(1919-1943)
(1919-1943)
In 1919, during the month of November, I made a contact with Alice A. Bailey and asked her to do some writing for me and also to undertake the publishing of certain books which— under the sequential giving out of truth—were due to appear. She refused immediately, having no sympathy with the flood of so-called occult literature being passed out to the public by the various occult groups, having no experience in writing for the public, and having also a profound dislike of every form of psychic writing and of psychic work. Later, she changed her mind when I explained to her that telepathic rapport was a proven thing and a matter of scientific interest, that she was neither clairaudient or clairvoyant and never would be and that (above all) the test of truth was the truth itself. I told her that if she would write for a period of a month, the material transcribed would prove to her whether it contained truth, whether it evoked intuitive understanding and recognition and whether it had in it that which might be of value in the new spiritual era which was impending. She, therefore, overcame her disgust of this type of work and of the many occult presentations of truth which were prevalent; she only stipulated that the writing should go out with no claims whatsoever and that the teachings should stand or fall on their own merits.
Vào năm 1919, trong tháng Mười Một, tôi đã tiếp xúc với Alice A. Bailey và đề nghị bà viết một số sách cho tôi và cũng đảm nhận việc xuất bản một số cuốn sách nào đó vốn—dưới sự truyền đạt tuần tự của chân lý—phải xuất hiện. Ban đầu, Bà từ chối ngay lập tức, vì không có thiện cảm với sự tràn ngập của những cái gọi là văn học huyền bí đang được truyền tới công chúng bởi các nhóm huyền bí khác nhau, không có kinh nghiệm viết cho công chúng, và còn có một sự ghét bỏ sâu sắc đối với mọi hình thức của sự viết thông linh và công việc thông linh. Sau đó, Bà đổi ý khi tôi giải thích với Bà rằng sự giao cảm viễn cảm là một điều đã được chứng minh và là một vấn đề quan tâm khoa học, rằng Bà không phải là người thông nhĩ hay thông nhãn và cũng sẽ không bao giờ như vậy và rằng (trên hết) phép thử của chân lý chính là chân lý tự nó. Tôi đã nói với Bà rằng nếu Bà chịu viết trong một tháng, tài liệu được ghi lại sẽ chứng minh cho mọi điều, liệu nó có chứa chân lý, liệu nó gợi mở sự hiểu biết giác ngộ và sự nhận thức hay không và liệu nó có cái gì có thể có giá trị trong kỷ nguyên tinh thần mới đang chuẩn bị diễn ra. Vì vậy, Bà đã vượt qua sự ghê tởm của mình về loại công việc này và của nhiều trình bày huyền bí của chân lý đang phổ biến; bà chỉ đặt điều kiện rằng các tác phẩm nên được xuất bản mà không đòi hỏi bất kỳ tuyên bố nào và rằng các giáo lý nên đứng hay ngã dựa trên giá trị của chính chúng.
The first book published was Initiation, Human and Solar. This was the result of her first effort to do this kind of work; it laid the foundation of all the succeeding books. Since then she has written for me for nearly twenty-five years. The books have gone out in line with a deep, underlying purpose which it may interest you to know about and they have received a worldwide recognition.
Cuốn sách đầu tiên được xuất bản là Điểm Đạo, Con Người và Thái dương. Đây là kết quả của nỗ lực đầu tiên của Bà trong việc làm loại công việc này; nó đã đặt nền móng cho tất cả các cuốn sách sau này. Kể từ đó, Bà đã viết cho tôi trong gần hai mươi lăm năm. Các cuốn sách đã được phát hành theo một mục đích sâu sắc, ẩn giấu mà có thể bạn sẽ quan tâm muốn biết và chúng đã nhận được sự công nhận toàn cầu.
Initiation, Human and Solar was intended to bring the fact of the Hierarchy to public attention. This had been done by H.P.B. by inference and statement but not in any sequential form. The Theosophical Society had taught the fact of the [778] Masters, though H.P. Blavatsky (in a communication to the Esoteric Section) stated that she bitterly regretted so doing. This teaching was misinterpreted by later theosophical leaders and they made certain basic mistakes. The Masters Whom they portrayed were characterised by an impossible infallibility, because the Masters are Themselves evolving; the teaching given endorsed an engrossing interest in self-development and an intense focussing upon personal unfoldment and liberation; the people who were indicated as initiates and senior disciples were entirely mediocre with no influence outside the Theosophical Society itself; complete devotion to the Masters was also emphasised—devotion to Their personalities. These Masters were also shown as interfering with the organisation life of the various occult groups which claimed to be working under Their direction. They were made responsible for the mistakes of the leaders of the groups who took refuge under such statements as: The Master has instructed me to say, etc., the Master wants the following work to be done, or the Master wants the membership to do thus and so. Those who obeyed were regarded as good members; those who refused to be interested and obedient were looked upon as renegades. The freedom of the individual was constantly infringed and the weaknesses and ambitions of the leaders were provided with an alibi. Knowing all this well, A.A.B. refused to be a party to any such constantly recurring activity, for such is the history of practically all the known occult groups which attract the attention of the public. Even had I wanted to work in such a way (which no one affiliated with the Hierarchy ever does), I would have found no collaboration from her.
Điểm Đạo, Con Người và Thái dương nhằm đưa sự thực tế của Huyền Giai đến sự chú ý của công chúng. Điều này đã được H.P.B. thực hiện thông qua suy luận và tuyên bố nhưng không có một trình tự cụ thể. Hội Thông Thiên Học đã dạy về sự [778] thật của các Chân sư, mặc dù HP Blavatsky (trong một thông điệp gửi đến Phân Hệ Huyền Bí) nói rằng Bà rất hối tiếc đã làm như vậy. Giáo lý này đã bị diễn giải sai bởi các lãnh đạo thông thiên học sau này và họ đã mắc một số sai lầm cơ bản. Các Chân sư mà họ miêu tả có một sự không thể sai phạm được vì các Chân sư tự họ cũng đang tiến hóa; giáo lý được đưa ra ủng hộ một sự say mê vào sự phát triển cá nhân và sự tập trung mãnh liệt vào sự vươn lên và giải thoát cá nhân; những người được chỉ định là điểm đạo đồ và đệ tử cao cấp hoàn toàn tầm thường mà không có ảnh hưởng nào bên ngoài Hội Thông Thiên Học chính nó; sự tôn thờ hoàn toàn đối với các Chân sư cũng được nhấn mạnh—tôn thờ đối với tính cá nhân của các Ngài. Các Chân sư cũng được miêu tả là tham gia vào đời sống tổ chức của các nhóm huyền bí khác nhau tự tuyên bố rằng họ hoạt động dưới sự chỉ đạo của các Ngài. Họ đã làm cho các nhà lãnh đạo nhóm có một lý do biện hộ cho các sai lầm của họ mà thu lợi qua những tuyên bố như: Chân sư đã chỉ thị cho tôi nói, v.v., Chân sư muốn công việc sau được thực hiện, hoặc Chân sư muốn các thành viên thực hiện thế nọ thế kia. Những người vâng lời được coi là thành viên tốt; những người từ chối quan tâm và tuân lệnh bị coi là kẻ phản động. Quyền tự do cá nhân liên tục bị xâm phạm và những điểm yếu cùng tham vọng của các nhà lãnh đạo được cung cấp với một lý do miễn tội. Biết tất cả những điều này rất rõ, A.A.B. từ chối tham gia vào bất kỳ hoạt động nào như vậy vốn liên tục tái diễn, vì đó là lịch sử của hầu hết tất cả các nhóm huyền bí nổi tiếng đã thu hút sự chú ý của công chúng. Ngay cả khi tôi muốn làm việc theo cách như vậy (mà không ai liên kết với Huyền Giai bao giờ làm), tôi cũng sẽ không tìm thấy sự hợp tác nào từ Bà.
