6—
The Dreams of Edgar Cayce—Những Giấc Mơ của Edgar Cayce
Editor’s Note: Having submitted close to one hundred dreams for interpretation, Cayce was himself one of the four people with whom he worked to become “trained dreamers.” He undertook the study of his own dreams shortly after he moved to Virginia Beach because he was told to do so by his own readings. Curiously, Cayce would sometimes dream while he was conducting readings in the trance state. Upon awakening, he recollected the dream but recalled nothing concerning the subject of the reading. Once when he submitted a dream for interpretation, his psychic source refused to provide the information because, it said, Edgar Cayce had ignored the lessons of past dream interpretations and done nothing in his life to make correction or adjustment.
Lời của Ban biên tập: Đã gửi gần một trăm giấc mơ để giải thích, bản thân Cayce là một trong bốn người mà ông làm việc cùng để trở thành “những người mơ được huấn luyện”. Ông bắt đầu học về chính các giấc mơ của mình ngay sau khi dời đến Virginia Beach vì chính các bài đọc của ông bảo ông phải làm vậy. Lạ lùng thay, đôi khi Cayce lại mơ trong khi đang thực hiện các bài đọc trong trạng thái xuất thần. Khi tỉnh dậy, ông nhớ giấc mơ nhưng không nhớ gì về chủ đề của bài đọc. Có lần khi ông gửi một giấc mơ để giải thích, nguồn thông linh của ông từ chối cung cấp thông tin vì, theo lời nguồn ấy, Edgar Cayce đã phớt lờ các bài học của những giải mộng trước đây và không làm gì trong đời sống để sửa đổi hay điều chỉnh.
Background of Reading 294-196
Bối cảnh của Reading 294-19 6
2/14/40 Early A.M. EC dreamed of talking to his mother, and sought interpretation and lesson to be gained from it, in 294-196.
2/14/40 Rạng sáng. EC mơ thấy nói chuyện với mẹ mình, và tìm sự giải thích cùng bài học cần lĩnh hội từ đó, trong 294-196.
Reading 294-196
Reading 294-19 6
GC: You will have before you the body and the enquiring mind of Edgar Cayce, present in this room, and the dream this body had this morning, February 14, 1940, in which he apparently talked with his mother. You will give the interpretation and lesson to be gained from this.
GC: Trước ông là thân thể và tâm trí đang truy vấn của Edgar Cayce, có mặt trong phòng này, và giấc mơ thân thể này có sáng nay, ngày 14 tháng Hai năm 1940, trong đó dường như ông đã nói chuyện với mẹ mình. Ông sẽ đưa ra sự giải thích và bài học cần lĩnh hội từ giấc mơ này.
80
80
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, Edgar Cayce, and the dream or vision in which there was the conversation with the mother respecting that idea or thought which has been presented or expressed through the information given many—the return of individual lives; born or reincarnated.
EC: Vâng, chúng tôi có thân thể, tâm trí đang truy vấn, Edgar Cayce, và giấc mơ hay thị kiến trong đó có cuộc đối thoại với người mẹ liên quan đến ý niệm hay tư tưởng đã được trình bày hay bày tỏ qua các thông tin vốn đã ban cho nhiều người — sự hồi quy của các đời sống cá nhân; sinh ra hay tái sinh.
And, as indicated, this is to be a proof to the entity that there is the fact of the rebirth, physically, of an entity or soul; as the mother will, in the nine months, as indicated, be reborn in the earth—and where and among those near and dear to the entity.
Và, như đã gợi ý, đây sẽ là một bằng chứng cho thực thể rằng có thực tế của sự tái sinh, về mặt thể xác, của một thực thể hay linh hồn; như người mẹ sẽ, trong chín tháng, như đã chỉ ra, được tái sinh nơi trần gian — và ở đâu, giữa những người thân cận và yêu dấu với thực thể.
This, then, is merely the expression that there may be the thought, the study, the meditation upon the many phases or manners in which the Creative Force—God—works in mysterious ways His wonders to perform among the children of men.
Vậy thì, điều này chỉ là sự bày tỏ để có thể có tư tưởng, sự học hỏi, sự tham thiền về các phương diện hay phương thức khác nhau mà Lực Sáng Tạo — Thượng đế — vận hành theo những cách huyền nhiệm để thực hiện các kỳ công của Ngài giữa con cái loài người.
Report of Reading 294-196
Báo cáo về Reading 294-19 6
GD’s note: At time of 294-196 we thought possibly [295]’s expected child was referred to; it was born 11/4/40, a girl, but her Life Reading 2391-1 indicated she had been [4324] in her last incarnation. Interestingly enough, [4324] was a young cousin of EC whom his mother practically brought up; her last name was the same as EC’s mother’s maiden name, and her given name the same as EC’s mother’s middle name. She [4324] had died about the same time as EC’s mother. [10/13/42 See EC’s dream under 294-196 in date sequence, indicating that his mother was still on “the other side” and had not yet been reincarnated.]
Ghi chú của GD: Vào lúc 294-196 chúng tôi đã nghĩ có thể ám chỉ đứa con sắp sinh của [295]; con bé chào đời ngày 11/4/40, là một bé gái, nhưng Life Reading 2391-1 của bé cho thấy bé đã là [4324] trong tiền kiếp trước. Thật thú vị, [4324] là một người em họ nhỏ tuổi của EC mà mẹ ông gần như đã nuôi nấng; họ của cô ấy trùng với họ thời con gái của mẹ EC, và tên gọi cũng trùng với tên đệm của mẹ EC. Cô [4324] mất khoảng cùng thời điểm với mẹ EC. [10/13/42 Xem giấc mơ của EC dưới 294-196 theo trình tự ngày tháng, cho thấy rằng mẹ ông vẫn còn ở “bên kia” và chưa tái sinh.]
Report of Reading 294-196
Báo cáo về Reading 294-19 6
Editor’s Note: The following are uninterpreted dreams that were recorded in this report of Reading 294-196.
Lời của Ban biên tập: Sau đây là các giấc mơ chưa được giải thích được ghi trong báo cáo của Reading 294-19 6.
2/17/42 Between 11:30 P.M. and 12:30 A.M. of 2/18/42, EC dreamed:
2/17/42 Trong khoảng giữa 11:30 tối và 12:30 rạng sáng 2/18/42, EC mơ:
I found myself in the nether land; [world of the dead] recognized it as being along the line I had traveled in going to the house of records to secure Life Readings. Many people I knew were there, both men and women. It seemed as if I had been there for some time. Eventually I met Gertrude and Miss Gladys together. Finally I was able to make myself known to them, and told them we had to go to work; that while this was a place of transition, I was very sure it was also a place of labor. I asked them where they lived. They told me it was along the road. I said, “Well, we’ve got to build us a place to carry on our work, for the places that are here are what we builded while we were in the earth plane; and while everything comes with just thought, we mustn’t just take everything for granted.” They answered, “How will we ever build a house—we haven’t anything to build it with?” I told them we would first have to find somebody that knew how.
Tôi thấy mình ở cõi dưới; [world of the dead] nhận ra rằng nó nằm dọc theo lộ trình tôi đã đi khi đến nhà lưu trữ hồ sơ để lấy các Life Reading. Nhiều người tôi biết ở đó, cả nam và nữ. Có vẻ như tôi đã ở đó được một thời gian. Rốt cục tôi gặp Gertrude và cô Gladys cùng nhau. Cuối cùng tôi có thể cho họ biết tôi là ai, và bảo họ chúng ta phải đi làm việc; rằng dù đây là một nơi chuyển tiếp, tôi rất chắc nó cũng là một nơi lao động. Tôi hỏi họ sống ở đâu. Họ bảo tôi là dọc theo con đường. Tôi nói, “Vậy, chúng ta phải xây cho mình một chỗ để tiếp tục công việc, vì những nơi hiện có ở đây là những gì chúng ta đã xây dựng khi còn ở cõi trần; và dẫu mọi thứ đến chỉ bằng ý nghĩ, chúng ta không được xem mọi thứ là chuyện dĩ nhiên.” Họ đáp, “Làm sao chúng ta có thể xây một căn nhà — chúng ta không có gì để xây cả?” Tôi bảo họ trước hết chúng ta phải tìm ai đó biết cách làm.
