← Discipleship in the New Age Vol – Alice A. Bailey

PART VIII—PHẦN VIII

PART VIII—PHẦN VIII

The Hierarchy is deeply concerned over world happenings. When the war is over, our work must go forward at any and every cost and in the face of every imaginable obstacle. The New Group of World Servers must preserve its integrity and work steadily and undismayed. The steadiness of those who know God’s plan will help humanity and aid the efforts of the Hierarchy. These do not hate and they work for unity—both subjective and eventually objective.

Thánh Đoàn đang vô cùng quan tâm đến các biến cố thế giới. Khi chiến tranh kết thúc, công việc của chúng ta phải tiến lên với bất kỳ và mọi giá nào và đối mặt với mọi chướng ngại có thể tưởng tượng được. Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian phải giữ gìn tính nguyên vẹn của mình và làm việc một cách kiên định, không nao núng. Sự vững vàng của những ai biết Thiên Cơ của Thượng đế sẽ giúp nhân loại và trợ lực nỗ lực của Thánh Đoàn. Những người này không ghét bỏ và họ làm việc vì hợp nhất—cả chủ quan và rốt cuộc cả khách quan.

It is wise for human beings to realise that mankind is free. Even the Hierarchy Itself does not know which forces—those of good or those of evil—will ultimately prevail because even if the forces of good triumph where the war is concerned, will they triumph where the peace is concerned? Good must ultimately triumph but the Hierarchy does not know what the immediate future holds for humanity because men determine their own destiny. The Law of Cause and Effect cannot be offset. In those cases where it has been offset, it has required the intervention of Forces, greater than those available at this time upon our planet. These greater Forces can intervene if the world aspirants and disciples make their voices adequately penetrating....

Con người biết khôn khi nhận ra rằng nhân loại là tự do. Ngay cả chính Thánh Đoàn cũng không biết những lực nào—của thiện hay của ác—rốt cuộc sẽ thắng thế, bởi vì ngay cả nếu các lực thiện thắng thế trong chuyện chiến tranh, liệu họ có thắng thế trong chuyện hòa bình chăng? Thiện cuối cùng ắt phải thắng, nhưng Thánh Đoàn không biết tương lai trước mắt dành cho nhân loại là gì bởi vì con người tự định đoạt vận mệnh của mình. Định luật Nhân Quả không thể hóa giải. Trong những trường hợp nó đã được hóa giải, điều đó đòi hỏi sự can thiệp của các Lực vĩ đại hơn những lực hiện đang có vào lúc này trên hành tinh của chúng ta. Những Lực lớn hơn này có thể can thiệp nếu những người chí nguyện và đệ tử của thế giới làm cho tiếng nói của họ đủ sức xuyên thấu....

In this time of stress and strain, my brothers, I would remind you that there is no need for the sense of futility or for the registration of littleness. The new groups of disciples are Seed Groups; they are in the dark or growing stage and in the process of expansion—growing silently. This stage is most important for, according to the healthiness of the seed and its ability to cast strong roots downwards and to penetrate slowly and steadily upwards towards the light, so will be the adequacy of the contribution to the New Age which is upon us. I would emphasise that fact to you. The New Age is upon us and we are witnessing the birth pangs of the new culture and the new civilisation. That which is old and undesirable must go and of these undesirable things, hatred and the spirit of separateness must be the first to disappear.

Trong thời kỳ căng thẳng và áp lực này, các huynh đệ của tôi, tôi muốn nhắc các bạn rằng không cần có cảm thức vô hiệu hay việc ghi nhận sự bé nhỏ. Những nhóm đệ tử mới là các Nhóm hạt giống; họ đang ở trong giai đoạn tối tăm hay tăng trưởng và trong tiến trình khai triển—tăng trưởng trong im lặng. Giai đoạn này là rất quan trọng vì, tùy theo sức khỏe của hạt giống và khả năng của nó cắm rễ mạnh xuống dưới và thâm nhập chậm rãi, kiên định hướng lên ánh sáng, mức đóng góp cho Kỷ Nguyên Mới đang đến với chúng ta sẽ tương xứng. Tôi muốn nhấn mạnh với các bạn thực tế đó. Kỷ Nguyên Mới đang đến với chúng ta và chúng ta đang chứng kiến cơn đau sinh nở của nền văn hóa và nền văn minh mới. Những gì cũ và bất đáng phải ra đi và trong những điều bất đáng đó, hận thù và tinh thần phân ly phải là những thứ đầu tiên biến mất.

The main objective of our joint work is still group integration and the setting up of that inter-communication between [75] the group members which will result in the needed interplay and telepathic communication; this will finally establish that golden network of light which will serve to create a powerful focal point; this focal point will be the agent for the revitalisation spiritually of the etheric body of humanity—as a whole. This is an essential and important statement. This focal point will, in its turn, aid in the revitalising of the etheric body of the planet with new power and with fresh impulse.

Mục tiêu chính của công việc chung của chúng ta vẫn là tích hợp nhóm và thiết lập sự liên-giao tiếp giữa [75] các thành viên nhóm vốn sẽ đưa đến sự tương tác cần thiết và giao tiếp viễn cảm; điều này cuối cùng sẽ thiết lập mạng lưới vàng của ánh sáng, vốn sẽ tạo nên một điểm hội tụ mạnh mẽ; điểm hội tụ này sẽ là tác nhân cho sự tiếp sinh lực theo phương diện tinh thần của thể dĩ thái của nhân loại—như một toàn thể. Đây là một tuyên bố cốt yếu và quan trọng. Điểm hội tụ này, đến lượt nó, sẽ trợ giúp trong việc tiếp sinh lực cho thể dĩ thái của hành tinh bằng quyền năng mới và xung lực tươi mới.

I have for several years attempted to be your teacher, your Master and, I think I may say, your friend. There has been established between us a very strong link of love and understanding upon my part and a proved sincerity and a definite wish to cooperate on yours. What is my attitude towards you?

Trong vài năm qua, tôi đã cố gắng làm huấn sư của các bạn, Chân sư của các bạn và, tôi nghĩ là tôi có thể nói, bạn hữu của các bạn. Đã được thiết lập giữa chúng ta một mối dây liên kết rất mạnh mẽ của tình thương và sự thấu hiểu nơi phần tôi, và nơi phần các bạn là sự thành thực đã được minh chứng và một ước muốn dứt khoát để hợp tác. Thái độ của tôi đối với các bạn là gì?

As individuals, you may be of small importance; as units in the group which I am preparing and training for definite service in future lives even more than in this, you are of sufficient moment to warrant my interest. A group is no more powerful than its weakest link and a group suffers esoterically and as a whole and its power is definitely curtailed when one member fails to measure up to opportunity or recedes into the glamours of the personality. This you have seen happen. As individuals I seek to help you but only with a view to your group integration, to your group influence and understanding and your group love, plus the strength which you can each bring to the whole.

Với tư cách là những cá nhân, có thể các bạn chỉ giữ tầm quan trọng nhỏ; nhưng với tư cách là những đơn vị trong nhóm mà tôi đang chuẩn bị và huấn luyện để phụng sự dứt khoát trong các kiếp tương lai nhiều hơn cả trong kiếp này, các bạn đủ quan trọng để đáng cho tôi quan tâm. Một nhóm không bao giờ mạnh hơn mắt xích yếu nhất của nó và một nhóm chịu khổ theo huyền bí học và như một toàn thể, và quyền năng của nó chắc chắn bị cắt giảm khi một thành viên không biết nắm bắt cơ hội hoặc rơi trở lại vào các ảo cảm của phàm ngã. Điều này các bạn đã thấy xảy ra. Với tư cách cá nhân tôi tìm cách giúp các bạn nhưng chỉ nhằm mục đích tích hợp nhóm của các bạn, ảnh hưởng và sự hiểu biết nhóm của các bạn và tình thương nhóm của các bạn, cùng với sức mạnh mà mỗi người trong các bạn có thể mang đến cho toàn thể.

I, therefore, appeal to you, as a group, for an intensification of your group love, purpose and service so that the inner, subjective integration may proceed apace. I have three things to say to you today as a group:

Do đó, tôi kêu gọi các bạn, như một nhóm, hãy tăng cường tình thương nhóm, mục đích và phụng sự nhóm để cho sự tích hợp nội tại, chủ quan có thể tiến triển nhanh chóng. Hôm nay tôi có ba điều muốn nói với các bạn như một nhóm:

First of all, the strength or the weakness of this group of disciples will lie in the fact that the individuals who compose it are not only egoically linked but that there is also a strong personality tie (with all the weaknesses which that may entail) and a deep, if unrealised, affection between each and all of you, even if you have not met each other. The strength of this situation is found in the fact that this condition of unconscious friendship is to be found as the result of many lives of close association in the work and also in past personality relations and family ties. The weakness exists in the fact that this situation [76] is apt to make the group personal in its reactions. This group of disciples is intrinsically an entity on all the three levels of the three worlds—physical, emotional and mental—and there is a soul tie as well.

Trước hết, sức mạnh hay sự yếu kém của nhóm đệ tử này sẽ nằm ở chỗ những cá nhân tạo thành nhóm không chỉ được liên kết ở bình diện chân ngã mà còn có một mối liên hệ phàm ngã mạnh mẽ (với tất cả những yếu kém mà điều đó có thể kéo theo) và một tình thân sâu sắc, dù chưa được nhận biết, giữa từng người và tất cả các bạn, cho dù các bạn chưa từng gặp nhau. Sức mạnh của tình huống này nằm ở chỗ điều kiện hữu nghị vô thức ấy là kết quả của nhiều kiếp gắn bó gần gũi trong công việc và cũng do các mối quan hệ phàm ngã trong quá khứ và các ràng buộc gia đình. Điểm yếu nằm ở chỗ tình huống này [76] dễ khiến nhóm có những phản ứng mang tính cá nhân. Nhóm đệ tử này tự thân là một thực thể ở cả ba cấp của ba cõi—hồng trần, cảm dục và trí tuệ—và cũng có một mối dây liên kết linh hồn.

I would like also to impress upon you a second point. It is of apt application in the strenuous conditions which prevail at this time. In the stress and strain of your group work let each of you bear in mind, for your encouragement, joy and dedicatory incentive, that you are in this particular group of disciples for preparatory training for initiation. I am entering upon an experiment in group initiation and this is somewhat a new enterprise for the Hierarchy to undertake, though in line with evolutionary development. In future ages, men and women will pass through the Portal of Initiation together, instead of alone and singly as has hitherto been the case. Group progress can, therefore, in this connection be furthered or held back by the effort of the individual group member. A member’s difficulties can be enhanced by the united group stimulation; his strength and effectiveness can be increased by the strength, the power and the understanding of the group. Your united responsibility is, therefore, great and your opportunity for rapid progress is real and definitely unusual. When together you pass through the Portal and I present you to Those Whose task it is to lead you on your next step, there should eventuate such an enhancement of your powers to love, to intuit and to serve, that life will never again appear to be the same thing. You will grasp with surety then what now you dimly sense, and realise the wonder of group love, of group intuition and of group service; you will thus undergo a joint illumination, a shared response and a united effort. You will comprehend then that a line of exclusion may spiritually exist, indicating those who can pass on to the preparatory stage of group initiation and those who must approach that great event singly and alone. These latter belong predominantly to the Piscean Age. They take initiation as separate identities; you can take initiation in group formation.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh với các bạn một điểm thứ hai. Điểm này rất thích hợp trong các điều kiện gắt gao đang ngự trị lúc này. Trong sức ép và căng thẳng của công việc nhóm, mỗi người các bạn hãy ghi nhớ, để được khích lệ, hoan hỷ và có động cơ cung hiến, rằng các bạn thuộc nhóm đệ tử đặc thù này để được huấn luyện chuẩn bị cho điểm đạo. Tôi đang bắt tay vào một cuộc thí nghiệm điểm đạo theo nhóm và đây có phần nào là một công việc mới mẻ để Thánh Đoàn đảm đương, dù vẫn phù hợp với phát triển tiến hóa. Trong những thời đại tương lai, những người nam và nữ sẽ cùng nhau đi qua Cổng Điểm Đạo, thay vì một mình và đơn lẻ như vẫn thường xảy ra cho đến nay. Tiến triển theo nhóm, do đó, trong mối liên hệ này có thể được thúc đẩy hoặc bị cản trở bởi nỗ lực của từng thành viên nhóm. Khó khăn của một thành viên có thể bị tăng cường bởi sự kích thích hợp nhất của nhóm; sức mạnh và hiệu quả của y có thể được gia tăng bởi sức mạnh, quyền năng và sự thấu hiểu của nhóm. Trách nhiệm hợp nhất của các bạn, do đó, là lớn, và cơ hội tiến bộ mau chóng của các bạn là có thật và hết sức khác thường. Khi cùng nhau các bạn đi qua Cổng, và tôi trình các bạn lên Các Đấng có nhiệm vụ dẫn dắt các bạn bước tiếp theo, khi ấy quyền năng yêu thương, trực giác và phụng sự của các bạn sẽ được tăng cường đến mức cuộc đời sẽ không bao giờ còn hiện ra như trước nữa. Khi đó các bạn sẽ nắm bắt cách chắc chắn điều hiện nay các bạn chỉ mơ hồ cảm nhận, và nhận ra điều kỳ diệu của tình thương nhóm, của trực giác nhóm và của phụng sự nhóm; như vậy các bạn sẽ trải qua một sự soi sáng chung, một đáp ứng được chia sẻ và một nỗ lực hợp nhất. Khi đó các bạn sẽ hiểu rằng có thể tồn tại một đường ranh loại trừ về mặt tinh thần, chỉ ra những ai có thể tiến vào giai đoạn chuẩn bị của điểm đạo theo nhóm và những ai phải tiếp cận biến cố vĩ đại ấy một cách đơn lẻ. Những người sau chủ yếu thuộc về Thời đại Song Ngư. Họ thọ điểm đạo như những ngã thể riêng biệt; còn các bạn có thể thọ điểm đạo trong hình thức nhóm.

None of us who do the work of preparing candidates for initiation are in a position to pronounce as to time; that has to be determined by each individual aspirant. See to it, however, [77] as individuals, that your group is not held back through your inability to see, by your personal glamours, by your individual problem or by your slow reactions to known truth.

Không ai trong chúng tôi—những người làm công việc chuẩn bị các ứng viên cho điểm đạo—ở vị thế có thể ấn định về thời điểm; điều đó phải do mỗi người chí nguyện tự xác định. Tuy nhiên, hãy lưu ý [77] với tư cách cá nhân rằng nhóm của các bạn đừng bị níu lại vì sự bất lực của các bạn trong việc thấy ra, vì các ảo cảm cá nhân, vì vấn đề riêng của các bạn hoặc vì phản ứng chậm chạp của các bạn trước chân lý đã biết.

The third thing that I want to say is that whatever your particular status on the Path at this time, I shall seek to help you as in the past. I shall speak the truth as I see it from my particular vantage point. Upon your blindness in certain directions, I shall seek to throw a light. I shall point out your weaknesses—if I can get your sincere attention. These weaknesses exist. You are not yet initiate, and you have faults, limitations, points of darkness and much inertia and at the same time self-satisfaction. The tendency to self-defence is strong in some of you and this produces an unwillingness to recognise faults or even to admit, hypothetically, that faults may be present. The tendency to self-depreciation is strong in others and it produces that over-emphasis of the personality and that constant thought about the personality which is so detrimental to real progress. In these tendencies (which are so usual) there lies real danger for the would-be initiate. I warn you to watch for the indications of these conditions and to assume an attitude of willingness to listen and to admit the possibility of failure in the one case and of self-forgetfulness in the other. Look yourselves and life squarely in the face and fearlessly see things as they are in truth. Do this not because it is I who am suggesting to you that a situation may be thus or so but because you are willing to face up to facts and are ready for unexpected discoveries about yourselves. One of the first lessons which a disciple needs to learn is that where he thinks he is strongest and where he finds the most satisfaction is very frequently the point of greatest danger and of weakness. Astral conditions are oft seen reversed; hence the glamour which often overcomes a disciple.

Điều thứ ba tôi muốn nói là: bất kể địa vị riêng của các bạn trên Thánh Đạo lúc này ra sao, tôi sẽ tìm cách giúp các bạn như trước. Tôi sẽ nói sự thật như tôi thấy từ điểm nhìn đặc thù của mình. Đối với sự mù lòa của các bạn ở vài phương diện, tôi sẽ tìm cách soi sáng. Tôi sẽ chỉ ra các yếu kém của các bạn—nếu tôi có thể thu hút được sự chú tâm chân thành của các bạn. Những yếu kém ấy tồn tại. Các bạn chưa phải là điểm đạo đồ, và các bạn có các lỗi lầm, giới hạn, những điểm tối tăm và rất nhiều trì trệ, đồng thời lại tự mãn. Khuynh hướng tự biện hộ mạnh nơi một số bạn và điều này tạo ra sự không sẵn lòng công nhận lỗi lầm hoặc thậm chí thừa nhận—dù giả định—rằng có thể có lỗi lầm. Khuynh hướng tự hạ thấp mạnh nơi số khác, và điều đó dẫn tới sự nhấn mạnh quá mức vào phàm ngã và sự suy tư không ngừng về phàm ngã, điều rất phương hại cho tiến bộ thực sự. Trong các khuynh hướng này (vốn rất thường gặp) có một mối nguy thực sự cho người muốn trở thành điểm đạo đồ. Tôi cảnh báo các bạn hãy coi chừng những dấu hiệu của các tình trạng ấy và hãy có thái độ sẵn lòng lắng nghe và thừa nhận khả năng thất bại trong trường hợp thứ nhất, và thái độ tự-quên mình trong trường hợp thứ hai. Hãy nhìn thẳng bản thân và cuộc đời, không sợ hãi, và thấy mọi sự như chúng thật là. Hãy làm điều này không phải vì tôi đang gợi ý với các bạn rằng tình huống có thể như thế này hay thế kia mà vì các bạn sẵn sàng đối diện với thực tế và sẵn sàng cho những phát hiện bất ngờ về chính mình. Một trong những bài học đầu tiên mà một đệ tử cần học là: nơi nào y nghĩ y mạnh nhất và nơi nào y tìm thấy sự mãn nguyện nhất thì rất thường lại chính là điểm nguy hiểm và yếu kém nhất. Các tình trạng cảm dục thường được nhìn thấy theo kiểu đảo ngược; do đó mới có ảo cảm thường chế ngự một đệ tử.

In this connection, my brothers, I will admit you into a piece of personal history and one which is quite ordinary in the life of a disciple. It may serve to carry its lesson and its warning. Several lives ago, my Master saw in me a weakness. It was one of which I was quite unaware and it was in fact a quality which I regarded as a strength and which I hugged to myself as a virtue. I was then a young man, anxious to help my Master and humanity but, in the last analysis, I was very keen about myself as an aspirant and very pleased with myself—cloaking this satisfaction under the garb of a reiterated humility. The Master poured into me His strength and energy and so stimulated me that what I thought was a virtue and what I had denied and repudiated as a vice, proved my undoing. I symbolically crashed to earth through the very weight of my weakness. You might well ask what this weakness was? It was my love for my Master which was my undoing. He pointed out to me after the failure that my love for Him was in reality based upon pride in myself and a profound satisfaction with myself as an aspirant and a disciple. This I violently denied and was grieved that He should so misunderstand me. I proved Him to be right, eventually, through a life of failure and the depth of my egotism. I learnt through that failure but I lost much time from the standpoint of useful service. I found that I was really serving myself and not humanity. From similar mistakes, I seek to save you, for time is a great factor in service. For the masses of humanity, time is not of very great importance; but for the servers of the race, it matters much. Lose not time, therefore, in undue self-analysis, self-depreciation or self-defence. Go forward with discrimination where your unfoldment is concerned, and with love and understanding where your group is concerned. Where I, your teacher, am concerned, give to my words the attention which is due and endeavour to cooperate with me. I shall then some day have the joy of welcoming you to the “Secret Place” where all true servers and initiates must eventually meet and unite.

Trong mối liên hệ này, các huynh đệ của tôi, tôi sẽ cho các bạn biết một mẩu lịch sử cá nhân và điều này khá bình thường trong đời một đệ tử. Nó có thể mang theo bài học và lời cảnh báo của nó. Vài kiếp trước, Chân sư của tôi thấy nơi tôi một điểm yếu. Đó là điều mà tôi hoàn toàn không hề biết và thực ra là một phẩm tính mà tôi xem như sức mạnh và tôi ôm ấp nó như một đức hạnh. Lúc ấy tôi là một thanh niên, nóng lòng giúp Chân sư và nhân loại nhưng, xét đến cùng, tôi lại rất quan tâm đến chính mình như một người chí nguyện và rất hài lòng về bản thân—che đậy sự thỏa mãn này dưới chiếc áo của một sự khiêm tốn được lặp đi lặp lại. Chân sư đã tuôn đổ vào tôi Sức mạnh và Năng lượng của Ngài và kích thích tôi đến mức điều mà tôi cho là một đức hạnh, và điều mà tôi đã phủ nhận và bác bỏ như một thói xấu, hóa ra lại là nguyên nhân khiến tôi thất bại. Tôi, theo nghĩa biểu tượng, đã rơi nhào xuống đất bởi chính sức nặng của điểm yếu mình. Các bạn có thể hỏi: điểm yếu ấy là gì? Đó là tình yêu của tôi dành cho Chân sư—điều đã khiến tôi thất bại. Sau thất bại, Ngài chỉ ra với tôi rằng tình yêu của tôi dành cho Ngài thực sự dựa trên lòng kiêu hãnh về bản thân và sự mãn nguyện sâu sắc của tôi với chính mình như một người chí nguyện và một đệ tử. Điều này tôi đã kịch liệt phủ nhận và buồn lòng vì Ngài lại hiểu lầm tôi như thế. Rốt cuộc, tôi đã chứng minh Ngài đúng qua một kiếp sống thất bại và qua chiều sâu của tính vị ngã nơi tôi. Tôi đã học nhờ thất bại ấy nhưng tôi đã mất nhiều thời gian xét từ quan điểm phụng sự hữu ích. Tôi nhận ra rằng tôi thực sự đang phụng sự chính mình chứ không phải nhân loại. Khỏi những sai lầm tương tự, tôi tìm cách cứu các bạn, vì thời gian là một yếu tố trọng yếu trong phụng sự. Đối với quần chúng nhân loại, thời gian không quá quan trọng; nhưng đối với những người phụng sự cho giống dân, thời gian lại rất hệ trọng. Do đó, đừng lãng phí thời gian vào việc tự-phân tích quá mức, tự-hạ thấp hay tự-biện hộ. Hãy tiến bước với sự phân biện nơi tiến triển của các bạn, và với tình thương cùng sự thấu hiểu nơi mối quan hệ nhóm của các bạn. Đối với tôi, vị huấn sư của các bạn, hãy dành cho lời tôi sự chú ý xứng đáng và nỗ lực hợp tác với tôi. Rồi một ngày nào đó tôi sẽ có niềm vui đón chào các bạn đến “Nơi Bí Mật” nơi tất cả các người phụng sự chân chính và các điểm đạo đồ rốt cuộc phải gặp gỡ và hợp nhất.

I have revealed to you, my disciples, my true name. The necessity for eradicating all reason for the speculative questioning of some of you as to my identity and of spurring others of you on to renewed and consecrated effort are two of my reasons for relinquishing my anonymity. Another reason is that I would have you recognise the fact that you are accepted disciples with all that that status necessarily implies of responsibility and opportunity. Still another deciding factor with me is to test out your ability to keep silent until it is no longer necessary to do so. Silence is one of the prime prerequisites for initiation and something which every disciple must perforce learn. There is, therefore, the necessity for the test. Many of [79] you are already interiorly convinced of my identity. You have not voiced your belief in this connection except to A.A.B. who has not responded with any corroborating evidence or comments. If you cannot be trusted to keep silence and to preserve a detached and independent attitude, then you are not ready for that which I have to give and the sooner we discover this the better. If you are unable to retain a silent tongue—even among yourselves—then you are unfit to be trusted and that I should dislike to believe. If, when you have discovered who I am, you question the wisdom of my decision to reveal myself to you and hold that I should have withheld my identity, then that too will be revealing and will guide me in all my future approaches to you. If knowledge of who I am leads you into the dangerous path of the devotee, it will be good for you to discover that tendency within yourself; if you henceforth over-emphasise the importance of my words and if you fall into the dangerous habit of accepting authority, your weakness will stand revealed to me, to yourself, and to your group brothers. We shall all profit thereby. You will have discovered an innate weakness which discovery of my identity will have drawn forth; if you are burdened by the knowledge, then you must learn to carry burdens or else you will be of no use as a world server. The fact that I am a Master alters me not. I am still your Tibetan Teacher and the same Instructor who has taught you for many years. I remain the same individual and am in no wise different. Any reaction upon your part will be a personality reaction and, therefore, to be recognised, dealt with and finally subdued.

Tôi đã tiết lộ cho các bạn, những đệ tử của tôi, tên thật của tôi. Nhu cầu xóa bỏ mọi lý do cho việc một số bạn suy đoán về căn cước của tôi và kích lệ một số bạn dấn bước nỗ lực mới mẻ và thánh hiến là hai trong những lý do khiến tôi từ bỏ tính ẩn danh của mình. Một lý do nữa là tôi muốn các bạn nhận ra rằng các bạn là những đệ tử chính thức với tất cả những gì địa vị ấy tất nhiên hàm ý về trách nhiệm và cơ hội. Một yếu tố quyết định nữa đối với tôi là thử thách khả năng của các bạn trong việc giữ im lặng cho đến khi không còn cần thiết phải làm như vậy. Im lặng là một điều kiện tiên quyết hàng đầu cho điểm đạo và là điều mà mỗi đệ tử buộc phải học. Do đó, có nhu cầu cho bài kiểm tra. Nhiều người trong các bạn [79] đã được xác tín bên trong về căn cước của tôi. Các bạn chưa bày tỏ niềm tin ấy ngoại trừ với A.A.B., người đã không đáp lại bằng bất kỳ bằng chứng hay bình luận xác nhận nào. Nếu các bạn không thể được tin cậy để giữ im lặng và bảo tồn một thái độ tách rời và độc lập, thì các bạn chưa sẵn sàng cho những gì tôi phải trao và chúng ta càng sớm phát hiện điều này càng tốt. Nếu, khi các bạn khám phá tôi là ai, các bạn đặt vấn đề về sự khôn ngoan trong quyết định tự bộc lộ của tôi và cho rằng lẽ ra tôi nên giữ kín căn cước, thì điều đó cũng sẽ mang tính mặc khải và sẽ hướng dẫn tôi trong mọi cách tiếp cận tương lai với các bạn. Nếu tri thức về tôi là ai dẫn các bạn vào con đường nguy hiểm của người sùng tín, thì việc khám phá khuynh hướng ấy nơi bản thân các bạn sẽ là điều tốt; nếu từ đây các bạn nhấn mạnh quá mức tầm quan trọng của lời tôi và rơi vào thói nguy hiểm là chấp nhận thẩm quyền, thì điểm yếu của các bạn sẽ hiển lộ với tôi, với chính các bạn và với các huynh đệ nhóm của các bạn. Tất cả chúng ta sẽ nhờ đó mà được lợi. Các bạn sẽ phát hiện một điểm yếu bẩm sinh mà việc khám phá căn cước của tôi đã khơi ra; nếu các bạn cảm thấy gánh nặng vì tri thức ấy, vậy thì các bạn phải học cách mang gánh nặng—nếu không các bạn sẽ vô dụng như một người phụng sự thế gian. Sự kiện tôi là một Chân sư không làm tôi thay đổi. Tôi vẫn là vị Đạo Sư người Tây Tạng của các bạn và vẫn là cùng một vị Huấn sư đã dạy các bạn nhiều năm qua. Tôi vẫn là cùng một cá nhân và hoàn toàn không khác đi. Mọi phản ứng từ phía các bạn sẽ là phản ứng của phàm ngã và, do đó, cần được nhận ra, xử lý và sau cùng được khuất phục.

Let us go forward together, my brothers and chelas, along the path of service; let us together enter into the Light and tread the way to world peace and not to personal illumination—illumination is inevitable but incidental.

Chúng ta hãy cùng tiến bước, các huynh đệ của tôi và các đệ tử, trên con đường phụng sự; chúng ta hãy cùng bước vào Ánh sáng và bước đi trên con đường đến hòa bình thế giới chứ không phải đến sự soi sáng cá nhân—sự soi sáng là tất yếu nhưng chỉ là thứ yếu.

