Dreams & Visions
By Edgar Cayce
A.R.E. Press • Virginia Beach • Virginia
Copyright © 2008 by the Edgar Cayce Foundation
1st Printing, March 2009
Printed in the U.S.A.
All rights reserved. No part of this book may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher.
A.R.E. Press
215 67th Street
Virginia Beach, VA 23451-2061
ISBN-13: 978-0-87604-546-6 (trade pbk.)
Edgar Cayce Readings © 1971, 1993-2007 by the Edgar Cayce Foundation. All rights reserved.
Cover design by Richard Boyle
Table of Contents
Table of Contents3
Foreword Who Was Edgar Cayce?4
An Explanation of Cayce’s Discourses6
An Overview of Edgar Cayce on Dreams and Visions10
129
Cayce on Sleep and Dreams—Cayce bàn về Giấc ngủ và Giấc mơ29
248
Receiving Life Guidance in Dreams—Đón nhận chỉ dẫn cho đời sống trong giấc mơ48
379
Dreams and ESP—Giấc mơ và Ngoại Cảm79
489
Dreams, Visions, and Spiritual Growth—Giấc mơ, Thị kiến, và Sự Trưởng thành Tinh thần90
5—112
Communication with the Dead in Dreams—Giao tiếp với người đã khuất trong giấc mơ112
6—128
The Dreams of Edgar Cayce—Những Giấc Mơ của Edgar Cayce128
Foreword Who Was Edgar Cayce?
Edgar Cayce (1877-1945) has been called “the sleeping prophet,” “the father of holistic medicine,” “the miracle man of Virginia Beach,” and “the most documented psychic of all time.” For forty-three years of his adult life, he had the ability to put himself into some kind of self-induced sleep state by lying down on a couch, closing his eyes, and folding his hands over his stomach. This state of relaxation and meditation enabled him to place his mind in contact with all time and space and to respond to any question he was asked. His responses came to be called “readings” and contain insights so valuable that, even to this day, Cayce’s work is known throughout the world. Hundreds of books have explored his amazing psychic gift, and the entire range of Cayce material is accessed by tens of thousands of people daily via the Internet.
Edgar Cayce (1877-1945) được gọi là “nhà tiên tri trong giấc ngủ,” “cha đẻ của y học toàn diện,” “người đàn ông kỳ diệu của Virginia Beach,” và “nhà thông linh được ghi chép đầy đủ nhất từ trước đến nay.” Trong bốn mươi ba năm của đời trưởng thành, Ông có khả năng đưa mình vào một trạng thái ngủ do tự gợi bằng cách nằm trên ghế dài, nhắm mắt, và chắp tay trên bụng. Trạng thái thư giãn và tham thiền này cho phép Ông đặt thể trí của mình tiếp xúc với mọi thời gian và không gian và đáp ứng bất kỳ câu hỏi nào được nêu ra. Những đáp ứng ấy về sau được gọi là “các bài đọc” và chứa đựng những tuệ kiến quý giá đến mức cho đến tận ngày nay, công trình của Cayce vẫn được biết đến khắp thế giới. Hàng trăm cuốn sách đã khảo sát năng lực thông linh kỳ diệu của Ông, và toàn bộ kho tư liệu Cayce được hàng chục nghìn người truy cập mỗi ngày qua Internet.
Although the vast majority of the Cayce material deals with health and every manner of illness, countless topics were explored by Cayce’s psychic talent: dreams, philosophy, intuition, business advice, the Bible, education, child rearing, ancient civilizations, personal spirituality, improving human relationships, and much more. In fact, during Cayce’s lifetime he discussed an amazing ten thousand different subjects!
Dù phần rất lớn tư liệu Cayce đề cập đến sức khỏe và mọi dạng bệnh tật, vô số chủ đề khác cũng được Ông khai mở bằng năng lực thông linh: giấc mơ, triết học, trực giác, tư vấn kinh doanh, Kinh Thánh, giáo dục, nuôi dạy trẻ, các nền văn minh cổ, tinh thần cá nhân, cải thiện các mối quan hệ con người, và còn nhiều nữa. Thực vậy, trong suốt cuộc đời, Cayce đã bàn luận một con số đáng kinh ngạc: mười nghìn chủ đề khác nhau!
The Cayce legacy presents a body of information so valuable that Edgar Cayce himself might have hesitated to predict its impact on contemporary society. Who could have known that eventually, terms such as meditation, auras, spiritual growth, reincarnation, and holism would become household words to millions? Edgar Cayce’s A.R.E. (the Association for Research and Enlightenment, Inc.) has grown from its humble beginnings to an association with Edgar Cayce Centers in countries around the world. Today the Cayce organizations consist of hundreds of educational activities and outreach programs, children’s camps, a multimillion-dollar publishing company, membership benefits and services, volunteer contacts and programs worldwide, massage and health services, prison and prayer outreach programs, conferences and workshops, and affiliated schools (Atlantic University and the Cayce/Reilly School of Massotherapy).
Di sản Cayce trình bày một thân học liệu quý báu đến mức chính Edgar Cayce có lẽ cũng ngần ngại tiên liệu tác động của nó đối với xã hội đương đại. Ai có thể biết rằng rốt cục, các thuật ngữ như tham thiền, hào quang, tăng trưởng tinh thần, luân hồi và toàn nguyên học sẽ trở thành những từ quen thuộc với hàng triệu người? A.R.E. của Edgar Cayce (Hiệp hội Nghiên cứu và Khai Sáng) đã lớn mạnh từ khởi đầu khiêm tốn thành một hiệp hội có các Trung tâm Edgar Cayce tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, các tổ chức Cayce bao gồm hàng trăm hoạt động giáo dục và chương trình tiếp cận cộng đồng, trại thiếu nhi, một công ty xuất bản trị giá hàng triệu đô, các quyền lợi và dịch vụ dành cho hội viên, mạng lưới thiện nguyện và chương trình toàn cầu, các dịch vụ xoa bóp và sức khỏe, các chương trình hướng tới nhà tù và cầu nguyện, hội thảo và khóa tu, cùng các trường liên kết (Đại học Atlantic và Trường Cayce/Reilly về Liệu pháp xoa bóp).
Edgar Cayce was born and reared on a farm near Hopkinsville, Kentucky. He had a normal childhood in many respects. However, he could see the glowing energy patterns that surround individuals. At a very early age he also told his parents that he could see and talk with his grandfather—who was deceased. Later, he developed the ability to sleep on his schoolbooks and retain a photographic memory of their entire contents.
Edgar Cayce sinh ra và lớn lên trên một trang trại gần Hopkinsville, Kentucky. Tuổi thơ của Ông bình thường ở nhiều phương diện. Tuy nhiên, Ông có thể thấy các mô thức năng lượng phát sáng bao quanh mỗi người (hào quang). Từ rất sớm, Ông cũng nói với cha mẹ rằng Ông có thể gặp gỡ và trò chuyện với ông nội—người đã qua đời. Về sau, Ông phát triển khả năng ngủ trên sách học và giữ được trí nhớ ảnh toàn bộ nội dung.
Eventually, he met and fell in love with Gertrude Evans, who would become his wife. Shortly thereafter, he developed a paralysis of the vocal cords and could scarcely speak above a whisper. Everything was tried, but no physician was able to locate a cause. The laryngitis persisted for months. As a last resort, hypnosis was tried. Cayce put himself to sleep and was asked by a specialist to describe the problem. While asleep, he spoke normally, diagnosing the ailment and prescribing a simple treatment. After the recommendations were followed, Edgar Cayce could speak normally for the first time in almost a year! The date was March 31, 1901—that was the first reading.
Rốt cuộc, Ông gặp và yêu Gertrude Evans, người sau này trở thành vợ Ông. Không lâu sau đó, Ông bị liệt dây thanh quản và hầu như chỉ nói được thì thào. Mọi cách đã được thử, nhưng không bác sĩ nào tìm ra nguyên nhân. Tình trạng viêm thanh quản kéo dài nhiều tháng. Như một biện pháp cuối cùng, thôi miên được thử. Cayce tự đưa mình vào giấc ngủ và được một chuyên gia yêu cầu mô tả vấn đề. Trong khi ngủ, Ông nói bình thường, chẩn đoán bệnh và kê một cách điều trị đơn giản. Sau khi làm theo khuyến nghị, Edgar Cayce có thể nói bình thường lần đầu tiên sau gần một năm! Ngày ấy là 31 tháng 3 năm 1901—đó là bài đọc đầu tiên.
When it was discovered what had happened, many others began to want help. It was soon learned that Edgar Cayce could put himself into this unconscious state and give readings for anyone—regardless of where he or she was. If the advice was followed, the individual got well. Newspapers throughout the country carried articles about his work, but it wasn’t really until Gertrude was stricken with tuberculosis that the readings were brought home to him. Even with medical treatments, she continued to grow worse and was not expected to live. Finally, the doctors said there was nothing more they could do. A reading was given and recommended osteopathy, inhalants, enemas, dietary changes, and prescription medication. The advice was followed and Gertrude returned to perfectly normal health! For decades, the Cayce readings have stood the test of time, research, and extensive study. Further details of Cayce’s life and work are explored in such classic books as There Is a River (1942) by Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) by Jess Stearn, Many Mansions (1950) by Gina Cerminara, and Edgar Cayce: An American Prophet (2000) by Sidney Kirkpatrick.
Khi sự việc được biết đến, nhiều người khác bắt đầu tìm đến nhờ giúp đỡ. Người ta sớm biết rằng Edgar Cayce có thể tự đưa mình vào trạng thái vô thức này và đưa ra bài đọc cho bất kỳ ai—bất kể họ ở đâu. Nếu lời khuyên được làm theo, người đó khỏi bệnh. Báo chí khắp nước đưa tin về công việc của Ông, nhưng phải đến khi Gertrude mắc bệnh lao thì những bài đọc mới thật sự chạm đến Ông. Dù đã điều trị y khoa, tình trạng của bà vẫn tệ hơn và không kỳ vọng sống được. Cuối cùng, bác sĩ nói họ không còn gì để làm. Một bài đọc được thực hiện và khuyến nghị nắn xương, hít xông, thụt tháo, thay đổi chế độ ăn và dùng thuốc theo đơn. Làm theo lời khuyên, Gertrude trở lại sức khỏe hoàn toàn bình thường! Trong nhiều thập kỷ, các bài đọc của Cayce đã đứng vững trước thử thách của thời gian, nghiên cứu và khảo cứu sâu rộng. Các chi tiết thêm về đời và công trình của Cayce được khai triển trong những tác phẩm kinh điển như There Is a River (1942) của Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) của Jess Stearn, Many Mansions (1950) của Gina Cerminara, và Edgar Cayce: An American Prophet (2000) của Sidney Kirkpatrick.
Throughout his life, Edgar Cayce claimed no special abilities, nor did he ever consider himself to be some kind of twentieth-century prophet. The readings never offered a set of beliefs that had to be embraced but instead focused on the fact that each person should test in his or her own life the principles presented. Though Cayce himself was a Christian and read the Bible from cover to cover for every year of his life, his work was one that stressed the importance of comparative study among belief systems all over the world. The underlying principle of the readings is the oneness of all life, a tolerance for all people, and a compassion and understanding for every major religion in the world.
Suốt đời, Edgar Cayce không nhận là mình có năng lực đặc biệt, cũng không xem mình là một nhà tiên tri thế kỷ hai mươi. Các bài đọc không đưa ra một hệ tín điều buộc phải chấp nhận, mà nhấn mạnh rằng mỗi người nên tự thử nghiệm trong đời sống của chính mình các nguyên tắc được trình bày. Dù bản thân Cayce là một tín hữu Cơ Đốc và đọc Kinh Thánh từ đầu đến cuối mỗi năm trong đời, công trình của Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc so sánh đối chiếu giữa các hệ thống niềm tin trên khắp thế giới. Nguyên lý nền tảng của các bài đọc là tính nhất thể của mọi sự sống, lòng khoan dung với mọi người, và sự cảm thông cùng thấu hiểu dành cho mọi tôn giáo lớn trên thế giới.
An Explanation of Cayce’s Discourses
Edgar Cayce dictated all of his discourses from a self-induced trance. A stenographer took his discourses down in shorthand and later typed them. Copies were sent to the person or persons who had requested the psychic reading, and one was put into the files of the organization that built up around Cayce over the years: the Association for Research and Enlightenment (better known as the A.R.E.).
Edgar Cayce đọc lời tất cả các bài giảng của mình từ một trạng thái xuất thần do tự gợi. Một tốc ký viên ghi các bài giảng bằng tốc ký rồi sau đó đánh máy lại. Bản sao được gửi đến người hay những người đã yêu cầu bài đọc thông linh, và một bản được lưu vào hồ sơ của tổ chức hình thành quanh Cayce theo thời gian: Hiệp hội Nghiên cứu và Khai Sáng (thường được biết đến là A.R.E.).
In his normal consciousness, Edgar Cayce spoke with a Southern accent but in the same manner as any other American. However, from the trance state, he spoke in the manner of the King James Bible, using “thees” and “thous.” In trance, his syntax was also unusual. He put phrases, clauses, and sentences together in a manner that slows down any reader and requires careful attention in order to be sure of his meaning. This caused his stenographer to adopt some unusual punctuation in order to put into sentence form some of the long, complex thoughts conveyed by Cayce while in trance. Also, many of his discourses are so jampacked with information and insights that it requires that one slow down and read more carefully in order to fully understand what he is intending.
Trong tâm thức bình thường, Edgar Cayce nói với giọng miền Nam nhưng giống như bất kỳ người Mỹ nào khác. Tuy nhiên, trong trạng thái xuất thần, Ông nói theo văn phong Kinh Thánh King James, sử dụng các đại từ cổ. Khi xuất thần, cú pháp của Ông cũng khác lạ. Ông ghép các ngữ đoạn, mệnh đề và câu theo cách làm chậm nhịp đọc và đòi hỏi phải chú tâm để nắm chắc ý nghĩa của Ông. Điều này khiến tốc ký viên phải dùng dấu câu hơi khác thường để chuyển một số tư tưởng dài và phức tạp mà Cayce truyền đạt trong trạng thái xuất thần thành hình thức câu. Đồng thời, nhiều bài giảng của Ông dồn nén quá nhiều thông tin và tuệ kiến đến mức người đọc cần giảm nhịp và đọc kỹ hơn để hiểu trọn những điều Ông muốn truyền tải.
From his trance state, Cayce explained that he got his information from two sources: (1) the inquiring individual’s mind, mostly from his or her deeper, subconscious mind and (2) from the Universal Consciousness, the infinite mind within which the entire universe is conscious. He explained that every action and thought of every individual makes an impression upon the Universal Consciousness, an impression that can be psychically read. He correlated this with the Hindu concept of an Akashic Record, which is an ethereal, fourth-dimensional film upon which actions and thoughts are recorded and can be read at any time.
Từ trạng thái xuất thần, Cayce giải thích rằng Ông nhận thông tin từ hai nguồn: (1) tâm trí của người đặt câu hỏi, chủ yếu là từ phần sâu hơn, tức tiềm thức của người đó; và (2) từ Tâm thức Vũ Trụ, tức trí tuệ vô hạn trong đó toàn thể vũ trụ có tính tâm thức. Ông giải thích rằng mọi hành động và tư tưởng của mỗi cá nhân đều khắc một ấn tượng lên Tâm thức Vũ Trụ, một ấn tượng có thể được đọc bằng năng lực thông linh. Ông liên hệ điều này với khái niệm Ấn giáo về Ký lục Akashic, tức một “cuộn phim” dĩ thái bốn chiều, trên đó các hành vi và tư tưởng được ghi lại và có thể được đọc bất kỳ lúc nào.
When giving one of his famous health readings, called physical readings, Cayce acted as if he were actually scanning the entire body of the person, from the inside out! He explained that the subconscious mind of everyone contains all of the data on the condition of the physical body it inhabits, and Cayce simply connected with the patient’s deeper mind. He could also give the cause of the condition, even if it was from early childhood or from many lifetimes ago in a previous incarnation of the soul. This was knowable because the soul remembers all of its experiences. He explained that deeper portions of the subconscious mind are the mind of the soul, and portions of the subconscious and the soul inhabit the body with the personality.
Khi thực hiện một trong những bài đọc sức khỏe nổi tiếng, gọi là bài đọc thể chất, Cayce hành xử như thể Ông thật sự đang quét toàn thân thể của người đó, từ trong ra ngoài! Ông giải thích rằng tiềm thức của mỗi người chứa toàn bộ dữ liệu về tình trạng thân thể mà nó cư trú, và Cayce chỉ đơn giản kết nối với phần sâu hơn của tâm trí bệnh nhân. Ông cũng có thể nêu nguyên nhân của tình trạng ấy, ngay cả khi bắt nguồn từ thời thơ ấu hoặc từ rất nhiều kiếp sống trước trong một lần nhập thể trước của linh hồn. Điều này khả tri vì linh hồn ghi nhớ tất cả kinh nghiệm của nó. Ông giải thích rằng những phần sâu hơn của tiềm thức chính là tâm trí của linh hồn, và những phần của tiềm thức cùng linh hồn cư trú trong thân thể với phàm ngã.
In life readings and topic readings, Cayce also connected with the subconscious minds of those inquiring as well as the Universal Consciousness.
Trong các bài đọc về tiền kiếp và các bài đọc theo chủ đề, Cayce cũng kết nối với các tiềm thức của người đặt vấn đề, đồng thời với Tâm thức Vũ Trụ.
Occasionally, Cayce would not have the material being requested, and he would say, “We do not have that here.” This implied that Cayce’s mind was more directed than one might think. He was not open to everything. From trance, he explained that the suggestion given at the beginning of one of his psychic readings so directed his deeper mind and focused it on the task or subject requested that he truly did not have other topics available. However, on a few occasions, he seemed able to shift topics in the middle of a reading.
Đôi khi, Cayce không có chất liệu được yêu cầu, và Ông sẽ nói: “Chúng tôi không có điều đó ở đây.” Điều này hàm ý rằng tâm trí của Cayce được định hướng hơn ta tưởng. Ông không mở toang với mọi thứ. Từ trạng thái xuất thần, Ông giải thích rằng gợi ý được đưa ra ở đầu mỗi bài đọc thông linh đã điều hướng phần sâu hơn của tâm trí Ông và tập trung nó vào nhiệm vụ hay chủ đề được yêu cầu đến mức Ông thật sự không có sẵn các chủ đề khác. Tuy vậy, một vài lần, Ông dường như có thể chuyển chủ đề giữa chừng một bài đọc.
The typed readings have a standard format. Numbers were used in the place of the name of the person or persons receiving the reading, and a dash system kept track of how many readings the person had received. For example, reading 137-5 was the fifth reading for Mr. [137]. At the top of each reading is the reading number, the date and location, as well as the names or numbers (for privacy) of those in attendance. Occasionally the stenographer would include a note about other conditions, such as the presence of a manuscript that Cayce, in trance, was supposed to view psychically and comment on. In many cases, I left in the entire format of a recorded reading, but sometimes only a paragraph or two were pertinent to our study, and then I only give the reading number.
Các bài đọc đánh máy có một định dạng chuẩn. Con số được dùng thay cho tên người nhận bài đọc, và một hệ thống gạch nối ghi số lần người đó đã nhận bài đọc. Chẳng hạn, bài đọc 137-5 là bài đọc thứ năm cho Ông [137]. Ở đầu mỗi bài đọc là số bài đọc, ngày tháng và địa điểm, cũng như tên hay số (vì quyền riêng tư) của những người có mặt. Thỉnh thoảng, tốc ký viên sẽ ghi chú về các điều kiện khác, như sự hiện diện của một bản thảo mà Cayce, trong trạng thái xuất thần, được cho là sẽ “xem” bằng thông linh và bình luận. Trong nhiều trường hợp, tôi giữ nguyên toàn bộ định dạng của bài đọc đã ghi, nhưng đôi khi chỉ một hai đoạn thích đáng với việc nghiên cứu của chúng ta, khi đó tôi chỉ nêu số bài đọc.
As I explained, Cayce dictated all of these discourses while he was in trance. In most cases, he spoke in a monotone voice. However, he would sometimes elevate his volume when saying a word or phrase. In these instances, his stenographer usually typed these words with all-capital letters, to give the reader some sense of Cayce’s increased volume. These all-capital letters have been changed to italic typeface for readability as well as emphasis. In many cases, these words appear to be rightly accentuated in Cayce’s discourses. However, in some cases, it is not clear why he raised his voice.
Như tôi đã giải thích, Cayce đọc lời tất cả các bài giảng này khi Ông xuất thần. Phần lớn, Ông nói bằng giọng đơn điệu. Tuy nhiên, đôi khi Ông nâng âm lượng khi nói một từ hay ngữ đoạn. Trong những trường hợp này, tốc ký viên thường gõ các từ đó bằng CHỮ IN HOA, để người đọc cảm nhận phần nào âm lượng tăng lên của Cayce. Các chữ IN HOA này đã được chuyển sang kiểu chữ nghiêng để dễ đọc cũng như nhấn mạnh. Trong nhiều trường hợp, các từ này dường như được nhấn đúng chỗ trong các bài giảng của Cayce. Tuy nhiên, đôi lúc không rõ vì sao Ông nâng giọng.
Another style that the stenographer adopted was to capitalize all of the letters in Cayce’s many affirmations (positive-thought or prayerlike passages to be used by the recipient as a tool for focusing or raising consciousness). I have also changed these to upper- and lower-case letters and italicized them. Questions asked of Cayce in these readings have also been italicized for easier reference.
Một phong cách khác mà tốc ký viên áp dụng là viết hoa toàn bộ các chữ trong nhiều lời khẳng định của Cayce (những đoạn tư tưởng tích cực hoặc tựa như cầu nguyện để người nhận dùng như một khí cụ tập trung hay nâng cao tâm thức). Tôi cũng chuyển các đoạn này sang kiểu chữ thường-hoa xen kẽ và in nghiêng. Các câu hỏi dành cho Cayce trong những bài đọc này cũng được in nghiêng để dễ tham chiếu.
Whenever his stenographer was not sure if she had written down the correct word or thought that she might have missed or misunderstood a word, she inserted suggested words, comments, and explanations in brackets. If she knew of another reading that had similar material or that was being referred to during this reading, she would put the reading number in brackets. Within the text of a reading, all parentheses are asides made by Cayce while in trance, not by his stenographer. She only used brackets with the text of a reading. In the preliminary material, she used parentheses in the normal manner.
Bất cứ khi nào tốc ký viên không chắc đã ghi đúng từ, hoặc nghĩ rằng có thể mình bỏ lỡ hay hiểu sai một từ, bà sẽ chèn những từ gợi ý, bình luận và giải thích trong ngoặc vuông. Nếu bà biết có một bài đọc khác có chất liệu tương tự hoặc được nhắc đến trong bài đọc này, bà sẽ ghi số bài đọc trong ngoặc vuông. Trong phần nội dung của một bài đọc, mọi dấu ngoặc đơn là lời chú thích chen ngang do Cayce nói khi xuất thần, không phải của tốc ký viên. Bà chỉ dùng ngoặc vuông với phần nội dung bài đọc. Còn trong phần dẫn nhập, bà dùng ngoặc đơn theo cách thông thường.
A few common abbreviations use in these discourses were: “GD” for Gladys Davis, the primary stenographer, “GC” for Gertrude Cayce, Edgar’s wife and the predominant conductor of the readings, MHB for Morton H. Blumenthal, an occasional conductor of the readings, and “EC” for Edgar Cayce.
Một vài chữ viết tắt thường dùng trong các bài giảng này là: “GD” cho Gladys Davis, tốc ký viên chính; “GC” cho Gertrude Cayce, vợ Edgar và là người điều khiển chủ yếu các bài đọc; “MHB” cho Morton H. Blumenthal, một người đôi khi điều khiển; và “EC” cho Edgar Cayce.
John Van Auken xiii
John Van Auken xiii
An Overview of Edgar Cayce on Dreams and Visions
P erhaps the most striking claim made in the Cayce readings is Cayce’s repeated assertion that anyone can do what he did—and we can best begin with our own dreams.
Có lẽ tuyên bố ấn tượng nhất trong các bài đọc của Cayce là khẳng định lặp đi lặp lại của Ông rằng ai cũng có thể làm những gì Ông đã làm—và chúng ta có thể bắt đầu tốt nhất với chính những giấc mơ của mình.
Drawing upon his intimate work with Edgar Cayce, Harman Bro, in his book Edgar Cayce on Dreams, states, “The claim that anyone could do, in some measure, what Edgar Cayce did, may well have been the boldest claim he ever made. But he did not let the claim hang in the air. [Cayce] gave people a laboratory where they could investigate the claim for themselves. He urged them to recall and study their dreams. In dreams, he said, people could experience for themselves every important kind of psychic phenomenon, and every level of helpful psychological and religious counsel. What is more, they could, through dreams, learn the laws of these things and undergo a spontaneous and tailored dream-training program in the use of these laws—provided that in their waking life they put to constructive use everything they learned in the dreams.”
Dựa trên kinh nghiệm làm việc mật thiết với Edgar Cayce, Harman Bro, trong cuốn Edgar Cayce on Dreams, viết: “Khẳng định rằng ai cũng có thể, ở một mức độ nào đó, làm điều Edgar Cayce đã làm, có lẽ là lời quả quyết táo bạo nhất Ông từng nói. Nhưng Ông không để lời khẳng định đó lơ lửng. [Cayce] đã trao cho mọi người một phòng thí nghiệm để họ có thể tự khảo nghiệm khẳng định ấy. Ông thúc giục họ hồi tưởng và nghiên cứu các giấc mơ của mình. Trong giấc mơ, Ông nói, con người có thể tự mình trải nghiệm mọi loại hiện tượng thông linh quan trọng, và mọi tầng nấc của lời khuyên hữu ích về tâm lý và tôn giáo. Hơn thế nữa, qua giấc mơ, họ có thể học các định luật của những điều ấy và trải qua một chương trình huấn luyện bằng mộng mị—tự phát và thích nghi riêng—để sử dụng các định luật ấy—với điều kiện là trong đời sống tỉnh thức họ đem tất cả những gì học được trong mơ ra ứng dụng một cách xây dựng.”
It was Cayce’s avowal that all of the insights and information that arose in his dream, topic, medical, and life readings, including information drawn from past lives and extra-sensory sources, were capable of investigation in the individual’s dreams—if the dreamer needed it and could understand it. At the very least, the dreamer who sought it would find direction where to get help, when, and why, both personally and for loved ones.
Cayce quả quyết rằng mọi tuệ kiến và thông tin xuất hiện trong các bài đọc về mơ mộng, chủ đề, y học và đời sống của Ông, bao gồm thông tin rút ra từ các tiền kiếp và các nguồn ngoại cảm, đều có thể khảo cứu trong giấc mơ của từng người—nếu người mơ cần nó và có thể thấu hiểu nó. Tối thiểu, người mơ khi tìm cầu sẽ tìm thấy chỉ dẫn về nơi cần đến để được giúp đỡ, khi nào và vì sao, cho bản thân lẫn những người thương.
Cayce viewed consciousness as multi-layered. First is the level of consciousness experienced in everyday awareness. Then comes the level of the subconscious, or what Cayce called the “subconscious forces.” According to Elsie Sechrist, in her book Dreams: Your Magic Mirror, “[Cayce’s] psychic gift enabled him to induce in himself a state of trance or deep sleep that stilled his conscious mind and gave him access to what Jung calls the “collective unconscious”—the universal wisdom of man at its subconscious source.... [Cayce] saw the collective or universal subconscious as a vast river of thought flowing through eternity, fed by the sum total of man’s mental activity since his beginning. He maintained that this river is accessible to any individual who is prepared to develop his psychic or spiritual faculties with sufficient patience and effort.”
Cayce xem tâm thức như có nhiều tầng. Trước hết là tầng tâm thức được trải nghiệm trong nhận biết hằng ngày. Kế đến là tầng tiềm thức, hay như Cayce gọi là “các lực tiềm thức.” Theo Elsie Sechrist, trong cuốn Dreams: Your Magic Mirror, “Năng lực thông linh của [Cayce] cho phép Ông tự gây cho mình một trạng thái xuất thần hay ngủ sâu khiến tâm thức tỉnh táo lắng yên và trao cho Ông quyền tiếp cận điều mà Jung gọi là ‘vô thức tập thể’—trí tuệ phổ quát của con người ở nguồn tiềm thức của nó.... [Cayce] xem vô thức tập thể hay tiềm thức phổ quát như một dòng sông tư tưởng mênh mông chảy suốt cõi vĩnh hằng, được nuôi dưỡng bởi tổng hòa hoạt động tư tưởng của nhân loại từ thuở ban sơ. Ông chủ trương rằng dòng sông này khả dĩ tiếp cận với bất kỳ cá nhân nào sẵn sàng phát triển các năng lực thông linh hay tinh thần của mình với đủ kiên nhẫn và nỗ lực.”
As Bro describes, “The dreamer’s subconscious—his hidden structures, habits, controls, mechanisms, complexes, formulas—uses the dreamer’s own peculiar memory-images and figures of speech to get things done.” Here, at the level of the subconscious, the dreamer can easily draw on whatever ESP is possessed as a natural talent or a developed art to get one’s bearings on practical matters, and to recover problem-solving items from the distant, the past, or the private.
Như Bro mô tả, “Tiềm thức của người mơ—các cấu trúc ẩn, thói quen, cơ chế kiểm soát, cơ chế vận hành, phức cảm, công thức—sử dụng những hình ảnh ký ức và lối nói riêng của người mơ để hoàn thành mục đích.” Ở đây, tại tầng tiềm thức, người mơ có thể dễ dàng vận dụng bất kỳ tri giác ngoại cảm nào mình sở hữu như một tài năng thiên phú hay một nghệ thuật đã rèn luyện để định vị trong các vấn đề thực tiễn, và để phục hồi những thành tố giải quyết vấn đề từ những gì xa xôi, thuộc quá khứ hay thuộc phần riêng tư.
In Cayce’s view, an even deeper source of help is also available. He called it the superconscious, which he described as a higher realm of the subconscious. According to Cayce, there are dreams that can bring into play certain structures of great importance to the dreamer. In these dreams, the dreamer contacts the best, or higher, self—or may even reach to something beyond the self, which Cayce called “the Creative Forces, or God.” In Cayce’s view, the superconscious is the portion of mind that has retained the memory of God’s presence and is man’s link with his original spiritual consciousness. These forces can provide the dreamer with boundless information and guidance. As Bro states, “They are... the creative currents of the divine itself, moving through human affairs like some great unseen Gulf Stream. In dreams one may reach far beyond his own faculties to tune into these Universal Forces, through his own superconsciousness.” Cayce treated the contents of these kinds of dreams with great respect.
Theo quan điểm của Cayce, còn có một nguồn trợ giúp sâu hơn nữa. Ông gọi đó là siêu tâm thức, mà Ông mô tả như một cõi cao hơn của tiềm thức. Theo Cayce, có những giấc mơ có thể khơi hoạt những cấu trúc mang ý nghĩa lớn lao đối với người mơ. Trong những giấc mơ ấy, người mơ chạm tới phần tốt nhất, hay phần cao hơn của chính mình—thậm chí có thể vươn tới cái gì đó vượt ra ngoài cái ngã, điều mà Cayce gọi là “Các Mãnh Lực Sáng Tạo, hay Thượng đế.” Theo Cayce, siêu tâm thức là phần của tâm trí còn giữ ký ức về sự Hiện diện của Thượng đế và là mối liên kết của con người với tâm thức tinh thần nguyên thủy của mình. Những lực này có thể ban cho người mơ vô vàn thông tin và chỉ dẫn. Như Bro nói, “Chúng chính là các dòng hải lưu sáng tạo của Thiêng Liêng tự thân, chuyển động xuyên qua đời sống nhân loại như một Dòng Vịnh vĩ đại vô hình. Trong giấc mơ, người ta có thể vươn xa vượt quá các năng lực riêng để điều ứng với các Mãnh Lực Vũ Trụ ấy, thông qua chính siêu tâm thức của mình.” Cayce đối đãi với nội dung của những loại giấc mơ này bằng sự trân trọng lớn lao.
Cayce saw the superconscious as the portion of the mind that has retained the memory of God’s presence and is man’s link with his original spiritual consciousness.
Cayce xem siêu tâm thức là phần của tâm trí còn giữ ký ức về sự Hiện diện của Thượng đế và là mối liên kết của con người với tâm thức tinh thần nguyên thủy của mình.
Creating trained dreamers
Xây dựng những người mơ được huấn luyện
Before his death in 1945, seventy-seven people received dream interpretations from Edgar Cayce. Altogether, he interpreted 1650 dreams during almost seven hundred readings. The bulk of these readings were for four individuals with whom he worked closely over many years.
Trước khi qua đời năm 1945, bảy mươi bảy người đã nhận các diễn giải giấc mơ từ Edgar Cayce. Tổng cộng, Ông đã diễn giải 1650 giấc mơ trong gần bảy trăm bài đọc. Phần lớn các bài đọc này dành cho bốn cá nhân mà Ông làm việc rất gần gũi trong nhiều năm.
