2
Chages for the Twentieth Century—Những biến đổi cho Thế kỷ Hai Mươi
[Background: Voluntary reading which came immediately after reading 900-26. In this reading Cayce was apparently viewing global changes on the other side of the world as they were occurring.]
[Bối cảnh: Buổi đọc tự nguyện đến ngay sau buổi đọc 900-26. Trong buổi đọc này, Cayce dường như đang nhìn các biến đổi toàn cầu phía bên kia địa cầu khi chúng đang diễn ra.]
Reading 3976-3; January 24, 1925
Buổi đọc 3976-3; 24 tháng 1, 1925
EC: Have some terribly hard times in China today. In the Manchurian region, a flood and fire both. Many peoples are passing into the Borderland, their entities taking their position as has been manifest through their environment in the earth plane at present time. There are those conditions arising from this great boredom in the consciousness of many that will bring the revolution in the minds of many peoples, and begin that understanding of the purpose of the Gift of God to the World in the One made manifest in the flesh, and able to bring the consciousness made manifest in the world to the peoples. Hence many will be able through this to lay side the physical and again manifest in a physical before men.
EC: Hôm nay ở Trung Hoa đang có những thời khắc vô cùng khắc nghiệt. Ở vùng Mãn Châu vừa có cả lũ lụt lẫn hỏa hoạn. Nhiều người đang bước vào Cõi Biên Giới, các thực thể của họ nhận vị trí của mình như đã biểu lộ qua môi trường của họ trong cõi trần ở thời điểm hiện tại. Có những tình trạng nảy sinh từ nỗi chán chường lớn lao trong tâm thức của nhiều người, điều này sẽ đem lại cuộc cách mạng trong tâm trí của nhiều dân, và khởi đầu sự hiểu biết về mục đích của Ân Tặng của Thượng đế dành cho Thế Gian nơi Đấng đã hiện thân trong xác phàm, và có khả năng đem tâm thức được biểu lộ trong thế giới đến với muôn dân. Do đó, nhiều người nhờ thế sẽ có thể gác sang bên phần thể chất và lại hiện thân trên bình diện thể chất trước người đời.
[Background: Reading given to a forty-two-year-old male in which both weather and market changes are discussed.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một người đàn ông bốn mươi hai tuổi, trong đó cả biến đổi thời tiết lẫn thị trường được bàn đến.]
Reading 195-29; May 28, 1926
Buổi đọc 195-29; 28 tháng 5, 1926
GC: You will have in this room a printed report of Long Range Weather Forecast, dated January 15, 1926, by Herbert Janvrin Browne. You will answer the questions as I ask them relative to statements made in this report and the solar theory upon which this report is based.
GC: Trong phòng này các ông sẽ có một bản in “Báo cáo Dự báo Thời tiết Dài hạn” đề ngày 15 tháng 1, 1926, của Herbert Janvrin Browne. Các ông sẽ trả lời những câu hỏi tôi nêu liên quan đến các phát biểu trong báo cáo này và học thuyết Thái dương làm nền cho bản báo cáo.
EC: Yes, we have the report as printed here. There are many conditions given in same that are rather of the speculative nature than from sound reasoning. There may be expected many conditions to arise that will remind the people (who think) of conditions as have existed from period to period, age to age, and these in this report have been attempted to be related with the solar phases—the combinations rather of these and of conditions in the land and in the sea. Rather we would say that the emphasis be placed in the condition of density, or population, combined with the solar conditions to bring about certain changes in the sea and the currents therein, than that of the sun radiated on account of sun spots.
EC: Vâng, chúng tôi có bản báo cáo in ở đây. Có nhiều điều kiện được nêu trong đó mang tính suy đoán hơn là phát xuất từ lý luận vững chắc. Có thể kỳ vọng nhiều tình trạng sẽ nảy sinh, gợi nhắc cho những người (biết suy nghĩ) về các điều kiện đã tồn tại từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, từ thời đại này qua thời đại khác, và trong báo cáo này người ta đã cố gắng liên hệ chúng với các pha Thái dương—đúng hơn là sự kết hợp giữa những điều này với các điều kiện trên đất liền và trên biển. Chúng tôi muốn nói rằng nên đặt trọng tâm vào tình trạng mật độ, tức dân số, kết hợp với các điều kiện Thái dương để gây nên những thay đổi nhất định trong biển và các dòng hải lưu trong đó, hơn là do bức xạ Mặt Trời bởi các vết đen mặt Trời.
For, by actual experience there will be found that the greatest degree of heat in given places has been and may be reported when the larger sun spots show, or are in good position of being observed from earth’s aspect or view.
Vì theo kinh nghiệm thực tế sẽ thấy rằng mức độ nhiệt cao nhất ở những nơi nhất định đã được và có thể được ghi nhận khi các vết đen Mặt Trời lớn xuất hiện, hoặc ở vào vị trí thuận lợi để quan sát từ góc nhìn của Trái Đất.
The changes will take place in the coming year—there will be found, when all these conditions are taken together, rather in this respect, that there will be for the next few years many changes of an exceptional nature in heat and cold. Not by radiation nor by the courses changed in the sea; for the heat is as the reflection from that created in the earth’s plane, rather than that administered. Only in the relations to each other would these be considered.
Những thay đổi sẽ diễn ra trong năm sắp tới—sẽ thấy, khi tổng hợp tất cả những điều kiện này, đúng hơn theo khía cạnh này, rằng trong vài năm tới sẽ có nhiều biến đổi khác thường về nóng và lạnh. Không phải do bức xạ cũng không do các luồng biển đổi hướng; vì sức nóng như là phản xạ từ cái được tạo ra trong cõi địa cầu hơn là cái được áp đặt. Chỉ trong mối liên hệ lẫn nhau thì mới nên xét đến các yếu tố ấy.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Is Herbert Janvrin Browne’s theory correct—whereby weather is forecasted several years in advance by measuring solar radiation and its action on the ocean currents?
(H) Học thuyết của Herbert Janvrin Browne có đúng không—rằng thời tiết có thể dự báo vài năm trước bằng cách đo bức xạ Thái dương và tác động của nó lên các hải lưu?
(A) Were these varied accounts considered of that information intimated here, these would be not correct. For this may be established as a theory: That thrown off will be returned. As the heat or cold in the various parts of the earth is radiated off, and correlated with reflection in the earth’s atmosphere, this in its action changes the currents or streams in the ocean; and the waters bring or carry the heat in a manner to the various shores, or bring cold or carry cold to the various shores. [Discussion of La Niña and El Niño?]
(Đ) Nếu những báo cáo đa dạng ấy được xét đến theo hướng thông tin đã gợi ở đây, thì những điều này không đúng. Vì có thể xác lập một học thuyết như sau: Cái bị ném đi sẽ quay trở lại. Khi sức nóng hay lạnh ở các phần khác nhau của địa cầu được bức xạ ra, và tương quan với sự phản xạ trong khí quyển Trái Đất, thì chính sự tác động này làm đổi chiều các dòng hay dòng chảy trong đại dương; và các khối nước mang theo hoặc chuyển tải nhiệt đến các bờ bến khác nhau, hoặc mang lạnh hay chuyển tải lạnh đến các bờ bến khác nhau. [Bàn luận về La Niña và El Niño?]
(Q) Is H. J. Browne’s contention correct that the summer of 1927 in North America will be like winter?
(H) Luận điểm của H. J. Browne có đúng không rằng mùa hè 1927 ở Bắc Mỹ sẽ giống như mùa đông?
(A) Rather the winter of 1926 will be nearer like some summers, and the summer of 1927 will show many changes, as will be seen in ‘26 and ‘28. Not entirely correct, no.
(Đ) Đúng hơn là mùa đông năm 1926 sẽ gần giống một số mùa hè, và mùa hè 1927 sẽ cho thấy nhiều biến đổi, như sẽ thấy trong ‘26 và ‘28. Không hoàn toàn đúng, không.
(Q) What will be the effect on the growing wheat crop in North America?
(H) Tác động đối với vụ lúa mì đang trồng ở Bắc Mỹ sẽ như thế nào?
(A) This will produce in various sections according to the various conditions produced by these variations in climate. There may be expected that the excess of grain supply in the world will be short in ‘27, ‘28, ‘29 and ‘30 the shortest.
(Đ) Điều này sẽ cho sản lượng ở các khu vực khác nhau tùy theo các điều kiện khác nhau được tạo ra bởi những biến thiên về khí hậu. Có thể kỳ vọng rằng lượng cung lúa mì thặng dư của thế giới sẽ thiếu hụt trong ‘27, ‘28, ‘29 và ‘30 là thiếu nhất.
(Q) What will be the weather conditions in South America November and December 1926, and January 1927?
(H) Tình hình thời tiết ở Nam Mỹ vào tháng 11 và 12 năm 1926, và tháng 1 năm 1927 sẽ thế nào?
(A) Near the normal for the world’s conditions, see? That is, there will be the variations there as will be seen in the northern latitude—such as is seen in the European countries during May, June... [GD’s note: A mouse gnawed perhaps another month or two from the original paper here.]
(Đ) Gần như bình thường theo điều kiện của thế giới, thấy chứ? Nghĩa là, sẽ có những biến thiên ở đó như sẽ thấy ở vĩ độ bắc—tựa như điều thấy ở các nước châu Âu trong tháng Năm, tháng Sáu... [Ghi chú của GD: Có lẽ chuột đã gặm mất một hai tháng nữa từ tờ giấy gốc ở đây.]
(Q) Is Abbe Gabriel’s table and theories relative to lunar solar cycle correct?
(H) Bảng và các học thuyết của Abbe Gabriel về chu kỳ nguyệt—thái dương có đúng không?
(A) Nearer correct than the radiation of solar conditions and their effect on the currents in sea.
(Đ) Đúng gần hơn so với việc xét bức xạ Thái dương và ảnh hưởng của chúng lên các hải lưu.
(Q) Will this weather change be serious enough in North American country to ruin growing grain crops and endanger health of its people?
(H) Thời tiết biến đổi ở mức đủ nghiêm trọng tại Bắc Mỹ để phá hỏng vụ ngũ cốc đang trồng và đe doạ sức khỏe người dân không?
(A) In various sections, yes; such as will be seen in Montana, Dakota, Nebraska, Kansas, Oklahoma and portions of Illinois and Wisconsin.
(Đ) Ở vài khu vực thì có; như sẽ thấy ở Montana, Dakota, Nebraska, Kansas, Oklahoma và một phần Illinois và Wisconsin.
(Q) What could be done to diminish suffering and panics?
(H) Có thể làm gì để giảm bớt khổ đau và hoảng loạn?
(A) The conditions will be met in the manner in which the peoples meet the various conditions which of necessity arise.
(Đ) Các tình trạng sẽ được hóa giải theo cách thức mà người ta đối diện với các điều kiện khác nhau tất yếu nảy sinh.
(Q) Any other suggestions?
(H) Còn gợi ý nào khác?
(A) There may be many books written concerning these various conditions and their various phases. These are the questions which have been asked. We are through.
(Đ) Có thể viết nhiều sách về các tình trạng và các phương diện khác nhau của chúng. Những câu hỏi đã được nêu như thế. Chúng tôi xong rồi.
[Background: Follow-up reading given to a forty-three-year-old male in which market, weather and moral changes, including the eventual demise of Prohibition [1920-1933] are discussed.]
[Bối cảnh: Buổi đọc tiếp nối dành cho một người đàn ông bốn mươi ba tuổi, trong đó bàn về biến động thị trường, thời tiết và đạo đức, bao gồm cả sự chấm dứt của Lệnh Cấm rượu [1920-1933].]
Reading 195-32; August 27, 1926
Buổi đọc 195-32; 27 tháng 8, 1926
GC: You will have before you the rdg. [195-29] made on 5/28/26, regarding weather forecast and its effect upon the price of wheat and corn. You will answer the questions which I will ask you regarding this.
GC: Các ông sẽ có trước mặt buổi đọc [195-29] thực hiện ngày 28/5/26, về dự báo thời tiết và ảnh hưởng của nó lên giá lúa mì và bắp. Các ông sẽ trả lời những câu hỏi tôi nêu về vấn đề này.
EC: Yes, we have the information given in respect to weather forecast as made, and the effect the same would have upon grain—wheat and corn. The changes that have come in the interim show that in the various countries, districts, and especially that in grain and corn belts, have been in the way and manner as to carry out, not only the forecast as affecting the price of this commodity, or these commodities, but that the conditions will be near that given. For, as given, near the 20th of September will see the low price in wheat, and the corn will be not quite so low in proportion to the prices as given. And reports especially from Argentine and the Ukraine, with the London market, will have the effect, near the 15th to 19th of October, of the high prices in these two grains, ranging then from 128—29—low to 58—and 60, in wheat, and the corn near the same proportions.
EC: Vâng, chúng tôi có thông tin đã nêu liên quan đến dự báo thời tiết như đã làm, và tác động của nó đối với ngũ cốc—lúa mì và bắp. Những thay đổi đã xuất hiện trong thời gian xen giữa cho thấy rằng ở các quốc gia, khu vực, và nhất là ở vành đai lúa gạo và bắp, tình trạng đã diễn ra theo cách thức thực hiện, không chỉ là dự báo ảnh hưởng lên giá của mặt hàng này, hay các mặt hàng này, mà còn là điều kiện sẽ gần với cái đã nêu. Vì như đã nói, gần ngày 20 tháng 9 sẽ thấy giá thấp của lúa mì, và bắp sẽ không thấp đến thế nếu tính theo tỷ lệ so với các mức giá đã nêu. Và các báo cáo đặc biệt từ Á Căn Đình và Ukraina, cùng với thị trường Luân Đôn, sẽ có hiệu ứng, vào khoảng 15 đến 19 tháng 10, đưa giá lên cao đối với hai loại ngũ cốc này, khi đó dao động từ 128—29—mức thấp là 58—và 60 đối với lúa mì, và bắp gần như theo cùng tỷ lệ.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) December wheat futures were given as making lows on September 15th and high on October 20th. Are these dates correct and will December corn follow wheat in its rise from September 15th?
(H) Hợp đồng lúa mì tháng 12 được nêu là tạo đáy vào 15/9 và đỉnh vào 20/10. Các mốc này có đúng không và hợp đồng bắp tháng 12 có theo lúa mì đi lên kể từ 15/9 không?
(A) Follow the rise in nearer the same proportions than the fluctuations have been from May to the present time, see? for these conditions exist, and in part are correct, and these reports may be the criterion or indication to one following such conditions. And should these change, then change according to reports. A destruction in the market and in the growing grain in the South American republics will bring the high price, while conservatism in Italy, Ukraine, Germany, Russia and France will decrease the price, as also the rise in production in many western states, and the government reports of many countries of amount of surplus on hand—especially that as held by Canadian government, and as in the bins in Minnesota, Kansas and in the west United States. See?
(Đ) Sẽ theo đợt tăng với tỷ lệ gần tương tự hơn so với biến động từ tháng Năm đến nay, thấy chứ? vì những điều kiện này tồn tại, và phần nào là đúng, và những báo cáo này có thể là chuẩn mực hay chỉ báo cho ai theo dõi những điều kiện như vậy. Và nếu chúng thay đổi, thì hãy thay đổi theo các báo cáo. Tình trạng hủy hoại ở thị trường và trong vụ ngũ cốc đang trồng ở các nước Cộng hòa Nam Mỹ sẽ đưa giá lên cao, trong khi sự thận trọng ở Ý, Ukraina, Đức, Nga và Pháp sẽ làm giảm giá, cũng như mức tăng sản lượng ở nhiều bang miền tây, và các báo cáo của chính phủ nhiều nước về lượng dư trữ trong tay—đặc biệt là lượng do chính phủ Canada nắm giữ, và trong các kho ở Minnesota, Kansas và miền tây Hoa Kỳ. Thấy chứ?
(Q) Will its rise be in straight line, or will there be a decline on way up? At about what figure will decline start from and how low will it go before rally again starts?
(H) Đợt tăng sẽ đi theo đường thẳng, hay sẽ có một nhịp giảm trên đường đi lên? Đợt giảm sẽ bắt đầu từ mức khoảng bao nhiêu và sẽ giảm đến đâu trước khi bắt đầu phục hồi?
(A) Already the decline, and gradually sinking until the 128-29 about the 20th of September, see? 15th to 20th. The gradual ascent from then in the variations, according to these various reports, see? No one is checked, as it were, against another. The northwestern and Canadian is yet to be harvested, and then the reports in the various marts of consumption are yet to be made, as to the conservatism and amount governments hold in reserve, see? These are the declining factors. In the rise, this is when the reports are given, after the harvest, in the United States, at the lack of available wheat and corn in sight, through various destructive agencies, and the demands begin to show in the foreign ports, with the destruction of growing grain in Australia and in South America, with floods in South Africa.
(Đ) Hiện đã trong giai đoạn giảm, và dần dần trượt xuống đến 128-29 vào khoảng ngày 20 tháng 9, thấy chứ? Từ ngày 15 đến 20. Đợt tăng dần từ đó với các biến thiên, tùy theo những báo cáo khác nhau này, thấy chứ? Chưa có cái nào được đối chiếu, như thể, với cái khác. Tây bắc và Canada còn đang gặt, rồi các báo cáo ở các thương trường tiêu thụ khác nhau còn phải đưa ra, về sự thận trọng và lượng chính phủ dự trữ, thấy chứ? Đó là các yếu tố làm giảm. Còn trong đợt tăng, đó là khi các báo cáo được đưa ra sau vụ gặt ở Hoa Kỳ, về sự thiếu hụt lúa mì và bắp sẵn có, do nhiều tác nhân phá hoại, và khi nhu cầu bắt đầu thể hiện ở các cảng nước ngoài, cùng với sự phá hủy ngũ cốc đang trồng ở Úc và Nam Mỹ, với lũ lụt ở Nam Phi.
(Q) Will May wheat future have its customary rally in February 1927 about what date, and about how high?
(H) Hợp đồng lúa mì tháng Năm có đợt hồi như thường lệ vào tháng Hai 1927 không—khoảng ngày nào, và khoảng bao nhiêu?
(A) These are to be at variance, in and under present conditions, but at present, and with those indications as we see through these channels, the high would be about the 23rd of February.
(Đ) Những điều này sẽ khác lệ trong và dưới các điều kiện hiện tại, nhưng vào hiện tại, và với các chỉ báo như chúng tôi thấy qua các kênh này, mức cao sẽ vào khoảng ngày 23 tháng Hai.
(Q) Will the weather conditions in South America be such that normal wheat crop will be harvested in January 1927?
(H) Tình hình thời tiết ở Nam Mỹ có đủ để thu hoạch vụ lúa mì bình thường trong tháng 1 năm 1927 không?
(A) As given, there will be destruction in Argentine and in the wheat areas in South America. Two varying reports—one in the beginning of the crops, see? the other December and in January, at the harvest. Hence the variations, or the high points and the easing off.
(Đ) Như đã nêu, sẽ có phá hủy ở Á Căn Đình và ở những vùng lúa mì của Nam Mỹ. Hai báo cáo khác nhau—một ở đầu vụ, thấy chứ? còn kia là tháng Mười Hai và tháng Một, vào mùa gặt. Do đó có sự biến thiên, hay các điểm cao và các đợt hạ nhiệt.
That is all the questions.
Đó là tất cả câu hỏi.
As for the weather conditions, and the effect same will produce on various portions of the earth’s sphere, and this in its relation to the conditions in man’s affairs: As has been oft given, Jupiter and Uranus influences in the affairs of the world appear the strongest on or about October 15th to 20th—when there may be expected in the minds, the actions—not only of individuals but in various quarters of the globe, destructive conditions as well as building. In the affairs of man many conditions will arise that will be very, very, strange to the world at present—in religion, in politics, in the moral conditions, and in the attempt to curb or to change such, see? For there will be set in motion [that indicating] when prohibition will be lost in America, see? Violent wind storms—two earthquakes, one occurring in California, another in Japan—tidal waves following, one to the southern portion of the isles near Japan.
Về điều kiện thời tiết, và tác động mà điều đó sẽ gây ra cho các phần khác nhau của cầu giới, và sự liên hệ của nó với điều kiện trong các sự vụ của con người: Như đã nhiều lần nêu, ảnh hưởng của Sao Mộc và Sao Thiên Vương trong sự vụ của thế giới sẽ mạnh nhất vào khoảng 15 đến 20 tháng Mười—khi có thể kỳ vọng trong tâm trí, trong hành động—không chỉ của cá nhân mà ở nhiều nơi trên địa cầu—những điều kiện phá hoại cũng như kiến tạo. Trong các sự vụ của nhân loại, nhiều tình trạng sẽ nảy sinh mà đối với thế giới hiện tại sẽ rất, rất lạ lùng—trong tôn giáo, chính trị, các điều kiện đạo đức, và trong nỗ lực kiềm chế hay thay đổi những điều như thế, thấy chứ? Vì sẽ được khởi động [điều chỉ thị] khi Lệnh Cấm rượu sẽ bị bãi bỏ ở Mỹ, thấy chứ? Những cơn bão gió dữ dội—hai trận động đất, một xảy ra ở California, một ở Nhật Bản—kèm theo sóng thần, một tới phần phía nam của các đảo gần Nhật Bản.
We are through.
Chúng tôi xong rồi.
[Background: Life reading given to a twenty-six-year-old osteopath in which Cayce warns of adverse financial conditions to occur in 1929 (Stock market crash = October 1929, which ushered in the Great Depression).]
[Bối cảnh: Buổi đọc đời sống dành cho một bác sĩ chỉnh cốt hai mươi sáu tuổi, trong đó Cayce cảnh báo những điều kiện tài chính bất lợi sẽ xảy ra năm 1929 (khủng hoảng thị trường chứng khoán = tháng 10/1929, mở ra Đại Khủng hoảng).]
Reading 2723–1; February 26, 1925
Buổi đọc 2723–1; 26 tháng 2, 1925
Hence in the present sphere we find these conditions in the urge of the individuality of the entity:
Do đó trong cõi hiện tại, chúng tôi thấy những điều kiện này trong thúc đẩy của tính cá nhân nơi thực thể:
One that has the ability to study in the realm of the mental.
Một người có khả năng học hỏi trong lĩnh vực trí tuệ.
One slow to wrath, yet awful when he does get mad. In the development in this, however, we find the entity has often (more often than otherwise) used discretion even in the wrath. This in the present plane the greater development in the body, as will be seen.
Một người chậm nổi giận, nhưng khi đã giận thì dữ dội. Tuy nhiên, trong sự phát triển ở phương diện này, chúng tôi nhận thấy thực thể thường xuyên (thường xuyên hơn là không) biết dè dặt ngay cả trong cơn giận. Ở bình diện hiện tại, điều này là phát triển lớn hơn trong thân thể, như sẽ thấy.
One that we find is in that development where the greater influences in the present plane are from the mental forces. That is, the urge is to use the abilities of the mental rather than the physical. Not that the entity is lacking in this sphere, yet the development shows the urge to be in this sphere.
Một người mà chúng tôi thấy đang ở vào phát triển nơi các ảnh hưởng lớn hơn trong bình diện hiện tại đến từ các lực trí tuệ. Nghĩa là, thúc đẩy là dùng năng lực của trí tuệ hơn là thể chất. Không phải thực thể thiếu ở bình diện này, nhưng phát triển cho thấy thúc đẩy là ở bình diện này.
One that with the adverse influences finds that those conditions as regarding other things of secular nature brings the troubles, worries, to the body.
Một người với các ảnh hưởng bất lợi thì thấy rằng những điều kiện liên quan tới các sự việc thế tục khác đem đến rắc rối, lo âu cho thân thể.
One, then, that has abilities, yet lacking in the smaller affairs, especially pertaining to detail work regarding material affairs.
Một người có năng lực, nhưng thiếu sót trong những việc nhỏ, đặc biệt liên quan đến công việc chi tiết về sự vụ vật chất.
One that in the present plane finds the development in that sphere where the good to others gives the greater development.
Một người ở trong bình diện hiện tại thấy phát triển ở lĩnh vực mà điều thiện đối với người khác đem đến sự phát triển lớn hơn.
One that within the present sphere will have great amount of monies to care for. In the adverse forces that will come then in 1929, care should be taken lest this, without the more discretion in small things, be taken from the entity.
Một người trong bình diện hiện tại sẽ có một lượng tiền bạc lớn để trông coi. Trước các ảnh hưởng bất lợi sẽ đến vào năm 1929, cần cẩn trọng kẻo điều này, nếu không có sự dè dặt hơn trong các việc nhỏ, bị lấy mất khỏi thực thể.
[Background: Reading given to a thirty-three-year-old stockbroker regarding market fluctuations in 1929.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một nhà môi giới 33 tuổi liên quan đến biến động thị trường năm 1929.]
Reading 900–425; March 6, 1929
Buổi đọc 900–425; 6 tháng 3, 1929
(Q) Will this decline turn into what we in Wall Street know as a real bear market?
(H) Đợt giảm này có chuyển thành cái mà ở Phố Wall chúng tôi gọi là một thị trường giá xuống thực sự không?
(A) Much too much mixed for a real bear market, see? for there has been in recent months a much greater tendency for larger combines than there has probably ever been before... This whole condition may change. Forget not there is still hanging over the situation that as has been given in the early portion of December [900–417] concerning the combination of radio, Western Union, Tel & Tel, and Westinghouse. These were given as to how the changes and how breaks. At the same time there was given that there was a division in the money conditions and positions. That fight has hardly begun. When this is an issue we may expect a considerable break and bear market, see? This issue being between those of the reserves of nations and of individuals, and will cause—unless another of the more stable banking conditions come to the relief—a great disturbance in financial circles. This warning has been given, see?
(Đ) Quá lẫn lộn để thành một thị trường giá xuống thực sự, thấy chứ? vì trong những tháng gần đây có xu hướng lớn hơn nhiều về các liên hợp quy mô lớn so với những gì chưa từng có trước đây... Điều này toàn bộ có thể thay đổi. Đừng quên vẫn còn treo lơ lửng trên tình hình điều đã nêu từ đầu tháng Mười Hai [900–417] liên quan đến sự kết hợp của radio, Western Union, Tel & Tel, và Westinghouse. Những điều đó đã được nêu về cách thức thay đổi và cách đổ vỡ. Đồng thời cũng đã nêu rằng có sự phân hóa trong điều kiện và vị thế tiền tệ. Cuộc đấu đó hầu như mới bắt đầu. Khi điều này trở thành vấn đề, chúng ta có thể kỳ vọng một đợt sụt giảm đáng kể và một thị trường giá xuống, thấy chứ? Vấn đề này nằm giữa các khoản dự trữ của các quốc gia và của các cá nhân, và sẽ gây ra—trừ khi một điều kiện ngân hàng vững hơn khác đến giải nguy—một sự rối loạn lớn trong giới tài chính. Cảnh báo này đã được đưa ra, thấy chứ?
[Background: Reading seeking a way out of the Depression/global financial crisis.]
[Bối cảnh: Buổi đọc tìm giải pháp thoát khỏi Đại Khủng hoảng/khủng hoảng tài chính toàn cầu.]
Reading 3976–10; February 8, 1932
Buổi đọc 3976–10; 8 tháng 2, 1932
GC: You will have before you the minds and entities of [943] and [2119], present in this room, seeking information regarding the most tangled financial and political crisis into which the world ever strayed. Please outline in detail a definite, workable, plausible and applicable financial and political plan for establishing peace on earth and good will among men. This information shall be given in such manner that it can be presented to mankind in book form, so that it can be understood by an ailing and panicky civilization.
GC: Các ông sẽ có trước mặt tâm trí và các thực thể của [943] và [2119], hiện diện trong phòng này, đang tìm thông tin về cuộc khủng hoảng tài chính và chính trị rối rắm nhất mà thế giới từng sa vào. Xin phác thảo chi tiết một kế hoạch tài chính và chính trị rõ ràng, khả thi, có lý và áp dụng được để thiết lập hòa bình trên đất và thiện chí giữa những người nam và nữ. Thông tin này sẽ được trình bày theo cách có thể giới thiệu cho nhân loại dưới dạng sách, để một nền văn minh đang ốm yếu và hoảng loạn có thể hiểu được.
EC: There are many statements in this that are presuming beyond the abilities of individuals seeking the information. Not by a great deal is the present condition the most serious of even the present civilization, for this point was passed in the fall of ‘29 (twenty-nine) [stock market crash = October 29, 1929] when there was given into the hands of two—yea three individuals—the financial conditions and situations of the world. These represent as two upon the one side, one upon the dark side—or dark forces. There must be first the return to a standard by which such is to be judged, and then there may be gradually worked out that of a plausible, equitable, applicable situation in the affairs of the world. These must be considered (the world’s affairs) as a unit, and not as a whole, for there are conditions and developments in the present that are of the unit making conditions in the financial and political conditions of the earth. That which has been presented in the World Court in the present [President Hoover’s delegation to Geneva in February 1932?] is the better or greater basis for the final relief, of that that will make for the working out of the financial and the political powers that be. These may not be invested in the few, though they must be the standard of many—and will follow in that course that is exercised by those that present the working basis for those conditions in the affairs of the earth.