As regards all of you—with what have I to deal? An untested group, a static group, a critical group and a group subject to pronounced glamours—such is the material with which I must carry forward my work. What can I do in such a situation, my brothers? I can trust your devotion to humanity, your willingness to learn and your determination to proceed along the path of service at any cost. This I will most certainly do. [80]

Về tất cả các bạn—tôi phải đối diện với điều gì? Một nhóm chưa được khảo nghiệm, một nhóm tĩnh tại, một nhóm hay phê phán và một nhóm chịu các ảo cảm nổi trội—đó là chất liệu mà với nó tôi phải tiếp tục công việc của mình. Trong tình huống như vậy, tôi có thể làm gì, các huynh đệ của tôi? Tôi có thể tin vào lòng tận tụy của các bạn đối với nhân loại, vào sự sẵn lòng học hỏi của các bạn và vào quyết tâm tiến bước trên con đường phụng sự bằng mọi giá. Điều này, chắc chắn tôi sẽ làm. [80]

I would like to deal, first of all, with the objectives that I have in mind for all of you:

Trước hết, tôi muốn đề cập đến các mục tiêu tôi đang ghi tâm cho tất cả các bạn:

1. The main present objective.

1. Mục tiêu chủ yếu hiện tại.

I seek to bring about a much needed group integration. The polarisation of this group—as a unity upon the mental plane—is not yet accomplished. It is most needed and until this integration has been achieved, the united group inter-communication will not be possible or the desired group work capable of accomplishment. Several of you need to do some careful thinking and should align yourselves in love with your fellow disciples, eliminating all sense of criticism and personal self-satisfaction in your own judgment and rectitude.

Tôi tìm cách tạo ra một sự tích hợp nhóm rất cần thiết. Sự phân cực của nhóm này—như một đơn vị trên cõi trí—vẫn chưa được hoàn tất. Điều đó là hết sức cần thiết và cho đến khi sự tích hợp này đạt được, giao tiếp hợp nhất trong nhóm sẽ không thể có, cũng như công việc nhóm mong muốn sẽ không thể hoàn thành. Vài người trong các bạn cần suy tư cẩn thận và nên chỉnh hợp mình trong tình thương với các huynh đệ đồng môn, loại bỏ mọi cảm thức phê phán và mọi sự tự mãn cá nhân trong phán đoán và tính ngay thẳng của riêng mình.

2. The future objective of these ashramic groups.

Mục tiêu tương lai của các nhóm ashram.

It is fundamentally necessary that the new groups which are inaugurating the new discipleship should eventually establish a telepathic rapport with each other. Later, when there is a closer individual inter-relation, it will be possible to give definite teaching which will make this increasingly possible, but in the meantime a hint will have to suffice. It is foundational in nature and will have to be accepted and somewhat understood prior to successful work in all these pioneering groups.Think outwardly towards each other in love. Just simply that, my brothers—simply and humbly that and no more than that at present. Can you accept such a simple rule—apparently simple? In this way the etheric body of this group of disciples will be animated by the golden energy and the light of love and thus a network of light will be established which will form a focal point of energy in the etheric body of humanity itself and eventually in the planetary etheric body also.

Về nền tảng, các nhóm mới đang khai mở địa vị đệ tử mới rốt cuộc phải thiết lập một mối tương giao viễn cảm với nhau. Về sau, khi có sự liên hệ cá nhân gần gũi hơn, sẽ có thể ban cho giáo huấn dứt khoát khiến điều này ngày càng khả thi, nhưng trong lúc này một gợi ý phải đủ. Nó mang tính nền tảng và sẽ phải được chấp nhận và phần nào được thấu hiểu trước khi có thể làm việc thành công trong tất cả các nhóm tiên phong này. Hãy nghĩ hướng ra ngoài về nhau trong tình thương. Chỉ đơn giản thế thôi, các huynh đệ của tôi—đơn giản và khiêm nhường thế thôi, và hiện tại không hơn thế. Các bạn có thể chấp nhận một quy tắc đơn giản như vậy—có vẻ đơn giản? Bằng cách này, thể dĩ thái của nhóm đệ tử này sẽ được làm sinh động bởi năng lượng vàng và ánh sáng của tình thương, và như thế một mạng lưới ánh sáng sẽ được thiết lập, hình thành một điểm hội tụ năng lượng trong thể dĩ thái của chính nhân loại và rốt cuộc cũng trong thể dĩ thái hành tinh.

3. The general group objective.

Mục tiêu nhóm nói chung.

This is the shifting of consciousness of all integrated human beings in increasingly large numbers on to the etheric levels of consciousness and activity. This entails conscious work on those levels as energy units, each contributing his individual share and his special quota of energy to the sum total of available etheric energy and doing this both consciously and intelligently. When this is done, the man is then ready for the first initiation [81] and is a true occultist—working with energy under hierarchical guidance.

Đó là chuyển dịch tâm thức của tất cả những con người đã được tích hợp, với số lượng ngày càng lớn, lên các cấp độ dĩ thái của tâm thức và hoạt động. Điều này đòi hỏi công việc có ý thức trên các cấp độ ấy như những đơn vị năng lượng, mỗi người đóng góp phần riêng của mình và phần hạn ngạch năng lượng đặc thù của mình vào tổng toàn năng lượng dĩ thái sẵn có, và làm điều này vừa một cách có ý thức vừa một cách thông tuệ. Khi điều này được thực hiện, con người khi ấy sẵn sàng cho lần điểm đạo thứ nhất [81] và là một nhà huyền bí học chân chính—làm việc với năng lượng dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn.

4. The individual objective.

4. Mục tiêu cá nhân.

This necessitates the preparation of the life and consciousness for this new process of group initiation. This group initiation is itself of real import and is dependent upon the unit in the group fitting himself for initiation and at the same time learning to subordinate his spiritual ambition and desires to the group pace and to the necessity of right timing where his fellow disciples are concerned. It involves, therefore, a dual attitude towards the processes of initiation: the adapting of oneself to the needed integration and, secondly, to the development of spiritual responsiveness to impressions from the level of the soul and of the spiritual Hierarchy. It also involves the cultivation of judgment and of wisdom in the establishment of a right inter-relation with the group of disciples so that the group—in this case my group of disciples and definitely a group entity—may move on together. This necessitates the same conditions for the group as always exist for the individual: right integration on the three personality levels and also on soul levels, plus right group impression or responsiveness to the spiritual and higher psychic “gift waves”—as Tibetan occultists call them.

Điều này đòi hỏi sự chuẩn bị đời sống và tâm thức cho tiến trình điểm đạo theo nhóm mới này. Chính điểm đạo theo nhóm này là điều thật sự quan trọng và tùy thuộc vào việc đơn vị trong nhóm tự trang bị mình cho điểm đạo, đồng thời học cách đặt tham vọng và ước muốn tinh thần của mình quy phục nhịp độ của nhóm và nhu cầu về đúng thời điểm đối với các huynh đệ đồng môn. Do đó, nó bao hàm một thái độ kép đối với các tiến trình điểm đạo: một là tự thích nghi với sự tích hợp cần thiết và hai là phát triển khả năng đáp ứng tinh thần với các ấn tượng từ bình diện của linh hồn và của Thánh Đoàn tinh thần. Nó cũng bao hàm việc trau dồi phán đoán và minh triết trong việc thiết lập một mối liên hệ đúng đắn với nhóm đệ tử để cho nhóm—trong trường hợp này là nhóm đệ tử của tôi và chắc chắn là một thực thể nhóm—có thể cùng nhau tiến bước. Điều này đòi hỏi những điều kiện tương tự cho nhóm như luôn luôn tồn tại đối với cá nhân: sự tích hợp đúng trên ba cấp độ của phàm ngã và cũng thế trên các cấp của linh hồn, cộng với ấn tượng nhóm đúng hoặc là khả năng đáp ứng đối với các “làn sóng ban tặng” tâm linh và tâm linh cao hơn—như các nhà huyền bí học Tây Tạng gọi chúng.

This will take many years and the work of achieving finished group attitudes and relationships through individual understanding and true impersonality can go forward upon the physical plane whilst in incarnation, or it can go on out of incarnation with the same facility. You must always bear in mind that the consciousness remains the same, whether in physical incarnation or out of incarnation, and that development can be carried on with even greater ease than when limited and conditioned by the brain consciousness.

Điều này sẽ mất nhiều năm và công việc đạt tới những thái độ và các mối liên hệ nhóm hoàn chỉnh thông qua sự thấu hiểu cá nhân và tính vô ngã chân thực có thể được triển khai trên cõi hồng trần trong khi đang nhập thể, hoặc có thể tiếp tục ngoài xác phàm với cùng mức dễ dàng. Các bạn phải luôn ghi nhớ rằng tâm thức vẫn như nhau, dù ở trong xác phàm hay ngoài xác phàm, và sự phát triển có thể được tiến hành còn dễ dàng hơn khi không bị trí não giới hạn và điều kiện hóa.

The attainment of these objectives will involve clear vision and a keen and intelligent understanding; it will require the steady and conscious intensification of group love and group interplay; it will lead all disciples to live lives full of wise purpose and planned spiritual objectives and, at the same time, the service rendered will assume a definite and an automatic technique of expression. [82]

Việc đạt tới các mục tiêu này sẽ đòi hỏi nhãn quang rõ ràng và một sự thấu hiểu sắc bén, thông tuệ; nó sẽ đòi hỏi sự tăng cường đều đặn và có ý thức của tình thương nhóm và sự tương tác nhóm; nó sẽ dẫn tất cả các đệ tử đến sống những đời sống đầy mục đích khôn ngoan và các mục tiêu tinh thần đã hoạch định và, đồng thời, sự phụng sự được thực hiện sẽ đảm nhận một kỹ thuật biểu hiện dứt khoát và tự động. [82]

You might here ask me if there is one single mode or means whereby a disciple can begin to approximate this seemingly impossible goal. I would reply: By the steady practice of impersonality with its subsidiary attitude of indifference where personal desires, contacts and goals are concerned. Such an impersonality is little understood and even when cultivated by well-intentioned aspirants has a selfish basis. Ponder on this and endeavour to achieve impersonality through self-forgetfulness and through the decentralisation of the focus of consciousness from the personality (where it is usually centred) into the living, loving soul.

Tại đây các bạn có thể hỏi tôi liệu có một phương cách duy nhất nào nhờ đó một đệ tử có thể bắt đầu tiệm cận mục tiêu có vẻ bất khả này không. Tôi sẽ trả lời: Bằng sự thực hành bền bỉ tính phi-ngã, với thái độ phụ thuộc là điềm nhiên nơi các ước muốn cá nhân, các tiếp xúc và mục tiêu. Một tính phi-ngã như vậy ít được hiểu và ngay cả khi được những người chí nguyện thiện chí trau dồi thì thường cũng có một nền tảng vị kỷ. Hãy nghiền ngẫm điều này và nỗ lực đạt tới tính phi-ngã qua sự tự-quên mình và qua sự phi-tập trung tiêu điểm tâm thức khỏi phàm ngã (nơi nó thường trú) để an trụ vào linh hồn đang sống và đang yêu thương.

There are four things which frequently hold back a group of disciples from achievement and from satisfactory work:

Có bốn điều thường kìm giữ một nhóm đệ tử không đạt được thành tựu và công việc thỏa đáng:

1. Lack of vision, incident to a lack of mental keenness.

Thiếu nhãn quang, do thiếu sắc bén trí tuệ.

2. Personal glamour. This involves the astral plane.

Ảo cảm cá nhân. Điều này liên quan đến cõi cảm dục.

3. Individual problems, involving a pronounced preoccupation upon the physical plane with its circumstances and difficulties—in this most difficult of worlds.

Các vấn đề cá nhân, bao hàm một sự bận tâm nổi bật trên cõi hồng trần với hoàn cảnh và khó khăn của nó—trong thế gian vốn là khó khăn nhất này.

4. Inertia or slow reactions to the imparted teaching and to the presented opportunity.

Trì trệ hoặc phản ứng chậm đối với giáo huấn đã truyền và cơ hội đã trình bày.

A deep reflection upon the urgency of the times and a sympathetic recognition of the unhappy plight of humanity are much needed by many disciples and aspirants in the world today, particularly by those who are not close to the world situation but who are looking at it from a distance. It is so simple to give a facile expression of sympathy but at the same time to avoid too great an expenditure of energy in service and too intense an effort to be of assistance.

Một sự suy tư sâu sắc về tính khẩn cấp của thời cuộc và một sự cảm thông nhận biết về tình cảnh bất hạnh của nhân loại là điều rất cần cho nhiều đệ tử và người chí nguyện trên thế giới hôm nay, đặc biệt là cho những ai không ở gần tình thế thế giới mà đang nhìn nó từ xa. Thật dễ để bày tỏ sự cảm thông một cách khéo lời nhưng đồng thời lại tránh tiêu hao quá nhiều năng lượng cho phụng sự và nỗ lực quá tích cực để trợ giúp.

The hallmark of the pledged disciple and a quality which should increasingly dominate his life is the capacity to identify himself with the part or with the whole—as seems needed at any particular time. Such an attitude involves a comprehensive sweep of love, and this leads to inclusiveness and to the pledging of the life service to the greatest number and to the most needy. If I were asked to specify the outstanding fault of the majority of groups of disciples at this time, I would say that it is the expression of the wrong kind of indifference, leading to an almost immovable preoccupation with their personal ideas [83] and undertakings. These militate against the group integration and tend to block the work.

Dấu ấn của đệ tử đã phát nguyện và một phẩm tính nên ngày càng chi phối đời sống của y là năng lực đồng nhất-hóa mình với bộ phận hoặc với toàn thể—tùy điều gì cần vào bất kỳ thời điểm nào. Một thái độ như vậy bao hàm một tầm quét bao gồm của tình thương, và điều này đưa đến tính bao gồm và việc hiến trọn đời sống cho số đông nhất và cho những người thiếu thốn nhất. Nếu tôi được yêu cầu chỉ rõ lỗi lầm nổi bật của đa số các nhóm đệ tử trong thời điểm này, tôi sẽ nói đó là biểu hiện của loại điềm nhiên sai lầm, dẫn đến một sự bận tâm hầu như bất động vào các ý tưởng [83] và công việc cá nhân của họ. Những điều này chống lại sự tích hợp nhóm và có xu hướng chặn ngăn công việc.

One of the things most needed by every disciple is to apply the teaching given to the idea of promoting and increasing their world service, thus rendering practical and effective in their environment the knowledge that has been imparted and the stimulation to which they have been subjected. This is a suggestion to which I would have you pay real attention.

Một trong những điều cần nhất đối với mọi đệ tử là áp dụng giáo lý đã ban vào ý tưởng thúc đẩy và gia tăng phụng sự thế giới của họ, nhờ đó khiến cho tri thức đã được truyền đạt và sự kích lệ mà họ đã chịu trở nên thiết thực và hiệu quả trong môi trường của họ. Đây là một gợi ý mà tôi muốn các bạn dành sự chú ý thực sự.

I would like also at this point to bring to your attention the fact that an accepted disciple is not in reality one who has been accepted by a Master for training. This is the distortion of a true idea which, in its progress from the mental plane to the physical, has achieved a complete reversal or distortion. An accepted disciple is one who:

Tôi cũng muốn, ở điểm này, lưu ý các bạn rằng một đệ tử chính thức thực ra không phải là người đã được một Chân sư chấp nhận để huấn luyện. Đây là sự xuyên tạc của một ý tưởng chân thực, ý tưởng vốn khi đi từ cõi trí xuống cõi hồng trần đã bị đảo ngược hoặc xuyên tạc hoàn toàn. Một đệ tử chính thức là người:

1. Has accepted the fact of the Hierarchy with the implications of loyalty and cooperation which that acceptance involves.

Đã chấp nhận sự kiện về Thánh Đoàn cùng với những hệ quả về lòng trung thành và hợp tác mà sự chấp nhận ấy hàm ý.

2. Has accepted the fact that all souls are one and who has, therefore, pledged himself to seek expression as a soul. The service to be rendered is the awakening and stimulation of all souls contacted.

Đã chấp nhận sự kiện rằng mọi linh hồn là một, và do đó đã nguyện tìm cách biểu lộ như một linh hồn. Phụng sự cần được thực hiện là đánh thức và kích thích mọi linh hồn được tiếp cận.

3. Has accepted the occult technique of service. His service to humanity determines all his activities and subordinates his personality to the need of the time. Note that phrase. Cultivate insight and a fluid response to the immediate need and not a sensitive reaction to a distant goal.

Đã chấp nhận kỹ thuật huyền bí của phụng sự. Phụng sự của y đối với nhân loại quyết định mọi hoạt động của y và đặt phàm ngã của y phục tùng nhu cầu của thời điểm. Hãy lưu ý cụm từ đó. Hãy trau dồi trực kiến và một đáp ứng linh động đối với nhu cầu trước mắt chứ không phải một phản ứng nhạy bén đối với mục tiêu xa vời.

4. Has accepted the Plan, as indicated by the Teachers of the race. He seeks to understand the nature of that Plan and to facilitate its manifestation.

Đã chấp nhận Thiên Cơ như được các Bậc Huấn Sư của giống dân chỉ ra. Y tìm cách thấu hiểu bản chất của Thiên Cơ và tạo điều kiện cho sự biểu hiện của nó.

Other points (of a more individual nature) could be enumerated, but I would have you lay the emphasis upon the acceptances which have or should have motivated your attitude and I would ask you not to emphasise so unduly in your private thoughts this idea of being “accepted by a Master.” This thought and its teaching by many esoteric groups has been productive of much error, much misunderstanding, much pain and much disillusionment. A disciple is trained in certain important [84] matters and not in his relation to a Master. These factors of importance to a disciple are:

Những điểm khác (mang tính cá nhân hơn) có thể được liệt kê, nhưng tôi muốn các bạn đặt trọng tâm vào những sự chấp nhận đã và nên thúc đẩy thái độ của các bạn, và tôi yêu cầu các bạn đừng nhấn mạnh quá mức—trong những suy tư riêng tư—ý nghĩ được “Chân sư chấp nhận.” Tư tưởng này và việc nhiều nhóm bí truyền giảng dạy nó đã sản sinh nhiều sai lầm, nhiều hiểu lầm, nhiều đau đớn và nhiều vỡ mộng. Một đệ tử được huấn luyện về vài vấn đề quan trọng [84] và không phải về mối liên hệ của y với một Chân sư. Những yếu tố quan trọng đối với một đệ tử là:

1. The whole subject of humanity—its present status, its problems and the opportunity immediately presented. A disciple is one who seeks at all times to aid humanity and to further the processes of evolution as well as to develop that deep love of mankind which is the distinguishing mark of the initiate and of the Master.

Toàn bộ chủ đề về nhân loại—tình trạng hiện tại, các vấn đề và cơ hội lập tức được trình bày. Một đệ tử là người luôn tìm cách trợ giúp nhân loại và thúc đẩy các tiến trình tiến hóa cũng như phát triển tình thương sâu xa đối với nhân loại—dấu hiệu phân biệt của điểm đạo đồ và của Chân sư.

2. The subject of initiation. A study of this subject will lead to a consideration of its secondary development and its basic objective of a progressive identification with the soul of the disciple, with the soul of the group, with the soul of humanity as a whole and with the soul in all forms.

Chủ đề về điểm đạo. Nghiên cứu chủ đề này sẽ dẫn đến việc xem xét sự phát triển thứ cấp của nó và mục tiêu cơ bản của nó là sự đồng nhất tiến triển với linh hồn của đệ tử, với linh hồn của nhóm, với linh hồn của toàn thể nhân loại và với linh hồn trong mọi hình tướng.

3. The subject of service. This is not service as it is usually understood. The ordinary connotation has largely lost its significance through wrong emphasis. The initiate considers service as the spontaneous, easy expression of a definite soul contact, brought down on to the physical plane and giving insight, practicality and inspiration to the disciple as he works on the outer plane of expression. Most disciples are occupied vaguely with achieving inspiration but know nothing of the earlier stages of insight, leading to the practical and wise expression of the met need upon the level of daily living. One of the major undertakings of the accepted disciple (or, as I would prefer to term it, the accepting disciple) is to transform himself from a well-intentioned idealist into a man of action on behalf of humanity.

Chủ đề về phụng sự. Đây không phải là phụng sự như thường được hiểu. Nghĩa thường đã phần lớn mất ý nghĩa do nhấn mạnh sai. Điểm đạo đồ xem phụng sự như là biểu hiện tự phát, dễ dàng của một tiếp xúc dứt khoát với linh hồn, được đưa xuống cõi hồng trần và đem lại trực kiến, tính thiết thực và cảm hứng cho đệ tử khi y làm việc trên bình diện biểu hiện bên ngoài. Phần lớn đệ tử mơ hồ bận tâm với việc đạt đến cảm hứng mà không biết gì về các giai đoạn sớm hơn của trực kiến, dẫn đến biểu hiện thiết thực và khôn ngoan của nhu cầu đã được đáp ứng trên bình diện sinh hoạt hằng ngày. Một trong những hoạt động chủ yếu của đệ tử chính thức (hay, như tôi muốn gọi, đệ tử đang chấp nhận) là chuyển hóa mình từ một nhà lý tưởng thiện chí thành một con người hành động vì nhân loại.

When a group can think unanimously along these lines and work in unison, then the first step will have been taken towards group initiation which is the goal of the new discipleship. Group initiation involves:

Khi một nhóm có thể đồng tâm nghĩ theo những đường hướng này và đồng nhịp làm việc, thì bước đầu tiên hướng đến điểm đạo theo nhóm—mục tiêu của địa vị đệ tử mới—sẽ được thực hiện. Điểm đạo theo nhóm bao hàm:

1. The possession and recognition of a united vision to which the individual in the group subordinates himself.

Sự sở hữu và công nhận một viễn kiến hợp nhất mà cá nhân trong nhóm đặt mình phục tùng.

2. The simultaneous rapport of the group members with the soul on its own level (that composite group soul which is composed of the soul of each individual member). This leads to group integration on soul levels.

Sự tương giao đồng thời của các thành viên nhóm với linh hồn trên bình diện riêng của nó (linh hồn nhóm tổng hợp được cấu thành bởi linh hồn của từng thành viên). Điều này dẫn đến sự tích hợp nhóm trên các bình diện linh hồn.

3. The blended consecrated contact of the group personalities upon the three levels of personality expression—the [85] mental, astral and etheric levels of awareness. Some group members contact each other on one level and some on another, but the aim should be a close contact on all three levels at will and all together when the group, as a group, demands it. This is a hard saying but later a clearer understanding will come of what this means and what it brings about.

Sự tiếp xúc được thánh hiến và hòa hòa của các phàm ngã nhóm trên ba cấp độ biểu hiện của phàm ngã—[85] các cấp độ nhận thức trí tuệ, cảm dục và dĩ thái. Một số thành viên nhóm tiếp xúc nhau trên một cấp, số khác trên một cấp khác, nhưng mục tiêu phải là một tiếp xúc gần gũi trên cả ba cấp theo ý chí và tất cả cùng nhau khi nhóm, như một nhóm, đòi hỏi điều đó. Đây là một lời nói khó, nhưng sau này một sự hiểu rõ ràng hơn sẽ đến về ý nghĩa của điều này và kết quả của nó.

4. The ability of the group to stand united and with no barriers between the group members of any kind. This will necessarily involve the sacrifice of personality reactions, ideals and plans. At present the varying ideals, attitudes and points of view separate disciples from each other. These must go.

Khả năng của nhóm đứng trong hợp nhất và không có rào ngăn nào giữa các thành viên thuộc nhóm. Điều này tất yếu sẽ bao hàm sự hy sinh các phản ứng, lý tưởng và kế hoạch của phàm ngã. Hiện tại các lý tưởng, thái độ và quan điểm khác nhau đang chia cách các đệ tử. Những điều này phải được gỡ bỏ.

There are, of course, other requirements but if you can understand the above and seek—to the best of your ability—to meet them, that is all that I ask at present. One of the great needs of all disciples and aspirants is the detached relinquishing of pet theories as to life, discipleship and the Plan; the preserving of that open mind which is ever ready for the unexpected presentation and able (when the spiritual vision is strong enough) to achieve a quick reversal of all preconceived ideals. This must be done when it is deemed spiritually wise and it involves also that waiting attitude whichexpects the new vision to appear, the newer truths to emerge into formulated clarity and the new potencies to become increasingly effective. Such attitudes are peculiarly difficult for those disciples who have the sixth Ray of Devotion and Idealism dominant in their energy equipment, for the ideals of a sixth ray aspirant crystallise most rapidly and are quickly distorted thereby. The temporary ideal (intended to guide the undeveloped aspirant) can become a barrier, separating him from truth and from the realisation of a truer vision.

Dĩ nhiên còn có các yêu cầu khác, nhưng nếu các bạn có thể hiểu các điểm trên và tìm cách—hết khả năng của mình—đáp ứng chúng, thì đó là tất cả điều tôi yêu cầu lúc này. Một trong những nhu cầu lớn đối với mọi đệ tử và người chí nguyện là sự từ bỏ một cách tách rời các lý thuyết ưa thích về cuộc đời, địa vị đệ tử và Thiên Cơ; là việc gìn giữ cái trí mở rộng luôn sẵn sàng cho sự xuất hiện bất ngờ và có thể (khi thị kiến tinh thần đủ mạnh) mau chóng đảo chiều mọi lý tưởng định kiến. Điều này phải được làm khi điều đó được xét là khôn ngoan về mặt tinh thần và nó cũng bao hàm thái độ chờ đợi mong đợi thị kiến mới xuất hiện, các chân lý mới nảy hiện thành minh bạch có hình thức, và các năng lực mới trở nên ngày càng hiệu quả. Những thái độ như vậy đặc biệt khó đối với các đệ tử có Cung Sáu—Bác Ái và Lý Tưởng—chi phối trong cơ cấu năng lượng của họ, vì các lý tưởng của một người chí nguyện cung sáu kết tinh rất nhanh và do đó mau bị bóp méo. Lý tưởng tạm thời (nhằm hướng dẫn người chí nguyện chưa phát triển) có thể trở thành một chướng ngại, tách y khỏi chân lý và khỏi việc nhận ra một thị kiến chân thực hơn.

So I would beg you, my disciples, to aim at a wide open simplicity which waits expectant of that new thing which is so ready today to precipitate but which is being hindered from so doing by the idealists of the world far more than by the man in the street. The latter is simpler in his reactions and more ready to grasp and see a way out of the immediate impasse than the mystic or the occultist because he thinks in terms of [86] humanity. The disciples of the world (with their nicely formulated ideals and their neatly expressed idealistic concepts) are oft glamoured by the future beauty because they are oblivious of the present opportunity. Many of them will find out later that they have been left behind as far as registering the new truths is concerned. To this Christ referred when He said that it was not possible to put new wine into old bottles for that which is old will be destroyed by the expanding new life.

Vì vậy tôi khẩn cầu các bạn, những đệ tử của tôi, hãy nhắm tới một sự giản dị rộng mở, cái giản dị biết chờ đợi điều mới mẻ vốn đang sẵn sàng hôm nay để ngưng tụ, nhưng lại đang bị cản trở không phải bởi người bình dân mà hơn hết bởi các nhà lý tưởng trên thế giới. Người sau đơn giản hơn trong phản ứng và sẵn sàng hơn để nắm bắt và thấy một lối ra khỏi bế tắc trước mắt so với nhà thần bí hay nhà huyền bí học, bởi y suy nghĩ theo các khái niệm [86] về nhân loại. Các đệ tử của thế giới (với các lý tưởng được diễn đạt gọn ghẽ và các khái niệm lý tưởng được trình bày gọn gàng) thường bị ảo cảm về vẻ đẹp tương lai, vì họ quên bẵng cơ hội hiện tại. Nhiều người trong số họ rồi đây sẽ nhận ra rằng họ đã bị bỏ lại phía sau trong việc ghi nhận các chân lý mới. Đức Christ đã ám chỉ điều này khi Ngài nói rằng không thể rót rượu mới vào bầu da cũ, vì cái cũ sẽ bị sự sống mới đang nở nẩy làm hỏng.

The initiate, therefore, stands ready, for what? For the instant recognition of what is new, for its immediate grasp and the treading of the new step in the unfoldment of the pioneering human consciousness, for the revelation—steadily and constantly presented—of the new and superseding concepts. These concepts possess a dynamic expulsive power and satisfactorily meet human need in the immediate cycle. He is ready for the instant relinquishing of all that seems futile and unnecessary and inadequate to the need of the hour, and for the reception of the power from on high which breaks and destroys that which has become crystallised, which has served its purpose and become old and useless; he is ready to work as a practical occultist (and not only as a mystical idealist) upon the levels of vision as well as upon the levels of practical human affairs.

Vậy nên điểm đạo đồ đứng sẵn sàng, sẵn sàng cho điều gì? Cho sự nhận ra tức khắc điều mới mẻ, cho việc nắm bắt tức thì điều ấy và bước đi trên bước mới trong sự khai mở của tâm thức tiên phong nhân loại, cho sự mặc khải—được trình bày đều đặn và liên tục—các ý niệm mới và vượt trội. Những ý niệm này có một quyền năng trục xuất năng động và đáp ứng thỏa đáng nhu cầu nhân loại trong chu kỳ trước mắt. Y sẵn sàng từ bỏ tức thời mọi điều trở nên phù phiếm, không cần thiết và không thích hợp với nhu cầu của giờ phút, và sẵn sàng tiếp nhận quyền năng từ trên cao—cái phá vỡ và tiêu hủy những gì đã kết tinh, đã làm xong phận sự và trở nên cũ kỹ, vô dụng; y sẵn sàng làm việc như một nhà huyền bí học thực tiễn (chứ không chỉ như một nhà lý tưởng thần bí) trên các bình diện thị kiến cũng như trên các bình diện của các sự vụ nhân sinh thực tiễn.