As we were going along, in a very beautiful place, we met someone. I said, “Don’t you know who that is?” They each said, “He looks familiar, but I don’t know just who it is.” I said, “Why, that’s Mr. [2051], and he’ll build it for us.” We all three spoke to him, and eventually were able to make it known to him who we were. But when we told him what we wanted to do, he said, “Oh no, I’ve got my house, everything I want— why should we have to go to work?” I told him, “Well, we have to work here just as we do anywhere else. If we are just satisfied and sit down here, we’ll never get up yonder for Who we are seeking. He may pass this way, but we won’t be ready to go anywhere unless we are doing something, and I think we’ve got a lot to tell these people. It’s beautiful, it’s lovely, it’s quiet; and we don’t have to worry about wind or weather or anything to eat, or night or day or anything; because it is whichever one we want—but we must remember that He told us, we must always do everything in decency and in order.” So Mr. [2051] said, “Alright, I know some other fellows here—we’ll build it.” [2/17/42 See 2051-5, Par. R1 in re actual conversation with Mr. [2051] by his daughter on that same night about keeping busy on other side after passing over.] So we went away up the line, this golden line, where it wasn’t quite as beautiful in appearance but was still closer to the house of records. He said “I’d like beautiful pine to build it with,” and the most beautiful lumber was immediately there—so they put it together; just room after room after room. It all appeared to be finished as soon as put up, almost worked itself. He said, “This is a lot more fun than doing nothing.” But he said, “What do you want with so many rooms?” I told him I thought we’d have to carry on the work there. He says, “You going to give Readings here?” I told him maybe I’d have to, because many of those people didn’t know who they were, and we don’t either, because they’ve lost their names. And you notice none of us have the same name we did on earth, yet we know who we are. For we have all the one name—Jesus. He said, “That’s right, I never thought of that. But tell me, have you seen any of these people we expected to see in heaven. Because this is heaven, ain’t it?” I told him I didn’t know but I thought it was on the right road.
Khi chúng tôi đang đi dọc đường, ở một nơi vô cùng tươi đẹp, chúng tôi gặp một người. Tôi nói, “Các bạn không biết đó là ai sao?” Mỗi người đều nói, “Trông quen quen, nhưng tôi không biết đó là ai.” Tôi nói, “Ấy, đó là Ông [2051], và Ông ấy sẽ xây nó cho chúng ta.” Cả ba chúng tôi nói chuyện với Ông, và rốt cuộc cũng có thể cho Ông biết chúng tôi là ai. Nhưng khi chúng tôi nói với Ông điều chúng tôi muốn làm, Ông nói, “Ôi không, tôi có nhà của tôi, mọi thứ tôi muốn—tại sao chúng ta phải đi làm việc?” Tôi nói với Ông, “Chúng ta phải làm việc ở đây cũng như ở bất cứ đâu. Nếu chúng ta chỉ mãn ý và ngồi xuống ở đây, chúng ta sẽ không bao giờ có thể tiến lên phía kia để gặp Đấng mà chúng ta đang tìm kiếm. Ngài có thể đi ngang qua lối này, nhưng chúng ta sẽ chẳng sẵn sàng đi đâu cả trừ khi chúng ta đang làm một điều gì đó, và tôi nghĩ chúng ta có rất nhiều điều để nói với những người này. Nơi đây đẹp, đáng yêu, yên tĩnh; và chúng ta không phải lo gió mưa hay chuyện ăn uống, hay đêm hay ngày hay bất cứ điều gì; vì là điều nào chúng ta muốn cũng được—nhưng chúng ta phải nhớ rằng Ngài bảo chúng ta, chúng ta phải luôn làm mọi sự một cách đoan chính và có trật tự.” Thế là Ông [2051] nói, “Ta biết vài người bạn khác ở đây—chúng ta sẽ xây nó.” [2/17/42 Xem 2051-5, Đoạn R1 liên quan đến cuộc trò chuyện thực tế với Ông [2051] do con gái của Ông vào cùng đêm đó về việc bận rộn ở bên kia sau khi qua đời.] Vậy nên chúng tôi đi xa lên dọc tuyến, con đường vàng này, nơi không đẹp mắt bằng nhưng lại gần với ngôi nhà của các ký lục hơn. Ông nói, “Tôi muốn gỗ thông thật đẹp để xây,” và ngay tức thì gỗ đẹp nhất đã có ở đó—thế là họ ghép lại; hết phòng này đến phòng khác, nối tiếp nhau. Mọi thứ dường như hoàn tất ngay khi dựng lên, hầu như tự nó vận hành. Ông nói, “Thế này vui hơn nhiều so với không làm gì.” Nhưng rồi Ông nói, “Các anh cần nhiều phòng thế để làm gì?” Tôi nói với Ông tôi nghĩ chúng ta sẽ phải tiếp tục công việc ở đó. Ông nói, “Anh định cho Bài đọc ở đây à?” Tôi nói có lẽ tôi sẽ phải làm vậy, vì nhiều người nơi đây không biết họ là ai, và chúng ta cũng không biết, vì họ đã mất tên. Và bạn thấy đó, chẳng ai trong chúng ta còn cùng cái tên như khi ở trần gian, thế mà chúng ta biết mình là ai. Vì tất cả chúng ta đều có một tên duy nhất—Đức Jesus. Ông nói, “Đúng rồi, tôi chưa từng nghĩ đến điều đó. Nhưng nói tôi nghe, anh có thấy những người mà chúng ta trông đợi sẽ gặp trên thiên đàng không. Bởi đây là thiên đàng, phải không?” Tôi nói tôi không biết nhưng tôi nghĩ đây là đúng đường.
So we began to have meetings in the little house. He’d bring in people and we’d meet people and finally get them to come, for the house was so pretty. There were a great many who couldn’t give us any idea of who they were nor what they wanted, and we couldn’t tell who they were.
Vì vậy, chúng tôi bắt đầu nhóm họp trong căn nhà nhỏ. Ông ấy đưa người đến, và chúng tôi gặp gỡ mọi người và cuối cùng khiến họ chịu đến, vì căn nhà quá đẹp. Có rất nhiều người không thể cho chúng tôi chút ý niệm nào về họ là ai hay họ muốn gì, và chúng tôi cũng không thể biết họ là ai.
Then as we four were together one time, we saw Dr. House. I told Gertrude and Miss Gladys, “That’s who we want to help us.” So we tried to talk to him. At first he couldn’t understand what we were trying to tell him, nor could we make ourselves known to him. But eventually, after recalling to him many things that had happened in earth, he began to recognize us and said he would be glad to commence work again, but he didn’t realize people had to work there—that he didn’t know as many people as he had thought he would know. So he began to meet with us, and we kept trying to find out for people who they were, and what they wanted to do!
Rồi có lần bốn chúng tôi ở cùng nhau, chúng tôi thấy Bác sĩ House. Tôi nói với Gertrude và Cô Gladys, “Đó là người chúng ta muốn giúp chúng ta.” Thế là chúng tôi cố gắng nói với Ông. Lúc đầu Ông không hiểu chúng tôi đang cố nói gì, và chúng tôi cũng không thể cho Ông biết chúng tôi là ai. Nhưng cuối cùng, sau khi gợi lại với Ông nhiều điều đã xảy ra ở trần gian, Ông bắt đầu nhận ra chúng tôi và nói Ông sẵn lòng bắt đầu làm việc lại, nhưng Ông không nhận ra là người ta cũng phải làm việc ở đó—rằng Ông không biết nhiều người như Ông nghĩ là Ông sẽ biết. Thế là Ông bắt đầu nhóm họp với chúng tôi, và chúng tôi cứ cố tìm hiểu cho mọi người xem họ là ai, và họ muốn làm gì!
Our crowds kept increasing. Then we met, or saw on the road, Dr. Andrew Sargeant—and he was with his first wife, Lizzie Gish. I was the first to recognize them, told Gertrude—she gradually began to recognize them, and then Dr. House recognized him but said he didn’t know the woman. So we sent Mr. [2051] and some of those with him to ask them to come to one of our meetings. They came, seemed very happy, but did not know why there were attracted to each other. Then I began to tell them who they were. Dr. House then suggested, “To get them to understand, why don’t you give them a Reading?”
Đám đông của chúng tôi cứ tăng lên. Rồi chúng tôi gặp, hay thấy trên đường, Bác sĩ Andrew Sargeant—và Ông đi cùng người vợ đầu, Lizzie Gish. Tôi là người đầu tiên nhận ra họ, nói với Gertrude—Bà dần dần bắt đầu nhận ra họ, rồi Bác sĩ House nhận ra Ông ấy nhưng nói Ông không biết người phụ nữ kia. Vậy nên chúng tôi sai Ông [2051] và vài người đi cùng Ông mời họ đến một buổi nhóm của chúng tôi. Họ đến, có vẻ rất vui, nhưng không biết vì sao họ bị hấp dẫn bởi nhau. Rồi tôi bắt đầu nói cho họ biết họ là ai. Bác sĩ House bèn gợi ý, “Để khiến họ hiểu, sao anh không cho họ một Bài đọc?”