Letters on Occult Meditation followed next. These indicated a somewhat new approach to meditation, based not on devotion to the Masters but on a recognition of the soul in each person. This was succeeded by A Treatise on Cosmic Fire. This book was an expansion of the teaching given in The Secret Doctrine on the three fires—electric fire, solar fire and fire by friction—and it was an awaited sequence; it also presented the psychological key to The Secret Doctrine and is intended to offer study to disciples and initiates at the close of this century and the beginning of the next century, up until 2025 A.D. [779]
Thư về Tham thiền Huyền bí theo sau đó. Những cái này đã đưa ra một cách tiếp cận mới đối với tham thiền, không dựa trên sự sùng kính đối với các Chân sư mà dựa trên sự nhận thức về linh hồn trong mỗi người. Tiếp theo đó là Luận về Lửa Vũ Trụ. Cuốn sách này là một sự mở rộng của giáo lý đã đưa ra trong Giáo Lý Bí Nhiệm về ba loại lửa—lửa điện, lửa thái dương và lửa ma sát—và nó là một chuỗi chờ đợi; nó cũng đã giới thiệu chìa khóa tâm lý học cho Giáo Lý Bí Nhiệm và được dự định giới thiệu tài liệu nghiên cứu cho các đệ tử và điểm đạo đồ ở cuối thế kỷ này và đầu thế kỷ tiếp theo, cho đến năm 2025 CN. [779]
Later A.A.B. felt that it would be of value to me and to the work if she demonstrated that she could write books (useful to students) apart from transcribing my writings and taking down my notes, rendering them into the thought-provoking English which together we have developed as a medium for transmission of the ideas which it is my dharma to make public. The average psychic and medium is not usually of a high-grade intelligence and A.A.B. desired to prove (for the aiding of the work of the future) that one could do definitely psychic work and be of a real intelligence. She has, therefore, written four books which are entirely her own production:
Sau đó A.A.B. cảm thấy rằng sẽ có ích cho tôi và công việc nếu Bà chứng minh rằng Bà có thể viết sách (có ích cho các đạo sinh) ngoài việc phiên dịch văn bản của tôi và ghi chép các ghi chú của tôi, chuyển chúng thành văn phong gợi tư duy mà chúng tôi đã cùng nhau phát triển như một phương tiện để truyền tải các ý tưởng vốn là trách nhiệm của tôi để làm công khai. Đa số các nhà thông linh và trung gian không thuộc diện có trí tuệ cao và A.A.B. mong muốn chứng minh (để giúp đỡ công việc trong tương lai) rằng một người có thể làm công việc thông linh rõ ràng và thực sự có lý trí. Do đó, Bà đã viết bốn cuốn sách hoàn toàn là sản phẩm của riêng Bà:
The Consciousness of the Atom.
Tâm Thức của Nguyên Tử.
The Soul and Its Mechanism.
Linh Hồn và Cơ Chế của Nó.
From Intellect to Intuition.
Từ Trí Tuệ đến Trực giác.
From Bethlehem to Calvary.
Từ Bethlehem đến Calvary.
She has also written one book in collaboration with me, entitled The Light of the Soul; in it I give the translation of the Sanskrit Sutras of Patanjali and she contributes the commentary, referring to me occasionally for reassurance as to meaning.
Bà cũng đã viết một cuốn sách hợp tác với tôi, có tên Ánh Sáng của Linh Hồn; trong đó tôi cung cấp sự dịch thuật các Sutra của Patanjali, và Bà đóng góp bình luận, thỉnh thoảng tham khảo tôi để đảm bảo ý nghĩa.
Then followed A Treatise on White Magic. This was written years ago. As it was written it went out, chapter by chapter, to the senior students of the Arcane School as reading matter only. It is the first book ever given out upon the training and control of the astral or emotional body. Many occult books have been written upon the subject of the physical body and its purification and upon the etheric or vital body; most of them have been compilations of other books, both ancient or modern. This book of mine, however, is intended to train the modern aspirant in the control of his astral body, by the aid of the mind as that mind is, in its turn, illumined by the soul.
Sau đó, Luận về Chánh Thuật được viết. Đây được viết cách đây nhiều năm. Khi nó được viết xong, từng chương đã được gửi đến các đạo sinh cấp cao của Trường Arcane để đọc chỉ cho mục đích tham khảo. Đó là cuốn sách đầu tiên được xuất bản nhằm đào tạo và kiểm soát thể cảm dục hoặc thể tình cảm. Nhiều sách huyền bí đã được viết về thể xác và sự thanh lọc của nó và về thể dĩ thái hoặc thể sinh lực; hầu hết chúng là dựa trên các sách khác, cả cổ và hiện đại. Tuy nhiên, cuốn sách của tôi được dành cho việc đào tạo người chí nguyện hiện đại trong việc kiểm soát thể cảm dục của mình, nhờ sự trợ giúp của thể trí khi mà thể trí đó, đến lượt nó, được soi sáng bởi linh hồn.
The next book undertaken was A Treatise on the Seven Rays. It is a long book, not yet completed. It is taking shape in four volumes, two of which are already published, one is ready for publication and the final volume is in process of writing. Volumes one and two deal with the seven rays and their seven psychological types and thus lay the foundation for the new psychology for which modern psychology, materialistic as it may be, has laid a sound basis. Volume three is entirely given over to the subject of esoteric astrology and forms a unit [780] in itself. It is intended to launch the new astrology which is founded on the soul and not on the personality. Orthodox astrology sets up a chart which gives the fate and destiny of the personality, and when that personality is little evolved or is only of an average development, it can be and often is amazingly correct. It is not so correct, however, in the case of highly developed people, aspirants, disciples and initiates who are beginning to control their stars and consequently their actions; the events and the happenings in their lives then become unpredictable. The new and future astrology endeavours to give the key to the horoscope of the soul, as it is conditioned by the soul ray and not by the personality ray; enough has been given by me to enable astrologers, who are interested and of the new inclination, to work out the future from the angle of this new approach. Astrology is a fundamental and most necessary science. A.A.B. is not well versed in astrology; she cannot set up a chart nor could she tell you the names of the planets with the houses which they rule. I am, therefore, entirely responsible for all that appears in this and all my books, except, as before explained, the one book, The Light of the Soul.
Cuốn sách tiếp theo được thực hiện là Luận về Bảy Cung. Đó là một cuốn sách dài, chưa hoàn thành. Nó đang trở thành hình dạng trong bốn tập, hai trong số đó đã được xuất bản, một đã sẵn sàng để xuất bản và tập cuối vẫn đang viết. Tập một và hai đề cập đến bảy cung và bảy loại tâm lý của chúng và do đó đặt nền móng cho tâm lý học mới mà tâm lý học hiện đại, dù có tính vật chất đến đâu, đã đặt nền tảng vững chắc. Tập ba hoàn toàn dành cho chiêm tinh học huyền bí và cấu thành một đơn vị [780] tự thân. Nó được dự định ra mắt chiêm tinh học mới, vốn được thiết lập trên cơ sở linh hồn và không phải trên cơ sở phàm ngã. Chiêm tinh học chính thống thiết lập một biểu đồ định rõ số phận và định mệnh của phàm ngã, và khi phàm ngã đó ít phát triển hoặc chỉ có sự phát triển trung bình, nó và thường thì chính xác một cách đáng kinh ngạc. Nó không đúng lắm, tuy nhiên, trong trường hợp của những người phát triển cao, người chí nguyện, đệ tử và điểm đạo đồ vốn đang bắt đầu kiểm soát các ngôi sao của họ và do đó các hành động của họ; các sự kiện và các tình huống trong cuộc sống của họ trở nên không thể dự đoán. Chiêm tinh học mới và tương lai cố gắng đưa ra chìa khóa cho lá số tử vi của linh hồn, khi nó được chi phối bởi cung linh hồn và không phải bởi cung phàm ngã; đủ đã được tôi đưa ra để cho phép các nhà chiêm tinh, những người quan tâm và có xu hướng mới, nghiên cứu tương lai từ góc nhìn của cách tiếp cận mới này. Chiêm tinh học là một khoa học cơ bản và cần thiết nhất. A.A.B không am hiểu chiêm tinh học; bà không thể lập ra một lá số tử vi và cũng không thể cho bạn biết tên của các hành tinh với các nhà mà chúng cai quản. Vì vậy, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả những gì xuất hiện trong và tất cả các cuốn sách của tôi, ngoại trừ, như đã giải thích trước đây, cuốn Ánh Sáng của Linh Hồn.
