← Earth Changes

Table of Contents

Table of Contents

Table of Contents2

Foreword6

Who Was Edgar Cayce?—Edgar Cayce là ai?6

Edgar Cayce on Earth Changes9

116

Chages in Prehistory—Những biến đổi trong tiền sử16

262

Chages for the Twentieth Century—Những biến đổi cho Thế kỷ Hai Mươi62

3100

Chages for the Future—Những Đổi Thay cho Tương Lai100

4131

Changes—Inaccurate, Misinterpreted or Partially Wrong—Những thay đổi—Không chính xác, Bị diễn giải sai hoặc Chỉ đúng một phần131

5154

Changes in World Affairs—Những thay đổi trong tình hình thế giới154

Earth

Changes

Earth

Changes

Historical, Economical,

Political, and Global

By Edgar Cayce

[picture]

Copyright © 2012

by the Edgar Cayce Foundation

1st Printing, January 2013

Printed in the U.S.A.

All rights reserved. No part of this book may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying, recording, or by any information storage and retrieval system, without permission in writing from the publisher.

A.R.E. Press

215 67th Street

Virginia Beach, VA 23451-2061

ISBN-13: 978-0-87604-722-4

Edgar Cayce Readings © 1971, 1993-2007

by the Edgar Cayce Foundation.

All rights reserved.

Cover design by Richard Boyle

Foreword

Who Was Edgar Cayce?—Edgar Cayce là ai?

Edgar Cayce (1877-1945) has been called “the sleeping prophet,” “the father of holistic medicine,” “the miracle man of Virginia Beach,” and “the most documented psychic of all time.” For forty-three years of his adult life, he had the ability to put himself into a self-induced sleep state by lying down on a couch, closing his eyes, and folding his hands over his stomach. This state of relaxation and meditation enabled him to place his mind in contact with all time and space and gave him the ability to respond to any question he was asked. His responses came to be called “readings” and contain insights so valuable that even to this day Edgar Cayce’s work is known throughout the world. Hundreds of books have explored his amazing psychic gift, and the entire range of Cayce material is accessed by tens of thousands of people daily via the Internet.

Edgar Cayce (1877-1945) đã được gọi là “vị tiên tri đang ngủ,” “người cha của y học toàn diện,” “người đàn ông làm phép lạ ở Virginia Beach,” và “nhà thông linh được ghi chép đầy đủ nhất mọi thời.” Suốt bốn mươi ba năm trong đời trưởng thành, Ông có khả năng tự đưa mình vào trạng thái ngủ bằng cách nằm xuống ghế dài, nhắm mắt, và đan tay trên bụng. Trạng thái thư giãn và tham thiền này giúp Ông đặt thể trí của mình vào tiếp xúc với mọi thời gian và không gian, và ban cho Ông khả năng đáp ứng bất kỳ câu hỏi nào được nêu ra. Những câu trả lời ấy về sau được gọi là “các buổi đọc,” và chứa đựng những minh triết quý giá đến mức cho đến ngày nay, công trình của Edgar Cayce vẫn được biết đến trên khắp thế giới. Hàng trăm cuốn sách đã khảo sát thiên tư thông linh kỳ diệu của Ông, và toàn bộ tư liệu Cayce được hàng chục ngàn người truy cập mỗi ngày qua Internet.

Although the vast majority of the Cayce material deals with health and every manner of illness, countless topics were explored by Cayce’s psychic talent: dreams, philosophy, intuition, business advice, the Bible, education, child rearing, ancient civilizations, personal spirituality, improving human relationships, and much more. In fact, during Cayce’s lifetime he discussed an amazing 10,000 different subjects!

Dù phần lớn tư liệu Cayce đề cập đến sức khỏe và mọi thứ bệnh hoạn, vô số đề tài khác cũng đã được Ông khai mở bằng thiên tư thông linh: chiêm bao, triết lý, trực giác, tư vấn kinh doanh, Kinh Thánh, giáo dục, nuôi dạy con, các nền văn minh cổ, tinh thần cá nhân, cải thiện các mối quan hệ giữa người với người, và còn nhiều hơn thế nữa. Thật vậy, trong đời Ông, Cayce đã bàn đến một con số đáng kinh ngạc: 10,000 chủ đề khác nhau!

The Cayce legacy presents a body of information so valuable that Edgar Cayce himself might have hesitated to predict its impact on contemporary society. Who could have known that eventually terms such as meditation, auras, spiritual growth, reincarnation, and holism would become household words to millions? Edgar Cayce’s A.R.E. (the Association for Research and Enlightenment, Inc.) has grown from its humble beginnings to an association with Edgar Cayce Centers in countries around the world. Today, the Cayce organizations consist of hundreds of educational activities and outreach programs, children’s camps, a multi-million dollar publishing company, membership benefits and services, volunteer contacts and programs worldwide, massage and health services, prison and prayer outreach programs, conferences and workshops, internet and online activities, and affiliated schools (Atlantic University: AtlanticUniv.edu and the Cayce/Reilly® School of Masso-therapy: CayceReilly.edu).

Di sản Cayce trình bày một thân kho tàng thông tin quý đến mức có lẽ chính Edgar Cayce cũng ngần ngại khi tiên liệu tác động của nó trên xã hội đương thời. Ai có thể biết rằng rốt cuộc những thuật ngữ như tham thiền, hào quang, trưởng dưỡng tinh thần, luân hồi và toàn thể luận sẽ trở thành những từ cửa miệng của hàng triệu người? A.R.E. của Edgar Cayce (the Association for Research and Enlightenment, Inc.) đã lớn mạnh từ những khởi đầu khiêm tốn thành một hiệp hội với các Trung tâm Edgar Cayce ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, các tổ chức Cayce bao gồm hàng trăm hoạt động giáo dục và chương trình tiếp cận cộng đồng, trại hè cho trẻ em, một công ty xuất bản trị giá nhiều triệu đô la, các quyền lợi và dịch vụ dành cho hội viên, mạng lưới tình nguyện viên và chương trình trên toàn cầu, dịch vụ mát-xa và sức khỏe, các chương trình tiếp cận nhà tù và cầu nguyện, hội thảo và lớp học, hoạt động trên internet và trực tuyến, và các trường liên kết (Atlantic University: AtlanticUniv.edu và Trường Masso-therapy Cayce/Reilly®: CayceReilly.edu).

Edgar Cayce was born and reared on a farm near Hopkinsville, Kentucky. He had a normal childhood in many respects. However, he could see the glowing energy patterns that surround individuals. At a very early age he told his parents that he could see and talk with his grandfather—who was deceased. Later, he developed the ability to sleep on his schoolbooks and retain a photographic memory of their entire contents.

Edgar Cayce sinh ra và lớn lên tại một trang trại gần Hopkinsville, Kentucky. Về nhiều phương diện Ông có một tuổi thơ bình thường. Tuy nhiên, Ông có thể thấy các mô thức năng lượng phát sáng bao quanh con người. Từ rất sớm Ông nói với cha mẹ rằng Ông có thể nhìn thấy và trò chuyện với ông nội—người đã qua đời. Sau này, Ông phát triển khả năng ngủ trên sách giáo khoa và ghi nhớ như chụp ảnh toàn bộ nội dung.

As the years passed, he met and fell in love with Gertrude Evans, who would become his wife. Shortly thereafter, he developed a paralysis of the vocal cords and could scarcely speak above a whisper. Everything was tried, but no physician was able to locate a cause. The laryngitis persisted for months. As a last resort, hypnosis was tried. Cayce put himself to sleep and was asked by a specialist to describe the problem. While asleep, he spoke normally, diagnosing the ailment and prescribing a simple treatment. After the recommendations were followed, Edgar Cayce could speak normally for the first time in almost a year. The date was March 31, 1901—that was the first reading.

Theo năm tháng, Ông gặp và đem lòng yêu Gertrude Evans, người sau này trở thành vợ Ông. Không lâu sau, Ông bị liệt dây thanh quản và hầu như chỉ nói được thì thầm. Đã thử mọi cách nhưng không bác sĩ nào tìm ra nguyên nhân. Chứng viêm thanh quản kéo dài hàng tháng. Như biện pháp sau cùng, người ta thử thôi miên. Cayce tự đưa mình vào giấc ngủ và được một chuyên gia yêu cầu mô tả vấn đề. Khi đang ngủ, Ông nói năng bình thường, chẩn đoán căn bệnh và kê một cách chữa trị đơn giản. Sau khi làm theo khuyến nghị, Edgar Cayce đã có thể nói bình thường lần đầu tiên trong gần một năm. Ngày ấy là 31 tháng 3, 1901—đó là buổi đọc đầu tiên.

When it was discovered what had happened, many others began to want help. It was soon learned that Edgar Cayce could put himself into this unconscious state and give readings for anyone—regardless of where the person was. If the advice was followed, they got well. Newspapers throughout the country carried articles about his work, but it wasn’t really until Gertrude was stricken with tuberculosis that the readings were brought home to him. Even with medical treatments, she continued to grow worse and was not expected to live. Finally, the doctors said there was nothing more they could do. A reading was given, recommending such things as osteopathy, hydrotherapy, inhalants, dietary changes, and prescription medication. The advice was followed and Gertrude returned to perfectly normal health.

Khi người ta biết điều gì đã xảy ra, nhiều người khác bắt đầu tìm đến xin giúp đỡ. Người ta sớm nhận ra Edgar Cayce có thể tự đưa mình vào trạng thái vô thức này và cho buổi đọc cho bất kỳ ai—bất kể người đó ở đâu. Nếu làm theo lời khuyên, họ khỏi bệnh. Các báo trên khắp nước đăng bài về công việc của Ông, nhưng phải đến khi Gertrude mắc lao phổi thì các buổi đọc mới thực sự trở về với chính Ông. Dù điều trị y khoa, tình trạng của Bà vẫn xấu đi và không kỳ vọng sống. Cuối cùng, các bác sĩ nói rằng không còn gì họ có thể làm. Một buổi đọc được thực hiện, khuyến nghị những điều như nắn chỉnh xương, thủy liệu pháp, thuốc hít, thay đổi chế độ ăn, và thuốc kê đơn. Người ta làm theo và Gertrude đã trở lại sức khỏe hoàn toàn bình thường.

For decades, the Cayce readings have stood the test of time, research, and extensive study. Further details of Cayce’s life and work are explored in such classic books as There is a River (1942) by Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) by Jess Stearn, Many Mansions (1950) by Gina Cerminara, and Edgar Cayce: An American Prophet (2000) by Sidney Kirkpatrick. Further information about Edgar Cayce’s A.R.E., as well as activities, materials and services, is available at EdgarCayce.org.

Trong nhiều thập kỷ, các buổi đọc Cayce đã đứng vững trước phép thử của thời gian, nghiên cứu và khảo cứu sâu rộng. Các chi tiết về đời và sự nghiệp của Cayce được trình bày trong những tác phẩm kinh điển như There is a River (1942) của Thomas Sugrue, The Sleeping Prophet (1967) của Jess Stearn, Many Mansions (1950) của Gina Cerminara, và Edgar Cayce: An American Prophet (2000) của Sidney Kirkpatrick. Thông tin thêm về A.R.E. của Edgar Cayce, cũng như các hoạt động, tư liệu và dịch vụ, có tại EdgarCayce.org.

Throughout his life, Edgar Cayce claimed no special abilities, nor did he ever consider himself to be a twentieth-century prophet. The readings never offered a set of beliefs that had to be embraced, but instead focused on the fact that each person should test in his or her own life the principles presented. Though Cayce himself was a Christian and read the Bible from cover to cover every year of his life, his work was one that stressed the importance of comparative study among belief systems all over the world. The underlying principle of the readings is the oneness of all life, a tolerance for all people, and a compassion and understanding for every major religion in the world.

Suốt đời, Edgar Cayce không nhận mình có năng lực đặc biệt nào, cũng chẳng bao giờ tự xem mình là một vị tiên tri thế kỷ hai mươi. Các buổi đọc không hề đưa ra một hệ niềm tin bắt buộc phải chấp nhận, mà nhấn mạnh rằng mỗi người nên tự kiểm chứng trong đời sống của chính mình những nguyên tắc được trình bày. Tuy chính bản thân Cayce là một tín hữu Ki-tô giáo và mỗi năm đều đọc Kinh Thánh từ đầu đến cuối, công trình của Ông đề cao tầm quan trọng của việc nghiên cứu so sánh giữa các hệ niềm tin trên khắp thế giới. Nguyên lý nền tảng của các buổi đọc là tính nhất thể của mọi sự sống, lòng bao dung cho mọi người, và lòng trắc ẩn cùng sự thấu hiểu đối với mọi tôn giáo lớn trên thế giới.

Today, the Cayce organizations continue the legacy begun by Edgar Cayce with an undergirding mission “to help people change their lives for the better—physically, mentally, and spiritually—through the ideas in the Edgar Cayce material.”

Ngày nay, các tổ chức Cayce tiếp tục di sản do Edgar Cayce khởi xướng với sứ mệnh nền tảng “giúp con người thay đổi cuộc sống theo hướng tốt hơn—về thể chất, tinh thần trí tuệ, và tinh thần—thông qua các ý tưởng trong tư liệu Edgar Cayce.”

Edgar Cayce on Earth Changes

During the 43 years he gave readings, Edgar Cayce discussed an amazing 10,000 different topics! Whether your interest is acne or Zoroastrianism, or anything in between, there are undoubtedly insights and information contained in the Cayce material. However, in spite of this immense subject matter, perhaps the information on “earth changes” has received the greatest amount of publicity and more notoriety than anything else in the Cayce archives. Unfortunately, over the years, many individuals have incorrectly assumed that the Cayce material on earth changes could be summarized with such predicted catastrophes as a global future fraught with earthquakes, California sliding off into the ocean (potentially as far east as Nebraska), a shifting of the poles, and a calamitous disaster that would connect the Great Lakes with the Gulf of Mexico and essentially divide what remained of the continental United States into two.

Trong suốt 43 năm đưa ra các buổi đọc, Edgar Cayce đã bàn đến một con số đáng kinh ngạc: 10,000 chủ đề khác nhau! Dù mối quan tâm của bạn là mụn trứng cá hay Bái Hỏa Giáo, hoặc bất cứ điều gì ở giữa, chắc chắn có những soi sáng và thông tin chứa trong tư liệu Cayce. Tuy nhiên, bất chấp khối lượng đề tài mênh mông ấy, có lẽ những thông tin về “các biến đổi địa cầu” đã nhận được nhiều công bố và gây tiếng tăm hơn bất cứ điều gì khác trong kho lưu trữ Cayce. Đáng tiếc là qua nhiều năm, nhiều người đã hiểu sai rằng tư liệu Cayce về biến đổi địa cầu có thể tóm gọn bằng các thảm họa dự đoán như tương lai toàn cầu đầy động đất, California trượt xuống biển (có thể đến tận phía đông là Nebraska), sự dịch chuyển các cực, và một tai họa khủng khiếp sẽ nối Ngũ Đại Hồ với Vịnh Mexico, về căn bản chia đôi phần còn lại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ lục địa.

This volume of verbatim readings from the Cayce files has been compiled in an effort to address some of these longstanding misperceptions, as the Edgar Cayce information on earth changes is not really about earthquakes and geological disasters but about much, much more.

Tập sách các buổi đọc nguyên văn từ hồ sơ Cayce này được biên soạn nhằm giải tỏa một số quan niệm lệch lạc tồn tại lâu dài ấy, bởi thông tin của Edgar Cayce về biến đổi địa cầu thực ra không phải về động đất và các thảm họa địa chất, mà còn nhiều hơn, rất nhiều.

In this volume, the Edgar Cayce readings on earth changes fall into five categories: 1) prehistory (e.g., ancient times); 2) the twentieth century (e.g., economical, political, societal, global and geological); 3) the future; 4) inaccurate, misinterpreted, or partially wrong readings; and 5) miscellaneous readings on topics such as the vibrations of nations, the destiny of our collective consciousness as a human family, what we are attempting to learn as children of One Creator, and ultimately the nature of world affairs.

Trong tập này, các buổi đọc của Edgar Cayce về biến đổi địa cầu được xếp thành năm nhóm: 1) tiền sử (thời cổ đại); 2) thế kỷ hai mươi (kinh tế, chính trị, xã hội, toàn cầu và địa chất); 3) tương lai; 4) các buổi đọc không chính xác, bị diễn giải sai, hoặc sai một phần; và 5) tạp luận về những chủ đề như rung động của các quốc gia, định mệnh của tâm thức tập thể của chúng ta như một gia đình nhân loại, chúng ta đang cố gắng học gì với tư cách những đứa con của Đấng Sáng Tạo Duy Nhất, và sau cùng là bản chất của thời cuộc thế giới.

The readings that deal with prehistory discuss such things as the origins of Creation and the entrance of humankind into the earth. This material includes the topic of Atlantis, as well as brief mention of the civilizations of Lemuria and the Mayans. It also includes information on the appearance of the world’s surface in prehistory and how some of that geological surface has changed over time. In addition to discussing hidden archaeological sites and uncovered records of forgotten civilizations, Edgar Cayce claimed that the history of humankind went back some ten million years! Although much of this material may be impossible to verify, contemporary research has uncovered evidence to confirm some of the information given in Cayce’s trance state. For example, several readings discuss the fact that the Nile had changed its course over eons and had once emptied into the Atlantic Ocean (all of which would be confirmed through satellite imaging and on-site archaeological investigations decades after the readings were given):

Các buổi đọc đề cập đến tiền sử bàn về những điều như nguồn khởi của Sự Sáng tạo và sự đi vào Địa Cầu của nhân loại. Tư liệu này bao gồm chủ đề Atlantis, cũng như có nhắc ngắn gọn đến các nền văn minh Lemuria và Maya. Nó cũng cung cấp thông tin về diện mạo bề mặt thế giới trong tiền sử và cách một số bề mặt địa chất ấy đã thay đổi theo thời gian. Ngoài việc nói về các địa điểm khảo cổ bị chôn giấu và những ghi chép của các nền văn minh bị quên lãng được phát hiện, Edgar Cayce còn khẳng định lịch sử nhân loại lui về khoảng mười triệu năm! Dù phần lớn tư liệu này có thể bất khả kiểm chứng, nghiên cứu đương đại đã phát hiện những bằng chứng xác nhận một phần thông tin được đưa ra trong trạng thái xuất thần của Cayce. Chẳng hạn, một số buổi đọc nói rằng sông Nile đã đổi dòng qua nhiều thiên kỷ và đã từng đổ vào Đại Tây Dương (tất cả những điều này về sau được xác nhận qua ảnh vệ tinh và các cuộc điều tra khảo cổ tại chỗ, nhiều thập kỷ sau khi các buổi đọc được đưa ra):

The Nile entered into the Atlantic Ocean. What is now the Sahara was an inhabited land and very fertile. What is now the central portion of this country, or the Mississippi basin, was then all in the ocean; only the plateau was existent, or the regions that are now portions of Nevada, Utah and Arizona formed the greater part of what we know as the United States...

Sông Nile đổ vào Đại Tây Dương. Nơi nay là Sahara từng là vùng có người ở và rất phì nhiêu. Nơi nay là phần trung tâm của đất nước này, tức lưu vực sông Mississippi, khi ấy toàn là biển; chỉ còn cao nguyên tồn tại, hay các vùng nay là một phần của Nevada, Utah và Arizona cấu thành phần lớn điều mà chúng ta gọi là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ...

362-13

362-13

In the one before this we find again in this same land now called Egypt (this before the mountains rose in the south, and when the waters called the Nile then emptied into what is now the Atlantic Ocean)...

Trong kiếp ngay trước đó, chúng ta lại thấy ở chính miền đất nay gọi là Ai Cập (trước khi núi non trỗi dậy ở phía nam, và khi dòng nước gọi là Nile khi ấy đổ vào nơi nay là Đại Tây Dương)...

276-2

276-2

In those periods when the first change had come in the position of the land... when the Nile (or Nole, then) emptied into what is now the Atlantic Ocean, on the Congo end of the country. What is now as the Sahara was a fertile land...

Trong những thời kỳ khi xảy ra sự thay đổi đầu tiên về vị trí đất đai... khi Nile (khi ấy gọi là Nole) đổ vào nơi nay là Đại Tây Dương, ở đầu Congo của xứ sở. Nơi nay là Sahara từng là một miền phì nhiêu...

5748-6

5748-6

The readings exploring changes for the twentieth century are most often associated with the concerns, questions, and inquiries of Cayce’s contemporaries. These readings discuss changes in society, changes associated with a world at war, the Great Depression, the global financial crisis, and so forth.

Các buổi đọc khảo sát những biến đổi trong thế kỷ hai mươi thường gắn với những bận tâm, câu hỏi và thắc mắc của những người đương thời với Cayce. Những buổi đọc này bàn về các thay đổi trong xã hội, các biến động gắn với một thế giới lâm chiến, Đại Khủng Hoảng, khủng hoảng tài chính toàn cầu, v.v.

Readings dealing with changes for the future include a discussion of a wide range of topics, including prophecies found in the Great Pyramid and the Book of Revelation. They also include information related to the eventual discovery of records that reportedly were left behind by Atlantis, Cayce’s premise that there is a cyclical economic downtown that occurs every 24-25 years, the possibility of lasting world peace, and information related to the ultimate destiny of human consciousness.

Những buổi đọc đề cập đến các thay đổi cho tương lai bao gồm một dải chủ đề rộng, trong đó có các lời tiên tri tìm thấy trong Đại Kim Tự Tháp và Sách Khải Huyền. Chúng cũng bao gồm thông tin liên quan đến việc sau cùng sẽ phát hiện những ghi chép được cho là do Atlantis để lại, luận điểm của Cayce rằng có một chu kỳ suy trầm kinh tế lặp lại 24–25 năm, khả tính của hòa bình thế giới bền vững, và những thông tin liên quan đến định mệnh tối hậu của tâm thức nhân loại.

The category exploring readings that may have been misinterpreted or may have been wrong in some measure are also worth exploring. This category includes a dream by Edgar Cayce in which he saw himself born on the coast of Nebraska in 2158 and discovered that his work from his lifetime as Edgar Cayce was still being studied. This dream has often been misquoted as suggesting that “Edgar Cayce predicted Nebraska would be the coastline” when, in fact, that is not the case at all. The dream occurred after Edgar Cayce had been arrested for practicing medicine without a license—an event which troubled him greatly. After the dream, a reading was procured and told him that regardless of what happened in the external world (e.g., being arrested), his work was important and would survive.

Nhóm khảo sát những buổi đọc có thể đã bị diễn giải sai hoặc có thể sai một phần cũng đáng để xem xét. Nhóm này bao gồm một giấc mơ của Edgar Cayce, trong đó Ông thấy mình sinh ở bờ biển Nebraska vào năm 2158 và phát hiện công trình của mình trong đời làm Edgar Cayce vẫn còn được nghiên cứu. Giấc mơ này thường bị trích dẫn sai như thể “Edgar Cayce dự đoán Nebraska sẽ là đường bờ biển,” trong khi thực tế hoàn toàn không phải vậy. Giấc mơ xảy ra sau khi Edgar Cayce bị bắt vì hành nghề y không giấy phép—một biến cố khiến ông cực kỳ day dứt. Sau giấc mơ, một buổi đọc được thực hiện và cho biết rằng bất kể điều gì xảy ra trong thế giới bên ngoài (như bị bắt), công trình của Ông là quan trọng và sẽ trường tồn.