So, for the first time, I laid down and gave a Reading just as I had before, in the earth. All the people gathered about, to listen. Miss Gladys wrote it off on great sheets, it looked like, of cellophane; but as she wrote she realized it was in five different languages—and the English was in the center. There were French and German, Italian and Chinese, and all could read. What was given was regarding personal things they did together in the earth, and they recognized it as such. Their question was, “Why were we attracted to each other here, and what must we do about it?” They were told that why they hadn’t succeeded was because he wanted children and she did not (while in the earth). Now they would have to have a whole lot of children here, and take care of them, but they were to be the children that hadn’t been wanted by parents—or those that had been aborted and there had been sufficient activity for spirit or life to have entered—which they were told occurred at three months.
Thế là, lần đầu, tôi nằm xuống và cho một Bài đọc giống như trước đây, ở trần gian. Tất cả mọi người tụ tập chung quanh để lắng nghe. Cô Gladys chép lại trên những tờ lớn, trông như giấy bóng kính; nhưng khi cô ấy viết, cô nhận ra nó bằng năm thứ tiếng—và tiếng Anh ở giữa. Có tiếng Pháp và tiếng Đức, tiếng Ý và tiếng Hoa, và ai cũng có thể đọc. Điều được đưa ra là về những chuyện riêng tư họ đã cùng làm ở trần gian, và họ công nhận đúng là như thế. Câu hỏi của họ là, “Vì sao chúng tôi bị hấp dẫn bởi nhau ở đây, và chúng tôi phải làm gì về chuyện đó?” Họ được cho biết rằng vì sao họ đã không thành công là bởi vì Ông muốn có con còn Bà thì không (khi còn ở trần gian). Bây giờ họ sẽ phải có thật nhiều con ở đây, và chăm sóc chúng, nhưng chúng sẽ là những đứa trẻ không được cha mẹ mong muốn—hoặc những đứa đã bị phá thai và đã có đủ hoạt động để tinh thần hay sự sống nhập vào—mà họ được cho biết là xảy ra ở ba tháng.
The house began to grow as they filled the rooms with children. The crowds also began to grow, people also wanting to know who they were. Dr. and Mrs. Sargeant began to keep records of WHO these children were that they took in, and kept them in great files which were light—written in five languages that could be seen as people passed.
Căn nhà bắt đầu lớn lên khi họ lấp đầy các phòng bằng trẻ nhỏ. Đám đông cũng bắt đầu lớn lên, người ta cũng muốn biết họ là ai. Bác sĩ và Bà Sargeant bắt đầu lưu giữ hồ sơ về AI những đứa trẻ này là, những đứa mà họ nhận vào, và giữ chúng trong những hồ sơ lớn bằng ánh sáng—được chép bằng năm thứ tiếng, ai đi ngang đều có thể thấy.
I began to wonder how conditions could be improved. And I thought, “What they need in order to know things better is water—water of life, for He said we were to be born of water and of blood.” Then I realized there was no bathroom. So I spoke to Mr. [2051] and Dr. House and all the rest, and told them what we were going to do—we were going to ask for the water of life, and we would ask in a Reading whether or not we might have it. As they gathered, Miss Lizzie Gish (Mrs. Sargeant) said, “Now I know what was meant at the meeting when the Lord told you, Mr. Cayce, to ‘Teach my people!” [1/13/40 See EC’s dream under 294-189 Reports.]
Tôi bắt đầu tự hỏi làm sao có thể cải thiện các điều kiện. Và tôi nghĩ, “Điều họ cần để biết rõ hơn là nước—nước sự sống, vì Ngài nói chúng ta phải được sinh bởi nước và bởi huyết.” Rồi tôi nhận ra là không có phòng tắm. Vậy nên tôi nói với Ông [2051] và Bác sĩ House cùng mọi người, và nói với họ điều chúng ta sẽ làm—chúng ta sẽ xin nước sự sống, và chúng ta sẽ hỏi trong một Bài đọc xem có thể có nó hay không. Khi mọi người tụ lại, Cô Lizzie Gish (Bà Sargeant) nói, “Bây giờ tôi biết điều đã được nói ở buổi nhóm là gì, khi Chúa bảo ông, Ông Cayce, ‘Hãy dạy dân Ta!’” [1/13/40 Xem giấc mơ của EC trong Báo cáo 294-189.]
That’s where I woke up....
Đó là chỗ tôi tỉnh dậy....
(Left out—right at the end: Dr. House wanted to know “If Dr. Sargeant working out his failure on earth, now, with his first wife, what must happen to the other two wives he had there?:” So we took a Reading and it said, “They must go back to the earth together, work this out, and then when he meets one of the others and finds out who they are, he’ll have to keep the whole thing going in a circle until they have obtained the knowledge—he’ll have to work it out with each one.”)
(Bị bỏ qua—ngay đoạn cuối: Bác sĩ House muốn biết “Nếu Bác sĩ Sargeant đang giải quyết thất bại của mình ở trần gian, bây giờ, với người vợ đầu, thì chuyện gì phải xảy ra với hai người vợ khác mà Ông ấy đã có ở đó?” Thế nên chúng tôi thực hiện một Bài đọc và nó nói, “Họ phải cùng nhau quay lại trần gian, giải quyết điều này, rồi khi Ông gặp một trong hai người kia và biết họ là ai, Ông sẽ phải giữ cho cả vòng xoay tiếp diễn cho đến khi họ đạt được tri thức—Ông sẽ phải giải quyết với từng người một.”)
12/12/42 P.M. or early Sun A.M. 12/13/42 Edgar Cayce dreamed: “I was sitting alone in the front room playing solitaire when there was a knock at the front door. It was dark outside but rather early in the evening. When I went to the door a gentleman whom I did not recognize asked, ‘Cayce, I want you to go with me to a meeting this evening.’ At first I said ‘But I seldom go out of evening and my wife is here and it would leave her alone.’ But he insisted I should go with him and I did. As I went out I realized that another person was waiting for us in the street. We walked toward the ocean, but when we came to the ocean we walked on as if into the air, up and up, until we came to where there seemed to be a large circus tent. He said ‘We will go in here.’ We approached the flap of the tent and as he pulled the flap back, I for the first time, realized that the two men with whom I had been walking were the evangelists Dwight L. Moody and Sam Jones. We entered a large, circular tent; a very unusual kind of light pervaded the place, something like an opalescent light. Many figures were there. All seemed to be shrouded, all dressed alike. Very few I remembered ever having seen before. Then to one side of the place—as more and more figures appeared, until it was full—it seemed that there was a large screen on that side, and as if there was lightening in the distance. With the lightning there was a noise, not of thunder but of wind, yet nothing seemed to stir; and there was no form with the brilliant flashes but as if a cloud, very beautiful. When I asked one of my companions what it was, I was told ‘The Lord our God will speak to us.’
12/12/42 buổi tối hoặc rạng sáng CN 12/13/42, Edgar Cayce mơ: “Tôi đang ngồi một mình trong phòng trước chơi bài solitaire thì có tiếng gõ cửa trước. Bên ngoài trời tối nhưng khá sớm trong buổi tối. Khi tôi ra cửa, một quý ông mà tôi không nhận ra hỏi, ‘Cayce, tối nay tôi muốn anh đi cùng tôi đến một buổi nhóm.’ Lúc đầu tôi nói, ‘Nhưng tôi hiếm khi ra ngoài buổi tối và vợ tôi đang ở nhà, như vậy sẽ để Bà ấy một mình.’ Nhưng Ông ấy nài rằng tôi nên đi cùng Ông và tôi đã đi. Khi tôi ra ngoài tôi nhận ra có một người nữa đang chờ chúng tôi trên đường. Chúng tôi đi về phía biển, nhưng khi đến biển chúng tôi cứ đi tiếp như vào trong không trung, lên và lên, cho đến khi đến nơi dường như có một lều rạp xiếc lớn. Ông ấy nói, ‘Chúng ta sẽ vào đây.’ Chúng tôi tiến đến mép lều và khi Ông vén mép lều lên, lần đầu tiên tôi nhận ra rằng hai người đàn ông mà tôi đã cùng đi là các nhà truyền giảng Dwight L. Moody và Sam Jones. Chúng tôi bước vào một lều tròn lớn; một thứ ánh sáng rất lạ bao trùm nơi đó, như ánh xà cừ. Nhiều hình bóng ở đó. Tất cả dường như được phủ khăn, ăn mặc giống nhau. Rất ít người tôi nhớ đã từng gặp. Rồi ở một bên nơi đó—khi nhiều hình bóng xuất hiện hơn, cho đến khi đầy—dường như có một màn hình lớn ở bên ấy, và như thể có chớp ở đằng xa. Với tia chớp có một âm thanh, không phải sấm mà như gió, thế nhưng chẳng có gì dường như lay động; và không có hình tướng nào trong những lóe sáng rực rỡ ấy mà như một đám mây, rất đẹp. Khi tôi hỏi một trong những người bạn đồng hành đó là gì, tôi được bảo, ‘Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ phán với chúng ta.’