The fourth volume deals with the subject of healing, and with the bridging, by the antahkarana, of the gap which exists between the Monad and the personality; it also gives the Fourteen Rules which those in training for initiation have to master. Again, I would call your attention to this last theme, reminding you that the true initiate has never made the slightest claim, either privately or publicly, to be an initiate. It is against the occult law and too many people of no particular spiritual focus or intellectual capacity make these claims and consequent harm has ensued, thus lowering the idea of the Hierarchy and the nature of adeptship in the eyes of the watching public. I am, therefore, entirely responsible for the Fourteen Rules and their elucidation and application. A.A.B. has never claimed to be more than a working disciple, occupied with world work (which no one can deny) and has re-iterated again and again that the word “disciple” is the legitimate and non-controversial word (as well as the truthful word) to be used for all grades of workers in the Hierarchy from the probationary disciple, [781] loosely affiliated with certain disciples in that Hierarchy, up to and including the Christ Himself, the Master of all the Masters and the Teacher alike of Angels and of men. She has steadily set herself, with my full approval, against the unwholesome curiosity as to status and title which is a blight on so many occult groups, leading to the full tide of competition, jealousy, criticism and claim-making which distinguishes the majority of the occult groups, which renders futile so many of their publications and which hinders the general public from receiving the teaching in its purity and simplicity. Status and title, place and position count for nothing. It is the teaching that counts—its truth and its intuitive appeal. This you must constantly bear in mind. The accepted disciples of a Master who arrive at recognition of Him from within themselves—a recognition which can then be corroborated by their fellow disciples and used by the Master Himself as a factual condition—know their Master, accept teaching from Him and among themselves speak of Him as He is to them but not to the outside world. The papers lately printed in The Beacon and inadequately censored were given by me, as a Master, to the members of a group within my Ashram. This group has preserved my anonymity for more than a decade, which was their correct and obvious duty.
Tập bốn xử lý chủ đề chữa lành, và với việc bắc cầu, bằng antahkarana, khoảng cách tồn tại giữa Chân Thần và phàm ngã; nó cũng cung cấp 14 Quy luật mà những người đang trong quá trình đào tạo chuẩn bị cho điểm đạo phải làm chủ. Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh đến chủ đề cuối cùng này, nhắc nhở bạn rằng điểm đạo đồ thật chưa bao giờ tuyên bố, dù riêng tư hay công khai, rằng mình là một điểm đạo đồ. Điều đó vi phạm quy luật huyền linh và có quá nhiều người, không có trọng tâm tinh thần đặc biệt nào hoặc năng lực trí tuệ, đưa ra những tuyên bố này và đã gây ra hậu quả có hại, từ đó hạ thấp hình ảnh của Huyền Giai và bản chất của Chân sư trong mắt của công chúng đang theo dõi. Tôi, do đó, hoàn toàn chịu trách nhiệm về 14 Quy luật và sự làm sáng tỏ và áp dụng chúng. A.A.B chưa bao giờ tuyên bố là gì khác ngoài một đệ tử đang làm việc, bị chi phối bởi công việc thế giới (mà không ai có thể phủ nhận) và đã lập lại nhiều lần rằng từ “đệ tử” là từ hợp pháp và không gây tranh cãi (cũng như là từ chân thật) được sử dụng cho tất cả các mức độ của các công nhân trong Huyền Giai từ đệ tử dự bị, [781] lỏng lẻo kết hợp với một số đệ tử trong Huyền Giai đó, đến và bao gồm cả Đức Christ chính Ngài, Chân sư của tất cả các Chân sư và Giáo sư chung của cả Thiên thần và con người. Bà đã nhất quán khẳng định bản thân, với sự chấp thuận hoàn toàn của tôi, chống lại sự tò mò không lành mạnh về địa vị và danh hiệu vốn là một sự chán nản đối với nhiều nhóm huyền bí, dẫn đến sự bùng nổ của sự cạnh tranh, ghen tị, phê bình và làm hơn mà phân biệt đa số các nhóm huyền bí, điều này làm cho nhiều ấn phẩm của họ trở nên vô ích và điều này cản trở công chúng từ việc nhận được sự giảng dạy trong sự tinh khiết và đơn giản của nó. Địa vị và danh hiệu, vị trí và vị thế không có giá trị gì. Điều quan trọng là sự giảng dạy—sự thật của nó và sự thu hút trực giác của nó. Điều này bạn phải luôn nhớ rõ. Các đệ tử được chấp nhận của một Chân sư người đến từ bên trong tự nhận ra Ngài—một sự nhận ra sau đó có thể được xác nhận bởi các đệ tử đồng nghiệp của họ và được Chân sư tự sử dụng như một điều kiện thực tế—biết Ngài, chấp nhận việc giảng dạy từ Ngài và giữa họ với nhau nói về Ngài như Ngài là đối với họ nhưng không phải là đối với thế giới bên ngoài. Các giấy tờ phát hành gần đây trên The Beacon và không được kiểm duyệt đủ đã được tôi, như một Chân sư, gửi đến các thành viên của một nhóm trong Ashram của tôi. Nhóm này đã giữ kín danh tính của tôi trong hơn một thập kỷ, việc đó là nhiệm vụ đúng đắn và rõ ràng của họ.
The books, therefore, have been going out steadily for years. When A Treatise on the Seven Rays is completed, a short book on glamour ready for the press and this book on DISCIPLESHIP IN THE NEW AGE is in the hands of the public, then the work of A.A.B. for me will be over, she can resume her work in the Ashram of her own Master—the work of His disciple.
Do đó, các cuốn sách đã được phát hành liên tục trong nhiều năm. Khi Luận về Bảy Cung hoàn thành, một cuốn sách ngắn về ảo cảm sẵn sàng cho báo chí và cuốn sách này về ĐƯỜNG ĐẠO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI nằm trong tay công chúng, thì công việc của A.A.B dành cho tôi sẽ kết thúc, Bà có thể tiếp tục công việc trong Ashram của Chân sư riêng mình—công việc của một đệ tử của Ngài.
The next phase of the work which I sought to see accomplished is now in working order. It was my wish (as it is the wish of many associated with the Hierarchy) to see an esoteric school started which would leave the membership free, which would bind them by no pledges or oaths and which would—whilst assigning meditation, study and giving esoteric teaching—leave people to make their own adjustments, to interpret the truth as best they could, to present to them the many points of view and at the same time communicate to them the deepest esoteric truths which they could recognise if there was that in [782] them which was awakened to the mysteries and which, even when read or heard, could do them no harm if they lacked the perception to recognise the truth for what it was. Such a school was started in 1923 by Alice A. Bailey with the aid of Foster Bailey and certain students of vision and spiritual understanding. She made it a condition that I should have nothing to do with the Arcane School, and that I should have no control over its policies and curriculum. Even my books were not used as textbooks and only during the past three years has one of them, A Treatise on White Magic, been adopted as a course of study and that at the very earnest request of many students. Also, some of the teaching upon the antahkarana (which will appear in the fifth volume of the Treatise on the Seven Rays) has been used for two years in one section of the fourth degree, entitled Weavers in the Light. The teaching on glamour has been given as some of the reading matter for another section.
