3
Dreams and ESP—Giấc mơ và Ngoại Cảm
Reading 136-54
Bài đọc 136-54
(Q) Morning of December 27, 1926. Dreamed Emmie committed suicide. (A) This shows to the entity, through this correlation of mental forces of the body-mind itself and those of the body-mind of Emmie, that such conditions had passed through this mind—contemplation of such conditions, see? They have passed.
(H) Sáng ngày 27 tháng 12, 1926. Mơ Emmie tự tử. (Đ) Điều này cho thấy với thực thể, qua sự tương liên giữa các lực thể trí của tâm-trí thân thể chính nó và của tâm-trí thân thể của Emmie, rằng những điều kiện như vậy đã đi qua tâm trí này—sự chiêm ngưỡng những điều kiện như thế, thấy chứ? Chúng đã qua rồi.
(Q) Is Emmie contemplating any such act as suicide? Will she carry it out? (A) They have passed.
(H) Emmie có đang nghĩ đến hành vi như tự tử không? Cô ấy có sẽ thực hiện không? (Đ) Chúng đã qua rồi.
(Q) How did [136] get this information about Emmie in dream? (A) Correlation of subconscious minds that contact through thought, for thoughts are deeds and may become crimes or miracles. Just as given in the introduction, as it were, here dreams are the correlation of various phases of the mentality of the individual, see? and individual meaning of that entity. Dreams are those of conditions wherein there may be taken into the body-physical that of elements that produce hallucinations, or the activity of that induced in the system in itself attempting to take on its individual force produces hallucinations, nightmares, or abortions to the mental forces of an individual. See how the connection becomes then between the individual mind and that producing same? The same as we find, there may be conditions from the mental mind of an entity, by deep study or thought, wherein the experiences of the individual entity are correlated through the subconscious forces of the entity—the latent forces of the entity—the hidden forces of the entity—and correlating same in a vision or dream. Often these are as symbolic conditions, each representing a various phase to the mental development of the entity.
(H) Làm sao [136] nhận được thông tin về Emmie trong mơ? ( (Đ) Sự tương liên giữa các thể trí tiềm thức vốn tiếp xúc qua tư tưởng, vì tư tưởng là hành vi và có thể trở thành tội lỗi hay phép màu. Như vừa được nêu trong phần mở đầu, như thể, giấc mơ là sự tương liên của các pha khác nhau của thể trí của cá nhân, thấy chứ? và ý nghĩa cá nhân của thực thể đó. Giấc mơ là những điều kiện mà trong đó có thể được mang vào thân-thể-xác những yếu tố tạo ra ảo giác, hoặc hoạt động của điều được khởi phát trong hệ thống tự thân cố gắng tiếp nhận lực riêng của nó tạo ra ảo giác, ác mộng, hoặc những sự lệch lạc đối với các lực thể trí của một cá nhân. Thấy mối nối kết trở thành như thế nào giữa thể trí cá nhân và cái tạo ra điều đó chứ? Cũng như chúng ta thấy, có thể có những điều kiện từ thể trí của một thực thể, bằng sự khảo cứu sâu hay tư tưởng, ở đó những trải nghiệm của thực thể cá nhân được tương liên qua các lực tiềm thức của thực thể—các lực tiềm tàng của thực thể—các lực ẩn giấu của thực thể—và tương liên chúng trong một thị kiến hay giấc mơ. Thường đây là những điều kiện mang tính biểu tượng, mỗi điều đại diện cho một pha khác nhau đối với sự phát triển thể trí của thực thể.
Others there are, a correlation between mentalities or subconscious entities, wherein there has been attained, physically or mentally, a correlation of individual ideas or mental expressions that bring from one subconscious to another those of actual existent conditions, either direct or indirect, to be acted upon or that are ever present, see?
Lại có những điều khác, một sự tương liên giữa các thể trí hay các thực thể tiềm thức, ở nơi vốn đã đạt được, về phương diện hồng trần hay trí tuệ, một sự tương liên của các ý niệm cá nhân hay các biểu đạt thể trí vốn mang từ tiềm thức này sang tiềm thức kia những điều kiện đang hiện hữu thực sự, trực tiếp hay gián tiếp, để hành động hoặc vốn luôn hiện diện, thấy chứ?
Hence we find visions of the past, visions of the present, visions of the future. For to the subconscious there is no past or future—all present. This would be well to remember in much of the information as may be given through such forces as these.
Do đó chúng ta thấy các thị kiến về quá khứ, thị kiến về hiện tại, thị kiến về tương lai. Vì đối với tiềm thức thì không có quá khứ hay tương lai—tất cả đều là hiện tại. Điều này đáng để ghi nhớ trong nhiều thông tin có thể được ban qua những lực như vậy.
Reading 137-17
Bài đọc 137-17
Editor’s Note: This reading was given for a stockbroker who was using dreams for investment information
Ghi chú của biên tập viên: Bài đọc này dành cho một nhà môi giới chứng khoán đang dùng giấc mơ để lấy thông tin đầu tư
(Q) July 12, or early Monday morning, July 13, 1925. Dreamed a man was trying to sell me a radio. Then someone put poison on the doorknob of my door and urged me to come and touch it. I was terribly frightened. He tried to force me to touch the poisoned knob. Struggling, I awakened in a cold sweat.
(H) Ngày 12 tháng 7, hoặc rạng sáng thứ Hai, ngày 13 tháng 7, 1925. Mơ có một người đàn ông đang cố bán cho tôi một chiếc radio. Rồi ai đó bôi thuốc độc lên nắm cửa phòng tôi và hối thúc tôi đến chạm vào nó. Tôi vô cùng sợ hãi. Hắn cố ép tôi chạm vào nắm cửa bị tẩm độc. Vật lộn, tôi bừng tỉnh trong mồ hôi lạnh.
(A) In this we have a presentation to this mind of conditions that are to arise in the physical affairs of the body. The presentation of a sale attempting to be made of radio refers to the deal that will be offered the individual in radio stocks or corporations, or such natures, offering as a wonderful proposition to the body. The presentation of poison being placed by someone on the door represents the condition that would enter into same, if the body were to accept or to invest in such conditions, corporations or stocks, of that nature. Hence the warning as would come from this at the present, or during this time—next sixteen to twenty days: Do not invest in stocks, bonds, or any conditions pertaining to radio activity work.
(Đ) Ở đây chúng ta có sự trình hiện cho thể trí này những điều kiện sẽ phát sinh trong các việc hồng trần của thân thể. Sự trình hiện một cuộc chào bán đang được thực hiện về radio ám chỉ về thương vụ sẽ được đề nghị cho cá nhân này trong các cổ phiếu hay công ty radio, hoặc những tính chất như vậy, được rao như một đề xuất tuyệt vời đối với thân thể. Việc trình hiện thuốc độc bị ai đó đặt trên cánh cửa biểu thị điều kiện sẽ chen vào, nếu thân thể chấp nhận hay đầu tư vào những điều kiện, công ty hay cổ phiếu thuộc loại ấy. Vậy nên lời cảnh báo có thể đến từ đây vào lúc hiện tại, hoặc trong thời gian này—mười sáu đến hai mươi ngày tới: Đừng đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, hay bất kỳ điều kiện nào liên quan đến công việc hoạt động radio.
Reading 136-7
Bài đọc 136-7
(Q) June 27, at home. Dreamed of an automobile accident.
(H) Ngày 27 tháng 6, tại nhà. Mơ thấy một tai nạn ô tô.
(A) Again the projection of conditions as were discussed in the conscious physical mind, with the projection from consciousness to subconscious conditions and presented in an accident that happened to other individuals, seen but not experienced by the individuals themselves. No lesson, other than that the mind, dwelling upon physical conditions, partakes in the subconscious condition those of like element; showing then how definitely what one thinks in reality in inner self one becomes or partakes of.
(Đ) Lại nữa là sự phóng chiếu những điều kiện đã được bàn luận trong thể trí ý thức hồng trần, với sự phóng chiếu từ ý thức sang các điều kiện tiềm thức và trình hiện trong một tai nạn xảy đến với các cá nhân khác, được nhìn thấy nhưng không do chính các cá nhân trải qua. Không có bài học nào, ngoài việc cho thấy thể trí, khi cư trú trên các điều kiện hồng trần, thì trong phản ứng tiềm thức hấp thụ những yếu tố cùng loại; cho thấy rõ ràng rằng người ta thực sự trở thành hay dự phần vào điều mình tư duy trong nội ngã.
(Q) Monday, June 29. Dreamed of a weak-minded boy or child.
(H) Thứ Hai, ngày 29 tháng 6. Mơ thấy một cậu bé hay đứa trẻ trí tuệ yếu kém.
(A) Again the projection of thoughts, conditions, as expressed in physical manner, and showing how again that projections come from the conscious to subconscious forces and visions seen of one in such states. This, then, is again how the conscious forces feed the subconscious, and for the better indwelling of the subconscious, good and only good thoughts should be projected into the subconscious, for developments come through such; for the body (internally speaking) becomes that upon which it feeds. Hence, true has it been said, “When I was a child I thought as a child. Now I become a man I put away childish thoughts.” In like manner ones developing, when they carry those thoughts in conversation, or in the deeper recesses of mind concerning conditions, we see projections of same in the subconscious reaction through dreams; for dreams are that of which the subconscious is made, for any conditions ever becoming reality is first dreamed. [Her son, [142], was a mental case 25 years later.]
(Đ) Lại nữa là sự phóng chiếu các tư tưởng, điều kiện, như đã biểu đạt theo cách thức hồng trần, và lại cho thấy sự phóng chiếu đến từ ý thức sang các lực tiềm thức và nhìn thấy hình ảnh của một người ở trong những trạng thái như vậy. Như thế, lại một lần nữa cho thấy các lực ý thức nuôi dưỡng tiềm thức, và vì sự cư trú tốt đẹp hơn của tiềm thức, chỉ nên phóng chiếu những tư tưởng thiện lành, vì sự phát triển đến qua như vậy; vì thân thể (nói theo nội tại) trở nên điều mà nó nuôi dưỡng. Do đó, thật là đúng khi đã nói, “Khi tôi còn là trẻ nhỏ tôi suy nghĩ như trẻ nhỏ. Nay tôi thành người trưởng thành tôi đặt những tư tưởng trẻ con sang một bên.” Tương tự, những người đang phát triển, khi họ mang theo những tư tưởng ấy trong đàm thoại, hay trong những ngách sâu hơn của thể trí liên quan đến các điều kiện, chúng ta thấy những phóng chiếu tương tự trong phản ứng tiềm thức qua những giấc mơ; bởi giấc mơ là điều mà tiềm thức được tạo nên từ đó, vì mọi điều kiện trở thành hiện thực đều trước hết được mơ thấy. [Con trai bà, [142], 25 năm sau đã trở thành một trường hợp rối loạn tâm trí.]
Reading 137-118
Bài đọc 137-11 8
(Q) Will my wife precede me in death and will I be able to foretell my own death as given in the prophecy?
(H) Vợ tôi có sẽ qua đời trước tôi không và tôi có thể tiên tri về cái chết của chính mình như lời tiên tri không?
(A) Even as thine earthly brother gave, “I go up to be bound of those that know not what they do”—even so will self be able to know within self that which is to take place in material planes. Be not overcome by much knowledge. Be not overdone nor undone by that as may be given.
(Đ) Cũng như người anh em theo xác thịt của ngươi đã nói, “Ta đi lên để bị trói bởi những kẻ không biết họ làm gì”—thì bản thân ngươi cũng sẽ có thể biết trong nội tâm điều gì sẽ diễn ra trên các bình diện vật chất. Chớ bị khuất phục bởi quá nhiều tri thức. Chớ bị làm cho quá đà hay sụp đổ bởi những điều có thể được ban.
Remember, mine son, that thou saidst of him who did wage war—even with Him—concerning the body of Moses, whom thou may even direct—that though he recognized his power, yet railed he not—but said, “God will deal with thee.” Not of thine own power may these forces be done—but flesh and blood may manifest a spiritual truth, but may not order a spirit in any direction! Aid and succor may come through flesh and blood, even to those near the pit—yet there is fixed that impassable gulf, and he that makes his will one with the father may be committed a care through His direction. Keep that as is given, my son, and err not in well-doing; for oft, as has been said, those that call upon the forces only in distress may be heard from afar. Keep thine self close, that those that would direct may be ever near thee—for the stumbling block always lies in self-aggrandizement of power and ability stored in one’s own self, in the misuse of self in relation one to another. Keep the faith, My Son Keep the faith—
Hãy nhớ, hỡi con ta, rằng ngươi đã nói về kẻ đã giao chiến—dẫu với Chính Ngài—về thân thể của Moses, kẻ mà ngươi thậm chí có thể chỉ huy—rằng dẫu hắn nhận ra quyền năng của ngươi, hắn vẫn không mạ lỵ—mà nói, “Thượng đế sẽ xử với ngươi.” Không bởi quyền năng của riêng ngươi mà những lực này có thể được thực hiện—nhưng xác thịt và huyết nhục có thể biểu lộ một chân lý tinh thần, song chẳng thể truyền lệnh cho một linh thể theo bất kỳ hướng nào! Sự cứu giúp và phù trì có thể đến qua xác thịt và huyết nhục, thậm chí cho những kẻ gần hố sâu—tuy nhiên có đặt cố định một vực thẳm bất khả vượt, và ai làm cho ý chí mình thống nhất với Đấng Cha thì có thể được ủy thác một sự chăm nom qua sự chỉ dẫn của Ngài. Hãy giữ điều đã được ban, hỡi con ta, và chớ sai trật trong việc làm lành; vì thường, như đã nói, những kẻ chỉ cầu đến các lực trong cơn khốn đốn có thể được nghe từ rất xa. Hãy giữ vững đức tin, Con Ta Hãy giữ vững đức tin—
Reading 294-131
Bài đọc 294-13 1
Editor’s Note: According to Harmon Bro, “Cayce, when awake, wondered about the outreach that occurred in his readings and in his dreams. Accordingly, he dreamed about his question. This dream, like a number he had, occurred while he was in trance, talking and concentrating on someone’s need. A part of his mind was still available for a dream, even during a reading. Shortly after the loss of his hospital, when he was questioning the value of his gift after all, he received the following reading regarding a dream:”
Ghi chú của biên tập viên: Theo Harmon Bro, “Cayce, khi thức, vẫn băn khoăn về tầm với đã xảy ra trong các bài đọc và trong những giấc mơ của ông. Cho nên, ông đã mơ về câu hỏi của mình. Giấc mơ này, như một số giấc ông có, xảy ra khi ông đang xuất thần, đang nói và tập trung vào nhu cầu của ai đó. Một phần thể trí của ông vẫn rảnh để có một giấc mơ, ngay cả trong lúc đang cho bài đọc. Ngay sau khi mất bệnh viện của mình, khi ông đang chất vấn giá trị ân tứ của mình xét cho cùng, ông đã nhận được bài đọc sau đây liên quan đến một giấc mơ:”
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, [294], present in this room—this we have had before. The dreams or visions, or both, as they are presented, represent either some development or warning, that there may be the better understanding of the various conditions and the activities that are active with the efforts of the body, in the attempt to bring to others that concept which will make for developments of individuals along the varied lines of expressions of the individuals, or the body itself. Ready for dreams.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể, thể trí truy vấn, [294], hiện diện trong căn phòng này—điều này chúng tôi đã có trước đó. Những giấc mơ hay thị kiến, hay cả hai, như chúng được trình bày, biểu thị hoặc một sự phát triển hoặc một lời cảnh báo, để có thể thấu hiểu tốt hơn các điều kiện khác nhau và các hoạt động đang hoạt hóa với những nỗ lực của thân thể, trong việc tìm cách mang đến cho người khác quan niệm sẽ làm nên sự phát triển của các cá nhân theo những đường hướng biểu đạt khác nhau của các cá nhân, hay của chính thân thể. Sẵn sàng cho các giấc mơ.
(Q) [GC read dream had Jan. 15, 1932 during reading 3985-1]: Saw myself fixing to give a reading, and the process through which a reading was gotten. Someone described it to me. There was a center or spot from which, on going into the state, I would radiate upward. It began as a spiral, except there were rings all around— commencing very small, and as they went on up they got bigger and bigger. The spaces in between the rings were the various places of development which individuals had attained, from which I would attempt to gain information. That was why a very low developed body might be so low that no one even giving information would be able to give anything that would be worthwhile. There were certain portions of the country that produced their own radiation; for instance, it would be very much easier to give a reading for an individual who was in the radiation that had to do with health, or healing; not necessarily in a hospital, but in a healing radiation—than it would be for an individual who was in purely a commercial radiation. I might be able to give a much better reading (as the illustration was made) for a person in Rochester, N.Y., than one in Chicago, Ill., because the vibrations of Rochester were very much higher than the vibrations in Chicago. The closer the individual was to one of the rings, the easier it would be to get the information. An individual would, from any point in between, by their own desire go toward the ring. If just curious, they would naturally draw down towards the center away from the ring, or in the spaces between the rings. [See also 1/33 EC’s repeated dream, since mid 20’s of being tiny dot seeking light, under 294-19 Reports.]
(H) [GC đọc giấc mơ có ngày 15/1/1932 trong bài đọc 3985-1]: Thấy mình đang sửa soạn để cho một bài đọc, và tiến trình qua đó một bài đọc được nhận. Có ai đó mô tả nó cho tôi. Có một trung tâm hay một điểm mà khi đi vào trạng thái, tôi sẽ bức xạ đi lên từ đó. Nó bắt đầu như một đường xoắn ốc, chỉ khác là có những vòng tròn bao quanh—khởi đầu rất nhỏ, và khi vươn lên thì chúng lớn dần, lớn dần. Các khoảng trống giữa những vòng là các nơi chốn phát triển khác nhau mà các cá nhân đã đạt tới, từ đó tôi sẽ cố gắng thu nhận thông tin. Đó là lý do tại sao một thân thể phát triển rất thấp có thể thấp đến mức chẳng ai thậm chí cung cấp thông tin có thể đưa được điều gì đáng giá. Có những phần của đất nước tạo ra bức xạ riêng của chúng; chẳng hạn, sẽ dễ cho một bài đọc cho cá nhân ở trong bức xạ liên quan đến sức khỏe, hoặc chữa lành; không nhất thiết ở trong bệnh viện, mà ở trong một bức xạ chữa lành—hơn là cho một cá nhân ở trong một bức xạ thuần thương mại. Tôi có thể cho một bài đọc tốt hơn nhiều (như minh họa đã nêu) cho một người ở Rochester, N.Y., hơn là cho một người ở Chicago, Ill., vì các rung động ở Rochester cao hơn rất nhiều so với các rung động ở Chicago. Càng gần với một trong những vòng, thì càng dễ lấy được thông tin. Một cá nhân sẽ, từ bất kỳ điểm nào ở giữa, bằng ước muốn riêng của mình, đi về phía vòng. Nếu chỉ tò mò, họ sẽ tự nhiên bị hút xuống phía trung tâm rời khỏi vòng, hay vào các khoảng giữa những vòng. [Xem thêm giấc mơ lặp lại 1/33 của EC, từ giữa thập niên 20 là một chấm nhỏ tìm kiếm ánh sáng, trong Báo cáo 294-19.]
(A) This vision is recognizable as an experience of the soul, or the entity, in activity. There have been various formulas or descriptions of how information for a body was obtained through these channels. There has been promised, through these channels, that there was to be a greater awakening to this entity in its field of endeavor. So in this way there is, as indicated, a way of the information being better correlated, better understood by individuals—who are through that as may be termed the attunements of the various directions, in the various portions of the country or world—of their relationship to the actual fact of seeking through the channels. [See 262-16.] As indicated, the entity is—in the affairs of the world—a tiny speck, as it were, a mere grain of sand; yet when raised in the atmosphere or realm of the spiritual forces it becomes all inclusive, as is seen by the size of the funnel—which reaches not downward, nor outward, nor over, but direct to that which is felt by the experience of man as into the heavens itself. As indicated in the rings, or the nets as of nerves, each portion of the sphere, or the earth, or the heavens, is in that place which has been set by an All Wise Creative Energy. Each may attain to those relationships by that which is attempted in the activities of an individual, a group, a class, a mass, a nation. In that manner do they create their position in the affairs of the universe. Each speck, as an atom of human experience, is connected one with another as the continuity of the cone seen, and in the manner that the nerves of an animating or living object bears upon that in its specific center, but reaches to the utmost portions of the universality of force or activity in the whole universe, and has its radial effect upon one another.