This category also includes readings that may have been misinterpreted. For example, in 1934, one reading included such dire statements as these: “The greater portion of Japan must go into the sea. The upper portion of Europe will be changed as in the twinkling of an eye.” (3976-15). Although interpreted by many as earthquakes, couldn’t this statement just as easily suggest the destruction of the empire of Japan and the changing map of Europe, both a result of World War II? Rather than earthquakes or pole shifts, 1936 (two years later) marked the beginning of Civil War in Spain, Hitler’s invasion of the Rhineland in violation of the Treaty of Versailles, and ongoing aggression between Japan and China, which grew to an all-out war, especially in 1937. Events were set in place causing the outbreak of World War II, and the changes Cayce saw expressed themselves in the affairs of humankind. In fact, in response to a question regarding global affairs, Cayce warned a twenty-nine-year-old freight agent of catastrophic events that were building to a world at war:

Nhóm này cũng bao gồm những buổi đọc có thể đã bị diễn giải sai. Thí dụ, vào năm 1934, một buổi đọc có những tuyên bố nghiêm trọng như: “Phần lớn Nhật Bản phải chìm xuống biển. Phần thượng của châu Âu sẽ bị thay đổi trong chớp mắt.” (3976-15). Dù bị nhiều người hiểu là động đất, liệu tuyên bố này cũng có thể dễ dàng được hiểu là sự tiêu vong của đế quốc Nhật Bản và tấm bản đồ châu Âu thay đổi—cả hai đều là hệ quả của Thế chiến II—hay không? Thay vì động đất hay chuyển dịch các cực, năm 1936 (hai năm sau đó) đánh dấu sự bùng nổ Nội chiến Tây Ban Nha, Hitler xâm chiếm vùng Rhineland vi phạm Hiệp ước Versailles, và những cuộc gây hấn liên tục giữa Nhật Bản và Trung Quốc, leo thang thành chiến tranh toàn diện, đặc biệt là năm 1937. Các biến cố đã được đặt vào vị trí dẫn đến sự bùng nổ Thế chiến II, và những thay đổi Cayce nhìn thấy đã biểu hiện trong các thời cuộc của nhân loại. Thực vậy, để đáp một câu hỏi liên quan đến thời cuộc toàn cầu, Cayce đã cảnh báo một nhân viên chở hàng 29 tuổi về những biến cố thảm khốc đang tích tụ dẫn đến một thế giới lâm chiến:

As to the affairs of an international nature, these we find are in a condition of great anxiety on the part of many; not only as individuals but as to nations... This will make for the taking of sides, as it were, by various groups or countries or governments. This will be indicated by the Austrians, Germans, and later the Japanese joining in their influence... For these will gradually make for a growing of animosities.

Về những vấn đề có tính quốc tế, chúng ta thấy rằng chúng đang trong một tình trạng âu lo lớn lao đối với nhiều người; không chỉ với từng cá nhân mà còn đối với các quốc gia... Điều này sẽ khiến cho việc chọn phe, như thể, bởi các nhóm hay quốc gia hay chính phủ khác nhau. Điều này sẽ được biểu thị bởi người Áo, người Đức, và về sau là người Nhật nhập lại trong ảnh hưởng của họ... Vì những điều này sẽ dần dà làm tăng các mối thù hằn.

And unless there is interference from what may be called by many the supernatural forces and influences, that are activative in the affairs of nations and peoples, the whole world—as it were—will be set on fire by the militaristic groups and those that are “for” power and expansion in such associations.

Và trừ phi có sự can thiệp từ điều mà nhiều người có thể gọi là các lực và ảnh hưởng siêu nhiên, những lực đang hoạt hóa trong các thời cuộc của các quốc gia và các dân tộc, thì cả thế giới—như thể—sẽ bị nhóm quân phiệt và những kẻ “vì” quyền lực và bành trướng trong những liên kết như vậy—phóng hỏa.

416-7; 10/7/1935

416-7; 10/7/1935

During the same reading when a question was asked about the possibility of cataclysmic earth changes, Cayce said, in part: “Tendencies in the hearts and souls of men are such that these [disasters/cataclysms] may be brought about. For... man—by his compliance with divine law—bring[s] order out of chaos... by his disregard... bring[s] chaos and destructive forces into his experience.”

Cũng trong buổi đọc ấy, khi có người hỏi về khả năng xảy ra các biến đổi địa cầu mang tính đại họa, Cayce nói, một phần: “Khuynh hướng trong lòng và hồn của con người là như thế nên những [các thảm hoạ/thảm biến] có thể bị tạo ra. Vì... con người—nhờ sự tuân thuận của mình với luật thiêng— đem trật tự ra khỏi hỗn mang... còn bằng sự vô tâm... đem hỗn mang và các lực hủy hoại vào trong kinh nghiệm của mình.”

It would be a mistake, however, to explain away all of the readings that may have been incorrect, as some statements have simply proven to be inaccurate. For example, in 1933 the question was asked, “Will the earth upheavals during 1936 affect San Francisco as it did in 1906?” Cayce responded: “This’ll be a baby beside what it’ll be in ‘36!” (270-38; 2/13/1933).

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm nếu giải thích để phủ nhận mọi buổi đọc có thể không chính xác, vì một số tuyên bố đơn giản là đã tỏ ra sai. Chẳng hạn, năm 1933 có người hỏi: “Liệu các biến động địa cầu vào năm 1936 có ảnh hưởng San Francisco như năm 1906 không?” Cayce đáp: “Cái đó chỉ là trẻ con bên cạnh cái sẽ xảy ra vào năm ‘36!” (270-38; 2/13/1933).

There are also a couple of readings that do not appear to be information directly from Edgar Cayce, including 311-10 when the source identified itself as “Zorain. Student with Zoroaster,” and reading 3976-15 (already cited above) when the pronouncement came: “I, Halaliel, have spoken.” And just who is Halaliel? The archangel of karma. Certainly, we must have some potential for grace in our collective global futures?

Cũng có một vài buổi đọc có vẻ không phải thông tin trực tiếp từ Edgar Cayce, bao gồm 311-10, khi nguồn tự xưng là “Zorain. Học trò của Zoroaster,” và buổi đọc 3976-15 (đã trích ở trên) khi có lời tuyên cáo: “Ta, Halaliel, đã nói.” Halaliel là ai? Tổng thiên thần của nghiệp quả. Chắc chắn chúng ta phải có một tiềm năng nào đó cho ân sủng trong tương lai toàn cầu chung của mình chứ?

The readings dealing with changes in world affairs are both insightful and inspiring. These readings suggest that the Christ Spirit sat with Woodrow Wilson as he was proposing the League of Nations. They are also adamant in their stance that all of humankind must strive to find a common ideal. Regardless of our differences in race, culture, or religion, and regardless of our differing ideas, the readings suggest we can share a common ideal: “ ‘Thou shalt love the Lord Thy God with all thine heart, thy neighbor as thyself!’ This [is] the whole law, this [is] the whole answer to the world, to each and every soul. That is the answer to the world conditions as they exist today.” (3976-8)

Các buổi đọc đề cập đến những biến đổi trong thời cuộc thế giới vừa thâm sâu vừa truyền cảm. Những buổi đọc này gợi rằng Thần Khí của Đức Christ đã cùng ngồi với Woodrow Wilson khi Ông đề xuất Hội Quốc Liên. Chúng cũng kiên quyết cho rằng toàn thể nhân loại phải nỗ lực tìm một lý tưởng chung. Bất kể khác biệt về chủng tộc, văn hóa hay tôn giáo, và bất kể khác biệt về ý niệm, các buổi đọc gợi rằng chúng ta có thể chia sẻ một lý tưởng chung: “ ‘Ngươi hãy yêu mến Thượng đế của ngươi hết lòng, và yêu người lân cận như chính mình!’ Đây [là] toàn bộ luật, đây [là] toàn bộ câu trả lời cho thế giới, cho từng mỗi một linh hồn. Đó là câu trả lời cho tình trạng thế giới như nó đang tồn tại hôm nay.” (3976-8)

Elsewhere, the readings suggest that whenever war, strife, and turmoil occur in the affairs of humankind, sun spots occur as a natural consequence. On one occasion Cayce went so far as to state that the phenomenon of sun spots was inextricably connected to instability and turmoil upon the planet earth itself. (5751-1) In other words, instability among people leads to instability upon the planet and throughout the universe! Along similar lines, when a forty-year-old woman asked for more information about herself and her relationship to the universe, the response came that for all individuals everything that was out of accord with spirit and divine laws somehow had an impact upon the heavens. (2408-1) On another occasion, Cayce told a group: “For as the people of each nation pray, and then live that prayer, so must the Spirit work.” (3976-23)

Ở chỗ khác, các buổi đọc gợi rằng bất cứ khi nào chiến tranh, xung đột và hỗn loạn xảy ra trong thời cuộc của nhân loại, các vết đen Mặt Trời xuất hiện như một hệ quả tự nhiên. Có lần Cayce còn nói rằng hiện tượng vết đen Mặt Trời gắn kết bất khả phân với sự bất ổn và rối loạn ngay trên hành tinh Địa Cầu. (5751-1) Nói cách khác, bất ổn giữa người với người dẫn đến bất ổn trên hành tinh và khắp vũ trụ! Theo cùng mạch ấy, khi một phụ nữ bốn mươi tuổi xin thêm thông tin về chính mình và mối tương quan với vũ trụ, câu trả lời là đối với mọi cá nhân, bất kỳ điều gì lệch khỏi tinh thần và các luật thiêng đều bằng cách nào đó tác động đến các tầng trời. (2408-1) Một lần khác, Cayce nói với một nhóm: “Vì như dân tộc của mỗi quốc gia cầu nguyện, và rồi sống theo lời cầu nguyện ấy, thì Thần Khí phải hành động.” (3976-23)

One of the most interesting dynamics of people working together is that they can raise the “vibration” of energy and thought to a higher level. Simply stated, this means that literal physical earth changes seen decades ago by Edgar Cayce could now be changes that will occur on a different level. Certainly, some earthquakes will continue to occur as part of the natural physical evolution of the planet. But potentially even more influential changes could come from world-wide political turmoil (such as what is occurring in the Middle East), global economic challenges (that are reinforcing the awareness of our interconnectivity), and many more upheavals that are not necessarily geological in nature.

Một trong những động lực thú vị nhất của việc con người cộng tác với nhau là họ có thể nâng “rung động” của năng lượng và tư tưởng lên một cấp độ cao hơn. Nói giản dị, điều này có nghĩa là những biến đổi địa cầu theo nghĩa vật lý từng được Edgar Cayce nhìn thấy nhiều thập kỷ trước nay có thể là những biến đổi sẽ xảy ra trên một bình diện khác. Chắc chắn, một số trận động đất sẽ vẫn tiếp diễn như một phần của tiến hóa tự nhiên của hành tinh. Nhưng những biến đổi có ảnh hưởng còn lớn hơn có thể đến từ những hỗn loạn chính trị toàn cầu (như đang diễn ra ở Trung Đông), những thách thức kinh tế toàn cầu (đang củng cố nhận thức về tính liên kết tương thuộc của chúng ta), và nhiều biến động khác không nhất thiết mang tính địa chất.

To be sure, many of the readings in this volume could have been categorized in more than one section. For example, there are world affairs readings that also address changes for the future, and there are statements in some of the readings that are categorized as partially wrong that are absolutely correct. However, rather than dividing a single reading into multiple categories, a subjective determination was made as to where it ultimately best fit.

Dĩ nhiên, nhiều buổi đọc trong tập này có thể được xếp vào hơn một phần. Chẳng hạn, có những buổi đọc về thời cuộc thế giới cũng đồng thời đề cập đến các thay đổi trong tương lai, và có những phát biểu trong một số buổi đọc bị xếp vào loại “sai một phần” lại hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, thay vì chia một buổi đọc đơn lẻ vào nhiều nhóm, một quyết định mang tính chủ quan đã được đưa ra để xếp nó vào nơi sau cùng thích hợp nhất.

In terms of ultimate changes, just what did Edgar Cayce see for our collective futures? The readings state that eventually one hallmark of the age we are entering could be described simply as “purity.” (1602-3) It is important to point out that we’re not going to wake up one day soon and think “Oh my gosh—we’ve entered an age of purity.” Instead, there is a gradual transition between ages. In addition to purity, the readings suggest that the age is ultimately one of globalization in terms of understanding that each individual is responsible for every other individual. Certainly, with the globalization of communications brought on by the Internet, this may have already become a reality. Finally, in addition to globalization and purity, the Edgar Cayce readings also state that spiritual consciousness will reach such a height of development during this period that eventually each individual will be able to communicate directly with the Divine.

Xét về những thay đổi tối hậu, rốt cuộc Edgar Cayce đã thấy gì cho tương lai chung của chúng ta? Các buổi đọc nói rằng sau cùng một dấu ấn của thời đại chúng ta đang bước vào có thể được mô tả đơn giản là “thanh khiết.” (1602-3) Cần lưu ý rằng chúng ta sẽ không thức dậy vào một ngày gần đây và nghĩ “Ôi trời—chúng ta đã bước vào một thời đại của thanh khiết.” Đúng hơn, có một sự chuyển tiếp tiệm tiến giữa các thời đại. Ngoài thanh khiết, các buổi đọc gợi rằng thời đại này rốt cuộc là một thời đại toàn cầu hóa trong nghĩa thấu hiểu rằng mỗi cá nhân chịu trách nhiệm về mỗi cá nhân khác. Chắc chắn, với sự toàn cầu hóa truyền thông do Internet mang lại, điều này có thể đã thành hiện thực. Sau cùng, bên cạnh toàn cầu hóa và thanh khiết, các buổi đọc Edgar Cayce cũng nói rằng tâm thức tinh thần sẽ đạt tới mức phát triển cao đến nỗi rốt cuộc mỗi cá nhân sẽ có thể giao tiếp trực tiếp với Đấng Thiêng Liêng.

In the end, the Edgar Cayce readings on earth changes are really about the fact that a new world is being born. The earth changes we experience—whether geological, economical, global, political, etc.—provide an opportunity to understand our relationship with one another and get our priorities back in focus. Perhaps the time has come to look at this material in a new light? The changing events in our world and in our lives are to enable us to remember why we are here. Our planet is in the midst of upheavals that will enable individuals everywhere to eventually gain this realization: with God as our Creator we are all part of the same family. That understanding and experience is our collective destiny. We don’t want to fool ourselves: the geological condition of the planet makes some earth changes inevitable. In other words, there will continue to be earthquakes. But the purpose of the changes we are experiencing is not for the earth changes themselves but simply a step toward reawakening to our joint destiny as spiritual beings manifesting in the earth.

Sau hết, các buổi đọc Edgar Cayce về biến đổi địa cầu thực sự là về việc một thế giới mới đang được sinh ra. Những biến đổi địa cầu mà chúng ta trải nghiệm—dù là địa chất, kinh tế, toàn cầu, chính trị, v.v.—mang đến cơ hội để chúng ta thấu hiểu mối liên hệ với nhau và đưa các ưu tiên của mình về đúng trọng tâm. Có lẽ đã đến lúc nhìn lại tư liệu này trong một ánh sáng mới? Những biến cố đổi thay trong thế giới và đời sống của chúng ta nhằm giúp chúng ta nhớ vì sao mình hiện hữu ở đây. Hành tinh của chúng ta đang ở giữa các biến động sẽ giúp con người ở khắp nơi rốt cuộc đạt tới nhận thức này: với Thượng đế là Đấng Sáng Tạo của chúng ta, tất cả chúng ta đều là một phần của cùng một gia đình. Sự thấu hiểu và trải nghiệm ấy là định mệnh chung của chúng ta. Chúng ta không muốn tự dối mình: điều kiện địa chất của hành tinh khiến một số biến đổi địa cầu là không thể tránh. Nói cách khác, các trận động đất sẽ còn tiếp diễn. Nhưng mục đích của những thay đổi chúng ta đang trải nghiệm không nằm ở chính các biến đổi địa cầu, mà chỉ là một bước hướng tới việc tỉnh thức lại định mệnh chung của chúng ta như những hữu thể tinh thần đang biểu hiện trong cõi trần.

Kevin J. Todeschi

Kevin J. Todeschi

Executive Director & CEO

Giám đốc điều hành & CEO

Edgar Cayce’s A.R.E. / Atlantic University

A.R.E. của Edgar Cayce / Atlantic University

1

Changes in Prehistory—Những biến đổi trong tiền sử

[Background: Reading regarding the appearance of humankind in the earth, the various races, and changes in the earth’s surface.]

[Bối cảnh: Buổi đọc về sự xuất hiện của nhân loại trên Địa Cầu, các chủng tộc khác nhau, và những biến đổi của bề mặt địa cầu.]

Reading 364-13; November 17, 1932

Buổi đọc 364-13; 17 tháng 11, 1932

(Q) Are the places designated for the beginning of the five races correct?

(H) Những nơi được chỉ định làm điểm khởi nguyên cho năm chủng tộc có đúng không?

(A) As we find, these are changed, in that: Those in the Gobi, the yellow. The white—rather in the Carpathians than India, though this is the change to which they are made. The red, of course, in the Atlantean and in the American. The brown in the Andean. The black in the plain and the Sudan, or in African.

(Đ) Theo chúng tôi thấy, những điều này đã thay đổi, ở chỗ: Những người ở Gobi, chủng vàng. Chủng trắng—đúng ra ở vùng Carpathia hơn là Ấn Độ, dù đó là sự thay đổi mà họ được chuyển đến. Chủng đỏ, dĩ nhiên, ở Atlantis và ở châu Mỹ. Chủng nâu ở vùng Andes. Chủng đen ở đồng bằng và Sudan, hay ở châu Phi.

(Q) Where was the Carpathian region?

(H) Vùng Carpathia là ở đâu?

(A) Aarat.

(Đ) Aarat.

(Q) Where is the location? Is it on the map today?

(H) Ở vị trí nào? Có trên bản đồ ngày nay không?

(A) Southern part of Europe and Russia, and Persia and that land. Caucasian mountains.

(Đ) Phần phía nam châu Âu và Nga, và Ba Tư và miền đất đó. Dãy núi Caucasus.

(Q) Why was the number five selected for the projection of the five races?

(H) Vì sao chọn con số năm cho việc phóng chiếu năm chủng tộc?

(A) This, as we find, is that element which represents man in his physical form, and the attributes to which he may become conscious from the elemental or spiritual to the physical consciousness...

(Đ) Điều này, như chúng ta thấy, là yếu tố biểu trưng cho con người trong hình tướng vật chất của y, và những thuộc tính mà qua đó y có thể trở nên có tâm thức từ hành khí hoặc tinh thần đến tâm thức vật chất...

(Q) Did the appearance of what became the five races occur simultaneously?

(H) Sự xuất hiện của những gì trở thành năm chủng tộc có diễn ra đồng thời không?

(A) Occurred at once.

(Đ) Xảy ra cùng lúc.

(Q) Describe the earth’s surface at the period of the appearance of the five projections.

(H) Mô tả bề mặt Trái Đất vào thời kỳ xuất hiện của năm phóng chiếu.

(A) This has been given. In the first, or that known as the beginning, or in the Caucasian and Carpathian, or the Garden of Eden, in that land which lies now much in the desert, yet much in mountain and much in the rolling lands there. The extreme northern portions were then the southern portions, or the Polar Regions were then turned to where they occupied more of the tropical and semi-tropical regions; hence it would be hard to discern or disseminate the change. The Nile entered into the Atlantic Ocean. What is now the Sahara was an inhabited land and very fertile. What is now the central portion of this country, or the Mississippi basin, was then all in the ocean; only the plateau was existent, or the regions that are now portions of Nevada, Utah and Arizona formed the greater part of what we know as the United States. That along the Atlantic board formed the outer portion then, or the lowlands of Atlantis. The Andean, or the Pacific coast of South America, occupied then the extreme western portion of Lemuria. The Urals and the northern regions of same were turned into a tropical land. The desert in the Mongolian land was then the fertile portion. This may enable you to form some concept of the status of the earth’s representations at that time! The oceans were then turned about; they no longer bear their names, yet from whence obtained they their names? What is the legend, even, as to their names?

(Đ) Điều này đã được nói đến. Lúc đầu, hay điều được biết như khởi nguyên, hay ở miền Caucasia và Carpathia, hay Vườn Địa Đàng, ở miền đất nay phần nhiều là sa mạc, nhưng cũng có nhiều núi non và nhiều vùng đồi thoai thoải. Những phần cực bắc khi đó là phần cực nam, hay các Vùng Cực khi ấy xoay về nơi mà chúng chiếm nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới; do đó sẽ khó nhận ra hay phân định sự thay đổi. Sông Nile đổ vào Đại Tây Dương. Nơi nay là Sahara từng là vùng có người ở và rất phì nhiêu. Nơi nay là phần trung tâm của đất nước này, tức lưu vực sông Mississippi, khi ấy toàn là biển; chỉ còn cao nguyên tồn tại, hay các vùng nay là một phần của Nevada, Utah và Arizona cấu thành phần lớn điều mà chúng ta gọi là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Vùng dọc bờ Đại Tây Dương khi ấy tạo thành phần rìa ngoài, tức vùng thấp của Atlantis. Vùng Andes, hay bờ Thái Bình Dương của Nam Mỹ, khi ấy chiếm phần cực tây của Lemuria. Dãy Ural và vùng phía bắc của nó khi ấy biến thành miền nhiệt đới. Sa mạc ở miền đất Mông Cổ khi ấy là phần phì nhiêu. Điều này có thể giúp bạn hình thành một ít quan niệm về tình trạng biểu hiện của Địa Cầu vào thời điểm ấy! Các đại dương khi ấy đã xoay chiều; chúng không còn mang tên của mình nữa, nhưng chúng đã được đặt tên từ đâu? Ngay cả truyền thuyết về tên gọi của chúng là gì?

(Q) Are the following the correct places? Atlantean, the red.

(H) Sau đây có phải là các địa điểm đúng không? Atlantis, chủng đỏ.

(A) Atlantean and American, the red race.

(Đ) Atlantis và châu Mỹ, chủng đỏ.

(Q) Upper Africa for the black?

(H) Bắc Phi cho chủng đen?

(A) Or what would be known now as the more western portion of Upper Egypt for the black. You see, with the changes—when there came the uprisings in the Atlantean land, and the sojourning southward—with the turning of the axis, the white and yellow races came more into that portion of Egypt, India, Persia and Arabia.

(Đ) Hoặc điều nay được biết là phần phía tây hơn của Thượng Ai Cập dành cho chủng đen. Bạn thấy đó, với những đổi thay—khi có các trồi dậy ở miền đất Atlantis, và cuộc du hành về phía nam—với sự xoay của trục, các chủng trắng và vàng đến nhiều hơn với các miền ấy của Ai Cập, Ấn Độ, Ba Tư và Ả Rập.

[Background: Reading regarding the appearance of humankind in the earth, and the beginning of the first attempts to understand humankind’s relationship to the Creator.]

[Bối cảnh: Buổi đọc về sự xuất hiện của nhân loại trên Địa Cầu, và khởi đầu của những nỗ lực đầu tiên nhằm thấu hiểu mối quan hệ của nhân loại với Đấng Sáng Tạo.]

Reading 5748-2; May 28, 1925

Buổi đọc 5748-2; 28 tháng 5, 1925

Now, as we see, as given, how and what the classifications were of the physical in the earth’s plane at that period, the numbers then of human souls in the earth plane being a hundred and thirty and three million (133,000,000) souls. The beginning then of the understanding of laws as applied from man’s viewpoint being in this second rule in the country now Egypt. The rule covering the period of a hundred and ninety and nine (199) years, and the entity giving the chance to the peoples, for the study being in the twenty and eighth (28th) year, when [he] began to gather the peoples together for this and surrounding himself with those of that land and of the various lands wherein the human life dwelled at that period. The numbers of the people that came together for the purpose then numbering some forty and four (44).

Giờ đây, như chúng ta thấy, như đã nói, cách thức và các phân loại của thể vật chất trong cõi địa cầu ở thời kỳ ấy, số lượng linh hồn nhân loại trong cõi địa cầu bấy giờ là một trăm ba mươi ba triệu (133,000,000) linh hồn. Khởi đầu của việc thấu hiểu các luật như được áp dụng từ quan điểm của con người diễn ra trong triều đại thứ hai tại xứ nay là Ai Cập. Triều đại này kéo dài một trăm chín mươi chín (199) năm, và vị này ban cho dân chúng cơ hội, để việc nghiên cứu xảy ra vào năm thứ hai mươi tám (28), khi [ông] bắt đầu tập hợp dân chúng lại cho mục đích này và vây quanh mình với những người của xứ ấy và các xứ sở khác nơi nhân sinh cư trú vào thời ấy. Số người tập hợp lại cho mục đích bấy giờ là bốn mươi bốn (44).