I would suggest that your meditation process should be divided into two parts. There should be a definitely planned individual and group meditation and also a methodical cultivation of the life of spiritual reflection. This spiritual reflection will foster the dual life—objective and subjective—of the disciple whilst the more formal meditation would aid in the process of focussing the light of the soul in the brain and thus lay the foundation for living, enlightened, soul service.

Tôi muốn đề nghị tiến trình tham thiền của các bạn nên được chia làm hai phần. Cần có một bài tham thiền cá nhân và nhóm được hoạch định dứt khoát, và cũng cần sự trau dồi có hệ thống đời sống chiêm niệm tinh thần. Sự chiêm niệm tinh thần này sẽ nuôi dưỡng đời sống kép—khách quan và chủ quan—của đệ tử, trong khi bài tham thiền có tính quy thức hơn sẽ hỗ trợ tiến trình tập trung ánh sáng của linh hồn vào trong não bộ và như thế đặt nền tảng cho phụng sự của linh hồn—sống động và được soi sáng.

This service is only the expression upon the physical plane of soul attitudes and activities—as the soul evidences them on its own level of consciousness. One phase of this dual work, the reflective, works out in an increasing realisation and expression of intentional living or of “life with a purpose.” It leads to a mode of living which is built upon a planned programme which approximates itself, as far as possible, to the hierarchical Plan and to hierarchical life impulses. The second phase, which is embodied in the formal meditation, is that of a definite and [87] conscious withdrawal. If this is carried out correctly and with deliberation, plus regularity, it will eventually bring about a most productive telepathic interplay between the disciples in a group and between the individual disciple, the Master and the larger Ashram. It will also make the disciple sensitive to the higher “gift waves.” The entire meditation (in its two parts) involves, therefore, the linking up of heart and head, of the mystic and the occult approach, and also of feeling and knowledge.

Phụng sự này chỉ là sự biểu hiện trên cõi hồng trần của các thái độ và hoạt động của linh hồn—như linh hồn phô bày chúng trên bình diện tâm thức riêng của nó. Một phương diện của công việc kép này—phương diện chiêm niệm—biểu lộ trong một ý thức ngày càng tăng và sự biểu hiện của lối sống có chủ ý hay “sống có mục đích.” Nó dẫn đến một phương thức sống được xây dựng trên một chương trình có hoạch định, cố gắng, trong mức tối đa có thể, tiệm cận với Thiên Cơ và với các xung lực sống của Thánh Đoàn. Phương diện thứ hai, được thể hiện trong tham thiền quy thức, là một sự thu rút [87] dứt khoát và có ý thức. Nếu điều này được thực hiện đúng cách và với sự cố ý, cùng tính đều đặn, nó rốt cuộc sẽ mang lại một sự tương tác viễn cảm hết sức hiệu quả giữa các đệ tử trong một nhóm và giữa đệ tử cá nhân, Chân sư và Đại Ashram. Nó cũng sẽ làm cho đệ tử nhạy bén với các “làn sóng ban tặng” cao hơn. Toàn bộ tham thiền (trong cả hai phần) do đó bao hàm sự nối kết giữa tim và đầu, giữa tiếp cận thần bí và huyền bí, cũng như giữa cảm xúc và tri thức.

Only from the heart centre can stream, in reality, those lines of energy which link and bind together. It was for this reason that I have assigned certain meditations which stimulated the heart into action, linking the heart centre (between the shoulder blades) to the head centre, through the medium of the higher correspondence to the heart centre, found within the head centre (the thousand petalled lotus). This heart centre, when adequately radiatory and magnetic, relates disciples to each other and to all the world. It will also produce that telepathic interplay which is so much to be desired and which is so constructively useful to the spiritual Hierarchy—provided it is established within a group of pledged disciples, dedicated to the service of humanity. They can then be trusted.

Chỉ từ luân xa tim mới thực sự có thể tuôn chảy những tuyến năng lượng nối kết và ràng buộc. Vì lý do này mà tôi đã chỉ định những bài tham thiền nhất định nhằm kích hoạt luân xa tim, nối luân xa tim (giữa hai bả vai) với luân xa đầu, thông qua đối ứng cao hơn của luân xa tim—nằm trong luân xa đầu (hoa sen nghìn cánh). Luân xa tim này, khi đủ tỏa chiếu và từ hóa, sẽ nối kết các đệ tử với nhau và với toàn thế giới. Nó cũng sẽ tạo nên sự tương tác viễn cảm rất đáng mong ước và vô cùng hữu ích cho Thánh Đoàn tinh thần—miễn là nó được thiết lập trong một nhóm đệ tử đã phát nguyện, hiến mình cho phụng sự nhân loại. Khi ấy có thể tin cậy họ.

One of the tasks of all disciples is the evocation of the will aspect of the soul; the will is usually quiescent in its higher aspects until a man treads the Path of Discipleship....

Một trong những nhiệm vụ của mọi đệ tử là khơi dậy phương diện ý chí của linh hồn; ý chí thường yên lặng ở các phương diện cao của nó cho đến khi con người bước lên Địa vị đệ tử....

You might ask, my brothers, of what use are these analogies and these items of information? They are of little technical use to you and really increase your responsibility. If, however, they serve to establish a true recognition of reality, of synthesis and of relation in the disciple’s consciousness, they are then of real value. Those three words—reality, synthesis, relation—indicate the goal and the problem of the disciple, plus the resultant effect of conscious, intelligent, spiritual work, motivated by love.

Các huynh đệ của tôi có thể hỏi: những phép loại suy này và những dữ kiện thông tin này có ích chi? Chúng ít có ích lợi kỹ thuật đối với các bạn và thực ra làm tăng trách nhiệm của các bạn. Tuy nhiên, nếu chúng giúp thiết lập trong tâm thức của đệ tử một sự nhận biết chân thực về hiện thực, về tổng hợp và về mối liên hệ, thì chúng thực sự có giá trị. Ba từ ấy—hiện thực, tổng hợp, liên hệ—chỉ ra mục tiêu và vấn đề của đệ tử, cùng với hệ quả phát sinh của công việc tinh thần tự giác, thông tuệ, được tình thương làm động cơ.

In the New Age, as I have earlier pointed out, the keynote of the aspirant’s progress will be love of humanity; this will indicate the awakening of the heart centre. In the past and up until the last few years, the keynote has been service because (if selflessly rendered) it embodied a technique which automatically [88] brought the heart centre into activity. It is love of humanity which is the major lack in the character of many disciples today. They love those with whom they may be associated, or they love the work connected with the group endeavour, or they love their own nation; they may also love an ideal or theoretical assumption, but they do not really love humanity as a whole. There are limits to their capacity to love and it is the transcending of those limits which constitutes their main problem at this time; they have to learn that it is humanity which calls for their allegiance, their loyalty and service. I would ask you all to ponder deeply on the above statements, for they embody the task ahead for you also as you seek to fit yourselves for the first or the second initiation.

Trong Thời đại Mới, như tôi đã chỉ ra trước đây, chủ âm của sự tiến bộ của người chí nguyện sẽ là tình thương đối với nhân loại; điều này sẽ chỉ ra sự thức tỉnh của luân xa tim. Trước đây và cho đến vài năm gần đây, chủ âm là phụng sự vì (nếu được thực hiện vô ngã) nó bao hàm một kỹ thuật tự động [88] đưa luân xa tim vào hoạt động. Chính tình thương đối với nhân loại là thiếu khuyết chủ yếu trong tính cách của nhiều đệ tử hôm nay. Họ yêu những người mà họ có thể liên hệ, hoặc họ yêu công việc gắn với nỗ lực nhóm, hoặc họ yêu quốc gia mình; họ cũng có thể yêu một lý tưởng hoặc một giả định lý thuyết, nhưng họ thực sự không yêu nhân loại như một toàn thể. Năng lực yêu thương của họ có giới hạn và chính việc vượt qua những giới hạn ấy cấu thành vấn đề chính của họ lúc này; họ phải học rằng nhân loại đang kêu gọi sự trung thành, lòng tận tụy và phụng sự của họ. Tôi muốn tất cả các bạn suy ngẫm sâu xa những tuyên bố trên, vì chúng bao hàm nhiệm vụ trước mắt của các bạn khi các bạn tìm cách tự trang bị cho lần điểm đạo thứ nhất hoặc thứ hai.

I would remind you also that the life of the disciple is ever a life of risks and of dangers, entered into willingly and deliberately in the cause of spiritual unfoldment and the service of humanity. But I would ask each of you to watch your emotional life and reactions with greatly increased care; I would ask you to watch particularly for the least outcropping of glamour. I would call your attention to the fact that the emergence of emotional conditions or of glamour in your life-expression need not necessarily indicate failure. There is only failure if there is identification with these astral conditions and a succumbing to old rhythms. The success of the meditation work assigned and regularly followed may be proved to you by the appearance of these undesirable conditions; they must be then recognised for what they are, and evoke in you that “divine indifference” which permits the emotion or the glamour to die of attrition, because deprived of the “feeding-power” of the attention. The whole history of true emotional control is to be found in the sentence just given. The process of achieving this control constitutes one of the most difficult periods in the life of the disciple and quite one of the longest from the angle of time. For this you should be prepared. Particularly is it difficult at this time to triumph over emotion because of the intense emotional condition of the entire human family and the widespread fear and terror for which the energy of the Black Lodge of Adepts is responsible. This definitely complicates your problem and that of all disciples: it tends to foster a most potent glamour. [89] So I beg of you to proceed with courage, joy, understanding, extreme caution and—at the same time—with speed.

Tôi cũng muốn nhắc các bạn rằng đời sống của đệ tử bao giờ cũng là một đời sống của các rủi ro và nguy hiểm, được bước vào một cách tự nguyện và cố ý vì sự khai mở tinh thần và vì phụng sự nhân loại. Nhưng tôi muốn mỗi người trong các bạn hãy quan sát đời sống và các phản ứng cảm xúc của mình với một sự cẩn trọng được gia tăng lớn lao; tôi muốn các bạn đặc biệt lưu ý đến bất kỳ mầm mống nhỏ nhất nào của ảo cảm. Tôi muốn lưu ý các bạn đến sự kiện rằng sự xuất hiện của các tình trạng cảm xúc hoặc của ảo cảm trong biểu hiện đời sống của các bạn không nhất thiết chỉ ra thất bại. Chỉ có thất bại khi có sự đồng nhất với những tình trạng cảm dục ấy và sự khuất phục trước các nhịp điệu cũ. Thành công của công việc tham thiền được giao và được theo đuổi đều đặn có thể được chứng nghiệm bởi sự xuất hiện của những tình trạng không mong muốn này; khi ấy chúng phải được nhận diện đúng như chúng là, và khơi dậy nơi các bạn “tính điềm nhiên thiêng liêng” cho phép cảm xúc hoặc ảo cảm chết dần vì mòn mỏi, bởi bị tước mất “năng lực nuôi dưỡng” của sự chú ý. Toàn bộ lịch sử của việc chế ngự cảm xúc chân chính có thể tìm thấy trong câu vừa nêu. Tiến trình đạt được sự chế ngự này cấu thành một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong đời đệ tử và cũng là một trong những giai đoạn dài nhất xét theo góc độ thời gian. Các bạn nên chuẩn bị cho điều này. Đặc biệt lúc này việc chiến thắng xúc cảm là khó khăn vì tình trạng cảm xúc mãnh liệt của toàn thể gia đình nhân loại và nỗi sợ hãi, kinh hoàng lan rộng—mà năng lượng của Hắc Đoàn của các Chân sư Hắc đạo gây nên. Điều này chắc chắn làm phức tạp vấn đề của các bạn và của mọi đệ tử: nó có xu hướng nuôi dưỡng một ảo cảm cực mạnh. [89] Vậy nên tôi nài xin các bạn tiến bước với dũng khí, hoan hỷ, thấu hiểu, hết sức thận trọng và—đồng thời—với tốc độ.

I would point out also that the intention of all true disciples is to stand by their group brothers in love and understanding. Upon this fact you can count. I would also assure you that the protective love of your Master is around you and that I shall not fail you at any time.... But, in the last analysis, the battle is yours.

Tôi cũng muốn chỉ ra rằng ý hướng của mọi đệ tử chân chính là đứng cạnh các huynh đệ nhóm của mình trong tình thương và sự thấu hiểu. Về sự kiện này các bạn có thể tin cậy. Tôi cũng bảo đảm với các bạn rằng tình thương bảo hộ của Chân sư của các bạn đang bao bọc các bạn và rằng tôi sẽ không thất bại với các bạn vào bất kỳ lúc nào.... Nhưng, xét đến cùng, trận chiến là của chính các bạn.

PART IX—PHẦN IX

The secret of all true meditation work in its earlier stages is the power to visualise. This is the first stage to be mastered. Disciples should lay the emphasis upon this process; in it lies eventually the ability to use the creative powers of the imagination, plus mental energy, as a measure to further the ends of the Hierarchy and to carry out the Divine Plan. All the new processes in meditation techniques (for which the New Age may be responsible) must and will embody visualisation as a primary step for the following reasons:

Bí quyết của mọi công tác tham thiền chân chính ở các giai đoạn ban đầu là năng lực hình dung. Đây là giai đoạn đầu tiên cần tinh thông. Các đệ tử nên nhấn mạnh tiến trình này; ở đó rốt cuộc có khả năng dùng các quyền năng sáng tạo của sự tưởng tượng, cộng với năng lượng trí tuệ, như một phương tiện để thúc đẩy mục đích của Thánh Đoàn và để thực thi Thiên Cơ. Tất cả các quy trình mới trong các kỹ thuật tham thiền (mà Kỷ Nguyên Mới có thể chịu trách nhiệm) phải và sẽ bao hàm hình dung như một bước sơ khởi vì các lý do sau:

1. Visualisation is the initial step in the demonstration of the occult law that “energy follows thought.” This, of course, everyone interested in occult study recognises theoretically. One of the tasks confronting disciples is to achieve factual knowledge of this. Pictorial visualisation (which is a definite feature of the work in many esoteric schools) is simply an exercise to bring about the power to visualise. In the work of those disciples who are being trained for initiation, this external aspect of visualisation must give place to an interior process which is the first step towards the direction of energy. The visualising of pictures is intended to focus the aspirant within the head at a point midway between the pituitary body and the pineal gland. In that area, he draws pictures and paints scenes and thus acquires facility to see—in large and in detail—that which he desires and for which he intends to work. The visualising of what might be called “directed process” goes on in a more focussed manner and in the area directly around the pineal gland. The pineal [90] gland then becomes the centre of a magnetic field which is set in motion—in the first place—by the power of visualisation. At that point, energy is gathered by the disciple and then directed with intention to one or other of the centres. This focussed thought produces inevitable effects within the etheric body and thus two aspects of the creative imagination are brought into play.

1. Hình dung là bước khởi đầu trong việc biểu lộ định luật huyền bí rằng “năng lượng đi theo tư tưởng”. Điều này, dĩ nhiên, mọi người quan tâm đến học tập huyền bí đều công nhận về mặt lý thuyết. Một trong những phận sự đối diện với các đệ tử là đạt đến tri thức thực chứng về điều này. Hình dung bằng hình ảnh (vốn là một đặc tính xác định của công việc tại nhiều trường nội môn) đơn giản là một bài luyện để mang lại quyền năng hình dung. Trong công việc của những đệ tử đang được đào luyện cho điểm đạo, phương diện ngoại tại này của hình dung phải nhường chỗ cho một tiến trình nội tại, vốn là bước đầu tiên hướng đến điều hướng năng lượng. Việc hình dung các bức tranh nhằm tập trung người chí nguyện bên trong đầu, tại một điểm ở giữa tuyến yên và tuyến tùng. Ở khu vực đó, y vẽ ra các bức tranh và tô cảnh tượng và nhờ đó đạt được khả năng thấy—trong đại thể và trong chi tiết—điều y mong muốn và điều y định làm việc cho nó. Việc hình dung điều có thể được gọi là “tiến trình có định hướng” diễn ra theo cách tập trung hơn và trong vùng trực tiếp quanh tuyến [90] tùng. Khi ấy tuyến tùng trở thành trung tâm của một trường từ tính được khởi động—trước hết—bởi quyền năng hình dung. Tại điểm đó, đệ tử gom năng lượng rồi hướng nó bằng ý định đến một hay trung tâm khác. Tư tưởng được tập trung này tạo ra các hiệu quả tất yếu trong thể dĩ thái và như vậy hai phương diện của Sự tưởng tượng sáng tạo được đưa vào hoạt động.

2. The power to visualise is the form-building aspect of the creative imagination. This process falls into three parts, corresponding somewhat to the creative process followed by Deity Itself:

2. Quyền năng hình dung là phương diện kiến tạo hình tướng của Sự tưởng tượng sáng tạo. Tiến trình này gồm ba phần, phần nào tương ứng với tiến trình sáng tạo được Chính Thượng đế theo đuổi:

a. The gathering of qualified energy within a ring-pass-not.

a. Gom năng lượng đã được định phẩm chất trong một vòng-giới-hạn.

b. The focussing of this energy under the power of intention, i.e., at a point in the neighbourhood of the pineal gland. The energy is now focussed and not diffused.

b. Tập trung năng lượng này dưới quyền năng của ý định, tức là, tại một điểm trong vùng lân cận tuyến tùng. Năng lượng nay được tập trung, không còn tản mạn.

c. The despatch of this focussed energy by means of a pictorial process (not by an act of the will at this time) in any desired direction—that is, to certain centres in a certain order.

c. Gởi phóng năng lượng đã tập trung này bằng một tiến trình hình tượng (chưa phải bằng một hành động của ý chí lúc này) theo bất cứ hướng mong muốn nào—tức là, tới các luân xa nhất định theo một trật tự nhất định.

This process of energy direction can become a spiritual habit if disciples would begin to do it slowly and gradually. At first, the visualising process may seem to you to be laboured and profitless but, if you persevere, you will find eventually that it becomes effortless and effective. This is one of the most important ways in which a Master works; it is essential, therefore, that you begin to master the technique. The stages are:

Tiến trình điều hướng năng lượng này có thể trở thành một thói quen tinh thần nếu các đệ tử bắt đầu thực hiện nó chậm rãi và dần dần. Ban đầu, tiến trình hình dung có thể dường như nặng nề và vô ích đối với các bạn nhưng, nếu bền chí, rốt cuộc các bạn sẽ thấy nó trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả. Đây là một trong những cách quan trọng nhất mà một Chân sư làm việc; vì vậy, điều cốt yếu là bạn bắt đầu tinh thông kỹ thuật ấy. Các giai đoạn là:

a. A process of energy gathering.

a. Tiến trình gom năng lượng.

b. A process of focalisation.

b. Tiến trình tập trung.

c. A process of distribution or direction.

c. Tiến trình phân phối hay điều hướng.

The disciple learns to do this within himself and later to direct the energy (some chosen and particular kind, according to the demand of the occasion) to that which lies without himself. This constitutes, for example, one of the major healing techniques of the future. It is also used by the Master in awakening His disciple to certain [91] states of consciousness, but with these you have naught to do.

Đệ tử học làm điều này trong chính mình, rồi sau đó điều hướng năng lượng (một loại năng lượng được chọn lựa và đặc thù, tùy theo đòi hỏi của hoàn cảnh) đến điều ở bên ngoài mình. Điều này, thí dụ, cấu thành một trong các kỹ thuật trị liệu lớn của tương lai. Nó cũng được Chân sư dùng để đánh thức Đệ tử của Ngài đến những [91] trạng thái tâm thức nhất định, nhưng với những điều này các bạn không có gì liên can.

3. The power to visualise correctly is one definite mode of ascertaining truth or falsity. This is a statement difficult for you to comprehend. Visualisation is literally the building of a bridge between the emotional or astral plane and the mental level and is, therefore, a personality correspondence to the building of the antahkarana. The astral plane, the second aspect of the personality, is the correspondence to the form-building aspect of the Trinity, the second aspect. The creative imagination “pictures a form” through the ability to visualise and the thought energy of the mind gives life and direction to this form. It embodies purpose. Thereby a rapport or line of energy is constructed between the mind and the astral vehicle and it becomes a triple line of energy when the soul of the disciple is utilising this creative process in some planned and definitely constructive manner.

3. Quyền năng hình dung cho đúng là một phương thức xác quyết thật hay giả. Đây là một phát biểu khó cho các bạn thấu hiểu. Hình dung thật sự là việc xây một cây cầu giữa cõi cảm dục và mức trí tuệ và do đó là tương ứng nơi phàm ngã với việc kiến tạo antahkarana. Cõi cảm dục, phương diện thứ hai của phàm ngã, là tương ứng với phương diện kiến tạo hình tướng của Ba Ngôi, phương diện thứ hai. Sự tưởng tượng sáng tạo “vẽ ra một hình tướng” qua năng lực hình dung và năng lượng tư tưởng của thể trí trao sinh khí và hướng dẫn cho hình tướng đó. Nó hàm chứa mục đích. Qua đó, một sự tương thông hay một tuyến năng lượng được kiến tạo giữa thể trí và hiện thể cảm dục và nó trở thành một tuyến năng lượng tam phân khi linh hồn của đệ tử đang sử dụng tiến trình sáng tạo này theo một cách thức có kế hoạch và chắc chắn có tính kiến tạo.

This visualising process and this use of the imagination form the first two steps in the activity of thoughtform building. It is with these self-created forms—embodying spiritual ideas and divine purpose—that the Masters work and hierarchical purpose takes shape. Therefore, my disciples, it is essential that you begin with deliberation and slowly to work in this manner and to use the above information constructively and creatively. The need of the times is increasingly great and the utmost of work and of purpose is desired.

Tiến trình hình dung này và việc sử dụng Sự tưởng tượng ấy tạo thành hai bước đầu trong hoạt động kiến tạo Hình tư tưởng. Chính với những hình tự kiến tạo—hàm chứa các ý niệm tinh thần và Thiên Ý—mà các Chân sư làm việc và mục đích của Thánh Đoàn thành hình. Vì vậy, các đệ tử của tôi, điều cốt yếu là các bạn bắt đầu một cách cẩn trọng và chậm rãi làm việc theo cách này và sử dụng thông tin trên một cách kiến tạo và sáng tạo. Nhu cầu của thời đại ngày càng lớn và tối đa công việc cùng mục đích được mong cầu.

The goal of initiation is held out by the Masters to all Their disciples and They stand ready to give the needed instruction. I would remind you at this early stage that only that which you know for yourself and experience consciously within yourself is of importance and constitutes the truth for you. That which may be told you by others, even by me, serves no vital purpose, except to enhance or corroborate an already known truth, or to create illusions or responsibility until it is either rejected or experienced by you in your own consciousness. Do you understand what I mean?

Mục tiêu của điểm đạo được các Chân sư đưa ra cho tất cả Đệ tử của Các Ngài và Các Ngài sẵn sàng ban chỉ giáo cần thiết. Tôi muốn nhắc các bạn ngay ở giai đoạn sớm này rằng chỉ điều gì bạn tự biết cho mình và kinh nghiệm một cách có ý thức trong chính bạn mới là điều quan trọng và cấu thành chân lý đối với bạn. Điều có thể được người khác nói với bạn, kể cả tôi, không phục vụ một mục đích sinh động nào, ngoại trừ làm tăng cường hay chứng thực một chân lý vốn đã được biết, hoặc tạo ra ảo tưởng hay trách nhiệm cho đến khi nó bị bạn loại bỏ hoặc được bạn tự mình kinh nghiệm trong tâm thức mình. Bạn có hiểu điều tôi muốn nói không?

Initiation might be defined at this point as the moment of crisis wherein the consciousness hovers on the very border-line [92] of revelation. The demands of the soul and the suggestions of the Master might be regarded as in conflict with the demands of time and space, focussed in the personality or the lower man. You will have, therefore, in this situation a tremendous pull between the pairs of opposites; the field of tension or the focus of the effort is to be found in the disciple “standing at the midway point.” Will he respond and react consciously to the higher pull and pass on to new and higher areas of spiritual experience? Or will he fall back into the glamour of time and space and into the thraldom of the personal life? Will he stand in a static quiescent condition in which neither the higher trend nor the lower pull will affect him? One or other of these three conditions must distinguish him and must succeed upon an earlier and vacillating experience wherein the disciple vibrates between the higher and the lower decisions. It is at this process, the Master presides. He is able to do nothing because it is the disciple’s own problem. He can only endeavour to enhance the desire of the soul by the power of His directed thought. The personality can also do nothing, for at this point both the physical body and the astral vehicle are simply automatons, waiting responsively for the decision of the disciple, functioning in his mental body. Only the disciple can act upon the mental level of consciousness at this point of endeavour. Once he does so, the die is cast. He either moves forward towards the door of light where the Master takes his hand and the Angel of the Presence becomes potent and active in a way which I may not describe to you, or he drops back temporarily into the life condition of the lower man; glamour and maya settle down anew upon him and the Dweller on the Threshold inserts himself between the disciple and the light from the open door and renews activity. The disciple either awakens suddenly to a wider grasp of reality and a deeper understanding of the Plan and his part in it, or the “veils of earth” close over his head; the vision fades and he reverts into the life of an ordinary human being, probably for the period of the incarnation wherein the opportunity was offered to him. Should he, however, go forward through that door, then (according to the initiation which becomes possible) will be the revelation and its attendant consequences. The revelation will not be the [93] revelation of possibilities. It is a factual experience, resulting in the evocation of new powers and capacities and the recognition of new modes and fields of service. These powers are conditioned by past developments and the presence of these capacities, plus a freedom of movement “within the bounds of the Hierarchy” which lie far beyond anything which he may have dreamed, become his. New hierarchical contacts are now possible to him; new responsibility is laid upon his shoulders and new “fields of potency” become available for his use in world service.

Điểm đạo có thể được định nghĩa tại điểm này như là khoảnh khắc khủng hoảng, trong đó tâm thức lơ lửng ngay trên ranh giới [] của sự mặc khải. Các đòi hỏi của linh hồn và các gợi ý của Chân sư có thể được xem như xung đột với các đòi hỏi của thời gian và không gian, được hội tụ trong phàm ngã hay phàm nhân. Do đó, trong tình huống này, sẽ có một lực kéo ghê gớm giữa các cặp đối nghịch; vùng căng thẳng hay tiêu điểm của nỗ lực được tìm thấy nơi đệ tử “đứng tại điểm ở giữa”. Liệu y có đáp ứng và phản ứng một cách có ý thức với sức kéo cao hơn và đi tiếp vào những vùng trải nghiệm tinh thần mới và cao hơn? Hay y sẽ rơi trở lại vào ảo cảm của thời gian và không gian và vào ách nô lệ của đời sống cá nhân? Liệu y sẽ đứng trong một trạng thái tĩnh tại, bất động trong đó cả xu hướng cao hơn lẫn lực kéo thấp hơn đều không tác động được y? Một trong ba trạng thái này tất phải là đặc trưng của y và phải tiếp nối một kinh nghiệm trước đó vốn do dự, trong đó đệ tử rung chuyển giữa quyết định cao và thấp. Chính tại tiến trình này, Chân sư chủ toạ. Ngài không thể làm gì vì đây là vấn đề của riêng đệ tử. Ngài chỉ có thể cố gắng gia tăng ước muốn của linh hồn bằng quyền năng tư tưởng có hướng của Ngài. Phàm ngã cũng không thể làm gì, vì tại điểm này cả thể xác lẫn hiện thể cảm dục chỉ đơn thuần là những bộ máy tự động, đang chờ đợi một cách đáp ứng quyết định của đệ tử, lúc y đang vận hành trong thể trí của mình. Chỉ đệ tử mới có thể hành động trên mức tâm thức trí tuệ tại điểm nỗ lực này. Một khi y làm thế, khuôn đúc được gieo. Hoặc y tiến bước hướng về cánh cửa ánh sáng, nơi Chân sư nắm tay y và Thiên Thần của Hiện Diện trở nên hữu hiệu và hoạt động theo cách mà tôi không thể mô tả cho bạn, hoặc y rơi trở lại tạm thời vào tình trạng sống của phàm nhân; ảo cảm và ảo lực lại phủ xuống y và Kẻ Chận Ngõ chen vào giữa đệ tử và ánh sáng từ cánh cửa đang mở và phục hồi hoạt động. Đệ tử hoặc đột nhiên tỉnh thức đến một nắm bắt rộng lớn hơn về thực tại và một thấu hiểu sâu sắc hơn về Thiên Cơ và phần việc của y trong đó, hoặc “các bức màn của trần gian” khép lại trên đầu y; thị kiến phai mờ và y quay về đời sống của một con người bình thường, có lẽ trong suốt kiếp lâm phàm mà cơ hội đã được đưa đến cho y. Tuy nhiên, nếu y đi tới xuyên qua cánh cửa đó, thì (tùy vào lần điểm đạo trở nên khả hữu) sẽ là sự mặc khải và các hệ quả đi kèm. Sự mặc khải sẽ không phải là [93] sự mặc khải về các khả năng. Đó là một kinh nghiệm thực chứng, dẫn đến việc gợi lên các quyền năng và năng lực mới và sự nhận ra những phương thức và lĩnh vực phụng sự mới. Các quyền năng này được điều kiện bởi các phát triển trong quá khứ và sự hiện hữu của các năng lực này, cộng với một tự do vận động “trong những giới hạn của Thánh Đoàn” vượt xa bất cứ điều gì y có thể đã mơ tưởng, trở thành sở hữu của y. Những tiếp xúc mới trong Thánh Đoàn giờ đây khả hữu cho y; trách nhiệm mới đặt lên vai y và những “lĩnh vực năng lực” mới trở nên sẵn sàng để y sử dụng trong phụng sự thế gian.