EC: Có nhiều phát biểu trong đó giả định vượt quá năng lực của những cá nhân đang tìm kiếm thông tin. Tình hình hiện tại chưa phải là nghiêm trọng nhất của ngay cả nền văn minh hiện tại, xa mới bằng, vì điểm đó đã được vượt qua vào mùa thu năm ‘29 (hai mươi chín) [khủng hoảng thị trường chứng khoán = 29 tháng 10, 1929] khi các điều kiện và tình thế tài chính của thế giới được đặt vào tay hai—vâng ba—cá nhân. Hai vị đại diện ở một phía, còn một thuộc phía tối—hay các lực tối. Trước hết phải trở về một chuẩn mực để từ đó có thể phán định, rồi sau đó mới dần dần xây dựng nên một tình thế khả dĩ, công bằng, áp dụng được trong các sự vụ của thế giới. Các sự vụ ấy (của thế giới) cần được xét như một đơn vị, chứ không như một toàn thể, vì có các điều kiện và phát triển hiện thời là các điều kiện tạo đơn vị trong các điều kiện tài chính và chính trị của địa cầu. Cái đang được trình tại Tòa án Thế giới hiện tại [phái đoàn của Tổng thống Hoover đến Geneva vào tháng 2/1932?] là nền tảng tốt hơn hay lớn hơn cho sự cứu trợ cuối cùng, cho điều sẽ làm cho việc giải quyết quyền lực tài chính và chính trị trở nên khả dĩ. Chúng không thể được trao cho số ít, tuy nhiên chúng phải là chuẩn mực của số đông—và sẽ đi theo lộ trình được thực thi bởi những ai trình bày nền tảng vận hành cho các điều kiện ấy trong các sự vụ của địa cầu.
(Q) Who are the three individuals controlling the financial world in the present?
(H) Ba cá nhân đang kiểm soát thế giới tài chính hiện tại là ai?
(A) Warburg, Mellon, Morgan. [10/6/72 GD’s note: President Hoover’s efforts culminating in U.S. delegation sent to Geneva on 2/2/32: See Encyclopedia Britannica pages 226 and 802 re Mellon and Morgan; 1957 (cc) edition.]
(Đ) Warburg, Mellon, Morgan. [Ghi chú của GD 6/10/72: Nỗ lực của Tổng thống Hoover dẫn đến việc phái đoàn Hoa Kỳ gửi tới Geneva vào 2/2/32: Xem Encyclopedia Britannica trang 226 và 802 về Mellon và Morgan; ấn bản 1957 (cc).]
(Q) Please forecast the principal events for the next fifty years affecting the welfare of the human race.
(H) Xin dự báo các biến cố chủ yếu trong năm mươi năm tới ảnh hưởng đến phúc lợi của nhân loại.
(A) This had best be cast after the great catastrophe that’s coming to the world in ‘36 (thirty-six), in the form of the breaking up of many powers that now exist as factors in the world affairs. [Prediction of World War II?] The first notable change will be the acceptance or rejection of the world’s interference, or court of last resort for the world, in this present meeting as presented by France—and as rejected by America. Then, with the breaking up of in ‘36 (thirty-six) will be the changes that will make the different MAPS of the world.
(Đ) Điều này tốt nhất nên được lập sau đại thảm họa sẽ đến với thế giới vào ‘36 (ba mươi sáu), dưới dạng sự tan rã của nhiều quyền lực đang tồn tại như những yếu tố trong các sự vụ thế giới. [Dự đoán về Thế chiến II?] Sự thay đổi đáng chú ý đầu tiên sẽ là chấp thuận hay bác bỏ sự can thiệp của thế giới, hay tòa án sau chót cho thế giới, trong cuộc họp hiện tại do Pháp trình bày—và bị Mỹ bác bỏ. Rồi, với sự tan rã vào ‘36 (ba mươi sáu) sẽ là những biến đổi tạo nên các BẢN ĐỒ khác nhau của thế giới.
(Q) Name the powers that will be broken up in 1936.
(H) Nêu tên các quyền lực sẽ bị tan rã vào năm 1936.
(A) Rather by 1936. Will be Russia, United States, Japan and England, or United Kingdom.
(Đ) Đúng hơn là vào trước năm 1936. Sẽ là Nga, Hợp Chúng Quốc, Nhật Bản và Anh, hay Vương quốc Anh.
(Q) Who will be the controlling power? [GD’s note: Perhaps referring to beginning of World War II? 1/19/34 See 3976–15.]
(H) Ai sẽ là quyền lực kiểm soát? [Ghi chú của GD: Có lẽ ám chỉ khởi đầu của Thế chiến II? 19/1/34 Xem 3976–15.]
(A) That depends upon who is closer to those sources of power.
(Đ) Điều đó tùy thuộc ai ở gần hơn với các nguồn quyền lực ấy.
(Q) What will be the developments in the relations between China and Japan?
(H) Quan hệ giữa Trung Hoa và Nhật Bản sẽ phát triển ra sao?
(A) The international interference will make for a re-peopling of portions of China, and the ultimate destruction of China or Japan as a nation.
(Đ) Sự can thiệp quốc tế sẽ đưa đến việc tái dân cư một phần Trung Hoa, và sự hủy diệt cuối cùng của Trung Hoa hoặc Nhật Bản như một quốc gia.
(Q) What should be the attitude of so-called capitalist nations toward Russia?
(H) Các quốc gia gọi là tư bản nên có thái độ gì đối với Nga?
(A) On Russia’s religious development will come the greater hope of the world. Then that one, or group, that is the closer in its relationships, may fare the better in the gradual changes and final settlement of conditions as to the rule of the world.
(Đ) Từ sự phát triển tôn giáo của Nga sẽ đến niềm hy vọng lớn hơn của thế giới. Khi ấy kẻ nào, hay nhóm nào, gần gũi hơn trong các mối liên hệ của mình, sẽ có phần thuận lợi hơn trong những biến đổi dần dần và cuộc dàn xếp cuối cùng các điều kiện liên quan đến sự cai quản thế giới.
(Q) Should the United States recognize the present government in Russia?
(H) Hoa Kỳ có nên công nhận chính phủ hiện tại ở Nga không?
(A) Many conditions should be considered, were this to be answered correctly. You could say yes and no, and both be right, with the present attitude of both peoples as a nation, and both be wrong; for there is to come, there will come, an entire change in the attitude of both nations as powers in the financial and economical world. As for those of raw resources, Russia surpasses all other nations. As for abilities for development of same, those in the United States are the farthest ahead. Then these united, or upon an equitable basis, would become—or could become—powers; but there are many interferences for those already investments, those already under questions, will take years to settle.
(Đ) Nên cân nhắc nhiều điều kiện, mới trả lời đúng được. Các ông có thể nói có và không, và cả hai đều đúng, với thái độ hiện tại của cả hai dân tộc như một quốc gia, và cả hai đều sai; vì sẽ đến, sẽ đến, một sự thay đổi toàn diện trong thái độ của cả hai quốc gia như những quyền lực trong thế giới tài chính và kinh tế. Về tài nguyên thô, Nga vượt trội tất cả các quốc gia khác. Về khả năng phát triển những thứ ấy, Hoa Kỳ đi trước xa nhất. Vậy khi những điều này được hợp nhất, hoặc trên một nền tảng công bằng, thì sẽ trở thành—hoặc có thể trở thành—quyền lực; nhưng có nhiều trở ngại bởi các khoản đầu tư đã có, những điều đang bị chất vấn, và sẽ mất nhiều năm để giải quyết.
(Q) Will Italy adopt a more liberal form of government in the near future?
(H) Trong tương lai gần, Ý có áp dụng một hình thức chính quyền tự do hơn không?
(A) Rather that of a more monarchal government than that of the liberal. Italy, too, will be broken by what now is an insignificant or small power that lies between those of the other larger, or those of the moment that are of the larger. These will not come, as we find, as broken, before the catastrophes of outside forces to the earth in ‘36, which will come from the shifting of the equilibrium of the earth itself in space, with those of the consequential effects upon the various portions of the country—or world—affected by same.
(Đ) Đúng hơn là một chính thể quân chủ hơn là tự do. Ý cũng sẽ bị bẻ gãy bởi cái mà hiện đang là một quyền lực nhỏ bé hay không đáng kể nằm giữa các quyền lực lớn hơn khác, hay các quyền lực trong khoảnh khắc đang lớn hơn. Chúng, như chúng tôi thấy, sẽ không bị bẻ gãy trước các thảm họa do những lực bên ngoài tác động lên địa cầu vào ‘36, vốn đến từ sự xê dịch của trạng thái cân bằng của Trái Đất trong không gian, với những hiệu ứng hệ quả lên các phần khác nhau của đất nước—hay thế giới—bị tác động bởi điều đó.
[Background: Reading regarding prophecies contained within the Great Pyramid, as suggested by the book, The Great Pyramid (D. Davidson and H. Aldersmith).]
[Bối cảnh: Buổi đọc liên quan đến các lời tiên tri chứa trong Đại Kim Tự Tháp, như được gợi ý trong cuốn The Great Pyramid (D. Davidson và H. Aldersmith).]
Reading 5748–6; July 1, 1932
Buổi đọc 5748–6; 1 tháng 7, 1932
EC: Much has been written respecting that represented in the Great Pyramid, and the record that may be read by those who would seek to know more concerning the relationships that have existed, that may exist, that do exist, between those of the Creative Forces that are manifest in the material world. As indicated, there were periods when a much closer relationship existed, or rather should it be said, there was a much better understanding of the relationship that exists between the creature and the Creator.
EC: Đã có nhiều điều được viết về những điều được biểu thị trong Đại Kim Tự Tháp, và ký lục có thể đọc được bởi những ai muốn hiểu rõ hơn về các mối liên hệ từng tồn tại, có thể tồn tại, đang tồn tại, giữa các Lực Sáng Tạo vốn biểu lộ trong thế giới vật chất. Như đã chỉ ra, đã có những thời kỳ khi mối liên hệ gần gũi hơn tồn tại, hay đúng hơn phải nói, đã có sự hiểu biết tốt hơn về mối liên hệ đang tồn tại giữa thụ tạo và Đấng Sáng Tạo.
In those conditions that are signified in the way through the pyramid, as of periods through which the world has passed and is passing, as related to the religious or the spiritual experiences of man—the period of the present is represented by the low passage or depression showing a downward tendency, as indicated by the variations in the character of stone used. This might be termed in the present as the Cruciatarian Age [?]*, or that in which preparations are being made for the beginning of a new sub-race, or a change, which—as indicated from the astronomical or numerical conditions—dates from the latter portion or middle portion of the present fall [1932]. In October there will be a period in which the benevolent influences of Jupiter and Uranus will be stronger, which—from an astrological viewpoint—will bring a greater interest in occult or mystic influences. *[From Webster’s Standard Dictionary of obsolete words: cruciat: a crusade; also, a papal bull sanctioning a crusade or privileging participants in it; cruciatory torturing; tormenting.]
Trong những điều kiện được biểu thị theo lộ trình qua kim tự tháp, như các thời kỳ mà thế giới đã đi qua và đang đi qua, liên hệ với những trải nghiệm tôn giáo hay tinh thần của con người—thời kỳ hiện tại được biểu thị bằng hành lang thấp hay chỗ trũng cho thấy xu hướng đi xuống, như được chỉ ra bởi những biến thiên trong đặc tính của đá được dùng. Điều này có thể gọi trong hiện tại là Thời đại Cruciatarian [?]*, hay thời kỳ đang chuẩn bị cho sự khởi đầu của một giống dân phụ mới, hay một biến đổi, mà—như chỉ ra từ các điều kiện thiên văn hay số học—được tính từ phần sau hay phần giữa của mùa thu năm nay [1932]. Vào tháng Mười sẽ có một giai đoạn trong đó các ảnh hưởng nhân hòa của Sao Mộc và Sao Thiên Vương sẽ mạnh hơn, điều này—từ góc nhìn chiêm tinh—sẽ mang đến mối quan tâm lớn hơn dành cho các ảnh hưởng huyền diệu hay thần bí. *[Từ Từ điển Chuẩn của Webster về các từ cổ: cruciat: một cuộc thập tự chinh; cũng là chiếu chỉ giáo hoàng chuẩn y một cuộc thập tự chinh hoặc ban đặc quyền cho người tham gia; cruciatory: tra tấn; hành hạ.]
At the correct time accurate imaginary lines can be drawn from the opening of the great Pyramid to the second star in the Great Dipper, called Polaris or the North Star. This indicates it is the system toward which the soul takes it flight after having completed its sojourn through this solar system. In October there will be seen the first variation in the position of the polar star in relation to the lines from the Great Pyramid. The dipper is gradually changing, and when this change becomes noticeable—as might be calculated from the Pyramid—there will be the beginning of the change in the races. There will come a greater influx of souls from the Atlantean, Lemurian, La, Ur or Da civilizations. These conditions are indicated in this turn in the journey through the pyramid.
Vào thời điểm đúng đắn, có thể vẽ những đường tưởng tượng chính xác từ cửa vào Đại Kim Tự Tháp đến ngôi sao thứ hai trong chòm Gấu Lớn, gọi là Polaris hay Sao Bắc Cực. Điều này chỉ thị đó là hệ sao mà linh hồn hướng đến trong chuyến bay sau khi đã hoàn tất cuộc du hành qua hệ mặt trời này. Vào tháng Mười sẽ thấy biến thiên đầu tiên trong vị trí của sao Bắc Cực so với những đường kẻ từ Đại Kim Tự Tháp. Chòm Gấu dần dần đang thay đổi, và khi sự thay đổi này trở nên đáng chú ý—như có thể tính từ Kim Tự Tháp—sẽ là khởi đầu của biến đổi trong các giống dân. Sẽ có dòng linh hồn nhập thế mạnh mẽ hơn đến từ các nền văn minh Atlantis, Lemuria, La, Ur hoặc Da. Những điều kiện này được biểu thị trong khúc quanh này của lộ trình qua kim tự tháp.
How was this begun? Who was given that this should be a record of man’s experiences in this root race? for that is the period covered by the prophecies in the pyramid. This was given to Ra and Hermes in that period during the reign of Araaraart when there were many who sought to bring to man a better understanding of the close relationship between the Creative Forces and that created, between man and man, and man and his Maker.
Điều này đã được khởi xướng ra sao? Ai đã được giao cho việc đây sẽ là ký lục về những trải nghiệm của con người trong giống dân gốc? vì đó là thời kỳ được các lời tiên tri trong kim tự tháp bao quát. Điều này đã được trao cho Ra và Hermes trong thời kỳ trị vì của Araaraart khi có nhiều người tìm cách mang đến cho con người sự hiểu biết tốt hơn về mối liên hệ mật thiết giữa Các Lực Sáng Tạo và cái được tạo thành, giữa người với người, và giữa con người với Đấng Tạo Hóa của mình.
Only those who have been called may truly understand. Who then has been called? Whosoever will make himself a channel may be raised to that of a blessing that is all that entity-body is able to comprehend. Who, having his whole measure full, would desire more does so to his own undoing.
Chỉ những ai đã được gọi mới có thể thực sự thấu hiểu. Vậy thì ai đã được gọi? Bất kỳ ai chịu làm cho mình thành một kênh dẫn đều có thể được nâng lên tới ân phúc mà toàn thể hiện thể của thực thể ấy có thể thấu lĩnh. Kẻ nào, đã đầy tới độ, còn mong thêm nữa thì chính là tự chuốc lấy tai ương.
(Q) What are the correct interpretations of the indications in the Great Pyramid regarding the time when the present depression will end?
(H) Những diễn giải đúng đắn về các dấu hiệu trong Đại Kim Tự Tháp liên quan tới thời điểm cuộc suy thoái hiện tại sẽ kết thúc là gì?
(A) The changes as indicated and outlined are for the latter part of the present year [1932]. As far as depression is concerned, this is not—as in the minds of many—because fear has arisen, but rather that, when fear has arisen in the hearts of the created, sin lieth at the door. Then, the change will occur—or that seeking will make the definite change—in the latter portion of the present year. Not that times financially will be better, but the minds of the people will be fitted to the conditions better.
(Đ) Những thay đổi như đã chỉ ra và phác thảo là vào phần cuối của năm hiện tại [1932]. Về phần suy thoái, điều này không phải—như trong tâm trí của nhiều người—là vì nỗi sợ đã nổi lên, mà đúng hơn là, khi nỗi sợ đã nổi lên trong lòng kẻ được tạo dựng, thì tội lỗi nằm ngay ở cửa. Bấy giờ, sự thay đổi sẽ xảy ra—hoặc chính sự tìm kiếm sẽ làm nên chuyển đổi dứt khoát—vào phần cuối của năm hiện tại. Không phải là thời buổi về tài chính sẽ khá hơn, mà là tâm trí của người dân sẽ thích nghi tốt hơn với các điều kiện.
(Q) What was the date of the actual beginning and ending of the construction of the Great Pyramid?
(H) Ngày bắt đầu và kết thúc thực tế của việc xây dựng Đại Kim Tự Tháp là khi nào?
(A) Was one hundred years in construction. Begun and completed in the period of Araaraart’s time, with Hermes and Ra.
(Đ) Mất một trăm năm để xây dựng. Bắt đầu và hoàn tất trong thời kỳ của Araaraart, với Hermes và Ra.
(Q) What was the date B.C. of that period?
(H) Niên đại trước Công nguyên của thời kỳ đó là gì?
(A) 10,490 to 10,390 before the Prince entered into Egypt.
(Đ) 10.490 đến 10.390 trước khi Vị Hoàng tử vào Ai Cập.
(Q) What definite details are indicated as to what will happen after we enter the period of the King’s Chamber?
(H) Những chi tiết xác định nào được chỉ ra về điều sẽ xảy ra sau khi chúng ta đi vào thời kỳ của Phòng Vua?
(A) When the bridegroom is at hand, all do rejoice. When we enter that understanding of being in the King’s presence, with that of the mental seeking, the joy, the buoyancy, the new understanding, the new life, through the period.
(Đ) Khi tân lang ở gần, mọi người đều hân hoan. Khi chúng ta đi vào sự hiểu biết rằng mình đang ở trong sự Hiện diện của Vua, cùng với sự tìm kiếm bằng thể trí, là niềm vui, là sự phấn chấn, là sự hiểu biết mới, là đời sống mới, xuyên suốt giai đoạn ấy.
(Q) What is the significance of the empty sarcophagus?
(H) Ý nghĩa của cỗ quan tài trống là gì?
(A) That there will be no more death. Don’t misunderstand or misinterpret! but the interpretation of death will be made plain.
(Đ) Rằng sẽ không còn sự chết nữa. Đừng hiểu sai hay diễn giải lệch lạc! mà là cách diễn giải về sự chết sẽ được làm sáng tỏ.
(Q) If the Armageddon is foretold in the Great Pyramid, please give a description of it and the date of its beginning and ending.
(H) Nếu Armageddon đã được báo trước trong Đại Kim Tự Tháp, xin cho mô tả về nó và ngày bắt đầu cũng như kết thúc.
(A) Not in what is left there. It will be as a thousand years, with the fighting in the air, and—as has been—between those returning to and those leaving the earth.
(Đ) Không phải trong những gì còn lưu lại ở đó. Nó sẽ như một ngàn năm, với chiến trận trên không, và—như đã từng—giữa những kẻ trở về với và những kẻ rời khỏi trần gian.
(Q) What will be the type and extent of the upheaval in ‘36?
(H) Cuộc biến động vào năm ‘36 sẽ có dạng thức và mức độ thế nào?
(A) The wars, the upheavals in the interior of the earth, and the shifting of same by the differentiation in the axis as respecting the positions from the Polaris center.
(Đ) Chiến tranh, những biến động trong lòng đất, và sự dịch chuyển của chúng do sai biệt ở trục xét theo vị thế so với tâm Polaris.
(Q) Is there not a verse of scripture in Isaiah mentioning the rock on which the great pyramid is builded?
(H) Há chẳng có một câu Kinh Thánh trong Ê-sai nhắc đến tảng đá mà trên đó đại kim tự tháp được xây sao?
(A) Not as we find; rather the rock on which John viewed the New Jerusalem—that is, as of the entering in the King’s Chamber in the Pyramid.
(Đ) Không như chúng tôi thấy; đúng hơn là tảng đá trên đó Giăng đã trông thấy Tân Giê-ru-sa-lem—tức là, như việc đi vào Phòng Vua trong Kim Tự Tháp.
(Q) What is the date, as recorded by the Pyramid, of entering in the King’s Chamber?
(H) Theo như Đại Kim Tự Tháp ghi nhận, niên đại của việc đi vào Phòng Vua là gì?
(A) ‘38 to ‘58.
(Đ) ‘38 đến ‘58.
(Q) If the Passion of Jesus is recorded in the Great Pyramid, please give the date according to our present system of recording time?
(H) Nếu Cuộc Thương Khó của Đức Jesus được ghi trong Đại Kim Tự Tháp, xin cho niên đại theo hệ ghi thời hiện nay của chúng ta?
(A) This has already been presented in a fair and equitable manner through those students of same, and these descriptions have been presented as to their authenticity.
(Đ) Điều này đã được trình bày theo cách thức công bằng và thích đáng bởi những đạo sinh nghiên cứu về cùng một chủ đề, và các mô tả đó đã được trình bày về tính xác thực của chúng.
(Q) How was this particular Great Pyramid of Gizeh built?
(H) Đại Kim Tự Tháp Gizeh này được xây như thế nào?
(A) By the use of those forces in nature as make for iron to swim. Stone floats in the air in the same manner. This will be discovered in ‘58.
(Đ) Bằng việc sử dụng những mãnh lực trong thiên nhiên đến mức khiến sắt có thể nổi. Đá nổi trong không khí theo cùng một cách. Điều này sẽ được khám phá vào năm ‘58.
(Q) What is the significance of the character of the figure of the Sphinx, mentioned above?
(H) Ý nghĩa của đặc trưng hình tượng Nhân Sư, như đã nhắc bên trên, là gì?
(A) In this particular period of Araaraart and of the priest (that began those understandings—and passed through those of the hell in the misinterpretation of same), there was even then the seeking through those channels that are today called archaeological research. In those periods when the first change had come in the position of the land, there had been an egress of peoples—or things, as would be called today—from the Atlantean land, when the Nile (of Nole, then) emptied into what is now the Atlantic Ocean, on the Congo end of the country. What is now as the Sahara was a fertile land, a city that was builded in the edge of the land, a city of those that worshipped the sun—for the use of its rays were used for supplying from the elements that which is required in the present to be grown through a season; or the abilities to use both those of introgression and retrogression—and mostly retrograded, as we are in the present. The beginnings of these mounds were as an interpretation of that which was crustating in the land. (See, most of the people had tails then!) In those beginnings these were left. When there was the entrance of Arart and Araaraart, they begin to build upon those mounds which were discovered through research. With the storehouse, or record house (where the records are still to be uncovered), there is a chamber or passage from the right forepaw to this entrance of the record chamber, or record tomb. This may not be entered without an understanding, for those that were left as guards may not be passed until after a period of their regeneration in the Mount, or the fifth root race begins. In the building of the pyramid, and that which is now called the Mystery of Mysteries, this was intended to be a memorial—as would be termed today—to that counsellor who ruled or governed, or who acted in the capacity of the director in the material things in the land. With the return of the priest (as it had been stopped), this was later—by Isis, the queen, or the daughter of Ra—turned so as to present to those peoples in that land the relationships of man and the animal or carnal world with those changes that fade or fall away in their various effect. These may be seen in a different manner presented in many of the various sphinxes, as called, in other portions of the land—as the lion with the man, the various forms of wing, or characterizations in their various developments. These were as presentations of those projections that had been handed down in their various developments of that which becomes man—as in the present.
(Đ) Trong giai đoạn đặc thù của Araaraart và của vị tư tế (người đã khởi đầu những hiểu biết ấy—và đã trải qua những nỗi địa ngục do diễn giải sai cùng những điều đó), ngay khi ấy đã có sự tìm kiếm qua những kênh mà ngày nay gọi là nghiên cứu khảo cổ. Vào những thời khi sự chuyển đổi đầu tiên đã xảy đến trong vị thế của đất đai, đã từng có dòng người—hoặc những sự sống, như ngày nay gọi—thoát ra từ xứ Atlantis, khi Sông Nile (khi đó gọi là Nole) đổ vào thứ hiện nay là Đại Tây Dương, ở đầu Congo của xứ sở. Thứ mà nay là Sahara từng là vùng đất phì nhiêu, một thành phố được xây nơi rìa đất, một thành phố của những người thờ mặt trời—vì tia của nó được dùng để cung ứng từ các nguyên tố những gì mà hiện nay cần để trồng trọt suốt một mùa; tức là năng lực sử dụng cả tiến nhập lẫn thoái lui—và phần nhiều đã thoái lui, như chúng ta hiện nay. Khởi nguyên của những gò này là như một diễn giải về cái đang đóng vỏ trong lòng đất. (Hãy xem, phần lớn người dân khi ấy có đuôi!) Trong khởi nguyên đó, những thứ này đã được để lại. Khi có sự xuất hiện của Arart và Araaraart, họ bắt đầu xây dựng trên những gò được phát hiện qua nghiên cứu. Với kho chứa, hay nhà lưu ký (nơi các ghi chép vẫn còn sẽ được khai quật), có một phòng hay hành lang từ chân trước bên phải tới lối vào phòng lưu ký, hay mộ lưu ký. Không thể vào nơi này nếu thiếu sự hiểu biết, vì những kẻ được để lại làm người canh giữ sẽ không cho qua cho đến sau một kỳ kỳ tái sinh của họ trên Núi, hoặc khi giống dân gốc thứ năm bắt đầu. Trong việc xây kim tự tháp, và thứ nay được gọi là Bí Nhiệm của các Bí Nhiệm, điều này vốn định là một sự tưởng niệm —như ngày nay sẽ gọi—dành cho vị cố vấn đã cai quản hay trị vì, hoặc đã hành xử trong vai trò điều phối các sự việc vật chất trong xứ. Khi vị tư tế trở về (vì việc ấy đã bị đình lại), điều này về sau—bởi Isis, nữ hoàng, hay ái nữ của Ra—đã được chuyển sao cho trình bày cho dân chúng nơi xứ sở đó mối tương thuộc giữa con người và thế giới thú vật hay thế giới xác thịt cùng với những biến đổi phai tàn hay rơi rụng trong các hiệu ứng khác nhau của chúng. Những điều này có thể thấy được, theo một cách khác, trong nhiều tượng nhân sư các loại, như gọi, ở những phần khác của xứ—như sư tử với người, các dạng cánh khác nhau, hay các đặc trưng trong những phát triển đa tạp của chúng. Chúng là những trình bày về những phóng chiếu đã được truyền thừa qua những phát triển đa tạp về cái trở thành con người—như hiện nay.
We are through.
Chúng tôi đã xong.
[Background: Reading giving general counsel during the Great Depression.]
[Bối cảnh: Buổi đọc đưa lời khuyên chung trong thời kỳ Đại Suy Thoái.]
Reading 3976–14; November 5, 1933
Buổi đọc 3976–14; 5 tháng 11, 1933
HLC: You will give at this time that which will aid each individual present in understanding the reason and comprehensibility of that through which we as individuals are passing and experiencing in the situation economically at this time.
HLC: Lúc này, xin ông cho điều gì sẽ giúp từng cá nhân hiện diện hiểu lý do và sự khả thông của những gì mà chúng ta, với tư cách cá nhân, đang trải qua và kinh nghiệm trong tình thế kinh tế hiện thời.
EC: Yes, we have conditions economically as they exist in this land at the present time. In giving, then, an analysis of such in a manner that may be helpful for those that would seek to know themselves and the causes for the present general conditions:
EC: Vâng, chúng ta có những điều kiện kinh tế như chúng tồn tại ở xứ sở này lúc hiện tại. Vậy thì, khi đưa ra một phân tích như thế theo một cách có thể hữu ích cho những ai muốn biết chính mình và các nguyên do của những điều kiện chung hiện tại:
To be sure, these have been approached from many varied angles by those who have sought, are seeking, to find the answers to such conditions in their own experiences; and by many that are seeking, and have sought, that there might be aid, understanding, comprehension, in the experience of others.
Chắc chắn, điều này đã được tiếp cận từ nhiều góc độ đa dạng bởi những người đã tìm, đang tìm, để tìm ra lời đáp cho những điều kiện như vậy trong kinh nghiệm của riêng họ; và bởi nhiều người đang tìm, và đã tìm, để có thể có sự trợ giúp, thấu hiểu, khả thông, trong kinh nghiệm của kẻ khác.
In the very nature, though, of a nation, a people, there are some fundamental principles upon which the economic and the soul life of a nation must be founded, if such a people, such a nation, is to remain true to that which is the birthright of every soul; to pursue that which will give it as an individual the right to manifest that it would worship in its Creator.