The Courts as were made were in the tents and the caves of the dwellers of the then chosen priest from the Arabian or Tibetan country, who came as one among those to assist with the astrologer and the soothsayers of the desert of now the eastern and western worlds, and with this the conclave was held for many, many, moons. The period in the world’s existence from the present time being ten and one-half million (10,500,000) years, and the changes that have come in the earth’s plane many have risen in the lands. Many lands have disappeared, many have appeared and disappeared again and again during these periods, gradually changing as the condition became to the relative position of the earth with the other spheres through which man passes in this solar system.

Các buổi thiết triều được cử hành trong các lều trại và hang động của cư dân—vị tư tế được chọn khi đó đến từ xứ Ả Rập hoặc Tây Tạng—vị này đến như một người trong số những người đến trợ giúp, cùng với nhà chiêm tinh và các thầy bói của sa mạc của cả nay phương Đông lẫn phương Tây, và với đó, đại mật nghị đã diễn ra suốt nhiều, nhiều tuần trăng. Thời kỳ tồn tại của thế giới tính đến hiện tại là mười triệu rưỡi (10,500,000) năm, và những biến đổi đã xảy đến với cõi địa cầu—nhiều miền đất đã trồi lên. Nhiều miền đất đã biến mất, nhiều miền đã xuất hiện rồi lại biến mất hết lần này đến lần khác trong những thời kỳ này, dần dần đổi thay theo vị thế tương đối của Địa Cầu với các tinh cầu khác mà con người đi qua trong hệ mặt trời này.

The first laws, then, partook of that of the study of self, the division of mind, the division of the solar systems, the division of man in the various spheres of existence through the earth plane and through the earth’s solar system. The Book of the Dead, then, being the first of those that were written as the inscribed conditions necessary for the development in earth or in spirit planes. These, as we see, covered many various phases. About these were set many different ones to give the interpretation of same to the peoples in the various spheres that the individuals dwelled in that came together. Hence the difference in the manner of approaching the same sacrificial conditions in the various spheres, yet all using the Sun, the Moon, the Stars, as the emblems of the conditions necessary for the knowledge of those elements as enter in; same as the fish representing the water from which all were drawn out, as we would see from the various changes.

Các luật đầu tiên, khi ấy, bao hàm việc nghiên cứu chính mình, sự phân định thể trí, sự phân định các hệ mặt trời, sự phân định con người trong các cảnh giới tồn sinh khác nhau xuyên qua cõi địa cầu và xuyên qua hệ mặt trời của địa cầu. Sách của Người Chết, khi ấy, là thứ trước nhất trong số những thứ được soạn như các điều kiện khắc ghi cần yếu cho sự phát triển trong cõi trần hay các cõi tinh thần. Những điều này, như chúng ta thấy, bao trùm nhiều phương diện khác nhau. Chung quanh những điều này, nhiều người khác nhau được đặt để để ban cho sự diễn giải về cùng những điều ấy cho dân chúng ở các cảnh giới khác nhau mà các cá nhân cư trú, những người đã tập hợp lại. Do đó có sự khác biệt trong cách tiếp cận cùng các điều kiện hiến tế trong các cảnh giới khác nhau, tuy tất cả đều dùng Mặt Trời, Mặt Trăng, các Vì Sao làm biểu trưng cho những điều kiện cần thiết cho tri thức về các yếu tố tham dự; cũng giống như hình cá biểu trưng cho nước từ đó muôn loài được kéo ra, như chúng ta có thể thấy từ các đổi thay khác nhau.

[Background: Reading regarding the appearance of humankind in the earth, and the beginning of the first attempts to understand humankind’s relationship to the Creator.]

[Bối cảnh: Buổi đọc về sự xuất hiện của nhân loại trên Địa Cầu, và khởi đầu của những nỗ lực đầu tiên nhằm thấu hiểu mối quan hệ của nhân loại với Đấng Sáng Tạo.]

Reading 5748-3; June 1, 1925

Buổi đọc 5748-3; 1 tháng 6, 1925

GC: You will have before you the reading given on the psychic work of Edgar Cayce, present in this room, on the afternoon of 5/28/25, and you will continue with this reading regarding the information of the first laws concerning man’s relation to Higher Forces, giving this in an outline manner and how this was given to the people.

GC: Quý vị sẽ có trước mặt buổi đọc đã được đưa ra về công trình thông linh của Edgar Cayce, hiện có mặt trong căn phòng này, vào buổi chiều 5/28/25, và quý vị sẽ tiếp tục với buổi đọc này liên quan đến thông tin về những luật đầu tiên liên quan đến mối tương quan của con người với các Lực Cao Hơn, trình bày điều này theo lối đề cương và cách điều ấy đã được ban cho dân chúng.

EC: Yes, we have the information as given and the conditions as surrounded the giving of the first laws as regarding the indwelling of Higher Forces in the earth’s plane, and man attempting to make application of same.

EC: Vâng, chúng ta có thông tin như đã được ban và các điều kiện bao quanh sự ban bố các luật đầu tiên liên quan đến sự ngự trị của các Lực Cao Hơn trong cõi địa cầu, và con người nỗ lực áp dụng những điều ấy.

Now as we see, we have the general outline of those conditions of man in the earth plane at the period or age, as is judged from man’s viewpoint, of this gathering as caused by the second ruler of the peoples that dwelled in that portion of the earth’s plane, now known as Egypt. There is to be considered, now, also those conditions under which man, as man, lived during that period in the various spheres in which man dwelt. In that land we find the peoples comparatively free from the invasion of the beasts of the field, save those as were being used for man’s development and for the use of man as servant or as man’s beast of burden. While we find in the now Tibetan country, then the land of the many waters, the indwelling of those of many beasts whom man had to defend self against. Again in the Mongoloid region many others of the species and nature that were destructive to man’s indwelling in many ways. Also those in Caucasia, or the lighter or whiter peoples. Also in the land of the plains in the Northern spheres in the Western portion of the earth’s plane, many beasts and many conditions, and man then [was] in the way of having a different understanding, for different conditions were to be met, as were also in the Southern portion.

Giờ đây như chúng ta thấy, chúng ta có dàn ý tổng quát về những điều kiện của con người trong cõi địa cầu vào thời kỳ hay niên đại này, như được phán xét từ quan điểm con người, của cuộc tụ hội này do vị quốc vương thứ hai của dân chúng cư trú ở phần cõi địa cầu khi ấy—nay gọi là Ai Cập—gây nên. Cũng cần xét đến, bây giờ, các điều kiện dưới đó con người, như con người, đã sống trong thời kỳ ấy ở các cảnh giới mà con người cư trú. Ở miền đất ấy chúng ta thấy dân chúng tương đối tự do khỏi sự xâm nhập của thú ngoài đồng, ngoại trừ những loài được dùng vào việc phát triển của con người và phục vụ con người như súc vật thồ. Trong khi đó, chúng ta thấy ở xứ nay là Tây Tạng, khi ấy là miền đất của nhiều nguồn nước, là chốn cư trú của nhiều loài thú dữ mà con người phải tự vệ. Lại nữa, ở vùng Mông Cổ có nhiều loài khác về chủng loại và bản tính mang tính phá hoại đối với cư trú của con người theo nhiều cách. Cũng vậy ở vùng Caucasia, tức những dân tộc nhạt màu hay trắng hơn. Cũng như ở miền đất đồng bằng thuộc các miền Bắc ở phần Tây của cõi địa cầu, có nhiều loài thú và nhiều điều kiện, và con người khi đó có cách thấu hiểu khác, vì cần đối diện với những điều kiện khác nhau, như cũng ở miền Nam.

Then, as these were gathered from the five nations, we find the subjects of those pertaining to manifestations of the development of man and man’s ability to cope with the conditions, and the forces wherein men were given their supremacy over the other conditions in the earth’s plane. And the first as was given by the ruler was, then, [that] the force that gives man, in his weak state, as it were, the ability to subdue and overcome the great beasts that inhabit the plane of man’s existence must come from a higher source. Hence the first law of self-preservation in the physical plane attributed to Divine or Higher Forces. Just as the elements adding to the betterment of man’s condition in the earth plane, we have then the rudiments of that as was taught. Hence began, as given, the study of the indwelling of that other than man’s physical prowess, yet there were many men of giant stature to meet the conditions as seen, yet the approach of that same force to some was reached through the power, heat, significance of Sun’s force, of Moon’s wane, of waters bringing forth all manners of organisms necessary for developments in the plane.

Rồi, khi những người này được triệu về từ năm quốc gia, chúng ta thấy các chủ đề liên quan đến những biểu hiện của sự phát triển của con người và khả năng ứng phó của con người với các điều kiện, và các lực mà trong đó con người được ban cho vị thế ưu thắng đối với các điều kiện khác trong cõi địa cầu. Và điều đầu tiên được vị quốc vương ban ra là, mãnh lực ban cho con người, trong trạng thái yếu ớt, như thể, khả năng chế ngự và vượt thắng những thú dữ vĩ đại cư ngụ trên bình diện tồn tại của con người, ắt đến từ một nguồn cao hơn. Vì vậy, định luật đầu tiên về tự bảo tồn trong cõi hồng trần được quy cho các Lực Thiêng Liêng hay Cao Hơn. Cũng như những yếu tố góp phần cải thiện điều kiện của con người trong cõi địa cầu, chúng ta có những sơ nguyên của điều đã được dạy. Vì vậy, như đã nói, bắt đầu việc nghiên cứu sự ngự trị của điều khác hơn sức mạnh thể xác của con người, tuy có nhiều người khổng lồ để đối phó với điều kiện như thấy, nhưng cách tiếp cận cùng mãnh lực ấy đối với một số người được đạt đến qua quyền năng, nhiệt lực, ý nghĩa của lực Mặt Trời, của tuần khuyết của Mặt Trăng, của nguồn nước sản sinh mọi hình thái sinh thể cần cho phát triển trong bình diện.

Then, we have the gathering together then of this group, from the farthest places—forty and four (44). As we see, [this number] will run through many numbers, for, as we find, there is the law pertaining to each and every element significant to man’s existence considered and given in one manner or form by the groups as gathered at this meeting.

Rồi, chúng ta có cuộc triệu tập nhóm này, từ những nơi xa nhất—bốn mươi bốn (44). Như chúng ta thấy, [con số này] sẽ xuyên qua nhiều con số, vì, như chúng ta thấy, có định luật liên hệ đến từng mỗi nguyên tố có ý nghĩa đối với sự tồn tại của con người được xem xét và ban ra theo một cách hay một hình thức nào đó bởi các nhóm đã tụ họp tại hội nghị này.

We are through for the present.

Chúng ta tạm dừng tại đây.

[Background: Life reading given to a seventy-two-year old female who was told that she had once lived during the sinking of Lemuria.]

[Bối cảnh: Buổi đọc về tiền kiếp ban cho một phụ nữ bảy mươi hai tuổi, người được cho biết rằng bà đã từng sống trong thời kỳ Lemuria chìm xuống.]

Reading 851-2; January 31, 1935

Buổi đọc 851-2; 31 tháng 1, 1935

Before that we find the entity was in that land now known as the American, during those periods when there were the changes that had brought about the sinking of Mu or Lemuria, or those peoples in the periods who had changed to what is now a portion of the Rocky Mountain area; Arizona, New Mexico, portions of Nevada and Utah.

Trước đó, chúng ta thấy thực thể ở miền đất nay gọi là châu Mỹ, trong những thời kỳ có các biến đổi dẫn đến sự chìm xuống của Mu hay Lemuria, hay những dân cư trong thời kỳ đã di chuyển đến nơi nay là một phần của vùng dãy Rocky; Arizona, New Mexico, một phần của Nevada và Utah.

The entity then was among the princesses of the land that established there the teachings of the Law of One, from the activities in the land which had brought destructive forces through the separations from those things that made for the love of the individual for the gratifying of selfish motives.

Khi ấy, thực thể thuộc hàng công chúa của xứ đã thiết lập ở đó các giáo huấn của Luật Một, xuất phát từ các hoạt động trong xứ sở vốn đã đưa đến các lực phá hoại qua những phân ly khỏi những điều kiến tạo tình thương của cá nhân để thỏa mãn các động cơ ích kỷ.

Then the entity established what may be called the home life in that land, as each home became then as the castle of place of worship—or activities that were separated, yet united in one as for purposes. The name then was Ouowu.

Rồi thực thể ấy thiết lập điều có thể gọi là đời sống gia đình ở miền đất đó, khi mỗi gia cư bấy giờ trở thành như tòa thành—nơi thờ phượng—hay những hoạt động tuy tách rời nhưng hợp nhất trong một về mục đích. Tên khi ấy là Ouowu.

[Background: Life reading given to a forty-three-year old male who was told that he had once had a pre-Atlantis incarnation as well as an incarnation in Atlantis.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đời sống đưa cho một nam giới 43 tuổi, người được cho biết rằng y đã từng có một lần lâm phàm trước thời Atlantis cũng như một lần lâm phàm ở Atlantis.]

Reading 877-1; April 3, 1935

Buổi đọc 877-1; 3 tháng 4, 1935

Before that we find the entity was in that land now known as the Mongoloid [GD’s note: He looked very Chinese, remarkably so considering he had no such physical heritage.], during those periods when there were the advances in the activities in that portion of one of the higher lands of civilization during that experience. For the entity then was a Prince of that land, sending to the various lands for the messages that were being given by the teachers in the varied lands; making for a betterment for the peoples that the entity, in the name Muzuen, came to be the ruler or the leader of.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở vùng đất nay được biết là chủng Mông Cổ [Ghi chú của GD: Ông trông rất giống người Hoa, khác thường đến mức đáng kinh ngạc nếu xét rằng ông không có di sản thể xác như vậy.], trong những thời kỳ khi có những phát triển trong các sinh hoạt tại phần ấy của một trong những vùng đất văn minh cao hơn trong kinh nghiệm ấy. Bởi khi đó, thực thể là một Vương tử của vùng đất ấy, sai phái đến các xứ sở khác nhau để thỉnh về những thông điệp đang được các vị huấn sư ở các xứ sở đa dạng ban truyền; nhằm đem lại sự cải thiện cho những dân mà thực thể, với danh xưng Muzuen, đã trở thành người cai trị hay lãnh đạo.

During those activities of the entity, many were the warnings that the entity gave to those peoples for their rebellious influence that arose, that later made for the devastating influences of the sands overcovering much of that in the Gobi land.

Trong các sinh hoạt của thực thể, đã có nhiều lời cảnh báo mà thực thể dành cho các dân chúng về ảnh hưởng nổi loạn đã nổi lên, về sau gây nên những tác động tàn phá của cát phủ trùm phần lớn vùng đất ở Gobi.

In the present from that sojourn, those things pertaining to the earlier activities of the peoples have a particular interest, and especially as to the laws pertaining to what later became the developments of what may be said to have been the beginnings of statuary, or the beginnings of those activities that make for conveniences within the home and its relationships to the service of same.

Trong hiện tại, từ cuộc du trú ấy, những điều thuộc về các sinh hoạt buổi đầu của các dân chúng có một mối quan tâm đặc biệt, và nhất là những luật lệ liên hệ đến những gì về sau trở thành các phát triển mà có thể nói là khởi nguyên của điêu khắc, hoặc khởi nguyên của những hoạt động tạo nên các tiện nghi trong gia cư và mối liên hệ của chúng với việc phụng sự chính các tiện nghi ấy.

Before that we find the entity was in that known or called the Atlantean land, and in the city of Poseidia did the entity reside, during those periods when there were the first of the destructive influences used by the sons of Belial and those that were in authority that made for the using of the influences that were for the increasing of the activity of the peoples for destructive influences.

Trước đó nữa, chúng tôi thấy thực thể ở vùng được biết hay gọi là đất Atlantean, và trong thành phố Poseidia thực thể cư trú, vào thời kỳ khi lần đầu tiên có những ảnh hưởng hủy diệt được sử dụng bởi những người con của Belial và những kẻ cầm quyền đã cho phép dùng các ảnh hưởng nhằm gia tăng sinh hoạt của dân chúng theo hướng hủy diệt.

The entity made the attempts to save much of that which was consummated by those peoples; and there are many things within the entity’s inner self often that have almost found expression in what might be made for the crystallizing of the influences of the sun through the crystal that then controlled the motivative forces in the experience of the entity.

Thực thể đã cố gắng cứu vãn nhiều điều do dân chúng ấy gây nên; và thường có nhiều điều trong nội tâm của thực thể hầu như đã tìm được biểu lộ nơi những gì có thể được dùng để kết tinh các ảnh hưởng của mặt trời qua pha lê, thứ khi ấy đã điều khiển các lực động cơ trong kinh nghiệm của thực thể.

[Background: Life reading given to a sixty-five-year old female who was told that she had once lived during the sinking of Lemuria.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đời sống đưa cho một nữ giới 65 tuổi, người được cho biết rằng Bà đã từng sống vào thời Lemuria chìm xuống.]

Reading 509-1; February 5, 1934

Buổi đọc 509-1; 5 tháng 2, 1934

Before this we find the entity in that land now known as the American, during the periods when the Lemurian or the lands of Mu or Zu were being in their turmoils for destruction.

Trước lần này chúng tôi thấy thực thể ở vùng đất nay được gọi là châu Mỹ, trong những thời kỳ khi Lemuria hay các xứ Mu hoặc Zu đang trong những cơn biến loạn dẫn đến hủy diệt.

And the entity was among those that—in what is now not far from that land in which the entity in this sojourn first saw the light—(that must in the near future fade again into those joinings with the land of Mu)—established a temple of worship for those that escaped from the turmoils of the shifting of the earth at that particular period.

Và thực thể thuộc về những người—tại nơi nay không xa vùng đất trong đó thực thể ở kiếp du trú này lần đầu chào đời—(mà trong tương lai gần sẽ lại tan phai vào những phần hợp lưu với đất Mu)—đã lập một đền thờ phụng tự cho những người thoát khỏi cơn biến loạn do sự chuyển dịch của địa cầu vào thời kỳ đặc thù ấy.

The entity, in the name Oeueou, established near what is now Santa Barbara the temple to the sun and the moon; for the satellite of the moon had not faded then, and there was enjoined as to the entity in the worship as the goddess to the moon and the sun.

Thực thể, với danh xưng Oeueou, đã lập gần nơi nay là Santa Barbara một đền thờ dành cho mặt trời và mặt trăng; vì vệ tinh của mặt trăng khi ấy chưa suy tàn, và thực thể được giao phó trong việc phụng tự như là nữ thần của mặt trăng và mặt trời.

The entity brought good and evil with this worship, for the necessity of the repopulation of the land brought to those peoples—with that which the entity had established in the soul’s relationships of life—dissension, and, at last, dispersement of those peoples to that portion which later, much later in the affairs of the earth, became not only the destructive forces to those that journeyed from the land of promise but those that journeyed from the Atlantean land and became those that met with the peoples, centuries later, in the central portion of what is now United States.

Thực thể đã mang cả điều thiện lẫn điều ác theo sự phụng tự này, vì nhu cầu tái dân cư cho vùng đất đã mang đến cho các dân chúng—cùng với điều mà thực thể đã thiết lập trong các mối liên hệ sự sống của linh hồn—sự bất đồng, và cuối cùng là sự phân tán của họ đến phần đất mà về sau, rất lâu về sau trong lịch sử địa cầu, trở thành không chỉ là những lực hủy diệt đối với những người hành trình từ miền đất hứa mà cả đối với những người hành trình từ đất Atlantean, và trở thành những người đã gặp gỡ các dân chúng, nhiều thế kỷ về sau, ở phần trung tâm của nơi nay là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

[Background: Reading given on the topic of Atlantis.]

[Bối cảnh: Buổi đọc được đưa ra về chủ đề Atlantis.]

Reading 364-3; February 16, 1932

Buổi đọc 364-3; 16 tháng 2, 1932

Yes, we have the subject and those conditions. As has been said, much data has been received from time to time through psychic forces as respecting conditions in or through the period, or ages, of this continent’s existence. That the continent existed is being proven as a fact.

Vâng, chúng tôi có chủ đề và những điều kiện ấy. Như đã nói, đã có nhiều dữ kiện được tiếp nhận theo thời gian qua các lực thông linh liên quan đến các điều kiện trong hoặc xuyên qua thời kỳ, hay các thời đại, tồn tại của lục địa này. Rằng lục địa ấy đã hiện hữu đang được chứng thực như một sự kiện.

Then, what took place during the period, or periods, when it was being broken up? What became of the inhabitants? What was the character of their civilization? Are there any evidences of those, or any portion of, the inhabitants’ escape? The position of the continent, and the like, must be of interest to peoples in the present day, if either by inference that individuals are being born into the earth plane to develop in the present, or are people being guided in their spiritual interpretation of individuals’ lives or developments by the spirits of those who inhabited such a continent. In either case, if these be true, they are wielding—and are to wield—an influence upon the happenings of the present day world.

Vậy, điều gì đã xảy ra trong thời kỳ, hay các thời kỳ, khi nó bị vỡ ra? Điều gì đã xảy đến với cư dân? Nếp văn minh của họ có đặc điểm gì? Có chứng tích nào về những người ấy, hay về bất kỳ phần nào, của việc cư dân trốn thoát không? Vị trí của lục địa ấy, và tương tự như thế, ắt hẳn là điều đáng quan tâm đối với con người ngày nay, dù là bởi suy dẫn rằng các cá nhân đang được sinh vào cõi địa cầu để phát triển trong hiện tại, hoặc rằng con người đang được dẫn dắt trong sự diễn giải tinh thần về đời sống hay sự phát triển của các cá nhân bởi các vong linh của những người từng cư trú trên một lục địa như vậy. Dù trong trường hợp nào, nếu những điều này là đúng, chúng đang tác động —và sẽ còn tác động—một ảnh hưởng lên những biến cố của thế giới hiện tại.

The position as the continent Atlantis occupied, is that as between the Gulf of Mexico on the one hand—and the Mediterranean upon the other. Evidences of this lost civilization are to be found in the Pyrenees and Morocco on the one hand, British Honduras, Yucatan and America upon the other. There are some protruding portions within this that must have at one time or another been a portion of this great continent. The British West Indies or the Bahamas, and a portion of same that may be seen in the present—if the geological survey would be made in some of these—especially, or notably, in Bimini and in the Gulf Stream through this vicinity, these may be even yet determined.

Vị trí mà lục địa Atlantis chiếm giữ là giữa một bên là Vịnh Mexico—và bên kia là Địa Trung Hải. Dấu tích của nền văn minh đã mất này có thể tìm thấy ở dãy Pyrenees và Morocco về một phía, và Honduras thuộc Anh, Yucatan cùng châu Mỹ về phía kia. Có vài phần trồi lên trong vùng này hẳn đã vào một thời điểm nào đó thuộc về lục địa vĩ đại này. Các đảo Tây Ấn thuộc Anh hay Bahamas, và một phần của chúng còn có thể thấy trong hiện tại—nếu có khảo sát địa chất ở một vài nơi trong số này—đặc biệt, hay đáng chú ý, ở Bimini và trong Dòng Vịnh Gulf Stream qua vùng lân cận này, thì những điều ấy thậm chí nay vẫn có thể xác định.

What, then, are the character of the peoples? To give any proper conception, may we follow the line of a group, or an individual line, through this continent’s existence—and gain from same something of their character, their physiognomy, and their spiritual and physical development.

Vậy, đặc điểm của dân chúng là gì? Để đưa ra bất kỳ khái niệm đúng đắn nào, chúng ta có thể theo dõi chuỗi của một nhóm, hay một tuyến cá nhân, xuyên suốt thời tồn tại của lục địa này—và rút ra từ đó đôi điều về đặc chất, diện mạo, và sự phát triển tinh thần cùng thể chất của họ.