“Then a voice clear and strong came as from out of the cloud and the lightning, saying, ‘Who will warn my children?’ Then from out of the throng before the throne came the Master, but as if in the same garb of those about Him. He spoke saying, ‘I will warn My brethren.’ The answer came back, ‘No, the time is not yet fulfilled for you to return, but who shall warn My children?’ Then Mr. Moody spoke and said, ‘Why not send Cayce, he is there now.’
“Rồi một tiếng nói trong trẻo và mạnh mẽ vang lên như từ trong đám mây và chớp, nói rằng, ‘Ai sẽ cảnh tỉnh các con Ta?’ Rồi từ giữa đám đông trước ngai tiến ra Đức Thầy, nhưng như mặc cùng y phục với những người quanh Ngài. Ngài phán rằng, ‘Ta sẽ cảnh tỉnh các huynh đệ của Ta.’ Câu trả lời vang lại, ‘Chưa, thời kỳ để Ngài trở lại chưa viên mãn, nhưng ai sẽ cảnh tỉnh con cái Ta?’ Rồi Ông Moody lên tiếng nói, ‘Sao không sai Cayce, anh ta đang ở đó bây giờ.’
Then the Master said, ‘Father, Cayce will warn My brethren.’ ‘And we will all help,’ came as a grand chorus.”
Rồi Đức Thầy nói, ‘Thưa Cha, Cayce sẽ cảnh tỉnh các huynh đệ của Con.’ ‘Và tất cả chúng ta sẽ trợ giúp,’ vang lên như một đại hợp xướng.”
7/10/43 EC wrote Mrs. [3361] that he had recently had the same 12/12/42 dream again, or parts of it. “With it has come strength, when seemingly I have not had the strength to go on. Am still a bit dazed, each time the assurance comes, and fearful—like so many of those who have been blessed by His presence and have turned good into selfish purposes and made their people to sin and to forget God.
7/10/43 EC viết cho Bà [3361] rằng Ông gần đây lại có cùng giấc mơ 12/12/42, hoặc một phần của nó. “Kèm theo đó là sức mạnh, khi dường như tôi không còn sức để tiếp tục. Mỗi lần sự quả quyết ấy đến, tôi vẫn còn hơi choáng, và sợ hãi—giống như bao người đã được chúc phúc bởi Sự Hiện Diện của Ngài và rồi biến điều thiện thành tư lợi khiến dân mình phạm tội và quên Thượng đế.
“Of course I believe in dreams, as so many of those did of old who were called to do some great work—so why shouldn’t I? I believe in the God that called Abraham, that spoke to Moses, Joshua, Samuel, David and the God to whom our precious Savior prayed, whom He boldly called ‘My Father and your Father.’ So what has come to me recently, then, is only an assurance, not something for me to boast of. It is up to me to rely on, and myself live, the life of the Savior.
“Dĩ nhiên tôi tin vào giấc mơ, như bao người xưa đã được gọi để làm một công việc lớn—vậy tại sao tôi lại không tin? Tôi tin vào Thượng đế Đấng đã gọi Abraham, đã phán với Moses, Joshua, Samuel, David và Thượng đế mà Đấng Cứu Rỗi chí ái của chúng ta đã cầu nguyện, Đấng mà Ngài đã mạnh dạn gọi là ‘Cha của Ta và Cha của các con.’ Vậy nên điều vừa đến với tôi gần đây chỉ là một sự quả quyết, không phải điều để tôi khoe khoang. Trách nhiệm là ở tôi, nương cậy và tự mình sống đời sống của Đấng Cứu Rỗi.
“So, pray with me and for me that I may walk only in the straight and narrow way and present nothing, ever, that Jesus, the Christ, would not sanction at all times.
“Vậy, xin cầu nguyện cùng tôi và cho tôi để tôi chỉ bước đi trong con đường thẳng và hẹp và không bao giờ trình bày điều gì mà Đức Jesus, Đấng Christ, lại không chấp thuận trong mọi thời điểm.
“Please consider this as sacred as I do, not something to be told to give the impression that I feel I have been called of God above others, or that I have some peculiar hold on the promises of God. For I am sure that all are equal in His sight.”
“Xin hãy xem điều này thiêng liêng như tôi xem, không phải điều để kể ra nhằm tạo ấn tượng rằng tôi cảm thấy mình được Thượng đế kêu gọi hơn người khác, hay rằng tôi có một sự nắm giữ đặc biệt nào đó đối với các lời hứa của Thượng đế. Vì tôi tin chắc rằng mọi người đều bình đẳng trước mắt Ngài.”
GD’s note: In one version of the dream EC made the excuse that he couldn’t go because he hadn’t finished preparing his Sunday School lesson for the next morning.
Ghi chú của GD: Trong một phiên bản của giấc mơ, EC viện cớ rằng Ông không thể đi vì chưa chuẩn bị xong bài học Trường Chúa nhật cho sáng hôm sau.
In another version the ending was like was this:
Trong một phiên bản khác, đoạn kết như sau:
“The voice again asked, ‘Who will warn my people?’ Then I boldly volunteered, as if I was ready for acceptable. From out of the throng came the Master, Jesus. He blessed me and said, ‘I will go with you all the way.’
“Tiếng nói lại hỏi, ‘Ai sẽ cảnh tỉnh dân Ta?’ Rồi tôi đường đột xung phong, như thể tôi đã sẵn sàng và được chấp nhận. Từ giữa đám đông tiến ra Đức Thầy, Đức Jesus. Ngài ban phúc cho tôi và nói, ‘Ta sẽ đi với con trọn đường.’
“Unreal, self-delusionary, you might say. But it has given me a strength, a meekness and, I hope, a kindness that did not exist before.
“Bạn có thể nói đó là hư ảo, tự lừa dối. Nhưng nó đã cho tôi một sức mạnh, một sự hiền nhu và, tôi hy vọng, một lòng nhân hậu mà trước đây chưa hề có.
“No, this is not to be made a religion, a schism or a cult—never! Such experiences are only assurances for myself, not to be told to bring other than the assurance that God is mindful of the children of men.”
“Không, điều này không phải để làm thành một tôn giáo, một giáo phái hay một tà phái—không bao giờ! Những kinh nghiệm như thế chỉ là sự quả quyết cho riêng tôi, không phải để kể ra nhằm mang đến điều gì khác ngoài sự bảo đảm rằng Thượng đế luôn lưu tâm đến con cái loài người.”
Reading 294-161
Bài đọc 294-16 1
(Q) GC: First, Tues. Morn, Sept. 19th—a copy of which I hold in my hand. [Dream not read]: I saw myself not as a physical being, but knew that
(Hỏi) GC: Trước hết, sáng thứ Ba, 19 tháng 9—một bản sao mà tôi đang cầm trên tay. [Dream not read]: Tôi thấy mình không phải là một hữu thể thể xác, nhưng biết rằng
I was part of the whole order of things. Yet, I was only a little snail crawling around on the ground, and recognized that there were many others that were snails also that would eventually be human beings. There were many human beings I didn’t know, but I knew they were just occupying different bodies at that time.
tôi là một phần của toàn trật tự của vạn hữu. Tuy vậy, tôi chỉ là một con ốc sên nhỏ đang bò trên mặt đất, và tôi nhận ra có nhiều kẻ khác cũng là ốc sên rồi sau rốt sẽ trở thành con người. Có nhiều con người tôi không biết, nhưng tôi biết họ chỉ đang cư ngụ những thân thể khác nhau vào lúc đó.
Then I saw myself (as the snail) eaten by something else that I had been taught to fear or to expect to be destroyed by.
Rồi tôi thấy mình (là ốc sên) bị một thứ gì đó ăn mất, thứ mà tôi đã được dạy phải sợ hoặc mong đợi sẽ bị tiêu diệt bởi nó.
Then I saw myself as a physical human being, with many human beings who had been snails with me; and many of those who had been human beings were now snails.
Rồi tôi thấy mình là một con người thể xác, cùng với nhiều con người đã từng là ốc sên với tôi; và nhiều người trong số những kẻ đã từng là con người giờ lại là ốc sên.
I saw myself, as a human being, pass out of the physical body with a fever brought on by eating something which had been infested by the larva of the snail.
Tôi thấy mình, là một con người, lìa khỏi thể xác vì một cơn sốt gây ra do ăn phải thứ đã bị ấu trùng ốc sên nhiễm.
Next I recognized myself as a fish swimming in the ocean. There were ships and boats sailing over me. I was able then to communicate with other fish that were of the same variety as myself. Here I saw only very few of the people with whom I had been associated as a physical body. I saw many of my own kind caught in nets, and hooks that were used by men. Finally I saw myself caught in a net, after following several other fish of my kind. We were taken in an enormous net. I saw myself prepared for food, and gradually lost consciousness.