(Đ) Thị kiến này có thể nhận ra như một trải nghiệm của linh hồn, hay của thực thể, trong hoạt động. Đã có nhiều công thức hay mô tả khác nhau về cách thông tin cho một thân thể được thu nhận qua các kênh này. Đã có lời hứa, qua các kênh này, rằng sẽ có một sự tỉnh thức lớn hơn đối với thực thể này trong lĩnh vực nỗ lực của mình. Vậy nên theo cách này có, như đã chỉ dấu, một phương cách để thông tin được tương liên tốt hơn, được các cá nhân hiểu tốt hơn—những người đang qua cái mà có thể gọi là các hòa điệu từ nhiều phương hướng khác nhau, ở nhiều phần khác nhau của đất nước hay thế giới—về mối tương quan của họ với sự kiện thực tế của việc tìm kiếm qua các kênh. [Xem 262-16.] Như đã chỉ dấu, thực thể—trong các việc của thế gian—là một đốm cực nhỏ, như thể, chỉ là một hạt cát; tuy nhiên khi được nâng lên trong khí quyển hay cõi của các lực tinh thần, nó trở nên bao gồm tất cả, như thấy ở kích cỡ của chiếc phễu—chiếc phễu không vươn xuống, không vươn ra ngoài, không vòng qua, mà vươn thẳng đến điều mà bởi kinh nghiệm của con người được cảm như là lên các tầng trời vậy. Như được chỉ dấu trong các vòng, hay những tấm lưới như các dây thần kinh, mỗi phần của hình cầu, hay của Trái Đất, hay của cõi trời, ở trong nơi đã được an bài bởi một Năng Lực Sáng Tạo Khôn Ngoan Tuyệt Đối. Mỗi người có thể đạt tới những mối tương quan ấy nhờ điều mà họ cố gắng trong các hoạt động của một cá nhân, một nhóm, một lớp, một khối, một quốc gia. Theo cách ấy họ tạo nên vị trí của mình trong các việc của vũ trụ. Mỗi đốm, như một nguyên tử của kinh nghiệm nhân loại, được nối kết với nhau như sự liên tục của chiếc nón được thấy, và theo cách các dây thần kinh của một vật thể sống hay có sinh khí tác động trên cái trung tâm đặc thù của nó, mà chạm tới những phần xa nhất của tính phổ quát của lực hay hoạt động trong toàn vũ trụ, và có tác dụng tỏa hướng lên nhau.
As the entity, then, raises itself through those activities of subjugating or making as null those physical activities of the body, using only— as it were (in the cone)—the trumpet of the universe, in reaching out for that being sought, each entity—or each dot, then—in its respective sphere—acts as the note or the lute in action, that voices that which may come forth from such seeking.
Khi thực thể, vậy thì, nâng mình lên qua những hoạt động khuất phục hay làm cho vô hiệu những hoạt động hồng trần của thân thể, chỉ sử dụng—như thể (trong chiếc nón)—chiếc kèn của vũ trụ, khi vươn ra tìm điều đang được truy cầu, mỗi thực thể—hay mỗi chấm, khi ấy—trong cõi tương ứng của nó—hành xử như một nốt hay cây đàn trong hành động, cất lên âm thanh điều có thể phát ra từ sự tìm kiếm như thế.
Then we find, in the classification, in the activity of those that correlate such information, those in the various spheres will naturally classify themselves—even as given in the illustration, that there will more often be the sound of help to those in Rochester than to those in Chicago. That only as an illustration. Not that there may not be as much healing to those from the one as the other, but the effect upon the individual in the environ makes for the tone which resounds from that received. See? This should, then, be a helpful illustration to those correlating in understanding and classifying the information that may be received. This should, to the body giving information, make known to him that there is being opened an access to the Thrones themselves! See? [See 262-16; 1/33 See 294-131, Par. R3, HLC’s paper, How Edgar Cayce Gives a Psychic Reading, using above 2-Q & 2-A.]
Vậy nên chúng ta thấy, trong sự phân loại, trong hoạt động của những người tương liên các thông tin như vậy, những người ở các cõi khác nhau tự nhiên sẽ tự phân loại—ngay như được nêu trong minh họa, rằng sẽ thường vang lên nhiều hơn âm thanh của sự trợ giúp cho những người ở Rochester hơn là cho những người ở Chicago. Điều đó chỉ là minh họa. Không phải rằng không thể có chừng ấy sự chữa lành cho người từ nơi này như từ nơi kia, mà là tác động trên cá nhân trong môi trường tạo nên âm điệu vang lên từ điều được tiếp nhận. Thấy chứ? Điều này, vậy thì, sẽ là một minh họa hữu ích cho những người tương liên trong việc hiểu và phân loại thông tin có thể được tiếp nhận. Điều này, đối với thân thể đang cho thông tin, nên làm cho ông biết rằng đang mở ra một lối vào tới các Ngai tòa tự thân! Thấy chứ? [Xem 262-16; 1/33 Xem 294-131, đoạn R3, bài của HLC, Cách Edgar Cayce Cho Một Bài Đọc Thông Linh, sử dụng 2-H & 2-Đ ở trên.]
Reading 900-248
Bài đọc 900-24 8
Editor’s Note: It’s fascinating to note that Cayce corroborated a similar explanation for outreach outlined in an unforgettable dream experience reported by one of his trained dreamers. The reading refers to a hand drawn diagram submitted by Mr. [900], along with his questions.
Ghi chú của biên tập viên: Thật thú vị khi lưu ý rằng Cayce đã xác nhận một lời giải thích tương tự về tầm với được phác họa trong một trải nghiệm mơ đáng nhớ do một trong những người mộng được đào luyện của ông báo cáo. Bài đọc đề cập đến một sơ đồ vẽ tay do ông [900] gửi kèm với các câu hỏi.
(Q) July 1st, 2nd or 3rd. I was on a boat and entering a room, saw Mrs. [139] on the operating table. The man in white hospital garb who let me in, pointed to the doctor half sarcastically, half despairingly. “All he has done since she came in is to operate,” he said. I went over and looked at her. There she lay, thin, wrinkled, paralyzed and unconscious. I picked her up and carried her out. She spoke to me and it seemed like the time she spoke to me before being taken to the hospital when she told me not to let them operate, as if they did so, she would not be with us anymore. So she spoke to me again, telling me she was dying. I tried, in a superfluous fashion, to encourage her and as I kissed her she said, or I experienced the feeling that she said: “This is the last time you will see me.” Hopelessly I returned her to the operating table, where the doctor stood ready to operate, and I seemed to take a train. Our paths divided in opposite directions....
(H) Ngày 1, 2 hoặc 3 tháng 7. Tôi đang ở trên một chiếc thuyền và khi bước vào một căn phòng, thấy bà [139] trên bàn mổ. Người đàn ông mặc y phục bệnh viện màu trắng người cho tôi vào chỉ tay về phía bác sĩ với vẻ nửa mỉa mai, nửa tuyệt vọng. “Từ khi bà ấy vào đây đến giờ, tất cả những gì ông ta làm là mổ xẻ,” ông ấy nói. Tôi bước lại nhìn bà. Bà nằm đó, gầy gò, nhăn nheo, bại liệt và bất tỉnh. Tôi bế bà lên và mang bà ra ngoài. Bà nói với tôi và dường như giống khi bà đã nói với tôi trước lúc bị đưa vào bệnh viện rằng đừng để họ mổ, vì nếu họ làm vậy, bà sẽ không còn ở với chúng ta nữa. Thì nay bà lại nói với tôi, bảo rằng bà đang hấp hối. Tôi cố, theo kiểu cách dư thừa, để khích lệ bà và khi tôi hôn bà thì bà nói, hoặc tôi trải nghiệm cảm giác rằng bà nói: “Đây là lần cuối anh sẽ nhìn thấy tôi.” Tôi bất lực đưa bà trở lại bàn mổ, nơi bác sĩ đứng sẵn để mổ, và dường như tôi đón một chuyến tàu. Đường chúng tôi tách nhau theo hai hướng đối nghịch....
Now as regards this communication—first was it a definite communication between my consciousness in the physical and another consciousness in the spiritual?
Nay về thông thông đạt này—trước hết, đây có phải là một thông thông đạt dứt khoát giữa ý thức của tôi trong hồng trần và một ý thức khác trong tinh thần không?
(A) Correct. Just as given.(Q) Might it be represented as follows, regarding the drawing:
(Đ) Đúng. Như đã nêu.(H) Có thể biểu thị như sau không, liên quan đến bản vẽ:
A = Central power of consciousness and the projection of this power into different planes or conditions designated, indicating diferent planes—
A = Quyền năng trung tâm của tâm thức và sự phóng chiếu quyền năng này vào các cõi hay điều kiện khác nhau được chỉ định, chỉ thị các cõi khác nhau—
III }or conditions of activity of the A power of III consciousness. Thus I, might = the earth, II IV the sun, III Venus, etc.
III }hoặc các điều kiện hoạt động của quyền năng A của III tâm thức. Vậy thì I, có thể = trái đất, II IV mặt trời, III Kim Tinh, v.v.
1}=individual consciounsess in these2 different conditions of consciousness.3
1}=tâm thức cá nhân trong các2 điều kiện tâm thức khác nhau này.3
(A) (Interrupting) phases of consciousness—better word. (Q) (Continuing) all of which is in elemental substance; the A power of consciousness. I am then A I 1—an individual consciousness in physical form, yet embraced by the one A power, that may at this point, this common property that is part of all of us, (the subconscious), tune into any other individual consciousness that likewise takes its common source and property at point A, whether that other individual consciousness is part of plane II, III, or IV, etc. In other words, the road of my consciousness (memory we call the road) converges with every other road in the elements contained by the power of creation, but is different or individual only in embracing many awarenesses of these elements and my awareness and all the part development that has led up to the present awareness may be made evident or is evident to every other developing awareness in so far as there is contained in my awareness that which is cognizable to another awareness. Thus I know the consciousness, [139], could fulfill her will to live or manifest further here on earth. I knew how this could be done and still know, and this other consciousness also felt I knew. Thus in my subconscious activity her awareness of this existent condition became one with my awareness and we became of one mind or One in that thought. Putting it differently, we became simply conscious companions of seeing one condition, and as our own awareness converges, as for example if you and I together think of the letter, K, we come into that contact with each other, or what we call thought communication and as the subconscious knows no space barriers, such communication may take place, (in the subconscious point A), between individual consciousness on any plane. Is this an explanation of spirit communication?
(Đ) (Ngắt lời) những pha của tâm thức—từ này hay hơn. (H) (Tiếp tục) tất cả những điều này là trong chất liệu nguyên tố; quyền năng A của tâm thức. Khi ấy tôi là A I 1—một tâm thức cá nhân trong hình hài hồng trần, nhưng vẫn được bao bọc bởi quyền năng A duy nhất, quyền năng có thể tại điểm này, đặc tính chung là phần thuộc về tất cả chúng ta, (tiềm thức), hòa điệu vào bất kỳ tâm thức cá nhân nào khác vốn cũng lĩnh nhận nguồn chung và đặc tính chung tại điểm A, cho dù tâm thức cá nhân kia thuộc cõi II, III, hay IV, v.v. Nói cách khác, con đường của tâm thức tôi (ký ức là cái chúng ta gọi là con đường) hội tụ với mọi con đường khác trong các yếu tố được quyền năng sáng tạo bao hàm, nhưng là khác biệt hay cá biệt chỉ ở chỗ ôm chứa nhiều tri nhận về các yếu tố này và tri nhận của tôi cùng tất cả phần phát triển dẫn đến tri nhận hiện tại có thể được làm hiển hiện, hoặc là hiển hiện, cho mọi tri nhận đang phát triển khác, chừng nào trong tri nhận của tôi có chứa đựng điều có thể khả tri đối với tri nhận khác. Do vậy tôi biết tâm thức, [139], có thể hoàn mãn ý chí sống hay biểu hiện xa hơn ở đây nơi trần thế. Tôi biết điều này có thể được thực hiện thế nào và đến giờ vẫn biết, và tâm thức kia cũng cảm được rằng tôi biết. Vậy nên trong hoạt động tiềm thức của tôi tri nhận của bà ấy về tình trạng hiện hữu này trở nên một với tri nhận của tôi và chúng tôi trở nên đồng tâm nhất ý hay Là Một trong tư tưởng ấy. Diễn đạt khác đi, chúng tôi đơn thuần trở thành những bạn đồng hành ý thức khi nhìn thấy một điều kiện, và khi tri nhận của chính chúng tôi hội tụ, như chẳng hạn nếu bạn và tôi cùng nhau nghĩ về chữ cái K, thì chúng ta đi vào sự tiếp xúc với nhau, hay điều chúng ta gọi là giao tiếp tư tưởng và vì tiềm thức không biết rào cản không gian nên một giao tiếp như vậy có thể diễn ra, (tại điểm tiềm thức A), giữa các tâm thức cá nhân ở bất kỳ cõi nào. Đây có phải là một lời giải thích về giao tiếp linh thể không?
(A) This is an explanation of spirit communication. As for the physical and the division of same from A, B, and from 1, 2, 3, these may be better designated as a circle, with the 5 points, as of a star, for this is rather that of the radiation from the one central force, that of the spirit force as is set in Him, the Creator and the Giver of all things, and as these are made one with that circle, from which the radiation of same would come, we would see these would diverge into the greater force, as we see, for, as has been given, “All heavens declare the glory of God,” for in the higher realms of super-conscious, or the subconscious, an element of that superconscious, plus all radiated forces, or contacts through which the entity has passed to reach that present condition, whether advanced or debased, comes this one force that in every manifestation of the superconscious forces to the subconscious, or even to the lowest material-conscious, is that manifestation in those forms that would signify that consciousness from which same radiated, or as is seen in this: As this entity, [900], through that development of self, in making the will of the individual, or material-conscious, one with the subconscious, that communicates with the super-conscious or spiritual forces of the Universe, and their cosmic forces, position of recognizing the various conditions which may emanate or radiate through these various forms as are seen, and as each is brought into this consciousness of the entity, as to how these various forces may manifest, this then presents itself as a memory, as a thought, as an experience to the entity, in no uncertain manner, of not only the radiation of spirit force manifested in a material world, but of the good the entity may accomplish through things, would the entity bring self to that at-oneness, or to return to the first premise: Those that believe that God is, or would seek Him, should first believe He is—then act that way. That’s the whole lesson.
(Đ) Đây là một lời giải thích về giao tiếp linh thể. Còn về phương diện hồng trần và sự phân chia của cái đó từ A, B, và từ 1, 2, 3, thì những điều này có thể được biểu thị tốt hơn như một vòng tròn, với 5 điểm, như của một ngôi sao, vì đây đúng hơn là sự bức xạ từ một lực trung tâm duy nhất, lực tinh thần được đặt nơi Ngài, Đấng Sáng Tạo và Ban Phát muôn loài, và khi những điều này được làm cho nhất thể với vòng tròn đó, từ đó bức xạ của cùng cái ấy phát xuất, chúng ta sẽ thấy những cái này sẽ phân kỳ vào lực lớn lao hơn, như chúng ta thấy, vì như đã được nêu, “Các tầng trời đều rao truyền vinh quang của Thượng đế,” bởi trong những cõi cao hơn của siêu tâm thức, hoặc tiềm thức, một yếu tố của siêu tâm thức, cộng với mọi lực bức xạ, hay những tiếp xúc mà thực thể đã đi qua để đạt đến tình trạng hiện tại, dù thăng thượng hay thấp hèn, thì đến từ một lực duy nhất này vốn trong mọi biểu hiện của các lực siêu tâm thức hướng về tiềm thức, hay thậm chí đến tầng ý thức vật chất thấp nhất, đều là sự biểu hiện trong những hình thức sẽ biểu thị cái tâm thức từ đó nó bức xạ, hay như được thấy ở đây: Khi thực thể này, [900], qua sự phát triển của bản thân, làm cho ý chí của cá nhân, hay ý thức vật chất, trở nên một với tiềm thức, cái giao tiếp với các lực siêu tâm thức hay các lực tinh thần của Vũ Trụ, và các lực vũ trụ của chúng, vị trí của việc nhận biết các điều kiện khác nhau có thể xuất lộ hay bức xạ qua các hình thức khác nhau như được thấy, và khi mỗi điều được mang vào tâm thức này của thực thể, về cách các lực khác nhau có thể biểu hiện, thì điều này trình hiện chính nó như một ký ức, như một tư tưởng, như một trải nghiệm cho thực thể, một cách không hồ nghi, không chỉ về bức xạ của lực tinh thần được biểu hiện trong một thế giới vật chất, mà còn về điều thiện mà thực thể có thể hoàn thành qua các điều, nếu thực thể đưa bản thân đến sự nên một ấy, hoặc quay lại tiền đề thứ nhất: Những ai tin rằng Thượng đế là, hay muốn tìm kiếm Ngài, thì trước hết hãy tin Ngài là—rồi hãy hành động như thế. Đó là tất cả bài học.
4
Dreams, Visions, and Spiritual Growth—Giấc mơ, Thị kiến, và Sự Trưởng thành Tinh thần
Editor’s Note: Cayce often called “visions” the dreams that originate from the dreamer’s higher self, the dreams that flow from the superconscious mind and the Universal Forces.
Ghi chú của Ban biên tập: Cayce thường gọi “thị kiến” là những giấc mơ khởi nguyên từ chân ngã của người mộng, những giấc mơ tuôn chảy từ siêu thức thể trí và các Lực Phổ Quát.
Reading 1904-2
Bài đọc 1904-2
Thus we find latent urges arising in visions, dreams, manifestations. In thy reading (for ye are a greater interpreter of books, of writings of others), have ye not wondered why in the sacred writings it is said that God no longer spoke to man in visions or dreams? It is because man fed not his soul, his mind, upon things spiritual; thus closing the avenue or channel through which God might speak with the children of men.
Vì thế chúng ta thấy những xung lực tiềm ẩn trỗi dậy trong các thị kiến, giấc mơ, những biểu hiện. Trong việc đọc của ngươi (vì ngươi là người giải nghĩa lão luyện các sách, các trước tác của người khác), há ngươi chưa từng tự hỏi vì sao trong các Thánh thư lại nói rằng Thượng đế không còn phán với con người qua thị kiến hoặc giấc mơ nữa sao? Ấy là vì con người không nuôi dưỡng linh hồn mình, thể trí mình, bằng những điều thuộc tinh thần; do đó khép lại nẻo đường hay kênh dẫn mà qua đó Thượng đế có thể phán với những con của loài người.
Reading 958-3
Bài đọc 958-3
For, He has not willed that any soul should perish. Thus it will behoove the entity to rely upon, and to search self deep, and to know that which is the prompting of the entity—as to whether the purpose and desire finds its inception in self-indulgences or in that which may enable others to take hope and to find that which brings harmony in their experience....
Vì Ngài không hề muốn một linh hồn nào phải diệt vong. Vì vậy thực thể cần nương tựa, và tự khảo sát thật sâu, để biết đâu là sự thôi thúc của chính thực thể—xem mục đích và ước muốn khởi đi từ sự nuông chiều bản thân, hay từ điều có thể khiến kẻ khác biết cậy trông và tìm được điều đem lại hòa điệu trong kinh nghiệm của họ....
Thus the injunction again to search deep within self, comparing motives, comparing desires, with that which is the entity’s latent and manifested ideal.
Vì thế mệnh lệnh một lần nữa là hãy tìm sâu trong tự ngã, so sánh động cơ, so sánh ước muốn, với điều vốn là lý tưởng tiềm ẩn và biểu lộ của thực thể.
Reading 262-9
Bài đọc 262-9
(Q) [379]: Are my dreams ever significant of spiritual awakening? (A) As is experienced by the entity, there are dreams and visions and experiences. When only dreams, these too are significant—but rather of that of the physical health, or physical conditions. In visions there is oft the inter-between giving expressions that make for an awakening between the mental consciousness, or that that has been turned over and over in the physical consciousness and mind being weighed with that the self holds as its ideal. In visions where spiritual awakenings, these most often are seen in symbols or signs, to the entity; for, as the training of self’s consciousness in a manner of interpreting the visions would be in expressions of eye, hand, mouth, posture or the like, these are interpreted in thine own language. When these are, then, in symbols of such, know the awakening is at hand.
(Q) [379]: Các giấc mơ của tôi có khi nào là dấu hiệu của sự thức tỉnh tinh thần không? (A) Như chính thực thể đã trải nghiệm, có những giấc mơ và những thị kiến và những kinh nghiệm. Nếu chỉ là giấc mơ, thì chúng cũng có ý nghĩa—nhưng nghiêng về tình trạng sức khỏe thể xác, hoặc các điều kiện hồng trần. Trong các thị kiến thường có cõi trung gian truyền đạt những bày tỏ làm nên một cuộc thức tỉnh giữa tâm thức trí tuệ, hay những gì đã được cân nhắc đi cân nhắc lại trong tâm thức hồng trần, và thể trí đang cân nhắc cùng điều mà tự ngã nắm giữ như là lý tưởng của nó. Trong các thị kiến nơi diễn ra sự thức tỉnh tinh thần, những điều ấy phần nhiều xuất hiện bằng các biểu tượng hay dấu hiệu đối với thực thể; vì, khi tâm thức của tự ngã được rèn luyện theo một phương cách giải nghĩa thị kiến qua biểu đạt của mắt, tay, miệng, dáng đứng hay tương tự, thì các điều ấy được diễn dịch bằng chính ngôn ngữ của ngươi. Khi chúng xuất hiện dưới dạng những biểu tượng như thế, biết rằng sự thức tỉnh đang kề cận.
Reading 3175-1
Bài đọc 3175-1
[This is] one that has those abilities of vision, especially in dreams.
[Đây là] người có những khả năng về thị kiến, nhất là trong mộng.
These portend oft to happenings. These are well to consider; yet do not depend too much upon them, unless self is balanced well in its ideal and in its purpose.
Những điều này thường báo trước các biến cố. Đáng để suy xét; nhưng đừng quá cậy dựa vào chúng, trừ khi tự ngã được quân bình tốt trong lý tưởng và mục đích của mình.
Reading 2788-1
Bài đọc 2788-1
Keep thy humor. Keep the thinking well of self, but as well of thy neighbor.