Tuy nhiên, trong chính bản tính của một quốc gia, một dân tộc, có một số nguyên lý căn bản mà trên đó đời sống kinh tế và đời sống linh hồn của một dân tộc phải được đặt nền, nếu dân tộc ấy, quốc gia ấy, muốn giữ trung thành với điều vốn là quyền bẩm sinh của mỗi linh hồn; để theo đuổi cái sẽ cho họ, như một cá thể, quyền bày tỏ điều họ muốn thờ phượng nơi Đấng Tạo Hóa.
For, the first law that has been given to man from the beginning is: “Thou shalt have no other gods before me.” And when man has faltered, has altered that, which has deprived others from giving expression to that birthright, that command that has come to man throughout the ages, then there arises that which creates those things that are the fruits of the evil influences that are in the earth. Such as: Hate, jealousy, avarice, and the like. These make for the creating of those conditions in all walks of life for power, for position, for the love of money and that it will bring in its associations in the lives of individuals. And, as there has been just this experience in the affairs of the nation as a nation, the nation as a nation is passing through that period when each soul must turn to that thought within of what is its relation to the Creative Forces in its experience; and each soul must ask itself what it as a soul is going to do about that command that was given, and that is the privilege of every soul; to show forth that very law of love that is the birthright of every soul. For, with that command has come ever that to which mankind may expect to find himself reduced when he has forgotten that which is his first duty, and the second which is likened unto it; “Thou shalt love thy neighbor as thyself.”
Vì, định luật thứ nhất đã được ban cho con người từ buổi ban đầu là: “Ngươi chớ có các thần khác trước mặt Ta.” Và khi con người nao núng, đã thay đổi điều ấy, vốn khiến người khác bị tước mất quyền bộc lộ quyền bẩm sinh đó, mệnh lệnh đã đến với nhân loại suốt các thời đại ấy, thì bấy giờ phát sinh những điều tạo ra các thứ vốn là hoa trái của những ảnh hưởng ác đang ở trên trần. Như: Hận thù, ghen ghét, tham lam, và những thứ tương tự. Những điều này gây nên các điều kiện trên mọi nẻo đời sống vì quyền lực, vì địa vị, vì tình yêu tiền bạc và cái nó mang theo trong các mối liên hệ trong đời sống cá nhân. Và, bởi vì quốc gia như một quốc gia đã vừa trải nghiệm điều y như vậy trong những công việc của nó, nên quốc gia như một quốc gia đang đi qua thời đoạn mà mỗi linh hồn phải quay vào tư tưởng bên trong về mối liên hệ của nó với các Lực Sáng Tạo trong kinh nghiệm của mình; và mỗi linh hồn phải tự hỏi nó, như một linh hồn, sẽ làm gì với mệnh lệnh đã được ban và vốn là đặc ân của mọi linh hồn; để phơi bày chính luật yêu thương vốn là quyền bẩm sinh của mọi linh hồn. Vì, cùng với mệnh lệnh đó luôn đi kèm điều mà loài người có thể mong đợi sẽ thấy mình bị suy giảm xuống khi y quên điều là nhiệm vụ đầu tiên của mình, và điều thứ hai giống như điều ấy; “Ngươi hãy yêu người lân cận như chính mình.”
Then, this condition has been the experience in the greater portion of the whole nation, the whole world. For, that is the experience of the individual that makes for the creating in his environ, his surrounding, of that which breeds strife, that which breeds hate, that which breeds malice, that which breeds selfishness.
Vậy thì, điều kiện này đã là kinh nghiệm ở phần lớn khắp cả quốc gia, toàn thế giới. Vì, đó là kinh nghiệm của cá nhân vốn tạo nên trong môi trường của y, chung quanh y, cái nuôi dưỡng xung đột, cái nuôi dưỡng hận thù, cái nuôi dưỡng ác ý, cái nuôi dưỡng vị kỷ.
The next law, as man knows, is that “Like begets like.” And His injunction has been: “The worlds may pass away, but my Word shall not pass away; and ye shall pay to every farthing—and, as ye do unto your neighbor, as ye purpose in your heart, so will it be measured unto you.” And when conditions arise that make for distress, whether they be in body, in mind, in the economic influences in the experience of any, sin lieth at thy door. Not thine neighbor’s! Blame not the other fellow. Seek first to know within self that which has prompted thee, and when thou hast set thine house in order, when thou hast made thine peace with thine own conscience (that would smite thee, if ye will look within your own heart), then may ye find the answers that will come to every soul that seeks. For, as He has given to those of old, He is the same yesterday, today and forever. Think not as to who will ascend into heaven to bring down comfort and ease to thine own aching heart, or who will go over the seas to bring that which may be of a recompense within thine own experience, but lo! ye shall find it in your own heart!
Định luật kế tiếp, như con người biết, là “Giống nào sinh giống nấy.” Và Lời căn dặn của Ngài là: “Các thế giới có thể qua đi, nhưng Linh từ của Ta sẽ không qua đi; và các ngươi sẽ trả đến từng đồng kẽm—và, như các ngươi làm cho người lân cận, như các ngươi chủ định trong lòng, thì sẽ được đo lại cho các ngươi.” Và khi các điều kiện nảy sinh gây nên khốn khó, cho dù là trong thân, trong trí, hay trong những ảnh hưởng kinh tế trong kinh nghiệm của bất kỳ ai, thì tội lỗi nằm ngay nơi cửa của ngươi. Không phải của người lân cận! Đừng đổ lỗi cho kẻ khác. Hãy tìm biết trước hết trong tự thân điều đã thúc đẩy ngươi, và khi ngươi đã sắp đặt nhà mình cho ổn, khi ngươi đã hòa thuận với chính lương tâm mình (vốn sẽ đánh ngươi, nếu các ngươi chịu nhìn vào chính lòng mình), thì các ngươi có thể tìm ra câu đáp vốn sẽ đến với mọi linh hồn tìm kiếm. Vì, như Ngài đã ban cho những kẻ xưa kia, Ngài vẫn như hôm qua, hôm nay và đời đời. Đừng nghĩ theo kiểu ai sẽ lên trời để mang xuống sự ủi an và sự dễ chịu cho lòng ngươi đang đau nhói, hay ai sẽ vượt biển để mang đến điều có thể là một phần bồi hoàn trong kinh nghiệm của ngươi, nhưng kìa! các ngươi sẽ tìm thấy nó ngay trong lòng mình!
Thus has the lawgiver given, and thus has He said who has set the way to make the intercession for man: “I will not leave thee comfortless, if ye will seek to do my biddings.”
Vậy nên vị ban luật đã ban như thế, và Đấng đã lập Con Đường để chuyển cầu cho nhân loại cũng đã phán rằng: “Ta sẽ không để ngươi mồ côi an ủi, nếu các ngươi tìm làm theo điều Ta truyền.”
Many would say, “Yea, this is beautiful; yet it does not feed the hungry nor clothe those that are naked, nor make shelter for those that are cold.”
Nhiều người sẽ nói, “Phải, điều này thật đẹp; nhưng nó không nuôi kẻ đói, không mặc cho kẻ trần truồng, không che chở cho kẻ giá lạnh.”
Who is—Who is—the representative of the Father in the earth? Hath not He committed unto mankind the keeping of his brother? Hast thou answered that question that has been of old in thine experience; “Am I My Brother’s Keeper?” The answer that should ring in the heart and soul of every individual is: “Know ye not that the blood of your brother crieth unto me from the ground!”
Ai—Ai là —đại diện của Cha nơi trần thế? Há chẳng phải Ngài đã ủy thác cho loài người việc gìn giữ anh em mình đó sao? Ngươi đã đáp câu hỏi xưa kia trong chính kinh nghiệm của ngươi chưa; “Há Ta là Người Canh Giữ Anh Em Ta sao?” Câu đáp đáng lẽ phải vang lên trong tim và linh hồn của mỗi cá nhân là: “Há các ngươi không biết máu của anh em các ngươi kêu đến Ta từ đất sao!”
So, in the experience of those that have sent and made the conditions are greed, selfishness; that has been practiced in the minds, in the lives, in the experience of the nation. Think not any soul, “Yea, that is true for the other fellow.” But it applies to Jim, to Tom, to those in ordinary walks of life, to those who have been given those powers in high places, those that have wealth about them; they are the oppressors; yea, look within thine own heart! Hast thou not practiced the same? For, as it has been given, “Yea, though there be only ten just men, they may save the city; they may save the nation; they may save the world,” if they will but practice in their daily experience that which has been the command from the first: “Thou shalt love the Lord thy God with all thine heart, and thy neighbor as thyself.”
Vậy thì, trong kinh nghiệm của những kẻ đã gửi đi và đã tạo nên các điều kiện chính là lòng tham, lòng vị kỷ; những thứ đã được thực hành trong tâm trí, trong đời sống, trong kinh nghiệm của quốc gia. Đừng nghĩ linh hồn nào rằng, “Phải, điều đó đúng với kẻ khác.” Nhưng nó áp vào Jim, vào Tom, vào những người trong nẻo đời thường nhật, vào những kẻ đã được trao quyền ở chốn cao, những kẻ có giàu có quanh mình; họ là kẻ áp bức; vâng, hãy nhìn vào chính lòng ngươi! Há ngươi chưa từng thực hành điều y như vậy sao? Vì, như đã được ban, “Phải, dẫu chỉ có mười người công chính, họ có thể cứu thành; họ có thể cứu quốc gia; họ có thể cứu thế giới,” nếu họ chỉ thực hành trong kinh nghiệm hằng ngày điều đã là mệnh lệnh từ buổi đầu: “Ngươi hãy yêu Chúa, là Thượng Đế ngươi, hết lòng, và yêu người lân cận như chính mình.”
This is the basis of all spiritual law; and to you would there be given as this:
Đây là nền tảng của mọi luật tinh thần; và cho các ông, sẽ có điều này:
There is no activity in the experience of man that has not its inception or purpose in the spirit of those injunctions but what must fail; unless it is founded in the spirit of truth.
Không có hoạt động nào trong kinh nghiệm của con người mà không có khởi nguyên hay mục đích trong tinh thần của những lời căn dặn ấy mà lại không ắt thất bại; trừ phi nó được đặt nền trong tinh thần của chân lý.
Hence each would ask, then: “What must I do about it; not what shall this, that or the other ruler, other office holder, or the other individual do” but each should ask, “What must I do about the economic conditions in which we find ourselves?”
Vậy nên mỗi người sẽ hỏi: “Tôi phải làm gì về việc này; chứ không phải người cầm quyền kia, người giữ chức nọ, hay cá nhân kia phải làm gì” mà mỗi người nên hỏi, “Tôi phải làm gì về những điều kiện kinh tế mà chúng ta thấy mình đang ở trong đó?”
So live each day, each hour, as to put into practice those precepts, those influences in thine own life, and in the life of all ye contact day by day. For, He hath said, “Though ye wander far afield, if ye will cry unto me, if ye will ask, if ye will draw unto me, I will draw nigh unto thee; and my help, my arm is not short as man’s counting of shortness, but will bring to thee speedily that which is the desire of thine heart, if it is conceived in righteousness.”
Hãy sống mỗi ngày, mỗi giờ, để đem những giới huấn ấy, những ảnh hưởng ấy vào thực hành trong chính đời sống của ngươi, và trong đời sống của tất cả những ai các ngươi tiếp xúc hằng ngày. Vì, Ngài đã phán, “Dầu các ngươi lang bạt xa xăm, nếu các ngươi kêu cầu Ta, nếu các ngươi xin, nếu các ngươi kéo Ta lại gần, Ta sẽ đến gần ngươi; và sự trợ giúp của Ta, cánh tay Ta không ngắn như cách con người đếm là ngắn, mà sẽ mau chóng đem đến cho ngươi điều là ước nguyện của lòng ngươi, nếu nó được hoài thai trong sự công chính.”
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Will the National Industry Recovery Act be of lasting benefit to the country?
(H) Đạo luật Phục Hồi Công Nghiệp Quốc Gia sẽ mang lợi ích lâu dài cho đất nước chăng?
(A) If it is accepted in the manner in which it was purposed, it will bring in the experience of many lasting benefits. It of itself can do nothing. The applying of the principles (not tenets, principles!) in same will bring lasting aid to the nation. For, the purpose is conceived in truth.
(Đ) Nếu nó được tiếp nhận đúng theo cách thức nó được chủ định, nó sẽ mang đến trong kinh nghiệm của nhiều người những lợi ích lâu bền. Bản thân nó không thể làm gì. Việc áp dụng những nguyên lý (không phải tín điều, mà là nguyên lý!) trong đó sẽ đem sự trợ giúp bền vững cho quốc gia. Vì, mục đích được hoài thai trong chân lý.
(Q) Will there be any changes made in this act?
(H) Sẽ có thay đổi nào được thực hiện trong đạo luật này không?
(A) As indicated from that just given, all do not measure up. Some changes, then, must be made to meet the emergencies, to meet the conditions that are over-averse in their activities respecting same.
(Đ) Như đã gợi ý từ điều vừa nêu, không phải tất cả đều đạt chuẩn. Vậy nên, phải có vài thay đổi để ứng phó khẩn cấp, để đáp ứng những điều kiện vốn ngược chiều trong các hoạt động của họ liên quan đến đạo luật này.
(Q) Is [Henry] Ford’s attitude towards this Act right?
(H) Lập trường của [Henry] Ford đối với Đạo luật này có đúng không?
(A) As to any individual, who is to judge his brother? As given of old, “Judge not lest ye be judged.” Who are ye to judge what the other would do? Hast thou been in the same position, in the same place? Are thine own purposes and desires pure? Then, do not judge your brother!
(Đ) Với bất kỳ cá nhân nào, ai là người phán xét anh em mình? Như lời xưa, “Đừng phê phán để khỏi bị phê phán.” Các ngươi là ai mà phán xét điều người khác sẽ làm? Há ngươi đã ở trong cùng vị thế, cùng chỗ ấy chưa? Mục đích và ước muốn của chính ngươi có tinh sạch chăng? Vậy thì, đừng phán xét anh em ngươi!
(Q) Suggest changes that could be made in our present monetary system to improve conditions.
(H) Đề nghị những thay đổi có thể thực hiện trong hệ thống tiền tệ hiện tại của chúng ta để cải thiện tình hình.
(A) This would of itself require much to be said, respecting the changes that have been made and that have been suggested throughout—[Note: Just then Mr. Z. passed a paper with a question across the couch, over Mr. Cayce, to Hugh Lynn, and the reading was stopped. After a few minutes, Hugh Lynn gave the suggestion to wake up. EC rose from the couch in an upright position as if being propelled by an unseen lever or pulley, without unfolding his hands from his solar plexus or using them in any way to rise to his feet. Individuals present remarked on and discussed this unusual phenomenon.]
(Đ) Điều này tự nó đòi hỏi phải nói nhiều, liên quan đến những thay đổi đã được thực hiện và đã được gợi ý suốt—[Ghi chú: Vừa lúc đó, ông Z. đưa một tờ giấy có câu hỏi ngang qua chiếc ghế bành, qua người ông Cayce, cho Hugh Lynn, và buổi đọc được dừng lại. Sau vài phút, Hugh Lynn đưa gợi ý để đánh thức. EC đứng bật dậy từ ghế ở tư thế thẳng đứng như thể bị một đòn bẩy hay ròng rọc vô hình nâng lên, mà không rời hai tay khỏi tùng thái dương hay dùng tay theo bất kỳ cách nào để đứng lên. Những người hiện diện đã ghi nhận và bàn luận về hiện tượng bất thường này.]
[Background: Reading given to twenty-nine-year-old male seeking “advice and guidance” regarding world affairs; reading predicted that the stage was being set for the events of World War II.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một người nam hai mươi chín tuổi tìm “lời khuyên và chỉ dẫn” về các vấn đề thế giới; buổi đọc dự đoán rằng sân khấu đang được dựng lên cho các biến cố của Thế chiến II.]
Reading 416–7; October 7, 1935
Buổi đọc 416–7; 7 tháng 10, 1935
As to the affairs of an international nature, these we find are in a condition of great anxiety on the part of many; not only as individuals but as to nations.
Về các sự vụ có tính chất quốc tế, chúng tôi thấy chúng đang ở trong tình trạng có nhiều âu lo nơi nhiều người; không chỉ với tư cách cá nhân mà cả với các quốc gia.
And the activities that have already begun have assumed such proportions that there is to be the attempt upon the part of groups to penalize, or to make for the associations of groups to carry on same.
Và những hoạt động đã khởi sự rồi đã mang quy mô đến mức sẽ có nỗ lực từ phía các nhóm nhằm trừng phạt, hoặc tạo nên các liên kết nhóm để tiếp tục các việc như thế.
This will make for the taking of sides, as it were, by various groups or countries or governments. This will be indicated by the Austrians, Germans, and later the Japanese joining in their influence; unseen, and gradually growing to those affairs where there must become, as it were, almost a direct opposition to that which has been the theme of the Nazis (the Aryan). For these will gradually make for a growing of animosities.
Điều này sẽ khiến cho nhiều nhóm hay quốc gia hay chính phủ, như thể, phải chọn phe. Điều này sẽ được biểu thị bởi người Áo, người Đức, và sau đó là người Nhật tham gia bằng ảnh hưởng của họ; âm thầm, và dần dần lớn lên tới mức can dự vào những sự vụ mà nơi đó gần như phải trở thành một đối nghịch trực diện với điều vốn là chủ trương của người Quốc Xã (Arya). Vì những điều này sẽ dần làm tăng các hằn thù.
And unless there is interference from what may be called by many the supernatural forces and influences, that are activative in the affairs of nations and peoples, the whole world—as it were—will be set on fire by the militaristic groups and those that are “for” power and expansion in such associations.
Và trừ phi có sự can thiệp từ những gì mà nhiều người có thể gọi là các lực và ảnh hưởng siêu nhiên, vốn đang được khởi hoạt trong các sự vụ của các quốc gia và các dân tộc, thì cả thế giới —như thể—sẽ bị các nhóm quân phiệt và những kẻ “vì” quyền lực và bành trướng trong những liên kết như vậy thiêu đốt.
Ready for questions...
Sẵn sàng cho các câu hỏi...
(Q) Kindly give me any advice that will benefit me spiritually, physically, mentally.
(H) Vui lòng cho tôi lời khuyên nào có lợi cho tôi về mặt tinh thần, thể xác, trí tuệ.
(A) Much might be given in these directions. These are not just as trite sayings, but rather make them as a portion of the inner self, as may be felt by self in its associations with its fellow man day by day, in associations with those of organizations or corporations. These should be considered as a unit: Study to show self approved unto thy Maker, thy better self. Purposefulness, then, in that done or accomplished or thought, that brings constructive influence and experience into the hearts and minds and lives of individuals. It isn’t the great things. No great deeds of valor are accomplished without ages of preparation in the soul of one that accomplishes same. It is just being kind, just being gentle, just being patient, first with self and self’s relationships to thy fellow man. These are not principles that are for the church alone, nor for the lodge, nor social organizations; but more and more the principles to be applied in the experience of the business man, the social man, in the everyday life. Thus may better the glory of the Lord shine through thine experience. How much greater in the experience of each soul to at the end of any given day have the satisfaction of the best within self say to thee, “Well done!” than to have all the glory of man that you have tricked or have overstepped in some manner that may have been for material gain! These, then, will keep thee in the right way.
(Đ) Có thể nói nhiều theo những hướng này. Đây không chỉ là những lời nói tầm thường, mà hãy khiến chúng thành một phần của tự ngã bên trong, như có thể được cảm bởi tự ngã trong các mối liên hệ với đồng loại hằng ngày, trong các liên hệ với những tổ chức hay công ty. Những điều này nên được xem như một khối thống nhất: Hãy học để trình chính mình được chấp thuận trước Đấng Tạo Hóa, trước chân ngã tốt đẹp hơn của ngươi. Sự có chủ đích, vậy, trong điều được làm hay hoàn tất hay suy tưởng, điều đem lại ảnh hưởng và kinh nghiệm xây dựng vào trong tâm và trí và đời sống của mọi người. Không phải những điều vĩ đại. Không có những chiến công hiển hách nào được hoàn thành mà không có những thời đại chuẩn bị trong linh hồn của người thực hiện điều ấy. Chỉ là biết tử tế, biết hiền hòa, biết nhẫn nại, trước hết với chính mình và các mối tương quan của mình với đồng loại. Đây không phải là những nguyên lý chỉ dành cho nhà thờ, hay cho hội kín, hay cho tổ chức xã hội; mà càng ngày càng là những nguyên lý cần được áp dụng trong kinh nghiệm của người kinh doanh, người xã hội, trong đời sống thường nhật. Như vậy vinh quang của Chúa mới có thể tỏa rạng qua kinh nghiệm của ngươi. Biết bao lớn lao hơn trong kinh nghiệm của mỗi linh hồn là, vào cuối bất kỳ một ngày nào, có sự thỏa lòng của phần thiện trong chính mình nói với ngươi, “Tốt lắm!” hơn là có mọi vinh quang của loài người mà ngươi đã lừa gạt hay đã vượt rào bằng cách nào đó vì lợi lộc vật chất! Những điều này, vậy, sẽ giữ ngươi ở trong nẻo ngay.
(Q) Regarding the general world conditions, is it likely that changes in the earth’s surface in the Mediterranean area will stop Italy’s campaign against Ethiopia?
(H) Liên quan đến các điều kiện thế giới nói chung, liệu những thay đổi ở bề mặt đất tại vùng Địa Trung Hải có chặn cuộc chiến dịch của Ý chống Ê-thi-ô-pi-a không?
(A) Not at this particular period. This may eventually be a portion of the experience, but not just yet.
(Đ) Không vào thời kỳ đặc thù này. Điều này rồi sẽ rốt cuộc là một phần của kinh nghiệm, nhưng chưa phải lúc này.
(Q) When is this likely to occur?
(H) Khi nào điều này có thể xảy đến?
(A) As to times and places and seasons, as it has indeed been indicated in the greater relationships that have been established by the prophets and sages of old—and especially as given by Him, “As to the day and the hour, who knoweth? No one, save the Creative Forces.” Tendencies in the hearts and souls of men are such that these may be brought about. For, as indicated through these channels oft, it is not the world, the earth, the environs about it nor the planetary influences, nor the associations or activities, that rule man. Rather does man—by his compliance with divine law—bring order out of chaos; or, by his disregard of the associations and laws of divine influence, bring chaos and destructive forces into his experience. For He hath given, “Though the heavens and the earth pass away, my word shall not pass away!” This is oft considered as just a beautiful saying, or something to awe those who have been stirred by some experience. But applying them into the conditions that exist in the affairs of the world and the universe in the present, what holds them—what are the foundations of the earth? The word of the Lord!
(Đ) Về thì-khi và nơi-chốn và các mùa-kỳ, như thực sự đã được chỉ ra trong các mối liên hệ lớn lao hơn đã được thiết lập bởi các đấng tiên tri và hiền triết thời xưa—và đặc biệt như Ngài đã ban: “Còn về ngày và giờ, ai biết được? Không ai, ngoại trừ các Lực Sáng Tạo.” Các khuynh hướng trong lòng và linh hồn loài người là như vậy nên những điều này có thể được gây nên. Vì, như đã nhiều lần chỉ qua những kênh này, không phải thế giới, địa cầu, môi trường quanh nó hay các ảnh hưởng hành tinh, cũng chẳng phải các liên hệ hay hoạt động, cai quản con người. Đúng hơn, con người—nhờ sự tuân phục của y với luật thiêng—mang trật tự ra từ hỗn mang; hoặc, bởi sự xem nhẹ những liên hệ và luật của ảnh hưởng thiêng liêng, mang hỗn mang và các lực hủy diệt vào kinh nghiệm của mình. Vì Ngài đã phán, “Dầu trời và đất qua đi, Linh từ Ta vẫn không qua đi!” Điều này thường bị xem như chỉ là một lời nói đẹp, hay là cái gì đó khiến sững sờ những ai đã bị khuấy động bởi một kinh nghiệm nào đó. Nhưng khi đem chúng áp vào những điều kiện đang tồn tại trong những sự vụ của thế giới và vũ trụ hiện nay, điều gì gìn giữ chúng—nền tảng của địa cầu là gì? Ấy là Linh từ của Chúa!
(Q) Will the League [of Nations] attempt to force other than economic sanctions?
(H) Liệu Hội [các Quốc Gia] sẽ tìm cách áp đặt các trừng phạt khác ngoài trừng phạt kinh tế?
(A) As indicated. The economic sanction, and then the turmoil that arises from partisans—and questions picked here and there by those unions. Latvia, Greece, Turkey, Italy, Austria, Bulgaria, Japan—of these (and with German influence) be mindful!
(Đ) Như đã gợi ý. Trừng phạt kinh tế, rồi sự rối ren nảy sinh từ những kẻ bè phái—và những vấn đề bị lôi ra đây đó bởi các công đoàn đó. Latvia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Áo, Bulgaria, Nhật Bản—trong số này (và với ảnh hưởng của Đức) hãy cảnh giác!
We are through for the present.
Chúng tôi tạm kết thúc.
[Background: Reading given to a fifty-year-old male who asked about the possibility of earthquakes occurring in San Francisco in 1936.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một người nam năm mươi tuổi hỏi về khả năng xảy ra động đất ở San Francisco năm 1936.]
Reading 270–35; January 1, 1936
Buổi đọc 270–35; 1 tháng 1, 1936
(Q) What is the primary cause of earthquakes? Will San Francisco suffer from such a catastrophe this year? If so, give date, time and information for the guidance of this body, who has personal property, records and a wife, all of which it wishes safety.
(H) Nguyên nhân chủ yếu của động đất là gì? San Francisco có chịu một tai ương như vậy trong năm nay không? Nếu có, xin cho ngày, giờ và thông tin để hướng dẫn người này, người có tài sản cá nhân, hồ sơ và một người vợ, tất cả đều muốn được an toàn.
(A) We do not find that this particular district (San Francisco) in the present year will suffer the great material damages that have been experienced heretofore. While portions of the country will be affected, we find these will be farther east than San Francisco—or those south, where there has not been heretofore the greater activity. The causes of these, of course, are the movements about the earth; that is, internally—and the cosmic activity or influence of other planetary forces and stars and their relationships produce or bring about the activities of the elementals of the earth; that is, the Earth, the Air, the Fire, the Water—and those combinations make for the replacements in the various activities. If there are the greater activities in the Vesuvius, or Pelee, then the southern coast of California—and the areas between Salt Lake and the southern portions of Nevada—may expect, within the three months following same, an inundation by the earthquakes. But these, as we find, are to be more in the southern than in the northern hemisphere.
(Đ) Chúng tôi không thấy khu vực đặc thù này (San Francisco) trong năm hiện tại sẽ chịu những thiệt hại vật chất lớn lao như đã từng trải qua trước đây. Trong khi một số phần của xứ sở sẽ bị ảnh hưởng, chúng tôi nhận thấy những phần này sẽ ở xa hơn về phía đông so với San Francisco—hoặc những nơi về phía nam, nơi chưa từng có hoạt động lớn hơn trước đây. Nguyên nhân của những điều này, dĩ nhiên, là các chuyển động quanh địa cầu; tức là, bên trong—và hoạt hóa hay ảnh hưởng vũ trụ của các mãnh lực hành tinh và các sao khác và các mối liên hệ của chúng sản sinh hay gây nên những hoạt động của các hành khí của Địa cầu; tức là, Đất, Khí, Lửa, Nước—và những phối kết đó làm cho sự sắp đặt lại trong các hoạt động khác nhau. Nếu có hoạt động lớn hơn ở Vesuvius, hoặc Pelée, thì bờ nam của California—và các vùng giữa Salt Lake và những phần phía nam của Nevada—có thể mong đợi, trong vòng ba tháng sau đó, sự tràn ngập bởi các trận động đất. Nhưng như chúng tôi nhận thấy, những điều này sẽ nhiều hơn ở bán cầu nam so với bán cầu bắc.
[Background: Reading obtained to provide information on “general economic conditions.”]
[Bối cảnh: Buổi đọc được lấy để cung cấp thông tin về “các điều kiện kinh tế tổng quát.”]
Reading 3976–16; April 18, 1936
Buổi đọc 3976–16; 18 tháng 4, 1936
GC: You will have before you members of the Economic Research Committee of the Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., some of whom are present in this room. It is their desire periodically to secure information through this channel pertaining to general economic conditions and trends of mass thought and action both here and abroad, with particular reference to the effects of such conditions and mass thought and action on individuals in this country. It is their further desire to give the information received such publicity as will make its use generally beneficial. You will advise and direct them as to how best to conduct such a series of readings, what types of information should prove most beneficial and how best to make the information available. You will answer questions.
GC: Quý vị sẽ có trước quý vị các thành viên của Ủy ban Nghiên cứu Kinh tế thuộc Ass’n for Research & Enlightenment, Inc., một số người hiện đang có mặt trong phòng này. Họ mong muốn định kỳ nhận thông tin qua kênh này liên quan đến các điều kiện kinh tế chung và khuynh hướng tư tưởng và hành động quần chúng ở đây và ở nước ngoài, đặc biệt xét đến ảnh hưởng của những điều kiện và tư tưởng, hành động quần chúng như vậy đối với các cá nhân ở xứ này. Họ còn mong muốn quảng bá thông tin nhận được theo cách khiến việc sử dụng thông tin ấy trở nên hữu ích rộng rãi. Xin quý vị khuyên dẫn họ về cách tốt nhất để thực hiện chuỗi buổi đọc như vậy, loại thông tin nào sẽ tỏ ra hữu ích nhất và cách tốt nhất để phổ biến thông tin. Quý vị sẽ trả lời các câu hỏi.