Tiếp đó tôi nhận ra mình là một con cá bơi trong đại dương. Có tàu thuyền đang đi trên đầu tôi. Lúc đó tôi có thể giao tiếp với những con cá khác cùng loài với tôi. Ở đây tôi chỉ thấy rất ít người từng gắn bó với tôi khi còn là một thân thể thể xác. Tôi thấy nhiều đồng loại của tôi bị mắc vào lưới, và những lưỡi câu do con người dùng. Rốt cuộc tôi thấy mình bị sa lưới, sau khi theo vài con cá khác cùng loài. Chúng tôi bị bắt trong một tấm lưới khổng lồ. Tôi thấy mình bị chuẩn bị làm thức ăn, và dần dần mất ý thức.
Again I became a physical being, and associated with many more individuals with whom I had been associated as human beings before. Very few of these people had been with me as a fish. I had to do with a lot of cattle, and came to know that I was among those looked after by David, the king of Israel; though he was a shepherd and not a herdsman. I saw him quite often looking after his sheep; and I was changing into a cow, how I didn’t know; I merely recognized that I was a cow. Later I had the experience of knowing the feelings of the mother-cow, as I was a mother myself and had a little calf. The calf was scared by the dog that David had with him tending the sheep, which disturbed me (as a cow) very much. I saw him save the calf and bring it back to me for me to take care of, and every time I saw the dog I was enraged at it for trying to harm the calf.
Một lần nữa tôi trở thành một hữu thể thể xác, và giao du với nhiều người hơn, những người mà trước đó tôi đã từng cùng là con người. Rất ít người trong số này đã từng là cá với tôi. Tôi có việc phải làm với rất nhiều gia súc, và nhận ra rằng tôi ở giữa những kẻ do David, vua Israel trông coi; tuy Ông là người chăn chiên chứ không phải người chăn bò. Tôi thường thấy Ông chăm sóc đàn chiên; và tôi đang chuyển thành một con bò, làm sao thì tôi không biết; tôi chỉ nhận ra rằng tôi là một con bò. Sau đó tôi trải nghiệm cảm xúc của bò mẹ, vì chính tôi là mẹ và có một bê con. Bê con bị con chó mà David có cùng khi chăn chiên làm cho sợ, điều đó khiến tôi (với tư cách là bò) rất bối rối. Tôi thấy Ông cứu bê con và đem nó về cho tôi chăm, và mỗi lần tôi thấy con chó tôi đều giận dữ với nó vì đã tìm cách hại bê con.
Then I realized I was a dog; didn’t know I had died or changed from a cow; but I was a dog and tending the sheep. Then I realized the difference between the dog and the feeling of distrust the dog has for the cows generally, and I saw many cows that had been people I had known. I seemed to be a very good dog, for I was eventually taken to be in the circus, where I saw many people I had known before as snails, fish, cows and human beings; and I felt the elation of being thought of as a very remarkable and wonderful dog. I had a great desire to make known to all the people my own experience, but could only talk in the dog language. With the number of animals associated in the circus, I recognized the feeling that exists between the cat family and the dog family. Then, in performing one of my acts, in which I had to go through a hoop, I broke my leg; as someone—not intentionally—had misplaced the platform from which I was to jump through a ring (the ring being formed from a grape vine, as the circus was a long time ago and not anything like what we have today). So, I remember very distinctly the man taking a sword (more like a spear) and sticking it through my side, into my heart, to put me out of my misery; which I thanked him for doing.
Rồi tôi nhận ra mình là một con chó; không biết mình đã chết hay đổi từ bò sang; nhưng tôi là con chó và đang trông coi đàn chiên. Rồi tôi nhận ra sự khác biệt giữa con chó và cảm giác bất tín của con chó đối với bò nói chung, và tôi thấy nhiều con bò từng là những người tôi đã biết. Tôi dường như là một con chó rất giỏi, vì cuối cùng tôi được đưa đi diễn xiếc, nơi tôi thấy nhiều người tôi đã biết trước đó là ốc sên, cá, bò và con người; và tôi cảm thấy hân hoan vì được coi là một con chó rất xuất chúng và kỳ diệu. Tôi có một khát vọng lớn muốn cho tất cả mọi người biết về kinh nghiệm của chính mình, nhưng chỉ có thể nói bằng ngôn ngữ của chó. Với số lượng thú vật trong gánh xiếc, tôi nhận ra cảm thức tồn tại giữa họ nhà mèo và họ nhà chó. Rồi, trong khi biểu diễn một tiết mục—trong đó tôi phải chui qua một vòng—tôi bị gãy chân; vì ai đó—không cố ý—đã đặt sai vị trí cái bục mà từ đó tôi phải nhảy qua vòng (vòng được làm từ dây nho, vì gánh xiếc diễn ra đã rất lâu về trước và không giống gì với những gì chúng ta có ngày nay). Thế là, tôi nhớ rất rõ người đàn ông lấy một thanh gươm (giống giáo hơn) và đâm xuyên qua sườn tôi, vào tim tôi, để giải thoát tôi khỏi đau đớn; điều mà tôi cảm ơn Ông đã làm.
Again I was a man, and among those guarding the gates in Rome. [Greece? See 294-8 & 294-19 in re Troy] I saw all the fighting, being a guard at the gate. My attendant on the other side of the gate (as the gate opened from the center) I recognized as the one I now know as [5453], but he was much bigger physically than I. I wore a garment that would be called something of a toga today. My trousers were composed of a cloth wrapped around me, gathered and pinned in the middle between my legs. Then another square piece of cloth with a hole for my head dropped over my shoulders. I made armholes in this piece, so that my arms could come through and not have to throw the garment out of the way; which method was afterward adopted by most of the army (or the people, for I didn’t recognize them as an army). I saw the battle between Hector and Achilles, recognizing these two as the individuals I now know as [5717] and [900]. They were both beautiful of countenance. Both had matted black ringlets on their heads, which reminded me of Medusa. The hair seemed to be their strength. I noticed that Achilles was very hairy, while Hector only had hair on his neck—which was a different color from the hair on his head. I saw Hector dragged through the gate which I was guarding, into a large arena; and was dragged around the arena several times. Although he was losing, and had lost, quite a bit of blood—leaving the ground and stones bloody as he was dragged along, I noticed that he hadn’t wholly lost consciousness. Eventually, the horses—in turning very swiftly, with Achilles driving—caused Hector’s head to be dashed against the pillar or the gate near me, and his brains ran out. Before he had even lost the life, or the quiver of the muscles and nerves, I saw the carrion birds eat the great portions of his brain.
Một lần nữa tôi là đàn ông, và ở giữa những người gác cổng tại La Mã. [Hy Lạp? Xem 294-8 & 294-19 liên quan đến Troy] Tôi thấy hết các cảnh giao tranh, là lính gác ở cổng. Người trợ thủ của tôi ở phía bên kia cánh cổng (vì cổng mở từ trung tâm) tôi nhận ra là người mà nay tôi biết là [5453], nhưng Ông ấy lực lưỡng hơn tôi nhiều. Tôi mặc một loại áo choàng cổ kiểu La Mã. Quần của tôi là một tấm vải quấn quanh người, chụm và ghim ở giữa hai chân. Rồi một tấm vuông khác có lỗ cho đầu chụp lên vai tôi. Tôi xẻ lỗ tay trên tấm này, để tay tôi có thể thò ra mà không phải vén áo; và sau này cách đó được phần lớn đạo quân (hay dân chúng, vì tôi không nhận ra họ là một đạo quân) áp dụng. Tôi thấy trận giao tranh giữa Hector và Achilles, nhận ra hai người ấy là những cá nhân mà nay tôi biết là [5717] và [900]. Cả hai đều rất tuấn tú. Cả hai có những lọn tóc đen quăn rối trên đầu, khiến tôi nhớ đến Medusa. Tóc dường như là sức mạnh của họ. Tôi để ý Achilles rất nhiều lông, còn Hector chỉ có lông ở cổ—và màu sắc khác với tóc trên đầu. Tôi thấy Hector bị kéo qua cổng mà tôi đang canh, vào một đấu trường lớn; và bị kéo vòng quanh đấu trường vài lần. Dù Ông ấy đang mất, và đã mất, khá nhiều máu—để lại đất và đá loang máu khi bị kéo lê, tôi nhận ra Ông ấy chưa hoàn toàn mất ý thức. Cuối cùng, khi bọn ngựa—quay gấp, với Achilles cầm cương—làm cho đầu của Hector đập mạnh vào cột hay cổng gần tôi, óc của Ông văng ra. Trước khi Ông mất hoàn toàn sinh mệnh, hay khi cơ bắp và thần kinh tắt giật, tôi thấy chim ăn xác rỉa những phần lớn óc của Ông.