The purpose in focusing on these individuals was to create what Cayce called “trained dreamers.” His desire was to help them develop the skills needed to guide and interpret their dreams—and thus to use their dreams to help guide their everyday lives and to grow spiritually.
Mục đích khi tập trung vào những người này là để tạo ra điều Cayce gọi là “những người mơ được huấn luyện.” Ước muốn của Ông là giúp họ phát triển các kỹ năng cần thiết để dẫn dắt và diễn giải giấc mơ của chính mình—từ đó dùng giấc mơ để định hướng đời sống hằng ngày và trưởng thành tinh thần.
Cayce’s greatest challenge in training these dreamers was to get them to rely on themselves, asleep or awake. Bro, who worked directly with Cayce for almost a year, remarks, “He did not seek little Cayce-ites. He wanted capable, self-reliant people, using the talents with which they were endowed, and learning new laws to apply.”
Thách thức lớn nhất của Cayce khi huấn luyện những người mơ này là khiến họ dựa vào chính mình, trong mơ cũng như khi thức. Bro, người trực tiếp làm việc với Cayce gần một năm, nhận xét: “Ông không tìm kiếm những ‘bản sao tí hon của Cayce’. Ông muốn những con người có năng lực, tự lực, sử dụng những tài năng vốn có và học những định luật mới để áp dụng.”
Cayce encouraged his dreamers to do more than study dreams and dreaming and to do more than rely on psychics and spiritualists for interpretations or answers. He coached them to interpret and use their own dreams on the problems of everyday life. Through regularly working with their dreams, he pressed them to broaden and deepen their natural psychic, intellectual, financial, leadership, artistic, and healing gifts. He urged them to go into their dreams to access the wisdom and guidance of the Universal Forces.
Cayce khuyến khích những người mơ của mình làm nhiều hơn là nghiên cứu về giấc mơ và việc mộng mị, và nhiều hơn là cậy nhờ các nhà thông linh hay các nhà thần linh học để diễn giải hay xin đáp án. Ông hướng dẫn họ tự diễn giải và sử dụng chính giấc mơ của mình cho các vấn đề đời sống thường nhật. Bằng việc làm việc thường xuyên với giấc mơ, Ông thôi thúc họ mở rộng và đào sâu các năng khiếu tự nhiên về ngoại cảm, trí tuệ, tài chính, lãnh đạo, nghệ thuật và trị liệu. Ông thúc giục họ đi vào giấc mơ để tiếp cận trí tuệ và chỉ dẫn của Các Mãnh Lực Vũ Trụ.
“After the first few,” says Bro, “Cayce never again trained dreamers as such. Instead, he trained people in an explicitly spiritual pilgrimage— one which included dreams but placed still greater weight on meditation, prayer, and daily service to others. Further, he trained people only in groups, where they could daily help one another in study, in love, in mutual intercession, in ways that his major dream subjects rarely knew.”
“Sau vài người đầu tiên,” Bro nói, “Cayce không còn huấn luyện những người mơ như thế nữa. Thay vào đó, Ông huấn luyện con người trên một cuộc hành hương minh nhiên mang tính tinh thần—một cuộc hành hương bao gồm giấc mơ nhưng đặt trọng tâm lớn hơn lên tham thiền, cầu nguyện và phụng sự hằng ngày cho tha nhân. Hơn nữa, Ông chỉ huấn luyện con người trong các nhóm, nơi họ có thể hằng ngày trợ giúp nhau trong học tập, trong tình thương, trong việc khẩn cầu thay cho nhau, theo những cách mà các chủ thể mộng mơ chủ lực của Ông hiếm khi biết.”
It is thanks to his intensive work with these few individuals that we are able to discern the pattern of laws and principles that govern dreams and our work with them. Through the experiences of these four people, we are able to see how the ability to work with dreams grows, we can witness the kinds of challenges that can be experienced, and we are shown the most effective methods for addressing them.
Chính nhờ công trình huấn luyện sâu sát với một vài cá nhân này mà chúng ta có thể nhận ra mô hình các định luật và nguyên tắc chi phối giấc mơ và công phu của chúng ta với chúng. Qua kinh nghiệm của bốn người này, chúng ta có thể thấy khả năng làm việc với giấc mơ lớn dần ra sao, chứng kiến những thách thức có thể gặp phải, và được chỉ bày những phương pháp hữu hiệu nhất để xử trí.
The purpose of dreams and dreaming
Mục đích của những giấc mơ và việc mộng mị
Cayce believed that all phases of humankind’s nature are revealed in dreams for the express purpose of directing us to higher and more balanced accomplishments in our physical, mental, and spiritual lives.
Cayce tin rằng mọi phương diện của bản tính con người đều được bộc lộ trong giấc mơ với mục đích minh nhiên là dẫn dắt chúng ta đến những thành tựu cao hơn và quân bình hơn trong đời sống thể chất, tinh thần và tâm linh.
According to Cayce, each night we have contact with spiritual and psychic forces through our dreams. Because of this, dreams work to accomplish two things: they work to solve the problems of the dreamer’s conscious, waking life, and they work to awaken the dreamer to full stature as a person, to quicken in the dreamer new potentials which are his or hers to claim.
Theo Cayce, mỗi đêm chúng ta có sự tiếp xúc với các mãnh lực tinh thần và thông linh thông qua giấc mơ. Bởi vậy, giấc mơ làm việc để hoàn thành hai điều: chúng giải quyết các vấn đề của đời sống tỉnh thức nơi người mơ, và chúng đánh thức người mơ vươn tới tầm vóc trọn vẹn như một con người, làm tăng tốc nơi người mơ những tiềm năng mới vốn là phần của họ để chiếm hữu.
In describing a large part of dreaming as problem solving, Cayce underscored the kind of dreaming that can be called the “incubation” dream. This is the dream that either presents a surprising solution to a problem on which the dreamer has been working or awakens in him a state of consciousness in which the solution he needs springs easily to mind.
Khi mô tả phần lớn việc mộng mị như là giải quyết vấn đề, Cayce nhấn mạnh kiểu giấc mơ có thể gọi là giấc mơ “ủ mầm.” Đây là giấc mơ hoặc đưa ra một giải pháp bất ngờ cho một vấn đề mà người mơ đang làm việc, hoặc khơi trong họ một trạng thái tâm thức nhờ đó lời giải mà họ cần dễ dàng nảy sinh nơi trí.
Cayce described the rest of meaningful dreaming as quickening the dreamer to his or her own human potentials. Over and over he pointed out how dreams signal to the dreamer that it is time to carry new responsibilities or to develop more mature values or to stretch one’s thinking. Such dreams, he said, are not simply solving practical problems—they are helping the dreamer grow.
Cayce mô tả phần còn lại của việc mộng mị có ý nghĩa như là làm tăng tốc người mơ đến với các tiềm năng của chính anh/chị ta. Hết lần này đến lần khác, Ông chỉ ra cách giấc mơ báo hiệu cho người mơ rằng đã đến lúc gánh vác những trách nhiệm mới, hay phát triển các giá trị chín chắn hơn, hay mở rộng tư duy của mình. Những giấc mơ như thế, Ông nói, không đơn thuần giải quyết các vấn đề thực dụng—chúng đang giúp người mơ trưởng thành.
According to Bro, “[Cayce] described whole cycles of dreams as devoted to developing a new quality in a dreamer: patience, balance, manliness, altruism, humor, reflectiveness, piety. Some of these self-remaking dreams he saw as coming from the efforts of the dreamer’s personality to right itself.... Other such dreams Cayce saw as spontaneous, healthy presentations, occurring when it was time for a new episode of growth in the dreamer’s life.”
Theo Bro, “[Cayce] mô tả trọn những chu kỳ giấc mơ như dành riêng để phát triển một phẩm chất mới nơi người mơ: kiên nhẫn, quân bình, khí chất nam nhi, vị tha, khiếu hài hước, năng lực phản tỉnh, lòng mộ đạo. Một số giấc mơ tự-tái-tạo như thế, Ông xem là phát sinh từ nỗ lực của phàm ngã người mơ nhằm tự điều chỉnh.... Những giấc mơ khác như vậy, Cayce xem là những trình hiện lành mạnh, tự phát, xuất hiện khi đã đến thời điểm cho một tập diễn mới của sự tăng trưởng trong đời người mơ.”
Everyone dreams—and everyone can remember them
Ai cũng mơ—và ai cũng có thể nhớ
The Cayce readings are clear that anyone who will record dreams in an attitude of prayerful persistence can, in time, bring about a complete xviii restoration of the dream faculty.
Các bài đọc Cayce nói rõ rằng bất kỳ ai ghi chép giấc mơ với thái độ kiên trì và cầu nguyện đều có thể, theo thời gian, đưa năng lực mộng mị trở lại một cách hoàn toàn. xviii
As Bro describes, “Those whom Cayce coached had no great difficulty learning to recall dreams, once they set their minds to it. They had to be certain they were ready to confront whatever came forth in dreams, and to do something with it.... He was firm with several dreamers that to recall their dreams they should record them—and go back over the records often.... Finally, he saw it as important to the process of recalling dreams that dreamers act upon the dreams they recall. The very act of adding consciousness to the subconscious activity which produces the dream will set currents in motion... helpful currents to facilitate the recall of the next dreams, and eventually to aid in the interpretation of all dreams.... Each of these steps builds recall of dreams. They also build the depth and clarity of the dreams, for they serve to build the dreamer himself.”
Như Bro mô tả, “Những người được Cayce hướng dẫn không gặp khó khăn lớn trong việc học cách hồi tưởng giấc mơ, một khi họ đã hạ quyết tâm. Họ phải chắc chắn rằng mình sẵn sàng đối diện bất cứ điều gì hiện ra trong mơ, và làm điều gì đó với nó.... Ông kiên quyết với một vài người mơ rằng để nhớ giấc mơ, họ phải ghi chép chúng—và thường xuyên xem lại nhật ký mơ.... Sau cùng, Ông xem việc người mơ hành động theo giấc mơ mà họ nhớ là quan trọng đối với tiến trình hồi tưởng mơ. Chính hành động gia tăng tính tỉnh thức đối với hoạt động tiềm thức sinh ra giấc mơ sẽ khởi động các dòng lưu chuyển... những dòng lưu chuyển hữu ích giúp dễ dàng hồi tưởng các giấc mơ kế tiếp, và rốt cục hỗ trợ diễn giải tất cả giấc mơ.... Mỗi bước như thế đều bồi đắp năng lực nhớ mơ. Chúng cũng bồi đắp chiều sâu và độ rõ của giấc mơ, vì chúng góp phần bồi đắp chính người mơ.”
The four broad kinds of dreams
Bốn loại giấc mơ chính
As an aid to interpreting dreams, Cayce described four broad kinds, or types, of dreams. Sometimes identifying the kind of dream just experienced helps the dreamer begin to interpret its purpose and meaning. While Cayce was clear that some dreams are just nonsense or nightmares, resulting from the body trying to handle troublesome foods or other biological upsets, he said our meaningful dreams fall into these categories or types:
Để hỗ trợ diễn giải giấc mơ, Cayce mô tả bốn loại, hay kiểu, giấc mơ rộng. Đôi khi, nhận diện kiểu giấc mơ vừa trải qua giúp người mơ bắt đầu diễn giải mục đích và ý nghĩa của nó. Dù Cayce nói rõ rằng có những giấc mơ chỉ là vớ vẩn hay ác mộng, phát sinh từ việc thân thể phải xử lý thức ăn rắc rối hay các rối loạn sinh học khác, Ông nói các giấc mơ có ý nghĩa của chúng ta rơi vào những loại hay kiểu sau:
Physical: dreams that provide helpful information about our physical bodies and our health through symbols that may suggest improper diet, a kind of exercise needed, previews of illnesses, and so on. These dreams can even provide specific suggestions for treatment.
Thể chất: các giấc mơ cung cấp thông tin hữu ích về thân thể và sức khỏe của chúng ta thông qua các biểu tượng có thể gợi ý chế độ ăn sai, loại vận động cần thiết, những báo trước về bệnh tật, v.v. Những giấc mơ này thậm chí có thể đưa ra các gợi ý cụ thể về điều trị.
Self-revealing: dreams that provide self-knowledge and insight into problems, goals, desires, plans, decisions, relationships, character traits, and so on.
Tự bộc lộ: các giấc mơ cung cấp tri thức về bản thân và thấu hiểu các vấn đề, mục tiêu, ước muốn, kế hoạch, quyết định, các mối quan hệ, các nét tính cách, v.v.
Psychic: dreams that reach out through the windows of telepathy, clairvoyance and precognition to provide insight and information not accessible by our ordinary three-dimensional consciousness. Spiritual: dreams originating from the dreamer’s higher self, dreams flowing from the superconscious mind and the Universal Forces. Cayce often called such dreams “visions.”
Thông linh: các giấc mơ vươn ra qua các cửa sổ của viễn cảm, thông nhãn và tiền tri để cung cấp tuệ kiến và thông tin không thể tiếp cận bằng tâm thức ba chiều thông thường của chúng ta. Tinh thần: các giấc mơ bắt nguồn từ phần tự ngã cao hơn của người mơ, các giấc mơ tuôn chảy từ siêu tâm thức và Các Mãnh Lực Vũ Trụ. Cayce thường gọi những giấc mơ như vậy là “thị kiến.”
These four kinds of dreams serve two functions: to solve problems and to aid in spiritual growth.
Bốn loại giấc mơ này phục vụ hai chức năng: giải quyết vấn đề và trợ giúp tăng trưởng tinh thần.
Interpreting the dreamer, not the dream
Giải nghĩa người mơ, không phải giấc mơ
The best interpreter of a person’s dream is the individual dreamer, since the symbols are one’s own. Interpreting dreams, as Cayce described the process, is not just looking up a symbol in a handy dream book and applying it to a dream. Rather, one interprets a dreamer, not a dream.
Người diễn giải tốt nhất cho giấc mơ của một ai đó chính là người mơ, vì các biểu tượng là của riêng họ. Diễn giải giấc mơ, như Cayce mô tả tiến trình, không phải chỉ là tra một biểu tượng trong một cuốn “từ điển mơ” tiện tay rồi áp vào giấc mơ. Đúng hơn, người ta diễn giải người mơ, không phải giấc mơ.
“Study self; study self” was Cayce’s first counsel on training to interpret dreams. As Bro says, “If one grasps the dreamer in the dream, one can take the first important step in interpretation: determining which of the two major functions of dreams is to the fore in a particular dream— (a) problem solving and adaptation to external affairs, or (b) awakening and alerting the dreamer to some new potential within him.”
“Học về tự thân; nghiên cứu tự thân” là lời khuyên đầu tiên của Cayce khi tập luyện năng lực diễn giải giấc mơ. Như Bro nói, “Nếu nắm được người mơ trong giấc mơ, người ta có thể bước bước đầu tiên quan trọng trong diễn giải: xác định xem trong hai chức năng chính của giấc mơ, chức năng nào đang ở tiền cảnh trong một giấc mơ cụ thể—(a) giải quyết vấn đề và thích nghi với các sự vụ bên ngoài, hay (b) đánh thức và cảnh báo người mơ về một tiềm năng mới nào đó bên trong y.”
Studying dreams and interpreting them is not enough. Bringing dreams into action in everyday life is critical. Cayce called for “application” and included a section on application in every dream reading. While study is a form of application, Cayce had something more concrete in mind. The dreamer must put the insights, tips, and ideas received in dreams into motion in life, trying out the guidance given by experiment. Over and over Cayce counseled his dreamers, Do, do, do.
Nghiên cứu giấc mơ và diễn giải chúng là chưa đủ. Đem giấc mơ vào hành động trong đời sống hằng ngày là then chốt. Cayce kêu gọi “ứng dụng” và đưa một phần về ứng dụng vào mọi bài đọc giấc mơ. Dù học tập là một hình thức ứng dụng, Cayce còn nghĩ đến một điều thiết thực hơn. Người mơ phải đưa các tuệ kiến, gợi ý và ý tưởng lãnh hội trong giấc mơ vào chuyển động trong đời sống, đem chỉ dẫn đã nhận ra thực nghiệm. Hết lần này đến lần khác, Cayce dẫn dụ người mơ của mình: Hãy làm, hãy làm, hãy làm.
The lawful patterns of dreaming
Những mô thức hợp luật của việc mộng mị
Bro points out that the same natural laws or principles that governed Cayce’s readings also appear to govern the dreamer’s dreams. While these laws were rarely explicitly spelled out in the readings, they can be glimpsed as patterns that are evident in the body of the readings as a whole.
Bro chỉ ra rằng những định luật hay nguyên tắc tự nhiên giống hệt như thế đã chi phối các bài đọc của Cayce cũng xuất hiện để chi phối các giấc mơ của người mơ. Dù những định luật này hiếm khi được phát biểu tường minh trong các bài đọc, chúng có thể được nhận thấy như những mô thức hiển lộ trong toàn bộ thân các bài đọc.
Bro provides a fascinating outline of what he called the “lawful patterns in dreaming.” Of particular help are the following: xx
Bro cung cấp một đề cương lôi cuốn về điều Ông gọi là “những mô thức hợp luật trong việc mộng mị.” Đặc biệt hữu ích là các điểm sau: xx
• “[Cayce] had to be directed to his targets by hypnotic suggestions. For medical counsel he needed the address of the individual who sought aid. For psychological readings he needed the birth date of the individual. And for topical readings, or those on bidden resources, he had to be told both what was sought, and the names and location of those seeking.
• “Cayce phải được định hướng tới mục tiêu bằng những gợi ý thôi miên. Đối với tư vấn y khoa, Ông cần địa chỉ của người tìm kiếm giúp đỡ. Đối với các bài đọc tâm lý, Ông cần ngày sinh của người đó. Còn đối với các bài đọc theo chủ đề, hoặc về các tiềm lực ẩn, Ông phải được cho biết cả điều đang được tìm kiếm, lẫn tên và địa điểm của người tìm kiếm.
“Often those who wanted one type of counsel would request, in the question period following the reading, counsel of another kind. When Cayce was especially keyed up or relating deeply to the person seeking aid, they might get the desired medical information in a business reading, or counsel for a loved one in a dream reading. But more often they would be told, “We do not have this,” and instructed to seek a different type of reading.
“Thường thì những người muốn một loại tư vấn sẽ yêu cầu, trong phần hỏi đáp sau bài đọc, một loại tư vấn khác. Khi Cayce đặc biệt được ‘lên dây’ tốt hoặc đang liên hệ sâu sắc với người được trợ giúp, họ có thể nhận được thông tin y khoa mong muốn trong một bài đọc về kinh doanh, hoặc lời khuyên cho người thân trong một bài đọc về giấc mơ. Nhưng thường hơn, họ sẽ được nói, ‘Chúng tôi không có điều này,’ và được chỉ dẫn tìm một loại bài đọc khác.
“Cayce explained to his dreamers that their dream-focus had similar limits. He coached them to set before their minds, by hard study, concentration, and activity, whatever they sought aid upon through dreams.... Dreams are limited by the conscious focus of the dreamer.”
“Cayce giải thích với những người mơ của Ông rằng tiêu điểm mơ của họ cũng có những giới hạn tương tự. Ông hướng dẫn họ đặt trước tâm trí mình, bằng học tập chăm chỉ, tập trung và hành động, bất cứ điều gì họ muốn thông qua giấc mơ nhận được trợ giúp.... Giấc mơ bị giới hạn bởi tiêu điểm ý thức của người mơ.”
• “Cayce’s readings were limited to the information and guidance which an individual could constructively use; it is the same with dreams, said Cayce.... [While unlimited] information [is] available through the subconscious and the other resources,... the psyche [protects] its balance by feeding the dreamer limited material. It [operates] by laws of self-regulation.”
• “Các bài đọc của Cayce bị giới hạn trong phạm vi thông tin và chỉ dẫn mà một cá nhân có thể sử dụng một cách xây dựng; với giấc mơ cũng vậy, Cayce nói.... [Dù thông tin là vô hạn] khả dụng thông qua tiềm thức và các nguồn khác,... tâm lý [giữ] quân bình của nó bằng cách ‘nuôi’ cho người mơ lượng chất liệu có giới hạn. Nó [vận hành] theo những định luật tự-điều-chỉnh.”
• “Cayce’s health affected his readings. When he was ill he could not give them.... Cayce’s state of mind [also] affected his readings. When he was distraught and defensive with those about him, he experienced some of the few clear errors in a lifetime of giving readings: once in giving readings on oil wells, and once in giving readings on patients in his hospital. Neither time was a complete miss, but the distortions, as later readings pointed out, were dangerous.... His best readings came when he was buoyant, relaxed, humorous, secure. However, he also gave exceptional readings when in keen distress—as when he was twice jailed for giving readings, or when his university collapsed.
• “Sức khỏe của Cayce ảnh hưởng đến các bài đọc của Ông. Khi Ông đau ốm, Ông không thể thực hiện bài đọc.... Tâm trạng của Cayce [cũng] ảnh hưởng đến các bài đọc. Khi Ông rối bời và phòng vệ với những người xung quanh, Ông đã trải qua một vài sai lệch rõ ràng hiếm hoi trong cả đời làm bài đọc: một lần khi thực hiện các bài đọc về giếng dầu, và một lần khi thực hiện các bài đọc về bệnh nhân trong bệnh viện của Ông. Cả hai lần đều không hoàn toàn chệch mục tiêu, nhưng những méo lệch, như các bài đọc sau đó chỉ ra, là nguy hiểm.... Những bài đọc tốt nhất của Ông đến khi Ông phấn chấn, thư thái, hài hước, an tâm. Tuy nhiên, Ông cũng đưa ra những bài đọc xuất sắc khi trong cơn khốn quẫn—như khi Ông hai lần bị tống giam vì thực hiện các bài đọc, hoặc khi đại học của Ông sụp đổ.
“Dreams, too, he said, are conditioned subjectively. He urged his dreamers to get out and play, to take vacations, to balance up their wit and reason, to tease and to laugh and to enjoy children. But he also urged them to note the depth of dreams for the person confronted by death-loss, or by business failure, or by divorce, or by difficult vocational choices—all of which might call forth dreams of such depth and power as to make them ‘visions.”
“Giấc mơ, Ông nói, cũng chịu điều kiện chủ quan. Ông thúc giục người mơ ra ngoài vui chơi, đi nghỉ, quân bình dí dỏm và lý lẽ, đùa vui, cười đùa và thưởng thức trẻ thơ. Nhưng Ông cũng thúc giục họ lưu ý chiều sâu của giấc mơ nơi người đang đối diện mất mát bởi cái chết, hoặc thất bại trong kinh doanh, hoặc ly hôn, hoặc những chọn lựa nghề nghiệp khó khăn—tất cả những điều có thể khơi dậy những giấc mơ có chiều sâu và quyền năng đến mức trở thành ‘thị kiến.’”
• “Cayce’s readings were affected by what his own trance products described as his relative ‘spirituality.’ When he was carried away by the ambitions of a treasure hunt, or temptations to seek notoriety with his gift and his considerable lecturing ability, he was reminded to notice how the quality of his readings suffered. On the other hand, when he was regular in his times of prayer and Bible study, as well as in his quiet fishing times, he was reminded to notice that his readings gained in quality, and that he even developed new types of gifts or capacities, both within his readings (for example, producing an entire series on a new subject), or awake (aiding the sick, through prayer).
• “Các bài đọc của Cayce bị ảnh hưởng bởi điều mà chính các sản phẩm xuất thần của Ông mô tả như ‘tính tinh thần’ tương đối của Ông. Khi Ông bị cuốn theo bởi tham vọng săn kho báu, hoặc cám dỗ tìm tiếng tăm nhờ năng lực của mình và khả năng diễn thuyết đáng kể, Ông được nhắc nhở chú ý xem chất lượng các bài đọc của mình suy giảm thế nào. Mặt khác, khi Ông đều đặn trong những thời khắc cầu nguyện và học Kinh Thánh, cũng như trong những lúc câu cá thanh thản, Ông được nhắc nhở để ý rằng các bài đọc nâng chất, và rằng Ông thậm chí phát triển những dạng năng lực hay khả năng mới, cả trong các bài đọc (ví dụ, sản xuất cả một loạt về một chủ đề mới), lẫn khi thức (trợ giúp người bệnh qua cầu nguyện).
“Similar factors, his readings said, affect the quality of dreams. When his dreamers drove themselves for money or fame or power, they could see that their dreams brought up these very issues, and then began to deteriorate in clarity and helpfulness. When they were secure in their faith, their prayer times, and in their desire to serve others, they could find new vistas in their dreams—giving them glimpses into the world of the future or the past or the transcendent.”
“Những yếu tố tương tự, các bài đọc của Ông nói, ảnh hưởng đến chất lượng giấc mơ. Khi người mơ tự thúc bách mình vì tiền bạc hay danh vọng hoặc quyền lực, họ có thể thấy giấc mơ đưa chính những vấn đề ấy lên, và rồi bắt đầu suy giảm về độ rõ và tính hữu ích. Khi họ an tâm trong đức tin, trong thời khắc cầu nguyện, và trong ước muốn phụng sự người khác, họ có thể tìm thấy những chân trời mới trong giấc mơ—cho họ những thoáng nhìn vào thế giới của tương lai hay quá khứ hay cõi siêu việt.”
• Frequently, the Cayce source noted that the attitudes of those who sought information and guidance from Cayce affected what they got. Those who sought novelty, exploitation of others, a godlike guarantor for their lives, justification for their past mistakes, or anything but genuine aid and growth, received curt responses, or vague ones, or unexpected lectures on their motives. Those who failed to act on the counsel given them might find future counsel brief or even withheld.
• Thường xuyên, nguồn của Cayce ghi nhận rằng thái độ của những người tìm kiếm thông tin và chỉ dẫn từ Cayce ảnh hưởng đến những gì họ nhận được. Những ai tìm điều lạ lùng, muốn lợi dụng người khác, muốn một “đấng” bảo chứng thần thánh cho đời mình, muốn biện minh cho những lỗi lầm quá khứ, hay bất kỳ điều gì ngoài sự trợ giúp chân chính và tăng trưởng, thì nhận được những đáp ứng cộc lốc, hay mơ hồ, hoặc những bài thuyết giảng bất ngờ về động cơ của họ. Những ai không hành động theo lời khuyên được ban có thể thấy những lời khuyên sau này trở nên ngắn gọn hoặc thậm chí bị rút lại.
“Gullibility was as readily rejected as cynicism; adulation of Cayce accomplished as little as belittling or envy of him. ‘The real miracle,’ one reading said, ‘occurs in the seeker.’
“Sự cả tin bị bác bỏ không kém hoài nghi; sự sùng bái Cayce đạt được chẳng hơn gì việc hạ thấp hay ghen ghét Ông. ‘Phép lạ thật sự,’ một bài đọc nói, ‘xảy ra trong chính người kiếm tìm.’
“Similar factors, he said, govern the extent to which dreamers produce dream information helpful to those about them. Often a dreamer secures facts unavailable to a loved one because of his greater detachment toward the need or problem. Often, too, unconscious telepathy from a brother or sister or child shows dreamers how to reach the other’s bad temper, or alcoholic habit, or despairing heart, or overbearing pride.”
“Những yếu tố tương tự, Ông nói, chi phối mức độ mà người mơ tạo ra thông tin mộng mị hữu ích cho những người quanh mình. Thường, một người mơ thu thập được những dữ kiện không có sẵn cho người thân vì sự không vướng mắc lớn hơn của y đối với nhu cầu hay vấn đề ấy. Cũng thường xuyên, viễn cảm vô thức từ một người anh, chị hay con cái cho người mơ thấy cách tiếp cận cơn nóng giận của người kia, hay thói nghiện rượu, hay trái tim tuyệt vọng, hay thói kiêu ngạo trịch thượng của họ.”
Improving the usefulness of dreams
Nâng cao tính hữu ích của giấc mơ
To strengthen dream recall and enhance the usefulness of dreams, Cayce emphasized the value of daily contemplation on an affirmation and regularly entering into the deep silence of meditation. Cayce stressed that the spiritually oriented person, whose own intuition is disciplined to a high level, can interpret dreams more exactly than an individual depending solely on his or her own capacity to reason.
Để bồi đắp khả năng nhớ mơ và tăng cường tính hữu ích của giấc mơ, Cayce nhấn mạnh giá trị của việc suy niệm hằng ngày trên một lời khẳng định và đều đặn đi vào tịch mặc sâu của tham thiền. Cayce nhấn mạnh rằng người có định hướng tinh thần, với trực giác được kỷ luật ở mức cao, có thể diễn giải giấc mơ chính xác hơn người chỉ dựa vào khả năng lý trí của mình.
But the note which recurred like a silver thread in Cayce’s dream readings, whenever he explained to others how to improve their dreaming and their interpretation of dreams, was a familiar one that appeared regularly in his life and medical readings. That note was service.
Nhưng nốt nhạc lặp lại như sợi bạc xuyên suốt các bài đọc về giấc mơ của Cayce, bất cứ khi nào Ông giải thích cho người khác cách để cải thiện việc mộng mị và việc diễn giải giấc mơ, là một chủ âm quen thuộc thường trực trong các bài đọc đời sống và y học của Ông. Chủ âm đó là phụng sự.
“For some dreamers, service through dreaming meant literally dreaming for others and giving them aid and counsel,” shares Bro. “But such dreamers were few among those who consulted Cayce. Others were encouraged to draw or to write stories based on their dreams. Or to share stock tips secured from their dreams. Or to learn from their dreams the laws of human development, and teach these laws to classes of interested adults. Or to teach others to dream. Or to pray for those presented to them in their dreams. Each one’s gifts were different....
“Với một số người mơ, phụng sự thông qua mộng mị nghĩa là thật sự mơ giấc mơ cho người khác và ban cho họ sự trợ giúp và lời khuyên,” Bro chia sẻ. “Nhưng những người mơ như thế là thiểu số giữa những người tìm đến Cayce. Những người khác được khuyến khích vẽ hoặc viết truyện dựa trên giấc mơ của họ. Hoặc chia sẻ các gợi ý về cổ phiếu thu nhận từ giấc mơ. Hoặc học từ giấc mơ các định luật phát triển con người, và giảng dạy những định luật này cho các lớp người lớn có quan tâm. Hoặc dạy người khác cách mơ. Hoặc cầu nguyện cho những người hiện đến với họ trong giấc mơ. Mỗi người có những ân tứ khác nhau....
“First the dreamer must change and grow. Then he must find a way to share his growth in unassuming service to those closest to him in everyday life. Only then may he find dreams that can occasionally help the leaders in his profession, or his social class, or his school of art, or his reform movement—by helping him to help them.
“Trước hết chính người mơ phải thay đổi và trưởng thành. Rồi y phải tìm cách chia sẻ sự trưởng thành của mình bằng sự phụng sự khiêm cung dành cho những người gần gũi nhất trong đời sống hằng ngày. Chỉ khi ấy y mới có thể tìm được những giấc mơ đôi khi có thể giúp các nhà lãnh đạo trong ngành nghề của y, hay trong giai tầng xã hội của y, hay trong trường phái nghệ thuật của y, hay trong phong trào cải cách của y—bằng cách giúp y giúp họ.
“It is a law underscored by the failure of the early dreamers that Cayce trained to sustain the high potential which he saw for them, and which they realized at times in both their dreams and their lives. They fell away from one another in their families. This was a blow the straining psyche could not survive, said Cayce, while it was reaching for the heights of dreaming. With his next dreamers he put his first emphasis not on dreaming skill at all, but on loving and producing. There was loving and producing in the family, there was loving and producing in the daily work, there was loving and producing in the gathered fellowship of those who met to study and pray. Only this course—only the course of giving, giving, giving—would keep the flow of dreams clean and ever stronger.”
“Đó là một định luật được gạch dưới bằng sự thất bại của những người mơ đầu tiên mà Cayce huấn luyện trong việc duy trì tiềm năng cao mà Ông nhìn thấy ở họ, và mà thỉnh thoảng họ đã hiện thực trong cả giấc mơ lẫn đời sống. Họ rời xa nhau trong chính gia đình của họ. Đây là một đòn giáng mà tâm lý đang căng sức vươn tới đỉnh cao mộng mị không thể chịu đựng, Cayce nói, trong khi nó đang vươn tới những đỉnh cao của mộng mị. Với những người mơ kế tiếp, Ông đặt trọng tâm trước hết không hề ở kỹ năng mộng mị, mà ở tình thương và sinh sản—tạo tác. Có tình thương và tạo tác trong gia đình, có tình thương và tạo tác trong công việc hằng ngày, có tình thương và tạo tác trong tình bằng hữu tụ hội những người họp lại để học tập và cầu nguyện. Chỉ con đường này—chỉ con đường cho đi, cho đi, cho đi—mới giữ cho dòng chảy giấc mơ thanh khiết và ngày càng mạnh mẽ.”