Giữ tâm hoan hỷ. Hãy nghĩ thiện về chính mình, nhưng đồng thời cả về người lân cận.
Study to show thyself approved unto thy ideal. Learn and know what is thy ideal—spiritually, mentally, materially. Know in Whom ye have believed, as well as in what ye believe. Know the author of thy tenets, of thy faiths, of thy hopes, yea, of thy fears; studying to show thyself approved unto same, condemning none.
Học để tỏ ra mình được tán chuẩn trước lý tưởng của mình. Học và biết lý tưởng của ngươi là gì—về tinh thần, trí tuệ, vật chất. Biết rõ Đấng mà ngươi đã tin, cũng như biết điều ngươi tin. Biết tác giả của các tín điều, các niềm tin, các hy vọng, và, vâng, cả các nỗi sợ của ngươi; học để tỏ ra mình được tán chuẩn trước những điều ấy, không kết án ai.
These, with the application of self in those directions indicated, will bring the entity to that place wherein it may be said of thee, “Well done; enter thou into the joys of thy Lord.”
Những điều này, cùng với việc áp dụng tự ngã theo những hướng đã chỉ rõ, sẽ đưa thực thể đến nơi có thể nói về ngươi rằng, “Tốt lắm; hãy bước vào trong niềm hoan lạc của Chúa ngươi.”
Reading 5754-2
Bài đọc 5754-2
Editor’s Note: Because it bears so strongly on the topic of spiritual dreams and vision, this section of Reading 5754-2 is repeated from an earlier chapter.
Ghi chú của Ban biên tập: Vì liên hệ rất sâu đến chủ đề những giấc mơ và thị kiến tinh thần, phần này của Bài đọc 5754-2 được lặp lại từ một chương trước.
Hence we may find that an individual may from sorrow sleep and wake with a feeling of elation. What has taken place? We possibly may then understand what we are speaking of. There has been, and ever when the physical consciousness is at rest, the other self communes with the soul of the body, see? or it goes out into that realm of experience in the relationships of all experiences of that entity that may have been throughout the eons of time, or in correlating with that as it, that entity, has accepted as its criterion or standard of judgments, or justice, within its sphere of activity.
Bởi vậy chúng ta có thể thấy một cá nhân có thể từ sầu khổ mà ngủ, rồi tỉnh dậy với cảm giác hân hoan. Điều gì đã xảy ra? Khi ấy có lẽ chúng ta có thể hiểu điều chúng ta đang nói đến. Đã có, và hễ khi tâm thức hồng trần an nghỉ, thì cái tự ngã kia giao cảm với linh hồn của thân thể, thấy chứ? hoặc nó đi vào cõi kinh nghiệm ấy, trong mối tương quan với mọi kinh nghiệm của thực thể đó vốn có thể đã trải qua trong muôn ức thời đại, hoặc tương liên với điều mà nó, thực thể ấy, đã chấp nhận làm tiêu chuẩn hay mực thước phán đoán, hay lẽ công bình, trong phạm vi hoạt động của nó.
Hence through such an association in sleep there may have come that peace, that understanding, that is accorded by that which has been correlated through that passage of the selves of a body in sleep. Hence we find the more spiritual-minded individuals are the more easily pacified, at peace, harmony, in normal active state as well as in sleep. Why? They have set before themselves (Now we are speaking of one individual!) that that is a criterion that may be wholly relied upon, for that from which an entity or soul sprang is its concept, its awareness of, the divine or creative forces within their experience. Hence they that have named the Name of the Son have put their trust in Him. He their standard, their model, their hope, their activity. Hence we see how that the action through such sleep, or such quieting as to enter the silence— What do we mean by entering the silence? Entering the presence of that which is the criterion of the selves of an entity!
Do vậy nhờ sự tương giao như thế trong giấc ngủ mà có thể đến sự bình an, sự thấu hiểu, vốn được ban bởi điều đã được tương liên qua cuộc hành trình của các tự ngã của một thân thể trong giấc ngủ. Bởi thế chúng ta thấy những cá nhân có tâm hướng tinh thần thì dễ dàng an hòa hơn, ở trong bình an, hòa điệu, trong trạng thái hoạt động bình thường cũng như trong giấc ngủ. Vì sao? Họ đã đặt trước mình (Giờ chúng ta đang nói về một cá nhân!) điều là tiêu chuẩn có thể hoàn toàn cậy dựa, vì điều mà từ đó một thực thể hay linh hồn phát sinh là quan niệm, là nhận biết của nó về các lực thiêng liêng hay sáng tạo trong kinh nghiệm của họ. Do đó những ai đã kêu Danh của Ngôi Con đã đặt lòng tin cậy nơi Ngài. Ngài là tiêu chuẩn của họ, khuôn mẫu của họ, niềm hy vọng của họ, hoạt động của họ. Vì vậy chúng ta thấy cách mà hành động qua một giấc ngủ như thế, hoặc qua sự lắng yên để đi vào tịch mặc—Chúng ta muốn nói gì khi nói đi vào tịch mặc? Là đi vào sự Hiện Diện của điều vốn là tiêu chuẩn của các tự ngã của một thực thể!
On the other hand oft we find one may retire with a feeling of elation, or peace, and awaken with a feeling of depression, of aloofness, of being alone, of being without hope, or of fear entering, and the bodyphysical awakes with that depression that manifests itself as of low spirits, as is termed, or of coldness, gooseflesh over the body, in expressions of the forces. What has taken place? A comparison in that “arms of Morpheus”, in that silence, in that relationship of the physical self being unawares of those comparisons between the soul and its experiences of that period with the experiences of itself throughout the ages, and the experience may not have been remembered as a dream—but it lives on—and on, and must find its expression in the relationships of all it has experienced in whatever sphere of activity it may have found itself. Hence we find oft individual circumstances of where a spiritual-minded individual in the material plane (that is, to outward appearances of individuals so viewing same) suffering oft under pain, sickness, sorrow, and the like. What takes place? The experiences of the soul are meeting that which it has merited, for the clarification for the associations of itself with that whatever has been set as its ideal. If one has set self in array against that of love as manifested by the Creator, in its activity brought into material plane, then there must be a continual—continual— warring of those elements. By the comparison we may find, then, how it was that, that energy of creation manifested in the Son—by the activities of the Son in the material plane, could say “He sleeps”, while to the outward eye it was death; for He was—and is—and ever will be—Life and Death in one; for as we find ourselves in His presence, that we have builded in the soul makes for that condemnation or that pleasing of the presence of that in His presence. So, my son, let thine lights be in Him, for these are the manners through which all may come to an understanding of the activities; for, as was given, “I was in the Spirit on the Lord’s day.” “I was caught up to the seventh heaven. Whether I was in the body or out of the body I cannot tell.” What was taking place? The subjugation of the physical attributes in accord and attune with its infinite force as set as its ideal brought to that soul, “Well done, thou good and faithful servant, enter into the joys of thy Lord.” “He that would be the greatest among you—“ Not as the Gentiles, not as the heathen, not as the scribes or Pharisees, but “He that would be the greatest will be the servant of all.”
Mặt khác, thường khi chúng ta thấy có người đi nghỉ với cảm giác hân hoan, hoặc bình an, nhưng thức dậy với cảm giác u sầu, xa cách, cô độc, vô vọng, hay sợ hãi tràn vào, và thân thể vật chất thức dậy với nỗi phiền muộn bộc lộ ra như tâm trạng xuống thấp, như cách gọi, hay sự lạnh lẽo, nổi da gà khắp thân, trong sự biểu lộ của các lực. Điều gì đã xảy ra? Một sự đối chiếu trong cái “vòng tay của Morpheus”, trong tịch mặc, trong mối liên hệ mà tự ngã hồng trần không hay biết về những so sánh giữa linh hồn và các kinh nghiệm của nó trong kỳ ấy với các kinh nghiệm của chính nó suốt các thời đại, và kinh nghiệm ấy có thể đã không được nhớ như một giấc mơ—nhưng nó vẫn sống—và tiếp tục sống, và buộc phải tìm biểu lộ trong mối tương quan với tất cả những gì nó đã kinh nghiệm, ở bất cứ cảnh giới hoạt động nào mà nó đã ở trong. Vì thế chúng ta thường thấy những hoàn cảnh cá nhân mà nơi bình diện vật chất, một người có tâm hướng tinh thần (tức là, theo diện mạo bên ngoài trước mắt người khác) thường chịu đựng đau đớn, bệnh tật, sầu khổ, và những điều tương tự. Điều gì diễn ra? Các kinh nghiệm của linh hồn đang đối diện với điều nó đã đáng phải nhận, để làm trong sạch cho sự liên hệ của chính nó với bất cứ điều gì đã được đặt làm lý tưởng của nó. Nếu một người đã tự đặt mình đối nghịch với Tình thương như được Đấng Tạo Hóa biểu lộ, được đem vào cõi vật chất trong hoạt động của Ngài, thì hẳn phải có một—một—cuộc chiến không ngừng giữa các yếu tố ấy. Qua sự đối chiếu, khi ấy chúng ta có thể nhận ra làm sao mà năng lượng của Sự Sáng Tạo, biểu lộ nơi Ngôi Con—bằng các hoạt động của Ngôi Con trong cõi vật chất—có thể nói “Ngài ngủ”, trong khi với mắt phàm thì ấy là chết; vì Ngài đã—và đang—và mãi sẽ là—Sự Sống và Cái Chết trong một; bởi khi chúng ta ở trong Hiện Diện của Ngài, thì cái chúng ta đã gây dựng trong linh hồn tạo nên sự đoán phạt hay sự đẹp lòng của Hiện Diện ấy khi ở trước Hiện Diện của Ngài. Vậy, này con, hãy đặt ánh sáng của con trong Ngài, vì chính qua những cách này mà mọi người có thể đạt đến sự thấu hiểu các hoạt động; bởi, như đã phán, “Ta đã ở trong Thần Linh vào ngày của Chúa.” “Ta được cất lên đến tầng trời thứ bảy. Dù ở trong thân hay ngoài thân, ta chẳng thể nói.” Điều gì đã diễn ra? Sự chế ngự các thuộc tính thể xác sao cho hòa hợp và hòa điệu với Năng lực vô biên được đặt làm lý tưởng của nó đã đem đến cho linh hồn lời phán, “Tốt lắm, hỡi đầy tớ lành và trung tín, hãy vào hưởng niềm vui của Chúa ngươi.” “Ai muốn làm lớn nhất trong vòng các ngươi—” Không như Dân Ngoại, không như phàm giáo, không như kinh sư hay Pharisêu, mà “Ai muốn làm lớn nhất sẽ là người hầu của mọi người.”
What, then, has this to do—you ask—with the subject of sleep? Sleep— that period when the soul takes stock of that it has acted upon during one rest period to another, making or drawing—as it were—the comparisons that make for Life itself in its essence, as for harmony, peace, joy, love, long-suffering, patience, brotherly love, kindness—these are the fruits of the Spirit. Hate, harsh words, unkind thoughts, oppressions and the like, these are the fruits of the evil forces, or Satan and the soul either abhors that it has passed, or enters into the joy of its Lord....
Vậy, điều này liên hệ—ngươi hỏi—gì với chủ đề giấc ngủ? Giấc ngủ—khoảng thời gian khi linh hồn kiểm điểm điều nó đã hành động từ một kỳ nghỉ đến kỳ khác, tạo nên hay phác thảo—như thể—những đối chiếu làm nên chính Sự sống trong bản chất của nó, như là hòa điệu, bình an, hoan lạc, tình thương, nhẫn nại, kiên trì, tình huynh đệ, nhân ái—ấy là hoa trái của Thần Linh. Còn hận thù, lời cay nghiệt, ý nghĩ bất thiện, áp bức và tương tự, ấy là hoa trái của các lực ác, hay của Satan; và linh hồn hoặc ghê tởm điều nó vừa trải qua, hoặc bước vào niềm hoan lạc của Chúa mình....
Reading 262-8
Bài đọc 262-8
(Q) After group meditation for the folks in New York, I dreamed I was talking to and walking with Gladys. She said, “They do not pay their rent.” I asked who owned the place (we seemed near a house). Gladys said, “Mr. Cayce.” The building seemed quite large and rambling and was at the Beach. We wandered around the place, and
(Q) Sau khi nhóm tham thiền cho những người ở New York, tôi mơ thấy mình đang nói chuyện và đi cùng Gladys. Cô ấy nói, “Họ không trả tiền thuê.” Tôi hỏi ai là chủ nơi đó (chúng tôi dường như gần một căn nhà). Gladys nói, “Ông Cayce.” Tòa nhà có vẻ khá lớn và lộn xộn và nằm ở Bãi biển. Chúng tôi lang thang quanh chỗ đó, và
I noticed much iron rubbish, both old and new. Gladys seemed to fade out of the picture. I still wandered around the place, discovered a lovely lake, clear as crystal, beautiful white swans swimming around and being fed by loving happy children.
tôi nhận ra có nhiều phế liệu sắt, cả cũ lẫn mới. Gladys dường như mờ dần khỏi khung cảnh. Tôi vẫn quanh quẩn nơi đó, phát hiện một cái hồ tuyệt đẹp, trong như pha lê, những con thiên nga trắng xinh đẹp bơi lội và được các em nhỏ hạnh phúc, đầy yêu thương cho ăn.
Looking over the lake I saw there beautiful houses like a new settlement of beautiful happy homes, a white village, flowers, etc. Then I was so happy, felt uplifted, etc.
Nhìn qua hồ tôi thấy ở đó những ngôi nhà xinh đẹp như một khu định cư mới gồm những mái ấm hạnh phúc, một ngôi làng trắng, hoa cỏ, v.v. Rồi tôi rất hạnh phúc, cảm thấy được nâng lên, v.v.
What is the significance of this dream? [See 262-8, Par. R2.]
Ý nghĩa của giấc mơ này là gì? [Xem 262-8, đoạn R2.]
(A) This, as is indicated, is emblematical of conditions within the development of the individual, or entity—individual itself, as to the individual ideal in that as is held in its consciousness. Now apply that as has been given, as to how the activities of a body-consciousness or mental body acts upon incidents or happenings in a material plane, and we will find the answers in the material sense; that is, sense conditions of material nature represent the spiritual or mental and spiritual aspects, and as the body viewed those of disorders, representing in the body-consciousness that of laxness, or inability in directions that made for disorders; yet as these are turned into directions that become of more the mental and spiritual aspect, the visions of that as would again be held by the entity, or individual, as ideal, or idealistic, arise from the rubbish of those things material. Dreams are such of which buildings come into the material aspects of life. First as visions that are as to some visionary, unreal. They are crystallized in the lives and activities of others through those constant actions upon the various elements in the body of an individual entity, which is as being studied. Then they act upon those in such a manner as to bring into being realities, that in a material plane represent those; as the peace and tranquility of the lake with its crystal fountains, and the swans as representing peace and serenity as come with such surroundings, and with the hope as in flowers and blossoms and children. Then the whole as emblems in the bodyconsciousness, seeing, visioning, that to which its own self is raising, may raise, those around self. Hence the entity, the body, truly the missionary, the emissary.
(A) Điều này, như đã chỉ, là mang tính biểu tượng về những điều kiện trong sự phát triển của cá nhân, hay thực thể—chính cá nhân ấy, xét theo lý tưởng cá nhân nơi điều đang được nắm giữ trong tâm thức của người đó. Giờ hãy áp dụng điều đã được ban, về cách mà các hoạt động của tâm thức thân thể hay thể trí tác động lên các biến cố hay sự việc trong cõi vật chất, và chúng ta sẽ tìm được các câu trả lời theo nghĩa vật chất; nghĩa là, những tình trạng của bản chất vật chất biểu trưng cho các phương diện tinh thần hoặc trí tuệ và tinh thần, và như thân thể nhìn thấy những rối loạn ấy, biểu trưng trong tâm thức thân thể điều lỏng lẻo hay bất lực theo những hướng tạo nên rối loạn; tuy nhiên, khi những điều này được chuyển theo các hướng trở nên thiên về phương diện trí tuệ và tinh thần hơn, thì các thị kiến của điều sẽ lại được thực thể, hay cá nhân, nắm giữ như lý tưởng, hay mang tính lý tưởng, trỗi dậy từ đống phế liệu của những điều vật chất. Giấc mơ là những thứ mà từ đó các kiến tạo bước vào các phương diện vật chất của đời sống. Trước hết như những thị kiến có vẻ mang tính mộng tưởng, không thật. Chúng được kết tinh trong đời sống và hoạt động của người khác qua những hành động liên tục trên các yếu tố khác nhau trong thân thể của một thực thể cá nhân, vốn là đối tượng đang được khảo sát. Rồi chúng tác động lên những người ấy theo một phương thức khiến hiện hữu những hiện thực, mà trong cõi vật chất biểu trưng cho những điều đó; như sự bình an và tĩnh lặng của hồ cùng các suối pha lê của nó, và thiên nga biểu trưng cho bình an và thư thái đến với những cảnh giới như vậy, và với niềm hy vọng như trong hoa lá và trẻ thơ. Vậy thì toàn bộ như những biểu tượng trong tâm thức thân thể, đang thấy, đang thị kiến, về điều mà chính tự ngã của nó đang vươn lên, có thể nâng đỡ những người quanh mình. Do đó thực thể, thân thể, thật là người được sai phái, sứ giả.
Reading 136-33
Bài đọc 136-33
(Q) I saw an animal crawling over the ground, just sort of semi-conscious, in a condition of half gray dawn.
(Q) Tôi thấy một con vật đang bò trên mặt đất, dường như nửa tỉnh nửa mê, trong trạng thái mờ xám của tảng sáng.
(A) This is as the entity itself awakening to that consciousness of the indwelling of that spirit that beareth witness to the truth of the indwelling of the spirit of that One that gives and takes, and gives and takes, that we may become One with Him.
(A) Đây chính là như bản thân thực thể đang tỉnh thức với tâm thức về sự ngự trị của thần linh vốn làm chứng về chân lý của sự ngự trị của Linh của Đấng cho và lấy, và cho và lấy, để chúng ta có thể trở nên Một với Ngài.
(Q) Is this some awakening—of what and who?
(Q) Đây có phải một sự thức tỉnh—của cái gì và của ai?
(A) Apply to self, [136].
(A) Áp dụng cho tự ngã, [136].
Reading 2218-1
Bài đọc 2218-1
(Q) Regarding the dream—[...], my son, kept telling me something—impress ing upon me most forcibly not to forget it, but upon awakening I had. Another time,
(Q) Liên quan đến giấc mơ—[...], con trai tôi, cứ bảo tôi điều gì đó—tác động lên tôi rất mạnh để tôi đừng quên nó, nhưng khi tỉnh dậy tôi đã quên. Lần khác,
[...] was telling me something, and was also saying, whatever I did to not let Mr.
[...] đang nói với tôi điều gì đó, và cũng bảo rằng, dẫu tôi làm gì cũng đừng để ông
[...] hear what he had said.
[...] nghe thấy điều anh ấy đã nói.
(A) In this respect, as has been intimated and given the body may gain much of an understanding as respecting mental, material, and spiritual conditions, Dreams are of three characters, or natures: Those that are of the purely physical, wherein conditions are magnified through the action of the digestive system, and are often called nightmares. In that of the purely mental aberration, or imagination, these have often been designated as suppressed desires, or of those natures innate wherein the self, or the entity—the soul of self—attempts to reason with the purely mental mind. Then there is that condition as has been presented to this body, in that the cosmic forces of the universal force, in which those who have passed from the material or physical plane may attune their selves, their souls, to the mind of the soul of an individual who has that force in self where in the material is laid aside.
(A) Trong khía cạnh này, như đã ám chỉ và đã ban, thân thể có thể đạt được nhiều sự thấu hiểu liên quan đến các điều kiện trí tuệ, vật chất, và tinh thần. Giấc mơ có ba loại, hay bản tính: Loại thuần túy thuộc thể xác, nơi các tình trạng được phóng đại qua hoạt động của hệ tiêu hóa, và thường được gọi là ác mộng. Ở loại rối loạn thuần trí, hay tưởng tượng, chúng thường được gọi là các dục vọng bị dồn nén, hay những bản tính bẩm sinh nơi tự ngã, hay thực thể—linh hồn của tự ngã—cố gắng lý luận với tâm trí thuần trí tuệ. Rồi có tình trạng như đã trình bày cho thân thể này, rằng các lực vũ trụ của Lực Phổ Quát, nơi những người đã lìa khỏi cõi vật chất hay cõi thể xác có thể hòa điệu chính mình, linh hồn họ, với tâm của linh hồn của một cá nhân vốn có lực ấy trong tự thân khi phần vật chất được gác qua.
Then we find these as here given, that the physical or material is only able to bring that portion to self’s consciousness where the individual impressed self upon the activity of the mental force of self. These may be applied in the material sense, either as warnings or as knowledge, or as understanding, and in each may gain that of the assistance of the broader vision of the individual who thus effects the communicating force, or element between same. In these—that as is given in the body was not to forget referring to those promises the body often made, that the self would ever remain with the body—absent from body, yet in soul and spirit ever present. In that warning as given, that as a warning to protect the body. Cultivate an understanding—apply that known—and more may be given.
