← EAA – Chapter VII Phần 1

Ý chí Shamballa và giới hạn tiếp nhận — Commentary EAA 141a

Tóm lược chương

Ngay cả Đức Christ cũng được đặt trước sự khó hiểu của ý chí Shamballa. Từ cuộc điểm đạo thứ ba, ảnh hưởng Chân Thần có thể bắt đầu được cảm nhận ở mức còn rất loãng. Ở quy mô nhân loại, ý chí tinh thần được hình dung như một đường nối mảnh, cần được củng cố bằng ý định tập thể bảo vệ tự do. Trong hoàn cảnh chiến tranh, duy trì hòa bình bằng mọi giá có thể dẫn tới né tránh lựa chọn cần thiết. Trường hợp Gandhi được nêu để phân biệt giá trị rộng lớn của lý tưởng bất bạo động với phê bình về việc không chọn phía trong một hoàn cảnh cụ thể. Việc quy tụ ý định cũng được liên hệ với Vulcan. Ba phương pháp trị liệu của Albert Ellis, Carl Rogers…


Commentary EAA 141a

Tóm Tắt

§ Ý chí Shamballa và giới hạn tiếp nhận

Ngay cả Đức Christ cũng được đặt trước sự khó hiểu của ý chí Shamballa. Từ cuộc điểm đạo thứ ba, ảnh hưởng Chân Thần có thể bắt đầu được cảm nhận ở mức còn rất loãng. Ở quy mô nhân loại, ý chí tinh thần được hình dung như một đường nối mảnh, cần được củng cố bằng ý định tập thể bảo vệ tự do.

§ Chọn phía trong khủng hoảng

Trong hoàn cảnh chiến tranh, duy trì hòa bình bằng mọi giá có thể dẫn tới né tránh lựa chọn cần thiết. Trường hợp Gandhi được nêu để phân biệt giá trị rộng lớn của lý tưởng bất bạo động với phê bình về việc không chọn phía trong một hoàn cảnh cụ thể. Việc quy tụ ý định cũng được liên hệ với Vulcan.

§ Ba cách sử dụng năng lượng trong quan hệ

Ba phương pháp trị liệu của Albert Ellis, Carl Rogers và Fritz Perls minh họa những trọng tâm khác nhau của nhận thức, tình thương và ý chí. Người có khuynh hướng Cung 1 có thể biết rằng mình thương yêu mà vẫn cần học cách biểu hiện điều đó bằng phẩm tính Cung 2. Nguồn động cơ và hiệu quả của cách biểu lộ là hai vấn đề cần xét riêng.

§ Đức Jesus, Đức Christ và ý nghĩa của tấm gương

Lời nói và hành vi trong đời Đức Jesus được đọc theo quan hệ giữa Xử Nữ, người mẹ, người con và người cha. Một hành vi như phép rửa có thể biểu thị việc làm trọn luật và nêu gương thanh lọc cho nhân loại, dù không thể suy ra rằng một Đấng cứu độ ở cấp cao cần chính sự thanh lọc ấy.

§ Ba phương diện của ý chí

Bạch Dương liên hệ với ý chí quy định phương diện sự sống, Sư Tử với ý chí đưa đến viên mãn và Ma Kết với ý chí thắng cái chết. Ý chí Shamballa được phân biệt với sự phản ánh của nó trên bình diện atma trong năm cõi thành tựu của con người. Khi đã được khơi dậy, ý chí có thể chấm dứt dục vọng, ổn định phương hướng, làm tan ảo cảm và phá những gì cần được giải thể.

Text EAA 141A – Văn bản EAA 141A

Esoteric Astrology – Chiêm Tinh Học Nội Môn

[1] There is, however, a plus, a something else, which swung the tide of victory on to the side of the Allies. It came through an unrealized effort to understand and express the quality of spiritual Will; [1b] it was the manifestation of that divine energy which made the first divine aspect of will or power what it is; it is that which is the distinctive feature of the Shamballa force; [2] it is that peculiar and distinctive quality of divinity which is so different that even Christ Himself was unable to express it with facility and understanding. Hence we have the episode in Gethsemane. [3] It is not easy for me to express its significance in words. [4] Two thousand years have gone since Gethsemane and since Christ made His initial contact with the Shamballa force [5] and by this means, and on behalf of humanity, established a relationship which even at the close of twenty centuries is but a thin frail line of connecting energy.

[1] Tuy nhiên, còn có một yếu tố bổ sung, một điều gì khác nữa, đã xoay chuyển cục diện chiến thắng về phía phe Đồng Minh. Điều ấy đến qua một nỗ lực chưa được nhận biết nhằm thấu hiểu và biểu lộ phẩm tính của Ý Chí tinh thần; [1b] đó là sự biểu hiện của năng lượng thiêng liêng đã làm nên bản chất của phương diện thiêng liêng thứ nhất là ý chí hay quyền năng; chính năng lượng ấy là nét đặc trưng của mãnh lực Shamballa; [2] đó là phẩm tính đặc thù và riêng biệt của thiên tính, khác biệt đến mức ngay cả chính Đức Christ cũng không thể biểu lộ nó một cách dễ dàng và với sự thấu hiểu. Vì thế mới có sự kiện tại Gethsemane. [3] Tôi không dễ diễn đạt thâm nghĩa của nó bằng lời. [4] Hai nghìn năm đã trôi qua kể từ sự kiện tại Gethsemane và từ khi Đức Christ lần đầu tiếp xúc với mãnh lực Shamballa [5] và qua đó, thay mặt nhân loại, thiết lập một mối quan hệ mà ngay cả khi hai mươi thế kỷ đã kết thúc, vẫn chỉ là một sợi dây năng lượng kết nối mỏng manh, yếu ớt.

[5b] This Shamballa force is nevertheless available for right usage but the power to express it lies in its understanding (as far as may be possible at this midway point in human evolution) and its group use. It is a unifying, synthetic force, but can be used as a regimenting, standardising force. May I repeat those two key words to the use of the Shamballa energy: Group Use and Understanding.

[5b] Tuy vậy, mãnh lực Shamballa này vẫn sẵn có để sử dụng đúng đắn, nhưng quyền năng biểu lộ nó nằm ở sự thấu hiểu nó (trong chừng mực có thể tại điểm ở giữa này của tiến hoá nhân loại) và việc sử dụng nó trong nhóm. Đó là một mãnh lực hợp nhất, tổng hợp, nhưng cũng có thể được dùng làm mãnh lực áp đặt khuôn phép, chuẩn hoá. Tôi xin nhắc lại hai từ khoá ấy đối với việc sử dụng năng lượng Shamballa: Sử Dụng Trong Nhóm và Thấu Hiểu.

[6] Mankind has had much difficulty in comprehending the significance of Love. If that is so, their problem in relation to the Will will naturally be still more difficult. [7] For the vast majority of men, true love is still only a theory. [8] Love (as we usually interpret it) works out as kindness but it is kindness to the form side of life, [9] to the personalities of those around us, and fulfils itself usually in a desire to carry (582) out our obligations and not to obstruct in any way those activities and relationships which tend to the well-being of our fellowmen. [10] It expresses itself in a desire to end abuses and to bring about happier, material, world conditions; [11] it shows itself in mother love, in love among friends, but seldom as yet as love among groups and nations. [12] It is the theme of the Christian teaching, just as Will, divinely expressed, will be the theme of the coming world religion [13] and has been the impulse lying behind much of the good work done in the fields of philanthropy and human welfare, but, factually, love has never yet been expressed—except by the Christ.

[6] Nhân loại đã gặp nhiều khó khăn trong việc lĩnh hội thâm nghĩa của Tình thương. Nếu quả như vậy, vấn đề của họ trong mối liên hệ với Ý Chí sẽ đương nhiên còn khó khăn hơn nữa. [7] Đối với đại đa số con người, tình thương chân thật vẫn chỉ là một lý thuyết. [8] Tình thương (theo cách chúng ta thường diễn giải) biểu hiện thành lòng tử tế, nhưng đó là lòng tử tế dành cho phương diện hình tướng của sự sống, [9] cho phàm ngã của những người quanh chúng ta, và thường thể hiện trọn vẹn qua mong muốn thực hiện (582) các bổn phận của mình và không cản trở dưới bất kỳ hình thức nào những hoạt động và mối quan hệ hướng đến phúc lợi của đồng loại. [10] Nó biểu lộ qua mong muốn chấm dứt những hành vi lạm dụng và đem lại những điều kiện vật chất tốt đẹp hơn trên thế giới; [11] nó thể hiện trong tình mẫu tử, trong tình thương giữa bạn bè, nhưng cho đến nay hiếm khi thể hiện thành tình thương giữa các nhóm và các quốc gia. [12] Đó là chủ đề của giáo huấn Cơ Đốc, cũng như Ý Chí, khi được biểu lộ một cách thiêng liêng, sẽ là chủ đề của tôn giáo thế giới sắp tới [13] và đã là xung lực đứng sau phần lớn những việc thiện trong các lĩnh vực từ thiện và phúc lợi con người; nhưng trên thực tế, tình thương chưa từng được biểu lộ—ngoại trừ qua Đức Christ.

[14] You might ask, why, if this is so, do you emphasise this highest divine aspect? Why not wait until we know more about love and how to manifest it in our environment? Because, in its true expression, the Will today is needed as a propelling, expulsive force, and also as a clarifying, purifying agent.

[14] Các bạn có thể hỏi, nếu quả như vậy, tại sao Ngài lại nhấn mạnh phương diện thiêng liêng cao nhất này? Tại sao không đợi đến khi chúng ta biết nhiều hơn về tình thương và cách biểu hiện nó trong môi trường của mình? Bởi vì, trong sự biểu lộ chân thật, ngày nay Ý Chí cần thiết như một mãnh lực thúc đẩy, đẩy bật ra, đồng thời như một tác nhân làm sáng tỏ và thanh lọc.