Lawful patterns in dream interpretation
Những mô thức hợp luật trong diễn giải giấc mơ
Bro points out that just as there were what he called “lawful processes” that governed every reading Cayce gave and every dream of every dreamer, so there are lawful processes of interpreting dreams. Of particular usefulness are the following:
Bro chỉ ra rằng cũng như có những “tiến trình hợp luật” chi phối mọi bài đọc mà Cayce đưa ra và mọi giấc mơ của mọi người mơ, thì cũng có những tiến trình hợp luật trong việc diễn giải giấc mơ. Đặc biệt hữu ích là các điểm sau:
• “As Cayce took up each dream in a typical dream reading, he first distinguished which levels of the psyche had produced that particular dream. The dreamer can also be taught by his own dreams, he said, to recognize the various levels working within him to produce each dream.
• “Khi Cayce bắt tay vào từng giấc mơ trong một bài đọc giấc mơ điển hình, trước hết Ông phân biệt những tầng nào của tâm lý đã sản sinh giấc mơ ấy. Người mơ cũng có thể được chính giấc mơ của mình dạy cho cách nhận ra các tầng khác nhau đang hoạt động bên trong để sản sinh mỗi giấc mơ.
“When a voice speaks in a dream, an aura of feelings and thoughts will show whether the voice is his best self or just his imagination. When a scene from the day flashes across his mind in sleep, he will be shown by nuances whether the scene represents merely worries from the day, or a prologue to helpful comments from the subconscious. When strange and outrageous material appears, his own subconscious will teach him to distinguish which is merely a dream caricature of his outrageous behavior, and which is instead a radical challenge to his being.
“Khi một giọng nói vang lên trong mơ, một hào quang những cảm xúc và tư tưởng sẽ cho thấy giọng nói đó là phần tốt nhất của y hay chỉ là trí tưởng tượng. Khi một cảnh trong ngày lóe lên trong tâm trí khi ngủ, y sẽ được chỉ bày qua những sắc thái tinh tế rằng cảnh đó chỉ là những mối bận tâm trong ngày, hay là khúc dạo đầu cho những bình chú hữu ích từ tiềm thức. Khi chất liệu kỳ quặc và ngược đời xuất hiện, chính tiềm thức của y sẽ dạy y phân biệt đâu chỉ là bức biếm họa mộng mị về hành vi quá đà của y, và đâu là một thách thức tận nền tảng đối với hữu thể của y.
“Dreamers should often ask in a dream, or immediately after it, he said, to be shown what part of their mentality has been at work in the dream, and why. Some of Cayce’s dreamers were amazed at the colloquy which they were able to follow within them. Others were delighted to be able, they felt, to distinguish their own inner voice from the contribution of discarnates in dreams.”
“Người mơ nên thường xuyên hỏi trong mơ, hoặc ngay sau đó, để được chỉ cho biết phần nào của tâm trí mình đã hoạt động trong giấc mơ, và vì sao. Một số người mơ của Cayce đã kinh ngạc trước cuộc đối thoại nội tâm mà họ có thể theo dõi trong mình. Những người khác thích thú vì cảm thấy có thể phân biệt giọng nội tâm của mình với đóng góp của các linh thể không xác trong mơ.”
• “In Cayce’s view, dreams often carry significant meaning on several levels at once, and should be interpreted accordingly.”
• “Theo quan điểm của Cayce, giấc mơ thường mang ý nghĩa đáng kể trên nhiều tầng cùng lúc, và nên được diễn giải tương ứng.”
• “Part of the art of interpreting dreams, according to Cayce, lies... in recognizing symbols with relatively universal meaning. He emphasized the purely personal meaning of much dream contents, from articles of clothing to scenes of war. But he also challenged dreamers to see, in certain poetic and evocative dreams, the presence of symbols which have wide currency in myth and art. Fire often means anger. Light often means insight and help from the divine, as does movement upward. A child often means helpful beginnings, needing further aid from the dreamer. A horse and rider often mean a message from higher realms of consciousness. Pointed objects inserted in openings may be sex symbols—although a key in a lock is more typically unlocking something in the dreamer.”
• “Một phần của nghệ thuật diễn giải giấc mơ, theo Cayce, nằm ở... việc nhận ra những biểu tượng có ý nghĩa tương đối phổ quát. Ông nhấn mạnh ý nghĩa thuần cá nhân của phần lớn nội dung mộng mị, từ trang phục đến các cảnh chiến tranh. Nhưng Ông cũng thách thức người mơ nhìn thấy, trong một số giấc mơ giàu chất thơ và gợi mở, sự hiện diện của các biểu tượng lưu hành rộng rãi trong thần thoại và nghệ thuật. Lửa thường chỉ cơn giận. Ánh sáng thường chỉ tuệ kiến và sự trợ giúp từ cõi thiêng, cũng như chuyển động đi lên. Một đứa trẻ thường chỉ những khởi đầu hữu ích, cần thêm trợ giúp từ người mơ. Một con ngựa và kỵ sĩ thường chỉ một thông điệp từ các cõi tâm thức cao hơn. Những vật nhọn đưa vào các lỗ mở có thể là biểu tượng tính dục—dù một chiếc chìa khóa vào ổ khóa thường mang nghĩa mở ra một điều gì đó trong người mơ.”
• “One aspect of Cayce’s dream interpretation was harder for dreamers to duplicate: the times he predicted their dreams, even the night and time of night. In the strange, wandering world of dreams, this bit of his skill seemed incredible—even allowing for the power of his suggestion upon the dreamer’s unconscious. But he said he could do it because he could see factors in the dreamer’s psyche which made the dreams inevitable, much as one on a high building could predict the collision of careening cars on separate streets below him. He added that dreamers would also learn to recognize when given dreams were signals of a new theme or series, and to predict for themselves how more would follow—as his dreamers did in lesser degree.”
• “Một khía cạnh trong diễn giải giấc mơ của Cayce khó để người mơ lặp lại: những lần Ông dự đoán giấc mơ của họ, thậm chí là đêm và thời khắc trong đêm. Trong thế giới lạ lùng, phiêu du của mộng mị, mảnh kỹ năng này dường như không thể tin—dẫu chấp nhận ảnh hưởng của sức gợi từ Ông lên tiềm thức người mơ. Nhưng Ông nói Ông có thể làm vậy vì Ông có thể thấy các yếu tố trong tâm lý người mơ khiến những giấc mơ đó trở nên tất yếu, giống như ai đó đứng trên một tòa nhà cao có thể dự đoán va chạm của những chiếc xe mất lái trên các con phố khác nhau bên dưới. Ông thêm rằng người mơ cũng sẽ học cách nhận ra khi các giấc mơ nhất định là tín hiệu của một chủ đề hay chuỗi mới, và tự dự đoán được sẽ có thêm những giấc mơ tiếp nối—như những người mơ của Ông đã làm ở mức độ thấp hơn.”
• “In Cayce’s view, determining the purpose of a dream is a major step in interpreting it. He explained that the psyche or total being tries to supply whatever the dreamer needs most. If the dreamer needs insight and understanding, it gives him lessons and even discourses. If he needs shaking up, it gives him experiences—beautiful or horrendous. If he needs information, it retrieves the facts for him. Dreams are part of a self-regulating, self-enhancing, self-training program, over which the dreamer’s own soul ever presides.
• “Theo Cayce, xác định mục đích của một giấc mơ là một bước quan trọng trong việc diễn giải nó. Ông giải thích rằng tâm lý hay toàn thể hữu thể cố gắng cung cấp bất cứ điều gì người mơ cần nhất. Nếu người mơ cần tuệ kiến và thấu hiểu, nó cho y những bài học và thậm chí cả những bài giảng. Nếu y cần bị lay dậy, nó cho y những trải nghiệm—xinh đẹp hay kinh hoàng. Nếu y cần thông tin, nó truy hồi những dữ kiện cho y. Giấc mơ là một phần của một chương trình tự-điều-chỉnh, tự-tăng-cường, tự-huấn-luyện, mà linh hồn của chính người mơ luôn chủ tọa.
“An important step in interpreting a dream, then, is specifying what it came to accomplish—which the dreamer, according to Cayce, can learn to recognize for himself. A stock discussed by an acquaintance in a dream was a nudge to note and study the stock. But a stock seen in action, in actual figures, or described with instructions by a special kind of voice in his dream, was a signal for the dreamer to act, no longer to study.
“Một bước quan trọng trong việc diễn giải giấc mơ, như thế, là chỉ rõ nó đến để hoàn thành điều gì—điều mà người mơ, theo Cayce, có thể học cách tự mình nhận ra. Một cổ phiếu được một người quen nhắc đến trong mơ là một cú huých để lưu ý và nghiên cứu cổ phiếu đó. Nhưng một cổ phiếu được thấy đang vận động, với con số cụ thể, hoặc được mô tả kèm chỉ dẫn bởi một kiểu giọng nói đặc biệt trong giấc mơ, là tín hiệu cho người mơ phải hành động, không còn dừng ở nghiên cứu nữa.
“Part of Cayce’s training led dreamers to wake up after a vivid dream, review it in their minds so as to recall it later, and then return to sleep with the intention of having the dream interpreted for them—as it not infrequently was, whether by more episodes, or by essay-like passages, or by the voice of an interpreter or ‘interviewer,’ as one dreamer called it.”
“Một phần đào luyện của Cayce dẫn người mơ thức dậy sau một giấc mơ sống động, ôn lại nó trong trí để có thể nhớ sau này, rồi trở lại giấc ngủ với ý hướng được diễn giải giấc mơ ấy—và điều đó không hiếm khi xảy ra, hoặc qua những hồi đoạn tiếp theo, hoặc qua những đoạn văn như tiểu luận, hoặc qua giọng nói của một người diễn giải hay ‘người phỏng vấn,’ như một người mơ gọi.”
Simple Steps to dream interpretation
Những bước đơn giản để diễn giải giấc mơ
Kevin Todeschi, in his book Dream Images and Symbols, offers this ad vice on developing the skill of dream interpretation:
Kevin Todeschi, trong cuốn Dream Images and Symbols, đưa ra lời khuyên sau về việc phát triển kỹ năng diễn giải giấc mơ:
“Step One: Write down your dream immediately upon awakening.... Even if you only have the feeling of a good night’s sleep, write it down. Let the subconscious mind know that you are serious.
“Bước Một: Hãy viết lại giấc mơ ngay khi vừa thức dậy.... Ngay cả khi bạn chỉ có cảm giác về một giấc ngủ ngon, cũng hãy viết ra. Hãy để tiềm thức biết rằng bạn nghiêm túc.
“Step Two: Realize that the feeling you had about the dream is every bit as important as any one possible interpretation. What is the emotional response you have to the dream, to other characters in the dream, or to the action taking place in the dream? Note the actions, feelings, emotions, and conversations of each of the characters in your dream as well.
“Bước Hai: Hãy nhận ra rằng cảm xúc bạn có về giấc mơ quan trọng ngang với bất kỳ diễn giải khả dĩ nào. Phản ứng cảm xúc của bạn đối với giấc mơ là gì, đối với các nhân vật khác trong giấc mơ, hoặc đối với hành động đang diễn ra trong giấc mơ? Hãy ghi lại hành động, cảm nhận, xúc cảm và cuộc đối thoại của từng nhân vật trong giấc mơ của bạn.
“Step Three: Remember that every character in a dream usually represents a part of yourself. Other people may reflect aspects of your own personality, desires, and fears. Even if the character in the dream is a real person who you know, generally the dream character represents an aspect of yourself in relationship to that person.
“Bước Ba: Hãy nhớ rằng mỗi nhân vật trong giấc mơ thường đại diện cho một phần của chính bạn. Người khác có thể phản chiếu các phương diện trong tính cách, ước muốn và sợ hãi của chính bạn. Dù nhân vật ấy trong mơ là một người thật mà bạn biết, thì nói chung nhân vật mộng mị đó biểu hiện một phương diện của chính bạn trong mối liên hệ với người đó.
“Step Four: Watch for recurring symbols, characters, and emotions in your dreams, and begin a personal dream dictionary. Write down these symbols and what their importance is to you. As you observe what is going on in your life and then look at a particular dream, you’ll begin to have an idea of what individual symbols may mean to you, especially if the symbol appears in later dreams. If the symbol had a voice, what would it be telling you? The symbol won’t necessarily mean the same thing to other people, because personal symbols are as individual as the dreamer. For example, dreaming of your teeth falling out may be symbolic of gossip to some people, but an individual who has just been fitted with new dentures may have an entirely different interpretation.
“Bước Bốn: Hãy để ý các biểu tượng, nhân vật và xúc cảm lặp lại trong giấc mơ của bạn, và bắt đầu một ‘từ điển mơ’ cá nhân. Hãy ghi ra những biểu tượng ấy và tầm quan trọng của chúng đối với bạn. Khi bạn quan sát những gì đang diễn ra trong đời sống và rồi xem một giấc mơ cụ thể, bạn sẽ bắt đầu hình dung được các biểu tượng riêng có thể có nghĩa gì đối với bạn, đặc biệt nếu biểu tượng ấy xuất hiện trong những giấc mơ sau này. Nếu biểu tượng có một giọng nói, nó sẽ nói gì với bạn? Biểu tượng ấy không nhất thiết có cùng nghĩa với người khác, bởi các biểu tượng cá nhân là riêng tư như chính người mơ. Ví dụ, mơ thấy răng mình rụng có thể là biểu tượng của chuyện ngồi lê đôi mách đối với một số người, nhưng một người vừa mới được lắp răng giả có thể có một diễn giải hoàn toàn khác.
“Step Five: Practice, practice, practice!... After your dreams have been recorded, make a habit of exploring them a few weeks later. Look for themes, situations, emotions, and symbols that are repetitive. One individual found that her cat, which she dearly loved, frequently appeared in dreams that dealt with personal relationships; another discovered that a watch or a clock was a recurring symbol in precognitive dreams about his personal future. These types of personal insights are only possible with ongoing practice.”
“Bước Năm: Luyện tập, luyện tập, luyện tập!... Sau khi giấc mơ được ghi lại, hãy tập thói quen khám phá chúng vài tuần sau. Hãy tìm các chủ đề, tình huống, xúc cảm và biểu tượng mang tính lặp lại. Một người phát hiện con mèo mà cô ấy rất yêu thường xuất hiện trong những giấc mơ liên quan đến các mối quan hệ cá nhân; người khác khám phá rằng một chiếc đồng hồ là biểu tượng lặp lại trong những giấc mơ tiền tri về tương lai cá nhân của anh ấy. Những hiểu biết cá nhân kiểu này chỉ có thể có được bằng sự thực hành liên tục.”
Above all—hold to your ideal
Trên hết — hãy giữ vững lý tưởng của bạn
“In Cayce’s understanding of dreams,” says Bro, “a comparison of the dreamer’s life with his ideal was occurring in dreams almost every night, however symbolically portrayed, or however small the action examined.... In [Cayce’s] view, the individual’s actions of the previous day, and of the current period of his life, are compared for him each night in sleep with his own deepest ideals. Accordingly, one who awakens grumpy and unrested ought to look into his life, as well as his dreams. And one who awakens in a clear and peaceful frame of mind may be sure that when he recalls his dreams they will not show him in serious inner conflict....
“Trong cách hiểu của Cayce về các giấc mơ,” Bro nói, “sự so sánh giữa đời sống của người mơ và lý tưởng của người ấy xảy ra trong các giấc mơ hầu như mỗi đêm, dù được trình bày bằng biểu tượng đến mức nào, hay dù phần hành động được xét đến có nhỏ bé ra sao.... Theo quan điểm của [Cayce], những hành động của cá nhân trong ngày vừa qua, và trong giai đoạn hiện tại của đời sống y, mỗi đêm đều được so sánh — ngay trong giấc ngủ — với những lý tưởng sâu thẳm nhất của chính người ấy. Bởi vậy, ai thức dậy mà cau có và không khoẻ khoắn thì nên xem xét lại đời sống của mình, cũng như giấc mơ của mình. Và ai thức dậy với một tâm thế sáng suốt và an hòa thì có thể chắc rằng khi nhớ lại giấc mơ, chúng sẽ không cho thấy y đang ở trong xung đột nội tâm nghiêm trọng....
“Further, the remembered dream needs to be used, if possible.... The subconscious is like a woodland spring to be dipped out and kept flowing, if it is best used. The dreamer may focus on some portion of the dream that strongly appeals to him, provided it is in keeping with his inmost ideal. For dreams, said Cayce, ‘are visions that can be crystallized.’ In dreams the real hopes and desires of the person, not idle wishes alone, are given body and force in the individual....
“Hơn nữa, giấc mơ đã nhớ cần phải được vận dụng, nếu có thể.... Tiềm thức giống như một mạch suối giữa rừng, muốn dùng tốt thì phải múc và giữ cho nó chảy mãi. Người mơ có thể tập trung vào phần nào đó của giấc mơ gây hấp dẫn mạnh với mình, miễn là điều ấy phù hợp với lý tưởng thâm sâu nhất của chính người ấy. Vì giấc mơ, như Cayce nói, ‘là những thị kiến có thể được kết tinh.’ Trong giấc mơ, những hy vọng và khát vọng thật sự của con người — không chỉ là ước muốn vu vơ — được trao cho hình hài và sức mạnh ngay trong chính cá nhân ấy....
“’Study self, study self,’ was Cayce’s first counsel on training to interpret dreams. He told people to search out memories, to list their working ideals in columns (physical, mental, spiritual), to decide what they honored in others and to compare this with themselves, to check their self-perception against what others perceived in them.... [For] every person who seeks to grow, whether in dreams or awake, must find and assess his own working ideals.... Once one clarifies his own deepest ideal, however hard to word and to picture, he must begin lining up his psyche in harmony with it, or his dreams will show him in constant conflict with himself....
“‘Hãy học về chính mình, hãy học về chính mình,’ là lời khuyên đầu tiên của Cayce về việc rèn luyện để giải mộng. Ông bảo người ta truy tìm ký ức, liệt kê các lý tưởng vận hành của họ thành các cột (thể xác, trí tuệ, tinh thần), quyết định họ tôn quý điều gì nơi người khác và so sánh điều đó với chính mình, kiểm chứng tự tri của mình với điều người khác tri nhận về mình.... [Vì] mọi người muốn tăng trưởng, dù trong mơ hay khi tỉnh, đều phải tìm ra và đánh giá các lý tưởng vận hành của chính mình.... Khi một người đã làm rõ lý tưởng sâu thẳm nhất của mình, dù khó diễn thành lời hay hình dung, thì y phải bắt đầu sắp xếp toàn thể tâm linh của mình hài hòa với lý tưởng ấy; nếu không, giấc mơ sẽ cho y thấy mình không ngừng xung đột với chính mình....
“Part of lining up the psyche with its ideal, and ultimately with its Maker, is laying aside fear of past mistakes. Cayce was firm about this, resisting self-condemnation whenever he saw it, and insisting that guilt be replaced with present action. In one of his more startling sayings, he told a dreamer with unpleasant memories of sexual indulgence at the expense of the women in his life that ‘no condition is ever lost.’ Whatever the failing, even the cruelty, if the dreamer puts his life squarely in the hands of the best he knows, he will find his bitter fruits being turned, over the years, to the wine of understanding for others. What has been one’s ‘stumbling-block,’ he often said, can be made his very ‘steppingstone’ towards love and aid to others, because of deep sensitizing action—provided that the psyche is oriented to allow this transmutation to occur.”
“Một phần của việc sắp xếp tâm linh với lý tưởng của nó, và rốt cùng là với Đấng Tạo Hoá của nó, là gác sang bên nỗi sợ các lỗi lầm quá khứ. Cayce rất kiên quyết về điều này, chống lại việc tự kết án mỗi khi ông thấy điều đó, và khẳng định rằng cảm thức tội lỗi phải được thay bằng hành động trong hiện tại. Trong một lời nói khá gây sửng sốt, ông bảo một người mơ có ký ức khó chịu về những phóng túng xác thịt gây tổn hại cho các phụ nữ trong đời y rằng ‘không có tình trạng nào là mất đi.’ Bất luận là thiếu sót nào, dù có là tàn nhẫn, nếu người mơ đặt đời mình cách thẳng thắn vào trong tay điều tốt nhất mà y biết, y sẽ thấy những trái đắng của mình theo năm tháng sẽ được chuyển thành rượu của sự thấu hiểu đối với người khác. Điều từng là ‘hòn đá vấp ngã’ của một người, ông thường nói, có thể trở thành chính ‘bậc thang’ của y tiến về phía tình thương và trợ giúp cho người khác, nhờ tác động làm mềm sâu xa — miễn là tâm linh được định hướng để cho phép diễn ra sự chuyển hoá này.”
Seek, and ye shall find; knock, and it shall be opened unto you Bro leaves us with this final thought:
Hãy tìm thì sẽ thấy; hãy gõ, và sẽ mở cho các ngươi Bro để lại cho chúng ta suy tưởng cuối cùng này:
“One does not need to invent his existence. He has only to ‘use what is in hand’ and ‘the next will be supplied.’ For there are two helping forces always at work to guide the unfolding and spending of a human life.
“Một người không cần phải tự bịa ra sự hiện hữu của mình. Người ấy chỉ cần ‘dùng những gì đang có trong tay’ và ‘điều tiếp theo sẽ được ban cấp.’ Vì luôn có hai lực trợ giúp hoạt động để hướng dẫn sự khai mở và tiêu dùng của một đời người.
“One force is a person’s own original spark of creative energy, a force placed in him at creation, and bearing a potential for love and creativity as great as that of the Creator Itself. The other is a spirit “abroad in the universe” of helpfulness, of unending creativity, kindness, and wisdom.... This other force will ‘seek its own’ within the individual when allowed to do so, and magnify whatever is good within the person.
“Một lực là tia lửa nguyên sơ của năng lượng sáng tạo nơi mỗi con người, một lực được đặt vào y ngay khi tạo thành, và mang tiềm lực về tình thương và sáng tạo lớn ngang chính Đấng Sáng Tạo. Lực kia là một thần lực ‘lan khắp vũ trụ’ của sự trợ giúp, của sáng tạo vô cùng, nhân ái và minh triết.... Lực kia này sẽ ‘tìm những gì thuộc về mình’ trong cá nhân khi được cho phép làm như vậy, và khuếch đại bất cứ điều gì là thiện ở trong con người ấy.
“In Cayce’s view, dreams are of prime importance for the meeting of the ultimate creative force of a person with that other force which ever seeks to help him.”
“Trong quan điểm của Cayce, giấc mơ có tầm quan trọng tối thượng cho cuộc gặp gỡ giữa mãnh lực sáng tạo cùng cực của một con người với lực kia, lực vốn luôn tìm cách trợ giúp y.”
Kristie E. Knutson, Editor xxviii
Kristie E. Knutson, Biên tập viên xxviii
Editor’s Note: In this book, the Editor’s comments are indicated by the phrase Editor’s Note.
Ghi chú của Biên tập viên: Trong quyển sách này, những nhận xét của Biên tập viên được đánh dấu bằng cụm từ Ghi chú của Biên tập viên.
In addition, you will find the text of some readings repeated in more than one chapter, examples of the richness and depth of the Cayce readings, and how they can be explored and understood in many different contexts.
Ngoài ra, bạn sẽ thấy một số đoạn đọc được lặp lại ở nhiều chương — những ví dụ cho sự phong phú và chiều sâu của các bài đọc của Cayce — và cách chúng có thể được khảo cứu và thấu hiểu trong nhiều bối cảnh khác nhau.
Cayce’s entire collection of readings is available on CD-ROM from the A.R.E., so even though a referenced reading may not be found in this book, they have been included for any future research.
Toàn bộ tập hợp các bài đọc của Cayce có sẵn trên CD-ROM từ A.R.E., vì thế dù một bài đọc được tham chiếu có thể không có trong sách này, chúng vẫn được đưa vào để phục vụ mọi nghiên cứu về sau.
1
Cayce on Sleep and Dreams—Cayce bàn về Giấc ngủ và Giấc mơ
Reading 3744-5
Bài đọc 3744-5
Editor’s Note: The 3744 readings form a series of readings given for the specific purpose of dealing with such metaphysical topics as the nature of the mind; the soul; life after death; and so on.
Ghi chú của Biên tập viên: Loạt bài đọc 3744 là một chuỗi bài được đưa ra nhằm mục đích đặc thù là đề cập đến những chủ đề siêu hình như bản tính của thể trí; linh hồn; đời sống sau khi chết; v.v.
(Q) What is a dream?
(H) Giấc mơ là gì?
(A) There are many various kinds of manifestations that come to an animate object, or being; that is in the physical plane of man, which the human family term a dream.
(Đ) Có nhiều loại và dạng khác nhau của các biểu lộ đến với một vật thể hay một hữu thể có sinh khí; tức là trong cõi hồng trần của con người, điều mà nhân loại gọi là giấc mơ.
Some are produced by suggestions as reach the consciousness of the physical, through the various forms and manners as these.
Một số được tạo nên bởi các ám thị chạm đến tâm thức của thể xác, thông qua nhiều hình thức và cách thức như thế.
When the physical has laid aside the conscious in that region called sleep, or slumber, when those forces through which the spirit and soul has manifested itself come, and are reenacted before or through or by this soul and spirit force, when such an action is of such a nature as to make or bring back impressions to the conscious mind in the earth or material plane, it is termed a dream.
Khi thể xác gác lại phần ý thức trong miền gọi là giấc ngủ hay giấc slumber, khi những lực qua đó thần và linh hồn đã tự biểu lộ đến, và được tái hiện trước hoặc qua hoặc bởi lực linh hồn và thần này, khi một hành động như vậy có tính chất làm cho hay đem trở lại các ấn tượng vào thể trí ý thức trong cõi trần hay cõi vật chất, thì điều đó được gọi là giấc mơ.
This may be enacted by those forces that are taken into the system, and in the action of digestion that takes place under the guidance of subconscious forces, become a part of that force through which the spirit and soul of that entity passed at such time. Such manifestations are termed or called nightmares, or the abnormal manifestations on the physical plane of these forces.
Điều này có thể được tái hiện bởi những lực được đưa vào hệ thống, và trong hành động tiêu hoá diễn ra dưới sự dẫn dắt của các lực tiềm thức, chúng trở thành một phần của lực qua đó thần và linh hồn của thực thể đó đi qua vào lúc ấy. Những biểu lộ như vậy được gọi là ác mộng, hay là các biểu lộ bất thường trên cõi hồng trần của những lực này.
In the normal force of dreams are enacted those forces that may be the fore-shadow of condition, with the comparison by soul and spirit forces of the condition in various spheres through which this soul and spirit of the given entity has passed in its evolution to the present sphere. In this age, at present, 1923, there is not sufficient credence given dreams; for the best development of the human family is to give the greater increase in knowledge of the subconscious, soul or spirit world. This is a dream.
Trong dòng lực bình thường của giấc mơ, được tái hiện những lực có thể là cái-báo-trước của một tình huống, với sự so sánh bởi các lực linh hồn và thần về tình huống trong những cảnh giới khác nhau mà linh hồn và thần của thực thể đã đi qua trong tiến hoá của nó đến cảnh giới hiện tại. Trong thời đại này, hiện nay, năm 1923, người ta chưa dành đủ lòng tin cho giấc mơ; bởi sự phát triển tốt đẹp nhất của nhân loại là phải gia tăng hiểu biết về thế giới tiềm thức, linh hồn hay thần giới. Đó là giấc mơ.
(Q) How should dreams be interpreted?
(H) Giấc mơ nên được giải thích thế nào?
(A) Depending upon the physical condition of the entity and that which produces or brings the dream to that body’s forces.
(Đ) Tuỳ thuộc vào tình trạng thể xác của thực thể và điều gì tạo ra hay đem giấc mơ đến với các lực của thân thể đó.
The better definition of how the interpretation may be best is this: Correlate those Truths that are enacted in each and every dream that becomes a part of this, or the entity of the individual, and use such to the better developing, ever remembering develop means going toward the higher forces, or the Creator.
Cách định nghĩa tốt hơn về việc giải thích thế nào cho đúng là như vầy: Hãy tương liên những Chân Lý được tái hiện trong từng mỗi giấc mơ trở thành một phần của cái này, hay thực thể của cá nhân, và vận dụng chúng để phát triển tốt hơn, luôn nhớ rằng phát triển nghĩa là tiến về các lực cao hơn, hay về Đấng Tạo Hoá.
Reading 853-8
Bài đọc 853-8
(Q) Do I actually leave my body at times, as has been indicated, and go to different places?
(H) Có phải đôi khi tôi thực sự rời khỏi thân xác, như đã được chỉ ra, và đi đến những nơi khác nhau không?
(A) You do.
(Đ) Phải, bạn có làm vậy.
(Q) For what purpose, and how can I develop and use this power constructively? (A) Just as has been given as to how to enter into meditation. Each and every soul leaves the body as it rests in sleep. As to how this may be used constructively—this would be like answering how could one use one’s voice for constructive purposes. It is of a same or of a similar import, you see; that is, it is a faculty, it is an experience, it is a development of the self as related to spiritual things, material things, mental things. Then as to the application of self in those directions for a development of same—it depends upon what is the purpose, what is the desire.
(H) Mục đích là gì, và làm sao tôi có thể phát triển và sử dụng năng lực này một cách xây dựng? (Đ) Đúng như đã được đưa ra về cách đi vào tham thiền. Mỗi linh hồn đều rời thân xác khi nghỉ ngơi trong giấc ngủ. Còn việc làm sao vận dụng điều này một cách xây dựng — điều đó giống như trả lời câu hỏi làm sao một người có thể dùng tiếng nói của mình cho mục đích xây dựng. Nó là cùng hay tương tự như vậy, bạn thấy đó; tức là, nó là một khả năng, là một kinh nghiệm, là một sự phát triển của tự thân liên hệ đến các điều thuộc tinh thần, vật chất, trí tuệ. Vậy việc áp dụng tự thân theo những hướng đó để phát triển cũng tuỳ thuộc vào mục đích là gì, ước muốn là gì.
Is it purely material? Is it in that attitude, “If or when I am in such and such a position I can perform this or that”? If so, then such expressions are only excuses within self—in any phase of an experience. For as He has given, it is here a little, there a little—Use that you have in hand today, now, and when your abilities and activities are such that you may be entrusted with other faculties, other developments, other experiences, they are a part of self.
Nó thuần vật chất chăng? Nó mang thái độ rằng, “Nếu hay khi ta ở trong vị thế như thế thì ta có thể làm điều này hay điều kia” chăng? Nếu thế, thì những biểu hiện như vậy chỉ là những cái cớ ở trong tự thân — ở bất kỳ pha nào của một kinh nghiệm. Vì như Ngài đã ban, điều này ở đây một chút, ở kia một chút — Hãy dùng cái bạn đang có trong tay hôm nay, ngay bây giờ, và khi năng lực cùng hoạt động của bạn đủ để bạn được giao phó những khả năng khác, những phát triển khác, những kinh nghiệm khác, thì chúng trở thành một phần của tự thân.
As to how it may be used: Study to show thyself approved unto God, a workman not ashamed of that you think, of that you do, or of your acts; keeping self unspotted from your own consciousness of your ideal; having the courage to dare to do that you know is in keeping with God’s will.
Về cách dùng nó: Hãy học để tỏ mình được chấp thuận trước Thượng đế, một người làm việc không hổ thẹn về điều bạn nghĩ, điều bạn làm, hay hành động của bạn; giữ mình không bị vấy bẩn khỏi chính tâm thức của bạn về lý tưởng của bạn; có dũng khí dám làm điều mà bạn biết là phù hợp với Ý của Thượng đế.
Reading 294-15
Bài đọc 294-15
As we see, all visions and dreams are given for the benefit of the individual, would they but interpret them correctly, for we find that visions, or dreams, in whatever character they may come, are the reflection, either of the physical condition, with apparitions with same, or of the subconscious, with the conditions relating to the physical body and its action, either through mental or through the elements of the spiritual entity, or a projection from the spiritual forces to the subconscious of the individual, and happy may he be that is able to say they have been spoken to through the dream or vision.
Như chúng ta thấy, mọi thị kiến và giấc mơ đều được ban vì lợi ích của cá nhân, nếu họ chịu giải thích chúng cho đúng, vì chúng ta thấy rằng các thị kiến hay giấc mơ, dù đến với hình thái nào, là phản chiếu — hoặc của tình trạng thể xác, kèm theo những hình ảnh tương ứng, hoặc của tiềm thức với các điều kiện liên hệ đến thân thể vật chất và hoạt động của nó, hoặc qua phương diện trí tuệ, hoặc qua các yếu tố của thực thể tinh thần, hoặc là một sự phóng chiếu từ các lực tinh thần đến tiềm thức của cá nhân — và người có thể nói rằng y đã được phán bảo qua giấc mơ hay thị kiến thì thật có phúc.
Reading 903-5
Bài đọc 903-5
Dreams as come to a body are of different nature and character, dependent upon through what channel these are brought to the physical consciousness of the body. All are not brought entirely to the sensuous consciousness; yet often—even though of experience of subconscious mind—may influence an individual as to the trend or bend of the mental action of the mind for quite a period, or until something else may fill the consciousness. Consciousness, in this sense, not wholly that known in the physical as sensuous consciousness; rather an innate consciousness than a sensuous consciousness. Rather an attribute, then, under such conditions, of the subconscious than of the conscious mind.