In the period, then—some hundred, some ninety-eight thousand years before the entry of Ram into India—there lived in this land of Atlantis one Amilius [?], who had first noted that of the separations of the beings as inhabited that portion of the earth’s sphere or plane of those peoples into male and female as separate entities, or individuals. As to their forms in the physical sense, these were much rather of the nature of thought forms, or able to push out of themselves in that direction in which its development took shape in thought—much in the way and manner as the amoeba would in the waters of a stagnant bay, or lake, in the present. As these took form, by the gratifying of their own desire for that as builded or added to the material conditions, they became hardened or set—much in the form of the existent human body of the day, with that of color as partook of its surroundings much in the manner as the chameleon in the present. Hence coming into that form as the red, or the mixture peoples—or colors; known then later by the associations as the red race. These, then, able to use in their gradual development all the forces as were manifest in their individual surroundings, passing through those periods of developments as has been followed more closely in that of the yellow, the black, or the white races, in other portions of the world; yet with their immediate surroundings, with the facilities for the developments, these became much speedier in this particular portion of the globe than in others—and while the destruction of this continent and the peoples are far beyond any of that as has been kept as an absolute record, that record in the rocks still remains—as has that influence of those peoples in that life of those peoples to whom those that did escape during the periods of destruction make or influence the lives of those peoples to whom they came. As they may in the present, either through the direct influence of being regenerated, or reincarnated into the earth, or through that of the mental application on through the influences as may be had upon thought of individuals or groups by speaking from that environ...

Vào thời kỳ ấy—vài trăm, chừng chín mươi tám ngàn năm trước khi Ram vào Ấn Độ—đã sống trên đất Atlantis một người tên Amilius [?], người đầu tiên đã lưu ý đến việc phân ly của các sinh thể cư trú phần ấy của khối cầu hay cõi địa cầu thành nam và nữ như những đơn thể, hay cá thể, tách biệt. Về hình dạng theo nghĩa thể chất, chúng đúng ra thuộc loại Hình tư tưởng, hay có khả năng đẩy tự thân ra theo hướng mà sự phát triển của nó kết hình trong tư tưởng—rất giống cách thức của con a-míp trong làn nước của một vịnh hay hồ tù đọng trong hiện tại. Khi các hình dạng này hình thành, nhờ thỏa mãn dục vọng riêng của họ đối với những gì đã xây đắp hoặc gia thêm vào điều kiện vật chất, chúng trở nên cứng đặc hay cố định—rất giống hình hài con người hiện nay, với sắc màu tùy phần chịu ảnh hưởng môi trường chung quanh, rất giống con tắc kè hiện tại. Thế rồi đi vào hình dạng như dân đỏ, hay dân pha trộn—hoặc các sắc màu; về sau được biết theo sự liên hệ là chủng tộc đỏ. Những người này, rồi, trong sự phát triển dần dần của họ có khả năng sử dụng trong mọi lực đang biểu lộ nơi môi trường riêng, trải qua những thời kỳ phát triển như đã được theo dõi sát hơn nơi các chủng tộc vàng, đen, hay trắng ở các phần khác của thế giới; tuy vậy, với môi trường tức thời, với những thuận lợi cho phát triển, họ trở nên tiến nhanh hơn rất nhiều trong phần đặc thù này của địa cầu so với những nơi khác—và dù sự hủy diệt của lục địa và dân cư này vượt xa bất kỳ điều gì đã được giữ lại như một biên niên tuyệt đối, thì biên niên ấy nơi các tầng đá vẫn còn đó—cũng như ảnh hưởng của những dân ấy trong đời sống của các dân mà những người đã thoát được trong các thời kỳ hủy diệt đã tạo nên hay gây ảnh hưởng lên đời sống của các dân đến với họ. Như họ có thể làm trong hiện tại, hoặc qua ảnh hưởng trực tiếp bằng việc tái sinh, hay tái nhập thể vào địa cầu, hoặc qua sự áp dụng trí tuệ xuyên qua các ảnh hưởng có thể có lên tư tưởng của các cá nhân hay nhóm bằng việc cất tiếng từ môi trường ấy...

To be continued.

Còn tiếp.

[Background: Reading given on the topic of Atlantis.]

[Bối cảnh: Buổi đọc được đưa ra về chủ đề Atlantis.]

Reading 364-4; February 16, 1932

Buổi đọc 364-4; 16 tháng 2, 1932

Yes, we have the subject here, The Lost Continent of Atlantis.

Vâng, chúng tôi có chủ đề ở đây, Lục Địa Đã Mất Atlantis.

As the peoples were a peaceful peoples, their developments took on rather that form—with the developing into the physical material bodies—of the fast development, or to the using of the elements about them to their own use; recognizing themselves to be a part of that about them. Hence, as to the supplying of that as necessary to sustain physical life as known today, in apparel, or supplying of the bodily needs, these were supplied through the natural elements; and the developments came rather in the forms—as would be termed in the present day—of preparing for those things that would pertain to what would be termed the aerial age, or the electrical age, and supplying then the modes and manners of transposition of those materials about same that did not pertain to themselves bodily; for of themselves was transposed, rather by that ability lying within each to be transposed in thought as in body.

Vì dân chúng vốn là những người hòa bình, nên sự phát triển của họ mang hình thức—khi đang phát triển vào các thể vật chất—của sự phát triển nhanh, hoặc hướng đến việc sử dụng các nguyên tố chung quanh vào lợi ích riêng; nhận biết mình là một phần của những gì quanh mình. Do đó, về việc cung ứng điều cần thiết để duy trì sự sống thể chất như nay đã biết, từ y phục, hay cung ứng các nhu cầu của thân thể, những điều này được đáp ứng qua các yếu tố tự nhiên; và các phát triển lại đến dưới các dạng—mà trong hiện tại sẽ gọi—là sự chuẩn bị cho những điều thuộc thời đại hàng không, hay thời đại điện năng, và do đó cung ứng các phương thức cùng cách thức chuyển vận những vật liệu chung quanh mà không thuộc về chính thân thể họ; vì tự thân họ được chuyển vận, đúng hơn là nhờ năng lực nằm trong mỗi người để được chuyển vận trong tư tưởng như trong thân thể.

In these things, then, did Amilius [?] see the beginning of, and the abilities of, those of his own age, era, or period, not only able to build that as able to transpose or build up the elements about them but to transpose them bodily from one portion of the universe to the other, through the uses of not only those recently re-discovered gases, and those of the electrical and aeriatic formations—in the breaking up of the atomic forces to produce impelling force to those means and modes of transposition, or of travel, or of lifting large weights, or of changing the faces or forces of nature itself, but with these transpositions, with these changes that came in as personalities, we find these as the Sons of the Creative Force as manifest in their experience looking upon those changed forms, or the daughters of men, and there crept in those pollutions, of polluting themselves with those mixtures that brought contempt, hatred, bloodshed, and those that build for desires of self without respects of others’ freedom, others’ wishes—and there began, then, in the latter portion of this period of development, that that brought about those of dissenting and divisions among the peoples in the lands. With the attempts of those still in power, through those lineages of the pure, that had kept themselves intact as of the abilities of forces as were manifest in their activities, these builded rather those things that attempted to draw back those peoples; through first the various changes or seasons that came about, and in the latter portion of the experience of Amilius [?] was the first establishing of the altars upon which the sacrifices of the field and the forest, and those that were of that that satisfied the desires of the physical body, were builded.

Trong những điều này, Amilius [?] thấy điểm khởi đầu và khả năng của những người cùng thời, cùng kỷ, hay cùng thời kỳ của mình, không chỉ có thể xây dựng những gì có thể chuyển vận hay kết cấu nên các nguyên tố quanh họ mà còn chuyển vận chính thân thể họ từ phần này của vũ trụ sang phần kia, thông qua việc sử dụng không chỉ những khí thể mới được tái phát hiện, và những cấu thể điện và hàng không—trong việc phân rã các lực nguyên tử để tạo lực đẩy cho những phương tiện và cách thức di chuyển, hay du hành, hay nâng nhấc trọng tải lớn, hay biến đổi bộ mặt hay lực của tự nhiên, mà với những sự chuyển vận ấy, với những thay đổi trở vào như những phàm ngã, chúng ta thấy những Con của Mãnh Lực Sáng Tạo, như được biểu lộ trong kinh nghiệm của họ, nhìn vào những hình tướng đã đổi thay, hay các con gái của loài người, và đã len vào những ô uế, sự tự ô nhiễm mình bởi những pha trộn dẫn đến khinh khi, thù hận, đổ máu, và những điều nuôi dưỡng dục vọng vị kỷ không tôn trọng tự do của kẻ khác, ước muốn của người khác—và rồi bắt đầu, trong phần sau của thời kỳ phát triển này, những điều gây ra bất hòa và phân hóa giữa các dân trong vùng đất. Với nỗ lực của những người còn trong quyền bính, qua những dòng dõi thuần chủng, những người đã giữ mình nguyên vẹn như là sở hữu các năng lực biểu lộ trong hoạt động của họ, những người này xây đắp đúng hơn là những điều cố gắng kéo trở lại những dân chúng kia; trước hết thông qua các biến đổi hay các mùa đã diễn ra, và trong phần sau của kinh nghiệm của Amilius [?] là sự thiết lập đầu tiên các bàn thờ, trên đó dâng hiến sản vật đồng ruộng và của rừng, và những thứ làm thoả mãn các dục vọng của thân xác, được dựng lập.

Then, with the coming in or the raising up of Esai [?], with the change that had come about, began in that period when there were the invasions of this continent by those of the animal kingdoms, that brought about that meeting of the nations of the globe to prepare a way and manner of disposing of, else they be disposed of themselves by these forces. With this coming in, there came then the first of the destructive forces as could be set and then be meted out in its force or power. Hence that as is termed, or its first beginning of, explosives that might be carried about, came with this reign, or this period, when man—or men, then—began to cope with those of the beast form that overran the earth in many places. Then, with these destructive forces, we find the first turning of the altar fires into that of sacrifice of those that were taken in the various ways, and human sacrifice began. With this also came the first egress of peoples to that of the Pyrenees first, of which later we find that peoples who enter into the black or the mixed peoples, in what later became the Egyptian dynasty. We also find that entering into Og, or those peoples that later became the beginning of the Inca, or Ohum [Aymara’?], that builded the walls across the mountains in this period, through those same usages of that as had been taken on by those peoples; and with the same, those that made for that in the other land, became first those of the mound dwellers, or peoples in that land. With the continued disregard of those that were keeping the pure race and the pure peoples, of those that were to bring all these laws as applicable to the Sons of God, man brought in the destructive forces as used for the peoples that were to be the rule, that combined with those natural resources of the gases, of the electrical forces, made in nature and natural form the first of the eruptions that awoke from the depth of the slow cooling earth, and that portion now near what would be termed the Sargasso Sea first went into the depths. With this there again came that egress of peoples that aided, or attempted to assume control, yet carrying with them all those forms of Amilius [?] that he gained through that as for signs, for seasons, for days, for years. Hence we find in those various portions of the world even in the present day, some form of that as was presented by those peoples in that great development in this, the Eden of the world...

Rồi, với việc xuất hiện hay sự trỗi dậy của Esai [?], cùng những biến đổi đã xảy ra, bắt đầu vào thời kỳ có những cuộc xâm lấn lục địa này bởi những loài thuộc giới động vật, điều ấy dẫn tới cuộc hội tụ của các quốc gia khắp địa cầu để chuẩn bị một phương cách và cách thức nhằm diệt trừ, bằng không thì chính họ sẽ bị những lực ấy tiêu diệt. Cùng với sự xuất hiện này, đã đến những lực hủy diệt đầu tiên có thể được thiết đặt và rồi được phân bổ theo lực hay quyền năng của nó. Do đó điều mà người ta gọi, hay điều khởi thủy của, các chất nổ có thể mang đi nơi nơi, đã đến với thời kỳ này, hay triều đại này, khi con người —hay nhân loại —bắt đầu đối phó với những hình thái thú vật đã tràn ngập địa cầu ở nhiều nơi. Rồi, với những lực hủy diệt này, chúng ta thấy sự chuyển hướng đầu tiên của lửa nơi bàn thờ sang việc tế hiến những kẻ bị bắt theo nhiều cách khác nhau, và tế người đã khởi sự. Cùng với đó cũng là đợt xuất cư đầu tiên của dân chúng đến vùng Pyrenees trước tiên, mà về sau chúng ta thấy dân ấy hòa nhập vào chủng đen hay dân pha trộn, trong điều mà về sau thành các triều đại Ai Cập. Chúng ta cũng thấy những người tiến vào Og, hay dân mà về sau trở thành khởi nguyên của Inca, hay Ohum [Aymara’?], dân đã xây tường nối qua các dãy núi vào thời kỳ này, nhờ các cách thức giống như những gì dân ấy đã tiếp thu; và cùng với đó, những người tạo nên điều ở vùng đất kia, trước hết trở thành dân cư sống gò, hay dân cư vùng ấy. Với sự tiếp diễn của việc xem nhẹ những người giữ gìn chủng thuần khiết và dân thuần khiết, những người sẽ đem các luật lệ này áp dụng cho Các Con của Thượng đế, con người đã đưa vào việc dùng các lực hủy diệt cho dân chúng, để trở thành luật lệ cai trị, điều ấy kết hợp với các tài nguyên tự nhiên của các khí thể, của các lực điện, đã làm phát sinh trong tự nhiên và dưới thể tự nhiên những trận phun trào đầu tiên thức dậy từ độ sâu của quả địa cầu đang nguội dần, và phần nay gần nơi điều mà người ta sẽ gọi là Biển Sargasso là phần đầu tiên chìm vào vực sâu. Cùng với điều này lại có đợt xuất cư của những dân đã trợ lực, hay cố gắng nắm quyền kiểm soát, tuy vậy vẫn mang theo mình tất cả các hình thức của Amilius [?] mà người ấy đã thu thập qua đó—như để tính dấu hiệu, tính mùa, tính ngày, tính năm. Do đó chúng ta thấy ở nhiều phần khác nhau của thế giới, ngay cả trong ngày nay, vẫn còn một số hình thức của điều đã được trình bày bởi dân chúng ấy trong cuộc phát triển vĩ đại này tại đây, vườn Địa đàng của thế giới...

Ready for questions.

Sẵn sàng cho câu hỏi.

(Q) Please give a description of the earth’s surface as it existed at the time of Atlantis’ highest civilization, using the names of continents, oceans and sections of same as we know them today?

(Q) Xin vui lòng miêu tả bề mặt địa cầu như nó hiện hữu vào thời kỳ nền văn minh cao nhất của Atlantis, sử dụng tên các lục địa, đại dương và các phần của chúng như chúng ta biết hôm nay?

(A) As to the highest point of civilization, this would first have to be determined according to the standard as to which it would be judged—as to whether the highest point was when Amilius [?] ruled with those understandings, as the one that understood the variations, or whether they became man made, would depend upon whether we are viewing from a spiritual standpoint or upon that as a purely material or commercial standpoint; for the variations, as we find, extend over a period of some two hundred thousand years (200,000)—that is, as light years—as known in the present—and that there were many changes in the surface of what is now called the earth. In the first, or greater portion, we find that now known as the southern portions of South America and the Arctic or North Arctic regions, while those in what is now as Siberia—or that as of Hudson Bay—was rather in that region of the tropics, or that position now occupied by near what would be as the same line would run, of the southern Pacific, or central Pacific regions—and about the same way. Then we find, with this change that came first in that portion, when the first of those peoples used that as prepared for the changes in the earth, we stood near the same position as the earth occupies in the present—as to Capricorn, or the equator, or the poles. Then, with that portion, then the South Pacific, or Lemuria [?], began its disappearance—even before Atlantis, for the changes were brought about in the latter portion of that period, or what would be termed ten thousand seven hundred (10,700) light years, or earth years, or present setting of those, as set by Amilius [?]—or Adam.

(A) Về mức độ văn minh cao nhất, trước tiên cần xác định theo tiêu chuẩn nào để phán xét—rằng đỉnh cao là khi Amilius [?] trị vì với những thấu hiểu, như người đã thấu hiểu các biến thiên, hay khi chúng trở thành do con người tạo lập, sẽ tùy thuộc vào việc chúng ta đang quan sát từ lập trường tinh thần hay thuần túy vật chất hoặc thương mại; vì các biến thiên, như chúng ta thấy, trải dài qua một thời kỳ khoảng hai trăm ngàn năm (200,000)—tức là, như những năm ánh sáng—như được biết hiện nay—và đã có rất nhiều biến đổi trên bề mặt điều mà nay gọi là địa cầu. Ở phần thứ nhất, hay phần lớn hơn, chúng ta thấy phần nay gọi là miền nam Nam Mỹ và vùng Bắc Cực hay Cực Bắc, trong khi vùng nay là Siberia —hoặc như vùng Vịnh Hudson—lại là vùng nhiệt đới, hay vị trí nay gần như đường vĩ độ sẽ chạy, thuộc Thái Bình Dương phía nam, hay trung tâm Thái Bình Dương—và tương tự như thế. Rồi chúng ta thấy, với biến đổi đến trước tiên ở phần ấy, khi những dân đầu tiên sử dụng những gì đã được chuẩn bị cho các biến đổi nơi địa cầu, chúng ta đứng gần cùng vị trí như địa cầu chiếm giữ trong hiện tại—về Nam Dương, hay xích đạo, hay các cực. Rồi, với phần ấy, khi ấy Nam Thái Bình Dương, hay Lemuria [?], bắt đầu biến mất—thậm chí trước Atlantis, vì những biến đổi đã diễn ra trong phần sau của thời kỳ ấy, hay điều mà sẽ gọi là mười ngàn bảy trăm (10,700) năm ánh sáng, hay năm địa cầu, hay cách ấn định hiện nay, như được ấn định bởi Amilius [?]—hay Adam.

We are through for the present.

Chúng tôi tạm xong cho hiện tại.

[Background: Reading given on the topic of Atlantis.]

[Bối cảnh: Buổi đọc được đưa ra về chủ đề Atlantis.]

Reading 364-6; February 17, 1932

Buổi đọc 364-6; 17 tháng 2, 1932

GC: You will have before you the material and information given through this channel on the lost continent of Atlantis, a copy of which I hold in my hand. You will answer the questions which I will ask regarding this:

GC: Ông sẽ có trước mặt mình tài liệu và thông tin được đưa qua kênh này về lục địa đã mất Atlantis, mà tôi đang cầm một bản sao trong tay. Ông sẽ trả lời những câu hỏi mà tôi sẽ hỏi về điều này:

EC: Yes, we have the information as written here, as given. In following out that as just given, with these changes coming in the experience of Amilius [?] and I [Ai? Ay?], Adam and Eve, the knowledge of their position, or that as is known in the material world today as desires and physical bodily charms, the understanding of sex, sex relationships, came into the experience. With these came the natural fear of that as had been forbidden, that they know themselves to be a part of but not of that as partook of earthly, or the desires in the manner as were about them, in that as had been their heritage.

EC: Vâng, chúng tôi có thông tin như được chép ở đây, như đã cho. Theo dõi điều vừa được nêu, với những biến đổi đi vào kinh nghiệm của Amilius [?] và I [Ai? Ay?], Adam và Eve, sự hiểu biết về vị trí của họ, hay điều nay được biết trong thế giới vật chất như những dục vọng và vẻ quyến rũ của thân xác, sự thấu hiểu về tính, các mối liên hệ tính, đã đi vào kinh nghiệm. Cùng với những điều này là nỗi sợ tự nhiên về điều từng bị cấm, rằng họ biết mình thuộc về một phần nhưng không phải của điều mang tính trần tục, hay các dục vọng theo cách thức chung quanh họ, như điều từng là gia sản của họ.

Were this turned to that period when this desire, then, becomes consecrated in that accomplished again in the virgin body of the mother of the Son of man, we see this is then crystallized into that, that even that of the flesh may be—with the proper concept, proper desire in all its purity—consecrated to the living forces as manifest by the ability in that body so brought into being, as to make a way of escape for the erring man. Hence we have found throughout the ages, so oft the times when conception of truth became rampant with free-love, with the desecration of those things that brought to these in the beginning that of the knowledge of their existence, as to that that may be termed—and betimes became—the more, or morality of a people. Yet this same feeling, this same exaltation that comes from association of kindred bodies—that have their lives consecrated in a purposefulness, that makes for the ability of retaining those of the essence of creation in every virile body—can be made to become the fires that light truth, love, hope, patience, peace, harmony; for the are ever the key to those influences that fire the imaginations of those that are gifted in any form of depicting the high emotions of human experience, whether it be in the one or the other fields, and hence is judged by those that may not be able, or through desire submit themselves—as did Amilius [?] and I [?] to those elements, through the forces in the life as about them.

Nếu điều này được chuyển hướng về thời kỳ khi dục vọng ấy, rồi, được thánh hiến trong điều hoàn tất lại trong thân đồng trinh của mẹ của Con người, chúng ta thấy điều này được kết tinh vào chỗ mà ngay cả thể xác cũng có thể—với quan niệm đúng đắn, dục vọng đúng đắn trong tất cả sự tinh tuyền—được thánh hiến cho các lực sống động như được biểu lộ bởi năng lực nơi thân thể được đưa vào hiện hữu như vậy, hầu mở một lối thoát cho người lầm lỗi. Do đó chúng ta thấy suốt các thời đại, biết bao lần khi hoài thai chân lý bùng phát cùng ái tình tự do, cùng sự báng bổ những điều đã đem lại cho những người ấy thuở ban đầu tri thức về sự hiện hữu của họ, về điều có thể gọi—và đôi lúc trở thành—điều hơn, hay đức hạnh của một dân tộc. Tuy vậy cùng cảm thức ấy, cùng sự hân exalt ấy xuất phát từ sự giao hòa các thân đồng loại—những thân đã thánh hiến đời mình trong một mục đích lớn lao, khiến có khả năng lưu giữ những yếu tính sáng tạo nơi mọi thân thể sung mãn—có thể được hóa thành lửa thắp sáng chân lý, tình thương, hy vọng, nhẫn nại, bình an, hòa điệu; vì chúng luôn luôn là chìa khóa cho những ảnh hưởng thắp bùng trí tưởng tượng của những người được thiên phú trong bất kỳ hình thức nào của việc diễn tả những cảm xúc cao cả của kinh nghiệm nhân sinh, bất kể thuộc lĩnh vực này hay lĩnh vực kia, và vì vậy bị phán xét bởi những người có thể không thể, hoặc do dục vọng mà quy phục mình—như Amilius [?] và I [?] đã làm—cho những yếu thể ấy, qua các lực trong đời sống quanh họ.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho câu hỏi.

(Q) Who was [I]? [Ai? Ay?] [GD’s note: “I” or “Ai” [or whatever spelling] we understood to be a proper name and not the pronoun I.]

(Q) [I] là ai? [Ai? Ay?] [Ghi chú của GD: “I” hay “Ai” [hoặc bất kỳ cách đánh vần nào] chúng tôi hiểu là một danh xưng riêng chứ không phải đại từ tôi.]

(A) It’s been given!

(A) Đã được cho rồi!

(Q) In relation to the history of Atlantis as presented, at what period did the flood as recorded in the Bible in which Noah took part, occur?

(Q) Liên quan đến lịch sử Atlantis như đã trình bày, trận hồng thủy được chép trong Kinh Thánh mà Noah tham dự xảy ra vào thời kỳ nào?

(A) In the second of the eruptions, or—as is seen—two thousand—two-two thousand and six [22,006?]—before the Prince of Peace, as time is counted now, or light years—day and night years. Not light years as the akashic records, or as the esoteric records, or as counted by astrology or astronomy, in the speed or the reflection of a ray of light; for, as records are made, the akashic records are as these: Activity of any nature, as of the voice, as of a light made, produced in the natural forces those of a motion—which pass on, or are upon, the record of that as time...

(A) Ở lần phun trào thứ hai, hay—như thấy—hai nghìn —hai-hai nghìn và sáu [22,006?]—trước Vị Vương của Hòa Bình, theo cách đếm thời nay, hay theo năm ánh sáng—năm ngày-đêm. Không phải năm ánh sáng như trong hồ sơ akashic, hay như trong hồ sơ huyền bí, hay như cách đếm của chiêm tinh học hoặc thiên văn học, theo tốc độ hay phản xạ của một tia sáng; vì, như các hồ sơ được lập, hồ sơ akashic là như vầy: Mọi hoạt động bất kỳ, như của tiếng nói, như của một ánh sáng được tạo ra, sản sinh trong các lực tự nhiên những chuyển động—chúng tiếp diễn, hay nằm trong hồ sơ của điều gọi là thời gian...

