung tâm từ lực hoặc những điểm tập hợp cho tôn giáo mới, y học mới, tâm lý học và giáo dục mới và chính trị mới. Tiềm năng thì lớn. Những khó khăn không phải là không thể vượt qua, nếu không tôi đã chẳng được phép thực hiện cuộc thí nghiệm lớn lao này. Chúng tôi không tham dự vào những hoạt động nào rõ ràng được định sẵn để thất bại. Nhiều cuộc thí nghiệm đang được tiến hành hôm nay trên thế giới bởi các Thành Viên khác nhau của Thánh Đoàn trong các đẳng cấp khác nhau của Các Ngài và với các [72] nhóm đặc thù của Các Ngài. Nỗ lực này chỉ có thể thành công trong mức độ mà các đệ tử của thế giới mong muốn điều đó, thực hiện các hy sinh cần thiết và tư duy các mục tiêu khác nhau thành hiện hữu.

I am mentioning this at this time because in the press of world affairs, in the struggles of your own individual existence and in the fatigue which is incident to daily work and the consequent physical liabilities, there inevitably comes the cooling down of the earlier ardours and enthusiasm, the tired recognition of the monotony of the demanded effort (with frequent staleness and unenterprising aspiration), which untiring spiritual work demands.

Tôi đang nhắc đến điều này vào lúc này vì giữa cơn bão của thời thế, trong những vật lộn của bản thân đời sống cá nhân các bạn và trong mệt mỏi gắn liền với công việc hằng ngày cùng những hệ lụy thể xác của nó, ắt hẳn sẽ đến sự nguội lạnh của những nhiệt thành và hứng khởi ban sơ, sự thừa nhận mỏi mệt về tính đơn điệu của nỗ lực được đòi hỏi (với sự cũ mòn và khát vọng thiếu tính tiên phong thường xuyên), mà công việc tinh thần không biết mệt mỏi đòi hỏi.

The disciple learns to pay no attention to these recurring cycles and interludes between the pairs of opposites for he recognises their intermittency. I do, however, seek to point out this point of danger—for danger it is—and ask you to go on with the work just “as if” it were entirely new and fascinating.

Người đệ tử học cách không chú ý đến những chu kỳ lặp lại và các khoảng gián đoạn giữa cặp đối đãi, vì y nhận ra tính cách đoạn kỳ của chúng. Tuy nhiên, tôi muốn chỉ rõ điểm nguy hiểm này—vì đó đích thực là nguy hiểm—và yêu cầu các bạn tiếp tục công việc “như thể” nó hoàn toàn mới mẻ và cuốn hút.

It is necessary here for you also to remember that though these groups are intended to be Seedgroups of the New Age, two factors in connection with them should be remembered:

Cũng cần để các bạn nhớ rằng tuy các nhóm này được định là các nhóm hạt giống của Kỷ Nguyên Mới, nhưng hai yếu tố liên quan đến chúng cần được ghi nhớ:

1. They constitute a unique experiment in the sense that—knowing the possibilities and understanding somewhat the forces which are slowly emerging into prominence in a world rapidly adjusting itself to the new rhythms—yet they are primarily an experiment undertaken by me, your Tibetan teacher and a member of a certain standing in the Hierarchy, with the cooperation of certain other initiates. I am not, as I have already told you, the only worker along these lines and these seed groups are not the only units to be found today in the world. There are, for instance, several seed units working out into being within the framework of the Catholic Church, under the inspiration of the Master Jesus. These are, however, somewhat more subjective than are the groups in which I am particularly interested and their emergence is slower but they do exist. There are, also, two such seed groups in China and four in India. I mention this in order to safeguard you against the sense of uniqueness which is the subtle seed of the great heresy of separateness. [73]

1. Chúng cấu thành một thí nghiệm độc đáo theo nghĩa là—biết rõ các khả năng và phần nào thấu hiểu những lực đang chậm rãi trỗi lên nổi bật trong một thế giới đang nhanh chóng tự điều chỉnh theo các nhịp điệu mới—thế nhưng chúng trước hết là một thí nghiệm do tôi, vị Huấn sư Tây Tạng của các bạn và một thành viên có địa vị nhất định trong Thánh Đoàn, đảm trách với sự hợp tác của một vài vị điểm đạo khác. Như tôi đã nói với các bạn, tôi không phải là người duy nhất làm việc theo các đường hướng này và những nhóm hạt giống này cũng không phải là những đơn vị duy nhất hiện diện ngày nay trên thế giới. Chẳng hạn, có một vài đơn vị hạt giống đang đi vào biểu lộ trong khuôn khổ Giáo hội Công giáo, dưới sự linh hứng của Chân sư Jesus. Tuy nhiên, những nhóm này có phần chủ quan hơn các nhóm mà tôi đặc biệt quan tâm và sự xuất lộ của chúng chậm hơn, nhưng chúng có hiện hữu. Cũng có hai nhóm hạt giống như vậy ở Trung Hoa và bốn ở Ấn Độ. Tôi nêu điều này để bảo vệ các bạn trước cảm thức về tính độc nhất, vốn là hạt giống vi tế của Đại Tà thuyết của tính phân ly. [73]