Các giấc mơ đến với một thân thể có bản tính và đặc điểm khác nhau, tuỳ thuộc chúng được đưa tới tâm thức thể xác của thân thể qua kênh nào. Không phải tất cả đều được đưa hoàn toàn vào tâm thức cảm giác; song thường thì — dù là kinh nghiệm của tâm trí tiềm thức — cũng có thể ảnh hưởng một cá nhân về khuynh hướng hay uốn bẻ của hoạt động trí năng của thể trí trong một khoảng thời gian khá dài, hoặc cho đến khi điều gì khác lấp đầy tâm thức. Tâm thức, trong nghĩa này, không hẳn là cái được biết trên cõi hồng trần như tâm thức cảm giác; đúng hơn là một tâm thức bẩm sinh hơn là một tâm thức cảm giác. Do đó, dưới những điều kiện như thế, nó là một thuộc tính của tiềm thức hơn là của thể trí ý thức.
In the dream—some may be as dreams of a conscious or the subconscious mind, or a correlation of each—or these may be visions of projection of subconsciousness of other minds acting with the subconscious forces of an individual. These—or this character—are always visions. Well that one differentiate between a vision and a dream, or a purely physical reaction.
Trong giấc mơ — một số có thể là các giấc mơ của thể trí ý thức hay của tâm trí tiềm thức, hoặc là sự tương liên của cả hai — hoặc chúng có thể là những thị kiến của sự phóng chiếu tiềm thức của các tâm trí khác tác động cùng với các lực tiềm thức của một cá nhân. Những điều này — hoặc hạng mục này — luôn là các thị kiến. Tốt là nên phân biệt giữa một thị kiến và một giấc mơ, hay một phản ứng thuần thể xác.
Reading 140-6
Bài đọc 140-6
The dreams are that, that the entity may gain the more perfect understanding and knowledge of those forces that go to make up the real existence—what it’s all about and what it’s good for—if the entity would but comprehend the conditions being manifest before same. For as the visions in dream are presented, the inner forces of the entity, in no uncertain way, are presenting emblematical conditions to the entity for its study and for its good, see?
Các giấc mơ là điều nhờ đó thực thể có thể đạt được sự thấu hiểu và tri thức hoàn bị hơn về những lực cấu thành sự hiện hữu đích thực — nó là chuyện gì và tốt cho điều gì — nếu thực thể chịu lĩnh hội các điều kiện đang biểu lộ trước mặt mình. Bởi vì khi các thị kiến trong mộng được trình bày, các lực nội tại của thực thể, một cách không mập mờ, đang trình hiện những tình huống biểu tượng cho thực thể để y học hỏi và vì lợi ích của y, hiểu chứ?
Reading 341-18
Bài đọc 341-18
The dreams come in that way and manner as we have given, and may be used in the way of the entity’s development, in the entity’s gaining that of how the subconscious weighs with the conscious forces of the entity, when these apply to action, and may be acted upon by the physical body.
Các giấc mơ đến theo cách thức và phương thức như chúng ta đã nêu, và có thể được dùng theo cách phục vụ cho sự phát triển của thực thể, để thực thể nắm được mức độ tiềm thức cân nhắc so với các lực ý thức của thực thể như thế nào, khi những điều này áp dụng vào hành động, và có thể được thân thể hồng trần thực thi.
Reading 538-13
Bài đọc 538-13
The dreams as come to the body give that of the lessons that, were same applied correctly in the life of the individual, there will come the more perfect understanding, and those pleasures and joys as would be derived in living that life.
Những giấc mơ đến với thân thể ban cho các bài học — nếu được áp dụng đúng trong đời sống cá nhân — thì sẽ đưa đến sự thấu hiểu hoàn bị hơn, và những niềm vui, hoan lạc như sẽ được gặt hái trong việc sống đời sống ấy.
Reading 137-24
Bài đọc 137-24
The dreams as we see that come to this body are those injunctions to the body of how the forces as may be applied through the entity are presented, and the entity may use same in that manner as has been given. For through these the entity may more perfectly understand those laws as pertain to the manifestations of the psychic forces in the material world. And many of these, we see, pertain to the physical conditions through which entity may see that manifestation in a physical manner, though the conditions are presented at times in emblematical form. Then study well, knowing that the entrance into same gives the more perfect way of understanding—yet must not be turned from.
Những giấc mơ như chúng ta thấy đến với thân thể này là những lời chỉ huấn cho thân thể về cách mà các lực có thể được áp dụng xuyên qua thực thể được trình hiện, và thực thể có thể dùng chúng theo cách như đã được ban. Vì qua những điều này, thực thể có thể thấu hiểu hoàn bị hơn những định luật liên quan đến các biểu lộ của những lực tâm linh trong thế giới vật chất. Và nhiều điều trong số này, chúng ta thấy, liên hệ đến các tình trạng thể xác qua đó thực thể có thể thấy sự biểu lộ theo một cách vật chất, dù các tình trạng ấy đôi khi được trình bày dưới dạng biểu tượng. Vậy hãy học cho kỹ, biết rằng việc bước vào trong các điều này sẽ cho con đường hoàn bị hơn của sự thấu hiểu — nhưng không được quay lưng lại.
Reading 39-3
Bài đọc 39-3
With dreams and visions as come to individual, these are of various classes and groups, and are the emanations from the conscious, subconscious, or superconscious, or the combination and correlation of each, depending upon the individual and the personal development of the individual, and are to be used in the lives of such for the betterment of such individual.
Với các giấc mơ và thị kiến đến với cá nhân, chúng thuộc nhiều lớp và nhóm khác nhau, và là những xuất lộ từ thể trí ý thức, tiềm thức, hay siêu thức, hoặc là sự kết hợp và tương liên của từng phần này, tuỳ theo cá nhân và sự phát triển cá nhân của người đó, và phải được dùng trong đời sống của họ để cải thiện chính họ.
Reading 136-45
Bài đọc 136-45
Yes, we have the body, the enquiring mind, [136]. This we have had here before. The dreams, the visions, the impressions as are gained in experiences through the subconscious forces, are giving to the entity those lessons, as may be applied in the physical body, the physical mind, and in the material manner, as has been outlined for the body. The lessons as are being gained by same are as the truths that come by the entity making itself in an attunement and an at-onement with those universal forces, into which the body-conscious mind enters when in the somnambulistic state, or in sleep: for the subconscious force operates on.
Phải, chúng ta có thân thể, có tâm trí đang thỉnh vấn, [136]. Điều này chúng ta đã có ở đây trước rồi. Những giấc mơ, các thị kiến, các ấn tượng được thu nhận trong những kinh nghiệm qua các lực tiềm thức đang ban cho thực thể những bài học có thể được áp dụng trong thân thể hồng trần, trong thể trí hồng trần, và theo cách thức vật chất, như đã được phác thảo cho thân thể. Những bài học đang được gặt hái bởi chính thực thể là những chân lý đến do thực thể làm cho mình hoà điệu và nhất hợp với những lực phổ quát, vào đó tâm trí-thân xác bước vào khi ở trong trạng thái mộng du, hay trong giấc ngủ: vì lực tiềm thức cứ tiếp tục vận hành.
Use same, then, and apply same for the better conditions, the better understanding of life and life’s purposes, and of those conditions through which the entity passes. For each experience applied is a development for the entity. Without an application of the experience is to act in that way that brings condemnation, or a mis-application of the advantages as may be gained by knowledge.
Vậy hãy dùng chúng, và áp dụng chúng cho những tình trạng tốt hơn, sự thấu hiểu tốt hơn về đời sống và mục đích của đời sống, và về những tình huống mà thực thể đi qua. Vì mỗi kinh nghiệm được áp dụng là một sự phát triển cho thực thể. Không áp dụng kinh nghiệm là hành động theo cách đưa đến sự kết án, hay là một sự áp dụng sai lệch những lợi thế có thể thu được qua tri thức.
Reading 5754-1
Bài đọc 5754-1
Editor’s Note: This is the first of three readings in a series on the nature of sleep.]
Ghi chú của Biên tập viên: Đây là bài thứ nhất trong ba bài đọc thuộc một loạt về bản tính của giấc ngủ.]
GC: You will please outline clearly and comprehensively the material which should be presented to the general public in explaining just what occurs in the conscious, subconscious and spiritual forces of an entity while in the state known as sleep. Please answer the questions which will be asked regarding this:
GC: Xin vui lòng phác thảo rõ ràng và toàn diện những tư liệu nên trình bày cho công chúng khi giải thích điều gì xảy ra nơi các lực ý thức, tiềm thức và tinh thần của một thực thể trong trạng thái gọi là giấc ngủ. Xin trả lời những câu hỏi sẽ được nêu về vấn đề này:
EC: Yes. While there has been a great deal written and spoken regarding experiences of individuals in that state called sleep, there has only recently been the attempt to control or form any definite idea of what produces conditions in the unconscious, subconscious, or subliminal or subnormal mind, by attempts to produce a character—or to determine that which produces the character—of dream as had by an individual or entity. Such experiments may determine for some minds questions respecting the claim of some psychiatrist or psycho-analyst and through such experiments refute or determine the value of such in the study of certain character of mental disturbances in individuals; yet little of this may be called true analysis of what happens to the body, either physical, mental, subconscious or spiritual, when it loses itself in such repose. To be sure, there are certain definite conditions that take place respecting the physical, the conscious, and the subconscious, as well as spiritual forces of a body.
EC: Vâng. Dù đã có rất nhiều điều được viết và nói về các kinh nghiệm của cá nhân trong trạng thái gọi là giấc ngủ, chỉ gần đây mới có nỗ lực kiểm soát hay hình thành một ý niệm xác định nào về điều tạo ra các tình trạng trong vô thức, tiềm thức, hay tiền ý thức hoặc tâm trí hạ chuẩn, bằng các nỗ lực nhằm tạo ra một tính chất — hoặc xác định cái gì tạo ra tính chất — của giấc mơ như được một cá nhân hay thực thể trải qua. Những thí nghiệm như vậy có thể xác định cho một số tâm trí những vấn đề liên quan đến tuyên bố của một số nhà tâm thần học hay phân tâm học, và thông qua các thí nghiệm như thế bác bỏ hay xác lập giá trị của những điều đó trong việc nghiên cứu một số loại rối loạn tâm trí ở cá nhân; tuy thế, ít điều trong số này có thể được gọi là phân tích chân thực về điều xảy đến với thân thể — dù là về mặt thể xác, trí tuệ, tiềm thức hay tinh thần — khi nó đánh mất chính mình trong sự nghỉ ngơi như thế. Chắc chắn là có những điều kiện xác định xảy ra liên quan đến thể xác, ý thức, và tiềm thức, cũng như các lực tinh thần của một thân thể.
So, in analyzing such a state for a comprehensive understanding, all things pertaining to these various factors must be considered.
Vì vậy, khi phân tích một trạng thái như vậy để đạt được một sự thấu hiểu toàn triệt, phải xét đến mọi điều thuộc các yếu tố khác nhau này.
First, we would say, sleep is a shadow of, that intermission in earth’s experiences of, that state called death; for the physical consciousness becomes unaware of existent conditions, save as are determined by the attributes of the physical that partake of the attributes of the imaginative or the subconscious and unconscious forces of that same body; that is, in a normal sleep (physical standpoint we are reasoning now) the senses are on guard, as it were, so that the auditory forces are those that are the more sensitive.
Trước hết, chúng tôi muốn nói, giấc ngủ là cái bóng của — là khoảng nghỉ giữa trong các kinh nghiệm trần gian của — trạng thái gọi là chết; vì tâm thức thể xác trở nên không hay biết các điều kiện hiện hữu, ngoại trừ khi được quyết định bởi các thuộc tính của thể xác mang các thuộc tính của các lực tưởng tượng hay của tiềm thức và vô thức của chính thân thể đó; tức là, trong một giấc ngủ bình thường (về phương diện thể xác, chúng ta đang lý luận bây giờ) các giác quan ở trong tư thế gác canh, như thể, để cho các lực thính giác là những lực nhạy cảm hơn cả.
The auditory sense being of the attributes or senses that are more universal in aspect, when matter in its evolution has become aware of itself being capable of taking from that about itself to sustain itself in its present state. That is as of the lowest to the highest of animate objects or beings. From the lowest of evolution to the highest, or to man.
Giác quan thính giác, là một trong những thuộc tính hay giác quan có phương diện phổ quát hơn, khi vật chất trong tiến hoá của nó đã trở nên tự nhận thức về khả năng thu nhận từ chung quanh mình để duy trì chính mình trong trạng thái hiện tại. Điều này đúng từ thấp nhất đến cao nhất của các vật thể hay hữu thể có sinh khí. Từ điểm thấp nhất của tiến hoá đến cao nhất, tức là đến con người.
So, then, we find that there are left what is ordinarily known as four other attributes that are acting independently and coordinatingly in awareness for a physical body to be conscious. These, in the state of sleep or repose, or rest, or exhaustion, or induced by any influence from the outside, have become unaware of that which is taking place about the object so resting.
Vậy thì, chúng ta thấy rằng còn lại — cái mà thông thường được biết — là bốn thuộc tính khác đang hoạt động một cách độc lập và phối hợp trong sự tỉnh thức cho một thân thể vật chất được ý thức. Những thuộc tính này, trong trạng thái ngủ hay nghỉ, hay nghỉ ngơi, hay do bất kỳ ảnh hưởng nào từ bên ngoài gây nên, đã trở thành không hay biết về những gì đang xảy ra quanh vật thể đang nghỉ như thế.
Then, there is the effect that is had upon the body as to what becomes, then, more aware to those attributes of the body that are not aware of that existent about them, or it. The organs that are of that portion known as the inactive, or not necessary for conscious movement, keep right on with their functioning—as the pulsations, the heart beat, the assimilating and excretory system, keep right on functioning; yet there are periods during such a rest when even the heart, the circulation, may be said to be at rest. What, then, is that that is not in action during such period? That known as the sense of perception as related to the physical brain. Hence it may be truly said, by the analogy of that given, that the auditory sense is sub-divided, and there is the act of hearing by feeling, the act of hearing by the sense of smell, the act of hearing by all the senses that are independent of the brain centers themselves, but are rather of the lymph centers—or throughout the entire sympathetic system is such an accord as to be more aware, more acute, even though the body-physical and brain-physical is at repose, or unaware.
Vậy, có tác động gì gieo lên thân thể để rồi cái gì trở nên tỉnh thức hơn đối với các thuộc tính của thân thể vốn không hay biết về cái đang hiện hữu quanh chúng, hay quanh nó. Các cơ quan thuộc phần gọi là không hoạt động, hay không cần thiết cho cử động có ý thức, cứ tiếp tục hoạt động — như các nhịp mạch, nhịp tim, hệ đồng hoá và bài tiết cứ tiếp tục vận hành; tuy thế có những thời đoạn trong sự nghỉ ngơi như thế mà ngay cả tim, sự tuần hoàn, có thể nói là ở trong trạng thái nghỉ. Vậy, cái gì là cái không hoạt động trong thời đoạn ấy? Điều được gọi là giác quan tri nhận liên hệ đến bộ não thể xác. Do đó, thật có thể nói, theo phép loại suy đã nêu, rằng giác quan thính giác được phân phần, và có hành động nghe bằng cảm giác, hành động nghe bằng khứu giác, hành động nghe bằng tất cả các giác quan vốn độc lập với các trung tâm não bộ, mà đúng hơn là thuộc các trung tâm bạch huyết — hoặc khắp hệ thần kinh giao cảm đều có một hoà điệu đến mức trở nên tỉnh thức hơn, nhạy bén hơn, dù thân thể-hồng trần và não bộ-hồng trần đang nghỉ ngơi, hay không hay biết.
Of what, then, does this sixth sense partake, that has to do so much with the entity’s activities by those actions that may be brought about by that passing within the sense range of an entity when in repose, that may be called—in their various considerations or phases—experiences of something within that entity, as a dream—that may be either in toto to that which is to happen, is happening, or may be only presented in some form that is emblematical—to the body or those that would interpret such.
Vậy thì, giác quan thứ sáu này gồm những gì, cái có liên hệ rất nhiều với các hoạt động của thực thể thông qua những hành động có thể bị mang lại bởi những gì đi vào trong tầm giác của một thực thể khi đang nghỉ, cái có thể được gọi — dưới các xét lường hay pha khác nhau của chúng — là các kinh nghiệm của một điều gì đó ở bên trong thực thể, như một giấc mơ — điều có thể là trọn vẹn về cái sẽ xảy đến, đang xảy đến, hoặc có thể chỉ được trình hiện trong một hình thức mang tính biểu tượng — cho thân thể hay cho những ai sẽ giải thích như thế.
These, then—or this, then—the sixth sense, as it may be termed for consideration here, partakes of the accompanying entity that is ever on guard before the throne of the Creator itself, and is that that may be trained or submerged, or left to its own initiative until it makes either war with the self in some manner of expression—which must show itself in a material world as in dis-ease, or disease, or temper, or that we call the blues, or the grouches, or any form that may receive either in the waking state or in the sleep state, that has enabled the brain in its activity to become so changed or altered as to respond much in the manner as does a string tuned that vibrates to certain sound in the manner in which it is strung or played upon.
Những điều này, vậy thì — hay nói đúng hơn, chính điều này — cái gọi là giác quan thứ sáu, để tiện xét ở đây, thừa hưởng từ thực thể đi kèm luôn gác canh trước ngai của Đấng Sáng Tạo, và là cái có thể được rèn luyện hoặc bị nhận chìm, hoặc bị bỏ mặc theo sáng kiến riêng cho đến khi nó khơi dậy chiến tranh với cái tôi theo một cách biểu hiện nào đó — mà ắt phải tự phơi bày trong thế giới vật chất như là tình trạng bất-an, hay bệnh tật, hay tính khí, hay cái mà chúng ta gọi là u uất, hay cáu bẳn, hay bất kỳ dạng nào có thể nhận lãnh hoặc ở trong trạng thái thức hoặc trong trạng thái ngủ, cái đã làm cho bộ não trong hoạt động của nó trở nên bị đổi khác đến mức đáp ứng giống như một dây đàn được lên dây mà rung theo âm nhất định tuỳ theo cách nó được lên dây hay được gảy lên.
Then we find, this sense that governs such is that as may be known as the other self of the entity, or individual. Hence we find there must be some definite line that may be taken by that other self, and much that then has been accorded—or recorded—as to that which may produce certain given effects in the minds or bodies (not the minds, to be sure, for its active forces are upon that outside of that in which the mind, as ordinarily known, or the brain centers themselves, functions), but—as may be seen by all such experimentation, these may be produced—the same effect—upon the same individual, but they do not produce the same effect upon a different individual in the same environment or under the same circumstance. Then, this should lead one to know, to understand, that there is a definite connection between that we have chosen to term the sixth sense, or acting through the auditory forces of the body-physical, and the other self within self.
Rồi chúng ta thấy, cái giác quan cai quản như vậy là điều có thể được biết như cái-ngã-khác của thực thể hay cá nhân. Thế thì có một đường hướng xác định nào mà cái-ngã-khác đó có thể nắm lấy, và nhiều điều đã được dành cho — hoặc được ghi chép cho — những gì có thể tạo ra các hiệu ứng nhất định trong các tâm trí hay thân thể (không phải là trong các tâm trí, dĩ nhiên, vì các lực hoạt động của nó ở bên ngoài thứ mà thể trí, theo cách thường biết, hay các trung tâm não bộ tự thân, vận hành), nhưng — như có thể thấy qua mọi thí nghiệm như thế, những điều này có thể được tạo ra — cùng một hiệu ứng — trên cùng một cá nhân, nhưng chúng không tạo ra cùng một hiệu ứng nơi một cá nhân khác trong cùng môi trường hay dưới cùng hoàn cảnh. Vậy thì, điều này phải dẫn người ta đến biết, đến thấu hiểu rằng có một mối liên hệ xác định giữa cái mà chúng ta đã chọn gọi là giác quan thứ sáu, hay là cái hành động xuyên qua các lực thính giác của thân thể-hồng trần, và cái-ngã-khác ở trong tự thân.
In purely physical, we find in sleep the body is relaxed—and there is little or no tautness within same, and those activities that function through the organs that are under the supervision of the sub-conscious or unconscious self, through the involuntary activities of an organism that has been set in motion by that impulse it has received from its first germ cell force, and its activity by the union of those forces that have been impelled or acted upon by that it has fed upon in all its efforts and activities that come, then it may be seen that these may be shown by due consideration—that the same body fed upon meats, and for a period—then the same body fed upon only herbs and fruits—would not have the same character or activity of the other self in its relationship to that as would be experienced by the other self in its activity through that called the dream self.
Về mặt thuần thể xác, chúng ta thấy trong giấc ngủ, thân thể được thư giãn — và hầu như không còn hoặc không có sự căng cứng nào ở trong đó, và những hoạt động kia vận hành qua các cơ quan đặt dưới sự trông nom của cái-ngã tiềm thức hay vô thức, thông qua các hoạt động bất tuỳ ý của một cơ thể đã được khởi động bởi xung lực nó nhận từ lực tế bào mầm đầu tiên của nó, và hoạt động của nó bởi sự phối hợp của những lực được thúc đẩy hay tác động bởi cái mà nó đã nuôi dưỡng trong mọi nỗ lực và hoạt động — thì khi ấy có thể thấy rằng những điều này cho phép chứng minh bằng sự cân nhắc đúng đắn — rằng cùng một thân thể nếu được nuôi dưỡng bằng thịt trong một thời kỳ — rồi cùng thân thể đó chỉ được nuôi dưỡng bằng rau và trái cây — sẽ không có cùng một đặc tính hay hoạt động của cái-ngã-khác trong mối liên hệ của nó với cái được trải nghiệm bởi cái-ngã-khác trong hoạt động qua cái gọi là cái-ngã-mộng.
We are through for the moment—present.
Chúng tôi tạm kết thúc cho lúc này — hiện tại.
Reading 5754-2
Bài đọc 5754-2
EC: Now, with that as has just been given, that there is an active force within each individual that functions in the manner of a sense when the body-physical is in sleep, repose or rest, we would then outline as to what are the functions of this we have chosen to call a sixth sense.
EC: Giờ đây, với điều vừa được nêu, rằng có một lực hoạt động trong mỗi cá nhân vận hành theo cách của một giác quan khi thân thể-hồng trần ở trong giấc ngủ, nghỉ ngơi hay an nghỉ, vậy chúng tôi sẽ phác thảo xem các chức năng của cái mà chúng ta đã chọn gọi là một giác quan thứ sáu là gì.
What relation does it bear with the normal physical recognized five senses of a physical-aware body? If these are active, what relation do they bear to this sixth sense?
Nó liên hệ thế nào với năm giác quan bình thường được thừa nhận của một thân thể-vật chất đang tỉnh biết? Nếu những giác quan kia hoạt động, thì chúng liên hệ thế nào với giác quan thứ sáu này?
Many words have been used in attempting to describe what the spiritual entity of a body is, and what relations this spirit or soul bears with or to the active forces within a physical normal body. Some have chosen to call this the cosmic body, and the cosmic body as a sense in the universal consciousness, or that portion of same that is a part of, or that body with which the individual, or man, is clothed in his advent into the material plane.
Người ta đã dùng nhiều từ khi cố mô tả thực thể tinh thần của một thân thể là gì, và mối liên hệ của thần hay linh hồn này với các lực hoạt động trong một thân thể-vật chất bình thường là thế nào. Có người chọn gọi đây là thể vũ trụ, và thể vũ trụ như là một giác quan trong tâm thức vũ trụ, hay là phần thuộc tâm thức vũ trụ vốn là một phần của, hoặc là cái thể mà cá nhân, hay con người, được mặc lấy khi y giáng hạ vào cõi vật chất.
These are correct in many respects, yet by their very classification, or by calling them by names to designate their faculties or functionings, have been limited in many respects.
Những điều này đúng ở nhiều phương diện, tuy nhiên chính bởi việc phân loại như vậy, hoặc bằng cách gọi chúng theo những tên để chỉ định các năng lực hay các vận hành của chúng, mà chúng đã bị giới hạn ở nhiều phương diện.
But what relation has this sixth sense (as has been termed in this presented) with this soul body, this cosmic consciousness? What relation has it with the faculties and functionings of the normal physical mind? Which must be trained? The sixth sense? or must the body be trained in its other functionings to the dictates of the sixth sense?
Nhưng giác quan thứ sáu này (như được đặt tên trong phần trình bày này) liên hệ thế nào với thể linh hồn, với tâm thức vũ trụ? Nó liên hệ thế nào với các năng lực và vận hành của thể trí hồng trần bình thường? Cái nào phải được rèn luyện? Giác quan thứ sáu? Hay thân thể phải được rèn luyện trong các vận hành khác của nó theo các chỉ dẫn của giác quan thứ sáu?
In that as presented, we find this has been termed, that this ability or this functioning—that is so active when physical consciousness is laid aside—or, as has been termed by some poet, when the body rests in the arms of Morpheus—is nearer possibly to that as may be understandable by or to many; for, as given, this activity—as is seen—of a mind, or an attribute of the mind in physical activity—leaves a definite impression. Upon what? The mental activities of the body, or upon the subconscious portion of the body (which, it has been termed that, it never forgets), upon the spiritual essence of the body, or upon the soul itself? These are questions, not statements!
Theo điều được trình bày, chúng ta thấy điều này đã được gọi tên, rằng năng lực hay vận hành này — vốn rất hoạt động khi tâm thức thể xác được gác sang — hay, như một thi sĩ nào đó đã gọi, khi thân thể nghỉ trong vòng tay của Morpheus — thì có lẽ gần nhất với điều có thể hiểu được với nhiều người; bởi vì, như đã nêu, hoạt động này — như thấy được — của một tâm trí, hay một thuộc tính của tâm trí trong hoạt động hồng trần — để lại một ấn tượng xác định. Trên cái gì? Trên các hoạt động tinh thần của thân thể, hay trên phần tiềm thức của thân thể (mà, như người ta nói, nó chẳng bao giờ quên), trên tinh tuý tinh thần của thân thể, hay trên chính linh hồn? Đây là những câu hỏi, không phải những mệnh đề!
In understanding, then, let’s present illustrations as a pattern, that there may be comprehension of that which is being presented:
Để thấu hiểu, vậy thì, chúng ta hãy đưa ra các minh hoạ như là một mô hình, để có thể lĩnh hội điều đang được trình bày:
The activity, or this sixth sense activity, is the activating power or force of the other self. What other self? That which has been builded by the entity or body, or soul, through its experiences as a whole in the material and cosmic world, see? or is as a faculty of the soul-body itself. Hence, as the illustration given, does the subconscious make aware to this active force when the body is at rest, or this sixth sense, some action on the part of self or another that is in disagreement with that which has been builded by that other self, then this is the warring of conditions or emotions within an individual. Hence we may find that an individual may from sorrow sleep and wake with a feeling of elation. What has taken place? We possibly may then understand what we are speaking of. There has been, and ever when the physical consciousness is at rest, the other self communes with the soul of the body, see? or it goes out into that realm of experience in the relationships of all experiences of that entity that may have been throughout the eons of time, or in correlating with that as it, that entity, has accepted as its criterion or standard of judgments, or justice, within its sphere of activity.
Hoạt động này, hay hoạt động của giác quan thứ sáu này, là quyền năng hay mãnh lực kích hoạt của cái-ngã-khác. Cái-ngã-khác nào? Cái đã được xây dựng bởi thực thể hay thân thể, hay linh hồn, xuyên qua các kinh nghiệm như là một toàn thể trong thế giới vật chất và vũ trụ, hiểu chứ? hay là một năng lực của chính thể linh hồn. Bởi vậy, như minh hoạ đã đưa, nếu tiềm thức làm cho năng lực hoạt động này được hay biết — khi thân thể đang nghỉ — hay giác quan thứ sáu này, về một hành động nào đó của tự thân hay của kẻ khác vốn bất tương ưng với cái đã được xây dựng bởi cái-ngã-khác, thì đây là sự giao tranh của các tình trạng hay các cảm xúc ở bên trong một cá nhân. Bởi thế ta có thể thấy rằng một cá nhân có thể từ nỗi sầu mà ngủ rồi thức dậy với cảm thức phấn chấn. Điều gì đã xảy ra? Có thể chúng ta hiểu điều mình đang nói đến. Đã có — và hễ khi tâm thức thể xác được nghỉ — cái-ngã-khác tương giao với linh hồn của thân thể, hiểu chứ? hoặc nó đi ra vào miền kinh nghiệm trong mối quan hệ của mọi kinh nghiệm của thực thể đó có thể đã có xuyên suốt hằng sa kiếp, hoặc tương liên với cái mà thực thể đó đã chấp nhận như là tiêu chuẩn hay chuẩn mực phán xét, hay công bình, trong phạm vi hoạt động của mình.
Hence through such an association in sleep there may have come that peace, that understanding, that is accorded by that which has been correlated through that passage of the selves of a body in sleep. Hence we find the more spiritual-minded individuals are the more easily pacified, at peace, harmony, in normal active state as well as in sleep. Why? They have set before themselves (Now we are speaking of one individual!) that that is a criterion that may be wholly relied upon, for that from which an entity or soul sprang is its concept, its awareness of, the divine or creative forces within their experience. Hence they that have named the Name of the Son have put their trust in Him. He their standard, their model, their hope, their activity. Hence we see how that the action through such sleep, or such quieting as to enter the silence— What do we mean by entering the silence? Entering the presence of that which is the criterion of the selves of an entity!
Bởi vậy, qua một sự tương giao như vậy trong giấc ngủ, có thể đã đến được sự bình an, sự thấu hiểu, điều được ban phát bởi cái đã được tương liên thông qua cuộc hành trình của các ngã của một thân thể trong giấc ngủ. Bởi vậy, chúng ta thấy những cá nhân thiên về tinh thần hơn thì dễ dàng được an hoà, ở trong bình an, hoà điệu hơn — trong trạng thái hoạt động bình thường cũng như trong giấc ngủ. Tại sao? Vì họ đã đặt trước mặt mình (Giờ chúng ta đang nói về một cá nhân!) điều là một chuẩn mực có thể hoàn toàn tin cậy, bởi vì cái mà từ đó một thực thể hay linh hồn xuất phát chính là quan niệm của nó, là sự tỉnh thức của nó về các lực sáng tạo hay thiêng liêng trong kinh nghiệm của họ. Do đó, những ai kêu Danh của Con đã đặt niềm tin vào Ngài. Ngài là chuẩn mực, mô hình, hy vọng, hoạt động của họ. Bởi vậy, chúng ta thấy rằng hành động xuyên qua giấc ngủ như thế, hay sự lắng yên để đi vào im lặng — Chúng ta muốn nói gì khi nói đi vào im lặng? Là đi vào sự hiện diện của cái vốn là chuẩn mực của các ngã của một thực thể!
On the other hand oft we find one may retire with a feeling of elation, or peace, and awaken with a feeling of depression, of aloofness, of being alone, of being without hope, or of fear entering, and the bodyphysical awakes with that depression that manifests itself as of low spirits, as is termed, or of coldness, gooseflesh over the body, in expressions of the forces. What has taken place? A comparison in that “arms of Morpheus”, in that silence, in that relationship of the physical self being unawares of those comparisons between the soul and its experiences of that period with the experiences of itself throughout the ages, and the experience may not have been remembered as a dream—but it lives on—and on, and must find its expression in the relationships of all it has experienced in whatever sphere of activity it may have found itself. Hence we find oft individual circumstances of where a spiritual-minded individual in the material plane (that is, to outward appearances of individuals so viewing same) suffering oft under pain, sickness, sorrow, and the like. What takes place? The experiences of the soul are meeting that which it has merited, for the clarification for the associations of itself with that whatever has been set as its ideal. If one has set self in array against that of love as manifested by the Creator, in its activity brought into material plane, then there must be a continual—continual— warring of those elements. By the comparison we may find, then, how it was that, that energy of creation manifested in the Son—by the activities of the Son in the material plane, could say “He sleeps”, while to the outward eye it was death; for He was—and is—and ever will be—Life and Death in one; for as we find ourselves in His presence, that we have builded in the soul makes for that condemnation or that pleasing of the presence of that in His presence. So, my son, let thine lights be in Him, for these are the manners through which all may come to an understanding of the activities; for, as was given, “I was in the Spirit on the Lord’s day.” “I was caught up to the seventh heaven. Whether I was in the body or out of the body I cannot tell.” What was taking place? The subjugation of the physical attributes in accord and attune with its infinite force as set as its ideal brought to that soul, “Well done, thou good and faithful servant, enter into the joys of thy Lord.” “He that would be the greatest among you—“ Not as the Gentiles, not as the heathen, not as the scribes or Pharisees, but “He that would be the greatest will be the servant of all.”