Giai đoạn công việc tiếp theo mà tôi mong muốn thấy hoàn thành giờ đây đang hoạt động trơn tru. Đó là mong muốn của tôi (cũng như mong muốn của nhiều người liên kết với Huyền Giai) khi thấy một trường học huyền bí được bắt đầu vốn để lại mỗi thành viên tự do, không ràng buộc họ bằng các lời thề hay lời thề và vốn—trong khi phân công tham thiền, nghiên cứu và đưa ra giảng dạy huyền bí—để mọi người tự điều chỉnh, diễn giải sự thật tốt nhất của mình, để trình bày cho họ nhiều góc nhìn khác nhau và cùng lúc truyền đạt cho họ những sự thật huyền bí sâu thẳm nhất mà họ có thể nhận biết nếu có sự giác ngộ từ họ đối với các huyền nhiệm và điều đó, ngay cả khi được đọc hoặc nghe, cũng không thể gây hại cho họ nếu họ không có khả năng để nhận ra sự thật là gì. Một trường học như vậy đã được bắt đầu vào năm 1923 bởi Alice A. Bailey với sự giúp đỡ của Foster Bailey và các đạo sinh có tầm nhìn và sự hiểu biết sâu sắc. Bà đặt điều kiện rằng tôi không nên liên quan gì đến Trường Arcane, và rằng tôi không nên có bất kỳ sự kiểm soát nào đối với chính sách và chương trình học của nó. Ngay cả các sách của tôi cũng không được sử dụng làm sách giáo khoa và chỉ trong ba năm gần đây một trong số các sách đó, Luận về Chánh Thuật, đã được chấp nhận làm khóa học và điều đó là theo yêu cầu khẩn thiết của nhiều học sinh. Ngoài ra, một số giảng dạy về antahkarana (sẽ xuất hiện trong tập năm của Luận về Bảy Cung) đã được sử dụng trong hai năm trong một phần của bậc học thứ tư, có tựa đề Thợ Dệt trong Ánh sáng. Giảng dạy về ảo cảm đã được cung cấp như một phần của tài liệu đọc cho một phần khác.
No obedience is expected in the Arcane School, no emphasis is laid on “obeying the Master,” for no Master is running the school. Emphasis is laid upon the one Master in the heart, the soul, the true spiritual man within each human being; no theology is taught; the student is under no compulsion to accept any interpretation or presentation of truth; he can accept or reject the fact of the Masters, of the Hierarchy, of reincarnation, or of the soul and still remain a member of the school in good standing. No loyalty is expected or asked, either to the school or to A.A.B. Students can work in any of the occult, esoteric, metaphysical or orthodox groups and churches and still be members of the school. They are asked to look upon such activities as fields of service wherein they can express any spiritual help they may have gained through their work in the school. Leaders and senior workers in many occult groups are working in the Arcane School, but they feel perfectly free to give their time, loyalty and service to their own groups.
Không có sự tuân lệnh nào được mong đợi trong Trường Arcane, không có sự nhấn mạnh nào vào việc “vâng lời Chân sư,” vì không có Chân sư nào điều hành trường học. Sự nhấn mạnh được đặt vào vị Chân sư bên trong trái tim, linh hồn, con người tinh thần chân thực trong mỗi con người; không có thần học nào được giảng dạy; học sinh không bị buộc phải chấp nhận bất kỳ diễn giải nào hoặc trình bày sự thật nào; họ có thể chấp nhận hoặc từ chối sự thật về các Chân sư, về Huyền Giai, về luân hồi, hoặc về linh hồn, và vẫn là thành viên của trường học trong điều kiện tốt. Không có sự trung thành nào được mong đợi hay yêu cầu, đối với trường học hay với A.A.B. Học sinh có thể làm việc trong bất kỳ nhóm huyền bí, huyền linh, siêu hình hoặc chính thống nào và vẫn là thành viên của trường học. Họ được yêu cầu coi những hoạt động như vậy là các lĩnh vực phụng sự, nơi họ có thể thể hiện bất kỳ sự giúp đỡ tinh thần nào mà họ có thể đã nhận được thông qua công việc của mình trong trường học. Các lãnh đạo và nhân viên cấp cao trong nhiều nhóm huyền bí đang làm việc trong Trường Arcane, nhưng họ cảm thấy hoàn toàn tự do để dành thời gian, lòng trung thành và công việc phụng sự cho các nhóm của mình.
This school has been in existence for twenty years and is now entering into a new cycle of growth and usefulness—along with the whole of humanity—and for this due preparation is being made. The keynote of the school is service, based on love of humanity. The meditation work is balanced and paralleled by study and by the effort to teach the students to serve. [783]
Trường học này đã tồn tại trong suốt hai mươi năm và hiện đang bước vào một chu kỳ phát triển mới và hữu dụng – cùng với toàn thể nhân loại – và để chuẩn bị cho việc này đang được tiến hành. Chủ âm của trường học là phụng sự, dựa trên tình yêu thương nhân loại. Công việc tham thiền được cân bằng và đi đôi với nghiên cứu và nỗ lực dạy cho học sinh cách để phụng sự. [783]
Another phase of my work came into existence about ten years ago when I started to write certain pamphlets for the general public, calling attention to the world situation and to the New Group of World Servers. I thus endeavoured to anchor on earth (if I may use such a phrase) an externalisation or a symbol of the work of the Hierarchy. It was an effort to band together subjectively and (where possible) objectively all those people of spiritual purpose and deep love of humanity who were actively working in many countries, either in organisations or alone. Their name is legion. Some few are known to the workers in the school. Thousands are known to me but not to them; all are working under the inspiration of the Hierarchy and are, either consciously or unconsciously, fulfilling the duties of agents of the Masters. Together they form a band, closely knit on the inner side by spiritual intention and love. Some are occultists, working in the various occult groups; some are mystics, working with vision and love; others belong to the orthodox religions and some recognise no spiritual affiliations, so-called, at all. All are, however, animated by a sense of responsibility for human welfare and have interiorly pledged themselves to help their fellowmen. This great group constitutes the World Saviour at this time and will salvage the world and inaugurate the new era after the war. The pamphlets which I wrote (the first of which was called The Next Three Years) indicated their plans and purposes, and made suggestions as to modes and methods of cooperation with this group of World Servers, already in existence and active in many fields.
Một giai đoạn khác của công việc của tôi ra đời khoảng mười năm trước khi tôi bắt đầu viết một số tập sách nhỏ cho công chúng, chú ý đến tình hình thế giới và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Tôi đã cố gắng gắn kết trên Trái Đất (nếu tôi có thể dùng một cụm từ như vậy) một biểu hiện ngoại hiện hay một biểu tượng của công việc của Huyền Giai. Đó là một nỗ lực để kết hợp một cách chủ quan và (nơi có thể) khách quan tất cả những người có mục đích tinh thần và tình yêu nhân loại sâu sắc, những người đang tích cực làm việc ở nhiều quốc gia khác nhau, hoặc trong các tổ chức hoặc đơn độc. Tên của họ là rất nhiều. Một vài người được biết đến với những người đang làm việc trong trường học. Hàng ngàn người được biết đến với tôi nhưng không với họ; tất cả đều đang làm việc dưới cảm hứng của Huyền Giai và đang, hoặc vô thức hoặc có ý thức, thực hiện các nghĩa vụ của các đại diện của các Chân sư. Cùng nhau, họ tạo thành một nhóm, được kết hợp chặt chẽ từ bên trong bởi ý định tinh thần và tình yêu. Một số là nhà huyền bí, làm việc trong các nhóm huyền bí khác nhau; một số là nhà thần bí, làm việc với tầm nhìn và tình yêu; những người khác thuộc về các tôn giáo chính thống và một số không nhận ra có mối kết nối tinh thần nào, cái mà như gọi, cả. Tất cả đều, tuy nhiên, được thúc đẩy bởi một ý thức trách nhiệm đối với phúc lợi con người và đã cam kết bên trong để giúp đỡ đồng loại. Nhóm lớn này hiện tại là Cứu Thế Giới và sẽ cứu vãn thế giới và khởi xướng kỷ nguyên mới sau chiến tranh. Các tập sách mà tôi đã viết (cuốn đầu tiên có tựa đề Ba Năm Tiếp Theo) đã chỉ ra các kế hoạch và mục đích của họ, đồng thời đưa ra gợi ý về phương thức và phương pháp hợp tác với nhóm Người Phụng Sự Thế Gian này, vốn đã tồn tại và hoạt động trên nhiều lĩnh vực.