2. These groups of disciples are all passing through the formative stage and change and adjustment is going on. Their pattern is still fluid because too many disciples are receptive to the words of the Masters and are less receptive to the ideas upon which They found Their work. This comment warrants your attention. Later, when the needed adjustments are made and groups of disciples can work together without criticism or misunderstanding, then they can pass on to organised group work. This is necessarily dependent upon the general level of the group endeavour, upon their aspiration and their applied persistence. The willingness to work through these groups exists on our side and is found, therefore, upon the inner planes. The providing of an adequate instrument through which we can work must come from you.

2. Những nhóm đệ tử này đều đang đi qua giai đoạn hình thành và những thay đổi, điều chỉnh đang diễn ra. Mô hình của chúng vẫn còn linh động vì có quá nhiều đệ tử tiếp nhận lời của các Chân sư và ít tiếp nhận các ý tưởng mà trên đó Các Ngài xây nền công việc của Các Ngài. Nhận xét này đáng để các bạn lưu tâm. Về sau, khi các điều chỉnh cần thiết được thực hiện và các nhóm đệ tử có thể làm việc cùng nhau mà không phê phán hay hiểu lầm, bấy giờ họ có thể bước sang công việc nhóm có tổ chức. Điều này tất nhiên tùy thuộc vào trình độ chung của nỗ lực nhóm, vào khát vọng của họ và sự bền bỉ được áp dụng của họ. Sự sẵn lòng làm việc qua các nhóm này hiện hữu về phía chúng tôi và do đó được tìm thấy trên các cõi nội. Việc cung cấp một khí cụ đầy đủ qua đó chúng tôi có thể làm việc phải đến từ các bạn.

The time must come, however, when the work of each group of disciples must definitely integrate and thus change from the theoretical and the experimental to the definite and the practical. Then the period of group usefulness will arrive. This will naturally depend upon two things:

Tuy nhiên, phải đến lúc công việc của mỗi nhóm đệ tử phải được tích hợp dứt khoát và như thế chuyển từ tính lý thuyết và thí nghiệm sang tính minh định và thực dụng. Bấy giờ thời kỳ hữu ích của nhóm sẽ đến. Điều này tự nhiên tùy thuộc vào hai điều:

1. When the group reaches a certain stage of synthesis, then it will become possible for the group to work as a group with power.

1. Khi nhóm đạt đến một giai đoạn tổng hợp nhất định, bấy giờ nhóm sẽ có thể làm việc như một nhóm với quyền năng.

2. If the group fails to integrate and to take advantage of group opportunity and the particular call to service, then a re-arrangement of the personnel will be essential. Certain disciples will then have to drop out and those who have not measured up to the requirements, which their souls have set for them, and to the point of attainment towards which I am expectantly looking, will be absorbed into other groups or form the nucleus of a re-organised unit.

2. Nếu nhóm không thể tích hợp và không tận dụng cơ hội nhóm và lời kêu gọi phụng sự đặc thù, bấy giờ việc sắp xếp lại nhân sự sẽ là điều thiết yếu. Một số đệ tử khi ấy sẽ phải rút ra và những ai không đáp ứng các yêu cầu do linh hồn của họ đặt ra cho họ, và điểm thành tựu mà tôi đang trông đợi một cách kỳ vọng, sẽ được thâu nhận vào các nhóm khác hoặc lập nhân cho một đơn vị được tái tổ chức.

All the teaching on the groups of disciples, functioning in the New Age, is intended for all the groups and for general distribution later on. The teaching upon specific group work will be given up to the point where conscious use of it can be made and the knowledge given can be turned to practical purpose in world service. And, my brothers, it is world service that today is needed. [74]

Mọi giáo huấn về các nhóm đệ tử, vận hành trong Kỷ Nguyên Mới, đều được dành cho tất cả các nhóm và để phổ biến chung về sau. Giáo huấn về công việc nhóm đặc thù sẽ được trao đến mức người ta có thể sử dụng một cách ý thức và kiến thức đã cho có thể được chuyển hóa thành mục đích thực hành trong phụng sự thế giới. Và, các huynh đệ của tôi, điều cần thiết hôm nay là phụng sự thế giới. [74]