Mặt khác, thường ta thấy một người có thể đi nghỉ với cảm thức phấn chấn, hay bình an, và thức dậy với cảm thức chán nản, tách biệt, cô độc, vô vọng, hay nỗi sợ chen vào, và thân thể-hồng trần thức dậy với nỗi sầu đậm đặc biểu lộ thành tâm trạng u uất, như người ta gọi, hay cảm giác lạnh, nổi da gà khắp thân, trong các biểu lộ của lực. Điều gì đã xảy ra? Một sự so sánh trong “vòng tay của Morpheus” kia, trong im lặng kia, trong mối quan hệ ấy — khi cái-ngã hồng trần không hay biết — giữa linh hồn và những kinh nghiệm của nó trong giai đoạn đó với các kinh nghiệm của chính nó suốt hằng kiếp, và kinh nghiệm ấy có thể không được nhớ như một giấc mơ — nhưng nó sống tiếp — và sống tiếp, và phải tự biểu lộ trong mối liên hệ với tất cả những gì nó đã kinh nghiệm ở bất cứ cảnh giới hoạt động nào nó đã tự tìm ra mình. Do đó, ta thường thấy các tình huống cá nhân mà trong đó một người thiên về tinh thần ở cõi vật chất (tức là, theo bề ngoài dưới mắt người xem) thường chịu đựng đau đớn, bệnh tật, sầu não, và các sự giống vậy. Điều gì xảy ra? Những kinh nghiệm của linh hồn đang gặp cái mà nó đáng nhận, để làm cho thanh minh cho các mối liên hệ của chính nó với bất cứ điều gì đã được thiết lập làm lý tưởng của nó. Nếu một người đã đặt mình đối nghịch với tình thương như được Đấng Sáng Tạo biểu lộ, trong hoạt động của nó mang vào cõi vật chất, thì phải có một — một — cuộc giao tranh liên miên của những yếu tố đó. Qua sự so sánh, ta có thể thấy làm sao năng lượng sáng tạo ấy được biểu lộ trong Con — qua hoạt động của Con ở cõi vật chất — có thể nói “Ngài đang ngủ”, trong khi dưới mắt người đời đó là cái chết; vì Ngài đã — và đang — và mãi sẽ — là Sự Sống và Sự Chết trong một; bởi vì khi chúng ta thấy mình trong Sự Hiện Diện của Ngài, thì cái chúng ta đã xây dựng trong linh hồn làm nên sự kết án hay làm đẹp lòng sự hiện diện của cái ở trong Sự Hiện Diện của Ngài. Vậy, con trai của ta, hãy để ánh sáng của con ở trong Ngài, vì đây là những cách thức nhờ đó mọi người có thể đi đến một sự thấu hiểu các hoạt động; bởi, như đã được ban, “Ta đã ở trong Thần Linh trong Ngày của Chúa.” “Ta đã được cất lên đến tầng trời thứ bảy. Dầu ở trong thân hay ngoài thân ta không thể nói.” Điều gì đã diễn ra? Sự quy phục các thuộc tính thể xác trong sự hoà điệu và chỉnh hợp với Lực Vô Tận đã được thiết lập làm lý tưởng đã đem đến cho linh hồn lời, “Tốt lắm, hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín, hãy vào hưởng niềm vui của Chúa ngươi.” “Ai muốn làm lớn nhất trong các ngươi —“ Không như dân ngoại, không như phường ngoại bang, không như kinh sư hay Pha-ri-siêu, nhưng “Ai muốn làm lớn nhất thì sẽ là đầy tớ của mọi người.”
What, then, has this to do—you ask—with the subject of sleep? Sleep— that period when the soul takes stock of that it has acted upon during one rest period to another, making or drawing—as it were—the comparisons that make for Life itself in its essence, as for harmony, peace, joy, love, long-suffering, patience, brotherly love, kindness—these are the fruits of the Spirit. Hate, harsh words, unkind thoughts, oppressions and the like, these are the fruits of the evil forces, or Satan and the soul either abhors that it has passed, or enters into the joy of its Lord. Hence we see the activities of same. This an essence of that which is intuitive in the active forces. Why should this be so in one portion, or one part of a body, rather than another? How received woman her awareness? Through the sleep of the man! Hence intuition is an attribute of that made aware through the suppression of those forces from that from which it sprang, yet endowed with all of those abilities and forces of its Maker that made for same its activity in an aware world, or—if we choose to term it such—a three dimensional world, a material world, where its beings must see a materialization to become aware of its existence in that plane; yet all are aware that the essence of Life itself as the air that is breathed—carries those elements that are not aware consciously of any existence to the body, yet the body subsists, lives upon such. In sleep all things become possible, as one finds self flying through space, lifting, or being chased, or what not, by those very things that make for a comparison of that which has been builded by the very soul of the body itself.
Vậy thì, điều này có liên hệ gì — bạn hỏi — với chủ đề giấc ngủ? Giấc ngủ — thời đoạn khi linh hồn kiểm kê những gì nó đã hành động từ một kỳ nghỉ này đến kỳ nghỉ khác, kiến tạo hay vạch ra — như thể — những so sánh cấu thành chính Sự Sống trong bản thể của nó, như đối với hoà điệu, bình an, hoan lạc, tình thương, nhẫn nại, kiên trì, tình huynh đệ, lòng nhân hậu — đó là hoa trái của Thần Linh. Hận thù, lời thô bạo, tư tưởng bất thiện, áp bức và những điều tương tự, đó là hoa trái của các lực tà ác, hay của Sa-tan, và linh hồn hoặc kinh tởm điều nó đã đi qua, hoặc bước vào hoan lạc của Chúa mình. Bởi vậy ta thấy các hoạt động của điều này. Đây là tinh tuý của cái gọi là trực giác trong các lực hoạt động. Tại sao điều này lại là như thế ở một phần, hay bộ phận nào đó của thân thể, hơn là phần khác? Người nữ đã nhận thức được như thế nào? Qua giấc ngủ của người nam! Bởi thế, trực giác là một thuộc tính được làm cho hiện biết qua sự đè nén các lực ấy từ cái mà nó phát sinh, tuy nhiên lại được phú cho mọi khả năng và lực của Đấng Tạo Hoá đã tạo cho chính nó hoạt động trong một thế giới tỉnh biết, hay — nếu ta muốn gọi như thế — một thế giới ba chiều, một thế giới vật chất, nơi mà các sinh thể của nó phải thấy một sự hiện hình để trở nên tỉnh biết về sự hiện hữu của nó trong cõi ấy; tuy vậy mọi người đều hay biết rằng tinh tuý của chính Sự Sống như là không khí được hít thở — mang những yếu tố mà người ta không hay biết cách ý thức về bất kỳ sự hiện hữu nào đối với thân thể, nhưng thân thể lại sống còn bằng những điều ấy. Trong giấc ngủ, mọi sự đều thành khả hữu, như người ta thấy mình bay qua không gian, nâng — hay bị đuổi theo, hay đại loại như vậy — bởi chính những điều làm nên sự so sánh đối với cái đã được xây bởi chính linh hồn của thân thể.
What, then, is the sixth sense? Not the soul, not the conscious mind, not the subconscious mind, not intuition alone, not any of those cosmic forces—but the very force or activity of the soul in its experience through whatever has been the experience of that soul itself. See? The same as we would say, is the mind of the body the body? No! Is the sixth sense, then, the soul? No! No more than the mind is the body! for the soul is the body of, or the spiritual essence of, an entity manifested in this material plane.
Vậy thì, giác quan thứ sáu là gì? Không phải là linh hồn, không phải là thể trí ý thức, không phải là tiềm thức, không phải chỉ là trực giác, không phải bất cứ lực vũ trụ nào — mà là chính mãnh lực hay hoạt động của linh hồn trong kinh nghiệm của nó xuyên qua bất cứ những gì đã là kinh nghiệm của chính linh hồn đó. Hiểu chứ? Giống hệt như ta sẽ nói, thể trí của thân thể có phải là thân thể không? Không! Vậy giác quan thứ sáu có phải là linh hồn không? Không! Không hơn gì thể trí là thân thể! bởi linh hồn là thân của, hay là tinh tuý tinh thần của, một thực thể được biểu lộ trong cõi vật chất này.
We are through for the present.
Chúng tôi tạm kết thúc cho hiện tại.
Reading 5754-3
Bài đọc 5754-3
EC: Yes, we have that which has been given here. Now, as we have that condition that exists with the body and this functioning, or this sense, or this ability of sleep and sense, or a sixth sense, just what, how, may this knowledge be used to advantage for an individual’s development towards that it would attain?
EC: Vâng, chúng ta có điều đã được nêu ở đây. Giờ thì, vì chúng ta có điều kiện đang hiện hữu với thân thể và sự vận hành này, hay giác quan này, hay năng lực này của giấc ngủ và giác quan, hay một giác quan thứ sáu, chính xác là cái gì, bằng cách nào, người ta có thể dùng tri thức này một cách có lợi cho sự phát triển của cá nhân hướng đến điều y muốn đạt?
As to how it may be used, then, depends upon what is the ideal of that individual; for, as has been so well pointed out in Holy Writ, if the ideal of the individual is lost, then the abilities for that faculty or that sense of an individual to contact the spiritual forces are gradually lost, or barriers are builded that prevent this from being a sensing of the nearness of an individual to a spiritual development.
Về việc dùng nó thế nào, điều đó tuỳ thuộc lý tưởng của cá nhân là gì; bởi, như đã được Thánh Kinh chỉ bày rất rõ, nếu lý tưởng của cá nhân bị đánh mất, thì các khả năng để năng lực hay giác quan ấy của cá nhân tiếp xúc với các lực tinh thần dần dần bị mất đi, hoặc những chướng ngại được xây lên — ngăn cản việc điều này trở thành một sự cảm nhận về sự gần gũi của cá nhân đối với một phát triển tinh thần.
As to those who are nearer the spiritual realm, their visions, dreams, and the like, are more often—and are more often retained by the individual; for, as is seen as a first law, it is self-preservation. Then self rarely desires to condemn self, save when the selves are warring one with another, as are the elements within a body when eating of that which produces what is termed a nightmare—they are warring with the senses of the body, and partake either of those things that make afraid, or produce visions of the nature as partaking of the elements that are taken within the system, and active within same itself. These may be given as examples of what it is all about.
Đối với những ai gần hơn với cảnh giới tinh thần, các thị kiến, giấc mơ, v.v., thường xảy ra hơn — và thường được cá nhân ghi nhớ hơn; bởi, như được thấy như một định luật đầu tiên, đó là sự tự tồn. Vậy thì cái-ngã hiếm khi muốn kết án chính mình, trừ khi các cái-ngã đang giao tranh với nhau, như các yếu tố ở trong một thân thể khi ăn những món tạo ra cái gọi là ác mộng — chúng đang giao tranh với các giác quan của thân thể, và mang tính của những điều làm cho sợ hãi, hoặc tạo ra những thị kiến có bản chất mang theo những yếu tố được đưa vào hệ thống và đang hoạt động ở ngay trong chính nó. Những điều này có thể được đưa ra như các ví dụ về “nó là tất cả chuyện gì”.
Then, how may this be used to develop a body in its relationship to the material, the mental, and the spiritual forces?
Vậy, dùng điều này để phát triển một thân thể trong mối liên hệ với các lực vật chất, trí tuệ, và tinh thần như thế nào?
Whether the body desires or not, in sleep the consciousness physically is laid aside. As to what will be that it will seek, depends upon what has been builded as that it would associate itself with, physically, mentally, spiritually, and the closer the association in the mental mind in the physical forces, in the physical attributes, are with spiritual elements, then—as has been seen by even those attempting to produce a certain character of vision or dream—these follow much in that; for another law that is universal becomes active! Like begets like! That which is sown in honor is reaped in glory. That which is sown in corruption cannot be reaped in glory; and the likings are associations that are the companions of that which has been builded; for such experiences as dreams, visions and the like, are but the activities in the unseen world of the real self of an entity.
Dù thân thể có muốn hay không, trong giấc ngủ thì tâm thức thể xác được gác sang. Nó sẽ tìm đến điều gì, tuỳ thuộc vào cái đã được xây như điều nó muốn tương liên — trên phương diện thể xác, trí tuệ, tinh thần — và mối tương liên trong thể trí hồng trần, trong các thuộc tính thể xác, càng gần với các yếu tố tinh thần bao nhiêu, thì — như đã được thấy bởi ngay cả những người cố gắng tạo ra một loại thị kiến hay giấc mơ nhất định — những điều này sẽ theo sát chừng ấy; vì một định luật khác mang tính phổ quát trở nên hoạt động! ĐỒNG THANH TƯƠNG ỨNG! Gieo trong vinh dự thì gặt trong vinh quang. Gieo trong hư hoại thì không thể gặt trong vinh quang; và các ưa thích là những mối tương liên — là những bầu bạn của cái đã được xây; bởi những kinh nghiệm như giấc mơ, thị kiến, v.v., chỉ là các hoạt động trong thế giới vô hình của tự-ngã chân thực của một thực thể.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) How may one train the sixth sense?
(H) Làm sao có thể rèn luyện giác quan thứ sáu?
(A) This has just been given; that which is constantly associated in the mental visioning in the imaginative forces, that which is constantly associated with the senses of the body, that will it develop toward. What is that which is and may be sought? When under stress many an individual—There are no individuals who haven’t at some time been warned as respecting that that may arise in their daily or physical experience! Have they heeded? Do they heed to that as may be given as advice? No! It must be experienced!
(Đ) Điều này vừa được nêu; cái được liên hệ thường xuyên trong việc hình dung bằng tâm trí, trong các lực tưởng tượng, cái được liên hệ thường xuyên với các giác quan của thân thể — thì nó sẽ phát triển theo hướng đó. Cái gì đang và có thể được tìm kiếm? Khi bị căng thẳng, nhiều cá nhân — Chẳng ai là không từng vào lúc nào đó được cảnh báo về điều có thể nảy sinh trong kinh nghiệm hằng ngày hay thể xác của họ! Họ có nghe theo không? Họ có vâng theo điều có thể được ban như lời khuyên không? Không! Nó phải được trải nghiệm!
(Q) How may one be constantly guided by the accompanying entity on guard at the Throne?
(H) Làm sao một người có thể được hướng dẫn liên tục bởi thực thể đi kèm gác canh nơi Ngai?
(A) It is there! It’s as to whether they desire or not! It doesn’t leave but is the active force? As to its ability to sense the variations in the experiences that are seen, is as has been given in the illustration—“As to whether in the body or out of the body, I cannot tell.” Hence this sense is that ability of the entity to associate its physical, mental or spiritual self to that realm that it, the entity, or the mind of the soul, seeks for its association during such periods—see? This might confuse some, for—as has been given—the subconscious and the abnormal, or the unconscious conscious, is the mind of the soul; that is, the sense that this is used, as being that subconscious or subliminal self that is on guard ever with the Throne itself; for has it not been said, “He has given his angels charge concerning thee, lest at any time thou dashest thy foot against a stone?” Have you heeded? Then He is near. Have you disregarded? He has withdrawn to thine own self, see? That self that has been builded, that that is as the companion, that must be presented—that is presented—is before the Throne itself! Consciousness—[physical] consciousness—see—man seeks this for his own diversion. In the sleep [the soul] seeks the real diversion, or the real activity of self.
(Đ) Nó ở đó! Là việc họ có muốn hay không thôi! Nó không rời đi mà là lực hoạt động ư? Còn khả năng cảm nhận các biến thiên trong những kinh nghiệm được thấy thì như đã được nêu trong minh hoạ — “Dầu ở trong thân hay ngoài thân, tôi không thể nói.” Bởi vậy, giác quan này là năng lực của thực thể để tương liên tự-ngã thể xác, tự-ngã trí tuệ hay tự-ngã tinh thần của mình với cảnh giới mà chính thực thể, hay thể trí của linh hồn, tìm đến để tương giao trong những thời đoạn như vậy — hiểu chứ? Điều này có thể làm lẫn lộn một số người, bởi — như đã được nêu — tiềm thức và cái bất thường, hay cái vô thức-ý thức, là thể trí của linh hồn; nghĩa là, giác quan được dùng ở đây — như là tiềm thức hay tự-ngã tiền ý thức — là cái luôn gác canh ngay nơi Ngai; vì há chẳng đã có lời chép rằng, “Ngài đã truyền cho các thiên sứ gìn giữ ngươi, kẻo lúc nào ngươi vấp chân vào đá” đó sao? Bạn đã lắng nghe chăng? Vậy Ngài ở gần. Bạn đã phớt lờ chăng? Ngài đã rút lui về cho chính tự thân bạn, hiểu chứ? Cái tự thân đã được xây, cái làm bầu bạn, cái phải được trình diện — và đang được trình diện — trước chính Ngai! Tâm thức — [physical] consciousness — hiểu — con người tìm kiếm điều này cho sự tiêu khiển của riêng y. Trong giấc ngủ [the soul] tìm kiếm sự tiêu khiển đích thực, hay hoạt động đích thực của tự thân.
(Q) What governs the experiences of the astral body while in the fourth dimensional plane during sleep?
(H) Điều gì chi phối các kinh nghiệm của thể cảm dục trong cõi bốn chiều trong khi ngủ?
(A) This is, as has been given, that upon which it has fed. That which it has builded; that which it seeks; that which the mental mind, the subconscious mind, the subliminal mind, seeks! That governs. Then we come to an understanding of that, “He that would find must seek.” In the physical or material this we understand. That is a pattern of the subliminal or the spiritual self.
(Đ) Như đã được nêu, đó là cái mà nó đã nuôi dưỡng. Cái mà nó đã xây; cái mà nó tìm; cái mà thể trí hồng trần, thể trí tiềm thức, thể trí tiền ý thức tìm! Điều đó chi phối. Vậy thì chúng ta đi đến chỗ thấu hiểu điều rằng, “Ai muốn tìm thì phải kiếm.” Trong cõi hồng trần hay vật chất, điều này chúng ta hiểu. Nó là một mô hình của tự-ngã tiền ý thức hay tự-ngã tinh thần.
(Q) What state or trend of development is indicated if an individual does not remember dreams?
(H) Tình trạng hay khuynh hướng phát triển nào được chỉ ra nếu một cá nhân không nhớ giấc mơ?
(A) The negligence of its associations, both physical, mental and spiritual. Indicates a very negligible personage!
(Đ) Sự lơ là các mối tương liên của mình — cả về thể xác, trí tuệ và tinh thần. Điều đó chỉ ra một nhân cách rất đáng bỏ qua!
(Q) Does one dream continually but simply fail to remember consciously?
(H) Người ta có mơ liên tục nhưng chỉ là không nhớ một cách ý thức chăng?
(A) Continues an association or withdraws from that which is its right, or its ability to associate! There is no difference in the unseen world to that that is visible, save in the unseen so much greater expanse or space may be covered! Does one always desire to associate itself with others? Do individuals always seek companionship in this or that period of their experiences in each day? Do they withdraw themselves from? That desire lies or carries on! See? It’s a natural experience! It’s not an unnatural! Don’t seek for unnatural or supernatural! It is the natural—it is nature—it is God’s activity! His associations with man. His desire to make for man a way for an understanding! Is there seen or understood fully that illustration that was given of the Son of man, that while those in the ship were afraid because of the elements the Master of the sea, of the elements, slept? What associations may there have been with that sleep? Was it a natural withdrawing? Yet when spoken to, the sea and the winds obeyed His voice. Thou may do even as He, wilt thou make thineself aware—whether that awareness through the ability of those forces within self to communicate with, understand, those elements of the spiritual life in the conscious and unconscious, these be one!
(Đ) Vẫn tiếp tục một sự tương liên hoặc rút lui khỏi điều vốn là quyền, hay là khả năng tương liên của mình! Không có khác biệt nào trong thế giới vô hình so với cái hữu hình, ngoại trừ trong vô hình thì một bề rộng hay không gian lớn hơn nhiều có thể được bao quát! Một người có luôn luôn muốn tương liên với kẻ khác không? Các cá nhân có luôn luôn tìm bầu bạn trong thời đoạn này hay thời đoạn kia của kinh nghiệm mỗi ngày không? Họ có tự rút lui khỏi chăng? Ước muốn đó vẫn tiếp diễn hay triển khai! Hiểu chứ? Nó là một kinh nghiệm tự nhiên! Không phải là một điều bất tự nhiên! Đừng cố tìm cái bất tự nhiên hay siêu nhiên! Nó là điều tự nhiên — là thiên nhiên — là hoạt động của Thượng đế! Những mối tương giao của Ngài với con người. Ước muốn của Ngài là mở cho con người một con đường để thấu hiểu! Có thấy hoặc hiểu trọn vẹn thí dụ đã nêu về Con Người chăng, rằng trong khi những người trên thuyền sợ hãi vì các yếu tố thì Đấng Chủ Tể của biển, của các yếu tố, lại ngủ? Có những tương liên nào đã có thể có trong giấc ngủ đó? Nó có phải là một sự rút lui tự nhiên không? Tuy nhiên, khi được gọi, biển và gió vâng theo tiếng Ngài. Ngươi cũng có thể làm như thế, nếu ngươi làm cho mình trở nên tỉnh biết — liệu sự tỉnh biết đó có qua khả năng của những lực ở trong tự thân để giao thông với, thấu hiểu, những yếu tố của đời sống tinh thần trong phần ý thức và vô thức, để cho những điều này nên một!
(Q) Is it possible for a conscious mind to dream while the astral or spirit body is absent?
(H) Có khả hữu chăng để một thể trí ý thức mơ trong khi thể cảm dục hay thể thần vắng mặt?
(A) There may be dreams—(This is a division here) A conscious mind, while the body is absent, is as one’s ability to divide self and do two things at once, as is seen by the activities of the mental mind.
(Đ) Có thể có các giấc mơ — (Ở đây có một sự phân phần) Một thể trí ý thức, trong khi thân thể vắng mặt, thì giống như khả năng của một người để tự phân phần và làm hai việc cùng lúc, như thấy trong các hoạt động của thể trí.
The ability to read music and play is using different faculties of the same mind. Different portions of the same consciousness. Then, for one faculty to function while another is functioning in a different direction is not only possible but probable, dependent upon the ability of the individual to concentrate, or to centralize in their various places those functionings that are manifest of the spiritual forces in the material plane. Beautiful, isn’t it?
Khả năng đọc nhạc và chơi là dùng các năng lực khác nhau của cùng một thể trí. Những phần khác nhau của cùng một tâm thức. Vậy, để một năng lực vận hành trong khi một năng lực khác vận hành theo hướng khác không chỉ là khả hữu mà còn là điều có thể xảy ra, tuỳ thuộc vào khả năng của cá nhân trong việc tập trung, hay trung trụ đúng chỗ các vận hành ấy vốn là những biểu lộ của các lực tinh thần trong cõi vật chất. Đẹp, phải không?
(Q) What connection is there between the physical or conscious mind and the spiritual body during sleep or during an astral experience?
(H) Có mối nối nào giữa thể trí-hồng trần hay tâm thức ý thức và thể thần trong khi ngủ hay trong một kinh nghiệm cảm dục không?
(A) It’s as has been given, that sensing! With what? That separate sense, or the ability of sleep, that makes for acuteness with those forces in the physical being that are manifest in everything animate. As the unfolding of the rose, the quickening in the womb, of the grain as it buds forth, the awakening in all nature of that which has been set by the divine forces, to make the awareness of its presence in matter, or material things.
(Đ) Đó là như đã nêu, cái cảm thụ đó! Với cái gì? Cái giác quan riêng biệt, hay năng lực của giấc ngủ, làm cho các lực ấy trong hiện hữu hồng trần trở nên bén nhạy — điều này được biểu lộ trong mọi vật thể có sinh khí. Như nụ hồng hé nở, sự linh động trong thai, hạt giống đâm chồi, sự tỉnh dậy trong toàn thể thiên nhiên của cái đã được thiết lập bởi các lực thiêng liêng, để làm cho sự hiện diện của Ngài ở trong vật chất, hay các sự vật vật chất, được hay biết.
We are through for the present.
Chúng tôi tạm kết thúc cho hiện tại.
2
Receiving Life Guidance in Dreams—Đón nhận chỉ dẫn cho đời sống trong giấc mơ
Editor’s Note: The following is information on understanding symbols.
Ghi chú của biên tập viên: Sau đây là thông tin về cách thấu hiểu các biểu tượng.
Hugh Lynn Cayce, in the book Dreams: The Language of the Unconscious, states, “The following symbols and their brief interpretation from the Edgar Cayce readings should not be used like a dream book to look up the meaning of your dream symbols. They are given here to fill out the pattern of this large category dealing with understanding self. A few words of a foreign language can be confusing and inadequate. Each person should study the language of his own unconscious, realizing that even the symbols that seem most obvious are frequently used in one’s own dreams in a very individual manner.”
Hugh Lynn Cayce, trong sách Dreams: The Language of the Unconscious, viết: “Các biểu tượng sau đây và phần diễn giải ngắn gọn của chúng trích từ các bài đọc của Edgar Cayce không nên dùng như một cuốn sách giải mộng để tra nghĩa các biểu tượng trong giấc mơ của bạn. Chúng được đưa ra ở đây để bổ khuyết cho mô hình của loại chủ đề lớn này vốn đề cập đến sự hiểu biết về chính mình. Vài từ của một ngoại ngữ có thể gây bối rối và không đầy đủ. Mỗi người nên học ngôn ngữ của vô thức riêng mình, nhận ra rằng ngay cả các biểu tượng tưởng chừng hiển nhiên nhất cũng thường được dùng trong giấc mơ của mỗi người theo một cung cách rất cá biệt.”
Water —Source of life, spirit, unconscious
Nước — Nguồn của sự sống, tinh thần, vô thức
Boat—Voyage of life
Thuyền — Hành trình đời sống
Explosion—Turmoils
Nổ — Biến động
Fire—Wrath, cleansing, destroying
Lửa — Thịnh nộ, tẩy rửa, hủy diệt
A person—Represents what the dreamer feels toward that person Clothing—Way one appears to others
Một người — Biểu trưng cho cảm xúc của người mơ đối với người đó Y phục — Cách một người xuất hiện trước người khác
Animals—Represent some phase of self, according to what one feels about the animal seen. In this area especially the universal, historical, and racial quality of meanings must be considered.
Động vật — Biểu trưng cho một phương diện nào đó của tự ngã, tùy theo cảm xúc của người mơ về con vật đã thấy. Đặc biệt trong lĩnh vực này, cần cân nhắc phẩm tính phổ quát, lịch sử và chủng tộc của các nghĩa.
For example, the bull, sexless human figure, lion and eagle may for many persons symbolize the four lower vital centers of the body: the sex glands, cells of leydig, adrenals, and thymus, in that order. The snake is both a wisdom symbol and a sex symbol, associated with the kundalini. When raised to the higher centers in the head it becomes the wisdom symbol.
Chẳng hạn, con bò mộng, hình người vô tính, sư tử và chim ưng có thể, đối với nhiều người, tượng trưng cho bốn trung tâm sinh lực thấp của cơ thể: tuyến sinh dục, tế bào Leydig, tuyến thượng thận và tuyến ức, theo thứ tự ấy. Con rắn vừa là biểu tượng của minh triết vừa là biểu tượng của tính dục, gắn với kundalini. Khi được nâng lên các trung tâm cao hơn ở đầu, nó trở thành biểu tượng của minh triết.
Fish —Christ, Christian, spiritual food
Cá — Đức Christ, Kitô giáo, lương thực tinh thần
Dead leaves—body drosses
Lá khô — cặn bã của thân
Mud, mire, tangled weeds—That needing cleansing
Bùn, bãi lầy, đám cỏ rối — Điều cần được tẩy sạch
Naked—open to criticism, exposed
Trần trụi — mở toang trước phê phán, bị phơi bày
Reading 294-40
Bài đọc 294-40
(Q) Are we to understand from this [reading 294-39] that every dream that is had by EC in Virginia Beach should be interpreted through the psychic forces?
(Q) Chúng ta có nên hiểu từ [bài đọc 294-39] rằng mọi giấc mơ mà EC có ở Virginia Beach đều nên được diễn giải qua các lực tâm linh không?
(A) Those that make such an impression on the conscious forces as to become a portion of the mental activities of the mind, these should be interpreted. Those that are caused by conditions produced by foods taken, that are of a physical nature, need not be, see?
(A) Những giấc mơ để lại ấn tượng sâu nơi các lực thuộc phần ý thức đến mức trở thành một phần của các hoạt động trí tuệ của thể trí, thì những giấc mơ đó nên được diễn giải. Những giấc mơ do các tình trạng gây nên bởi thực phẩm đã dùng, thuộc tính chất hồng trần, thì không cần, thấy chứ?
(Q) How may he distinguish these, one from the other?
(Q) Y làm sao phân biệt được những điều này với nhau?
(A) One is well remembered, the other as a nightmare, see? or worry, without any specific heads, tails or points, see?
(A) Một loại thì được nhớ rất rõ, loại kia thì như ác mộng, thấy chứ? hay lo âu, mà không có đầu đuôi hay mấu chốt nào cụ thể, thấy chứ?
Editor’s Note: Dreams that focus on the physical body.
Ghi chú của biên tập viên: Những giấc mơ tập trung vào thể xác.
Reading 137-61
Bài đọc 137-61
(Q) Feb. 18 or 19, 1926. Had my tonsils taken out.
(Q) Ngày 18 hoặc 19 tháng 2, 1926. Tôi đã cắt amidan.
(A) With the condition as exists in the body in the physical way and manner, again we find the physical-mental attempting to present to the entity those relations with existent conditions, or something to occur, see? Yet we do not find the relation as presented with the subconscious forces as of an action to take place in a definite time, or in a definite way and manner. Rather, then, should the entity be warned to care. Be sure that such conditions do not arise and have the troubles with same as has been experienced in times back, physically, see?
(A) Với tình trạng đang hiện hữu trong thân theo phương diện hồng trần, một lần nữa chúng ta thấy phương diện thể xác–trí tuệ đang cố gắng trình bày cho thực thể những mối liên hệ với các điều kiện hiện hữu, hoặc điều gì đó sẽ xảy ra, thấy chứ? Tuy nhiên, chúng ta không thấy mối liên hệ như được trình bày với các lực tiềm thức như một hành động sẽ diễn ra vào một thời điểm xác định, hay theo một cách thức xác định. Vậy, thực thể nên được cảnh báo để lưu tâm. Hãy bảo đảm sao cho những tình trạng như thế không phát sinh và gặp lại những rắc rối như đã từng trải nghiệm trước đây, về phương diện thể xác, thấy chứ?
Reading 137-60
Bài đọc 137-60
(Q) Wednesday night, Jan. 20, or Thursday morning, Jan. 21, 1926. I wanted a large cup of coffee, but I was given a demitasse (a small cup).
(Q) Đêm thứ Tư, 20 tháng 1, hoặc sáng thứ Năm, 21 tháng 1, 1926. Tôi muốn một tách cà phê lớn, nhưng tôi được đưa một demitasse (một tách nhỏ).
(A) Necessary, then, that the physical conditions of the body, as is seen, that the subconscious reasons the more perfect for the condition of the entity, that not too heavy, not too much stimulation in this character of caffeine for the body be taken therein.
(A) Như vậy, điều cần thiết là các tình trạng thể xác của thân, như được thấy, sao cho phần tiềm thức lý luận hoàn chỉnh hơn vì ích lợi của thực thể, rằng không quá nặng, không quá nhiều kích thích của loại cafein theo kiểu này được đưa vào thân.
Reading 137-66
Bài đọc 137-66
(Q) Evening of March 6, 1926. While asleep it seemed I tried to awaken but could not. As I fought to wake up the blood seemed to rush to my head and also gave me a headache. I then did wake up, thinking of making fudge.
(Q) Tối ngày 6 tháng 3, 1926. Khi đang ngủ, dường như tôi cố thức dậy nhưng không thể. Khi tôi vùng vẫy để tỉnh, máu dường như dồn lên đầu và cũng gây cho tôi một cơn đau đầu. Sau đó tôi tỉnh dậy, nghĩ đến việc làm kẹo sữa.
(A) There is much more of this dream. There is seen and presented to the entity, in this portion as is retained by the consciousness, as is seen here, how that the subconscious force of the entity warning the entity as to the conditions of the physical forces, and that through which the condition becomes existent. That is, as is seen, the subconscious not able to wake—the change or flow of blood—headache, and with the headache, and the awakening desiring, physically, fudge. The mental forces are not subjugated sufficient as relating to desires (flesh) for the needs of the body. An over amount of those properties such as fudge hinders the circulation.
(A) Giấc mơ này còn nhiều nữa. Ở phần này, như được ý thức giữ lại, cho thấy và trình bày cho thực thể, như được thấy ở đây, rằng lực tiềm thức của thực thể đang cảnh báo thực thể về các tình trạng của các lực thể xác, và về điều làm cho tình trạng ấy trở nên hiện hữu. Tức là, như thấy, tiềm thức không thể thức dậy—sự thay đổi hay dòng chảy của máu—đau đầu, và cùng với cơn đau đầu, khi thức dậy thì ham muốn, về mặt thể xác, kẹo sữa. Các lực trí tuệ chưa được chế ngự đủ mức khi liên hệ đến các dục vọng (xác thịt) đối với nhu cầu của thân. Dùng quá nhiều những thứ như kẹo sữa cản trở tuần hoàn.