[15] The first recorded utterance of the Christ was spoken to His mother (the symbol of the substance aspect of divinity) when He said: “Wist ye not that I must be about My Father’s business?” [16] That business, related by Him to the first divine aspect, the Monad or Father aspect, was the fulfilment of purpose and the carrying out of the intention, the will and the purpose of God. [17] His second utterance came at the time of the Baptism in Jordan when He said to John, the Baptist: “Suffer it to be so now, for thus it becometh us to fulfil all righteousness.” [18] Here, in this second initiation—which symbolises the conquest of desire—He passes on into the realm of fulfilment, of the completion of planned righteous activity. [19] For His Own personal desire (necessarily of the very highest order on account of His high point in evolution) He substitutes the divine Will. [20] Again at (583) the close of His life, in the Gethsemane experience, He cries out: “[21] Father, not my will but Thine be done.” Even then and even for Him, the achievement of the full expression of will seemed well-nigh impossible; [22] He was conscious still of the inherent dualism of His position and of the contrast between His will and God’s will. [23] In these three utterances, He demonstrates His recognition of the three emerging aspects of the Shamballa life, quality and energy:

[15] Lời nói đầu tiên của Đức Christ được ghi lại là lời Ngài nói với mẹ mình (biểu tượng của phương diện chất liệu của thiên tính): “Mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con sao?” [16] Công việc ấy, mà Ngài liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện Chân thần hay Cha, là hoàn thành thiên ý và thực hiện ý định, ý chí cùng thiên ý của Thượng đế. [17] Lời nói thứ hai của Ngài được thốt ra vào lúc chịu Phép Rửa tại sông Jordan, khi Ngài nói với Gioan Tẩy Giả: “Giờ đây cứ để như vậy, vì chúng ta nên làm trọn mọi điều công chính.” [18] Ở đây, trong lần điểm đạo thứ hai này—vốn tượng trưng cho sự chinh phục dục vọng—Ngài tiến vào lĩnh vực của sự thành tựu, của việc hoàn tất hoạt động công chính theo kế hoạch. [19] Ngài thay thế dục vọng cá nhân của chính mình (tất yếu thuộc cấp cao nhất do điểm tiến hoá cao của Ngài) bằng Ý Chí thiêng liêng. [20] Một lần nữa, vào (583) cuối cuộc đời, trong trải nghiệm tại Gethsemane, Ngài kêu lên: “[21] Lạy Cha, xin cho ý Cha được thực hiện, chứ không phải ý con.” Ngay cả khi ấy, và ngay cả đối với Ngài, việc đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn ý chí dường như gần như bất khả thi; [22] Ngài vẫn nhận biết tính nhị nguyên vốn có trong vị thế của mình và sự tương phản giữa ý chí của Ngài với ý chí của Thượng đế. [23] Qua ba lời nói này, Ngài cho thấy mình nhận biết ba phương diện đang xuất hiện của sự sống, phẩm tính và năng lượng Shamballa:

[24] 1. The Will which conditions the life aspect.

[24] 1. Ý Chí định hình phương diện sự sống.

[25] 2. The Will which brings fulfilment of right human relations.

[25] 2. Ý Chí đem lại sự thành tựu trong các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

[26] 3. The Will which finally conquers death.

[26] 3. Ý Chí cuối cùng chinh phục sự chết.

[27] These three aspects are all related to the three divine expressions of spirit, soul and body, of life, consciousness and form, of life, quality and appearance. [28] This phase of Christ’s life expression has never been properly studied, yet even a little grasp and understanding of it would aid humanity to drive evil (individual, group and planetary) back to the place from whence it came [29] and would aid in the release of humanity from the terror which is today stalking abroad, defying God and man.

[27] Cả ba phương diện này đều liên quan đến ba biểu lộ thiêng liêng: tinh thần, linh hồn và thân thể; sự sống, tâm thức và hình tướng; sự sống, phẩm tính và sắc tướng. [28] Giai đoạn này trong sự biểu lộ sự sống của Đức Christ chưa bao giờ được nghiên cứu đúng mức, tuy nhiên, chỉ cần nắm bắt và thấu hiểu đôi chút về nó cũng sẽ giúp nhân loại đẩy lùi cái ác (của cá nhân, nhóm và hành tinh) về nơi nó đã xuất phát [29] và giúp giải thoát nhân loại khỏi nỗi kinh hoàng đang hoành hành khắp nơi ngày nay, thách thức cả Thượng đế lẫn con người.

[30] The Shamballa energy is, therefore, that which is related to the livingness (through consciousness and form) of humanity; [31] we need not consider its relation to the rest of the manifested world; [32] it concerns the establishing of right human relations and is that condition of being which eventually negates the power of death. [33] It is, therefore, incentive and not impulse; [34] it is realised purpose and not the expression of desire. [35] Desire works from and through the material form upwards; [36] Will works downwards into form, [37] bending form consciously to divine purpose. [38] The one (584) is invocative and the other is evocative. [39] Desire, when massed and focussed, can invoke will; [40] will, when evoked, ends desire and becomes an immanent, propulsive, driving force, stabilising, clarifying, [41] and—among other things—finally destroying.

[30] Do đó, năng lượng Shamballa là năng lượng liên quan đến sức sống (thông qua tâm thức và hình tướng) của nhân loại; [31] chúng ta không cần xem xét mối liên hệ của nó với phần còn lại của thế giới biểu hiện; [32] nó liên quan đến việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và là trạng thái hiện tồn cuối cùng sẽ vô hiệu hoá quyền năng của sự chết. [33] Do đó, nó là động lực chứ không phải xung lực; [34] nó là thiên ý đã được chứng nghiệm chứ không phải sự biểu lộ của dục vọng. [35] Dục vọng hoạt động từ hình tướng vật chất và xuyên qua hình tướng ấy hướng lên trên; [36] Ý Chí hoạt động theo chiều đi xuống vào hình tướng, [37] uốn nắn hình tướng một cách có ý thức theo thiên ý. [38] Một bên (584) mang tính khẩn cầu, còn bên kia mang tính gợi lên. [39] Dục vọng, khi được tập hợp và tập trung, có thể khẩn cầu ý chí; [40] ý chí, khi được gợi lên, chấm dứt dục vọng và trở thành một mãnh lực nội tại, thúc đẩy, dẫn động, ổn định, làm sáng tỏ, [41] và—cùng với những tác dụng khác—cuối cùng là huỷ diệt.

Astrology Adventure 141A — The Nature of the Will – Hành trình Chiêm tinh 141A — Bản chất của Ý chí

Friends, something happened on the way to the forum. Basically what happened here is that when that telephone rang, I failed to turn on the recording again, so lost about ten minutes of discussion. This is the beginning of Esoteric Astrology Adventure number 141A, but I do need to go back a little bit from the point when that call came, and I think it's been rather important what was said, not sure about the way it was said, but we've been discussing what the will is not. It's not that iron fixation ruled by Mars.

Các bạn, có chuyện đã xảy ra trên đường đến diễn đàn. Về cơ bản, khi điện thoại reo, tôi đã quên bật lại máy ghi âm, nên mất khoảng mười phút thảo luận. Đây là phần mở đầu của Hành trình Chiêm Tinh Học Nội Môn số 141A, nhưng tôi cần quay lại một chút trước thời điểm cuộc gọi ấy đến. Tôi nghĩ những điều đã nói khá quan trọng, dù không chắc cách diễn đạt đã thích hợp hay chưa. Chúng ta đã bàn về những gì không phải là ý chí. Ý chí không phải là sự cố chấp sắt đá do Sao Hỏa cai quản.

It's not what's called implacable, unshakable, immovable focusing of all energies in the need to triumph, because the Forces of Darkness have that as well. There was a better organization within the Allies, so that much was there, but not just an iron fixation to stand steady against the evil forces. The Allies did have an aspect of this.

Ý chí không phải là điều được gọi là sự tập trung không khoan nhượng, không lay chuyển, bất lay chuyển của mọi năng lượng vào nhu cầu chiến thắng, bởi các Mãnh Lực Bóng Tối cũng có điều đó. Trong phe Đồng Minh có sự tổ chức tốt hơn, nên ít nhất đã có được điều ấy, nhưng không chỉ là sự cố chấp sắt đá nhằm đứng vững trước các mãnh lực tà ác. Phe Đồng Minh quả có một phương diện của điều này.

It was the expression of the one-pointed desire for peace, but something else was added. So in the overcoming of selfish desire, the desire for the good is not enough. The desire for the good is not enough.

Đó là biểu hiện của dục vọng nhất tâm hướng đến hòa bình, nhưng có thêm một điều khác. Vì vậy, để khắc phục dục vọng ích kỷ, chỉ mong muốn điều thiện là chưa đủ. Chỉ mong muốn điều thiện là chưa đủ.

[1] There is, however, a plus, a something else, which swung the tide of victory on to the side of the Allies. It came through an unrealized effort to understand and express the quality of spiritual Will;

[1] Tuy nhiên, còn có một yếu tố bổ sung, một điều gì khác nữa, đã xoay chuyển cục diện chiến thắng về phía phe Đồng Minh. Điều ấy đến qua một nỗ lực chưa được nhận biết nhằm thấu hiểu và biểu lộ phẩm tính của Ý Chí tinh thần;

The quality of the spiritual will, which is ever the will-to-good of the whole. It was an atmic contact. It was something that came through their level of identification with the good, with these—I call them standing waves of purpose—which exist in the world of Being and which are created by the mind of the Deity.

Phẩm tính của ý chí tinh thần, vốn luôn là Ý Chí-hướng Thiện của toàn thể. Đó là một sự tiếp xúc với cõi atma. Điều ấy đến qua mức độ đồng hóa của họ với điều thiện, với những gì tôi gọi là các sóng dừng của thiên ý, vốn hiện hữu trong Thế Giới Bản Thể và do trí tuệ của Thượng đế tạo ra.

Somehow they were in contact with that, maybe inchoately, in a certain sense, but they touched it.

Bằng cách nào đó, họ đã tiếp xúc với điều ấy, có lẽ theo một nghĩa nào đó mới chỉ ở dạng manh nha, nhưng họ đã chạm đến nó.

[1b] it was the manifestation of that divine energy which made the first divine aspect of will or power what it is;

[1b] đó là sự biểu hiện của năng lượng thiêng liêng đã làm nên bản chất của phương diện thiêng liêng thứ nhất là ý chí hay quyền năng; chính năng lượng ấy là nét đặc trưng của mãnh lực Shamballa;

There is a will-to-good, and it can overcome all selfish desire.

Có một Ý Chí-hướng Thiện, và nó có thể khắc phục mọi dục vọng ích kỷ.

The will-to-peace cannot overcome the will-to-power, at least as it was being expressed and reinforced by the Black Lodge and their allies. This will-to-good is the distinctive feature of the Shamballa force, and it has much of the second ray in it. It's kind of a second aspect of the will, whereas I always look at the will-to-be as being the first aspect.

Ý chí hướng đến hòa bình không thể khắc phục ý chí hướng đến quyền lực, ít nhất là theo cách ý chí ấy đang được Hắc đoàn và các đồng minh của họ biểu lộ và củng cố. Ý Chí-hướng Thiện này là đặc tính nổi bật của mãnh lực Shamballa, và trong đó có nhiều năng lượng cung hai. Nó gần như là phương diện thứ hai của ý chí, trong khi tôi luôn xem ý chí hiện tồn là phương diện thứ nhất.

Somehow the Allies touched this:

Bằng cách nào đó, phe Đồng Minh đã chạm đến điều này:

[2] it is that peculiar and distinctive quality of divinity which is so different that even Christ Himself was unable to express it with facility and understanding.

[2] đó là phẩm tính đặc thù và riêng biệt của thiên tính, khác biệt đến mức ngay cả chính Đức Christ cũng không thể biểu lộ nó một cách dễ dàng và với sự thấu hiểu. Vì thế mới có sự kiện tại Gethsemane.