Those whom the New Group of World Servers influence and with whom they seek to work and who can act as their agents, we call the men and women of goodwill. I made an effort to reach these people in 1936 when there was a faint possibility that the war even at that late hour might be averted. Many will remember that campaign and its relative success. Millions were reached by means of the spoken and written word and by the radio but there were not enough people, spiritually interested, to take the needed steps to stem the tide of hate, evil and aggression which threatened to engulf the world. The war broke out in 1939 in spite of all the efforts of the Hierarchy[784] and Their workers, and the goodwill work fell naturally into abeyance. That part of the work in which members of the Arcane School had sought to serve and which had resulted in the forming of nineteen centres for service in as many countries had temporarily to be dropped—but only temporarily, my brothers, for goodwill is the “saving force” and an expression of the will-to-good which animates the New Group of World Servers.
Những người mà Nhóm Người Phụng Sự Thế Gian Mới gây ảnh hưởng và mà họ tìm cách hợp tác và hành động như các đại diện của họ, chúng tôi gọi là những người nam và nữ thiện chí. Tôi đã cố gắng tiếp cận những người này vào năm 1936 khi có một cơ hội nhỏ rằng chiến tranh thậm chí vào giờ cuối này có thể được tránh. Nhiều người sẽ nhớ chiến dịch đó và thành công tương đối của nó. Nhiều triệu người đã được tiếp cận qua các từ nói và viết và qua đài phát thanh nhưng không có đủ người, đủ quan tâm về mặt tinh thần, để tiến hành các bước cần thiết để ngăn chặn làn sóng thù hận, ác độc và xâm lăng đang đe dọa nhấn chìm thế giới. Chiến tranh bùng nổ năm 1939 bất chấp tất cả các nỗ lực của Huyền Giai [784] và các công nhân của các Ngài, và công việc thiện chí rơi vào trạng thái bế tắc. Phần công việc mà các thành viên của Trường Arcane đã cố gắng phục vụ và điều đó đã dẫn đến việc thành lập mười chín trung tâm phục vụ ở bấy nhiêu quốc gia đã tạm thời bị gác lại—nhưng chỉ tạm thời, các huynh đệ của tôi, vì thiện chí là “lực lượng cứu rỗi” và là một biểu hiện của ý chí thiện mà kích thích Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian.
I would emphasise that this work of anchoring the New Group of World Servers and organising the goodwill work has nothing whatsoever to do with the school except in so far that members in the school were given the opportunity to help in the movement. They were left entirely free to do so or not as they chose; a very large percentage ignored the effort altogether, thus demonstrating the freedom which they felt and had been taught.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng công việc này của việc thiết lập Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian và tổ chức công việc thiện chí không có bất kỳ liên quan gì với trường học ngoại trừ phạm vi mà các thành viên trong trường học được trao cơ hội để giúp đỡ trong phong trào. Họ được để hoàn toàn tự do làm như vậy hoặc không làm như vậy tùy họ chọn; một tỷ lệ rất lớn đã bỏ qua nỗ lực hoàn toàn, do đó thể hiện sự tự do mà họ cảm thấy và đã được giảng dạy.
When the war broke and the entire world was hurled into the consequent chaos, horror, disaster, death and agony, many spiritually minded people were anxious to stay aloof from the struggle. They were not the majority but a powerful and noisy minority. They regarded any attitude of partisanship as an infringement of the law of brotherhood and were willing to sacrifice the good of the whole of humanity to a sentimental urge to love all men in a manner which necessitated their taking no action or decision of any kind. Instead of “my country right or wrong,” it was “humanity, right or wrong.” When I wrote the pamphlet called The Present World Crisis and the succeeding papers on the world situation, I stated that the Hierarchy endorsed the attitude and aims of the United Nations, fighting for the freedom of the whole of humanity and for the release of the suffering people. This necessarily placed the Hierarchy in the position of not endorsing the Axis position in any way. Many in the goodwill work and some few in the school interpreted this as political in import, presumably believing that a position of complete neutrality, where both good and evil are concerned, was demanded of spiritually inclined people. Such people fail to think clearly and confuse an unwillingness to take sides with brotherly love, forgetting the words of the Christ that “he who is not with me is against me.” [785] Let me repeat what I have oft said before. The Hierarchy and all its members, including myself, love humanity but they will not endorse evil, aggression, cruelty and the imprisoning of the human soul. They stand for liberty, for opportunity for all to move forward along the way of light, for human welfare without discrimination, for kindness and the right of every man to think for himself, to speak and to work. Necessarily they cannot, therefore, endorse the nations or the people in any nation who are against human freedom and happiness. In Their love and Their grasp of circumstance, They know that in a later life or lives the majority of those who are now the enemies of human freedom will themselves be free and tread the Lighted Way. In the meantime, the entire force of the Hierarchy is thrown on the side of the nations struggling to free humanity, and on the side of those in any nation who thus work. If being on the side of goodness and freedom is deemed detrimental to the spiritual issues, then the Hierarchy will work to change the attitude of people as to what is spiritual.
Khi chiến tranh bùng nổ và toàn thế giới bị cuốn vào hỗn loạn, kinh hoàng, thảm họa, chết chóc và đau đớn, nhiều người có tinh thần đã muốn đứng ngoài cuộc đấu tranh. Họ không phải là đa số nhưng là thiểu số mạnh mẽ và ồn ào. Họ coi bất kỳ thái độ thiên vị nào là vi phạm luật về tinh thần huynh đệ và họ sẵn sàng hy sinh lợi ích của toàn nhân loại để hướng tới một thôi thúc tình cảm yêu thương tất cả mọi người theo một cách nào đó vốn yêu cầu họ không có hành động hoặc quyết định nào. Thay vì "đất nước tôi đúng hay sai", đó là "nhân loại, đúng hay sai." Khi tôi viết tập sách Khủng Hoảng Thế Giới Hiện Tại và các giấy tờ tiếp theo về tình hình thế giới, tôi tuyên bố rằng Huyền Giai ủng hộ lập trường và mục tiêu của Liên Quốc gia, chiến đấu vì tự do của toàn nhân loại và vì sự giải phóng của những người đau khổ. Điều này tất nhiên đưa Huyền Giai vào vị trí không ủng hộ bất kỳ cách nào lập trường Axis. Nhiều người trong công việc thiện chí và một số ít trong trường học diễn giải điều này như một ý nghĩa chính trị, giả sử tin rằng một vị trí của tính trung lập tuyệt đối, nơi mà cả tốt và xấu đều được quan tâm, là điều được yêu cầu bởi những người có khuynh hướng tinh thần. Những người như vậy không suy nghĩ rõ ràng và lẫn lộn sự không muốn chọn phe với tình yêu thương huynh đệ, quên đi những lời của Đức Christ rằng “kẻ nào không ở với Ta là chống lại Ta.” [785] Hãy để tôi lặp lại điều mà tôi đã thường nói trước đây. Huyền Giai và tất cả các thành viên của nó, bao gồm cả bản thân tôi, yêu thương nhân loại nhưng họ sẽ không ủng hộ ác độc, xâm lược, tàn bạo và việc cầm tù linh hồn con người. Các Ngài ủng hộ tự do, cho mọi người cơ hội để tiến bước trên con đường ánh sáng, vì phúc lợi nhân loại mà không phân biệt, vì lòng tốt và quyền của mỗi người được suy nghĩ cho chính mình, nói và làm việc. Do đó, các Ngài không thể, do đó, ủng hộ các quốc gia hoặc những người trong bất kỳ quốc gia nào chống lại tự do và hạnh phúc của nhân loại. Trong tình yêu và sự hiểu biết toàn diện của họ, họ biết rằng trong một cuộc sống hoặc những cuộc sống sau, phần lớn những người hiện là thù địch của sự tự do nhân loại sẽ tự do và đi trên Con Đường Soi Sáng. Trong thời gian này, toàn bộ lực lượng của Huyền Giai được đặt ở phía của các quốc gia đấu tranh để giải phóng nhân loại, và ở phía của những người trong bất kỳ quốc gia nào đang làm việc như vậy. Nếu việc đứng về phía tốt và tự do bị coi là gây tổn hại cho các vấn đề tinh thần, thì Huyền Giai sẽ làm việc để thay đổi thái độ của mọi người về điều gì là tinh thần.