You have often heard that the Guru, or Teacher, in the East would teach His disciple by the giving of a hint. If you have read and studied the ancient writings of India (and who today has not read at least some of them?) you will have noted that these hints fall into two categories:

Bạn hẳn thường nghe rằng Đạo sư, hay Huấn sư, ở phương Đông sẽ dạy Đệ tử của Ngài bằng cách đưa ra một gợi ý. Nếu bạn đã đọc và học các trước tác cổ Ấn Độ (và ngày nay ai mà chưa đọc ít nhất một phần?) bạn sẽ ghi nhận rằng những gợi ý này rơi vào hai loại:

1. Hints anent personal character in relation to reality and preparation for initiation.

1. Những gợi ý liên quan đến tính cách cá nhân trong tương quan với thực tại và sự chuẩn bị cho điểm đạo.

2. Hints anent the Oneness of Deity and man’s relation to an ascertained and gained unity.

2. Những gợi ý liên quan đến Tính Nhất Như của Thượng đế và mối liên hệ của con người với một nhất thể đã được xác chứng và đạt được.

To these were later added teachings concerning the creative process when God made the worlds, and much concerning energy and the development of the centres (laya-yoga, as it is technically called). These four lines of teaching are practically all that is given and all the training offered was of an exoteric nature. You can see for yourselves that it was preparatory in nature and that the training for initiation was so deeply hidden in the emphasis laid upon the relation of Guru and disciple that it did not find expression in words and was not, therefore, revealed in any way. The few possible symbolic hints and meanings have been investigated and the erudite esotericist has already drained these sources of information dry.

Về sau, vào những điều này được bổ sung các giáo huấn liên quan đến tiến trình sáng tạo khi Thượng đế tạo dựng các thế giới, và nhiều điều liên quan đến năng lượng và sự phát triển các luân xa (laya-yoga, như nó được gọi một cách kỹ thuật). Bốn tuyến giáo huấn này hầu như là tất cả những gì được ban ra và tất cả đào luyện được cung cấp đều mang tính hiển giáo. Các bạn có thể tự thấy rằng nó mang tính chuẩn bị và rằng việc đào luyện cho điểm đạo được ẩn giấu rất sâu trong nhấn mạnh đặt vào mối tương quan giữa Đạo sư và đệ tử đến độ nó không bộc lộ ra bằng lời và do đó không được tiết lộ theo bất cứ cách nào. Những gợi ý và ý nghĩa biểu tượng ít ỏi có thể có đã được khảo cứu và nhà bí truyền học uyên thâm đã cạn kiệt các nguồn thông tin đó.

What I am seeking to do is to carry the teaching another stage outward and make exoteric what the Master taught His disciple in the ancient days when the fundamental truths anent the universal consciousness had been somewhat grasped by the disciple and the particular had been also successfully worked out in its rightful place and manner by the disciple. The old rule ever remains an unalterable rule that all true esoteric teaching begins with the universal and ends with the particular; [94] this you must ever and always bear in mind. It is my difficult task to put into modern language and into symbolic forms these hitherto unwritten rules. Much that has been given out since the time that H.P.B. struggled and worked has been truth, including information anent initiation. Much has been fanciful and grievously distorted.

Điều tôi đang tìm cách làm là đưa giáo huấn thêm một giai đoạn ra bên ngoài và làm hiển giáo điều mà Chân sư dạy đệ tử của Ngài trong những ngày xưa, khi các chân lý cơ bản liên quan đến tâm thức vũ trụ đã được đệ tử phần nào nắm bắt và các sự việc cá biệt cũng đã được triển khai thành công theo đúng chỗ và đúng cách bởi đệ tử. Quy luật xưa luôn luôn vẫn là một quy luật bất biến rằng mọi giáo huấn nội môn chân chính bắt đầu từ cái phổ quát và kết thúc ở cái cá biệt; [94] điều này các bạn phải luôn luôn ghi nhớ. Nhiệm vụ khó khăn của tôi là diễn đạt bằng ngôn ngữ hiện đại và bằng những hình thức biểu tượng các quy luật trước nay chưa từng được chép lại này. Nhiều điều đã được ban truyền kể từ thời Bà H.P.B. đã đấu tranh và làm việc là chân lý, bao gồm thông tin liên quan đến điểm đạo. Nhiều điều khác thì hoang tưởng và bị bóp méo trầm trọng.

When a neophyte first of all applies to the Master for the training needed prior to initiation, what would you say was the Master’s problem? I am assuming that the Master knows His disciple well, is convinced of his sincerity and of the appropriateness of his appeal. I am also assuming that you realise that the so-called “appeal” is the quality of the life lived, the service rendered and the presence of an illumined mind—illumined through some definite measure of soul contact.

Khi một người sơ cơ trước hết thỉnh cầu Chân sư về sự đào luyện cần thiết trước điểm đạo, bạn sẽ nói vấn đề của Chân sư là gì? Tôi giả định rằng Chân sư biết rõ Đệ tử của Ngài, tin chắc về sự chân thành và sự thích đáng của lời thỉnh cầu của y. Tôi cũng giả định rằng các bạn hiểu rằng cái gọi là “lời thỉnh cầu” chính là phẩm chất của đời sống được sống, sự phụng sự đã thực hiện và sự hiện diện của một thể trí được soi sáng—được soi sáng thông qua một mức độ xác định của tiếp xúc với linh hồn.

The Master’s problem is to teach him the stabilisation of the relation between soul and body so that,at will, contact can be established between them; the astral body provides no hindrance that amounts to anything, and through that soul contact a facile relation to the Hierarchy, its purposes and resources can be made. Secondly, the nature of energy and its wise utilisation through the medium of an integrated personality is indicated.

Vấn đề của Chân sư là dạy y sự ổn định hoá mối liên hệ giữa linh hồn và xác thân để sao cho, tuỳ ý, có thể thiết lập tiếp xúc giữa chúng; thể cảm dục không còn là chướng ngại đáng kể, và qua tiếp xúc với linh hồn ấy có thể thiết lập một mối liên hệ thông suốt với Thánh Đoàn, với các mục đích và các nguồn lực của Thánh Đoàn. Thứ đến, bản chất của năng lượng và việc sử dụng khôn ngoan nó qua trung gian của một phàm ngã tích hợp được nêu ra.

It is essential that one thing be grasped by all of you, prior to undertaking work with me. It is that in a group of disciples such as this, the large majority have already taken the first initiation and are being prepared for one of the later initiations. There is nothing surprising in this statement or any particular cause for elation or for pleasure. An immense number of the world aspirants evidence—through their aliveness to the spiritual issues, through the intensity of their aspiration and through their struggles to be good, self-sacrificing and wise—that the life of the indwelling Christ is most definitely moving in them and is present in their hearts. The initiation of “spiritual fixation upon the physical plane” (as the birth at Bethlehem, the first initiation, is sometimes called) has already been undergone by thousands, and they are sincerely and definitely moving forward upon the Way. I would remind you here that many, many lives can elapse between the first initiation and the second—long, long interludes of silent and almost unapparent [95] growth. You are in no way unique or far ahead of the senior world aspirants. In that lies cause for encouragement and humility. It is naturally not my intention to state who is being prepared for any particular initiation. That is a matter for each of you to discover for himself. It is a matter of interior orientation and not a matter of outside information.

Điều cốt yếu mà tất cả các bạn phải nắm trước khi đảm nhận công việc với tôi là: trong một nhóm đệ tử như thế này, đa số lớn đã lãnh lần điểm đạo thứ nhất và đang được chuẩn bị cho một trong những lần điểm đạo sau. Không có gì đáng ngạc nhiên trong phát biểu này hoặc có lý do đặc biệt để hân hoan hay vui sướng. Một con số lớn lao những người chí nguyện của thế giới chứng tỏ—qua sự sống động đối với các vấn đề tinh thần, qua cường độ của nguyện vọng và qua nỗ lực trở nên thiện lành, hy sinh và khôn ngoan—rằng sự sống của Đấng Christ nội tại đang rất dứt khoát vận hành trong họ và đang hiện diện trong tim họ. Lần điểm đạo của “định cố tinh thần trên cõi hồng trần” (như sự giáng sinh ở Bethlehem, đôi khi là tên gọi của lần điểm đạo thứ nhất) đã được hàng ngàn người trải qua, và họ chân thành, dứt khoát tiến bước trên Con Đường. Tôi muốn nhắc các bạn ở đây rằng rất nhiều, rất nhiều kiếp có thể trôi qua giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai—những khoảng dài, rất dài của sự tĩnh lặng và hầu như không hiển lộ [95] tăng trưởng. Các bạn không hề độc nhất hay vượt xa những người chí nguyện thâm niên của thế giới. Ở đó có lý do để khích lệ và khiêm cung. Dĩ nhiên tôi không có ý định nói ai đang được chuẩn bị cho lần điểm đạo nào. Đó là việc mỗi người trong các bạn phải tự khám phá cho mình. Đó là vấn đề định hướng nội tâm chứ không phải vấn đề thông tin từ bên ngoài.

One point anent the taking of the first three major initiations, I would like to refer to at this point. It is that they have always to be taken when in a physical body and upon the physical plane, thus demonstrating initiate consciousness through both mind and brain. This is a point not oft emphasised and sometimes contradicted.

Một điểm liên quan đến việc lãnh ba lần điểm đạo chính đầu tiên, tôi muốn đề cập vào lúc này. Đó là chúng luôn luôn phải được lãnh khi ở trong thể xác và trên cõi hồng trần, do đó biểu lộ tâm thức của điểm đạo đồ qua cả thể trí lẫn bộ não. Đây là điểm ít khi được nhấn mạnh và đôi khi bị phủ nhận.

I would like also to point out with all the clarity and power at my disposal, the very deep necessity for humility and its constantly recurring expression. I refer not to an inferiority complex but to that adjusted sense of right proportion which equips its possessor with a balanced point of view as to himself, his responsibilities and his life work. This, when present, will enable him to view himself dispassionately and his presented opportunities with equal dispassion. Undoubtedly all disciples, you among them, have speculated upon your status and standing upon the Path and upon the status of your co-disciples. That is, after all, both natural and human. Some of you are too humble in the personal sense and not in the sense of true humility. By that I mean that you are so afraid of pride and bombast and an over-estimation of your capacities that you are untrue to the realities and belittle the power of your souls. R.S.U. is a case in point and needs to walk humbly in the spiritual life which involves a correct recognition of place and opportunity and not this constant emphasis upon her inability to measure up. She owes it to my group of disciples and to me to see herself as she truly is—a disciple in preparation for a certain initiation and with much wisdom at her disposal. W.D.S. suffers from an inferiority complex which drives him to an exterior enforcement of his personality upon others and expresses itself in a subtle, spiritual jealousy of those who impress themselves upon his consciousness as his spiritual superiors. He needs to accept himself as he is, to be glad that there are those who guarantee to him the possibility of future [96] unfoldment, because they have already achieved more than he has, and then to forget about himself as he accepts discipleship and finds himself so busy in true service that he has no time for ceaseless comparisons with others.

Tôi cũng muốn chỉ ra với tất cả sự rõ ràng và năng lực có trong tầm tay tôi, nhu cầu rất sâu xa về khiêm cung và sự biểu hiện lặp đi lặp lại của nó. Tôi không nói đến mặc cảm tự ti mà nói đến Ý thức về tỉ lệ đã được điều chỉnh đúng, trang bị cho người sở hữu nó một quan điểm quân bình về bản thân, trách nhiệm và công việc đời sống của mình. Khi điều này hiện diện, nó sẽ cho phép y nhìn mình một cách vô tư và nhìn các cơ hội được trình hiện với cùng một sự vô tư. Không nghi ngờ gì, tất cả các đệ tử, trong đó có các bạn, đã suy đoán về vị thế và địa vị của mình trên Thánh Đạo và về vị thế của các bạn đồng đệ tử của mình. Rốt cuộc, điều đó vừa tự nhiên vừa nhân bản. Một số bạn quá khiêm nhường theo nghĩa cá nhân mà không phải theo nghĩa của khiêm cung chân thật. Ý tôi là các bạn quá sợ kiêu mạn và khoa trương và đánh giá quá cao năng lực của mình đến nỗi trở nên không trung thực với các thực tại và coi nhẹ quyền năng của linh hồn mình. R.S.U. là một trường hợp điển hình và cần bước đi khiêm cung trong đời sống tinh thần, điều hệ tại ở sự nhận biết đúng đắn về vị trí và cơ hội chứ không phải ở việc nhấn mạnh liên tục vào sự bất lực không đáp ứng được yêu cầu. Bà ấy mắc nợ nhóm đệ tử của tôi và mắc nợ tôi việc phải thấy mình đúng như thật—một đệ tử đang chuẩn bị cho một lần điểm đạo nhất định và có nhiều minh triết trong tầm tay. W.D.S. chịu đựng một mặc cảm tự ti khiến y cưỡng bức phàm ngã của mình áp đặt lên người khác và biểu hiện thành một sự ghen tị tinh vi mang tính tinh thần đối với những ai in dấu được vào tâm thức y như là bậc thượng thừa tinh thần của y. Y cần chấp nhận bản thân như y đang là, mừng rằng có những người bảo chứng cho y khả năng tương lai [96] khai mở, vì họ đã thành tựu nhiều hơn y, rồi quên bản thân khi y chấp nhận địa vị đệ tử và thấy mình bận rộn đến mức trong phụng sự chân chính không còn thời gian so bì triền miên với người khác.

True humility is based on fact, on vision and on time pressures. Here I give you a hint and would ask you to think deeply on these three foundations of a major personality attitude which must be held and demonstrated before each initiation. I would remind you that there must always be humility in the presence of true vision.

Khiêm cung chân thật dựa trên sự kiện, trên thị kiến và trên áp lực của thời gian. Ở đây tôi đưa ra cho bạn một gợi ý và muốn bạn suy nghĩ sâu xa về ba nền tảng này của một thái độ phàm ngã then chốt, thái độ phải được nắm giữ và biểu hiện trước mỗi lần điểm đạo. Tôi muốn nhắc bạn rằng phải luôn có khiêm cung trước sự hiện diện của thị kiến chân thật.

This experiment which I am undertaking has its dangers. The disciples in a Master’s Ashram upon the inner planes know somewhat the status of their co-disciples, but they do not always carry this knowledge through into the brain consciousness. This is very largely a protective factor because they could not be trusted to handle the knowledge correctly upon the physical plane. They might be super-critical of a fellow disciple who was, temporarily, not living up to his initiation objective; they might be subtly jealous or unduly self-depreciative; they might treat the disciple who is ahead of them upon the Path of Initiation as someone superior and set apart and thereby complicate his problem and his effort; they might lose a sense of proportion as to initiation itself, as to its processes and its states, and this through too close an approach to, or a misunderstanding of, another struggling initiate-disciple. The pitfalls are many and I tell you to beware. Attend to your own life and your own business. Speculate not as to the status of the other disciples in my group who are your close cooperators and co-sharers in my experiment. Cultivate the humility which is based on understanding and vision and so serve the world, your fellow disciples and serve me also—as the major point of your contact with the Hierarchy.

Thí nghiệm mà tôi đang đảm nhận có các hiểm nguy của nó. Những đệ tử trong Ashram của một Chân sư trên các cõi nội giới phần nào biết được vị thế của các bạn đồng đệ tử, nhưng họ không phải lúc nào cũng mang hiểu biết ấy vào tâm thức bộ não. Đây phần lớn là một yếu tố bảo vệ vì họ không thể được tin cậy để xử lý đúng đắn hiểu biết đó trên cõi hồng trần. Họ có thể quá khắt khe phê phán một đệ tử đồng môn đang, tạm thời, không sống xứng với mục tiêu điểm đạo của mình; họ có thể ghen tị một cách tinh vi hay quá tự hạ thấp; họ có thể đối xử với đệ tử đi trước họ trên Con Đường Điểm Đạo như một người vượt trội, tách riêng và nhờ vậy làm phức tạp vấn đề và nỗ lực của y; họ có thể đánh mất Ý thức về tỉ lệ đối với chính điểm đạo, đối với các tiến trình và các trạng thái của nó, và điều này là do một sự tiếp cận quá gần hoặc do hiểu lầm một đồng đệ tử-điểm đạo đồ khác đang vật lộn. Có nhiều cạm bẫy và tôi bảo các bạn hãy coi chừng. Hãy lo việc đời sống của chính bạn và công việc của chính bạn. Đừng suy đoán về vị thế của các đệ tử khác trong nhóm của tôi, những người là các cộng tác viên gần gũi và người cùng chia sẻ thí nghiệm của tôi với bạn. Hãy tu dưỡng khiêm cung dựa trên thấu hiểu và thị kiến và như thế mà phụng sự thế giới, các đệ tử đồng môn và phụng sự cả tôi nữa—như điểm chính yếu trong tiếp xúc của bạn với Thánh Đoàn.

I have often pointed out that a disciple is known by his influence upon his environment, and an initiate by the wide scope of his world service. How does it happen then that a few of you (not all) are not distinguished by such service and are of relatively small importance in world affairs? Several things could explain this. First of all, a disciple may be called to work off certain karmic relationships, to fulfil certain obligations [97] of very ancient origin and thus “clear the decks” for more complete and uninterrupted service to humanity at a later date. This occurs quite frequently between the first and second initiations. Sometimes a disciple may be doing effective service upon the inner planes and on a large scale and yet there may be no evidence of this upon the physical plane, except in the beauty of a life lived. Others may be learning certain techniques of psychological relationships and of energy distribution and may have dedicated some particular life to the acquiring of these esoteric sciences. One life is but a short moment in the long cycle of the soul. The true disciple will never fall back on the reasons given above as alibis for lack of effort. I would remind you that world influence alone does not always imply discipleship. There are many groups—well known and magnetic—which have at their centre some dominant personality who is not necessarily a disciple.

Tôi đã nhiều lần chỉ ra rằng một đệ tử được biết đến bởi ảnh hưởng của y lên môi trường của mình, và một điểm đạo đồ được biết đến bởi bề rộng hoạt động phụng sự thế gian của y. Vậy làm sao lại có chuyện một vài người trong các bạn (không phải tất cả) không nổi bật bởi phụng sự như thế và có tầm quan trọng tương đối nhỏ trong các công việc thế gian? Có vài điều có thể giải thích điều này. Trước hết, một đệ tử có thể được kêu gọi để giải trừ một số mối quan hệ nghiệp quả, để hoàn thành những bổn phận [97] có nguồn gốc rất cổ xưa và như thế “dọn đường” cho phụng sự hoàn bị và không gián đoạn hơn đối với nhân loại vào một kỳ sau. Điều này xảy ra khá thường xuyên giữa lần điểm đạo thứ nhất và thứ hai. Đôi khi một đệ tử có thể đang làm phụng sự hữu hiệu trên các cõi nội giới và ở quy mô lớn mà dẫu thế có thể không có bằng chứng nào về điều này trên cõi hồng trần, ngoại trừ ở vẻ đẹp của một đời sống đã sống. Những người khác có thể đang học các kỹ thuật về các mối quan hệ tâm lý và về phân phối năng lượng và có thể đã hiến dâng một kiếp sống đặc biệt cho việc tiếp thu các khoa học nội môn này. Một kiếp sống chỉ là khoảnh khắc ngắn trong chu kỳ dài của linh hồn. Đệ tử chân chính sẽ không bao giờ vin vào các lý do nêu trên như những lời bào chữa cho sự thiếu nỗ lực. Tôi muốn nhắc bạn rằng chỉ ảnh hưởng thế giới thôi không phải lúc nào cũng hàm ý địa vị đệ tử. Có nhiều nhóm—nổi tiếng và có từ tính—mà ở trung tâm của chúng là một phàm ngã thống trị không nhất thiết là một đệ tử.

In connection with this group of my disciples and with this experiment which I am undertaking, you need to arrive at a point in group experience wherein you are not so intensely preoccupied with your own development, status and service; you all need to learn to decentralise yourselves so that the work to be done becomes the factor of main importance. When this is the case, then the intense self-interest with some aspect of the personality expression, some weakness of character, some dear objective, or some physical condition will cease. You will find the cultivation of a “divine indifference” (as I have told you several times) of great assistance in forgetting the little self; this frequently looms so large (from habit) that it shuts out the higher self; it comes between the disciple and the Master and prevents contact with his co-disciples, thus negating effective service.

Liên quan đến nhóm đệ tử của tôi này và với thí nghiệm mà tôi đang thực hiện, các bạn cần đạt đến một điểm trong kinh nghiệm nhóm, nơi mà các bạn không còn quá bận tâm mãnh liệt với sự phát triển của riêng mình, địa vị và phụng sự của riêng mình; tất cả các bạn cần học cách phi tập trung vào bản thân để công việc cần làm trở thành yếu tố quan trọng nhất. Khi điều này xảy ra, thì sự quan tâm mãnh liệt đến một phương diện nào đó của biểu hiện phàm ngã, một điểm yếu của Tính cách, một mục tiêu thân thương, hoặc một tình trạng thể chất sẽ chấm dứt. Bạn sẽ thấy rằng việc tu dưỡng “Điềm nhiên thiêng liêng” (như tôi đã nói với bạn vài lần) sẽ giúp đỡ rất lớn trong việc quên cái tự ngã nhỏ bé; điều này thường phình lớn (do thói quen) đến độ che lấp chân ngã; nó chen giữa đệ tử và Chân sư và ngăn cản tiếp xúc với các đồng đệ tử của y, nhờ đó làm vô hiệu phụng sự hữu hiệu.

There is one more point which I would like to take up with you so that there may be complete understanding. There come periods in the life of the disciple when there appears to be no contact with the Master and as if all relationship had been, at least, temporarily severed. Where accepted disciples are concerned, I would like to emphasise that any such severance is not possible. Occultly, it cannot happen and the Master’s love for the disciple makes it again impossible. There is only one condition [98] which can result in severance and that is deliberate and conscious effort by the disciple, carried over a very long period of time, to bring it about. A Master does not lightly admit a disciple to His group and once having done so, the situation is irrevocable from the standpoint of the Master. Any delay in progress and any final severance comes entirely from the pupil. There may be a temporary suspension of communication and this may last throughout one life; that, however, is not long from the angle of the soul; it is but a flash of small moment and significance in the long career of the soul. It looms as large and important in the personality life but may signify only the grasping of opportunity in the eternal now of the soul.

Còn một điểm nữa tôi muốn bàn với các bạn để có sự thông hiểu trọn vẹn. Sẽ có những thời kỳ trong đời sống của đệ tử khi dường như không có tiếp xúc với Chân sư và như thể mọi mối liên hệ đã, ít nhất là tạm thời, bị cắt đứt. Liên quan đến các đệ tử được chấp nhận, tôi muốn nhấn mạnh rằng bất kỳ sự cắt đứt nào như thế là không thể. Xét theo nội môn, điều đó không thể xảy ra và tình thương của Chân sư dành cho đệ tử một lần nữa làm điều đó thành bất khả. Chỉ có một điều kiện [98] có thể dẫn đến cắt đứt, đó là nỗ lực cố ý và có ý thức của đệ tử, được duy trì suốt một thời kỳ rất dài, nhằm tạo ra điều đó. Một Chân sư không dễ dàng tiếp nhận một đệ tử vào nhóm của Ngài và một khi đã làm vậy, tình huống là bất khả hủy xét từ lập trường của Chân sư. Mọi trì hoãn trong tiến bộ và mọi cắt đứt cuối cùng hoàn toàn đến từ người môn sinh. Có thể có sự tạm dừng liên lạc và điều đó có thể kéo dài suốt một kiếp; tuy vậy, điều đó không lâu dài xét từ góc độ của linh hồn; chỉ là một tia chớp của khoảnh khắc nhỏ nhoi trong sự nghiệp dài lâu của linh hồn. Nó hiện ra thật lớn và quan trọng trong đời sống phàm ngã nhưng có thể chỉ biểu thị việc nắm bắt cơ hội trong Hiện Tại Vĩnh Cửu của linh hồn.

I have, therefore, been near you and watched at intervals the tide of life roll over you; I have noted your progress and your delay. I have watched you succeed and I have seen you fail. This I do through noting the pulsation of your light—not in watching the detail of your daily living. That is not warranted in this time of crisis, and owing to the evolutionary development of disciples will never again be warranted. You are still within my group aura, within my Ashram. Your position there is determined by yourself and not by me. There exists at times something which resembles a pulsation in the relation between teacher and pupil—a withdrawing and a coming forward where the probationary disciple is concerned and a standing with steadfastness and expectancy on the part of the teacher. When the fluctuations of contact are ended and the pupil is stabilised and becomes a “steadily approaching point of energy,” then he becomes an accepted disciple. Some in my group of disciples are stabilising; some are retreating; some few are approaching and I watch with interest the waxing and the waning of their light.

Vì vậy, tôi đã ở gần các bạn và thỉnh thoảng quan sát làn sóng đời sống cuộn qua các bạn; tôi đã ghi nhận tiến bộ và sự chậm trễ của các bạn. Tôi đã thấy các bạn thành công và đã thấy các bạn thất bại. Tôi làm điều này bằng cách ghi nhận nhịp đập của ánh sáng các bạn—chứ không phải quan sát chi tiết đời sống hằng ngày của các bạn. Điều đó không còn được yêu cầu trong thời khủng hoảng này, và do sự phát triển tiến hoá của các đệ tử, sẽ không bao giờ nữa được yêu cầu. Các bạn vẫn ở trong hào quang nhóm của tôi, trong Ashram của tôi. Vị trí của các bạn ở đó do chính các bạn quyết định chứ không phải do tôi. Đôi khi tồn tại điều gì đó giống như một sự dao động theo nhịp trong mối liên hệ giữa thầy và trò—một sự rút lui và một sự tiến tới nơi đệ tử dự bị có liên quan, và một sự đứng vững vàng, đầy chờ đợi nơi phía người thầy. Khi các dao động của tiếp xúc chấm dứt và người môn sinh được ổn định và trở thành “một điểm năng lượng đang tiến gần đều đặn”, thì y trở thành đệ tử được chấp nhận. Một số người trong nhóm đệ tử của tôi đang được ổn định; một số đang thoái lui; một vài người đang tiến gần và tôi chăm chú quan sát sự vơi đầy của ánh sáng họ.

The mobilisation of every disciple is demanded at this time and when I say “this time” I refer to the present time and the next fifty years. This mobilisation involves the focussing of the disciple’s energies, his time and his resources on behalf of humanity; it requires a new dedication to service, a consecration of the thought-life (do you realise what that would mean, my brothers?) and a forgetfulness of self which would rule out all moods and feelings, all personality desires, resentments, grievances [99] and all pettiness in your relations with your fellowmen. On the physical plane, it would mean the conditioning of all active, outer living so that the whole of life becomes one focussed active service. I would ask you to study the above phrasing, using it as a light of revelation so that you may know wherein you are lacking and what you have to do.

Sự tổng động viên của mỗi đệ tử được đòi hỏi vào lúc này và khi tôi nói “lúc này” tôi muốn nói đến hiện tại và năm mươi năm tới. Sự tổng động viên này bao hàm việc tập trung các năng lượng, thời gian và tài nguyên của đệ tử vì lợi ích của nhân loại; nó đòi hỏi một sự hiến dâng mới cho phụng sự, một sự thánh hiến đời sống tư tưởng (các huynh đệ của tôi, các bạn có nhận ra điều ấy có nghĩa gì không?) và một sự quên mình sẽ loại bỏ mọi tâm trạng và cảm xúc, mọi ước muốn của phàm ngã, mọi oán hận, bất bình [99] và mọi nhỏ nhen trong các mối quan hệ của bạn với đồng loại. Trên cõi hồng trần, điều đó sẽ có nghĩa là quy định tất cả nếp sống bên ngoài, tích cực đến độ toàn bộ đời sống trở thành một phụng sự tích cực tập trung. Tôi muốn các bạn nghiên cứu lời diễn đạt trên, dùng nó như một ánh sáng mặc khải để các bạn biết mình thiếu ở đâu và cần phải làm gì.

I have given you in the past a very great deal of instruction, help and encouragement. That you still have and it would profit you much if you spent some time in recalling it. But today make a new beginning—not for your own sake, but for the helping of a needy world. Forget yourselves.

Trong quá khứ, tôi đã ban cho các bạn một lượng rất lớn chỉ dẫn, trợ giúp và khích lệ. Điều ấy các bạn vẫn còn giữ và sẽ rất lợi lạc nếu bạn dành ít thời gian để hồi tưởng lại. Nhưng hôm nay hãy bắt đầu lại—không vì lợi ích riêng của bạn, mà để trợ giúp một thế giới đang thiếu thốn. Hãy quên mình đi.

The pressure of the work upon me has been very heavy lately. Much work has rested upon my shoulders, incident to the world situation. This has involved much effort on the part of the Hierarchy to prevent a complete collapse of the structure of human civilisation, as it exists at this time. The sound foundations of part of the structure must be saved; all else may have to go.