If a great becoming sixth degree initiate like the Christ could not fully understand the will of Shamballa, how do we, who are on a much lower level, understand what the will of Shamballa is? It's true that at the third degree it may, in a very attenuated form, begin to influence the disciple as the monad, well it's now the initiate, as the monad begins its approach, but nothing like the fullness of the impact which the Christ received into his consciousness and also affecting his will in the episode in Gethsemane. Of course, DK used the word episode to represent happenings in the life of the Master Jesus or the initiate Jesus, and event to represent the happenings happening in the life of the Christ, and in a way, sticking to his original definition, we can even call this a, we can call this an event actually.

Nếu một điểm đạo đồ vĩ đại đang tiến tới bậc sáu như Đức Christ còn không thể thấu hiểu trọn vẹn ý chí của Shamballa, thì chúng ta, những người ở cấp độ thấp hơn rất nhiều, làm sao thấu hiểu được ý chí của Shamballa là gì? Đúng là ở bậc ba, ý chí ấy có thể bắt đầu ảnh hưởng đến đệ tử dưới một hình thức hết sức suy giảm khi chân thần bắt đầu tiến đến gần—lúc này phải gọi là điểm đạo đồ—nhưng điều đó hoàn toàn không sánh được với tác động trọn vẹn mà Đức Christ đã tiếp nhận vào tâm thức, đồng thời ảnh hưởng đến ý chí của Ngài trong tình tiết tại Gethsemane. Dĩ nhiên, Chân sư DK dùng từ “tình tiết” để chỉ những diễn biến trong cuộc đời của Chân sư Jesus hay điểm đạo đồ Jesus, còn từ “biến cố” để chỉ những diễn biến trong cuộc đời Đức Christ. Theo một nghĩa nào đó, nếu giữ đúng định nghĩa ban đầu của Ngài, chúng ta thực ra có thể gọi đây là một biến cố.

I was saying that this so-called episode in the life of the Christ could be called actually an event, because it relates to the gold rather than the silver. It's a decisive moment for humanity, so we can say really an event.

Tôi đang nói rằng điều được gọi là tình tiết này trong cuộc đời Đức Christ thực ra có thể gọi là một biến cố, bởi nó liên hệ với vàng hơn là bạc. Đó là một thời khắc quyết định đối với nhân loại, nên chúng ta thực sự có thể gọi là một biến cố.

[3] It is not easy for me to express its significance in words.

[3] Tôi không dễ diễn đạt thâm nghĩa của nó bằng lời.

The will, that is.

Tức là ý chí.

[4] Two thousand years have gone since Gethsemane and since Christ made His initial contact with the Shamballa force

[4] Hai nghìn năm đã trôi qua kể từ sự kiện tại Gethsemane và từ khi Đức Christ lần đầu tiếp xúc với mãnh lực Shamballa

If the head of the Hierarchy is making his initial contact with the Shamballa force, what of Shamballa are we receiving or appreciating at the time of the third degree? It may seem stupendous to us, but it is not to be compared with that which the Christ received.

Nếu vị đứng đầu Thánh đoàn mới đang có sự tiếp xúc đầu tiên với mãnh lực Shamballa, thì vào thời điểm đạt bậc ba, chúng ta đang tiếp nhận hay cảm nhận được điều gì của Shamballa? Đối với chúng ta, điều đó có thể có vẻ vô cùng lớn lao, nhưng không thể so sánh với những gì Đức Christ đã tiếp nhận.

His initial contact with the Shamballa force

sự tiếp xúc đầu tiên của Ngài với mãnh lực Shamballa

[5] and by this means, and on behalf of humanity, established a relationship which even at the close of twenty centuries is but a thin frail line of connecting energy.

[5] và qua đó, thay mặt nhân loại, thiết lập một mối quan hệ mà ngay cả khi hai mươi thế kỷ đã kết thúc, vẫn chỉ là một sợi dây năng lượng kết nối mỏng manh, yếu ớt.

That is the will.

Đó là ý chí.

It is so for humanity and Shamballa, and not for the Christ, because he is, in his role as world savior, a member of the council of Shamballa. I don't know if it's at the same depth as the Buddhas of Activity, because they are already former Planetary Logoi, but still he's a member of the council. So, this force of spiritual will was brought in by the Allies, and it had the necessary effect.

Điều đó đúng với mối liên hệ giữa nhân loại và Shamballa, chứ không phải đối với Đức Christ, bởi trong vai trò Đấng Cứu Thế, Ngài là một thành viên của hội đồng Shamballa. Tôi không biết mức độ ấy có sâu như các Đức Phật Hoạt Động hay không, bởi Các Ngài vốn là những Hành Tinh Thượng đế trước kia, nhưng dù sao Ngài vẫn là thành viên của hội đồng. Vì vậy, phe Đồng Minh đã đưa mãnh lực ý chí tinh thần này vào, và nó đã tạo ra hiệu quả cần thiết.

Probably the occult reasons for the victory of the Allies were not understood. Maybe in a way they outnumbered the Germans, of course that's true. Germany with its fourth ray soul had started a two-front war.

Có lẽ người ta đã không thấu hiểu những nguyên nhân huyền bí dẫn đến chiến thắng của phe Đồng Minh. Có thể theo một nghĩa nào đó, họ đông hơn người Đức; dĩ nhiên điều đó là đúng. Nước Đức, với linh hồn cung bốn, đã khởi đầu một cuộc chiến trên hai mặt trận.

The United States, with its Gemini, was drawn into a two-front war, but had more resources in the last analysis, and resources of population, and were aided by the advance of the Soviet Union. So really, the war was being fought on three fronts, really. The Russians were coming in from the east, the United States was coming in from the west, that's two fronts, and the United States was fighting a far, far to the west, so far that it became the east, a battle with Japan.

Hoa Kỳ, với dấu hiệu Song Tử, đã bị cuốn vào một cuộc chiến trên hai mặt trận, nhưng xét cho cùng có nhiều nguồn lực hơn, cả về dân số, và được hỗ trợ nhờ bước tiến của Liên Xô. Vì vậy, thực ra cuộc chiến đã diễn ra trên ba mặt trận. Người Nga tiến vào từ phía đông, Hoa Kỳ tiến vào từ phía tây, đó là hai mặt trận; đồng thời Hoa Kỳ còn chiến đấu với Nhật Bản ở một nơi rất, rất xa về phía tây, xa đến mức trở thành phía đông.

There was a tremendous, I think, the Russians had, I don't know my history too well in this regard, but their engagement with Japan was minimal, but toward the end of the war, it did begin to take on, but their major concentration was against the Germans on the eastern front of Germany, and then the Allies were coming in from the west, but the United States had to sustain as well the battle in the east. It required, with Christ as the head of the Army of the Forces of Light, a great expression of the will to good.

Tôi nghĩ người Nga—tôi không nắm rõ lịch sử về điểm này—chỉ tham chiến với Nhật Bản ở mức tối thiểu, nhưng đến cuối cuộc chiến, sự tham chiến ấy đã bắt đầu gia tăng. Tuy nhiên, trọng tâm chủ yếu của họ là chống quân Đức trên mặt trận phía đông nước Đức, còn phe Đồng Minh tiến vào từ phía tây; đồng thời Hoa Kỳ còn phải duy trì cuộc chiến ở phía đông. Với Đức Christ đứng đầu Đạo Quân của các Mãnh Lực Ánh Sáng, điều đó đòi hỏi một sự biểu lộ lớn lao của Ý Chí-hướng Thiện.

Now probably the people fighting didn't really know what the will to good was, but they had in mind what good is, and they somehow made a contact with a deeper level of identity. They touched their soul in some way. How could those who were fighting for the Black Lodge touch the strength of soul? It really couldn't be done, at least to any degree when considering the group that was involved.

Có lẽ những người đang chiến đấu không thực sự biết Ý Chí-hướng Thiện là gì, nhưng trong trí họ có một quan niệm về điều thiện, và bằng cách nào đó họ đã tiếp xúc với một cấp độ bản sắc sâu xa hơn. Theo cách nào đó, họ đã chạm đến linh hồn mình. Những người chiến đấu cho Hắc đoàn làm sao có thể chạm đến sức mạnh của linh hồn? Thực sự không thể làm được, ít nhất là ở bất kỳ mức độ đáng kể nào khi xét đến nhóm có liên quan.

They had that implacable, determined will, but it was based on the will to triumph as a personality, and this is not the same at all as the will which is based upon the sense of divinity within and upon an identification with that sense. This was the deciding factor. In some way the will, the spiritual will, entered; the will-to-good entered and gave that irresistibility, that invincibility, plus the organization, to the Allied forces, and of course the Hierarchy was behind them.

Họ có ý chí không khoan nhượng, đầy quyết tâm ấy, nhưng nó dựa trên ý chí chiến thắng với tư cách một phàm ngã, và điều này hoàn toàn khác với ý chí dựa trên cảm thức về thiên tính bên trong và sự đồng hóa với cảm thức ấy. Đây là yếu tố quyết định. Bằng cách nào đó, ý chí, ý chí tinh thần, đã đi vào; Ý Chí-hướng Thiện đã đi vào và đem lại cho các lực lượng Đồng Minh sức mạnh không thể cưỡng lại, tính bất khả chiến bại, cùng với sự tổ chức; và dĩ nhiên Thánh đoàn đứng sau họ.

We sometimes say, well, the Hierarchy doesn't choose sides, but when it comes to a battle within the Planetary Logos between the lower principles and the higher, the Hierarchy must choose sides. It's not their preference for certain human beings, it's preference for the energies which are attempting to express themselves. Otherwise humanity would have been driven back into the cave of materialism, and the most material civilization we've ever seen would, or at least recently, would have resulted, as the Tibetan has told us.

Đôi khi chúng ta nói rằng Thánh đoàn không chọn phe, nhưng khi một cuộc chiến diễn ra bên trong Hành Tinh Thượng đế giữa các nguyên khí thấp và cao, Thánh đoàn phải chọn phe. Các Ngài không thiên vị những con người cụ thể, mà chọn những năng lượng đang cố gắng biểu lộ. Nếu không, nhân loại đã bị đẩy lùi vào hang tối của chủ nghĩa duy vật, và nền văn minh duy vật nhất mà chúng ta từng thấy, hay ít nhất trong thời gian gần đây, hẳn đã hình thành, như Chân sư Tây Tạng đã cho chúng ta biết.

Of course, and the Hierarchy had criticism of certain popular figures who were pacifistic and refused to choose sides, and Gandhi was one of them, interestingly, although he's been very inspiring to many, but he had this Libran quality, a sun in Libra and Libra rising, and an idealism of the sixth ray, and he did not choose sides in this respect, and there was criticism of him, also by Churchill, strong criticism, and as I had said, the power of the Nazis was growing in India, there was a strong group identified with them. So sometimes it's necessary to make that hard choice, it's the Kurukshetra choice, it's Arjuna in Libra on the field of Kurukshetra, having to choose between members of his family, but some of them are embodying a higher energy, and therefore must be, the choice must be on their behalf.