Reading 900-234
Bài đọc 900-23 4
(Q) [[137]’s dreams]: Wednesday Night, May 5, or Thursday Morning, May 6, 1926. I was at what seemed to be a family party. We were eating refreshments when Edward Blum and someone started to fight. Hot words led to a fist fight and I finally separated them.
(Q) [[Giấc mơ của [137]]: Đêm Thứ Tư, ngày 5 tháng 5, hoặc sáng Thứ Năm, ngày 6 tháng 5, 1926. Tôi ở trong một buổi tiệc gia đình. Chúng tôi đang ăn đồ tráng miệng thì Edward Blum và ai đó bắt đầu đánh nhau. Lời qua tiếng lại dẫn đến ẩu đả và cuối cùng tôi tách họ ra.
(A) In this there is presented to the entity that warning as to the diets in the physical forces of the body; for, as has been given that the entity should be warned as respecting that that is taken in the system, especially in the way of sweets and of those things that overload the weakened condition in the red blood supply of the body, as there is seen in the vision, the entity attempts and seems unable at first, yet overcomes the conditions, same as may be seen in the physical manner that the body will, through will’s force of the physical body, overcome those conditions that would be detrimental to the best interests of the body, mentally and physically.
(A) Trong điều này có lời cảnh báo cho thực thể về chế độ ăn trong các lực thể xác của thân; bởi, như đã được đưa ra, thực thể nên được cảnh báo về những gì được đưa vào hệ thống, đặc biệt là các đồ ngọt và những thứ chất tải quá mức tình trạng suy yếu trong nguồn hồng cầu của cơ thể, như được thấy trong khải tượng, thực thể cố gắng và dường như ban đầu không thể, nhưng rồi vượt qua các tình trạng ấy, cũng như có thể thấy trong phương diện hồng trần rằng thân, thông qua lực của ý chí của thân, sẽ vượt qua các điều kiện vốn sẽ gây bất lợi cho lợi ích tốt nhất của thân, cả về trí tuệ lẫn thể xác.
As is seen in the special individual, as that individual represents in the mental mind of the body, [137], certain conditions in the physical or moral plane, then those that are represented by same are those that should be warned of, for, as is seen, there has been given that the entity should take some stimulants occasionally for the weakness in the physical forces of the body, but of a specific nature, and that will have certain specific conditions produced by same. Then, in taking the sweets in certain forms, as are seen, these produce a different character of alcohol within the body itself. This nature, or this character of same, with the condition, proving then detrimental. Thence, be warned of the physical conditions of the body, especially as the warm weather begins, see?
Như được thấy nơi cá nhân đặc thù, vì cá nhân đó đại diện trong tâm trí của thân, [137], cho những tình trạng nào đó trên phương diện thể xác hoặc đạo đức, thì những người được đại diện bởi người ấy là những người nên được cảnh báo; bởi, như được thấy, đã có lời khuyên rằng thực thể đôi khi nên dùng vài chất kích thích cho sự suy yếu trong các lực thể xác của thân, nhưng theo một bản chất đặc thù, và sẽ tạo ra những tình trạng đặc thù nhất định. Thế thì, khi dùng đồ ngọt ở một số hình thức như được thấy, những thứ này tạo ra một dạng cồn khác trong chính cơ thể. Bản chất hay tính chất của thứ ấy, trong tình trạng này, tỏ ra bất lợi. Vì vậy, hãy cảnh giác về các tình trạng thể xác của thân, nhất là khi thời tiết ấm bắt đầu, thấy chứ?
Reading 136-21 12/2/25
Bài đọc 136-21 12/2/25
(Q) Sunday morning, November 29. I was going into swim from a rickety plat form—very unsubstantial in its structure. As I jumped in or tried to dive in, I made a belly whapper—i.e. landed on my stomach—it hurt.
(Q) Sáng Chủ nhật, ngày 29 tháng 11. Tôi định đi bơi từ một cái bục ọp ẹp—cấu trúc của nó rất thiếu vững chắc. Khi tôi nhảy xuống hay cố lao đầu xuống, tôi lại rơi sấp bụng—tức là đáp bằng bụng—đau lắm.
(A) In this we find there is brought to the conscious mind in an emblematical manner and form, through physical conditions existent in the body, that which may be used as the lesson for the entity, see? For as the pain in the inmost portion of the torso gives rise to the emblematical condition presented, the entering the water, the desire to swim, to dive, the entering into those conditions as regard to motherhood—and as the body finds self in the attitude ready for that, the physical conditions or structure in which the body has kept self is not prepared in the manner as would bring the better conditions for the condition of that office at this time, see? And as this will soon occur, the body should take cognizance and be more sure of that position by and in self for this greatest of offices given to the sex—woman. [2/26/25 She had miscarriage.] [GD’s note: Her son was born 16 months later on 4/4/27.]
(A) Trong việc này, chúng ta thấy có điều được mang lên tâm trí có ý thức theo cách và hình thức biểu tượng, thông qua các tình trạng thể xác đang hiện hữu trong thân, điều mà có thể được dùng làm bài học cho thực thể, thấy chứ? Bởi vì khi cơn đau ở phần trong sâu nhất của thân mình làm nảy sinh tình trạng mang tính biểu tượng đã được trình bày—nhảy vào nước, mong muốn bơi, lặn—tức là bước vào các điều kiện liên quan đến thiên chức làm mẹ—và khi thân thấy mình trong tư thế sẵn sàng cho điều đó, thì các tình trạng thể xác hay cấu trúc mà thân đã giữ gìn cho mình chưa được chuẩn bị theo cách thức sẽ mang lại điều kiện tốt hơn cho chức phận ấy vào lúc này, thấy chứ? Và vì điều này sẽ sớm xảy đến, thân nên lưu tâm và bảo đảm hơn về vị thế của mình, bởi và trong tự thân, cho thiên chức cao cả nhất được ban cho phái tính—phụ nữ. [2/26/25 Bà bị sẩy thai.] [Ghi chú của GD: Con trai của Bà sinh 16 tháng sau vào 4/4/27.]
Reading 136-29
Bài đọc 136-29
(Q) The family, including [900], were quarreling over my mother [139] and her health and what should or should not be done. The Voice: “Listen and heed two doctors first: Dr. Eldsberge & second Dr.—” The name of the second doctor forgotten. Who is this second doctor to be heeded?
(Q) Gia đình, gồm cả [900], đang cãi vã về mẹ tôi [139] và sức khỏe của Bà, rằng nên hay không nên làm gì. Tiếng Nói: “Hãy lắng nghe và lưu tâm đến hai bác sĩ trước tiên: Bác sĩ Eldsberge & thứ hai là Bác sĩ—” Tên bác sĩ thứ hai đã quên. Vị bác sĩ thứ hai cần lưu tâm là ai?
(A) (interrupting) The Great Physician.
(A) (ngắt lời) Vị Đại Y Sư.
(Q) (continuing) And just exactly what event is referred to here?
(Q) (tiếp tục) Và chính xác sự kiện nào được nhắc đến ở đây?
(A)... As is given, heed physically in that way as given by the physician in charge, for this is the mechanical end; yet the One as forgotten, one as unheeded, unheralded, gives the greater promise and the supplying force to the mechanical, and through the spirit elements supplies that necessary for the curative forces in each and every individual. Then the lesson: Though same may be viewed from the material end, yet within that force which is supplied through the divine forces as are manifest, is that ever ready influence in the lives of all, if all would heed.
(A)... Như đã được nói, hãy lưu tâm về phương diện thể xác theo cách mà vị bác sĩ phụ trách đã chỉ dẫn, vì đây là đầu mút mang tính cơ học; nhưng Đấng đã bị quên, Đấng không được lưu tâm, không được xướng danh, mới ban lời hứa lớn hơn và lực bổ trợ cho khía cạnh cơ học ấy, và qua các yếu tố tinh thần cung ứng điều cần thiết cho các lực chữa lành trong mỗi cá nhân. Vậy, bài học là: Dù điều ấy có thể được nhìn từ đầu mút vật chất, nhưng ở trong lực vốn được cung ứng qua các lực thiêng liêng đang hiển lộ, luôn có ảnh hưởng sẵn sàng trong đời sống của mọi người, nếu mọi người chịu lưu tâm.
Reading 379-9
Bài đọc 379-9
(Q) What is the cause and effects of the sweats and nightmare that I had on Sunday night, May 16th?
(Q) Nguyên nhân và hệ quả của những cơn vã mồ hôi và ác mộng mà tôi gặp tối Chủ nhật, ngày 16 tháng 5, là gì?
(A) Poor circulation, disturbance between the purely mental-physical forces and the imaginative or spiritual forces, with the general debilitations—see? The attempting, as it were, of coordination.
(A) Tuần hoàn kém, rối loạn giữa các lực thuần trí tuệ–thể xác và các lực tưởng tượng hoặc tinh thần, kèm theo tình trạng suy nhược chung—thấy chứ? Như là nỗ lực phối hợp vậy.
Reading 136-54
Bài đọc 136-54
(Q) Night of December 28, or morning of 29, 1926. I was in India and many streams seemed to run into the one pool. I jumped in one and swam and said to
(Q) Đêm 28 hoặc sáng 29 tháng 12, 1926. Tôi ở Ấn Độ và nhiều dòng suối dường như chảy vào một hồ. Tôi nhảy vào một dòng và bơi, rồi nói với [900]:
[900]: See, you said it would hurt me to do this—harm my pregnant condition, but it has not at all.
Thấy không, anh nói rằng làm thế sẽ làm tôi đau—gây hại cho tình trạng mang thai của tôi, nhưng hoàn toàn không.
(A) Again we find a different phase of conditions presented through the mentality of the individual regarding conditions in which the body might indulge, and questioning conditions arise in the minds of others as to whether the entity should or should not indulge. And, as is seen, India represents to the mentality of the entity a state of condition. Water represents another element of beginning or sources of all force. The entering into that of all source of force brings to the entity the knowledge of safety, see? Then, the lesson as may be gained may be more than twofold—that is, that the presented conditions are that, when the entity is at an at-oneness with the source of force, the entity’s actions with same are nearer in keeping with the universal forces, see? Hence conditions so applied in purpose, in intent, and in the full knowledge of the at-oneness of force brings to this entity, to other entities, that security in the all-powerful forces of universal expression or universal manifestation in the material plane.
(A) Một lần nữa, chúng ta thấy một phương diện khác của các tình trạng được trình bày qua tâm trí của cá nhân liên quan đến những điều mà thân có thể buông mình vào, và những nghi vấn nảy sinh trong tâm trí của những người khác về việc thực thể có nên hay không nên buông mình vào. Và, như được thấy, Ấn Độ đại diện trong tâm trí thực thể cho một trạng thái điều kiện. Nước đại diện cho một yếu tố khác của khởi nguyên hay nguồn của mọi lực. Bước vào yếu tố vốn là nguồn của mọi lực đem lại cho thực thể tri thức về sự an toàn, thấy chứ? Vậy, bài học có thể thu hoạch được hơn cả hai bề—tức là, các tình trạng được trình bày cho thấy rằng, khi thực thể ở trong trạng thái nhất-thể với nguồn lực, thì hành động của thực thể hòa cùng với điều đó sẽ gần gũi hơn với các lực phổ quát, thấy chứ? Do đó, những điều kiện được áp dụng như thế về mục đích, về ý hướng, và trong tri thức đầy đủ về trạng thái nhất-thể của lực, sẽ đem đến cho thực thể này, cũng như các thực thể khác, sự bảo đảm trong các lực toàn năng của biểu lộ phổ quát hay hiển lộ phổ quát trong cõi vật chất.
Hence many conditions are detrimental to an entity because the entity thinks they will be, or has been told they will be, see? while in self, if known that they will not be—will not be, see? Referring to every element wherein the entity may take thought, whether as to trip, or whether as to any conditions in which the entity would indulge—that is, would the entity be in whole at-oneness with the divine purposes as would be set forth by the conditions as are existent in every element, these would not be detrimental—but rather beneficial, see? This does not indicate that one may attempt to defeat any of the natural laws as are set forth, for compliance with the law is to become the law—not at variance with the law!
Bởi thế, nhiều tình trạng gây hại cho một thực thể chỉ vì thực thể nghĩ chúng sẽ gây hại, hoặc được bảo rằng chúng sẽ gây hại, thấy chứ? trong khi nơi tự thân, nếu biết rằng chúng sẽ không—sẽ không, thấy chứ? Ám chỉ mọi yếu tố mà thực thể có thể suy xét, dù là về chuyến đi, hay về bất kỳ điều kiện nào trong đó thực thể muốn buông mình—tức là, nếu thực thể hoàn toàn ở trong trạng thái nhất-thể với các mục đích thiêng liêng như sẽ được bày tỏ bởi những điều kiện hiện hữu trong mọi yếu tố, thì những điều ấy sẽ không gây hại—mà đúng hơn là mang lợi ích, thấy chứ? Điều này không có nghĩa là người ta có thể tìm cách bẻ gãy bất kỳ định luật tự nhiên nào đã được thiết lập, vì thuận theo luật là trở thành luật—chứ không đối nghịch với luật!
Editor’s Note: Dreams on life lessons.
Ghi chú của biên tập viên: Những giấc mơ về các bài học đời sống.
Reading 136-7
Bài đọc 136-7
(Q) June 25, 1925, at home in Deal. Dreamed of teeth and my sister-in-law, [140], who said to me, “I’ll have to get all false teeth.”
(Q) Ngày 25 tháng 6, 1925, ở nhà tại Deal. Mơ thấy răng và chị dâu tôi, [140], người đã nói với tôi: “Tôi sẽ phải làm cả bộ răng giả.”
(A) This, as we see, is again a correlating of physical conditions, through the subconscious projection in an emblematical form and manner, indicating that there will come sharp words between the two individuals seen. The lesson: Knowing that such will occur and that there perhaps would be exception taken at something that might be said, do not allow same to make a difference in conditions that should exist between the two.
(A) Ở đây, như chúng ta thấy, lại là một sự tương quan các tình trạng thể xác, thông qua sự phóng chiếu của tiềm thức theo hình thức và cách thức biểu tượng, chỉ ra rằng sẽ có những lời lẽ gay gắt giữa hai người được thấy. Bài học: Biết rằng điều ấy sẽ xảy ra và rằng có lẽ sẽ có sự phật ý trước điều gì đó có thể được nói ra, đừng để điều ấy làm thay đổi những điều kiện vốn nên tồn tại giữa hai người.
Reading 137-54
Bài đọc 137-54
(Q) Something about not dreaming properly. That is, I was making myself sick. (A) Rather that as is presented (of making the self sick), making self not taking, not accepting, not building, on dreams or visions, or that as being presented. Then to the entity, there is as this: Again and again the entity catches, through experience, through dream, through vision, those conditions that, builded into the full consciousness of self, with that decided stand as within self concerning those as are seen, would bring the greater peace, joy, happiness, understanding, and in the physical build the greater strength, be the greater help in all times of need. Then take same. Then apply same, that the light, as may be given to others through this entity, may shine; not as one reflected, but as from one whom is giving of self in the way of being the reflection of self in that light.
(Q) Có điều gì đó về việc không mơ đúng cách. Tức là, tôi đang tự làm mình ốm. (A) Đúng hơn, như được trình bày (về việc tự làm mình ốm), là đang không đón nhận, không chấp nhận, không xây dựng trên những giấc mơ hay các khải tượng, hay những gì đang được trình bày. Vậy thì đối với thực thể, là như sau: Hết lần này đến lần khác, thực thể nắm bắt, qua kinh nghiệm, qua giấc mơ, qua khải tượng, những điều kiện mà, nếu được xây vào ý thức đầy đủ của tự thân, với lập trường dứt khoát bên trong tự thân liên quan đến những điều đã thấy, sẽ đem lại bình an lớn hơn, hoan lạc, hạnh phúc, thấu hiểu, và về thể xác thì xây dựng sức mạnh lớn hơn, là sự trợ giúp lớn hơn trong mọi thời khắc cần kíp. Vậy hãy đón nhận điều ấy. Hãy áp dụng điều ấy, để ánh sáng, như có thể được ban cho người khác qua thực thể này, có thể chiếu soi; không như ánh phản chiếu vay mượn, mà như từ một người hiến dâng tự thân theo cách trở thành phản chiếu của chính mình trong ánh sáng ấy.
Reading 1968-10
Bài đọc 1968-10
(Q) What is meant in my life reading by the statement that I would have impos ing dreams and how can I best interpret them to be helpful to me in the present? (A) These have come, these may come. Ye interpret them in thyself.
(Q) Trong bài đọc đời sống của tôi, câu nói rằng tôi sẽ có những giấc mơ gây ấn tượng lớn nghĩa là gì và tôi có thể diễn giải chúng cách tốt nhất thế nào để hữu ích cho tôi trong hiện tại?
Not by dream book, not by what others say, but dreams are presented in symbols, in signs. Oft they may be as opposite that which is presented to the body which has been in some of those indicated that bring warnings, blessings. Then keep thyself pure in mind and body.
(A) Những điều này đã đến, và có thể đến. Ngươi hãy tự diễn giải chúng trong chính mình. Không theo sách giải mộng, không theo lời người khác, mà các giấc mơ được trình bày bằng biểu tượng, bằng dấu hiệu. Thường chúng có thể là điều đối nghịch với điều được trình bày cho thân thể, vốn đã nằm trong một số điều được chỉ ra nhằm mang cảnh báo, phước lành. Vậy hãy giữ mình thanh sạch trong tâm và thân.
For the Lord’s are oft spoken in dreams, in visions. For He is the same yesterday, today and forever. Be not unmindful that there is the manner of life ye live so that ye merit this or that experience.
Vì Lời của Chúa thường được phán qua mộng, qua khải tượng. Vì Ngài hôm qua, hôm nay và mãi mãi như nhau. Đừng quên rằng có cách sống mà ngươi sống, để ngươi xứng đáng với kinh nghiệm này hay kinh nghiệm kia.
Reading 106-6
Bài đọc 106-6
GC: You will have before you the body of [106], and the dreams this body had in her apartment..., New York City. The first dream on Tuesday night, March 10th, or early Wednesday morning, March 11th, 1925, was as follows: Shoes hurt her terribly and she took them to shoemaker to be fixed. He slit or prepared something to put in them, when that something seemed to explode and turn into two American flags high up in the air, which she and shoemaker tried to reach, but the flags were too high up. The shoemaker finally got the shoes fixed such that they were comfortable on her feet, when she looked down to note that her fine silk stockings were full of holes. You will give the interpretations of these dreams and the lessons to be gained from same.
GC: Ông sẽ có trước mình thân thể của [106], và những giấc mơ mà thân này đã có trong căn hộ của bà..., Thành phố New York. Giấc mơ đầu tiên vào đêm Thứ Ba, ngày 10 tháng 3, hoặc rạng sáng Thứ Tư, ngày 11 tháng 3, 1925, như sau: Giày làm bà rất đau và bà mang chúng đến thợ đóng giày để sửa. Ông ấy rạch hoặc chuẩn bị thứ gì đó để nhét vào, thì thứ đó dường như nổ tung và hóa thành hai lá cờ Mỹ bay cao trên không, mà bà và người thợ cố với tới, nhưng cờ ở quá cao. Cuối cùng thợ giày cũng sửa xong đôi giày sao cho chúng đi thoải mái, thì bà nhìn xuống thấy đôi tất lụa mịn của mình thủng đầy lỗ. Ông sẽ đưa ra các diễn giải về những giấc mơ này và các bài học có thể rút ra từ đó.
EC: Yes, we have the body here, and the dreams with their lessons as may be gained from these. In giving this we must first take into consideration the conditions surrounding the mental forces of the body through which these dreams or visions were given. While the body does have the dreams and the relations as are found between the conscious existence of forces in self and that as reached through the subconscious forces of the body, there have been few that the body retains in their entirety, yet portions of same often are brought to the consciousness of the individual.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể ở đây, và có các giấc mơ cùng những bài học có thể thu hoạch từ đó. Khi đưa ra điều này, trước hết chúng ta phải xét đến các tình trạng bao quanh những lực trí tuệ của thân thể qua đó những giấc mơ hay khải tượng này được ban cho. Tuy thân có những giấc mơ và các mối liên hệ được tìm thấy giữa sự tồn tại có ý thức nơi tự thân và điều được vươn tới qua các lực tiềm thức của thân, đã có ít giấc mơ mà thân giữ được toàn vẹn, nhưng những phần của chúng thường được mang lên ý thức của cá nhân.
Then, we find the individual, [106], under the present stress of conditions, physically and mentally, brings these, as it were, to the consciousness of self through these existent conditions. And these as we find are emblematical of conditions existent in those surrounding the individual and pertaining to the foundation, as in shoes, for the individual and for those about the body.
Vậy, chúng ta thấy cá nhân, [106], dưới áp lực của các tình trạng hiện tại, về thể xác và trí tuệ, đã, như thể, mang những điều này lên ý thức của tự thân thông qua các tình trạng hiện hữu ấy. Và những điều này như chúng ta thấy mang tính biểu tượng của các tình trạng hiện hữu trong những điều vây quanh cá nhân và liên hệ đến nền tảng, như ở đôi giày, cho cá nhân và cho những người quanh thân.
The seeking to have someone assist in preparing the foundation is that represented in going to someone to seek assistance. With the sudden explosion is indicated the change entirely that is to occur from the manner in which the foundations are to be prepared or made.
Việc đi tìm một ai đó hỗ trợ trong việc chuẩn bị nền tảng là điều được biểu thị ở việc nhờ một người để tìm trợ giúp. Sự nổ bùng bất ngờ cho thấy sự thay đổi hoàn toàn sẽ xảy ra đối với cách thức mà các nền tảng được chuẩn bị hay kiến tạo.
The flying away of flag is emblematical of the heights of two different ways, yet made the same, as both are of the same nature in flag.
Việc cờ bay đi là biểu tượng cho độ cao của hai đường lối khác nhau, nhưng được làm nên như nhau, vì cả hai đều cùng một bản chất trong biểu tượng lá cờ.
The inability to reach same by self, and the help sought, indicates the manner that each shall go above that necessary of help from either.
Sự bất lực không thể tự với tới, và việc đi tìm trợ giúp, chỉ ra cách mỗi người sẽ vươn cao hơn điều cần thiết của sự giúp đỡ từ cả hai phía.
With the preparation of the foundation for use, and the finding of the rents in the apparel, is shown the faulty conditions the entity may obtain in self through the manner of seeking the aid.
Khi nền tảng được chuẩn bị để sử dụng, và phát hiện những chỗ rách nơi y phục, điều này cho thấy những tình trạng khiếm khuyết mà thực thể có thể mắc phải nơi tự thân do cách tìm kiếm sự trợ giúp ấy.
The lessons then are apparent in the explanation of what this means.
Vậy, các bài học đã rõ ràng qua phần giải thích ý nghĩa của điều này.
Reading 39-3
Bài đọc 39-3
MHB: Now you will have before you the body of [39], present in this room, and the enquiring mind of this body, who had the dream I will give you during the course of the past six years. At various times during the past six years the body has experienced the following: Visualized airship heavier than air, which collects its lifting and driving force from the atmosphere by means of points on the top of it. Underneath this machine there are apparently two heavy copper bars running the length of it, having small points underneath, which when charged with the force lifts the machine from the air apparently neutralizing the force of gravity. The machine was driven by the power streaming from points attached to the rear. You will give the interpretation of this dream or vision, tell us if such a machine is practical and if such a power is available, and how such may be made. You will answer questions regarding this.
MHB: Giờ ông sẽ có trước mình thân thể của [39], hiện có mặt trong phòng này, và tâm trí muốn tìm tòi của thân này, người đã có giấc mơ mà tôi sẽ trình bày cho ông trong khoảng sáu năm qua. Vào những thời điểm khác nhau trong sáu năm qua, thân đã trải nghiệm như sau: Hình dung một khí cầu nặng hơn không khí, vốn thu nhận lực nâng và lực đẩy từ khí quyển nhờ những điểm trên phần đỉnh của nó. Bên dưới cỗ máy này dường như có hai thanh đồng nặng chạy dọc theo chiều dài của nó, có các điểm nhỏ phía dưới, và khi được nạp lực thì nâng cỗ máy khỏi không khí, dường như triệt tiêu lực hấp dẫn. Máy được dẫn động bởi nguồn lực tuôn ra từ các điểm gắn ở phía sau. Ông sẽ đưa ra diễn giải về giấc mơ hay khải tượng này, cho chúng tôi biết liệu một cỗ máy như thế có khả thi và liệu một nguồn lực như thế có sẵn hay không, và làm thế nào có thể kiến tạo nó. Ông sẽ trả lời các câu hỏi liên quan.
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, [39], here. With dreams and visions as come to individual, these are of various classes and groups, and are the emanations from the conscious, subconscious, or superconscious, or the combination and correlation of each, depending upon the individual and the personal development of the individual, and are to be used in the lives of such for the betterment of such individual.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể, có tâm trí muốn tìm tòi, [39], ở đây. Với các giấc mơ và khải tượng đến với cá nhân, chúng thuộc nhiều hạng và nhóm khác nhau, và là những xuất lộ từ phần ý thức, tiềm thức, hay siêu thức, hoặc là sự kết hợp và tương quan của mỗi phần, tùy thuộc vào cá nhân và sự phát triển cá nhân của người ấy, và chúng được dùng trong đời sống của người đó để cải thiện chính cá nhân ấy.
In this vision, we find this emblematical condition being presented to the entity. Not wholly a condition that may not be made feasible, plausible, workable, or used in the operation of man’s endeavor; yet to the entity is as an emblematical condition, with those of the conscious forces using that which the mind has dwelt upon to show the higher forces as are to be used by the entity in the spiritual, mental, and physical development for same and as we see in the various presentations of the vision, the slight changes that occur in the make-up of the machine show the various amount of endeavor within the mental forces of the entity to gain the understanding of same; for, as is seen, there will appear this same vision three other periods in the development of the entity, and in each there will be seen again changes as are to come in the entity’s understanding of the emanations, or the abilities of individuals to apply in the life of an entity in material plane the various lessons as are attained or gained from same. As is seen, all of the power must come from above. The bars representing, then, as the individual’s foundation, upon which there is given the lifting power of same to soar through the various fields of knowledge in attaining the various points necessary for that development and that understanding to apply such forces in the material plane. Just as is seen in the various points from the machine, shows that all force, while as of one, is gained through the various sources and contacts as are made, and is called in the material plane that of the environmental forces, while in that of the hereditary forces is as that left in the wake of the impelling force that drives the body and the mind through those spaces necessary to make the individual one in all of its applications in the various fields of endeavor, whether studying the higher fields of thought or in making the turns or curves in the various walks of life, and in the individuals as the entity contacts from time to time.
Trong khải tượng này, chúng ta thấy tình trạng mang tính biểu tượng được trình bày cho thực thể. Không hẳn là một tình trạng không thể khiến nó khả thi, khả dụng, vận hành được, hay được sử dụng trong nỗ lực của con người; tuy nhiên, đối với thực thể, nó là một tình trạng mang tính biểu tượng, với các lực thuộc phần ý thức vận dụng điều mà thể trí đã suy ngẫm để chỉ bày các lực cao hơn, là những gì thực thể cần dùng trong phát triển tinh thần, trí tuệ và thể xác cho chính mình; và như chúng ta thấy trong các lần trình hiện khác nhau của khải tượng, những thay đổi nhỏ xảy ra trong cấu phần của cỗ máy cho thấy mức độ nỗ lực khác nhau trong các lực trí tuệ của thực thể nhằm đạt hiểu biết về điều ấy; vì, như được thấy, khải tượng này sẽ xuất hiện ba kỳ khác nữa trong tiến trình phát triển của thực thể, và trong mỗi kỳ sẽ lại thấy những thay đổi như sẽ đến trong sự hiểu biết của thực thể về các xuất lộ, hay về năng lực của cá nhân để ứng dụng, trong đời sống của một thực thể nơi cõi vật chất, các bài học khác nhau được thu hoạch hay đạt được từ đó. Như được thấy, mọi quyền năng đều phải đến từ bên trên. Các thanh kim loại đại diện, vậy thì, như nền tảng của cá nhân, trên nền ấy lực nâng được ban, để bay qua các cánh đồng tri thức khác nhau mà đạt đến các điểm cần thiết cho sự phát triển và hiểu biết nhằm ứng dụng những lực ấy trong cõi vật chất. Cũng như thấy ở các điểm khác nhau từ cỗ máy, điều đó cho thấy mọi lực, tuy là một, nhưng được thu nhận qua nhiều nguồn và các tiếp xúc khác nhau, và được gọi trong cõi vật chất là các lực môi trường sống, còn trong phương diện di truyền thì là điều để lại trong vệt sau của lực thúc đẩy vốn lái thân và tâm qua những khoảng không gian cần thiết, khiến cá nhân trở thành một trong mọi ứng dụng của mình ở các lĩnh vực nỗ lực khác nhau, dù là học hỏi các lĩnh vực tư tưởng cao hơn hay thực hiện những khúc ngoặt hoặc khúc cua trong các nẻo bước của đời sống, và trong những cá nhân mà thực thể tiếp xúc theo thời gian.
In the application of same as from the field of the purely mechanical forces, these—as they are presented from time to time—will bring to the knowledge of the individual that as is necessary to bring about the changes in mechanical appliance of that force known as the earth-side force as has been applied in eons ago to those crafts that soared through the ether. [See Life reading 39-2.]
Trong việc ứng dụng điều ấy theo phương diện thuần cơ học, những điều này—như đã được trình bày theo thời gian—sẽ mang đến cho cá nhân tri thức cần có để tạo ra những thay đổi trong dụng cụ cơ học của nguồn lực được gọi là lực phía Trái Đất, như đã từng được áp dụng trong thuở hồng hoang cho những cỗ thuyền bay lượn qua cõi dĩ thái. [Xem Bài đọc về đời sống 39-2.]
Be satisfied with that attained from the experience, until there is through a little here, a little there, line upon line, precept upon precept—applying that already gained, that more may be given unto thee.
Hãy mãn ý với điều đạt được từ kinh nghiệm, cho đến khi—một ít ở đây, một ít ở kia—dòng nối dòng, điều răn nối điều răn—ứng dụng điều đã đạt được, để rồi nhiều hơn sẽ được ban cho ngươi.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) The entity, then, may seek this source for further information on coming experiences?
(Q) Vậy thực thể có thể tìm đến nguồn này để có thêm thông tin về những trải nghiệm sắp tới?
(A) The entity may seek all sources—for, as is seen, there are many points toward the heavens, as of the lifting power. The stability of self— as is set in those bars that lift or parallel with the earth—must be kept in that brightness as is seen, that there may be attained more power, more force, in the applying in self that already attained.
(A) Thực thể có thể tìm đến mọi nguồn—bởi, như được thấy, có nhiều điểm hướng về trời cao, như lực nâng vậy. Sự vững bền của tự thân—tựa như được đặt trong những thanh đỡ nâng lên hay song song với mặt đất—phải được giữ trong sự sáng tỏ như đã thấy, để có thể đạt nhiều quyền năng, nhiều mãnh lực hơn trong việc ứng dụng nơi tự thân điều đã đạt.
(Q) That is all of the questions in this reading.
(Q) Đó là tất cả câu hỏi trong bài đọc này.
(A) We are through with this reading for the present for much may be given to the entity as respecting its (the entity’s) development, mentally, spiritually, physically.
(A) Chúng tôi tạm kết bài đọc này, vì có thể đưa ra nhiều điều cho thực thể liên quan đến sự phát triển (của thực thể), về trí tuệ, tinh thần, thể xác.
Use that in hand—or the simple rod stretched over the mighty sea became the power in the hands of him who walked with the Creative Energy—God. The withered rod became the budded almond in the hands of him who sought to know His ways, and applied same in the life. Keep thine paths straight. Walk in the shadow of His wing. Keep thine eyes, thine heart, ever to that source from which emanates all power that lifts man toward the Creator.
Hãy dùng điều đang nằm trong tay—cây gậy đơn sơ giương ngang biển cả hùng vĩ đã trở thành quyền năng trong tay người bước đi cùng Năng Lượng Sáng Tạo—Thượng đế. Cây gậy khô héo đã nẩy bông hạnh nhân trong tay người tìm biết Đường lối của Ngài, và ứng dụng điều ấy trong đời sống. Hãy giữ đường lối của ngươi ngay thẳng. Hãy bước trong bóng cánh của Ngài. Hãy giữ mắt ngươi, lòng ngươi, luôn hướng về nguồn từ đó phát xuất mọi quyền năng nâng con người hướng về Đấng Tạo Hóa.
Reading 137-36
Bài đọc 137-36
(Q) Night of November 25, or morning of November 26. A headless man in uni form of a sailor was walking in an erect manner with either a gun or a cane in his hand.
(Q) Đêm 25 tháng 11, hoặc sáng 26 tháng 11. Một người đàn ông không đầu trong bộ đồng phục thủy thủ đang bước đi đĩnh đạc, tay cầm hoặc súng hoặc gậy.