Vậy nên chúng ta thấy như ở đây đã nói, rằng phần hồng trần hay vật chất chỉ có thể đem lại cho tâm thức của tự ngã phần mà ở đó cá nhân đã in ấn chính mình lên hoạt động của lực tâm trí của tự ngã. Những điều này có thể được ứng dụng theo nghĩa vật chất, hoặc như những cảnh báo, hoặc như tri thức, hoặc như sự thấu hiểu, và trong mỗi điều đều có thể nhận được sự trợ giúp của cái nhìn rộng hơn của cá nhân vốn là kẻ tạo tác nên lực truyền thông, hay yếu tố kết nối giữa đôi bên. Trong những điều này—điều đã được nêu cho thân thể là đừng quên—ám chỉ đến những lời hứa thân thể thường đã thốt ra, rằng tự ngã sẽ luôn ở cùng thân thể—xa thân thể, nhưng trong linh hồn và tinh thần thì luôn hiện diện. Còn lời cảnh báo đã nêu, ấy là cảnh báo để bảo hộ thân thể. Hãy bồi đắp sự thấu hiểu—hãy áp dụng điều đã biết—và sẽ có thể ban cho nhiều hơn.
Reading 281-19
Bài đọc 281-19
(Q) [993]: Please interpret the following dream which I received a few days before Christmas: I was climbing a ladder and as I approached the top I became conscious of one round being out of ladder at the top. It was with great difficulty that I continued the climb at this point. Thankful to say, I was able with my fingertips to reach the top. It took all my strength to pull my body up. Those who were following back of me seemed to have no such difficulty, and one of the group made that remark. There was an answer by one already there, that as I made the climb I had laid the last round in the ladder.
(Q) [993]: Xin giải nghĩa giấc mơ sau, tôi nhận được vài ngày trước Lễ Giáng Sinh: Tôi đang trèo lên một cái thang và khi đến gần đỉnh tôi nhận ra có một nấc thang bị thiếu ngay ở trên cùng. Chính tại điểm ấy tôi cực kỳ khó khăn để tiếp tục trèo. Mừng thay, tôi đã có thể với đầu ngón tay chạm tới đỉnh. Tôi dồn hết sức mới kéo được thân mình lên. Những người theo sau phía lưng tôi dường như không có khó khăn như vậy, và một người trong nhóm đã nói điều đó. Có câu đáp từ một người đã ở trên đó rằng, khi tôi trèo lên thì chính tôi đã đặt nấc thang cuối cùng vào cái thang.
(A) Both prophetic and profound in this experience of the body-consciousness with the soul’s experience. That the ladder represents the Way is evidenced, as has been given in interpretations for those that visioned even the ladder to heaven upon which there ascended and descended the angels of light. In that the rung was missing and that self had to make the effort to attain the top makes for those experiences oft in the mind’s consciousness of many, that others that self considers as having an easy way do not become confronted with those hardships as, as is felt at times, are experienced by others. But rather as the voice that came from above, when the self had made the way easier for those that would ascend by the experiences of self, that “I am the way,” knowing that He made of Himself no estate that others through Him might have the access to the Father. And as the voice of those who cry the way is easier that thou hast made the last rung, for us; and as there is the cry from above, “Well done,” there should come that peace within self that thine work of thine hand is acceptable in His sight. Be not unto vainglory, but rather in that happiness that passeth understanding in knowing that the work of thine hands is acceptable in His sight.
(A) Vừa tiên tri vừa thâm sâu trong kinh nghiệm này của tâm thức thân thể cùng với kinh nghiệm của linh hồn. Rằng cái thang tượng trưng cho Con Đường là điều hiển nhiên, như đã được ban trong các giải nghĩa cho những người đã thị kiến thấy cả chiếc thang lên trời, trên đó các thiên sứ của ánh sáng lên xuống. Việc thiếu một nấc thang và chính tự ngã phải nỗ lực để đạt được đỉnh cho thấy những kinh nghiệm thường thấy trong tâm thức của nhiều người, rằng những kẻ khác mà tự ngã cho là đi dễ dàng thì không phải đối mặt với những gian truân như, như đôi khi cảm thấy, đã được người khác trải nghiệm. Nhưng đúng như tiếng phán vang từ trên cao, khi tự ngã đã làm cho con đường trở nên dễ hơn cho những ai sẽ trèo lên nhờ các kinh nghiệm của tự ngã, rằng “Ta là con đường,” biết rằng Ngài đã không coi mình có địa vị nào để những kẻ khác qua Ngài có thể đi vào cùng Cha. Và khi có tiếng của những người kêu lên rằng con đường đã dễ hơn vì ngươi đã làm nên nấc thang cuối cùng cho chúng ta; và khi có tiếng từ trên cao, “Tốt lắm,” thì phải đến với tự ngã sự bình an rằng công việc của tay ngươi là đẹp lòng trong mắt Ngài. Đừng tìm hão danh, mà hãy ở trong niềm hạnh phúc vượt quá sự hiểu biết khi biết rằng công việc của đôi tay ngươi là đẹp lòng trong mắt Ngài.
Reading 39-3
Bài đọc 39-3
MHB: Now you will have before you the body of [39], present in this room, and the enquiring mind of this body, who had the dream I will give you during the course of the past six years. At various times during the past six years the body has experienced the following: Visualized airship heavier than air, which collects its lifting and driving force from the atmosphere by means of points on the top of it. Underneath this machine there are apparently two heavy copper bars running the length of it, having small points underneath, which when charged with the force lifts the machine from the air apparently neutralizing the force of gravity. The machine was driven by the power streaming from points attached to the rear. You will give the interpretation of this dream or vision, tell us if such a machine is practical and if such a power is available, and how such may be made. You will answer questions regarding this.
MHB: Giờ đây các ông sẽ có trước mặt mình thân thể của [39], đang hiện diện trong phòng này, và tâm trí đang thắc mắc của thân thể này, kẻ đã có giấc mơ mà tôi sẽ đưa ra trong khoảng sáu năm vừa qua. Vào những thời điểm khác nhau trong sáu năm qua, thân thể đã trải nghiệm điều sau: Hình dung khí cụ bay nặng hơn không khí, thu nhận lực nâng và lực đẩy từ khí quyển bằng các mũi nhọn trên đỉnh nó. Bên dưới cỗ máy này dường như có hai thanh đồng nặng chạy dọc theo thân, có những đầu nhọn nhỏ ở phía dưới, khi được nạp lực thì nâng cỗ máy khỏi không trung, dường như triệt tiêu sức hút của trọng lực. Cỗ máy được vận hành bởi năng lượng phóng ra từ các điểm gắn phía sau. Ông sẽ đưa ra giải nghĩa của giấc mơ hay thị kiến này, cho chúng tôi biết liệu một cỗ máy như vậy có khả thi không và liệu một nguồn năng lượng như vậy có sẵn không, và làm cách nào có thể chế tạo. Ông sẽ trả lời các câu hỏi liên quan đến điều này.
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, [39], here. With dreams and visions as come to individual, these are of various classes and groups, and are the emanations from the conscious, subconscious, or superconscious, or the combination and correlation of each, depending upon the individual and the personal development of the individual, and are to be used in the lives of such for the betterment of such individual.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể, tâm trí đang vấn nạn, [39], ở đây. Với các giấc mơ và thị kiến đến với từng cá nhân, chúng thuộc nhiều loại và nhóm khác nhau, và là những xuất lộ từ ý thức, tiềm thức, hay siêu thức, hoặc là sự kết hợp và tương quan của mỗi thứ, tùy thuộc vào cá nhân và sự phát triển cá nhân của người đó, và nhằm được sử dụng trong đời sống của họ để làm cho người ấy trở nên tốt hơn.
In this vision, we find this emblematical condition being presented to the entity. Not wholly a condition that may not be made feasible, plausible, workable, or used in the operation of man’s endeavor; yet to the entity is as an emblematical condition, with those of the conscious forces using that which the mind has dwelt upon to show the higher forces as are to be used by the entity in the spiritual, mental, and physical development for same and as we see in the various presentations of the vision, the slight changes that occur in the make-up of the machine show the various amount of endeavor within the mental forces of the entity to gain the understanding of same; for, as is seen, there will appear this same vision three other periods in the development of the entity, and in each there will be seen again changes as are to come in the entity’s understanding of the emanations, or the abilities of individuals to apply in the life of an entity in material plane the various lessons as are attained or gained from same. As is seen, all of the power must come from above. The bars representing, then, as the individual’s foundation, upon which there is given the lifting power of same to soar through the various fields of knowledge in attaining the various points necessary for that development and that understanding to apply such forces in the material plane. Just as is seen in the various points from the machine, shows that all force, while as of one, is gained through the various sources and contacts as are made, and is called in the material plane that of the environmental forces, while in that of the hereditary forces is as that left in the wake of the impelling force that drives the body and the mind through those spaces necessary to make the individual one in all of its applications in the various fields of endeavor, whether studying the higher fields of thought or in making the turns or curves in the various walks of life, and in the individuals as the entity contacts from time to time.
Trong thị kiến này, chúng tôi thấy tình trạng mang tính biểu tượng được trình bày cho thực thể. Không hẳn là một tình trạng không thể làm cho trở nên khả thi, hợp lý, vận hành được, hay được dùng trong nỗ lực của con người; tuy vậy đối với thực thể thì như một tình trạng biểu tượng, với các lực ý thức sử dụng điều mà tâm trí đã nghiền ngẫm để chỉ cho thấy các lực cao hơn vốn sẽ được thực thể sử dụng trong phát triển tinh thần, trí tuệ, và thể xác cho chính mình; và như chúng ta thấy trong những trình hiện khác nhau của thị kiến, những thay đổi nhỏ xảy ra trong cấu trúc của cỗ máy cho thấy mức độ nỗ lực khác nhau trong các lực tâm trí của thực thể nhằm đạt đến sự thấu hiểu về điều đó; bởi, như đã thấy, sẽ có thêm ba kỳ nữa xuất hiện cùng thị kiến này trong quá trình phát triển của thực thể, và trong mỗi kỳ sẽ lại thấy những thay đổi như sẽ đến trong sự thấu hiểu của thực thể về các xuất lộ, hay các khả năng của cá nhân trong việc ứng dụng vào đời sống của một thực thể ở cõi vật chất các bài học khác nhau được đạt hay thu nhận từ đó. Như đã thấy, mọi quyền năng đều phải đến từ trên cao. Vậy thì các thanh ấy biểu trưng nền tảng của cá nhân, trên đó ban phát lực nâng để bay qua các cánh đồng tri thức khác nhau nhằm đạt đến các điểm cần thiết cho sự phát triển ấy và sự thấu hiểu ấy hầu áp dụng các lực như thế trong cõi vật chất. Cũng như đã thấy trong các mũi nhọn khác nhau từ cỗ máy, cho thấy rằng mọi lực, tuy như một, được thu nhận qua các nguồn và các tiếp xúc khác nhau, và trong cõi vật chất được gọi là các lực môi trường, trong khi ở các lực di truyền là điều để lại sau làn sóng của lực thúc đẩy vốn đẩy thân và tâm vượt qua những khoảng không gian cần thiết để làm cho cá nhân trở thành nhất thể trong mọi ứng dụng của nó trên các lĩnh vực nỗ lực khác nhau, dù là khi học hỏi các lĩnh vực tư tưởng cao hơn hay khi thực hiện những khúc rẽ hay uốn lượn trong các lối đi của đời sống, và nơi các cá nhân mà thực thể tiếp xúc theo thời gian.
In the application of same as from the field of the purely mechanical forces, these—as they are presented from time to time—will bring to the knowledge of the individual that as is necessary to bring about the changes in mechanical appliance of that force known as the earth-side force as has been applied in eons ago to those crafts that soared through the ether. [See Life reading 39-2.]
Trong việc ứng dụng điều này theo lĩnh vực thuần cơ học, những điều này—như chúng được trình bày theo thời gian—sẽ đem đến cho tri thức của cá nhân điều cần thiết để tạo ra các thay đổi trong thiết bị cơ khí của thứ lực được biết như lực phía trần thế vốn đã được ứng dụng từ thuở xa xưa cho những khí cụ bay xuyên qua dĩ thái. [Xem Bài đọc Đời sống 39-2.]
Be satisfied with that attained from the experience, until there is through a little here, a little there, line upon line, precept upon precept—applying that already gained, that more may be given unto thee.
Hãy thỏa lòng với điều đã gặt hái từ kinh nghiệm, cho đến khi, qua một chút ở đây, một chút ở kia, dòng nối dòng, huấn thị chồng huấn thị—áp dụng điều đã thủ đắc, để có thể được ban thêm cho ngươi.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) The entity, then, may seek this source for further information on coming experiences?
(Q) Vậy thực thể có thể tìm đến nguồn này để có thêm thông tin về những trải nghiệm sắp tới?
(A) The entity may seek all sources—for, as is seen, there are many points toward the heavens, as of the lifting power. The stability of self— as is set in those bars that lift or parallel with the earth—must be kept in that brightness as is seen, that there may be attained more power, more force, in the applying in self that already attained.
(A) Thực thể có thể tìm đến mọi nguồn—vì như đã thấy, có nhiều mũi nhọn hướng về trời, như lực nâng. Độ vững của tự ngã—như được đặt trong các thanh nâng ấy hay song song với đất—phải được giữ trong sự sáng tỏ như đã thấy, để có thể đạt được nhiều quyền năng hơn, nhiều lực hơn, trong việc áp dụng nơi tự ngã điều đã thủ đắc.
(Q) That is all of the questions in this reading.
(Q) Đó là tất cả các câu hỏi trong bài đọc này.
(A) We are through with this reading for the present for much may be given to the entity as respecting its (the entity’s) development, mentally, spiritually, physically.
(A) Tạm thời chúng ta kết thúc bài đọc này vì có thể ban cho thực thể nhiều điều liên hệ đến sự phát triển của nó—trí tuệ, tinh thần, thể xác.
Use that in hand—for the simple rod stretched over the mighty sea became the power in the hands of him who walked with the Creative Energy—God. The withered rod became the budded almond in the hands of him who sought to know His ways, and applied same in the life. Keep thine paths straight. Walk in the shadow of His wing. Keep thine eyes, thine heart, ever to that source from which emanates all power that lifts man toward the Creator.
Hãy dùng điều đang ở trong tay—vì cây gậy đơn sơ giương trên biển cả hùng vĩ đã trở thành quyền năng trong tay kẻ bước đi với Năng lượng Sáng Tạo—Thượng đế. Cành gậy khô đã hóa thành cành hạnh nhân đơm bông trong tay kẻ tìm biết Đường lối của Ngài, và đã áp dụng điều ấy trong đời sống. Hãy giữ các nẻo đường của ngươi cho ngay thẳng. Bước đi dưới bóng cánh của Ngài. Giữ mắt ngươi, lòng ngươi, luôn hướng về nguồn từ đó phát xuất mọi quyền năng nâng con người hướng về cùng Đấng Tạo Hóa.
Reading 137-84
Bài đọc 137-84
(Q) I was going in bathing in the ocean surf and started to dive into a breaker, but instead found that I dived head first right into the sand and was caught there head first. [140] called to [4167] to help and they tried to pull me out. I woke up trying to breathe, but was having great difficulty and feeling that I was suffocating from my experience in the sand.
(Q) Tôi đi tắm trong sóng biển và định lặn vào một con sóng, nhưng lại lao đầu thẳng vào cát và bị mắc kẹt ở đó, đầu chúc xuống. [140] gọi [4167] đến giúp và họ cố kéo tôi ra. Tôi tỉnh dậy cố thở, nhưng rất khó khăn và cảm thấy như đang ngạt thở vì trải nghiệm trong cát.
(A) This again is as an experience to this body-conscious mind, of this individual, [137], of the various conditions and phases as are taking place in the mind of the entity.
(A) Đây một lần nữa là một kinh nghiệm cho tâm thức thân thể của cá nhân này, [137], về những điều kiện và những pha khác nhau đang diễn ra trong tâm trí của thực thể.
As is seen, the ocean represents that as to which all life in the material or physical plane proceeds, in its way and manner. The sand is the basis of the thing. Diving head first, then, into, as it were, the ocean of experience, the entity may find self fast in same, and such a mind as that as is called upon, by one close to the entity, to assist or relieve same, may confuse the mind as to that which it has obtained in its diving into sea of experience of the entity’s existence in the material and spiritual plane, and thus bring consternation, or, as is seen from the physical existence, that trouble in gaining or keeping its mental equilibrium in this condition or this sea of experience. See?
Như đã thấy, đại dương tượng trưng cho điều mà từ đó mọi sự sống trong cõi vật chất hay cõi thể xác tuôn chảy, theo đường lối của nó. Cát là nền của sự việc. Vậy khi lao đầu vào, như thể, đại dương của kinh nghiệm, thực thể có thể thấy mình bị mắc kẹt trong đó, và một tâm trí như vậy—khi được một người thân cận với thực thể kêu gọi để trợ giúp hay giải thoát—có thể làm rối tâm trí về điều nó đã thu được khi lao vào biển cả kinh nghiệm của kiếp hiện sinh nơi cõi vật chất và tinh thần của thực thể, và như thế đem đến sự bối rối, hay, như thấy từ bình diện thể xác, đưa đến khó khăn trong việc đạt được hay giữ thăng bằng tâm trí trong điều kiện này hay trong biển cả kinh nghiệm này. Thấy chứ?
This, then, is as a lesson to the entity, that in the taking on of that experience that the entity sees, knows, understands, grasps a portion of, in the various phases of its earthly or physical or material existence, the lessons are then as stepping-stones, and wade in, rather than dive in head first. For little by little, line upon line, line upon line, must one gain the full concept of the conditions in which one lives, moves, and has its being. Not that life and its phases are a mystery, or something to be afraid of, but rather that the glory of the knowing of the existence and its meaning is the worth while condition in the material and the spiritual spheres and planes; for, as is experienced in the entity’s own concept, in the days as they pass, with fear for the physical conditions of the body, for the mental urges of the body, with the various phases of the material conditions, with the various phases of the mental development, there comes to the entity those awakenings, in those various conditions as transpire within the entity’s own self, in the vibrations that are felt about the body, and the wonder comes—are these vibrations as are experienced of the material making, or are they the presence of some unseen force from within that would find expression in the world, or are they from unseen forces in another plane that seek a manner of expression in this plane?
Vậy, đây là bài học cho thực thể rằng khi tiếp nhận điều kinh nghiệm mà thực thể trông thấy, biết, hiểu, nắm bắt một phần, trong những pha khác nhau của hiện sinh trần thế hay thể xác hay vật chất của mình, thì những bài học ấy là những hòn đá bắc cầu, và hãy lội vào, chứ đừng lao đầu xuống. Vì từng chút một, dòng nối dòng, dòng nối dòng, người ta phải đạt được toàn diện khái niệm về những điều kiện nơi đó người ta đang sống, đang chuyển động, và đang có hiện hữu của mình. Không phải rằng đời sống và các pha của nó là điều bí ẩn hay là điều đáng sợ, mà đúng hơn là vinh quang của việc biết về hiện sinh và ý nghĩa của nó mới là điều đáng giá trong các cảnh giới và bình diện vật chất và tinh thần; vì, như chính thực thể đã kinh nghiệm trong quan niệm của mình, qua những ngày trôi qua, với nỗi sợ cho các điều kiện thể xác của thân thể, cho những thôi thúc tâm trí, với những pha khác nhau của các điều kiện vật chất, với những pha khác nhau của phát triển trí tuệ, đến với thực thể những cuộc thức tỉnh, trong các điều kiện khác nhau diễn ra bên trong chính tự ngã, trong những rung động được cảm nhận quanh thân, và nảy sinh sự tự hỏi—những rung động này mà ta trải nghiệm là do vật chất tạo nên, hay là sự hiện diện từ bên trong của một lực vô hình nào đó muốn tìm biểu lộ trong thế gian, hay là từ những lực vô hình nơi một cảnh giới khác đang tìm cách biểu lộ trong cảnh giới này?
Then, as is seen and known of the entity, from these experiences that are given here, these are as but one. Fear not! Wade in! Don’t dive in!
Vậy, như đã thấy và đã biết của thực thể, từ những kinh nghiệm được ban ở đây, những điều này như chỉ là một. Đừng sợ! Hãy lội vào! Đừng lao đầu xuống!
Meet the conditions, and be ever ready, as was with those of old—“Here am I! Use me!”
Hãy đối diện các điều kiện, và luôn sẵn sàng, như người xưa—“Này con đây! Xin dùng con!”
Reading 262-9
Bài đọc 262-9
(Q) [288]: Is the interpretation and lesson correct, which I have written on the vision presented through me on the morning of Jan. 9, ’32?
(Q) [288]: Cách diễn giải và bài học tôi đã viết về thị kiến được chuyển qua tôi vào sáng ngày 9 tháng 1, ’32 có đúng không?