EC: Yes, we have the desires of those present relative to conditions general and specific.
EC: Vâng, chúng ta nắm được ước muốn của những người hiện diện liên quan đến các điều kiện chung và riêng.
In considering such a subject and in the approach to same, seeking through such a channel, this should be done with first the nature or the approach of such information and as to how helpful same may be in the experience of individuals.
Khi xét một chủ đề như vậy và trong cách tiếp cận nó, khi tìm qua một kênh như vậy, điều này nên được thực hiện trước hết với bản chất hay cách tiếp cận loại thông tin như thế và về việc điều tương tự có thể hữu ích thế nào trong kinh nghiệm của các cá nhân.
It is, then, with a great deal of forethought that such would be attempted, not only from the viewpoint of the characters that may be presented in such information from period to period; but each individual as an individual must assume a great obligation upon his own part.
Vậy thì, cần cân nhắc rất nhiều trước khi thử làm như thế, không chỉ từ quan điểm về những nhân vật có thể được nêu trong thông tin như vậy theo từng thời đoạn; mà mỗi cá nhân, như một cá nhân, phải tự mình gánh lấy một nghĩa vụ lớn lao.
For to know and not to do, to him it becomes sin.
Vì biết mà không làm, đối với người ấy trở thành tội.
Hence in such an approach, they each should weigh well in the balance as to whether there are ulterior motives or whether they are of the nature that is rather just wonderment, and with little thought or idea of what such information might put upon them as individuals. And again as to whether such would be used for that of personal gain, or is it to be given to all who would in themselves seek?
Bởi vậy, trong cách tiếp cận như thế, mỗi người nên cân đo cho kỹ trong cán cân xem có động cơ kín ẩn nào chăng hay liệu chúng có thuộc bản chất chỉ là tò mò, và ít nghĩ suy hay ý thức về việc thông tin như vậy có thể đặt lên họ những gì với tư cách cá nhân. Và một lần nữa là liệu những điều đó sẽ được dùng cho tư lợi, hay sẽ được trao cho mọi người muốn tự mình tìm cầu?
For, as has ever been given from old, they that set themselves in array must either choose to serve those in high places or to serve mankind as a whole.
Vì, như xưa nay đã được ban, những ai tự xếp mình thành hàng ngũ thì hoặc phải chọn phục vụ những kẻ ở chốn cao, hoặc phục vụ nhân loại như một toàn thể.
These questions, these considerations, should first be determined, then, in the mind, in the heart of each that may seek.
Những câu hỏi, những suy xét này, vậy, phải được xác quyết trước, trong tâm trí, trong trái tim của mỗi người sẽ tìm cầu.
Then there comes the how, or in what manner may these be given that would be of a helpful, hopeful nature to the seeker, as well as to what would such a seeker do with that as may be given as information that is affecting and will affect not only themselves but their fellowman.
Rồi đến chuyện làm thế nào, hay bằng cách nào những điều này có thể được trao ra để hữu ích, đem hy vọng cho người tìm cầu, cũng như người tìm cầu sẽ làm gì với điều được trao như thông tin vốn đang và sẽ ảnh hưởng không chỉ họ mà cả đồng loại họ.
Through those channels of that organization, then, or through any that in sincerity seek by their own equipment or enquirement, or their sincerity, such information should be given to those that ask for same. But with those same warnings that he that uses same for his own personal aggrandizement does so to his own undoing.
Vậy thì qua những kênh của tổ chức đó, hoặc qua bất kỳ ai thành tâm tìm cầu dựa trên thiết bị riêng của họ hay sự tra vấn của họ, hoặc sự thành tâm của họ, những thông tin như vậy nên được trao cho những ai xin điều ấy. Nhưng kèm theo những cảnh báo tương tự rằng ai dùng những điều đó cho sự tự đề cao của chính mình thì làm như vậy là chuốc lấy sự diệt vong cho chính mình.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Explain from what sources this information may be obtained.
(H) Giải thích các nguồn từ đó có thể lấy được thông tin này.
(A) Conditions, thoughts, activities of men in every clime are things; as thoughts are things. They make their impressions upon the skein of time and space. Thus, as they make for their activity, they become as records that may be read by those in accord or attuned to such a condition. This may be illustrated in the wave length of the radio or of such an activity. They (the activities, etc.) go upon the waves of light, upon that of space. And those instruments that are attuned to same may hear, may experience, that which is being transmitted. Hence do not in seeking confuse thyself that there may not be variations as to the interpretations of economic influences or forces that are being enacted in the thought and activity of varied groups. Just as either [ether?] program may be sent from any given activity. The outer world is only an activity of the shadow world.
(Đ) Các điều kiện, tư tưởng, hoạt động của con người ở mọi xứ đều là những vật; như tư tưởng là vật. Chúng in dấu ấn của mình lên cuộn chỉ của thời-gian và không-gian. Do đó, khi chúng tạo nên hoạt động, chúng trở thành như các ký lục có thể được đọc bởi những ai tương hợp hay đồng điệu với điều kiện như thế. Điều này có thể minh họa bằng bước sóng của vô tuyến hay một hoạt động tương tự. Chúng (các hoạt động, v.v.) đi trên các làn sóng ánh sáng, trên cái của không gian. Và những khí cụ đồng điệu với điều ấy có thể nghe, có thể trải nghiệm điều đang được truyền đi. Vậy nên, đừng trong lúc tìm kiếm mà làm rối bản thân rằng không thể có các dị biệt về diễn giải những ảnh hưởng hay lực kinh tế đang được thể hiện trong tư tưởng và hoạt động của các nhóm khác nhau. Cũng như bất kỳ chương trình nào [dĩ thái?] có thể được gửi đi từ bất kỳ hoạt động nào đã cho. Thế giới bên ngoài chỉ là một hoạt động của thế giới bóng hiện.
(Q) Give the proper suggestion for establishing the highest possible contacts for each reading.
(H) Hãy cho gợi ý thích hợp để thiết lập những tiếp xúc cao nhất có thể cho mỗi buổi đọc.
(A) This depends upon that source, that station, that activity that is to be interpreted. For each influence is set as has been given; as a consciousness of this, that or the other land. And those in authority or the greater influence of that group or nation are then as a unit, as a station. And these then would be merely the contact of that which is the universal consciousness of America, Canada, Britain, Italy, France, Japan, the East, the West, or what not.
(Đ) Điều này tùy thuộc vào nguồn, trạm, hoạt động sẽ được diễn dịch. Vì mỗi ảnh hưởng đều được an vị như đã được ban; như một tâm thức của xứ này, xứ khác. Và những kẻ có thẩm quyền hay ảnh hưởng lớn hơn của nhóm hay quốc gia đó bấy giờ là như một khối, như một trạm. Và rồi đây sẽ chỉ là mối tiếp xúc với cái gọi là tâm thức phổ quát của Mỹ, Canada, Anh, Ý, Pháp, Nhật, phương Đông, phương Tây, hay gì gì nữa.
(Q) How frequently should readings be given?
(H) Nên thực hiện các buổi đọc với tần suất nào?
(A) If such a group uses same properly, they may only be altered by how well that as may be given is applied in the experience of the seeker. For to have, to know and not do, not to make practical, not to make active, becomes (such information) as stumblingblocks. What read ye, how interpret ye that which prompted this land in its separating itself or binding itself for a functioning in the affairs, the experiences of man? What prompted that? What prompted that binding of themselves in an activity? These become the basic forces in the economic relations of a peoples of any nation. There has arisen and there is arising in the affairs and the experiences of man everywhere the necessity of there being not so much the consideration of a land as of all lands as a unit. For mankind is his brother, and thou art thy brother’s keeper. The closest there has come [to] the laying of an ideal was when those nations, those representatives of many nations sat as in council. [According to the Cayce readings, during President Wilson’s negotiations for the League of Nations, Spirit had actually sat with Wilson during the meetings.] And yet man’s greed, man’s fear of his own self, so entered in that it became as a stumblingblock for the world. And there has arisen from same those influences, those forces that have become crystallized in the minds of individuals that have gathered about themselves and crystallized into activity such an influence that soon there must be a reckoning. For again has the Prince of Peace been crucified upon the altar, the cross of greed!
(Đ) Nếu một nhóm biết dùng điều đó một cách đúng đắn, thì chỉ có thể thay đổi theo mức độ điều được ban được áp dụng ra sao trong kinh nghiệm của người tìm cầu. Vì có, biết mà không làm, không khiến nó trở nên thực tiễn, không làm cho nó trở nên hoạt động, thì (thông tin như thế) trở thành hòn đá vấp. Các ông đọc gì, các ông diễn giải thế nào về điều thúc đẩy xứ sở này khi nó tách mình ra hay khi nó ràng buộc mình lại để vận hành trong những sự vụ, những kinh nghiệm của con người? Điều gì đã thúc đẩy điều đó? Điều gì thúc đẩy sự tự ràng buộc trong một hoạt động? Đây trở thành các mãnh lực nền tảng trong các mối liên hệ kinh tế của một dân tộc ở bất kỳ quốc gia nào. Đã nảy sinh và đang nảy sinh trong các sự vụ và kinh nghiệm của con người khắp nơi, sự cần thiết không phải là xét đến một xứ, mà là xét đến mọi xứ như một khối. Vì nhân loại là anh em của nhau, và ngươi là người canh giữ anh em mình. Gần nhất với việc đặt một lý tưởng là khi các quốc gia ấy, những đại diện của nhiều quốc gia ấy, ngồi như trong mật nghị. [Theo các buổi đọc của Cayce, trong lúc Tổng thống Wilson thương thảo về Hội Quốc Liên, Thần Linh thực sự đã ngồi với Wilson trong các cuộc họp.] Thế mà lòng tham của con người, nỗi sợ chính mình của con người, đã chen vào đến nỗi nó trở nên như hòn đá vấp cho thế giới. Và đã nảy sinh từ đó những ảnh hưởng, những lực đã kết tinh trong tâm trí các cá nhân, vốn đã tụ hội quanh chính họ và kết tinh thành hoạt động một ảnh hưởng đến mức sớm thôi phải có một cuộc quyết toán. Vì một lần nữa, Vị Hoàng Tử Hòa Bình đã bị đóng đinh trên bàn thờ, trên thập giá của lòng tham!
We are through for the present.
Chúng tôi tạm kết thúc.
[Background: Reading given to forty-eight-year-old male regarding the economy and militaristic actions occurring abroad.]
[Bối cảnh: Buổi đọc dành cho một người nam bốn mươi tám tuổi liên quan đến kinh tế và các hành động quân phiệt diễn ra ở hải ngoại.]
Reading 270–30; February 13, 1933
Buổi đọc 270–30; 13 tháng 2, 1933
(Q) Will the Japanese concept of aggrandizement by militaristic aggression result in a declaration of war between Japan and the United States during the year 1936?
(H) Liệu quan niệm bành trướng bằng chủ nghĩa quân phiệt của người Nhật có dẫn đến tuyên bố chiến tranh giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ trong năm 1936 không?
(A) There are too many conditions to be considered, that may be of greater import and more far-reaching in importance even than wars, during 1936! As to the militaristic attitude and activities of the Japanese and those countries in that particular portion of the sphere, as we find, there will be a great deal more militaristic movements between now and ‘36 than during ‘36, in that particular field—unless there’s some mighty changes in the affairs!
(Đ) Có quá nhiều điều kiện cần xét, có thể còn hệ trọng hơn và có tầm với xa hơn cả chiến tranh, trong năm 1936! Về thái độ và hoạt động quân phiệt của người Nhật và các xứ sở ở khu vực đặc thù đó của quả cầu, như chúng tôi thấy, sẽ có nhiều chuyển động quân phiệt từ nay đến ‘36 hơn là trong năm ‘36, ở lĩnh vực đặc thù ấy—trừ phi có những thay đổi lớn lao trong các sự vụ!
(Q) The belief is held that the aeroplane manufacturing and transportation industry will become the outstanding cornerstone to mark this country’s return to prosperity, just as the automobile industry did in 1921 and the radio activity did in 1925. Is this correct?
(H) Người ta tin rằng ngành sản xuất và vận tải máy bay sẽ trở thành viên đá tảng nổi bật đánh dấu sự trở lại phồn vinh của xứ này, như ngành ô tô đã làm năm 1921 và hoạt động vô tuyến đã làm năm 1925. Điều đó có đúng không?
(A) Partially so, yes. It may be given as the most outstanding change that would come, but the real basis of the change must come in the attitude of the classes with the masses, and the abilities for those in selective fields or positions to act more coordinatingly with the spiritual upliftment of all to a higher position as related to the affairs of groups, classes and masses.
(Đ) Đúng một phần, phải. Có thể coi đây là thay đổi nổi bật nhất sẽ đến, nhưng nền tảng thực sự của sự thay đổi phải đến trong thái độ giữa các giai tầng với quần chúng, và năng lực của những người ở các lĩnh vực hay vị trí tuyển chọn để hành động điều hòa hơn với sự nâng đỡ tinh thần của mọi người lên một địa vị cao hơn liên hệ đến các sự vụ của các nhóm, các giai tầng và quần chúng.
(Q) Has time and the constant evolutionary changes corrected the mind of the people so that a statement on the business outlook for this year can be given?
(H) Thời gian và những đổi thay tiến hóa liên tục đã điều chỉnh tâm trí người dân đủ để có thể đưa ra một nhận định về triển vọng kinh doanh cho năm nay chưa?
(A) It will be on the improve in this year! for the definite change, definite turn of affairs! As may be seen from that which took place in Germany, Russia, Japan, on or about the 29th of January, and between the 29th of January and the 4th of February, the change will make for a leavening or a stabilizing (after many trials) to different conditions.
(Đ) Năm nay sẽ có sự cải thiện! vì sự thay đổi dứt khoát, chuyển hướng dứt khoát của các sự vụ! Như có thể thấy từ điều đã xảy ra ở Đức, Nga, Nhật, vào khoảng ngày 29 tháng Giêng, và giữa ngày 29 tháng Giêng và mồng 4 tháng Hai, sự thay đổi sẽ mang lại yếu tố gây men hay ổn định hóa (sau nhiều thử thách) hướng tới những điều kiện khác.
(Q) Any other advice for this body at this time?
(H) Có lời khuyên nào khác cho người này lúc này không?
(A) Many fields of thought may be considered by the body, and—as indicated from time to time—the abilities are such, as from the developments of the entity through his experience in the material planes, that holding to an ideal—working with same, for same, living for same, willing to die for same if necessary—is the best policy!
(A) Nhiều lãnh vực tư tưởng có thể được đương sự cân nhắc, và—như đôi khi đã nêu—các khả năng là như vậy, do những phát triển của thực thể qua kinh nghiệm của y trong các cõi hồng trần, đến nỗi bám giữ một lý tưởng—làm việc với lý tưởng ấy, vì lý tưởng ấy, sống cho lý tưởng ấy, sẵn lòng chết vì lý tưởng ấy nếu cần—là chủ trương tốt nhất!
[Background: Follow-up reading given to forty-nine-year-old male regarding the economy and the possibility of earth changes.]
[Background: Buổi đọc theo sau dành cho một nam giới bốn mươi chín tuổi liên quan đến kinh tế và khả năng có những biến đổi của Trái Đất.]
Reading 270–32; June 12, 1934
Buổi đọc 270–32; 12 tháng 6, 1934
(Q) Please interpret the astrological situation respecting the economic trend of business and inform me of the outlook to expect for the rest of this year.
(Q) Xin diễn giải tình hình chiêm tinh học liên quan đến xu thế kinh tế của hoạt động thương mại và cho tôi biết triển vọng có thể chờ đợi trong phần còn lại của năm nay.
(A) As we find, while there are many conditions in some fields of activity that will be in the position of requiring changes in the present status of production in the area for the agricultural activity, the general commercial activities throughout this land will continue to be nearer and nearer to a normalcy. To be sure, there will be in various local conditions that which will affect more or less transmission lines with which the body is associated—be local conditions to be met, but the general will continue on the improve; and, as may be seen in the coming elections in the fall, the general trend of the public opinions as related to the activities in the affairs of the nation as a whole and particularly as related to the commercial associations abroad—will be for the greater expansion—in the abroad.
(A) Như chúng tôi nhận thấy, dù có nhiều điều kiện trong một số lãnh vực hoạt động sẽ ở vào vị thế đòi hỏi thay đổi trong tình trạng sản xuất hiện tại tại khu vực hoạt động nông nghiệp, thì các hoạt động thương mại nói chung khắp xứ sở này sẽ tiếp tục tiến gần hơn và gần hơn nữa tới mức bình thường. Dĩ nhiên, trong các điều kiện địa phương khác nhau sẽ có những yếu tố ảnh hưởng ít nhiều đến các tuyến truyền tải mà đương sự có liên hệ—là những điều kiện địa phương cần được xử lý, nhưng tổng thể vẫn sẽ tiếp tục cải thiện; và, như có thể thấy trong kỳ bầu cử mùa thu sắp tới, xu thế chung của dư luận quần chúng liên quan đến các hoạt động trong công việc chung của quốc gia như một tổng thể và đặc biệt là liên quan đến các hiệp hội thương mại ở hải ngoại—sẽ hướng tới sự mở rộng lớn hơn—ở hải ngoại.
(Q) Are the efforts of the administration to coordinate the attitude of the classes with the masses developing satisfactorily?
(Q) Những nỗ lực của chính quyền nhằm điều hòa thái độ giữa các tầng lớp và quần chúng có tiến triển thỏa đáng không?
(A) As we said, it will be more specifically and definitely indicated by the attitude and activity of the peoples as a whole in the coming elections...
(A) Như chúng tôi đã nói, điều này sẽ được chỉ thị một cách cụ thể và dứt khoát hơn qua thái độ và hoạt động của dân chúng như một toàn thể trong kỳ bầu cử sắp tới...
(Q) Are details of the Earth’s Eruptions in 1936 so fixed that you can give me an outline of the Pacific Coast area to be affected, along with precautionary measures to be exercised during and after this catastrophe?
(Q) Các chi tiết về Những Cuộc Phun Nổ của Địa Cầu vào năm 1936 đã cố định đến mức nào để ông có thể cho tôi một phác thảo về vùng Bờ Biển Thái Bình Dương sẽ bị ảnh hưởng, kèm theo các biện pháp phòng ngừa cần thực hiện trong và sau thảm biến này?
(A) All of these are, as is ever on or in such an activity, dependent upon individuals or groups who are in or keep an attitude respecting the needs, the desires, the necessary requirements in such a field of activity. That some are due and will occur is written, as it were, but—as we find—as to specific date or time in the present this may not be given.
(A) Tất cả những điều này, như bao giờ với một hoạt động như vậy, phụ thuộc vào các cá nhân hay nhóm người ở trong, hoặc duy trì, một thái độ phù hợp với các nhu cầu, các ao ước, các điều kiện cần thiết trong một lãnh vực hoạt động như thế. Rằng một vài điều là đến kỳ và sẽ xảy ra đã được ghi, như thể thế, nhưng—như chúng tôi nhận thấy—về ngày hay giờ cụ thể trong hiện tại thì không thể nêu ra.
(Q) Will the drought and heat in the farming area create a shortage of grain and food supplies, or is there ample surplus to meet requirements?
(Q) Hạn hán và nóng bức ở vùng canh tác có gây ra tình trạng thiếu hụt ngũ cốc và lương thực không, hay có đủ thặng dư để đáp ứng nhu cầu?
(A) As indicated in times past, the drought will create a shortage, but there is ample to meet the needs for this coming season; for the one following, well—that may be different. For, will not only in this present year have a shortage in the area of grain in America and Canada, but in the coming season in the Argentine, in Australia and Africa will be the same character of shortage. Then in ‘35 and ‘36 it will be felt the more throughout the country.
(A) Như đã chỉ ra trước đây, hạn hán sẽ gây thiếu hụt, nhưng có đủ để đáp ứng nhu cầu trong mùa sắp tới; còn mùa kế đó, thì—có thể sẽ khác. Bởi vì, không chỉ năm nay có sự thiếu hụt về ngũ cốc ở Mỹ và Canada, mà trong mùa tới tại Argentina, Úc và châu Phi cũng sẽ có thiếu hụt tương tự. Rồi vào ‘35 và ‘36, điều đó sẽ được cảm nhận rõ hơn trên khắp cả nước.
[Background: Reading given to Edgar Cayce in which he asked for the interpretation of a waking vision/daydream which seemed to predict World War II.]
[Background: Buổi đọc dành cho Edgar Cayce, trong đó ông xin diễn giải một thị kiến lúc tỉnh/giấc mộng ban ngày có vẻ báo trước Thế chiến II.]
Reading 294–185; June 30, 1936
Buổi đọc 294–185; 30 tháng 6, 1936
(Q) Interpret the conscious experience which Edgar Cayce recently had of seeing a chariot and man in armor? [Detailed dream described 7/22/36 in EC’s letter to Mr. [1196] in 1196–2 Reports.] I was in the garden here at work when I heard a noise like the noise of a swarm of bees. When I looked to see where they were, I saw that the noise came from a chariot in the air with 4 white horses and a driver. I did not see the face of the driver. The experience lasted only a few minutes. I was trying to persuade myself that it was not true, that it was only imagination, when I heard a voice saying, “Look behind you.” I looked and beheld a man in armor, with a shield, a helmet, knee guards, a cape but no weapon of any kind. His countenance was like the light; his armor was as silver or aluminum. He raised his hand in salute and said, “The chariot of the Lord and the horsemen thereof.” Then he disappeared. I was really weak, not from fright but from awe and wonder. [GD’s note: I heard EC say that he dropped his hoe and when he reached up his hand to mop his brow his hand came down all red looking, as if he were sweating blood. HLC later said that EC ran against him in the front hall, white and shaking, on the way to his chair in the living room.] It was a most beautiful experience and I hope I may be worthy of many more.
(Q) Xin diễn giải kinh nghiệm trong tỉnh thức mà Edgar Cayce gần đây đã có khi nhìn thấy một chiến xa và một người mặc giáp trụ? [Giấc mơ chi tiết mô tả ngày 7/22/36 trong thư của EC gửi ông [1196] trong các Báo cáo 1196–2.] Tôi đang ở ngoài vườn làm việc thì nghe một tiếng động như tiếng một đàn ong. Khi tôi nhìn xem chúng ở đâu, tôi thấy tiếng động phát ra từ một chiến xa trên không với 4 con ngựa trắng và một người đánh xe. Tôi không thấy mặt người đánh xe. Trải nghiệm chỉ kéo dài vài phút. Tôi đang cố thuyết phục mình rằng điều đó không có thật, rằng đó chỉ là tưởng tượng, thì tôi nghe một giọng nói rằng, “Hãy nhìn phía sau ngươi.” Tôi nhìn và thấy một người mặc giáp trụ, có khiên, mũ trụ, bảo vệ đầu gối, áo choàng nhưng không có vũ khí nào. Diện mạo của ông sáng như ánh sáng; áo giáp như bạc hay nhôm. Ông giơ tay chào và nói, “Chiến xa của Đức Chúa và những kỵ sĩ của Ngài.” Rồi ông biến mất. Tôi thực sự rã rời, không phải vì sợ hãi mà vì kinh ngạc và kính úy. [Ghi chú của GD: Tôi nghe EC nói rằng ông buông cuốc xuống và khi đưa tay lên lau trán thì tay ông đỏ au, như thể ông toát mồ hôi máu. HLC sau đó nói rằng EC va vào ông ấy ở tiền sảnh, mặt tái và run rẩy, trên đường vào ghế trong phòng khách.] Đó là một trải nghiệm tuyệt đẹp và tôi hy vọng mình xứng đáng có thêm nhiều trải nghiệm nữa.
(A) This was a vision. This is the interpretation: These are as emblems, these are as figures in the experience of the entity, that: As is builded in the conscious mind of those about the entity, as in the conscious entity itself, if there are not those encouragements from thy friend, if there is not a kind word or a smile, thou dost indeed feel that something is amiss, something is awry! How well, then, those that have named the Name, those that would know the Lord—smile! For what else in God’s creation can? In the experience there is shown that there is not only the whole armor of the Lord as a defense, but the chariot of the Lord that would take wings upon time to show—to make thee know—t at His promises abide. Be faithful through those periods of oppression, as well as those periods that would soon come when the material things of life would be as plenteous in thine experience. But keep the whole armor of the Lord that ye may stand even as He in that day when temptations of every nature, when trials of every sort, come upon thee and thy fellow man. For the Lord forgetteth not those to whom He hath given charge, “Feed my sheep, feed my lambs.”
(A) Đây là một thị kiến. Diễn giải là: Đây là những huy hiệu, những hình tượng trong kinh nghiệm của thực thể, rằng: Như điều được xây dựng trong thể trí tỉnh thức của những người quanh thực thể, cũng như trong chính thực thể tỉnh thức, nếu không có những khích lệ từ bạn hữu của ngươi, nếu không có một lời tử tế hay một nụ cười, ngươi quả thực cảm thấy có điều gì đó không ổn, điều gì đó lệch lạc! Vậy thì, những ai đã xưng Danh, những ai muốn biết về Chúa— hãy mỉm cười! Vì còn gì khác trong công trình sáng tạo của Thượng đế có thể làm thế? Trong kinh nghiệm này cho thấy rằng không chỉ có toàn bộ áo giáp của Chúa như một sự phòng vệ, mà còn có chiến xa của Chúa có thể chắp cánh theo thời gian để cho thấy—để làm ngươi biết—rằng Lời hứa của Ngài vẫn còn. Hãy trọn tín qua những giai đoạn áp bức, cũng như những giai đoạn sắp đến khi các điều vật chất của đời sống sẽ phong phú trong kinh nghiệm của ngươi. Nhưng hãy giữ trọn bộ áo giáp của Chúa để ngươi có thể đứng vững như Ngài trong ngày mà mọi cơn cám dỗ, mọi loại thử thách, ập đến với ngươi và đồng loại. Vì Chúa chẳng quên những người mà Ngài đã trao phận, “Hãy chăn chiên Ta, hãy chăn chiên con của Ta.”
We are through.
Chúng tôi xong.
[Background: Reading given on the topic of the “social and economic conditions” in the United States.]
[Background: Buổi đọc về chủ đề “các điều kiện xã hội và kinh tế” ở Hoa Kỳ.]
Reading 3976-17; October 25, 1937
Buổi đọc 3976-17; 25 tháng 10, 1937
As has been given, in giving information respecting the outcome or the outlook of the political, the economic or the social welfare in a land or country, only that may be given that will be helpful. Hence as to what the conditions may be, and as to what such that seek will do about same, become rather the questions...
Như đã được ban, khi đưa thông tin liên quan đến kết cục hay triển vọng của chính trị, kinh tế hay phúc lợi xã hội ở một xứ sở hay quốc gia, chỉ có thể đưa điều gì hữu ích. Do đó, điều kiện có thể là gì, và những người tìm kiếm như thế sẽ làm gì với điều đó, trở thành những câu hỏi chủ đạo...
In the United States at present there are some disturbing factors, especially those as related to activities of the nature pertaining to labor and capital in its various phases.
Tại Hoa Kỳ hiện nay có một số yếu tố gây xao động, đặc biệt là những yếu tố liên quan đến các hoạt động mang tính chất lao động và tư bản ở các phương diện khác nhau.
Yet there need never be a fear on the part of capital that there will be much real disturbance until there is a more united effort on the part of any group, association or organization.
Tuy nhiên, giới tư bản không cần phải e sợ rằng sẽ có nhiều xáo trộn thật sự cho đến khi có một nỗ lực hợp nhất hơn từ phía bất kỳ nhóm, hiệp hội hay tổ chức nào.
And so long as capital is able to keep turmoils within the ranks of those that would bring strife through their very power rather than purpose, no great concerted effort may be expected that would play a definite part.
Và chừng nào tư bản còn có thể giữ các náo động ở trong hàng ngũ của những người muốn gây tranh chấp bằng chính uy lực hơn là bằng mục đích, thì khó mong đợi một nỗ lực phối hợp đáng kể có thể đóng vai trò dứt khoát.
Yet there are those within the activities of the Association, the organization, the membership in same, whose desires or purposes are of such a nature that there lies within them the power to see that not a wrangle is kept, but that the ideal side, ideal condition or position would be kept in the way of those presentations that have been very well given in cooperative measures with the ideals (or ideas, and the ideals that go with same) that we are our brother’s keeper; that we each are dependent one upon another.