Dĩ nhiên, Thánh đoàn đã phê bình một số nhân vật nổi tiếng theo chủ nghĩa hòa bình và từ chối chọn phe. Điều đáng chú ý là Gandhi là một trong số đó, dù ông đã truyền cảm hứng rất nhiều cho nhiều người. Nhưng ông có phẩm tính Thiên Bình này, với Mặt Trời ở Thiên Bình và dấu hiệu mọc Thiên Bình, cùng chủ nghĩa lý tưởng của cung sáu, và ông đã không chọn phe trong vấn đề này. Ông đã bị phê bình, kể cả từ Churchill, với những lời phê bình gay gắt. Như tôi đã nói, thế lực Đức Quốc xã đang lớn mạnh ở Ấn Độ; có một nhóm mạnh đồng hóa với họ. Vì vậy, đôi khi cần đưa ra lựa chọn khó khăn ấy. Đó là lựa chọn tại Kurukshetra, là Arjuna trong Thiên Bình trên chiến trường Kurukshetra, phải lựa chọn giữa các thành viên trong gia đình mình. Nhưng một số người trong họ đang hiện thân cho một năng lượng cao hơn, nên phải lựa chọn đứng về phía họ.

The will entered, the spiritual will, although dimly sensed, and even though for all of humanity it's but a thin, frail line of connecting energy, we need that now, and Vulcan needs to be discovered, and humanity needs even now to stand with massed intent for freedoms which some forces are attempting to undermine at this time, in a reversion back to a sixth-ray time long past. We need this Vulcanian ability to stand with massed intent for the Four Freedoms at this time to avoid the all-destructive religious war which is part of the prediction. It could arise, a vision, a possibility which can be visioned.

Ý chí đã đi vào, ý chí tinh thần, dù chỉ được cảm nhận lờ mờ. Và dù đối với toàn thể nhân loại, nó chỉ là một đường năng lượng kết nối mảnh mai, mong manh, chúng ta cần điều đó ngay lúc này. Vulcan cần được khám phá, và ngay cả lúc này nhân loại cũng cần đứng vững với ý hướng tập trung của tập thể để bảo vệ những quyền tự do mà một số mãnh lực hiện đang cố phá hoại, trong một sự quay ngược về thời kỳ cung sáu đã qua từ lâu. Lúc này, chúng ta cần khả năng của Vulcan để đứng vững với ý hướng tập trung của tập thể nhằm bảo vệ Bốn Quyền Tự Do, hầu tránh cuộc chiến tôn giáo hủy diệt tất cả vốn là một phần của lời tiên đoán. Nó có thể xảy ra, một linh ảnh, một khả năng có thể thấy trước.

[5b] This Shamballa force is nevertheless available for right usage but the power to express it lies in its understanding (as far as may be possible at this midway point in human evolution) and its group use. It is a unifying, synthetic force, but can be used as a regimenting, standardising force. May I repeat those two key words to the use of the Shamballa energy: Group Use and Understanding.

[5b] Tuy vậy, mãnh lực Shamballa này vẫn sẵn có để sử dụng đúng đắn, nhưng quyền năng biểu lộ nó nằm ở sự thấu hiểu nó (trong chừng mực có thể tại điểm ở giữa này của tiến hoá nhân loại) và việc sử dụng nó trong nhóm. Đó là một mãnh lực hợp nhất, tổng hợp, nhưng cũng có thể được dùng làm mãnh lực áp đặt khuôn phép, chuẩn hoá. Tôi xin nhắc lại hai từ khoá ấy đối với việc sử dụng năng lượng Shamballa: Sử Dụng Trong Nhóm và Thấu Hiểu.

The key here for the Shamballa force is its right understanding and its group use. It was not understood by the Nazis, there was only an inverted use of that force in its materialistic aspect, it was not understood, at least the higher parts were not understood. Its group use was understood because Hitler surrounded himself by six others who were part of a group of seven which inverted the Shamballa force, and without that group application it could not have been so effective, one man could never do it.

Chìa khóa ở đây đối với mãnh lực Shamballa là thấu hiểu đúng đắn và sử dụng nó theo nhóm. Đức Quốc xã đã không thấu hiểu mãnh lực ấy; họ chỉ sử dụng nó một cách đảo ngược trong phương diện duy vật. Họ đã không thấu hiểu, ít nhất là không thấu hiểu những phần cao hơn. Họ đã hiểu cách sử dụng theo nhóm, bởi Hitler đã tập hợp quanh mình sáu người khác, tạo thành một nhóm bảy người đảo ngược mãnh lực Shamballa. Nếu không có sự vận dụng theo nhóm ấy, mãnh lực này không thể hiệu quả đến vậy; một người đơn độc không bao giờ có thể làm được.

[EAA-141A-F01] Màn hình sách và ghi chú về Group Use and Understanding. — video 00:13:14.

[EAA-141A-F01] Màn hình sách và ghi chú về Sử dụng theo Nhóm và Thấu hiểu. — video 00:13:14.

We in the West and in the more modern time and in alliance with the Forces of Light have to understand the group will in a still higher way, we have to stand together with massed intent for the Shamballic values of, well, of the good, and of purification and of the destruction of death and of evil, and the organization along right lines, purification destruction organization.

Chúng ta ở phương Tây, trong thời đại hiện đại hơn và liên minh với các Mãnh Lực Ánh Sáng, phải thấu hiểu ý chí nhóm theo một cách còn cao hơn nữa. Chúng ta phải cùng đứng vững với ý hướng tập trung của tập thể vì các giá trị của Shamballa: điều thiện, sự thanh luyện, sự hủy diệt cái chết và điều ác, cùng sự tổ chức theo đường lối đúng đắn—thanh luyện, hủy diệt, tổ chức.

Group Use and Understanding. I have brought myself back to the point where I realized that somehow the recorder was not on. We are continuing on page 581:

Sử dụng theo Nhóm và Thấu hiểu. Tôi đã quay trở lại điểm mà tôi nhận ra rằng bằng cách nào đó máy ghi âm đã không bật. Chúng ta tiếp tục ở trang 581:

[6] Mankind has had much difficulty in comprehending the significance of Love. If that is so, their problem in relation to the Will will naturally be still more difficult.

[6] Nhân loại đã gặp nhiều khó khăn trong việc lĩnh hội thâm nghĩa của Tình thương. Nếu quả như vậy, vấn đề của họ trong mối liên hệ với Ý Chí sẽ đương nhiên còn khó khăn hơn nữa.

Although if you are a student of esotericism under DK's method, you are involved in the curriculum of the will through the building of the antahkarana as much as in the curriculum of the development of love through soul infusion. We are being given a double curriculum. I often say in relation to the Morya College, Morya Federation, once the Morya College, it is a dual curriculum.

Tuy nhiên, nếu là một đạo sinh huyền bí học theo phương pháp của Chân sư DK, các bạn đang tham gia chương trình học về ý chí qua việc xây dựng antahkarana, cũng như chương trình phát triển bác ái qua sự thấm nhuần của linh hồn. Chúng ta đang được trao một chương trình học kép. Khi nói về Học viện Morya, Liên đoàn Morya, trước kia là Học viện Morya, tôi thường nói rằng đó là một chương trình học kép.

[7] For the vast majority of men, true love is still only a theory.

[7] Đối với đại đa số con người, tình thương chân thật vẫn chỉ là một lý thuyết.

We haven't even completed curriculum number one, and this is true of many esotericists as well. They have the theory, they have the mind, they understand what it should be, but the actual experience of the energy is not theirs yet, or at least not in any consistent way.

Chúng ta thậm chí còn chưa hoàn thành chương trình học thứ nhất, và điều này cũng đúng với nhiều nhà bí truyền học. Họ có lý thuyết, có thể trí, họ thấu hiểu điều đó phải như thế nào, nhưng vẫn chưa thực sự trải nghiệm năng lượng ấy, hay ít nhất chưa trải nghiệm một cách nhất quán.

[8] Love (as we usually interpret it) works out as kindness but it is kindness to the form side of life,

[8] Tình thương (theo cách chúng ta thường diễn giải) biểu hiện thành lòng tử tế, nhưng đó là lòng tử tế dành cho phương diện hình tướng của sự sống,

That is so true, and then you become pleasant and well-loved and popular when you are kind to the form side of life. I've seen first ray types very unkind to the form side of life, and in the last analysis they will be the most appreciated.

Điều đó rất đúng, và khi tử tế với phương diện hình tướng của sự sống, các bạn trở nên dễ mến, được yêu quý và nổi tiếng. Tôi đã thấy những người cung một rất thiếu tử tế với phương diện hình tướng của sự sống, nhưng xét cho cùng, họ sẽ là những người được trân trọng nhất.

I've sometimes talked about that movie called Gloria, which was about three different methods of psychotherapy. It was, I don't know, back in the 1970s, I suppose, the 60s, and three eminent psychologists were at work, Albert Ellis on the cognitive side and Carl Rogers on the love side and Fritz Perls on the will side, and eventually, although he was drastic, he was rough, Gloria ended up appreciating him the most for what he made her confront and overcome.

Đôi khi tôi đã nói về bộ phim mang tên Gloria, nói về ba phương pháp trị liệu tâm lý khác nhau. Tôi không rõ, có lẽ vào những năm 1970, hay những năm 1960. Ba nhà tâm lý học lỗi lạc đã tham gia: Albert Ellis về phương diện nhận thức, Carl Rogers về phương diện tình thương, và Fritz Perls về phương diện ý chí. Cuối cùng, dù ông quyết liệt và gay gắt, Gloria lại trân trọng ông nhất vì những điều ông đã khiến bà đối diện và vượt qua.

So it will be, I think, when we understand the true nature of the will, love to the soul-spirit side of man frequently works out as apparent unkindness to the form side, and this we have to get into our understanding. It's for this reason that the first ray types are so often hated, as DK says.

Tôi nghĩ khi thấu hiểu bản chất chân thật của ý chí, chúng ta cũng sẽ thấy như vậy: tình thương dành cho phương diện linh hồn–tinh thần của con người thường biểu lộ thành sự thiếu tử tế bề ngoài đối với phương diện hình tướng. Chúng ta phải thấu hiểu điều này. Chính vì lý do ấy mà những người cung một rất thường bị ghét, như Chân sư DK nói.

[9] to the personalities of those around us, and fulfils itself usually in a desire to carry out our obligations and not to obstruct in any way those activities and relationships which tend to the well-being of our fellowmen.

[9] cho phàm ngã của những người quanh chúng ta, và thường thể hiện trọn vẹn qua mong muốn thực hiện (582) các bổn phận của mình và không cản trở dưới bất kỳ hình thức nào những hoạt động và mối quan hệ hướng đến phúc lợi của đồng loại.

I mean, of course, these are good things. these are good things up to a point. DK sometimes talks to the first ray types in his group and he says, well, look, you are assured of your own love and well, you should be because it is there, but what about its manner of expression? You could use a little bit of the second ray in the way you carry this out.