I have, therefore, been interested in three phases of the work: the books, the Arcane School, and the New Group of World Servers. The impact made upon the world by these three aspects of the work has been definitely effective and useful. The sum total of the useful work accomplished is what counts and not the criticisms and the misunderstanding of those who, basically, belong to the old order, and to the Piscean Age. They are, therefore, unable to see the emergence of the new ways of life and the new approaches to truth.
Do đó, tôi đã quan tâm đến ba giai đoạn của công việc: các cuốn sách, Trường Arcane và Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian. Sự ảnh hưởng mà ba khía cạnh này của công việc đã gây ra đối với thế giới chắc chắn đã hiệu quả và hữu ích. Tổng cộng những công việc hữu ích được thực hiện mới là điều đếm và không phải là sự chỉ trích và sự hiểu lầm của những người, cơ bản, thuộc về trật tự cũ, và thời đại Song Ngư. Do đó, họ không thể thấy sự nổi lên của các cách sống mới và các tiếp cận mới đến chân lý.
I have stood all this time behind the scenes. The books and pamphlets have been my responsibility and carry the authority of truth—if truth is there—and not the authority of my name or of any status which I might claim, or which might be claimed for me by the curious, the inquisitive and the devotee. I have dictated none of the policies of the school or interfered in its curriculum; for them A.A.B. is responsible. My books and pamphlets have been made available to school students along with the rest of the general public.
Tôi đã đứng sau điều này suốt thời gian qua. Các sách và tập sách đã là trách nhiệm của tôi và mang lại thẩm quyền của chân lý—nếu có chân lý—và không phải là thẩm quyền của tên tôi hay của bất kỳ danh hiệu nào mà tôi có thể yêu cầu, hoặc điều có thể được yêu cầu cho tôi bởi những người tò mò, hay những người trung kiên. Tôi đã không đưa ra hoặc can thiệp trong bất kỳ chính sách nào của trường học; đối với chúng, A.A.B chịu trách nhiệm. Các sách và tập sách của tôi đã được cung cấp cho các học sinh trong trường cùng với phần còn lại của công chúng.
I have sought to aid the goodwill work (for which Foster Bailey is responsible) by suggestion and by indicating what is the work that the New Group of World Servers are seeking to [786] do, but no authoritative requests have been made in my name, nor will they ever be made. The sum total of all these activities has been good; the misunderstandings have been few and have been inherent in the personal equipment and attitude of the critical. Criticism is wholesome so long as it is not permitted to become destructive.
Tôi đã cố gắng giúp đỡ công việc thiện chí (mà Foster Bailey chịu trách nhiệm) bằng gợi ý và chỉ ra công việc mà Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian đang tìm cách [786] thực hiện, nhưng không có yêu cầu chính thức nào được đưa ra dưới danh nghĩa của tôi, cũng sẽ không bao giờ được đưa ra. Tổng cộng của tất cả những hoạt động này đã mang lại kết quả tốt; những sự hiểu lầm đã rất ít và xuất phát từ sự cứng nhắc và thái độ của những người phê bình. Sự chỉ trích là hữu ích miễn là nó không được phép trở thành phá hoại.
Paralleling these major activities, I have, since the year 1931, been training a group of men and women, scattered all over the world, in the techniques of accepted discipleship, academically understood. Out of the many possible neophytes, I indicated a group of approximately 45 people—some known personally to A.A.B. and some quite unknown—who had demonstrated a willingness to be trained and who could be tried out for fitness for the group work of the new discipleship. These people received direct personal instructions from me and certain general instructions which embodied the newer approach to the Hierarchy and to the spiritual life, though based, of course, on the ancient rules. Some of these instructions are made available to the general public in this book, but no indication is given of the persons thus trained and no information will be made available; names, dates and locations are changed, though the instructions remain as given.
Song song với những hoạt động chính này, tôi đã, kể từ năm 1931, đào tạo một nhóm nam và nữ, rải rác khắp thế giới, trong các kỹ thuật của sự chấp nhận đệ tử, được hiểu một cách học thuật. Trong số nhiều người sơ cơ có thể có, tôi đã chỉ rõ một nhóm khoảng 45 người—một số được A.A.B biết đến cá nhân và một số hoàn toàn vô danh—vốn đã thể hiện sự sẵn sàng được đào tạo và có thể được thử nghiệm về sự phù hợp cho công việc nhóm của địa vị đệ tử mới. Những người này đã nhận được hướng dẫn cá nhân trực tiếp từ tôi và một số hướng dẫn chung vốn chứa đựng cách tiếp cận mới đối với Huyền Giai và đời sống tinh thần, dù vẫn dựa, tất nhiên, trên các quy tắc cổ xưa. Một số hướng dẫn này được làm cho công chúng chung trong cuốn sách này có sẵn, nhưng không có chỉ định nào được đưa ra về những người đã được đào tạo như vậy và không có thông tin nào sẽ được cung cấp; tên, ngày tháng và địa điểm được thay đổi, mặc dù các hướng dẫn vẫn được giữ nguyên như đã truyền đạt.
Necessarily these people have, from their contact with me, ascertained my identity. They have known for years who I am. But they have preserved my anonymity with great care and under real difficulty, owing to the fact that hundreds of people in nearly every country in the world have speculated upon my identity and many of them have guessed it accurately. Therefore, today, in spite of all that A.A.B. and my disciples have been able to do, it is generally conceded that I am a Master and a name has been given to me. To my own group of specially picked aspirants I have acknowledged my name when they themselves had interiorly arrived at it. It was both foolish and false to do otherwise; in communicating with them or in writing instructions on the new discipleship, I necessarily took my rightful position and name. Some of these instructions have been deemed by me as useful and appropriate for more general use and were embodied in the series of papers upon the Stages of Discipleship issued under my name in The Beacon. They [787] were carefully edited, prior to publication, except in one paper when, some months ago under the pressure of very heavy work, A.A.B. omitted to delete one paragraph in which I do speak as a Master. This paragraph, much to her distress, appeared in the July 1943 Beacon. After many years of protecting my identity, she made this slip and it has, therefore, been publicly stated that I am a Master.
Người ta cần phải hiểu rằng, từ việc tiếp xúc với tôi, những người này đã xác định được danh tính của tôi. Họ đã biết tôi là ai trong suốt nhiều năm qua. Nhưng họ đã giữ kín danh tính của tôi rất cẩn thận và vô cùng khó khăn bởi thực tế rằng hàng trăm người ở hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đã suy đoán về danh tính của tôi và nhiều người trong số họ đã đoán đúng. Do đó, hôm nay, bất chấp tất cả những gì A.A.B. và các đệ tử của tôi làm được, người ta thường thừa nhận rằng tôi là một Chân sư và một cái tên đã được đặt cho tôi. Với nhóm những người chí nguyện đặc biệt được chọn lọc của tôi, tôi đã thừa nhận tên thật của mình khi chính họ đã tự nội tâm tìm ra. Làm khác đi sẽ là dại dột và giả dối; trong việc giao tiếp với họ hoặc viết chỉ thị về địa vị đệ tử mới, tôi nhất thiết phải xưng danh đúng và tên chính thức của mình. Một số trong những chỉ dẫn này đã được tôi xem là hữu ích và thích hợp để sử dụng rộng rãi hơn và đã được kết hợp trong loạt bài học về Các Giai Đoạn Đệ Tử phát hành dưới tên tôi trong tờ The Beacon. Chúng [787] đã được biên tập cẩn thận trước khi xuất bản, ngoại trừ một bài viết khi vài tháng trước dưới áp lực công việc rất nặng, A.A.B. đã quên xóa một đoạn trong đó tôi nói như một Chân sư. Đoạn này, làm Bà rất phiền muộn, đã xuất hiện trong số tháng 7 năm 1943 của Beacon. Sau nhiều năm bảo vệ danh tính của tôi, Bà đã mắc sai lầm này và do đó, đã được công khai rằng tôi là một Chân sư.
In this connection, there are three points to which I would like to call your attention.