Tuy vậy, có những người trong các hoạt động của Hiệp hội, tổ chức, thành viên của nó, với những ước muốn hay mục đích có bản chất như vậy, đến nỗi trong họ có quyền năng để thấy rằng không phải duy trì một cuộc cãi vã, mà giữ vững mặt lý tưởng, điều kiện hay vị thế lý tưởng trong cách trình bày như đã được nêu rất tốt trong các biện pháp hợp tác với các lý tưởng (hay ý tưởng, và các lý tưởng đi kèm) rằng chúng ta là người gìn giữ anh em mình; rằng mỗi người chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau.
And no government, no nation, no state, no city, no family—yes, no individual—is stronger than the weakest habit; the destructive forces that may in any way or manner at any time undermine if they are self-purposing.
Và không chính quyền nào, không quốc gia nào, không bang nào, không thành phố nào, không gia đình nào—vâng, không cá nhân nào—mạnh hơn thói quen yếu kém nhất; các lực phá hoại có thể bằng bất cứ cách nào hay vào lúc nào làm xói mòn nếu chúng là tự mưu cầu.
But if the ideas and the ideals are rather that each should be, each will be, each purposing to be, a channel for presenting brotherly love, kindness, patience, longsuffering, just being kind—and if these are rather the propaganda, if these are rather the promptings of the activity in every phase or every association of the individuals—we will find more and more that there will be drawn the greater dawn of every form of helpfulness, hopefulness, in the experience of an individual, a family, a state, a city, a nation.
Nhưng nếu ý tưởng và lý tưởng là để mỗi người phải là, mỗi người sẽ là, mỗi người chủ đích trở thành, một kênh trình hiện tình huynh đệ, lòng nhân ái, nhẫn nại, nhẫn nhục, chỉ đơn giản là tử tế—và nếu đây là những điều được tuyên truyền, nếu đây là những điều thúc đẩy hoạt động trong mọi phương diện hay mọi hiệp hội của các cá nhân—chúng ta sẽ thấy ngày càng có nhiều bình minh của mọi hình thức trợ giúp, hy vọng, trong kinh nghiệm của một cá nhân, một gia đình, một bang, một thành phố, một quốc gia được kéo đến.
Not that there may not be those things that have been so well presented as in the days before the flood; they were married, given in marriage; there were the reckless, there were the saints. As in those days before the end may come, these may be ever just the same.
Không phải là không thể có những điều đã được nêu rất khéo như trong những ngày trước nạn hồng thủy; họ cưới vợ, gả chồng; có kẻ phóng đãng, có bậc thánh hiền. Như trong những ngày trước khi tận cùng có thể đến, những điều ấy có thể luôn giống hệt như vậy.
But man being a creative nature, man being endowed with divinity within self, may work that to his own undoing or to his own glory in the Father, the Son and the Holy Spirit that worketh in and through those according to that purposed in their hearts.
Nhưng con người là bản tính sáng tạo, con người được phú cho thiên tính trong tự thân, có thể vận dụng điều đó để tự hủy hoại mình hay để tôn vinh mình trong Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Đấng vận hành trong và qua những người tùy theo điều đã chủ đích trong lòng họ.
Ready for questions. [GD’s note: Par. 15-Q—17-Q below were submitted by Mr. [816] on 10/6/37.]
Sẵn sàng cho câu hỏi. [Ghi chú của GD: Par. 15-Q—17-Q bên dưới do ông [816] gửi ngày 10/6/37.]
(Q) Can any detailed prediction be given concerning the probable trends of business activity and the trends of security prices during 1938, 1939 and 1940?
(Q) Có thể đưa ra tiên đoán chi tiết nào về các xu thế có thể có của hoạt động kinh doanh và xu thế giá chứng khoán trong các năm 1938, 1939 và 1940 không?
(A) These again, as has just been indicated, must indeed depend upon that influence prompting the activities of those in power or in position to make for the dominating of the purposes that are set before the populace as a whole. As has been indicated, if that ideal is kept by those who have been and who are in power, there will be kept a general trend toward greater security, greater economic considerations of the whole, greater peace, greater harmony. Not that there are not those influences that have gone about to make a beautiful condition an experience as dross, yet wherever selfishness is the prompting attitude there may be expected to be brought turmoils and strife. Where the purposes are the Prince of Peace, where “I am my brother’s keeper—I will do the right,” these will keep and bring social security, financial security, and peace of mind and body to those that propagate same.
(A) Những điều này, như vừa được chỉ ra, quả thật phải tùy thuộc vào ảnh hưởng đang thúc đẩy các hoạt động của những người nắm quyền hay ở vị thế có thể khiến các mục đích đặt ra trước quần chúng nói chung được chi phối. Như đã chỉ ra, nếu lý tưởng ấy được giữ bởi những người đã và đang nắm quyền, sẽ duy trì xu thế chung hướng tới an ninh lớn hơn, xét đến các cân nhắc kinh tế rộng lớn hơn cho toàn thể, hòa bình lớn hơn, hòa hợp lớn hơn. Không phải là không có những ảnh hưởng đã đi rêu rao làm cho một điều kiện tươi đẹp trở thành trải nghiệm như phế liệu, nhưng ở bất cứ nơi nào tính vị kỷ là thái độ thúc đẩy thì có thể trông đợi các náo động và tranh chấp. Nơi nào mục đích thuộc về Vị Hoàng Tử Hoà Bình, nơi nào “Ta là người gìn giữ anh em mình—Ta sẽ làm điều đúng,” thì nơi đó sẽ giữ gìn và đem đến an sinh xã hội, an ninh tài chính, và bình an của thể trí và thể xác cho những người cổ xúy điều ấy.
(Q) Is the year 1939 or the year 1940 likely to usher in the beginning of another major business depression?
(Q) Năm 1939 hay năm 1940 có khả năng mở đầu một cuộc suy thoái kinh doanh lớn khác không?
(A) Again this depends upon that construction of those purposes, those provisions, those laws now being set in motion for consideration of the conditions throughout. We do not find it so; unless selfish motives, selfish purposes succeed in dominating the directing of those provisions against such. If these succeed, and then there should come a uniting of those efforts between the layman or the worker and the wage earner against capital, we may expect desperate situations. But what will you do about it?
(A) Một lần nữa điều này tùy thuộc vào cấu trúc của các mục đích, các dự liệu, các đạo luật hiện đang được đưa vào vận hành để xét đến các điều kiện khắp nơi. Chúng tôi không thấy như vậy; trừ khi các động cơ vị kỷ, mục đích vị kỷ thành công trong việc thống trị sự chỉ đạo các dự liệu chống lại điều đó. Nếu những điều này thành công, và rồi có sự liên kết nỗ lực giữa dân thường hay người công nhân và người ăn lương chống lại tư bản, chúng ta có thể trông đợi các tình thế tuyệt vọng. Nhưng các người sẽ làm gì trước điều đó?
(Q) Certain writers have forecasted the possibility of a war around 1942 to 1944 which will involve the United States. At the moment, does it appear that we are likely to be involved in such a war?
(Q) Một số tác giả đã dự báo khả năng có một cuộc chiến tranh vào khoảng 1942 đến 1944 sẽ lôi kéo Hoa Kỳ. Hiện thời, có vẻ chúng ta có khả năng bị lôi kéo vào cuộc chiến như vậy không?
(A) If this is kept as propaganda, it will! If there is still kept that attitude of peace and harmony, if there are the considerations of the rights of others, it will not!
(A) Nếu điều này được duy trì như một tuyên truyền, thì sẽ có! Nếu vẫn giữ thái độ hòa bình và hòa hợp, nếu có sự xét đến quyền lợi của người khác, thì sẽ không!
(Q) What is likely to cause such a war?
(Q) Điều gì có khả năng gây ra cuộc chiến như vậy?
(A) Selfishness!
(A) Tính vị kỷ!
(Q) Is the President of the United States likely to serve throughout his present term?
(Q) Tổng thống Hoa Kỳ có khả năng phục vụ trọn nhiệm kỳ hiện tại không?
(A) Likely.
(A) Có khả năng.
(Q) What may be expected in the developments in the conflict between the major branches of organized labor?
(Q) Có thể trông đợi những diễn biến gì trong xung đột giữa các nhánh lớn của công đoàn?
(A) As just indicated, so long as capital is able to keep the turmoils within the ranks, there may not be expected a concerted effort. If there is the uniting of the purposes and then there are not those in authority or in power that are able to make for the considerations of the conditions of all, strife and turmoil, internal troubles, may be expected.
(A) Như vừa chỉ ra, chừng nào tư bản còn có thể giữ các náo động trong hàng ngũ, thì khó mong đợi có một nỗ lực phối hợp. Nếu có sự hợp nhất mục đích và rồi lại không có những người có thẩm quyền hay quyền lực có thể làm cho các điều kiện của mọi giới được cân nhắc, thì có thể trông đợi tranh chấp, náo động, rối ren nội bộ.
(Q) What developments may be expected in the difficulties between labor and capital during the next few years?
(Q) Có thể trông đợi những phát triển gì trong các khó khăn giữa lao động và tư bản trong vài năm tới?
(A) As just indicated. If there is a united effort, and there are not (there are in most places in the present) those in authority who will consider the getting together for the consideration of all, then turmoils and strifes will arise. Selfishness is the sin of man!
(A) Như vừa chỉ ra. Nếu có một nỗ lực hợp nhất, và lại không có (hiện có ở hầu hết các nơi) những người có thẩm quyền sẽ xét đến việc ngồi lại với nhau vì lợi ích của mọi giới, thì các náo động và tranh chấp sẽ nảy sinh. Tính vị kỷ là tội lỗi của con người!
(Q) What may be expected from the help proposed for the farmers by the present administration? Will the programs as planned be successfully carried out?
(Q) Có thể trông đợi điều gì từ sự trợ giúp mà chính quyền hiện tại đề xuất cho nông dân? Các chương trình như dự định có được thực hiện thành công không?
(A) Apparently there will be a block in much of these, because this is being considered by some as too great a sectional undertaking. This may cause turmoils and strifes, but again—if there is the ability not merely to parley but rather to consider the all—the situation may adjust itself. For, as we have given, no country is stronger than its greatest weakness in any section or in any portion of same. For it must be a cooperative, coordinating activity as a unit of government in its dictation, its legislation, its administration, and in its coordination of all of these as a unit. No one may become dictatorial without the proper consideration of each phase of the government offices as a whole. And the laboring man, the daily laborer that lives by the sweat of the brow, shall have equal consideration before the law as those that direct the lives of many! For all stand the same before the judgement bar of the Maker; and they that are oppressed, their cry goeth up to Him, ever. And when they come together, their cry—together—ascends as sweet incense or as the horrors of strife which are in His eyes, His heart, His power, the abominations which He hateth.
(A) Rõ ràng sẽ có bế tắc trong nhiều phần của những điều này, vì một số người coi đây là một công cuộc mang tính khu vực quá lớn. Điều này có thể gây náo động và tranh chấp, nhưng một lần nữa —nếu có khả năng không chỉ đối thoại mà còn biết cân nhắc toàn thể —tình hình có thể tự điều chỉnh. Vì, như chúng tôi đã nói, không quốc gia nào mạnh hơn điểm yếu lớn nhất của mình ở bất kỳ khu vực hay phần nào. Bởi vì phải là một hoạt động hợp tác, phối hợp như một đơn vị của chính quyền trong việc chỉ đạo, lập pháp, hành pháp, và trong sự phối hợp tất cả những điều này như một đơn vị. Không một ai có thể trở thành độc đoán mà không xét đến đúng mực từng phương diện của các cơ quan chính quyền như một tổng thể. Và người lao động, người làm công nhật kiếm sống bằng mồ hôi trán, sẽ được xét đến bình đẳng trước luật pháp như những người điều khiển đời sống của nhiều người! Vì tất cả đều đứng như nhau trước tòa phán xét của Đấng Tạo Hóa; và những người bị áp bức, tiếng kêu của họ luôn vọng lên Ngài. Và khi họ hợp lại, tiếng kêu của họ— cùng nhau —dâng lên như hương thơm ngát hay như kinh hoàng của tranh chấp—những điều mà trong mắt Ngài, lòng Ngài, quyền năng của Ngài, là những điều ghê tởm mà Ngài ghét.
Note: See “Changes in World Affairs” section for additional readings’ information regarding changes in the twentieth century.
Ghi chú: Xem phần “Những Biến Đổi trong Thế Sự” để biết thêm thông tin các buổi đọc liên quan đến những đổi thay trong thế kỷ XX.
3
Chages for the Future—Những Đổi Thay cho Tương Lai
[Background: Reading given to a fifty-six-year-old male who asked for additional information about ancient Egypt.]
[Background: Buổi đọc dành cho một nam giới năm mươi sáu tuổi, người xin thêm thông tin về Ai Cập cổ.]
Reading 378-16; October 29, 1933
Buổi đọc 378-16; 29 tháng 10, 1933
In the record chambers there were more ceremonies than in calling the peoples at the finishing of that called the pyramid. For, here those that were trained in the Temple of Sacrifice as well as in the Temple Beautiful were about the sealing of the record chambers. For, these were to be kept as had been given by the priests in Atlantis or Poseidia (Temple), when these records of the race, of the developments, of the laws pertaining to one* were put in their chambers and to be opened only when there was the returning of those into materiality, or to earth’s experience, when the change was imminent in the earth; which change, we see, begins in ‘58 and ends with the changes wrought in the upheavals and the shifting of the poles, as begins then the reign in ‘98 (as time is counted in the present) of those influences that have been given by many in the records that have been kept by those sojourners in this land of the Semitic peoples...
Trong các phòng biên lục có nhiều nghi thức hơn cả việc triệu tập dân chúng vào lúc hoàn tất công trình gọi là kim tự tháp. Vì ở đây, những người đã được rèn luyện trong Đền Hy Sinh cũng như trong Đền Mỹ Lệ đều tham gia việc niêm phong các phòng biên lục. Bởi vì, những thứ này phải được giữ như đã được các tư tế ở Atlantis hay Poseidia (Đền) truyền dạy, khi những biên lục về giống dân, về các phát triển, về những luật lệ thuộc về một* được đặt vào buồng của chúng và chỉ mở ra khi có sự trở lại vào cõi vật chất, hay vào kinh nghiệm trần thế, khi biến đổi trên địa cầu trở nên cận kề; và biến đổi đó, chúng ta thấy, khởi đầu vào ‘58 và kết thúc với những đổi thay gây nên bởi các cuộc trồi dậy và sự chuyển dịch của các cực, khi đó khởi dựng vương quyền vào ‘98 (tính theo thời gian hiện tại) của những ảnh hưởng đã được nhiều người ban cho trong các biên lục đã được những bậc trú khách trên miền đất của các dân tộc Semitic này lưu giữ...
Ready for questions.
Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) If the King’s Chamber is on the 50th course, on what course is this sealed room?
(Q) Nếu Buồng của Nhà Vua nằm ở tầng thứ 50, vậy căn phòng niêm phong ở tầng thứ mấy?
(A) The sealed room of records is in a different place; not in this pyramid.
(A) Căn phòng niêm phong chứa biên lục ở một nơi khác; không ở kim tự tháp này.
(Q) Give in detail what the sealed room contains.
(Q) Hãy cho biết chi tiết căn phòng niêm phong chứa gì.
(A) A record of Atlantis from the beginnings of those periods when the Spirit took form or began the encasements in that land, and the developments of the peoples throughout their sojourn, with the record of the first destruction and the changes that took place in the land, with the record of the sojournings of the peoples to the varied activities in other lands, and a record of the meetings of all the nations or lands for the activities in the destructions that became necessary with the final destruction of Atlantis and the buildings of the pyramid of initiation, with who, what, where, would come the opening of the records that are as copies from the sunken Atlantis; for with the change it must rise (the temple) again. This in position lies, as the sun rises from the waters, the line of the shadow (or light) falls between the paws of the Sphinx, that was later set as the sentinel or guard, and which may not be entered from the connecting chambers from the Sphinx’s paw (right paw) until the time has been fulfilled when the changes must be active in this sphere of man’s experience. Between, then, the Sphinx and the river.
(A) Một biên lục về Atlantis từ thuở ban sơ khi Linh Thần khoác hình tướng hoặc khởi đầu nhập thế vào miền đất ấy, và các phát triển của dân tộc trong suốt thời gian trú thế của họ, kèm biên lục về cuộc hủy diệt thứ nhất và các đổi thay xảy ra trong miền đất ấy, cùng biên lục về các cuộc lưu trú của dân chúng tới những hoạt động khác nhau trên các miền đất khác, và biên lục về hội nghị của mọi quốc gia hay miền đất cho các hoạt động trong những cuộc hủy diệt trở nên cần thiết trong cuộc hủy diệt sau cùng của Atlantis và việc xây dựng kim tự tháp điểm đạo, cùng với ai, cái gì, ở đâu, sẽ dẫn đến việc khai mở các biên lục là những bản sao từ Atlantis bị chìm; vì với cuộc đổi thay đó (ngôi đền) phải nổi lên trở lại. Vị trí của nơi này nằm, như mặt trời mọc lên từ mặt nước, đường của bóng (hoặc ánh sáng) rơi giữa hai bàn chân của Nhân Sư, vốn được đặt sau này như người lính canh hay hộ vệ, và nơi này không thể được vào từ các khoang nối từ chân (chân phải) của Nhân Sư cho đến khi thời điểm được trọn đủ khi những đổi thay phải hoạt động trong cõi kinh nghiệm của con người. Vậy là, ở giữa Nhân Sư và dòng sông.
[Background: Reading given to a twenty-seven-year-old female who inquired about earth changes. She was told that she would not be alive when the changes occurred. She lived between 1905-1986.]
[Background: Buổi đọc dành cho một phụ nữ hai mươi bảy tuổi hỏi về các đổi thay của địa cầu. Bà được cho biết rằng khi các đổi thay xảy ra, bà sẽ không còn sống. Bà sống từ 1905-1986.]
Reading 288-29; April 16, 1932
Buổi đọc 288-29; 16 tháng 4, 1932
(Q) What is meant by “This body, not physically, will be present when the earth is changed again”? [a statement given in her first reading; 288-1]
(Q) “Thân này, không phải về mặt thể xác, sẽ hiện diện khi địa cầu lại biến đổi” có nghĩa là gì? [một lời đã được đưa ra trong buổi đọc đầu tiên của bà; 288-1]
(A) This that the entity innately, or thoughtly, through thought, will be—is—in the position of knowing that the change comes, yet not physically present—as then—at the period of the greater portion of the physical change. As then. Knowledge of, and acquainted with that, that bringing—and brought about—the destruction of the first portion in Atlantis. In the earth, then, physical knowledge of, through thought, through the mental abilities, through the psychic sources, as has been described for self, in the knowledge of, but not a physical portion of, the whole change. Rather that that brings it about, than bringing—or being in—that brought about.
(A) Nghĩa là thực thể này bẩm sinh, hay trong tư duy, qua tư tưởng, sẽ— là —ở vào vị thế biết rằng cuộc đổi thay đến, nhưng không hiện diện về mặt thể xác—như khi đó—vào thời đoạn phần lớn hơn của cuộc đổi thay vật chất. Như khi đó. Có kiến tri về, và quen thuộc với điều đã mang lại—và đã mang lại—sự hủy diệt phần đầu tiên ở Atlantis. Trong cõi đời, vậy thì, có tri thức về điều này, qua tư tưởng, qua các khả năng trí tuệ, qua các nguồn thông linh, như đã được mô tả cho tự thân, là có biết về điều đó, nhưng không là một phần thể xác của toàn bộ cuộc đổi thay. Đúng hơn là điều khởi động nó, hơn là mang —hay ở trong—điều đã mang đến.
[Background: Reading given to a forty-four-year-old female who was interested in a commercial enterprise related to the Bimini area. Cayce informed her that this area would be among the first remnants of Atlantis to rise again.]
[Background: Buổi đọc dành cho một phụ nữ bốn mươi bốn tuổi quan tâm đến một hoạt động thương mại liên quan đến vùng Bimini. Cayce báo cho bà rằng khu vực này sẽ là một trong những tàn tích đầu tiên của Atlantis trồi lên trở lại.]
Reading 587-4; July 1, 1935
Buổi đọc 587-4; 1 tháng 7, 1935
(Q) Could the well in Bimini be promoted and reconstructed? [GD’s note: Mrs. [587] told EC that after her Life Rdg. she had flown to Bimini and had found a fresh water well marked, or walled around the top, with stones of peculiar composition and strange symbols.]
(Q) Cái giếng ở Bimini có thể được quảng bá và tái thiết không? [Ghi chú của GD: Bà [587] nói với EC rằng sau Buổi đọc Đời Sống, bà đã bay tới Bimini và tìm thấy một giếng nước ngọt được đánh dấu, hay xây tường quanh miệng, bằng những hòn đá có thành phần khác lạ và những ký hiệu kỳ dị.]
(A) There has been much given through this source [996] [996-12] as to how that particular portion of what was the Atlantean period might be developed. While it would make for much outlay in money, as ordinarily termed, there are certain interests that would join in such an undertaking. As those of the Dodge interests, as given. For it could be established as a center for two particular purposes; a regeneration for those with certain types of individual ailments (not only from the well, or water from same, but from the surrounding waters–because of the life in same), and a center for archaeological research. And as such activities are begun, there will be found much more gold in the lands under the sea than there is in the world circulation today! As to how, this should be considered seriously from many varied angles that exist. For, as understood, there are those conditions as related to the varied powers that are in power or in affluence as respecting activities of any nature there. And as they exist in the present there are some complications for agreements, contracts, the lettings of this, that or the other.
(A) Đã có rất nhiều điều được ban qua nguồn này [996] [996-12] về cách phần đặc thù thuộc thời Atlantis ấy có thể được phát triển. Dù điều đó sẽ đòi hỏi xuất chi khá lớn về tiền bạc, theo cách nói thông thường, vẫn có những mối quan tâm chắc chắn sẽ cùng tham gia trong một công cuộc như vậy. Như các mối quan tâm của Dodge, như đã nêu. Vì có thể thiết lập nơi này như một trung tâm cho hai mục đích đặc thù; một nơi tái phục hồi cho những người có một số dạng bệnh tật cá nhân nhất định (không chỉ từ giếng, hay nước của nó, mà còn từ các vùng nước chung quanh—bởi sự sống trong đó), và một trung tâm cho khảo cứu khảo cổ. Và khi những hoạt động như thế được khởi sự, sẽ tìm thấy vàng dưới các miền đất dưới biển nhiều hơn lượng đang lưu thông trên thế giới hôm nay! Còn về cách làm, điều này cần được cân nhắc nghiêm túc từ nhiều góc độ khác nhau đang hiện hữu. Vì, như đã hiểu, có những điều kiện liên quan đến các quyền lực khác nhau đang nắm quyền hay đang có ảnh hưởng đối với các hoạt động thuộc bất cứ bản chất nào ở đó. Và như chúng đang hiện hữu, hiện có vài phức tạp về các thỏa thuận, hợp đồng, việc nhượng cái này, cái kia hay cái khác.
But this should not be left alone; it should be considered from many angles. Also aid may be induced from the varied societies that have been formed for the study of geological and archaeological activities, or such. For much will be found. And, as may be known, when the changes begin, these portions will rise among the first.
Nhưng điều này không nên bỏ mặc; cần được xét từ nhiều góc độ. Cũng có thể vận động sự trợ giúp từ các hội đoàn khác nhau đã được lập ra để khảo cứu các hoạt động địa chất và khảo cổ, hoặc tương tự. Vì sẽ tìm thấy rất nhiều. Và, như có thể biết, khi các đổi thay khởi đầu, các phần đất này sẽ trồi lên trong số những phần đầu tiên.
[Background: This reading was among a special series of readings given by Edgar Cayce on the topic of Atlantis and the possibility of a commercial activity at Bimini.]
[Background: Buổi đọc thuộc một loạt bài đặc biệt do Edgar Cayce ban về chủ đề Atlantis và khả năng một hoạt động thương mại tại Bimini.]
Reading 996-12; March 2, 1927
Buổi đọc 996-12; 2 tháng 3, 1927
GC: You will have before you the islands of North and South Bimini, and the submerged land adjacent to same. You will outline in detail the necessary procedure to finance and develop this project, in the way of building streets, sidewalks, sea walls, canals, harbors, sewerage, water and electrical system, ice plant, laundries, and everything necessary to complete a resort city. You will answer all questions which I will ask you regarding this.
GC: Ông sẽ có trước mình các đảo Bimini Bắc và Nam, và phần đất bị chìm kề cận chúng. Ông sẽ phác thảo chi tiết quy trình cần thiết để tài trợ và phát triển dự án này, theo hướng xây dựng đường phố, vỉa hè, đê chắn sóng, kênh rạch, hải cảng, hệ thống cống rãnh, nước và điện, nhà máy nước đá, nhà giặt ủi, và mọi thứ cần thiết để hoàn thành một thành phố nghỉ dưỡng. Ông sẽ trả lời mọi câu hỏi tôi nêu ra liên quan đến việc này.
EC: Yes, we have the islands as are seen in the natural formations as are visible at the present time.
EC: Vâng, chúng tôi có các đảo như thấy trong những cấu trúc tự nhiên đang hiện lộ ở thời điểm hiện tại.
Now, we find there are many things that may be said as respecting the plausibility and the advisability of making a resort city in this location. First we would give, this would not be near as large an undertaking as it appears on the face of conditions, for this may be stored away as truth for those that would go about to accomplish such conditions: There will be found many, many, many sources of revenue for those undertaking such a project, for these mountain tops—especially that along the north and eastern shores of the north and northern portion of the south island—will produce many various minerals, and various other conditions that will be remunerative when the projects are undertaken; and well that the ones that do such labors—as the dredging as necessary, the building as necessary, the walls, etc.—be followed close in their operations, for these will uncover many various conditions that may be turned into dollars—and dollars—and dollars!
Giờ đây, chúng tôi nhận thấy có nhiều điều có thể nói liên quan đến tính hợp lý và sự nên làm khi xây một thành phố nghỉ dưỡng ở vị trí này. Trước hết, chúng tôi muốn nói, đây sẽ không phải là một công cuộc lớn như nó dường như bề ngoài, bởi vì điều này có thể được ghi lại như chân lý cho những ai muốn thực hiện các điều kiện như vậy: Sẽ tìm thấy nhiều, nhiều, nhiều nguồn doanh thu cho những người thực hiện dự án như vậy, bởi vì những đỉnh núi này—đặc biệt là dọc bờ phía bắc và đông của đảo bắc và phần bắc của đảo nam—sẽ sản sinh nhiều khoáng vật khác nhau, và nhiều điều kiện khác nhau nữa sẽ sinh lợi khi các dự án được thực hiện; và thật tốt khi những người làm các công việc như nạo vét cần thiết, xây dựng cần thiết, tường thành, vân vân—được theo sát trong hoạt động của họ, vì họ sẽ làm lộ ra nhiều điều kiện khác nhau có thể biến thành tiền—và tiền—và tiền!
In considering the manner and way that this project would be financed, we find these conditions are to be considered:
Khi xét đến phương cách dự án này sẽ được tài trợ, chúng tôi thấy các điều kiện sau cần được cân nhắc:
First, in the various congested centers in which there are almost innumerable individuals that have achieved success in the financial way and manner, these—by the natural tend, or natural trend of human thought and human endeavor to gain from life those pleasures that bespeak of the effort as has been put forth—are seeking such outlets for a way to not only invest, but to build new and different modes and manners and ways for such pleasures. Acting, then, against the natural tend and bent of the inlander, as it may be termed, these are seeking such times, such places, that they may enjoy the fruits of their labors.
Thứ nhất, trong các trung tâm đô thị lớn, nơi có vô số cá nhân đã thành đạt trên phương diện tài chính và cách thức, những người này—theo xu hướng tự nhiên của tư duy và nỗ lực của con người để gặt lấy từ đời sống những thú vui tương xứng với công sức đã bỏ ra—đang tìm kiếm những ngả để không chỉ đầu tư, mà còn để xây dựng những lối và cách thức mới cho những hưởng thụ ấy. Hoạt động như thế, đi ngược lại thiên hướng và khuynh hướng tự nhiên của người nội địa, họ đang tìm kiếm những thời điểm, những nơi chốn, để họ có thể tận hưởng thành quả lao động của mình.
Again, this is as a truth which may be stored away again. Not expressed by those who would endeavor to make a resort or a city here. There are, as has been given, many peoples being born again into the earth’s plane who were through their experiences in this land. With the building then, again, we find the innate desire will come to an innumerable number to be in some manner or way associated—either as dwellers for a portion of the time or the whole time, or as the investers [investors?] in the project—to make this not only a habitable place, but as a resort equaled by none.
Thêm nữa, đây là một chân lý có thể lại được ghi nhớ. Không nêu ra bởi những người muốn tạo một khu nghỉ dưỡng hay một thành phố ở đây. Có, như đã nói, nhiều người đang tái sinh vào cõi hồng trần vốn trong những đời trải nghiệm đã từng ở trên miền đất này. Vậy nên, với việc xây dựng trở lại, chúng tôi nhận thấy khát vọng bẩm sinh sẽ đến với vô số người để bằng một vài cách thức nào đó có liên hệ—hoặc như cư dân một phần thời gian hay toàn thời gian, hoặc như người đầu tư vào dự án—để biến nơi này không chỉ là chốn cư trú được, mà còn là một khu nghỉ dưỡng vô song.