Ý tôi là, dĩ nhiên đây là những điều tốt. Đây là những điều tốt trong một chừng mực nhất định. Đôi khi Chân sư DK nói với những người cung một trong nhóm của Ngài rằng: các bạn tin chắc vào tình thương của mình, và các bạn nên như vậy vì tình thương ấy quả có đó, nhưng còn cách biểu lộ thì sao? Các bạn có thể cần thêm một chút cung hai trong cách thực hiện điều này.

For the vast majority of men, true love is still only a theory.

Đối với đại đa số con người, bác ái chân thật vẫn chỉ là một lý thuyết.

Kindness.

Lòng tử tế.

Kindness to the form side of life, to the personalities. What is real kindness to the soul? What is real kindness to that part of ourselves which attempts to bring through the spirit? It fulfils itself in the desire to carry out our obligations, so we do not distress anybody.

Lòng tử tế đối với phương diện hình tướng của sự sống, đối với các phàm ngã. Thế nào là lòng tử tế thực sự đối với linh hồn? Thế nào là lòng tử tế thực sự đối với phần bên trong chúng ta đang cố gắng đưa tinh thần xuyên qua? Nó thể hiện trọn vẹn qua mong muốn thực hiện các bổn phận của mình, để chúng ta không gây khổ sở cho bất kỳ ai.

We do what is expected of us and thereby enhance the quality of their lives and not to obstruct in any way those activities. See, the forces of obstruction, those are the loveless, cruel forces. That's what they're called.

Chúng ta làm những gì người khác mong đợi ở mình, qua đó nâng cao phẩm tính cuộc sống của họ và không cản trở bằng bất kỳ cách nào những hoạt động ấy. Các bạn thấy đấy, các mãnh lực cản trở là những mãnh lực thiếu tình thương, tàn nhẫn. Người ta gọi chúng như vậy.

They obstruct what is good in man. So, in reflection of that, we try not to obstruct the perceived good of any person, and working out in the general well-being, oftentimes in form.

Chúng cản trở điều thiện trong con người. Vì vậy, để phản ánh điều ngược lại, chúng ta cố không cản trở điều được xem là tốt đối với bất kỳ người nào, và điều đó thể hiện thành phúc lợi chung, thường là về mặt hình tướng.

The general well-being, and we can say often the formal well-being of our fellow man.

Phúc lợi chung, và có thể nói thường là phúc lợi về mặt hình tướng của đồng loại.

[10] It expresses itself in a desire to end abuses and to bring about happier, material, world conditions;

[10] Nó biểu lộ qua mong muốn chấm dứt những hành vi lạm dụng và đem lại những điều kiện vật chất tốt đẹp hơn trên thế giới;

All of this is to the good, of course.

Dĩ nhiên, tất cả những điều này đều hướng đến điều tốt.

[11] it shows itself in mother love, in love among friends, but seldom as yet as love among groups and nations.

[11] nó thể hiện trong tình mẫu tử, trong tình thương giữa bạn bè, nhưng cho đến nay hiếm khi thể hiện thành tình thương giữa các nhóm và các quốc gia.

Where the will aspect is coming in.

Đó là nơi phương diện ý chí đang đi vào.

[12] It is the theme of the Christian teaching, just as Will, divinely expressed, will be the theme of the coming world religion

[12] Đó là chủ đề của giáo huấn Cơ Đốc, cũng như Ý Chí, khi được biểu lộ một cách thiêng liêng, sẽ là chủ đề của tôn giáo thế giới sắp tới

This is an important statement.

Đây là một phát biểu quan trọng.

[13] and has been the impulse lying behind much of the good work done in the fields of philanthropy and human welfare, but, factually, love has never yet been expressed—except by the Christ.

[13] và đã là xung lực đứng sau phần lớn những việc thiện trong các lĩnh vực từ thiện và phúc lợi con người; nhưng trên thực tế, tình thương chưa từng được biểu lộ—ngoại trừ qua Đức Christ.

Amazing statements.

Những phát biểu đáng kinh ngạc.

No matter how loving we may feel ourselves to be and no matter how we may see ourselves expressing love, he tells us:

Dù chúng ta cảm thấy mình giàu tình thương đến đâu, và dù chúng ta thấy mình đang biểu lộ tình thương như thế nào, Ngài vẫn nói với chúng ta:

factually, love has never yet been expressed—except by the Christ.

trên thực tế, bác ái chưa bao giờ thực sự được biểu lộ—ngoại trừ qua Đức Christ.

He's talking about the Masters of the Wisdom as well in the factual expression of love. Although they express it, maybe it is considered incomplete when compared to the love of the Christ.

Ngài cũng đang nói đến các Chân sư Minh Triết trong việc thực sự biểu lộ bác ái. Mặc dù Các Ngài biểu lộ bác ái, có lẽ sự biểu lộ ấy vẫn được xem là chưa trọn vẹn khi so với bác ái của Đức Christ.

Oftentimes the betterment of material conditions, which is certainly an aspect of the expression of love, is the main way it is expressed, and in reducing distress and increasing comfort and harmony between people and nations even, love is expressed, although in relation to groups and nations it's not so well expressed. That's a higher requirement.

Thường thì việc cải thiện các điều kiện vật chất, vốn chắc chắn là một phương diện biểu lộ của bác ái, lại là cách biểu lộ chính. Bác ái biểu lộ qua việc giảm bớt khổ sở, gia tăng sự an lành và hòa hợp giữa con người, thậm chí giữa các quốc gia, dù trong quan hệ giữa các nhóm và các quốc gia, sự biểu lộ ấy chưa được tốt lắm. Đó là một yêu cầu cao hơn.

But later:

Nhưng về sau:

Will, divinely expressed, will be the theme of the coming world religion

Ý chí, khi biểu lộ một cách thiêng liêng, sẽ là chủ đề của tôn giáo thế giới sắp tới

Will to be divinely expressed, this really requires a broad consciousness. The only way we can express the will-to-good is to have a comprehensive consciousness of what really will bring about the expression, through the Plan, of the divine archetype in the world of Being, that expression happening in the lower worlds.

Để ý chí biểu lộ một cách thiêng liêng, thực sự cần một tâm thức rộng lớn. Cách duy nhất để chúng ta biểu lộ Ý Chí-hướng Thiện là có một tâm thức bao quát về điều thực sự sẽ đưa đến sự biểu lộ, thông qua Thiên Cơ, của nguyên mẫu thiêng liêng trong Thế Giới Bản Thể; sự biểu lộ ấy diễn ra trong các cõi thấp.

A broad consciousness is required. I think there's a place where love and will do blend, and many of the good psychological books have been about love and will together or about what's called tough love.

Cần có một tâm thức rộng lớn. Tôi nghĩ có một điểm mà bác ái và ý chí thực sự hòa quyện, và nhiều cuốn sách tâm lý học hay đã bàn về bác ái cùng ý chí, hoặc về điều được gọi là tình thương nghiêm khắc.

This is a type of love which includes the first ray and it's not of the sentimental kind. It introduces a love which reaches into the welfare of the inner human being and not just of the form. We realize that the form in this second ray planet and solar system is being sacrificed.

Đây là một loại tình thương bao gồm cung một, không thuộc loại đa cảm. Nó đưa vào một tình thương vươn đến phúc lợi của con người bên trong, chứ không chỉ của hình tướng. Chúng ta nhận ra rằng trên hành tinh và trong hệ mặt trời cung hai này, hình tướng đang được hy sinh.

We are now in this second of the major solar systems where it is consciousness which must excel and succeed, whatever happens to the form, and we oftentimes forget that. But when we can review our lives from a perspective of the inner worlds, we will realize the form is gone.

Hiện nay, chúng ta đang ở trong hệ thứ hai của các hệ mặt trời chủ yếu, nơi tâm thức phải vượt trội và thành công, bất kể điều gì xảy ra với hình tướng, và chúng ta thường quên điều đó. Nhưng khi có thể nhìn lại cuộc đời mình từ góc nhìn của các cõi bên trong, chúng ta sẽ nhận ra rằng hình tướng đã mất đi.

The form is gone. But what is with me? It is the consciousness.

Hình tướng đã mất đi. Nhưng điều gì còn ở lại với tôi? Đó là tâm thức.

[14] You might ask, why, if this is so, do you emphasise this highest divine aspect? Why not wait until we know more about love and how to manifest it in our environment? Because, in its true expression, the Will today is needed as a propelling, expulsive force, and also as a clarifying, purifying agent.

[14] Các bạn có thể hỏi, nếu quả như vậy, tại sao Ngài lại nhấn mạnh phương diện thiêng liêng cao nhất này? Tại sao không đợi đến khi chúng ta biết nhiều hơn về tình thương và cách biểu hiện nó trong môi trường của mình? Bởi vì, trong sự biểu lộ chân thật, ngày nay Ý Chí cần thiết như một mãnh lực thúc đẩy, đẩy bật ra, đồng thời như một tác nhân làm sáng tỏ và thanh lọc.

We have some of the Shamballa factors here present, namely purification and the hint at destruction through expulsion. It's needed. It's needed.

Ở đây có một số yếu tố của Shamballa, cụ thể là sự thanh luyện và gợi ý về sự hủy diệt thông qua tống xuất. Điều đó là cần thiết. Điều đó là cần thiết.

We have a dire state. We live on an essentially first ray planet. It's esoterically non-active, we are told, but the first ray will have its way, especially in the function within the Solar Logos.

Tình trạng của chúng ta rất nghiêm trọng. Chúng ta sống trên một hành tinh về bản chất thuộc cung một. Chúng ta được cho biết rằng, xét về mặt huyền bí, cung ấy chưa hoạt động, nhưng cung một sẽ thực hiện đường lối của nó, đặc biệt trong chức năng bên trong Thái dương Thượng đế.

As a base of the spine centre. We have to begin cultivating this, and that whole question of progress onward and driving forward through space, which are the motions connected with the first ray, are needed now. Otherwise we have the possibility at this juncture of relapsing into a condition which will not take advantage of the Shamballa impacts.

Với vai trò trung tâm đáy cột sống. Chúng ta phải bắt đầu vun bồi điều này, và toàn bộ vấn đề tiến lên phía trước, lao tới xuyên qua không gian—những chuyển động gắn liền với cung một—đều cần thiết lúc này. Nếu không, tại thời điểm này, chúng ta có nguy cơ rơi trở lại một tình trạng không tận dụng được các tác động của Shamballa.

Shamballa itself is driving things with its impacts, propelling us forward, expelling via Pluto the evil that is still resident within us, within our aura, and we also need to see the difference between good and evil, and many rosy-eyed idealists do not see that yet.

Chính Shamballa đang thúc đẩy mọi việc bằng các tác động của mình, đẩy chúng ta tiến lên, thông qua Sao Diêm Vương tống xuất điều ác vẫn còn cư trú bên trong chúng ta, trong hào quang của chúng ta. Chúng ta cũng cần thấy sự khác biệt giữa thiện và ác, và nhiều người lý tưởng hóa nhìn đời qua lăng kính màu hồng vẫn chưa thấy được điều ấy.