Áp lực công việc đè lên tôi gần đây thật nặng nề. Rất nhiều việc đã đặt trên vai tôi, do tình hình thế giới. Điều này đòi hỏi nhiều nỗ lực từ phía Thánh Đoàn nhằm ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của cấu trúc văn minh nhân loại như hiện thời nó đang tồn tại. Những nền tảng vững chắc của một phần cấu trúc ấy phải được cứu giữ; còn mọi thứ khác có thể phải ra đi.

Many things contribute to the inertia that today seems to afflict many of the disciples of the world who should be active in service and helpfulness. This applies also to you. The pressure of war conditions and concern over your own personal affairs, attitudes and reactions have crowded much that I might say and have said out of your minds. One of the first lessons which those in training for initiation have to master is that difficult dual attitude which permits right personality activity and real interest in personality affairs and yet at the same time permits nothing personal to interfere with the subjective spiritual life, with service and with the training, given in preparation for initiation. As time goes on, I shall try to bridge between the old techniques and the newer modes of training by using a part of the ancient techniques—now becoming somewhat obsolete—and the giving of those hints which will lead you to understand the nature, purpose and methods of educating accepted disciples in the processes of initiation.

Nhiều yếu tố góp phần vào tình trạng trì trệ mà hôm nay dường như đang làm suy trệ nhiều đệ tử trên thế gian, những người lẽ ra phải năng động trong phụng sự và trợ giúp. Điều này cũng áp dụng cho bạn. Sức ép của hoàn cảnh chiến tranh và sự bận tâm về các vấn đề cá nhân, thái độ và phản ứng của chính bạn đã lấn át nhiều điều tôi có thể nói và đã nói khỏi tâm trí bạn. Một trong những bài học đầu tiên mà những ai đang được huấn luyện cho điểm đạo phải nắm vững là thái độ song hành khó khăn, vốn vừa cho phép hoạt động phàm ngã đúng đắn và sự quan tâm thực sự đến các sự vụ của phàm ngã, lại vừa đồng thời không cho bất cứ điều gì có tính cá nhân xen vào đời sống tinh thần nội tại, vào phụng sự và vào sự huấn luyện được ban ra để chuẩn bị cho điểm đạo. Theo thời gian, tôi sẽ cố gắng bắc cầu giữa các kỹ thuật cũ và những phương thức huấn luyện mới hơn bằng cách sử dụng một phần các kỹ thuật cổ xưa—nay đang phần nào lỗi thời—và đưa ra những gợi ý sẽ dẫn bạn đến sự thấu hiểu bản chất, mục đích và phương pháp giáo huấn các đệ tử đã được chấp nhận trong các tiến trình của điểm đạo.

Above all, I would say: Seek to recover the fervour of your earlier, spiritual aspiration and self-discipline. If you have never lost it (though many disciples have) seek to force that energy of inspiration to work out in an effective display of [100] definite action upon the physical plane. How, you ask, my brothers? By increasing the radiance of your light in the world through love and meditation, so that others may turn to you as to a beacon light in the dark night of life which seems in this century to have descended upon humanity; seek to love more than you have ever believed was possible, so that others—frozen and chilled by life circumstance and the present horror of human existence—may turn to you for warmth and comforting. What I and all who are affiliated with the Hierarchy seek to do at this time of desperate crisis is to find those who are dependable points of living energy and through them pour out the love, the strength and the light which the world needs and must have if this storm is to be weathered. I ask you to render this service to me and to humanity. I ask nothing spectacular; it will, however, require a strenuous effort of your souls if you are to respond adequately; I ask nothing impossible; I would remind you that the apathy of the physical body and brain, the inertia of the feeling nature and the sense of futility of the mind when confronted with large issues will seem to hinder you.

Trên hết, tôi muốn nói: Hãy tìm lại nhiệt huyết của khát vọng tinh thần buổi đầu và sự tự kỷ luật của bạn. Nếu bạn chưa từng đánh mất nó (dù nhiều đệ tử đã đánh mất), hãy cố thúc đẩy năng lượng cảm hứng ấy biểu hiện ra thành một biểu hiện hiệu quả của [100] hành động dứt khoát trên cõi hồng trần. Làm thế nào, các huynh đệ của tôi, bạn hỏi? Bằng cách gia tăng sự rực rỡ của ánh sáng bạn trong thế gian qua tình thương và tham thiền, để những người khác có thể quay về với bạn như hướng về một ngọn hải đăng trong đêm tối của đời sống, vốn trong thế kỷ này dường như đã phủ xuống nhân loại; hãy cố yêu thương nhiều hơn điều bạn từng tin là có thể, để những người khác—bị đông cứng và tê buốt bởi hoàn cảnh đời sống và nỗi kinh hoàng hiện tại của sự tồn tại nhân loại—có thể tìm đến bạn để được sưởi ấm và an ủi. Điều mà tôi và tất cả những ai liên kết với Thánh Đoàn đang tìm cách thực hiện trong thời khủng hoảng tuyệt vọng này là tìm ra những người là các điểm năng lực sống đáng tin cậy và, qua họ, tuôn đổ tình thương, sức mạnh và ánh sáng mà thế giới cần và nhất định phải có nếu cơn bão này muốn được vượt qua. Tôi thỉnh cầu bạn thực hiện sự phụng sự này cho tôi và cho nhân loại. Tôi không đòi hỏi điều gì ngoạn mục; tuy nhiên, sẽ cần một nỗ lực mãnh liệt của linh hồn bạn nếu bạn muốn đáp ứng một cách xứng hợp; tôi không yêu cầu điều gì bất khả; tôi muốn nhắc bạn rằng tính thờ ơ của thể xác và bộ não, sự trì trệ của bản chất cảm dục và cảm thức về sự vô vọng của thể trí khi đối diện với những vấn đề lớn dường như sẽ cản trở bạn.

Again I point the Way to you and again I wait. Will you intensify your inner life and achieve the power which will enable you to live simultaneously as an efficient human being and a living, loving soul? It is the establishing of the continuity of this dual process which is your main need at this time; it will lead to fusion, personality coordination and a greatly increased efficiency. Many disciples are not young and the settled habit of thought and of the feeling life is not easy to disrupt. They must, however, be disrupted and you must feel no resentment. The rhythms of the personality are stabilised and constitute your line of least resistance. You must cut athwart these, thus forming the cross of life and existence will then take on added difficulty. The results will be new rhythms of beauty.

Một lần nữa, tôi chỉ cho bạn Con Đường và lại chờ đợi. Bạn có tăng cường đời sống nội tâm và đạt được quyền năng cho phép bạn sống đồng thời như một con người hữu hiệu và như một linh hồn sống động, đầy yêu thương chăng? Việc thiết lập tính liên tục của tiến trình song hành này chính là nhu cầu chủ yếu của bạn lúc này; nó sẽ dẫn đến sự dung hợp, sự phối hợp của phàm ngã và một hiệu năng được tăng lên rất nhiều. Nhiều đệ tử không còn trẻ và thói quen đã ổn định của tư tưởng và của đời sống cảm xúc không dễ phá vỡ. Tuy nhiên, chúng phải bị phá vỡ và bạn không được nuôi dưỡng sự bất bình. Các nhịp điệu của phàm ngã đã được ổn định và cấu thành con đường ít trở ngại nhất của bạn. Bạn phải cắt ngang chúng, nhờ đó hình thành thập giá của đời sống và sự tồn sinh khi ấy sẽ trở nên khó khăn hơn. Kết quả sẽ là những nhịp điệu mới của vẻ đẹp.

To those who are standing in the blaze of pain (and their numbers are Legion), of agony, anxiety and distress—seeing it on every hand and attempting to stand steady in the midst of it all—I say: That which appears is not always that which truly is; that which rends and disrupts the personality life is frequently the agent of release, if rightly apprehended; that which will emerge when the Forces of Light have penetrated the world darkness will demonstrate the nature of the undying human [101] spirit. To all of you I say: My love surrounds you and the aura of the Ashram of which I am the centre stands like a great defending wall around you and around all who are battling for the right. See that you battle. You can then, if you will, sense this loving protection. Each day, if you will, you can put yourself en rapport with your Master. We are not blind or uncaring. We know, however, that there are worse evils than death and pain. We know that this is the hour of humanity’s greatest opportunity and that if men can pass triumphantly through this and (by the strength of their own souls) surmount this very present evil, then the evolution of humanity will be hastened beyond all that was believed possible. It will constitute a release, self-achieved and self-initiated. This means as much in the life of mankind as it means in the life of the individual disciple. That chance and that opportunity must not be taken from man; the gained spiritual and eternal values are of far greater importance than his temporary agony.

Với những ai đang đứng trong ngọn lửa của đau đớn (và con số của họ là vô số), của thống khổ, lo âu và khốn quẫn—thấy nó ở khắp nơi và cố gắng đứng vững giữa tất cả—tôi nói: Cái hiện ra không phải lúc nào cũng là cái thực sự là; cái xé rách và làm rối loạn đời sống phàm ngã thường là tác nhân của sự giải thoát, nếu được lĩnh hội đúng; cái sẽ xuất lộ khi các Mãnh lực của Ánh sáng đã xuyên thấu bóng tối của thế gian sẽ phô bày bản chất của [101] tinh thần bất diệt của con người. Với tất cả các bạn tôi nói: Tình thương của tôi bao bọc bạn và hào quang của Đạo viện mà tôi là trung tâm đứng như một bức tường phòng hộ vĩ đại quanh bạn và quanh tất cả những ai đang chiến đấu cho lẽ phải. Hãy chiến đấu. Bấy giờ, nếu bạn muốn, bạn có thể cảm nhận sự che chở đầy tình thương này. Mỗi ngày, nếu bạn muốn, bạn có thể đặt mình vào mối tương giao với Chân sư của bạn. Chúng ta không mù lòa hay vô cảm. Tuy vậy, chúng ta biết rằng có những điều ác còn tệ hơn cái chết và nỗi đau. Chúng ta biết đây là giờ phút của cơ hội lớn lao nhất cho nhân loại, và rằng nếu con người có thể vượt qua điều này một cách khải hoàn và (bằng sức mạnh linh hồn riêng của họ) khắc phục được ác tính rất hiện tiền này, thì sự tiến hoá của nhân loại sẽ được gia tốc vượt xa mọi điều từng được tin là khả hữu. Đó sẽ là một sự giải phóng, tự mình đạt được và tự mình khởi xướng. Điều này có ý nghĩa lớn lao trong đời sống của nhân loại cũng như trong đời sống của từng đệ tử. Cơ may ấy và cơ hội ấy không được tước khỏi con người; những giá trị tinh thần và vĩnh cửu đạt được quan trọng hơn rất nhiều so với nỗi thống khổ tạm thời của con người.

Little as you may realise it as you think of Us in Our so-called safe retreats, the capacity of identification with all that is involved in world pain today and the sensitivity of Those connected with the Hierarchy to the unhappy condition of humanity makes Their task of standing-by one of supreme spiritual agony. They understand the depths of the reaction of humanity; they comprehend and understand, for They are one with all men. This involves a far greater comprehension than you can grasp and one which can only be adequately expressed in the word “identification.” They need the staunch support of all Their disciples, the steadfast love, the loyal attitude, the unquestioning response to human need which will enable Them to carry more easily the heavy burden which human karma has laid upon Them and which They carry voluntarily.

Dù bạn có thể ít nhận ra điều này khi nghĩ về Chúng ta trong những nơi ẩn cư gọi là an toàn của Chúng ta, năng lực đồng hoá với tất cả những gì liên hệ đến nỗi đau của thế giới hôm nay và sự nhạy cảm của Những Vị liên hệ với Thánh Đoàn trước tình trạng bất hạnh của nhân loại khiến công việc luôn đứng-bên-cạnh để nâng đỡ của Các Ngài trở thành một nỗi thống khổ tinh thần tột bậc. Các Ngài hiểu thấu bề sâu phản ứng của nhân loại; Các Ngài thấu triệt và hiểu, vì Các Ngài là một với mọi người. Điều này bao hàm một mức thấu hiểu lớn hơn rất nhiều so với điều bạn có thể nắm bắt và chỉ có thể được diễn đạt đầy đủ bằng từ “đồng hoá.” Các Ngài cần sự hậu thuẫn vững vàng của tất cả các đệ tử của Các Ngài, tình thương kiên định, thái độ trung kiên, sự đáp ứng không do dự trước nhu cầu của nhân loại—những điều sẽ giúp Các Ngài mang gánh nặng nặng nề mà nghiệp quả nhân loại đã đặt lên Các Ngài một cách nhẹ nhàng hơn và mà Các Ngài tự nguyện gánh vác.

Will you give this? Will you aid Our work in every possible way, both as personalities, dedicated to service, and as souls who walk the lighted Way? The need of humanity for love and light, the need of the Hierarchy for channels and for those who will work under direction upon the earth can call forth all that you have to give and can evoke your soul (the only true reward that the disciple seeks) in power and love. This will happen to you, if you will forget the little self. [102]

Bạn có trao tặng điều này chăng? Bạn có hỗ trợ công việc của Chúng ta bằng mọi cách có thể, vừa như những phàm ngã tận hiến cho phụng sự, vừa như những linh hồn bước đi trên Con Đường được soi sáng chăng? Nhu cầu về tình thương và ánh sáng của nhân loại, nhu cầu của Thánh Đoàn về các kênh truyền và về những người sẽ làm việc dưới sự chỉ đạo trên trái đất có thể gọi dậy tất cả những gì bạn có thể hiến tặng và có thể gợi lên linh hồn của bạn (phần thưởng chân thật duy nhất mà người đệ tử tìm cầu) trong quyền năng và tình thương. Điều này sẽ đến với bạn, nếu bạn chịu quên cái tiểu ngã. [102]

That your knowledge may be transmuted into wisdom and the eye of vision control your living processes and all your undertakings is the desire (deep within my heart) for each and all of you.

Ước nguyện (từ nơi sâu thẳm trái tim tôi) dành cho từng người và tất cả các bạn là để tri thức của bạn được chuyển hoá thành minh triết và con mắt của tầm nhìn chi phối các tiến trình sống và mọi nỗ lực của bạn.

Your Master, Friend and Teacher,

Chân sư, Bằng hữu và Huấn sư của bạn,

THE TIBETAN

CHÂN SƯ TÂY TẠNG

SECTION TWO — PERSONAL INSTRUCTIONS TO DISCIPLES – PHẦN HAI — HUẤN THỊ CÁ NHÂN CHO CÁC ĐỆ TỬ

To B. S. D. – Gửi B. S. D.

November 1931

Tháng Mười Một 1931

BROTHER OF MINE:

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI:

[105] I would say to you the following words: Waste not time in the realisation of the years spent in occult work, nor in feverish anticipation of a few more years of directed occult effort under my tuition. The time equation has counted mayhap too largely in your thoughts, my brother, and in the work of the present moment must the future possible developments be forgotten. For you should come the forgetting of the form side in meditation, for your intuition needs awakening. Working without attachment to results is a hard lesson for all disciples to learn but one well worth while. My special instructions for you, therefore, may cause you temporary surprise but later you will see the reason. They are as follows:

[105] Tôi muốn nói với em những lời sau đây: Đừng phí thời gian vào việc nhận ra những năm tháng đã dành cho công việc huyền môn, cũng đừng nóng lòng trông đợi thêm vài năm nỗ lực huyền môn có định hướng dưới sự hướng dẫn của tôi. Có lẽ yếu tố thời gian đã chiếm quá nhiều chỗ trong tư tưởng của em, huynh đệ của tôi, và trong công việc của khoảnh khắc hiện tại, những phát triển khả hữu trong tương lai phải được quên đi. Đối với em, cần có sự quên đi phương diện hình tướng trong tham thiền, vì trực giác của em cần được đánh thức. Làm việc mà không quyến luyến vào kết quả là một bài học khó cho mọi đệ tử, nhưng rất đáng học. Vì vậy, những huấn thị đặc biệt của tôi dành cho em có thể khiến em tạm thời ngạc nhiên, nhưng về sau em sẽ thấy lý do. Các huấn thị ấy như sau:

First, drop all form out of your meditation work and sit in perfect silence with your attention focussed upon the Lord of Love—which is the soul. Steady your thought processes (which for you is not hard) and then drop the use of the seed thought. Listen and aspire. Close each meditation by pouring out love to all beings. This outflowing thought is a great releaser and each of you in the group of disciples whom I am seeking to train needs release from something. For you, it is release from form in your work of service. You will know to what I am referring.

Trước hết, hãy loại bỏ mọi hình tướng khỏi công việc tham thiền của em, và ngồi trong sự im lặng hoàn toàn, với sự chú tâm tập trung vào Chúa Tể của Tình thương — tức là linh hồn. Hãy làm vững ổn các tiến trình tư tưởng của em — điều này đối với em không khó — rồi hãy bỏ việc sử dụng tư tưởng hạt giống. Hãy lắng nghe và khát vọng. Hãy kết thúc mỗi lần tham thiền bằng cách tuôn đổ tình thương đến mọi sinh linh. Tư tưởng tuôn chảy ra này là một tác nhân giải thoát lớn lao, và mỗi người trong nhóm đệ tử mà tôi đang tìm cách huấn luyện đều cần được giải thoát khỏi một điều gì đó. Đối với em, đó là sự giải thoát khỏi hình tướng trong công việc phụng sự của em. Em sẽ biết tôi đang nói đến điều gì.

Secondly, until the time of the Full Moon of May, cease from all breathing exercises. You have followed them for years and need a respite. Nature grows and progresses through cyclic activity and cyclic rest, and, before I can carry you forward to the next unfoldment, I seek to have you rest from mental pressure and e’en from that devotion which has governed much of your life experience. Till May, centre your thought, your meditation [106] and your service on being and see if the reward is not great. Question not this suggestion but—in the thought of being—find your way into the centre of life from which all occult work is done. To be enjoined to be is an honour, brother of mine; it will carry you at this time further than intellection, pranayama, and that potent longing for spiritual fulfilment which is your outstanding divine quality and in some ways your main hindrance. I am here for a cycle to teach you to the best of my ability and I prepare those who respond for the service of the next life cycle. Ask of me, therefore, questions if you understand not the above injunctions and I will answer. You will find this line of more quiescent activity hard at first, for well-organised is your mind and life but, until May, simply live and stand in spiritual Being and love all beings. Later I will outline for you that training and that breathing exercise which seems to me to be for you the way. Understand that an interlude is being given to you wherein you cease from the active exercises of more than thirty years of aspiration and endeavour, so that a calmness of rhythm may be achieved. Later, upon that accumulated knowledge of years, a fresh structure of knowledge may be erected and a new and higher rhythm be imposed. The brain cells need rest, for a certain amount of mental fatigue exists.

Thứ hai, cho đến kỳ Trăng Tròn tháng Năm, hãy ngưng mọi bài tập thở. Em đã theo các bài ấy trong nhiều năm và cần một thời gian nghỉ. Thiên nhiên tăng trưởng và tiến bộ qua hoạt động theo chu kỳ và nghỉ ngơi theo chu kỳ, và trước khi tôi có thể đưa em tiến tới sự khai mở kế tiếp, tôi muốn em nghỉ khỏi áp lực trí tuệ, và ngay cả khỏi lòng sùng tín vốn đã chi phối phần lớn kinh nghiệm đời sống của em. Cho đến tháng Năm, hãy tập trung tư tưởng, sự tham thiền [106] và sự phụng sự của em vào hiện tồn và hãy xem phần thưởng có lớn lao hay không. Đừng chất vấn gợi ý này, mà—trong tư tưởng về hiện tồn—hãy tìm đường vào trung tâm của sự sống, từ đó mọi công việc huyền môn được thực hiện. Huynh đệ của tôi, được huấn thị phải hiện tồn là một vinh dự; vào lúc này, điều đó sẽ đưa em đi xa hơn trí năng, pranayama, và niềm khao khát mãnh liệt hướng tới sự thành tựu tinh thần, vốn là phẩm tính thiêng liêng nổi bật của em và theo một vài phương diện là trở ngại chính của em. Tôi ở đây trong một chu kỳ để dạy em hết khả năng của tôi, và tôi chuẩn bị những ai đáp ứng cho sự phụng sự của chu kỳ đời sống kế tiếp. Vì vậy, nếu em không thấu hiểu những huấn thị trên, hãy hỏi tôi, và tôi sẽ trả lời. Lúc đầu em sẽ thấy con đường hoạt động lặng lẽ hơn này là khó, vì thể trí và đời sống của em được tổ chức rất tốt; nhưng cho đến tháng Năm, hãy chỉ sống và đứng trong Bản Thể tinh thần, và yêu thương mọi sinh linh. Về sau, tôi sẽ phác họa cho em việc huấn luyện ấy và bài tập thở ấy, vốn theo tôi dường như là con đường dành cho em. Hãy thấu hiểu rằng em đang được ban cho một thời gian xen giữa, trong đó em ngưng các bài tập tích cực của hơn ba mươi năm khát vọng và nỗ lực, để có thể đạt được một sự điềm tĩnh của nhịp điệu. Về sau, trên nền tảng tri thức tích lũy qua nhiều năm ấy, một cấu trúc tri thức mới có thể được dựng lên, và một nhịp điệu mới, cao hơn, có thể được áp đặt. Các tế bào não cần được nghỉ ngơi, vì đang có một mức độ mệt mỏi trí tuệ nào đó.

~

~

June 1933

Tháng Sáu năm 1933

You have acceded to my request, my brother, and I believe see now the reason for my method of training you. The love aspect of your soul has been released somewhat, though some of the inner fret for the outward achievement still remains and hinders you on the way of realisation. One thing I would remind you and this perhaps will answer some of your questions. I view the achievement of my group of disciples from the point of the average of the group effect and not so much from the success or the non-success of its units. That result and success must, also, demonstrate sequentially as it comes into manifestation. The first sphere of focus was on mental levels. There you are unable to judge for yourself of its success or non-success, for you have not, as yet, developed mental vision. I tell you that the group already exists as a working factor on those levels and that [107] perhaps is much. Its note is sounding and its influence is being organised. It will in the next few years organise itself also on astral levels, on the emotional plane, and you must bear in mind that here all forms are in danger of succumbing to the Great Illusion. These years will, therefore, be critical in the group life and this must be borne carefully in mind. No one in the group must permit himself to be glamoured.

Huynh đệ của tôi, em đã thuận theo lời yêu cầu của tôi, và tôi tin rằng giờ đây em thấy được lý do trong phương pháp tôi dùng để huấn luyện em. Phương diện bác ái của linh hồn em đã được giải phóng phần nào, dù vẫn còn một phần nôn nóng bên trong hướng tới thành tựu bên ngoài, và điều đó cản trở em trên con đường chứng nghiệm. Tôi muốn nhắc em một điều, và điều này có lẽ sẽ trả lời một số câu hỏi của em. Tôi nhìn thành tựu của nhóm đệ tử của tôi từ quan điểm mức trung bình của hiệu quả nhóm, chứ không nhiều từ sự thành công hay không thành công của các đơn vị trong nhóm. Kết quả và thành công ấy cũng phải biểu lộ tuần tự khi nó đi vào sự biểu hiện. Khối cầu tập trung đầu tiên ở trên các cấp độ trí tuệ. Ở đó, em không thể tự phán đoán sự thành công hay không thành công của nó, vì em vẫn chưa phát triển tầm nhìn trí tuệ. Tôi nói với em rằng nhóm đã hiện hữu như một yếu tố hoạt động trên các cấp độ ấy, và điều đó [107] có lẽ đã là nhiều. Âm điệu của nó đang vang lên và ảnh hưởng của nó đang được tổ chức. Trong vài năm tới, nó cũng sẽ tự tổ chức trên các cấp độ cảm dục, trên cõi cảm xúc, và em phải ghi nhớ rằng ở đây mọi hình tướng đều có nguy cơ khuất phục trước Đại Ảo Tưởng. Vì vậy, những năm này sẽ rất hệ trọng trong đời sống nhóm, và điều này phải được ghi nhớ cẩn thận. Không ai trong nhóm được phép để mình rơi vào ảo cảm.

All this you are sensing, my brother, and this should indicate to you your progress in subjective sensitivity. Later, a group relationship will be established and a group accomplishment stabilised which will warrant attention from the world of men. Waste not time in anxiety as to the phenomenal achievement. That must inevitably come if the fiery aspiration of each of you and the power to persist is steadfastly nurtured.

Huynh đệ của tôi, tất cả những điều này, em đều đang cảm nhận được, và điều đó phải cho em thấy bước tiến của em trong sự nhạy bén nội tâm. Về sau, một mối liên hệ nhóm sẽ được thiết lập và một thành tựu nhóm sẽ được ổn định, xứng đáng với sự chú ý của thế giới nhân loại. Đừng phí thời gian trong lo âu về thành tựu hiện tượng. Điều đó phải tất yếu đến nếu khát vọng rực lửa của mỗi người trong các em và năng lực kiên trì được nuôi dưỡng một cách vững bền.

You can now resume more active meditation and a breathing exercise which I will give to you. In your meditation seek to keep the whole process in the head and remember that for you the problem is to become an “extrovert of the heart type” instead of being, as you are, an “introvert of the head type.” Therefore, for you the way of release is the way of Love and the note of love should colour all your meditation. Proceed therefore carefully to follow all instructions, remembering that, for you, I seek to avoid all emphasis on the form side. The subject of your meditation could be summed up in the following phrases:

Giờ đây em có thể tiếp tục sự tham thiền tích cực hơn và một bài tập thở mà tôi sẽ trao cho em. Trong sự tham thiền của em, hãy cố giữ toàn bộ tiến trình trong đầu, và hãy nhớ rằng đối với em, vấn đề là trở thành một “người hướng ngoại thuộc loại tim” thay vì, như hiện nay em là, một “người hướng nội thuộc loại đầu.” Vì vậy, đối với em, con đường giải thoát là con đường của Bác Ái, và âm điệu của bác ái phải nhuộm màu toàn bộ sự tham thiền của em. Do đó, hãy cẩn thận tiến hành theo mọi chỉ dẫn, nhớ rằng, đối với em, tôi tìm cách tránh mọi sự nhấn mạnh vào mặt hình tướng. Chủ đề tham thiền của em có thể được tóm lược trong những câu sau:

“I pledge myself to the Path of Love. I demand of my soul that I, the Spirit in form, shall act as a channel for compassion and an instrument for love until I know myself to be Love itself. I am that Love. With pure intent I serve. This love and zeal in me must feed the aspiration of my fellowmen. To this—in knowledge full—I pledge myself.”

“Tôi tự nguyện dấn thân vào Con Đường Bác Ái. Tôi đòi hỏi linh hồn tôi rằng tôi, Tinh thần trong hình tướng, sẽ hành động như một vận hà cho lòng từ bi và một khí cụ cho bác ái, cho đến khi tôi biết mình là chính Bác Ái. Tôi là Bác Ái ấy. Với ý định thanh khiết, tôi phụng sự. Tình thương và nhiệt tâm này trong tôi phải nuôi dưỡng khát vọng của đồng loại tôi. Với tri thức đầy đủ, tôi tự nguyện dấn thân vào điều này.”

Your gift to this group of co-disciples is that fiery, dynamic, zealous aspiration which is the spiritual quality of the sixth ray, which governs your personality.

Quà tặng của em cho nhóm các đệ tử đồng môn này là khát vọng rực lửa, năng động, nhiệt thành, vốn là phẩm tính tinh thần của cung sáu, cung cai quản phàm ngã của em.

~

~

BROTHER OF MINE: June 1934

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: Tháng Sáu năm 1934

It is a year since I gave you any definite instructions and the time has now come when certain changes can be made. The [108] progress towards heart development has proceeded well and the heart centre is more alive than heretofore. You are awakening to the consciousness of your brothers’ reactions and can more readily identify yourself with them. Do you not see, my brother, how earlier you lived so much in the consciousness which is focussed in the mind that your brother’s problems were to you more important than he himself? Do you not now realise that your mental ability to grasp his situation interested you more than his troubled soul? Do you not also realise that your deep desire to find the Master and to have with Him a definite contact has its basis in an intellectual doubt? The satisfaction of your mental longing to verify the existence of the Masters and to ascertain your own position upon the ladder of evolution was—in those days—stronger than your love of humanity and of service. This condition is now largely remedied and any thinking along the old lines is more in the nature of a relapse of thought than a step backward on the path of progress.

Đã một năm kể từ khi tôi trao cho em bất kỳ chỉ dẫn xác định nào, và giờ đây thời điểm đã đến khi có thể thực hiện một vài thay đổi. [108] Sự tiến bộ hướng tới phát triển tim đã diễn tiến tốt đẹp, và trung tâm tim sống động hơn trước. Em đang thức tỉnh đối với tâm thức về các phản ứng của các huynh đệ mình, và có thể dễ dàng hơn đồng hóa mình với họ. Huynh đệ của tôi, em không thấy sao, trước kia em đã sống quá nhiều trong tâm thức tập trung nơi thể trí đến nỗi các vấn đề của huynh đệ em đối với em còn quan trọng hơn chính người ấy? Giờ đây em không nhận ra sao rằng năng lực trí tuệ của em trong việc nắm bắt hoàn cảnh của người ấy khiến em quan tâm hơn chính linh hồn đang phiền muộn của người ấy? Em cũng không nhận ra sao rằng khát vọng sâu xa của em muốn tìm thấy Chân sư và có một sự tiếp xúc xác định với Ngài vốn có nền tảng trong một nghi ngờ trí thức? Sự thỏa mãn nỗi khao khát trí tuệ của em nhằm xác minh sự hiện hữu của các Chân sư và xác định vị trí của chính em trên nấc thang tiến hóa—trong những ngày ấy—mạnh hơn tình thương của em đối với nhân loại và sự phụng sự. Tình trạng này giờ đây phần lớn đã được sửa chữa, và bất kỳ lối suy nghĩ nào theo các đường hướng cũ đều mang bản chất của một sự tái phát trong tư tưởng hơn là một bước lùi trên con đường tiến bộ.