Now, as to the reasonableness, and how this may be gone about:
Giờ, về tính hợp lý và cách thức tiến hành:
There is seen that the general lay of the land, and the surrounding territory or vicinity, or the natural lay of those waters nearby—these lend themselves, in a natural way, to the establishing of many, many, many acres—many miles of acres of territory. That not reclaimed, as it were, but the naturalness of conditions is to bring forth not ten, but hundredfold—for the labor and the time spent.
Có thể thấy rằng diện mạo địa hình chung, và vùng đất xung quanh hay phụ cận, hay cấu trúc tự nhiên của các vùng nước lân cận—những điều này thuận lợi một cách tự nhiên cho việc thiết lập nhiều, rất nhiều, rất nhiều mẫu—nhiều dặm mẫu đất đai. Không phải là đất được cải tạo, như thể thế, mà chính tính tự nhiên của điều kiện sẽ sinh lợi không chỉ mười lần, mà gấp trăm lần—cho công sức và thời gian bỏ ra.
There will be seen that on the northern portion of south island will lend itself to the water supply, which is one of the first considerations of such a place. A sweet water. One that lends itself to that of being adaptable, not only for the drinking purposes, but for all purposes of the human body. This will be found by drilling to the depth which will be, true enough, below the sea level, yet the source is from far—far—away. Better water will be found than in those lands known as the continents. This also lends the modes of manufacture—of electro-hydro power in the waves, if necessary, by the tides—such as have been and are being builded in the Bay of Fundy—for with the walls as may be built in the western coasts of the inlet—which may be closed or left open, or builded for the purpose of an inland sea for the boat, the port, and for the fishing, bathing, and the like—this may be builded in such a manner on the northern shore of the south, and the southern shore of the north island, as to facilitate the power sufficient to electrify the whole of the lands that may be acclaimed and reclaimed.
Sẽ thấy rằng phần phía bắc của đảo nam thuận tiện cho nguồn cung nước, một trong những cân nhắc đầu tiên cho một nơi như thế. Một nguồn nước ngọt. Một nguồn phù hợp không chỉ cho mục đích uống mà cho mọi nhu cầu của thân thể con người. Điều này sẽ được tìm thấy bằng cách khoan đến độ sâu tuy đúng là dưới mực nước biển, nhưng nguồn lại từ rất—rất—xa. Nước tốt hơn ở những lục địa được biết đến. Điều này cũng mở đường cho các phương thức sản xuất—điện-thủy lực từ sóng, nếu cần, bằng thủy triều—như đã và đang được xây dựng ở Vịnh Fundy—vì với những bức tường có thể xây ở bờ tây của vịnh—có thể đóng lại hay để mở, hoặc xây để tạo một nội hải cho tàu thuyền, cảng, và cho việc đánh bắt, tắm biển, vân vân—điều này có thể xây theo cách ở bờ bắc của đảo nam, và bờ nam của đảo bắc, để tạo ra nguồn năng lượng đủ để điện khí hóa toàn bộ phần đất có thể được tuyên nhận và khai khẩn.
In the centers that would be interested, then, in bringing about such a vision, such a dream, we would find that there have been various groups that have been approached as respecting how this may be carried out. We would seek rather those of the money powers in Cleveland and in Detroit, for these have such of a vision; for, as again may be stored away by those that would go about to accomplish such an undertaking: There are those associated with the Dodge millions, the Dodge accumulations [auto multi-millionaire Dodge family?], that once ruled in power here, and these, approached in the right way and manner, would be willing, glad, and anxious, to see such an undertaking carried on here.
Trong các trung tâm có thể quan tâm đưa một thị kiến như vậy, một giấc mơ như vậy, thành hiện thực, chúng tôi thấy rằng đã có những nhóm khác nhau được tiếp cận về việc làm thế nào để thực hiện. Chúng tôi muốn tìm đến những người của quyền lực tài chính ở Cleveland và Detroit, vì họ có tầm nhìn như vậy; bởi, như một lần nữa có thể ghi nhớ đối với những ai muốn thực hiện công cuộc này: Có những người gắn với số triệu của Dodge, các tích lũy của Dodge [gia tộc ô tô triệu triệu phú Dodge?], từng cai quản quyền lực ở đây, và những người này, nếu được tiếp cận đúng cách và đúng mực, sẽ sẵn lòng, vui mừng, và nôn nóng, để thấy một công cuộc như vậy được triển khai ở đây.
In the ones that may be interested in the Chicago vicinity, these, as we see, are of the syndicated groups, and must be watched very closely, for these are not always satisfactory groups to deal with.
Trong số những người có thể quan tâm ở vùng Chicago, như chúng tôi thấy, là các nhóm liên danh, và phải theo dõi rất sát, vì đây không phải lúc nào cũng là những nhóm hài lòng để giao dịch.
Again we find, in the groups who are already interested, and who may be interested in the east—in New York or the northern places, these are of that bent and trend that is not always amenable to the suggestions of those who would build with a vision.
Thêm nữa, trong các nhóm đã quan tâm, và có thể quan tâm ở miền đông—tại New York hay miền bắc—những người này có khuynh hướng không phải lúc nào cũng thuận theo những gợi ý của những người sẽ kiến tạo với một tầm nhìn.
Rather would a combination of Detroit, Cleveland, London and Paris, be that which would be the more satisfactory for those who would undertake to bring about that which would prove, in this place, as the resort premier above others—for this may be accomplished in this place; for, as given again, this may be stored away by those who would undertake such: There will be within these developments many things that have as yet not even been thought of or considered, that would not only of themselves attract the great horde, but would also attract great wealth—for this is of the first highest civilization that will be uncovered in some of the adjacent lands to the west and south of the isles, see? Ready for questions.
Đúng hơn sự kết hợp giữa Detroit, Cleveland, London và Paris sẽ là điều thỏa đáng hơn cho những người muốn mang lại điều sẽ trở nên, ở nơi này, khu nghỉ dưỡng hàng đầu trên mọi nơi khác—vì điều này có thể thực hiện ở nơi đây; vì, như lại được nêu, điều này có thể được ghi nhớ bởi những ai muốn thực hiện: Sẽ có trong các phát triển này nhiều thứ đến nay thậm chí còn chưa từng được nghĩ tới hay cân nhắc, những thứ không chỉ tự thân chúng thu hút đám đông vĩ đại, mà còn thu hút đại phú—vì đây là nền văn minh cao cả đầu tiên sẽ được phát hiện ở một số miền đất kề cận về phía tây và nam của các đảo, hiểu chứ? Sẵn sàng cho câu hỏi.
(Q) Is this the continent known as Alta or Poseidia? [Atlantis]
(Q) Đây có phải lục địa được biết là Alta hay Poseidia? [Atlantis]
(A) A temple of the Poseidians was in a portion of this land.
(A) Một ngôi đền của người Poseidia đã ở một phần miền đất này.
(Q) What minerals will be found here?
(Q) Ở đây sẽ tìm thấy những khoáng vật gì?
(A) Gold, spar, and icthyolite [?]. [Ichthyolite?]
(A) Vàng, spat, và ichthyolite [?]. [Ichthyolite?]
(Q) How deep in the ground will that be found?
(Q) Sâu bao nhiêu dưới đất thì tìm thấy?
(A) In the wall that would be builded from the western portion of the south island towards that of the prominent portions of the southern portion of isle—these will be found in the twelve to fifteen (12 to 15) foot levels. The vein, as workable, would be found extending in the northeast southwest direction. The waters in the northern portion of the south island. Sweet water, see?
(A) Ở bức tường sẽ xây từ phần tây của đảo nam hướng về phần nổi bật của phần nam đảo—sẽ tìm thấy ở các cao trình mười hai đến mười lăm (12 đến 15) bộ. Mạch quặng, ở dạng khai thác được, sẽ xuất hiện theo hướng đông bắc - tây nam. Nguồn nước ở phần bắc của đảo nam. Nước ngọt, hiểu chứ?
(Q) Give the exact longitude and latitude of the vein?
(Q) Cho kinh độ và vĩ độ chính xác của mạch?
(A) In this we have the island—in this we have the place. Find these, or locate. These are known.
(A) Ở đây chúng ta có hòn đảo—ở đây chúng ta có vị trí. Hãy tìm các vị trí này, hay xác định. Những điều này đã được biết.
(Q) What amount will be necessary to complete development?
(Q) Cần bao nhiêu để hoàn tất việc phát triển?
(A) From seventy-five to ninety million.
(A) Từ bảy mươi lăm đến chín mươi triệu.
(Q) Name individuals that would undertake the financing of the proposition, and procedure to obtain their support?
(Q) Hãy nêu những cá nhân sẽ đảm nhận tài trợ đề án, và quy trình để giành được sự ủng hộ của họ?
(A) Those groups as given. Preferably those in the Detroit and Cleveland vicinity, cooperating with those of London and Paris. While the Londoner of a slower action—of a safer basis, see?
(A) Những nhóm như đã nêu. Ưu tiên là những nhóm ở vùng Detroit và Cleveland, phối hợp với những nhóm ở London và Paris. Dù người London hành động chậm hơn—trên nền tảng an toàn hơn, hiểu chứ?
(Q) Give the full name of the person to undertake the financing of this.
(Q) Cho biết tên đầy đủ của người sẽ đảm nhận việc tài trợ này.
(A) Preferably that group as we have given, as it is seen that the natural trend will be in the Dodge forces, see?
(A) Ưu tiên là nhóm như chúng tôi đã nêu, vì thấy rằng xu hướng tự nhiên sẽ là ở các lực lượng Dodge, hiểu chứ?
(Q) How proceed to obtain their support?
(Q) Tiến hành thế nào để có được sự ủng hộ của họ?
(A) Through those channels—see, we have first and foremost one of these of this group that has been—what in common parlance would have been—“badly burned” in Florida propositions; yet there are many millions more in the other side of the house—which makes it more specific, and is of the one that would be the most easily interested. Proceed through those channels for the outlook of those conditions necessary, for many of those who are of the house of the peoples that are able, capable of financing such, are willing, when such is presented, in that one is willing to see such a project through—for first we consider, not only that as has been given as regarding the location, the position, the conditions as surround the feasibility of such a project, but the natural conditions of the whole life of those as are in the earth’s plane at the present period. Follow these out. This is not an idle or vain dream, for those that would bring about such conditions are preparing for the building of many glories for self, and for posterity.
(A) Qua các kênh đó—xem này, trước hết chúng ta có một người của nhóm này—theo cách nói thông thường—từng “bị phỏng nặng” trong các thương vụ ở Florida; tuy vậy còn rất nhiều triệu khác ở phía bên kia của gia tộc—điều này làm nó cụ thể hơn, và là người dễ quan tâm nhất. Hãy tiến hành qua các kênh đó để có cái nhìn về những điều kiện cần thiết, vì nhiều người thuộc gia tộc những người có khả năng, năng lực tài trợ như thế sẵn lòng, khi điều đó được trình bày, miễn là có người sẵn lòng theo đuổi dự án tới cùng—vì trước hết chúng tôi xét không chỉ điều đã nêu về địa điểm, vị trí, các điều kiện bao quanh tính khả thi của dự án, mà cả những điều kiện tự nhiên của toàn bộ đời sống của những người đang ở cõi hồng trần trong thời kỳ hiện tại. Hãy theo đuổi những điều này. Đây không phải giấc mơ phù phiếm hay trống rỗng, vì những người muốn mang lại những điều kiện như thế đang chuẩn bị dựng xây nhiều vẻ huy hoàng cho bản thân, và cho hậu thế.
(Q) How deep will we have to drill for the fresh water?
(Q) Chúng tôi sẽ phải khoan sâu bao nhiêu để có nước ngọt?
(A) Eight hundred and ninety-two (892) feet.
(A) Tám trăm chín mươi hai (892) bộ.
(Q) What supply would that obtain?
(Q) Nguồn cung đó sẽ đạt được bao nhiêu?
(A) One thousand eight hundred gallons (1,800) per hour. The electro-hydro power would be made from that condition as may be builded, as given, which would supply all of the power necessary for any project that might be—might be—even undertaken here; for this would become not only a strategic point in the affairs of this—this—continent, but of others—as it has been in the eons past.
(A) Một ngàn tám trăm ga lông (1,800) mỗi giờ. Năng lượng điện-thủy lực sẽ được tạo từ cấu trúc có thể xây dựng, như đã nêu, sẽ cung cấp tất cả năng lượng cần thiết cho bất kỳ dự án nào có thể—có thể—thậm chí được thực hiện ở đây; vì nơi này sẽ trở thành không chỉ một điểm chiến lược trong công việc của lục địa— này —này, mà còn của các lục địa khác—như đã từng thế trong các niên đại đã qua.
(Q) Could an additional supply of water be obtained by going deeper?
(Q) Có thể có thêm nguồn nước nếu khoan sâu hơn không?
(A) This is the strata for the water. Other supplies may be obtained in various portions near here, which would only increase the amount if necessary. This supply would increase, see?
(A) Đây là tầng chứa nước. Có thể có các nguồn khác ở nhiều nơi gần đây, điều chỉ làm tăng lượng nếu cần. Nguồn cung này sẽ tăng lên, hiểu chứ?
(Q) Would this be Artesian?
(Q) Đây có phải là mạch nước ngầm áp lực?
(A) Artesian.
(A) Mạch nước ngầm áp lực.
(Q) It would flow out of the top?
(Q) Nó sẽ chảy tràn ra ở miệng?
(A) Flow out over the top.
(A) Chảy tràn ra ở miệng.
(Q) Is there any sulphur in this water?
(Q) Có lưu huỳnh trong nước này không?
(A) Sulphur may be obtained here. This is sweet water here.
(A) Ở đây có thể lấy được lưu huỳnh. Nước này là nước ngọt ở đây.
(Q) Give the chemical analysis.
(Q) Cho biết phân tích hoá học.
(A) Fifty-six percent (56%) pure water. Silicon a trace. Lime a trace. Magnesia a trace. This would be pure sweet water here, you see, with only the traces of those of silicon, magnesia, of lime, and of other properties as only would be seen in traces of same, see? and in the changes as brought, as given, this may be only increased by the heating, or the various conditions as may be brought to same—for, as a health resort, as the building up of the general body, and as of the whole system, see? The sulphur waters may be obtained where there is seen an old channel on north end of the south portion of north island. These, we find, will be of the black sulphur, yet for certain conditions—and for the baths as may be instituted through same—will be quite beneficial to health, end especially to those of the neuritic conditions—nervousness, and of the germ of rheumatic conditions, see? This will be found only eighty-nine to ninety (89 to 90) feet deep, see? [GD’s note: See 587-3, Par. R12 of 9/28/72 for analysis of water in well, and 587-4, Par. R12 of 1/17/70.]
(A) Năm mươi sáu phần trăm (56%) nước tinh khiết. Silic vết. Vôi vết. Magnesi vết. Đây sẽ là nước ngọt tinh khiết, bạn thấy đó, chỉ có các vết của silic, magnesi, vôi, và những tính chất khác chỉ ở mức vết mà thôi, thấy chứ? Và với những thay đổi được đưa vào, như đã nói, điều này chỉ có thể tăng lên nhờ việc gia nhiệt, hoặc các điều kiện khác nhau có thể áp dụng—vì, như tại một nơi điều dưỡng, nhằm bồi bổ thân thể chung và toàn bộ hệ thống, hiểu chứ? Nước lưu huỳnh có thể lấy được ở nơi thấy một lòng dẫn cũ ở đầu bắc của phần phía nam của hòn đảo phía bắc. Những thứ này, chúng ta thấy, sẽ là loại lưu huỳnh đen, nhưng cho những tình trạng nhất định—và cho các bồn tắm có thể lập nên bằng thứ đó—sẽ khá có lợi cho sức khoẻ, nhất là cho những tình trạng viêm dây thần kinh—thần kinh bồn chồn, và mầm mống của các tình trạng thấp khớp, hiểu chứ? Sẽ chỉ sâu tám mươi chín đến chín mươi (89 đến 90) feet, nghe chứ? [Ghi chú của GD: Xem 587-3, đoạn R12 ngày 9/28/72 về phân tích nước trong giếng, và 587-4, đoạn R12 ngày 1/17/70.]
(Q) Could this port be made a shipping port?
(Q) Cảng này có thể làm thành cảng hàng hải không?
(A) Be made a shipping port, by the opening of the channel to the west and to the north here, see?
(A) Có thể làm thành cảng hàng hải, bằng cách mở luồng ra phía tây và phía bắc ở đây, hiểu chứ?
(Q) What would be the proper way to open this channel?
(Q) Cách thích hợp để mở luồng này là gì?
(A) See, when a channel is made here—as we see, the sands only come from the southern end, that would hinder or produce a bar. When dredges are made, only the extension of those obstructions—that only divert the channel—which is of moving waters—to the outer edge, would prevent and keep from the bar being moved back and forth across. Rocks or piles, see? along this end. Much may be given, and much may be accomplished—and as to those that would build such, that as is given as “keep in store” is, as it were, the bonus for the undertaking. Keep that for self.
(A) Xem này, khi mở luồng ở đây—như chúng ta thấy, cát chỉ từ đầu phía nam đổ tới, cái sẽ cản trở hoặc tạo thành doi chắn. Khi tiến hành nạo vét, chỉ cần kéo dài những vật cản—để chuyển hướng luồng, tức các dòng nước chảy—ra rìa ngoài, thì sẽ ngăn và không cho doi cát di chuyển qua lại chắn ngang. Đá hoặc cọc, hiểu chứ? dọc theo đầu này. Có thể nói nhiều nữa, và có thể làm được nhiều—và đối với những ai sẽ xây dựng như vậy, thì cái được gọi là “để dành” ấy, như thể là khoản thưởng cho công cuộc này. Hãy giữ điều đó cho mình.
We are through for the present.
Chúng ta tạm kết thúc.
[Background: Reading given to a forty-one-year-old female who inquired about the German philosopher Boehme, the continent of Atlantis and the transition between the Piscean and Aquarian ages.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc dành cho một phụ nữ bốn mươi mốt tuổi hỏi về nhà triết học người Đức Boehme, lục địa Atlantis và sự chuyển tiếp giữa các thời kỳ Song Ngư và Bảo Bình.]
Reading 1602-3; September 22, 1939
Buổi đọc 1602-3; Ngày 22 tháng 9, 1939
GC: You will have before you the inquiring mind of [1602], present in this room, who seeks guidance—impersonal guidance and light regarding the teachings of Jacob Boehme, the German philosopher and mystic of the 17th century who used the corresponding Principles of Nature—of the entire Astral, with man, as the true Spiritual approach to the Primal Light beyond the Circuit of Reincarnation. Will you clarify the answers to the following and help me to understand them in relation to Spiritual Evolution—as I ask them...
GC: Trước các ngài sẽ là tâm trí truy vấn của [1602], hiện diện trong phòng này, người tìm kiếm sự chỉ dẫn—sự chỉ dẫn vô ngã và ánh sáng liên hệ tới giáo huấn của Jacob Boehme, nhà triết học và nhà thần bí người Đức thế kỷ 17, người đã sử dụng các Nguyên lý Tương ứng của Tự nhiên—của toàn thể cõi cảm dục, với con người, như là tiếp cận Tinh thần chân thật đến Ánh sáng Nguyên sơ bên kia Chu trình Luân hồi. Ngài sẽ làm rõ các câu trả lời cho những điều sau và giúp tôi thấu hiểu chúng trong liên hệ với Tiến hoá Tinh thần—khi tôi nêu hỏi...
(Q) Three hundred years ago Jacob Boehme decreed Atlantis would rise again at this crisis time when we cross from this Piscean Era into the Aquarian. Is Atlantis rising now? Will it cause a sudden convolution and about what Year?
(Q) Ba trăm năm trước Jacob Boehme phán rằng Atlantis sẽ trỗi dậy lần nữa vào thời khủng hoảng này khi chúng ta băng qua khỏi thời Song Ngư vào Bảo Bình. Atlantis có đang trỗi dậy lúc này chăng? Nó có gây đảo lộn đột ngột không, và khoảng năm nào?
(A) In 1998 we may find a great deal of the activities as have been wrought by the gradual changes that are coming about. These are at the periods when the cycle of the solar activity, or the years as related to the sun’s passage through the various spheres of activity become paramount or Catamount [?] [Tantamount?] to the change between the Piscean and the Aquarian age. This is a gradual, not a cataclysmic activity in the experience of the earth in this period...
(A) Vào năm 1998 chúng ta có thể thấy nhiều hoạt động đã được tạo nên bởi những thay đổi dần dần đang diễn ra. Đây là vào những kỳ mà chu kỳ hoạt động thái dương, hay những năm liên hệ tới hành trình của mặt trời qua các khu vực hoạt động khác nhau, trở nên nổi trội, [từ nghe không rõ?] [tương đương?] với sự chuyển đổi giữa thời Song Ngư và thời Bảo Bình. Đây là một diễn tiến từ tốn, không phải một biến cố đại họa trong kinh nghiệm của Trái Đất ở thời kỳ này...
(Q) What will the Aquarian Age mean to mankind as regards Physical, Mental and Spiritual development? Is the Aquarian Age described as the “Age of the Lily” and why?
(Q) Kỷ nguyên Bảo Bình sẽ mang lại gì cho nhân loại về phương diện phát triển Thể chất, Trí tuệ và Tinh thần? Kỷ nguyên Bảo Bình có được mô tả là “Kỷ nguyên của Hoa Huệ” không và vì sao?
(A) Think Ye this might be answered in a word? These are as growths. What meant that awareness as just indicated? In the Piscean age, in the center of same, we had the entrance of Emmanuel or God among men, see? What did that mean? The same will be meant by the full consciousness of the ability to communicate with or to be aware of the relationships to the Creative Forces and the uses of same in material environs. This awareness during the era or age in the age of Atlantis and Lemuria or Mu brought what?
(A) Các người tưởng điều này có thể được trả lời bằng một lời ư? Đây là những sự tăng trưởng. Cái nhận biết vừa nêu đó có ý nghĩa gì? Trong thời Song Ngư, ngay tâm điểm của thời ấy, chúng ta đã có sự giáng lâm của Emmanuel hay Thượng đế ở giữa loài người, thấy chứ? Điều ấy có nghĩa gì? Điều tương tự sẽ được hiểu là tâm thức trọn vẹn về khả năng giao tiếp với, hay ý thức về mối liên hệ đối với các Lực Sáng Tạo và việc sử dụng chúng trong môi trường vật chất. Cái nhận biết ấy, trong kỷ nguyên Atlantis và Lemuria hay Mu, đã đem lại điều gì?
Destruction to man, and his beginning of the needs of the journey up through that of selfishness. Then, as to what will these be—only those who accept same will even become aware of what’s going on about them! How few realize the vibratory forces as create influences from even one individual to another, when they are even in the same vibratory force or influence! And yet ye ask what will the Aquarian age bring in mind, in body, in experience?
Sự hủy diệt cho con người, và sự khởi đầu của nhu yếu cho hành trình vươn lên vượt qua tính ích kỷ. Vậy, những điều ấy sẽ là gì— chỉ những ai chấp nhận điều đó mới thậm chí nhận biết được những gì đang diễn ra quanh họ! Biết bao ít người nhận ra các mãnh lực rung động tạo nên ảnh hưởng từ ngay một cá nhân này sang cá nhân khác, khi họ còn đang ở trong cùng một rung động hay ảnh hưởng! Vậy mà các người lại hỏi Kỷ nguyên Bảo Bình sẽ đem lại gì cho trí, cho thân, cho kinh nghiệm?
(Q) Is the Aquarian Age described as the ‘Age of the Lily’ and why?
(Q) Kỷ nguyên Bảo Bình có được mô tả là “Kỷ nguyên của Hoa Huệ” không và vì sao?
(A) The purity. Only the purity as it represents will be able to comprehend or understand that awareness that is before those who seek the way.
(A) Sự trong sạch. Chỉ sự trong sạch mà biểu tượng ấy đại diện mới có thể lĩnh hội hay thấu hiểu cái nhận biết đang ở trước những ai tìm đường.
(Q) Can a date be given to indicate the beginning of the Aquarian Age?
(Q) Có thể cho một ngày để chỉ ra khởi đầu của Kỷ nguyên Bảo Bình không?
(A) This has already been indicated as the period when it should pass, but that is when it begins to affect. It laps over from one to another, as is the natural sources, as he holds to that which has been, which is. As has been indicated, we will begin to understand fully in ‘98.
(A) Điều này đã được chỉ ra như giai đoạn khi nó nên đi qua, nhưng đó là khi nó bắt đầu tác động. Nó chồng lấn từ cái này sang cái kia, như nguồn lẽ tự nhiên, khi người ta bám vào cái đã qua, cái đang là. Như đã chỉ ra, chúng ta sẽ bắt đầu hiểu đầy đủ vào năm ’98.
(Q) Are there any thoughts along these lines, beyond these, that can be given at this time?
(Q) Có tư tưởng nào theo những chiều hướng này, ngoài những điều trên, có thể được đưa ra lúc này không?
(A) Holy, holy is His name!
(A) Thánh thay, thánh thay Danh Ngài!
We are through.
Chúng ta kết thúc.
[Background: Follow-up reading given to [1602] regarding various changes that could be anticipated–politically, economically, and geologically.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc tiếp nối dành cho [1602] về các thay đổi có thể dự liệu—chính trị, kinh tế và địa chất.]
Reading 1602-5; November 28, 1939
Buổi đọc 1602-5; Ngày 28 tháng 11, 1939
HLC: You will have before you the entity, [1602], also her mental and material affairs. It has been indicated, thru various sources, that the period immediately ahead, is one of change in many fields—politically, economically, and geologically. Will you clarify these predictions for me, and give directions for me at this time? answering questions which have been prepared?
HLC: Trước các ngài sẽ là thực thể, [1602], cùng các mối sự trí tuệ và vật chất của bà. Đã có chỉ dẫn, qua nhiều nguồn, rằng giai đoạn ngay phía trước là một giai đoạn thay đổi trong nhiều lĩnh vực—chính trị, kinh tế và địa chất. Xin làm rõ các lời tiên báo này cho tôi, và cho tôi những chỉ dẫn lúc này? trả lời các câu hỏi đã được chuẩn bị?
EC: Yes, we have the entity here.
EC: Vâng, chúng ta có thực thể ở đây.
As in relationship to changes—these are indicated not only through prophecies but through astrological aspects, as well as the thought and intent of persons and groups in high places; bringing about these things, these conditions, in what might be said to be the fullness of time.
Về liên hệ đến thay đổi—những điều này được chỉ ra không chỉ qua tiên tri mà còn qua các phương diện chiêm tinh, cũng như tư tưởng và ý định của các cá nhân và các nhóm ở những vị trí cao; đưa tới những điều này, những tình trạng này, trong cái có thể nói là sự viên mãn của thời gian.
However—since the advent of the Son of Man in the earth, giving man an advocate with the Father, there has been an influence that may counteract much of that which has been indicated that would come as retribution, or in filling the law of an evolution of ideas and the relationship of material things to the thoughts and intents of individuals and groups.
Tuy nhiên—từ sau khi Con Người giáng lâm nơi trần thế, ban cho con người một Đấng cầu thay trước Cha, đã có một ảnh hưởng có thể hoá giải nhiều điều được chỉ ra sẽ đến như sự báo ứng, hay trong sự ứng nghiệm định luật về tiến hoá của các ý niệm và mối liên hệ của các sự vật vật chất đối với tư tưởng và ý định của các cá nhân và tập thể.
Then, as to whether the hearts and minds of individuals or souls (who were given authority concerning the laws of the universe) are fired with the thoughts of dire consequences or those things that bespeak of the greater development of a spiritual awakening, is still in the keeping and in the activities of individuals who—as this entity—have caught a glimpse, or an awareness, of that which is in the making, in the affairs of state, nation, and nations, and the universe, as related to the conditions upon the face of Mother Earth.
Vậy thì, việc tâm và trí của các cá nhân hay linh hồn (những người được trao quyền liên quan đến các định luật của vũ trụ) bừng cháy với những tư tưởng về hệ quả khốc liệt hay những điều nói lên sự phát triển lớn lao hơn của một thức tỉnh tinh thần, vẫn thuộc sự gìn giữ và thuộc các hoạt động của các cá nhân—như thực thể này—những người đã thoáng thấy, hay ý thức, về điều đang hình thành, trong quốc sự, quốc gia, các quốc gia, và vũ trụ, như liên hệ tới các điều kiện trên bề mặt Mẹ Địa Cầu.
There enters much, then, that might become questions as respecting that which has been foretold, or prophesied, as well as respecting the activities of groups and individuals who have acted and who are to act as a counterbalance to these happenings in the earth.
Vậy thì có nhiều điều đi vào, có thể trở thành câu hỏi liên quan tới điều đã được báo trước, hay tiên tri, cũng như liên quan tới các hoạt động của các nhóm và cá nhân đã hành động và sẽ hành động như một đối trọng với những biến cố này trên trần thế.