Their motives are good, but they are not realistic about the clear lines of demarcation between good and evil on our planet. Sometimes those lines are sinuous, as Master Morya has said, and it's tough to destroy the evil ones without destroying the good ones too. But increasingly the sword, I come to bring not peace, but the sword, this sword of clarification and discrimination between good and evil, will be introduced to humanity, into human consciousness.

Động cơ của họ là tốt, nhưng họ không thực tế về những ranh giới phân định rõ ràng giữa thiện và ác trên hành tinh chúng ta. Như Chân sư Morya đã nói, đôi khi những ranh giới ấy quanh co, và thật khó tiêu diệt những kẻ ác mà không tiêu diệt cả những người thiện. Nhưng thanh gươm—“Ta đến không phải để đem lại hòa bình, mà là thanh gươm”—thanh gươm làm sáng tỏ và phân biện thiện ác này sẽ ngày càng được đưa đến với nhân loại, vào tâm thức nhân loại.

[15] The first recorded utterance of the Christ was spoken to His mother (the symbol of the substance aspect of divinity) when He said: “Wist ye not that I must be about My Father’s business?”

[15] Lời nói đầu tiên của Đức Christ được ghi lại là lời Ngài nói với mẹ mình (biểu tượng của phương diện chất liệu của thiên tính): “Mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con sao?”

This is spoken in relation to Virgo, the mother, the son, the father, the son, and also the sign of, one of the signs of, interestingly, busyness. There are two kinds of business operating, and the busyness or busyness in relation to the third aspect was not what he had in mind. So is this the utterance of the Christ, or is this the utterance of the Master Jesus, the Initiate Jesus, on his own, because he was a third-degree Initiate? Or is this the utterance of an early contact with the Master Jesus, by the Christ, where he was inspired to say such a thing? It's about the will, isn't it? I must be about my father's business, and not what you want me to do, come out of the temple, come home, you've missed your supper or whatever, taking care of the form.

Điều này được nói trong mối liên hệ với Xử Nữ: người mẹ, người con, người cha, người con; và điều thú vị là đây cũng là một trong những dấu hiệu của sự bận rộn. Có hai loại công việc đang diễn ra, và sự bận rộn liên quan đến phương diện thứ ba không phải là điều Ngài muốn nói đến. Vậy đây là lời của Đức Christ, hay là lời của chính Chân sư Jesus, điểm đạo đồ Jesus, bởi Ngài là một điểm đạo đồ bậc ba? Hay đây là lời nói xuất phát từ một sự tiếp xúc sớm của Đức Christ với Chân sư Jesus, khiến Ngài được cảm hứng để nói ra điều như vậy? Đó là về ý chí, phải không? Con phải lo việc của Cha con, chứ không phải làm điều mẹ muốn: ra khỏi đền thờ, về nhà, con đã lỡ bữa tối, hay điều gì tương tự—chăm lo cho hình tướng.

[16] That business, related by Him to the first divine aspect, the Monad or Father aspect, was the fulfilment of purpose and the carrying out of the intention, the will and the purpose of God.

[16] Công việc ấy, mà Ngài liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện Chân thần hay Cha, là hoàn thành thiên ý và thực hiện ý định, ý chí cùng thiên ý của Thượng đế.

That business, related by Him to the first divine aspect, the Monad or Father aspect, was the fulfilment of purpose

Công việc ấy, mà Ngài liên hệ với phương diện thiêng liêng thứ nhất, phương diện Chân thần hay Cha, là sự hoàn thành thiên ý

Which later occurred.

Điều ấy về sau đã xảy ra.

and the carrying out of the intention, the will and the purpose of God.

và thực hiện ý định, ý chí cùng thiên ý của Thượng đế.

The Christ was already a fifth degree initiate at that time.

Vào thời điểm ấy, Đức Christ đã là một điểm đạo đồ bậc năm.

He had to have been. If he had been the head of the Hierarchy ever since the Buddha left, at the death of the Buddha, which was, what, at least 500 years before the birth of Jesus. So he was already foreseeing what he would have to do, and even if it was only the Master Jesus, he would be responding to the first impact of his monad, first conscious impact of the monad.

Hẳn Ngài đã phải là như vậy. Nếu Ngài đã đứng đầu Thánh đoàn kể từ khi Đức Phật rời đi, vào lúc Đức Phật qua đời, tức là ít nhất năm trăm năm trước khi Đức Jesus ra đời. Vì vậy, Ngài đã thấy trước những gì mình sẽ phải làm. Và ngay cả nếu đó chỉ là Chân sư Jesus, Ngài cũng đang đáp ứng với tác động đầu tiên của chân thần mình, tác động hữu thức đầu tiên của chân thần.

[17] His second utterance came at the time of the Baptism in Jordan when He said to John, the Baptist: “Suffer it to be so now, for thus it becometh us to fulfil all righteousness.”

[17] Lời nói thứ hai của Ngài được thốt ra vào lúc chịu Phép Rửa tại sông Jordan, khi Ngài nói với Gioan Tẩy Giả: “Giờ đây cứ để như vậy, vì chúng ta nên làm trọn mọi điều công chính.”

John said, ‘Look, Lord, you should be baptizing me; I should not be baptizing you.’ But Jesus had to enact, and of course the Christ really took over at that time, more powerfully at the time of the second initiation.

John nói: “Lạy Chúa, Ngài nên làm phép rửa cho con; con không nên làm phép rửa cho Ngài.” Nhưng Đức Jesus phải diễn hiện điều ấy, và dĩ nhiên Đức Christ thực sự đã tiếp quản vào lúc đó, một cách mạnh mẽ hơn vào thời điểm lần điểm đạo thứ hai.

He had to fulfill the law, fulfill the prophecy, and he had to go through externally the appearance of the initiation so that mankind would know that there was a purification to be done, and that even he as a great Savior would pass through that purification, as an example at least. We cannot say that he was being purified at that time, it was more an enactment, wasn't it? Later in the desert when the Christ was there with the Master Jesus, I suspect, both together, they were undergoing a still more severe purification. The Christ, the kind of purification necessitated by the impending sixth initiation and the Master Jesus by the impending fourth initiation.

Ngài phải làm trọn định luật, làm trọn lời tiên tri, và phải trải qua hình thức bên ngoài của cuộc điểm đạo để nhân loại biết rằng có một sự thanh luyện cần được thực hiện, và ngay cả Ngài, với tư cách một Đấng Cứu Thế vĩ đại, cũng sẽ trải qua sự thanh luyện ấy, ít nhất là để làm gương. Chúng ta không thể nói rằng lúc ấy Ngài đang được thanh luyện; đó đúng hơn là một sự diễn hiện, phải không? Về sau trong hoang mạc, tôi cho rằng khi Đức Christ hiện diện cùng Chân sư Jesus, cả hai Ngài đã trải qua một sự thanh luyện còn nghiêm ngặt hơn nữa. Đối với Đức Christ, đó là sự thanh luyện cần thiết cho lần điểm đạo thứ sáu sắp đến; còn đối với Chân sư Jesus, là cho lần điểm đạo thứ tư sắp đến.

[18] Here, in this second initiation—which symbolises the conquest of desire—He passes on into the realm of fulfilment, of the completion of planned righteous activity.

[18] Ở đây, trong lần điểm đạo thứ hai này—vốn tượng trưng cho sự chinh phục dục vọng—Ngài tiến vào lĩnh vực của sự thành tựu, của việc hoàn tất hoạt động công chính theo kế hoạch.

It's still aligned with the will, isn't it? It's planned and righteous, the right hand, aligned with the will.

Điều đó vẫn chỉnh hợp với ý chí, phải không? Nó được hoạch định và công chính, thuộc phía hữu, chỉnh hợp với ý chí.

[19] For His Own personal desire (necessarily of the very highest order on account of His high point in evolution) He substitutes the divine Will.

[19] Ngài thay thế dục vọng cá nhân của chính mình (tất yếu thuộc cấp cao nhất do điểm tiến hoá cao của Ngài) bằng Ý Chí thiêng liêng.

Not because I want it to be done or because you want it not to be done, but because we must fulfil the law or all righteousness, which is the will.

Không phải vì tôi muốn điều đó được thực hiện hay vì các bạn muốn điều đó không được thực hiện, mà vì chúng ta phải làm trọn định luật hay mọi điều công chính, vốn chính là ý chí.

Let's say all righteousness is the will of the Father. We must fulfill that. So he is conforming, even here, to the divine will.

Mọi điều công chính là ý chí của Cha. Chúng ta phải làm trọn điều đó. Vì vậy, ngay cả ở đây, Ngài cũng đang tuân theo Ý Chí thiêng liêng.

This is interesting because it is at the second initiation that will begins to be substituted for desire, even in the case of the aspirant to initiation. It's no longer Mars, it is the growing power of Vulcan. The death of the most blatant forms of selfishness should there be found, and the spiritual will through Vulcan taking over at that point.

Điều này thú vị, bởi chính ở lần điểm đạo thứ hai, ý chí bắt đầu thay thế dục vọng, ngay cả đối với người chí nguyện hướng đến điểm đạo. Không còn là Sao Hỏa nữa, mà là quyền năng ngày càng tăng của Vulcan. Ở đó phải thấy sự cáo chung của những hình thức ích kỷ trắng trợn nhất, và ý chí tinh thần thông qua Vulcan bắt đầu nắm quyền vào thời điểm ấy.

It will be the head, which Vulcan rules, head centre over the solar plexus, which Mars rules. These are statements of will by the Christ or by Jesus the Christ.

Đó sẽ là đầu, do Vulcan cai quản, trung tâm đầu giữ quyền trên tùng thái dương, do Sao Hỏa cai quản. Đây là những phát biểu về ý chí của Đức Christ hay của Đức Jesus Christ.

[20] Again at the close of His life, in the Gethsemane experience, He cries out:

[20] Một lần nữa, vào (583) cuối cuộc đời, trong trải nghiệm tại Gethsemane, Ngài kêu lên: “

Of course, is it a cry? Is it a cry? I mean, maybe it is.

Dĩ nhiên, đó có phải là một tiếng kêu không? Có phải một tiếng kêu không? Ý tôi là, có lẽ đúng như vậy.

Maybe the Tibetan can read the record and to know that this is likened to a cry, reaching up towards the sixth initiation, a cry generally coming from the, well, from something on the soft line ray. For a human being it would come from the solar plexus related to the sixth plane, but here we're probably not talking about that. A cry of the heart, cri de coeur, probably that.

Có lẽ Chân sư Tây Tạng có thể đọc hồ sơ và biết rằng điều này giống như một tiếng kêu, vươn lên hướng đến lần điểm đạo thứ sáu; một tiếng kêu thường phát xuất từ điều gì đó thuộc dòng cung mềm. Đối với một con người, nó sẽ phát xuất từ tùng thái dương liên quan đến cõi thứ sáu, nhưng ở đây có lẽ chúng ta không nói đến điều đó. Một tiếng kêu từ trái tim, tiếng lòng tha thiết, có lẽ là như vậy.