(A) Seeing things. This, as we see, the developing of those forces in the entity wherein the physical projection of spiritual elements come to the entity in certain stages of the condition of the body, physically, mentally, see? And as this is seen, one in arms or one in uniform, or one in the action of defense or in duty, see—this, then, to the entity the lesson: Do not lose the head too much in duty as seen, to accomplish the greater lessons as may be learned from the association of ideas as pertain to things more spiritual.
(A) Thấy những hình tượng. Đây, như chúng ta thấy, là sự phát triển những lực trong thực thể theo đó sự phóng chiếu, về thể xác, của các yếu tố tinh thần đến với thực thể trong những chặng nhất định của tình trạng thân thể, về thể xác và trí tuệ, thấy chứ? Và như điều này được thấy—một người trong quân phục hay trong vũ trang, hay trong hành vi phòng vệ hay thi hành bổn phận, thấy chứ—vậy, với thực thể, bài học là: Đừng đánh mất cái đầu quá mức vì bổn phận như được thấy, để đạt được những bài học lớn hơn có thể học từ sự kết liên các ý niệm thuộc về những điều mang tính tinh thần hơn.
(Q) A man approached many, including myself, in what seemed to be a hotel lobby. When he first approached us he had the appearance of a detective, but as he drew near I had the feeling that he was Jesus Christ.
(Q) Một người đàn ông tiến lại gần nhiều người, gồm cả tôi, trong một nơi có vẻ như là sảnh một khách sạn. Lúc đầu khi ông ấy đến gần chúng tôi, ông có vẻ là một thám tử, nhưng khi lại gần hơn, tôi có cảm giác rằng đó là Đức Jesus Christ.
(A) In this there is seen, in the correlation of these conditions as passing through that in groups, in the individual, in the mass even, there, in the form of man, as man to man, may come to the entity these spirit forces as would guide and mean as much to the individual as the life, as the living, as the example, of the Christ’s coming means to the whole world; these forces as come in man may mean as much to this entity, when applied spiritually.
(A) Ở đây có thể thấy, trong sự tương quan của những tình trạng này như đang đi qua trong nhóm, trong cá nhân, thậm chí trong quần chúng, rằng, trong dáng dấp của con người, như người đến với người, có thể đến với thực thể những lực tinh thần như thế—là những lực sẽ dẫn dắt và có ý nghĩa đối với cá nhân ngang bằng với ý nghĩa của đời sống, sự sống, và tấm gương của cuộc Giáng lâm của Đức Christ đối với cả thế giới; những lực này khi đến trong hình tướng con người có thể có ý nghĩa lớn lao như thế đối với thực thể này, khi được ứng dụng về phương diện tinh thần.
(Q) There was something I felt related to the vision I previously had had regarding an arrow shot from a bow, and which a reading interpreted was an indication of a message to come to me of powerful intent and purpose, but just what that something was in this particular vision I cannot now remember. Recall the vision to me, interpret and give me the lesson.
(Q) Có điều gì đó tôi cảm thấy liên quan đến khải tượng mà trước đó tôi đã có về một mũi tên bắn từ cung, và bài đọc đã diễn giải đó là dấu hiệu của một thông điệp sẽ đến với tôi với ý hướng và mục đích mạnh mẽ, nhưng tôi không còn nhớ rõ điều ấy trong khải tượng cụ thể này. Xin nhắc lại khải tượng cho tôi, diễn giải và cho tôi bài học.
(A) As is seen first in the vision of the arrow shot into the air, going high and strong, and as the interpretation, the lesson, was that to the entity there would be presented those visions, or those truths coming as the greatest truth, or greatest purpose in the life, these as we see here are presented in these two as seen, headless soldier with cane or defense weapon, the Master walking into the group.
(A) Như đã thấy trước hết trong khải tượng về mũi tên bắn lên không trung, bay cao và mạnh, và như phần diễn giải, bài học, là: sẽ có những khải tượng, hay những chân lý đến như chân lý lớn nhất, hay mục đích lớn nhất trong đời sống, được trình bày cho thực thể; những điều này như chúng ta thấy ở đây được trình bày trong hai điều vừa thấy, người lính không đầu với cây gậy hay vũ khí phòng vệ, và Đấng Thầy bước vào giữa nhóm.
Reading 136-41
Bài đọc 136-41
(Q) Saturday or Sunday night, July 17 or 18, 1926. [900] and I were on a boat and there seemed much thundering or shooting and fighting. It ended with the boat being struck by lightening and the boiler exploding. It sank. We were blown up— killed.
(Q) Đêm thứ Bảy hoặc Chủ nhật, 17 hoặc 18 tháng 7, 1926. [900] và tôi ở trên một con thuyền và dường như có nhiều tiếng sấm hay tiếng súng và giao tranh. Kết cục là thuyền bị sét đánh và nồi hơi nổ tung. Thuyền chìm. Chúng tôi bị hất tung lên—chết.
(A) Now in this, while there will be those conditions that will remind the entity, somewhat, of this vision, the real lesson we find being those of the emblematical conditions. Boat—the voyage of life. Trip, or the passage on same—the change that will come in the affairs of the entity. And the relations with each, and the conditions following, being those of some turmoil, some troubles. Yet in the blowing up representing the change, or the settling down to the more perfect understanding in each, see?
(A) Nay, trong điều này, dù sẽ có những tình trạng khiến thực thể phần nào nhớ đến khải tượng, nhưng bài học thật sự như chúng ta thấy là những điều mang tính biểu tượng. Thuyền—là hành trình của đời sống. Chuyến đi, hay cuộc hành trình trên đó—là sự thay đổi sẽ đến trong các công việc của thực thể. Và những liên hệ của mỗi bên, và các tình trạng tiếp theo, là những biến động, những rắc rối. Tuy nhiên, việc bị nổ tung biểu thị sự thay đổi, hay sự lắng lại để có sự thấu hiểu hoàn hảo hơn nơi mỗi người, thấy chứ?
Then, let this condition be as the warning for both, that the paths of each be made more in accord one with the other, see?
Vậy, hãy để tình trạng này làm lời cảnh báo cho cả hai, rằng nẻo đường của mỗi người được làm cho tương hợp hơn với nhau, thấy chứ?
Reading 136-45
Bài đọc 136-45
(Q) Morning of September 5. Mother... and her home in Indiana. There seemed to be ghosts there.
(Q) Sáng ngày 5 tháng 9. Mẹ... và nhà của bà ở Indiana. Dường như có ma ở đó.
(A) Rather that indication of those fears, those thoughts that do enter in regarding the physical health of individuals of this household. Ghosts, then, of the mind, see? fear.
(A) Đúng hơn, đó là dấu hiệu của những sợ hãi, những ý nghĩ đang xen vào liên quan đến sức khỏe thể xác của các thành viên trong hộ gia đình này. Vậy là “ma” của tâm trí, thấy chứ? là nỗi sợ.
Reading 341-15
Bài đọc 341-15
(Q) Night of 26, or morning of 27, October, 1925. Dreamed of being picked up by an elephant. May have been more—Recall—
(Q) Đêm 26 hoặc sáng 27 tháng 10, 1925. Mơ thấy bị một con voi nhấc bổng. Có thể còn nữa—Xin nhắc lại—
(A) As this is seen, the elephant as represents power, might, cunning, with all the mental proclivities of that gained through knowledge. Then let the entity be picked up by same, studying to show the abilities to use and apply same in the manner as acceptable unto Him, as is seen in the rescue from the elephant by the keeper, see?
(A) Như điều này được thấy, con voi là biểu tượng của quyền lực, sức mạnh, mưu trí, với mọi khuynh hướng tâm trí của điều được thu nhận qua tri thức. Vậy hãy để thực thể được nhấc bổng bởi điều ấy, miệt mài học hỏi để biểu lộ năng lực sử dụng và ứng dụng theo cách đẹp lòng Ngài, như đã thấy ở việc người giữ voi giải cứu, thấy chứ?
Reading 136-18
Bài đọc 136-18
(Q) Tuesday morning, November 3, 1925. Ma, [900] and I were living together in a house at New Jersey, and I heard much shooting and excitement. All of the windows of our house were open, and as it was raining and storming out, we rushed to close and lock them. Some terrible wild man seemed to be running through the town shooting and causing great trouble, and the police were chasing him.
(Q) Sáng Thứ Ba, ngày 3 tháng 11, 1925. Mẹ, [900] và tôi sống chung trong một căn nhà ở New Jersey, và tôi nghe nhiều tiếng súng và náo động. Tất cả các cửa sổ nhà chúng tôi đều mở, và vì bên ngoài trời đang mưa bão, chúng tôi vội chạy đi đóng và khóa lại. Có một người đàn ông hoang dại đáng sợ dường như đang chạy khắp thị trấn nổ súng và gây rối lớn, cảnh sát thì đuổi theo.
(A) (breaking in) The large man, the bugaboo, that comes to the entity in these emblematical conditions here presented, and as seen in others, is in self and self’s temper, see?
(A) (ngắt lời) Người đàn ông to lớn, ông kẹ, kẻ đến với thực thể trong những tình trạng mang tính biểu tượng được trình bày ở đây, và như đã thấy ở những lần khác, là ở nơi tự thân và cơn nóng nảy của tự thân, thấy chứ?
(Q) (Continuing) Conditions were chaotic and troublesome. We stopped the police to ask if they had caught this terrible person and they answered, “Not yet.”
(Q) (tiếp tục) Tình hình hỗn loạn và rắc rối. Chúng tôi chặn cảnh sát lại để hỏi họ đã bắt được kẻ đáng sợ này chưa và họ đáp: “Chưa.”
(A) Then the answer we would see: Control self, if this terrible person would be caught and conquered, see?
(A) Vậy câu trả lời mà chúng ta thấy là: Hãy tự chế, nếu muốn bắt và khắc phục kẻ đáng sợ này, thấy chứ?
Reading 136-6
Bài đọc 136-6
(Q) Dreamed I died.
(Q) Mơ thấy tôi chết.
(A) This is the manifestation of the birth of thought and mental development awakening in the individual, as mental forces and physical forces develop. This, then, is the awakening of the subconscious, as is manifested in death in physical forces, being the birth in the mental.
(A) Đây là sự hiển lộ của sự khai sinh tư tưởng và sự thức dậy của phát triển trí tuệ nơi cá nhân, khi các lực trí tuệ và thể xác phát triển. Vậy, đây là sự thức dậy của tiềm thức, trong khi điều biểu hiện là chết trên phương diện hồng trần lại là sự khai sinh trên phương diện trí tuệ.
Reading 341-13
Bài đọc 341-13
(Q) Dreamed of being at..., Kentucky, at home. Two people seemed to be with me.
(Q) Mơ thấy ở..., Kentucky, ở nhà. Có hai người có vẻ ở cùng tôi.
We were watching a dirigible and an airship that were sailing above us but seemed to be in great distress. Suddenly the dirigible spun on its nose and crashed into the ground in the lawn. I heard the cries and groans of the occupants as the ship struck.
Chúng tôi đang quan sát một khí cầu điều khiển và một máy bay đang lượn trên đầu nhưng dường như gặp nạn. Bất chợt khí cầu chúi mũi và đâm xuống đất trên bãi cỏ. Tôi nghe tiếng kêu la, rên rỉ của những người trên tàu khi nó va mạnh.
The two other people and I started towards the wreck but were at first warned back by those who survived. A little later we were called on to help carry the injured ones to the house. The man I carried seemed to have hurt his leg and kept crying not to take his leg off. Later it seemed that I was again at the wreck. I drank something from a bottle and then continued to collect tools, a hammer and other things. (A) In this, again the emblematical conditions of life presented to the entity.
Hai người kia và tôi chạy về phía đống đổ nát nhưng ban đầu bị những người sống sót cảnh báo lùi lại. Một lát sau chúng tôi được gọi đến giúp khiêng những người bị thương vào nhà. Người đàn ông tôi khiêng dường như bị đau chân và cứ kêu đừng cắt chân anh ta đi. Sau đó dường như tôi lại ở hiện trường. Tôi uống gì đó từ một cái chai rồi tiếp tục gom dụng cụ, một cái búa và những thứ khác. (A) Ở đây, một lần nữa các tình trạng mang tính biểu tượng của đời sống được trình bày cho thực thể.
In that of the dirigible and flying machine, those high ideals as are held in the entity’s mind, without stability, showing the destructive forces as may come to such without that strength of character in the tried and true ways to be stable, and the assistance as is seen is the call of self to aid self, as it were, in that way the entity would take. The assistance and the call not to take or remove portion of body, rather that the entity sees in the self conditions that may arise, making this such necessary in the life’s work, see? to remove portions of same, unless kept in that straight and narrow way.
Trong biểu tượng khí cầu và máy bay, là những lý tưởng cao mà thực thể cưu mang, thiếu nền tảng vững bền, cho thấy lực phá hoại có thể xảy ra đối với những điều như thế nếu không có sức mạnh của lập hạnh theo những nẻo đường đã được thử thách và chứng tín để vững vàng. Sự trợ giúp như được thấy chính là lời kêu gọi của tự thân để phụ giúp tự thân, như con đường mà thực thể sẽ chọn. Sự trợ giúp và tiếng gọi đừng cắt bỏ một phần thân thể, đúng hơn là thực thể thấy nơi chính mình những tình trạng có thể phát sinh, khiến cho điều ấy trở thành cần thiết trong công việc của đời mình, thấy chứ?—phải cắt bỏ những phần đó—trừ phi được giữ trong con đường ngay thẳng và hẹp.
The taking from the bottle, rather that necessary, for this represents, then, the water or the assistance of life, presented in that straight and narrow way.
Việc uống từ cái chai, đúng hơn là điều cần thiết, bởi điều này tượng trưng cho nước hay sự tiếp trợ của sự sống, được trình bày trong con đường ngay thẳng và hẹp.
The gathering, then, of tools, that necessary working paraphernalia for the successes the entity would accomplish. The lesson, then, is seen.
Việc gom góp, vậy thì, là các dụng cụ—những phương tiện làm việc cần thiết cho các thành tựu mà thực thể mong đạt. Bài học, như thế, đã rõ.
Reading 2671-5
Bài đọc 2671-5
(Q) Morning of May 6, 1927. I was standing in the back yard of my home—had my coat on. I felt something inside the cloth on the cuff of my left hand coat sleeve. I worked it out, but it was fastened in the cloth and broke off as it came out, leaving part in. It proved to be a cocoon and where broke a small black spider came out. The cocoon was black and left a great number of eggs—small ones—on my coat sleeve, which I began to break and pull off. The spider grew fast and ran away, speaking plain English as it ran, but that I do not remember, except that it was saying something about its mother. The next time I saw it, it was a large black spider which I seemed to know was the same one grown up, almost as large as my fist—had a red spot on it, otherwise was a deep black. At this time it had gotten into my house and had built a web all the way across the back inside the house and was comfortably watching me. I took a broom, knocked it down and out of the house, thinking I’d killed it, but it did more talking at that time. I remember putting my foot on it and thought it was dead. The next time I saw it, it had built a long web from the ground on the outside of the house in the back yard, near where I first got it out of my sleeve—and it was running up toward the eaves fast when it saw me. I couldn’t reach it but threw my straw hat in front of it and cut the web and spider fell to the ground, talking again, and that time I hacked it to pieces with my knife.
(Q) Sáng ngày 6 tháng 5, 1927. Tôi đứng sau vườn nhà—mặc áo khoác. Tôi cảm thấy có gì đó bên trong lớp vải nơi cổ tay áo bên trái. Tôi lôi nó ra, nhưng nó bị dính vào vải và gãy khi kéo ra, để lại một phần trong đó. Hóa ra đó là một cái kén và chỗ bị gãy thì một con nhện đen nhỏ chui ra. Cái kén đen và để lại vô số trứng—những cái nhỏ—trên ống tay áo của tôi, mà tôi bắt đầu bóp vỡ và gỡ đi. Con nhện lớn rất nhanh và chạy đi, nói tiếng Anh rõ ràng khi nó chạy, nhưng tôi không nhớ, ngoại trừ nó nói gì đó về mẹ nó. Lần kế tôi thấy nó, đó là một con nhện đen lớn mà tôi dường như biết là cùng một con đã lớn lên, gần bằng nắm tay tôi—có một đốm đỏ, còn lại đen tuyền. Lúc này nó đã chui vào nhà tôi và giăng một mạng nhện kéo dài suốt bên trong phía sau nhà và thảnh thơi quan sát tôi. Tôi lấy cái chổi, quật nó rơi xuống và quét ra khỏi nhà, tưởng rằng tôi đã giết nó, nhưng lúc ấy nó còn nói nhiều hơn. Tôi nhớ đã giẫm lên nó và tưởng nó chết rồi. Lần sau tôi thấy nó, nó đã giăng một sợi tơ dài từ mặt đất ở bên ngoài ngôi nhà, phía sau vườn, gần chỗ tôi lần đầu lôi nó ra khỏi ống tay—và nó đang bò nhanh lên mái hiên khi thấy tôi. Tôi không với tới được, bèn ném chiếc mũ rơm chắn trước nó và cắt sợi tơ, con nhện rơi xuống đất, lại nói, và lần đó tôi chém nó thành mảnh bằng dao.
(A) In this there is seen the emblematical conditions of those forces as are being enacted in the life of this body. And, as is seen, both the spider and the character of same are as warnings to the body as respecting the needs of the body taking a definite stand as respecting the relations of others who would in this underhand manner take away from the body those surroundings of the home—that are in the manner of being taken, unless such a stand is taken. For, as is seen, the conditions of the relations of the entity, the body, with another, as seen, are of the nature as is emblematically shown by the relations of this body with this other body; that its relations at first meant only that of the casual conditions that might be turned to an account of good, in a social and financial manner; yet, as has been seen, there has come the constant drain on the entity, not only in pocket but in the affections of the heart, and now such threaten the very foundations of the home— and, as seen, threaten to separate the body from the home and its surroundings; and unless the entity attacks this condition, cutting same out of the mind, the body, the relations, the conditions, there will come that condition that will be, as it were, as the condition as seen. Take the warning then. Prepare self. Meet the conditions as the man, not as the weakling—and remember those duties that the body owes first to those to whom the sacred vows were given, and to whom the entity and body owes its position in every sense, and as well as the duty that is obligatory to the body or those to whom the entity, the body, should act in the sense of the defender, rather than bringing through such relations those dark underhanded sayings, as are seen, as said by that one who would undermine, as well as are being said by those whom the body may feel such relations are hidden from; yet these have grown to such extent as may present a menace to the very heart and soul of the body of this entity. Beware! Beware!
(A) Ở đây có thể thấy những tình trạng mang tính biểu tượng của các lực đang được diễn ra trong đời sống của thân này. Và, như được thấy, cả hình tượng con nhện và tính chất của nó đều là lời cảnh báo cho thân liên quan đến nhu cầu của thân phải có lập trường dứt khoát về các mối quan hệ với những người khác—những kẻ theo cách thức ngấm ngầm này sẽ tước đoạt khỏi thân những điều kiện bao quanh mái ấm—đang bị lấy đi, trừ phi một lập trường được xác lập. Bởi, như được thấy, các tình trạng trong mối quan hệ của thực thể, của thân, với một người khác, như đã thấy, thuộc về bản chất được biểu tượng qua mối quan hệ giữa thân này với thân kia; rằng mối liên hệ ban đầu của kẻ ấy chỉ là những điều tùy thời vốn có thể được chuyển hóa thành lợi ích, về mặt xã hội và tài chính; thế nhưng, như đã thấy, đã có sự hao tổn thường xuyên đối với thực thể, không chỉ trong túi tiền mà cả trong tình cảm của trái tim, và giờ đây những điều ấy đe dọa tận nền tảng của mái ấm—và, như đã thấy, đe dọa tách thân ra khỏi mái ấm và những gì bao quanh; và nếu thực thể không tấn công tình trạng này, cắt bỏ nó khỏi tâm trí, khỏi thân, khỏi các mối quan hệ, khỏi các tình trạng, thì sẽ đến tình trạng, như thể, đúng như tình cảnh đã thấy. Vậy hãy nhận cảnh báo. Hãy chuẩn bị tự thân. Hãy đối diện tình trạng như một người đàn ông, không như kẻ bạc nhược—và nhớ đến những bổn phận mà thân trước hết mắc nợ với những người mà các lời thề thiêng liêng đã được trao, và với những người mà thực thể và thân mắc nợ vị thế của mình trên mọi phương diện, cũng như bổn phận bắt buộc đối với thân hay đối với những người mà thực thể, thân, nên hành động trong ý nghĩa của người bảo vệ, thay vì đem đến qua những mối quan hệ như thế những lời lẽ mờ ám tối tăm, như đã thấy, như được nói bởi kẻ muốn phá hoại, cũng như đang được nói bởi những người mà thân có thể nghĩ rằng các mối quan hệ ấy được che giấu khỏi họ; thế nhưng những điều này đã lớn đến mức có thể trở thành mối đe dọa cho chính trái tim và linh hồn của thân của thực thể này. Cẩn thận! Cẩn thận!
Editor’s Note: [2671-5]’s wife wrote Edgar Cayce to say that her husband was having an affair.
Ghi chú của biên tập viên: Vợ của [2671-5] đã viết cho Edgar Cayce để nói rằng chồng bà đang ngoại tình.
Reading 140-10
Bài đọc 140-10
(Q) Night of Tuesday, December 15, or Wednesday morning, December 16, 1925. We were in the country—on a party it seemed at Rose Fenton Farm, Asbury Park, New Jersey. We started to drive away from this restaurant over a lakeside road. Everyone was getting into their motor cars preparatory to the homeward drive. I had a two seater, new green Pierce Arrow Car. [137] climbed in next to me—I was driving, and as we started down the lakeside road, we kept close to the embankment and all at once I seemed to go over the edge. The car stopped and I thought to myself I could jam on the emergency brake and have it hold long enough for us all to get out and escape injury, but instead I did nothing. I jumped out of the car and into the lake, the car falling after me and on top of me. I was killed.
(Q) Đêm Thứ Ba, ngày 15 tháng 12, hoặc sáng Thứ Tư, ngày 16 tháng 12, 1925. Chúng tôi ở miền quê—hình như trong một bữa tiệc tại Rose Fenton Farm, Asbury Park, New Jersey. Chúng tôi bắt đầu lái xe rời nhà hàng này theo con đường ven hồ. Mọi người đang lên ô tô của mình chuẩn bị lái về nhà. Tôi có một chiếc hai chỗ, chiếc Pierce Arrow màu xanh lá mới. [137] leo lên ngồi cạnh tôi—tôi cầm lái, và khi chúng tôi bắt đầu chạy trên con đường ven hồ, chúng tôi đi sát mép bờ và bất thần tôi dường như chạy qua rìa. Xe dừng lại và tôi nghĩ có thể tôi sẽ giật phanh khẩn cấp và giữ đủ lâu để tất cả chúng tôi ra ngoài an toàn, nhưng thay vì thế tôi đã không làm gì. Tôi nhảy ra khỏi xe và xuống hồ, chiếc xe rơi theo sau và đè lên tôi. Tôi chết.
(A) In this there is presented to the entity the phenomena, in this emblematical manner, pertaining to that condition in the mental forces, which pertains to the condition in life. That is, that the time for preparation for any condition is when there is the time, or before a condition appears in which the energies, the abilities, the conditions of all force are presented for the entity to exercise therein, see? for, as is seen, the life is filled with the beauties in life, the enjoyment of the pleasures of the flesh in every manner; yet when the emergency presents itself, although the action of the mind is to do, without the trained responding of the physical to that action, there is the loss. That is, then: To know to do good and do it not, to him it is imputed as sin. This lesson is manifested to the entity here. Use it. No special significance as to a given time, place or condition, but as relates to Life, see?
(A) Ở đây, hiện tượng được trình bày cho thực thể theo cách thức mang tính biểu tượng, liên quan đến tình trạng trong các lực trí tuệ, vốn tương hệ với tình trạng trong đời sống. Tức là, thời khắc chuẩn bị cho bất kỳ tình trạng nào là lúc có thời giờ, hay là trước khi xuất hiện một tình trạng trong đó các năng lực, khả năng, các điều kiện của mọi lực được trình bày để thực thể có thể vận dụng, thấy chứ? Bởi, như được thấy, đời sống chất chứa những vẻ đẹp của đời sống, sự tận hưởng các khoái lạc của xác thịt theo mọi cách; thế nhưng khi tình cảnh khẩn cấp xuất hiện, dẫu hành vi của thể trí là hành động, nhưng nếu thân thể không được rèn luyện để đáp ứng kịp hành vi ấy, thì sẽ có mất mát. Tức là: Biết làm điều thiện mà không làm, thì điều ấy bị kể là tội cho người ấy. Bài học này được biểu lộ cho thực thể ở đây. Hãy dùng nó. Không có ý nghĩa đặc thù nào về một thời điểm, nơi chốn hoặc điều kiện nhất định, mà là liên hệ đến Đời Sống, thấy chứ?
Reading 137-31
Bài đọc 137-31
(Q) Wednesday evening, November 11, 1925. Someone (probably myself) was looking up to corner of a tent of some kind and the person (probably me) seemed to be ordering God.
(Q) Tối Thứ Tư, ngày 11 tháng 11, 1925. Ai đó (có lẽ là tôi) đang ngước nhìn lên góc của một cái lều nào đó và người ấy (có lẽ là tôi) dường như đang ra lệnh cho Thượng đế.
(A) As is seen in this emblematical form, the entity gains through this the understanding wherein the spiritual forces in the physical being may so magnify self’s interests as to come under that direct influence of those spiritual laws. And as the tents represent to the entity the insecure dwelling, and the looking up and ordering to the High and Holy, that which the entity, through the prayer of the righteous many may be saved, and as the ordering is then to self, to so direct life in self as to be in that closer accord, closer touch, that the orders from the Highest may be through that channel from which entity has seen much development, see? Well that in this connection entity read Jude, especially 10th, 11th and 12th verses.
(A) Như được thấy theo hình thức mang tính biểu tượng này, thực thể nhờ đó mà hiểu được nơi nào các lực tinh thần trong hữu thể thể xác có thể làm cho lợi ích của tự thân được phóng đại đến mức đặt mình dưới ảnh hưởng trực tiếp của các định luật tinh thần ấy. Và vì những cái lều đại diện cho chỗ ở bấp bênh đối với thực thể, và việc ngước nhìn và ra lệnh với Đấng Tối Cao và Thánh Khiết, là điều mà thực thể, thông qua lời cầu nguyện của người công chính, nhiều người có thể được cứu; và vì thế, mệnh lệnh được trao cho tự thân, để điều hướng đời sống trong tự thân sao cho được trong sự hòa hợp gần gũi hơn, tiếp xúc gần gũi hơn, để những mệnh lệnh từ Đấng Tối Cao có thể thông qua kênh mà từ đó thực thể đã thấy nhiều phát triển, thấy chứ? Tốt là trong mối liên hệ này thực thể hãy đọc Thư Giu-đe, đặc biệt câu 10, 11 và 12.
Reading 136-26
Bài đọc 136-26
(Q) Monday morning, December 28, 1925. I saw handwriting on the wall, with“Well.” I didn’t understand and went back to sleep and saw myself in a blue and white dress. I was kneeling down on my knees before the doctor and he patted me on the head and I said: “Through you and God Almighty has our mother been spared to us,” and then he said, “Let us pray again to you and the Lord God.”
(Q) Sáng Thứ Hai, ngày 28 tháng 12, 1925. Tôi thấy chữ viết trên tường, với chữ “Vâng.” Tôi không hiểu và quay lại ngủ và thấy mình trong một chiếc váy xanh và trắng. Tôi đang quỳ gối trước bác sĩ và ông vỗ đầu tôi, tôi nói: “Nhờ ông và Thượng đế Toàn Năng, mẹ của chúng tôi đã được gìn giữ cho chúng tôi,” rồi ông nói: “Chúng ta hãy lại cầu nguyện với ông và với Chúa Tể là Thượng đế.”
(A) In this there is presented to the entity that, as has been given, under the conditions there is only then for the entity to put self into the hands of the giver of all good and perfect gifts. For in choosing the physician, the best, then for self and for the good of the condition that is presented. The blue and white giving then the pure, the true self in that prayer and supplication, and with this perfect understanding there comes the “All is well,” see? for as the handwriting is of old, this then comes to this body, that the full understanding of the abilities of self are so limited, and only in Him would we put our trust if all would be well with ourselves.
(A) Trong điều này, điều được trình bày cho thực thể là, như đã nói, dưới những điều kiện ấy, chỉ còn lại cho thực thể là trao phó bản thân vào tay Đấng ban phát mọi ân huệ thiện lành và trọn hảo. Vì khi chọn vị lương y, vị tốt nhất, thì như thế là vì bản thân và vì điều kiện đang được đặt ra. Màu xanh và trắng khi ấy dâng hiến phần tinh khiết, cái chân ngã trong lời cầu nguyện và khẩn nài ấy, và với sự thấu hiểu trọn vẹn này sẽ vang lên “Mọi sự đều ổn”, thấy chứ? vì như chữ viết tay xưa kia, điều này rồi đến với thân thể này, rằng sự thấu hiểu trọn vẹn về những khả năng của bản thân vốn hết sức hạn hẹp, và chỉ nơi Ngài chúng ta mới đặt niềm tin nếu mọi sự của chúng ta muốn được tốt lành.
Reading 136-24
Bài đọc 136-24
(Q) Dreaming, said out loud, “[900], don’t eat so many coats.”
(H) Trong mơ, nói to: “[900], đừng ăn nhiều áo khoác như thế.”
(A) As this presents an unreasonable condition in that as said, it presents an unreasonable attitude of the individual towards [900] in some respect. Then be in that manner not unreasonable, see?
(Đ) Vì điều này trình hiện một tình trạng phi lý ở chỗ như đã nói, nó biểu thị một thái độ phi lý của cá nhân đối với [900] ở một phương diện nào đó. Vậy thì đừng hành xử phi lý theo cách ấy, thấy không?
Reading 195-42
Bài đọc 195-42
(Q) Early hours of Sunday morning, July 3, 1927, at..., Ohio. Dreamed that I was going to some kind of a meeting at night. I was walking through hilly country taking high road. Noticed someone walking on lower road. I crossed over ruins of old home, recognizing the old home of my uncle (Geo. S. [...] of San Gabriel, California), which is near new home. Thought how nice it would be to see all the family after the meeting. Crossed an old fountain—there was an obstruction around fountain. I climbed the fence—was accosted by young military guards, seemingly boy scouts— was escorted before some tribunal and asked to give account of myself. I said I was from..., Ohio, formerly from California. Gave full details. I was told my case was under consideration and I left. Seemed to be on a boat overlooking much water when one of the guards said I was wanted. I followed, and tribunal said after considering my case I was to be court-martialed next day—that I should give matter thought and could either defend myself or have someone defend me. I left soon and the thought came to me to have my cousin Major Geo. S. [...] defend me.
(H) Sáng sớm Chủ nhật, ngày 3 tháng 7, 1927, tại..., Ohio. Mơ rằng tôi sắp đi dự một kiểu họp mặt nào đó vào ban đêm. Tôi đi xuyên qua vùng đồi núi trên con đường cao. Nhận ra có ai đó đi trên con đường thấp hơn. Tôi băng qua tàn tích của ngôi nhà cũ, nhận ra nhà cũ của ông chú tôi (Geo. S. [...] ở San Gabriel, California), vốn ở gần ngôi nhà mới. Nghĩ rằng sau buổi họp được gặp cả gia đình thì thật là hay. Băng qua một đài phun nước cổ—có vật cản quanh đài phun. Tôi trèo qua hàng rào—bị mấy lính trẻ chặn lại, trông như hướng đạo sinh—bị áp giải đến trước một tòa và được yêu cầu tự khai lý lịch. Tôi nói tôi đến từ..., Ohio, trước kia từ California. Cung cấp đầy đủ chi tiết. Tôi được cho biết vụ việc của tôi đang được xem xét và tôi rời đi. Có vẻ như tôi ở trên một con thuyền nhìn ra vùng nước mênh mông thì một trong các vệ binh nói tôi được gọi. Tôi đi theo, và tòa nói sau khi xem xét vụ việc của tôi, tôi sẽ bị xử án quân sự hôm sau—rằng tôi nên suy nghĩ về việc này và có thể tự bào chữa hoặc nhờ ai đó bào chữa cho mình. Tôi rời đi sớm và chợt nghĩ nên nhờ người anh em họ của tôi, Thiếu tá Geo. S. [...] bào chữa cho mình.
(A) In this we find there are seen the emblematical conditions as respecting meeting contemplated by the entity, and the entering in an association with same. As is seen when the entity climbs to that source from which—as represented by the fount, or that place from which the greater knowledge may be obtained—there is seen the line of the criticism as may be expected by the entity from so doing; yet, as is seen, there is then opened—by this gaining a portion of knowledge—the greater expanse of knowledge than even from the fount, in the large amount of water as is seen associated when the entity is called to the tribunal. The thought, the intent, the purport in self to have officer address or defend the entity, is as from those sources upon which the entity may call for the better understanding of all of life. And as each applies in the life the entity may gain through same that knowledge wherein the greater development comes to the entity, irrespective of censure or of any criticism that may be presented by others. For, as is seen, the presentation of criticism is as of the raw recruit, or of ones of little understanding. Be not afraid. Rather gain that claim whereupon the greater understanding, and the ability to apply same, may come into the life of self.