In the first premise—know what was the cause of indifference, or sin, entering material manifestations. Was it the purpose by God that such should be, or by the Godhead? or was it that this force or power seeking expression found—with the expression—that there came the forces of positive and negative?
Ở tiền đề thứ nhất—hãy biết nguyên cớ của sự dửng dưng, hay tội lỗi, xâm nhập các biểu lộ vật chất là gì. Đó là mục đích bởi Thượng đế định như vậy, hay bởi Thần tính? hay là quyền năng hay lực này, tìm kiếm biểu lộ, đã thấy—với sự biểu lộ ấy—rằng có các lực dương và âm?
And with same the awareness of one influence or force, taking certain courses or directions, became negative.
Và cùng với đó là ý thức rằng một ảnh hưởng hay lực, khi theo những lộ trình hay hướng nhất định, trở thành âm.
The others became the greater positive.
Những cái khác trở thành dương lớn hơn.
Thus in the experience of souls through their evolution in the material things of the earth, there has been brought just that same effect in the material affairs of the souls active in expressing or manifesting at this particular period or sphere of development.
Do đó trong kinh nghiệm của các linh hồn xuyên qua tiến hoá của chúng trong các sự vật vật chất của trần gian, đã đưa đến đúng hiệu ứng tương tự ấy trong các sự vụ vật chất của các linh hồn đang tích cực biểu lộ hay hiện lộ ở kỳ hay bình diện phát triển đặc thù này.
Much of just this comprehending is indicated in some of those records that are now becoming more and more a part of man’s experience, or awareness; in that the cosmic or universal or spiritual laws are bringing same into that category or phase of experience where they become a part of individual experience.
Nhiều điều thuộc về chính sự thấu hiểu này được chỉ ra trong một số bản ghi hiện đang ngày một trở thành phần của kinh nghiệm, hay nhận thức, của con người; ở chỗ các định luật vũ trụ hay phổ quát hay tinh thần đang đưa điều đó vào hạng mục hay pha kinh nghiệm nơi chúng trở thành một phần của kinh nghiệm cá nhân.
This may be indicated from the records in the rocks; it may be indicated in the pyramids—man’s attempts to leave a sign to those who, in the spiritual comprehension of material associations in spirit, would interpret that which had been, that which is, and that which was to be.
Điều này có thể được chỉ ra từ các ghi chép trong đá; có thể được chỉ ra trong các kim tự tháp—những nỗ lực của con người nhằm để lại một dấu hiệu cho những ai, trong sự thấu hiểu tinh thần về các liên hệ vật chất trong tinh thần, sẽ diễn giải cái từng là, cái đang là, và cái sẽ là.
Hence it is seen that there are interpretations that become a matter of the consciousness of the individual so making same.
Bởi vậy thấy rằng có những diễn giải trở thành vấn đề của tâm thức của cá nhân đang thực hiện diễn giải ấy.
Or, to return to the first premise, it depends upon which line is taken by such an individual making such interpretation; whether a pessimistic or an optimistic, or a positive or a negative; or (by negative we mean) one that sees the world, as related to the earth and its position in the universe, being damned irrespective of what souls do about same—taking little or no account of the words, the promises, yea the activities of Him. He manifested in the earth that as would bring to the seeker an awareness of the constructive influence of same.
Hoặc, trở lại tiền đề thứ nhất, nó tuỳ thuộc vào đường hướng được chọn bởi một cá nhân thực hiện diễn giải như vậy; là bi quan hay lạc quan, hay dương hay âm; hoặc (nói âm là) kẻ nhìn thế giới, như liên hệ tới Địa Cầu và vị trí của nó trong vũ trụ, bị kết án bất kể các linh hồn làm gì—hầu như không tính đến hay không tính đến Lời, các lời hứa, vâng, các hoạt động của Ngài. Ngài đã hiện lộ nơi trần gian cái sẽ mang đến cho người tìm đạo nhận biết về ảnh hưởng xây dựng của điều ấy.
This may be indicated or seen in the record according to the Book—which is as a sign, a guide to those who seek to know His ways, His purposes to man.
Điều này có thể được chỉ ra hay thấy trong ghi chép theo Sách—vốn như một dấu hiệu, một kim chỉ nam cho những ai tìm biết các đường lối của Ngài, các mục đích của Ngài đối với con người.
These interpretations of the promises, the pledges taken and given in the lives and activities—or during the phases of a sojourn of an individual soul, must be taken into account.
Những diễn giải về các lời hứa, các lời thệ nguyện đã nhận và đã trao trong đời sống và các hoạt động—hay trong các pha của một kiếp trú thế của một linh hồn cá nhân, phải được tính đến.
And then these indicate as to what is to come to pass, even through these periods of the earth’s journey through space; “catching up,” as it were, with Time.
Và rồi những điều này chỉ ra cái sẽ xảy đến, ngay cả xuyên qua những thời kỳ Trái Đất du hành trong không gian; “đuổi kịp”, như thể, với Thời gian.
And then the soul realizes—in his search for his Maker—the patience that was, is and will be manifested in Him; He that is the way, the truth and the light.
Và rồi linh hồn nhận ra—trong cuộc kiếm tìm Đấng Tạo Hoá—lòng nhẫn nại đã, đang và sẽ được biểu lộ nơi Ngài; Ngài là đường, là lẽ thật và là ánh sáng.
Again the interpretation of the signs and the omens becomes an individual experience. And each soul—as this entity—then is given the privilege, the opportunity to live such an activity in its relationships to its fellow man; filling, fulfilling, and interpreting that which has been indicated, in such measures and such manners as to bring hope and not fear, peace and not hate, that which is constructive and not destructive, into the lives and minds and hearts of others.
Một lần nữa các diễn giải về các dấu chỉ và điềm triệu trở thành kinh nghiệm cá nhân. Và mỗi linh hồn—như thực thể này—rồi được ban đặc ân, cơ hội để sống một hoạt động như vậy trong các mối liên hệ của mình với đồng loại; thực hiện, hoàn thành, và diễn giải điều đã được chỉ ra, bằng những liều lượng và cung cách đưa hy vọng chứ không sợ hãi, bình an chứ không hận thù, cái xây dựng chứ không phá hoại, vào đời sống, tâm trí và trái tim của người khác.
We will rest for the period.
Chúng ta sẽ nghỉ một lúc.
[Background: Another reading given to [1602] requesting additional information along the same lines.]
[Hậu cảnh: Một buổi đọc khác dành cho [1602] xin thêm thông tin theo cùng đường hướng.]
Reading 1602-6; December 11, 1939
Buổi đọc 1602-6; Ngày 11 tháng 12, 1939
EC: Yes, we have the body, the enquiring mind, Mrs. [1602]; this we have had before; also that which has been indicated, which is an experience of each and every entity or soul that manifests in the material world, regarding predictions that have been made through various agencies and channels.
EC: Vâng, chúng ta có đương sự, tâm trí đang truy vấn, Bà [1602]; điều này chúng ta đã có trước đây; cùng với điều đã được chỉ ra, vốn là kinh nghiệm của mỗi và mọi thực thể hay linh hồn hiện lộ trong thế giới vật chất, liên quan đến các dự đoán đã được đưa ra qua nhiều cơ quan và kênh khác nhau.
As has been indicated, much of that which has been given may be seen in the experiences of the political and economic conditions throughout the world in the present.
Như đã chỉ ra, nhiều điều đã được nêu có thể thấy trong những kinh nghiệm về các điều kiện chính trị và kinh tế khắp thế giới ở hiện tại.
As to those changes that are to be wrought in these directions—these, as we find, may best be interpreted from those premises that are known as the Holy Writ.
Còn về những thay đổi sẽ được tạo nên theo các hướng này—những điều đó, như chúng ta thấy, tốt nhất nên được diễn giải từ những tiền đề được biết đến như Thánh Kinh.
For, He will not be mocked—and whatsoever man soweth, that must he also reap.
Vì, Ngài sẽ không bị nhạo báng—và người gieo gì, ắt cũng sẽ gặt nấy.
As to the changes that are coming—as in the fulfilling of time and space (which has been referred to)—these will, as indicated, depend upon what individuals and groups do about that they know respecting His will, His purpose with man.
Còn về những thay đổi sắp đến—như trong sự ứng nghiệm của thời gian và không gian (điều đã được nhắc đến)—những điều này, như đã chỉ ra, sẽ tuỳ thuộc vào việc các cá nhân và các nhóm hành xử ra sao đối với những gì họ biết liên quan đến Ý muốn của Ngài, Mục đích của Ngài với con người.
The geographical changes, as we find, will not be of any appreciable change in the affairs of men, save as induced by those activities of men respecting their application of those laws pertaining to same, in this particular generation.
Những thay đổi địa lý, như chúng ta thấy, sẽ không gây biến đổi đáng kể trong sinh hoạt của con người, trừ khi bị tạo bởi những hoạt động của con người liên quan đến việc họ áp dụng các định luật thuộc về điều đó, trong thế hệ đặc thù này.
That signs of changes are imminent is a matter of record in many directions—yet these indicate only the general trend of what may eventually be the outcome. This again is proviso.
Rằng các dấu hiệu của biến đổi đang cận kề là điều đã được ghi nhận theo nhiều chiều—nhưng chúng chỉ chỉ ra xu thế chung của cái rồi có thể rốt cuộc trở thành kết cuộc. Điều này một lần nữa là điều kiện kèm theo.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) May 1941 is given, astrologically, as the time of the beginnings of riots, tumults, and revolution in and about New York City. Is this correct and what may be looked for?
(Q) Tháng 5 năm 1941 được cho, theo chiêm tinh, là thời điểm khởi đầu của bạo loạn, náo động và cách mạng trong và quanh Thành phố New York. Điều này đúng không và có thể liệu trước điều gì?
(A) This, as we have indicated, will depend upon the activities of men. As to whether this is to be, so far as the entity is concerned, will depend upon the attitude taken. If it is dwelt upon in the pessimistic manner, look for it! If it is dwelt upon in the optimistic manner, and acting in that way and manner, do not be disturbed!
(A) Điều này, như chúng ta đã chỉ ra, sẽ tuỳ thuộc vào các hoạt động của con người. Về việc điều này có xảy ra hay không, xét về đương sự, sẽ tuỳ thuộc vào thái độ được chọn. Nếu cứ chú tâm theo chiều bi quan, hãy trông đợi nó! Nếu chú tâm theo chiều lạc quan, và hành xử theo lối ấy, đừng bối rối!
(Q) May 3, 1942, is given as a period of earth disturbances; quakes and floods. If this is so, what territory will be affected and how? If these dates are not correct, when could such be expected?
(Q) Ngày 3 tháng 5, 1942, được cho là một kỳ xáo động địa cầu; động đất và lũ lụt. Nếu đúng như vậy, lãnh thổ nào sẽ bị ảnh hưởng và thế nào? Nếu các ngày này không đúng, thì khi nào có thể kỳ vọng như thế?
(A) No—we do not find this of an especially unusual nature. This, again, as indicated, is provided there are such activities—as were in those influences indicated through the records—that the sin of man is such as to become a stench before his Maker.
(A) Không—chúng ta không thấy đây là điều đặc biệt khác thường. Điều này, một lần nữa, như đã chỉ ra, là với điều kiện có những hoạt động như vậy—như trong những ảnh hưởng được chỉ ra qua các ghi chép—khi tội lỗi của con người trở thành mùi hôi trước Đấng Tạo Hoá của y.
(Q) Should my family and I remain in New York City?
(Q) Gia đình tôi và tôi có nên ở lại Thành phố New York không?
(A) This is dependent upon just that as indicated.
(A) Điều này tuỳ thuộc đúng vào điều vừa được chỉ ra.
(Q) Any advice or suggestions as to where and when we should locate?
(Q) Có lời khuyên hay gợi ý nào về nơi và khi nào chúng tôi nên định cư không?
(A) Just as has been indicated! These things are dependent upon attitudes and activities taken! or ideals that are to be lived up to...
(A) Đúng như đã chỉ ra! Những điều này tuỳ thuộc vào thái độ và hành động được chọn! hay lý tưởng cần được sống theo...
(Q) Are there any directions for me at this time that will be of help to me as well as others?
(Q) Có chỉ dẫn nào cho tôi lúc này sẽ hữu ích cho tôi cũng như người khác không?
(A) The great help for any soul—as well as for this—is to awaken, to arouse that individuality of self within, to the promises, purposes and intents of creative influence as found in Him—who is the way, the truth, the light; making manifest such in the application of self towards individuals met day by day; being consistent, persistent in such activities. And then the growth such as is necessary will be manifested.
(A) Sự trợ giúp lớn lao cho bất kỳ linh hồn nào—cũng như cho trường hợp này—là đánh thức, khơi dậy cái cá tính của tự ngã bên trong, với các lời hứa, mục đích và ý định của ảnh hưởng sáng tạo được thấy nơi Ngài—Đấng là đường, là lẽ thật, là ánh sáng; khiến điều ấy hiển lộ trong việc ứng dụng tự thân đối với các cá nhân gặp gỡ mỗi ngày; kiên định, bền bỉ trong các hoạt động như vậy. Và rồi sự tăng trưởng cần thiết sẽ được biểu lộ.
We are through for the present.
Chúng ta tạm kết thúc.
[Background: Reading given to a thirty-four-year-old female who inquired about the safety of Chapel Hill, NC.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc dành cho một phụ nữ ba mươi bốn tuổi hỏi về mức độ an toàn của Chapel Hill, Bắc Carolina.]
Reading 1947-8; December 16, 1941
Buổi đọc 1947-8; Ngày 16 tháng 12, 1941
(Q) For future health protection for my family, should water and food be stored for emergency? To last how long a period? Any further suggestions?
(Q) Để bảo vệ sức khoẻ trong tương lai cho gia đình tôi, có nên trữ nước và lương thực cho tình huống khẩn cấp không? Đủ dùng trong bao lâu? Có gợi ý nào thêm không?
(A) No. It should be remembered that the food, the silver, the gold is the Lord’s. To be sure, consistency should be used in taking into consideration the exterior problems; but such considerations as these are not problems in the present.
(A) Không. Cần ghi nhớ rằng lương thực, bạc, vàng là của Chúa. Chắc chắn, cần nhất quán khi cân nhắc các vấn đề ngoại cảnh; nhưng những cân nhắc như thế không phải là vấn đề trong hiện tại.
(Q) Is the locality in which we live safe for well being in case of possible future catastrophes? [Chapel Hill, N.C.]
(Q) Nơi chúng tôi đang sống có an toàn cho phúc lợi trong trường hợp có thể có các đại hoạ tương lai không? [Chapel Hill, N.C.]
(A) This is safe.
(A) An toàn.
(Q) Is the prediction of the falling of the great rock true? If so, approximately when would this take place?
(Q) Lời tiên báo về việc khối đá lớn sụp xuống có đúng không? Nếu vậy, khoảng khi nào sẽ xảy ra?
(A) This is a spiritual and not a physical activity. As a result of such, there may be from the internal sources great stones—but not as indicated by that prophecy—as a literal activity—as yet...
(A) Đây là một hoạt động tinh thần chứ không phải hồng trần. Là kết quả của điều ấy, có thể có—từ các nguồn nội tại—những tảng đá lớn—nhưng không như lời tiên tri ấy đã chỉ—như một hoạt động theo nghĩa đen —chưa đâu...
(Q) How may I be given a master for spiritual guidance?
(Q) Làm sao tôi có thể được ban cho một huấn sư để hướng dẫn tinh thần?
(A) Read that which has been given as to Who is thy Master! There should be only one. For, as He hath given, “If ye love me, ye will keep my commandments, and I and the Father will come and abide with thee.” Seekest thou some other way? Hast thou not accepted Him as the way? Analyze thyself. Take thought, and act. For there is no other name given under heaven whereby men, or women, may be saved.
(A) Hãy đọc điều đã được ban về Ai là Huấn sư của ngươi! Chỉ nên có một. Vì, như Ngài đã phán, “Nếu các ngươi yêu Ta, các ngươi sẽ giữ các điều răn của Ta, và Ta và Cha sẽ đến và ở với ngươi.” Ngươi tìm một con đường nào khác chăng? Há ngươi chưa chấp nhận Ngài là đường sao? Hãy tự phân tích. Suy nghĩ, và hành động. Vì dưới trời không có danh nào khác được ban cho để người nam hay người nữ nhờ đó mà được cứu.
[Background: Reading given to a thirty-one-year-old male who inquired about the safety of Norfolk, VA.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc dành cho một nam giới ba mốt tuổi hỏi về mức độ an toàn của Norfolk, Virginia.]
Reading 2746-2; November 11, 1943
Buổi đọc 2746-2; Ngày 11 tháng 11, 1943
(Q) In view of the uncertainty of existing conditions, did I act wisely in establishing my home in Norfolk?
(Q) Xét tính bất định của các điều kiện hiện hữu, tôi có hành động khôn ngoan khi lập gia cư ở Norfolk không?
(A) It’s a mighty good place, and a safe place when turmoils are to arise; though it may appear that it may be in the line of those areas to rise, while many a higher land will sink. This is a good area to stick to.
(A) Đó là một nơi rất tốt, và là nơi an toàn khi cơn biến động nổi lên; dù có thể có vẻ như nó nằm trên tuyến của những vùng sẽ trồi lên, trong khi nhiều vùng đất cao hơn sẽ chìm. Đây là vùng đáng để gắn bó.
(Q) Where should I buy a home?
(Q) Tôi nên mua nhà ở đâu?
(A) Anywhere in the area of what may be called the Tidewater section.
(A) Bất cứ đâu trong vùng có thể gọi là khu Tidewater.
[Background: Reading given to a twenty-five-year-old male that suggested there is a cyclical economic depression/downturn that occurs every 24-25 years in the economy.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc dành cho một nam giới hai mươi lăm tuổi cho thấy có một chu kỳ suy thoái/đi xuống kinh tế diễn ra cứ mỗi 24–25 năm trong nền kinh tế.]
Reading 282-3; September 8, 1931
Buổi đọc 282-3; Ngày 8 tháng 9, 1931
(Q) When will be the peak of the next period of general business prosperity, and the bottom of the next period of general business depression?
(Q) Khi nào sẽ là đỉnh của thời kỳ hưng thịnh kinh doanh chung kế tiếp, và đáy của thời kỳ suy thoái kinh doanh chung kế tiếp?
(A) As the cycles come and go, these may be judged much for the future as they have been in the past. There is, as has been seen, (those general periods—going back, as we find) the greatest Depression as arose from ordinary causes (Those in the present are out of the ordinary, for they are the combinations of both wrath, oppression and sin), in the one nearer akin, as we find, in 1907. Hence a cycle seen—this, then, of the greater next depression, would be another cycle, or a seven (7), which comprises—as is seen—near to twenty-four to twenty-five (24 to 25) years. This, you see, makes the combination of peak made—oppression or depression, also of business.
(A) Khi các chu kỳ đến rồi đi, những điều này có thể được suy định cho tương lai nhiều như chúng đã diễn ra trong quá khứ. Có, như đã thấy, (những thời kỳ chung—ngược dòng, như chúng ta thấy) cuộc Khủng hoảng lớn nhất khởi sinh từ những nguyên nhân thông thường (Những điều trong hiện tại là không thông thường, vì chúng là tổ hợp của cả cơn thịnh nộ, áp bức và tội lỗi), ở lần gần hơn, như chúng ta thấy, là năm 1907. Vậy nên một chu kỳ thấy được—vậy thì, cuộc suy thoái lớn kế tiếp sẽ là một chu kỳ khác, hay một bảy (7), bao gồm—như thấy—gần hai mươi bốn đến hai mươi lăm (24 đến 25) năm. Điều này, bạn thấy đó, tạo nên sự kết hợp của đỉnh—cả áp bức hay suy thoái, cũng như của hoạt động kinh doanh.
[Background: Life reading given to parents of a newborn, ten-week-old male.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc đời sống dành cho cha mẹ của một bé trai sơ sinh mười tuần tuổi.]
Reading 5398-1; August 24, 1944
Buổi đọc 5398-1; Ngày 24 tháng 8, 1944
Does mankind consider he is indeed his brother’s keeper? And this is the manner in which man may answer the question. There will be no want in bread for mankind when mankind eventually realizes he is indeed his brother’s keeper. For the earth is the Lord’s and the fullness thereof, and the bounty in one land is lent to man to give his brother. Who is his brother? Our Father—then each of every land, of every color, of every creed is brother of those who seek the Father, God. This instill as ye interpret. Be faithful to the trust given thee.
Nhân loại có coi rằng thật sự mình là người giữ gìn anh em mình không? Và đây là cách con người có thể trả lời câu hỏi ấy. Sẽ không có thiếu bánh cho nhân loại khi nhân loại rốt cuộc nhận ra rằng thật sự mình là người giữ gìn anh em mình. Vì Trái Đất là của Chúa và mọi sự viên mãn của nó, và bổng lộc ở một xứ được cho con người mượn để trao cho anh em mình. Ai là anh em của y? Cha của chúng ta—vậy thì mỗi người thuộc mọi xứ, mọi màu da, mọi tín ngưỡng đều là anh em của những ai tìm kiếm Cha, Thượng đế. Hãy gieo khắc điều này khi các ngươi diễn giải. Hãy trung tín với sự ủy thác đã trao cho ngươi.
[Background: Life reading given to the mother of a ten-year-old male.]
[Hậu cảnh: Buổi đọc đời sống dành cho mẹ của một bé trai mười tuổi.]
Reading 2780-3; December 11, 1943
Buổi đọc 2780-3; Ngày 11 tháng 12, 1943
Let that rather be thy watchword, “I am my brother’s keeper.” Who is thy brother? Whoever, wherever he is, that bears the imprint of the Maker in the earth, be he black, white, gray or grizzled, be he young, be he Hottentot, or on the throne or in the president’s chair. All that are in the earth today are thy brothers. Those that have gradually forgotten God entirely have been eliminated, and there has come—now—and will come at the close of this next year—the period when there will be no part of the globe where man has not had the opportunity to hear, “The Lord He is God.”
Hãy để điều này làm khẩu hiệu của ngươi: “Ta là người giữ gìn anh em ta.” Ai là anh em ngươi? Bất kỳ ai, bất kỳ ở đâu, mang dấu ấn của Đấng Tạo Hoá nơi trần gian, dù là người da đen, trắng, xám hay hoa râm, dù trẻ, dù là Hottentot, hay trên ngai vàng hay trong ghế tổng thống. Tất cả những ai hiện ở trong thế gian hôm nay đều là anh em của ngươi. Những kẻ dần dần quên mất Thượng đế hoàn toàn đã bị loại bỏ, và đã đến—ngay bây giờ—và sẽ đến vào cuối năm tới—giai đoạn mà sẽ không còn nơi nào trên địa cầu mà con người chưa có cơ hội nghe, “Chúa, chính Ngài là Thượng Đế.”
And, as has been indicated, when this period has been accomplished, then the new era, the new age, is to begin. Will ye have a part of it, or will ye let it pass by and be merely a hanger-on, or one upon whom your brother—the Lord, thy Christ—may depend?
Và, như đã chỉ ra, khi giai đoạn này hoàn tất, thì kỷ nguyên mới, thời đại mới, sẽ khởi đầu. Các người sẽ có phần trong đó chăng, hay các người sẽ để nó đi qua và chỉ là kẻ bám theo, hay là người mà anh em của các người—Chúa, Đức Christ của các người—có thể trông cậy?
Remember, He has given thee father, mother, home, opportunity, possibilities that are within thine own grasp now. And the meanest, the littlest man in the world is one who is unappreciative of what has been done, what is being done. That is why man, when he forsakes God feels so low, becomes so little in his own sight.
Hãy nhớ, Ngài đã ban cho ngươi cha, mẹ, nhà, cơ hội, những khả hữu đang nằm trong tầm tay ngươi lúc này. Và con người tầm thường nhất, nhỏ bé nhất trên đời là kẻ vô ơn trước những gì đã làm, đang làm cho y. Đó là lý do vì sao con người, khi lìa bỏ Thượng đế, cảm thấy thấp hèn đến thế, trở nên nhỏ nhoi trước mắt mình đến thế.
So think on these things, and begin where the light begins—and that is within thine own heart and mind, as ye read, as ye study, as ye talk with the Lord of thy heart. Who is thy Lord? He that made heaven and earth, He that walked among men, He that said “Come to me,” He that gave “If ye open your heart, your mind, I will walk and talk with thee.” Or is it self, that ye may be a little bit better, a little bit bigger, a little bit saucier, yes, a little bit better to cuss this or that? No! He that is the Maker, the Creator, to whom the whole world has been given! He asks and entrusts to thee thy place to be fulfilled by thee to His glory, His honor, and then will there be peace, harmony, happiness in thy life experience throughout.
Vậy hãy suy nghĩ những điều này, và khởi đầu nơi ánh sáng khởi đầu—và đó là trong chính trái tim và tâm trí ngươi, khi ngươi đọc, khi ngươi học, khi ngươi đàm đạo với Chúa của lòng ngươi. Ai là Chúa của ngươi? Đấng đã dựng nên trời và đất, Đấng đã bước đi giữa loài người, Đấng đã phán “Hãy đến với Ta,” Đấng đã hứa “Nếu ngươi mở lòng, mở trí, Ta sẽ bước đi và đàm đạo với ngươi.” Hay đó là tự ngã, để ngươi có thể hơn một chút, lớn hơn một chút, hỗn hơn một chút, vâng, giỏi hơn một chút để chửi rủa điều này điều nọ? Không! Đấng là Đấng Dựng Hoá, Đấng Sáng Tạo, Đấng mà cả thế gian đã được trao cho! Ngài yêu cầu và ủy thác cho ngươi vị trí của ngươi để được ngươi chu toàn, cho vinh quang, vinh dự của Ngài, và rồi sẽ có bình an, hoà điệu, hạnh phúc trong kinh nghiệm đời sống của ngươi suốt thảy.
[Background: Life reading given to a forty-two-year-old male, who inquired: “What can I do to help bring about the New Age?”]
[Hậu cảnh: Buổi đọc đời sống dành cho một nam giới bốn mươi hai tuổi, người hỏi: “Tôi có thể làm gì để góp phần đưa Kỷ nguyên Mới đến?”]
Reading 5154-1; April 24, 1944
Buổi đọc 5154-1; Ngày 24 tháng 4, 1944
The entity’s associates and activities should definitely have to do with groups for the brotherhood of man; fatherhood of God and the brotherhood of man. But in the assurance, or insurance, as of a cooperative nature, will be channels for the outlet for the abilities and activities of the entity...
Các mối liên kết và hoạt động của đương sự nhất định nên liên quan tới các nhóm vì tình huynh đệ nhân loại; phụ tính của Thượng đế và tình huynh đệ của nhân loại. Nhưng trong sự bảo đảm, hay bảo hiểm, theo bản chất hợp tác, sẽ là các kênh cho đầu ra của khả năng và hoạt động của đương sự...
The entity was among the Egyptians who sided with or who prompted the Atlanteans for their own representatives in the activities, when those turmoils were active just before the return of the Priest.
Đương sự đã ở giữa người Ai Cập, về phe hay cổ vũ người Atlantis để họ có đại diện của họ trong các hoạt động, khi các xáo động ấy đang diễn ra ngay trước khi vị Tư tế trở lại.
The entity was not so well considered by some of its own peoples, but rather as one who was—it might be said—persuaded, because of fascination for certain tenets; and the interest then in the reports from the Atlanteans had much to do with the entity in its choice of activities through the experience.
Đương sự không được một số đồng bào của mình coi trọng, mà đúng hơn là như người—có thể nói—bị thuyết phục, vì say mê một số tín điều; và mối quan tâm khi ấy tới các tường trình từ người Atlantis đã ảnh hưởng nhiều đến đương sự trong sự chọn lựa các hoạt động qua kinh nghiệm.
Thus the warning respecting the interest in occult and the application of the psychic. There’s quite a variation.
Bởi vậy có lời cảnh báo liên quan đến mối quan tâm tới huyền bí học và ứng dụng của thông linh. Có sự khác biệt khá lớn.
As to the abilities of the entity, that to which it may attain, and how:
Về khả năng của đương sự, điều đương sự có thể đạt tới, và cách thế:
First, as indicated, analyze and study self. Do find thy ideal, physically, mentally, spiritually.
Trước hết, như đã chỉ dẫn, hãy phân tích và học chính mình. Hãy tìm lý tưởng của ngươi, về thể chất, trí tuệ, tinh thần.
Then study to show thyself approved unto that ideal, condemning none; and most of all don’t condemn self.
Rồi học để tỏ mình được chấp thuận đối với lý tưởng ấy, đừng kết án ai; và trên hết đừng kết án chính mình.
As to the physical activities, these should have to do with the insurance or assurance of the nature that is cooperative; dealing with farms, with stock, and such. These having to do with such undertakings should be the especial associates of the entity.
Về các hoạt động thể chất, chúng nên liên hệ đến bảo hiểm hay bảo đảm theo bản chất hợp tác; liên quan đến nông trại, gia súc, v.v. Những người liên quan đến các công cuộc như vậy nên là các cộng sự đặc biệt của đương sự.