[21] “Father, not my will but Thine be done.” Even then and even for Him, the achievement of the full expression of will seemed well-nigh impossible;

[21] Lạy Cha, xin cho ý Cha được thực hiện, chứ không phải ý con.” Ngay cả khi ấy, và ngay cả đối với Ngài, việc đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn ý chí dường như gần như bất khả thi;

The Christ had a great humility and a great sense of proportion.

Đức Christ có lòng khiêm nhường sâu sắc và một Ý thức về tỉ lệ lớn lao.

Here it's not the Master Jesus at all, is it? I think at the second initiation, where he's enacting the purification of baptism with John the Baptist, I don't think it's Jesus either. I think it's the Christ, because he really did take over there at the time of the baptism. Maybe in the temple.

Ở đây hoàn toàn không phải là Chân sư Jesus, phải không? Tôi nghĩ ở lần điểm đạo thứ hai, khi Ngài diễn hiện sự thanh luyện qua phép rửa với John, người làm phép rửa, tôi cũng không nghĩ đó là Đức Jesus. Tôi nghĩ đó là Đức Christ, bởi Ngài thực sự đã tiếp quản vào lúc chịu phép rửa. Có lẽ ở trong đền thờ.

It can be something of the Master Jesus who was already the third degree initiate. But these are all statements of will, and DK is trying to explain to us what the will is and is not.

Điều đó có thể phần nào xuất phát từ Chân sư Jesus, vốn đã là điểm đạo đồ bậc ba. Nhưng tất cả những điều này đều là các phát biểu về ý chí, và Chân sư DK đang cố giải thích cho chúng ta ý chí là gì và không phải là gì.

He's entering a section of the book where the will is going to be described. Even then, in the Garden of Gethsemane, and even for him, the achievement of the full expression of will seemed well-nigh impossible.

Ngài đang đi vào một phần của cuốn sách, nơi ý chí sẽ được mô tả. Ngay cả lúc ấy, trong Vườn Gethsemane, và ngay cả đối với Ngài, việc đạt đến sự biểu lộ trọn vẹn của ý chí dường như gần như bất khả.

[22] He was conscious still of the inherent dualism of His position and of the contrast between His will and God’s will.

[22] Ngài vẫn nhận biết tính nhị nguyên vốn có trong vị thế của mình và sự tương phản giữa ý chí của Ngài với ý chí của Thượng đế.

It seems strange, almost heretical, that there could be such a contrast. But he was not yet an initiate of the sixth degree; he was going through that.

Việc có thể tồn tại một sự tương phản như vậy có vẻ kỳ lạ, gần như là dị giáo. Nhưng Ngài chưa phải là một điểm đạo đồ bậc sáu; Ngài đang trải qua cuộc điểm đạo ấy.

He had not yet acquiesced. The idea of acquiescence seems so important when Pisces is involved. We've been talking about quiescence, quiescence in the face of the higher will, acquiescence, being quiet and non-rebellious, and accepting in the face of the higher will.

Ngài vẫn chưa thuận phục. Ý tưởng thuận phục dường như rất quan trọng khi có Song Ngư tham dự. Chúng ta đã nói về sự tĩnh lặng, tĩnh lặng trước ý chí cao hơn, thuận phục, yên lặng và không nổi loạn, chấp nhận trước ý chí cao hơn.

Thus he became, on his own high level, and others—the Master Jesus on his level, having to accept the sacrifice of crucifixion, and others at a lower level as they move from the Mutable Cross of selfishness onto the Cross where the soul is developed and selflessness is developed.

Như vậy, Ngài đã trở nên như thế trên cấp độ cao của mình, và những vị khác cũng vậy—Chân sư Jesus trên cấp độ của Ngài, phải chấp nhận sự hy sinh trên thập giá, cùng những người khác ở cấp độ thấp hơn khi họ chuyển từ Thập Giá Biến đổi của tính ích kỷ sang Thập Giá nơi linh hồn và tính vô ngã được phát triển.

[23] In these three utterances, He demonstrates His recognition of the three emerging aspects of the Shamballa life, quality and energy:

[23] Qua ba lời nói này, Ngài cho thấy mình nhận biết ba phương diện đang xuất hiện của sự sống, phẩm tính và năng lượng Shamballa:

It was an archetypal life that he led.

Cuộc đời Ngài đã sống là một cuộc đời nguyên mẫu.

[EAA-141A-F02] Ba phương diện của Will, với các ghi chú Aretian, Leonian và Capricornian của MDR. — video 00:32:45.

[EAA-141A-F02] Ba phương diện của Ý chí, với các ghi chú về Bạch Dương, Sư Tử và Ma Kết của MDR. — video 00:32:45.

[24] 1. The Will which conditions the life aspect.

[24] 1. Ý Chí định hình phương diện sự sống.

[25] 2. The Will which brings fulfilment of right human relations.

[25] 2. Ý Chí đem lại sự thành tựu trong các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người.

[26] 3. The Will which finally conquers death.

[26] 3. Ý Chí cuối cùng chinh phục sự chết.

DK is going to elaborate on these. I think we find them in that order.

Chân sư DK sẽ triển khai chi tiết những điều này. Tôi nghĩ chúng ta thấy chúng theo thứ tự ấy.

Now this is a Capricornian aspect of the will, and the will which brings fulfillment is a, he tells us, Leonian aspect, and the will which conditions the life aspect, we're going to have to call that the Aries aspect of the will. We're into this very, very important and most abstract section of the book, dealing with the subject which he has said we understand but very little.

Đây là một phương diện Ma Kết của ý chí; còn ý chí đem lại sự hoàn thành, Ngài cho chúng ta biết, là một phương diện Sư Tử; và ý chí tác động lên phương diện sự sống, chúng ta sẽ phải gọi đó là phương diện Bạch Dương của ý chí. Chúng ta đang đi vào phần rất, rất quan trọng và trừu tượng nhất này của cuốn sách, bàn về chủ đề mà Ngài đã nói rằng chúng ta chỉ thấu hiểu rất ít.

Three utterances at the age of 12. Jesus at the age of 12, the completion of the Shamballic cycle, the number 12, relating to Pisces ruling Shamballa through its Pluto, and also completing a complete Jupiterian cycle which causes us to reflect on the fact that Jupiter is the ruler of the Monadic plane and the ruler of Virgo, hierarchically, which is the ruler of the Monadic plane. So, many Shamballic indications there.

Ba lời nói, vào tuổi mười hai. Đức Jesus ở tuổi mười hai, sự hoàn tất của chu kỳ Shamballa, con số mười hai, liên quan đến Song Ngư cai quản Shamballa thông qua Sao Diêm Vương của nó, đồng thời hoàn tất một chu kỳ trọn vẹn của Sao Mộc. Điều này khiến chúng ta suy ngẫm về sự kiện Sao Mộc là chủ tinh của cõi chân thần và là chủ tinh huyền giai của Xử Nữ, dấu hiệu cai quản cõi chân thần. Vì vậy, ở đó có nhiều dấu hiệu chỉ về Shamballa.

Coming in here at the baptism at the age of 30. Jesus is age of 30, when will is to take over from desire. That is the theme, really, of the second initiation.

Tiếp đến ở đây là phép rửa vào tuổi ba mươi. Đức Jesus ở tuổi ba mươi, khi ý chí phải tiếp quản từ dục vọng. Thực ra, đó là chủ đề của lần điểm đạo thứ hai.

It's not desire anymore, it's will that counts. It's the Vulcan Mars opposition, the Sun, in a way, Sun-Mars opposition, going on to the third degree, and then the will that conquers death.

Không còn là dục vọng nữa, mà ý chí mới là điều quan trọng. Đó là đối vị Vulcan–Sao Hỏa, hay theo một cách nào đó là đối vị Mặt Trời–Sao Hỏa, tiến đến bậc ba, rồi đến ý chí chinh phục cái chết.

But what form of death? When DK gives us the sixth formula, which is following Sun—Black—Antahkarana, it's the formula of the Word of Death. It's all about the conquest of true death, of the forms that bring death because they are out of alignment with the will of the Planetary Logos. Capricorn, the will that conquers death, and he will discuss this more.

Nhưng là hình thức chết nào? Khi Chân sư DK trao cho chúng ta công thức thứ sáu, tiếp sau Mặt Trời—Đen—Antahkarana, đó là công thức của Linh từ của Cái Chết. Toàn bộ điều này nói về việc chinh phục cái chết thực sự, những hình tướng đem lại cái chết vì chúng không chỉnh hợp với ý chí của Hành Tinh Thượng đế. Ma Kết, ý chí chinh phục cái chết, và Ngài sẽ bàn thêm về điều này.

It's going to be a fantastic section of the book, but who is equal to really interpret it? That's the problem, of course.

Đây sẽ là một phần kỳ diệu của cuốn sách, nhưng ai có đủ khả năng thực sự diễn giải nó? Dĩ nhiên, đó là vấn đề.

[27] These three aspects are all related to the three divine expressions of spirit, soul and body, of life, consciousness and form, of life, quality and appearance.

[27] Cả ba phương diện này đều liên quan đến ba biểu lộ thiêng liêng: tinh thần, linh hồn và thân thể; sự sống, tâm thức và hình tướng; sự sống, phẩm tính và sắc tướng.

Maybe they should be inverted.

Có lẽ chúng nên được đảo ngược.

Maybe the appearance aspect and its purification, well, maybe the appearance aspect is related to the first utterance, the soul aspect to the second, and the life aspect to the third utterance.

Có lẽ phương diện sắc tướng và sự thanh luyện của nó—có lẽ phương diện sắc tướng liên quan đến lời nói thứ nhất, phương diện linh hồn liên quan đến lời nói thứ hai, và phương diện sự sống liên quan đến lời nói thứ ba.

[28] This phase of Christ’s life expression has never been properly studied, yet even a little grasp and understanding of it would aid humanity to drive evil (individual, group and planetary) back to the place from whence it came

[28] Giai đoạn này trong sự biểu lộ sự sống của Đức Christ chưa bao giờ được nghiên cứu đúng mức, tuy nhiên, chỉ cần nắm bắt và thấu hiểu đôi chút về nó cũng sẽ giúp nhân loại đẩy lùi cái ác (của cá nhân, nhóm và hành tinh) về nơi nó đã xuất phát

Via Chapter X in The Rays and the Initiations, with the rending of the veils and the driving of evil back onto the astral plane. To drive evil back to the place from whence it came:

Qua Chương X trong Các Cung và Các Cuộc Điểm Đạo, với việc xé toạc các bức màn và đẩy lùi cái ác trở lại cõi cảm dục. Đẩy lùi cái ác trở về nơi nó phát xuất:

[29] and would aid in the release of humanity from the terror which is today stalking abroad, defying God and man.

[29] và giúp giải thoát nhân loại khỏi nỗi kinh hoàng đang hoành hành khắp nơi ngày nay, thách thức cả Thượng đế lẫn con người.