All growth is cyclic and one progresses from step to step in spiral fashion and this ever involves a retracing (apparently) of one’s steps. This is, however, an illusion.

Mọi tăng trưởng đều có tính chu kỳ, và người ta tiến từ bước này sang bước khác theo kiểu xoắn ốc; điều này luôn bao hàm một sự quay lại, dường như, theo những bước cũ của mình. Tuy nhiên, đây là một ảo tưởng.

I wish today to give you a breathing exercise which will blend and fuse the energies of the centres above the diaphragm. No thought of the centres below the diaphragm need enter your mind. In order, brother of old, that I may know that you understand this work and in order that your brothers in my group may profit from your experience, I would ask you to write a paper upon this triple breathing exercise.... I wish you to explain the purpose and the intent of this exercise and note its effect upon the animation of your vital and psychic bodies....

Hôm nay tôi muốn trao cho em một bài tập thở, bài này sẽ hòa trộn và dung hợp các năng lượng của những trung tâm phía trên cơ hoành. Không cần để bất kỳ tư tưởng nào về các trung tâm phía dưới cơ hoành đi vào thể trí em. Huynh Đệ của Ngày Xưa, để tôi có thể biết rằng em thấu hiểu công việc này, và để các huynh đệ của em trong nhóm tôi có thể hưởng lợi từ kinh nghiệm của em, tôi muốn yêu cầu em viết một bài về bài tập thở tam phân này.... Tôi muốn em giải thích mục đích và ý định của bài tập này, và ghi nhận hiệu quả của nó đối với sự linh hoạt hóa các thể sinh lực và thông linh của em....

~

~

MY ACCEPTED BROTHER: January 1935

HUYNH ĐỆ ĐÃ ĐƯỢC CHẤP NHẬN CỦA TÔI: Tháng Giêng năm 1935

I would have you note my form of address. I can now use it, because you yourself have reached a point—long desired in your experience—wherein you now know yourself to be on the Path of Accepted Discipleship. I could not earlier call you this as the outer recognition of the inner status (as well as of inner [109] states of consciousness which is another name for the same thing) must come ever from within the disciple’s own nature; we, the teachers, are only permitted to put the seal of recognition upon the fact afterwards. You have for years worked actively upon the mental plane both with and in yourself and also with the many whose lives you are allowed to touch and whose guide upon the probationary path you are. Yet always there has been an ache and a longing for a more emotional and sensitive contact and for an increased heart activity. This you are now acquiring and as a result of the past two years’ work (for you only began to shift your focus at the close of 1932), you have begun to link up head and heart. When this is done through the activity of the will and when it expresses itself practically in service, then a man passes on to the Path of Discipleship. He can then find his way also into the group of one of the Great Ones, provided there is a vacancy. This has happened in your case and this you also know for yourself, and hence I can hail you as my accepted brother.

Tôi muốn em ghi nhận cách tôi xưng hô. Giờ đây tôi có thể dùng cách ấy, vì chính em đã đạt đến một điểm—từ lâu được mong muốn trong kinh nghiệm của em—trong đó em giờ đây biết mình đang ở trên Con Đường Đệ Tử Được Chấp Nhận. Trước đây tôi không thể gọi em như thế, vì sự công nhận bên ngoài về địa vị bên trong, cũng như về các [109] trạng thái tâm thức bên trong, vốn là một tên gọi khác cho cùng một điều, luôn phải đến từ chính bản chất bên trong của đệ tử; chúng tôi, các huấn sư, chỉ được phép đóng ấn công nhận lên sự kiện ấy sau đó. Trong nhiều năm, em đã hoạt động tích cực trên cõi trí, cả với chính mình và trong chính mình, cũng như với nhiều người mà đời sống của họ em được phép chạm đến, và đối với họ em là người hướng dẫn trên Con Đường Dự Bị. Tuy nhiên, luôn luôn vẫn có một nỗi đau âm ỉ và một niềm khao khát về một sự tiếp xúc cảm xúc và nhạy cảm hơn, và về một hoạt động tim gia tăng. Điều này em giờ đây đang đạt được, và như kết quả của công việc trong hai năm qua, vì em chỉ bắt đầu chuyển dịch trọng tâm vào cuối năm 1932, em đã bắt đầu nối kết đầu và tim. Khi điều này được thực hiện qua hoạt động của ý chí và khi nó biểu lộ thực tiễn trong phụng sự, bấy giờ một người bước sang Con Đường Đệ Tử. Khi ấy y cũng có thể tìm đường vào nhóm của một trong Các Đấng Cao Cả, miễn là có chỗ trống. Điều này đã xảy ra trong trường hợp của em, và chính em cũng biết điều này; do đó tôi có thể chào em như huynh đệ đã được chấp nhận của tôi.

I seek to make a change in your breathing exercise and also in your meditation work and I would ask you in connection with both these to keep a register of results and, at the close of six months, note the general average of the results, any phenomenal effects and any growth in consciousness which you feel can be definitely traced to these exercises. These effects should be looked for, in your case, in the psychic consciousness. It is in this department of your being that there is a measure of arrested growth. The mental tension for thirty years has been such that the free play of the psychic forces has been inhibited.

Tôi tìm cách thực hiện một thay đổi trong bài tập thở của em và cũng trong công việc tham thiền của em, và liên quan đến cả hai điều này, tôi muốn yêu cầu em giữ một bản ghi kết quả, và vào cuối sáu tháng, ghi nhận mức trung bình chung của các kết quả, bất kỳ hiệu quả hiện tượng nào, và bất kỳ sự tăng trưởng nào trong tâm thức mà em cảm thấy có thể truy nguyên chắc chắn từ các bài tập này. Trong trường hợp của em, các hiệu quả này nên được tìm kiếm trong tâm thức thông linh. Chính trong lãnh vực này của hiện tồn của em có một mức độ tăng trưởng bị ngưng trệ. Sự căng thẳng trí tuệ trong ba mươi năm đã đến mức làm ức chế sự vận hành tự do của các mãnh lực thông linh.

You are of an age and a mental stability that will make it safe and beneficial if you seek—under my supervision—for a measure of psychic unfoldment. But along that line we will proceed slowly, my brother; for the next six months we will simply follow the method of a general psychic “washing” or purging by the means of the seven dynamic or electric breaths (anent which I will instruct you) sent forth by an act of the will. These will sweep through your whole being and produce a general stimulation that will eventuate in a more general sensitivity. Note, therefore, your response to that inner consciousness [110] and, during the coming half year, keep a most careful spiritual diary, noting every psychic happening, recording each time you may tune in telepathically on the need or with the thought of those around you, putting down every seeming extension of the ordinary sense consciousness and writing down even those things which seem to you speculative and of no real moment. Discriminative recognition is for you the immediate goal. Reveal yourself to yourself on paper, not as regards your longings and aspirations but as regards your growth in sensitivity. Attempt to tune in more consciously with the consciousness of your group brothers. Your diary will interest others and be the guarantee to you of your own development.

Em đang ở một độ tuổi và một sự ổn định trí tuệ sẽ khiến việc em tìm kiếm—dưới sự giám sát của tôi—một mức độ khai mở thông linh trở nên an toàn và hữu ích. Nhưng trên đường hướng đó, chúng ta sẽ tiến chậm, huynh đệ của tôi; trong sáu tháng tới, chúng ta sẽ chỉ theo phương pháp “tẩy rửa” hay thanh lọc thông linh tổng quát bằng bảy hơi thở năng động hay điện lực, mà tôi sẽ chỉ dẫn em, được phóng ra bằng một hành động của ý chí. Những hơi thở này sẽ quét qua toàn bộ hiện tồn của em và tạo ra một sự kích thích chung, cuối cùng đưa đến một sự nhạy cảm tổng quát hơn. Vì vậy, hãy ghi nhận sự đáp ứng của em đối với tâm thức bên trong ấy [110] và trong nửa năm sắp tới, hãy giữ một nhật ký tinh thần hết sức cẩn thận, ghi nhận mọi sự kiện thông linh, ghi lại mỗi lần em có thể bắt sóng viễn cảm với nhu cầu hay với tư tưởng của những người chung quanh em, ghi xuống mọi sự mở rộng dường như có của tâm thức giác quan thông thường, và viết xuống ngay cả những điều đối với em có vẻ suy đoán và không có ý nghĩa thực sự. Sự công nhận có phân biện là mục tiêu trước mắt của em. Hãy tự bộc lộ mình cho chính mình trên giấy, không phải về các nỗi khao khát và khát vọng của em, mà về sự tăng trưởng trong tính nhạy cảm của em. Hãy cố gắng bắt sóng một cách có ý thức hơn với tâm thức của các huynh đệ trong nhóm của em. Nhật ký của em sẽ khiến những người khác quan tâm, và sẽ là sự bảo đảm cho em về sự phát triển của chính mình.

You have made real progress, brother of mine, but have only, however, broken ground. For the remainder of your life prepare for the future. Work at the development of a greater psychic response to life itself and to that inner awareness which will make you react to need from the angle of a rounded out equipment; it will be of a psychical nature which can identify itself with the reactions of others and a mental stability which will enable you to work as a soul. Thus you will learn to avail yourself of the knowledge, gained psychically, and to serve with increased effectiveness.

Huynh đệ của tôi, em đã có tiến bộ thực sự, nhưng tuy vậy em mới chỉ khai phá bước đầu. Trong phần đời còn lại, hãy chuẩn bị cho tương lai. Hãy làm việc để phát triển một sự đáp ứng thông linh lớn hơn đối với chính sự sống, và đối với nhận thức bên trong ấy, điều sẽ khiến em phản ứng trước nhu cầu từ góc độ của một trang bị được hoàn chỉnh; đó sẽ là một bản chất thông linh có thể đồng hóa với các phản ứng của người khác, và một sự ổn định trí tuệ sẽ giúp em làm việc như một linh hồn. Như vậy, em sẽ học cách tận dụng tri thức đạt được bằng thông linh, và phụng sự với hiệu quả gia tăng.

Later, I will (if you progress in sensitivity) train you in the art of psychometry, but the time is not yet.

Về sau, nếu em tiến bộ trong tính nhạy cảm, tôi sẽ huấn luyện em trong nghệ thuật Thuật trắc tâm, nhưng thời điểm ấy chưa đến.

That the light of your soul and the light emanating from the Master’s group may flood your heart and energise your life is the thought which lies in my heart for you.

Ánh sáng của linh hồn em và ánh sáng phát ra từ nhóm của Chân sư có thể tràn ngập tim em và tiếp sinh lực cho đời sống em—đó là tư tưởng nằm trong tim tôi dành cho em.

~

~

BROTHER OF OLD: June 1935

HUYNH ĐỆ CỦA NGÀY XƯA: Tháng Sáu năm 1935

I seek today to make a somewhat careful analysis of the condition of your psychic centres—from the solar plexus upwards. You are passing through a dual process of psychic detachment and, at the same time, of psychic unfoldment. You need to remember that the phases of detachment are many and varied. Some of them imply a detachment from the world of outer sensuous attachment or they may imply (as in your own case) a temporary and relative detachment from the world of intellectual contacts. This is a detachment based on an inner [111] attitude and not on any outer condition or state of affairs. This is taking place in order to round out and enrich your psychic and emotional life. There is a real danger to the earnest student in the widespread attitude of mind which regards the world of the emotions and of sensitive response to subtle psychic phenomena as necessarily retrogressive in effect. It can (and often does) mark a pathway fraught with psychic disaster. At the same time, it can indicate a newly awakening response and sensitive awareness to other aspects of the divine life which are—in their place and rightful use—as divine and as needed and as expressive of divinity as any of the aspirational objectives of the devotee.

Hôm nay tôi tìm cách phân tích khá cẩn thận tình trạng các trung tâm thông linh của em—từ tùng thái dương trở lên. Em đang trải qua một tiến trình kép của sự tách rời thông linh và đồng thời của sự khai mở thông linh. Em cần nhớ rằng các giai đoạn của sự tách rời thì nhiều và đa dạng. Một số hàm ý sự tách rời khỏi thế giới của sự quyến luyến cảm giác bên ngoài, hoặc chúng có thể hàm ý, như trong trường hợp của chính em, một sự tách rời tạm thời và tương đối khỏi thế giới của các tiếp xúc trí thức. Đây là một sự tách rời dựa trên một [111] thái độ bên trong, chứ không dựa trên bất kỳ điều kiện hay tình trạng bên ngoài nào. Điều này đang xảy ra nhằm làm tròn đầy và phong phú đời sống thông linh và cảm xúc của em. Có một nguy cơ thực sự đối với đạo sinh nghiêm túc trong thái độ trí tuệ phổ biến vốn xem thế giới của các cảm xúc và của sự đáp ứng nhạy cảm đối với các hiện tượng thông linh vi tế như tất yếu có hiệu quả thoái bộ. Nó có thể, và thường quả thật như vậy, đánh dấu một con đường đầy dẫy tai họa thông linh. Đồng thời, nó có thể chỉ ra một sự đáp ứng mới đang thức tỉnh và một nhận thức nhạy cảm đối với các phương diện khác của sự sống thiêng liêng, vốn—ở đúng chỗ và được sử dụng đúng đắn—cũng thiêng liêng, cũng cần thiết và cũng biểu lộ thiên tính như bất kỳ mục tiêu khát vọng nào của người sùng tín.

The psychic life of a disciple is a definite part of his spiritual expression. It is only when it is uncontrolled, over-emphasised and overestimated that it is undesirable. It is a hindrance when it is misused or regarded as a substitute for other forms of divine expression. Then it produces that which is undesirable and immerses the disciple in the world of glamour and illusion. The psychic powers are valuable aids to service when rightly developed and sanely used; they can be unfolded safely by the man who is mentally polarised and rightly oriented towards service.

Đời sống thông linh của một đệ tử là một phần xác định trong biểu hiện tinh thần của y. Nó chỉ không đáng mong muốn khi không được kiểm soát, bị nhấn mạnh quá mức và được đánh giá quá cao. Nó là một trở ngại khi bị sử dụng sai, hoặc được xem như vật thay thế cho các hình thức biểu hiện thiêng liêng khác. Khi ấy nó tạo ra điều không đáng mong muốn và dìm đệ tử vào thế giới của ảo cảm và ảo tưởng. Các quyền năng thông linh là những trợ giúp quý giá cho phụng sự khi được phát triển đúng đắn và sử dụng lành mạnh; chúng có thể được khai mở an toàn bởi người phân cực trí tuệ và được định hướng đúng đắn về phía phụng sự.

You are no doubt surprised that you are the first that I have chosen out of this particular group of disciples to be prepared for psychic work. My reason is that under your outer reserve and your strong mental polarisation there exists a powerful psychic body at a relatively high state of development. This you have never used in this life but it was brought to its present stage of unfoldment in earlier lives. So strong have been your psychic tendencies that your soul chose in this life to balance and round out your personality by placing the emphasis upon the mind aspect. It was, however, your past psychic links which led you into the organisation whose work you have aided for some years—an organisation whose work is predominantly carried out on psychic and astral levels. This should be proof to you of the accuracy of my diagnosis.

Chắc chắn em ngạc nhiên khi em là người đầu tiên tôi chọn trong nhóm đệ tử đặc biệt này để chuẩn bị cho công việc thông linh. Lý do của tôi là bên dưới vẻ dè dặt bên ngoài và sự phân cực trí tuệ mạnh mẽ của em, có tồn tại một thể thông linh đầy quyền lực ở một trạng thái phát triển tương đối cao. Em chưa bao giờ sử dụng điều này trong đời này, nhưng nó đã được đưa tới giai đoạn khai mở hiện tại trong các đời trước. Các khuynh hướng thông linh của em đã mạnh đến mức linh hồn em đã chọn trong đời này để quân bình và làm tròn đầy phàm ngã của em bằng cách đặt sự nhấn mạnh lên phương diện trí tuệ. Tuy nhiên, chính các liên kết thông linh quá khứ của em đã dẫn em vào tổ chức mà công việc của nó em đã trợ giúp trong vài năm—một tổ chức mà công việc chủ yếu được thực hiện trên các cấp độ thông linh và cảm dục. Điều này phải là bằng chứng cho em về sự chính xác trong chẩn đoán của tôi.

Psychic unfoldment, when not originating in the solar plexus must be brought about by right control of the ajna, throat, heart and solar plexus centres by the spiritual man, [112] seated in the head. The ajna centre is, in your case, very little awakened. It is quiescent and revolving slowly. The pituitary body is, therefore, somewhat subnormal. The solar plexus centre is awakened but you have paid little attention to it as a means of contact and only during the past two years have you begun to bring it into submission to the head centre and this through the cultivation of compassion. The throat centre is lethargic in its movement but could be easily aroused into activity and the heart centre is rapidly awakening. Therefore, brother of old, we have the following situation to consider; this I will try to picture to you in a tabulation:

Sự khai mở thông linh, khi không phát sinh từ tùng thái dương, phải được tạo ra bằng sự kiểm soát đúng đắn các trung tâm ajna, cổ họng, tim và tùng thái dương bởi con người tinh thần, [112] an tọa trong đầu. Trong trường hợp của em, trung tâm ajna rất ít được đánh thức. Nó lặng yên và xoay chậm. Do đó, tuyến yên có phần dưới mức bình thường. Trung tâm tùng thái dương đã thức tỉnh, nhưng em ít chú ý đến nó như một phương tiện tiếp xúc, và chỉ trong hai năm qua em mới bắt đầu đưa nó vào sự quy phục trung tâm đầu, và điều này qua việc vun bồi lòng từ bi. Trung tâm cổ họng uể oải trong chuyển động, nhưng có thể dễ dàng được khơi dậy vào hoạt động, còn trung tâm tim đang thức tỉnh nhanh chóng. Vì vậy, Huynh Đệ của Ngày Xưa, chúng ta có tình trạng sau đây cần xem xét; tôi sẽ cố gắng trình bày cho em bằng một bảng:

The Head Centre.........40% awakened

Trung Tâm Đầu.........40% đã thức tỉnh

The Ajna Centre.........15% awakened

Trung Tâm Ajna.........15% đã thức tỉnh

The Throat Centre........60% awakened

Trung Tâm Cổ Họng........60% đã thức tỉnh

The Heart Centre.........50% awakened

Trung Tâm Tim.........50% đã thức tỉnh

The Solar Plexus Centre... 75% awakened

Trung Tâm Tùng Thái Dương... 75% đã thức tỉnh

You see, therefore, that for the present the ajna centre is the one which should receive immediate attention. Our problem is to awaken it and set its two major activities into motion. These are, in your case:

Do đó em thấy rằng trong hiện tại trung tâm ajna là trung tâm phải nhận được sự chú ý tức thời. Vấn đề của chúng ta là đánh thức nó và đưa hai hoạt động chính của nó vào chuyển động. Trong trường hợp của em, đó là:

1. Its power to project thoughtforms.

1. Quyền năng phóng chiếu các hình tư tưởng.

2. Its capacity to act as an organ of clairvoyance.

2. Khả năng hoạt động như một cơ quan của thông nhãn.

I will ask you to do the following breathing exercise every day prior to doing your meditation work.... You can do this exercise twice a day but no more because it is very powerful. It will soon bring into greater vibratory activity the quiescent ajna centre. Should headache or tension supervene, stop the work for a day or two and then resume. Preserve ever the attitude of the onlooker and watch not for results. They will be there but at first only I will be in a position to note them.

Tôi sẽ yêu cầu em thực hiện bài tập thở sau đây mỗi ngày trước khi làm công việc tham thiền.... Em có thể thực hiện bài tập này hai lần mỗi ngày, nhưng không hơn, vì nó rất mạnh. Nó sẽ sớm đưa trung tâm ajna đang lặng yên vào hoạt động rung động lớn hơn. Nếu đau đầu hay căng thẳng xảy ra, hãy ngưng công việc trong một hoặc hai ngày rồi tiếp tục. Hãy luôn giữ thái độ của người quan sát và đừng trông chờ kết quả. Chúng sẽ có đó, nhưng lúc đầu chỉ tôi mới ở vị thế ghi nhận chúng.

My brother, the next two years hold in them for you much of inner testing and the achievement of the subtle sensitivity to the voice of the Teacher which will enable you to work with greater ease on the subjective side of life. I have proved your sincerity of purpose and for many years you have diligently set your face towards the light. But, brother of old, you have walked the Path with rigidity and not with that supple ease [113] which negates fatigue and which is the hallmark of the trained athlete—for that is what the disciple should be. You have seen the need to serve and have realised the field of service which is for you the rightful place of effort, but you have rendered that service in set and crystallised fashion and have been too often unduly objective and not sufficiently moved by opportunity. You have served from a rigid sense of duty but you must now learn to serve with the loving spontaneity which carries all before it. The fluidity of the true disciple must be your goal and that out-going spirit which produces the magnetic server. Your magnetism and your radiation need enhancing; that will take place as you transit out of the effort to unfold and to manifest divinity into that more advanced condition which is expressed by the words to “stand in spiritual Being.” There may also come into your life (as it does into the life of all true servers) an interlude or cycle of experience which may temporarily negate your present cycle of influence but this should only be preparatory to a greater power in service.

Huynh đệ của tôi, hai năm tới chứa đựng cho em nhiều thử thách bên trong và thành tựu về sự nhạy cảm vi tế đối với tiếng nói của Huấn sư, điều sẽ giúp em làm việc dễ dàng hơn trên mặt nội tâm của đời sống. Tôi đã chứng nghiệm sự chân thành trong mục đích của em, và trong nhiều năm em đã chuyên cần hướng mặt về ánh sáng. Nhưng, Huynh Đệ của Ngày Xưa, em đã bước trên Đường Đạo với sự cứng nhắc, chứ không với sự uyển chuyển dễ dàng [113] vốn phủ định mệt mỏi và là dấu hiệu của vận động viên đã được rèn luyện—vì đó chính là điều đệ tử phải là. Em đã thấy nhu cầu phụng sự và đã nhận ra lĩnh vực phụng sự vốn là nơi nỗ lực đúng đắn dành cho em, nhưng em đã thực hiện sự phụng sự ấy theo cách cố định và kết tinh, và quá thường khi đã khách quan quá mức, không đủ được thúc đẩy bởi cơ hội. Em đã phụng sự từ một ý thức bổn phận cứng nhắc, nhưng giờ đây em phải học phụng sự với sự tự phát đầy thương yêu, điều cuốn trôi mọi chướng ngại trước nó. Tính linh động của đệ tử chân chính phải là mục tiêu của em, cùng với tinh thần hướng ngoại tạo nên người phụng sự từ tính. Từ điện và sự tỏa chiếu của em cần được tăng cường; điều đó sẽ xảy ra khi em chuyển vượt khỏi nỗ lực khai mở và biểu lộ thiên tính, để bước vào tình trạng tiến bộ hơn được diễn tả bằng các lời “đứng trong Bản Thể tinh thần.” Cũng có thể đi vào đời sống em, như nó đi vào đời sống của mọi người phụng sự chân chính, một thời kỳ xen giữa hay chu kỳ kinh nghiệm có thể tạm thời phủ định chu kỳ ảnh hưởng hiện tại của em; nhưng điều này chỉ nên là sự chuẩn bị cho một quyền năng lớn hơn trong phụng sự.

As to your meditation, my brother, after you have finished the breathing exercise, proceed then to meditation, beginning your work at as high a point as possible. Choose for yourself a seed thought each month, keeping a record of those chosen.... Think deeply upon the embodied idea and carry your thoughts forward and onward and upward (choose whichever word conveys to you the deepest meaning) until you reach as abstract a point as you can achieve. When you can go no further and have entered the world of abstraction, then stay poised in thought and hold the mind steady in the light for as long a period as you can. Watch your thought processes as you do this and note anything new or especially intuitive which you may register during this time of waiting. Keep a strict record of the ideas which may come into your mind and note them down each day for your spiritual diary.

Về sự tham thiền của em, huynh đệ của tôi, sau khi em đã hoàn tất bài tập thở, hãy tiếp tục bước vào tham thiền, bắt đầu công việc ở điểm cao nhất có thể. Mỗi tháng hãy tự chọn cho mình một tư tưởng hạt giống, và giữ một bản ghi những tư tưởng đã chọn.... Hãy suy nghĩ sâu xa về ý tưởng được hàm chứa trong đó, và đưa các tư tưởng của em tiến tới, tiến lên và hướng thượng, hãy chọn từ nào truyền đạt cho em ý nghĩa sâu xa nhất, cho đến khi em đạt tới một điểm trừu tượng nhất mà em có thể đạt được. Khi em không thể đi xa hơn nữa và đã đi vào thế giới trừu tượng, bấy giờ hãy giữ mình quân bình trong tư tưởng và giữ thể trí vững vàng trong ánh sáng càng lâu càng tốt. Hãy quan sát các tiến trình tư tưởng của em khi làm điều này, và ghi nhận bất kỳ điều gì mới mẻ hoặc đặc biệt trực giác mà em có thể ghi nhận trong thời gian chờ đợi này. Hãy giữ một bản ghi nghiêm ngặt các ý tưởng có thể đi vào thể trí em, và ghi chúng xuống mỗi ngày cho nhật ký tinh thần của em.

In closing this instruction, brother of mine, will you remember that the lonely way is also the lighted way. Loneliness is an illusion which seeks to thwart the efforts of the server; it is a glamour which can seriously impair true vision. That you may walk the Way in peace and light and that power in service may be yours is the desire of my heart for you.

Huynh đệ của tôi, khi kết thúc chỉ dẫn này, em có nhớ rằng con đường cô tịch cũng là Con Đường được Soi Sáng hay không. Sự cô đơn là một ảo tưởng tìm cách cản trở nỗ lực của người phụng sự; nó là một ảo cảm có thể làm suy giảm nghiêm trọng tầm nhìn chân thật. Em có thể bước đi trên Đường Đạo trong bình an và ánh sáng, và quyền năng trong phụng sự có thể là của em—đó là ước nguyện trong tim tôi dành cho em.

~

~

[114] January 1936

[114] Tháng Giêng năm 1936

I do not seek to change your work for the next six months, my fellow disciple. I outlined to you in June 1935 a full quota of meditation work. Your growth in understanding has been real, though the ajna centre has yet resisted effort. The main result has been an intensification of the heart centre’s activity, but this will eventually have a reflex action upon the ajna centre. Any of the centres which have allied closely with them certain of the major ductless glands and at the same time have no large organ (such as the heart or stomach) connected with them develop more slowly and are more carefully protected in the process than are the centres with a major physiological organ closely connected with them. For instance, the thymus gland is connected with the heart centre and the pancreas with the solar plexus centre. At the same time, the energy pouring through those centres can be deflected into certain large physical organisms—such as the heart and the stomach. These centres, therefore, when being developed or stimulated, carry far less physiological danger than those which are not so related. The ajna centre is related to the pituitary body but there is no large physical organism to carry off the energy contacted; the etheric web is, therefore, in this locality specially reinforced and the activity of the centre more slowly generated. This is interesting and reassuring. It is in hints such as the above that the real teaching is given.

Đệ tử đồng môn của tôi, tôi không tìm cách thay đổi công việc của em trong sáu tháng tới. Vào tháng Sáu năm 1935, tôi đã phác họa cho em một phần việc tham thiền đầy đủ. Sự tăng trưởng của em trong sự thấu hiểu là có thật, dù trung tâm ajna vẫn còn chống lại nỗ lực. Kết quả chính là sự tăng cường hoạt động của trung tâm tim, nhưng điều này cuối cùng sẽ có một tác động phản hồi lên trung tâm ajna. Bất kỳ trung tâm nào có liên hệ chặt chẽ với một số tuyến nội tiết chính, đồng thời không có một cơ quan lớn, như tim hay dạ dày, kết nối với chúng, đều phát triển chậm hơn và được bảo vệ cẩn thận hơn trong tiến trình, so với các trung tâm có một cơ quan sinh lý lớn liên kết chặt chẽ với chúng. Chẳng hạn, tuyến ức liên hệ với trung tâm tim, và tuyến tụy với trung tâm tùng thái dương. Đồng thời, năng lượng tuôn đổ qua các trung tâm ấy có thể được chuyển hướng vào một số cơ quan hồng trần lớn—như tim và dạ dày. Vì vậy, khi được phát triển hay kích thích, các trung tâm này mang ít nguy hiểm sinh lý hơn nhiều so với những trung tâm không có liên hệ như vậy. Trung tâm ajna liên hệ với tuyến yên, nhưng không có cơ quan hồng trần lớn nào để dẫn thoát năng lượng được tiếp xúc; do đó, mạng dĩ thái ở vùng này được gia cố đặc biệt, và hoạt động của trung tâm được tạo sinh chậm hơn. Điều này thú vị và đem lại sự yên tâm. Chính trong những gợi ý như trên mà giáo huấn đích thực được trao.