(Q) How large was Atlantis during the time of Amilius?

(Q) Atlantis lớn đến mức nào vào thời của Amilius?

(A) Comparison, that of Europe including Asia in Europe—not Asia, but Asia in Europe—see? This composed, as seen, in or after the first of the destructions, that which would be termed now—with the present position—the southernmost portion of same—islands as created by those of the first (as man would call) volcanic or eruptive forces brought into play in the destruction of same.

(A) So sánh, như châu Âu gồm cả phần châu Á thuộc châu Âu—không phải toàn châu Á, mà phần châu Á thuộc châu Âu—thấy chứ? Điều này cấu thành, như thấy, trong hay sau lần hủy diệt đầu tiên, cái mà nay sẽ được gọi—theo vị trí hiện tại—là phần cực nam của nó—những hòn đảo được tạo bởi những (như con người sẽ gọi) lực núi lửa hay lực phun trào đầu tiên được đưa vào vận hành trong sự hủy diệt của nó.

(Q) Was Atlantis one large continent, or a group of large islands?

(Q) Atlantis là một lục địa lớn duy nhất, hay một nhóm các đảo lớn?

(A) Would it not be well to read just that given? Why confuse in the questionings? As has been given, what would be considered one large continent, until the first eruptions brought those changes—from what would now, with the present position of the earth in its rotation, or movements about its sun, through space, about Arcturus, about the Pleiades, that of a whole or one continent. Then with the breaking up, producing more of the nature of large islands, with the intervening canals or ravines, gulfs, bays or streams, as came from the various elemental forces that were set in motion by this charging—as it were—of the forces that were collected as the basis for those elements that would produce destructive forces, as might be placed in various quarters or gathering places of those beasts, or the periods when the larger animals roved the earth—with that period of man’s indwelling. Let it be remembered, or not confused, that the earth was peopled by animals before peopled by man...

(A) Chẳng phải nên đọc đúng điều vừa được cho sao? Sao lại gây lẫn lộn bằng các câu hỏi? Như đã được nói, điều mà sẽ được xem là một lục địa lớn duy nhất, cho đến khi những phun trào đầu tiên mang đến những biến đổi—từ điều mà nay, với vị trí hiện tại của địa cầu trong vòng tự quay của nó, hay chuyển động quanh mặt trời của nó, qua không gian, quanh Arcturus, quanh Pleiades, là một tổng thể hay một lục địa đơn nhất. Rồi khi bị bẻ gãy, sản sinh hình thái giống các đảo lớn, với những kênh đào xen giữa hay khe vực, vịnh, vũng hay dòng chảy, như nảy sinh từ các hành khí khác nhau được đưa vào chuyển động bởi sự tích điện —như thể— cho các lực được tập hợp làm nền tảng cho những yếu tố sẽ tạo ra các lực hủy diệt, như có thể được đặt ở các phương vị khác nhau hay những nơi tụ hội của các thú dữ, hoặc vào những thời kỳ khi các loài thú lớn đi lang thang trên địa cầu— cùng với thời kỳ con người cư trú. Hãy nhớ, và đừng lẫn lộn, rằng địa cầu đã có động vật cư trú trước khi có loài người...

(Q) What were the principal islands called at the time of the final destruction?

(Q) Những hòn đảo chính vào thời kỳ hủy diệt cuối cùng được gọi là gì?

(A) Poseidia and Aryan [?], and Og [?].

(A) Poseidia và Arya [?], và Og [?].

[Background: Study group reading in which Hugh Lynn Cayce asked about the Great Congress that had once convened during the period of Atlantis to deal with the aggressive animal problem that had once threatened humankind.]

[Bối cảnh: Buổi đọc nhóm học tập trong đó Hugh Lynn Cayce hỏi về Đại Hội đã từng triệu tập trong thời Atlantis để giải quyết vấn nạn thú dữ hung hãn từng đe dọa loài người.]

Reading 262-39; February 21, 1933

Buổi đọc 262-39; 21 tháng 2, 1933

HLC: Please advise me regarding the preparation and presentation of the article or story which I am preparing on the Great Congress held during the age of the destruction of the enormous animals that once roamed the earth. [See 364-4.]

HLC: Xin vui lòng chỉ dẫn tôi về việc chuẩn bị và trình bày bài báo hay câu chuyện mà tôi đang soạn về Đại Hội được tổ chức trong thời kỳ hủy diệt của những loài thú khổng lồ từng lang thang trên địa cầu. [Xem 364-4.]

(A) In the period when this became necessary, there was the consciousness raised in the minds of the groups, in various portions of the earth, much in the manner as would be illustrated by an all-world-broadcast in the present day of a menace in any one particular point, or in many particular points. And the gathering of those that heeded, as would be the scientific minds of the present day, in devising ways and means of doing away with that particular kind or class of menace.

(A) Vào thời kỳ điều này trở nên cần thiết, ý thức đã được khơi dậy trong tâm trí các nhóm, ở nhiều phần khác nhau của địa cầu, rất giống như điều sẽ được minh họa bởi một chương trình phát thanh toàn cầu trong hiện tại về một mối đe dọa ở bất kỳ điểm riêng biệt nào, hay ở nhiều điểm riêng biệt. Và sự tụ họp của những người lắng nghe, như sẽ là những trí óc khoa học của ngày nay, trong việc nghĩ ra các phương cách và phương tiện để loại trừ kiểu hay hạng đe dọa đặc biệt ấy.

As to the manner in which these gathered, it was very much as would be were the Graf [Graf Zeppelin?] to start to the various portions for those that represented, or were to gather those that were to counsel, or were to cooperate in that effort. And, as this, then, was in that particular plane or sphere that then was in the land which has long since lost its identity, except in the inner thought or visions of those that have returned or are returning in the present sphere, the ways and means devised were as those that would alter or change the environs for which those beasts were needed, or that necessary for their sustenance in the particular portions of the sphere, or earth, that they occupied at the time. And this was administered much in the same way or manner as were there sent out from various central plants that which is termed in the present the Death Ray, or the super-cosmic ray, that which many are seeking into which will give their lives much, from the stratosphere, or cosmic rays, that will be found in the next twenty-five years. This presented, then, in such a manner, and drawing upon the varied conditions that existed in the various portions of the land then occupied by man.

Về cách thức họ tụ họp, điều đó rất giống như thể chiếc Graf [Graf Zeppelin?] khởi hành đến các nơi khác nhau để đón những người đại diện, hay để triệu tập những người sẽ tham nghị, hay sẽ hợp tác trong nỗ lực ấy. Và, vì đây là trong cõi hay tầng mà khi ấy đặt tại vùng đất đã từ lâu mất dấu, ngoại trừ trong nội tâm hay các thị kiến của những ai đã trở lại hay đang trở lại trong cõi hiện tại, thì các phương cách và phương tiện được nghĩ ra là những điều sẽ biến đổi hay thay đổi môi trường cho phù hợp với nhu cầu của các thú ấy, hay điều cần cho sự sinh tồn của chúng nơi những phần đặc thù của khối cầu, hay địa cầu, mà chúng chiếm giữ vào lúc ấy. Và điều này được thực thi rất giống như cách thức có những trạm trung ương khác nhau phóng phát cái mà ngày nay được gọi là Tia Chết, hoặc siêu-tia vũ trụ, điều mà nhiều người đang tìm tòi và sẽ dâng hiến nhiều năm tháng đời mình, từ tầng bình lưu, hay các tia vũ trụ, thứ sẽ được phát hiện trong hai mươi lăm năm tới. Điều này được trình bày như thế, và rút trên các điều kiện đa dạng hiện hữu nơi nhiều phần khác nhau của vùng đất khi ấy do con người cư trú.

(Q) What was the date B.C. of this gathering?

(Q) Niên đại TCN của cuộc tụ họp này là gì?

(A) 50,722.

(A) 50,722.

(Q) Were there any outstanding methods of destruction developed which I have not mentioned?

(Q) Có phương pháp hủy diệt nổi bật nào được phát triển mà tôi chưa nêu không?

(A) Draw on these that we have given here.

(A) Hãy khai thác những điều chúng tôi đã nêu ở đây.

(Q) Were any countries represented which I have not named?

(Q) Có quốc gia nào tham dự mà tôi chưa nêu tên không?

(A) Og.

(A) Og.

(Q) Who was the general leader for this congress?

(Q) Ai là lãnh đạo chung của Đại Hội này?

(A) One with the nomenclature Tim.

(A) Một người có danh xưng Tim.

(Q) Of what land or country?

(Q) Thuộc vùng đất hay quốc gia nào?

(A) Poseidia, from Atlantis.

(A) Poseidia, từ Atlantis.

[Background: Reading given to a twenty-four-year-old male who was told that he had once had a lifetime during the animal crisis that had brought much of the civilized world together.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đưa cho một nam giới 24 tuổi, người được cho biết rằng y đã từng có một kiếp sống vào thời kỳ khủng hoảng thú dữ đã quy tụ phần lớn thế giới văn minh.]

Reading 5249-1; June 12, 1944

Buổi đọc 5249-1; 12 tháng 6, 1944

As to the experiences, in the Atlantean land the entity was the time-keeper for those who were called things, or the servants, or the workers of the peoples and the entity felt latent and manifest, as in the present, the wanting to reform, to change things, so that every individual soul had the right to freedom of speech, freedom of thought, freedom of activity. For to the entity, even in those periods of man’s unfoldment (for this was before Adam), the entity found during its activities the desire to improve, to make better those environs for the workers of that period. That alone brought into the entity’s consciousness man’s position, the need of a pattern. And the entity saw, the entity felt the need of God’s hand in what evil, or Satan, had brought in the earth. Don’t forget that! Whatever may be thy position in this present experience!

Về các kinh nghiệm, ở đất Atlantean thực thể là người giữ thời gian cho những người được gọi là các vật, hay các người hầu, hay công nhân của dân chúng, và thực thể cảm thấy tiềm ẩn và hiển lộ, như trong hiện tại, ý muốn cải cách, muốn thay đổi sự đời, để mọi linh hồn cá nhân có quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do hoạt động. Vì với thực thể, ngay cả trong những thời kỳ khai mở của con người (vì đây là trước Adam), thực thể đã nhận ra trong các hoạt động của mình ước vọng cải thiện, làm tốt hơn các môi trường cho giới công nhân thời ấy. Chính điều đó đã đem vào tâm thức của thực thể vị thế của con người, nhu cầu về một khuôn mẫu. Và thực thể đã thấy, đã cảm nhu cầu về bàn tay của Thượng đế trước những gì sự ác, hay Satan, đã mang vào địa cầu. Đừng quên điều đó! Dù vị thế của ngươi trong kinh nghiệm hiện tại là gì!

Through the experience the entity gained.

Qua kinh nghiệm ấy thực thể đã gặt hái.

In the experience which followed this, we find the entity was in the Indian land or in those periods of Saad as the leader, the ruler. The entity was then what would be called the secretary of state, or in the inner group of the leader Saad, that made for contacts or associations with or agreements with other lands.

Trong kinh nghiệm tiếp theo đó, chúng tôi thấy thực thể ở đất Ấn hay trong những thời kỳ của Saad với tư cách lãnh đạo, người cầm quyền. Lúc ấy thực thể là điều nay sẽ gọi là ngoại trưởng, hay thuộc nhóm nội bộ của nhà lãnh đạo Saad, người đã kiến lập những tiếp xúc hay liên kết hoặc giao ước với các vùng đất khác.

The entity then was among those who were of that group who gathered to rid the earth of the enormous animals which overran the earth, but ice, the entity found, nature, God, changed the poles and the animals were destroyed, though man attempted it in that activity of the meetings.

Khi ấy thực thể thuộc nhóm những người đã tụ hội để giải trừ địa cầu khỏi những giống thú khổng lồ từng tràn ngập địa cầu, nhưng băng giá, thực thể nhận ra, thiên nhiên, Thượng đế, đã đổi trục và các loài thú bị hủy diệt, dù con người đã toan thực hiện điều ấy trong hoạt động của các cuộc hội họp.

[Background: Reading given to a thirty-six-year-old male who was told that he had once had a lifetime during the period of the destruction of Atlantis; although he was not in Atlantis.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đưa cho một nam giới 36 tuổi, người được cho biết rằng y đã từng có một kiếp sống vào thời kỳ hủy diệt Atlantis; dù y không ở Atlantis.]

Reading 182-2; April 9, 1925

Buổi đọc 182-2; 9 tháng 4, 1925

In the one before this we find in that day when there was the destruction to the elements of earth [Atlantis?], then in now the Peruvian countries, when the lands disappeared in the low places and the entity was left alone in the higher mound to which the entity had then gone for its study. In the name then of Oumu. In the personality exhibited in the present, the ever fear in the deep recesses of self of destruction coming to many suddenly.

Trong kiếp ngay trước đó chúng tôi thấy vào thời khi có sự hủy hoại đối với các yếu tố của địa cầu [Atlantis?], khi ấy ở các quốc gia Peru hiện nay, khi các vùng đất biến mất ở chỗ thấp và thực thể bị bỏ lại một mình trên gò cao mà thực thể khi ấy đã đến để học hỏi. Khi ấy danh là Oumu. Trong phàm ngã biểu hiện trong hiện tại, có nỗi sợ luôn luôn ở những hốc sâu thẳm của tự ngã về sự hủy diệt ập đến với nhiều người một cách đột ngột.

[Background: Reading given to a forty-eight-year-old female who was told that she had once had a lifetime in Atlantis during the period of its destruction.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đưa cho một nữ giới 48 tuổi, người được cho biết rằng Bà đã từng có một kiếp sống ở Atlantis vào thời kỳ hủy diệt của nó.]

Reading 1257-1; August 28, 1936

Buổi đọc 1257-1; 28 tháng 8, 1936

Before that we find the entity was in the Atlantean land, during those periods when there had been the first of the upheavals through the destructive forces that brought first a fear, a wonderment, and then the seeking for those things that would quiet not only for the material but for the mental and spiritual welfare of the peoples.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở đất Atlantean, trong những thời kỳ đã có những chấn động đầu tiên do các lực hủy diệt gây ra, điều đầu tiên mang đến sợ hãi, kinh ngạc, rồi là sự tìm cầu những điều có thể làm yên ổn không chỉ cho phúc lợi vật chất mà còn cho phúc lợi trí tuệ và tinh thần của dân chúng.

Hence the entity was among those that attempted to make for the better understandings in the classes or castes, or those that were the teachings [teachers?] and those that were of the peasantry—or those as laborers. This made for great hardships from material, yet brought into the experience of the entity during that sojourn the greater blessings and greater developments.

Vì vậy thực thể thuộc về những người đã cố gắng tạo dựng sự thấu hiểu tốt hơn giữa các giai tầng hay đẳng cấp, giữa những người thuộc giới giáo huấn [các thầy?] và những người thuộc về nông dân—hay những người lao động. Điều này gây ra nhiều khốn khó về vật chất, nhưng đem vào kinh nghiệm của thực thể trong kiếp du trú ấy những ơn phước lớn hơn và những phát triển lớn hơn.

So may the activity in self in the present be in giving to others, and thus find the greater joy, the greater peace, in this experience.

Vậy nên hoạt động trong tự thân ở hiện tại hãy là hiến tặng cho người khác, và như thế sẽ tìm được niềm vui lớn hơn, bình an lớn hơn, trong kiếp này.

The name then was Aammeen.

Danh xưng khi ấy là Aammeen.

[Background: Reading given to a seventy-year-old female who was told that she had once had a lifetime in the Yucatan during the period of Atlantis’ destruction.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đưa cho một nữ giới 70 tuổi, người được cho biết rằng Bà đã từng có một kiếp sống ở Yucatan vào thời kỳ hủy diệt Atlantis.]

Reading 1604-1; June 2, 1938

Buổi đọc 1604-1; 2 tháng 6, 1938

Before that we find the entity was in the Yucatan or Mayan land, when there were those activities that destroyed the Atlantis land—or that portion of the Poseidian isle or city.

Trước đó chúng tôi thấy thực thể ở đất Yucatan hay Maya, khi có những hoạt động đã hủy diệt đất Atlantis—hay phần đảo hoặc thành Poseidia.

The entity was among those who journeyed to other lands, knowing much of the activities of the sons of Belial as well as the precautions and warnings that had been issued by the children of the Law of One.

Thực thể thuộc về những người đã hành trình đến các vùng khác, biết rõ nhiều về các hoạt động của những người con của Belial cũng như những biện phòng và cảnh báo đã được ban ra bởi những người con của Luật của Đấng Duy Nhất.

Hence we find the entity was among those who in the early portions of that material sojourn entered into the new buildings, the new activity that became destructive because of the influences from the land of Og and On, and the activities that arose in the western portion of that particular period of sojourn.

Vì vậy chúng tôi thấy thực thể thuộc về những người ở trong buổi đầu của kiếp lâm phàm vật chất ấy đã tham dự các công trình mới, các hoạt động mới về sau trở nên hủy diệt do các ảnh hưởng từ đất Og và On, và các hoạt động nổi lên ở phần tây của thời kỳ du trú đặc thù ấy.

For there, during the entity’s experience, was the upheaval which settled so much in portions of that now known as the southwestern U.S.A.

Vì ở đó, trong kinh nghiệm của thực thể, đã có cuộc chấn động khiến rất nhiều vùng lún xuống ở những phần nay được biết là miền tây nam Hoa Kỳ.

In the experiences then the entity rose to that position of the priestess of the sacrificial activity. Much blood flowed by the hand of the entity during that sojourn.

Trong các kinh nghiệm ấy thực thể đã vươn lên địa vị nữ tư tế của hoạt động tế hiến. Nhiều máu đã chảy bởi tay của thực thể trong kiếp du trú ấy.

Yet these are influences and forces in the present in which there is the desire to bring greater understanding and ease, and the very lack of such in the experiences of those whom the entity may contact.

Tuy vậy những điều này là các ảnh hưởng và các lực trong hiện tại, trong đó có ước vọng đem đến sự thấu hiểu và sự dễ chịu lớn hơn, và chính sự thiếu vắng những điều ấy trong các kinh nghiệm của những người mà thực thể có thể tiếp xúc.

[Background: Reading given to an eighteen-year-old female who was told that she had once had a lifetime in Atlantis during its third and final destruction.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đưa cho một nữ giới 18 tuổi, người được cho biết rằng Bà đã từng có một kiếp sống ở Atlantis vào lần hủy diệt thứ ba và cuối cùng.]

Reading 288-1; November 23, 1923

Buổi đọc 288-1; 23 tháng 11, 1923

In the one before this we find in that fair country of Alta, [according to the readings, Alta was a ruler, a scribe, just before the third destruction of Atlantis.] or Poseidia [GD’s spelling based on Poseidon in Greek Mythology.] proper, when this entity was in that force that brought the highest civilization and knowledge that has been known to the earth’s plane, and this entity was one of those who lent much assistance to the developing of those forces that made the common peoples that they became the assistance in the knowledge as obtained. Again we find the entity in that sex as given, and was in the household of the ruler of that country. [This body (not physically) will be present when the earth is changed again, see? See 288-29, Par. 8-A expanding on “when the earth is changed again.”] This we find nearly ten thousand years before the Prince of Peace came, and this entity then found the destructive forces to life in the misapprehension of those who were attempting to be of assistance, and not by their fault was the catastrophe brought; yet not until the entrance into the land of the unknown did this entity come to the realization of this as truth, and in the affliction as brought to the physical were the personalities and manifestations of same brought through to the sphere at present.

Trong kiếp ngay trước đó chúng ta thấy ở đất đẹp đẽ Alta, hoặc Poseidia đích thực [theo các buổi đọc, Alta là một vị cai trị, một vị ký lục, ngay trước lần hủy diệt thứ ba của Atlantis.], khi thực thể ở trong lực đã đem lại nền văn minh và tri thức cao nhất từng được biết đến nơi cõi địa cầu, và thực thể là một trong những người đã góp phần lớn vào việc phát triển những lực giúp người dân bình thường trở nên hỗ trợ trong tri thức được lĩnh hội. Lại nữa chúng ta thấy thực thể trong phái tính như đã nêu, và ở trong gia hộ của người cai trị xứ sở ấy. [Thân thể này (không phải thể xác) sẽ hiện diện khi địa cầu lại biến đổi, thấy chứ? Xem 288-29, đoạn 8-A khai triển thêm về “khi địa cầu lại biến đổi.”] Điều này chúng ta thấy là gần mười ngàn năm trước Vị Hoàng Tử của Hòa Bình đến, và thực thể khi ấy đã thấy các lực hủy diệt đối với sự sống do sự hiểu lầm của những người toan trợ giúp, và không phải bởi lỗi của họ mà thảm họa xảy đến; tuy vậy mãi cho đến khi đi vào vùng đất vô danh thì thực thể mới nhận chân điều này là chân lý, và trong tai ách giáng lên thể xác, các phàm ngã và những biểu hiện của chúng đã được đưa qua vào cõi hiện tại.

[Background: Reading given to a twenty-nine-year-old female who sought additional information on her Atlantean incarnation.]

[Bối cảnh: Buổi đọc đưa cho một nữ giới 29 tuổi, người cầu xin thêm thông tin về kiếp Atlantean của mình.]

Reading 288-29; April 16, 1932

Buổi đọc 288-29; 16 tháng 4, 1932

(Q) In Atlantis, was I associated with Amilius? [See [364] series.] If so, how?

(Q) Ở Atlantis, tôi có liên hệ với Amilius không? [Xem loạt bài [364].] Nếu có, bằng cách nào?

(A) One as projected by that entity as to a ruler or guide for many, with its associating entity.

(A) Một, như được thực thể ấy phóng chiếu ra, như một vị cai quản hay người dẫn dắt cho nhiều người, cùng với thực thể kết liên của mình.

(Q) What is meant by “yet not until the entrance into the land of the unknown did this entity come to the realization of this as truth, that not by their fault was the catastrophe brought”? [See 288-1.]

(Q) Ý của câu “nhưng mãi đến khi bước vào miền đất vô danh thì thực thể này mới nhận ra đây là chân lý, rằng tai ương không do lỗi của họ gây ra” là gì? [Xem 288-1.]

(A) In the experience the entity then as twofold, and much of the waywardness by many accredited to the acts of the entity, for there was then the forming of thoughts that became material activities, and the passing into the unknown, or from the physical to the spiritual realm, gave the entity that knowledge that those contentions arose much within the inmost self of many that the entity not responsible for. Hence, as given, with the passing, the knowledge that they—or the entity—not wholly responsible, yet in the next [Egypt: Ra-Ta Period] as an entity in the realm where contentions arose, and the entity the center, or the physical manifestation of a contention brought into physical being by the union of that as was uppermost in expression of the entity itself in the former material activity. Then, the physical reactions brought for the body those positions or conditions as surrounded same. Well that the entity, or all, know that the law of love, or love as law, is cause and effect; or each impulse has its own corresponding reaction in thought, life, mental, physical and material. Not understood by some! This: “As ye sow, so shall ye reap.” [Gal. 6:7] Each thought, as things, has its seed, and if planted, or when sown in one or another ground, brings its own fruit; for thoughts are things, and as their currents run must bring their own seed.