In thy study of the mystic, the occult, the psychic, let it be from the basis of the ideal and not from hearsay—rather from thine own experience.
Trong việc học điều huyền nhiệm, huyền bí học, thông linh, hãy để nó dựa trên nền tảng của lý tưởng chứ không dựa vào điều nghe nói—đúng hơn dựa trên kinh nghiệm của chính ngươi.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho câu hỏi.
What can I do to help bring about the New Age?
Tôi có thể làm gì để góp phần đưa Kỷ nguyên Mới đến?
(A) As just indicated, you will have to practice it in your own life. These are the manners and channels through which this might be better expressed by this particular entity.
(A) Như vừa chỉ dẫn, ngươi sẽ phải thực hành nó trong chính đời sống mình. Đây là những cách thế và kênh mà điều này có thể được biểu đạt tốt hơn bởi đương sự đặc thù này.
(Q) What is the reason for the terrific struggle between the spiritual and the physical, wherein so often the physical appetites win and leave me with such a sense of loss and frustration?
(Q) Nguyên do của cuộc vật lộn ghê gớm giữa tinh thần và thể xác là gì, trong đó thường khi các ham muốn thể xác chiến thắng và để tôi với cảm giác mất mát và bực bội đến thế?
(A) This comes from the periods of indecision as we have indicated, and the lack of knowing the ideal in self.
(A) Điều này đến từ các giai đoạn do dự như chúng ta đã chỉ ra, và do thiếu sự biết rõ lý tưởng trong tự thân.
[Background: One of the Creation/Atlantis readings in which a question was asked about the Second Coming.]
[Hậu cảnh: Một trong các buổi đọc về Sáng thế/Atlantis trong đó có câu hỏi về Sự Tái Lâm.]
Reading 364-8; April 15, 1932
Buổi đọc 364-8; Ngày 15 tháng 4, 1932
GC: You will have before you the information given thru this channel on The Lost Continent of Atlantis, a copy of which I hold in my hand. You will please answer the questions which I will ask regarding this.
GC: Trước các ngài sẽ là các thông tin được ban qua kênh này về Lục Địa Mất Tích Atlantis, một bản sao tôi cầm trong tay. Xin vui lòng trả lời những câu hỏi tôi sẽ nêu liên quan đến điều này.
EC: We have the information as given here, The Lost Continent of Atlantis, Poseidia, Og, Odynelius [?]. Yes.
EC: Chúng ta có các thông tin như đã nêu ở đây, Lục Địa Mất Tích Atlantis, Poseidia, Og, Odynelius [?]. Vâng.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Please explain what is meant by “He will walk and talk with men of every clime”. Does this mean he will appear to many at once or appear to various peoples during a long period?
(Q) Xin giải thích “Ngài sẽ đi lại và đàm đạo với người ở mọi miền” nghĩa là gì. Điều này có nghĩa là Ngài sẽ hiện ra với nhiều người cùng lúc hay hiện ra với các dân tộc khác nhau trong một thời gian dài?
(A) As given, for a thousand years He will walk and talk with men of every clime. Then in groups, in masses, and then they shall reign of the first resurrection for a thousand years; for this will be when the changes materially come.
(A) Như đã nói, trong một ngàn năm Ngài sẽ đi lại và đàm đạo với người ở mọi miền. Rồi trong các nhóm, trong quần chúng, và rồi họ sẽ trị vì của cuộc phục sinh thứ nhất suốt một ngàn năm; vì đó sẽ là khi những biến đổi về vật chất xảy đến.
In the manner as He sat at the peace conference in Geneva, in the heart and soul of a man not reckoned by many as an even unusually Godly man; yet raised for a purpose, and he chose rather to be a channel of His thought for the world. So, as there has been, so will it be until the time as set. As was given of Him, not given to man to know the time or the period of the end, nor to man–save by their constituting themselves a channel through which He may speak. To be sure, man and woman alike; for, as given from the beginning, they are one. Not as man counts oneness from the material viewpoint. Rather from that as He gave, “Where are those thy persecutors?” “No man, Lord.” “Neither do I condemn thee. Sin no more.” In the searching out of those who, where and when He speaks, or has spoken among or with, or through men, “By their fruits ye shall know them.” They that bring more righteousness are the children of faith, hope, charity. These three; and they do so in material world, the Father, the Son, the Holy Spirit. Be thou, then, a channel that may oft walk with Him that gave not of else than, “Let not your hearts be troubled; neither let it be afraid. Let not thine right hand know what thy left hand doeth.” Rather giving self to seeking, day by day, to know the will of the Father as was manifest in Him, and may be manifest in thee, for He will not leave thee desolate, but will come to thee–but not unless invited; for, as in the periods, as we find, when He walked with men as the Master among men, or when as Joseph in the kingdoms that were raised as the saving of his peoples that sold him into bondage, or as the priest of Salem in the days when the call came that a peculiar peoples would proclaim his name, He has walked and talked with men. Or, as in those days as Asapha [?] [Sons of Asaph? See Ps. 81:5 indicating that Joseph and Asaph were one and the same?], or Affa [?] in those periods when those of that same Egyptian land were giving those counsels to the many nations, when there would be those saving of the physical from that of their own making in the physical; or in the garden when those temptations came, or as the first begotten of the Father that came as Amilius in the Atlantean land and allowed himself to be led in ways of selfishness. Hence, as we see, all the various stages of developments that have come to man through the ages have been those periods when He walked and talked with man.
Theo cách như khi Ngài ngự tại hội nghị hoà bình ở Geneva, trong trái tim và linh hồn của một người mà nhiều người không coi là một người đạo hạnh khác thường; nhưng đã được nâng lên vì một mục đích, và ông ấy đã chọn làm một ống dẫn cho Tư tưởng của Ngài cho thế giới. Vậy nên, như đã có, thì sẽ như thế cho đến thời điểm được ấn định. Như đã được nói về Ngài, không được ban cho con người biết thời điểm hay chu kỳ của tận cùng, cũng chẳng cho con người—ngoại trừ bằng việc họ tự làm thành một kênh qua đó Ngài có thể phán dạy. Quả thật, người nam và người nữ như nhau; vì, như ban từ ban đầu, họ là một. Không phải là sự một theo cách con người tính đếm từ quan điểm vật chất. Đúng hơn theo điều Ngài đã phán, “Những kẻ bắt bớ ngươi đâu?” “Không có ai, Lạy Chúa.” “Ta cũng không kết án ngươi. Đừng phạm tội nữa.” Trong việc tìm kiếm những ai, nơi nào và khi nào Ngài phán dạy trong hay cùng, hay qua con người, “Bởi hoa quả của họ các ngươi sẽ biết họ.” Những ai mang lại nhiều công chính hơn là con cái của đức tin, hy vọng, bác ái. Ba điều này; và họ làm vậy trong thế giới vật chất, là Cha, Con, Chúa Thánh Thần. Vậy thì, hãy là một kênh có thể thường bước đi với Ngài, Đấng đã không phán gì khác hơn là, “Lòng các ngươi chớ bối rối; cũng đừng sợ hãi. Tay phải ngươi chớ biết việc tay trái ngươi làm.” Đúng hơn, hãy hiến dâng tự thân cho việc tìm kiếm, ngày qua ngày, để biết ý muốn của Cha như đã hiển lộ trong Ngài, và có thể hiển lộ trong ngươi, vì Ngài sẽ không để ngươi bơ vơ, nhưng sẽ đến với ngươi—nhưng không trừ khi được thỉnh mời; vì, như trong các thời kỳ, như chúng ta thấy, khi Ngài bước đi với loài người như là Bậc Thầy giữa loài người, hay khi như Joseph trong các vương quốc được dấy lên để cứu dân tộc đã bán ông vào nô lệ, hay như vị tư tế của Salem trong những ngày khi có tiếng gọi rằng một dân tộc đặc biệt sẽ tuyên xưng danh Ngài, Ngài đã đi lại và đàm đạo với loài người. Hoặc, như trong những ngày với Asapha [?] [Con cháu của Asaph? Xem Tv. 81:5 cho thấy Joseph và Asaph là một và cùng một người?], hay Affa [?] trong những thời kỳ khi những người của chính xứ Ai Cập ấy đang ban các lời khuyên cho nhiều quốc gia, khi sẽ có những sự cứu giúp về mặt thể xác khỏi những điều chính họ tạo ra trong thể xác; hay trong vườn khi những cám dỗ đến, hay như Trưởng tử của Cha đến như Amilius tại xứ Atlantis và để cho mình bị dẫn dắt theo các đường lối ích kỷ. Bởi vậy, như chúng ta thấy, mọi giai đoạn phát triển khác nhau đã đến với con người qua các thời đại đều là những thời kỳ Ngài đã bước đi và đàm đạo với con người.
In this, then, when—as we find—that those periods began in a like period from that of Joseph to Joseph, or Jesus, then again we see the cycle when perfected in body, overcoming the world in the body of man, will He appear in those varied experiences; for He tarries not, and the time draws near.
Vậy thì, trong điều này, khi—như chúng ta thấy—những thời kỳ ấy bắt đầu trong một thời tương tự từ Joseph đến Joseph, hay Jesus, thì lần nữa chúng ta thấy chu kỳ mà khi được hoàn thiện trong thân, thắng vượt thế gian trong thân của con người, Ngài sẽ hiện ra trong những kinh nghiệm đa dạng ấy; vì Ngài không chần trễ, và thời gian đã gần.
(Q) In the Persian experience as San (or Zend) did Jesus give the basic teachings of what became Zoroastrianism?
(Q) Trong kinh nghiệm Ba Tư với tên San (hay Zend) có phải Đức Jesus đã ban các giáo huấn căn bản của cái về sau trở thành Bái Hỏa giáo?
(A) In all those periods that the basic principle was the Oneness of the Father, He has walked with men.
(A) Trong mọi thời khi nguyên lý căn bản là Tính Duy Nhất của Cha, Ngài đã bước đi với loài người.
We are through.
Chúng ta kết thúc.
[Background: One of the Prayer Group readings in which questions were asked about various symbols contained in the Book of Revelation, including the prophesized “thousand years of peace.”]
[Hậu cảnh: Một trong các buổi đọc của Nhóm Cầu nguyện trong đó có các câu hỏi về những biểu tượng khác nhau trong Sách Khải Huyền, gồm cả “ngàn năm hoà bình” được tiên báo.]
Reading 281-37; September 8, 1937
Buổi đọc 281-37; Ngày 8 tháng 9, 1937
GC: You will have before you the Glad Helpers, members of which are present here, and their work in studying the Book of Revelation. You will continue to answer the questions they have prepared on the last few chapters.
GC: Trước các ngài sẽ là Nhóm Trợ thủ Hân Hoan, các thành viên hiện diện ở đây, và công việc của họ trong việc học Sách Khải Huyền. Các ngài sẽ tiếp tục trả lời các câu hỏi họ đã chuẩn bị về vài chương cuối.
EC: Yes, we have the group as gathered here; as a group, as individuals, and their work on the study of Revelation.
EC: Vâng, chúng ta có nhóm như đã nhóm họp tại đây; như một nhóm, như từng cá nhân, và công việc của họ trong việc học Khải Huyền.
In continuing with that which has been given, well that you each here review within yourselves the experiences of the Revelation as related to your individual lives.
Khi tiếp tục với điều đã được ban, tốt là mỗi người ở đây hãy tự xét lại trong mình những kinh nghiệm của Khải Huyền như liên hệ tới đời sống cá nhân của các bạn.
In this manner may you each attune yourselves to the more comprehensive understanding of the latter portion of same.
Bằng cách này mỗi người trong các bạn có thể hoà điệu mình với sự thấu hiểu bao quát hơn về phần sau của điều ấy.
For the latter portion becomes again the invitation to all for all to partake of the life that is theirs, so living same in such a manner that each individual they contact in each experience of their associations may find every one different—and closer in accord with those teachings that are so a part of the Revelation; the body-Christ, the body-self, that may be one with Him.
Vì phần sau lại trở thành lời mời gọi một lần nữa cho hết thảy mọi người cùng dự phần sự sống vốn là của họ, rồi sống điều ấy theo cách sao cho mỗi cá nhân mà họ tiếp xúc trong từng kinh nghiệm của các mối liên hệ đều nhận ra mỗi người đều khác đi—và gần hơn trong sự hòa hợp với những giáo huấn vốn là một phần của Sự Mặc Khải; thân-thể-Đức Christ, thân-thể-tự-ngã, có thể nên một với Ngài.
Ready for questions.
Sẵn sàng cho các câu hỏi.
(Q) Explain Rev. 19:9—10. To whom is John talking here? Is it Peter?
(Q) Giải thích Khải Huyền 19:9—10. Ở đây Gioan đang nói với ai? Có phải là Phêrô không?
(A) That which is represented by Peter. What did Peter represent? That as had been given, “Flesh and blood hath not revealed this unto thee, but my father in heaven.” All then who have taken, who do take that which had been given as the example, as the pattern, as the manner of expression, as the acknowledgement of the activities within self, are in that position—that they have touched, do touch as it were the knowledge of God in that His ways, His laws, His love are not only a part of their individual lives but are by them manifested in their daily life, their daily conversation, as one to another.
(A) Với điều được Phêrô đại diện. Phêrô đã đại diện điều gì? Điều đã được phán: “Xác thịt và huyết huyết đã không mặc khải điều này cho ngươi, nhưng Cha Ta ở trên trời.” Vậy thì hết thảy những ai đã nhận lấy, đang nhận lấy điều đã được ban như gương mẫu, như mô hình, như phương thức biểu đạt, như sự xác nhận các hoạt động bên trong tự thân, đều ở trong vị thế ấy—rằng họ đã chạm, đang chạm như thể là tri thức về Thượng đế, rằng các đường lối của Ngài, các định luật của Ngài, Tình thương của Ngài không chỉ là một phần trong đời sống cá nhân của họ mà còn được họ biểu lộ trong sinh hoạt hằng ngày, trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, như người này với người kia.
Yes, then-to the Peter in every experience of the body, the mind, the soul.
Đúng vậy, vậy thì—với “Phêrô” trong mọi kinh nghiệm của thân, của trí, của linh hồn.
(Q) Explain the symbols of the white horse and rider in Rev. 19. Is this the Christ?
(Q) Hãy giải thích các biểu tượng con ngựa trắng và người kỵ sĩ trong Khải Huyền 19. Có phải đây là Đức Christ không?
(A) This is the Christ in that it, as the horse, in the experiences of the awakening is the symbol of the messenger; and this is Christ, Jesus, the messenger.
(A) Đây là Đức Christ vì nó, như con ngựa, trong các kinh nghiệm thức tỉnh, là biểu tượng của sứ giả; và đây là Đức Christ, Đức Jesus, sứ giả.
(Q) Explain what is meant by the first and second resurrections.
(Q) Giải thích ý nghĩa của sự phục sinh thứ nhất và thứ hai.
(A) The first is of those who have not tasted death in the sense of the dread of same. The second is of those who have gained the understanding that in Him there IS no death.
(A) Sự thứ nhất là của những người chưa nếm trải cái chết theo nghĩa sợ hãi điều ấy. Sự thứ hai là của những người đã đạt được sự thấu hiểu rằng trong Ngài KHÔNG có cái chết.
(Q) What is the meaning of one thousand years that Satan is bound?
(Q) Ý nghĩa của một ngàn năm Sa-tan bị trói buộc là gì?
(A) Is banished. That, as there are the activities of the forty and four thousand—in the same manner that the prayer of ten just should save a city, the deeds, the prayers of the faithful will allow that period when the incarnation of those only that are in the Lord shall rule the earth, and the period is as a thousand years. Thus is Satan bound, thus is Satan banished from the earth. The desire to do evil is only of him. And when there are—as the symbols—those only whose desire and purpose of their heart is to glorify the Father, these will be those periods when this shall come to pass. Be ye all determined within thy minds, thy hearts, thy purposes, to be of that number!
(A) Là bị trục xuất. Rằng, khi có các hoạt động của bốn mươi bốn ngàn—giống như lời nguyện của mười người công chính có thể cứu cả một thành, thì các việc làm, lời khẩn nguyện của những người trung tín sẽ cho phép có giai đoạn mà chỉ những ai ở trong Chúa lâm phàm cai quản địa cầu, và giai đoạn ấy như một ngàn năm. Như thế Sa-tan bị trói buộc, như thế Sa-tan bị trục xuất khỏi địa cầu. Dục vọng làm ác chỉ thuộc về hắn. Và khi—như các biểu tượng—chỉ có những kẻ mà ước muốn và mục đích của lòng họ là tôn vinh Cha, thì đó sẽ là những thời kỳ điều này xảy ra. Hãy hết thảy quyết chí trong trí, trong lòng, trong mục đích của các ngươi, để thuộc về số ấy!
(Q) In Rev. 21:1 what is the meaning of “a new heaven and a new earth: for the first heaven and the first earth were passed away; and there was no more sea?”
(Q) Trong Khải Huyền 21:1, “trời mới và đất mới: vì trời cũ và đất cũ đã qua; và biển cũng không còn nữa” có nghĩa là gì?
(A) When the foundations of the earth are broken up by those very disturbances. Can the mind of man comprehend no desire to sin, no purpose but that the glory of the Son may be manifested in his life? Is this not a new heaven, a new earth? For the former things would have passed away. For as the desires, the purposes, the aims are to bring about the whole change physically, so does it create in the experience of each soul a new vision, a new comprehension. For as has been given, it hath not entered the heart of man to know the glories that have been prepared, that are a part of the experiences of those that love only the Lord and His ways.
(A) Khi nền móng của đất bị phá vỡ bởi chính những xáo trộn ấy. Liệu tâm trí con người có thể lĩnh hội cảnh không còn ước muốn phạm tội, không còn mục đích nào ngoài việc vinh quang của Con được biểu lộ trong đời sống mình? Há đó không phải là trời mới, đất mới sao? Vì những điều cũ sẽ qua đi. Bởi như các ước muốn, các mục đích, các chí hướng nhằm tạo ra toàn bộ biến đổi về phương diện thể xác, thì nó cũng tạo nên trong kinh nghiệm của mỗi linh hồn một thị kiến mới, một sự lĩnh hội mới. Vì như đã được ban, điều vinh hiển đã được chuẩn bị—vốn là một phần trong các kinh nghiệm của những ai yêu mến chỉ một mình Chúa và các đường lối của Ngài—chưa hề vào lòng người.
(Q) Please explain 2nd thru 4th verse of Chapter 21—the new Jerusalem and no more death.
(Q) Xin giải thích câu 2 đến câu 4 của Chương 21—Giê-ru-sa-lem mới và không còn sự chết nữa.
(A) Those then that are come into the new life, the new understanding, the new regeneration, there is then the new Jerusalem. For as has been given, the place is not as a place alone but as a condition, as an experience of the soul. Jerusalem has figuratively, symbolically, meant the holy place, the holy city—for there the ark of the covenant, the ark of the covenant in the minds, the hearts, the understandings, the comprehensions of those who have put away earthly desires and become as the new purposes in their experience, become the new Jerusalem, the new undertakings, the new desires.
(A) Những ai bước vào đời sống mới, sự thấu hiểu mới, sự tái sinh mới, thì sẽ có Giê-ru-sa-lem mới. Vì như đã được ban, nơi chốn không chỉ là một địa điểm mà là một trạng thái, một kinh nghiệm của linh hồn. Giê-ru-sa-lem về hình tượng, biểu trưng, có nghĩa là nơi thánh, thành thánh—vì tại đó có hòm giao ước, hòm giao ước trong tâm trí, trong lòng, trong sự thấu hiểu, trong sự lĩnh hội của những ai đã gác bỏ dục vọng trần thế và trở nên như những mục đích mới trong kinh nghiệm của họ, trở thành Giê-ru-sa-lem mới, những dấn thân mới, những ước muốn mới.
(Q) What is meant by the second death in Rev. 21:8?
(Q) “Sự chết thứ hai” trong Khải Huyền 21:8 nghĩa là gì?
(A) Those that have passed into the understanding and then fall away, become minded of the earthly desires for self-exaltation, know the second death.
(A) Những ai đã đi vào sự thấu hiểu rồi lại sa ngã, bị lòng hướng về dục vọng thế gian vì tự tôn chi phối, thì biết sự chết thứ hai.
(Q) What is meant by the Holy Jerusalem Rev. 21:12?
(Q) “Giê-ru-sa-lem Thánh” trong Khải Huyền 21:12 nghĩa là gì?
(A) As indicated, that purpose, that estate to which there is the attaining of those who through the purifying—as has been indicated in the earlier portion—now come to the holy purpose—as the Holy Jerusalem; the Holy of Holies becomes the dwelling as it were of those.
(A) Như đã chỉ ra, đó là mục đích, là cảnh giới mà người ta đạt được, những người qua sự thanh lọc—như đã nói ở phần trước—nay đi đến mục đích thánh—như Giê-ru-sa-lem Thánh; Nơi Chí Thánh trở nên như chốn cư ngụ của họ.
(Q) What is meant by the 12 gates?
(Q) “Mười hai cổng” nghĩa là gì?
(A) The twelve manners, the twelve ways, the twelve openings, the twelve experiences of the physical to all, and those that have all been purified in purpose for the activities with same.
(A) Mười hai cách thức, mười hai nẻo, mười hai mở ngõ, mười hai kinh nghiệm của thể xác dành cho hết thảy, và những điều ấy đều đã được thanh lọc trong mục đích cho các hoạt động gắn với chúng.
(Q) What is the significance of the 12 angels?
(Q) Ý nghĩa của mười hai thiên sứ là gì?
(A) The twelve purposes as represented by the activities of the openings to the bodily forces for their activities in the experiences of expression in the phases of the activities of the individual.
(A) Mười hai mục đích như được đại diện bởi các hoạt động của các “cửa mở” vào các lực của thân thể cho những hoạt động của họ trong các phương diện biểu lộ của cá nhân.
(Q) Please explain the 12 names which represent the 12 tribes of the children of Israel.
(Q) Xin giải thích mười hai tên tượng trưng cho mười hai chi phái con cái Israel.
(A) The same as the twelve gates, the twelve angels, the twelve ways, the twelve understandings; or the approach to Israel the seeker—all seeking not then as the expression of self but as one in the Holy One!!
(A) Cũng như mười hai cổng, mười hai thiên sứ, mười hai nẻo, mười hai sự lĩnh hội; tức là cách tiếp cận đến Israel —người đi tìm—tất cả tìm kiếm không còn như biểu lộ của tự ngã mà như một trong Đấng Thánh!!
(Q) Rev. 21:15: Please interpret—What is the golden reed to measure the city? and what is the significance of the stones of the new Jerusalem and their colors?
(Q) Khải Huyền 21:15: Xin giải thích—“cây sậy vàng để đo thành” là gì? và ý nghĩa của các viên đá của Giê-ru-sa-lem mới và màu sắc của chúng là gì?
(A) The new understanding, the reed to measure the city, the abilities of each. Not unto all is it given to be ministers, not unto all to be interpreters, not unto all to be this or that; but measured according to that whereunto they have purposed in their hearts. Though all are as one, remember it has been given that the purpose of the heart is to know yourself to be yourself and yet one with God even as Jesus, even as is represented in God the Father, Christ the Son, and the Holy Spirit; each knowing themselves to be themselves yet one! So the measurements for those that make the vibrations within themselves that become attuned to the new purpose, the new desire, the new hopes, the new Revelation, the new understandings to do the will of the Father with the will of that made perfect in the Christ.
(A) Sự thấu hiểu mới, cây sậy đo thành—tức là năng lực của mỗi người. Không phải ai cũng được ban để làm người phục vụ, không phải ai cũng là người chú giải, không phải ai cũng là điều này hay điều kia; mà được đo lường theo điều họ đã chủ định trong lòng. Dầu tất cả là một, hãy nhớ rằng đã được ban: mục đích của lòng là biết chính mình để là chính mình và đồng thời nên một với Thượng đế như Đức Jesus, như đã được biểu lộ trong Thượng đế là Cha, Đức Christ là Con, và Chúa Thánh Thần; mỗi vị biết mình là chính mình mà vẫn là một! Vậy nên các “đo lường” dành cho những ai tạo ra các rung động trong tự thân và trở nên hòa điệu với mục đích mới, ước muốn mới, hy vọng mới, Sự Mặc Khải mới, sự thấu hiểu mới để làm theo ý Cha bằng ý chí được làm cho nên trọn trong Đức Christ.
(Q) Rev. 22:1: Please interpret. And he showed me a pure river of water of life, clear as crystal proceeding out of the throne of God and of the Lamb.
(Q) Khải Huyền 22:1: Xin giải thích. “Người chỉ cho tôi xem một dòng sông nước sự sống trong như pha lê, chảy ra từ ngai của Thượng đế và của Chiên Con.”
(A) As the river, the water, the life represents the active flow of the purpose of the souls of men made pure in same. Then they flow with that purpose from the throne of God Itself, made pure in the blood of the Lamb—which is in Jesus, the Christ, to those who seek to know His ways.
(A) Như sông, như nước, như sự sống tượng trưng cho dòng chảy hoạt động của mục đích nơi linh hồn con người được thanh tịnh trong điều ấy. Rồi họ chảy đi theo mục đích ấy từ chính Ngai của Thượng đế, được thanh tẩy trong huyết của Chiên Con—điều ở trong Đức Jesus, Đức Christ—cho những ai tìm biết các đường lối của Ngài.
(Q) Rev. 22-2: What is meant by the tree of life with its twelve kinds of fruit that yielded her fruit every month and the leaves of the tree for the healing of the nations?
(Q) Khải Huyền 22:2: “Cây sự sống” với mười hai thứ trái mỗi tháng trổ bông kết trái, và “lá cây” là để chữa lành muôn dân nghĩa là gì?
(A) That as the tree planted by the water of life; that is, as the sturdiness of the purpose of the individual in its sureness in the Christ; and the leaves represent the activities that are as for the healing of all that the individual activities may contact, even in material life. And that it is continuous, as by the month, as for purpose, as for the activities.
(A) Ấy là cây được trồng bên dòng nước sự sống; nghĩa là, sự vững chãi của mục đích nơi cá nhân trong sự chắc chắn của mình nơi Đức Christ; và lá cây tượng trưng cho các hoạt động như dành cho sự chữa lành hết thảy những gì mà hoạt động của cá nhân có thể tiếp xúc, ngay cả trong đời sống vật chất. Và điều ấy là liên tục, như từng tháng, như về mục đích, như về hoạt động.
(Q) Rev. 22:10, 11: Seal not the sayings of the prophecy, etc. and He that is unjust, let him be unjust still; and he which is filthy be filthy still, etc.
(Q) Khải Huyền 22:10, 11: “Đừng đóng ấn những lời tiên tri” v.v., và “Kẻ bất nghĩa cứ bất nghĩa nữa; kẻ ô uế cứ ô uế nữa” v.v.
(A) As that period approaches when there shall be those influences of the power of those incarnated in the activities of the earth, then the purposes become set as in that indicated by the activities of each being in that to which they have then given themselves.
(A) Khi thời kỳ tiến gần mà sẽ có các ảnh hưởng của quyền năng từ những người đang lâm phàm trong các hoạt động nơi địa cầu, thì các mục đích trở nên được ấn định như điều được chỉ ra bởi hoạt động của mỗi người trong điều mà họ đã phó mình cho lúc bấy giờ.
(Q) Just how should this material be presented so as to be the most helpful and readable? Comment on the following:
(Q) Nên trình bày tài liệu này như thế nào để giúp ích và dễ đọc nhất? Xin bình luận về những điều sau:
(A) Rather than commenting (for these touch upon the same), we would give this: First let there be not one but all who would purpose, who have purposed to be among that number that are called of God to give to those that seek the interpretation, compare and prepare the messages that have been given; and then choose ye they that would write—and let them—yea, by day and night—find themselves even as John, moved only by the spirit of truth. Thus preparing the message. Then when prepared, in one sitting read the whole to your source of information and receive the rejections or acceptations!
(A) Thay vì bình luận (vì những điều này chạm đến cùng một nội dung), chúng tôi xin nói thế này: Trước hết, chớ chỉ có một người mà hãy hết thảy những ai muốn, những ai đã chủ định được ở trong số những người được Thượng đế kêu gọi để ban cho những ai tìm kiếm sự chú giải, so sánh và soạn thảo các thông điệp đã được ban; rồi các ngươi hãy chọn những người sẽ chấp bút—và để họ—vâng, ngày cũng như đêm—thấy mình như Gioan, chỉ được thôi thúc bởi Thần Khí của chân lý. Như thế mà soạn thảo thông điệp. Rồi khi soạn xong, trong một phiên duy nhất, đọc toàn bộ cho nguồn thông tin của các ngươi và nhận lấy điều bị bác bỏ hay được chấp nhận!
We are through for the present.
Hiện tại chúng tôi tạm kết thúc.
Note: See “Changes in World Affairs” section for additional information from the readings regarding changes in the future.
[Ghi chú: Xem phần “Những thay đổi trong Thời cuộc Thế giới” để biết thêm thông tin từ các buổi đọc liên quan đến những thay đổi trong tương lai.]