So, my brother, go forward along the same lines, earlier indicated, until I give you your next instruction; study with care the hints given to you and to your co-disciples.

Vì vậy, huynh đệ của tôi, hãy tiến tới theo cùng những đường hướng đã được chỉ ra trước đây, cho đến khi tôi trao cho em chỉ dẫn kế tiếp; hãy nghiên cứu cẩn thận những gợi ý được trao cho em và cho các đệ tử đồng môn của em.

~

~

June 1936

Tháng Sáu năm 1936

There are two thoughts in my heart in connection with you, my brother, and two practical matters which I have in my mind to say to you. I would have you note the careful wording of the above phrase because it has teaching value in it for all of you.

Huynh đệ của tôi, có hai tư tưởng trong tim tôi liên quan đến em, và hai vấn đề thực tiễn mà tôi có trong thể trí để nói với em. Tôi muốn em ghi nhận cách diễn đạt cẩn trọng của cụm từ trên, vì trong đó có giá trị giáo huấn cho tất cả các em.

Before I tell you what these two thoughts are, I want to give you a word of commendation, knowing that you desire it [115] not and knowing also that you do most certainly seek always to act under the urge and the inspiration of your own soul. You work and conform to the requirements, not from any specific idea of pleasing me or even of producing further integration of yourself into the group of your co-disciples but from a sense of duty and of rightness of activity. Nevertheless, I seek to commend you for your quality of steadfastness—a steadfastness in which you persist in the face of much psychic disappointment, if I may call it so, and the fact that there appears to be little phenomenal response to your constant effort. You seek to keep your eyes off yourself and simply to do that which must be done and which you have been induced to believe is the way for you—as well as for all true disciples.

Trước khi tôi nói với em hai tư tưởng ấy là gì, tôi muốn trao cho em một lời khen ngợi, dù biết rằng em không mong muốn điều đó [115] và cũng biết rằng em chắc chắn luôn tìm cách hành động dưới sự thúc đẩy và cảm hứng của chính linh hồn em. Em làm việc và tuân theo các yêu cầu, không từ bất kỳ ý tưởng riêng biệt nào muốn làm vui lòng tôi, hay thậm chí muốn tạo ra thêm sự tích hợp của chính em vào nhóm các đệ tử đồng môn, mà từ một ý thức bổn phận và sự đúng đắn của hoạt động. Tuy nhiên, tôi tìm cách khen ngợi em vì phẩm tính kiên định của em—một sự kiên định mà em duy trì trước nhiều thất vọng thông linh, nếu tôi có thể gọi như vậy, và trước sự kiện dường như có rất ít đáp ứng hiện tượng đối với nỗ lực liên tục của em. Em tìm cách giữ mắt mình rời khỏi chính mình, và chỉ làm điều phải được làm, điều mà em đã được dẫn dắt để tin rằng là con đường dành cho em—cũng như cho mọi đệ tử chân chính.

Years ago, my brother, you sought more eagerly for the good results of your activity. Now you are just as active but you are willing to leave the results unconsidered. This is well and very good. However, I tell you that there are results and perhaps they can begin to be clarified in your mind. Two results I can myself indicate to you and I choose these two with deliberation because they are related to me and to your work with me, your teacher and your friend. First, I have accepted you into my own group in the technical sense and you are now an accepted disciple (chela) in my group.... Secondly, I have told you and your brothers that I am in process of preparing you for initiation.

Nhiều năm trước, huynh đệ của tôi, em đã tìm kiếm các kết quả tốt đẹp của hoạt động mình một cách háo hức hơn. Giờ đây em vẫn hoạt động như vậy, nhưng em sẵn lòng để các kết quả không được xét đến. Điều này tốt đẹp và rất tốt. Tuy nhiên, tôi nói với em rằng có những kết quả và có lẽ chúng có thể bắt đầu được làm sáng tỏ trong thể trí em. Tôi có thể tự mình chỉ ra cho em hai kết quả, và tôi chọn hai kết quả này một cách có chủ ý, vì chúng liên hệ đến tôi và đến công việc của em với tôi, huấn sư và bạn của em. Thứ nhất, tôi đã chấp nhận em vào nhóm riêng của tôi theo nghĩa kỹ thuật, và giờ đây em là một đệ tử được chấp nhận trong nhóm tôi.... Thứ hai, tôi đã nói với em và các huynh đệ của em rằng tôi đang trong tiến trình chuẩn bị các em cho điểm đạo.

I am reminding you of these two facts for the following reason: You must enter upon the next cycle of activity with set purpose, clear vision and unswerving attention to facts. You have ended one cycle of effort last month at the time of the Full Moon of May. You are entering now upon another cycle. I would have you keep this steadfastly in mind and go forward to freer service, greater understanding and clearer insight. You have laid a firm foundation.

Tôi nhắc em về hai sự kiện này vì lý do sau: Em phải bước vào chu kỳ hoạt động kế tiếp với mục đích vững chắc, tầm nhìn rõ ràng và sự chú tâm không lay chuyển vào các sự kiện. Tháng trước, vào thời điểm Trăng Tròn tháng Năm, em đã kết thúc một chu kỳ nỗ lực. Giờ đây em đang bước vào một chu kỳ khác. Tôi muốn em giữ điều này vững vàng trong thể trí và tiến tới sự phụng sự tự do hơn, sự thấu hiểu lớn hơn và tuệ kiến rõ ràng hơn. Em đã đặt một nền tảng vững chắc.

The two thoughts which come into my heart to tell you can be summarised as follows. Note that these thoughts come from my heart and the suggestion from my mind. Herein lies a hint as to your work in the future for those who look to you for assistance in their spiritual life.

Hai tư tưởng đi vào tim tôi để nói với em có thể được tóm lược như sau. Hãy lưu ý rằng những tư tưởng này đến từ tim tôi, còn gợi ý đến từ thể trí tôi. Chính trong điều này có một gợi ý về công việc của em trong tương lai đối với những người tìm đến em để được trợ giúp trong đời sống tinh thần của họ.

1. You need to work now more definitely and more confidently as an accepted disciple. What do I mean by that statement? [116] I mean that you should work in the realisation that—because of this definite acceptance—you are linked with the Hierarchy of Masters and, therefore, the quality of the hierarchical service to humanity must also be expressed by and through you. What is this quality? Wisdom, expressing itself intelligently through love. Upon this statement you should ponder. Your service is ever intelligent (highly so) for you have much knowledge as the result of ancient experience and deep thought and study in this life. That knowledge must, however, be translated into wisdom through the dynamic power of a living love. I use no further terms to express this idea. That sentence should provide you with much food for thought.

1. Giờ đây em cần làm việc xác định hơn và tự tin hơn như một đệ tử được chấp nhận. Tôi muốn nói gì qua phát biểu đó? [116] Tôi muốn nói rằng em nên làm việc trong sự chứng nghiệm rằng—do sự chấp nhận xác định này—em được liên kết với Thánh Đoàn các Chân sư, và vì vậy phẩm tính phụng sự của Thánh Đoàn đối với nhân loại cũng phải được biểu lộ bởi em và qua em. Phẩm tính này là gì? Minh triết, tự biểu lộ một cách thông minh qua bác ái. Em nên suy ngẫm về phát biểu này. Sự phụng sự của em luôn luôn thông minh, và rất cao độ, vì em có nhiều tri thức do kinh nghiệm cổ xưa và do tư tưởng sâu xa cùng sự học hỏi trong đời này. Tuy nhiên, tri thức ấy phải được chuyển thành minh triết qua quyền năng năng động của một tình thương sống động. Tôi không dùng thêm thuật ngữ nào để diễn tả ý tưởng này. Câu ấy sẽ cung cấp cho em nhiều điều đáng suy ngẫm.

2. The second thought which comes to you from my heart is to urge you to remember that chelaship (discipleship) involves responsibility, and that in its turn is developed through suffering. This leads inevitably to detachment. That process of detachment will go forward in connection with all in the group and must entail difficulty. This difficulty may involve a constant stream of minor problems and detachments which will colour ceaselessly your life of service, your life in the home, and your contacts in the world. This calls perhaps for a higher quality of faith and of courage than do drastic purgings. But I have no fears for you, my brother on the Path. You have a faith of tempered steel which cannot break. Remember, however, that where the tide of love is thwarted, there might happen a temporary warping of your nature. You will understand whereof I speak and this sentence conveys to you a needed hint. Let love pour through you and all is well.

2. Tư tưởng thứ hai đến với em từ tim tôi là thúc giục em nhớ rằng địa vị đệ tử hàm chứa trách nhiệm, và đến lượt nó, trách nhiệm được phát triển qua đau khổ. Điều này tất yếu dẫn đến sự tách rời. Tiến trình tách rời ấy sẽ tiến tới liên quan đến tất cả mọi người trong nhóm và phải kéo theo khó khăn. Khó khăn này có thể bao hàm một dòng liên tục các vấn đề nhỏ và những sự tách rời nhỏ, vốn sẽ không ngừng nhuộm màu đời sống phụng sự của em, đời sống gia đình của em, và các tiếp xúc của em trong thế gian. Điều này có lẽ đòi hỏi một phẩm tính đức tin và lòng can đảm cao hơn so với các cuộc thanh lọc quyết liệt. Nhưng tôi không hề lo sợ cho em, huynh đệ của tôi trên Đường Đạo. Em có một đức tin bằng thép đã tôi luyện, không thể gãy. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng nơi nào thủy triều của tình thương bị ngăn trở, nơi đó có thể xảy ra một sự cong lệch tạm thời trong bản chất của em. Em sẽ thấu hiểu tôi nói về điều gì, và câu này truyền đạt cho em một gợi ý cần thiết. Hãy để tình thương tuôn chảy qua em, và mọi sự đều tốt đẹp.

The suggestions which I seek to make are based upon past instructions. Since June, 1935, we have set ourselves one technical achievement and one that still remains unachieved for the majority of advanced humanity. This is the awakening of the ajna centre. Your major need and the thing which would arouse that centre to usefulness lies—for you—in the power to visualise.

Những gợi ý mà tôi tìm cách đưa ra dựa trên các chỉ dẫn trước đây. Từ tháng Sáu năm 1935, chúng ta đã đặt cho mình một thành tựu kỹ thuật, và một thành tựu vẫn chưa đạt được đối với phần lớn nhân loại tiến hóa cao. Đó là sự đánh thức trung tâm ajna. Nhu cầu chính của em và điều sẽ khơi dậy trung tâm ấy đến mức hữu dụng nằm—đối với em—trong quyền năng hình dung.

The second thing which will integrate your nature and increase your magnetic and spiritual usefulness lies in the unfoldment of the creative imagination. How shall this be done? The two are closely allied. Visualisation and the creative imagination [117] are related. A great deal of your problem in this life (where your esoteric unfoldment is concerned) will be solved when these two are better understood by you and when the play of these two forces produces in you an inner re-adjustment, a re-alignment and an externalisation of your subjective life. Will you think deeply upon this matter, my brother?

Điều thứ hai sẽ tích hợp bản chất em và gia tăng sự hữu dụng từ tính và tinh thần của em nằm trong sự khai mở Sự tưởng tượng sáng tạo. Điều này sẽ được thực hiện như thế nào? Hai điều này liên hệ chặt chẽ với nhau. Sự hình dung và Sự tưởng tượng sáng tạo [117] có liên hệ với nhau. Rất nhiều vấn đề của em trong đời này, liên quan đến sự khai mở huyền bí của em, sẽ được giải quyết khi em thấu hiểu tốt hơn hai điều này, và khi sự vận hành của hai mãnh lực này tạo ra trong em một sự tái điều chỉnh bên trong, một sự tái chỉnh hợp và một sự ngoại hiện của đời sống nội tâm của em. Huynh đệ của tôi, em có chịu suy nghĩ sâu xa về vấn đề này không?

‘

‘

BROTHER OF MINE: January 1937

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: Tháng Giêng năm 1937

I am glad that you regard yourself as sensitive to my vibration, for so you are. But not as often as you think. It is so easy for aspirants to confound the second ray vibration—as it expresses itself through a second ray group such as my group of disciples—with my individual vibration. Disciples need to train themselves to distinguish:

Tôi vui vì em xem mình nhạy cảm với rung động của tôi, vì em quả thật như vậy. Nhưng không thường xuyên như em nghĩ. Thật quá dễ để người chí nguyện lẫn lộn rung động cung hai—khi nó tự biểu lộ qua một nhóm cung hai như nhóm đệ tử của tôi—với rung động cá nhân của tôi. Các đệ tử cần tự huấn luyện để phân biệt:

1. The vibration of the second Ray of Love-Wisdom.

1. Rung động của Cung hai Bác Ái – Minh Triết.

2. The vibration of the Master M. or the Master K.H. should They happen to use the ray vibration for purposes of stimulating a group.

2. Rung động của Chân sư M. hoặc Chân sư K.H., nếu Các Ngài tình cờ dùng rung động cung nhằm mục đích kích thích một nhóm.

3. My vibration, which is naturally strongly coloured by the second ray.

3. Rung động của tôi, vốn tự nhiên được nhuộm màu mạnh mẽ bởi cung hai.

4. The vibration of a second ray group which is an aggregate of all the notes and tones of the disciples in the group.

4. Rung động của một nhóm cung hai, vốn là tổng hợp của tất cả các âm điệu và cung giọng của các đệ tử trong nhóm.

5. The vibration of advanced second ray disciples. This can at times be confused with mine.

5. Rung động của các đệ tử cung hai tiến hóa cao. Điều này đôi khi có thể bị lẫn lộn với rung động của tôi.

6. The vibration of sixth ray groups which respond to a second ray vibration. Their work lies predominantly on the astral plane and is contacted relatively easily.

6. Rung động của các nhóm cung sáu đáp ứng với một rung động cung hai. Công việc của họ chủ yếu nằm trên cõi cảm dục và được tiếp xúc tương đối dễ dàng.

A consideration of the above may indicate to you something of value. Curiously enough you and your fellow disciple B.S.W. represent the two extreme poles in this process of theoretical recognition. You both recognise a certain contact yet, practically, B.S.W. is more sensitive to my vibration than you are; he loses much, however, by an imposed impersonality to it; you lose much by being too sure at times.

Việc xem xét những điều trên có thể chỉ cho em thấy một điều gì đó có giá trị. Lạ thay, em và đệ tử đồng môn B.S.W. của em đại diện cho hai cực đối nghịch trong tiến trình nhận biết trên lý thuyết này. Cả hai em đều nhận biết một sự tiếp xúc nào đó, tuy nhiên, trên thực tế, B.S.W. nhạy cảm với rung động của Tôi hơn em; tuy vậy, bạn ấy mất đi nhiều điều bởi một tính phi cá nhân áp đặt đối với rung động ấy; còn em mất đi nhiều điều bởi đôi khi quá chắc chắn.

[118] In connection with this matter of sensing vibration, it is of value to remember that all sensing is naturally and normally an astral or an emotional reaction. In considering my group, I am impressed (yes, and somewhat amused) by the effort of some of you—and of you, in particular—to repudiate emotional or astral sensitivity. Some of you admit it but regard it as undesirable; others consider it as something to be inhibited or to be unexpressed and ignored. Few of you, if any, look upon the astral body as a divine expression of reality with its definite and specific uses.

[118] Liên quan đến vấn đề cảm nhận rung động này, điều có giá trị là nhớ rằng mọi sự cảm nhận, một cách tự nhiên và bình thường, đều là một phản ứng cảm dục hay cảm xúc. Khi xem xét nhóm của Tôi, Tôi rất ấn tượng — vâng, và có phần thích thú — trước nỗ lực của một số em, và đặc biệt là của em, nhằm phủ nhận sự nhạy cảm về cảm xúc hay cảm dục. Một số em thừa nhận điều đó nhưng xem nó là điều không đáng mong muốn; những người khác coi đó là điều cần phải bị ức chế, không được biểu lộ và bị phớt lờ. Ít ai trong các em, nếu có, nhìn thể cảm dục như một biểu hiện thiêng liêng của thực tại, với những công dụng rõ ràng và chuyên biệt của nó.

These questions which I have imposed upon your minds are in the nature of what might be called “catch” questions. The astral body is—in its time and place—of as real value, purpose and usefulness as the mind. It serves to relate the higher impression to the lower and you cannot record my vibration in the physical brain consciousness except through its mediation. You can be aware of my vibration upon the plane of the soul and your mind consciousness can be impressed by it. Unless, however, the sensory body, the emotional vehicle, is also active in the right sense (negative to the world of the senses and receptive to mental impression) that impression will not be registered in the brain or waking consciousness.

Những câu hỏi mà Tôi đã đặt lên thể trí của các em thuộc loại có thể gọi là những câu hỏi “gài bẫy”. Thể cảm dục, đúng thời điểm và đúng vị trí của nó, có giá trị, mục đích và sự hữu dụng thực sự không kém gì thể trí. Nó có nhiệm vụ liên hệ ấn tượng cao với thấp, và em không thể ghi nhận rung động của Tôi trong tâm thức bộ não hồng trần ngoại trừ thông qua sự trung gian của nó. Em có thể nhận biết rung động của Tôi trên cõi linh hồn, và tâm thức trí tuệ của em có thể chịu ấn tượng bởi rung động ấy. Tuy nhiên, nếu thể cảm giác, vận cụ cảm xúc, không đồng thời hoạt động theo đúng nghĩa — tiêu cực đối với thế giới giác quan và tiếp nhận ấn tượng trí tuệ — thì ấn tượng đó sẽ không được ghi nhận trong bộ não hay trong tâm thức tỉnh thức.

Much that you say in your communications in the form of written papers upon this subject deals with the effect that your work and life has upon others through your manipulation of the forces with which disciples have to learn to work, and which are productive of real benefit to others as they study them and watch the reactions called forth. It is of value, however, to note the differing type of reactions evoked when:

Nhiều điều em nói trong các bài viết trao đổi của em về chủ đề này đề cập đến ảnh hưởng mà công việc và đời sống của em tạo ra nơi người khác, thông qua việc em vận dụng các mãnh lực mà các đệ tử phải học cách làm việc với chúng, và vốn tạo ra lợi ích thật sự cho người khác khi họ nghiên cứu chúng và quan sát các phản ứng được khơi dậy. Tuy nhiên, điều có giá trị là lưu ý đến các loại phản ứng khác nhau được gợi lên khi:

1. You work with those subordinate to you upon the Path, those who are the average people or the probationers who are treading the Path for the first time. With this type of person you have much to do. Is their effect upon you of the most desirable kind?

1. Em làm việc với những người ở dưới em trên Đường Đạo, những người là người bình thường hoặc những người dự bị đang bước trên Đường Đạo lần đầu tiên. Với loại người này, em có nhiều việc phải làm. Ảnh hưởng của họ đối với em có thuộc loại đáng mong muốn nhất chăng?

2. Your inter-relation with those who are your equals upon the Path and those whose vibration occultly “neutralises” yours, or “parallels in intensity” yours and consequently evokes from you (as evidence from them of status) no [119] reaction practically, except a sense of well-being or comradeship.

2. Mối tương giao của em với những người ngang hàng với em trên Đường Đạo, và những người mà rung động của họ, xét một cách huyền bí, “trung hòa” rung động của em, hoặc “song hành về cường độ” với rung động của em, và do đó hầu như không gợi lên nơi em phản ứng nào — như bằng chứng từ họ về địa vị — ngoại trừ một cảm giác an lạc hay tình đồng chí.[119]

3. Your recognition of those ahead of you upon the Path who can—if they so choose—call forth from you or evince in you a powerful response.

3. Sự nhận biết của em về những người đi trước em trên Đường Đạo, những người có thể — nếu họ chọn như vậy — khơi dậy từ em, hoặc biểu lộ nơi em, một sự đáp ứng mạnh mẽ.

We are beginning to deal with the more occult subtleties in our work and for these you must be prepared. Your papers and replies to the questions given to you deal primarily with your work in connection with your spiritual inferiors. How about your spiritual equals and superiors? Reread your questions and replies in this light and see what response is then evoked in you. The initiate of the fifth degree in Atlantean times had to evidence the right use of emotion. In Aryan times, the initiate of the second degree has to evidence this. Are you, my brother, prepared to say that this evidence can be produced?

Chúng ta đang bắt đầu đề cập đến những vi tế huyền bí hơn trong công việc của mình, và em phải chuẩn bị cho những điều này. Các bài viết và câu trả lời của em đối với những câu hỏi đã được trao cho em chủ yếu đề cập đến công việc của em liên quan đến những người thấp hơn em về mặt tinh thần. Còn những người ngang hàng và cao hơn em về mặt tinh thần thì sao? Hãy đọc lại các câu hỏi và câu trả lời của em dưới ánh sáng này, và xem khi ấy phản ứng nào được gợi lên nơi em. Điểm đạo đồ cấp độ thứ năm vào thời Atlantis phải biểu lộ việc sử dụng cảm xúc đúng đắn. Vào thời Arya, điểm đạo đồ cấp độ thứ hai phải biểu lộ điều này. Huynh đệ của tôi, em có sẵn sàng nói rằng bằng chứng này có thể được tạo ra chăng?

You entered this group work as the result of serious and earnest seeking, ancient karmic ties, much questioning which wrested response from your soul and the earned right of a pledged server who had worked steadfastly alone for many years. You brought to this group activity certain assets of a pronounced nature and certain liabilities, equally pronounced—as have all the group members. My task is to use the assets in the group and to aid you in relinquishing the liabilities.... I would ask you, therefore, to ponder on this matter, standing as the soul upon the narrow razor-edged path between the pairs of opposites—your assets and your liabilities—viewing them with complete detachment. The occult sentences in which I would like to state your problem and its solution are as follows:

Em bước vào công việc nhóm này do kết quả của sự tìm kiếm nghiêm túc và tha thiết, các mối dây nghiệp quả cổ xưa, nhiều sự chất vấn đã rút ra đáp ứng từ linh hồn em, và quyền đã đạt được của một người phụng sự đã cam kết, người đã làm việc kiên định một mình trong nhiều năm. Em đã mang vào hoạt động nhóm này một số tài sản có tính chất rõ rệt và một số trách nhiệm cũng rõ rệt như vậy — cũng như tất cả các thành viên trong nhóm đều có. Nhiệm vụ của Tôi là sử dụng các tài sản trong nhóm và giúp em từ bỏ các trách nhiệm.... Vì vậy, Tôi xin em suy ngẫm về vấn đề này, đứng như linh hồn trên con đường hẹp sắc như lưỡi dao giữa các cặp đối nghịch — các tài sản và các trách nhiệm của em — nhìn chúng với sự tách rời hoàn toàn. Những câu huyền bí mà Tôi muốn dùng để nêu vấn đề của em và giải pháp của nó như sau:

“The magnet swings, and swinging, fails to touch the pleading hands, held forth for help. It swings in heaven high, held by the soul—serene and unafraid—whose will is firm, whose eyes are clear, whose heart is slowly opening to a distant sound—a sound of pain and sorrow, of weakness and distress.

“Nam châm đong đưa, và trong khi đong đưa, không chạm đến những bàn tay khẩn cầu, giơ ra để xin giúp đỡ. Nó đong đưa trên trời cao, được linh hồn giữ lấy — tĩnh lặng và không sợ hãi — linh hồn có ý chí vững vàng, đôi mắt sáng rõ, trái tim đang chậm rãi mở ra trước một âm thanh xa xăm — một âm thanh của đau đớn và sầu khổ, của yếu đuối và khốn cùng.

“The magnet drops into the mass of clutching hands. It disappears from view. Disturbance then occurs. The soul, [120] whose eyes serene have looked upon the far horizons of the world, withdraws its gaze. Both eyes are focussed on the tumultuous group of seekers after truth. The soul searches for the magnet and sees it not, for it is hidden in the forms of many men. The soul descends and walks the way of earth and not the ways of mind. The far horizon disappears. The vision just before the eyes succeeds; the immediate takes the place of that which has been distant. And in that place immediate, the magnet reappears.”

“Nam châm rơi xuống giữa khối những bàn tay đang níu kéo. Nó biến mất khỏi tầm nhìn. Khi ấy sự xáo trộn xảy ra. Linh hồn, [120] với đôi mắt tĩnh lặng đã nhìn về những chân trời xa của thế gian, thu hồi cái nhìn của mình. Cả hai mắt đều tập trung vào nhóm những người tìm kiếm chân lý đang náo động. Linh hồn tìm kiếm nam châm nhưng không thấy nó, vì nó bị che giấu trong các hình tướng của nhiều người. Linh hồn hạ xuống và bước đi trên con đường của đất, chứ không trên những con đường của trí tuệ. Chân trời xa biến mất. Tầm nhìn ngay trước mắt tiếp nối; điều gần kề thay thế điều từng ở xa. Và tại nơi gần kề ấy, nam châm lại xuất hiện.”

~

~

MY BROTHER: July 1937

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: Tháng Bảy năm 1937

The mental body in your case is governed by fifth ray energy. This is a pronounced condition and constitutes much of your life difficulty. It is, in the case of all aspirants thus conditioned mentally, the paramount cause of their non-magnetic behaviour, using that word in its psychological implications. I would remind you that being non-magnetic at your stage of development means that (even though you may have some measure of soul contact) you cannot radiate that soul life to others as you would like to do, for your dominant fifth ray mental body (the Ray of Concrete Science, as you know) is insulated, isolated and has a natural tendency to that discrimination which leads to separativeness. The reverse effect is also true. The radiation of others can be also shut off and hence your inability to register telepathic impressions. The value of a fifth ray mind is however very great, for it means a keen and useful mind and (ponder on this) an open door to inspiration.

Thể trí trong trường hợp của em chịu sự chi phối của năng lượng cung năm. Đây là một tình trạng rõ rệt và tạo nên phần lớn khó khăn trong đời sống của em. Trong trường hợp tất cả những người chí nguyện được tác động về trí tuệ như vậy, đó là nguyên nhân chủ yếu của lối hành xử thiếu từ tính của họ, dùng từ ấy theo hàm ý tâm lý học của nó. Tôi xin nhắc em rằng việc thiếu từ tính ở giai đoạn phát triển của em có nghĩa là, dù em có thể có một mức độ tiếp xúc linh hồn nào đó, em không thể bức xạ sự sống linh hồn ấy đến người khác như em muốn, vì thể trí cung năm chi phối của em — Cung của Khoa Học Cụ Thể, như em biết — được cách ly, cô lập và có khuynh hướng tự nhiên về sự phân biện dẫn đến chia rẽ. Tác động ngược lại cũng đúng. Bức xạ của người khác cũng có thể bị chặn lại, và do đó em không có khả năng ghi nhận các ấn tượng viễn cảm. Tuy nhiên, giá trị của một thể trí cung năm rất lớn, vì nó có nghĩa là một thể trí sắc bén và hữu ích, và — hãy suy ngẫm về điều này — một cánh cửa mở ra với cảm hứng.

The astral or emotional body is conditioned by the sixth ray of devotion or of idealism, but this can be most easily transferred and transformed under the influence of the second Ray of Love-Wisdom. Your task this life is to make this possible so that, in your next life, you can have an astral body conditioned by the second ray. Your ability to go forward in the face of obstacles in order to attain your ideal is your outstanding asset, and one that will land you eventually at your goal. Your major [121] difficulty, at this time, is your fifth ray mind. Is this not true, my brother?

Thể cảm dục hay thể cảm xúc được tác động bởi cung sáu của sùng tín hay của lý tưởng tính, nhưng điều này có thể được chuyển dịch và chuyển đổi dễ dàng nhất dưới ảnh hưởng của cung hai Bác Ái – Minh Triết. Nhiệm vụ của em trong đời này là làm cho điều này trở nên khả hữu, để trong đời kế tiếp, em có thể có một thể cảm dục được tác động bởi cung hai. Khả năng tiến bước trước các chướng ngại để đạt tới lý tưởng của em là tài sản nổi bật của em, và là điều cuối cùng sẽ đưa em đến mục tiêu. Khó khăn chính của em [121] vào lúc này là thể trí cung năm của em. Huynh đệ của tôi, điều này không đúng sao?

You have a third ray (the Ray of Intelligent Activity) physical body. This is largely controlled, interiorly, by your fifth ray mind. Again you see the dominance of this type of energy in your equipment of expression. Your rays are, therefore:

Em có một thể xác cung ba — Cung của Hoạt Động Thông Tuệ. Thể này phần lớn được kiểm soát từ bên trong bởi thể trí cung năm của em. Một lần nữa, em thấy sự thống trị của loại năng lượng này trong trang bị biểu hiện của mình. Vì vậy, các cung của em là:

1. The soul ray—the third Ray of Active Intelligence.

1. Cung linh hồn — cung ba của Trí Tuệ Hoạt Động.

2. The personality ray—the sixth Ray of Devotion.

2. Cung phàm ngã — cung sáu của Sùng Tín.

3. The ray of the mind—the fifth Ray of Concrete Science.

3. Cung của thể trí — cung năm của Khoa Học Cụ Thể.

4. The ray of the astral body—the sixth Ray of Devotion.

4. Cung của thể cảm dục — cung sáu của Sùng Tín.

5. The ray of the physical body—the third Ray of Activity.

5. Cung của thể xác — cung ba của Hoạt Động.

This analysis should throw much light upon your problem for you will note the dominance of the third major ray and the sixth minor ray of devotion.