(Đ) Ở đây chúng ta thấy những tình trạng mang tính biểu tượng liên quan đến cuộc họp mà thực thể đang dự định, và việc gia nhập một hiệp hội với điều đó. Như thấy khi thực thể trèo lên nguồn—được biểu trưng bởi suối, hay nơi từ đó tri thức lớn lao hơn có thể được lĩnh hội—ta thấy đường lối chỉ trích như điều thực thể có thể mong đợi khi làm vậy; tuy nhiên, như thấy, khi đạt được một phần tri thức thì mở ra—một khoảng tri kiến rộng lớn hơn cả từ nơi nguồn—trong khối lượng nước mênh mang đi kèm khi thực thể được gọi đến tòa. Ý nghĩ, chủ ý, mục đích ở trong bản thân muốn để một sĩ quan lên tiếng thay hay bênh vực cho thực thể, là xuất phát từ những nguồn mà thực thể có thể kêu cầu để thấu hiểu tốt hơn về toàn thể Sự Sống. Và khi mỗi người áp dụng trong đời sống, thực thể có thể nhờ đó mà thu đạt tri thức qua đó, nhờ thế sự phát triển lớn lao hơn sẽ đến với thực thể, bất chấp sự chê trách hay mọi chỉ trích mà người khác có thể nêu ra. Bởi, như thấy, sự bày tỏ chỉ trích giống như từ một tân binh, hay của những người hiểu biết ít ỏi. Đừng sợ. Trái lại, hãy chiếm lĩnh nền tảng nhờ đó sự thấu hiểu lớn lao hơn, và khả năng áp dụng điều đó, có thể đi vào đời sống của bản thân.
Reading 137-99
Bài đọc 137-99
EC: We have the body, the enquiring mind, [137]—this we have had here before.
EC: Chúng tôi đang có thân thể, thể trí truy vấn, [137]—chúng tôi từng có điều này ở đây trước đó.
The dreams, as we see, to this body bring much of those elements that are as the weighing of matters, conditions, elements, in the mental mind with the subconscious forces and experiences of the body, and come in emblematical or in direct response to desire of the mental body to acquaint self with the more perfect understanding. Hence, as has oft been given, the body is nearer to that point where the mystic or the subconscious self may be applied than most individuals, for much has been experienced through the physical planes by the entity—much may be expected, then, of the applications to which the entity lends self in its endeavors.
Những giấc mơ, như chúng ta thấy, đem đến cho thân thể này nhiều yếu tố như cân nhắc sự việc, điều kiện, yếu tố, trong thể trí cùng với các lực tiềm thức và những trải nghiệm của thân thể, và đến trong hình thức biểu tượng hoặc như sự đáp ứng trực tiếp đối với ước muốn của thể trí nhằm làm cho bản thân quen thuộc với sự thấu hiểu hoàn bị hơn. Do đó, như thường đã được nêu, thân thể đang gần điểm mà nhà thần bí hay cái tự ngã tiềm thức có thể được áp dụng hơn đa số cá nhân, bởi vì thực thể đã trải nghiệm nhiều qua các cõi hồng trần—vậy thì có thể mong đợi nhiều về những ứng dụng mà thực thể dốc lòng trong nỗ lực của mình.
(Q) Of recent date. I was sitting at my desk in the office in an argument with [my husband] [900]. It seemed we were going to separate, and he said he was going to do something to me. I said, “you’ve got a swell chance.”
(H) Gần đây. Tôi đang ngồi tại bàn làm việc trong văn phòng tranh luận với [chồng tôi] [900]. Có vẻ như chúng tôi sắp ly thân, và anh ấy nói anh ấy sẽ làm điều gì đó với tôi. Tôi nói, “anh có cơ hội tuyệt vời đấy.”
(A) This in this direct manner relates to those conditions, as has oft been given, that these are as helpmeets one to another, and that without the strength and the encouragement from the other, neither would accomplish that as may be done in unison; for the changes in the life of each is that the activity of one is that necessary balance for the better understanding of the other.
(Đ) Điều này theo cách trực tiếp liên hệ đến các điều kiện, như thường đã được nêu, rằng họ là những người trợ bạn cho nhau, và rằng nếu không có sức mạnh và sự khích lệ từ người kia, thì chẳng ai hoàn tất được điều có thể làm khi hợp nhất; bởi những đổi thay trong đời sống mỗi người là hoạt động của một người chính là sự cân bằng cần thiết cho sự thấu hiểu tốt hơn của người kia.
Then, as the warning—let not that in any manner enter the life that would separate the self from the abilities of the other, for in this union of strength much may be attained by each. Let the minds of each, then, depend mentally, morally, physically, upon the works and activities of the other, mentally, morally, physically.
Vậy nên, như lời cảnh báo—chớ để bất cứ điều gì len vào đời sống khiến bản thân tách khỏi khả năng của người kia, vì trong sự hợp nhất của sức mạnh này, mỗi người có thể đạt được nhiều điều. Hãy để thể trí mỗi người, vậy thì, nương dựa, về mặt trí tuệ, đạo đức, thể xác, vào các công việc và hoạt động của người kia, về mặt trí tuệ, đạo đức, thể xác.
Reading 900-114
Bài đọc 900-11 4
(Q) Then my mother, wife and I, took an automobile ride, and I observed all the things that money could buy, and also observed the glory of the True Life. I saw trains and boats and also the entrance to what seemed a monastery. I said to my mother: “What is the use of making money and those things the object of life, when they aren’t even real?”
(H) Rồi mẹ tôi, vợ tôi và tôi đi dạo bằng ô tô, và tôi quan sát tất cả những thứ mà tiền có thể mua, đồng thời cũng nhận ra vinh quang của Sự Sống Chân Thực. Tôi thấy tàu hỏa và thuyền bè và cả lối vào nơi giống như một tu viện. Tôi nói với mẹ tôi: “Làm ra tiền và lấy những thứ ấy làm cứu cánh của đời sống thì ích gì, khi chúng thậm chí chẳng thật?”
(A) This again, we see, viewing the same perspective vision from a different angle, gaining then, as it were, in this that perspective of the valuation of the real and unreal, for as has been given, and well summed in this: “Though a man gain the whole world and lose his own soul” of what use is it? and as is viewed, these, as precepts and principles, must become the workableness of the entity, for as is seen, with the closer associations of the mental forces to those of the truths as pertain to the phenomena of life, these insights in same are gained, making a clearer vision, a clearer understanding the full meaning, and in same we become free indeed. Not then that each in its sphere is to be belittled but that each is made to serve its intent and purpose, to magnify even as He would magnify.
(Đ) Lại nữa, chúng ta thấy, đang nhìn một viễn tượng cùng một góc nhìn từ một góc khác, nhờ đó, như thể, thu được viễn tượng về sự thẩm định cái thực và cái hư, vì như đã được nêu, và được cô đọng như sau: “Dẫu một người chiếm được cả thế gian mà đánh mất linh hồn mình” thì ích gì? và như được nhìn nhận, các điều này, như là những giới điều và nguyên lý, phải trở thành khả năng vận dụng của thực thể, bởi như thấy, với sự gắn bó chặt chẽ hơn của các lực thể trí với những chân lý liên quan đến các hiện tượng của đời sống, những tuệ kiến về điều đó được thu đạt, khiến tầm nhìn sáng rõ hơn, sự thấu hiểu rõ ràng hơn về ý nghĩa trọn vẹn, và ở đó chúng ta thật sự trở nên tự do. Không phải để hạ thấp mỗi điều trong phạm vi của nó, mà để mỗi điều được làm cho phục vụ chủ ý và mục đích của mình, để tôn vinh ngay như Ngài sẽ tôn vinh.
Reading 2205-3
Bài đọc 2205-3
(Q) Explain the significance of the childhood dream of eyes and bubbles, and how its influence can be used for good in the future.
(H) Giải thích ý nghĩa giấc mơ thời thơ ấu về những đôi mắt và các bong bóng, và làm sao ảnh hưởng của nó có thể được dùng cho điều lành trong tương lai.
(A) These as we find are, as it were, the ends—or portions—of many individual experiences of the entity through many of its sojourns. As the entity knew of and saw manifestations of the power of the unseen forces in the experiences of others, it brought those activities and movements of every form. Thus these become as fearful experiences, or as things that create fear. Yet if they are taken as assurances of His promises, it will be seen that they are reminders that out of self visions come, out of self thoughts arise, out of self activities may begin; and these become rather then as stepping-stones than stumbling stones—as they oft have.
(Đ) Những điều này như chúng ta thấy là, như thể, là những phần cuối—hay những phần—của nhiều kinh nghiệm cá nhân của thực thể qua nhiều lần lưu trú của y. Khi thực thể biết và thấy các biểu hiện năng quyền của những lực vô hình trong trải nghiệm của kẻ khác, nó đã mang theo các hoạt động và chuyển động của mọi loại hình. Do vậy chúng trở thành những trải nghiệm gây sợ hãi, hay những điều tạo ra nỗi sợ. Tuy nhiên nếu đón nhận chúng như những sự bảo chứng về các lời hứa của Ngài, sẽ thấy rằng chúng là những nhắc nhở rằng từ tự thân các thị kiến xuất hiện, từ tự thân những tư tưởng khởi sinh, từ tự thân các hoạt động có thể bắt đầu; và thế là chúng trở nên những bậc thang hơn là hòn đá vấp ngã—như chúng từng thường là vậy.
Then, the little assurances that arise, bless them, keep them; not as fearful things, but as those things upon which hope and faith and patience and love may be builded!
Vậy thì, những bảo chứng nhỏ nhoi nảy sinh, hãy chúc phúc chúng, giữ gìn chúng; không như những điều đáng sợ, mà như những điều trên đó hy vọng, đức tin, nhẫn nại và tình thương có thể được xây dựng!
Editor’s Note: Dream guidance on specific issues.
Ghi chú của biên tập viên: Chỉ dẫn từ giấc mơ về các vấn đề cụ thể.
Reading 137-60
Bài đọc 137-60
(Q) Arthur De Cordova asked me if [5768] was away, to which I replied in affir mative. He then said: “Well, then you are going to make some money.” I jumped to the conclusion he meant Fleischman but he corrected me by telling me that Ajax Rubber stock ought to go up because of the commodity Rubber going up. Also some reference in this respect to Fisk Tire bonds. De Cordova and I looked at the Ajax specialist book (which I have on the floor) but I was not favorable to buying any Ajax rubber stock, so we did nothing.
(H) Arthur De Cordova hỏi tôi liệu [5768] có đi vắng không, tôi đã trả lời khẳng định. Rồi ông ấy nói: “Vậy thì anh sắp kiếm được ít tiền.” Tôi vội kết luận rằng ông ấy ám chỉ Fleischman nhưng ông ấy đính chính bằng cách bảo tôi rằng cổ phiếu Ajax Rubber có lẽ sẽ tăng vì hàng hóa Cao su đang tăng giá. Cũng có một số đề cập liên quan đến trái phiếu Fisk Tire. De Cordova và tôi xem sổ chuyên viên của Ajax (cuốn tôi để trên sàn) nhưng tôi không nghiêng về việc mua bất kỳ cổ phiếu cao su Ajax nào, nên chúng tôi đã không làm gì.
(A) Then, as seen, this the continuation of that as given, that the entity, physically, should study these conditions, in the physical, mental, way and manner as pertains to these individual stocks, see? that the use of such conditions, as would be determined by the study of same, may be used by the entity.
(Đ) Vậy thì, như thấy, đây là sự tiếp nối điều đã nêu, rằng thực thể, về phương diện thể xác, nên nghiên cứu các điều kiện này, theo cách thức hồng trần và trí tuệ liên quan đến các cổ phiếu riêng lẻ này, thấy chứ? để việc sử dụng các điều kiện như thế—như sẽ được định đoạt bởi việc nghiên cứu chúng—có thể được thực thể sử dụng.
(Q) What is indicated I should do in regard to Ajax Rubber? When? (A) Study, study, study, study! Not any indication of buying, or selling either.
(H) Điều gì được chỉ dẫn là tôi nên làm liên quan đến Ajax Rubber? Khi nào? (Đ) Học đi, học đi, học đi, học đi! Không có chỉ dẫn nào về việc mua, hay bán cả.
Reading 853-5
Bài đọc 853-5
(Q) How may I develop my dreams and visions so as to enable me to locate the hidden treasure?
(H) Làm sao tôi có thể phát triển giấc mơ và thị kiến của mình để có thể định vị kho báu ẩn giấu?
(A) By not wishing or not insisting, but as of preparation of self; meditations and then turning—as it were—to the within that there may be the visions of those activities that will aid not only those that would assist from beyond but aid self in recalling and seeing the places and positions of the cache.
(Đ) Bằng cách không mong mỏi hay không khăng khăng, mà như là sự chuẩn bị cho bản thân; tham thiền rồi sau đó quay—như thể—vào bên trong để có thể có những thị kiến về các hoạt động sẽ hỗ trợ không chỉ những ai muốn trợ giúp từ cõi bên kia mà còn trợ giúp bản thân trong việc hồi tưởng và nhìn thấy các nơi chốn và vị trí cất giấu.
Reading 853-8
Bài đọc 853-8
(Q) How may I best prepare self for meditation and then turn within, as previ ously given, to locate buried treasure to aid those that would assist from beyond and aid me in recalling and seeing places and positions of cache?
(H) Làm sao tôi có thể chuẩn bị bản thân tốt nhất cho tham thiền và rồi quay vào bên trong, như đã cho trước đây, để định vị kho báu chôn giấu nhằm trợ giúp những người muốn trợ giúp từ cõi bên kia và giúp tôi hồi tưởng và nhìn thấy các nơi chốn và vị trí cất giấu?
(A) Study first those associations of what the mental mind is, and how the mental mind (that is, the mind of the body) may be attuned with the Infinite or to the soul mind. For they are—as Life—one and the same; not as sections, but as an awareness, as a remembrance, as an activity. And entering into meditation (as we have given in the pamphlet on Meditation) one then submerges the physical consciousness and allows an attunement; as an acoustic instrument would be, as a recalling to mind would be; so that there is then opened for the self the remembrance.
(Đ) Trước hết hãy nghiên cứu những liên hệ về thể trí là gì, và làm sao thể trí (tức là, thể trí của thân thể) có thể được hòa điệu với Đấng Vô Cùng hoặc với thể trí của linh hồn. Vì chúng—như Sự Sống—là một và đồng nhất; không phải như những phần đoạn, mà như một sự nhận biết, một sự hồi nhớ, một hoạt động. Và khi bước vào tham thiền (như chúng tôi đã chỉ dẫn trong tập sách nhỏ về Tham Thiền) thì người ta nhấn chìm tâm thức hồng trần và cho phép một sự hòa điệu; như một nhạc cụ âm học được điều chỉnh, như một sự gợi nhớ trở lại trong thể trí; để rồi mở ra cho bản thân sự hồi nhớ.
As has been given for this entity, such an attunement or such an awareness becomes most in accord in dream; for then there is the submerging of the physical consciousness and the desires of same; and if there is the meditating it brings better attunement with less of what may be termed as an interference of conscious forces, conscious influences. Hence, as has been given, if this will be practiced or applied in the experience, the remembrance should come.
Như đã được cho với thực thể này, một sự hòa điệu hay một sự nhận biết như thế trở nên hòa hợp nhất là trong mộng; vì khi ấy có sự nhấn chìm tâm thức hồng trần và các dục vọng của nó; và nếu có sự tham thiền thì điều đó mang lại sự hòa điệu tốt hơn với ít hơn những gì có thể gọi là các nhiễu loạn của các lực ý thức, các ảnh hưởng ý thức. Do vậy, như đã được nêu, nếu điều này sẽ được thực hành hay áp dụng trong trải nghiệm, thì sự hồi nhớ sẽ đến.
Editor’s Note: Recurring dreams.
Ghi chú của biên tập viên: Giấc mơ lặp lại.
Reading 487-6
Bài đọc 487-6
GC: You will have before you the body and the enquiring mind of [487] of..., Virginia, this dream the body had three nights in succession, February 23, 24, 25, 1926, all regarding the same thing, three little wagons. You will give the interpretation and lesson to be gained from these.
GC: Quý vị sẽ có trước mặt mình thân thể và thể trí truy vấn của [487] ở..., Virginia; đây là giấc mơ thân thể đã có ba đêm liên tiếp, ngày 23, 24, 25 tháng 2, 1926, tất cả đều nói về một điều giống nhau, ba chiếc xe kéo nhỏ. Quý vị sẽ đưa ra diễn giải và bài học rút ra từ những điều này.
EC: Now, we have this developing mind of an entity that becomes impressed with those visions as are presented to the consciousness, through the subconscious or subliminal self and these are presented that the entity, in the study and thought that may be put on same, for the entity’s good and edification. That is, that the entity may better understand self, and self’s application to conditions as arise in its life.
EC: Giờ đây, chúng ta có một thể trí đang phát triển của một thực thể, kẻ bị ấn tượng bởi những thị kiến được trình bày cho tâm thức, thông qua tự ngã tiềm thức hay khuất thức, và các điều này được đưa ra để thực thể, trong việc học hỏi và suy tư có thể đặt vào đó, vì điều thiện và sự gây dựng bản thân của thực thể. Nghĩa là, để thực thể có thể thấu hiểu bản thân tốt hơn, và sự áp dụng của bản thân vào các điều kiện phát sinh trong đời sống của mình.
As is seen, the wagons as seen present that as an intent or desire, or purpose in the life. Something desired to be done, something desired to be accomplished, something to be desired to give the correct impression to individuals. As is seen in how that the wagons are used, and all are presented—three in each time, see?—the three conditions as are presented in self. These, as they are given, and as they are used, are as but the way and manner in which self may train, govern, guard, direct self for the better control of self, as the wagons in their shape, their position, need the control. First, as is seen, a long desire—long wagon. As is seen, it is to and from those closely associated with the self, and is as how self would desire to treat, to be held in esteem by those individuals. As is seen in the next, the new white, red and striped wagon. Again, as is seen, associated with members of individual family. Then, representing truth, purity, and untruth, and as is seen in the red wagon that brings trouble, that brings the misunderstandings, then, as the entity sees, misunderstandings bring trouble to self, care to others, worry to many. As is again seen in wagons of peculiar type or construction, and as associated with other individuals rather than of the family, again in the study of same is seen how that the temperament, the attitude, the disposition, makes for good and bad influences. Then, those responsible for the individuality of the entity, and for the development of its purposes in life, should apply same in the way and manner to the life of entity that he may gain good from same.
Như thấy, những chiếc xe kéo được nhìn thấy biểu thị như một ý định hay ước muốn, hay mục đích trong đời. Điều gì đó muốn được làm, điều gì đó muốn được hoàn tất, điều gì đó muốn được nhằm tạo ấn tượng đúng đắn cho cá nhân khác. Như thấy ở cách những chiếc xe được dùng, và tất cả đều xuất hiện—mỗi lần là ba, thấy chứ?—là ba trạng thái được biểu thị trong tự thân. Những điều này, như được nêu, và như chúng được sử dụng, chỉ là cách thức và phương cách mà bản thân có thể rèn luyện, điều hành, canh giữ, dẫn dắt bản thân để tự chủ tốt hơn, như những chiếc xe trong hình dạng, vị trí của chúng, cần sự điều khiển. Trước hết, như thấy, là một ước muốn dài—chiếc xe dài. Như thấy, nó đi tới và đi lui với những người gắn bó gần gũi với bản thân, và đó là cách bản thân muốn đối đãi, muốn được những cá nhân ấy coi trọng. Như thấy ở chiếc tiếp theo, chiếc xe mới màu trắng, đỏ và có sọc. Lại nữa, như thấy, gắn với các thành viên của gia đình. Khi ấy, tượng trưng cho chân lý, sự tinh khiết, và điều bất chân, và như thấy ở chiếc xe đỏ vốn gây rắc rối, mang đến những hiểu lầm, thế thì, như thực thể thấy, hiểu lầm mang rắc rối đến cho bản thân, gây bận lòng cho người khác, lo lắng cho nhiều người. Như lại thấy ở những chiếc xe có kiểu dáng hay cấu trúc lạ, và như gắn với những người khác chứ không phải gia đình, một lần nữa trong việc khảo sát điều đó ta thấy khí chất, thái độ, tâm tính làm nên các ảnh hưởng tốt xấu. Vậy thì, những người chịu trách nhiệm về tính cá biệt của thực thể, và về sự phát triển các mục đích sống của y, nên áp dụng điều đó vào đời sống của thực thể theo cách thức để y có thể gặt hái điều thiện từ đó.
Reading 823-1
Bài đọc 823-1
(Q) Why in early childhood did I dream so many times that the world was being destroyed, always seeing a black destructive cloud?
(H) Vì sao hồi thơ ấu tôi lại mơ rất nhiều lần rằng thế giới đang bị hủy diệt, luôn thấy một đám mây đen hủy diệt?
(A) From the experience in the Atlantean land, when there were those destructive forces as indicated. The entity saw or lived through those experiences of at least two, yea three, of the destructive periods; saw the land breaking up, as it were.
(Đ) Từ trải nghiệm ở xứ Atlantis, khi có những lực hủy diệt như đã chỉ dấu. Thực thể đã thấy hoặc đã sống qua những trải nghiệm của ít nhất hai, vâng ba, thời kỳ hủy diệt; thấy đất đai tan vỡ, như thể vậy.
Editor’s Note: Note Cayce’s repeated emphasis on the importance of application.
Ghi chú của biên tập viên: Lưu ý sự nhấn mạnh lặp đi lặp lại của Cayce về tầm quan trọng của việc áp dụng.
Reading 294-70
Bài đọc 294-70
Dreams, visions, impressions, to the entity in the normal sleeping state are the presentations of the experiences necessary for the development, if the entity would apply them in the physical life. These may be taken as warnings, as advice, as conditions to be met, conditions to be viewed in a way and manner as lessons, as truths, as they are presented in the various ways and manners.
Những giấc mơ, thị kiến, ấn tượng, đối với thực thể trong trạng thái ngủ bình thường là sự trình hiện những trải nghiệm cần thiết cho sự phát triển, nếu thực thể sẵn sàng áp dụng chúng trong đời sống hồng trần. Chúng có thể được xem như những lời cảnh báo, như lời khuyên, như những điều kiện cần đối mặt, những điều kiện cần được nhìn theo cách như những bài học, như những chân lý, như chúng được trình bày qua nhiều cách thức.
Reading 136-62
Bài đọc 136-62
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, [136]. This we have had here before. The dreams again and again present to the entity those lessons, those truths, that the entity seeks to apply in the life, and as these are presented may the entity take those warnings and those lessons from same, and applying same in the life brings about those things that bring more peace, more satisfaction, and a better understanding of the conditions, the purposes, and all of life—for it is not all of life to live, nor yet all of death to die.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể, thể trí truy vấn, [136]. Điều này trước đây chúng tôi đã có ở đây. Những giấc mơ hết lần này đến lần khác trình hiện cho thực thể những bài học, những chân lý mà thực thể tìm cách áp dụng trong đời sống, và khi những điều này được trình bày, mong thực thể lấy từ đó các lời cảnh báo và các bài học, và việc áp dụng điều đó trong đời sống sẽ mang lại những điều đem đến nhiều bình an hơn, nhiều thỏa mãn hơn, và một sự thấu hiểu tốt hơn về các điều kiện, các mục đích, và toàn thể đời sống—vì sống không phải là tất cả của đời sống, cũng chẳng phải chết là tất cả của cái chết.
Reading 903-5
Bài đọc 903-5
Apply those applications as have been seen. More of these may come to thee, would thou apply same. If thou desirest thou may have more of these direct. If thou fearest, do not call.
Hãy áp dụng những ứng dụng như đã thấy. Nhiều điều trong số này có thể đến với ngươi, nếu ngươi áp dụng điều đó. Nếu ngươi mong muốn, ngươi có thể có nhiều điều trực tiếp hơn nữa. Nếu ngươi sợ, đừng gọi.
Reading 136-45
Bài đọc 136-45
The dreams, the visions, the impressions as are gained in experiences through the subconscious forces, are giving to the entity those lessons, as may be applied in the physical body, the physical mind, and in the material manner, as has been outlined for the body. The lessons as are being gained by same are as the truths that come by the entity making itself in an attunement and an at-onement with those universal forces, into which the body-conscious mind enters when in the somnambulistic state, or in sleep: for the subconscious force operates on.
Những giấc mơ, thị kiến, ấn tượng được thu nhận trong các trải nghiệm qua các lực tiềm thức, đang ban cho thực thể những bài học có thể được áp dụng trong thể xác, thể trí, và theo cách thức vật chất, như đã được phác thảo cho thân thể. Những bài học đang được thu nhận đó là những chân lý đến qua việc thực thể tự đặt mình vào một sự hòa điệu và sự trở nên nhất thể với các lực phổ quát, mà vào đó tâm thức-thân thể đi vào khi ở trạng thái mộng du, hoặc trong giấc ngủ: bởi lực tiềm thức vẫn vận hành.
Use same, then, and apply same for the better conditions, the better understanding of life and life’s purposes, and of those conditions through which the entity passes. For each experience applied is a development for the entity. Without an application of the experience is to act in that way that brings condemnation, or a mis-application of the advantages as may be gained by knowledge.
Vậy thì, hãy sử dụng điều đó, và áp dụng điều đó cho các điều kiện tốt hơn, sự thấu hiểu tốt hơn về đời sống và các mục đích của đời sống, và về những điều kiện mà thực thể đang đi qua. Vì mỗi trải nghiệm khi được áp dụng sẽ là một sự phát triển cho thực thể. Không áp dụng trải nghiệm là hành động theo cách mang đến sự kết án, hay là một sự áp dụng sai các thuận lợi có thể gặt được nhờ tri thức.
Editor’s Note: John Van Auken, in an essay titled “River of Dreams,” offers this counsel on working with dreams:
Ghi chú của biên tập viên: John Van Auken, trong một tiểu luận tựa “Dòng Sông của Những Giấc Mơ,” đưa ra lời khuyên sau về việc làm việc với giấc mơ:
It is important to recognize that the dreamer is our inner self. Therefore, the best interpreter is our inner self, so we should obtain the interpretation while still in or near the dreaming self. Trying to translate a dream later with only our outer, three-dimensional self is very difficult. It did not dream the dream. We will do much better if we keep the body and outer self still as we awaken, and get the dream and its meaning from the inner self.
Điều quan trọng là nhận ra rằng người mơ là cái ta bên trong của chúng ta. Do đó, người diễn giải giỏi nhất là cái ta bên trong, vì vậy chúng ta nên nhận lấy sự diễn giải khi còn ở trong hoặc gần với cái ta đang mộng. Cố dịch một giấc mơ về sau chỉ với cái ta bên ngoài ba chiều là rất khó. Nó đâu có mơ giấc mơ đó. Chúng ta sẽ làm tốt hơn nhiều nếu giữ thân thể và cái ta bên ngoài yên tĩnh khi thức dậy, và nhận lấy giấc mơ cùng ý nghĩa của nó từ cái ta bên trong.
Here are some quick steps toward better interpretation:
Dưới đây là một vài bước nhanh hướng đến diễn giải tốt hơn:
1. Watch your mood upon waking. This will give you the best sense of whether the inner self is happy or unhappy about conditions.
1. Hãy quan sát tâm trạng của bạn khi tỉnh dậy. Điều này sẽ cho bạn cảm nhận tốt nhất xem cái ta bên trong hài lòng hay không hài lòng về các điều kiện.
2. Get the gist of the dream first, details second. Jesus once observed that we tend to strain for gnats while we are swallowing camels. The big picture, the overriding theme, is much more important for us to grasp than the details.
2. Nắm lấy cái cốt của giấc mơ trước, chi tiết để sau. Đức Jesus đã từng nhận xét rằng chúng ta có xu hướng lọc con muỗi trong khi nuốt trôi con lạc đà. Bức tranh lớn, chủ đề bao trùm, quan trọng hơn rất nhiều để nắm bắt so với những chi tiết.
3. Understand that the subconscious may use exaggeration to get our attention. It’s like the joke of how to get your mule to do something: first, you hit him as hard as you can to get his attention. In a similar manner the subconscious gets our attention: exaggerated activities and shocking imagery will do more to get our attention than sweetly whispered instructions. Therefore, don’t let the dramatic exaggerations overwhelm you or cause fear. In fact, the bizarre image or activity is likely the key to interpreting the entire dream.
3. Hiểu rằng tiềm thức có thể dùng sự phóng đại để thu hút sự chú ý của chúng ta. Nó giống như câu chuyện làm sao khiến con la làm điều gì đó: trước hết, bạn đánh nó thật mạnh để thu hút sự chú ý. Tương tự, tiềm thức khiến chúng ta chú ý: những hoạt động phóng đại và hình ảnh gây sốc sẽ hiệu quả hơn nhiều trong việc thu hút sự chú ý so với những lời chỉ dẫn được thì thầm êm dịu. Do đó, đừng để những phóng đại kịch tính áp đảo bạn hay gây sợ hãi. Thực ra, hình ảnh hay hoạt động kỳ quặc nhiều khả năng là chìa khóa để diễn giải toàn bộ giấc mơ.
4. Dreams are usually symbolic. They speak in imagery that represents more than literal appearance. Like good parables or novelettes, they tell a story that has a deeper meaning than the details. Often they use figures of speech. For example, if I told you that I really put my foot in my mouth while talking with someone yesterday, you would know that I did not literally put my foot in my mouth. Dreams speak in the same manner and are best interpreted as you would figures of speech.
4. Giấc mơ thường là biểu tượng. Chúng nói bằng hình ảnh tượng trưng cho nhiều hơn vẻ ngoài chữ nghĩa. Như những dụ ngôn hay đoản thiên hay, chúng kể một câu chuyện có ý nghĩa sâu hơn các chi tiết. Thường chúng dùng lối nói ẩn dụ. Ví dụ, nếu tôi nói với bạn rằng hôm qua khi trò chuyện với ai đó tôi đã “cho chân vào miệng mình,” bạn sẽ biết rằng tôi không hề thật sự cho chân vào miệng. Giấc mơ nói theo cách tương tự và tốt nhất nên được diễn giải như bạn diễn giải lối nói ẩn dụ.
5. Finally, nothing will help us get better dream guidance than using dream content in our lives. Create an action plan for each dream. Ask yourself, How can I use this dream in my life today? Even if you are not really sure of the dream’s meaning, attempt to use some portion of it. In this way your inner self will be stimulated to bring more insight and guidance through the dream channel, and it will become clearer and more relevant.
5. Sau cùng, chẳng điều gì giúp chúng ta nhận được chỉ dẫn qua mơ tốt hơn là sử dụng nội dung giấc mơ trong đời sống của chúng ta. Hãy lập kế hoạch hành động cho mỗi giấc mơ. Hãy tự hỏi, Hôm nay tôi có thể dùng giấc mơ này vào đời sống của mình thế nào? Dẫu bạn chưa thực sự chắc nghĩa giấc mơ, hãy cố gắng sử dụng một phần nào đó của nó. Như thế, cái ta bên trong của bạn sẽ được kích hoạt để mang đến nhiều thấu triệt và chỉ dẫn hơn qua kênh giấc mơ, và nó sẽ trở nên rõ ràng và thích đáng hơn.
In the Book of Job it is written: “God speaks once, even twice—though man regards it not—in a dream, in a vision of the night, when deep sleep falls upon man, in slumberings upon the bed. Then God opens the ears of humans, and seals their instruction, that He may withdraw man from his [selfish] purposes, and hide pride from man. He keeps back his soul from the pit, and his life from perishing by the sword.”
Trong Sách Gióp có chép: “Thượng đế phán một lần, thậm chí hai lần—dù con người chẳng lưu tâm—trong giấc mơ, trong thị kiến đêm khuya, khi giấc ngủ sâu phủ xuống con người, trong cơn mê mệt trên giường. Bấy giờ Thượng đế mở tai người phàm, và đóng ấn lời dạy của họ, để Ngài có thể rút con người khỏi những mục đích [ích kỷ] của y, và che giấu kiêu ngạo khỏi con người. Ngài giữ linh hồn y khỏi hố diệt vong, và đời y khỏi tiêu vong vì gươm giáo.”
Budget time for swimming in the river of dreams. They guide us to the shores of paradise. Sleep is a shadow of death and the life beyond this world. To live in dreamy sleep is to know heaven.
Hãy dành thời lượng cho việc bơi trong dòng sông của những giấc mơ. Chúng dẫn dắt ta đến bờ bến thiên đường. Giấc ngủ là cái bóng của cái chết và của đời sống bên kia thế giới này. Sống trong giấc ngủ đầy mộng là biết thiên đường.