Again I passed out, for some reason, and was in the unseen world (from the physical manifestations). I was seeking some way or manner in which I might come back into physical being, and seeking to find others. There were many souls near me who had been in physical bodies, yet very few that I recognized. Finally I did meet someone I had known before, so we decided to come to a mother bird—and we were hatched out by a little jenny wren, as tiny little birds. Then, after we grew up, near the same place where we were hatched out, we built a nest and had a brood of six little birds; then an old cat got them. We were very much distressed, and swore vengeance on the whole cat family.
Lần nữa tôi lìa đi, vì lý do nào đó, và đang ở thế giới vô hình (so với các biểu hiện hồng trần). Tôi đang tìm một cách hay phương tiện để trở lại thể xác, và tìm kiếm những người khác. Có nhiều linh hồn ở gần tôi từng ở trong thân thể xác, vậy mà rất ít người tôi nhận ra. Rốt cuộc tôi gặp ai đó tôi đã biết trước đây, vậy là chúng tôi quyết định đến với một mẹ chim—và chúng tôi được một con hồng tước nhỏ ấp nở, như những chú chim tí hon. Rồi, sau khi chúng tôi lớn lên, gần nơi chúng tôi được nở ra, chúng tôi xây tổ và có một lứa sáu chim non; rồi một con mèo già bắt hết. Chúng tôi rất đau lòng, và thề trả thù cả họ nhà mèo.
Then I recognized that I was again manifesting in the material world as a man, very anxious to find the one who had been with me as a little bird the time before. It seemed the time of Columbus’ discovering of America, because I was among the people in the land when Columbus came; then I met the individual among the people with Columbus who had been with me as a bird. We were anxious to make a trip on the boat with the people who had come ashore, because we seemed to be the only ones who could talk with them. But we were not allowed to. Then we attempted to get back to the mainland, from the island. A storm came up, and we were drowned.
Rồi tôi nhận ra mình lại biểu hiện trong thế giới vật chất như một người đàn ông, rất nóng lòng tìm người đã cùng tôi là một chú chim nhỏ lần trước. Có vẻ như vào thời Columbus khám phá châu Mỹ, vì tôi ở giữa dân chúng trên đất khi Columbus đến; rồi tôi gặp người trong đoàn của Columbus vốn đã cùng tôi là một chú chim. Chúng tôi nóng lòng muốn được đi chuyến tàu cùng những người đã lên bờ, vì dường như chúng tôi là những người duy nhất có thể nói chuyện với họ. Nhưng chúng tôi không được phép. Rồi chúng tôi cố quay về đất liền, từ hòn đảo. Một cơn bão nổi lên, và chúng tôi bị đắm.
Next I came into the earth as a man, still in America, at the time of the Civil War. I knew there was a war going on between the north and south country, and that I was in or about the place where I was born in the present. I noticed the home where I was born this time, and the changes—there were more woods then. There were many more people associated with me here that I had known as snails, fish, cows, cats, dogs and sheep—and they were all about me. I started off to see one of the armies where many soldiers were gathered, to find someone I had known before in the various manifestations. Someone told me I had better watch the dogs, cats, and cows that I would meet on the road over which I would go. In going through the great woods I met some of all these, and I could talk in their own language; and I recognized them as being individuals whom I know today. Here I awoke.
Kế đó tôi vào đời làm đàn ông, vẫn ở châu Mỹ, vào thời Nội chiến. Tôi biết có một cuộc chiến giữa miền bắc và miền nam, và tôi đang ở quanh nơi tôi sinh ra trong hiện đời. Tôi để ý căn nhà nơi tôi sinh ra lần này, và những đổi thay—lúc ấy cây cối nhiều hơn. Có rất nhiều người ở cùng tôi nơi đây mà tôi từng biết là ốc sên, cá, bò, mèo, chó và chiên—và họ ở quanh tôi. Tôi khởi hành đi xem một trong hai đạo quân nơi nhiều binh sĩ tụ lại, để tìm ai đó tôi đã biết trước trong các lần biểu hiện. Ai đó bảo tôi nên coi chừng những con chó, mèo và bò mà tôi sẽ gặp trên con đường tôi đi. Khi đi qua khu rừng lớn tôi gặp vài con thuộc tất cả các loài ấy, và tôi có thể nói bằng ngôn ngữ của chúng; và tôi nhận ra chúng là những cá nhân mà tôi biết ngày nay. Tại đây tôi tỉnh dậy.
(A) EC: Yes, we have the enquiring mind, EC, present in this room, and the dream experience by this body.
(Đáp) EC: Vâng, chúng ta có thể trí truy vấn, EC, hiện diện trong phòng này, và kinh nghiệm giấc mơ của thân này.
Dreams, as indicated, are of different natures; or have their inception from varied causes. In this particular experience or vision may be seen the entity-mind, or soul-mind, seeking—through the varied experiences of the entity—for the kindred thought, that is presented in the emblematical manner of the soul-entity contacting that as is seen of the one force which manifests itself in a material world; and brings—with the activity of that force—an emblematical condition of the mental attributes of a soul.
Như đã chỉ ra, giấc mơ có bản tánh khác nhau; hay khởi phát từ những nguyên nhân đa dạng. Trong kinh nghiệm hay thị kiến đặc biệt này có thể thấy tâm trí của thực thể, hay tâm thức linh hồn, đang tìm—thông qua những kinh nghiệm muôn mặt của thực thể—tư tưởng đồng loại, được trình hiện bằng hình thức biểu tượng của linh hồn-tiểu ngã tiếp xúc với điều được thấy như là một lực duy nhất tự biểu hiện trong thế giới hồng trần; và mang theo—với hoạt động của lực ấy—một tình trạng biểu tượng của những thuộc tính tinh thần của linh hồn.
Hence, in the varied development experienced by the body, there may be seen all forms or characterizations of the result of an influence upon that force that is termed or designated by man as being of one force, or one source, from which all manifested forms may take their activity, as in the relationships of that known as the first law in nature— which is, in an earthly manner, at variance with spiritual law; yet, as experienced by the varied scenes of man’s associations with the activities, the result depends upon what the soul of man does about that it (the soul) knows concerning the laws, or the application of laws, of or toward the first cause; or as to the purposes for which that activity comes into being, and the activity’s relative position to man’s becoming aware of the spiritual force in a material world.
Vì vậy, qua những phát triển đa dạng mà thân trải nghiệm, có thể thấy mọi dạng hay mọi kiểu đặc trưng của kết quả do một ảnh hưởng tác động lên lực ấy—mà con người gọi hay định danh là từ một lực, hay một nguồn, từ đó mọi hình tướng biểu hiện có thể khởi hoạt, như trong các quan hệ của điều được biết đến là định luật tiên khởi trong thiên nhiên—vốn, theo cách thế gian, đối nghịch với định luật tinh thần; tuy nhiên, như được trải nghiệm qua những cảnh huống muôn mặt trong các liên hệ của con người với các hoạt động, kết quả tùy thuộc vào việc linh hồn con người làm gì về điều nó (linh hồn) biết liên quan đến các định luật, hay việc áp dụng các định luật, của hay hướng về đệ nhất nhân; hay tùy vào các mục đích vì đó hoạt động ấy đi vào hiện hữu, và vị thế tương đối của hoạt động ấy đối với sự kiện con người trở nên tự tri về lực tinh thần trong một thế giới vật chất.
Hence, the lesson or the application, is that: The soul of the entity is seeking, through such, to find—as it were—the manners of presenting that which may become Truth, Knowledge, Intellect, or the impulse or impelling influence in the experiences of those who may receive instruction or direction through those channels of associations in the material plane in the present.
Vậy nên, bài học hay ứng dụng là: Linh hồn của thực thể đang tìm, qua đó, để tìm—như thể—những phương cách trình bày điều có thể trở thành Chân Lý, Tri Thức, Trí Tuệ, hay xung lực hay ảnh hưởng thúc đẩy trong các kinh nghiệm của những ai có thể tiếp nhận giáo huấn hay chỉ dẫn qua các kênh liên hệ trong cõi vật chất vào hiện tại.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Should this be presented in any literature?
(Hỏi) Điều này có nên được trình bày trong bất kỳ tài liệu nào không?
(A) This is for the entity’s or soul, or body’s, own interpretation and enlightenment.
(Đáp) Điều này dành cho sự diễn giải và soi sáng của chính đương sự—linh hồn hay thân xác—mà thôi.
For, as seen in the manner in which certain associations were sought, and the environment in which the activity of a soul force sought to know the associations and the understanding of the impelling influence in that termed Nature, or elements, or Life in its manifested varied forms; from the lowest to the highest; and the paralleling of many in the various aspects, as well as seeking out those associations for the relationships that brought the understanding of those propagations in the material activities of an earth’s sphere or plane.