(A) Trong kinh nghiệm ấy, thực thể là nhị phân, và nhiều điều lầm lạc của số đông đã được quy cho hành động của thực thể, vì khi đó có sự hình thành các tư tưởng rồi trở thành các hoạt động vật chất; và việc đi vào miền vô tri, hay từ cõi hồng trần sang cõi tinh thần, đã đem cho thực thể tri thức rằng các tranh chấp phần nhiều khởi phát từ tận nội tâm của nhiều người, điều ấy thực thể không chịu trách nhiệm. Do đó, như đã nói, với sự qua đi, có hiểu biết rằng họ — hay thực thể — không hoàn toàn chịu trách nhiệm; tuy vậy, ở lần sau [Ai Cập: Thời kỳ Ra-Ta], như một thực thể trong cõi nơi tranh chấp nổi lên, thì thực thể là trung tâm, hay là biểu hiện hồng trần của một cuộc tranh chấp được đưa vào hiện hữu hồng trần bởi sự kết hợp của điều vốn nổi trội nhất trong biểu lộ của chính thực thể trong hoạt động vật chất trước đó. Rồi, các phản ứng thể xác đã mang cho thân thể những địa vị hay điều kiện bao quanh nó. Tốt là thực thể, hay mọi người, biết rằng luật của tình thương, hay tình thương như luật, là nhân và quả; hay mỗi xung lực đều có phản ứng tương ứng của riêng nó trong tư tưởng, đời sống, trí tuệ, thể xác và vật chất. Có người không hiểu điều này! Đây: “Gieo chi, gặt nấy.” [Gal. 6:7] Mỗi ý nghĩ, như sự vật, đều có hạt giống của nó, và nếu được gieo trồng, hay khi gieo trên mảnh đất này hay mảnh đất khác, sẽ sinh quả của riêng nó; vì tư tưởng là sự vật, và theo dòng chảy của chúng, tất phải mang hạt giống của chính chúng.

(Q) How long after I lived in Atlantis did the destruction come?

(Q) Bao lâu sau khi tôi sống ở Atlantis thì sự hủy diệt xảy đến?

(A) Depends upon which destruction! There was the beginning of the destruction in the latter portion of the entity’s physical sojourn there.

(A) Còn tùy nói đến cuộc hủy diệt nào! Đã có khởi đầu của sự hủy diệt vào đoạn sau của thời kỳ thực thể ấy lưu trú nơi cõi hồng trần tại đó.

[Background: Reading given to a fifty-nine-year-old female who was told that she had once had a lifetime in Atlantis during the period when earth changes had separated the continent into islands.]

[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một phụ nữ năm mươi chín tuổi, được cho biết rằng Bà đã từng có một kiếp sống ở Atlantis trong giai đoạn khi các biến đổi của Trái Đất đã chia lục địa thành các đảo.]

Reading 884-1; April 9, 1935

Buổi đọc 884-1; 9 tháng 4, 1935

Before that we find the entity was in that land now known or spoken of as the Atlantean, during those days when there were the attempts of those to bring quiet, to bring order out of chaos by the destructive forces that had made for the eruptions in the land that had divided the lands and had changed not only the temperate but to a more torrid region by the shifting of the activities of the earth itself.

Trước đó, chúng tôi thấy thực thể ở xứ nay được biết hay gọi là Atlantean, vào những ngày có nỗ lực của những người muốn đem yên bình, đem trật tự ra khỏi hỗn mang sau các mãnh lực phá hoại đã gây nên những vụ phun trào trong đất đai làm chia cắt các miền và không chỉ đổi vùng ôn đới mà còn sang miền nóng bức hơn bởi sự dịch chuyển của chính các hoạt động của Trái Đất.

The entity then was among the princesses of those peoples when there were the divisions of those that were to be the rulers, those that were to be the laborers, those that were to administer the rulings of the ruler upon those that would be ruled.

Thực thể khi ấy ở trong hàng các công chúa của dân chúng, vào thời có sự phân chia những người sẽ làm kẻ cai trị, những người sẽ là lao động, những người sẽ thi hành phán lệnh của nhà cai trị lên những người bị trị.

Being among the princesses of him that made for the rulings over the land at the time, in the name Ahasus, the entity made for that of bringing to her own peoples the greater understandings, and especially those that had followed in the way of the Law of One—or that manifested in the present as the Christ Consciousness, or the sons of Adam that had joined themselves with the sons of God, and as the sons of Adam that—with Amilius—had made the records of those things whereby there might be the cleansing of the body from the pollutions of the world, or of the animal kingdom.

Là một trong các công chúa của vị đã đặt luật lệ cai quản xứ sở bấy giờ, mang danh Ahasus, thực thể đã đem đến cho dân mình sự thấu hiểu lớn hơn, và đặc biệt cho những ai đã bước theo con đường của Luật của Đấng Duy Nhất — tức điều nay biểu lộ như tâm thức của Đức Christ, hay các con của Adam đã liên kết với Các Con của Thượng đế — và như các con của Adam đã — cùng Amilius — lập những ký lục về các điều nhờ đó có thể thanh tẩy thân thể khỏi những cấu uế của thế gian, hay của giới động vật.

The entity aided in bringing not only material gains but the glories of the experience builded in the experience much of the abilities for purifying through harmonious music—those harmonious influences that were a portion of the entity’s activities later in its Persian sojourn.

Thực thể đã giúp mang lại không chỉ các lợi ích vật chất mà còn cả những vinh quang của kinh nghiệm, đã gây dựng trong kinh nghiệm nhiều năng lực để thanh lọc qua âm nhạc hài hòa — những ảnh hưởng điều hòa vốn là một phần hoạt động của thực thể này về sau trong kỳ lữ hành Ba Tư.

[Background: Reading given to a thirty-one-year-old female who was told that she had once had a lifetime in Atlantis during the period of the second destruction when the continent had been separated into three islands.]

[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một phụ nữ ba mốt tuổi, được cho biết rằng Bà đã từng có một kiếp sống ở Atlantis trong giai đoạn hủy diệt lần thứ hai khi lục địa đã bị chia thành ba đảo.]

Reading 958-3; June 28, 1940

Buổi đọc 958-3; 28 tháng 6, 1940

Before that the entity was in the Atlantean land during the period of the second breaking up, when the islands—or Poseidia—became the main portion of the activities.

Trước đó thực thể ở xứ Atlantean trong thời kỳ tan rã lần thứ hai, khi các hòn đảo — hay Poseidia — trở thành phần trung tâm của các hoạt động.

And those very experiences that brought destructive forces bring about the tendencies in the present for the extremes, and the hardships that have been and will be a part of the experience through this sojourn.

Và chính những kinh nghiệm ấy, vốn đã đưa đến các mãnh lực phá hoại, khiến nảy sinh trong hiện tại các khuynh hướng cực đoan, và những gian truân đã và sẽ là một phần của kinh nghiệm trong suốt kỳ lữ hành này.

Not that these will always be material conditions, for they—too—will pass.

Không phải những điều này lúc nào cũng là các điều kiện vật chất, vì chúng — cũng vậy — sẽ qua đi.

In that experience the entity was among the children of the Law of One who accepted and forsook much of those activities because of its close associations and companionships with one of the sons of Belial.

Trong kinh nghiệm ấy, thực thể thuộc về những người của Luật của Đấng Duy Nhất, nhưng đã chấp nhận rồi từ bỏ nhiều hoạt động ấy vì những liên hệ và bằng hữu thân cận với một trong các con của Belial.

This brought consternation to the entity, and also those influences the application or use of which brought destruction to the land. And Poseidia will be among the first portions of Atlantis to rise again. Expect it in sixty-eight and sixty-nine (‘68 and ‘69); not so far away!

Điều này đã gây bấn loạn cho thực thể, và cũng mang đến những ảnh hưởng mà việc áp dụng hay sử dụng chúng đã đưa sự hủy diệt đến xứ sở. Và Poseidia sẽ là một trong những phần đầu tiên của Atlantis trồi lên trở lại. Hãy trông đợi điều đó vào sáu mươi tám và sáu mươi chín (‘68 và ‘69); không xa đâu!

From the activities and experiences of the entity in that sojourn, we find that hardships, pleasures, extremes of most natures, will be a part of the entity’s activity in the present.

Từ những hoạt động và kinh nghiệm của thực thể trong kỳ lữ hành ấy, chúng tôi thấy rằng gian truân, lạc thú, những cực đoan của hầu hết các bản chất, sẽ là một phần hoạt động của thực thể trong hiện tại.

Those that brought destructive forces were the extravagant use of self, as well as of the abilities and activities, with those of questionable conditions and experiences.

Những điều đã làm dấy lên các mãnh lực phá hoại là sự phung phí bản thân, cũng như phung phí các năng lực và hoạt động, với những điều kiện và kinh nghiệm đáng ngờ.

The name then was Es-Se-Es.

Khi ấy tên là Es-Se-Es.

[Background: Reading given regarding the possibility of creating some type of commercial enterprise at Bimini.]

[Bối cảnh: Buổi đọc liên quan đến khả năng tạo lập một loại hình doanh thương tại Bimini.]

Reading 996-1; August 14, 1926

Buổi đọc 996-1; 14 tháng 8, 1926

TBH: You will give a reading on Bimini Island, located in the Atlantic Ocean, about 45 miles almost due east of Miami, Dade County, Florida. You will go over this island, and tell us whether there is oil on this island in sufficient quantities to insure profit. If so, give us the log of the formations that would be gone through in drilling to the oil sand, depth of the well necessary to reach the oil production, also tell us if there are any treasures buried on this island. If so, when were they buried, and where can they be located, and to whom do they belong at this time?

TBH: Xin cho một buổi đọc về đảo Bimini, nằm trên Đại Tây Dương, cách gần như đúng hướng đông của Miami, Hạt Dade, Florida, chừng 45 dặm. Xin khảo sát hòn đảo này, và cho biết liệu trên đảo có dầu với trữ lượng đủ để bảo đảm lợi nhuận hay không. Nếu có, xin cho biết cột địa tầng sẽ khoan qua để tới lớp cát chứa dầu, độ sâu giếng cần để đạt đến tầng khai thác dầu, cũng xin cho biết có kho báu nào được chôn trên đảo này không. Nếu có, chúng chôn khi nào, ở đâu có thể xác định vị trí, và hiện thuộc về ai?

EC: Yes, we have the land known as Bimini, in the Atlantic Ocean. In the formation of the land, we find this of the nature that would make the oil production very low, for this is of the coral structure in the greater part, but this is the highest portion left above the waves of once a great continent, upon which the civilization as now exists in the world’s history found much of that as would be used as means for attaining that civilization.

EC: Vâng, chúng tôi có xứ gọi là Bimini, trên Đại Tây Dương. Về cấu tạo địa hình, chúng tôi thấy bản chất nơi đây sẽ khiến sản lượng dầu rất thấp, vì phần lớn là cấu trúc san hô; nhưng đây là phần cao nhất còn lại phía trên sóng của một đại lục đã từng hiện hữu, trên đó nền văn minh — như nay tồn tại trong lịch sử thế giới — đã tìm thấy nhiều điều dùng làm phương tiện để đạt tới nền văn minh ấy.

Then, as to treasures, there are many that are hidden, also those that may be made remunerative—from physical conditions and structure of this body of land—among those larger buried treasures—that consists of gold, bullion, silver, and of plate ware, or beaten ware—this was made a cache on the higher portion of the isle from the cove as enters island from the south and west from that portion direct from Miami. This, as we see, was in eighteen thirty-nine (1839), and under these conditions:

Về kho báu, có nhiều thứ được chôn giấu, và cũng có những thứ có thể đem lại lợi tức — từ các điều kiện vật chất và cấu trúc của khối đất này — trong số những kho báu chôn lớn hơn — gồm vàng, thỏi, bạc, và đồ đĩa, hay đồ kim loại dát — đây đã được làm thành một kho chôn trên phần cao hơn của đảo, từ vũng nhỏ đi vào đảo từ phía nam và tây, từ phần đi thẳng từ Miami. Điều này, như chúng tôi thấy, là vào năm mười tám ba mươi chín (1839), và với các điều kiện sau:

In the trade and exchange of peoples as were brought to the western world, many being located in that now known, and then known, as James River. Among these was one, Bill Desmond, who took charge of the schooner, or yacht, or boat, that had landed such a cargo, by that of mutiny, and robbing the store-keeper in that settlement nearly opposite from Jamestown, escaped down the coast on the ninth (9th) day of March, eighteen thirty-nine (1839), and on the twenty-second (22nd) was shipwrecked in this isle, and with four others escaped to this isle with the ill-gotten gains. The building in which these lived for a time was erected on this promontory above the cove from timbers that were gathered from the wreck. On the thirty-first (31st) of the month the cache was made in the side of the abode in which these men took refuge. One died of snake bite. Another was poisoned by berries as grew on the hill above the spring that still shows in this place. The two remaining were the ones who fell out over the division of the spoils, and after this wounding one attempted to escape to the mainland—lost in the surf, only a portion of the loot being taken, and that returned, with much other, to the cache by Desmond, whose remains are in that vault. The amount here would amount, in coin, at present, to near a hundred and twenty thousand (120,000) gold coin, and much silver and of specie from the containers would amount to near as much more.

Trong việc buôn bán và trao đổi những dân bị đưa đến tân thế giới, nhiều người được đặt tại nơi nay được biết, và khi ấy cũng được biết, là sông James. Trong số đó có một người, Bill Desmond, kẻ nắm quyền chỉ huy chiếc thuyền buồm, hay du thuyền, hay thuyền, chở một lô hàng như vậy, do cuộc nổi loạn mà có, và sau khi cướp của người coi kho ở khu định cư gần như đối diện Jamestown, đã trốn xuôi bờ biển vào ngày thứ chín (9) tháng Ba, năm mười tám ba mươi chín (1839), và vào ngày hai mươi hai (22) thì bị đắm thuyền ở hòn đảo này, và cùng với bốn người khác thoát được lên đảo với của cải phi pháp. Căn nhà nơi họ sống một thời gian được dựng trên mũi đất phía trên vũng nhỏ, từ những tấm gỗ nhặt từ xác tàu đắm. Vào ngày ba mươi mốt (31) của tháng ấy, kho chôn được tạo ở phía bên của nơi trú ẩn mà những người này nương náu. Một người chết do rắn cắn. Một người khác bị ngộ độc do những quả mọc trên đồi phía trên con suối vẫn còn thấy ở chỗ này. Hai người còn lại là những kẻ xảy ra hiềm khích vì chia của, và sau khi bị thương, một người tìm cách trốn về đất liền — mất tích trong sóng dữ, chỉ mang theo một phần chiến lợi phẩm, và phần ấy cùng với nhiều thứ khác đã được đem trả, cùng với nhiều thứ khác, về kho chôn bởi Desmond, mà di hài hiện ở trong hầm mộ đó. Số tiền tại đây, tính bằng tiền xu, hiện nay, gần một trăm hai mươi nghìn (120,000) đồng vàng, và nhiều bạc cũng như tiền kim loại từ các vật chứa đựng, ước gần bằng chừng ấy nữa.

As for other treasures, many in greater or lesser quantities may be located in and about the isle. Some are inaccessible. Others not worth the expense of probing, or of obtaining permission for probing. As to whom they belong, at this day, to the government, whom owns this land.

Về các kho báu khác, nhiều kho với lượng lớn hoặc nhỏ có thể được xác định ở trong và quanh đảo. Có thứ bất khả tiếp cận. Có thứ không đáng chi phí thăm dò, hay xin phép để thăm dò. Còn thuộc về ai ngày nay, thì thuộc về chính quyền, chủ sở hữu vùng đất này.

We are through.

Chúng tôi xong.

[Background: Reading given to an adult female (age unknown) who had once lived in Atlantis and had died during one of the continent’s destructions.]

[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một phụ nữ trưởng thành (không rõ tuổi), người từng sống ở Atlantis và đã chết trong một lần hủy diệt của lục địa.]

Reading 105-2; January 29, 1928

Buổi đọc 105-2; 29 tháng 1, 1928

In the one before this in the land known as that of Atlantis, the Entity was a teacher among the people of that period, and among those destroyed in the overflow of the land, and again will the Entity be in Earth’s sphere when a change comes to same. In the name of “Isshuta” the Entity lost through this experience through fear, created in own self by that misleading when the truth was known in the present innate. Fear often hinders.

Trong kiếp trước nữa, ở xứ gọi là Atlantis, Thực thể là một người dạy học giữa dân chúng thời ấy, và thuộc về số người bị diệt trong dòng nước tràn ngập đất đai, và Thực thể sẽ lại hiện diện trong vòng ảnh hưởng của Địa Cầu khi đổi thay đến với nó. Với danh “Isshuta”, Thực thể đã chịu mất mát qua kinh nghiệm này vì sợ hãi, do tự mình tạo ra bởi sự dẫn dụ sai lạc khi chân lý đã được biết nơi tiềm ẩn hiện tiền. Sợ hãi thường gây cản trở.

[Background: Reading given on the Mayan civilization and how it had been influenced after the destruction of Atlantis.]

[Bối cảnh: Buổi đọc về nền văn minh Maya và cách nền văn minh này chịu ảnh hưởng sau sự hủy diệt của Atlantis.]

Reading 5750-1; November 12, 1933

Buổi đọc 5750-1; 12 tháng 11, 1933

HLC: You will give an historical treatise on the origin and development of the Mayan civilization, answering questions.

HLC: Xin cho một khảo luận lịch sử về nguồn gốc và sự phát triển của nền văn minh Maya, và trả lời các câu hỏi.

EC: Yes. In giving a record of the civilization in this particular portion of the world, it should be remembered that more than one has been and will be found as research progresses.

EC: Vâng. Khi ghi lại nền văn minh ở phần đất đặc thù này của thế giới, cần nhớ rằng đã có — và sẽ có — hơn một (nền văn minh) được phát hiện khi nghiên cứu tiến triển.

That which we find would be of particular interest would be that which superseded the Aztec civilization, that was so ruthlessly destroyed or interrupted by Cortez.

Điều chúng tôi thấy có thể đặc biệt đáng quan tâm là điều đã kế tiếp nền văn minh Aztec, nền văn minh đã bị Cortez tàn phá — hay gián đoạn — một cách tàn nhẫn.

In that preceding this we had rather a combination of sources, or a high civilization that was influenced by injection of forces from other channels, other sources, as will be seen or may be determined by that which may be given.

Trước đó, chúng ta có sự kết hợp từ nhiều nguồn, hay một nền văn minh cao, vốn chịu ảnh hưởng bởi sự bơm thêm các lực từ những kênh khác, nguồn khác, như sẽ được thấy hay có thể xác định bởi những gì có thể được nêu ra.

From time as counted in the present we would turn back to 10,600 years before the Prince of Peace came into the land of promise, and find a civilization being disturbed by corruption from within to such measures that the elements join in bringing devastation to a stiffnecked and adulterous people.

Từ mốc thời gian như hiện nay đếm, chúng ta lùi về 10.600 năm trước khi Vị Hoàng Tử của Hoà Bình đến miền Đất Hứa, và thấy một nền văn minh đang bị rối loạn bởi sự bại hoại từ bên trong đến mức các yếu tố hợp lại mang sự tàn phá đến cho một dân ngoan cố và tà dâm.

With the second and third upheavals in Atlantis, there were individuals who left those lands and came to this particular portion then visible.

Với lần biến động thứ hai và thứ ba ở Atlantis, có những cá nhân rời bỏ các miền đất ấy và đi đến phần đất đặc thù này khi đó còn lộ thiên.

But, understand, the surface was quite different from that which would be viewed in the present. For, rather than being a tropical area it was more of the temperate, and quite varied in the conditions and positions of the face of the areas themselves.

Nhưng, cần hiểu rằng bề mặt khác hẳn so với điều sẽ được nhìn thấy hiện nay. Vì thay vì là một vùng nhiệt đới, nó nghiêng về ôn đới, và khá đa dạng về điều kiện cũng như vị trí diện mạo của các khu vực.

In following such a civilization as a historical presentation, it may be better understood by taking into consideration the activities of an individual or group—or their contribution to such a civilization. This of necessity, then, would not make for a complete historical fact, but rather the activities of an individual and the followers, or those that chose one of their own as leader.

Khi lần theo một nền văn minh như một trình bày lịch sử, có thể hiểu tốt hơn nếu xét đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm — hoặc đóng góp của họ cho nền văn minh ấy. Như thế, tất nhiên, điều này sẽ không tạo nên một sự kiện lịch sử trọn vẹn, mà là hoạt động của một cá nhân và những người theo, hay những kẻ chọn một người trong số họ làm thủ lĩnh.

Then, with the leavings of the civilization in Atlantis (in Poseidia, more specific), Iltar—with a group of followers that had been of the household of Atlan, the followers of the worship of the one with some ten individuals—left this land Poseidia, and came westward, entering what would now be a portion of Yucatan. And there began, with the activities of the peoples there, the development into a civilization that rose much in the same matter as that which had been in the Atlantean land. Others had left the land later. Others had left earlier. There had been the upheavals also from the land of Mu, or Lemuria, and these had their part in the changing, or there was the injection of their tenets in the varied portions of the land—which was much greater in extent until the final upheaval of Atlantis, or the islands that were later upheaved, when much of the contour of the land in Central America and Mexico was changed to that similar in outline to that which may be seen in the present.

Rồi, với những di tồn của nền văn minh ở Atlantis (cụ thể là ở Poseidia), Iltar — cùng một nhóm người theo vốn thuộc gia thất của Atlan, những người thờ phượng Đấng Duy Nhất với độ chừng mười người — đã rời Poseidia, đi về phía tây, vào nơi nay là một phần của Yucatan. Và ở đó, cùng với các hoạt động của dân địa phương, đã bắt đầu phát triển thành một nền văn minh trỗi dậy khá tương đồng với nền văn minh từng có ở xứ Atlantean. Những người khác rời xứ sau đó. Những người khác rời từ sớm hơn. Ở xứ Mu, hay Lemuria, cũng có những cuộc biến động, và họ đã góp phần vào sự biến đổi, hay có sự đưa các học thuyết của họ vào những phần khác nhau của xứ sở — vốn rộng lớn hơn nhiều — cho đến lần biến động cuối của Atlantis, hay những hòn đảo sau đó bị dâng chìm, khi mà nhiều đường nét địa hình ở Trung Mỹ và Mexico được đổi thành gần giống với đường nét có thể thấy hiện nay.

The first temples that were erected by Iltar and his followers were destroyed at the period of change physically in the contours of the land. That now being found, and a portion already discovered that has laid in waste for many centuries, was then a combination of those peoples from Mu, Oz and Atlantis.

Những đền đầu tiên do Iltar và những người theo dựng lên đã bị phá hủy trong kỳ thay đổi về mặt địa hình. Cái hiện đang được tìm thấy, và một phần đã được phát hiện — vốn bị bỏ phế qua nhiều thế kỷ — khi đó là sự kết hợp của những dân từ Mu, Oz và Atlantis.

Hence, these places partook of the earlier portions of that peoples called the Incal; though the Incals were themselves the successors of those of Oz, or Og, in the Peruvian land, and Mu in the southern portions of that now called California and Mexico and southern New Mexico in the United States.

Vì vậy, những nơi này mang phần của dân tộc tiền kỳ được gọi là Incal; dẫu bản thân người Incal là hậu nhân của những người từ Oz, hay Og, ở đất Peru, và Mu ở phần nam của vùng nay gọi là California và Mexico và miền nam New Mexico thuộc Hợp Chúng Quốc.

This again found a change when there were the injections from those peoples that came with the division of those peoples in that called the promise land. Hence we may find in these ruins that which partakes of the Egyptian, Lemurian and Oz civilizations, and the later activities partaking even of the Mosaic activities.

Điều này lại gặp một đổi thay khi có sự pha trộn của những dân đến cùng với sự phân chia của các dân ở nơi gọi là miền Đất Hứa. Do đó, trong những tàn tích này, ta có thể tìm thấy những gì mang phần của các nền văn minh Ai Cập, Lemuria và Oz, và các hoạt động muộn hơn còn mang phần của các hoạt động theo truyền thống Môsê nữa.

Hence each would ask, what specific thing is there that we may designate as being a portion of the varied civilizations that formed the earlier civilization of this particular land?

Vậy mỗi người sẽ hỏi, có điều cụ thể nào ở đó mà ta có thể định danh là một phần của những nền văn minh khác nhau đã góp phần tạo nên nền văn minh sớm kỳ của phần đất đặc thù này?

The stones that are circular, that were of the magnetized influence upon which the Spirit of the One spoke to those peoples as they gathered in their service, are of the earliest Atlantean activities in religious service, we would be called today.