Trong mối liên hệ này, có ba điểm tôi muốn lưu ý với quý vị.
Earlier—many years earlier—I stated in A Treatise on White Magic that I was an initiate of a certain standing but that my anonymity would be preserved. Years later, owing to this mistake, I am apparently in the position of contradicting or reversing myself, and so changing my policy. Actually I am not doing so. The spread of the teaching alters circumstances and the need of humanity demands at times a changed approach. There is nothing static in the evolution of truth. It has long been my intention to do all that was necessary to bring the fact of the Hierarchy and its membership more definitely before the public and in a more arresting way.
Trước đây—nhiều năm trước đây—tôi đã tuyên bố trong Luận về Chánh Thuật rằng tôi là một điểm đạo đồ có một địa vị nhất định nhưng danh tính của tôi sẽ được giữ kín. Nhiều năm sau, do lỗi lầm này, tôi dường như đang ở vị trí tự mâu thuẫn hoặc bác bỏ bản thân mình và do đó thay đổi chính sách của mình. Thực ra tôi không làm như vậy. Sự lan tỏa của giáo lý đã thay đổi hoàn cảnh và nhu cầu của nhân loại đôi khi đòi hỏi một cách tiếp cận thay đổi. Không có gì là bất biến trong quá trình tiến hóa của chân lý. Từ lâu, tôi đã có ý định làm mọi điều cần thiết để đem sự thật về Thánh đoàn và thành viên của nó ra trước công chúng một cách rõ ràng hơn và theo cách gây chú ý hơn.
Years ago, I definitely told A.A.B. (as did her own Master) that her major duty as a disciple was to familiarise the public with the true nature of the Masters of the Wisdom, and thus offset the erroneous impression which the public had received. This she has done to a certain degree but not to the full extent that was intended. She has shrunk from the task, owing to the disrepute into which the whole subject has fallen because of the false presentations given out by the various teachers and occult groups, plus the ridiculous claims put out by the ignorant about us. H.P.B., her predecessor, stated in certain instructions sent out to the Esoteric Section of the Theosophical Society that she bitterly regretted ever mentioning the Masters, Their names and functions. A.A.B. has been of the same opinion. The Masters, as portrayed in the Theosophical Society faintly resemble the reality; much good has been done by this testimony to Their existence, and much harm by the foolish detail at times imparted. They are not as pictured; They do not issue orders to Their followers (or rather devotees) to do thus and so, to form this or that organization, nor do They indicate [788] certain individuals as being of supreme importance and hierarchical status; They know full well that disciples, initiates and Masters are known by their works, their deeds and their words; they have to prove their status by the work they accomplish.
Nhiều năm trước, tôi đã nói rõ với A.A.B. (như vị Chân sư của bà đã làm) rằng nhiệm vụ chính của bà với tư cách là một đệ tử là làm cho công chúng quen thuộc với bản chất thực sự của các Chân sư Minh triết, và nhờ đó hóa giải ấn tượng sai lầm mà công chúng đã nhận được. Bà đã làm điều này ở một mức độ nhất định nhưng không hoàn toàn như đã định. Bà đã rút lui khỏi nhiệm vụ này do những sự việc tiêu cực mà toàn bộ chủ đề đã phải chịu đựng bởi các trình bày sai lầm từ các giáo viên và nhóm huyền bí khác nhau, cộng với những tuyên bố ngớ ngẩn do những kẻ vô tri đưa ra về chúng tôi. H.P.B., tiền bối của bà, đã nói trong các bài giảng được gửi ra Bộ Phận Nội Môn của Hội Thông Thiên Học rằng bà rất hối tiếc vì đã từng đề cập đến các Chân sư, danh xưng và chức năng của các Ngài. A.A.B. cũng có cùng ý kiến. Các Chân sư được miêu tả trong Hội Thông Thiên Học chỉ mờ nhạt so với thực tế; tuy vậy, nhiều điều tốt đã được làm từ chứng ngôn này cho sự tồn tại của các Ngài, và nhiều điều hại từ chi tiết ngớ ngẩn được truyền tải vào những lúc không thuận tiện. Các Ngài không phải như được miêu tả; Các Ngài không ra lệnh cho tín đồ (hay đúng hơn là những người sùng đạo) của mình phải thế này thế nọ, lập tổ chức này hay tổ chức kia, cũng không chỉ định [788] những cá nhân nào đó là có tầm quan trọng tối cao và vị thế trong Thánh đoàn; Các Ngài biết rõ rằng đệ tử, điểm đạo đồ và Chân sư được nhận biết qua công việc, hành động và lời nói của họ; họ phải chứng minh vị thế của mình qua công việc họ hoàn thành.
The Masters work through Their disciples in many organisations; They do not exact, through these disciples, the implicit obedience of the organisation members, nor do They exclude from the teaching those who disagree with the organisational policies or the interpretations of the leaders. They are not separative and antagonistic to the groups working under various disciples or other Masters, and any organisation in which the Masters are interested would be inclusive and not exclusive. They do not fight over personalities, endorsing this one or rejecting that one simply because the policies of an organisational leader are, or are not, upheld. They are not the spectacular and ill-bred people portrayed by the mediocre leaders of many groups, nor do They choose (for Their pledged disciples and prominent workers) men and women who, even from a worldly point of view, are of a pronounced inferiority or who deal in claim-making and in the art of attracting attention to themselves. To be a probationary disciple, one can be a devotee; the emphasis can then be laid on purification and the acquiring of an intelligent understanding of brotherhood and human need; to be an accepted disciple, working directly under the Masters and active in world work (with a growing influence) requires a mental polarisation, a heart development and a sense of real values.
Các Chân sư làm việc thông qua đệ tử của mình trong nhiều tổ chức; Các Ngài không yêu cầu, thông qua những đệ tử này, sự tuân phục tuyệt đối từ các thành viên tổ chức, cũng không loại trừ khỏi giáo lý những ai không đồng ý với chính sách tổ chức hoặc cách diễn giải của các lãnh đạo. Các Ngài không gây chia rẽ và đối nghịch với các nhóm làm việc dưới sự hướng dẫn của các đệ tử hoặc các Chân sư khác, và bất cứ tổ chức nào mà các Chân sư quan tâm sẽ mang tính bao gồm chứ không phải loại trừ. Họ không đấu tranh về cá nhân, không ủng hộ người này hay từ chối người kia chỉ vì chính sách của lãnh đạo tổ chức này được duy trì hay không. Các Ngài không phải là những người hiếu chiến và thiếu văn hóa được miêu tả bởi những lãnh đạo trung bình của nhiều nhóm, cũng không chọn (cho đệ tử trung thành và công nhân nổi bật của Ngài) những người và phụ nữ mà ngay cả từ quan điểm thế tục, cũng có sự thấp kém rõ rệt hoặc người tham gia vào việc đưa ra các tuyên bố và nghệ thuật thu hút sự chú ý cho bản thân. Để trở thành đệ tử dự bị, người ta có thể là một người sùng đạo; sự nhấn mạnh lúc này có thể đặt vào sự thanh lọc và có được sự thấu hiểu thông minh về tình huynh đệ và nhu cầu của nhân loại; để trở thành một đệ tử chấp nhận, làm việc trực tiếp dưới sự hướng dẫn của các Chân sư và hoạt động trong công việc thế giới (với sự ảnh hưởng ngày càng tăng) đòi hỏi sự phân cực trí tuệ, phát triển tâm hồn và nhận thức về giá trị thực.
Knowing all the above, and having watched the ill effects of the usual teaching given anent the Masters, A.A.B. has gone to extremes in order to present the true nature of the Hierarchy, its goals and personnel; she has sought to lay the emphasis—as does the Hierarchy itself—on humanity and on world service, and not on a group of Teachers who, even if They have transcended the usual personality problems and experience in the three worlds, are still in process of training and are preparing Themselves (under the tuition of the Christ) to tread “the Way of the Higher Evolution,” as it is called. The name given to us by some disciples in Tibet gives the clue to our point of attainment. They call the Hierarchy the “society of organised [789] and illumined Minds”—illumined by love and understanding, by deep compassion and inclusiveness, illumined by a knowledge of the plan and aiming to comprehend the purpose, sacrificing Their own immediate progress in order to help humanity. That is a Master.