Sự phân tích này hẳn sẽ soi sáng nhiều cho vấn đề của em, vì em sẽ lưu ý đến sự thống trị của cung chính thứ ba và cung phụ thứ sáu của sùng tín.

~

~

MY BROTHER: January 1938

HUYNH ĐỆ CỦA TÔI: Tháng Giêng năm 1938

I have earlier indicated to you the point of view from which I personally gauge the capacity and growth of the group and from that angle I am pleased with the progress you have made. During the past few years I have many times spoken to you with frankness and even with apparent harshness. This I have done in an effort to galvanise you to a greater oriented reaction to the urge of your soul and thus draw away from you the two factors which have blocked the free intercourse which should exist between your soul and your personality. I have ever hinted. I do not voice my suggestions in clear words at all times for my object is always to evoke the activity of your higher Self, thus exacting the correct type of obedience. What are these two factors?

Trước đây Tôi đã chỉ cho em thấy quan điểm mà từ đó cá nhân Tôi đánh giá năng lực và sự tăng trưởng của nhóm, và từ góc độ ấy, Tôi hài lòng với tiến bộ mà em đã đạt được. Trong vài năm qua, Tôi đã nhiều lần nói với em một cách thẳng thắn, thậm chí có vẻ nghiêm khắc. Tôi đã làm điều này trong nỗ lực khơi động em đến một phản ứng có định hướng lớn hơn đối với sự thúc giục của linh hồn em, và như thế kéo khỏi em hai yếu tố đã ngăn chặn sự giao lưu tự do lẽ ra phải hiện hữu giữa linh hồn và phàm ngã của em. Tôi luôn luôn gợi ý. Tôi không phải lúc nào cũng diễn đạt các đề nghị của mình bằng lời lẽ rõ ràng, vì mục tiêu của Tôi luôn là gợi lên hoạt động của Bản Ngã Cao Siêu của em, qua đó đòi hỏi loại vâng phục đúng đắn. Hai yếu tố này là gì?

1. A life activity which, though somewhat balanced by the work done in my group, has nevertheless had a restricting effect and which does not succeed in evoking the highest powers of your soul. You have tried to meet this situation and to raise the general tone, but one lone disciple is hard put to it to offset the vibration of a powerful [122] astrally polarised group. Do you know to what I here refer?

1. Một hoạt động đời sống, tuy phần nào được cân bằng bởi công việc được thực hiện trong nhóm của Tôi, nhưng vẫn có tác dụng hạn chế và không thành công trong việc gợi lên những quyền năng cao nhất của linh hồn em. Em đã cố gắng đối diện với tình huống này và nâng cao âm điệu chung, nhưng một đệ tử đơn độc khó có thể hóa giải rung động của một nhóm [122] phân cực cảm dục đầy mạnh mẽ. Em có biết ở đây Tôi đang ám chỉ điều gì không?

2. A life tendency towards depression which you have amazingly offset by negation and a persistent attitude of service. It has nevertheless complicated your life pattern and yet has been one of your major educators.

2. Một khuynh hướng đời sống hướng về trầm cảm, điều mà em đã hóa giải một cách đáng kinh ngạc bằng sự phủ định và một thái độ phụng sự bền bỉ. Tuy vậy, nó đã làm phức tạp mô hình đời sống của em, nhưng đồng thời cũng là một trong những nhà giáo dục chính của em.

This life experience has netted you big results and you will enter upon the next cycle of phenomenal existence with much upon which to draw, and having worked out many life relations during this particular incarnation. What have been your major gains in this life?

Kinh nghiệm đời sống này đã mang lại cho em những kết quả lớn lao, và em sẽ bước vào chu kỳ kế tiếp của sự hiện hữu hiện tượng với nhiều điều để rút ra sử dụng, sau khi đã giải quyết nhiều mối quan hệ đời sống trong lần lâm phàm đặc biệt này. Những thu hoạch chính của em trong đời này là gì?

First of all, the shift of your life emphasis from the outer objective work to the inner subjective realities. In order to accomplish this, you came into incarnation in restricted and limited surroundings so that there might be no dominant obstructing outer attractions; you were, therefore, free to concentrate upon the inner realities. You have largely profited by this experience and your subjective orientation is stabilised upon a rightful basis. Only one major adjustment remains to be made and one major sacrifice. Your problem is, as you know, to effect this readjustment without producing the material suffering of those dependent upon you.

Trước hết, đó là sự chuyển dịch trọng tâm đời sống của em từ công việc khách quan bên ngoài sang các thực tại chủ quan bên trong. Để hoàn thành điều này, em đã đi vào lâm phàm trong những hoàn cảnh bị giới hạn và hạn chế, để không có những hấp lực bên ngoài nổi trội gây cản trở; do đó, em được tự do tập trung vào các thực tại bên trong. Em đã hưởng lợi rất nhiều từ kinh nghiệm này, và định hướng chủ quan của em đã được ổn định trên một nền tảng đúng đắn. Chỉ còn lại một điều chỉnh lớn cần được thực hiện và một hi sinh lớn. Vấn đề của em, như em biết, là thực hiện sự tái điều chỉnh này mà không gây ra đau khổ vật chất cho những người lệ thuộc vào em.

Secondly, you have oriented the astral body to the higher values and impressions and have done it so successfully that your emotional sensitivity to others is now definitely a working asset. This sensitivity I would have you develop into still greater usefulness through the awakening of the heart centre and a renewed interest in the Way of the Heart. To this end, I will give you a meditation in this personal instruction which I would have you follow until further notice.

Thứ hai, em đã định hướng thể cảm dục đến các giá trị và ấn tượng cao hơn, và đã làm điều đó thành công đến mức sự nhạy cảm về cảm xúc của em đối với người khác nay rõ ràng là một tài sản có thể sử dụng trong công việc. Tôi muốn em phát triển sự nhạy cảm này thành một sự hữu dụng còn lớn hơn nữa, thông qua việc đánh thức trung tâm tim và một mối quan tâm mới đối với Con đường của Trái Tim. Vì mục đích này, trong huấn thị cá nhân này Tôi sẽ trao cho em một bài tham thiền mà Tôi muốn em theo đuổi cho đến khi có chỉ thị thêm.

Thirdly, you have in this life stepped off the probationary path on to the Path of Accepted Discipleship and have made good progress upon it. The accentuation of the times and your own intensity have together sufficed to carry you a long way towards the goal and this I think you are beginning to realise—much to your own surprise at times. The recognition of facts—spiritual and subjective facts—is part of the needed training of all disciples; the recognition of a physical plane fact requires no such training in sensitivity. The recognition of spiritual [123] realities requires both training and formulated definite expression.

Thứ ba, trong đời này em đã bước ra khỏi Con Đường Dự Bị để đi vào Con Đường của Địa Vị Đệ Tử Được Chấp Nhận, và đã đạt được tiến bộ tốt đẹp trên đó. Sự nhấn mạnh của thời đại và cường độ riêng của em đã cùng nhau đủ để đưa em đi một đoạn dài hướng đến mục tiêu, và Tôi nghĩ em đang bắt đầu nhận ra điều này — đôi khi khiến chính em ngạc nhiên. Sự nhận biết các sự kiện — các sự kiện tinh thần và chủ quan — là một phần của việc huấn luyện cần thiết cho mọi đệ tử; sự nhận biết một sự kiện trên cõi hồng trần không đòi hỏi một huấn luyện như vậy về sự nhạy cảm. Sự nhận biết các thực tại tinh thần [123] đòi hỏi cả huấn luyện lẫn sự biểu đạt rõ ràng được định thức.

The past year has not been an easy one for you, my brother. You have suffered in many ways, known to you and recognised by me but by no one else. I have stood by and watched and at times have strengthened you when and where I could and twice I definitely succeeded in aiding you. Do you know the occasions when this happened? Training in the registering of offered and accepted aid is sometimes of value to disciples of your type and hence I am pointing out what I attempted to do. I would have you work during the coming year at accustoming yourself to my vibration. It will increase your subjective sensitivity so to do. That is the true value or permanent gain.

Năm qua không phải là một năm dễ dàng đối với em, huynh đệ của tôi. Em đã chịu đau khổ theo nhiều cách, em biết và Tôi nhận biết, nhưng không ai khác biết. Tôi đã đứng bên cạnh và quan sát, và đôi khi đã tăng cường sức mạnh cho em khi nào và ở đâu Tôi có thể, và hai lần Tôi đã rõ ràng thành công trong việc trợ giúp em. Em có biết những dịp nào điều này đã xảy ra không? Việc huấn luyện trong sự ghi nhận trợ giúp được trao và được chấp nhận đôi khi có giá trị đối với các đệ tử thuộc loại của em, và vì thế Tôi nêu ra điều Tôi đã cố gắng làm. Tôi muốn em trong năm tới làm việc để tự làm quen với rung động của Tôi. Làm như vậy sẽ gia tăng sự nhạy cảm chủ quan của em. Đó là giá trị thật sự hay thu hoạch bền vững.

In connection with the occult sentences I gave you a year ago and which I promised to discuss with you, the following comments may prove of value. The main lesson of your life has been the cultivation of the power to respond to the distant sound of human pain. This I referred to in the words “the slowly opening heart.” For two reasons, this response of the heart has not been an easy thing for you to do. One is the fact that in your last life you over-emphasised the intellect and thus came into incarnation with a predisposition to polarise yourself in the mind nature, with consequent detachment from human touch and sympathetic contact. The other is a subconscious recognition that if you “descended to the unhappy ways of human sympathy,” you possess a capacity for identification with your brothers and for sharing their pain which would make you phenomenally uncomfortable. This, in your earlier years, served to hold you away from people, and led you to dwell on the plane of thought—detached, serene and isolated. The past ten years have seen you change all this; though you are not now so comfortable in yourself, you are open to others and sensitive to them in a very real manner.

Liên quan đến những câu huyền bí mà Tôi đã trao cho em một năm trước và đã hứa sẽ bàn với em, các nhận xét sau đây có thể tỏ ra có giá trị. Bài học chính của đời em là vun trồng quyền năng đáp ứng với âm thanh xa xăm của nỗi đau nhân loại. Tôi đã ám chỉ điều này trong các từ “trái tim đang chậm rãi mở ra”. Vì hai lý do, sự đáp ứng này của trái tim không phải là điều dễ dàng đối với em. Một là sự kiện trong đời trước em đã quá nhấn mạnh trí năng, và do đó đi vào lâm phàm với một khuynh hướng phân cực mình trong bản chất trí tuệ, kéo theo sự tách rời khỏi sự tiếp xúc nhân loại và mối giao cảm đầy thiện cảm. Lý do kia là một sự nhận biết trong tiềm thức rằng nếu em “hạ xuống những nẻo đường bất hạnh của cảm thông nhân loại”, em sở hữu một khả năng đồng hóa với các huynh đệ của mình và chia sẻ nỗi đau của họ, điều sẽ khiến em vô cùng khó chịu về mặt hiện tượng. Trong những năm đầu đời, điều này đã giữ em xa khỏi con người, và khiến em cư trú trên cõi tư tưởng — tách rời, tĩnh lặng và cô lập. Mười năm qua đã chứng kiến em thay đổi tất cả những điều này; mặc dù hiện nay em không còn thoải mái trong chính mình như trước, em đã mở ra với người khác và nhạy cảm với họ theo một cách rất thật.

Next, the realisation that “both eyes are focussed on the world of human pain” is steadily becoming yours. You are learning that only in true self-forgetfulness (forgetfulness of the soul’s goal as well as of all personality goals) will be for you any real consummation, and that humanity is of far greater importance than the individual human being. As The Old [124] Commentary says: “The focus now is true and real, for both the eyes, the left and the right, are turned upon the ways of men and in this way the truth is clearly seen.”

Kế đến, sự nhận ra rằng “cả hai mắt đều tập trung vào thế giới của nỗi đau nhân loại” đang dần trở thành của em. Em đang học rằng chỉ trong sự thật sự quên mình — quên mục tiêu của linh hồn cũng như mọi mục tiêu của phàm ngã — mới có cho em bất kỳ sự hoàn mãn thật sự nào, và rằng nhân loại quan trọng hơn rất nhiều so với từng con người riêng lẻ. Như Cổ [124] Luận nói: “Tiêu điểm nay chân thật và thực hữu, vì cả hai mắt, trái và phải, đều hướng về những nẻo đường của con người, và theo cách này chân lý được thấy rõ ràng.”

Then, we come to the words, “that which is distant fades from view and the immediate present looms.” One of the most difficult tasks which faces any disciple is to exchange the abstract vision of future glory and reward for the immediate duty and goal and to learn the spiritual values of the immediate moment as they are to be found in the foreground of daily living. I can remember the time, my brother, when it was hard for you to identify yourself with the problem of the hour, so occupied were you with the Hierarchy, its personnel and plans, and with your relation to the unseen Master. Perhaps in the right adjustment which you have been successful in bringing about, you may have forgotten that time of distant and difficult striving. But I have not. You have to lose sight of the far-off spiritual possibility in the service of the hour. This you have learnt to do in no small measure, only to make the discovery that this path of service and of self-forgetfulness brings you by a long and weary way back to us.

Rồi chúng ta đến với những lời: “điều ở xa mờ dần khỏi tầm nhìn và hiện tại trước mắt hiện lên lớn lao.” Một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất đối diện với bất kỳ đệ tử nào là đổi linh ảnh trừu tượng về vinh quang và phần thưởng tương lai lấy bổn phận và mục tiêu trước mắt, và học các giá trị tinh thần của khoảnh khắc hiện tại khi chúng được tìm thấy ngay ở tiền cảnh của đời sống hằng ngày. Huynh đệ của tôi, Tôi còn nhớ thời gian mà đối với em thật khó để đồng hóa mình với vấn đề của giờ phút hiện tại, vì em quá bận tâm đến Thánh Đoàn, nhân sự và các Thiên Cơ của Thánh Đoàn, cùng mối liên hệ của em với Chân sư vô hình. Có lẽ trong sự điều chỉnh đúng đắn mà em đã thành công trong việc đem lại, em có thể đã quên thời kỳ phấn đấu xa xôi và khó khăn ấy. Nhưng Tôi thì không. Em phải mất khỏi tầm nhìn khả năng tinh thần xa vời để phụng sự giờ phút hiện tại. Em đã học làm điều này ở mức không nhỏ, chỉ để khám phá rằng con đường phụng sự và quên mình này đưa em, qua một con đường dài và mệt mỏi, trở lại với chúng tôi.

Finally, “thus the magnetic life again holds sway.” This time, however, the magnetism is not that of the soul in its own high place but that of the spiritualised personality in the ways of daily, earthly contact. It is the development of this “magnetic life” to which I call you afresh—for the remainder of this life and its succeeding cycles....

Cuối cùng, “như thế sự sống từ tính lại nắm quyền.” Tuy nhiên lần này, từ điện không phải là từ điện của linh hồn nơi vị trí cao cả riêng của nó, mà là từ điện của phàm ngã đã được tinh thần hóa trong những nẻo đường tiếp xúc hằng ngày trên trần thế. Chính sự phát triển của “sự sống từ tính” này mà Tôi lại kêu gọi em — cho phần còn lại của đời này và các chu kỳ kế tiếp của nó....

~

~

January 1939

Tháng Giêng năm 1939

There has been much questioning in your mind during the past few months and also much mental discomfort, if I might so express it. There has been, at the same time, a steady adherence to the chosen way and to your group brothers. You are still, however, under the influence of an ancient thoughtform, forgetting that one of the tasks of a disciple is to free himself from these holding forms. This thoughtform leads you to look, aye, to demand results of a phenomenal nature; it incites you to believe and urges you to demand that your years of devotion, your personality energy and your astral force (a strong combination, [125] my brother!) should be rewarded by a recognition from and a contact with a Member of the Hierarchy. You look for this, not in order to feel any personal satisfaction or prideful reaction but as a justified and right reward of patient effort and true occult obedience.

Trong vài tháng qua đã có nhiều sự chất vấn trong thể trí em, và cũng có nhiều khó chịu về trí tuệ, nếu Tôi có thể diễn đạt như vậy. Đồng thời, cũng có một sự gắn bó bền bỉ với con đường đã chọn và với các huynh đệ trong nhóm của em. Tuy nhiên, em vẫn còn ở dưới ảnh hưởng của một hình tư tưởng cổ xưa, quên rằng một trong những nhiệm vụ của đệ tử là giải thoát chính mình khỏi những hình tướng đang giam giữ này. Hình tư tưởng này khiến em trông chờ, vâng, đòi hỏi những kết quả có tính hiện tượng; nó kích thích em tin tưởng và thôi thúc em đòi hỏi rằng những năm tháng sùng tín của em, năng lượng phàm ngã của em và mãnh lực cảm dục của em — một sự kết hợp mạnh mẽ, [125] huynh đệ của tôi! — phải được tưởng thưởng bằng sự nhận biết từ một Thành viên của Thánh Đoàn và bằng sự tiếp xúc với Vị ấy. Em tìm kiếm điều này, không phải để cảm thấy bất kỳ sự thỏa mãn cá nhân hay phản ứng kiêu hãnh nào, mà như một phần thưởng chính đáng và đúng đắn cho nỗ lực kiên nhẫn và sự vâng phục huyền bí chân thực.

Yet, my brother, you have had all you asked for if you could but recognise it. You know who I am and surely, therefore, the recognition for which you asked has been accorded you and you are aware of that for which you are being prepared by your soul, by me and through the chosen group work. Yet in all of this, you take no joy nor find any rest. Should you not realise the truth of what I say, I would ask you to reflect awhile and maybe in time illumination will come.

Tuy nhiên, huynh đệ của tôi, em đã có tất cả những gì em xin, nếu em chỉ có thể nhận ra điều đó. Em biết Tôi là ai, và chắc chắn, do đó, sự nhận biết mà em xin đã được ban cho em, và em ý thức về điều mà em đang được chuẩn bị bởi linh hồn của em, bởi Tôi và thông qua công việc nhóm đã được chọn. Tuy nhiên trong tất cả những điều này, em không cảm thấy hoan hỉ cũng không tìm thấy sự nghỉ ngơi. Nếu em chưa nhận ra chân lý của điều Tôi nói, Tôi xin em hãy suy tư một lúc, và có lẽ theo thời gian sự soi sáng sẽ đến.

The group work is not easy for you. It is hard for an Englishman to free himself from his national assurances and prejudices, as it is for the nationals of all highly developed countries. But in this work and at your stage of spiritual awareness, the inclusiveness of the life realisation should bar out insularity. For this you must strive, and for you the keynote is the conviction that all men are brothers—a thing most easy to say and to hold theoretically but most difficult to express as a living factor in one’s life.

Công việc nhóm không dễ dàng đối với em. Thật khó cho một người Anh tự giải thoát khỏi những sự tự tin và thành kiến dân tộc của mình, cũng như đối với công dân của mọi quốc gia phát triển cao. Nhưng trong công việc này và ở giai đoạn nhận thức tinh thần của em, tính bao gồm của sự chứng nghiệm đời sống phải loại trừ tính biệt lập. Em phải phấn đấu vì điều này, và đối với em, chủ âm là niềm xác tín rằng mọi người đều là huynh đệ — một điều rất dễ nói và nắm giữ trên lý thuyết, nhưng vô cùng khó biểu lộ như một yếu tố sống động trong đời sống của mình.

We are going to work with frankness henceforth and with freedom, and I—your Master and your friend—will mince no words with you or with any of my group. There is not time, such is the immediate urgency to train workers and it is surely needless with a group such as this.

Từ nay trở đi, chúng ta sẽ làm việc với sự thẳng thắn và tự do, và Tôi — Chân sư của em và bạn của em — sẽ không nói vòng vo với em hay với bất kỳ ai trong nhóm của Tôi. Không còn thời gian, bởi sự cấp bách trước mắt trong việc huấn luyện những người hoạt động là như vậy, và chắc chắn điều đó là không cần thiết với một nhóm như thế này.

You will remember that I gave much time to the consideration of the rays which governed the various aspects and vehicles of each of the group members, and I trust that a careful analysis of what I said has enabled each of you to know yourselves and to understand your problems more truly and more fully. Today I seek to indicate the vehicles of force through which the two major rays are predominantly focussed, reminding you that the task is to relate two energies and three forces in such a manner that you become, in fact, a divine manifestation. Let me here be precise.

Em sẽ nhớ rằng Tôi đã dành nhiều thời gian để xem xét các cung chi phối những phương diện và vận cụ khác nhau của từng thành viên trong nhóm, và Tôi tin rằng một sự phân tích cẩn thận những gì Tôi đã nói đã giúp mỗi em biết chính mình và thấu hiểu các vấn đề của mình một cách chân thật và đầy đủ hơn. Hôm nay, Tôi tìm cách chỉ ra các vận cụ mãnh lực mà qua đó hai cung chính yếu được tập trung một cách nổi trội, đồng thời nhắc em rằng nhiệm vụ là liên hệ hai năng lượng và ba mãnh lực theo cách để em thật sự trở thành một biểu hiện thiêng liêng. Ở đây, hãy để Tôi nói rõ.

First, your egoic or soul ray focusses itself in and through your fifth ray mental body. This—as I told you in an earlier [126] instruction—has given you your defined mental focus, your critical attitude and your isolation, relatively speaking. It is this combination which has always enabled you to rationalise yourself into a confidence in the rightness of your decisions and into a surety that your particular life choices and your preferred circumstances are correct and justified. This energy and force are reinforced also by the controlling force of your physical body which gives you a third ray brain.

Trước hết, cung chân ngã hay cung linh hồn của em tự tập trung trong và qua thể trí cung năm của em. Điều này — như Tôi đã nói với em trong một huấn thị [126] trước đó — đã đem lại cho em sự tập trung trí tuệ rõ rệt, thái độ phê phán và sự cô lập của em, nói một cách tương đối. Chính sự kết hợp này luôn luôn giúp em lý luận để đưa mình vào niềm tin nơi tính đúng đắn của các quyết định của em, và vào sự chắc chắn rằng những lựa chọn đời sống đặc thù của em cùng những hoàn cảnh em ưa thích là đúng và có căn cứ. Năng lượng và mãnh lực này cũng được tăng cường bởi mãnh lực kiểm soát của thể xác em, vốn đem lại cho em một bộ não cung ba.

Second, your personality ray is focussed in your astral body. The rays—three, five and six—are your controlling factors. This gives you devotion and mental control and it should give you real balance but, unfortunately, it does not, because the mind aspect is unduly emphasised and you are afraid of devotion. Yet it is your devotion, my brother, which has brought you to us and not your mental ability. It is your devotion which has led you steadily all these years and produced your service in the world. To what have you been devoted? This is an important question for you to answer to your soul.

Thứ hai, cung phàm ngã của em được tập trung trong thể cảm dục của em. Các cung — ba, năm và sáu — là những yếu tố chi phối em. Điều này đem lại cho em sùng tín và sự kiểm soát trí tuệ, và lẽ ra phải đem lại cho em sự quân bình thật sự, nhưng đáng tiếc là không, bởi phương diện trí tuệ được nhấn mạnh quá mức và em sợ sùng tín. Tuy nhiên, huynh đệ của tôi, chính sùng tín của em đã đưa em đến với chúng tôi, chứ không phải khả năng trí tuệ của em. Chính sùng tín của em đã dẫn dắt em một cách bền bỉ suốt những năm qua và tạo ra sự phụng sự của em trong thế gian. Em đã sùng tín điều gì? Đây là một câu hỏi quan trọng để em trả lời với linh hồn của mình.

I ask myself anew: How can I convey to this disciple the nature of his problem? I will put it in this form. Your egoic energy, focussed in your mind, is at the service of your personality and of the work which you are endeavouring to do in the particular field wherein you are forcing yourself to remain. It should be the other way round and the personality—with all its unified powers—should be at the service of the soul. All the forces of your lower nature should be at the disposal of the higher Self, working through an illumined mind and sensitive brain. Ponder on this. The energy of the intelligence and two intelligent forces—the soul, the mind and the physical nature—serve your devoted personality. You should reverse this, my brother, and let the intelligent soul control your devoted personality. There lies your problem.

Tôi lại tự hỏi: Làm thế nào Tôi có thể truyền đạt cho đệ tử này bản chất vấn đề của y? Tôi sẽ đặt nó dưới hình thức này. Năng lượng chân ngã của em, được tập trung trong thể trí của em, đang phục vụ phàm ngã của em và công việc mà em đang nỗ lực thực hiện trong lĩnh vực đặc thù nơi em đang ép mình ở lại. Điều ấy lẽ ra phải ngược lại, và phàm ngã — với tất cả các quyền năng đã được hợp nhất của nó — phải phụng sự linh hồn. Tất cả các mãnh lực của bản chất thấp của em phải đặt dưới sự sử dụng của Bản Ngã Cao Siêu, hoạt động thông qua một thể trí được soi sáng và một bộ não nhạy cảm. Hãy suy ngẫm về điều này. Năng lượng của trí tuệ và hai mãnh lực thông tuệ — linh hồn, thể trí và bản chất hồng trần — đang phục vụ phàm ngã sùng tín của em. Huynh đệ của tôi, em phải đảo ngược điều này, và để linh hồn thông tuệ kiểm soát phàm ngã sùng tín của em. Chính ở đó có vấn đề của em.

The need of every disciple is ever to develop a closer and more direct alignment between soul and personality and that is, therefore, your problem, even if it seems to you an elementary problem. What you need to do is to focus the energy of your soul in your sixth ray astral body instead of in your mind, so that intelligent love may be your outstanding characteristic. This shift will do certain things for you and in you: [127]

Nhu cầu của mọi đệ tử luôn là phát triển một sự chỉnh hợp gần gũi và trực tiếp hơn giữa linh hồn và phàm ngã, và do đó đó là vấn đề của em, ngay cả khi đối với em nó có vẻ là một vấn đề sơ đẳng. Điều em cần làm là tập trung năng lượng của linh hồn em trong thể cảm dục cung sáu của em thay vì trong thể trí, để bác ái thông tuệ có thể là đặc tính nổi bật của em. Sự chuyển dịch này sẽ làm một số điều cho em và trong em: [127]

1. It will create a temporary upheaval in your life and, therefore, naturally affect your solar plexus, producing a period of real difficulty.

1. Nó sẽ tạo ra một sự xáo trộn tạm thời trong đời sống của em, và vì vậy, một cách tự nhiên, ảnh hưởng đến tùng thái dương của em, tạo ra một giai đoạn khó khăn thật sự.

2. It will transfer the energy of the soul and the force of the mind into the realm of the emotions and of sensitive feeling response, thereby greatly increasing your usefulness but also increasing for you the “dire pain of life itself”; this is a pain with which all disciples must learn to live and from which all disciples must inevitably suffer.

2. Nó sẽ chuyển dịch năng lượng của linh hồn và mãnh lực của thể trí vào cõi giới của cảm xúc và của sự đáp ứng cảm nhận nhạy bén, nhờ đó làm tăng mạnh tính hữu dụng của em, nhưng cũng làm tăng cho em “nỗi đau dữ dội của chính sự sống”; đây là một nỗi đau mà mọi đệ tử phải học cách sống cùng và từ đó mọi đệ tử chắc chắn phải chịu khổ.

3. It will stimulate your brain cells and swing into activity many hitherto dormant cells, thus making you capable of increased service of a different nature to that with which you are now occupied. It will lead you to enquire if your present field of service is, for you, a legitimate one or—if it is—what must you do to “change the nature of the seed which must therein be sown.” You will know to what I refer without my further elaborating.

3. Nó sẽ kích thích các tế bào não của em và đưa vào hoạt động nhiều tế bào cho đến nay còn ngủ yên, nhờ đó làm cho em có khả năng phụng sự gia tăng thuộc một bản chất khác với điều mà hiện nay em đang bận rộn. Nó sẽ dẫn em đến việc tự hỏi liệu lĩnh vực phụng sự hiện tại của em, đối với em, có phải là một lĩnh vực hợp pháp hay không, hoặc — nếu đúng là vậy — em phải làm gì để “thay đổi bản chất của hạt giống phải được gieo ở đó.” Em sẽ biết Tôi ám chỉ điều gì mà không cần Tôi giải thích thêm.

Such is your problem. How shall we change your egoic focus and, at the same time, fuse more closely your two major rays so that the personality is subordinated to the soul. To aid in this specific meditation must be followed....

Đó là vấn đề của em. Làm thế nào chúng ta sẽ thay đổi tiêu điểm chân ngã của em, đồng thời dung hợp chặt chẽ hơn hai cung chính yếu của em để phàm ngã được đặt dưới linh hồn. Để trợ giúp trong điều này, một bài tham thiền đặc biệt phải được tuân theo....

NOTE: “This disciple is no longer working with the Tibetan Master, Who makes the following comment about him:

GHI CHÚ: “Đệ tử này không còn làm việc với Chân sư Tây Tạng nữa, Đấng đưa ra nhận xét sau đây về y:

“He has reached his high water mark for this life. Further instruction is not necessary. He has enough upon which to work.”

“Y đã đạt đến mực nước cao nhất của mình trong đời này. Không cần huấn thị thêm. Y đã có đủ điều để làm việc.”

~

~