Vì, như thấy trong cách thức những liên hệ nhất định đã được tìm kiếm, và môi trường trong đó hoạt động của một lực linh hồn tìm biết những liên hệ và sự thấu hiểu ảnh hưởng thúc đẩy trong điều được gọi là Tự nhiên, hay các nguyên tố, hay Sự sống trong những hình tướng biểu hiện đa tạp của nó; từ thấp nhất đến cao nhất; và sự đối chiếu của nhiều điều trong các phương diện khác nhau, cũng như việc tìm kiếm những liên hệ để mang lại sự thấu hiểu về những sự sinh sôi trong các hoạt động vật chất của một địa cầu hay cõi phàm.
Report of Reading 294-161
Tường thuật về Bài đọc 294-16 1
Editor’s Note: The following is an uninterpreted dream that was recorded in this report of Reading 294-161.
Ghi chú của Biên tập viên: Sau đây là một giấc mơ chưa được giải thích, được ghi trong bản tường thuật về Bài đọc 294-16 1.
2/16/34 Friday a.m. after 2:00 o’clock, Edgar Cayce had the following dream: [5/24/39 EC wrote a version of this dream to Mrs. [1468].]
2/16/34 Sáng thứ Sáu sau 2:00 giờ, Edgar Cayce có giấc mơ sau: [5/24/39 EC đã viết một phiên bản của giấc mơ này gửi cho Bà [1468].]
I was on my way to a camp; had a strap over my shoulder with a little case which reminded me of a case for spy glasses, but I knew I had a message in it that I was to carry to whoever was the commander of the army where I was going. It was rough climbing over the mountain. I came down to the camp very early in the morning; it was just getting light. As I came down into the little ravine I knew there was a stream of water not wider than a person could step over, but I saw a host of men dressed in white; white shoes, trousers, coat and helmet; they each had two straps over their shoulders, one a large canteen-looking container, and they were in groups of four, where they had a fire with a little skillet of some kind over the fire. They made the fire from something they poured out of the canteen; it looked like sawdust, but it was red, green, and brown and might have been ground cork or sawdust. Out of the other can they poured something into the pan, and when they stirred it together it looked like an omelette, or just something good to eat, but I didn’t know what it was. I saw no arms, guns, swords or anything of the kind, yet I knew it was an army. I didn’t know anyone, but all up and down the ravine I could see the people preparing their breakfast in groups of four. And I asked them where the man in charge was. His tent was farther up or down the ravine. I could see a great white tent in the distance. One here and there joined in showing me the way to go. After a while I came to a place where, over to the right, there was another little ravine that turned off to the right. And as we got just opposite this (myself, and those that had come following me), we heard from out in the darkness someone walking on the sticks; we could hear the sticks break, and we stopped to listen. There appeared a host of people dressed in dark; not dark skin, but their clothing was dark; not black, but dark gray, browns, and the like; all their wrappings were dark.
Tôi đang trên đường đến một trại; đeo một dây quai qua vai với một chiếc hộp nhỏ khiến tôi nhớ đến hộp đựng ống nhòm, nhưng tôi biết tôi đang mang theo một thông điệp trong đó mà tôi phải chuyển đến cho người chỉ huy của đạo quân nơi tôi sắp đến. Leo qua núi rất gồ ghề. Tôi xuống đến trại rất sớm vào buổi sáng; trời vừa hửng sáng. Khi tôi xuống tới khe nhỏ tôi biết có một dòng nước không rộng hơn một bước chân, nhưng tôi thấy một đoàn người mặc đồ trắng; giày trắng, quần trắng, áo trắng và mũ sắt trắng; mỗi người có hai dây quai qua vai, một cái là bình lớn trông như bi-đông, và họ ở từng nhóm bốn người, nơi họ đốt lửa với một cái chảo nhỏ nào đó trên lửa. Họ nhóm lửa bằng thứ gì đó họ đổ ra từ cái bi-đông; trông như mùn cưa, nhưng màu đỏ, xanh lục và nâu và có thể là nút bần xay hay mùn cưa. Từ cái can kia họ đổ một thứ vào chảo, và khi họ khuấy chung lại nó trông như trứng tráng, hay gì đó ngon để ăn, nhưng tôi không biết là gì. Tôi không thấy vũ khí, súng, gươm hay thứ gì tương tự, vậy mà tôi biết đó là một đạo quân. Tôi không biết ai cả, nhưng dọc theo khe tôi thấy người ta đang chuẩn bị bữa sáng theo nhóm bốn. Và tôi hỏi họ người chỉ huy ở đâu. Lều của Ông ở xa hơn trên hay dưới khe. Tôi có thể thấy một cái lều trắng lớn ở xa. Lúc này có người ở đây và đó nhập bọn chỉ cho tôi đường đi. Một lát sau tôi đến một chỗ mà, bên phải, có một cái khe nhỏ khác rẽ sang phải. Và khi chúng tôi vừa tới đối diện chỗ đó (tôi, và những người đã đi theo tôi), chúng tôi nghe từ nơi bóng tối tiếng ai đó bước trên cành khô; chúng tôi nghe gãy rắc, và chúng tôi dừng lại lắng nghe. Hiện ra một đoàn người mặc sẫm; không phải da sẫm, mà y phục của họ sẫm; không phải đen, mà xám sẫm, nâu, và tương tự; tất cả những gì họ quấn quanh người đều sẫm.
Then an angel of light stood between us so that we could not see the crowd or group of dark people. Then there appeared the angel of darkness. The angels’ figures were very much larger than ours, as men, taller, heavier; of course, their countenance was very much brighter. When the angel of darkness appeared he was dark like the people he was leading, but very much larger. His wings were something like bat wings, yet I knew they were neither feathers nor just flesh, but the means of going fast wherever desired. The wings appeared to be from the loins to the shoulders, rather than just something growing out of the body; both in the angel of darkness and the angel of light. The angel of light had wings something like doves’ wings, but extending from the loins to his shoulders, leaving the arms and legs free.
Rồi một thiên sứ của ánh sáng đứng giữa chúng tôi để chúng tôi không thể thấy đoàn người sẫm kia. Rồi hiện ra thiên sứ của bóng tối. Hình dung của các thiên sứ lớn hơn chúng tôi nhiều, là người, cao hơn, nặng hơn; dĩ nhiên, diện mạo của họ sáng rực hơn. Khi thiên sứ của bóng tối xuất hiện, Ông tối như người Ông dẫn dắt, nhưng to lớn hơn rất nhiều. Đôi cánh của Ông giống cánh dơi, tuy tôi biết chúng chẳng phải lông vũ cũng chẳng phải chỉ là thịt, mà là phương tiện để đi rất nhanh đến bất cứ nơi nào muốn. Đôi cánh dường như kéo dài từ thắt lưng đến vai, hơn là thứ gì đó mọc ra khỏi thân; cả ở thiên sứ bóng tối và thiên sứ ánh sáng. Thiên sứ ánh sáng có cánh giống cánh bồ câu, nhưng cũng kéo dài từ thắt lưng đến vai, để tay chân tự do.
The angel of darkness insisted that he should not stand in the way, but demanded that there be a fight between someone he would choose and one that the angel of darkness would choose. Then there was between the two hosts a place cleared away, something like an arena, and I was chosen as the one to fight with the hosts from darkness. And we were wrestling. I felt that I hadn’t delivered my message, and I didn’t know just what I would do about it; that I had waited so long and I hadn’t told them what I had come for, and I wondered why they had chosen me. I could still feel the strap and little package; I only had the one package and wondered why I hadn’t been hungry, as the others seemed to have to eat, but I only had the message to carry. Then I began to wonder if my strength was to fail me, if the imp or child of darkness was to put me down in the dirt, it would be an awful thing, but I knew if I could remember one word to say that he couldn’t, and I tried and tried to think and couldn’t find it; and I couldn’t remember what had been written in the message that I was to take.
Thiên sứ bóng tối khăng khăng rằng Ông không nên cản đường, nhưng đòi rằng phải có trận đấu giữa một người do Ông chọn và một người do thiên sứ bóng tối chọn. Rồi giữa hai đoàn người một khoảng trống được dọn ra, như một đấu trường, và tôi được chọn là người đấu với đoàn từ bóng tối. Và chúng tôi vật lộn. Tôi cảm thấy mình chưa trao thông điệp, và tôi không biết mình sẽ làm gì; rằng tôi đã chờ quá lâu và chưa nói điều tôi đến để nói, và tôi tự hỏi sao họ lại chọn tôi. Tôi vẫn có thể cảm thấy dây quai và gói nhỏ; tôi chỉ có một gói và tự hỏi sao tôi chưa đói, trong khi những người khác dường như cần ăn, còn tôi chỉ có thông điệp để mang. Rồi tôi bắt đầu lo không biết sức lực có rời bỏ tôi không, nếu tiểu quỷ hay đứa con của bóng tối vật tôi ngã xuống đất, thì thật khủng khiếp, nhưng tôi biết nếu tôi có thể nhớ một lời để nói mà hắn không thể, và tôi cố gắng, cố gắng nghĩ mà vẫn không tìm ra; và tôi không nhớ điều đã được viết trong thông điệp mà tôi phải mang đến.