([288]’s vision of Saturday morning, January 9, 1932—about 6:30 o’clock.] I appeared in the midst of a group of people, packed close together, standing, dressed in white and blindfolded. Each one was trying to take off their bandage and put it on someone else. Just having arrived, I did not have a bandage over my eyes—and realized that they were all approaching me with the intention of putting one on me. Reasoning with myself, I knew that if I resisted them they would overcome me by their great number. So I withdrew myself mentally, closed my eyes and separated myself mentally from them, at the same time saying the little prayer on Knowing Self. As I did so, I used my hands as wings and slowly began to rise. The others were prevented from touching me by my state of consciousness. As my feet rose a little above their heads,
([Thị kiến của [288] vào sáng thứ Bảy, ngày 9 tháng 1, 1932—khoảng 6 giờ 30.] Tôi xuất hiện giữa một nhóm người, chen chúc sát nhau, đang đứng, mặc đồ trắng và bịt mắt. Mỗi người đang cố tháo băng bịt mắt của mình ra và đeo nó lên người khác. Vừa mới đến, tôi không có băng bịt mắt—và nhận ra rằng tất cả họ đang tiến về phía tôi với ý định bịt mắt tôi. Tự lý luận, tôi biết rằng nếu tôi chống lại họ, họ sẽ áp đảo tôi bằng số đông của họ. Vậy tôi rút mình vào bên trong, nhắm mắt và tách mình ra khỏi họ về mặt tinh thần, đồng thời đọc lời cầu nguyện nhỏ về Biết Mình. Khi làm như vậy, tôi dùng đôi tay như cánh và từ từ bắt đầu bay lên. Những người kia bị ngăn không chạm vào tôi bởi trạng thái tâm thức của tôi. Khi chân tôi nâng lên hơi trên đầu họ,
I could see them clamoring and reaching, trying to catch hold of my feet. I rose higher and higher, getting lighter and lighter, and it became easier and easier for me to transcend space. As I passed through each plane of development my form changed, and I became transparent.
tôi có thể thấy họ kêu la và với tay, cố nắm lấy chân tôi. Tôi bay cao hơn và cao hơn, trở nên nhẹ hơn và nhẹ hơn, và tôi càng lúc càng dễ dàng vượt qua không gian. Khi tôi đi qua mỗi cảnh giới phát triển, hình dạng tôi thay đổi, và tôi trở nên trong suốt.
Finally I reached my goal and stopped moving. I was a round ball, and reminded myself very much of the full moon—as it looks to us from the earth. I could see myself and feel myself—my consciousness was in me
Rốt cuộc tôi đạt đến mục tiêu và ngừng di chuyển. Tôi là một quả cầu tròn, và khiến chính tôi nhớ rất nhiều đến vầng trăng tròn—như nó hiện ra với chúng ta từ mặt đất. Tôi có thể thấy mình và cảm thấy mình—tâm thức của tôi ở trong tôi
(the ball), all around, and everywhere. Then I melted—evaporated, the same as smoke or a cloud, and became one with and a part of the whole universe. The most wonderful, pleasurable, and all-inclusive feeling came through me that I have ever experienced. (It is impossible to put it into words.)
(quả cầu), ở khắp xung quanh, và ở khắp nơi. Rồi tôi tan chảy—bốc hơi, như khói hay như một đám mây, và trở nên nhất thể với và là một phần của toàn vũ trụ. Cảm giác kỳ diệu, hạnh phúc, và bao trùm tất cả tràn qua tôi hơn bất cứ điều gì tôi từng trải nghiệm. (Không thể diễn tả bằng lời.)
(A) In part, correct. Better, in the interpreting of vision, that is evident in itself of being emblematical, that there be sufficient of collaborations of events as is affecting individuals seen. Then a more nearer the interpretation may be had.
(A) Một phần đúng. Tốt hơn hết, khi giải nghĩa một thị kiến vốn tự thân có tính biểu tượng, là cần có đủ các đối chiếu về những sự kiện đang tác động đến các cá nhân được thấy. Bấy giờ sẽ có thể có một diễn giải gần sát hơn.
(Q) What is the deeper significance of this dream?
(Q) Ý nghĩa sâu xa hơn của giấc mơ này là gì?
(A) Better wait and see! [See above dream.]
(A) Tốt hơn là đợi và xem! [Xem giấc mơ phía trên.]
Reading 900-64
Bài đọc 900-64
(Q) April 25, 1925: It seemed there were two ways of crossing a river, the upper bridge and the lower. As some others used lower one, so did I but this time was lying down and traveling right along the water’s edge. It seemed dangerous to me, yet had been done so often before I had full confidence.
(Q) Ngày 25 tháng 4, 1925: Dường như có hai cách để băng qua một con sông, cây cầu phía trên và phía dưới. Khi vài người khác dùng cầu dưới, tôi cũng vậy nhưng lần này tôi nằm và di chuyển ngay sát mép nước. Điều đó có vẻ nguy hiểm đối với tôi, tuy vậy vì đã làm nhiều lần trước đây nên tôi hoàn toàn tin tưởng.
(A) In this we find that correlation of the physical and the subconscious forces is given, and the lessons as gotten here: The river the way of life, the passage over the existence or span through or over which the material man passes in the passage through earth’s plane. There are two ways, the higher and the lower way. That in the higher giving the great broad outlook over the whole of Universal Forces, that of the lower in ever the way of the great masses. “Choose thou as to whom thou will serve.”
(A) Ở đây chúng ta thấy sự tương quan của thể chất và các lực tiềm thức được nêu ra, và các bài học nhận được ở đây: Dòng sông là con đường của đời sống, là cuộc vượt qua hiện hữu hay nhịp cầu mà con người vật chất vượt qua trong cuộc hành trình qua cõi trần. Có hai cách, lối cao hơn và lối thấp hơn. Lối cao hơn cho tầm nhìn rộng lớn bao quát toàn thể các Lực Phổ Quát, còn lối thấp hơn vốn luôn là đường đi của số đông quần chúng. “Hãy chọn ngươi sẽ phụng sự ai.”
Reading 341-15
Bài đọc 341-15
(Q) Night of 25, or morning of 26 of October, 1925. Dreamed of riding with someone to the top of a high mountain. Then they showed me a beautiful view spread out below. They said something—Recall—
(Q) Đêm 25, hay rạng sáng 26 tháng Mười, 1925. Tôi mơ thấy cưỡi xe với ai đó lên đỉnh một ngọn núi cao. Rồi họ chỉ cho tôi một cảnh tượng tuyệt đẹp trải ra bên dưới. Họ nói điều gì đó—Nhớ lại—
(A) This as seen indicates the emblematical conditions being carried in the mental forces of entity and correlated through cosmic conditions that as is the interpretation of the vision or dream seen and experienced. As is seen, to the high mountain is that as the life in its development to those conditions that give the more perfect understanding of the physical world. The view as obtained, being, then, as entity in possession of knowledge to acquire possessions, or to gain those of the proclivities of the physical world in that way and manner in which the world becomes, as it were, the dross to the mental forces of the entity, for as is seen in that as said, “Though beautiful—and one gain the whole world and lose his own soul, what is the gain therein?”
(A) Như đã thấy, điều này chỉ ra các điều kiện mang tính biểu tượng được mang trong các lực tâm trí của thực thể và được tương liên qua các điều kiện vũ trụ, như là diễn giải của thị kiến hay giấc mơ đã thấy và trải nghiệm. Như đã thấy, lên đỉnh núi cao là đời sống trong sự phát triển đến những điều kiện đem lại sự thấu hiểu hoàn hảo hơn về thế giới thể xác. Cảnh tượng đạt được, vậy là như thực thể sở hữu tri thức để thủ đắc của cải, hay để đạt được những khuynh hướng của thế giới thể xác theo đường lối khiến thế gian trở nên, như thể, cặn bã đối với các lực tâm trí của thực thể; vì như đã nghe lời phán, “Dẫu đẹp đẽ—và giả như ai được cả thế gian mà mất linh hồn mình, thì được gì?”
Reading 294-15
Bài đọc 294-15
Editor’s Note: This is one of Edgar Cayce’s own dreams.
Ghi chú của Ban biên tập: Đây là một trong những giấc mơ của chính Edgar Cayce.
Background of Reading 294-15
Bối cảnh của Bài đọc 294-15
Background information preceding [Reading] 294-15 as told to those gathered to hear the reading on 1/13/25:
Thông tin bối cảnh trước [Bài đọc] 294-15 như kể cho những người tụ họp nghe bài đọc vào ngày 13/1/25:
My last experience with a return of ophonia was possibly the most noteworthy. I do not know as I yet understand its whole import. This was the experience: [12/19/19]
Lần trải nghiệm gần nhất của tôi với sự trở lại của chứng mất tiếng có lẽ là đáng chú ý nhất. Tôi không chắc đã hiểu trọn ý nghĩa của nó. Trải nghiệm là như sau: [19/12/19]
For about 10 days I had been unable to speak above a whisper. I felt that if I were able to get myself in the subconscious state, possibly I could through that means again find relief. It was Sunday afternoon.
Trong khoảng 10 ngày tôi không nói lớn hơn tiếng thì thào được. Tôi cảm thấy rằng nếu có thể đưa mình vào trạng thái tiềm thức, có lẽ tôi lại có thể qua phương tiện đó tìm được sự nhẹ nhõm. Đó là chiều Chủ Nhật.
My wife sent the older boy for a walk and ride with the younger boy, who was then a very small baby. We retired to the bedroom; where I proceeded to put myself into the unconscious state.
Vợ tôi cho cậu con lớn đi dạo và đẩy xe cùng cậu bé nhỏ hơn, khi ấy còn rất nhỏ. Chúng tôi vào buồng ngủ; ở đó tôi bắt đầu đưa mình vào trạng thái vô thức.
The experience lasted possibly 30 minutes, and it is the only one where I have been able to recall anything that transpired. There have been quite a number of times when I have had dreams while in such a state. Was this a dream?
Trải nghiệm kéo dài khoảng 30 phút, và đây là lần duy nhất tôi có thể hồi tưởng điều đã diễn ra. Cũng đã có khá nhiều lần tôi có mộng trong trạng thái như vậy. Đó có phải là một giấc mơ không?
Scene 1: Apparently, there was spread before me all the graveyards in the world. I saw nothing save the abode of what we call the dead, in all portions of the world.
Cảnh 1: Dường như, bày ra trước tôi là tất cả các nghĩa trang trên thế giới. Tôi không thấy gì ngoài nơi trú của những gì chúng ta gọi là người chết, ở mọi miền trên thế giới.
Scene 2: Then, as the scene shifted, the graves seemed to be centered around India, and I was told by a voice from somewhere, ‘Here you will know a man’s religion by the manner in which his body has been disposed of.’ [See 275-29, Par. 22-A, on 12/21/32.]
Cảnh 2: Rồi, khi cảnh chuyển, các phần mộ dường như tập trung quanh Ấn Độ, và một tiếng nói từ đâu đó bảo tôi, “Ở đây ngươi sẽ biết tôn giáo của một người qua cách mà thi hài của người ấy được an táng.” [Xem 275-29, đoạn 22-A, ngày 21/12/32.]
Scene 3: The scene then changed to France, and I saw the soldiers’ graves, and among them the grave of 3 boys who had been in my S.S. class. Then I saw the boys, not dead but alive. Each of them told me how they met their death; one in machine gun fire, another, in the bursting of a shell, the other in the heavy artillery fire. Two gave me messages to tell their loved ones at home. They appeared much in the same way and manner as they did the day each came to bid me good-bye. Scene 4: As the scene changed again, I apparently reasoned with myself, ‘This is what men call spiritualism. Can it be true? Are all those we call dead yet alive in some other plane of experience or existence?
Cảnh 3: Cảnh lại chuyển sang Pháp, và tôi thấy các phần mộ của binh sĩ, và giữa chúng là mộ của 3 cậu học trò đã từng ở lớp Trường Chúa Nhật (S.S.) của tôi. Rồi tôi thấy các chàng trai, không chết mà sống. Mỗi người kể cho tôi nghe họ đã gặp cái chết như thế nào; một người trong làn đạn súng máy, một người trong vụ nổ của đạn pháo, người kia trong làn hỏa lực pháo binh hạng nặng. Hai người nhờ tôi chuyển lời cho người thân ở nhà. Họ hiện ra gần như cùng cách như ngày mỗi người đến chào tạm biệt tôi. Cảnh 4: Khi cảnh lại đổi, tôi dường như tự lý luận, “Đây là điều người ta gọi là thuyết thần linh học. Liệu có thể là thật không? Có phải tất cả những ai ta gọi là chết vẫn sống ở một bình diện kinh nghiệm hay hiện hữu khác chăng?
Could I see my own baby boy?’ [Milton Porter Cayce]
Liệu tôi có thể thấy chính con trai bé bỏng của mình không?” [Milton Porter Cayce]
As if a canopy was raised, tier on tier of babies appeared. In the 3rd or 4th row from the top, to the side, I recognized my own child. He knew me, even as I knew him. He smiled his recognition, but no word of any kind passed.
Như thể một bức màn che được kéo lên, tầng tầng lớp lớp các em bé hiện ra. Ở hàng thứ ba hay thứ tư tính từ trên xuống, bên mé, tôi nhận ra chính đứa con của mình. Con nhận ra tôi, cũng như tôi nhận ra con. Con mỉm cười nhận biết, nhưng không một lời nào được thốt ra.
Scene 5: The scene changed, and there appeared a lady friend who was being buried in the local cemetery during that selfsame hour, one whom I had known very well and from whom I had purchased many flowers for distribution by the children in my S.S. classes. She talked with me about the changes that men call death, said that it was a real birth. Especially she spoke concerning the effect the gift of flowers had upon individuals, and how they should be given in life rather than at funerals or death. As to what they meant, and how they spoke to the invalid, the shut-ins, and meant so little to those that had passed from material to the spiritual plane. Then she said, ‘But to be material for the moment, some months ago someone left $2.50 with you for me. You are not aware of this having been done, and will find it in a drawer of your desk marked with the date it was paid, Aug. 8th, and there are 2 paper dollars with a 50 cent piece. See that my daughter receives this, for she will need it. Be patient with the children, they are gaining much.’ Scene 6: Again the scene changed, and there appeared a man [4971] who had been a fellow officer for years in the church of which I was a member. He spoke of his son [228], who was a very close friend of mine, but was soon to return from the army, saying that he would no doubt return to his place in the local bank but advising that he rather accept the offer which would be made from a moving picture house. Then he spoke concerning the affairs of the church, and then I was physically conscious again.
Cảnh 5: Cảnh đổi, và xuất hiện một người phụ nữ bạn đang được an táng ở nghĩa trang địa phương đúng vào giờ ấy, người mà tôi biết rất rõ và từ người ấy tôi đã mua nhiều hoa để phân phát cho các em trong lớp Trường Chúa Nhật của tôi. Bà nói với tôi về những biến đổi mà con người gọi là cái chết, nói rằng đó là một sự sinh ra thực sự. Đặc biệt bà nói về tác động của món quà là hoa đối với từng người, và rằng hoa nên được tặng lúc còn sống hơn là tại tang lễ hay khi đã chết. Về ý nghĩa của hoa, và cách chúng nói với người bệnh, người bị giam lỏng, và rằng chúng ít ý nghĩa với những ai đã lìa khỏi cõi vật chất để sang cõi tinh thần. Rồi bà nói, “Nhưng để nói đến chuyện vật chất một lúc, vài tháng trước có người để lại cho tôi 2 đô-la 50 xu nhờ anh. Anh không hay biết điều này đã diễn ra, và sẽ thấy nó trong một ngăn kéo bàn làm việc của anh có đánh dấu ngày nhận, 8 tháng 8, và có 2 tờ 1 đô-la cùng một đồng 50 xu. Hãy đưa cho con gái tôi, vì nó sẽ cần đến. Hãy kiên nhẫn với các em nhỏ, chúng đang gặt hái nhiều điều.” Cảnh 6: Cảnh lại chuyển, và xuất hiện một người đàn ông [4971] từng là một chức viên cùng tôi nhiều năm trong hội thánh mà tôi là thành viên. Ông nói về con trai ông [228], người bạn rất thân của tôi, sắp trở về từ quân ngũ, nói rằng anh ấy có lẽ sẽ trở lại chỗ làm trong ngân hàng địa phương nhưng khuyên là anh nên nhận lời mời sẽ được đưa ra từ một rạp chiếu bóng. Rồi ông nói về công việc của hội thánh, và rồi tôi lại có ý thức thể xác.
When I awoke my voice was all right, I could talk normally, though my wife told me I had said not a word during the whole 30 minutes. I told her immediately about the experience.
Khi tỉnh dậy, giọng tôi hoàn toàn bình thường, tôi nói được, dù vợ tôi bảo rằng suốt 30 phút ấy tôi đã không nói một lời. Tôi kể cho cô ấy nghe ngay về trải nghiệm.
In re Scene 5: I went to my office and looked in the drawer of the desk where I was told to look and sure enough there was the envelope that had been received on the 8th of August by one of the young ladies who had since left the studio (and this was in December). In re Scene 6: The next day I had occasion to go to the bank and the young man, my friend, took my deposit. I asked when he returned, and he said last night. I asked if he expected to remain in the bank and he said he thought so. Then I told him I had something I would like to relate to him, and that he could act as he felt right. He came to the studio within the hour, and I related to him the whole experience. He told me that on his way home from Washington he had stopped in Atlanta, that he had been approached by a friend and asked to take the management of a moving picture theatre, but he had that morning mailed him a letter rejecting the offer, but that he would immediately wire him accepting it—which he did.
Về Cảnh 5: Tôi đến văn phòng và nhìn vào ngăn kéo của bàn nơi tôi được bảo tìm, và quả nhiên có cái phong bì đã được nhận vào ngày 8 tháng 8 bởi một cô gái trẻ làm việc đã rời studio (và lúc ấy là tháng Mười Hai). Về Cảnh 6: Hôm sau tôi có việc đến ngân hàng và người thanh niên, bạn tôi, nhận tiền gửi của tôi. Tôi hỏi anh ấy khi nào trở về, và anh nói tối hôm qua. Tôi hỏi anh có định ở lại ngân hàng không và anh nói nghĩ là vậy. Rồi tôi bảo anh rằng tôi có điều muốn kể cho anh, và rằng anh có thể hành động như thấy phải. Anh đến studio trong vòng một giờ, và tôi kể cho anh toàn bộ trải nghiệm. Anh nói rằng trên đường từ Washington về nhà, anh có ghé Atlanta, và được một người bạn đề nghị quản lý một rạp chiếu bóng, nhưng sáng hôm ấy anh đã gửi thư từ chối, tuy nhiên anh sẽ điện tín ngay để chấp nhận—và anh đã làm vậy.
What this experience meant, I do not know, whether I have the whole interpretation.
Trải nghiệm này có ý nghĩa gì, tôi không biết, liệu tôi có toàn bộ diễn giải hay không.
In re scenes 1 through 4: This one thing I do know. I have traveled in many portions of the country, north, south, east and west. There are few, if any, cemeteries, that do not appear familiar, so much so yet that when I see even a corner of one I can with a few minutes reflection tell many intimate things about that particular cemetery.
Về các Cảnh 1 đến 4: Có một điều này tôi biết chắc. Tôi đã đi nhiều nơi trong cả nước, bắc, nam, đông và tây. Hầu như không có, nếu có, nghĩa trang nào mà không có vẻ quen thuộc, đến mức cho đến giờ khi tôi thấy chỉ một góc của một nơi như vậy thì chỉ cần vài phút ngẫm nghĩ tôi có thể nói lên nhiều điều riêng tư về nghĩa trang đó.
What was it? I do not know.
Đó là gì? Tôi không biết.
Reading 294-15
Bài đọc 294-15
MHB: You will have before you the body of Edgar Cayce, present in this room, and the vision [Dream 1] this body had, in the psychic condition, on Sunday afternoon, December 19, 1919.
MHB: Các ông sẽ có trước mặt mình thân thể của Edgar Cayce, đang có mặt trong phòng này, và thị kiến [Giấc mơ 1] mà thân thể này đã có, trong trạng thái tâm linh, vào chiều Chủ Nhật, ngày 19 tháng 12, 1919.
You will also have before you the dream [Dream 2] recently had by this body regarding Mr. Linden Shroyer, the water running over the rocks, and separating the people in groups, and seemingly illustrating the character of the peoples by that surrounding the individual group, trying to catch the fish, which broke, and the effort to put same together again.
Các ông cũng sẽ có trước mặt mình giấc mơ [Giấc mơ 2] thân thể này mới có gần đây liên quan đến ông Linden Shroyer, nước chảy trên đá, và việc tách dân chúng thành từng nhóm, dường như minh họa tính cách của mỗi nhóm qua những gì bao quanh nhóm cá nhân ấy, việc cố bắt con cá, con cá bị đứt, và nỗ lực ráp lại như cũ.
You will also have before you the dream [Dream 3] had by this body, Edgar Cayce, Monday, Jan. 5, 1925, regarding the association of the body, Edgar Cayce, in work of the Institute, with the body, Morton Blumenthal, and the body Madison Byron Wyrick. You will interpret each one of these three dreams, and tell us what lessons we may gain from them.
Các ông cũng sẽ có trước mặt mình giấc mơ [Giấc mơ 3] thân thể này, Edgar Cayce, đã có vào thứ Hai, ngày 5 tháng 1, 1925, về sự cộng tác của thân thể, Edgar Cayce, trong công việc của Viện, với thân thể Morton Blumenthal, và thân thể Madison Byron Wyrick. Các ông sẽ giải nghĩa từng giấc mơ này, và nói cho chúng tôi các bài học chúng tôi có thể rút ra.
EC: Yes, we have the body here, and the vision and dream as was had by this body at the times given.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể ở đây, và thị kiến và giấc mơ mà thân thể này đã có vào những thời điểm đã nêu.
As we see, all visions and dreams are given for the benefit of the individual, [if they would] would they but interpret them correctly, for we find that visions, or dreams, in whatever character they may come, are the reflection, either of the physical condition, with apparitions with same, or of the subconscious, with the conditions relating to the physical body and its action, either through mental or through the elements of the spiritual entity, or a projection from the spiritual forces to the subconscious of the individual, and happy may he be that is able to say they have been spoken to through the dream or vision.