Biết tất cả những điều trên, và sau khi quan sát những tác động xấu của giáo lý thông thường về các Chân sư, A.A.B. đã cố gắng hết sức để trình bày bản chất thực sự của Thánh đoàn, các mục tiêu và nhân sự của nó; bà đã nỗ lực để đặt trọng tâm—như chính Thánh đoàn làm—vào nhân loại và phụng sự thế giới, chứ không phải vào một nhóm các Huấn sư, những người dù đã vượt qua các vấn đề và kinh nghiệm thông thường của cá nhân trong ba cõi, vẫn đang trong quá trình đào luyện và chuẩn bị Chính Mình (dưới sự chỉ dẫn của Đức Christ) để bước vào “Con đường Tiến Hóa Cao Siêu”, như nó được gọi. Tên gọi chúng tôi được một số đệ tử ở Tây Tạng dùng đã tiết lộ mức độ đạt được của chúng tôi. Họ gọi Thánh đoàn là “hội những Thể Trí có tổ chức và minh triết”[789]—minh triết bởi tình thương và thấu hiểu, bởi lòng từ bi sâu sắc và tính bao gồm, minh triết bởi kiến thức về kế hoạch và nhằm thấu hiểu mục đích, hy sinh tiến bộ cá nhân để giúp đỡ nhân loại. Đó là một Chân sư.
The second point I would make is in the form of a question. What harm does it do if some one points the finger towards a Master and recognises Him as such, provided His record substantiates the statement and His influence is worldwide? If by this inadvertent slip, A.A.B. has thus indicated me as a Master, has any harm been done? My books, the carriers of my influence, have gone to the far corners of the earth and convey aid and help; the goodwill work which I suggested, and which F.B. is carrying out voluntarily, has reached literally millions of people by pamphlet and radio, by the use of the great Invocations, by the work of the Triangles and by the words and example of the men and women of goodwill.
Điểm thứ hai tôi muốn đưa ra là dưới hình thức một câu hỏi. Có hại gì không nếu ai đó chỉ vào một Chân sư và thừa nhận Ngài như vậy, miễn là hồ sơ thành tích của Ngài chứng minh điều đó và ảnh hưởng của Ngài là toàn cầu? Nếu do sai lầm tình cờ này, A.A.B. đã chỉ định tôi là một Chân sư, có hại gì không? Những cuốn sách của tôi, những người mang ảnh hưởng của tôi, đã lan đến mọi góc của trái đất và cung cấp sự giúp đỡ và hỗ trợ; công việc thiện chí mà tôi đề xuất, và F.B. đang thực hiện một cách tự nguyện, đã đến được hàng triệu người thông qua tờ rơi và sóng vô tuyến, bằng việc sử dụng Đại Khấn Nguyện, bằng công việc của các Tam giác và bằng lời nói và gương mẫu của những người nam và nữ có thiện chí.
The third point I would bring to your attention is that in the new cycle which will come at the close of the war, the fact of the Hierarchy and the work of the Masters—through Their disciples—must and will be brought to public attention. Disciples everywhere will present increasingly the hierarchical plan of brotherhood, spiritual living and inclusiveness to the world; this will be done not in terms (so prevalent among the foolish) of “The Master has chosen me,” or “the Master stands behind my effort” or “I am the representative of the Hierarchy” but by a life of service, by indicating that the Masters exist and are known to many men everywhere; that the plan is one of evolutionary development and educational progress towards an intelligent spiritual goal; that humanity is not alone but that the Hierarchy stands, that Christ is with His people, that the world is full of disciples unrecognised because silently working; that the New Group of World Servers exists; that the men and women of goodwill are everywhere; that the Masters are not the least interested in personalities but will use men and women of all attitudes, faiths, and nationalities, provided that love motivates them, that they are intelligent and have trained minds and that they have also magnetic and radiant influences which will attract people to truth and goodness but not to the individual—[790] be he a Master or a disciple. They care nothing for personal loyalties but are dedicated solely to the relief of distress and the promotion of the evolution of humanity and the indication of spiritual goals. They look not for recognition of Their work or the praise of Their contemporaries but only for the growth of the light within the world and the unfoldment of the human consciousness.
Điểm thứ ba tôi muốn lưu ý với bạn là trong chu kỳ mới sẽ đến vào cuối cuộc chiến, sự thật về Thánh đoàn và công việc của các Chân sư—thông qua các đệ tử của Ngài—nhất định và sẽ được đưa ra trước công chúng. Các đệ tử ở khắp nơi sẽ ngày càng trình bày kế hoạch của Thánh đoàn về tình huynh đệ, đời sống tinh thần và tính bao gồm cho thế giới; điều này sẽ không được thực hiện bằng những lời nói (thường gặp ở những người ngu ngốc) như “Chân sư đã chọn tôi”, hay “Chân sư đứng đằng sau nỗ lực của tôi” hay “Tôi là đại diện của Thánh đoàn” mà bằng một cuộc sống phụng sự, bằng việc chỉ ra rằng các Chân sư tồn tại và được nhiều người biết đến ở khắp mọi nơi; rằng kế hoạch là một kế hoạch của sự phát triển tiến hóa và tiến bộ giáo dục hướng tới một mục tiêu tâm linh thông minh; rằng nhân loại không đơn độc mà rằng Thánh đoàn vẫn đứng đó, rằng Đức Christ ở cùng dân Ngài, rằng thế giới đầy rẫy những đệ tử không được công nhận vì làm việc âm thầm; rằng Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian có tồn tại; rằng những người nam và nữ có thiện chí có mặt ở khắp mọi nơi; rằng các Chân sư không hề quan tâm đến cá nhân nhưng sẽ sử dụng những người nam và nữ ở mọi thái độ, niềm tin và quốc tịch, miễn là tình thương thúc đẩy họ, rằng họ thông minh và có trí tuệ đã được đào luyện và rằng họ cũng có lực từ tính và ảnh hưởng tỏa sáng có thể thu hút mọi người đến với sự thật và cái thiện nhưng không đến với cá nhân—[790]dù đó là Chân sư hay một đệ tử. Các Ngài không màng đến sự trung thành cá nhân nhưng chỉ dốc sức giảm bớt đau khổ và thúc đẩy tiến hóa của nhân loại và chỉ rõ các mục tiêu tinh thần. Các Ngài không tìm kiếm sự công nhận công việc của các Ngài hay sự ca tụng của các đồng nghiệp cùng thời nhưng chỉ tìm kiếm sự gia tăng ánh sáng bên trong thế giới và sự phát triển của tâm thức nhân loại.
THE TIBETAN
CHÂN SƯ TÂY TẠNG
The sons of men are one, and I am one with them.
Những người con của nhân loại là một và tôi là một với họ.
I seek to love, not hate;
Tôi tìm cách yêu thương, không thù ghét;
I seek to serve and not exact due service;
Tôi tìm cách phụng sự và không đòi hỏi sự phục vụ;
I seek to heal, not hurt.
Tôi tìm cách chữa lành, không gây tổn thương.
Let pain bring due reward of light and love.
Hãy để nỗi đau mang lại phần thưởng xứng đáng của ánh sáng và tình thương.
Let the soul control the outer form,
Cầu xin linh hồn kiểm soát ngoại thể,
And life, and all events,
Và sự sống, và mọi sự kiện,
And bring to light the Love
Và làm sáng tỏ Tình Thương
That underlies the happenings of the time.
Vốn ẩn chứa trong các diễn biến hiện thời.
Let vision come and insight.
Cầu xin tầm nhìn đến cùng sự thông hiểu.
Let the future stand revealed.
Cầu xin tương lai tỏ rõ.
Let inner union demonstrate and outer cleavages be gone.
Cầu xin sự kết hợp nội tâm biểu dương và sự chia cắt bên ngoài tan biến.
Let love prevail.
Cầu xin tình thương chế ngự.
Let all men love.
Cầu xin mọi người yêu thương.