Những phiến đá hình tròn, mang ảnh hưởng được từ hóa, trên đó Thần linh của Đấng Duy Nhất đã phán với dân chúng khi họ nhóm họp trong sự phụng sự, thuộc về những hoạt động tôn giáo sớm kỳ nhất của người Atlantean, theo cách gọi ngày nay.

The altars upon which there were the cleansings of the bodies of individuals (not human sacrifice; for this came much later with the injection of the Mosaic, and those activities of that area), these were later the altars upon which individual activities—that would today be termed hate, malice, selfishness, self-indulgence—were cleansed from the body through the ceremony, through the rise of initiates from the sources of light, that came from the stones upon which the angels of light during the periods gave their expression to the peoples.

Các bàn thờ nơi diễn ra việc thanh tẩy thân thể của các cá nhân (không phải hiến tế người; vì điều này đến muộn hơn nhiều với sự du nhập truyền thống Môsê, và các hoạt động ở vùng đó), đó về sau là những bàn thờ nơi các hành vi cá nhân — mà ngày nay gọi là hận thù, ác ý, ích kỷ, phóng túng — được thanh tẩy khỏi thân thể qua nghi lễ, qua sự trỗi dậy của các điểm đạo đồ từ các nguồn của ánh sáng, nguồn đến từ những phiến đá mà trên đó các thiên thần của ánh sáng qua các thời kỳ đã bày tỏ thông điệp cho dân chúng.

The pyramid, the altars before the doors of the varied temple activities, was an injection from the people of Oz and Mu; and will be found to be separate portions, and that referred to in the Scripture as high places of family altars, family gods, that in many portions of the world became again the injection into the activities of groups in various portions, as gradually there were the turnings of the people to the satisfying and gratifying of self’s desires, or as the Baal or Baalilal activities again entered the peoples respecting their associations with those truths of light that came from the gods to the peoples, to mankind, in the earth.

Kim tự tháp, các bàn thờ trước cửa của nhiều hoạt động đền tự khác nhau, là sự du nhập từ dân Oz và Mu; và sẽ được thấy là những phần riêng rẽ, và đó là điều được Kinh Thánh nhắc tới như các cao đài của bàn thờ gia tộc, thần gia tộc, điều mà ở nhiều phần trên thế giới lại trở thành sự du nhập nữa vào sinh hoạt của các nhóm ở nhiều nơi khác nhau, khi dần dần dân chúng chuyển sang thỏa mãn và thỏa thích các dục vọng của tự ngã, hay khi các hoạt động thờ Baal hay Baalilal lại xâm nhập dân chúng trong mối liên hệ của họ với các chân lý của ánh sáng vốn bởi các thần ban đến cho dân chúng, cho nhân loại, trên trần gian.

With the injection of those of greater power in their activity in the land, during that period as would be called 3,000 years before the Prince of Peace came, those peoples that were of the Lost Tribes, a portion came into the land; infusing their activities upon the peoples from Mu in the southernmost portion of that called America or United States, and then moved on to the activities in Mexico, Yucatan, centralizing that now about the spots where the central of Mexico now stands, or Mexico City. Hence there arose through the age a different civilization, a mixture again.

Với sự du nhập của những kẻ có quyền lực lớn hơn trong hoạt động của họ ở xứ, vào thời kỳ được gọi là 3.000 năm trước khi Vị Hoàng Tử của Hoà Bình đến, những dân thuộc Các Chi Tộc Lạc Mất, một phần đã vào vùng đất này; hòa trộn hoạt động của họ với dân từ Mu ở phần cực nam của nơi gọi là châu Mỹ hay Hợp Chúng Quốc, rồi chuyển sang các hoạt động ở Mexico, Yucatan, tập trung quanh chỗ mà nay là trung tâm của Mexico, tức Thành phố Mexico. Vì thế dọc theo dòng thời gian đã nổi lên một nền văn minh khác, một hỗn hợp nữa.

Those in Yucatan, those in the adjoining lands as begun by Iltar, gradually lost in their activities; and came to be that people termed, in other portions of America, the Mound Builders.

Những người ở Yucatan, những người ở các phần tiếp giáp do Iltar khởi xướng, dần dần suy giảm hoạt động; và trở thành dân tộc mà ở những phần khác của châu Mỹ gọi là những Người Xây Gò.

Ready for questions.

Sẵn sàng cho các câu hỏi.

(Q) How did the Lost Tribe reach this country?

(Q) Các Chi Tộc Lạc Mất đã đến xứ này bằng cách nào?

(A) In boats.

(A) Bằng thuyền.

(Q) Have the most important temples and pyramids been discovered?

(Q) Các đền và kim tự tháp quan trọng nhất đã được phát hiện chưa?

(A) Those of the first civilization have been discovered, and have not all been opened; but their associations, their connections, are being replaced—or attempting to be rebuilt. Many of the second and third civilization may never be discovered, for these would destroy the present civilization in Mexico to uncover same!

(A) Những công trình của nền văn minh thứ nhất đã được phát hiện, và chưa phải tất cả đã được mở; nhưng sự nối kết, các liên hệ của chúng đang được phục hồi — hay đang nỗ lực tái dựng. Nhiều công trình của nền văn minh thứ hai và thứ ba có thể không bao giờ được phát hiện, vì để khai quật chúng sẽ phải phá hủy nền văn minh hiện tại ở Mexico!

(Q) By what power or powers were these early pyramids and temples constructed?

(Q) Những kim tự tháp và đền sớm kỳ ấy được xây dựng bằng quyền năng hay năng lực nào?

(A) By the lifting forces of those gases that are being used gradually in the present civilization, and by the fine work or activities of those versed in that pertaining to the source from which all power comes. For, as long as there remains those pure in body, in mind, in activity, to the law of the One God, there is the continued resource for meeting the needs, or for commanding the elements and their activities in the supply of that necessary in such relations.

(A) Bằng lực nâng của những loại khí hiện nay đang dần được sử dụng trong nền văn minh hiện tại, và bằng công nghệ tinh tế hay hoạt động của những người tinh thông về nguồn từ đó mọi quyền năng phát xuất. Vì, chừng nào còn có những người thanh sạch trong thân thể, trong tâm trí, trong hoạt động, theo luật của Thượng đế Duy Nhất, thì còn có nguồn dự trữ liên tục để đáp nhu cầu, hay để truyền lệnh cho các nguyên tố và các hoạt động của chúng trong việc cung ứng điều cần thiết trong những mối liên quan như thế.

(Q) In which pyramid or temple are the records mentioned in the readings given through this channel on Atlantis, in April, 1932? [[364] series]

(Q) Ở kim tự tháp hay ngôi đền nào lưu giữ các hồ sơ đã được nhắc đến trong những buổi đọc qua kênh này về Atlantis, vào tháng 4 năm 1932? [[364] loạt bài]

(A) As given, that temple was destroyed at the time there was the last destruction in Atlantis. Yet, as time draws nigh when changes are to come about, there may be the opening of those three places where the records are one, to those that are the initiates in the knowledge of the One God: The temple by Iltar will then rise again. Also there will be the opening of the temple or hall of records in Egypt, and those records that were put into the heart of the Atlantean land may also be found there—that have been kept, for those that are of that group. The records are one.

(A) Như đã nói, ngôi đền ấy bị phá hủy khi xảy ra lần hủy diệt cuối ở Atlantis. Tuy vậy, khi thời khắc đổi thay đến gần, có thể sẽ mở những nơi chốn kia — ba nơi mà các hồ sơ là một — cho những ai là các điểm đạo đồ trong tri thức về Thượng đế Duy Nhất: Ngôi đền do Iltar dựng rồi sẽ lại trỗi dậy. Cũng sẽ có việc mở ngôi đền hay đại sảnh hồ sơ ở Ai Cập, và những hồ sơ đã đặt vào trung tâm của xứ Atlantean cũng có thể được tìm thấy ở đó — những thứ đã được gìn giữ, cho những ai thuộc nhóm ấy. Các hồ sơ là một.

[Background: Reading given the Glad Helpers Prayer Group. This reading discusses ancient Egypt around 10,500 B.C. The readings suggest that after the third and final destruction of Atlantis, Egypt became the cradle of knowledge and civilization and that Edgar Cayce himself had lived at that time as a high priest named Ra Ta.]

[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho Nhóm Cầu Nguyện Glad Helpers. Bài này bàn về Ai Cập cổ đại khoảng năm 10.500 TCN. Các buổi đọc cho rằng sau lần hủy diệt thứ ba và cuối cùng của Atlantis, Ai Cập trở thành cái nôi của tri thức và văn minh, và bản thân Edgar Cayce đã từng sống khi ấy như một vị thượng tế tên Ra Ta.]

Reading 281-42; November 1, 1939

Buổi đọc 281-42; 1 tháng 11, 1939

This Priest [Ra Ta] was not merely the director of the spiritual counsel of that body of people who entered Egypt, but of that activity in which all phases of man’s endeavor were, in the experience, being acted upon.

Vị Tư tế [Ra Ta] không chỉ là người điều hành hội đồng tinh thần của cộng đồng người đã vào Ai Cập, mà còn điều hành hoạt động mà trong đó mọi phương diện nỗ lực của con người, theo kinh nghiệm, đều đang được tác động.

What was the knowledge, the motivating force in the experience of that individual? Was he a prophet sent, as ye look upon the teachers through the various eras or ages of man’s endeavor? Or was he an individual with an idea that grew, under the law, into an ideal?

Vậy tri thức, động lực trong kinh nghiệm của cá nhân ấy là gì? Có phải Ngài là một đấng tiên tri được sai đến, theo cách các ngươi nhìn vào những vị thầy qua các thời đại hay kỷ nguyên nỗ lực của con người? Hay Ngài là một cá nhân có một ý niệm đã lớn lên, theo luật, thành một lý tưởng?

In interpreting this we will find many questions, that may have oft disturbed many, may be answered as respecting those groups, those individuals who may be even in the remotest sense interested at present in the psychic work of the man called Cayce.

Khi giải thích điều này, chúng ta sẽ thấy nhiều câu hỏi — vốn thường làm dày vò nhiều người — có thể được trả lời, liên quan đến những nhóm, những cá nhân mà dù chỉ ở nghĩa xa nhất cũng đang quan tâm trong hiện tại đến công việc tâm linh của người được gọi là Cayce.

The Priest was an individual who had received inspiration from within. And, realizing that such an influence or force might be given to others in their search for why and what were their purposes in material life, he then sought out one who might foster such a study in materiality.

Vị Tư tế là một cá nhân đã nhận được cảm hứng từ bên trong. Và, nhận ra rằng một ảnh hưởng hay lực như vậy có thể được ban cho người khác trong cuộc tìm kiếm vì sao và cái gì là mục đích của họ trong đời sống vật chất, Ngài đã tìm đến một người có thể nâng đỡ một cuộc nghiên cứu như vậy trong vật giới.

Thus, from those places that were a portion of what is now called the Carpathias, he came with a great horde, or a great number (as to individual souls, numbering nine hundred), into the land now called Egypt.

Thế rồi, từ những nơi vốn là một phần của vùng nay gọi là Carpathias, Ngài đã đến — cùng một đoàn rất đông, hay một số lượng lớn (tính theo các linh hồn cá biệt là chín trăm) — vào miền đất nay gọi là Ai Cập.

Why Egypt? This had been determined by that leader or teacher (not physical leader, but spiritual interpreter or guide) as the center of the universal activities of nature, as well as the spiritual forces, and where there might be the least disturbance by the convulsive movements which came about in the earth through the destruction of Lemuria, Atlantis, and—in later periods—the flood.

Vì sao Ai Cập? Điều này đã được vị lãnh đạo hay vị thầy ấy (không phải lãnh đạo vật chất, mà là người giải nghĩa hay hướng đạo tinh thần) định đoạt là trung tâm của các hoạt động phổ quát của thiên nhiên, cũng như các lực tinh thần, và là nơi có ít náo động nhất bởi những cơn co giật địa cầu xảy đến qua sự hủy diệt của Lemuria, Atlantis, và — về sau — trận hồng thủy.

What were the factors, ye ask, which determined this in his mind? or from what concept did the entity gain that knowledge? Was it just a concept, just a revelation, just a physical analysis, or what?

Những yếu tố nào, các ngươi hỏi, đã quyết định điều này trong tâm trí Ngài? hay từ khái niệm nào thực thể đạt tri thức ấy? Chỉ là một khái niệm, chỉ là một mặc khải, chỉ là một phân tích vật chất, hay là gì?

When the lines about the earth are considered from the mathematical precisions, it will be found that the center is nigh unto where the Great Pyramid, which was begun then, is still located.

Khi xét các đường tuyến quanh địa cầu theo chuẩn xác toán học, sẽ thấy rằng tâm điểm ở gần nơi Kim Tự Tháp Vĩ Đại — vốn được bắt đầu từ khi ấy — hiện vẫn tọa lạc.

Then, there were the mathematical, the astrological and the numerological indications, as well as the individual urge.

Khi đó, có các chỉ dấu toán học, chiêm tinh học và số học, cũng như xung lực cá nhân.

Ye say, then, such an entity was a god! No. No—ye only say that because there is the misunderstanding of what were the characters or types of spiritual evolution as related to physical evolution in the earth at that period.

Các ngươi nói, vậy thì thực thể như thế là một vị thần! Không. Không — các ngươi chỉ nói thế vì có sự hiểu lầm về bản chất hay các kiểu tiến hóa tinh thần so với tiến hóa hồng trần trên địa cầu thời kỳ đó.

As an illustration (this merely illustrating, now): It is hard for an individual, no matter how learned he may be, to conceive of the activities that exist only three miles above the earth. Why? Because there are no faculties within the individual entity in the present capable of conceiving that which is not represented within his individual self.

Để minh họa (giờ đây chỉ là minh họa thôi): Khó cho một cá nhân, dẫu có học vấn đến đâu, hình dung về các hoạt động tồn tại chỉ cách mặt đất ba dặm. Vì sao? Bởi trong cá thể hiện tại không có những năng năng có thể tưởng thấu điều vốn không được biểu hiện trong chính tự ngã của y.

Yea—but the individual of that period was not so closely knit in matter. Thus the activities of the realms of relativity of force, relativity of attraction in the universe, were an experience of the souls manifesting in the earth at that period, see?

Phải — nhưng cá nhân của thời ấy không kết cấu trong vật chất chặt chẽ như vậy. Do đó, các hoạt động của những cõi tương đối về lực, tương đối về hấp dẫn trong vũ trụ, là một kinh nghiệm của các linh hồn đang biểu hiện trên địa cầu thời ấy, hiểu chăng?

Thus we find that the experiences of individuals of the period, seeking for the understanding as to the evolution of the souls of men, might be compared to the minds of individuals in the present who are seeking an understanding as to man’s use of physical or atomical structure in his own relationships.

Thế nên, chúng ta thấy rằng kinh nghiệm của các cá nhân thời kỳ đó, đang truy cầu sự hiểu biết về sự tiến hóa của linh hồn con người, có thể sánh với tâm trí của những cá nhân trong hiện tại đang truy cầu sự thấu hiểu về việc con người sử dụng cấu trúc vật chất hay nguyên tử đối với các tương quan của chính mình.

Then, the individual of that experience or period was not necessarily one other than a soul or entity seeking the knowledge as to the relationship of that which would sustain and gain for man the abilities not only to continue the physical evolution but the spiritual or soul evolution as well.

Vậy thì, cá nhân của kinh nghiệm hay thời kỳ ấy không nhất thiết là ai khác hơn một linh hồn hay thực thể đang tìm tri thức về mối tương quan của điều sẽ nâng đỡ và đem lại cho con người khả năng không chỉ tiếp tục tiến hóa hồng trần mà còn cả tiến hóa tinh thần hay linh hồn nữa.

Such an one, then, was Ra—or Ra-Ta.

Một người như thế, chính là Ra — hay Ra-Ta.

[Background: Reading given to an eighteen-year-old male who was told that he had been one of the pharaohs in Egypt during the Ra Ta period.]

[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một nam thanh niên mười tám tuổi, được cho biết rằng y từng là một trong các pharaon ở Ai Cập thời Ra Ta.]

Reading 341-9; June 2, 1925

Buổi đọc 341-9; 2 tháng 6, 1925

GC: You will have before you the Life Reading given on [341] on February 28, 1925 [341-8], on the earthly existence in Egypt as Raaaart, and the associations with same. You will tell us at what period, as counted by man, in the world’s history this was, and what the entity accomplished at this time.

GC: Trước mặt ông là Buổi đọc Đời Sống đã cho [341] vào ngày 28 tháng 2, 1925 [341-8], về kiếp sống ở Ai Cập với danh Raaaart, và các mối liên hệ với cùng thời. Xin cho biết thời kỳ này, tính theo lịch sử nhân loại, là khi nào, và thực thể đã đạt được những gì khi ấy.

You will then have before you the individuals, as I name them, and you will tell us whether or not these individuals lived in Egypt at this time, and if they were associated with this entity, and in what capacity.

Sau đó, tôi sẽ nêu tên những cá nhân, xin cho biết họ có sống ở Ai Cập khi đó không, và họ có liên hệ với thực thể này không, ở tư cách nào.

EC: Yes, we have this sojourn in the earth’s plane. This is rather A-r-a-a-r-a-a-r-t [GD’s note: In the suggestion GC pronounced it R, then spelled the rest and in the first paragraph EC spelled the name again, as he did in 341-8], and the time as we find is, as counted by man, eleven thousand and sixteen (11,016) years before the Prince of Peace came into this land.

EC: Vâng, chúng tôi có kỳ lữ hành này nơi cõi địa cầu. Đúng là A-r-a-a-r-a-a-r-t [Ghi chú GD: Trong lời đề nghị, GC phát âm chữ R, rồi đánh vần phần còn lại, và ở đoạn đầu EC đánh vần tên thêm lần nữa, như trong 341-8], và thời gian như chúng tôi thấy là, tính theo lịch của con người, mười một nghìn không trăm mười sáu (11,016) năm trước khi Vị Hoàng Tử của Hoà Bình đến xứ này.

As to that accomplished, we find this in one of the highest civilizations of this country in its present position, for we find this same country had been submerged for nearly a quarter of a million years since the civilization had been in this portion of country, and the peoples as had overrun the country in the various changes by invasions from the east and north, and this ruler, Araaraart, being then the second of the northern kings, and followed in the rule of the father, Arart, and began the rule, or took the position as the leader in his sixteenth year and ruled over these peoples for ninety-eight years. The country, as we find, was brought to a higher state of understanding with the surrounding nations, and there was much of the religious ceremonies practiced in this time, much of this being brought in from the northern country and of the religions as existed in this same country through the religion of that of the one taken as the companion, for there were many taken, and with the unearthing of the tribal rites and ceremonies, the coalition of these truths we find were correlated with these peoples as were gathered about this ruler, and much of the architectural forces were set in motion. As we see, the first foundations of the emblematical condition as is set in the sphinx was begun in this rule, for this, as we see, has remained the mystery of the ages.

Về những thành tựu, chúng ta thấy đây thuộc một trong những nền văn minh cao nhất của xứ sở này ở vị trí hiện tại của nó; vì chúng ta thấy xứ sở này từng bị chìm ngập gần một phần tư triệu năm kể từ khi từng có văn minh ở phần đất này, và các dân tộc đã tràn qua xứ sở này trong nhiều biến đổi bởi các cuộc xâm lăng từ phương đông và bắc, và vị quân vương này, Araaraart, khi đó là vị thứ hai trong các vua miền bắc, nối nghiệp cai trị của phụ thân, Arart, và bắt đầu cai quản, hay nhận vị thế lãnh đạo vào năm thứ mười sáu của mình và trị vì dân chúng này chín mươi tám năm. Đất nước, như chúng ta thấy, đã được đưa đến mức độ hiểu biết cao hơn với các quốc gia xung quanh, và trong thời kỳ này có rất nhiều nghi lễ tôn giáo được thực hành, nhiều điều trong đó được mang từ xứ bắc và từ tôn giáo từng tồn tại ở chính xứ này qua tín ngưỡng của người phối ngẫu được rước về; vì có nhiều người được rước, và khi khai quật những lễ nghi và nghi thức bộ tộc, sự hòa hợp những chân lý này, chúng ta thấy đã được điều hòa với những dân chúng quy tụ quanh vị quân vương này, và nhiều lực lượng kiến trúc đã được phát động. Như chúng ta thấy, những nền móng đầu tiên của thực thể biểu trưng mà nay đặt trong nhân sư đã được khởi công trong triều đại này; vì điều này, như chúng ta thấy, vẫn là bí ẩn của muôn đời.

In the accomplishments then, we have as these in Araaraart. This: Much of the sealing of the peoples’ abilities in being drawn together for benefits of the masses rather than classes, for we find, though this ruler worshiped by many, yet remaining much in that same spirit as is found in the better classes of the ones serving Higher Forces than self, which is service to fellowman. The monuments as were unearthed and added to from time to time, we find are some still existent, though many buried beneath shifting sands. Others underneath sands that became the bed of the seas that overflowed this country.

Về thành tựu, chúng ta có những điều này nơi Araaraart. Rằng: Đã củng cố năng lực của dân chúng trong việc quy tụ vì lợi ích của đại chúng hơn là của giai tầng, bởi chúng ta thấy dẫu vị quân vương này được nhiều người tôn thờ, nhưng vẫn giữ nhiều điều trong cùng tinh thần như được thấy nơi những hạng người tốt hơn trong số những ai phụng sự các Mãnh lực Cao cả hơn bản thân, tức là phụng sự đồng loại. Các đài kỷ niệm được khai quật và được bồi đắp qua thời gian, nay vẫn còn một số tồn tại, dẫu nhiều cái bị vùi dưới những sa mạc cát dời dạt. Những cái khác nằm dưới cát đã trở thành đáy của biển cả từng tràn lấp xứ sở này.

(Q) Did this ruler have any other names or titles?

(Q) Vị quân vương này có tên gọi hay tước hiệu nào khác không?

(A) There were many titles given in the various dialects of the peoples. This is one as will be found as recorded with that of the other rulers. Araaraart, known as one of the household of rulers in the Egyptian forces. One of good stature. One of goodly countenance, for we find this entity of the larger peoples as came in from the north during the reign of one preceding this entity. The accomplishment is in the sealing of the religious rites and of giving of the laws to be used by these peoples in this great land.

(A) Có nhiều tước hiệu được ban theo các phương ngữ khác nhau của dân chúng. Đây là một danh sẽ được thấy ghi cùng với danh của các quân vương khác. Araaraart, được biết là một thuộc hoàng gia trong các thế lực Ai Cập. Một người có vóc dáng tốt. Tướng mạo khôi ngô, vì chúng ta thấy thực thể này thuộc lớp người cao lớn đã từ phương bắc đến trong triều đại của một người tiền nhiệm. Thành tựu là ở việc đóng ấn các nghi thức tôn giáo và ban các luật để được dân chúng dùng trong xứ sở vĩ đại này.

(Q) Was this entity, as history gives it, one of the Pharaohs, or Rameses?

(Q) Thực thể này, như lịch sử ghi, có phải là một trong các Pharaoh, hay Rameses?

(A) As one of Pharaohs of which there were more than three thousand. This coming, as given, in the eleven thousand and thirteen to sixteen (11,013 to 16) years before the Prince of Peace came into this country—coming in during the second year, see?

(A) Là một trong các Pharaoh, vốn có hơn ba nghìn vị. Vị này xuất hiện, như đã nói, vào khoảng mười một nghìn không trăm mười ba đến mười sáu (11,013 đến 16) năm trước khi Vị Hoàng Tử của Hoà Bình đến xứ này — đến vào năm thứ hai, hiểu chứ?

[Background: Follow-up reading given to Edgar Cayce on his prior incarnation as the high priest, Ra Ta.]

[Bối cảnh: Buổi đọc tiếp nối dành cho Edgar Cayce về tiền kiếp của ông như vị thượng tế, Ra Ta.]

Reading 294-147; July 19, 1932

Buổi đọc 294-147; 19 tháng 7, 1932

GC: You will have before you the soul-body and the mind of Edgar Cayce, present in this room. You will give a detailed life history of this entity’s appearance in Egypt as Ra-Ta, and his associations with those of that period with whom he is closely associated in the present. You will answer the questions which will be asked.