Như chúng ta thấy, mọi thị kiến và giấc mơ đều được ban vì ích lợi của cá nhân, [nếu họ muốn] miễn họ chịu giải nghĩa cho đúng, vì chúng ta thấy rằng thị kiến, hay giấc mơ, bất kể đến theo hình thái nào, là phản ảnh hoặc của tình trạng thể xác, kèm theo những hình hiện với nó, hoặc của tiềm thức, kèm theo những điều kiện liên hệ đến thân thể thể xác và hoạt động của nó, hoặc qua trí tuệ, hoặc qua các yếu tố của thực thể tinh thần, hoặc là sự phóng chiếu từ các lực tinh thần vào tiềm thức của cá nhân; và phúc thay ai có thể nói rằng mình đã được phán dạy qua giấc mơ hay thị kiến.
In these as given, we find in the first... [Dream 1] the vision of the existent condition in the physical plane, and this given in the emblematical way that should remove all doubt of any character regarding the material, the elemental of the mental and the spiritual plane.
Trong những điều này như đã nêu, chúng ta thấy trong điều thứ nhất... [Giấc mơ 1] thị kiến về tình trạng đang hiện hữu trong cõi vật chất, và điều này được ban theo đường lối biểu tượng vốn phải loại trừ mọi hoài nghi thuộc bất cứ bản chất nào về cõi vật chất, cõi nguyên tố của tâm trí và cõi tinh thần.
In the first [Dream 1, Scene 1], we find the representation of a waiting world; all still, all dead, and as has been given, the day will come when those in the grave will have the gospel preached unto them. [John 5:25...]
Trong điều thứ nhất [Giấc mơ 1, Cảnh 1], chúng ta thấy hình ảnh của một thế gian đang chờ đợi; tất cả đứng lặng, tất cả như chết, và như đã phán, ngày sẽ đến khi những kẻ trong mồ sẽ được rao giảng phúc âm cho họ. [Giăng 5:25...]
In the separation of the dead [Scene 2], and the showing of the religions of the world represented in one place, [India] we find exemplifying the need of awakening.
Trong sự phân biệt người chết [Cảnh 2], và việc cho thấy các tôn giáo của thế gian được biểu hiện ở một nơi [Ấn Độ], chúng ta thấy minh họa nhu cầu tỉnh thức.
In the graves of France [Scene 3], that of the work [of Edgar Cayce?] begun, for we find those relations that existed in a material world projected from the spiritual world.
Trong các phần mộ ở Pháp [Cảnh 3], ấy là công việc [của Edgar Cayce?] khởi đầu, vì chúng ta thấy những mối quan hệ từng hiện hữu trong một thế giới vật chất được phóng chiếu từ cõi tinh thần.
In that of the body finding the vision of the offspring of the material body [Scene 4], in the realm of the spiritual plane, this again showing that recognition from the spiritual plane of condition existent in a material world, or plane.
Trong việc thân thể tìm thấy thị kiến về hậu duệ của thân thể vật chất [Cảnh 4], trong cảnh giới của bình diện tinh thần, điều này một lần nữa cho thấy sự nhận biết từ cõi tinh thần về tình trạng đang hiện hữu trong một thế gian vật chất, hay bình diện.
In that just passed into the realm of the spiritual plane [Scene 5], and represented by the fruits of the manifestation of love, thought, these show how the correlation of thought and deed in the material world may act upon those just entered in the spiritual plane, and not receded from the earth’s plane.
Trong cảnh vừa đi vào cõi tinh thần [Scene 5], và được biểu trưng bởi hoa trái của sự biểu lộ của tình thương, tư tưởng, những điều này cho thấy cách tương quan giữa tư tưởng và hành vi trong thế giới vật chất có thể tác động lên những ai vừa bước vào cõi tinh thần, và chưa rút lui khỏi cõi trần.
In the last [Scene 6], the thought of the ability of those that are in the mental forces held close, which lend of their spiritual force in an earth plane, though receded from the earthbound conditions....
Trong cảnh sau cùng [Scene 6], tư tưởng về khả năng của những người ở trong các lực trí tuệ vẫn kề cận, những người cho mượn lực tinh thần của họ trong một cõi trần, dẫu đã rút khỏi các điều kiện ràng buộc trần gian....
This for the [12/19/19] vision....
Đây là cho thị kiến [12/19/19]....
In the dream of the water... [Dream 2] with the separating of the acquaintance [Linden Shroyer, etc.] of the body, we find the manifestation again in the subconscious forces of the water, representing the life, the living way, that separates those of every walk of life and about each entity, or group, there is builded that which radiates in an earth’s sphere, or in a spiritual sphere that of the deeds done in the body.
Trong giấc mơ về nước... [Dream 2] cùng với sự tách rời khỏi thân thể của người quen [Linden Shroyer, v.v.], chúng ta thấy sự biểu lộ một lần nữa trong các lực tiềm thức của nước, tượng trưng cho sự sống, Con Đường Sống, vốn phân tách những người thuộc mọi nẻo sống; và quanh mỗi thực thể, hoặc nhóm, có xây dựng nên cái tỏa phát trong một vòng cầu trần thế, hoặc trong một vòng cầu tinh thần — tức những việc đã làm trong thân xác.
In the representing of the fish, which is the representation of Him, who became the Living Way, the Water of Life, given for the healing of all nations, and in the breaking, and in the separation, yet will there be brought the force that will ƒagain make this the Living Way, the perfect representation of the force necessary to give the life to all.
Trong biểu tượng con cá, vốn là biểu tượng của Ngài, Đấng trở thành Con Đường Sống, Nước Sự Sống, ban cho sự chữa lành cho muôn dân; và trong sự bẻ ra, và trong sự phân ly, ấy vậy mà sẽ được đem đến mãnh lực sẽ lại làm cho điều này trở nên Con Đường Sống, biểu tượng trọn vẹn của mãnh lực cần để ban sự sống cho mọi người.
In this of the condition... [Dream 3] regarding the material forces, necessary for the material manifestation of work on the earth plane given as a way, which many groups, through two individuals [Morton H. Blumenthal and Madison Byron Wyrick], may work out that necessary for the performance of much given in the vision and dream.
Trong điều thuộc về tình trạng này... [Dream 3] liên hệ đến các lực vật chất, cần cho sự biểu lộ vật chất của công việc trên cõi trần được ban như một con đường, mà nhiều nhóm, thông qua hai cá nhân [Morton H. Blumenthal và Madison Byron Wyrick], có thể khai triển điều cần thiết cho việc thực hiện nhiều điều đã được ban trong thị kiến và giấc mơ.
(Q) What is meant... [Dream 1, Scene 1] by those in the grave shall have the gospel preached to them?
(H) Điều được hàm ý... [Dream 1, Scene 1] bởi “những kẻ trong mồ sẽ được rao giảng phúc âm”?
(A) That same condition as we see manifest through the spiritual entity again having that work presented in the earth plane, that they, the entity, may accept, or reject, that gospel.
(Đ) Chính cùng điều kiện như chúng ta thấy biểu lộ qua thực thể tinh thần lại có công việc ấy được trình bày ở cõi trần, để họ, tức thực thể, có thể chấp nhận, hoặc khước từ, phúc âm ấy.
(Q) Where do entities recede to... [Dream 1, Scene 6] after leaving earth’s plane?
(H) Các thực thể rút lui về đâu... [Dream 1, Scene 6] sau khi rời cõi trần?
(A) As was given, in that “Touch not, for I have not yet ascended unto my Father.” [John 20:17] In the separation of the soul and spirit from an earthly abode, each enter the spirit realm. When the entity has fully completed its separation, it goes to that force through which the entity merits in the action upon the earth’s plane, and in the various spheres, or in the various elements, as has been prepared for its (the spiritual entity) development, so the sojourn is taken, until the entity is ready for again manifesting through the flesh that development attained in the spiritual entity, for the will must be made one with the Father, that we may enter into that realm of the blessed, for, as has been given [Matthew 5:8], only the true, the perfect, may see God [Hebrews 12:14], and we must be one with Him.
(Đ) Như đã được ban, trong lời: “Chớ chạm đến Ta, vì Ta chưa lên cùng Cha Ta.” [John 20:17] Trong sự tách rời giữa linh hồn và tinh thần khỏi chốn cư ngụ trần thế, mỗi bên đi vào cõi tinh thần. Khi thực thể đã hoàn tất trọn vẹn sự tách rời, y đi đến mãnh lực mà nhờ đó thực thể xứng đáng, theo hành động của y trên cõi trần, và vào các vòng cầu khác nhau, hay vào các nguyên tố khác nhau, như đã được chuẩn bị cho sự phát triển của y (tức thực thể tinh thần), thì chuyến ngụ cư được thực hiện, cho đến khi thực thể sẵn sàng để lại biểu lộ qua xác phàm sự phát triển đã đạt được trong thực thể tinh thần; vì ý chí phải được làm nên một với Chúa Cha, để chúng ta có thể vào cõi của những người được chúc phúc; bởi, như đã được ban [Matthew 5:8], chỉ những ai chân thật, trọn lành, mới có thể thấy Thượng đế [Hebrews 12:14], và chúng ta phải nên một với Ngài.
Reading 281-6
Reading 281-6
(Q) What is the meaning of the dream I had regarding being handed a cup and spoon, and feeding people with spiritual food?
(H) Ý nghĩa của giấc mơ tôi thấy về việc được đưa cho một cái chén và cái muỗng, và cho mọi người ăn bằng thực phẩm tinh thần là gì?
(A) As indicated, that it is necessary for much of that which may be given or measured out be in small doses, and not in a manner that would cause the individuals to become antagonistic to that which would be as truth. Know ye, no one finite mind may have all the truth!
(Đ) Như đã gợi ý, rằng cần phải cho nhiều điều có thể được ban hay được đong đo bằng liều lượng nhỏ, và không theo cách sẽ khiến các cá nhân trở nên đối kháng với những gì sẽ là chân lý. Hãy biết rằng, không một thể trí hữu hạn nào có thể nắm trọn mọi chân lý!
5—
Communication with the Dead in Dreams—Giao tiếp với người đã khuất trong giấc mơ
Editor’s Note: As Elsie Sechrist notes, “The dead differ from the living only in this respect: they are in a permanently subconscious state because the conscious mind of the physical body no longer exists. But the body is an expendable shell, and all else is intact. On the astral level of existence, the subconscious mind replaces the conscious mind of the soul, and the superconscious replaces the subconscious.”
Lời của Ban biên tập: Như Elsie Sechrist ghi nhận, “Người chết khác người sống chỉ ở điểm này: họ ở trong một trạng thái tiềm thức vĩnh viễn vì trí ý thức của thân thể vật lý không còn tồn tại. Nhưng thân thể chỉ là một chiếc vỏ có thể bỏ đi, và mọi cái khác vẫn nguyên vẹn. Trên tầng hiện hữu cảm dục, tiềm thức thay thế trí ý thức của linh hồn, và siêu thức thay thế tiềm thức.”
Reading 243-5
Reading 243-5
Editor’s Note: A point often stressed in the Cayce readings is that contact with the dead has as its first purpose a transformation and quickening of the dreamer.
Lời của Ban biên tập: Một điểm thường được nhấn mạnh trong các bài đọc của Cayce là việc liên lạc với người đã khuất có mục đích đầu tiên là chuyển hóa và thúc giục người mơ.
MHB: You will have before you the body and enquiring mind of [243], present in this room, and the dream this body had of recent date, in which her [deceased] mother, [3776], came to her and put her arms around her, and told her that she loved her. The body asked her if she knew how much she had always loved her, and the mother replied, “Yes, you’ve proven it always.”
MHB: Trước ông là thân thể và tâm trí đang truy vấn của [243], có mặt trong phòng này, và giấc mơ thân thể này đã có gần đây, trong đó mẹ [đã qua đời] của cô, [3776], đến với cô và ôm cô, nói rằng bà yêu cô. Thân thể hỏi bà liệu bà có biết cô đã luôn yêu bà đến mức nào không, và người mẹ đáp, “Có, con luôn chứng tỏ điều đó.”
EC: Yes, we have the body and the enquiring mind of this body, [243], present in this room.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể và tâm trí đang truy vấn của thân thể này, [243], có mặt trong phòng này.
68
68
The dreams, as we see, come to individuals through the subjugation of the conscious mind, and the subconscious being of the soul—when loosed—is able to communicate with the subconscious minds of those whether in the material or the cosmic plane. In this as is seen the bodymind takes that concept of the subconscious that is closest to the soul forces of the body, and the mother in the living being as it is, then, gives that assurance to the body through this means of its full life existence:
Những giấc mơ, như chúng ta thấy, đến với các cá nhân qua sự chế ngự trí ý thức, và bản thể tiềm thức của linh hồn — khi được tháo cởi — có thể giao tiếp với những tâm trí tiềm thức của những người dù ở cõi vật chất hay cõi vũ trụ. Trong điều này, như thấy, thân-trí nắm lấy khái niệm của tiềm thức gần gũi nhất với các lực linh hồn của thân thể, và người mẹ, trong sự sống động như đang hiện hữu, khi ấy, trao cho thân thể sự bảo đảm qua phương tiện này về sự hiện hữu sống đầy trọn:
“Sister—Sister—as is seen by you, Mother sees, Mother knows, Mother feels those same feelings of that love which is in the earth that makes of the heavenly home. And while I am in the spirit planes I am yet present in the minds and hearts of those who express to me the love as builded in the being—the love the Master shows to all when He gave that He would prepare the home for those who would come after Him.
“Chị—Chị—như con thấy, Mẹ thấy, Mẹ biết, Mẹ cảm những cảm xúc y như thế của tình thương vốn ở nơi trần thế làm nên mái nhà thiên quốc. Và trong khi Mẹ ở các cõi tinh thần Mẹ vẫn hiện diện trong tâm trí và tấm lòng của những người bày tỏ với Mẹ tình thương như đã được xây dựng trong hiện hữu — tình thương mà Đức Thầy bày cho hết thảy khi Ngài phán rằng Ngài sẽ dọn sẵn nhà cho những ai đến sau Ngài.
“Love those about you in the way that Mother gave, and be that as Mother would have you be—for Mother does not leave you, Sister—and Mother knows! for the life is the whole life, even as the Master gave that He was the life and the light of the world, in that same concept as shown in that felt as Mother gathers Sister in her arms—and Mother knows! Mother Knows!” [GD’s noted: Her mother’s pet name for her was “Sister.”]
“Hãy thương yêu những người quanh con theo cách Mẹ đã trao, và hãy là điều như Mẹ muốn con trở nên — vì Mẹ không rời con đâu, Chị — và Mẹ biết! bởi sự sống là toàn bộ sự sống, ngay như Đức Thầy đã phán Ngài là sự sống và là ánh sáng của thế gian, trong cùng khái niệm như được biểu lộ trong điều con cảm khi Mẹ ôm Chị vào lòng — và Mẹ biết! Mẹ Biết!” [Ghi chú của GD: Tên gọi cưng của mẹ dành cho cô là “Chị.”]
(Q) The mother guides, guards, as the living angel, though unseen to sensuous eyes? (A) In this there is seen that as has oft been given, that through the subjugation of physical forces the subconscious—which is the mind of the soul—communicates those same feelings, those same expressions, which are that which really builds in the material plane—for as is experienced by this body-conscious mind, [243], there is seen the love that is expressed through the mother love. Not as that which is passed, or gone, or not present, or not among the living! for God is God of the living, the Savior is the Savior of the living. Let him that is dead bury the dead. Let him that is alive be alive to that which may be gained by those closer manifestations of the guards that keep those who seek to know His way.
(H) Người mẹ hướng dẫn, canh giữ, như thiên sứ sống, dẫu không thấy bằng mắt giác quan? (Đ) Trong điều này thấy được điều vốn thường được ban, rằng thông qua sự chế ngự các lực thể chất, tiềm thức — vốn là tâm trí của linh hồn — truyền đạt những cảm xúc y như vậy, những biểu lộ y như vậy, là điều thực sự xây dựng trong cõi vật chất — vì như tâm trí-ý thức của thân thể này, [243], kinh nghiệm, có thể thấy tình thương được biểu lộ qua tình mẹ. Không phải như điều đã qua, hay đã mất, hay không hiện diện, hay không còn ở giữa những người sống! vì Thượng đế là Thượng đế của kẻ sống, Đấng Cứu Rỗi là Đấng Cứu Rỗi của kẻ sống. Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết. Hãy để kẻ sống sống đối với điều có thể thu nhận bởi những biểu hiện gần gũi hơn của các lực canh giữ những ai tìm biết Đường Lối của Ngài.
Reading 136-70
Reading 136-70
(Q) That of August 29th or 30th. Both my [deceased mother [139] and father appeared to me, and were so glad to see me. They told me about [3816] my sister, that she committed suicide, or killed herself.
(H) Vào ngày 29 hay 30 tháng Tám. Cả cha và mẹ [đã qua đời [139]] đều hiện đến với tôi, và họ rất vui mừng gặp tôi. Họ bảo tôi về [3816] em gái tôi, rằng cô ấy đã tự vẫn, hay tự sát.
(A) This is the manner presents to the entity, or to the body—consciousness, the mother and father giving to this body the understanding of the working, as it were, of the mind of the sister, and the inept way, or the inability of that body to give that correct application to the conditions in the life that satisfies same. And—as is seen—the bodies (the ethereal body or astral body) depend upon the physical body here, [136], to so instruct, to so direct, to so counsel the body—[3816] the sister—in the way and manner that the better understanding, and that the growth in the spiritual sense, may come to the body, rather than those of the nature that bring deterioration to the development of the body, see? for these conditions are held in the mind. Remembering, then, thoughts are deeds in the spiritual sense, for they make or mar the actions of inner being...
(Đ) Đây là cách trình bày cho thực thể, hay cho tâm thức-thân thể — người mẹ và người cha trao cho tâm thức thân thể này sự thấu hiểu về cơ chế, như thể, của tâm trí người em gái, và cách thức vụng về, hay sự bất lực của thân thể ấy trong việc áp dụng đúng đắn cho những điều kiện trong đời sống để thỏa mãn chúng. Và — như thấy — các thân thể (thể dĩ thái hay thể cảm dục) tùy thuộc vào thân thể vật lý ở đây, [136], để chỉ dạy, để hướng dẫn, để khuyên bảo thân thể — [3816] người em — theo cách và phương thức để sự thấu hiểu tốt hơn, và để sự tăng trưởng về phương diện tinh thần, có thể đến với thân thể, hơn là những điều thuộc bản chất đưa đến suy đồi cho sự phát triển của thân thể, thấy chứ? vì các điều kiện này được giữ trong tâm trí. Hãy nhớ, tư tưởng là hành vi trong nghĩa tinh thần, vì chúng làm nên hay làm hỏng các hành động của nội thể...
(Q) Morning of August 25th, regarding my mother [139] and her pointing out a crowd to me, about Sidney [...] who lay dying. He was in the last stage of the process. I saw his eyes glazed. My [deceased] mother seemed to call attention to this. Then in a final effort he tried to get up. Those about him would not permit. My mother showed me that of course they would not. Then he dropped back and died. I cried, at which my mother instructed me not to cry.
(H) Sáng ngày 25 tháng Tám, liên quan đến mẹ tôi [139] và việc bà chỉ cho tôi một đám đông, về Sidney [...] đang nằm hấp hối. Anh ấy ở giai đoạn cuối của tiến trình. Tôi thấy đôi mắt anh ấy đục mờ. Mẹ [đã qua đời] của tôi dường như lưu ý tôi điều này. Rồi trong nỗ lực cuối cùng anh cố gượng dậy. Những người quanh anh không cho phép. Mẹ tôi cho tôi thấy rằng dĩ nhiên họ sẽ không cho. Rồi anh ngã xuống và chết. Tôi khóc, và mẹ tôi dạy tôi đừng khóc.
(A) In this emblematical way and manner we find there are lessons being given to this body through the efforts of the mother or the guardian forces for this body, those lessons as pertain to the various phases of development in life. In this particular individual as seen, and as understood by the mother, this entity represents a definite condition in the physical affairs, or in certain social positions and standings. In the death there is seen this representing that in the meeting of same all become of one level. And in the attempt at such period there is naught that may be done to change those conditions which surround an individual life. And then the lesson being—that the will in man, or woman, is that factor that is to be used for the betterment of the development in and through this material plane. While there may be the positions, those conditions that are of the flesh or of the earth-earthy that satisfy for the time being; yet these do not answer. Neither do they give that better understanding, nor that peace that comes with the life well lived and in service to others.
(Đ) Bằng phương thức và cách thức biểu tượng này chúng ta thấy có những bài học được ban cho thân thể này qua nỗ lực của người mẹ hay các lực hộ trì cho thân thể này, những bài học liên quan đến các phương diện khác nhau của phát triển trong đời sống. Ở cá nhân đặc thù này như thấy, và như mẹ hiểu, thực thể này biểu trưng cho một điều kiện xác định trong các sự vụ vật chất, hay trong một số địa vị và vị thế xã hội nhất định. Trong cái chết thấy được rằng trong khi đối diện với nó mọi người đều trở về cùng một bình diện. Và trong sự cố gắng vào thời khắc như vậy, chẳng có gì có thể làm để thay đổi những điều kiện bao quanh đời sống của một cá nhân. Và rồi bài học là — ý chí nơi người nam hay người nữ là yếu tố phải được sử dụng để cải thiện sự phát triển trong và qua cõi vật chất này. Dẫu có thể có địa vị, những điều kiện thuộc xác thịt hay thuộc đất-đất thỏa mãn trong chốc lát; nhưng những điều này không đáp lời. Chúng cũng không đem lại sự thấu hiểu tốt hơn, cũng không đem lại bình an đi cùng một đời sống được sống tốt đẹp và trong sự phụng sự người khác.