Finally, as if just from out the center of me, there came the words which I spoke aloud: “And Lo, I am with you always, even unto the end of the world!” As I said that, every one of the darkness fell back and there was a great shout that went up and down the ravine from the people in white. And as they fell back, the leader or angel of darkness (as the one that I was wrestling with fell away) reached out his left hand and struck me on my left hip.
Cuối cùng, như thể từ ngay trung tâm con người tôi, vang lên những lời mà tôi nói to: “Và này, Ta hằng ở cùng con luôn, cho đến tận thế!” Khi tôi nói vậy, mọi kẻ thuộc bóng tối đều lùi lại và một tiếng reo hò lớn vang dọc theo khe từ đoàn người áo trắng. Và khi họ lùi lại, vị thủ lĩnh hay thiên sứ của bóng tối (khi kẻ tôi đang vật lộn với hắn ngã ra) vươn tay trái và đánh vào hông trái tôi.
That woke me; and I had an awful pain in my hip.
Điều đó làm tôi tỉnh dậy; và tôi đau khủng khiếp ở hông.
Bibliography
Tài liệu tham khảo
Bro, Harmon Hartzell. Edgar Cayce on Dreams: America’s Greatest Prophet on How to Understand Dreams—and Make Them Work for You 1968 (Currently out of print; available on eBay).
Bro, Harmon Hartzell. Edgar Cayce on Dreams: America’s Greatest Prophet on How to Understand Dreams—and Make Them Work for You 1968 (Hiện đã ngừng in; có thể tìm trên eBay).
Cayce, Hugh Lynn, and Tom C. Clark, Shane Miller, and William N. Peterson. Dreams: The Language of the Unconscious. A.R.E. Press, Virginia Beach, VA: 1962 and 1971.
Cayce, Hugh Lynn, và Tom C. Clark, Shane Miller, and William N. Peterson. Dreams: The Language of the Unconscious. A.R.E. Press, Virginia Beach, VA: 1962 và 1971.
Sechrist, Elsie. Dreams: Your Magic Mirror. A.R.E. Press, Virginia Beach, VA: 1995.
Sechrist, Elsie. Dreams: Your Magic Mirror. A.R.E. Press, Virginia Beach, VA: 1995.
Todeschi, Kevin Dream Images and Symbols. A.R.E. Press, Virginia Beach, VA: 1995.
Todeschi, Kevin Dream Images and Symbols. A.R.E. Press, Virginia Beach, VA: 1995.
95
95
A.R.E. PRESS
A.R.E. PRESS
The A.R.E. Press publishes books, videos, audiotapes, CDs, and DVDs meant to improve the quality of our readers’ lives—personally, professionally, and spiritually. We hope our products support your endeavors to realize your career potential, to enhance your relationships, to improve your health, and to encourage you to make the changes necessary to live a loving, joyful, and fulfilling life.
A.R.E. Press xuất bản sách, video, băng âm thanh, CD, và DVD nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của độc giả—trong đời sống cá nhân, nghề nghiệp và tinh thần. Chúng tôi hy vọng các ấn phẩm hỗ trợ nỗ lực của bạn để phát huy tiềm năng nghề nghiệp, tăng cường các mối quan hệ, cải thiện sức khỏe, và khích lệ bạn thực hiện những thay đổi cần thiết để sống một cuộc đời yêu thương, hân hoan và viên mãn.
For more information or to receive a free catalog, call:
Để biết thêm thông tin hoặc nhận danh mục miễn phí, xin gọi:
800-333-4499
800-333-4499
Or write:
Hoặc viết thư về:
A.R.E. Press
A.R.E. Press
215 67th Street
215 67th Street
Virginia Beach, VA 23451-2061
Virginia Beach, VA 23451-2061
ARE PRESS.COM
ARE PRESS.COM
EDGAR CAYCE’S A.R.E.
EDGAR CAYCE’S A.R.E.
What Is A.R.E.?
A.R.E. là gì?
The Association for Research and Enlightenment, Inc., (A.R.E.®) was founded in 1931 to research and make available information on psychic development, dreams, holistic health, meditation, and life after death. As an open-membership research organization, the A.R.E. continues to study and publish such information, to initiate research, and to promote conferences, distance learning, and regional events. Edgar Cayce, the most documented psychic of our time, was the moving force in the establishment of A.R.E.
The Association for Research and Enlightenment, Inc., (A.R.E.®) được thành lập năm 1931 để nghiên cứu và công bố thông tin về phát triển thông linh, giấc mơ, sức khỏe tổng thể, tham thiền và đời sống sau khi chết. Là một tổ chức nghiên cứu với tư cách hội viên mở, A.R.E. tiếp tục nghiên cứu và xuất bản các thông tin như vậy, khởi xướng nghiên cứu, và tổ chức hội thảo, đào tạo từ xa và các sự kiện khu vực. Edgar Cayce, nhà thông linh được ghi chép đầy đủ nhất thời đại chúng ta, là động lực thúc đẩy việc thành lập A.R.E.
Who Was Edgar Cayce?
Edgar Cayce là ai?
Edgar Cayce (1877-1945) was born on a farm near Hopkinsville, Ky. He was an average individual in most respects. Yet, throughout his life, he manifested one of the most remarkable psychic talents of all time. As a young man, he found that he was able to enter into a self-induced trance state, which enabled him to place his mind in contact with an unlimited source of information. While asleep, he could answer questions or give accurate discourses on any topic. These discourses, more than 14,000 in number, were transcribed as he spoke and are called “readings.”
Edgar Cayce (1877-1945) sinh ra tại một trang trại gần Hopkinsville, Kentucky. Ông là một người bình thường ở hầu hết các phương diện. Tuy vậy, suốt đời Ông biểu lộ một trong những tài năng thông linh kỳ diệu nhất mọi thời. Khi còn trẻ, Ông nhận ra mình có thể đi vào một trạng thái tự thôi miên, cho phép Ông đặt thể trí mình tiếp xúc với một nguồn thông tin vô hạn. Khi đang ngủ, Ông có thể trả lời câu hỏi hoặc trình bày chính xác về bất cứ chủ đề nào. Những bài thuyết giảng này, hơn 14,000 bài, được ghi chép khi Ông nói và được gọi là “bài đọc.”
Given the name and location of an individual anywhere in the world, he could correctly describe a person’s condition and outline a regimen of treatment. The consistent accuracy of his diagnoses and the effectiveness of the treatments he prescribed made him a medical phenomenon, and he came to be called the “father of holistic medicine.”
Chỉ cần cho tên và nơi ở của một người ở bất cứ đâu trên thế giới, Ông có thể mô tả đúng tình trạng của người đó và đề ra một phác đồ điều trị. Độ chính xác nhất quán của các chẩn đoán và hiệu quả của các phương pháp điều trị Ông đề nghị khiến Ông trở thành một hiện tượng y học, và Ông được gọi là “cha đẻ của y học toàn diện.”
Eventually, the scope of Cayce’s readings expanded to include such subjects as world religions, philosophy, psychology, parapsychology, dreams, history, the missing years of Jesus, ancient civilizations, soul growth, psychic development, prophecy, and reincarnation.
Sau đó, phạm vi các bài đọc của Cayce được mở rộng để bao gồm các chủ đề như tôn giáo thế giới, triết học, tâm lý học, cận tâm lý, giấc mơ, lịch sử, những năm thất lạc của Đức Jesus, các nền văn minh cổ, sự tăng trưởng của linh hồn, phát triển thông linh, lời tiên tri, và luân hồi.
A.R.E. Membership
Hội viên A.R.E.
People from all walks of life have discovered meaningful and life-transforming insights through membership in A.R.E. To learn more about Edgar Cayce’s A.R.E. and how membership in the A.R.E. can enhance Edgar Cayce’s A.R.E. and how membership in the A.R.E. can enhance 333-4499.
Những người từ mọi nẻo đường đời đã khám phá những minh triết đầy ý nghĩa và chuyển hóa cuộc sống nhờ hội viên A.R.E. Để biết thêm về A.R.E. của Edgar Cayce và cách việc trở thành hội viên A.R.E. có thể làm phong phú
Edgar Cayce’s A.R.E.
Edgar Cayce’s A.R.E.
215 67th Street
215 67th Street
Virginia Beach, VA 23451-2061
Virginia Beach, VA 23451-2061
E
E
DGARCAYCE.ORG