GC: Trước mặt ông là linh thể và thể trí của Edgar Cayce, hiện có mặt trong gian phòng này. Xin cho một lịch sử đời sống chi tiết về lần xuất hiện của thực thể này ở Ai Cập với danh Ra-Ta, và các mối liên hệ của Ngài với những người cùng thời — những người hiện nay gắn bó mật thiết với Ngài. Xin trả lời các câu hỏi sẽ được nêu ra.

EC: Yes, we have the entity and those conditions or records that are apparent in the inner self of the entity or body in the present, from that as seen and recorded as Ra-Ta the priest.

EC: Vâng, chúng tôi có thực thể và các điều kiện hay ký lục còn hiển hiện trong nội ngã của thực thể hay thân xác hiện tại, từ những gì đã thấy và ghi nhận khi Ra-Ta còn là tư tế.

In giving this interpretation we must find there are many peoples, even nations, that were influenced by the material activities of the entity in that experience.

Khi đưa ra diễn giải này, chúng ta tất thấy có nhiều dân tộc, thậm chí nhiều quốc gia, đã bị ảnh hưởng bởi các hoạt động vật chất của thực thể trong kinh nghiệm ấy.

That the entity came into the land Egypt with others that had come for a purpose is evidenced by that which has been given. He came with that people from what [Arabia] was to be later the earthly sojourn of the entity as a leader, and as a man then of unusual abilities as well as appearance and manners of conduct...

Rằng thực thể đã vào xứ Ai Cập cùng với những người khác đến vì một mục đích đã được chứng minh bởi những gì đã nêu. Ngài đến cùng một dân từ nơi mà [Arabia] về sau trở thành nơi lâm phàm của thực thể như một lãnh đạo, và như một con người khi đó có năng lực dị thường cũng như phong thái và cung cách xử sự...

In this entity’s appearance, then, in this particular experience, there was brought to those peoples of Zu’s the condemnation of those of Ararat, [Arart [165]] who had established what would now be called a community home in the land later known as Ararat, or where the flood later brought those peoples who again joined with many in peopling the earth after that destruction which was caused by those changes in the land known as Og. [Atlantis? Portion now called Mt. Ararat?]

Trong hình tướng xuất hiện của thực thể này, ở kinh nghiệm đặc thù này, đã được đem đến cho dân chúng xứ Zu sự kết án đối với những người ở Ararat, [Arart [165]] là những người đã lập nên điều mà nay gọi là một ngôi nhà cộng đồng ở xứ về sau được biết với tên Ararat, hay nơi mà trận hồng thủy về sau đã đưa những dân ấy đến — những người lại cùng nhiều kẻ khác tái quần cư địa cầu — sau sự hủy diệt bởi những biến đổi ở xứ gọi là Og. [Atlantis? Phần nay gọi là Núi Ararat?]

The entity then grew in grace with the peoples by the manner of conduct, though with the action of those peoples of Ararat these brought hardships for the mother of the entity in that experience, until there had been a change in the environs and brought among a new surrounding. [Egypt]

Rồi thực thể được dân chúng thương mến nhờ cung cách xử sự; dẫu các hành vi của những người xứ Ararat gây gian truân cho mẫu thân của thực thể trong kinh nghiệm ấy, cho đến khi có sự đổi thay môi trường và được đưa vào vòng cảnh mới. [Ai Cập]

[Background: Reading given to a thirteen-year-old female who had lived in ancient Egypt. During the reading, Cayce discusses how the Nile had once changed its course—a fact confirmed by shuttle imagery technology in the 1980s.]

[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một thiếu nữ mười ba tuổi từng sống ở Ai Cập cổ. Trong buổi đọc này, Cayce bàn về việc sông Nile đã từng đổi dòng — một thực tế được xác nhận bởi công nghệ ảnh chụp từ tàu con thoi vào thập niên 1980.]

Reading 276-2; February 20, 1931

Buổi đọc 276-2; 20 tháng 2, 1931

In the one before this we find in that land now known as the Arabian, and to that portion of the country where the banishment of those peoples sent from that known as the Egyptian land. The entity was among those peoples called the wild peoples, or the barbarians. The entity then came under the influence of those so banished, and being awakened through those tenets that were held by those in the land the entity became one of the followers, and returning to the land gained in experience through the teachings; becoming an expert horseman of the plains, and carrying the messages to those peoples in the sand and waste places; returning to the land from which the teachings were gained in the latter days of the sojourn, the entity aided much in the building up of the hospital (that would be called in the present), ministering to the ills of those who suffered in body and in mind. In the present experience such may be that field, that ministry through which the entity may give into the lives of those contacted those deeper thoughts, that may find their expressions in this experience.

Trong kiếp trước nữa, chúng tôi thấy ở xứ nay gọi là Ả Rập, và ở phần đất nơi lưu đày những dân bị đuổi khỏi nơi gọi là xứ Ai Cập. Thực thể thuộc về số những người gọi là dân hoang dã, hay man di. Rồi thực thể chịu ảnh hưởng của những kẻ bị lưu đày ấy, và khi được đánh thức qua các giáo điều họ nắm giữ, thực thể trở thành một trong những người theo, và trở về xứ, gặt hái được kinh nghiệm qua các giáo huấn; trở thành một kỵ sĩ điêu luyện nơi thảo nguyên, mang thông điệp đến những dân ở vùng cát và hoang mạc; trở về xứ nơi đã tiếp nhận giáo huấn vào những ngày cuối của kỳ lữ hành, thực thể đã giúp nhiều trong việc xây dựng nơi điều dưỡng (theo cách gọi hiện nay là bệnh viện), chăm nom bệnh hoạn của những ai chịu khổ trong thân thể và trong tâm trí. Trong kinh nghiệm hiện tại, đây có thể là lĩnh vực, là tác vụ qua đó thực thể có thể gieo vào đời sống của những người tiếp xúc những tư tưởng sâu xa hơn, để chúng có thể tìm được biểu hiện trong kinh nghiệm này.

In the one before this we find again in this same land now called Egypt (this before the mountains rose in the south, and when the waters called the Nile then emptied into what is now the Atlantic Ocean). [GD’s note: See [5748] Egypt.] The entity was among those peoples who gathered in places to establish various groups, or families, or sects, to prevent the inroads upon the peoples from the beasts from without, and the entity aided through this experience in the gathering together of various groups, various peoples, to join hands as a common interest for the common interests of all. In the name Hein.

Trong kiếp trước nữa, chúng tôi lại thấy ở chính xứ này, nay gọi là Ai Cập (điều này là trước khi dãy núi phía nam trồi cao, và khi các dòng nước gọi là Nile khi ấy đổ vào nơi nay là Đại Tây Dương). [Ghi chú GD: Xem [5748] Ai Cập.] Thực thể thuộc về số người tụ hội ở những nơi để lập ra các nhóm khác nhau, hay gia tộc, hay giáo phái, nhằm ngăn chặn sự xâm nhập vào dân chúng từ các thú dữ bên ngoài, và thực thể đã giúp — qua kinh nghiệm này — trong việc tập hợp những nhóm khác nhau, những dân khác nhau, để nắm tay nhau như một lợi ích chung cho lợi ích chung của mọi người. Với danh Hein.

In the abilities of the entity, these—as seen—lie in that of ministering to others, and in the home. Will there be kept those ideals that have long been innate—though rebellious spirits rise within from suppressions that existed through the entity’s experience—this may be curbed best through those of loving gentleness, kindness, and pointing the way of keeping the body that temple through which He, the Father, may manifest.

Về các năng lực của thực thể, như thấy được, nằm ở việc chăm nom người khác, và trong gia đình. Nếu gìn giữ các lý tưởng đã từ lâu tiềm ẩn — dẫu những tâm khí phản kháng có thể dấy lên từ các ức chế đã tồn tại qua kinh nghiệm của thực thể — điều này có thể được kiềm chế tốt nhất qua sự dịu dàng bác ái, lòng nhân, và chỉ bày con đường giữ gìn thân thể như đền thờ qua đó Ngài, Đấng Cha, có thể hiển lộ.

[Background: Reading given on the topic of ancient Egypt. This reading also mentions changes that have occurred in the planet, including the fact that the Nile has changed its course.]

[Bối cảnh: Buổi đọc về chủ đề Ai Cập cổ đại. Bài này cũng nhắc đến những đổi thay đã xảy ra trên hành tinh, bao gồm thực tế rằng sông Nile đã đổi dòng chảy.]

Reading 5748-1; March 28, 1925

Buổi đọc 5748-1; 28 tháng 3, 1925

Yes, we have the work here and that phase concerning the indwelling in the earth’s plane of those who first gave laws concerning indwelling of Higher Forces in man. In giving such in an understandable manner to man of today, [it is] necessary that the conditions of the earth’s surface and the position of man in the earth’s plane be understood, for the change has come often since this period, era, age, of man’s earthly indwelling, for then at that period, only the lands now known as the Sahara and the Nile region appeared on the now African shores; that in Tibet, Mongolia, Caucasia and Norway in Asia and Europe; that in the southern cordilleras and Peru in the southwestern hemisphere and the plane of now Utah, Arizona, Mexico of the north-western hemisphere, and the spheres were then in the latitudes much as are presented at the present time.

Vâng, chúng tôi có công trình này ở đây và giai đoạn liên hệ đến sự nội tại trong cõi của Trái Đất của những người đầu tiên đã ban các luật liên quan đến sự nội tại của Các Lực Lượng Cao Hơn trong con người. Khi truyền đạt điều đó theo cách con người hôm nay có thể hiểu, [thì] cần rằng các điều kiện trên bề mặt Trái Đất và vị thế của con người trong cõi địa cầu được thấu hiểu, vì những đổi thay đã xảy ra nhiều lần kể từ giai đoạn, thời kỳ, thời đại sự cư ngụ trần thế của con người; bởi vào thời kỳ ấy, chỉ những vùng đất nay được biết là Sahara và khu vực sông Nile lộ ra trên bờ biển nay thuộc châu Phi; rồi đến vùng Tây Tạng, Mông Cổ, Kavkaz và Na Uy ở châu Á và châu Âu; rồi đến dãy núi phương nam và Peru ở bán cầu tây nam, và bình nguyên nơi nay là Utah, Arizona, Mexico của bán cầu tây bắc, và các thiên cầu khi ấy ở các vĩ độ gần như được trình bày ở thời hiện tại.

The man’s indwelling [was] then in the Sahara and the upper Nile regions, the waters then entering the now Atlantic from the Nile region rather than flowing northward. The waters in the Tibet and Caucasian entering the North Sea, those in Mongolia entering the South Seas, those in the cordilleras entering the Pacific, those in the plateau entering the Northern Seas.

Sự cư ngụ của con người [lúc ấy] ở vùng Sahara và thượng lưu sông Nile; khi ấy, các dòng nước đổ vào đại dương nay gọi là Đại Tây Dương từ khu vực sông Nile, hơn là chảy về phương bắc. Các nguồn nước ở Tây Tạng và vùng Kavkaz đổ vào Biển Bắc, ở Mông Cổ đổ vào Nam Hải, ở dãy cordilleras đổ vào Thái Bình Dương, ở cao nguyên đổ vào các Biển phương Bắc.

When the earth brought forth the seed in her season, and man came in the earth plane as the lord of that in that sphere, man appeared in five places then at once—the five senses, the five reasons, the five spheres, the five developments, the five nations.

Khi Địa Cầu trổ mầm theo mùa của Mẹ, và con người đến trong cõi địa cầu như chủ tể của cõi ấy, con người xuất hiện đồng thời ở năm nơi—năm giác quan, năm lẽ, năm cõi, năm diễn trình phát triển, năm dân tộc.

In this now then as we receive, we find many peoples, or man became the union against the invasion from the now Tibetan and Caucasian forces. The separating of the peoples in their castes [was] only the beginning then of group understandings, and the first ruler of groups set self in that place in the upper Nile, now near what is known as the Valley of Tombs.

Trong thời điểm này như chúng ta tiếp nhận, chúng tôi thấy nhiều chủng người, hay nói cách khác, con người kết liên để chống lại sự xâm lấn từ các lực nay gọi là Tây Tạng và Kavkaz. Sự phân chia các dân thành đẳng cấp [là] chỉ mới khởi đầu cho những hiểu biết theo nhóm, và vị thủ lĩnh đầu tiên của các nhóm đã đặt mình tại nơi ở thượng nguồn sông Nile, nay gần khu vực được biết là Thung Lũng các Lăng Mộ.

In the second rule there came peace and quietude to the peoples, through the manner of the ruler’s power over the then known world forces. At that period, man exchanged with the forces in each sphere that necessary for the propagation of the peoples of the sphere then occupied. In each of the spheres given was the rule set under some individual by this second ruler in now Egyptian country, and the period when the mind of that ruler brought to self, through the compliance with those Universal Laws ever existent, then that ruler set about to gather those wise men from the various groups to compile those as that ruler felt the necessary understanding to all peoples for the indwelling of the Divine Forces to become understood and to break away from the fear of the animal kingdom then overrunning the earth.

Trong thời trị vì thứ hai, dân chúng được yên bình và tĩnh lặng, nhờ cách thức quyền năng của vị cai trị đối với những lực giới khi ấy đã được biết đến. Vào giai đoạn đó, con người trao đổi với các lực ở mỗi cõi những điều cần thiết cho sự sinh sôi của các dân trong cõi mà họ đang cư trú. Ở mỗi cõi đã nêu, vị cai trị thứ hai này—nay thuộc xứ Ai Cập—đặt quyền cai quản dưới một số cá nhân; và khi tâm trí của vị ấy, nhờ tuân thuận những Định luật Phổ Quát vốn hằng hữu, đem lại cho chính mình sự nhận hiểu, thì vị ấy bắt đầu triệu tập các bậc hiền triết từ các nhóm khác nhau để biên soạn những điều mà vị ấy cho là sự thấu hiểu cần có cho hết thảy mọi người, hầu sự nội tại của Các Lực Lượng Thiêng liêng được hiểu rõ và nhằm giải thoát con người khỏi nỗi sợ đối với giới động vật khi ấy đang tràn lan khắp địa cầu.

[Background: Follow-up reading given to a thirty-eight-year-old female in which the physical characteristics of Atlanteans were described.]

[Bối cảnh: Buổi đọc tiếp nối dành cho một phụ nữ ba mươi tám tuổi, trong đó mô tả các đặc điểm thể chất của người Atlantis.]

Reading 275-38; January 16, 1934

Buổi đọc 275-38; 16 tháng 1, 1934

(Q) Describe the physical appearance of each at their height of spiritual development.

(H) Hãy mô tả diện mạo thể chất của từng người ở đỉnh cao của sự phát triển tinh thần.

(A) The priest in body, [294], as has been given, in the height of the development was at the regeneration, or when over a hundred years (or light years) in the earth. Six feet one inch tall, weighing—what in the present would be called—a hundred and eighty-one pounds. Fair of face, not too much hair on the head nor too much on the face or body. In color nearly white, only sun or air tanned. The king five feet eleven inches tall, [341], weighing a hundred and seventy pounds. Fair of face. No hair on the head in the latter portion, or at the height of the development in the experience. Keen of eye, blue in color; and of speech rather quick. The Atlantean [378] five feet ten inches, weighing a hundred and sixty pounds; color as of gold that is burnished; yet keen of eye, gray in color. Hair as golden as the body. In activity alert, keen, piercing in vision, and of influence on those that approached. [255] as one fair in body, of beautiful face and figure; hair black; eyes dark brown, nearly black. Impressive in manner, and impelling in speech and manner. [452], of the natives in Arabia—five feet ten inches in height, and a hundred and fifty pounds, dark but not black—but rather that as of the American Indian in its native color or state, with the type of nose as the Roman. Not thick of lip, but eyes blue; and of activity, as would be said, studied in every movement. [282]—five feet ten and a half inches, a hundred and fifty pounds, and among those peoples of the men the fairer of skin, with dark hair and gray eyes; in manner quick and alert. [457]—tall, nearly six feet, weighing a hundred and thirty pounds; fair hair, though not golden. Activities quick, piercing—ever ready for dispute—that often occurred, yet active in all its associations, physical or mental. [488], as given. [275]—five feet four inches in height. Bronze when beginning in the service, the pure white when cleansed, in color. In the cleansing the conditions cleansed from body. Fair of hair, blue eyes, ever active in all its associations—as needs be for the activities in the experience. [276]—strong of body, five feet four and a half inches in height, a hundred and twenty-five pounds. Fair of hair, the color then as of tanned white. In its activities always as indicated by its abilities with peoples, with things, with animals, ever wary of every one. The child [288] fair of body, of hair—only four and a half when passing on, through sorrow of separation. [412]—fair of body for a native of the land, five feet eleven inches in height, a hundred and sixty pounds in weight. Slow in movement, yet earnest in activity. [301]—as indicated, fair of face, of body. Red hair, and eyes blue. The activities ever those of alertness, of keen activity. Yet may be said to have been more of the joviality than of any. As to the dress of the day, whether in the temple service or otherwise, this was always of linen—and in the manner as indicated, in the color as indicated, white and purple. The men and women were not much different in the manner of dress, save as in the Atlanteans who wore trousers when they came and coats, though much shorter or longer according to their class or distinction of their class. The king in his better moments was clad in the linens and the purples, and in the higher developments no change from the subjects at service...

(Đ) Vị tư tế nơi thể xác, [294], như đã nêu, ở đỉnh cao của phát triển là trong giai đoạn tái sinh, hay khi đã hơn một trăm năm (hay năm ánh sáng) ở trần gian. Cao sáu phít một inh, cân nặng—theo cách gọi hiện nay—một trăm tám mươi mốt pao. Mặt mũi sáng sủa, tóc trên đầu không quá nhiều, cũng không quá nhiều trên mặt hay thân thể. Màu da gần như trắng, chỉ rám bởi nắng hay gió. Vị vương giả cao năm phít mười một inh, [341], nặng một trăm bảy mươi pao. Mặt mũi sáng sủa. Không có tóc trên đầu ở phần sau, hay ở đỉnh cao của phát triển trong trải nghiệm. Mắt sắc, màu xanh; lời nói khá nhanh. Người Atlantis [378] cao năm phít mười inh, nặng một trăm sáu mươi pao; màu như vàng được đánh bóng; mắt vẫn sắc, màu xám. Tóc vàng như thân thể. Trong hoạt động thì lanh lợi, tinh tường, ánh nhìn xuyên thấu, và có ảnh hưởng đối với những ai đến gần. [255] là người có thân thể đẹp, khuôn mặt và dáng dấp mỹ miều; tóc đen; mắt nâu sẫm, gần như đen. Phong thái gây ấn tượng, và lời nói lẫn cử chỉ có sức thôi thúc. [452], thuộc người bản xứ ở Ả Rập—cao năm phít mười inh, nặng một trăm năm mươi pao, da sậm nhưng không đen—mà đúng hơn là như người Da đỏ châu Mỹ ở sắc độ hay trạng thái bản địa, với kiểu mũi La Mã. Môi không dày, nhưng mắt xanh; và trong hoạt động, như người ta nói, được cân nhắc trong từng cử động. [282]—cao năm phít mười rưỡi inh, một trăm năm mươi pao, và trong số những người ấy thì da trắng hơn, tóc đen và mắt xám; phong thái nhanh nhẹn và cảnh giác. [457]—cao, gần sáu phít, nặng một trăm ba mươi pao; tóc sáng màu, tuy không vàng kim. Hoạt động nhanh, sắc bén—luôn sẵn sàng tranh biện—mà thường xảy ra, tuy vậy năng động trong mọi liên hệ, cả thể chất lẫn tinh thần. [488], như đã nêu. [275]—cao năm phít bốn inh. Khi bắt đầu phụng sự thì màu đồng, khi được thanh tẩy thì màu trắng tinh. Trong sự thanh tẩy, các tình trạng đã được trừ khỏi thân. Tóc sáng màu, mắt xanh, luôn năng động trong mọi liên hệ—vì cần thiết cho các hoạt động trong trải nghiệm. [276]—thân thể cường tráng, cao năm phít bốn rưỡi inh, nặng một trăm hai mươi lăm pao. Tóc sáng màu, khi ấy có sắc thái của da trắng rám nắng. Trong hoạt động của mình, luôn như được chỉ dấu bởi năng lực với người, với sự vật, với thú vật, luôn cảnh giác với mọi người. Đứa trẻ [288] thân thể sáng sủa, tóc sáng—chỉ bốn tuổi rưỡi khi lìa đời do nỗi buồn của chia lìa. [412]—thân thể sáng sủa đối với người bản địa của xứ, cao năm phít mười một inh, nặng một trăm sáu mươi pao. Cử động chậm rãi, nhưng hoạt động thì chân thành. [301]—như đã nêu, mặt mũi, thân thể sáng sủa. Tóc đỏ, mắt xanh. Các hoạt động luôn mang tính cảnh giác, nhạy bén. Tuy vậy có thể nói rằng có phần vui tính hơn bất kỳ ai. Về y phục thời ấy, dù trong phụng sự tại đền hay ngoài đền, thì luôn bằng vải lanh—và theo kiểu như đã nêu, màu như đã nêu, trắng và tía. Những người nam và nữ không khác nhau nhiều trong cách ăn mặc, trừ người Atlantis, khi họ đến thì mặc quần và áo khoác, tuy dài ngắn rất khác tuỳ theo đẳng cấp hay phẩm trật của họ. Nhà vua trong những lúc tốt đẹp thì khoác vải lanh và màu tía, và trong các phát triển cao hơn thì không có khác biệt so với bề tôi trong khi phụng sự...

(Q) What was the climatic condition of the country at this time?

(H) Khi ấy khí hậu của xứ sở như thế nào?

(A) More fertile than even in the present with the overflow as occurs, for only about a third of the present Sahara was there, though it was sandy loam with silt—in the use of the agricultural portions.

(Đ) Màu mỡ hơn cả hiện tại dù có những lần tràn ngập như đang xảy ra, vì chỉ khoảng một phần ba Sahara hiện nay là tồn tại khi ấy, tuy là đất cát pha với phù sa—được dùng cho phần nông canh.

[Background: Reading given to a twenty-four-year-old male who was told that he had once had an early incarnation in what is now North America.]

[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một nam thanh niên hai mươi bốn tuổi, người được cho biết rằng đã từng có một kiếp lâm phàm sớm tại vùng nay là Bắc Mỹ.]

Reading 2223-1; August 21, 1927

Buổi đọc 2223-1; 21 tháng 8, 1927

In the one before this we find in the period when changes came in that land now known as the Utah and Colorado country. The entity [was] among those that dwelt in the land when this was submerged through the upheavals caused in the northern country. Then in the name Eili, and the entity lost through this experience, being in that position of bringing upon others those of condemnation, for the entity taught others to apply the night-side of life—through trickery and through soothsaying, counting of stones, of beads, of carvings. Hence in the present urge we find the desire to know of such, and the fear of the influence of charm, or of that that might bring to others the thoughts of same. Well that the entity beware of same, and—as given—study the occult, rather than the mystery side of earth’s experience.

Trong kiếp ngay trước kiếp này, chúng tôi thấy vào thời kỳ có những thay đổi ở vùng đất nay được biết là xứ Utah và Colorado. Thực thể [đã] ở giữa những người cư trú trong vùng khi nơi này bị chìm do những biến động xảy ra ở miền bắc. Bấy giờ mang tên Eili, và thực thể đã mất mát qua trải nghiệm này, vì ở vị trí khiến người khác bị lên án, bởi thực thể dạy người ta vận dụng mặt đêm của đời sống—thông qua lừa mị và bói toán, đếm đá, đếm hạt, đếm chạm khắc. Do đó trong thúc đẩy hiện tại, chúng tôi thấy ham muốn được biết về những điều như thế, và nỗi sợ ảnh hưởng của bùa chú, hay những gì có thể đem đến cho người khác các ý tưởng tương tự. Thực thể nên cảnh giác với điều đó, và—như đã nêu—hãy học về huyền bí học, hơn là phía bí nhiệm của kinh nghiệm trần thế.