That's what the Black Lodge does. It is defying God and man. So the Christ could acquiesce, and we can acquiesce, and in this acquiescence, we drive evil back.

Đó là điều Hắc đoàn làm. Hắc đoàn đang thách thức Thượng đế và con người. Vì vậy, Đức Christ có thể thuận phục, và chúng ta có thể thuận phục; trong sự thuận phục này, chúng ta đẩy lùi cái ác.

In this acquiescence, we drive evil back. Evil cannot withstand the true spiritual will. The true will of Shamballa, even the will of Shamballa is something greater than the spiritual will in a way.

Trong sự thuận phục này, chúng ta đẩy lùi cái ác. Cái ác không thể chống lại ý chí tinh thần chân chính. Ý chí chân chính của Shamballa, ngay cả ý chí của Shamballa, theo một nghĩa nào đó, cũng vĩ đại hơn ý chí tinh thần.

The will of Shamballa comes directly from the Father on the Monadic and logoic planes. Even though the logoic plane—and the spiritual will, we understand, is a reflection of that, or an expression of that on the atmic plane, still within the worlds of Brahma, still within the five worlds of human attainment. Well may we attempt then to properly study this aspect of will.

Ý chí của Shamballa đến trực tiếp từ Đức Cha trên các cõi chân thần và Thượng đế. Mặc dù cõi Thượng đế—và ý chí tinh thần, như chúng ta thấu hiểu, là sự phản chiếu của ý chí ấy, hay sự biểu lộ của ý chí ấy trên cõi atma, vẫn nằm trong các thế giới của Brahma, vẫn nằm trong năm thế giới mà con người có thể đạt tới. Vậy chúng ta rất nên cố gắng nghiên cứu đúng mức phương diện này của ý chí.

He did say, could not a group be gathered together which is truly dedicating itself to an understanding and expression of the Shamballa force? I don't know how many groups have consciously been drawn together in that mode.

Ngài quả đã nói: chẳng lẽ không thể tập hợp một nhóm thực sự hiến mình cho việc thấu hiểu và biểu lộ mãnh lực Shamballa hay sao? Tôi không biết có bao nhiêu nhóm đã có ý thức quy tụ theo cách ấy.

[30] The Shamballa energy is, therefore, that which is related to the livingness (through consciousness and form) of humanity;

[30] Do đó, năng lượng Shamballa là năng lượng liên quan đến sức sống (thông qua tâm thức và hình tướng) của nhân loại;

‘I am the way, the truth, and the life,’ said Christ, meaning he is related to the Shamballa force. What does he mean by I? I don't think the personal I at all. He means that he is identified with that which is the path to travel, the truth of things, and the great source of Being which is the life of all things, life itself, Being and life in many ways having to be equivalent terms.

Đức Christ nói: “Ta là đường đi, chân lý và sự sống”, hàm ý rằng Ngài liên hệ với mãnh lực Shamballa. Ngài muốn nói gì qua chữ Ta? Tôi không nghĩ đó là cái tôi cá nhân chút nào. Ngài muốn nói rằng Ngài đồng hoá với con đường phải đi, với chân lý của vạn vật, và với cội nguồn vĩ đại của Bản Thể, vốn là sự sống của vạn vật, chính sự sống; theo nhiều nghĩa, Bản Thể và sự sống phải là những thuật ngữ tương đương.

[31] we need not consider its relation to the rest of the manifested world;

[31] chúng ta không cần xem xét mối liên hệ của nó với phần còn lại của thế giới biểu hiện;

Though there is something to consider there, especially to the mineral kingdom.

Dù ở đó vẫn có điều đáng xem xét, đặc biệt là mối liên hệ với giới kim thạch.

[32] it concerns the establishing of right human relations and is that condition of being which eventually negates the power of death.

[32] nó liên quan đến việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người và là trạng thái hiện tồn cuối cùng sẽ vô hiệu hoá quyền năng của sự chết.

So much said in this.

Câu này nói lên biết bao điều.

The Shamballa energy, he's calling it an energy here, he's not calling it a force. When it's a force, it's directly applied in an impact. When it's an energy, it is what it is, and from that energy can be focused the force.

Năng lượng Shamballa—ở đây Ngài gọi đó là năng lượng, Ngài không gọi là mãnh lực. Khi là mãnh lực, nó được áp dụng trực tiếp để tạo ra một tác động. Khi là năng lượng, nó vốn là như vậy, và từ năng lượng ấy có thể tập trung thành mãnh lực.

It concerns the establishing of right human relations which are archetypal and are found in the world of being which is within the world of Shamballa. Archetypes are found particularly on the Monadic plane and logoic plane, and it is there that right relations are seen in their pure and archetypal form. Meanwhile, we have to approximate the archetype.

Nó liên quan đến việc thiết lập các mối quan hệ đúng đắn giữa người với người, vốn mang tính nguyên mẫu và hiện hữu trong Thế Giới Bản Thể nằm bên trong thế giới Shamballa. Các nguyên mẫu đặc biệt hiện hữu trên cõi chân thần và cõi Thượng đế, và chính tại đó, người ta thấy các mối quan hệ đúng đắn trong hình tướng thuần khiết và nguyên mẫu của chúng. Trong khi đó, chúng ta phải tiến gần đến nguyên mẫu.

One great piece of advice in your life: approximate the archetype, but then you first have to find what it is.

Một lời khuyên quan trọng cho cuộc đời các bạn: hãy tiến gần đến nguyên mẫu, nhưng trước hết các bạn phải tìm ra nguyên mẫu ấy là gì.

[33] It is, therefore, incentive and not impulse;

[33] Do đó, nó là động lực chứ không phải xung lực;

Let's say incentive involves the will, true incentive. True incentive involves the will, and it's not impulse, something arising from the form nature. It does not arise from the form nature.

Động cơ thúc đẩy đích thực bao hàm ý chí. Động cơ thúc đẩy đích thực bao hàm ý chí, và nó không phải là xung động, một điều nảy sinh từ bản chất hình tướng. Nó không nảy sinh từ bản chất hình tướng.

It comes from the very substance of our nature, and it has a goal, a vision, a purpose in mind. It is, the Shamballa energy:

Nó đến từ chính chất liệu của bản chất chúng ta, và hướng đến một mục tiêu, một tầm nhìn, một mục đích. Năng lượng Shamballa là:

[34] it is realised purpose and not the expression of desire.

[34] nó là thiên ý đã được chứng nghiệm chứ không phải sự biểu lộ của dục vọng.

From realized purpose comes the will, one way of looking at will; from realized purpose comes the will to carry forth that purpose into incarnation.

Từ thiên ý đã được chứng nghiệm mà ý chí phát sinh—đó là một cách nhìn về ý chí; từ thiên ý đã được chứng nghiệm mà phát sinh ý chí đưa thiên ý ấy vào sự nhập thể.

Our strength of will will depend on the degree to which we have realized purpose.

Sức mạnh ý chí của chúng ta sẽ phụ thuộc vào mức độ chúng ta đã chứng nghiệm thiên ý.

[35] Desire works from and through the material form upwards;

[35] Dục vọng hoạt động từ hình tướng vật chất và xuyên qua hình tướng ấy hướng lên trên;

It's a sort of a reaching out of the elemental nature and of the lower chakras.

Đó là một dạng vươn ra của bản chất hành khí và của các luân xa thấp.

[36] Will works downwards into form,

[36] Ý Chí hoạt động theo chiều đi xuống vào hình tướng,

Bending—there's your Vulcanian word.

Uốn nắn—đó là từ ngữ thuộc Vulcan.

[37] bending form consciously to divine purpose.

[37] uốn nắn hình tướng một cách có ý thức theo thiên ý.

I think these we really have to look at as very important statements.

Tôi nghĩ chúng ta thực sự phải xem đây là những phát biểu rất quan trọng.

Desire works from and through the material form upwards; Will works downwards into form,

Dục vọng hoạt động hướng lên từ hình tướng vật chất và xuyên qua hình tướng ấy; Ý chí hoạt động hướng xuống, đi vào hình tướng,

Outward, from the center to the periphery. Bending form, bending it into shape. I sometimes think, there's a slang saying don't get bent out of shape, when you are having a reaction to something.

Hướng ra ngoài, từ trung tâm đến chu vi. Uốn nắn hình tướng, uốn nó thành hình dạng. Đôi khi tôi nghĩ đến một cách nói lóng: đừng để mình bị vặn vẹo, nghĩa là đừng nổi cáu khi phản ứng trước điều gì đó.

But that precisely is what's happening with the Vulcanian aspect of the soul. It's bending us into the proper shape which begins to approximate the archetype.

Nhưng đó chính là điều đang diễn ra với phương diện Vulcan của linh hồn. Nó đang uốn nắn chúng ta thành hình dạng đúng đắn, bắt đầu tiến gần đến nguyên mẫu.

[38] The one is invocative and the other is evocative.

[38] Một bên (584) mang tính khẩn cầu, còn bên kia mang tính gợi lên.

I guess he's saying that desire is invocative. We call it invocative: call or cry, desire. We call or cry, a more intense call.

Tôi đoán Ngài đang nói rằng dục vọng mang tính khẩn cầu. Chúng ta gọi đó là khẩn cầu: lời gọi hay tiếng kêu, dục vọng. Chúng ta gọi hoặc kêu lên, một lời gọi mãnh liệt hơn.

The other is evocative. It summons response. It makes response irresistible.

Bên kia mang tính gợi lên. Nó khơi dậy sự đáp ứng. Nó khiến sự đáp ứng trở nên không thể cưỡng lại.

[39] Desire, when massed and focussed, can invoke will;

[39] Dục vọng, khi được tập hợp và tập trung, có thể khẩn cầu ý chí;

A very strong Mars-focused desire can bring a response from Vulcan, Vul-Cain. The story of Abel the shepherd and his brother Cain.

Một dục vọng rất mạnh tập trung qua Sao Hỏa có thể mang lại sự đáp ứng từ Vulcan, Vul-Cain. Câu chuyện về Abel, người chăn chiên, và người anh em Cain.

But Cain kills Abel, and the will kills desire.

Nhưng Cain giết Abel, và ý chí giết dục vọng.

Desire, when massed and focussed, can invoke will;

Khi được tập hợp và tập trung, dục vọng có thể khẩn cầu ý chí;

[40] will, when evoked, ends desire and becomes an immanent, propulsive, driving force, stabilising, clarifying,

[40] ý chí, khi được gợi lên, chấm dứt dục vọng và trở thành một mãnh lực nội tại, thúc đẩy, dẫn động, ổn định, làm sáng tỏ,

[41] and—among other things—finally destroying.

[41] và—cùng với những tác dụng khác—cuối cùng là huỷ diệt.

This is so wonderful. If you'll excuse me, I'm going to do it again.

Điều này thật tuyệt vời. Xin các bạn thứ lỗi, tôi sẽ làm lại một lần nữa.