In the lessons then as gained, apply same in self’s own life. Not as that which would cause dissension, discussion, or any condition that would bring adverse criticism to self. Neither put on the long face nor think that there is aught but the dream of the future. Life is real, life is earnest! yet it is not all of life to live, nor all of death to die—for with the thoughts and the deeds done in the mind and the body, these are that builded by the entity, or body, and must be met, and an account given of those things rendered in the body and the mind. For the soul liveth, and is a portion of the Creative Energy, and it returns to the Whole, yet reserving in itself the oneness in the ability to know itself individual, yet a portion of the Whole. What manner of man would one be that would make of that Whole its own concept, other than one with the Whole?
Vậy những bài học thu nhận được, hãy áp dụng chúng trong chính đời sống của mình. Không theo cách sẽ gây bất hòa, tranh luận, hay bất kỳ điều kiện nào đem lại lời chỉ trích bất lợi cho bản thân. Cũng đừng làm bộ mặt dài, cũng đừng nghĩ rằng chẳng có gì ngoài giấc mơ về tương lai. Đời sống là thực tại, đời sống là nghiêm túc! nhưng sống không phải là tất cả của đời sống, chết cũng không là tất cả của cái chết — vì với các tư tưởng và các hành vi được làm trong tâm trí và thân thể, đó là những điều do thực thể, hay thân thể, xây dựng nên, và phải đối diện, và phải trình bày sự tính sổ về những điều đã thi hành trong thân thể và tâm trí. Vì linh hồn sống, và là một phần của Năng lượng Sáng Tạo, và nó trở về với Toàn Thể, tuy vẫn giữ trong chính mình tính nhất thể ở khả năng tự biết mình như một cá thể, nhưng vẫn là một phần của Toàn Thể. Một người sẽ là hạng người gì nếu muốn biến Toàn Thể thành khái niệm riêng của mình, thay vì nên một với Toàn Thể?
Reading 140-10
Reading 140-10
(Q) Next, [137], my mother and myself were sitting in a room, I in my blue wrap per. I knew I was dead, yet there I was seated just as I do today, dressed and looking the same as in physical life and I was wondering if anyone knew that I was there, if they knew what I knew—that I had been killed. I could see them and myself, but could they see me—know I was sitting there and also know that I myself, even though dead, knew of my own presence—of my own consciousness? I was sitting next to
(H) Kế tiếp, [137], mẹ tôi và tôi ngồi trong một căn phòng, tôi mặc áo choàng xanh. Tôi biết là tôi đã chết, ấy vậy tôi vẫn ngồi đó như hôm nay, ăn mặc và trông giống hệt như trong đời sống vật lý và tôi tự hỏi có ai biết tôi ở đó không, liệu họ có biết điều tôi biết — rằng tôi đã bị giết. Tôi có thể thấy họ và thấy chính mình, nhưng họ có thể thấy tôi không — biết rằng tôi đang ngồi đó và cũng biết rằng chính tôi, dẫu đã chết, vẫn biết về sự hiện diện của chính mình — về chính tâm thức của mình? Tôi ngồi bên cạnh
[137] caressing him—loving him just the same as before. Just then my Aunt Lily
[137] vuốt ve anh ấy — yêu anh ấy như trước. Đúng lúc ấy cô Lily, cô tôi
[...] came into the room and spoke to my mother and [137]. Now I realized that this would be my proof as to whether they knew of my presence or not. Aunt Lily [...] looked directly at the chair upon which I was seated, but she did not see me—to her I was not there!
[...] bước vào phòng và nói chuyện với mẹ tôi và [137]. Lúc này tôi nhận ra rằng đây sẽ là bằng chứng của tôi liệu họ có biết về sự hiện diện của tôi hay không. Cô Lily [...] nhìn thẳng vào chiếc ghế nơi tôi đang ngồi, nhưng cô không thấy tôi — với cô tôi không ở đó!
(A) This again shows that same force as given in that concept of the preparation necessary in the physical that each may understand that connection which lies between the physical and the spiritual, that such a condition as viewed and experienced by the entity in this vision may be in that way and manner as to be able to bridge this chasm. That is, that the consciousness of this entity is gaining in this vision a concept of what is called physical death, and that the consciousness, with all its earthly ties, so long as it (that consciousness) remains in the earth’s plane, it (that consciousness) is cognizant of that condition taking place in the physical, see? and is then the spiritual action. Then the lesson is as given. The entity should gain from this that concept of the great truths which are gained from the subconscious forces which are being manifest in the physical world, that the full consciousness of self’s projection from the subconscious, or death plane, may even be under stood, comprehended, in the physical.
(Đ) Điều này một lần nữa cho thấy cùng mãnh lực như đã được ban trong khái niệm về sự chuẩn bị cần có nơi phương diện thể chất để mỗi người có thể thấu hiểu mối liên hệ nằm giữa thể chất và tinh thần, để một tình trạng như được nhìn thấy và được kinh nghiệm bởi thực thể trong thị kiến này có thể theo cách và phương thức đủ để bắc cầu qua vực ngăn này. Tức là, tâm thức của thực thể đang thu nhận trong thị kiến này một khái niệm về điều được gọi là cái chết thể chất, và rằng tâm thức, với tất cả những ràng buộc trần thế của nó, chừng nào nó (tâm thức ấy) còn ở trong cõi trần, nó (tâm thức ấy) vẫn nhận biết điều đang xảy ra trong thể chất, thấy chứ? và rồi đó là hành động thuộc tinh thần. Thế thì bài học là như đã được ban. Thực thể nên thu nhận từ điều này khái niệm về những chân lý lớn lao vốn được lĩnh hội từ các lực tiềm thức đang biểu lộ trong thế giới vật chất, để toàn thể tâm thức về sự phóng chiếu của chính mình từ tiềm thức, hay cõi chết, thậm chí có thể được hiểu, được nắm bắt, trong cõi vật chất.
(Q) I was dead, yet conscious of myself as [140], dressed as she dressed, in the same room as [140] lived in. Would this be possible to the spirit entity of [140] in elemental form? Would I in form be able to do that?
(H) Tôi đã chết, vậy mà vẫn ý thức về chính mình như [140], ăn mặc như cô đã ăn mặc, trong cùng căn phòng nơi [140] sống. Điều này có thể đối với thực thể tinh thần của [140] trong hình thể hành khí không? Tôi ở trong hình thể có thể làm như vậy chăng?
(A) The consciousness of the subconscious is of the earthly in the death plane, as the spiritual consciousness is in the physical plane. One projects into the other as the other projects from one to the other. And as there is seen manifest in the physical plane those actions of the spiritual force, so may there be in the spiritual elemental plane that action into the physical plane, see? and the projection then is of that same force brought by that seen that brings this entity in this condition—the love, the affection, the desire of that nearness, of that oneness with those individuals as seen, see?
(Đ) Tâm thức của tiềm thức mang tính trần thế ở cõi chết, như tâm thức tinh thần ở cõi vật chất. Cái này phóng chiếu vào cái kia như cái kia phóng chiếu từ cái này sang cái kia. Và như trong cõi vật chất thấy biểu lộ những hành động của mãnh lực tinh thần, thì cũng vậy có thể có trong cõi hành khí tinh thần hành động đi vào cõi vật chất, thấy chứ? và sự phóng chiếu khi ấy là cùng mãnh lực ấy được đưa đến bởi điều được thấy đã đem thực thể này vào tình trạng này — tình yêu, sự trìu mến, ước muốn gần gũi, nên một với những cá nhân như thấy, thấy chứ?
(Q) Would this cosmic consciousness be possible to my subconscious consciousness—the consciousness of the life after death?
(H) Tâm thức vũ trụ này có thể có đối với tâm thức tiềm thức của tôi — tức tâm thức của đời sống sau khi chết — không?
(A) As given.
(Đ) Như đã ban.
(Q) Would I retain my love for my husband and could I be conscious of myself caressing him?
(H) Tôi có giữ tình yêu đối với chồng tôi không và tôi có thể ý thức về việc mình đang âu yếm anh ấy không?
(A) Just in the way and manner as given, see? for as is seen, let’s give this as an illustration of how the cosmic consciousness, or elemental consciousness, after death projects from one to the other, see? The loved one—just reverse the condition, see? The loved one is in the spiritual plane. The one as the lover is putting self in that attunement with that spiritual love element, as is manifest in physical or material forces. Then, that love brings each to the arms, as it were, of the other, see? (Q) Could I not only see the spirit reality with my new spirit mind, but also see the phenomenized form of this spirit in the physical bodies of my mother, my husband, my Aunt Lily?
(Đ) Y như cách thức và phương thức đã ban, thấy chứ? vì như thấy, chúng ta hãy nêu điều này làm minh họa về cách tâm thức vũ trụ, hay tâm thức hành khí, sau khi chết phóng chiếu từ bên này sang bên kia, thấy chứ? Người được yêu — hãy đảo ngược tình trạng, thấy chứ? Người được yêu ở cõi tinh thần. Người là người yêu đang đặt mình trong sự hòa điệu với nguyên tố tình yêu tinh thần ấy, như biểu lộ trong các lực thể chất hay vật chất. Khi ấy, tình yêu ấy đưa mỗi bên vào vòng tay, như thể, của bên kia, thấy chứ? (H) Không chỉ tôi có thể thấy thực tại tinh thần bằng trí tinh thần mới của mình, mà còn có thể thấy hình tướng được hiện tượng hóa của tinh thần này trong các thân thể vật chất của mẹ tôi, chồng tôi, cô Lily?
(A) Just as has been explained and given, see?
(Đ) Y như đã được giải thích và ban, thấy chứ?
(Q) Would it be my choice as to whether I desired to return to these conditions— say of love for my husband or not? Having created the faculty of love for this individual, could I take the old form of [140], come to [137] and caress him? (A) With the attunement from the other, as given, see?
(H) Có phải đó là sự chọn lựa của tôi liệu tôi có muốn trở lại những điều kiện này — tức tình yêu dành cho chồng tôi — hay không? Đã tạo nên năng lực yêu đối với cá nhân này, liệu tôi có thể nhận hình dạng cũ của [140], đến với [137] và âu yếm anh ấy chăng? (Đ) Với sự hòa điệu từ phía bên kia, như đã ban, thấy chứ?
(Q) As shown here, the physical [137] would not know of this—but could he know of it if he went to sleep—i.e. his subconsciousness and my subconsciousness meet as a vibration force meets a radio machine and causes a sound when the machine is tuned in?
(H) Như ở đây cho thấy, người ở thể chất [137] sẽ không biết điều này — nhưng anh ấy có thể biết nếu anh ấy ngủ — tức là tiềm thức của anh ấy và tiềm thức của tôi gặp nhau như một lực rung động gặp một chiếc máy radio và gây ra âm thanh khi máy được điều chỉnh đúng?
(A) Just as given. This is the illustration, see? Both must be in that attunement and separated from the physical forces to become conscious, for these are of the spiritual elements.
(Đ) Y như đã ban. Đây là minh họa, thấy chứ? Cả hai phải ở trong sự hòa điệu ấy và tách khỏi các lực thể chất để trở nên có ý thức, vì đây là những nguyên tố tinh thần.
(Q) If this is so, could I deliver a message to [140] or my mother? Then why could not I deliver a message through another mind, another channel that I might find, to convey a message to [137].
(H) Nếu vậy, tôi có thể chuyển một thông điệp cho [140] hay cho mẹ tôi không? Vậy tại sao tôi không thể chuyển thông điệp thông qua một tâm trí khác, một kênh khác mà tôi có thể tìm được, để truyền đạt thông điệp cho [137].
(A) Only with an attunement is the message received, as in the radio. Only with the same attunement may a message be delivered to an individual, see?
(Đ) Chỉ với một sự hòa điệu thì thông điệp mới được tiếp nhận, như trong radio. Chỉ với cùng một sự hòa điệu mới có thể truyền một thông điệp đến một cá nhân, thấy chứ?
(Q) In this case, then, ones who subjugated their physical selves, (mediums—so called) would be channels for such a message—would open themselves to the operation of such messages being sent from my dead self to my living husband? Is this so?
(H) Trong trường hợp này, những người chế ngự bản thân thể chất của họ, (các đồng tử — gọi là vậy) sẽ là các kênh cho một thông điệp như vậy — sẽ mở mình cho hoạt động của những thông điệp như thế được gửi từ cái tôi đã chết của tôi đến người chồng đang sống của tôi? Có phải vậy không?
(A) Much as a kiss may be sent from one individual to another. (Q) That is, the subconscious of a medium might find in the one spirit subconscious condition my love condition and express it, if his physical or another physical caused the medium’s subconsciousness to tune into love thoughts. Correct?
(Đ) Giống như một nụ hôn có thể được gửi từ người này đến người khác. (H) Tức là, tiềm thức của một đồng tử có thể tìm thấy trong một tình trạng tiềm thức tinh thần — tình yêu của tôi — và biểu lộ nó, nếu thể chất của anh ấy hay một thể chất khác khiến tiềm thức của đồng tử điều chỉnh vào các tư tưởng yêu thương. Đúng chứ?
(A) Only correct as has been explained before in regards this, for the medium is as but that through which the transmission of a condition passes or exists, and is wavered by that physical, by that cosmic consciousness of that individual; while (get the difference, see?) a subconscious condition in which the subconscious contacts by suggestion the whole one spirit force that is, as an element of existent force in nature, and in the condition, the presentation of the fact—is manifested according to abilities of the entity to present same to the consciousness of the individual desiring that information from that cosmic consciousness, see? You don’t see but this is it, see?
(Đ) Chỉ đúng như đã được giải thích trước đây liên quan điều này, vì đồng tử chỉ như cái qua đó sự truyền dẫn của một tình trạng đi qua hay tồn tại, và bị lay động bởi thể chất ấy, bởi tâm thức vũ trụ của cá nhân ấy; trong khi (nắm cho rõ sự khác biệt, thấy chứ?) một tình trạng tiềm thức trong đó tiềm thức chạm đến, bằng gợi ý, toàn bộ một mãnh lực tinh thần duy nhất vốn là, như một nguyên tố của mãnh lực hiện hữu trong thiên nhiên, và trong tình trạng ấy, sự trình bày về sự kiện — được biểu lộ tùy theo khả năng của thực thể để trình bày điều đó cho tâm thức của cá nhân mong muốn thông tin ấy từ tâm thức vũ trụ, thấy chứ? Bạn không thấy đó thôi, nhưng chính là như vậy, thấy chứ?
(Q) Now, bringing this into an example: If [137] by, or my mother directed by, physical thought or word their own or someone else’s subconsciousness to attunement with my subconscious spirit action of love.
(H) Bây giờ, đưa điều này vào một ví dụ: Nếu [137] hoặc mẹ tôi được dẫn dắt bởi ý nghĩ thể chất hay lời nói thể chất của chính họ hoặc của ai đó, điều chỉnh tiềm thức của họ vào hành động tình yêu trong tiềm thức tinh thần của tôi.
(A) (EC interrupting) By themselves they may, but not through someone else, gain that close access to that consciousness of the nearness and atoneness of the individual, see?
(Đ) (EC ngắt lời) Tự họ có thể, nhưng không phải qua người khác, đạt được sự tiếp cận gần gũi ấy với tâm thức của sự gần gũi và hợp nhất của cá nhân, thấy chứ?
(Q) (Continuing) [137] or my mother could receive through their own subconscious channel or the same subconscious channel in the medium.
(H) (Tiếp tục) [137] hay mẹ tôi có thể nhận qua kênh tiềm thức riêng của họ hoặc cùng kênh tiềm thức ấy nơi đồng tử.
(A) (EC again interrupting) Not in the medium—in Self. Leave out the medium if you would understand these conditions!
(Đ) (EC lại ngắt lời) Không qua đồng tử — trong Tự Ngã. Hãy bỏ đồng tử ra nếu bạn muốn hiểu các điều kiện này!
(Q) (Continuing) could receive the love action in my subconscious consciousness expressed in words of their comprehension? Correct?
(H) (Tiếp tục) có thể nhận hành động yêu thương trong tâm thức tiềm thức của tôi, được biểu đạt bằng lời lẽ mà họ hiểu? Đúng chứ?
(A) Correct only as has been given! Forget these!
(Đ) Chỉ đúng như đã được ban! Hãy quên những điều này đi!
Reading 136-45
Reading 136-45
(Q) Morning of September 5. My [deceased] mother appeared to me. She said to me: “I am alive.”
(H) Sáng ngày 5 tháng Chín. Mẹ [đã qua đời] của tôi hiện đến với tôi. Bà nói với tôi: “Mẹ sống.”
(A) (Interrupting) She is alive!
(Đ) (Ngắt lời) Bà sống!
(Q) (Continuing) “Something is wrong with your sister’s leg, or shoulder.” (or both—I don’t clearly remember) “She ought see a doctor about it.”
(H) (Tiếp tục) “Có điều gì đó không ổn với chân, hoặc vai của em gái con.” (hoặc cả hai — tôi không nhớ rõ) “Nó nên đi khám bác sĩ về việc đó.”
(A) This, as is seen, to the entity, is that experience drawing closer and closer to that at-oneness with the spiritual forces manifest through the at-onement of the forces manifested in this material plane. For, as is seen, the mother, through the entity’s own mind, is as the mother to all in that household. Warning, then, of conditions that may arise, and of conditions existent. Then, warn the sister as regarding same, see? (Q) Now here is a definite proof—that if my mother can tell me that something is the matter with my sister and of which trouble I am ignorant, then I must conclude—
(Đ) Điều này, như thấy, đối với thực thể, là trải nghiệm đang dẫn dần dần đến sự nhất thể với các lực tinh thần, vốn biểu lộ qua sự nhất thể của các lực biểu lộ trong cõi vật chất này. Bởi, như thấy, người mẹ, thông qua chính tâm trí của thực thể, là như người mẹ đối với mọi người trong gia đình đó. Vậy thì, cảnh báo về các điều kiện có thể phát sinh, và về các điều kiện đang hiện hữu. Vậy, hãy cảnh báo cho người em gái về điều ấy, thấy chứ? (H) Nay đây là một bằng chứng rõ rệt — rằng nếu mẹ tôi có thể bảo tôi rằng có điều gì đó trục trặc với em gái tôi, về điều rắc rối mà tôi không biết, thì tôi phải kết luận—
(A) (interrupting) Then the body is ignorant only in the physical sense.
(Đ) (ngắt lời) Vậy thì thân thể chỉ không biết theo nghĩa thể chất mà thôi.
The subconscious is in at-onement with the mother and the sister, in the subconscious state, see? Understand these conditions, as the entity attempts to gain the lesson that is being given.
Tiềm thức đang ở trong sự nhất thể với mẹ và em gái, trong trạng thái tiềm thức, thấy chứ? Hãy hiểu những điều kiện này, khi thực thể cố gắng lĩnh hội bài học đang được trao.
Reading 136-33
Reading 136-33
GC: You will have before you the body and the enquiring mind of [136] of New York City, and the dreams this body had on the dates which I will give you. You will give the interpretation and lesson to be gained from each of these, as I read same to you, and you will answer the questions which I ask you regarding same:
GC: Trước ông là thân thể và tâm trí đang truy vấn của [136] ở Thành phố New York, và những giấc mơ thân thể này có vào các ngày mà tôi sẽ nêu. Ông sẽ đưa ra sự giải thích và bài học cần lĩnh hội từ mỗi giấc mơ, khi tôi đọc chúng cho ông, và ông sẽ trả lời các câu hỏi tôi hỏi ông liên quan đến chúng:
EC: Yes, we have the body here, with the enquiring mind of same. This we have had before.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể ở đây, cùng với tâm trí đang truy vấn của thân thể này. Điều này chúng tôi đã có trước đây.
The dreams as we see which come to the body are for the edification of the mental forces of the body, and when used aright these may give the entity the better understanding of the phenomena of life, and of how same, in its various forms and manners, are manifested in the spiritual and physical world, and how the physical may become cognizant of same. Ready for dreams.
Những giấc mơ như chúng ta thấy đến với thân thể là để bồi đắp cho các lực trí tuệ của thân thể, và khi được dùng đúng, chúng có thể đem lại cho thực thể sự thấu hiểu tốt hơn về các hiện tượng của đời sống, và về cách mà chúng, trong nhiều hình thái và phương thức khác nhau, được biểu lộ trong thế giới tinh thần và vật chất, và cách cõi vật chất có thể trở nên nhận biết về chúng. Sẵn sàng cho các giấc mơ.
(Q) Night of Saturday, February 13, or Sunday morning, February 14, 1926. I heard a voice that I recognized as J.S.’s, our old friend from New Orleans, who loved me dearly as a child, yet whom I have not seen in 2 to 3 years. The impression of J.S. talking to me was very pronounced, and for a while I did not see her figure, yet I felt that she was with Mother at the hospital, as mother changed from this earthly consciousness to the other. J.S. was there as the transition was made—was now with Mother as she said to me: “your mother is as happy as ever—” More J.S. told me about Mother which I can’t remember. Recall and explain to me, please.
(H) Đêm Thứ Bảy ngày 13 tháng Hai, hoặc sáng Chủ Nhật ngày 14 tháng Hai năm 1926. Tôi nghe một giọng nói mà tôi nhận ra là của J.S., người bạn cũ của gia đình chúng tôi ở New Orleans, người đã rất thương tôi khi tôi còn nhỏ, dù tôi đã không gặp bà 2 đến 3 năm. Ấn tượng về việc J.S. nói chuyện với tôi rất rõ rệt, và một lúc tôi không thấy hình dáng bà, nhưng tôi cảm thấy bà đang ở với Mẹ tại bệnh viện, khi mẹ chuyển từ tâm thức trần thế sang tâm thức kia. J.S. ở đó khi sự chuyển tiếp diễn ra — lúc này ở với Mẹ khi bà nói với tôi: “mẹ con hạnh phúc như xưa —” J.S. nói với tôi nhiều điều về Mẹ mà tôi không thể nhớ. Xin nhắc lại và giải thích cho tôi.
(A) In this there is given to the entity that understanding of what is meant by the life other than the physical. For, as it is seen that the companionship of loved ones seek the companionship in that plane, for “As a tree falls so shall it lie,” there is seen the message coming from the loved one to the one regarding the loved one, showing then that companionship, that without the loss of the care of others, as is seen.
(Đ) Trong điều này có ban cho thực thể sự thấu hiểu về ý nghĩa của đời sống ngoài đời sống thể chất. Vì, như thấy rằng tình bạn của những người thân yêu tìm kiếm tình bạn trong cõi ấy, bởi “Cây đổ thế nào thì nằm thế ấy,” thấy có thông điệp đến từ người yêu thương gửi cho người liên quan đến người yêu thương, cho thấy tình bằng hữu ấy, rằng không hề mất đi sự chăm sóc những người khác, như thấy.
Then, the entity should gain that strength from that given regarding the condition, and know that the mother lives in that realm in which there is recognized J. S., and that the companionship is there, until those developments come from the earth plane to lead on to those higher realms, or to come again. For those many changes must come to each and every entity in its development. And as these are seen, then, the strength, the understanding, should be gained by this entity. For as is given, she is well, happy, and free from the care as is given in earth’s plane, yet with that same love as is raised through the companionship with the oneness of the spiritual forces with the soul, see?
Vậy thì, thực thể nên thu lấy sức mạnh từ điều được ban liên quan đến tình trạng này, và biết rằng người mẹ sống trong cõi ấy, nơi có J.S. được nhận biết, và tình bạn ở đó, cho đến khi những phát triển đến từ cõi trần đưa dắt lên những cõi cao hơn, hoặc để trở lại lần nữa. Vì có nhiều thay đổi phải đến với từng thực thể trong sự phát triển của mình. Và như những điều này được thấy, thì sức mạnh, sự thấu hiểu, nên được thực thể này thu nhận. Bởi như đã ban, bà mạnh khỏe, hạnh phúc, và thoát khỏi những bận tâm như ở cõi trần, nhưng với tình thương y như thế được nâng lên thành sự thấu hiểu tốt hơn về các lực như đang biểu lộ cùng sự hợp nhất của các lực tinh thần với linh hồn, thấy chứ?
(Q) I was not thinking of J.S. who died 3 weeks before Mother—how and why did this entity transmit the message to me?
(H) Tôi đã không nghĩ đến J.S., người mất 3 tuần trước Mẹ tôi — làm sao và tại sao thực thể này truyền thông điệp cho tôi?
(A) As is seen, the entity may answer same from within self, if the entity would not condemn self for physical conditions, for this brings the sorrow in the heart, physical self-condemnation toward conditions existent. Then, when this is laid aside, there may be seen how that the friendship, the love of one close, near and dear, is ready to give that aid, when one attunes self to that position, condition, wherein one, the entity, may gain from each and every experience to bring self to that better understanding of that phenomenized force in the physical world. See? For, as is seen then in this presented, that the entity may know, not alone does the mother go out; not alone in that unseen world, yet with that same care, that same love, raised to a better understanding of the forces as are manifested.
(Đ) Như thấy, thực thể có thể tự trả lời nếu thực thể không lên án bản thân vì các điều kiện vật chất, vì điều này mang nỗi sầu vào lòng, sự tự kết án nơi thể chất đối với những điều kiện hiện hữu. Vậy, khi điều này được gác sang bên, có thể thấy rằng tình bạn, tình thương của một người gần gũi, thân cận và yêu dấu, sẵn sàng trao sự trợ giúp, khi một người điều chỉnh mình vào vị trí, điều kiện, trong đó người ấy, thực thể ấy, có thể thu hoạch từ mọi kinh nghiệm để đưa mình đến sự thấu hiểu tốt hơn về mãnh lực được hiện tượng hóa trong thế giới vật chất. Thấy chứ? Bởi, như thấy trong điều này được trình bày, rằng thực thể có thể biết, không chỉ riêng người mẹ ra đi; không đơn độc trong cõi vô hình, nhưng với sự chăm sóc y như thế, tình thương y như thế, được nâng lên thành sự thấu hiểu tốt hơn về các lực như đang biểu lộ.
(Q) Was J.S. there to guide Mother over the transition from physical to spiritual? Both died within 3 weeks—both must easily have yet been—be in this plane as yet— is this so?
(H) J.S. có ở đó để dẫn dắt Mẹ qua sự chuyển tiếp từ cõi vật chất sang cõi tinh thần không? Cả hai mất trong vòng 3 tuần — cả hai chắc hẳn vẫn dễ dàng còn ở cõi này — có phải vậy không?
(A) Both in physical plane or earth’s sphere as yet, until that force leads on in its ever developing toward that Oneness with the All Force, see?
(Đ) Cả hai vẫn còn ở cõi vật chất hay vòng cầu trần thế, cho đến khi mãnh lực ấy đưa dắt trong sự phát triển miên viễn hướng đến Sự Nhất Thể với Toàn Năng, thấy chứ?
(Q) Then, does one spirit guide another over?
(H) Vậy, có phải một linh hồn dẫn dắt một linh hồn khác vượt qua không?
(A) “Lo! I am with thee, and though I walk through the valley of the shadow of death, my spirit shall guide thee.” As is seen in this, these are given in this manner that those may see, those may know, through that experience of such earthly partings, that is the lack of an understanding of that spiritual consciousness that prevents these forces from manifesting in the physical sense.
(Đ) “Kìa! Ta ở cùng ngươi, và dẫu ta bước qua thung lũng bóng chết, thần của Ta sẽ dẫn dắt ngươi.” Như thấy trong điều này, những điều này được ban theo cách để những người ấy có thể thấy, có thể biết, qua kinh nghiệm của những chia biệt trần thế như vậy, rằng chính là sự thiếu vắng một sự thấu hiểu về tâm thức tinh thần ngăn trở các lực này biểu lộ theo nghĩa vật chất.
(Q) Voice: “Your Mother is alive and happy.”
(H) Tiếng nói: “Mẹ con sống và hạnh phúc.”
(A) Your mother is alive and happy. Just as is given, the entity may know that all force goes to show, to prove, to bring to the consciousness of the entity, that through that as ye live in Him ye shall be made alive in Him! for there is no death, only the transition from the physical to the spiritual plane. Then, as the birth into the physical is given as the time of the new life, just so, then, in physical is the birth into the spiritual.
(Đ) Mẹ con sống và hạnh phúc. Như đã ban, thực thể có thể biết rằng mọi mãnh lực đều hướng tới việc cho thấy, chứng minh, đem đến cho tâm thức của thực thể, rằng qua điều là các con sống trong Ngài, các con sẽ được làm cho sống trong Ngài! bởi chẳng có cái chết, chỉ là sự chuyển từ cõi vật chất sang cõi tinh thần. Vậy thì, như sự sinh vào cõi vật chất được xem là thời khắc của một đời sống mới, thì cũng vậy, trong cõi vật chất, là sự sinh vào cõi tinh thần.
(Q) Then, does my mother see me and love me as ever?
(H) Vậy, mẹ tôi có thấy tôi và yêu tôi như trước không?
(A) Sees thee and loves thee as ever. Just as those forces were manifest in the physical world, and the entity entertains and desires and places self in that attunement with those desires of that entity, the love exists, in that far, in that manner, see? for in spirit all sham is laid aside.
(Đ) Mẹ thấy con và yêu con như trước. Như những lực ấy đã biểu lộ trong thế giới vật chất, và thực thể tiếp nhận và ước muốn và đặt mình trong sự hòa điệu với những ước muốn của thực thể ấy, thì tình yêu tồn tại, trong chừng mực ấy, theo cách thức ấy, thấy chứ? vì trong tinh thần mọi giả trá đều được gỡ bỏ.
(Q) Does she try to tell me “I am alive and happy?”
(H) Bà có cố gắng nói với tôi “Mẹ sống và hạnh phúc” không?
(A) Tells the entity “I am alive and happy” when entity will attune self to that at-oneness.
(Đ) Bà nói với thực thể “Mẹ sống và hạnh phúc” khi thực thể điều chỉnh mình vào sự nhất thể ấy.
(Q) I feel her with me, particularly as I kissed her clay body—I felt she knew and responded—but did she, or do I fool myself?
(H) Tôi cảm thấy bà ở với tôi, đặc biệt khi tôi hôn thân xác bằng đất của bà — tôi cảm thấy bà biết và đáp lại — nhưng bà có biết không, hay tôi tự dối mình?
(A) In that manner that entity poured out self to that entity, the response came. No, not fooling self, for the soul liveth, and is at peace, and would that this entity know that it liveth. And as has been given, “In my Father’s house are many mansions, were it not so I would have told you,” and “I go to prepare a place for you, that where I am there ye may be also.” This is as applicable to the entity in this hour as was given by the Redeemer to those gathered about Him.
(Đ) Theo cách mà thực thể rót đổ chính mình vào thực thể kia, sự đáp ứng đã đến. Không, không lừa dối mình đâu, vì linh hồn sống, và đang bình an, và muốn thực thể này biết rằng linh hồn sống. Và như đã được ban, “Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở, nếu không Ta đã nói với các ngươi rồi,” và “Ta đi dọn chỗ cho các ngươi, để nơi Ta ở, các ngươi cũng ở đó.” Điều này thích hợp với thực thể trong giờ này y như điều được Đấng Cứu Chuộc phán với những người quây quanh Ngài.
For as we entities in the physical plane prepare that at-oneness, it is as He gave: “Even as I be lifted up will draw all men unto me,” or has been given, when speaking to those that would seek His face, “Say not to thyself who shall descend into the depths to bring Him up, or who shall fly into the heavens to bring Him down, for the spirit of peace, truth, and love, is within thine own heart.” As the spirit of self gives that attunement that may be at a oneness with those spirits in that sphere, they may know, they may understand, they may gather, that truth that makes one free.
Bởi khi chúng ta là các thực thể trong cõi vật chất chuẩn bị cho sự nhất thể ấy, thì như Ngài đã ban: “Ngay khi Ta được giương cao sẽ kéo mọi người đến cùng Ta,” hoặc như đã được ban, khi nói với những ai tìm kiếm Dung Nhan Ngài, “Chớ nói trong lòng rằng ai sẽ xuống vực sâu để đem Ngài lên, hay ai sẽ bay lên trời để đưa Ngài xuống, vì tinh thần của bình an, chân lý, và tình thương, ở ngay trong lòng ngươi.” Khi tinh thần của tự ngã trao sự hòa điệu có thể nên một với những tinh thần ở trong vòng cầu ấy, họ có thể biết, có thể hiểu, có thể thâu góp, chân lý khiến người ta được tự do.
(Q) My old beau, J.S., came to our house (New Orleans) to see me in my grief at the loss of my mother. He said to me: “I just came to see you because I loved your mother so.”
(H) Người tình cũ của tôi, J.S., đến nhà chúng tôi (New Orleans) thăm tôi trong nỗi sầu vì mất mẹ. Bà nói với tôi: “Tôi chỉ đến thăm cô vì tôi yêu mẹ cô rất nhiều.”
(A) Again that presentation to the entity from the physical standpoint of how that love rules, guides, directs, the world; as is said, “God is Love,” and as these physical beings give manifestations of that desire to comfort, cherish, for the love held in physical, so may the physical being understand the love held for the souls of those who love the Lord and His coming.
(Đ) Một lần nữa là sự trình bày cho thực thể từ quan điểm vật chất về việc tình thương cai quản, dẫn dắt, điều động, thế gian như thế nào; như có lời, “Thượng đế là Tình yêu,” và khi những hữu thể thể chất bày tỏ sự mong muốn an ủi, chở che, vì tình yêu giữ trong thể chất, thì hữu thể thể chất có thể hiểu tình yêu dành cho các linh hồn của những ai yêu Chúa và sự đến của Ngài lớn dường nào.
(Q) Then what does this indicate in relation to past events as related—
(H) Vậy điều này cho thấy gì liên quan đến các sự việc đã qua như đã trình bày—
(A) (EC breaking in) That just as has been given. Not to the past but to the present conditions, and as this becomes, and is, as a beautiful tribute in the mind of the entity, to self and to the loved one, then let this be as the lesson to the entity: If the filial love is shown in the material world in such a manner, how much greater must be that love expressed by the Father in Heaven!
(Đ) (EC chen vào) Rằng đúng như đã được ban. Không phải đối với quá khứ mà đối với các điều kiện hiện tại, và khi điều này trở thành, và là, như một cống hiến đẹp đẽ trong tâm trí của thực thể, cho chính mình và cho người yêu dấu, thì hãy để điều này là bài học cho thực thể: Nếu tình yêu hiếu thảo được bày ra trong thế giới vật chất theo cách như vậy, thì tình yêu được bày ra bởi Chúa Cha trên trời còn lớn biết bao!
Report on Reading 294-114
Báo cáo về Reading 294-11 4
Editor’s Note: This is a dream of Edgar Cayce’s that was not submitted for an interpretation in a reading.
Lời của Ban biên tập: Đây là một giấc mơ của chính Edgar Cayce chưa từng được gửi để giải thích trong một bài đọc.
10/18/30 During a Physical Reading. 209-1 EC had an unusual dream experience. Upon awakening, he described this experience as follows:
10/18/30 Trong Khi Đọc Thể Chất. 209-1 EC có một trải nghiệm mơ khác thường. Khi tỉnh dậy, ông mô tả trải nghiệm này như sau:
I was preparing to give a reading. As I went out, I realized that I had contacted Death, as a personality, as an individual, or as a being. Realizing this, I remarked to Death: “You are not as ordinarily pictured— with a black mask or hood, or as a skeleton, or like Father Time with a sickle. Instead, you are fair, rose-cheeked, robust—and you have a pair of shears or scissors.” In fact, I had to look twice at the feet or limbs, or even at the body, to see it take shape.
Tôi đang chuẩn bị thực hiện một bài đọc. Khi tôi bước ra, tôi nhận ra rằng mình đã tiếp xúc với Tử thần, như một nhân cách, như một cá nhân, hay như một hữu thể. Nhận ra điều này, tôi nói với Tử thần: “Ngươi không như người ta thường vẽ — với mặt nạ hay mũ trùm đen, hay như một bộ xương, hay như Ông Thời Gian với lưỡi hái. Trái lại, ngươi hồng hào, má hường, khỏe mạnh — và ngươi có một cái kéo hay cây kéo.” Thực tế, tôi phải nhìn kỹ đôi chân hay tứ chi, thậm chí cả thân thể, để thấy nó hiện hình.
He replied: “Yes, Death is not what many seem to think. It is not the horrible thing which is often pictured. Just a change—just a visit. The shears or scissors are indeed the implements most representative of life and death to man. These indeed, unite by dividing—and divide by uniting. The cord does not, as usually thought, extend from the center—but is broken, from the head, the forehead—that soft portion we see pulsate in the infant. Hence we see old people, unbeknowing to themselves, gain strength from youth by kissing there; and youth gains wisdom by such kisses.
Ngài đáp: “Đúng vậy, Cái chết không như nhiều người vẫn tưởng. Nó không phải là điều kinh khủng như thường bị vẽ ra. Chỉ là một sự thay đổi — chỉ là một cuộc viếng thăm. Cái kéo hay cây kéo quả là dụng cụ đại diện nhất cho sự sống và cái chết đối với con người. Quả thật, chúng hợp nhất bằng cách phân chia — và phân chia bằng cách hợp nhất. Sợi dây không, như người ta vẫn nghĩ, kéo dài từ trung tâm — mà bị cắt, từ đầu, trán — phần mềm mà ta thấy đập ở trẻ sơ sinh. Do đó ta thấy người già, không hề biết, tiếp nhận sức mạnh từ tuổi trẻ bằng cách hôn lên đó; và người trẻ nhận sự khôn ngoan bởi những cái hôn như thế.
Indeed the vibrations may be raised to such an extent as to rekindle or re-connect the cord, even as the Master did with the son of the widow of Nain. For He did not take him by the hand (which was bound to the body as was the custom of the day), but rather stroked him on the head—and the body took life of Life itself! So, you see, the silver cord may be broke—but vibration... ” Here the dream ended.
Quả thật các rung động có thể được nâng cao đến mức tái nhóm lửa hay tái nối sợi dây, như chính Đức Thầy đã làm với con trai của bà góa ở Nain. Vì Ngài không nắm tay cậu (vốn bị buộc vào thân thể theo tục lệ thời ấy), mà thay vào đó, vuốt nhẹ đầu cậu — và thân thể nhận sự sống từ chính Sự Sống! Vậy, con thấy đấy, sợi dây bạc có thể đứt — nhưng rung động...” Ở đây giấc mơ chấm dứt.
Editor’s Note: When is one ready for dreams of those who have passed on?
Lời của Ban biên tập: Khi nào một người sẵn sàng cho những giấc mơ về những người đã qua đời?
“In commenting on hundreds of such dreams,” says Bro, “Cayce offered a number of answers [to this question]:
“Khi bình luận về hàng trăm giấc mơ như vậy,” Bro nói, “Cayce đã đưa ra một số câu trả lời:
1. First of all, one is ready for such dreams when he has them. His subconscious will not feed him experiences he can’t handle if he chooses to do so.
1. Trước hết, một người sẵn sàng cho những giấc mơ như vậy khi chính người ấy có chúng. Tiềm thức của người ấy sẽ không cung cấp những trải nghiệm mà người ấy không thể xử lý — nếu người ấy chọn làm như vậy.
2. Secondly, one is ready for dream contact with the dead when he will not speak lightly of them. In Cayce’s view, such dreams could mean dangerous escapism.
2. Thứ hai, một người sẵn sàng cho sự tiếp xúc trong mơ với người chết khi người ấy sẽ không nói năng nhẹ dạ về họ. Theo quan điểm của Cayce, những giấc mơ như vậy có thể là sự trốn chạy nguy hiểm.
3. Thirdly, one is ready for dreams of the dead when he soundly loves and serves the living; such dreams always come for a personal reason, a personal growth of the dreamer, or some concrete service in the regular round of his daily life. Dream messages seeming to come for a general public are immediately suspect, for healthy contact with the dead was not designed to function for the living in this way.
3. Thứ ba, một người sẵn sàng cho những giấc mơ về người đã khuất khi người ấy chân thành yêu thương và phục vụ người đang sống; những giấc mơ như vậy luôn đến vì một lý do cá nhân, nhằm sự tăng trưởng cá nhân của người mơ, hoặc một sự phụng sự cụ thể trong vòng quay đều đặn của đời sống hằng ngày của người ấy. Những thông điệp trong mơ dường như đến cho công chúng nói chung thì lập tức đáng nghi, vì sự tiếp xúc lành mạnh với người chết không được thiết kế để hoạt động cho người sống theo cách ấy.
4. Fourthly, one is ready for dreams of the dead when he is as ready to give aid to the dead as to receive it. When prayer for a discarnate comes freely and naturally to mind, then visions of them may follow. Any other approach tends to be exploitative.
4. Thứ tư, một người sẵn sàng cho những giấc mơ về người chết khi người ấy sẵn sàng giúp đỡ người chết như khi sẵn sàng tiếp nhận sự giúp đỡ. Khi lời cầu nguyện cho một người vô thân thể đến với tâm trí một cách tự nhiên và dễ dàng, thì thị kiến về họ có thể theo sau. Bất kỳ cách tiếp cận nào khác đều dễ mang tính trục lợi.
5. Fifthly, one is ready for dreams of dead loved ones when he has worked through his griefs and guilts regarding them, and has forgiven them for hurts to himself. Lack of this makes a nearly impenetrable barrier.
5. Thứ năm, một người sẵn sàng cho những giấc mơ về người thân đã mất khi người ấy đã đi xuyên qua nỗi đau buồn và mặc cảm tội lỗi liên quan đến họ, và đã tha thứ cho họ về những tổn thương dành cho mình. Thiếu điều này sẽ là một bức màn hầu như không thể xuyên thủng.
6. Finally, one may dream of the dead when his own full life draws to its natural close, and it is time for him to prepare for the next journey.”
6. Sau cùng, một người có thể mơ về người chết khi chính đời sống trọn vẹn của người ấy đi đến lúc khép lại tự nhiên, và đã đến thời điểm để người ấy chuẩn bị cho hành trình kế tiếp.”